Top 3 # Hồng Cầu Có Chức Năng Gì Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Chức Năng Của Hồng Cầu Là Gì

Máu là gì?

Máu là một yếu tố cơ bản để đảm bảo sự phát triển và hoạt động đúng đắn của cơ thể chúng ta. Nhờ chất lỏng này, tất cả các yếu tố cần thiết được vận chuyển để các tế bào của chúng ta được oxy hóa, nuôi dưỡng, loại bỏ tất cả các độc tố và tất cả các cơ quan và mô của chúng ta hoạt động chính xác.

Do đó, chúng ta có thể định nghĩa máu là mô, ở trạng thái lỏng, kết nối toàn bộ cơ thể với nhau và hoạt động trong việc vận chuyển các chất dinh dưỡng và vật liệu thiết yếu cho sự sống của chúng ta (như oxy) đến tất cả các bộ phận của cơ thể, trong khi thu gom chất thải (như carbon dioxide) từ các mô và tế bào để có thể loại bỏ chúng qua phổi. Máu cũng bảo vệ cơ thể chúng ta khỏi nhiễm trùng và các bệnh mà vi khuẩn có thể gây ra.

Nhờ có nó, các kháng thể được tạo ra giúp chúng ta loại bỏ vi trùng và vi rút có thể được cài đặt trong chúng ta. Và, như thể điều đó là không đủ, máu cũng hoạt động như một chất điều chỉnh, vì nó theo dõi và duy trì nhiệt độ cơ thể của chúng ta, quản lý mức nước và muối và cân bằng huyết áp.

Tóm lại, ba chức năng cơ bản của máu là vận chuyển, bảo vệ và điều tiết. Vì tất cả những lý do này, máu, không nghi ngờ gì, là một trong những mô quan trọng và quan trọng nhất của cơ thể chúng ta.

Thành phần của máu

Nhưng máu không chỉ là một chất lỏng màu đỏ và nhớt – được gọi là huyết tương -, cũng có nhiều yếu tố tạo nên và có ý nghĩa với mục tiêu của máu trong cơ thể chúng ta, mỗi loại có chức năng riêng.

Để hiểu thành phần của máu, chúng ta phải phân biệt giữa hai phần khác nhau: huyết tương, đó là chất lỏng bao gồm 92% nước và các yếu tố cần thiết khác như enzyme, hormone, kháng thể, chất dinh dưỡng, muối, protein, khí … và các tế bào máu trong đó. Cụ thể đây là những tế bào máu mà chúng ta sẽ tìm thấy trong huyết tương và do đó, là một phần của máu và chiếm 45% thể tích máu:

Tế bào hồng cầu: còn được gọi là hồng cầu hoặc hồng cầu. Máu chứa từ 4 đến 5 triệu tế bào hồng cầu mỗi mm3. Mục tiêu chính của nó là vận chuyển oxy đến các mô khác nhau của cơ thể.

Tiểu cầu: có từ 200.000 đến 400.000 mỗi mm3. Chúng là những mảnh nhỏ của các tế bào máu chịu trách nhiệm hình thành cục máu đông sẽ giúp chúng ta chữa lành vết thương và ngăn chảy máu. Chúng được sản xuất bởi tủy xương.

Bạch cầu: còn được gọi là bạch cầu. Máu đếm từ 6.000 đến 9.000 tế bào bạch cầu mỗi mm3. Chúng ta có thể phân biệt giữa một số bạch cầu và mỗi loại có một chức năng cụ thể trong sự bảo vệ của sinh vật của chúng ta.

Chức năng của hồng cầu

Các tế bào hồng cầu, còn được gọi là hồng cầu, hồng cầu hoặc hồng cầu, là một phần của các tế bào máu cơ bản cùng tồn tại trong huyết tương. Chúng bao gồm globulin và hemoglobin, nghĩa là một cấu trúc phân tử, có chức năng chính là:

Vận chuyển oxy đến các mô khác nhau của cơ thể

Thu gom carbon dioxide để loại bỏ chất thải độc hại

Ngoài ra, loại tế bào này còn tạo ra màu đỏ cho máu vì chúng không có nhân và tế bào chất của chúng được hình thành từ huyết sắc tố, tạo ra màu sắc cho hình cầu và máu. Giống như các tế bào bạch cầu, hoạt động trong việc bảo vệ cơ thể chúng ta, các tế bào hồng cầu cũng có nguồn gốc từ tủy xương. Nhìn bằng mắt thường, chúng ta có thể xác định rằng chúng là những tế bào màu đỏ tương tự như đĩa biconcave (hình bầu dục) không có nhân và chúng có đường kính khoảng 0, 007 mm.

Như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, trong máu của chúng tôi có từ 4 đến 5 triệu tế bào hồng cầu trên một milimét khối, chỉ sống được 120 ngày và được loại bỏ thông qua việc giải phóng bilirubin. Các mô tạo máu của tủy xương chịu trách nhiệm sản xuất hàng triệu tế bào hồng cầu mỗi ngày để máu của chúng ta luôn có các chất mang xác thực có thể thực hiện công việc cho ăn và oxy hóa tất cả các tế bào của cơ thể, để giữ cho chúng ta khỏe mạnh.

Bệnh ảnh hưởng đến hồng cầu

Chức Năng Của Hồng Cầu

1. Hồng cầu là gì?

Hồng cầu (hay hồng huyết cầu) là thành phần chiếm số lượng lớn trong tế bào máu (96%), có chứa huyết sắc tố giúp cho máu có màu đỏ.

Cấu tạo hồng cầu

Trước đây, dưới góc nhìn của kính hiển vi quang học hồng cầu được thấy có hình tròn nên được cho rằng các tế bào đó đều hình cầu, tạo thành nguồn gốc tên gọi “hồng cầu”.

Đến ngày nay dưới kính hiển vi điện tử, tế bào hình cầu hiển thị rõ hình dạng đĩa lõm hai mặt với đường kính khoảng 7,8 micromet, độ dày khoảng 2,5 micromet ở chỗ dày nhất và không quá 1 micromet ở trung tâm. Thể tích trung bình của hồng cầu trong khoảng 76 – 96 micromet3. Do có màng tế bào hồng cầu dẻo dai bao bọc nên hồng cầu có khả năng biến dạng rất cao mà không bị vỡ rách khi di chuyển qua các mao mạch.

Thành phần chính của tế bào hồng cầu là hemoglobin, một protein giàu sắt tạo màu đỏ cho máu khi sắt liên kết với oxy. Mỗi phân tử hemoglobin bao gồm 4 nguyên tử sắt và mỗi nguyên tử sẽ liên kết với 1 phân tử oxy và 2 nguyên tử oxy. Khoảng 33% của 1 tế bào hồng cầu là hemoglobin, thường có mật độ 14 g/dL ở nữ giới và 15,5 g/dL ở nam giới.

Số lượng hồng cầu trong cơ thể người

Để tính toán số lượng hồng cầu trong máu, người ta sử dụng chỉ số RBC (Red Blood Cell) khi xét nghiệm. Giá trị chỉ số RBC thường thấy nằm trong khoảng từ 4,2 – 5,9 triệu tế bào/cm³. Giá trị chuẩn của chỉ số RBC thay đổi tùy theo đối tượng được xét nghiệm:

Ở nam giới: 4.5 – 6.5 M/µl.

Ở nữ giới: 3.9 – 5.6 M/µl

Ở trẻ sơ sinh: khoảng 3.8 M/µl

Số lượng hồng cầu có thể thay đổi trong một số trường hợp sinh lý: ở trẻ em ngưỡng hồng cầu được cho là cao còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố tuổi và giới tính. Hiện tượng số lượng hồng cầu vượt chuẩn thường xuất hiện ở những người sống ở vùng núi cao hoặc các vận động viên sử dụng doping.

2. Công dụng của Hồng cầu

Tế bào hồng cầu có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các tế bào trong cơ thể và nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô lên đào thải ở phổi (loại bỏ khí CO2). Chức năng của hồng cầu có những tác động lớn đến các hoạt động khác nhau của cơ thể:

Màng tế bào hồng cầu có cấu tạo từ các lipid và protein cần thiết cho chức năng sinh lý, đồng thời thông qua hệ tuần hoàn hoạt động trong mạng lưới mao mạch.

Hồng cầu có trong máu giúp vận chuyển các axit béo, axit amin, glucose từ mao ruột non đến các tế bào và các tổ chức trong cơ thể. Máu mang cặn bã của quá trình chuyển hóa đến các cơ quan bài tiết.

Nếu đủ lượng hồng cầu, da và niêm mạc (lưỡi, kết mạc mắt, nướu răng..) sẽ có màu hồng đặc trưng. Ngược lại khi thiếu hồng cầu (thiếu máu, mất máu), máu không cung cấp đủ oxy cho các mô và cơ quan để hoạt động hiệu quả. Người bệnh sẽ có dấu hiệu da và niêm mạc nhợt nhạt, cảm giác mệt mỏi, giảm khả năng lao động, kém tập trung..

Mức hồng cầu bất thường có khả năng là dấu hiệu của tình trạng thiếu máu, mất nước, xuất huyết hoặc các chứng rối loạn khác về hồng huyết cầu.

Chỉ số RBC giảm dưới chuẩn thường xuất hiện ở những người già, phụ nữ mang thai, hoặc là dấu hiệu cho biết bệnh nhân bị thấp khớp cấp, suy tủy, thận và ung thư.

3. Các vấn đề thường gặp

Thiếu máu tán huyết

Thiếu máu

Đa hồng cầu nguyên phát

Hồng cầu lưỡi liềm

4. Những vấn đề cần lưu ý

Vòng đời của hồng cầu

Hồng cầu được sinh ra từ tủy xương và phát triển qua nhiều giai đoạn:

Tiền nguyên hồng cầu

Nguyên hồng cầu ưa kiềm

Nguyên hồng cầu đa sắc

Nguyên hồng cầu ưa acid

Hồng cầu lưới

Hồng cầu trưởng thành

Các giai đoạn phát triển từ tế bào tiền nguyên hồng cầu đến hồng cầu lưới đều diễn ra trong tuỷ xương. Sau đó hồng cầu lưới được phóng thích ra máu ngoại vi 24 – 48 giờ thì mạng lưới biến mất và trở thành hồng cầu trưởng thành. Theo thời gian màng hồng cầu mất dần tính mềm dẻo và cuối cùng hồng cầu sẽ vỡ khi đi qua các mao mạch nhỏ của lách.

Hồng cầu bình thường có đời sống trung bình từ 90 – 120 ngày, ước tính theo quy luật mỗi ngày có đến 200 – 400 tỷ hồng cầu chết đi. Hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở gan và lách, sau đó tủy xương sẽ tiết ra một đợt tế bào hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.

Chỉ số đánh giá tế bào hồng cầu

Để tính toán chất lượng tế bào hồng cầu và đưa ra những chẩn đoán về thể trạng người bệnh, người ta sử dụng hai chỉ số chính:

Thể tích trung bình của một hồng cầu (MCV)

Là chỉ số dùng để đánh giá kích thước hồng cầu: lớn, nhỏ hay bình thường. Giá trị bình thường của chỉ số này là từ 80 – 100 femtoliter (fl). Nếu sau xét nghiệm chỉ số MVP có dấu hiệu:

Thấp hơn bình thường: định bệnh hồng cầu nhỏ, thường gặp trong bệnh thiếu máu, Thalassemia, thậm chí là suy thận mạn tính hay nhiễm độc chì.

Cao hơn bình thường: định bệnh hồng cầu to, thường gặp ở những người nghiện rượu, bệnh gan, suy giáp, hoặc do thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, chứng tăng hồng cầu.

Lượng huyết sắc tố trung bình trong một hồng cầu (MCH)

Là chỉ số dùng để đánh giá màu sắc hồng cầu: màu đậm, lợt hay bình thường. Giá trị bình thường của chỉ số này là từ 27 – 32 picogram (pg). Nếu sau xét nghiệm chỉ số MCH có dấu hiệu:

Nhỏ hơn bình thường: xác định bệnh hồng cầu nhược sắc (lợt màu). Thường gặp trong bệnh thiếu chất sắt hay người mang gen Thalassemia…

Cao hơn bình thường: xác định bệnh hồng cầu ưu sắc (đậm màu). Thường gặp ở những người nghiện rượu, bệnh lý gan, thiếu vitamin B12, acid folic..

Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC)

Là chỉ số thể hiện nồng độ trung bình của huyết sắc tố được tính trong một đơn vị thể tích máu, giá trị MCHC bình thường ở trong khoảng từ 32% – 36%. Nếu sau xét nghiệm chỉ số MCHC có dấu hiệu:

Nhỏ hơn 32%: có thể cơ thể bạn đã bị thiếu máu.

Lớn hơn 36%: đó là dấu hiệu cho thấy cơ thể có thể thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, do chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng hoặc do xuất hiện các yếu tố ngưng kết lạnh.

Cách gia tăng số lượng hồng cầu

Với một vòng đời chỉ độ 120 ngày, hồng cầu là một trong những loại tế bào được thay thế nhiều nhất trong cơ thể. Do vậy để sản sinh lượng hồng cầu đủ cho các hoạt động của cơ thể, vai trò dinh dưỡng, chế độ ăn rất quan trọng:

Bổ sung vitamin B12 trong thức ăn chủ yếu là thịt, trứng, sữa. Nhu cầu cần mỗi ngày là từ 1 – 3 mg.

Axit folic (hay vitamin B9) hỗ trợ quá trình sản sinh tế bào hồng cầu bình thường. Thường có trong các ngũ cốc, đậu, loại rau xanh màu đậm, trái cây như chuối, dưa gang, chanh, cũng như dồi dào trong gan, thận bò.

Tăng cường ăn các thực phẩm giàu sắt như: các loại hạt, đậu phụ, gan, thịt đỏ (bò, cừu,..), hàu, trai, sò điệp, ốc, quả lựu, củ cải đường,….Ngoài ra có thể bổ sung sắt thông qua thực phẩm chức năng như viên uống bổ sung sắt có sẵn với liều 50 -100 mg, có thể uống 2-3 lần mỗi ngày.

Vitamin A (Retinol) giúp cho sự phát triển tế bào gốc của hồng cầu trong tủy xương, giúp tế bào hồng cầu đang phát triển có thể tiếp cận đủ lượng sắt cần thiết cho việc tạo ra hemoglobin. Vitamin A thường có trong khoai lang, bí đỏ, cà rốt, rau lá xanh đậm, các loại hoa quả như bưởi, dưa hấu, dưa vàng..

Ngoài ra người bệnh cần chú ý hướng tới lối sống lành mạnh:

Tập thể dục hàng ngày: tốt cho những người có nồng độ tế bào hồng cầu thấp. Các bài tập tim mạch như đi bộ nhanh, chạy bộ và bơi lội giúp cơ thể thấm mệt và nạp thêm một lượng lớn oxy, kích thích sản sinh tế bào hồng cầu và hemoglobin.

Bỏ thói quen xấu (hút thuốc, uống rượu bia): Hút thuốc lá có thể cản trở tuần hoàn máu khiến máu khó lưu thông đúng cách và khó đưa khí oxy đến các bộ phận khác trong cơ thể. Việc tiêu thụ đồ uống chứa cồn có thể khiến máu đặc và chậm lưu thông, dẫn đến thiếu oxy trong máu, giảm sản sinh tế bào hồng cầu và sản sinh ra tế bào hồng cầu chưa trưởng thành.

Truyền máu nếu cần thiết: Nếu cảm thấy cơ thể thiếu máu trầm trọng mà việc hấp thụ qua ăn uống không khả quan, bạn có thể đề xuất bác sĩ khám và chỉ định truyền máu nếu cần thiết.

Khám sức khỏe định kỳ: khám sức khỏe thường xuyên tối thiểu 1 lần/năm là cách tốt nhất để biết tình trạng số lượng tế bào hồng cầu. Thông qua xét nghiệm máu ta có thể sàng lọc vấn đề tiềm ẩn dẫn đến tình trạng tế bào hồng cầu thấp.

Nguồn: Vinmec

Cấu Trúc Và Chức Năng Của Hồng Cầu Là Gì. Erythrocytes

Erythrocytes là những tế bào máu không nhân chuyên biệt cao. Hạt nhân của chúng bị mất đi trong quá trình trưởng thành. Tế bào sinh dục có hình dạng một đĩa hai mặt lồi. Trung bình, đường kính của chúng là khoảng 7,5 micron, và độ dày ở ngoại vi là 2,5 micron. Nhờ hình dạng này, bề mặt của hồng cầu tăng lên để khuếch tán khí. Ngoài ra, độ dẻo của chúng tăng lên. Do tính dẻo cao, chúng bị biến dạng và dễ dàng đi qua các mao quản. Ở hồng cầu già và bệnh lý, độ dẻo thấp. Do đó, chúng được giữ lại trong các mao mạch của mô lưới của lá lách và bị phá hủy ở đó.

Màng của hồng cầu và không có nhân cung cấp chức năng chính của chúng – vận chuyển oxy và tham gia vận chuyển carbon dioxide. Màng hồng cầu không thấm nước với các cation khác ngoài kali, và tính thấm của nó đối với các anion clo, anion bicarbonat và anion hydroxyl lớn hơn một triệu lần. Ngoài ra, nó cho phép các phân tử oxy và carbon dioxide đi qua tốt. Màng chứa tới 52% protein. Đặc biệt, glycoprotein xác định nhóm máu và cung cấp điện tích âm của nó. Nó được tích hợp Na-K-ATP-ase, giúp loại bỏ natri khỏi tế bào chất và bơm vào các ion kali. Phần lớn hồng cầu là chemoprotein huyết sắc tố… Ngoài ra, tế bào chất còn chứa các enzym carbonic anhydrase, phosphatase, cholinesterase và các enzym khác.

Chức năng của hồng cầu:

1. Chuyển oxy từ phổi đến các mô.

2. Tham gia vận chuyển CO 2 từ mô đến phổi.

3. Vận chuyển nước từ các mô đến phổi, nơi nó được thải ra ngoài dưới dạng hơi nước.

4. Tham gia vào quá trình đông máu, giải phóng các yếu tố đông máu của hồng cầu.

5. Chuyển các axit amin trên bề mặt của nó.

6. Tham gia vào quá trình điều hòa độ nhớt của máu do tính dẻo. Do khả năng biến dạng của chúng, độ nhớt của máu trong các mạch nhỏ thấp hơn ở các mạch lớn.

Một microlit máu của đàn ông chứa 4,5-5,0 triệu hồng cầu (4,5-5,0 * 10 12 / l). Phụ nữ 3,7-4,7 triệu (3,7-4,7 * 10 12 / l).

Số lượng tế bào hồng cầu được tính bằng phòng của Goryaev… Để làm được điều này, máu trong máy trộn hồng cầu đặc biệt dành cho hồng cầu được trộn với dung dịch natri clorua 3% theo tỷ lệ 1: 100 hoặc 1: 200. Sau đó, một giọt hỗn hợp này được đặt trong một buồng lưới. Nó được tạo ra bởi phần nhô ra giữa của buồng và nắp trượt. Chiều cao buồng 0,1 mm. Trên gờ giữa có lưới tạo thành các ô vuông lớn. Một số ô vuông này được chia thành 16 ô nhỏ. Mỗi cạnh của hình vuông nhỏ là 0,05 mm. Do đó, thể tích của hỗn hợp ở trên hình vuông nhỏ sẽ là 1/10 mm * 1 / 20mm * 1 / 20mm u003d 1 / 4000mm 3.

Sau khi làm đầy buồng, dưới kính hiển vi, đếm số lượng hồng cầu trong 5 ô vuông lớn đó, chúng được chia thành những ô nhỏ, tức là trong 80 cái nhỏ. Sau đó, số lượng hồng cầu trong một microlit máu được tính theo công thức:

X u003d 4000 * a * b / b.

Trong đó a là tổng số lượng hồng cầu thu được bằng cách đếm; b – số ô vuông nhỏ đã thực hiện phép đếm (b u003d 80); c – độ pha loãng máu (1: 100, 1: 200); 4000 là nghịch đảo của thể tích chất lỏng trên hình vuông nhỏ.

Để đếm nhanh với một số lượng lớn các phân tích, hãy sử dụng quang điệnmáy đo hồng cầu… Nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên việc xác định độ trong suốt của huyền phù hồng cầu bằng cách sử dụng chùm ánh sáng truyền từ nguồn đến một cảm biến nhạy sáng. Nhiệt lượng kế quang điện. Sự gia tăng hàm lượng các tế bào hồng cầu trong máu được gọi là tăng hồng cầu hoặc là ; giảm bớt – giảm hồng cầu hoặc là … Những thay đổi này có thể là tương đối hoặc tuyệt đối. Ví dụ, sự giảm xuống tương đối số lượng của chúng xảy ra khi giữ nước trong cơ thể và tăng lên – khi mất nước. Sự sụt giảm tuyệt đối trong nội dung của hồng cầu, tức là thiếu máu, quan sát thấy có mất máu, rối loạn tạo máu, phá hủy hồng cầu bởi chất độc tan máu, hoặc khi truyền máu không tương thích.

Tan máu – Đây là sự phá hủy màng hồng cầu và giải phóng hemoglobin vào huyết tương. Kết quả là máu trở nên trong suốt.

Có các loại tan máu sau:

1. Tại nơi xuất xứ:

· Nội sinh, I E. ở sinh vật.

· Ngoại sinh bên ngoài của nó. Ví dụ, trong một chai máu, máy tim phổi.

2. Theo bản chất:

· Sinh lý học… Nó đảm bảo tiêu diệt các dạng hồng cầu cũ và bệnh lý. Có hai cơ chế. Tan máu nội bào xảy ra trong các đại thực bào của lá lách, tủy xương, tế bào gan. Nội mạch – trong các mạch nhỏ, từ đó hemoglobin được vận chuyển đến các tế bào gan với sự trợ giúp của haptoglobin protein huyết tương. Ở đó, huyết sắc tố hemoglobin được chuyển thành bilirubin. Khoảng 6-7 g hemoglobin bị phá hủy mỗi ngày.

3. Theo cơ chế xảy ra:

· Hóa chất… Nó xảy ra khi hồng cầu tiếp xúc với các chất phân giải lipid màng. Đây là rượu, ete, cloroform, axit kiềm, v.v. Đặc biệt, trong trường hợp ngộ độc với một liều lượng lớn axit axetic, sẽ xảy ra tình trạng tan máu nghiêm trọng.

· Nhiệt độ… Ở nhiệt độ thấp, các tinh thể nước đá hình thành trong hồng cầu, phá hủy màng của chúng.

· Cơ khí… Nó được quan sát thấy trong quá trình vỡ màng ối cơ học. Ví dụ, khi lắc một chai máu hoặc bơm nó bằng máy tim phổi.

· Sinh học… Xảy ra dưới tác động của các yếu tố sinh học. Những chất độc tan máu của vi khuẩn, côn trùng, rắn. Do truyền máu không tương thích.

· Thẩm thấu… Nó xảy ra khi hồng cầu đi vào môi trường có áp suất thẩm thấu thấp hơn áp suất của máu. Nước xâm nhập vào các tế bào hồng cầu, chúng phồng lên và vỡ ra. Nồng độ natri clorua mà 50% của tất cả các hồng cầu bị tan máu là một thước đo sức đề kháng thẩm thấu của chúng. Nó được xác định trong phòng khám để chẩn đoán các bệnh gan, thiếu máu. Độ bền thẩm thấu ít nhất phải là 0,46% NaCl.

Plasmolysis xảy ra khi hồng cầu được đặt trong môi trường có áp suất thẩm thấu lớn hơn áp suất của máu. Đây là sự co lại của các tế bào hồng cầu. Nó được sử dụng để đếm hồng cầu.

E R I T R O C VÀ T

(Tiếng Hy Lạp erythoros – đỏ, cytus – tế bào) là một tế bào máu không nhân chứa hemoglobin. Nó có dạng một đĩa hai mặt lõm với đường kính 7-8 micron, dày 1-2,5 micron. Chúng rất mềm dẻo và đàn hồi, dễ dàng biến dạng và đi qua các mao mạch máu có đường kính nhỏ hơn đường kính của hồng cầu. Hình thành trong tủy xương đỏ, bị phá hủy ở gan và lá lách. Tuổi thọ của hồng cầu là 100-120 ngày. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, hồng cầu có nhân và được gọi là hồng cầu lưới. Khi trưởng thành, nhân được thay thế bằng sắc tố hô hấp – hemoglobin, chiếm 90% chất khô của hồng cầu.

Nồng độ máu bình thường ở nam giới là 4 – 5 · 10 12 / l, ở nữ giới là 3,7 – 5 · 10 12 / l, ở trẻ sơ sinh lên đến 6 · 10 12 / l. Sự gia tăng số lượng hồng cầu trên một đơn vị thể tích máu được gọi là chứng tăng hồng cầu (chứng đa hồng cầu, chứng đa hồng cầu), giảm được gọi là chứng giảm hồng cầu. Tổng diện tích bề mặt của tất cả các hồng cầu ở người trưởng thành là 3000-3800 m2, gấp 1500-1900 lần bề mặt của cơ thể.

Các chức năng của tế bào hồng cầu:

1) hô hấp – do hemoglobin tự gắn vào O 2 và CO 2;

2) dinh dưỡng – sự hấp phụ các axit amin trên bề mặt của nó và phân phối chúng đến các tế bào của cơ thể;

3) bảo vệ – sự gắn kết các chất độc bằng các chất chống độc trên bề mặt của chúng và tham gia vào quá trình đông máu;

4) enzym – chuyển các enzym khác nhau: carbonic anhydrase (anhydrase carbonic), true cholinesterase, v.v.;

5) đệm – duy trì pH máu trong khoảng 7,36-7,42 bằng cách sử dụng hemoglobin;

6) sáng tạo – chuyển các chất thực hiện tương tác giữa các tế bào, đảm bảo duy trì cấu trúc của các cơ quan và mô. Ví dụ, trong trường hợp tổn thương gan ở động vật, hồng cầu bắt đầu vận chuyển nucleotide, peptide, axit amin từ tủy xương đến gan, chúng phục hồi cấu trúc của cơ quan này.

Hemoglobin là thành phần chính của hồng cầu và cung cấp:

1) chức năng hô hấp của máu do sự chuyển O 2 từ phổi đến các mô và CO 2 từ tế bào đến phổi;

2) điều chỉnh phản ứng tích cực (pH) của máu, sở hữu các đặc tính của axit yếu (75% khả năng đệm của máu).

Theo cấu trúc hóa học của nó, hemoglobin là một protein phức tạp – một chromoprotein, bao gồm một protein globin và một nhóm heme giả (bốn phân tử). Heme chứa một nguyên tử sắt có khả năng gắn và nhường phân tử oxy. Trong trường hợp này, hóa trị của sắt không thay đổi, tức là nó vẫn hóa trị hai.

Thông thường, máu người lý tưởng nên chứa 166,7 g / l hemoglobin. Trung bình ở nam giới hàm lượng huyết sắc tố bình thường là 130-160 g / l, ở nữ giới là 120-140 g / l. Hàm lượng hemoglobin trong máu giảm là thiếu máu, chất chỉ thị màu là mức độ bão hòa của hồng cầu với hemoglobin. Thông thường, nó là 0,86-1. Sự giảm chất chỉ thị màu thường xảy ra khi cơ thể thiếu sắt – thiếu máu do thiếu sắt, tăng trên 1,0 – khi thiếu vitamin B 12 và axit folic. 1 g hemoglobin liên kết với 1,34 ml oxy. Sự khác biệt về hàm lượng hồng cầu và huyết sắc tố ở nam và nữ được giải thích là do tác dụng kích thích tạo máu của hormon sinh dục nam và tác dụng ức chế của hormon sinh dục nữ. Hemoglobin được tổng hợp bởi nguyên bào hồng cầu và nguyên bào sinh tủy xương. Khi hồng cầu bị phá hủy, hemoglobin, sau khi heme phân cắt, sẽ chuyển thành sắc tố mật – bilirubin. Sau đó đi vào ruột với mật, nơi nó biến thành stercobilin và urobilin, được bài tiết qua phân và nước tiểu. Trong ngày, khoảng 8 g hemoglobin bị phá hủy và chuyển thành sắc tố mật, tức là khoảng 1% hemoglobin trong máu.

Cơ xương và cơ tim chứa hemoglobin cơ được gọi là myoglobin. Nhóm giả của nó – heme giống với cùng một nhóm của phân tử hemoglobin trong máu, và phần protein – globin có trọng lượng phân tử thấp hơn so với protein hemoglobin. Myoglobin liên kết tới 14% tổng lượng oxy trong cơ thể. Mục đích của nó là cung cấp oxy cho cơ làm việc tại thời điểm co lại, khi lưu lượng máu trong đó giảm hoặc ngừng.

Thông thường, hemoglobin được chứa trong máu dưới dạng ba hợp chất sinh lý:

1) oxyhemoglobin (HbO 2) – huyết sắc tố đã thêm O 2; có trong máu động mạch, làm cho nó có màu đỏ tươi;

2) giảm, hoặc giảm, hemoglobin, deoxyhemoglobin (Hb) – oxyhemoglobin, từ bỏ O 2; được tìm thấy trong máu tĩnh mạch, có màu sẫm hơn máu động mạch;

3) carbhemoglobin (HbCO 2) – một hợp chất của hemoglobin với carbon dioxide; chứa trong máu tĩnh mạch.

Hemoglobin cũng có khả năng tạo thành các hợp chất bệnh lý.

Ái lực của sắt hemoglobin đối với carbon monoxide vượt quá ái lực của nó với O 2, vì vậy ngay cả 0,1% carbon monoxide trong không khí cũng dẫn đến việc chuyển đổi 80% hemoglobin thành carboxyhemoglobin, chất không thể gắn O 2; nguy hiểm đến tính mạng. Ngộ độc carbon monoxide nhẹ là một quá trình có thể đảo ngược. Hít phải oxy tinh khiết làm tăng tốc độ phân hủy carboxyhemoglobin lên 20 lần.

Methemoglobin (MetHb) là một hợp chất, trong đó, dưới tác động của chất oxy hóa mạnh (anilin, muối berthollet, phenacetin, v.v.), heme sắt được chuyển từ hóa trị hai sang hóa trị ba. Khi một lượng lớn methemoglobin tích tụ trong máu, quá trình vận chuyển oxy đến các mô bị gián đoạn và có thể tử vong.

L E J K O C VÀ T

(Tiếng Hy Lạp leukos – màu trắng, cytus – tế bào), hoặc tế bào máu trắng, là một tế bào nhân không màu và không chứa hemoglobin. Kích thước của bạch cầu là 8-20 micron. Hình thành ở tủy đỏ, hạch bạch huyết, lá lách, nang bạch huyết. Bình thường, 1 lít máu chứa bạch cầu từ 4 – 9 · 10 9 / l. sự gia tăng số lượng bạch cầu trong máu được gọi là tăng bạch cầu, giảm được gọi là giảm bạch cầu. Tuổi thọ của bạch cầu trung bình là 15-20 ngày, tế bào lympho – 20 năm hoặc hơn. Một số tế bào bạch huyết sống trong suốt cuộc đời của một người.

Bạch cầu được chia thành hai nhóm: bạch cầu hạt (có hạt) và bạch cầu không hạt (không hạt). Nhóm bạch cầu hạt bao gồm bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan và ưa bazơ, nhóm bạch cầu hạt bao gồm tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân. Khi đánh giá những thay đổi về số lượng bạch cầu trong phòng khám, tầm quan trọng quyết định không quá nhiều đối với những thay đổi về số lượng của chúng cũng như những thay đổi trong mối quan hệ giữa các loại tế bào khác nhau. Tỷ lệ phần trăm các dạng bạch cầu riêng lẻ trong máu được gọi là công thức bạch cầu, hoặc biểu đồ bạch cầu.

Máu người là một chất lỏng bao gồm huyết tương và tiểu thể, hoặc các tế bào máu, lơ lửng trong đó, chiếm khoảng 40-45% tổng thể tích. Chúng nhỏ và chỉ có thể quan sát được dưới kính hiển vi.

Có một số loại tế bào máu có các chức năng cụ thể. Một số trong số chúng chỉ hoạt động trong hệ thống tuần hoàn, trong khi những người khác vượt ra ngoài hệ thống tuần hoàn. Điểm chung của chúng là đều được hình thành trong tủy xương từ tế bào gốc, quá trình hình thành diễn ra liên tục, tuổi thọ có hạn.

Tất cả các tế bào máu được chia thành màu đỏ và trắng. Loại thứ nhất là hồng cầu, chiếm phần lớn tất cả các tế bào, loại thứ hai là bạch cầu.

Tiểu cầu cũng được coi là tế bào máu. Những tiểu cầu nhỏ này không thực sự là tế bào hoàn chỉnh. Chúng là những mảnh nhỏ tách ra từ các tế bào lớn – tế bào megakaryocyte.

Các tế bào hồng cầu được gọi là hồng cầu. Đây là nhóm tế bào lớn nhất. Chúng mang oxy từ hệ thống hô hấp đến các mô và tham gia vào quá trình vận chuyển carbon dioxide từ các mô đến phổi.

Nơi hình thành hồng cầu là tủy xương đỏ. Chúng sống trong 120 ngày và bị tiêu diệt trong lá lách và gan.

Chúng được hình thành từ các tế bào tiền thân – nguyên bào hồng cầu, trước khi được chuyển thành hồng cầu, chúng sẽ trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau và phân chia nhiều lần. Như vậy, có tới 64 tế bào hồng cầu được hình thành từ nguyên bào hồng cầu.

Tế bào biểu bì không có nhân và có hình dạng giống như một cái đĩa lõm ở cả hai bên, đường kính trung bình khoảng 7-7,5 micron, và độ dày ở các cạnh là 2,5 micron. Hình dạng này làm tăng độ dẻo cần thiết để đi qua các bình nhỏ và diện tích bề mặt cho sự khuếch tán khí. Các hồng cầu già mất tính dẻo, đó là lý do tại sao chúng nằm trong các mạch nhỏ của lá lách và bị phá hủy ở đó.

Phần lớn tế bào chất của hồng cầu được chiếm bởi hemoglobin, bao gồm protein và sắt heme, làm cho máu có màu đỏ. Phần phi protein bao gồm bốn phân tử heme với một nguyên tử Fe trong mỗi phân tử. Nhờ có huyết sắc tố mà hồng cầu có khả năng vận chuyển oxy và loại bỏ khí cacbonic. Trong phổi, một nguyên tử sắt liên kết với một phân tử oxy, hemoglobin chuyển thành oxyhemoglobin, làm cho máu có màu đỏ tươi. Trong các mô, hemoglobin nhường oxy và gắn carbon dioxide, biến thành carbohemoglobin, kết quả là máu trở nên sẫm màu. Trong phổi, carbon dioxide được tách ra khỏi hemoglobin và được phổi bài tiết ra bên ngoài, oxy đi vào lại liên kết với sắt.

Ngoài hemoglobin, tế bào chất của hồng cầu còn chứa nhiều enzym khác nhau (phosphatase, cholinesterase, carbonic anhydrase, v.v.).

Màng hồng cầu có cấu trúc khá đơn giản, so với màng của các tế bào khác. Nó là một lưới mỏng đàn hồi giúp trao đổi khí nhanh chóng.

Trên bề mặt hồng cầu là các loại kháng nguyên quyết định yếu tố Rh và nhóm máu. Yếu tố Rh có thể dương tính hoặc âm tính tùy thuộc vào sự hiện diện hay vắng mặt của kháng nguyên Rh. Nhóm máu phụ thuộc vào kháng nguyên nào trên màng: 0, A, B (nhóm thứ nhất là 00, nhóm thứ hai là 0A, nhóm thứ ba là 0B, nhóm thứ tư là AB).

Trong máu của một người khỏe mạnh, có thể có một lượng nhỏ các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành được gọi là hồng cầu lưới. Số lượng của chúng tăng lên khi mất máu đáng kể, khi cần thay thế tế bào hồng cầu và tủy xương không có thời gian để sản xuất chúng, do đó nó giải phóng các tế bào chưa trưởng thành, tuy nhiên có khả năng thực hiện các chức năng vận chuyển oxy của tế bào hồng cầu.

Bạch cầu là những tế bào bạch cầu có nhiệm vụ chính là bảo vệ cơ thể khỏi những kẻ thù bên trong và bên ngoài.

Chúng thường được chia thành bạch cầu hạt và bạch cầu hạt. Nhóm đầu tiên là tế bào hạt: bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa bazơ, bạch cầu ái toan. Nhóm thứ hai không có hạt trong tế bào chất, bao gồm tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân.

Đây là nhóm bạch cầu lớn nhất – chiếm tới 70% tổng số bạch cầu. Bạch cầu trung tính có tên như vậy là do các hạt của chúng được nhuộm bằng thuốc nhuộm với phản ứng trung tính. Độ hạt của nó là tốt, các hạt có màu nâu tím.

Nhiệm vụ chính của bạch cầu trung tính là thực bào, bao gồm việc bắt giữ các vi khuẩn gây bệnh và các sản phẩm phân hủy mô và tiêu diệt chúng bên trong tế bào với sự trợ giúp của các enzym lysosome trong hạt. Các tế bào hạt này chống lại chủ yếu là vi khuẩn và nấm và ở mức độ thấp hơn là vi rút. Mủ bao gồm bạch cầu trung tính và tàn tích của chúng. Các enzym lysosome được giải phóng trong quá trình phá vỡ bạch cầu trung tính và làm mềm các mô lân cận, do đó hình thành một tụ điểm có mủ.

Neutrophil là một tế bào nhân hình tròn, có đường kính 10 micron. Hạt nhân có thể ở dạng hình que hoặc gồm nhiều đoạn (từ 3 đến 5 đoạn), nối với nhau bằng các sợi. Sự gia tăng số lượng các phân đoạn (lên đến 8-12 hoặc nhiều hơn) cho thấy bệnh lý. Do đó, bạch cầu trung tính có thể bị đâm hoặc phân đoạn. Đầu tiên là các tế bào non, thứ hai là trưởng thành. Tế bào có nhân phân đoạn chiếm 65% tổng số bạch cầu, tế bào đâm trong máu của người khỏe mạnh – không quá 5%.

Trong tế bào chất có khoảng 250 loại hạt chứa các chất do đó bạch cầu trung tính thực hiện các chức năng của nó. Đây là các phân tử protein ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất (enzym), các phân tử điều hòa kiểm soát công việc của bạch cầu trung tính, chất tiêu diệt vi khuẩn và các tác nhân có hại khác.

Các bạch cầu hạt này được hình thành trong tủy xương từ các nguyên bào tủy bạch cầu trung tính. Một tế bào trưởng thành sẽ lưu lại trong não 5 ngày, sau đó đi vào máu và sống ở đây đến 10 giờ. Từ giường mạch, bạch cầu trung tính đi vào các mô, nơi chúng ở trong hai hoặc ba ngày, sau đó chúng đi vào gan và lá lách, nơi chúng bị phá hủy.

Chức năng chính của chúng là giải phóng histamine và heparin và tham gia vào việc hình thành các phản ứng viêm và dị ứng, bao gồm cả loại tức thời (sốc phản vệ). Ngoài ra, chúng có khả năng làm giảm đông máu.

Hình thành trong tủy xương từ các nguyên bào tủy ưa base. Sau khi trưởng thành, chúng đi vào máu, ở đó trong khoảng hai ngày, sau đó đi vào các mô. Điều gì xảy ra tiếp theo vẫn chưa rõ.

Các bạch cầu hạt này chiếm khoảng 2-5% tổng số bạch cầu. Hạt của chúng được nhuộm bằng thuốc nhuộm có tính axit – eosin.

Chúng có hình tròn và nhân có màu yếu, bao gồm các đoạn có cùng kích thước (thường là hai, ít thường là ba). Về đường kính, bạch cầu ái toan đạt 10-11 micron. Tế bào chất của chúng được sơn màu xanh lam nhạt và gần như không thể nhìn thấy giữa một số lượng lớn các hạt tròn lớn màu vàng đỏ.

Những tế bào này được hình thành trong tủy xương, tiền thân của chúng là nguyên bào bạch cầu ái toan. Hạt của chúng chứa các enzym, protein và phospholipid. Bạch cầu ái toan trưởng thành sống trong tủy xương vài ngày, sau khi vào máu nó ở trong đó đến 8 giờ, sau đó di chuyển vào các mô tiếp xúc với môi trường bên ngoài (màng nhầy).

Đây là những tế bào tròn có nhân lớn chiếm phần lớn tế bào chất. Đường kính của chúng từ 7 đến 10 micron. Nhân có hình tròn, hình bầu dục hoặc hình hạt đậu, có cấu tạo thô ráp. Chúng bao gồm các cục oxychromatin và basiromatin, giống như các cục u. Hạt nhân có thể có màu tím sẫm hoặc tím nhạt, đôi khi có những đốm sáng ở dạng nucleoli. Tế bào chất có màu xanh nhạt, xung quanh nhân có màu nhạt hơn. Ở một số tế bào lympho, tế bào chất có dạng hạt azurophilic, khi nhuộm sẽ chuyển sang màu đỏ.

Có hai loại tế bào lympho trưởng thành lưu thông trong máu:

Thu hẹp huyết tương. Chúng có một nhân thô, màu tím sẫm và tế bào chất ở dạng một vành hẹp màu xanh lam.

Plasma rộng. Trong trường hợp này, nhân có màu nhạt hơn và hình dạng giống hạt đậu. Vành của tế bào chất đủ rộng, có màu xanh xám, có các hạt ausurophilic hiếm.

Từ các tế bào lympho không điển hình trong máu, bạn có thể tìm thấy:

Tế bào nhỏ với tế bào chất và nhân pyknotic khó nhìn thấy.

Tế bào có không bào trong tế bào chất hoặc nhân.

Tế bào có nhân hình thùy, hình thận, có gai.

Nhân trần.

Tế bào lympho được hình thành trong tủy xương từ các nguyên bào lympho và trong quá trình trưởng thành chúng sẽ trải qua nhiều giai đoạn phân chia. Sự trưởng thành đầy đủ của nó xảy ra ở tuyến ức, các hạch bạch huyết và lá lách. Tế bào bạch huyết là tế bào miễn dịch cung cấp các phản ứng miễn dịch. Có tế bào lympho T (80% tổng số) và tế bào lympho B (20%). Lần đầu tiên trưởng thành ở tuyến ức, lần thứ hai ở lá lách và các hạch bạch huyết. Tế bào lympho B có kích thước lớn hơn tế bào lympho T. Tuổi thọ của những bạch cầu này lên đến 90 ngày. Máu đối với họ là một phương tiện vận chuyển mà qua đó họ đến các mô, nơi họ cần sự giúp đỡ.

Các hoạt động của tế bào lympho T và tế bào lympho B là khác nhau, mặc dù cả hai đều tham gia vào việc hình thành các phản ứng miễn dịch.

Các vi khuẩn trước đây tham gia vào việc tiêu diệt các tác nhân có hại, thường là virus, bằng cách thực bào. Các phản ứng miễn dịch mà chúng tham gia là sự đề kháng không đặc hiệu, vì hoạt động của tế bào lympho T là giống nhau đối với tất cả các tác nhân có hại.

Theo các hoạt động được thực hiện, tế bào lympho T được chia thành ba loại:

T-helpers. Nhiệm vụ chính của chúng là giúp đỡ các tế bào lympho B, nhưng trong một số trường hợp, chúng có thể hoạt động như những kẻ giết người.

Những kẻ giết người. Chúng tiêu diệt các tác nhân gây hại: ngoại lai, tế bào ung thư và tế bào đột biến, tác nhân lây nhiễm.

T-ức chế. Ức chế hoặc ngăn chặn các phản ứng quá tích cực của tế bào lympho B.

Tế bào lympho B hoạt động khác nhau: chúng tạo ra kháng thể – các globulin miễn dịch chống lại các tác nhân gây bệnh. Điều này xảy ra theo cách sau: để phản ứng với tác động của các tác nhân có hại, chúng tương tác với bạch cầu đơn nhân và tế bào lympho T và biến thành tế bào huyết tương tạo ra kháng thể nhận biết kháng nguyên tương ứng và liên kết chúng. Đối với mỗi loại vi sinh vật, các protein này là đặc hiệu và chỉ có khả năng tiêu diệt một số loài nhất định, do đó khả năng đề kháng mà các tế bào lympho này hình thành là đặc hiệu và nó chủ yếu chống lại vi khuẩn.

Các tế bào này cung cấp sức đề kháng của cơ thể đối với một số vi sinh vật có hại, thường được gọi là khả năng miễn dịch. Tức là khi gặp tác nhân có hại, tế bào lympho B sẽ tạo ra các tế bào ghi nhớ hình thành nên sức đề kháng này. Điều tương tự – sự hình thành các tế bào trí nhớ – cũng đạt được bằng cách tiêm vắc xin chống lại các bệnh truyền nhiễm. Trong trường hợp này, một vi khuẩn yếu được đưa vào để một người có thể dễ dàng chịu đựng bệnh tật, và kết quả là, các tế bào trí nhớ được hình thành. Chúng có thể tồn tại suốt đời hoặc trong một thời gian nhất định, sau đó phải tiêm nhắc lại.

Bạch cầu đơn nhân là tế bào lớn nhất trong số các tế bào bạch cầu. Số lượng của chúng dao động từ 2 đến 9% tổng số bạch cầu. Đường kính của chúng đạt tới 20 micron. Nhân của tế bào đơn nhân lớn, chiếm gần như toàn bộ tế bào chất, nó có thể tròn, hình hạt đậu, hình nấm hoặc hình bướm. Khi nhuộm, nó chuyển sang màu đỏ tím. Tế bào chất có màu khói, hơi xanh xám, ít khi có màu xanh lam. Nó thường có hạt mịn azurophilic. Nó có thể chứa không bào (khoảng trống), hạt sắc tố, tế bào thực bào.

Bạch cầu đơn nhân được tạo ra trong tủy xương từ các nguyên bào đơn nhân. Sau khi trưởng thành, chúng ngay lập tức xuất hiện trong máu và ở đó đến 4 ngày. Một số bạch cầu chết đi, một số di chuyển đến các mô, nơi chúng trưởng thành và biến thành đại thực bào. Đây là những tế bào lớn nhất với một nhân lớn hình tròn hoặc bầu dục, tế bào chất màu xanh lam và một số lượng lớn không bào, khiến chúng có vẻ như bọt. Tuổi thọ của đại thực bào là vài tháng. Chúng có thể thường xuyên ở một nơi (tế bào cư trú) hoặc di chuyển (lang thang).

Bạch cầu đơn nhân tạo thành các phân tử và enzym điều hòa. Chúng có khả năng tạo ra phản ứng viêm, nhưng cũng có thể ức chế nó. Ngoài ra, chúng còn tham gia vào quá trình chữa lành vết thương, giúp đẩy nhanh quá trình lành thương và góp phần phục hồi các sợi thần kinh và mô xương. Chức năng chính của chúng là thực bào. Bạch cầu đơn nhân tiêu diệt vi khuẩn có hại và ức chế sự sinh sôi của vi rút. Chúng có thể thực hiện các lệnh, nhưng không thể phân biệt giữa các kháng nguyên cụ thể.

Những tế bào máu này là những tấm nhỏ, không có nhân và có thể có hình tròn hoặc hình bầu dục. Trong quá trình kích hoạt, khi chúng ở thành mạch bị tổn thương, chúng sẽ hình thành các khối phát triển, vì vậy chúng trông giống như những ngôi sao. Tiểu cầu chứa các vi ống, ti thể, ribosome, các hạt đặc hiệu chứa các chất cần thiết cho quá trình đông máu. Các tế bào này được trang bị một màng ba lớp.

Tiểu cầu được sản xuất trong tủy xương, nhưng theo một cách hoàn toàn khác với các tế bào khác. Tiểu cầu được hình thành từ các tế bào não lớn nhất – megakaryocytes, đến lượt nó, được hình thành từ các megakaryoblasts. Megakaryocytes có một tế bào chất rất lớn. Sau khi tế bào trưởng thành, các màng xuất hiện trong nó, chia nó thành các mảnh, bắt đầu tách ra, và do đó xuất hiện các tiểu cầu. Chúng ra khỏi tủy xương vào máu, tồn tại trong 8 – 10 ngày, sau đó chết ở lá lách, phổi, gan.

Tiểu cầu có thể có các kích thước khác nhau:

nhỏ nhất là dạng vi mô, đường kính của chúng không quá 1,5 micron;

normoforms đạt 2-4 micron;

macroforms – 5 microns;

megaloforms – 6-10 micron.

Tiểu cầu thực hiện một chức năng rất quan trọng – chúng tham gia vào quá trình hình thành cục máu đông, đóng các tổn thương trong mạch, từ đó ngăn máu chảy ra ngoài. Ngoài ra, chúng còn duy trì tính toàn vẹn của thành mạch, thúc đẩy khả năng phục hồi nhanh nhất sau khi bị hư hại. Khi bắt đầu chảy máu, các tiểu cầu sẽ bám vào rìa tổn thương cho đến khi lỗ này đóng lại hoàn toàn. Các mảng bám bắt đầu bị phá vỡ và tiết ra các enzym ảnh hưởng đến huyết tương. Kết quả là, các sợi fibrin không hòa tan được hình thành bao phủ chặt chẽ vị trí bị thương.

Phần kết luận

Tế bào máu có cấu trúc phức tạp, và mỗi loài thực hiện một công việc cụ thể: từ vận chuyển khí và chất đến sản xuất kháng thể chống lại vi sinh vật lạ. Các thuộc tính và chức năng của chúng hiện chưa được hiểu đầy đủ. Đối với hoạt động bình thường của con người, cần một lượng nhất định của mỗi loại tế bào. Theo những thay đổi về số lượng và chất lượng của chúng, các bác sĩ có cơ hội để nghi ngờ sự phát triển của bệnh lý. Thành phần của máu là điều đầu tiên bác sĩ kiểm tra khi bệnh nhân áp dụng.

cảm ơn

Trang web cung cấp thông tin cơ bản chỉ cho mục đích thông tin. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh cần được thực hiện dưới sự giám sát của bác sĩ chuyên khoa. Tất cả các loại thuốc đều có chống chỉ định. Cần phải có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa!

Máu là một mô liên kết lỏng chứa đầy toàn bộ hệ thống tim mạch của con người. Lượng của nó trong cơ thể của một người trưởng thành đạt 5 lít. Nó bao gồm một phần chất lỏng được gọi là huyết tương và các yếu tố tiểu thể như bạch cầu, tiểu cầu và hồng cầu… Trong bài này chúng ta sẽ nói cụ thể về tế bào hồng cầu, cấu trúc, chức năng, phương thức hình thành của chúng, v.v.

Hồng cầu là gì?

Thuật ngữ này xuất phát từ 2 từ ” erythos“Và” kytos“, Được dịch từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là” đỏ“Và” ngăn chứa, lồng“. Erythrocytes là tế bào hồng cầu trong máu của người, động vật có xương sống và cả một số động vật không xương sống, được giao phó những chức năng rất đa dạng và rất quan trọng.

Hình thành tế bào đỏ

Các tế bào này được hình thành trong tủy xương đỏ. Ban đầu, quá trình tăng sinh xảy ra ( tăng sinh mô bằng cách nhân lên tế bào). Sau đó từ tế bào gốc tạo máu ( tế bào – tổ tiên của quá trình tạo máu) một megaloblast ( cơ thể lớn màu đỏ, chứa một nhân và một lượng lớn hemoglobin), đến lượt nó, nguyên bào hồng cầu ( tế bào nhân), và sau đó là normocyte ( cơ thể có kích thước bình thường). Ngay sau khi một tế bào hình cầu mất nhân, nó lập tức biến thành hồng cầu lưới – tiền thân của tế bào hồng cầu. Hồng cầu lưới đi vào máu và được biến đổi thành hồng cầu. Mất khoảng 2 – 3 giờ để biến đổi nó.

Kết cấu

Các tế bào máu này được đặc trưng bởi hình dạng hai lõm và màu đỏ, do sự hiện diện của một lượng lớn hemoglobin trong tế bào. Chính hemoglobin tạo nên phần lớn các tế bào này. Đường kính của chúng thay đổi từ 7 đến 8 micron, nhưng độ dày của chúng đạt 2 – 2,5 micron. Nhân trong tế bào trưởng thành không có, làm tăng đáng kể bề mặt của chúng. Ngoài ra, việc không có lõi đảm bảo sự xâm nhập nhanh chóng và đồng đều của oxy vào cơ thể. Tuổi thọ của các tế bào này là khoảng 120 ngày. Tổng bề mặt của các tế bào hồng cầu của con người vượt quá 3000 mét vuông. Bề mặt này gấp 1500 lần bề mặt của toàn bộ cơ thể con người. Nếu bạn đặt tất cả các tế bào màu đỏ của một người trong một hàng, thì bạn có thể nhận được một chuỗi, chiều dài của nó sẽ là khoảng 150.000 km. Sự phá hủy các cơ quan này xảy ra chủ yếu ở lá lách và một phần ở gan.

Chức năng

1. Bổ dưỡng: thực hiện việc chuyển các axit amin từ các cơ quan của hệ tiêu hóa đến các tế bào của cơ thể;

2. Enzym: là chất mang các enzym khác nhau ( chất xúc tác protein cụ thể);3. Hô hấp: chức năng này được thực hiện bởi hemoglobin, có thể tự gắn vào và thải ra cả oxy và carbon dioxide; 4. Bảo vệ: liên kết các chất độc do sự hiện diện trên bề mặt của chúng các chất đặc biệt có nguồn gốc protein.

Thuật ngữ được sử dụng để mô tả các ô này

Tăng tế bào vi mô – kích thước trung bình của hồng cầu nhỏ hơn bình thường;

Tăng tế bào vĩ mô – kích thước trung bình của hồng cầu lớn hơn bình thường;

Tăng bạch cầu – kích thước trung bình của các tế bào hồng cầu là bình thường;

Anisocytosis – Kích thước của các tế bào hồng cầu là khác nhau đáng kể, một số quá nhỏ, một số khác lại rất lớn;

Poikilocytosis – hình dạng của các tế bào thay đổi từ bình thường đến hình bầu dục, hình lưỡi liềm;

Normochromia – Các tế bào hồng cầu có màu bình thường, đó là dấu hiệu của mức bình thường của hemoglobin trong đó;

Giảm sắc tố – Các tế bào hồng cầu có màu yếu, chứng tỏ huyết sắc tố trong đó ít hơn bình thường.

Tỷ lệ lún (ESR)

Tốc độ lắng hồng cầu hay ESR là một chỉ số khá nổi tiếng trong chẩn đoán trong phòng thí nghiệm, có nghĩa là tốc độ tách máu không đông, được đặt trong một mao mạch đặc biệt. Máu được chia thành 2 lớp – dưới và trên. Lớp dưới bao gồm các tế bào hồng cầu lắng đọng, trong khi lớp trên là huyết tương. Chỉ số này thường được đo bằng milimét trên giờ. Giá trị ESR phụ thuộc trực tiếp vào giới tính của bệnh nhân. Ở trạng thái bình thường, ở nam giới, chỉ số này là từ 1 đến 10 mm / giờ, nhưng ở phụ nữ – từ 2 đến 15 mm / giờ.

Với sự gia tăng các chỉ số, chúng ta đang nói về những vi phạm của cơ thể. Có ý kiến u200bu200bcho rằng trong hầu hết các trường hợp, ESR tăng dựa trên sự gia tăng tỷ lệ các hạt protein lớn và nhỏ trong huyết tương. Ngay khi nấm, vi rút hoặc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, mức độ kháng thể bảo vệ ngay lập tức tăng lên, dẫn đến thay đổi tỷ lệ protein trong máu. Do đó, ESR đặc biệt thường tăng lên so với nền của các quá trình viêm như viêm khớp, viêm amidan, viêm phổi, v.v. Chỉ số này càng cao thì quá trình viêm càng rõ rệt. Với một đợt viêm nhẹ, chỉ số tăng lên 15 – 20 mm / giờ. Nếu quá trình viêm nghiêm trọng, nó sẽ tăng lên đến 60 – 80 mm / giờ. Nếu trong quá trình điều trị, chỉ số bắt đầu giảm, điều đó có nghĩa là phương pháp điều trị đã được lựa chọn chính xác.

Ngoài các bệnh viêm nhiễm, sự gia tăng ESR có thể xảy ra với một số bệnh không do viêm, cụ thể là:

Sự hình thành ác tính;

Bệnh nặng của gan và thận;

Bệnh lý máu nghiêm trọng;

Truyền máu thường xuyên;

Liệu pháp vắc xin.

Thông thường, chỉ số này tăng lên trong kỳ kinh nguyệt, cũng như khi mang thai. Việc sử dụng một số loại thuốc cũng có thể làm tăng ESR.

Tan máu – nó là gì?

Tan máu là quá trình phá hủy màng tế bào hồng cầu, do đó hemoglobin được giải phóng vào huyết tương và máu trở nên trong suốt.

Các chuyên gia hiện đại phân biệt các loại tan máu sau: 1. Theo bản chất của dòng chảy:

Sinh lý học: xảy ra sự phá hủy các dạng hồng cầu cũ và bệnh lý. Quá trình tiêu diệt chúng được ghi nhận trong các mạch nhỏ, đại thực bào ( tế bào có nguồn gốc trung mô) tủy xương và lá lách, cũng như trong các tế bào gan;

Bệnh lý: chống lại nền của một trạng thái bệnh lý, các tế bào trẻ khỏe mạnh bị phá hủy.

2. Tại nơi xuất xứ:

Nội sinh: tan máu xảy ra bên trong cơ thể con người;

Ngoại sinh: sự tán huyết được thực hiện bên ngoài cơ thể ( ví dụ, trong một chai máu).

3. Theo cơ chế xuất hiện:

Cơ khí: lưu ý trong trường hợp vỡ cơ học của màng ( ví dụ, một chai máu phải được lắc);

Hóa chất: ghi nhận khi hồng cầu tiếp xúc với các chất có xu hướng hòa tan lipid ( chất béo) màng. Những chất này bao gồm ete, kiềm, axit, rượu và cloroform;

Sinh học: quan sát được khi tiếp xúc với các yếu tố sinh học ( chất độc côn trùng, rắn, vi khuẩn) hoặc bằng cách truyền máu không tương thích;

Nhiệt độ: ở nhiệt độ thấp, các tinh thể nước đá hình thành trong hồng cầu, có xu hướng làm vỡ màng tế bào;

Thẩm thấu: xảy ra khi hồng cầu đi vào môi trường có độ thẩm thấu thấp hơn ( nhiệt động lực học) sức ép. Ở áp suất này, các tế bào sưng lên và vỡ ra.

Hồng cầu

Tổng số lượng tế bào này trong máu người là rất lớn. Vì vậy, ví dụ, nếu cân nặng của bạn khoảng 60 kg, thì bạn có ít nhất 25 nghìn tỷ tế bào hồng cầu trong máu. Con số này rất lớn, vì vậy để thuận tiện và thực tế, các chuyên gia không tính mức độ chung của các tế bào này mà tính số lượng của chúng trong một lượng máu nhỏ, cụ thể là tính bằng 1 milimét khối của nó. Điều quan trọng cần lưu ý là các tiêu chuẩn cho nội dung của các tế bào này được xác định bởi một số yếu tố cùng một lúc – tuổi, giới tính và nơi cư trú của bệnh nhân.

Số lượng hồng cầu

Lâm sàng ( chung) xét nghiệm máu .

Đối với phụ nữ – từ 3,7 đến 4,7 nghìn tỷ mỗi lít;

Đối với nam giới – từ 4 đến 5,1 nghìn tỷ mỗi lít;

Đối với trẻ em trên 13 tuổi – từ 3,6 đến 5,1 nghìn tỷ trong 1 lít;

Đối với trẻ em từ 1 đến 12 tuổi – từ 3,5 đến 4,7 nghìn tỷ đồng trong 1 lít;

Đối với trẻ em trong 1 năm – từ 3,6 đến 4,9 nghìn tỷ trong 1 lít;

Ở trẻ em trong sáu tháng – từ 3,5 đến 4,8 nghìn tỷ trong 1 lít;

Ở trẻ em trong 1 tháng – từ 3,8 đến 5,6 nghìn tỷ trong 1 lít;

Trẻ em vào ngày đầu tiên của cuộc đời – từ 4,3 đến 7,6 nghìn tỷ trong 1 lít.

Mức độ cao của các tế bào trong máu của trẻ sơ sinh là do trong quá trình phát triển trong tử cung, cơ thể của trẻ cần nhiều hồng cầu hơn. Chỉ bằng cách này, thai nhi mới có thể nhận được lượng oxy cần thiết trong điều kiện nồng độ tương đối thấp trong máu của mẹ.

Mức độ hồng cầu trong máu của phụ nữ mang thai

Thông thường, số lượng cơ thể này giảm nhẹ khi mang thai, điều này hoàn toàn bình thường. Đầu tiên, trong quá trình mang thai, một lượng lớn nước được giữ lại trong cơ thể phụ nữ, nước này sẽ đi vào máu và làm loãng nó. Ngoài ra, các sinh vật của hầu hết các bà mẹ tương lai không nhận được đủ lượng sắt, do đó sự hình thành các tế bào này lại giảm đi.

Tăng mức độ hồng cầu trong máu

Một tình trạng đặc trưng bởi sự gia tăng mức độ hồng cầu trong máu được gọi là máu đỏ tươi, tăng hồng cầu hoặc là bệnh đa hồng cầu.

Những lý do phổ biến nhất cho sự phát triển của tình trạng này là:

Bệnh thận đa nang ( một căn bệnh trong đó các u nang xuất hiện và tăng dần ở cả hai thận);

COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính – hen phế quản, khí phế thũng, viêm phế quản mãn tính);

Hội chứng Pickwick ( béo phì kèm theo suy phổi và tăng huyết áp động mạch, tức là tăng huyết áp liên tục);

Thận ứ nước ( sự mở rộng liên tục tiến triển của bể thận và đài hoa trên nền của dòng nước tiểu bị suy giảm);

Liệu pháp steroid;

Dị tật tim bẩm sinh hoặc mắc phải;

Ở trên vùng núi cao;

Hẹp ( sự thắt chặt) động mạch thận;

U ác tính;

Hội chứng Cushing ( một tập hợp các triệu chứng xảy ra với sự gia tăng quá mức lượng steroid

Trong phần này, chúng ta đang nói về kích thước, số lượng và hình dạng của hồng cầu, về hemoglobin: cấu trúc và tính chất của nó, về sức đề kháng của hồng cầu, về phản ứng lắng hồng cầu – ROE.

Tế bào sinh dục.

Kích thước, số lượng và hình dạng của hồng cầu.

Erythrocytes – tế bào hồng cầu – thực hiện chức năng hô hấp trong cơ thể. Kích thước, số lượng và hình dạng của hồng cầu thích nghi tốt với việc thực hiện nó. Hồng cầu của con người là những tế bào nhỏ có đường kính 7,5 micron. Số lượng của chúng rất lớn: tổng cộng có khoảng 25×10 12 hồng cầu lưu thông trong máu người. Thường xác định số lượng hồng cầu trong 1 mm 3 máu. Đó là 5.000.000 đối với nam và 4.500.000 đối với nữ. Tổng bề mặt của hồng cầu là 3200 m2, gấp 1500 lần bề mặt của cơ thể người.

Hồng cầu có dạng hình đĩa hai lõm. Hình dạng này của hồng cầu góp phần làm cho nó bão hòa với oxy tốt hơn, vì bất kỳ điểm nào của nó đều cách bề mặt không quá 0,85 micron. Nếu hồng cầu có hình dạng như một quả bóng, tâm của nó sẽ cách bề mặt 2,5 micron.

Hemoglobin, cấu trúc và tính chất của nó.

Hemoglobin (Hb) – sắc tố hô hấp của máu người – bao gồm một nhóm hoạt động, bao gồm bốn phân tử heme và chất mang protein – globin. Heme chứa sắt hóa trị hai, chất này quyết định khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin. Một gam hemoglobin chứa 3,2-3,3 mg sắt. Globin bao gồm chuỗi polypeptide alpha và beta gồm 141 axit amin. Các phân tử hemoglobin nằm rất chặt chẽ trong hồng cầu, do đó tổng lượng hemoglobin trong máu khá lớn: 700-800 g. 100 ml máu ở nam giới chứa khoảng 16% hemoglobin, ở nữ giới – khoảng 14%. Người ta đã chứng minh rằng không phải tất cả các phân tử hemoglobin đều giống nhau trong máu người. Có huyết sắc tố A1 chiếm tới 90% tổng lượng huyết cầu tố trong máu, huyết sắc tố A2 (2-3%) và A3. Các loại hemoglobin khác nhau khác nhau về trình tự các axit amin trong globin.

Khi tiếp xúc với không phải hemoglobin bởi các thuốc thử khác nhau, globin bị tách ra và các dẫn xuất heme khác nhau được hình thành. Dưới sự lắc lư của các axit hoặc kiềm khoáng yếu, huyết sắc tố hemoglobin được chuyển thành hematin. Khi heme tiếp xúc với axit axetic đậm đặc với sự có mặt của NaCl, một chất kết tinh được gọi là hemin được hình thành. Do tinh thể gemin có hình dạng đặc trưng nên việc xác định chúng là rất quan trọng trong thực hành pháp y để phát hiện các vết máu trên bất kỳ vật thể nào.

Một đặc tính cực kỳ quan trọng của hemoglobin, quyết định tầm quan trọng của nó trong cơ thể, là khả năng kết hợp với oxy. Sự kết hợp của hemoglobin với oxy được gọi là oxyhemoglobin (HbO 2). Một phân tử hemoglobin có thể liên kết 4 phân tử oxy. Oxyhemoglobin là một hợp chất dễ vỡ, dễ phân ly thành hemoglobin và oxy. Do tính chất của hemoglobin nên dễ kết hợp với oxy và cũng dễ cho đi, mô được cung cấp oxy. Trong mao mạch của phổi, oxyhemoglobin được hình thành, trong mao mạch của các mô nó phân ly cùng với sự hình thành hemoglobin và oxy lại được tế bào tiêu thụ. Việc cung cấp oxy cho tế bào là giá trị chính của hemoglobin, và cùng với nó là hồng cầu.

Khả năng chuyển đổi của hemoglobin thành oxyhemoglobin và ngược lại có tầm quan trọng lớn trong việc duy trì pH máu không đổi. Hệ thống hemoglobin-oxyhemoglobin là một hệ thống đệm máu.

Sự kết hợp của hemoglobin với carbon monoxide (carbon monoxide) được gọi là carboxyhemoglobin. Không giống như oxyhemoglobin, chúng dễ dàng phân ly thành hemoglobin và oxy, carboxyhemoglobin phân ly rất yếu. Do đó, khi có carbon monoxide trong không khí, hầu hết hemoglobin liên kết với nó, đồng thời làm mất khả năng vận chuyển oxy. Điều này dẫn đến sự hô hấp của các mô bị suy giảm, có thể dẫn đến tử vong.

Khi hemoglobin tiếp xúc với các oxit nitơ và các chất oxi hóa khác, methemoglobin được hình thành, giống như carboxyhemoglobin, không thể hoạt động như một chất mang oxy. Hemoglobin có thể được phân biệt với các dẫn xuất carboxy- và methemoglobin của nó bằng sự khác biệt về phổ hấp thụ. Phổ hấp thụ của hemoglobin được đặc trưng bởi một dải rộng. Oxyhemoglobin có hai dải hấp thụ trong quang phổ, các dải này cũng nằm ở phần màu xanh lục của quang phổ.

Kháng tế bào sinh dục.

Các tế bào hồng cầu chỉ giữ được chức năng của chúng trong dung dịch đẳng trương. Trong các dung dịch ưu trương, việc vận chuyển hồng cầu đi vào huyết tương, dẫn đến co rút và mất chức năng của chúng. Trong dung dịch giảm trương lực, nước từ huyết tương tràn vào hồng cầu, hồng cầu này phồng lên, vỡ ra và hemoglobin được giải phóng vào huyết tương. Sự phá hủy các tế bào hồng cầu trong dung dịch giảm trương lực được gọi là tan máu, và máu bị tan máu được gọi là dầu bóng vì màu đặc trưng của nó. Cường độ tan máu phụ thuộc vào sức đề kháng của hồng cầu. Sức đề kháng của hồng cầu được xác định bởi nồng độ của dung dịch NaCl, tại đó quá trình tan máu bắt đầu, đặc trưng cho sức đề kháng tối thiểu. Nồng độ của dung dịch mà tại đó tất cả các tế bào hồng cầu bị phá hủy quyết định sức đề kháng tối đa. Ở người khỏe mạnh, sức đề kháng tối thiểu được xác định bằng nồng độ muối ăn 0,30-0,32, tối đa – 0,42-0,50%. Sức đề kháng của hồng cầu không giống nhau ở các trạng thái chức năng khác nhau của cơ thể.

Phản ứng lắng hồng cầu – ROE.

Máu là một hệ thống treo ổn định của các tiểu thể. Tính chất này của máu gắn liền với điện tích âm của hồng cầu, cản trở quá trình kết dính – kết tụ của chúng. Quá trình này rất yếu trong việc di chuyển máu. Sự tích tụ của hồng cầu ở dạng cột đồng xu, có thể nhìn thấy trong máu mới giải phóng, là hệ quả của quá trình này.

Nếu máu, trộn với dung dịch ngăn đông máu, được đặt trong một ống mao dẫn có chia độ, thì các hồng cầu, đang trong quá trình kết tụ, sẽ lắng xuống đáy của mao mạch. Lớp trên cùng của máu, không còn hồng cầu, trở nên trong suốt. Chiều cao của cột huyết tương không nhuộm màu này quyết định phản ứng lắng hồng cầu (ESR). Giá trị ROE ở nam giới là từ 3 đến 9 mm / h, ở nữ giới – từ 7 đến 12 mm / h. Ở phụ nữ mang thai, ROE có thể tăng lên đến 50 mm / h.

Quá trình tập hợp tăng mạnh khi có sự thay đổi thành phần protein của huyết tương. Sự gia tăng số lượng globulin trong máu trong các bệnh viêm nhiễm đi kèm với sự hấp phụ của chúng bởi hồng cầu, giảm điện tích của globulin và thay đổi tính chất bề mặt của chúng. Điều này giúp tăng cường quá trình tập hợp hồng cầu, kéo theo sự gia tăng ROE.

Nêu Chức Năng Của Huyết Tương, Bạch Cầu, Hồng Cầu, Tiểu Cầu?

1. Vai trò của huyết tương là đưa các chất dinh dưỡng đến các mô và đưa các chất cặn bã từ các mô về các cơ quan bài tiết ra bên ngoài. Bên cạnh đó, vai trò của các tế bào máu gồm bài tiết, bảo vệ, điều hoà và dinh dưỡng.2. Vai trò của hồng cầu

Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ).

Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải.

Vòng đời trung bình của hồng cầu là 120 ngày, hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở lách và gan. Tủy xương sẽ có nhiệm vụ sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.

Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Có người dễ bị mệt và tái xanh, vì cơ thể không có đủ lượng oxy cần thiết. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.

3. Vai trò của tiểu cầu

Tiểu cầu là những mảnh tế bào rất nhỏ hỗ trợ chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu. Nếu mạch máu bị tổn thương (thí dụ như bị cắt hay bầm tím), các tiểu cầu sẽ dồn đến điểm này và bám dính vào nhau, tạo thành ‘nút chặn vết hở’.

Thiếu tiểu cầu, có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi, khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, bị bầm bất bình thường, hoặc đi cầu, đi tiểu ra máu, da bị chảy máu.

Trong trường hợp trầm trọng, khi lượng tiểu cầu xuống quá thấp, các cơ quan nội tạng và não bộ có thể bị xuất huyết. Toán y khoa điều trị sẽ báo quý vị biết khi lượng tiểu cầu của quý vị sụt giảm.

Ngoài ra, tiểu cầu còn có vai trò làm cho thành mạch mềm mại, dẻo dai nhờ chức năng tiểu cầu làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc. Vòng đời của tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày. Cũng giống như hồng cầu và bạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.