Hiệu Quả Tu Từ Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Ngô Văn Phú

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ
  • Cách Viết Đoạn Văn Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ
  • Xác Định Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương Chỉ Ra Giá Trị Thẩm Mĩ Của Nó Trong Mạch Cảm Xúc Bài Thơ Bằng Đoạn Văn 10 Câu Có Sử
  • Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1. Có thể nói điểm độc đáo nhất của văn học, đưa văn học thoát khỏi hình

    thái nghệ thuật nguyên hợp ban đầu, phát triển độc lập bên cạnh các nghệ

    thuật khác như: âm nhạc, hội họa, điện ảnh… là ở chỗ văn học phản ánh hiện

    thực cuộc sống bằng ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là phương tiện, chất liệu, là

    đối tượng để nhà văn xây dựng hình tượng, tái hiện sinh động hiện thực cuộc

    sống trong tác phẩm. Đồng thời, ngôn ngữ trong tác phẩm cũng là phương

    tiện để chuyển tải những tư tưởng, tình cảm của nhà văn trước hiện thực cuộc

    sống.

    Bakhtin trong “Mấy vấn đề thi pháp của Đôxtôiépxki” khẳng định:

    “Ngôn ngữ chẳng những là phương tiện miêu tả, mà còn là đối tượng miêu tả

    của văn học” .

    Cũng trong giáo trình này, tác giả Đinh Trọng Lạc phân chia thành 5

    kiểu điệp ngữ cơ bản đó là:

    – Lặp lại từ ở đầu câu văn.

    – Lặp lại từ ở cuối câu văn.

    – Lặp lại từ ở giữa câu văn.

    – Lặp vòng tròn.

    – Lặp cách quãng.

    Ông xếp điệp ngữ vào loại các biện pháp tu từ cú pháp và khẳng định:

    “Những cách điệp từ là những cách trùng điệp tiêu biểu nhất trong phạm vi

    cú pháp” .

    Tác giả Trần Ngọc Thêm cũng xác định rằng: “Lặp từ vựng là phương

    thức liên kết phổ biến nhất trong văn bản”. Đồng thời, tác giả đưa ra các tiêu

    chí phân loại phép lặp như sau:

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    8

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    – Căn cứ cách thức lặp chủ tố và căn tố, có thể chia lặp từ vựng thành

    lặp từ và lặp cụm từ. Đồng thời cụm từ lại bao gồm: lặp hoàn toàn và lặp bộ

    phận.

    – Căn cứ vào bản chất từ loại của chủ tố và lặp tố có thể chia thành: lặp

    cùng từ loại, và lặp chuyển từ loại.

    – Căn cứ vào chức năng làm thành phát ngôn của chủ tố và lặp tố, có

    thể chia thành: lặp cùng chức năng hoặc lặp chuyển chức năng.

    2.2.2. Cũng đề cập đến các phương thức liên kết câu trong văn bản, tác giả

    Diệp Quang Ban, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” Nxb Giáo dục, 2005, đã

    đưa ra năm phép liên kết cơ bản sau:

    – Phép quy chiếu.

    – Phép thế.

    – Phép tỉnh lược.

    – Phép nối.

    – Phép liên kết từ vựng.

    Trong đó, phép liên kết từ vựng gồm ba phép nhỏ: lặp từ ngữ dùng từ

    đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa, phối hợp từ ngữ.

    Điệp ngữ được đề cập đến trong phép lặp từ ngữ của phương thức liên

    kết từ vựng.

    Ông cho rằng, phép liên kết từ vựng là: “Lựa chọn những từ ngữ có

    quan hệ như thế nào đó với những từ ngữ đã có trước, và trên cơ sở đó làm

    cho câu chứa từ ngữ có trước với câu chứa từ ngữ mới được chọn này liên kết

    với nhau”

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    9

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    10

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Tiếp tục vấn đề này, sinh viên Trần Thị Minh Yến, K31 – Ngữ văn,

    ĐHSP Hà Nội 2, tìm hiểu “Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ

    lục bát hiện đại Đồng Đức Bốn”.

    Liệt kê một số công trình nghiên cứu khoa học về phép điệp từ ngữ của

    một số tác giả trên để thấy rằng nghiên cứu về vấn đề này không phải là mới

    mẻ. Song có thể nói điệp ngữ là biện pháp tu từ quan trọng, có khả năng tạo ra

    hiệu quả tu từ đặc biệt trong thơ văn.

    2.3.2. Về tác giả Ngô Văn Phú và việc nghiên cứu tác phẩm của ông

    Ngô Văn Phú là tên thật cũng chính là bút danh. Ông là một tác giả tiêu

    biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thành viên xuất

    sắc của hội nhà văn Việt Nam với trên 220 đầu sách bao gồm nhiều thể loại:

    thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo, dịch thuật. Tuy tác phẩm của Ngô

    Văn Phú chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nhưng tên tuổi của

    ông được nhiều người trong giới phê bình khẳng định. Độc giả biết đến ông

    trước hết là một nhà thơ – một nhà thơ tiếp nối mạch thơ chân quê của Đoàn

    Văn Cừ và Nguyễn Bính.

    Tìm hiểu thơ Ngô Văn Phú, các tác giả quan tâm nhiều đến phương

    diện nội dung trong thơ của ông.

    Trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú”, Nxb Hội nhà Văn, 1997, tác giả

    Nguyễn Hoành Sơn đã tìm hiểu nội dung thơ Ngô Văn Phú với đề tài “Ngô

    Văn Phú – Dấu ấn quê mùa trên thi đàn”.

    Tác giả Ngô Quân Miện, Nxb Hội nhà Văn, 1997, khai thác “Tâm hồn

    đồng nội trong thơ Ngô Văn Phú”.

    Cũng tìm hiểu nội dung thơ Ngô văn Phú tác giả Đinh Nam Khương có

    bài viết “Tìm về tán cọ xanh”

    Qua định nghĩa trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh một số nội dung của

    định nghĩa:

    – Điệp ngữ là phép tu từ ngữ nghĩa.

    – Điệp ngữ được các nhà sử dụng một cách có chủ định. Đó là việc sử

    dụng các phương tiện ngôn ngữ theo hướng lặp lại từ hay cụm từ nhằm tạo

    hiệu quả tu từ (nhấn mạnh nội dung thông báo, tạo nghĩa mới bất ngờ giàu

    màu sắc tu từ học, tạo ra tính nhạc cho lời thơ, lời văn, đem lại thẩm mĩ cho

    người đọc người nghe).

    1.1.2. Các kiểu điệp ngữ trong tiếng Việt

    Kế thừa có bổ sung quan điểm phân loại các kiểu điệp từ ngữ của tác

    giả Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú (đã trình bày ở mục trước) chúng tôi chú ý

    đến những kiểu điệp sau:

    1.1.2.1. Điệp ngữ nối tiếp.

    Điệp ngữ nối tiếp là dạng điệp, trong đó có những từ ngữ được lặp lại

    trực tiếp đứng bên nhau, nhằm tạo nên ấn tượng mới mẻ, có tính chất tăng

    tiến.

    VD:

    Đêm qua ra bến xuôi đò

    Thương nhau qua cửa tò mò nhìn nhau.

    Anh đi đấy, anh về đâu?

    Cánh buồn nâu… Cánh buồm nâu… Cánh buồm…

    (Vô đề – Nguyễn Bính)

    1.1.2.2. Điệp ngữ cách quãng

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    15

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Điệp ngữ cách quãng là điệp ngữ trong đó những từ được lặp lại đứng

    cách xa nhau nhằm gây một ấn tượng nổi bật và có tác dụng âm nhạc cao.

    VD:

    Chỉ mong người sống có tình

    Cho sông hết lũ, cho mình vẫn ta

    Cho sao thành dải ngân hà

    Thương yêu chỉ biết thật thà thế thôi.

    (Xéo gai anh chẳng sợ đau – Đồng Đức Bốn)

    1.1.2.3. Điệp đầu

    Điệp đầu là dạng điệp trong đó từ được lặp lại đứng ở đầu câu.

    VD:

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn rơi xuống đất?

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn vắt lên vai?

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn chùi nước mắt?

    (Ca dao)

    1.1.2.4. Điệp đầu – cuối

    Điệp đầu – cuối là kiểu điệp trong đó các từ được điệp đứng ở đầu và

    cuối câu thơ, đoạn thơ hoặc bài thơ.

    VD:

    Tre xanh, xanh tự bao giờ

    Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

    (Tre xanh – Nguyễn Duy)

    1.1.2.5. Điệp cuối – đầu

    Điệp cuối – đầu là kiểu điệp trong đó các từ được điệp lại ở cuối câu thơ

    trước và đầu câu thơ sau.

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    16

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    VD:

    Lá ngô lay ở bờ sông,

    Bờ sông vẫn gió, người chưa thấy về.

    (Bờ sông vẫn gió – Trúc Thông)

    1.1.2.6. Điệp hỗn hợp

    Điệp hỗn hợp là kiểu điệp trong đó sử dụng nhiều cách điệp khác nhau

    trong một đoạn văn bản.

    VD:

    Làm trời trời phải có sao

    Làm sông sông cứ dạt dào phù sa

    Làm đất đất phải nở hoa

    Làm tôi buồn cái người ta vẫn buồn.

    Từ đâu mà nước có nguồn

    Mà kim đã chỉ phải luồn vào nhau

    Đã trầu là phải có cau

    Từ đâu mà phải vàng thau rạch ròi

    Đã cho thì không được đòi

    Đã biển phải biết sông ngòi làm nên

    (Về lại chốn xưa – Đồng Đức Bốn)

    1.1.2.7. Điệp theo kiểu diễn đạt

    Điệp theo kiểu diễn đạt là kiểu điệp nhằm diễn tả một dụng ý nào đó

    của tác giả.

    VD:

    Ước gì anh hóa ra hoa,

    Để em nâng lấy rồi mà cài khăn

    Ước gì anh hóa ra chăn,

    Để cho em đắp, em lăn cùng giường.

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    17

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Ước gì anh hóa ra gương

    Để cho em cứ ngày thường em soi.

    (Ca dao)

    1.1.2.8. Điệp vòng tròn

    Điệp vòng tròn là một dạng điệp ngữ có tác dụng tu từ lớn. Chữ cuối

    câu trước được láy lại thành chữ ở đầu câu sau và cứ thế làm cho câu văn, câu

    thơ liền nhau như đợi sóng, diễn tả một cảm giác triền miên

    VD:

    Thu về gọi gió heo may

    Heo may lá đã vàng cây ngô đồng.

    Ngô đồng thả lá theo sông

    Sông ơi, có thấp thỏm mong thu về.

    (Biến tấu ca dao – Đỗ Bạch Mai)

    1.1.3. Giá trị tu từ của điệp ngữ.

    “Giá trị tu từ” (màu sắc tu từ, sắc thái tu từ) là khái niệm phong cách

    học chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản

    của một thực từ. Nói cách khác đó là khía cạnh biểu cảm – cảm xúc của ý

    nghĩa của từ (diễn đạt những tình cảm, sự đánh giá những ý định), bên cạnh

    khía cạnh sự vật lôgic của ý nghĩa [10, 57-58].

    Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, giá trị tu từ của điệp ngữ được thể hiện ở

    một số phương diện sau.

    1.1.3.1. Nhờ biện pháp điệp ngữ, câu văn tăng tính nhạc, có tác dụng nhấn

    mạnh một sắc thái ý nghĩa tình cảm, cảm xúc nào đó làm nổi bật những yếu tố

    ngôn ngữ quan trọng. Làm cho lời văn thêm sâu sắc, tha thiết, có sức thuyết

    phục mạnh.

    VD:

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    18

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    “… Trong thơ văn Việt Nam nghe bay dậy một tiếng địch buồn. Không

    phải sáo Thiên thai, không phải điệu ái tình, không phải lời li tao kể chuyện

    một cái “tôi” mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm

    trúc bông lau, có phải niềm than van của bờ sông, bãi cát; có phải mặt trăng

    một mình đang cảm thông cùng vì sao?”

    (Lời tựa cho tập lửa thiêng – Xuân Diệu)

    1.1.3.2. Chức năng tu từ học của điệp ngữ được phát hiện ra trong mối quan

    hệ qua lại với ngữ cảnh. Đó là việc gây ra một phản ứng trực tiếp có màu sắc

    biểu cảm – cảm xúc ở phía người nghe (người đọc): ngạc nhiên, vui mừng,

    bực bội sợ hãi… khi mà người nói nói ra.

    VD:

    Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

    Em có tuổi hay không có tuổi?

    Mái tóc em đây hay là mây là suối

    Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm dông

    Thịt da em hay là sắt là đồng

    Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt

    Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt

    Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh.

    Thân mình em đau đớn cả thân cành.

    (Người con gái Việt Nam – Tố Hữu)

    Trong một phát ngôn nhất định, điệp ngữ thường được dùng như một

    phương tiện tăng cường lôgic – cảm xúc nghĩa của phát ngôn.

    1.1.3.3. Trong văn nghệ thuật, điệp ngữ mới phát huy được đầy đủ khả năng

    tu từ học của mình ở khả năng tạo hình, mô phỏng âm thanh, diễn tả những

    sắc thái khác nhau của tính chất: vui mừng, ngạc nhiên, lo âu, bực tức…

    1.2. Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ.

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    19

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    1.2.1. Định nghĩa

    Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống con người.

    Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài

    người. Đó là thể loại xã hội nằm trong phương thức trữ tình gắn với chiều sâu

    thế giới nội tâm, với những vẻ đẹp mềm mại của tình cảm con người. Từ xưa

    đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ:

    Nhà thờ Đuy Belây định nghĩa: “Thơ là người thư kí trung thành của

    những trái tim”.

    Nhà thơ Sóng Hồng bàn về thơ: “Thơ là một hình thức nghệ thuật cao

    quý, tinh vi. Người làm thơ phải có một tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng

    cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những

    hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác

    thường”.

    Theo Chế Lan Viên: “Thơ là đi giữa nhạc và ý”. Người làm thơ hay

    phải biết “vừa ru người trong nhạc, vừa thức người bằng ý”

    Tố Hữu cho rằng: “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại, là tiếng

    nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”.

    Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn

    Khắc Phi, Nxb Giáo dục, định nghĩa về thơ như sau: “Thơ là hình thức sáng

    tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm

    mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”.

    Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ, tuy nhiên các ý kiến

    này đều gặp gỡ nhau ở quan niệm: Thơ là tiếng nói của cảm xúc mãnh liệt,

    của trí tưởng tượng phong phú – là nghệ thuật ngôn từ tổng hợp của nhiều

    nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh.

    1.2.2. Đặc trưng ngôn ngữ thơ.

    1.2.2.1. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ bão hòa cảm xúc.

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    20

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Nhà thơ Tố Hữu cho rằng: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm

    hồn. Nói cho cùng, thơ là kết quả của sự nhập tâm. Thơ chỉ tràn ra khi trong

    tim ta cuộc sống đã tràn đầy”. Chính vì vậy ngôn ngữ thơ trữ tình có những

    điểm khác biệt so với ngôn ngữ tự sự và kịch. Ngôn ngữ thơ không bao giờ là

    ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự sự. Đó là sự lắng kết chất thơ,

    lắng kết mạch thơ với đời sống được tích lũy lâu đời.

    Do vậy, yếu tố truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc thực

    hiện cảm xúc của thơ. Đó chính là việc sử dụng điển cố, điển tích, vận dụng

    thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

    VD:

    Lòng anh như biển sóng cồn

    Chứa muôn con nước nghìn con sông dài

    Lòng em như chiếc lá khoai

    Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu

    (Nguyễn Bính – Hai lòng)

    Những câu thơ sử dụng sáng tạo thành ngữ “nước đổ lá khoai”, “muôn

    sông nghìn sóng” kết hợp với hình ảnh so sánh và biện pháp điệp ngữ giàu

    sức gợi để khẳng định tình yêu của nhân vật trữ tình giành cho cô gái. Đó là

    một tình yêu dạt dào như “nước”, “bền bỉ” sâu sắc như sóng ngầm. Thế nhưng

    đó lại là tình yêu đơn phương, tuyệt vọng. Câu thơ nhuốm màu đau khổ sầu

    nặng.

    Cùng với sự phát triển của văn học, ngôn ngữ thơ ngày càng được chắt

    lọc tinh tế, sâu sắc phù hợp với tâm trạng, cảm xúc của con người trong sự hối

    hả bề bộn của cuộc sống hiện đại.

    1.2.2.2. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ hàm súc.

    Tính hàm súc là một đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ trữ tình. Tính

    hàm súc được hiểu là khả năng biểu thị được nhiều nội dung tư tưởng nhất

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    21

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    cho một số lượng yếu tố ngôn ngữ ít nhất “lời chật mà ý rộng – lời đã hết mà ý

    vô cùng”. Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ được tạo nên bởi cách sử dụng tối

    đa các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, phóng đại, phép

    đối, phép điệp,… Các hình ảnh biểu tượng các từ tượng thanh, tượng hình. Do

    vậy, thơ là sự biến hóa kỳ diệu, sự vận động linh điệu.

    VD: Bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non,

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Bài thơ trước hết tả thực về hình dáng chiếc bánh trôi và quá trình làm

    bánh, nhưng bánh trôi ở đây cũng chính là hình ảnh ẩn dụ cho người phụ nữ

    trong xã hội phong kiến với đầy định kiến bất công.

    Như vậy tính đa nghĩa của bài thơ chính là khả năng gợi ý những liên

    tưởng sâu sắc, những hàm nghĩa sâu xa.

    Ngôn ngữ thơ không có tính liên tục như ngôn ngữ văn xuôi, ngược lại

    nó tính nhảy vọt, gián đoạn, tạo ra những khoảng lặng giàu ý nghĩa và khoảng

    trống giữa các dòng, kích thích sự liên tưởng, suy ngẫm của độc giả. Chính

    điều này đã tạo nên tính đa nghĩa hàm súc cho ngôn ngữ thơ. Nói như Ngô

    Minh: “Khoảng lặng giữa các câu thơ mà nhà thơ dành cho người đọc tự do

    nghĩ ngợi càng rộng thì độ dồn nén của thơ càng cao”.

    VD:

    Ai cấm ta say, say thần thánh?

    Ngực lép bốn nghìn năm trưa nay cơn gió lạnh

    Thổi phồng lên tim bỗng hóa mặt trời.

    … Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi

    Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    22

    K32B – Ngữ Văn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Câu Có Sử Dụng Biện Pháp Điệp Ngữ
  • (Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,phân Loại ,tác Dụng, Ví Dụ),so Sánh ,ẩn Dụ,nhân Hóa,hoán Dụ,nói Quá ,nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ
  • Tác Dụng Của 12 Biện Pháp Tu Từ Câu Hỏi 153226
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Đạt 9.5 Điểm
  • Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Thiếu Nhi (Cứ Liệu Lhảo Sát Sgk Tiếng Việt Tiểu Học Sau Năm 2000)

    --- Bài mới hơn ---

  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Của Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Và Làm Rõ Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Lớp 9 Môn Ngữ Văn Năm Học 2022
  • Bài Văn Phân Tích Yếu Tố Dân Gian Được Sử Dụng Trong Bài Thơ Bánh Trôi
  • Bài Văn Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 8 Câu Thơ Cuối Đoạn Trí
  • Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    MỞ ĐẦU

    1 . Lí do chọn đề tài

    Thơ, văn là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của

    chúng ta, là tiếng nói, là hơi thở của những con tim đang khao khát chinh

    phục những nẻo đường văn chương. Thơ, văn phản ánh cuộc sống bằng hình

    tượng và chất liệu để xây dựng hình tượng chính là ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ,

    tiếng thơ trở nên chân thực, gần gũi với đời sống hiện thực, thể hiện được trí

    tưởng tượng bay bổng, kì diệu và những tình cảm của con tim đang xúc động.

    Chiều sâu của sức suy nghĩ, tính chất mẫn cảm và tinh tế của sức sáng tạo,

    những trạng thái rung động của tâm hồn…, tất cả chỉ có thể đến với độc giả

    bằng nghệ thuật của ngôn từ. Tác giả Đinh Trọng Lạc nhận xét “Cái làm nên

    sự kì diệu của ngôn ngữ chính là các phương tiện, biện pháp tu từ”. Cho nên

    khi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu một tác phẩm nhất thiết phải tìm hiểu ngôn

    ngữ, lí giải các yếu tố ngôn ngữ đã được nhà văn lựa chọn, sử dụng để nắm

    bắt nội dung tác phẩm.

    Là một loại hình lấy nghệ thuật ngôn từ làm phương tiện thể hiện. Văn

    chương có khả năng tác động kì diệu đến đời sống tâm hồn của con người.

    Góp vào khả năng đó có hiệu quả của các biện pháp tu từ mà điệp ngữ là một

    biện pháp tiêu biểu. Một mặt điệp ngữ có khả năng khắc họa hình ảnh gây ấn

    tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động. Mặt khác điệp ngữ

    còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể, sinh động, diễn đạt được mọi

    sắc thái biểu cảm. Tu từ điệp ngữ còn là phương thức bộc lộ tâm tư tình cảm

    một cách chân thành và giản dị nhất. Điệp ngữ có tác dụng gợi mở, nhấn

    mạnh, tạo cảm xúc mạnh mẽ, độc đáo mà gần gũi với độc giả nhất là với thiếu

    nhi. Chính vì vậy tu từ điệp ngữ được sử dụng phổ biến trong thơ đặc biệt là

    thơ thiếu nhi. Tu từ điệp ngữ giúp các em hiểu và cảm nhận được những bài

    thơ, bài văn hay. Từ đó góp phần mở mang tri thức, làm phong phú tâm hồn,

    Hoàng Phương Thảo

    1

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    tạo cảm hứng khi viết văn, rèn luyện ý thức yêu quý tiếng Việt, ý thức giữ gìn

    sự trong sáng của tiếng Việt cho học sinh đặc biệt là học sinh Tiểu học.

    Những tri thức này sẽ là nền móng vững chắc để các em tiếp tục học lên các

    lớp trên.

    Biện pháp tu từ điệp ngữ là một biện pháp xuất hiện với tần số rất cao

    trong thơ viết cho thiếu nhi nói chung và thơ trong các bài thơ tuyển dạy trong

    sách Tiếng Việt Tiểu học nói riêng. Chính biện pháp tu từ này sẽ giúp các em

    học sinh thêm yêu thích hứng thú khi tiếp cận với thơ thiếu nhi, góp vào vốn

    tri thức của các em một biện pháp nghệ thuật độc đáo, giúp các em đến gần

    hơn với thơ. Nhờ nghệ thuật độc đáo này mà thơ trở nên gần gũi, thân quen dễ

    thuộc, dễ nhớ và trở thành những bài học nằm lòng của tuổi thơ.

    Hiệu quả tu từ của điệp ngữ trong thơ đã được nhiều tác giả đi sâu tìm

    hiểu. Song đây vẫn luôn là một đề tài mở cho những người yêu thích khám

    phá cái hay cái đẹp của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ trong thơ thiếu nhi. Đây

    cũng là một cơ hội để người làm khóa luận được trang bị thêm vốn kiến thức

    chuyên môn, năng lực tư duy, năng lực cảm thụ thơ thiếu nhi, đồng thời làm

    giàu vốn ngữ liệu để giảng dạy tốt hơn môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học

    trong tương lai.

    Từ những lí do trên thôi thúc chúng tôi lựa chọn, đi sâu tìm hiểu đề tài:

    “Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp điệp ngữ trong thơ thiếu nhi (Cứ

    liệu khảo sát: SGK “Tiếng Việt” Tiểu học sau năm 2000).

    2. Lịch sử vấn đề

    Vấn đề điệp ngữ đã được các nhà Phong cách học và Ngữ pháp văn bản

    quan tâm nghiên cứu từ lâu và đề cập đến trong nhiều giáo trình ngôn ngữ.

    Phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của từng chuyên ngành có khác

    nhau dẫn đến những quan điểm khác nhau trong vấn đề này. Có thể điểm qua

    Hoàng Phương Thảo

    2

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    lịch sử nghiên cứu vấn đề thông qua các công trình nghiên cứu của một số

    nhà Việt ngữ học như sau:

    2.1. Việc nghiên cứu biện pháp điệp ngữ dưới góc nhìn của một số nhà

    Ngữ pháp học văn bản

    Các nhà Ngữ pháp học văn bản khi nghiên cứu về vấn đề liên kết trong

    văn bản đã đưa ra những quan điểm về biện pháp điệp ngữ như sau:

    2.1.1. Tác giả Trần Ngọc Thêm (1985), trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản

    tiếng Việt”, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, cho rằng: “Dấu hiệu

    cho phép phân biệt văn bản với phi văn bản chính là sự liên kết về hình thức

    và nội dung của các câu trong văn bản”.

    Về mặt liên kết hình thức, tác giả Trần Ngọc Thêm chia các phương

    thức liên kết thành 3 nhóm:

    – Các phương thức liên kết chung dùng được cho cả ba loại phát ngôn.

    – Các phương thức liên kết hợp nghĩa.

    – Các phương thức liên kết trực thuộc.

    Trong đó, nhóm phương thức liên kết chung bao gồm năm phương thức

    liên kết cơ bản. Đó là: phép lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên

    tưởng, phép tuyến tính.

    Khi giới thiệu về các phương thức liên kết chung tác giả Trần Ngọc

    Thêm đã đưa phép lặp từ, ngữ vào phép lặp từ vựng – một loại nhỏ trong phép

    lặp. Ông cho rằng: “Phép lặp từ vựng là một dạng thức của phương thức lặp

    mà ở đó chủ tố và lặp tố là những yếu tố từ vựng (thực từ, cụm từ)”.

    2.1.2. Cũng đề cập đến các phương thức liên kết câu trong văn bản, tác giả

    Diệp Quang Ban, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, NXBGD, 2005, đã đưa

    ra 5 phép liên kết cơ bản sau:

    – Phép quy chiếu.

    – Phép thế.

    – Phép tỉnh lược.

    – Phép nối.

    – Phép liên kết từ vựng.

    Trong đó, phép liên kết từ vựng gồm ba phép nhỏ: lặp từ ngữ; dùng từ

    đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa; phối hợp từ ngữ.

    Điệp ngữ được đề cập đến trong phép lặp từ ngữ của phương thức liên

    kết từ vựng.

    Theo tác giả Diệp Quang Ban thì phép liên kết từ vựng là “Lựa chọn

    những từ ngữ có quan hệ như thế nào đó với những từ ngữ đã có trước, và

    trên cơ sở đó làm cho câu chứa từ ngữ có trước với câu chứa từ ngữ mới

    được chọn này liên kết với nhau”.

    Căn cứ về mặt nghĩa của từ, tác giả Diệp Quang Ban chỉ ra mối quan hệ

    giữa từ ngữ được lặp (vốn có trước) với từ, ngữ dùng để lặp (xuất hiện sau)

    theo hai hướng:

    – Đồng nhất trong quy chiếu (có cùng cơ sở quy chiếu).

    – Không đồng nhất trong quy chiếu (không cùng cơ sở quy chiếu).

    Như vậy, thông qua việc tóm lược lại các công trình nghiên cứu về điệp

    ngữ của các nhà Ngữ pháp học, có thể thấy: Quan điểm về điệp ngữ và cách

    phân loại điệp ngữ của các nhà nghiên cứu Ngữ pháp học chưa thật thống

    nhất. Điều này gây nên những khó khăn nhất định khi tìm hiểu hệ thống nhất

    định. Chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nêu khái niệm và liệt kê các cách phân

    loại để giới thiệu biện pháp tu từ này.

    2.2. Việc nghiên cứu biện pháp điệp ngữ dưới góc nhìn của các nhà

    Phong cách học tiếng Việt

    2.2.1. Từ nửa sau thế kỷ XX, khi lý thuyết ngôn ngữ học bắt đầu phát triển thì

    điệp ngữ đã được một số nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Điệp ngữ

    thu hút được sự chú ý là bởi hiệu quả biểu đạt của nó trong văn bản, đặc biệt

    là trong văn bản nhệ thuật. Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “Giáo trình Việt

    ngữ”, tập III (Tu từ học), đã phát hiện: trong giao tiếp “không phải do cẩu thả

    mà chính do một dụng ý, tác giả muốn nhấn mạnh vào những từ ngữ cần

    thiết, để cho tư tưởng, tình cảm biểu hiện trở nên mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu

    sắc với người đọc. Trong trường hợp này, chúng ta có điệp ngữ”.

    2.2.2. Năm 1982, NXBGD, đã cho ra đời cuốn “Phong cách học tiếng Việt”

    của nhóm tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa. Trong giáo trình

    này kế thừa và bổ sung thêm những phát hiện về biện pháp điệp ngữ, nhóm

    tác giả nghiên cứu đã đưa ra 4 kiểu điệp ngữ đó là:

    – Điệp nối tiếp.

    – Điệp cách quãng.

    – Điệp vòng tròn.

    – Điệp kiểu câu và điệp phô diễn.

    2.2.3. Tiếp tục đề cập đến vấn đề điệp ngữ trong văn bản, năm 1983, tác giả

    Cù Đình Tú, trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, NXB

    Đại học và trung học chuyên nghiệp đã đưa ra quan điểm của ông về vấn đề

    này thông qua việc phân chia các loại điệp ngữ như sau:

    – Điệp liên tiếp.

    – Điệp cách quãng.

    – Điệp đầu.

    – Điệp đầu – cuối.

    – Điệp cuối – đầu.

    Hoàng Phương Thảo

    6

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    – Điệp vòng tròn.

    – Điệp theo kiểu diễn đạt .

    Qua việc phân loại điệp ngữ như trên có thể thấy cách nhìn của tác giả Cù

    Đình Tú vừa có điểm gặp gỡ lại vừa có điểm không đồng nhất với nhóm tác giả cuốn

    “Phong cách học tiếng Việt”, (1982). Cách phân chia của tác giả Cù Đình Tú cụ thể

    hơn và có khả năng phân loại cao dựa vào vị trí và mục đích của yếu tố điệp.

    2.2.4. Năm 1997, trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt”, NXBGD tác

    giả Nguyễn Thái Hòa đã đưa ra cách quan niệm và nhìn nhận về điệp ngữ như

    sau: “Điệp ngữ là biện pháp lặp lại một hay nhiều lần những từ, ngữ… nhằm

    mục đích mở rộng ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc

    trong lòng người đọc, người nghe”. Theo đó cách phân chia điệp ngữ cũng có

    nhiều điểm khác biệt, theo những tiêu chí khác nhau:

    – Theo các yếu tố: điệp ttừ, điệp ngữ, điệp đoạn, điệp câu.

    – Theo vị trí: điệp đầu câu, điệp giữa câu, điệp cách quãng, điệp liên tiếp.

    – Theo tính chất: điệp đơn giản và điệp phức tạp.

    2.2.5. Tác giả Đinh Trọng Lạc, trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ

    tiếng Việt”, NXBGD, 1999, kế thừa quan điểm của mình trước đó và quan

    điểm của nhiều nhà Việt ngữ học ông đã đưa ra cách nhìn tương đối thống

    nhất về điệp ngữ. Ông cho rằng: “Điệp ngữ là một phương tiện tu từ cú pháp.

    Đó là sự lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh ý nghĩa,

    gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người

    nghe”. Theo đó khi phân chia điệp ngữ ông đã đưa điệp đầu câu, điệp cuối

    câu, điệp giữa câu vào một loại là “điệp cách quãng”. Có 3 loại điệp cơ bản:

    – Điệp ngữ nối tiếp.

    – Điệp ngữ cách quãng.

    – Điệp ngữ vòng tròn.

    Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, giá trị tu từ của điệp ngữ được thể hiện ở

    một số phương diện sau:

    1.3.1. Nhờ có điệp ngữ, câu văn tăng thêm tính cân đối, nhịp nhàng, hài hòa,

    có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa nào đó, làm nổi bật những từ

    quan trọng, khiến cho lời nói trở nên sâu sắc, thấm thía và có sức thuyết phục

    mạnh. Ví dụ:

    “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80

    năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy

    năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”.

    1.3.2. Chức năng tu từ học của điệp ngữ được phát hiện ra trong mối liên hệ

    qua lại với ngữ cảnh. Đó là việc gây ra một phản ứng trực tiếp có màu sắc

    biểu cảm – cảm xúc ở phía người nghe (người đọc): ngạc nhiên, vui mừng,

    bực bội, sỡ hãi… đối với điều mà người nói nói ra.

    Ví dụ:

    “Giôn – xơn !

    Tội ác bay chồng chất

    Nhân danh ai

    Hoàng Phương Thảo

    18

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Bay mang những B.52

    Những na pan, hơi độc

    Đến Việt Nam

    Để đốt những nhà thương, trường học

    Giết những con người chỉ biết yêu thương

    Giết những trẻ em chỉ biết đến trường

    Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá

    Và giết cả những dòng sông có thơ ca nhạc họa ?”

    (Ê- mi- li, con – Tố Hữu)

    Trong giới hạn một phát ngôn, điệp ngữ thường được dùng như một

    phương tiện tăng cường logic – cảm xúc nghĩa của phát ngôn.

    Trong văn nghệ, điệp ngữ mới phát huy được đầy đủ khả năng tu từ học

    của mình ở khả năng tạo hình, mô phỏng âm thanh, diễn tả nhiều sắc thái

    khác nhau của tình cảm: vui mừng, cảm động, thiết tha, trìu mến…

    Hoàng Phương Thảo

    19

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Chương 2: Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại biện pháp

    điệp ngữ trong thơ

    2.1. Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại biện pháp điệp ngữ

    Chúng tôi tiến hành khảo sát 150 bài thơ viết trong SGK Tiếng Việt lớp

    1, 2, 3, 4, 5 (sau năm 2000). Qua khảo sát chúng tôi thấy biện pháp tu từ điệp

    ngữ đã được sử dụng ở hầu hết các bài thơ. Trong quá trình khảo sát chúng tôi

    thống kê được 420 trường hợp sử dụng phép tu từ này. Căn cứ vào cơ sở phân

    loại đã trình bày ở chương 1, chúng tôi phân chia các trường hợp điệp thành

    các kiểu điệp sau:

    2.1.1. Điệp cách quãng

    Trong 420 trường hợp sử dụng điệp ngữ chúng tôi thống kê được 147

    trường hợp điệp cách quãng (chiếm 35%). Căn cứ vào cách thức sử dụng từ,

    ngữ chúng tôi chia điệp cách quãng thành 3 tiểu loại:

    a. Điệp các từ, ngữ ở các vị trí khác nhau trong dòng thơ

    Loại này thống kê được 132 phiếu (chiếm 90%)

    Ví dụ 1:

    “Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh”

    (Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

    Ví dụ 2:

    “Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng”

    (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)

    Ví dụ 3:

    “Trời trong đầy tiếng rì rào

    Đàn cò đánh nhịp bay vào, bay ra

    Đứng canh trời đất bao la

    Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi”

    (Cây dừa – Trần Đăng Khoa)

    Hoàng Phương Thảo

    20

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    b. Điệp các từ, ngữ ở các vị trí khác nhau trong đoạn thơ

    Chúng tôi thống kê được 13 phiếu (chiếm 8,8%).

    Ví dụ 1:

    “Đêm đêm cháu những bâng khuâng

    Giở xem ảnh Bác cất thầm bấy lâu.

    Nhìn mắt sáng, nhìn chòm râu

    Nhìn vầng trán rộng, nhìn đầu bạc phơ.

    Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ

    Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn.”

    (Cháu nhớ Bác Hồ – Thanh Hải)

    Ví dụ 2:

    “Ngôi sao ngủ với bầu trời

    Bé nằm ngủ với à ơi tiếng bà

    Gió còn ngủ tận thung xa

    Để con chim ngủ la đà ngọn cây

    Núi cao ngủ giữa chăn mây

    Quả sim béo mọng ngủ ngay vệ đường

    Bắp ngô vàng ngủ trên nương

    Mệt rồi tiếng sáo ngủ vườn trúc xanh.”

    (Dòng suối thức – Quang Huy)

    c. Điệp các từ, ngữ ở các vị trí khác nhau trong bài thơ

    Loại này chiếm tỉ lệ rất ít chỉ có 2 phiếu (chiếm 1,2%)

    Ví dụ:

    “Trời thu bận xanh

    Sông Hồng bận chảy

    Cái xe bận chạy

    Lịch bận tính ngày

    Hoàng Phương Thảo

    21

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Con chim bận bay

    Cái hoa bận đỏ

    Cờ bận vẫy gió

    Chữ bận thành thơ

    Hạt bận vào mùa

    Than bận làm lửa.

    Cô bận cấy lúa

    Chú bận đánh thù

    Mẹ bận hát ru

    Bà bận thổi nấu.

    Còn con bận bú

    Bận ngủ bận chơi

    Bận tập khóc cười

    Bận nhìn ánh sáng.

    Mọi người đều bận

    Nên đời rộn vui

    Con vừa ra đòi

    Biết chăng điều đó

    Mà đem vui nhỏ

    Góp vào đời chung.

    (Bận – Trinh Đường)

    2.1.2. Điệp đầu

    Điệp đầu được sử dụng trong 112 trường hợp (chiếm 26,7%), được chia

    thành các tiểu loại sau:

    Hoàng Phương Thảo

    22

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    a. Điệp các từ, ngữ đầu dòng thơ

    Chúng tôi thống kê được 93 phiếu (chiếm 77%). Từ được điệp có thể

    đứng ở đầu các câu thơ liên tiếp nhau hoặc không liên tiếp nhau. Trong loại

    này lại chia thành 2 tiểu loại nhỏ:

    – Điệp đầu là một từ: có 77 phiếu (chiếm 82,8%).

    Ví dụ 1:

    “Những cánh đồng thơm mát

    Những ngả đường bát ngát

    Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

    (Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

    Ví dụ 2:

    “Suối là tiếng hát của rừng

    Từ cơn mưa bụi ngập ngừng trong mây

    Từ giọt sương của lá cây

    Từ trong vách đá mạch đầy tràn ra.”

    (Suối – Vũ Duy Thông)

    Ví dụ 3:

    “Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình.

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

    (Nhớ Việt Bắc – Tố Hữu)

    – Điệp đầu là một ngữ: có 16 phiếu (chiếm 17,2%).

    Ví dụ:

    “Những chú ngựa xanh lại nằm trên cỏ

    Những chú ngựa hồng lại phi trong lửa”

    (Nếu trái đất thiếu trẻ con – Đỗ Trung Lai)

    Hoàng Phương Thảo

    23

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    b. Điệp các từ, ngữ đầu ở câu đầu khổ thơ

    Kiểu điệp này chúng tôi thống kê được 19 phiếu (chiếm 23%). Đây là

    kiểu điệp mà câu đầu của khổ thơ trên được điệp lại ở câu đầu của các khổ thơ

    tiếp theo. Các từ, ngữ trong câu thơ có thể được giữ nguyên hoặc có một số

    yếu tố được biến đổi cho phù hợp với vần điệu.

    Ví dụ 1:

    “- Ngày hôm qua ở lại

    Trên cành hoa trong vườn

    -Ngày hôm qua ở lại

    Trong hạt lúa mẹ trồng

    -Ngày hôm qua ở lại

    Trong vở hồng của con…”

    (Ngày hôm qua đâu rồi – Bế Kiến Quốc)

    Ví dụ 2:

    “Em yêu màu đỏ

    Như máu trong tim

    Em yêu màu xanh

    Đồng bằng, rừng núi

    Em yêu màu vàng

    Lúa đồng chín rộ

    Em yêu màu trắng

    Trang giấy tuổi thơ

    Hoàng Phương Thảo

    24

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Em yêu màu đen

    Hòn than óng ánh

    Em yêu màu tím

    Hoa cà, hoa sim

    Em yêu màu nâu

    Áo mẹ sờn bạc”

    (Sắc màu em yêu – Phạm Đình Ân)

    2.1.3. Điệp cuối

    Đây là kiểu điệp xuất hiện rất ít trong các loại điệp. Chúng tôi thống kê

    được 14 phiếu (chiếm 3,3%). Điệp cuối có thể điệp liền nhau hoặc không liền

    nhau. Căn cứ vào cách thức sử dụng chúng tôi chia điệp cuối thành các loại

    sau:

    a. Điệp cuối là một từ

    Kiểu điệp này có 8 phiếu (chiếm 57,1%).

    Ví dụ 1:

    “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

    (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận)

    Ví dụ 2:

    “Ai trồng cây

    Người đó có tiếng hát

    Trên vòm cây

    Chim hót lời mê say”

    (Ai trồng cây – Bế Kiến Quốc)

    Hoàng Phương Thảo

    25

    K34B – GDTH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ
  • Phân Tích Nội Dung, Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Quê Hương
  • Phân Tích 3 Khổ Cuối Mùa Xuân Nho Nhỏ (Phân Tích Nghệ Thuật Luôn)
  • Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nhỏ Nhỏ
  • Đoạn Văn Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra Môn Văn 15 Phút Lớp 9 Học Kì 1: Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Ví Dụ Sau
  • Các Biện Pháp Tu Từ Ở Tiểu Học Bien Phap Diep Tu Diep Ngu Doc
  • Soạn Bài Thực Hành Các Phép Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối (Chi Tiết)
  • Thực Hành Biện Pháp Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối Tgphep Diep Va Phep Doi Ppt
  • Thuc Hanh Bien Phap Tu Phep Diep Va Phep Doi Thuc Hanh Phep Diepphep Doi Dc Ppt
  • Yêu cầu về nội dung: – Xác định chính xác câu thơ, câu văn trích trong tác phẩm nào, của tác giả nào, nội dung phản ánh là gì; biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đó là biện pháp gì. – Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung. – Đánh giá câu thơ, câu văn đó. Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn.

    1. Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ Hướng dẫn viết đoạn: Yêu cầu về nội dung: – Xác định chính xác câu thơ, câu văn trích trong tác phẩ m nào, của tác giả nào, nội dung phản ánh là gì; biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đó là biện pháp gì. – Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung. – Đánh giá câu thơ, câu văn đó. Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn. Ví dụ 1: – Bài tập: Viết một đoạn văn phân tích giá trị gợi hình và biểu cảm của các từ láy trong hai câu thơ sau: ” Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”. ( ” Bếp lửa” – Bằng Việt) – Đoạn văn minh hoạ:
    2. Đây là hai câu thơ mở đầu bài thơ ” Bếp lửa”, khơi nguồn cho kí ức Bằng Việt từ nơi xa nhớ về quê hương, nhớ về người bà kính yêu của mình: ” Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”. Nhà thơ nhớ về những kỉ niệm gắn với hình ảnh ” bếp lửa”: ” Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm”. Từ láy tượng hình ” chờn vờn” gợi ánh lửa cháy bập bùng được nhìn qua làn sương mỏng giăng giăng buổi sớm. Đó là một hình ảnh thực in dấu trong tâm khả m, được nhà thơ nhớ lại nó thành một hình ảnh huyền ảo trong ánh hồi quang, mang đầy kỉ niệm đẹp về bếp lửa quê hương. Từ hình ảnh ấy nhà thơ cảm nhận được một sức ấm nóng toả ra không chỉ từ bếp lửa hồng sớm mai: ” Một bếp lử ấp iu nồng đượm”. Từ láy tượng hình ” ấp iu” trong câu thơ có giá trị biểu cảm cao, gợi đôi bàn tay nhóm lửa khéo léo, tần tảo, chịu thương, chịu khó của bà ” mỗi sớm, mỗi chiều lại bếp lửa bà nhen”. Đồng thời từ “ấp iu” còn gợi tấm lòng chăm chút yêu thương của tình bà dành cho cháu trong suốt những năm tháng tuổi thơ sống bên bà. Tình cảm bà cháu lớn lên cùng hình ảnh bếp lửa ngày càng “nồng đượm”. Với sự góp mặt của hai từ láy ” chờn vờn”, “ấp iu” khiến cho câu thơ mang nặng kỉ niệ m về kí ức ân tình, về bếp lửa, về tấm lòng bà, về tình bà cháu thiêng liêng. Ví dụ 2: – Bài tập:
    3. Viết một đoạn văn tổng phân hợp trình bày cảm nhận của em về hai câu thơ: ” Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. ( “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) ( Trong đó có sử dụng câu văn đánh giá, so sánh câu thơ của Nguyễn Du với câu thơ cổ Trung Quốc có nội dung tương tự). Đoạn văn minh hoạ: – Hai câu thơ trên trích trong bài ” Cảnh mùa xuân” ( ” Truyện Kiều” – Nguyễn Du) là hai câu thơ đặc sắc tả cảnh thiên nhiên mùa xuân trong tiết thanh minh. Nguyễn Du không miêu tả nhiều mà ông chỉ chọn tả một số hình ảnh đặc sắc, tiêu biểu, đó là hình ảnh ” cỏ non xanh” tận chân trời, ” cành lê trắng” điểm vài bông hoa. Cỏ xanh non, tươi tốt mơn mởn, mỡ màng được trải dài đến tận chân trời dường như còn được nối với xanh của bầu trời mùa xuân. Thảm cỏ non làm nền để làm nổi bật vẻ đẹp của mấy cành lê đang ra hoa, hoa nở điểm xuyết trên cành. Bằng nghệ thuật đảo ngữ ” trắng điểm”, tác giả đã tạo nên một điể m nhấn cho bức tranh, tô đậm sắc trắng tinh khiết của hoa lê nổi bật trên nền xanh non của cỏ. Hai câu thơ của Nguyễn Du thực ra có mượn hai câu thơ cổ của Trung Quốc: ” Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa”

    Vui lòng điền thông tin của bạn để tải tài liệu

    (Ưu tiên sđt của Viettel hoặc Mobifone)

    Vui lòng chờ 10 giây, một tin nhắn chứa mã số xác thực OTP sẽ được gởi đến số điện thoại của ban. Hãy nhập mã OPT đó vào ô bên dưới để xác nhận việc download tài liệu.

    Phòng và trị bệnh cho cây trồng, vật nuôi

    Trồng cây rừng, cây công nghiệp

    Trồng trọt, chăn nuôi theo mùa

    Vật tư, trang thiết bị nông nghiệp

    Bảo quản, chế biến sau thu hoạch

    Các chuyên đề nông nghiệp khác

    NÔNG HỌC TRÊN FACEBOOK

    HÃY KẾT NỐI VỚI NÔNG HỌC

    GIÁ NÔNG SẢN

    HOA LAN BÍ KÍP

    chợ nông sản

    Hãy khám phá chức năng mới của chúng tôi: tạo gian hàng, đăng sản phẩm để rao bán trực tuyến một cách miễn phí.

    Cơ hội để bạn mở rộng kinh doanh, tìm kiếm đối tác và tăng doanh số nhanh nhất.

    Bạn cũng đang kinh doanh trong lĩnh vực nông sản?

    Tham gia ngay

    KỸ THUẬT THỦY SẢN

    Kỹ thuật nuôi tôm

    Kỹ thuật nuôi cá

      B

      Cá basa

      Cá bóp (cá giò)

      Cá bớp

      Cá bống tượngC

      Cá chép

      Cá chẽm (cá vược)

      Cá chim trắng

      Cá chim (biển)

      Cá chim biển vây vàngCá chìnhCá chốt nghệCá cóc DCá đốiCá đối mụcCá điêu hồngGCá giò (cá bóp)H

      Cá hô

      Cá hồi

      Cá hồi vân

      Cá hồng mỹKCá kèoLCá lăngCá lăng vàngCá lăng chấmCá lăng nhaCá lóc (cá quả), lóc đen, lóc bôngLươnMCá măngCá mè hoaCá mú (cá song)NCá ngựaQCá quả (cá lóc, lóc đen, lóc bông)R

      Cá rô đồng, rô đầu vuông

      Cá rô phiSX cá con rô phi, mè trắng làm thức ăn cho thủy đặc sảnS

      Cá sặc rằn

      Cá sấu

      Cá song (cá mú)TCá tai tượngCá tầmCá thát lát

      Cá tra

      Cá trắm, trắm đen, trắm trắng, trắm cỏCá trêVCá vược, vược trắng, vược nước lợ (cá chẽm)

      Cá nước lạnh

      Nuôi cá nước lạnh

      Các bệnh thường gặp ở cá hồi

      Phương thức nuôi cá lồng biển

      Nuôi cá trong ao

      Kỹ thuật ương cá giống, cá hương

      Kỹ thuật nuôi cá ao nước tĩnh

      Cấy lúa – nuôi cáLàm ổ cho cá đẻ Khác

    Kỹ thuật nuôi các loại thủy hải sản khác

    Vật tư & trang thiết bị: thuốc, hóa chất xử lý môi trường, thức ăn, dụng cụ, thiết bị

    Nuôi thủy sản theo luật và tiêu chuẩn

    An toàn thực phẩm thủy hải sản

    Các chuyên đề khác

    WEBSITE LIÊN KẾT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạng Bài Tập Về Biện Pháp Tu Từ; Nghệ Thuật Dùng Từ, Đặt Câu
  • Thao Giảng: Nói Giảm Nói Tránh Noi Giam Noi Tranh Ppt
  • Soạn Bài: Nói Giảm Nói Tránh
  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá Tài Liệu Học Tập
  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Phương Pháp Tránh Thai Nào Tốt Nhất Cho Bạn?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Hiệu Quả
  • Để viết một bài văn cho người đọc vào có cảm giác lôi cuốn và hấp dẫn bởi phần nội dung và hình thức trình bày, thì các bạn cần sử dụng kết hợp một cách khéo léo các biện pháp nghệ thuật trong bài viết của mình, một số biện pháp đó là: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…..

    Các biện pháp nghệ thuật trong văn bản:

    Trước tiên ta cần tìm hiểu lí thuyết về cụm từ “biện pháp nghệ thuật “, là những nguyên tắc thi pháp trong việc tổ chức một phát ngôn nghệ thuật ( nguyên tắc xây dựng cốt truyện, quy tắc phân chia thể loại, nguyên tắc phong cách, thể thức câu thơ…) việc đưa các biện pháp nghệ thuật là đã có sự dự tính sẵn của tác giả, khi đã xác định được những mục đích, do đó nếu lựa chọn được một biện pháp nghệ thuật thích hợp sẽ là tác phẩm trở nên đắc giá.

    Các loại chúng ta thường gặp:

    1. So sánh

    – Là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, đặc biệt là có nét tương đồng

    Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hóa

    – Là dùng những từ ngữ vốn miêu tả hành động bản chất của con người để gán vào sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    3. Ẩn dụ

    – Là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác, chúng có nét tương đồng với nhau

    Ví dụ: Mặt trời của Mẹ thì nằm trên lưng

    Cách nhận biết giữa so sánh và ẩn dụ:

    • So sánh: có dấu hiệu nhận biết qua các từ như sau: là, như, bao nhiêu…. bấy nhiêu.
    • Ẩn dụ: có dấu hiệu nhận biết qua các nét tương đồng của 2 sự vật hiện tượng.

    4. Hoán dụ

    – Là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vât, hiện tượng khác có nét tương đồng gần gũi

    Ví dụ: Áo chàm đưa buổi phân li / Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    Cách so sánh nhân hóa và hoán dụ:

    • Nhân hóa có sự nhận biết đó là có chứa các từ tên gọi, hoạt động của con người.
    • Hoán dụ có sự nhận biết là 2 sự vật có nét giống nhau

    5. Nói quá

    – Là biện pháp dùng để phóng đại qui mô,tính chất của sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Chân to giống cái cột đình

    6. Nói giảm nói tránh

    – Là biện pháp nhằm diễn đạt các ý văn thơ một cách tế nhị, uyển chuyển

    Ví dụ: Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    7. Điệp từ, điệp ngữ

    – Là biện pháp được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ hay một cụm từ

    Ví dụ: Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…

    8. Chơi chữ

    – Là biện pháp được sử dụng đặc sắc về âm sắc, về nghĩa của từ

    Ví dụ: Trời cho = Trò chơi

    – Đó là những biện pháp nghệ thuật thông dụng trong chương trình văn học các học sinh thường gặp mà chúng tôi tổng hợp. Chúng tôi hi vọng rằng bài viết này đã tóm tắt một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất để giúp các em trong quá trình học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Đặt Câu Có Sử Dụng Biện Pháp Điệp Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Tu Từ Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Ngô Văn Phú
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ
  • Cách Viết Đoạn Văn Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ
    • Viết đoạn văn ngắn có sử dung câu đặc biệt, câu rút gọn,dấu chấm lửng,dấu chấm than, dấu gạch ngang và nêu công dụng cảu dấu câu, dấu câu sử dụng

    • Viết đoạn văn ngắn trong đó có sử dụng cậu mở rộng, câu đặc biệt và trạng ngữ (đề tại tự chọn)

    • Câu 1. Tìm cụm chủ vị mở rộng và cho biết chúng làm thành phần gì trong câu

      a)Ở trên lớp, học sinh chăm chỉ làm bài là một việc làm tốt

      b) Mùa hè, hoa phượng nở làm cho sân trường thêm rực rỡ.

      Câu 2. Tìm phép liệt kê và phân loại, nêu tác dụng

      a) Ngoài hò, ở ca Huế còn bắt gặp các điệu lý như : lý con sáo, lý hoài xuân, lý hoài nam

      b) Nhạc công dùng các ngón đàn trau chuốt như ngón nhấn, mổ, vỗ, vã….

      HELPP MEEE

    • Mọi người giúp mình mấy bài này với hí hí

      +Đoạn văn về tình cảm gia đình có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm bạn bè có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm anh em có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm quê hương có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      Mong mọi người giup đỡ tí mình phải nộp bài rồi

    • câu 2: kể tên các chuyện đã học trong chương trình lớp 7? em thích truyện nào? vì sao?

      câu 3: có mấy tiêu chí để phân loại phép liệt kê

      giúp vs

    • Xác định kiểu câu và gạch chân dưới những từ ngữ nhận biết.

      a, An hỏi: Bạn là ai ?

      b, Bạn định làm gì vào ngày mai ?

      c, Tại sao bạn không làm bài tập về nhà ?

      d, Em đừng khóc nữa.

      e, Em đi về đi.

      f, Tớ chỉ đùa thôi.

      g, Ôi ! Khổ quá.

      h, Chao ôi ! Bọn chúng thật ác.

      i, Tôi thương mẹ tôi biết bao.

      k, Tôi nói với Phương: Bạn cứ vào trong nhà mình chơi.

      l, Mẹ nói: Bố về rồi con đi dọn cơm cho bố.

    • Xác định chủ ngữ , vị ngữ , trạng ngữ ( nếu có ) .

      1. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội nhanh như sóc, thoăn thoắt leo lên bốn cây chuối bôi mỡ bóng nhẫy để lấy nén hương cắm ở trên ngọn.

      2. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi

    • Phân tích tác dụng của phép nhân hóa:

      Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

    • Tìm câu đặc biệt, trạng ngữ và câu rút gọn:

      Nhân dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. từ già đến trẻ, tất cả đều sẵn sàng hy sinh vì đất nước Việt Nam. Những cô gái trẻ độ tuôi đôi mươi, cũng chấp nhận từ bỏ lứa tuổi đẹp nhất của đời người để ra trận. Những người mẹ tần tảo đã đau khổ biết mấy khi để những người con mà họ hết lòng yêu thương ra trận. Những người phụ nữ, bất chấp tất cả, cũng cùng các thanh niên trang bị cho cuộc chiến tranh sắp đến… Tất cả những công dân Việt Nam,họ biết họ đang đối mặt với sự sống và cái chết… nhưng họ gạt bỏ tất cả nỗi sợ hãi bị tật nguyền, bị mất đi đôi chân hoặc cánh tay, tệ hơn nữa, họ sẽ chết chìm trong biển lửa tàn khốc của chiến tranh. Nhưng lý do gì đã không ngừng thôi thúc họ không được từ bỏ, rằng dù có bị tật nguyền cũng phải dũng cảm chiến đấu vì tương lai sau này? Đó là vì tinh thần yêu nước của nhân dân ta quá sâu đậm. Dường như trong dòng máu của mỗi công dân Việt Nam đều đã có sẵn tinh thần bất khuất ầy. Nó sẽ không bao giờ chịu khuất phục bởi chiến tranh, luôn sống mãi trong tim mỗi con người, mỗi công dân Việt Nam

    • Xác định từ láy và từ ghép trong các từ sau đây:

      +đầu đuôi +heo hút +tươi tốt

      +ngọn ngành +đông đủ +nảy nở

      +chậm chạp +ngọt ngào +xinh xẻo

      +mệt mỏi + chua chát + tươi tắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • (Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,phân Loại ,tác Dụng, Ví Dụ),so Sánh ,ẩn Dụ,nhân Hóa,hoán Dụ,nói Quá ,nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ
  • Tác Dụng Của 12 Biện Pháp Tu Từ Câu Hỏi 153226
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Đạt 9.5 Điểm
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Năm 2022 Môn Ngữ Văn Trường Ngô Sĩ Liên
  • Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nghệ Thuật Nhân Hóa Bien Phap Tu Tu Nhan Hoa Doc
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Top 6 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nhỏ Nhỏ
  • Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng đẻ gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.

    Từ nhân hoá nghĩa là trở thành người. Khi gọi tả sự vật người ta thường gán cho sự vật đặc tính của con người. Cách làm như vậy được gọi là phép nhân hoá.

    VD:

    (Trần Đăng Khoa)

    Nhân hoá được chia thành các kiểu sau đây:

    + Gọi sự vật bằng những từ vốn gọi người

    VD:

    Dế Choắt ra cửa, hé mắt nhìn chị Cốc. Rồi hỏi tôi :

    – Chị Cốc béo xù đứng trước cửa nhà ta đấy hả ?

    (Tô Hoài)

    + Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động, tính chất sự vật.

    VD :

    Muôn nghìn cây mía

    Múa gươm

    Kiến

    Hành quân

    Đầy đường

    (Trần Đăng Khoa)

    + Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động tính chất của thiên nhiên

    VD :

    Ông trời

    Mặc áo giáp đen

    Ra trận

    (Trần Đăng Khoa)

    + Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người

    VD :

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất ?

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt trên vai

    (Ca dao)

    Em hỏi cây kơ nia

    Gió mày thổi về đâu

    Về phương mặt trời mọc…

    (Bóng cây kơ nia)

    Phép nhân hoá làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm ; làm cho thế giới đồ vật, cây cối, con vật được gần gũi với con người hơn.

    VD :

    Bác giun đào đất suốt ngày

    Hôm qua chết dưới bóng cây sau nhà.(Trần Đăng Khoa)

    Trong câu ca dao sau đây:

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta

    Cách trò chuyện với trâu trong bài ca dao trên cho em cảm nhận gì ?

    – Chú ý cách xưng hô của người đối với trâu. Cách xưng hô như vậy thể hiện thái độ tình cảm gì ? Tầm quan trọng của con trâu đối với nhà nông như thế nào ? Theo đó em sẽ trả lời được câu hỏi.

    Tìm phép nhân hoá và nêu tác dụng của chúng trong những câu thơ sau:

    Trong gió trong mưaChú ý cách dùng các từ vốn chỉ hoạt động của người như:

    Ngọn đèn đứng gác

    Cho thắng lợi, nối theo nhau

    Đang hành quân đi lên phía trước.

    – Đứng gác, nối theo nhau, hành quân, đi lên phía trước.

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.
  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Thiếu Nhi (Cứ Liệu Lhảo Sát Sgk Tiếng Việt Tiểu Học Sau Năm 2000)
  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Của Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Và Làm Rõ Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Lớp 9 Môn Ngữ Văn Năm Học 2022
  • Bài Văn Phân Tích Yếu Tố Dân Gian Được Sử Dụng Trong Bài Thơ Bánh Trôi
  • Đề kiểm tra học kì 2 Ngữ văn 11: Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong khổ thơ

    Đề kiểm tra môn Ngữ văn lớp 11 học kì 2: Câu thơ/ khổ thơ nào gợi cho anh/chị ấn tượng sâu sắc nhất? (trình bày trong đoạn văn ngắn từ 5 – 7 dòng)

    Đề bài Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới: (…) Con gặp trong lời mẹ hát Cánh cò trắng, dải đồng xanh Con yêu màu vàng hoa mướp ” Con gà cục tác lá chanh”. (…) Thời gian chạy qua tóc mẹ Một màu trắng đến nôn nao Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho con ngày một thêm cao. Mẹ ơi trong lời mẹ hát Có cả cuộc đời hiện ra Lời ru chắp con đôi cánh Lớn rồi con sẽ bay xa.

    ( Trích ” Trong lời mẹ hát “- Trương Nam Hương)

    1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên là gì? (0,5đ)

    A. Tự sự B. Miêu tả

    C. Biểu cảm D. Thuyết minh.

    2. Nêu nội dung của đoạn thơ. (0,5đ)

    3. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong khổ thơ: (1,0đ)

    Thời gian chạy qua tóc mẹ Một màu trắng đến nôn nao Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho con ngày một thêm cao.

    4. Câu thơ/ khổ thơ nào gợi cho anh/chị ấn tượng sâu sắc nhất? (trình bày trong đoạn văn ngắn từ 5 – 7 dòng) (1,0đ)

    1. (2,0đ)

    Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về tình mẫu tử.

    2. (5,0đ): Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

    (Trích Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử)

    Lời giải chi tiết I. ĐỌC HIỂU (3,0đ):

    Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: C. Biểu cảm.

    2. Nội dung chính: cảm xúc về lời ru của mẹ, nỗi xót xa và biết ơn của người con trước sự hi sinh thầm lặng của mẹ.

    3.. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ:

    – Nhân hóa: thời gian chạy qua tóc mẹ

    – Hiệu quả: nhấn mạnh thời gian trôi qua nhanh kéo theo sự già

    nua của mẹ. Qua đó thể hiện tình yêu thương, biết ơn của con đối với mẹ.

    Câu 4. HS có thể chọn câu thơ hoặc đoạn thơ bất kì để cảm nhận: ấn tượng về lời ru của mẹ, về công lao của mẹ, về sự biết ơn đối với mẹ…

    1. Viết một đoạn văn ( khoảng 200 chữ) về tình mẫu tử.

    a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận.

    b. Xác định được đúng vấn đề cần nghị luận

    Nghị luận về tình mẫu tử.

    c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm: kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động.

    Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có các thao tác cơ bản sau:

    – Giải thích: Tình mẫu tử là tình mẹ con, nhưng thường được hiểu là tình cảm thương yêu, đùm bọc, che chở… người mẹ dành cho con.

    – Bàn luận:

    + Tình mẫu tử có vị trí đặc biệt, thiêng liêng nhất đối với mỗi con người.

    + Tình mẫu tử còn là truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc.

    + Tình mẫu tử là sức mạnh giúp con người vượt lên những khó khăn, vấp ngã trong cuộc sống….

    – Phê phán những hiện tượng trái đạo lí: những người mẹ vứt bỏ con mình, những người con bất hiếu, …

    Bài học nhận thức và hành động của bản thân.

    d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

    2.a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: . Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp khổ thơ đầu trong bài Đây bsống của nhà thơ. . Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người thôn Vĩ; Đồng thời thấy được tâm trạng thiết tha, mãnh liệt, trong trẻo của chủ thể trữ tình đối với thiên nhiên và con người xứ Huế; Sự yêu đời, yêu cuộc của Hàn Mặc Tử

    e. Chính tả, dùng từ, đặt câu đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

    Có đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

    Mở đầu bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

    Chú ý nghệ thuật: từ ngữ, hình ảnh thơ, câu hỏi, so sánh.

    c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

    Giới thiệu khái quát về tác giả Hàn Mặc Tử và bài thơ“Đây thôn Vĩ Dạ”; Hoàn cảnh sáng tác bài thơ.

    Nêu và phân tích luận đề: vẻ đẹp của thiên nhiên con ngườixứ Huế và tâm trạng thiết tha với cuộc sống của tác giả trong đoạn thơ:

    Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ lúc bình minh đẹp, tươi tắn được tái hiện qua nỗi nhớ da diết của thi nhân.

    Thôn Vĩ được tái hiện bằng vài nét vẽ thoáng nhẹ nhưng lại đầy ấn tượng; hài hoà giữa ánh nắng vàng rực rỡ trên hàng cau xanh tươi; hài hoà giữa thiên nhiên và con người ; cảm xúc say đắm mãnh liệt, yêu Huế, yêu người xứ Huế nhưng không thể về với Huế.

    d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận, văn phong trong sáng, giàu cảm xúc

    e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nội Dung, Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Quê Hương
  • Phân Tích 3 Khổ Cuối Mùa Xuân Nho Nhỏ (Phân Tích Nghệ Thuật Luôn)
  • Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nhỏ Nhỏ
  • Top 6 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Nội Dung, Giá Trị Nghệ Thuật Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Việc Tạo Nên Tính Hình Tượng Ở Câu Ca Dao Sau: “thân Em Như Quế Giữa
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Quỳnh Anh
  • Đề kiểm tra môn Ngữ văn lớp 11 học kì 2: Câu thơ/ khổ thơ nào gợi cho anh/chị ấn tượng sâu sắc nhất? (trình bày trong đoạn văn ngắn từ 5 – 7 dòng)

    Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới: (…) Con gặp trong lời mẹ hát Cánh cò trắng, dải đồng xanh Con yêu màu vàng hoa mướp ” Con gà cục tác lá chanh”. (…) Thời gian chạy qua tóc mẹ Một màu trắng đến nôn nao Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho con ngày một thêm cao. Mẹ ơi trong lời mẹ hát Có cả cuộc đời hiện ra Lời ru chắp con đôi cánh Lớn rồi con sẽ bay xa.

    ( Trích ” Trong lời mẹ hát “- Trương Nam Hương)

    1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên là gì? (0,5đ)

    A. Tự sự B. Miêu tả

    C. Biểu cảm D. Thuyết minh.

    2. Nêu nội dung của đoạn thơ. (0,5đ)

    3. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong khổ thơ: (1,0đ)

    Thời gian chạy qua tóc mẹ Một màu trắng đến nôn nao Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho con ngày một thêm cao.

    4. Câu thơ/ khổ thơ nào gợi cho anh/chị ấn tượng sâu sắc nhất? (trình bày trong đoạn văn ngắn từ 5 – 7 dòng) (1,0đ)

    1. (2,0đ)

    Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về tình mẫu tử.

    2. (5,0đ): Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

    (Trích Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử)

    I. ĐỌC HIỂU (3,0đ):

    Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: C. Biểu cảm.

    2. Nội dung chính: cảm xúc về lời ru của mẹ, nỗi xót xa và biết ơn của người con trước sự hi sinh thầm lặng của mẹ.

    3.. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ:

    – Nhân hóa: thời gian chạy qua tóc mẹ

    – Hiệu quả: nhấn mạnh thời gian trôi qua nhanh kéo theo sự già

    nua của mẹ. Qua đó thể hiện tình yêu thương, biết ơn của con đối với mẹ.

    Câu 4. HS có thể chọn câu thơ hoặc đoạn thơ bất kì để cảm nhận: ấn tượng về lời ru của mẹ, về công lao của mẹ, về sự biết ơn đối với mẹ…

    1. Viết một đoạn văn ( khoảng 200 chữ) về tình mẫu tử.

    a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận.

    b. Xác định được đúng vấn đề cần nghị luận

    Nghị luận về tình mẫu tử.

    c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm: kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động.

    Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có các thao tác cơ bản sau:

    – Giải thích: Tình mẫu tử là tình mẹ con, nhưng thường được hiểu là tình cảm thương yêu, đùm bọc, che chở… người mẹ dành cho con.

    – Bàn luận:

    + Tình mẫu tử có vị trí đặc biệt, thiêng liêng nhất đối với mỗi con người.

    + Tình mẫu tử còn là truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc.

    + Tình mẫu tử là sức mạnh giúp con người vượt lên những khó khăn, vấp ngã trong cuộc sống….

    – Phê phán những hiện tượng trái đạo lí: những người mẹ vứt bỏ con mình, những người con bất hiếu, …

    Bài học nhận thức và hành động của bản thân.

    d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

    2.a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: . Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp khổ thơ đầu trong bài Đây bsống của nhà thơ. . Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người thôn Vĩ; Đồng thời thấy được tâm trạng thiết tha, mãnh liệt, trong trẻo của chủ thể trữ tình đối với thiên nhiên và con người xứ Huế; Sự yêu đời, yêu cuộc của Hàn Mặc Tử

    e. Chính tả, dùng từ, đặt câu đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

    Có đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

    Mở đầu bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

    Chú ý nghệ thuật: từ ngữ, hình ảnh thơ, câu hỏi, so sánh.

    c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

    Giới thiệu khái quát về tác giả Hàn Mặc Tử và bài thơ“Đây thôn Vĩ Dạ”; Hoàn cảnh sáng tác bài thơ.

    Nêu và phân tích luận đề: vẻ đẹp của thiên nhiên con ngườixứ Huế và tâm trạng thiết tha với cuộc sống của tác giả trong đoạn thơ:

    Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ lúc bình minh đẹp, tươi tắn được tái hiện qua nỗi nhớ da diết của thi nhân.

    Thôn Vĩ được tái hiện bằng vài nét vẽ thoáng nhẹ nhưng lại đầy ấn tượng; hài hoà giữa ánh nắng vàng rực rỡ trên hàng cau xanh tươi; hài hoà giữa thiên nhiên và con người ; cảm xúc say đắm mãnh liệt, yêu Huế, yêu người xứ Huế nhưng không thể về với Huế.

    d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận, văn phong trong sáng, giàu cảm xúc

    e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giúp Học Sinh Tìm Hiểu Vẻ Đẹp Của Biện Pháp Tu Từ Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5
  • Ôn Tập He Tiếng Việt 5 Tieng Viet On Tap He Lop 5 Doc
  • Top 5 Bài Soạn “tập Làm Thơ Bốn Chữ” Lớp 5 Hay Nhất
  • Một Số Bài Tiếng Việt Nâng Cao Lớp 5
  • Soạn Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Dốc Lên Khúc Khuỷu, … Nhà Ai Pha Luông Mưa Xa Khơi. Đây Là Một Khổ Thơ Tuyệt Bút Của Quang Dũng Trong Bài Tãy Tiến. Hãy Bình Giảng Để Làm Nổi Rõ
  • Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ
  • Đằng Sau Câu Thơ ‘em Là Ai? Cô Gái Hay Nàng Tiên?’ Là Một Tội Ác Tày Trời Không Phải Ai Cũng Biết
  • Đọc Đoạn Thơ Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Từ Câu 1 Đến Câu 4:
  • Tìm Hiểu Nội Dung Chính Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu
  • Số lượt đọc bài viết: 68.014

    Là việc lặp lại một cụm từ, mà theo đó các từ, cụm từ này cách quãng với nhau, không có sự liên tiếp

    Ví dụ: điệp từ “nhớ”

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

    Là việc lặp đi lặp lại một từ, cụm từ có sự nối tiếp nhau

    “Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu

    Những cô gái Thạch Kim, Thạch Nhọn.

    Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm

    Sách áo mở tung, trắng cả trời chiều”

    Điệp từ chuyển tiếp còn được gọi là điệp từ vòng

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

    Mục đích của điệp từ là gì?

    Điệp từ là gì? Mục đích của điệp từ là gì? Điệp từ hay còn gọi là điệp ngữ là biện pháp tu từ được sử dụng rất nhiều trong văn chương. Vậy mục đích của biện pháp biện pháp điệp từ là gì?

    Điệp từ “dốc” giúp gợi nên hình ảnh đồi núi trập trùng, hiểm trở

    Ví dụ: Một đoạn thơ trong bài “Nhớ sao”:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

    Ví dụ: Một đoạn thơ trong bài “Hạt gạo làng ta”

    “Hạt gạo làng ta

    Của sông Kinh Thầy

    Có hương sen thơm

    Trong hồ nước đầy

    Có lời mẹ hát

    Ngọt bùi đắng cay…”

    “Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng, bông trắng, lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

    Ngoài việc ghi nhớ về khái niệm và ý nghĩa của điệp từ là gì, bạn cũng cần nắm được những lưu ý khi sử dụng biện pháp tu từ này. Điệp từ là một biện pháp tu từ rất phổ biến, được sử dụng rất nhiều trong văn chương giúp khắc họa rõ nét hình ảnh, tình cảm mà tác giả gửi gắm vào tác phẩm.

    Khi sử dụng điệp từ phải xác định được mục đích sử dụng, chỉ sử dụng khi cần thiết và phải có lối diễn giải mạch lạc rõ ràng, tránh việc lạm dụng quá mức gây rườm rà cho bài văn.

    Ví dụ: “Trường em có mái ngói đỏ. Trường em có lá cờ đỏ tung bay phấp phới giữa sân trường. Trường em có hàng cây phượng tỏa bóng mát. Trường em có những thảm cỏ xanh xanh cho chúng em. Trường em đã xây dựng lâu, trông trường em rất cổ kính và khi nhìn trường em, em lại có cảm giác gần gũi và bình yên. Em rất yêu trường em.”

    Câu 2: (SGK Ngữ văn 7 tập 1 trang 153)

    Như vậy, trong một bài văn, có thể kết hợp nhiều biện pháp tu từ khác nhau như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ… Các bạn cần chọn lọc về việc sử dụng các biện pháp tu từ cần thiết, không kết hợp quá nhiều biện pháp tu từ trong một đoạn khi bạn không đủ “chắc tay” để tạo điểm nhấn.

    Mục đích: nhấn mạnh ý chí của dân tộc, sự quyết tâm giành lại tự do, độc lập và dân tộc ta xứng đáng được tự do, độc lập

    • Đi cấy: nhấn mạnh công việc đang làm
    • Trông: thể hiện sự cực nhọc, vất vả của người nông dân

    Tìm điệp ngữ trong câu:

    Câu 3: ( SGK Ngữ văn 7 tập 1 trang 153)

    Gợi ý:

    Xa nhau: điệp ngữ ngắt quãng

    Câu 4: Viết đoạn văn có sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ

    Một giấc mơ thôi: điệp ngữ nối tiếp

    1. a) Việc lặp đi lặp lại một số từ trong đoạn văn trên không mang lại một ý nghĩa nào cả, chỉ làm câu văn thêm rườm rà, khó hiểu.
    2. b) Có thể sửa lại như sau:

    Phía sau nhà em có một mảnh vườn. Em trồng rất nhiều hoa: hao thược dược, đồng tiên, hồng, cúc và cả lay ơn nữa. Ngày Quốc tế phụ nữ em hái những bông hoa sau vườn tặng mẹ, tặng chị

    Sau bao năm gặp lại, cậu ấy thay đổi khá nhiều. Mái tóc ngắn lởm chởm ngày ấy đã không còn mà thay vào đó mái tóc dài đen bóng mượt, đôi má bánh bao mất đi thay vào đó là khuôn mặt gầy gầy thanh tú, hàm răng sún ngày nào giờ đã đều như hạt bắp, duy chỉ có nụ cười là không thay đổi, nụ cười của cậu ấy vẫn bừng sáng một khung trời.

    Tôi không nghĩ gặp lại một người bạn cũ lại ngượng ngùng đến vậy, chúng tôi đã thay đổi rất nhiều nhưng tôi vẫn hy vọng chúng tôi có đủ thời gian để tìm kiếm lại tình bạn ngày nào – một tình bạn vô tư, một tình bạn đáng yêu, một tình bạc quý giá hơn cả bạc vàng…

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ
  • Chỉ Ra Phép Ẩn Dụ Trong Câu Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè…
  • Bài 1: Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Sau: 1. Trăm Năm Đành Lỗi Hẹn Hò Cây Đa Bến Cũ Con Đò Khác Đưa 2. Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè Đầu
  • Bật Mí Về Phương Pháp Học Văn Đạt Hiệu Quả Cao
  • Một Số Biên Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Định Nghĩa Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ
  • Dốc Lên Khúc Khuỷu, … Nhà Ai Pha Luông Mưa Xa Khơi. Đây Là Một Khổ Thơ Tuyệt Bút Của Quang Dũng Trong Bài Tãy Tiến. Hãy Bình Giảng Để Làm Nổi Rõ
  • Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ
  • Đằng Sau Câu Thơ ‘em Là Ai? Cô Gái Hay Nàng Tiên?’ Là Một Tội Ác Tày Trời Không Phải Ai Cũng Biết
  • Đọc Đoạn Thơ Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Từ Câu 1 Đến Câu 4:
  • Thế nào là Điệp từ, điệp ngữ?

    Điệp từ (hay còn gọi là điệp ngữ) là một biện pháp tu từ trong văn học chỉ việc lặp đi, lặp lại một từ hoặc một cụm từ, nhằm nhấn mạnh, khẳng định, liệt kê, … để làm nổi bật vấn đề khi muốn nói đến.

    Các dạng của Điệp ngữ

    Điệp ngữ có các dạng: điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ chuyển tiếp (điệp ngữ vòng). Sự khác biệt giữa 3 hình thức điệp ngữ được thể hiện sau đây:

    Đây là hình thức lặp lại một cụm từ, mà trong đó, các từ, cụm từ này cách quãng với nhau, không có sự liên tiếp

    Ví dụ: Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

    Cụm từ “Nhớ sao” là điệp ngữ cách quãng.

    Đây là việc lặp đi lặp lại một từ, cụm từ có sự nối tiếp nhau

    Ví dụ: Những cô gái Thạch Kim, Thạch Nhọn. Sách áo mở tung, trắng cả trời chiều”

    Trong đoạn thơ trên, cụm từ “rất lâu”, “Khăn xanh” là điệp ngữ nối tiếp.

    Ví dụ: “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

    Trong ví dụ trên, “thấy” và “ngàn dâu” là điệp ngữ chuyển tiếp.

    Tác dụng của điệp từ, điệp ngữ

    Ví dụ: Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

    Trong đoạn thơ trên, từ “nhớ sao” được lặp lại tới 3 lần cho thấy tác dụng nhấn mạnh sự nhớ nhung của tác giả về những kỷ niệm xưa cũ.

    “Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

    Trong ví dụ trên, biện pháp lặp lại một cụm từ nhằm khẳng định vẻ đẹp thuần túy của bông sen.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Ra Phép Ẩn Dụ Trong Câu Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè…
  • Bài 1: Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Sau: 1. Trăm Năm Đành Lỗi Hẹn Hò Cây Đa Bến Cũ Con Đò Khác Đưa 2. Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè Đầu
  • Bật Mí Về Phương Pháp Học Văn Đạt Hiệu Quả Cao
  • Một Số Biên Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Phân Tích Cảm Hứng Về Đất Nước Qua Hai Đoạn Thơ Sau: “quân Đi Điệp Điệp Trùng Trùng Ánh Sao Đầu Súng Bạn Cùng Mũ Nan. Dân Công Đỏ Đuốc Từng Đoàn Bước Chân Nát
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100