Kể Tên Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Nạo Hút Thai An Toàn

--- Bài mới hơn ---

  • Mẹ Bầu Cần Nắm Rõ Các Nguyên Nhân Phổ Biến Gây Sảy Thai 3 Tháng Đầu Để Có Biện Pháp Phòng Ngừa Hiệu Quả
  • Biện Pháp Phòng Ngừa Tình Trạng Dọa Sảy Thai Ra Sao ?
  • Bạn Nên Làm Gì Sau Khi Bị Sảy Thai Đề Hồi Phục Nhanh Chóng?
  • Sảy Thai Và Thai Lưu: Nguyên Nhân, Dấu Hiệu Và Phòng Ngừa
  • Các Cách Tránh Thai Sau Khi Quan Hệ (Tự Nhiên Và Thuốc)
  • Viên tránh thai dạng uống

    Có thành phần nội tiết kết hợp hoặc viên uống chỉ có progestin đều có thể bắt đầu ngay lập tức sau khi phá thai kể cả ngay ngày làm thủ thuật biện pháp tránh thai dạng uống này không phòng tránh được các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục kể cả HIV/ AIDS, tuy nhiên vẫn áp dụng cho những trường hợp viêm nhiễm cấp tính đường sinh dục.

    Bao cao su

    Dùng ngay khi bắt đầu có quan hệ tình dục lại. Đây là một biện pháp tốt có thể được lựa chọn trong thời gian chưa thể bắt đầu dùng một biện pháp khác ngay lập tức. Bao cao su là một biện pháp thích hợp cho việc dùng liên tục nếu sử dụng đúng cách, hiệu quả tránh thai cao đến 98%. Bao cao su dùng cho nam giới là một biện pháp duy nhất có thể vừa giúp phòng tránh thai vừa giúp phòng tránh các viêm nhiễm lây qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS.

    Dụng cụ tử cung

    Có thể đặt dụng cụ tử cung sau hút thai nếu không tai biến, lòng tử cung sạch và không biểu hiện của viêm nhiễm. Không nên đặt dụng cụ tử cung ngay sau hút thai trong những trường hợp có thương tổn nặng chưa lành, chưa kiểm soát được băng huyết và thiếu máu cấp tính chưa có tiến triển tốt.

    Sau phá thai có tuổi thai 3 tháng giữa không nên đặt dụng cụ tử cung ngay, nên chờ trong vòng 4 đến 6 tuần sau cho kích thước tử cung trở về bình thường để tránh vòng rơi tụt.

    Trước khi tiến hành đặt dụng cụ tử cung, cần phải được tư vấn đầy đủ về ưu điểm, tai biến và những bất lợi của biện pháp này. Cán bộ y tế phải được tập huấn thành thạo về kỹ thuật đặt và tháo dụng cụ tử cung. Người phụ nữ phải được khám và sàng lọc kỹ những dấu hiệu viêm nhiễm, nếu có viêm nhiễm cần trì hoãn biện pháp này ít nhất là 3 tháng sau khi hút thai để được điều trị hết các viêm nhiễm. Ngoài ra, đặt vòng còn có một tỷ lệ thất bại do tụt vòng và không phòng tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục

    Thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai

    Có thể tiêm hoặc cấy ngay lập tức, tuy nhiên, giống như các thuốc tránh thai dạng uống thuốc tiêm tránh thai thuốc cấy tránh thai cũng không phòng tránh được các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục

    Một số biện pháp tránh thai khác có hiệu quả tránh thai không cao và không thích hợp cho thời điểm sau phá thai như sử dụng thuốc diệt tinh trùng các biện pháp vật cản như màng ngăn âm đạo, mũ cổ tử cung phương pháp tính vòng kinh…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tâm Sự Bạn Trẻ .:. Một Số Điều Cần Biết Về Các Biện Pháp Phòng Tránh Thai Cho Thanh Niên
  • Tất Tần Tật Các Phương Pháp Phòng Tránh Thai Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • 5 Cac Bien Phap Tranh Thai
  • Cho Em Hỏi Các Biện Pháp Phòng Tránh Thai
  • Tổng Quan Về Các Phương Pháp Tránh Thai
  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Kinh Nghiệm Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Các Giải Pháp Ngăn Chặn
  • Mách Bạn Những Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Năng Hiệu Quả Nhất
  • Cẩm Nang Sử Dụng Tiết Kiệm Năng Lượng Hiệu Quả
  • Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải: Đề Cương VIMARU 

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.

    Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại.

    Nước ta đang trong qúa trình Công nghiệp hoá – hiện đại hoá với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự khách quan khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với những tiềm năng và ưu thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.

    Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế… đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    của nhà nước . Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu.

    Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành phần kinh tế nói chung và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.

    Nhận thức rõ được tính cấp bách của vấn đề trên, sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu em xin mạnh dạn được trình bày một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: ”Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam“.

    BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI GỒM BA PHẦN:

    PHẦN I: Một số lý luận chung về tín dụng, rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn tín dụng trong Ngân hàng thương mại.

    PHẦN II: Thực trạng và nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam .

    PHẦN III: Một số biện pháp cơ bản hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phùng Bích Ngọc – Giảng viên trường ĐHDL Phương Đông, cùng các cô chú tại Ngân hàng No&PTNT huyện Sa Pa đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tiểu luận này.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

    1- Khái niệm Tín dụng Ngân hàng

    Ngân hàng là người môi giới giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, Ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh. Đó là hoạt động sinh lời chủ yếu trong các Ngân hàng thương mại-hoạt động tín dụng. Về nội dung kinh tế, tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một số lượng tiền nhất định của Ngân hàng (người cho vay) cho người đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả theo lãi.

    Tín dụng là phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự phát triển kinh tế xã hội là tiền đề nảy sinh các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng : tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng … Trong đó, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh.

    2- Vai trò tín dụng trong nền kinh tế thị trường.

    Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng như là một tổ chức cấp phát vốn ngân sách vì vậy thường xảy ra nơi cần vốn để sản xuất thì không có hoặc không kịp thời, nơi thì để vốn nằm ứ đọng trong một thời gian dài. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hầu như tình trạng đó đã chấm dứt. Với sự cải tổ hệ thống Ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, hàng loạt các Ngân hàng thương mại được thành lập. Nhằm mục đích huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các thành phần kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của toàn xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    2.1.1- Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế.

    Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân, là cầu nối cung và cầu về vốn. Là tổ chức kinh doanh tiền tệ các Ngân hàng thương mại luôn cố gắng đat lợi nhuận tối đa để tự khẳng định mình. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 – 80% thu nhập cho Ngân hàng . Việc tập trung và phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Như vậy tín dụng Ngân hàng là cánh tay đắc lực của Ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao chất lượng và điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kìm chế và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường kinh doanh ổn định.

    2.1.2- Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu tư phát triển.

    Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Để có thể mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như: nguồn nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuật, vốn…

    Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung ứng. Để có vốn doanh nghiệp có thể tim kiếm ở các nguồn khác nhau… nhưng những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Vì vậy thường thì các doanh nghiệp tìm đến các Ngân hàng bởi vì Ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ, Ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp tư vấn và vốn bổ xung. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất mở rộng và đầu tư phát triển của nền kinh tế.

    2.1.3- Tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ.

    Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ xung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng Ngân hàng được coi như một giải pháp để giải quuyết mâu thuẫn này. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế.

    Tất cả mọi quốc gia đều dùng tín dụng Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cân vốn. Nhưng việc cho vay này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà viêc đầu tư dược thực hiện qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng. Quá trình này rất quan trọng với các Ngân hàng, nó mang tính sống còn của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã đưa ra những biện pháp chính sách khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay hỗ trợ các dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát triển kinh tế.

    Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế đã tạo cho nước ta thế và lực mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy vai trò và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.

    II- RỦI RO TÍN DỤNG

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Khái niệm rủi ro tín dụng.

    Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng và cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho Ngân hàng ngoài sự mong đợi của Ngân hàng mà nguyên nhân của nó có thể là do Ngân hàng , khách hàng hoặc có thể là nguyên nhân khách quan.

    2- Các loại rủi ro tín dụng

    2.1- Rủi ro mất vốn

    Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng Ngân hàng là ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ Ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng Ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là các món cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng, do đó nếu các khoản cho vay của Ngân hàng không được hoàn trả, Ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của Ngân hàng sẽ khiến Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.

    2.2- Rủi ro sai hẹn

    Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho Ngân hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin Ngân hàng ra hạn thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được Ngân hàng chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.

    2.3- Rủi ro lãi suất

     

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Quá trình chuyển hoá tài sản của Ngân hàng  bao gồm việc huy động

    vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.

    2.4. Rủi ro tỷ giá

    Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một Ngân hàng Úc cấp tín dụng bằng đồng bảng Anh cho một công ty của Anh. Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đôla Úc.Thậm chí trong trường hợp đồng bảng Anh giảm giá đáng kể, thì cả gốc và lãi khi chuyển sang đôla Úc có thể là nhỏ hơn số gốc đầu tư ban đầu, và do đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bang Anh sang đôla Úc, thì số tiên thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái.

    3- Nguyên nhân rủi ro tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.1- Thông tin không cân xứng

    Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cả những gì mà người ta cần biết về bên để có được một quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt, trước khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.

    Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Do việc lựa chọn đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ.

    Những người dễ có thể tạo ra một kết cục đối nghịch nhất lại có thể được lựa chọn nhất. Họ là những người vay tiền ít được ưa chuộng nhất vì có nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không hoàn trả được những món nợ của họ.

    Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Đó là khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả. Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác xuất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định thôi không cho vay nữa. Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với Ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù những số liệu này đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị. Nhiều khi các Ngân hàng thương mại có những quyết định đầu tư không căn cứ vào số liệu báo cáo của đơn vị mà thường dựa vào những cảm nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.2- Môi trường kinh tế

    Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới. Trong thời gian qua nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành Ngân hàng ….

    Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng . Như một cá thể tự nhiên, Ngân hàng “khoẻ mạnh” hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay không.

    3.3- Môi trừơng pháp lý

    3.4- Những nguyên nhân bất khả kháng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đát, hoả hoạn…, các vụ ăn cắp, lừa đảo… gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng hoặc của khách hàng khiến người vay mất khả năng trả nợ vay.

    Đối với loại rủi ro này, Ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như: mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức, trách nhiệm cho nhân viên Ngân hàng …

    1- Tình hình quản lý tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trong những năm qua.

    1.1- Tình hình huy động vốn

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    trái phiếu Ngân hàng để nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn, huy động vôn bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn…

    Đến cuối năm 2003, số dư tiền gửi tại các tổ chưc tín dụng tăng 45% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức tăng năm trước và vượt kế hoạch đề ra. Nhìn chung số vốn huy động được từ nền kinh tế – xã hội tăng đều đặn trong các năm gần đây, rất có ý nghĩa đối với sự phát triển trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta chưa cao.

    So với đầu năm, tính sơ bộ đến hết tháng 6 năm 2004, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng trong cả nước tăng khoảng 16%, trong nguồn vốn huy động từ dân cư tăng 8%. Bảng so sánh phân tích sau đây giúp ta nhận rõ hơn tình hình này:

    Bảng 1: Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn của các TCTD

    Tỷ trọng

    Tăng so với đầu năm 2004(%)

    So sánh

    trong tổng

    Tỷ trọng trong

    Huy động vốn

    nguồn vốn

    tổng nguồn vốn

    Nhóm các

    của các

    từ dân cư

    của các TCTD

    TCTD

    TCTD (%)

    Các   TCTD   nhà

    75,7

    8

    10

    nước

    Các chi nhánh NH

    1

    nước ngoài & NH

    13

    1

    liên doanh

    Các TCTD cổ phần

    10

    5

    9

    Các TCTD phi NH

    0,3

    6

    7

    Các TCTD hợp tác

    1

    10

    ( Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số đặc biệt – Số 1 năm 2004)

    Vốn huy động của các Ngân hàng thương mại tăng và lãi suất huy động cũng được tăng mặc dù lãi suất huy động ngoại tệ tiếp tục giảm. Nhu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    cầu vay vốn băng đồng VN tăng mạnh hơn vay bằng ngoại tệ, hầu hết các doanh nghiệp tránh vay vốn bằng ngoại tệ mà chuyển sang đề nghị vay vốn bằng VND.

    1.2- Tình hình sử dụng vốn

    Tình hình huy động vốn chủ yếu tập trung vào các Ngân hàng thương mại quốc doanh ( chiếm tỷ trọng 80%), tương tự thị phần tín dụng cũng tập trung tương đương, điều này là hiển nhiên bởi quy luật lợi thế nhờ quy mô. Nhìn vào bảng 2 ta thấy, nếu cho vay bằng VND cả khu vực Ngân hàng thương mại Quốc doanh cao gấp 4,5-5 lần so với Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng thương mại chỉ gấp 1,5-2,5 lần. Điều này phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động tín dụng có tính cách biệt. Khách hàng của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là khách hàng trong nước nên họ lệch về vay bằng VND nhằm dự phòng rủi ro về tỷ giávà lãi suất không quá cao so với USD, thậm chí còn rẻ hơn sau khi điều chỉnh theo sự thay đổi của tỷ giá. Thị phần ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là các khoản vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoặc Ngân hàng liên doanh.

    Bảng 2 : Mức tập trung thị phần cho vay của các NHTMQD và NHTM ngoài quốc doanh .

    Năm

    1998

    1999

    2000

    2001

    2002

    2003

    NHTMQD

    79,6

    75,5

    77,2

    81,4

    81,6

    71,4

    Trong đó: -VND

    53,8

    53,5

    59,3

    65,9

    65,9

    61,1

    – Ngoại tệ

    25,8

    22,2

    18,0

    15,7

    15,7

    10,3

    NHTM ngoài quốc

    20,4

    24,5

    22,8

    18,4

    18,4

    28,6

    doanh.

    Trong đó: -VND

    7,5

    10,1

    9,5

    12,1

    12,1

    20,4

    – Ngoại tệ

    12,9

    14,4

    13,2

    6,3

    6,3

    8,2

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Tổng

    100

    100

    100

    100

    100

    100

    (Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 8 năm 2004)

    Mặc dù thị phần huy động, cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm phần lớn nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh từ các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, mặt khác họ là người phản ứng chậm trong sử dụng mỗi công cụ, chiến thuật cạnh tranh. Tính nhạy cảm của các Ngân hàng thương mại quốc doanh theo thông tin thị trường còn chậm nên đã bị các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài lấn trong từng thời điểm, trên từng mặt riêng lẻ của hoạt động Ngân hàng .

    Sức cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trên khía cạnh huy động vốn rất thấp. Ngân hàng thương mại cổ phàn bị yếu thế bởi mức độ tin cậy thấp, mặc dù các Ngân hàng này luôn phại đặt mức lãi suất huy động cao hơn các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do sợ thị phần vốn huy động có thể bị giảm sút, các Ngân hàng thương mại quốc doanh đôi lúc để mức lãi suất huy động ngang bằng Ngân hàng thương mại cổ phần. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không có khả năng cạnh tranh vì họ bị ràng buộc bởi quy định của Ngân hàng nhà nước chứ không phải là họ không có sức cạnh tranh trong lĩnh vực huy động tiết kiệm từ dân cư. Trong tương lai quy định của Ngân hàng nhà nước nới lỏng thị phần huy động vốn của các Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ bị ảnh hưởng lớn.

    Rõ ràng các Ngân hàng thương mại quốc doanh có nguồn vốn lớn, giá vốn thấp, có mối quan hệ lâu dài với khách hàng nhưng chưa tạo thế chủ động và lấn át các Ngân hàng nước ngoài. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, mục tiêu của chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là mở rộng thi phần, thôn tính khách hàng để tạo sự ổn định và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh cần phải đánh giá lợi nhuận cho cả gói dịch vụ đối với từng khách hàng từ thanh toán quốc tế giao dịch vốn, kinh doanh ngoại tệ, tín dụng… chứ không nhất thiết từng hoạt động riêng biệt phải sinh lời.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Điều này đòi hỏi tính liên kết, hợp tác giữa các bộ phận ngày càng chặt chẽ và nó cũng đòi hỏi rằng chất lượng dịch vụ khách hàng phải tốt hơn, phát triển sản phẩm mới, cải tiến chất lượng dịch vụ.

    2- Một số vấn đề quản lý rủi ro tín dụng

    2.1- Giá cả thế chấp, cầm cố trong các chu kỳ tín dụng

    Một trong những giải pháp cổ điển để tối thiểu hoá rủi ro tín dụng là yêu cầu người vay thế chấp hoặc cầm cố tài sản khi vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, giải pháp này không đảm bảo sự thành công cho chính sách tín dụng của Ngân hàng. Một trong những nguyên nhân thất bại là sự xuất hiện mối quan hệ phản hồi giữa các khoản vay và tài sản thế chấp, cầm cố tài sản trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Do đó để định giá tài sản thế chấp, cầm cố một cách hợp lý cần lưu tâm đến động thái của nền kinh tế quốc dân.

    Khi cho vay vào thời điểm “đỉnh” của chu kỳ tín dụng (cũng tương ứng với chu kỳ phát triển kinh tế) có đảm bảo bàng tải sản thế chấp, cầm cố được đánh giá theo thời kỳ này, thì khi phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ, TCTD sẽ bị thua lỗ. Vì vậy, khi ra quyết định cho vay cần lưu tâm đến thời điểm của nền kinh tế.

    2.2- Các rủi ro khi cho cá nhân vay vốn tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Ngày nay phân tích rủi ro tín dụng ngày càng có xu hướng hợp thức hoá và tiêu chuẩn hoá. Đối với các thể nhân vay vốn, trong thẩm định năng lực tín dụng, các Ngân hàng thường sử dụng phương pháp cho điểm. Tổng số điểm được tính cho toàn bộ các đặc điểm của khách hàng sẽ được so sánh với một giá trị tới hạn nào đó, và tuỳ theo kết quả so sánh mà khách hàng có thể xếp vào loại đối tượng có khả năng vay hoặc không có khả năng vay. Vậy những vấn đề nào có thể nảy sinh trong quá trình lựa chọn khách hàng ?

    Thứ nhất, xem xét toàn bộ các đặc điểm chủ yếu của khách hàng là một vấn đề khá phức tạp vì nhiều đặc điểm mang tính tâm lý, sinh lý, chính trị, xã hội… rất khó có thể có được một kết luận hoàn hảo.

    Thứ hai, đánh giá các đặc điểm của khách hàng theo cách cho điểm thường mang tính chủ quan. Để tăng tính khách quan trong việc cho điểm thường dựa trên cơ sở thông tin phản hồi về khả năng hoàn trả nợ vay trong quá khứ của khách hàng vay vốn. Trong trường hợp này mức điểm đánh giá là % nợ vay đã được hoàn trả. Tuy nhiên, quy trình này cũng không thể loại bỏ hoàn toàn những tồn tại nói trên, bởi vì kỳ thu nhập các thông tin phản hồi có thể khác nhau và được lựa chọn theo mong muốn chủ quan.

    Thứ ba,việc sử dụng các thang điểm đánh giá trong các phép tính toán không phải là những đại lượng “xơ cứng” theo thời gian, vì những biến động trong các điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm thay đổi mức độ rủi ro mỗi đặc điểm.

    Do đó, việc cho các thể nhân vay vốn tín dụng dựa trên cơ sở lượng hoá rủi ro là một việc làm không đơn giản. Luôn luôn có nhu cầu kiểm tra, sàng lọc lại các kết qủa một cách thận trọng.

    2.3- Rủi ro khi cho vay khách hàng là pháp nhân.

    Trong phương pháp phân tích rủi ro tín dụng khi cho một pháp nhân vay vốn cũng nổi lên những vấn đề bức xúc như trường hợp khách hàng là thể nhân. Khi tính xác suất vỡ nợ của một công ty, các nhà phân tích Ngân hàng sử dụng mô hình đa nhân tố bao hàm một quy trình đáng giá các chỉ tiêu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    hoạt động cơ bản của công ty vay vốn, để từ đó tính được một chỉ tiêu tổng hợp về xác suất vỡ nợ của công ty. Sau đó đem so sánh chỉ tiêu tổng hợp này với các giá trị chuẩn và rút ra kết luận cuối cùng về khả năng thanh toán của tổ chức kinh tế.

    Tình hình phức tạp khi có nhiều phương pháp phân tích định lượng về khả năng thanh toán dựa trên việc tính toán các chỉ tiêu đặc biệt theo các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán. Trong đó có các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán ngay, khả năng thanh toán dài hạn, các chỉ tiêu về thu nhập.

    Mỗi một hệ số nêu trên đều có giá trị tiêu chuẩn dựa trên cơ sở đó để thực hiện so sánh với hệ số tính toán. Hơn nữa trong thực tiễn, các giá trị tiêu chuẩn này thường được áp dụng chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và ít thay đổi. Chúng ta phải phân biệt theo ngành, lĩnh vực khác nhau theo cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ khác nhau một cách khách quan. Phải gắn chặt với lạm phát bởi vì tốc độ tăng của nó sẽ làm tăng các chỉ tiêu thực hiện. Rõ ràng sẽ là không có gì sai khi khẳng định rằng, các số chỉ tiêu chuẩn cần được phân biệt theo vùng, lãnh thổ bởi vì các địa phương khác nhau sẽ có điều kiện tái sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm không giống nhau, làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.

    Sự xuất hiện nhiều phương pháp khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng gây nên một vấn đề, các kết quả phân tích theo các phương pháp khác nhau thường cho những kết quả hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, phải thừa nhận rằng, ngày nay các nhà phân tích Ngân hàng đang đối mặt với một nhiệm vụ hết sức phức tạp là nên chọn những phương pháp nào để phân tích rủi ro tín dụng và sử dụng vào thời điểm nào là hợp lý. Tình hình còn phức tạp hơn vì cho đến nay vẫn chưa có một tiêu chí khách quan nào để làm luận cứ khoa học cho những sự lựa chọn nêu trên.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Nâng cao chất lượng cán bộ của Ngân hàng :

    1.1- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng .

    Nói lên vai trò quan trọng của những người đứng đầu trong một tổ chức nói chung và trong một Ngân hàng thương mại nói riêng. Người lãnh đạo Ngân hàng giỏi là người biết kết hợp hài hoà phát huy tối đa sức mạnh của tát cảc các nguồn lực Ngân hàng thương mại mình có thành sức mạnh tổng thể của Ngân hàng.

    Với tư cách là người chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của Ngân hàng, ban lãnh đạo vì vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện tựu chung gồm 3 khả năng chủ yếu: khả ngăng về chuyên môn, khả năng phân tích phán đoán và khả năng nghệ thuật đối nhân xử thế. Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của ban lãnh đạo Ngân hàng để lãnh đạo và đưa ra những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực, có tầm nhìn rộng trong công việc, hiểu biết về pháp luật.

    1.2- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho các cán bộ tín dụng.

    Không thể đạt được sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng nếu không có đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ nghiệp vụ, nhận thức xã hội và hiểu biết về pháp luật tốt. Sự hợp tác của toàn thể cán bộ nhân viên trong Ngân hàng là sức mạnh lớn nhất để Ngân hàng có thể đứng vững và lớn mạnh trong điều kiện khắc nghiệt hiện nay. Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng trong công tác tuyển dụng con người và đào tạo cán bộ có chất lượng cao. Cần phải có định hướng tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng, yếu tố con người luôn là yếu tố chủ đạo của mọi hoạt động vì con người là chủ thể của nền kinh tế.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Người cán bộ giỏi là người có tầm nhìn rộng trong tương lai, ví dụ một mặt hàng sản xuất này có thể tại thời điểm hiện tại thị trường chưa cần thiết nhưng trong một hoặc một vài năm tới nó lại là một mặt hàng không thể thiếu đối với thi trường. Nếu như là một người cán bộ có tầm nhìn hiểu biết rộng thì họ sẽ đầu tư vào mặt hàng sản xuất đó, và trong một vài năm tới họ sẽ có một khoản lời đáng kể. Mặt khác, nếu như cán bộ tín dụng không nắm bắt được thị trường và xu hướng của nó thì rủi ro mất vốn trong tương lai là rất lớn.

    Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật, thị trường, các lĩnh vực khác về kinh tế-tài chính, tin học và ngoại ngữ. Đồng thời chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp kinh doanh của ngành để ngày càng có sự nỗ lực trong công việc. Ngoài ra, cấp trên còn có chế độ khen thưởng những cán bộ làm tốt và có biện pháp xử lý kịp thời những cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm trong phòng chống rủi ro, thiếu đạo đức trong hoạt động tín dụng.

    2- Nâng cao chât lượng thẩm định khách hàng

    Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Ngân hàng ngày cành được khẳng định. Doanh nghiệp cần Ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và là động lực để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ các tiêu chuẩn cần phải có để thành lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo. Trong đó năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ.

    Nói cách khác, dưới con mắt Ngân hàng năng lực tài chính của doanh nghiệp là sự hiện thân của vốn tín dụng được bảo toàn sinh lợi, do đó nó cần

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    được coi là yếu tố hàng đầu để quyết định quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp.

    Trên thực tế có một số Ngân hàng chỉ chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trên cơ sở số liệu hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và kế hoạch kinh doanh trong thời kỳ vay vốn, kết hợp việc phân tích hiệu quả phương án sản suất kinh doanh có sử dụng vốn vay. Song, các chỉ số tài chính đúc kết từ báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp chỉ là những đại lượng mang tính thời điểm, khó có thể đại diện cho bản chất vốn có của doanh nghiệp, chưa kể đến phần lớn con số đó đã được doanh nghiệp gọt giũa trước khi trình Ngân hàng. Trong nhiều trường hợp tại thời điểm tưởng như khoản tín dụng được hoàn trả thì biến cố xuất hiện- doanh nghiệp đầu tư lỗ, tài sản Nợ tài chính gia tăng…, kết quả là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn có hiệu qủa cao nhưng khoản tín dụng không thu hồi được do dòng tiền cuốn trôi vào các ngõ ngách khác.

    3- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng.

    3.1- Cần nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng bằng hình thức thế chấp cầm cố.

    Đối với việc nhận tài sản thế chấp cầm cố điều quan trọng là phải xem xét tính pháp lý của hồ sơ thế chấp cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc chuyển nhượng tài sản khi bán đấu giá tránh hiện tượng lừa đảo bằng giấy chứng nhận sở hữu giả. bên cạnh đó cần quan tâm tới việc định giá chính xác tài sản đặc biệt đối với tài sản là nhà đất , dây chuyền máy móc thiết bị nhập ngoại đã qua sử dụng. nếu tài sản cầm cố thế chấp là ngoại tệ cần quan `tâm tới các yếu tố ảnh hưởng trong tương lai như tỷ giá lạm phát …. nhất là những khoản cho vay lớn và dài hạn.

    Một thực tế là các tài sản thế chấp cầm cố rất phong phú và đa dạng cán bộ tín dụng Ngân hàng không thể hểu rõ nguồn gốc đặc điểm những yếu tố tác động cũng như giá trị của chúng. Ví dụ: để thực hiện một món vay thế

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    chấp bởi nhà đất đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ có những kiến thức cơ bản về nhà đất như luật đất đai, biểu tính giá nhà đất của chính quyền thành phố mà còn phải hiểu biết rõ về giá cả thực những biến động của nó trên thị trường. Một cán bộ tín dụng dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hiểu biết được tất cả các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế bởi vậy để có thể định giá chính xác giá trị tài sản thế chấp cán bộ tín dụng nên đưa ra những chỉ tiêu nhất định để đánh giá. Với tài sản thế chấp là nhà đất thì cần những chỉ tiêu như: vị trí ngôi nhà, tình trạng hiện tại, sự biến động giá trên thị trường

    … với những tài sản thế chấp cầm cố bằng máy móc thì Ngân hàng nên cùng người vay thuê người giám định như vậy vừa khách quan vừa đảm bảo được tính chính xác.

    Một điều kiện không thể thiếu với tài sản thế chấp cầm cố là khả năng phát mại tài sản không chỉ là những tài sản có giá trị được nhà nước cho phép mà nó còn là những tài sản có khả năng bán được trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Do vậy khi nhận tài sản thế chấp cán bộ tín dụng không nên nhận những tài sản quá lớn, những công trình đang xây dựng dở dang khi phát mại rất khó tìm được người mua mà nếu có cũng thể bù đắp đựoc khoản cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần kiểm tra kỹ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu không ít trường hợp một tài sản đem thế chấp vay vốn ở nhiều Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng nên có quan hệ tốt với địa phương tránh vướng mắc trong quá trình sử lý tài sản thế chấp. Bởi vậy, Ngân hàng nên yêu cầu tất cả các thành viên ký vào giấy đề nghị vay vốn.

    3.2 Bảo lãnh:

    Bảo lãnh có nhiều ưu điểm hơn so với cầm cố và thế chấp. Trong suốt thời hạn cầm cố thế chấp phía Ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của những tài sản thế chấp này khi đó bên bảo lãnh cam kết dùng tất cả tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ không phải quá quan tâm đến việc kiểm tra tình trạng của từng tài sản cụ thể tránh được những nhựơc điểm của cầm cố và thế chấp. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng có

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    thể gặp rủi ro mất vốn nếu bên bảo lãnh mất khả năng thanh toán bị tuyên bố phá sản và không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh. Chính vì vậy mà Ngân hàng nên tìm hiểu kỹ về bên bảo lãnh và chỉ chấp thuận sự bảo lãnh của các công ty lớn và có uy tín hoặc yêu cầu bên bảo lãnh phải dùng tài sản để cầm cố thế chấp. Khả năng thực hiện việc trả nợ vay không chỉ phụ thuộc vào việc bên bảo lãnh có đủ tài sản mà quan trọng hơn là bên bảo lãnh có những nguồn thu nhập ổn định để bảo đảm có tiền thanh toán theo đúng lịch biểu của hợp đồng vay vốn. Ngân hàng cần xem xét thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh nhằm tạo thuận lợi cho cả Ngân hàng, người vay lẫn người bảo lãnh .

    3.3 Thực hiện bảo hiểm tín dụng:

    Có ba hình thức để bảo hiểm tín dụng như sau:

    • Thứ nhất: Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho nghành nghề mà họ kinh doanh vì vậy những khoản tín dụng trong trường hợp này coi như cũng được bảo hiểm một cách gián tiếp. Phương pháp này không làm phát sinh thêm thao tác nghiệp vụ trong Ngân hàng. để sử dụng tốt hình thức này thì Ngân hàng cần có chính sách ưu tiên cho vay về khối lượng và lãi suất đối với các doanh nghiệp, cá nhân mua bảo hiểm.

     

    • Thứ hai: Sử dụng biện pháp bảo lưu, nghĩa là Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách lập các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại khi gặp rủi ro tín dụng từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo được tình hình tài chính của Ngân hàng, rủi ro luôn song hành với hoạt động kinh doanh nhưng đối với mỗi thành phần kinh tế thì hệ số rủi ro tín dụng có khác nhau, việc quy định tỷ trọng rủi ro cụ thể cho từng loại tín dụng có hiệu quả hơn. Phần sử dụng vốn Ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, Ngân hàng phải lấy vốn tự có để bù đắp song vốn của Ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng. Như vậy hình thành quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro tín dụng là hợp lý và cần thiết.

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Hàng năm Ngân hàng cần phải trích 10% lợi nhuận trong mọi hoạt động kinh doanh của mình để lập quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro. Quỹ này được thành lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ của Ngân hàng . Quỹ dự trữ đặc biệt này sẽ giúp Ngân hàng khắc phục được những khoản tổn thất tín dụng do tình trạng nợ khoanh, nợ tồn đọng lâu dài… để đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng.

    -Thứ ba: Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp. Như thế Ngân hàng sẽ tránh được những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với những khoản vốn đầu tư.

    4- Xử lý món vay có vấn đề.

    Trong xử lý các khoản vay có vấn đề, có hai sự lựa chọ tổng quát: khai thác hoặc thanh lý. Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc. Thanh lý là ép người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp để đat được mục tiêu.

    Món vay có vấn đề được hiểu là món vay đã quá hạn hoặc món vay tuy chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ cho Ngân hàng do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện

    • phạm pháp luật như lừa đảo, trốn thuế… Xử lý món vay có vấn đề là áp dụng các biện pháp khác nhau để thu hồi nợ. Theo kinh nghiệm của các nhà Ngân hàng thì giải pháp khai thác là khôn ngoan hơn, vì sự tồn tại và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Chính các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt này đã cứu không ít khách hàng từ chỗ sắp ”khuynh gia bại sản” đến chỗ “gượng” lại được, tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với Ngân hàng. Các giải pháp khai thác bao gồm:

    – Thương lượng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giãn nợ. – Tiếp thêm vốn giúp khách hàng.

    – Đảo nợ.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    5- Mở rộng cạnh tranh.

    5.1 Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro

    Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các Ngân hàng còn hẹp, phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động. Các Ngân hàng thương mại cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.

    Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh… để đến khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng sẽ không chịu ảnh hương lớn. Vì thế, các NHTM phải phân tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau.

    5.2 Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tín dụng.

    Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các Ngân hàng trên thế giới áp dụng một cách có hiệu quả. Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam có đến 90% tài sản nợ là đầu tư trực tiếp nên khả năng rủi ro rất cao. Vì thế muốn hạn chế rủi ro tín dụng thì việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tín dụng rất cần được coi trọng. Có đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thì Ngân hàng mới có thêm lợi nhuận mà các dịch vụ đem lại.

    Muốn đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì các Ngân hàng thương mại phải tăng cường các trang thiết bị hiện đại như: máy vi tính, máy Fax cũng như cơ sở vật chất, thiết bị kho tàng. Đồng thời phải đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, vi tính thu thập thông tin thị trường… cho cán bộ Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với các trung tâm môi giới, tư vấn pháp luật… để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

    Phải từng bước chuyển dịch cơ cấu từ vốn bán lẻ sang bán buôn, mở rộng và phát triển dịch vụ đã có như thanh toán Quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C… Khi hình thành và phát triển những dịch vụ

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    mới, Ngân hàng không những thích nghi với nhu cầu của quá trình tái sản xuất mà bằng con đường đa dạng hoá việc cung ứng tín dụng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng thêm thu nhập cho mình mà có một nguồn nhất định để bù đắp nhũng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng gặp phải. Tuy nhiên, muốn đa dạng hoá dịch vụ Ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng phải có một khoản chi phí lớn về tiền của vì nó phụ thuộc vào quá trình hiện đaị hoá công nghệ Ngân hàng cả về máy móc thiết bị lẫn trình độ tinh thông nghiệp vụ mới của cán bộ Ngân hàng .

    5.3. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng.

    Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng sẽ giúp Ngân

    hàng:

    • Đánh giá đúng chất lượng khách hàn hệ tín dụng thường xuyên, Ngân hàng có thể nắm bắt, tiết kiệm được chi phí thẩm định và kiểm tra giám sát. Thông qua việc quan được những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng. Căn cứ vào số tiền dư trên tài khoản của họ, Ngân hàng sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng vốn, tiền mặt cũng như quan hệ với các khách hàng khác trong việc mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm…

    Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khàch hàng và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm được cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, tránh được rủi ro về đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn cũng như các chi phí giám sát khách hàng khi đã có sẵn phương thức giám sát khách hàng.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    • Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng, thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng Ngân hàng có thể huy động được một khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng. Sự am hiểu của khách hàng sẽ làm cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về loại tín dụng, khối lượng tín dụng, giá cả cho vay để có kế hoạch bố trí nguồn vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng. Do tiết kiệm được chi phí trong thẩm định, kiểm tra giám sát khách hàng nên Ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để hạ lãi suất cho vay, điều đó sẽ cuốn hút được khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó hơn với Ngân hàng. Mối quan hệ không những ngày càng được củng cố đối với khách hàng sẽ càng có cơ hội để nâng cao chất lượng tín dụng.
    • Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời kỳ và xu hướng phát triển hoạt động Ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động của thị trường, tìm kiếm cơ hội không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh Ngân hàng.

    Có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, nhất là rủi ro về đạo đức để vươn tới sự hoàn thiện về chất lượng tín dụng, nhằm tạo dựng được hình ảnh, biểu tượng tốt của Ngân hàng trên thị trường.

    Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, Ngân hàng phải có kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của Ngân hàng trên thị trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với Ngân hàng như những người bạn tin cậy.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng. Các Ngân hàng thương mại góp phần điều hoà lượng tiền trong lưu thông giúp ổn định giá cả, chống lạm phát, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế giúp quá trình sản xuất – trao đổi – tiêu dùng diễn ra trôi chảy hơn. Ngân hàng thương mại huy động với mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện việc tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. Thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.

    Tuy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đem lại hiệu quả cao nhưng kèm theo đó là rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Một Ngân hàng gặp rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Ngân hàng.Vì thế, rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu không những đối với cán bộ Ngân hàng mà còn là của toàn xã hội.

    Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong quá trình hoạt động, các Ngân hàng thương mại đã và đang gặp không ít khó khăn trong việc huy đọng vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả. Đặc biệt đối với kinh tế ngoài quốc doanh, hoạt động cho vay đối với loại hình này còn có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Với tính cấp thiết này, mong rằng một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh mà em đã trình bày sẽ góp một phần nhỏ vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung. Qua đó, góp phần củng cố sự phát triển và ổn định của hệ thống Ngân hàng, đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước.

    Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những khuyết điểm. Vì vậy, em rất mong muốn được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài viết có ý nghĩa thực tiễn hơn. Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Thông Qua Hoạt Động Tạo Hình Cho Trẻ 4
  • Lợi Nhuận Và Các Biện Pháp Làm Tăng Lợi Nhuận

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Tác Hại Khi Đánh Mỡ Bụng Và Những Giải Pháp Đánh Mỡ Bụng An Toàn
  • Giải Pháp Web/ App Tương Tác 3D/360
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Không Gian Xanh
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Không Gian Xanh (Gss) Tuyển Dụng
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Phần Mềm Gia Minh
  • Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm

    Luận văn – Lợi nhuận và các biện pháp làm tăng lợi nhuận

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư:

    Hoặc

    Lợi nhuận hoạt động kinh doanh = Doanh thu thuần – Giá thành toàn bộ của sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ trong kỳ.

    Trong đó:

    – Lợi nhuận hoạt động kinh doanh là số lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp

    – Trị giá vốn hàng bán là giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm tiêu thụ đối với doanh nghiệp sản xuất và là giá trị mua vào của hàng hoá bán ra đối với doanh nghiệp thương nghiệp

    Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động tài chính với thuế gián thu nếu có và chi phí hoạt động tài chính

    Lợi nhuận hoạt động tài chính = Thu nhập hoạt động tài chính – thuế (nếu có) – Chi phí hoạt động tài chính

    Trong đó:

    * Lợi nhuận khác

    Lợi nhuận khác là số chênh lệch giữa thu nhập khác với chi phí khác và khoản thuế gián thu nếu có

    Lợi nhuận khác = Thu nhập khác – Thuế (nếu có) – Chi phí bất khác

    Trong đó:

    – Thu nhập khác là những khoản thu không thể dự tính được trước, các khoản thu không mang tính chất thường xuyên như thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, tiền phạt do các bên vi phạm hợp đồng với doanh nghiệp, các khoản nợ khó đòi đã xử lý nay lại thu lại được …

    – Chi phí khác là các khoản chi cho các hoạt động nói trên …

    Như vậy tổng hợp lại ta có lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp được tính như sau:

    Lợi nhuận trước thuế TNDN = Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ và lợi nhuận từ hoạt động tài chính + Lợi nhuận khác

    Và Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ được xác định:

    Lợi nhuận sau thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ

    Phương pháp xác định lợi nhuận này là đơn giản, dễ tính, do đó được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp.

    1.2. Xác định lợi nhuận qua các bước trung gian

    Ngoài phương pháp trực tiếp đã trình bầy trên ta còn có thể xác định lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách tính dần lợi nhuận của doanh nghiệp qua từng khâu hoạt động, trên cơ sở đó giúp cho nhà quản lý thấy được quá trình hình thành lợi nhuận và tác động của từng khâu hoạt động hoặc từng yếu tố kinh tế đến kết quả hoạt động kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận sau thuế hay lợi nhuận ròng

    Phương pháp xác định lợi nhuận như vậy được gọi là phương pháp xác định lợi nhuận qua các bước trung gian. Tuỳ theo yêu cầu quản lý của mỗi doanh nghiệp mà ta có thể thiết lập các mô hình khác nhau trong việc xác định lợi nhuận qua các bước trung gian.

    Mô hình xác định lợi nhuận theo phương pháp này được thể hiện như sau

    Mô hình xác định lợi nhuận

     

    Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ và thu nhập từ hoạt động tài chính

    Thu nhập từ các hoạt động khác

     

    Lợi nhuận từ các hoạt động khác

    Chi phí hoạt động khác

     

    Các khoản giảm trừ

    Doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ và thu nhập từ hoạt động tài chính

    Lợi nhuận hoạt động khác

    Chi phí hoạt động khác

     

    – Giảm giá hàng bán

    – Hàng bị trả lại

    -Chiết khấu bán hàng

     

     

     

     

    – Thuế gián thu (Thuế TNDN, GTGT, XNK)

     

     

     

     

     

    Giá vốn hàng bán

    Lợi nhuận gộp từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và thu hoạt động tài chính

     

     

     

     

     

    – Chi phí bán hàng

    Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hoạt động tài chính

     

     

     

     

    – Chi phí quản lý doanh nghiệp

     

     

     

    Chi phí cho hoạt động tài chính

     

     

     

     

     

     

    Tổng lợi nhuận trước thuế

     

     

     

     

     

    Thuế thu nhập doanh nghiệp

    Lợi nhuận sau thuế (Lợi nhuận ròng)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2. Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp

    Để đánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp người ta sử dụng các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận tuỳ theo yêu cầu đánh giá đối với các hoạt động khác nhau. Ta có thế sử dụng một số chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận sau đây:

    2.1. Tỷ suất doanh thu thuần

    Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp.

    Công thức xác định:

    Tỷ suất lợi nhuận/ Doanh thu thuần

    =

    Lợi nhuận trước hoặc sau thuế

    Doanh thu thuần

     

    ý nghĩa: Chỉ tiêu này thể hiện 100 đồng doanh thu thuần trong kỳ đêm lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao.

    2.2  Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh bình quân

    Là mối quan hệ giữa lợi nhuận đạt được với số vốn kinh doanh bình quân trong kỳ( vốn cố định và vốn lưu động)

    Công thức xác định:

    Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn kinh doanh bình quân

    =

    Lợi nhuận trước hoặc sau thuế

    Vốn kinh doanh bình quân

     

    ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng vốn kinh doanh bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quan sử dung vốn kinh doanh càng lớn

    2.3.Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

    Là mối quan hệ giữa lợi nhuận với vốn chủ sở hữu sử dụng trong kỳ

    Công thức xác định:

    Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn chủ sở hữu

    =

    Lợi nhuận trước hoặc sau thuế

    Vốn chủ sở hữu

    ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả 100 đồng vốn chủ sở hữu trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao, hiệu  quả sử dụng vốn chủ sở hưu càng cao.

     

    III. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và một số biện pháp làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

     

    1. Các nhân tố ảnh hương tới lợi nhuận

    Doanh nghiệp tồn tại và hoạt động trong môi trường kinh tế- xã hội chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố từ môi trường kinh doanh đêm lại. Người ta chia ra làm hai nhóm nhân tố: Nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan. Nhân tố khách quan là nhân tố năm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp, nhân tố chủ quan là nhân tố thuộc về bên trong doanh nghiệp. Những nhân tô này có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển nhưng nó cũng có thể là những trở ngại mà các doanh nghiệp cần vượt qua để đi đến mục đích cuối cùng và thu lợi nhuận.

    1.1.Nhóm nhân tố khách quan

    Là tập hợp các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp mà bản thân doanh nghiệp không lường trước được. Bao gồm:

    – Môi trường kinh tế (lạm phát,tỷ giá, lãi suất…) những biến động trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp, điển hình của sự tác động này là quan hệ cung- cầu. Quan hệ cung- cầu làm cho giá cả thay đổi vì vậy ảnh hưởng đến quy mô sản xuất và lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi cầu lớn hơn cung thì khả năng tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp sẽ tăng, doanh nghiệp dễ dàng tăng doanh thu, tăng khả năng tăng lợi nhuận. Doanh nghiệp cũng chịu sự tác động của thị trường thông qua quy luật cạnh tranh.

    – Môi trường pháp lý

    Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự quả lý của nhà nước, ngoài việc tuân thủ các quy luật của thị trường thì doanh nghiệp còn chịu sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết các hoạt động của doanh nghiệp thông qua các biện pháp kinh tế, các chính sách, luật lệ về kinh tế như chính sách về thuế, lãi suất, tín dụng, chính sách khuyến khích đầu tư, kiểm soát giá …

    1.2. Nhóm nhân tố chủ quan

    – Nhân tố con người:

    Đây là một nhân tố quan trọng vì con người luôn đóng vai trò trung tâm và có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như trình độ quản lý, trình độ chuyên môn cũng như sự nhanh nhậy của người lãnh đạo trong cơ chế thị trường, trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm trong lao động của cán bộ công nhân viên cũng rất quan trọng.

    – Nhân tố về vốn:

    Đây là tiền đề vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có lợi thế về vốn sẽ dành được cơ hội trong kinh doanh, có điều kiện mở rộng thị trường …

    – Nhân tố về chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

    Chi phí bao gồm:

    +  Chi phi nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ … phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Đây là nhân tố quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.

    + Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí về tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho người lao động trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm. Nhân tố này chiếm tỷ trọng khá lớn. Đối với giá thành sản phẩm do các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn sử dụng nhiều lao động trực tiếp vào sản xuất.

    Sau khi sản phẩm, hàng hoá đã được sản xuất thì vấn đề tiếp theo là phải tổ chức bán, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá đó trên thị trường. Doanh nghiệp cần phải tổ chức tiêu thụ nhanh để sớm thu được tiền về, quay vòng vốn kinh doanh nhanh để mở rộng sản xuất. Việc tổ chức tốt quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ làm doanh thu tăng, chi phí tiêu thụ sản phẩm giảm do đó làm lợi nhuận tăng.

    Tóm lại, tất cả các nhân tố khách quan và chủ quan đều ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi nhân tố có mức ảnh hưởng khác nhau và giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại với nhau.

    2. Một số biện pháp làm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp

    2.1. Phấn đấu giảm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm

    Đây là biện pháp cơ bản nhằm tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Nếu như trên thị trường tiêu thụ giá bán và mức thuế đã được xác định thì lợi nhuận của đơn vị sản phẩm, hàng hoá, khối lượng dịch vụ tăng thêm hay giảm đi là do giá thành sản phẩm hoặc chi phí quyết định. Bởi vậy, để tăng thêm lợi nhuận các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu giảm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm. Muốn được như vậy các doanh nghiệp phải thức hiện tốt các biện pháp sau:

    – Tăng năng suất lao động:

    Là quá trình áp dụng tổng hợp các biện pháp để tăng năng lực sản xuất của người lao động sao cho số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc giảm bớt thời gian lao động cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm. Để tăng năng suất lao động các doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến tạo tiền đề làm thay đổi điều kiện sản xuất, cho phép sử dụng triệt để công suất máy móc thiết bị, tăng cường công tác quản lý sử dụng hiệu quả máy móc thiết bị, tổ chức quản lý lao động hợp lý, chú trọng nâng cao trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm của người lao động.

    – Giảm bớt lao động gián tiếp, giảm nhẹ bộ máy quản lý từ đó giảm chi phí quản lý, chi phí lao động gián tiếp, góp phần nâng cao lợi nhuận.

    – Tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao:

    Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất cũng góp phần to lớn vào việc giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, giảm được chi phí hao hụt nguyên vật liệu xuống mức thấp nhất là đã góp phần hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    2.2. Tăng thêm sản lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm.

    Đây là một biện pháp quan trọng nhằm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi những điều kiện khác không thay đổi thì khối lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ, cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp tới mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Đi đôi với tăng sản lượng sản phẩm các doanh nghiệp còn phải chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cung ứng. Bởi vì chất lượng được nâng cao sẽ giữ được chữ tín đối với người tiêu dùng và giữ được giá bán, doanh thu se tăng. Những trường hợp làm hàng giả, hàng kém chất lượng đưa ra thị trường đã chứng minh được doanh nghiệp đó không thể tồn tại được.

    2.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

    –  Vốn cố định:

    Vốn cố định là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là chuyển dần giá trị vào sản phẩm trong nhiều chu kỳ sản xuất cho tới khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng. Quản lý vốn cố định cũng là một nội dung quan trọng trong quản lý vốn của doanh nghiệp. Nếu vốn cố định được quản lý tốt sẽ góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vốn cố định là bộ phận quan trọng của vốn sản xuất. Quy mô vốn cố định có ảnh hưởng rất lớn, nó trực tiếp quyết định đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định được coi là một trọng điểm của công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp.

    – Vốn lưu động:

    Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị  của chúng vào giá trị của sản phẩm và thông qua lưu thông sẽ được hoàn lại một lần sau chu kỳ kinh doanh. Vốn lưu động nằm dưới nhiều dạng vật chất khác nhau, điều này làm cho doanh nghiệp khó kiểm soát chúng một cách chặt chẽ. Sử dụng tốt vốn lưu động tức là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả.

    Vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là vấn đề đáng quan tâm vì khi sử dụng vốn kinh doanh có hiểu quả sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất đem lại lợi nhuận ngày một lớn cho doanh nghiệp. Để làm tốt công việc này doanh nghiệp cần chú ý tới việc xác định cơ cấu vốn kinh doanh, hợp lý giữa các giai đoạn sản xuất, các khâu kinh doanh, giữa tài sản cố định và tài sản lưu động, xây dựng quy chế quản lý chặt chẽ, rõ ràng.

     

     

    i. KháI quát về tình hình tổ chức quản lý, kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi TháI Thuỵ

     

     

    1. Quá trình hình thành và phát triển.

     

     Công ty Cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái thuỵ tiền thân là Đội xây dựng thuỷ lợi huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình được thành lập ngày 10/10/1994. Năm 2001 thực hiện cổ phần hoá thành Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ theo quyết định số 666/QĐ-UB ngày 12/07/2001 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình. Số đăng ký kinh doanh số 0803000013 do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Thái Bình cấp ngày 07/08/2001. Công ty có tài khoản riêng mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thái Thuỵ, Ngân hàng công thương Diêm Điền. Có con dấu riêng hoạt động theo Luật doanh nghiệp và điều lệ công ty cổ phần. Đ­ược phép hoạt động trong các lĩnh vực : xây dựng, thuỷ lợi, giao thông , dân dụng.

       Trong những năm qua, Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ đã thi công nhiều công trình có quy mô và đạt chất lượng tốt, giá thành hợp lý và được chủ đầu t­ư đánh giá cao.

       Trong năm năm gần đây, Công ty đã trưởng thành trên thị trường, đơn vị có đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm và chuyên môn cao, có cán bộ quản lý giỏi, có các đội lao động chuyên làm công tác đào đắp và xây lắp với tay nghề vững vàng đủ khả năng xây dựng những công trình có quy mô phức tạp. Công ty có đủ năng lực thiết bị thi công, thực hiện đ­uợc tất cả các yêu cầu đòi hỏi về kỹ thuật chất lượng công trình.

    Hiện nay, đơn vị không ngừng nâng cao đội ngũ kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân lành nghề, mua sắm trang thiết bị để đảm bảo thi công công trình ngày càng tốt hơn.

    Tên đơn vị     :   Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ

    Hình thức sở hữu vốn:     Công ty cổ phần

    Địa chỉ :    Khu 7 thị trấn Diêm Điền- Huyện Thái Thuỵ –  Tỉnh Thái Bình

    Điện thoại     :   036.853290

    2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty

    Là đơn vị hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng các công trình công nghiệp, giao thông thuỷ lợi và công trình dân dụng.

    3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

       – Sản phẩm: Sản phẩm của Công ty là các công trình giao thông, thuỷ lợi, dân dụng.

      – Chất lượng sản phẩm: Các công trình của Công ty xây dựng đều đạt tiêu chuẩn của những chủ đầu tư và được đánh giá cao.

      – Đặc điểm của sản phẩm: Do tính chất của sản phẩm hàng hoá có giá trị lớn, thời gian thi công dài, sản phẩm mang tính chất đơn chiếc được thi công trên những địa điểm khác nhau. Sản phẩm mang tính cố định nên các đội thi công phải di chuyển địa điểm thi công công trình. Giá trị sản phẩm lớn, thời gian sử dụng lâu dài và có nhu cầu sửa chữa thường xuyên.

    4. Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty

    4.1. Bộ máy quản lý

    Bộ máy quản lý của Công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:

     

    * Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty:

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    *  Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban.

      – Hội đồng quản trị: là cơ quan cao nhất do đại hội cổ đông bầu ra có nhiệm vụ chỉ đạo toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo những kế hoạch, nhiệm vụ mà đại hội cổ đông đề ra. Hội đồng quản trị của Công ty gồm 3 người: 1 chủ tịch Hội đồng quản trị và 2 uỷ viên, chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành Công ty.

      – Ban giám đốc: Chỉ đạo trực tiếp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, chịu trách nhiệm tr­ước Hội đồng quản trị và tr­ước Công ty về các mục tiêu kế hoạch được giao.

      –  Ban chỉ huy công trường: Mỗi công trường có 1 trưởng ban chỉ huy công trường chịu sự phân công của giám đốc. Chỉ đạo thi công và phụ trách kỹ thuật thi công các công trình.

      – Phòng Tài chính-kế toán: Chịu sự điều hành của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Công ty. Có trách nhiệm thực hiện các công việc kế toán của Công ty, tham mưu cho Ban giám đốc trong lĩnh vực tài chính nhằm giúp cho việc sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Lập báo cáo tài chính hàng kỳ, xác định tổ chức nguồn vốn đảm bảo cho sản xuất kinh doanh, huy động nguồn vốn hiện có vào sản xuất kinh doanh.

      –  Phòng tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các công việc đồng thời sắp xếp, bố trí cán bộ, công nhân cho các công trường. Đảm bảo công tác kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động.

    2.2.Tổ chức bộ máy kế toán

    * Hình thức tổ chức:

      Bộ máy kế toán của Công ty hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ. Công ty áp dụng hình thức tổ chức kế toán tập trung. Bộ máy biên chế gọn, lực lượng lao động chủ yếu thuê ngoài vì vậy phòng kế toán chỉ biên chế 3 ng­ười trong đó có 1 kế toán trưởng, 1 kế toán tổng hợp và 1 kế toán tiền mặt, tiền lương, quỹ.

    Cơ cấu bộ máy kế toán

    Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán

     

     

     

     

     

     

     

     

    * Chức năng, nhiệm vụ của mỗi người:

      – Kế toán trưởng: Giúp Ban giám đốc chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra toàn bộ công tác kế toán. Điều hành công việc chung trong Phòng tài chính- kế toán.

      – Kế toán tổng hợp: Thực hiện hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Tất cả các báo cáo của các đội xây dựng đều do kế toán tổng hợp duyệt.

      – Kế toán tiền mặt, tiền lương: Chịu trách nhiệm viết phiếu thu, phiếu chi trên cơ sở chứng từ gốc hợp lệ, tập trung vào sổ quỹ để hàng tháng đối chiếu. Chịu trách nhiệm tính lương cho các cán bộ công nhân viên và lương cho công nhân theo chế độ quy định

      – Đơn vị hạch toán kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ. Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ.

    Công ty đang sử dụng các sổ kế toán: Chứng từ gốc, chứng từ ghi sổ, sổ quỹ và các sổ chi tiết, sổ cái.

    Sơ đồ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu kiểm tra

    II. Thực trạng về hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình thực hiện lợi nhuận của Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi TháI Thuỵ

    1. Tài sản – nguồn vốn của Công ty thể hiện qua bảng sau:

    Bảng 1: Tài sản – nguồn vốn năm 2004 –2005

    Đvt: đồng

    Stt

    chỉ tiêu

    Năm 2004

    Năm 2005

    So sánh 2004/2005

    Số tiền

    Tỷ trọng

    %

    Số tiền

    Tỷ trọng

    %

    S tuyệt đối

    Tỷ lệ

    %

    I

    Tài sản

    1.671.710.290

    100

    2.040.858.611

    100

    369.148.321

    22,08

    1

    TSLĐ

    1.554.121.365

    92,96

    1.941.297.485

    95,13

    387.176.120

    24,91

    2

    TSCĐ

    117.588.925

    7,04

    995.611.126

    4,87

    -18.027.799

    -15,33

    II

    Nguồn vốn

    1.671.710.290

    100

    2.040.858.611

    100

    369.148.321

    22,08

    1

    Nợ phải trả

    (Nợ ngắn hạn)

    903.464.159

    54,04

    1.174.364.803

    57,55

    270.900.644

    29,98

    2

    Vốn CSH

    768.246.131

    45,95

    866.493.808

    42,45

    98.247.677

    12,79

    Nguồn: Phòng TC-KT Công ty

    Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng tài sản năm 2005 tăng 369.148.321 đồng tương ứng với 22,08% cho thấy tài sản của Công ty đã có những thay đổi và có những dấu hiệu tăng dần. Việc tăng về quy mô tài sản chủ yếu do tài sản lưu động tăng, nguyên nhân tăng là do vốn bằng tiền của Công ty tăng, điều này cho ta thấy quá trình quản lý và sử dụng vốn lưu động của Công ty đã hợp lý về kết cấu. Tài sản cố định năm 2005 so với năm 2004 giảm 18.027.799 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 15,33% là do năm 2005 Công ty đã thanh lý một số thiết bị. So với năm 2004 nguồn vốn năm 2005 tăng 369.148.321 đồng, tương ứng với 22,08%. Nguồn vốn kinh doanh tăng là do công ty đã trích một phần cổ tức để bổ sung vốn đầu tư. Cuối năm 2004 đã trích là 59.055.000 đồng nên vốn chủ sở hữu năm 2005 tăng 98.247.677 đồng với tỷ lệ tăng là 12,79%.

    2. Hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình lợi nhuận của Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ

    2.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

     Như ta đã biết lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận chủ yếu của mỗi doanh nghiệp, nó có ý nghĩa quan trọng với toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh h­ưởng trực tiếp đến tình hình tài chính, Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ không nằm ngoài quy luật đó. Vì vậy, để hiểu đ­ược tình hình thực hiện lợi nhuận ở Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ ta hãy xem xét qua bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Bảng 2: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

    Đvt: đồng

    Chỉ tiêu

    Năm 2004

    Năm 2005

    So sánh 2004/2005

    Số tiền

    Tỷ trọng (%)

    Số tiền

    Tỷ trọng (%)

    Số tuyệt đối

    Tỷ lệ (%)

    Tổng doanh thu

    2.229.834.900

     

    1.140.791.900

     

    -1.089.043.000

    -48,84

    1. Doanh thu thuần

    2.229.834.900

    100

    1.140.791.900

    100

    -1.089.043.000

    -48,84

    2. Giá vốn hàng bán

    2.003.191.275

    89,93

    1.050.011.059

    92

    -953.180.216

    -47,58

    3. Lợi nhuận gộp(3=1-2)

    226.643.625

     

    90.780.841

     

    -135.862.784

    -59,94

    4. Chi phí quản lý DN

    119.334.565

    5,35

    90.660.265

    7,94

    -28.674.300

    -24,03

    5. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (5 = 3 -4)

    107.309.060

     

    120.576

     

    -107.188.484

    -99,89

    6. Thu nhập hoạt động tài chính

    5.664.040

     

    4.585.586

     

    -1.078.454

    -19,04

    7. Chi phí hoạt động tài chính

    315.400

     

    783.525

     

    468.125

    148,42

    8. Lợi nhuận thuần từ hoạt động tàI chính(8 = 6 -7)

    5.348.644

     

    3.802.061

     

    -1.546.583

    -28,91

    9. Tổng lợi nhuận tr­ước thuế (9=5+8)

    112.657.704

     

    3.922.637

     

    -108.735.067

    -96,52

    10. Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp

    31.544.157

     

    1.098.338

     

    -30.445.819

    -96,52

    11. Lợi nhuận sau thuế

        (11= 9 -10)

    81.113.547

     

    2.824.299

     

    -78.289.248

    -96,52

    Nguồn: Phòng TC-KT Công ty

    Qua bảng số liệu trên ta thấy lợi nhuận của Công ty có chiều hướng giảm. Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, vì thế nếu tăng được doanh thu sẽ trực tiếp góp phần tăng lợi nhuận.

    Doanh thu thuần là yếu tố quan trọng để tăng lợi nhuận, nhưng doanh thu thuần năm 2005 giảm 1.089.043.000 đồng ứng với tỷ lệ – 48,84% so với năm 2004, điều này là do năm 2005 các công trình xây dựng còn dở dang nhiều nên doanh thu thấp, dẫn đến lợi nhuận thấp, còn chi phí sản xuất kinh doanh dở dang lại quá nhiều. Công ty không có các khoản giảm trừ ( không có công trình hoặc hạng mục công trình phải phá đi làm lại, gây tổn thất làm giảm doanh thu ) điều này là do trong năm qua không có hạng mục công trình nào Công ty xây dựng phải phá bỏ hay làm lại chứng tỏ những hạng mục công trình đó đảm bảo chất lượng và yêu cầu của các chủ đầu tư.

    Về chi phí quản lý doanh nghiệp, qua bảng trên ta thấy năm 2005 chi phí quản lý giảm so với năm 2004 là 28.674.300 đồng, tương ứng với tỷ lệ 24,03%. So với doanh thu thuần thì năm 2004 chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng 5,35%, năm 2005 chỉ tiêu này chiếm 7,94%, nghĩa là khi thu được 100 đồng doanh thu thuần thì năm 2004 công ty phải bỏ ra 5,35 đồng chi phí và năm 2005 phải bỏ ra 7,94 đồng chi phí. Như vậy chi phí này cũng chiếm khá nhiều do dịch vụ mua ngoài tăng, chi cho tiền lương tăng.

    Chính vì hai chỉ tiêu giá vốn hàng bán và chi phí quản lý doanh nghiệp quá cao như vậy sẽ dẫn đến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của năm 2005 giảm 107.188.484 đồng so với năm 2004 với tỷ lệ tương ứng là 99,89%. Năm 2005 lợi nhuận của Công ty không đáng kể, gần như là không có lợi nhuận, điều này cũng một phần là do trong năm 2005 công ty chưa thu hồi được vốn về, còn để các nơi khác chiếm dụng nhiều…

    2.2 Lợi nhuận từ hoạt động tài chính.

    Công ty Cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ là một công ty còn non trẻ, và mới đ­ược cổ phần hoá từ  hơn 5 năm nay, trong thời gian đó Công ty mới chú trọng tập trung vào đầu tư máy móc thiết bị phục vụ cho việc thi công theo những hợp đồng có quy mô và yêu cầu khác nhau, cũng vì vậy mà hoạt động tài chính của Công ty còn hạn chế và chưa mang lại lợi nhuận cao như mong đợi của HĐQT.

    Lợi nhuận hoạt động tài chính là khoản chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động tài chính với chi phí hoạt động tài chính.

    Nhìn vào bảng 2 ta thấy chi phí cho hoạt động tài chính năm 2005 tăng so với năm 2004 là 468.125 đồng, tương ứng với tỷ lệ 148,42%, chi phí này tăng chủ yéu là do các khoản tổn thất trong đầu tư đấu thầu dự án của Công ty. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính năm 2005 cũng ít hơn năm 2004 là 1.546.583 đồng ứng với tỷ lệ 96,52%. Điều này là do Công ty chưa thu được lãi tiền gửi ngân hàng và chưa thu được lãi vốn cho vay mà các đơn vị khác đang chiếm dụng.

    Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì hoạt động tài chính chỉ là hoạt động kinh doanh phụ, góp phần tăng nguồn vốn kinh doanh cho Công ty trong điều kiện kinh tế hiện nay. Nhưng ở góc độ chung Công ty cần xem xét để tăng lợi nhuận từ hoạt động tài chính để góp phần tăng lợi nhuận cho Công ty trong những năm tới.

    Để hiểu rõ hơn tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty chúng ta cần nghiên cứu thêm một số chỉ tiêu tài chính khác sau đây:

    * Một số chỉ tiêu tài chính năm 2004 và 2005.

     

    Bảng 3: Một số chỉ tiêu tài chính năm 2004-2005.

    ĐVT: đồng

    STT

    Chỉ tiêu

    Năm 2004

    Năm 2005

    Chênh lệch

    S Tuyệt đối

    Tỷ lệ %

    1

    Doanh thu thuần

    2.229.834.900

    1.140.791.900

    -1.089.043.000

    -48,84

    2

    Vốn kinh doanh BQ

    1.671.710.290

    2.040.858.611

    369.148.321

    22

    3

    Lợi nhuận tr­ước thuế

    112.657.704

    3.922.637

    -108.735.067

    -96,52

    4

    Lợi nhuận sau thuế

    81.113.547

    2.824.299

    -78.289.248

    -96,52

    5

    Tỷ suất LN tr­ước thuế/DTT

    0,05

    0,003

    -0,047

    -94

    6

    Tỷ suất LN ròng/ DTT

    0,03

    0,002

    -0,028

    93,33

    7

    Tỷ suất LN trước thuế/ VKDBQ

    0,067

    0,002

    -0,065

    -97

    8

    Tỷ suất LN ròng/VKD BQ

    0,048

    0,001

    -0,047

    -97,91

    Nguồn: Phòng TC-KT Công ty

         * Tỷ suất Lợi nhuận doanh thu thuần

    Trong năm 2004, cứ 1 đồng doanh thu thuần thu về thì có 0,05 đồng lợi nhuận trước thuế hay 0,003 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2005 cũng 1 đồng doanh thu thuần thì có 0,003 đồng lợi nhuận trước thuế hay 0,002 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy năm 2005 so với năm 2004 cứ 1 đồng doanh thu có ít hơn 0,028 đồng lợi nhuận. Sở dĩ có sự giảm là do doanh thu thuần năm 2005 giảm vì các công trình thi công còn chưa hoàn thành nên chưa được nghiệm thu và do đó chưa được thanh toán, chưa thu được tiền từ các chủ đầu tư dẫn đến tỷ suất lợi nhuận doanh thu giảm.

    * Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh

    Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận hay đưa lại cho công ty bao nhiêu đồng lãi thực. Từ bảng trên thấy rằng cứ 100 đồng tiền vốn bỏ ra để kinh doanh thì năm 2004 thu về 6,7 đồng lợi nhuận trước thuế hay 4,8 đồng lợi nhuận ròng, còn năm 2005 chỉ thu về đ­ược 0,2 đồng lợi nhuận trước thuế hay 0,1 đồng lợi nhuận ròng thôi, điều nay cũng cùng 1 lý do như đã trình bầy ở trên.

     * Tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động

    – Kết cấu vốn lưu động:

    Bảng 4: Kết cấu vốn lưu động năm 2004-2005

    Đvt: đồng

    Stt

    Chỉ tiêu

    Năm 2004

    Năm 2005

    So sánh 2004/2005

    Số tiền

    tt(%)

    Số tiền

    TT (%)

    S Tuyệt đối

    tỷ lệ (%)

    1

    Vốn bằng tiền

    513.727.795

    33,06

    436.099.587

    22,46

    -77.628.208

    -15,11

    2

    Các khoản phải thu

    643.942.884

    41,43

    563.030.884

    29

    -80.912.000

    -12,56

    3

    Hàng tồn kho

    283.792.494,5

    18,26

    759.942.236,5

    39,15

    476.149.742

    167,78

    4

    TSLĐ khác

    112.658.191,5

    7,25

    182.224.777,5

    9,39

    69.566.586

    61,75

    5

    Chi sự nghiệp

    0

     

    0

     

    0

    0

    6

    Tổng vốn lưu động

    1.554.121.365

    100

    1.941.297.485

    100

    387.176.120

    24,91

    Nguồn: Phòng TC-KT Công ty

    Qua bảng trên ta thấy vốn bằng tiền của Công ty năm 2005 giảm 77.628.208 đồng so với năm trước tương ứng với tỷ lệ giảm 15,11% là do năm 2005 Công ty trúng thầu được một số công trình và phải sử dụng vốn để mua vật liệu, trả lương cho công nhân, mà các công trình đó còn đang dở dang chưa được quyết toán. Tuy nhiên vốn bằng tiền của công ty năm 2004 chiếm tỷ trọng 33,06% so với Tổng vốn lưu động và năm 2005 chiếm tỷ trọng 22,46% so với tổng vốn lưu động điều này chứng tỏ việc sử dụng vốn lưu động của Công ty chưa thực sự hợp lý vì tiền mặt để ở công ty là khá nhiều so với vốn lưu động nên cũng gây ra lãng phí vì không dùng tiền mặt để sử dụng vào những hoạt động kinh doanh khác như là hoạt động tài chính để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho công ty.

    Các khoản phải thu giảm 80.912.000 đồng, ứng với tỷ lệ -12,56% là do vốn Công ty đang bị các nơi khác chiếm dụng như nhận thầu một số công trình đang thi công chưa bàn giao trong khi phải mua nhiều nguyên liệu phục vụ cho các công trình đó. Các khoản phải thu năm 2004 chiếm tỷ trọng 41,43% so với tổng vốn lưu động và năm 2005 chiếm tỷ trọng 20% trong tổng vốn lưu động, chỉ tiêu này cũng khá cao nó phản ánh việc Công ty đang để cho các đơn vị khác chiếm dụng vốn trong tổn vốn lưu động của mình quá nhiều. Đây cũng là dấu hiệu không tốtvì như vậy Công ty sẽ không còn nhiều vốn để đầu tư và để nhận thầu những công trình khác nhằm tăng doanh thu góp phần tăng lợi nhuận cho mình.

    Hàng tồn kho đã tăng lên 476.149.742 đồng tương ứng với tỷ lệ 167,78%. Hàng tồn kho năm 2005 cũng chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn lưu động của Công ty là 39,15%, đây cũng là một mức cao điều này có ảnh hưởng xấu đến doanh thu và ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận vì những vật liệu đó dễ bị hao hụt, hư hỏng gây lãng phí trong khi thi công công trình.

         *  Tình hình sử dụng vốn l­ưu động:

     Như ta đã biết muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp thì biện pháp hiệu quả, ưu việt nhất là phải tăng nhanh vòng quay vốn lưu động đồng thời kết hợp với việc huy động thêm vốn cố định vào sản xuất. Muốn đánh giá và hiểu được hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ ta hãy xem xét một số chỉ tiêu trong 2 năm 2004 và 2005 qua bảng sau.

    Bảng 5: Tình hình sử dụng vốn năm 2004-2005

    Đvt: đồng

    Stt

    Chỉ tiêu

    Đvt

    Năm 2004

    Năm 2005

    So sánh 2004/2005

    S tuyệt đối

    tỷ lệ(%)

    1

    Doanh thu thuần

    đồng

    2.229.834.900

    1.140.791.900

    -1.089.043.000

    -48,84%

    2

    Lợi nhuận sau thuế

    đồng

    81.113.547

    2.824.299

    -78.289.248

    -96,52

    3

    Vốn l­ưu động BQ

    đồng

    1.290.204.512

    1.747.709.425

    457.504.913

    35,46

    4=1/3

     Số vòng quay VLĐ

    vòng

    1,73

    0,65

    -1,08

    -62,43

    5= 360/4

    Số ngày luân chuyển VLĐ

    ngày

    150

    300

    150

    100

    6= 3/1

    Hàm lượng­ VLĐ

    %

    0,58

    1,53

    0,95

    163,79

    7= 2/3

    Lợi nhuận/ VLĐ

    %

    0,06

    0,001

    -0,059

    -98,33

    Nguồn: Phòng TC-KT Công ty

    Bảng trên chỉ ra rằng mặc dù vốn lưu động bình quân trong năm 2005 tăng 35,46% tương đương với 457.504.913 đồng nhưng vòng quay vốn lưu động lại giảm đi 1,08 vòng ứng với 62,43% so với năm 2004 có nghĩa là Công ty vẫn chưa sử dụng hiệu quả hiệu suất sử dụng vòng quay vốn của năm 2005, còn để ứ đọng nhiều nguyên vật liệu trong kho. Chỉ tiêu hàm lượng vốn lưu động cho biết để có 1 đồng doanh thu năm 2004 công ty cần 0,58 đồng vốn lưu động, sang năm 2005 lại cần thêm 1,53 đồng nữa tăng lên 163,79% dẫn đến việc giảm lợi nhuận trong năm.

    Năm 2004 khi bỏ ra 1 đồng vốn lưu động bình quân Công ty thu lại được 0,06 đồng lợi nhuận cũng là thấp, song đến năm 2005 Công ty lại chỉ thu về được có 0,001 đồng, quá thấp so với những chi phí và rủi ro mà Công ty có thể gặp phải trong lĩnh vực xây dựng thuỷ lợi.

     

     

     

     

     

    I. Đánh giá chung .

    1. Ưu điểm

    Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ là một công ty có bộ máy biên chế gọn, quy mô nhỏ, địa bàn hoạt động còn hạn hẹp, thị trường hoạt động chỉ trong huyện, tỉnh nhưng lại là một thị trường thuần tuý nông nghiệp nên Công ty có điều kiện để thực hiện các đơn đặt hàng của các huyện khác về các công trình thuỷ lợi, dân dụng và giao thông nông thôn. Với các cán bộ công nhân viên có tay nghề, kinh nghiệm với đội ngũ công nhân lành nghề, Công ty đã xây dựng đ­ược nhiều công trình giao thông thuỷ lợi có chất lượng tốt, tạo được sự tin cậy của khách hàng.

    2. Những hạn chế và nguyên nhân

    Bên cạnh những thành quả đạt được Công ty cũng gặp phải những khó khăn như vì là 1 công ty nhỏ, hoạt động ở địa bàn huyện, nên trang thiết bị còn sơ sài. Các khoản chi phí còn cao như giá thành sản xuất, chi quản lý doanh nghiệp. Hoạt động của Công ty chủ yếu là hoạt động sản xuất kinh doanh điều này tuy là phù hợp với đặc điểm của Công ty tuy nhiên mảng hoạt động tài chính lại thấp và giảm hơn năm trước, Công ty đã không thể tăng lợi nhuận qua hoạt động này.

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Có sự cạnh tranh của các Công ty cùng ngành.
    • Công tác quản lý xây dựng đôi khi còn nhiều hạn chế, bất cập.
    • Giá cả của nguyên vật liệu thường không ổn định và có xu hướng tăng dần nên đã gây ra không ít khó khăn cho Công ty.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Trình độ tổ chức, quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu trong công tác quản lý mới.
    • Nguồn vốn kinh doanh còn nhỏ nên chưa có điều kiện để triển khai các hoạt động tài chính.
    • Công nhân thuê ngoài và chủ yếu là lao động phổ thông nên nhiều lúc không đủ chuyên môn cho những công trình có tầm vóc lớn.

    II. Biện pháp nhằm tăng lợi nhuận trong Công ty.

      Ban đầu còn nhiều sự bỡ ngỡ với môi trường mới và quan sát, kiểm nghiệm những kiến thức trong sách với cách làm việc của một cơ sở cụ thể nhưng được sự hướng dẫn nhiệt tình của phòng Tài chính- kế toán cũng như Công ty em thấy tự tin hơn và yêu thích, say mê hơn với công việc này. Em xin đưa ra một số biện pháp sau:

    1. Phấn đấu giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.

    Đây là biện pháp cơ bản nhất để tăng thêm lợi nhuận cho Công ty. Phấn đấu tiết kiệm mọi chi phí sản xuất, chi phí quản lý, nâng cao chất lượng công trình tạo uy tín trên thị trường để nâng cao sức cạnh tranh của Công ty. Đồng thời tổ chức sử dụng nhân công hiệu quả, tiết kiệm. Để hạ thấp giá thành công trình thì công ty cần thực hiện tốt các biên pháp sau:

    * Một là phấn đấu tăng năng suất thi công

    – Công ty cần thiết phải đầu tư, đổi mới máy móc, trang thiết bị phục vụ công tác xây dựng. áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến tạo tiền đề làm thay đổi căn bản điều kiện xây dựng hạn chế như bây giờ.

    – Tăng cường công tác sử dụng và nâng cao hiệu suất sử dụng máy

    – Nâng cao trình độ tay nghề và nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ công nhân viên và của cả công nhân. Chăm lo bồi dưỡng về nghiệp vụ, nâng cao tay nghề cho công nhân.

    * Hai là tiết kiệm nguyên vật liệu trực tiếp

    – Tiết kiệm được nguyên vật liệu tiêu hao trong quá trình xây dựng góp phần quan trọng vào việc giảm chi phí và hạ giá thành công trình. Bởi vì thực tế trong 2 năm qua giá vốn công trình chiếm tỷ trọng rất lớn so với doanh thu thuần mà chi phí nguyên vật liệu trực tiếp lại chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành của công trình.

    – Công ty cần phải giảm tỷ lệ hao hụt nguyên vật liệu trước khi đưa vào xây dựng, và giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu trong mỗi công trình. Muốn vậy ngay từ khi lập kế hoạch, lúc thiết kế phải có sự thống nhất giữa kế hoạch xây dựng với kế hoạch cung ứng vật tư như xây dựng các định mức tiêu hao nguyên vật liệu cụ thể cho mỗi công trình.

    – Có điều kiện bảo quản tốt vật liệu xây dựng, phải quy trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị trong khâu thu mua, vận chuyển, bảo quản vật liệu để giảm tỷ lệ hao hụt xuống mức thấp nhấp

    chúng tôi động thêm vốn kinh doanh và sử dụng một cách hiệu quả .

    Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Thái Thuỵ với đặc điểm của ngành kinh doanh đòi hỏi phải có một số lượng vốn lớn, nếu thiếu vốn Công ty sẽ không có cơ hội mở rộng thị trường, hoạt động kinh doanh sẽ kém hiệu quả, doanh thu không đủ để bù đắp chi phí. Bằng cách huy động tiền nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên với hình thức cho Công ty vay vốn kinh doanh với lãi suất phù hợp, vay vốn ngân hàng trong những trường hợp cần huy động vốn để nhận thầu những công trình lớn.

    Công ty cần phải bố trí vốn một cách hợp lý giữa vốn cố định và vốn lưu động. Chú ý đầu tư vốn về mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho công tác thi công. Vì đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao nang suất lao động và nâng cao chất lượng công trình như đã phân tích ở trên.

    Đối với vốn lưu động: Trong điều kiện vốn công ty có hạn nhưng vốn bằng tiền, các khoản phải thu và hàng tồn kho lại chiếm tuyệt đại bộ phận vốn lưu động. Muốn hợp lý thì Công ty cần phải giảm tỷ trọng vốn bằng tiền để dành vốn vào hoạt động kinh doanh, phải đẩy mạnh công tác thu hồi vốn đối với các công trình hoặc hạng mục công trình đã hoàn thành và nghiệm thu. Đồng thời phải tập trung nhân tài, vật lực và lực lượng quản lý để tập trung dứt điểm các công tình dở dang nhằm rút bớt vốn dự trữ vật tư. Giải quyết được những nội dung trên đồng nghĩa với việc thúc đẩy vòng quay vốn lưu động.

    Công ty nên tổ chức công tác thu hồi nợ, đẩy mạnh công tác nghiệm thu và quyết toán các công trình, có chế độ khuyến khích với những khách hàng mà thanh toán trước và đúng hạn. Muốn thu hồi vốn nhanh thì biện pháp cơ bản, lâu dài là công ty phải tập trung dứt điểm từng công trình hoặc hạng mục công trình đúng tiến độ để tiến hành nghiệm thu, thanh toán.

    3. Đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên và công nhân.

    Vì con người cũng là nhân tố quyết định đến sự phát triển của Công ty, cần chú trọng đào tạo giúp nâng cao trình độ chuyên môn vì nhu cầu của thị trường ngày một cao, khi công nhân có tay nghề và trình độ sẽ là điều kiện tốt nhất để công ty nhận đấu thầu những công trình có giá trị lớn với yêu cầu xây dựng phức tạp.

    4.Tăng cường hoạt động marketing mở rộng thị trường và nâng cao thị phần.

    Thông qua hoạt động này để mở rộng thị trường, đẩy mạnh công tác tiếp thị để khách hàng biết đến tên tuổi và sản phầm công trình có chất lượng của Công ty, phấn đấu hàng năm trúng thầu và nhận được nhiều công trình trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề và trên nhiều địa bàn.

     

     

    Lợi nhuận của doanh nghiệp là bộ phận cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường thì vai trò của nó càng trở nên quan trọng. Chỉ có doanh nghiệp nào sản xuất kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận thì doanh nghiệp đó mới có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Do đó phấn đấu tăng lợi nhuận không những là mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh mà nó còn là đòn bẩy kinh tế, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.

      Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần xây dựng Thuỷ Lợi Thái Thuỵ, được tiếp cận với thực tiễn cùng với kiến thức được học trong nhà trường với sự giúp đỡ của thầy Lê Văn Chắt cùng với cán bộ phòng Tài chính – Kế toán của Công ty em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Lợi nhuận và một số biện pháp làm tăng lợi nhuận của Công ty cổ phần xây dựng Thuỷ Lợi Thái Thụy”.

      Trong luận văn tốt nghiệp này em đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận cho Công ty trong thời gian tới. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng bài luận văn của em chắc chắn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Em mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Lê Văn Chắt và các cán bộ phòng Tài chính – Kế toán của Công ty đã giúp đỡ em trong qúa trình nghiên cứu đề tài.

    Hà Nội, tháng 09 năm 2006

     

    Sinh viên

     

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Lắp Đặt Camera Wifi Tại Nhà Từ A
  • Camera Wifi Không Dây – Giải Pháp Tối Ưu Cho Giám Sát Từ Xa
  • Bảo Vệ Vững Chắc An Ninh Quốc Gia Và Giữ Gìn Trật Tự An Toàn Xã Hội Trong Tình Hình Mới
  • Giữ Vững An Ninh Quốc Gia Và Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Xã Hội
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Biện Pháp Pháp Luật Bảo Vệ An Ninh, Trật Tự
  • Cách Biến Chiếc Điện Thoại Của Bạn Thành Máy Bộ Đàm

    --- Bài mới hơn ---

  • Apple Watch Series 4
  • Tính Năng Biến Apple Watch Thành Bộ Đàm – Bạn Biết Tính Năng Này Chưa?
  • Tính Năng Đo Nhịp Tim Của Apple Watch Khiến Nhiều Người Đi Viện Nhầm
  • Apple Watch S4 40Mm Vs 44Mm: Lựa Chọn Nào Là Hợp Lý?
  • Apple Watch Series 5: Chiếc Đồng Hồ Thông Minh Đáng Phải Bỏ Tiền Ra Để Đầu Tư Nhất
  • Nhiều người tìm kiếm cách biến chiếc điện thoại của mình thành máy bộ đàm. Hay tìm kiếm điện thoại bộ đàm để liên lạc thuận tiên hơn. Với những nhóm du lịch phượt thì thiết bị bộ đàm là vật dụng rất cần thiết.

    1. Điều cần thiết khi đi du lịch phượt

    Khi bạn chuẩn bị du lịch thì chắc chắn phương tiện liên lạc phải chuẩn bị thật kỹ càng. Điện thoại di động thì ai cũng có nhưng ít ai sở hữu được một chiếc máy bộ đàm cầm tay chuyên dụng.

    (Biến di động thành chiếc máy bộ đàm)

    Để liên lạc được với mọi người khi phượt các bạn có thể sử dụng bộ đàm cầm tay. Ngoài ra, bạn nào dư giả có thể gọi điện trên suốt hành trình đi phượt. Tất cả những cách này đều có sự hạn chế riêng của nó như giá cả, thiết bị.

    Trong khi những chiếc máy bộ đàm Icom, Kenwood, hay máy bộ đàm Motorola có công suất phát 5W khả năng truyền tải tốt nhất cũng chỉ lên đến phạm vi 3-4km. Khi máy nằm ngoài tầm phủ sóng thì cũng phải bó tay.

    Vì vậy, bạn cần một phương pháp để biến chiếc điện thoại thành chiếc máy bộ đàm cầm tay để sử dụng.Với chiếc bộ đàm điện thoại này, bạn có thể thoải mái gọi nhau cả ngày không sợ tốn chi phí liên lạc như điện thoại.

    2. Phần mềm bộ đàm dành cho android

    https://play.google.com/store/apps/details?id=com.loudtalks

    Ưu điểm của phần mềm

    (Phần mềm bộ đàm cho android)

     

    • Phần mềm bộ đàm cho android có thể biến tất cả các dòng máy sử dụng hệ điều hành android trở thành chiếc bộ đàm như thật.

    • Phần mềm đã được test thử, sử dụng ngon lành, tầm xa nói chuyên lên đến hơn 50km. Quan trọng hơn phần mềm bộ đàm cho android không tốn kém chi phí, sử dụng không mất tiền, một người truyền tải được thông điệp cùng lúc cho nhiều người trong nhóm.

    • Việc đầu tiên được nhiều người quan tâm đến là chi phí. Và phần mềm này cho các bạn tải miễn phí. Khi sử dụng chỉ tốn kém chi phí 3g hay 2g ngoài ra không phát sinh thêm khoảng chi phí nào khác.

    • Phần mềm bộ đàm cho android đem đến cự ly liên lạc gấp 10 lần bộ đàm thông thường. Các bạn có thể tưởng tượng nó như một chiếc bộ đàm 3G thật sự.

    3. Phần mềm bộ đàm dành cho Iphone

    Ưu điểm của phần mềm

    (Phần mềm bộ đàm cho Iphone)

    • Tương tự phần mềm bộ đàm Iphone cho cự ly hoạt động lên gấp 10 lần bình thường.

    • Chi phí không tốn kém chỉ tốn phí 3G hay 2G là đã có thể sử dụng như một máy bộ đàm tốt.

    • Các bạn có thể vọc về cài đặt tần số, tùy chỉnh kênh hoặc chỉnh code để bảo mật kênh.

    • Khi bạn sử dụng các mạng thông dụng như Viettel, Vina, Mobile bạn có thể vô tư nói chuyện nhiều khu vực. Vì đây có nhiều trạm phát sóng hầu như mọi nơi.

    4. Hướng dẫn sử dụng phần mềm

    • Bạn tiến hành tải về và cài đặt như những phần mềm bình thường khác.

    • Add những người sử dụng khác vào chung một channel để tạo ra nhóm liên lạc chuẩn bị cho quá trình sử dụng.

    • Khi nói bạn chỉ cần chạm vào nút hình micro để có thể truyền thông tin liên lạc cho tất cả mọi người trong nhóm.

    Tin khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Màn Hình Luôn Hiển Thị Aod – Tiện Ích Hay Hao Phí Điện Năng?
  • 17 Tính Năng Ẩn Thú Vị Của Ios 13 Mà Bạn Có Thể Chưa Biết
  • Top 9 Ứng Dụng Làm Mờ Hậu Cảnh Vô Cùng Bá Đạo Trong Năm 2021
  • Giới Thiệu Về Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh
  • Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Sử Dụng Hàm Subtotal Trong Excel

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàm Sum Trong Excel – Cách Sử Dụng Hàm Tính Tổng Qua Ví Dụ
  • Hướng Dẫn Cách Dùng Hàm Sumproduct Trong Excel Qua Ví Dụ
  • Cách Dùng Hàm Sumifs Trong Excel
  • Cách Sử Dụng Hàm Trim Trong Microsoft Excel
  • Cách Sử Dụng Hàm Today Trong Excel
  • Hàm SUBTOTAL trong Excel là gì?

    Microsoft định nghĩa hàm SUBTOTAL trong Excel là hàm trả về tổng phụ trong danh sách hoặc cơ sở dữ liệu. Trong trường hợp này “tổng phụ” không chỉ là tổng số trong một phạm vi ô xác định.

    Không giống như các hàm Excel khác được thiết kế để chỉ thực hiện một việc cụ thể, hàm SUBTOTAL linh hoạt hơn khi có thể thực hiện các phép toán số học và logic khác nhau như đếm ô, tính trung bình, tìm giá trị tối thiểu hoặc tối đa ….

    Hàm SUBTOTAL hỗ trợ tất cả các phiên bản Excel và cú pháp trong Excel như sau:

    =SUBTOTAL(function_num, ref1, [ref2],…)

    Trong đó:

    Ví dụ: Đây là cách bạn có thể tạo công thức hàm SUBTOTAL 9 để tổng hợp các giá trị trong các ô từ C2 đến C8:

    Để thêm số hàm vào công thức, bấm đúp vào nó, sau đó nhập dấu phẩy, chỉ định một phạm vi, nhập dấu ngoặc đơn đóng và nhấn Enter. Công thức đầy đủ sẽ như sau:

    =SUBTOTAL(9,C2:C8)

    Theo cách tương tự, bạn có thể viết công thức hàm SUBTOTAL 1 để tính trung bình, hàm SUBTOTAL 2 để đếm các ô có số, hàm SUBTOTAL 3 để đếm các khoảng trống ….

    Ghi chú. Khi bạn sử dụng công thức hàm SUBTOTAL với các hàm tóm tắt như hàm SUM hoặc hàm AVERAGE, nó chỉ tính toán các ô có số bỏ qua khoảng trắng và các ô chứa giá trị không phải là số.

    3 lý do để sử dụng hàm SUBTOTAL trong Excel

    So với các hàm Excel truyền thống khác, hàm SUBTOTAL trong Excel có những lợi thế quan trọng sau.

    Hàm SUBTOTAL tính giá trị trong các hàng được lọc

    hàm SUBTOTAL của Excel bỏ qua các giá trị trong các hàng được lọc, bạn có thể sử dụng để tạo một bản tóm tắt dữ liệu động trong đó các giá trị Subtotal được tính lại tự động theo bộ lọc.

    Ví dụ: Nếu lọc bảng để chỉ hiển thị doanh số cho khu vực phía Đông (East), công thức hàm SUBTOTAL phụ sẽ tự động điều chỉnh để tất cả các khu vực khác được xóa khỏi tổng số:

    Ghi chú. Vì cả hai bộ hàm số (1-11 và 101-111) đều bỏ qua các ô được lọc, bạn có thể sử dụng công thức SUBTOTAL 9 hoặc SUBTOTAL 109 trong trường hợp này đều được.

    Hàm SUBTOTAL chỉ tính các ô có thể nhìn thấy

    Các công thức hàm SUBTOTAL với Function_num 101 đến 111 bỏ qua tất cả các ô ẩn – được lọc và ẩn thủ công.

    Bỏ qua các giá trị trong các công thức SUBTOTAL lồng nhau

    Nếu phạm vi được cung cấp cho công thức Subtotal trong Excel của bạn chứa bất kỳ công thức Subtotal nào khác thì các hàm Subtotal được lồng vào sẽ bị bỏ qua, do đó các số tương tự sẽ không được tính hai lần.

    Ví dụ 1: SUBTOTAL 9 với SUBTOTAL 109

    Như bạn đã biết, hàm SUBTOTAL chấp nhận 2 bộ hàm số: 1-11 và 101-111. Cả hai đều bỏ qua các hàng được lọc, nhưng các số 1-11 bao gồm các hàng được ẩn thủ công, trong khi 101-111 lại loại trừ chúng. Để hiểu rõ hơn về sự khác biệt, hãy xem xét ví dụ sau.

    Bây giờ nếu muốn tổng giá trị trong các hàng hiển thị thì hàm SUBTOTAL 109 là lựa chọn duy nhất:

    Ví dụ: Để đếm các ô được lọc không trống bạn có thể sử dụng công thức SUBTOTAL 3 hoặc SUBTOTAL 103.

    Nhưng chỉ hàm SUBTOTAL 103 mới có thể đếm chính xác các khoảng trống có thể nhìn thấy nếu có bất kỳ hàng nào được ẩn nào trong phạm vi tính toán:

    Ghi chú. Hàm SUBTOTAL của Excel với Function_num từ 101-111 sẽ bỏ qua các giá trị trong các hàng ẩn, nhưng không ở các cột ẩn .

    Ví dụ 2. Sử dụng hàm IF + SUBTOTAL để tự động tóm tắt dữ liệu

    Nếu bạn đang tạo một báo cáo tóm tắt hoặc bảng điều khiển phải hiển thị các bản tóm tắt dữ liệu khác nhau nhưng không có không gian cho tất cả mọi thứ, cách tiếp cận sau đây có thể là một giải pháp:

    Bước 1: Trong một ô, tạo danh sách thả xuống có chứa các tên hàm như Total, Max, Min …

    Bước 2: Trong một ô bên cạnh danh sách thả xuống, hãy nhập công thức IF lồng nhau với các hàm SUBTOTAL được nhúng tương ứng với các tên hàm trong danh sách thả xuống.

    Ví dụ: Giả sử các giá trị cho SUBTOTAL nằm trong các ô C2:C16 và danh sách thả xuống trong ô A17 chứa các mục Total, Average, Max và Min. Vậy thì công thức SUBTOTAL “động” như sau:

    =IF(A17=”total”,SUBTOTAL(9,C2:C16),IF(A17=”average”,SUBTOTAL(1,C2:C16),IF(A17=”min”,SUBTOTAL(5,C2:C16),IF(A17=”max”,SUBTOTAL(4,C2:C16),””))))

    Các lỗi SUBTOTAL phổ biến trong Excel

    Nếu công thức SUBTOTAL của bạn trả về lỗi, có thể do một trong những lý do sau:

    VALUE! – Đối số Function_num không phải là số nguyên trong khoảng 1 – 11 hoặc 101 – 111; hoặc bất kỳ đối số Ref nào chứa tham chiếu 3-D .

    DIV/0! – Nếu một hàm tóm tắt được chỉ định phải thực hiện phép chia cho 0.

    NAME? – Tên của hàm SUBTOTAL bị sai chính tả.

    Tổng kết

    Đánh giá bài viết này

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Công Thức Sumif Trong Excel Qua Những Ví Dụ Cụ Thể
  • Hàm Sumif Là Gì, Ý Nghĩa Hàm Sumif, Dùng Sumif Trong Excel
  • Cấu Trúc Hàm Sumif Trong Excel
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Hàm Rank Trong Excel Để Xếp Hạng Dữ Liệu
  • Cách Dùng Hàm Xếp Thứ Hạng Qua Ví Dụ
  • Quản Lý Bán Hàng: Khái Niệm, Chức Năng Và Cách Quản Lý Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Chức Năng Cần Thiết Của Phần Mềm Bán Hàng Suno
  • Quản Trị Bán Hàng Là Gì? Nội Dung Công Tác Quản Trị Bán Hàng
  • Cơ Sở Lý Luận Về Công Tác Quản Trị Bán Hàng Trong Doanh Nghiệp
  • Giới Thiệu Về Phần Mềm Qlvb&đh
  • Hệ Thống Quản Lý Văn Bản Và Điều Hành
  • Một doanh nghiệp không thể hoạt động hiệu quả nếu không có một hệ thống quản lý bán hàng vận hành một cách trơn tru, logic, khoa học và đơn giản. Ở bài viết này, chúng tôi sẽ làm rõ tầm quan trọng của một hệ thống quản lý tốt và giới thiệu với các bạn một số phần mềm hỗ trợ miễn phí và hiệu quả.

    Quản lý bán hàng là gì?

    Hơn nữa, việc quản lý này cũng có nhiệm vụ phân phối hàng hóa đến những kênh phân phối theo mục tiêu đã đề ra nhằm tối ưu việc hiện diện của hàng hóa, dịch vụ với chi phí hợp lý, đạt hiệu quả tối đa và đạt được mục tiêu marketing của công ty về ngắn hạn cũng như dài hạn.

    Chức năng của hệ thống quản lý bán hàng

    Trong thời đại bùng nổ công nghệ 4.0 như hiện nay, một hệ thống giúp quản lý việc bán hàng là không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống này chính là những phần mềm quản lý bán hàng, giúp cho người dùng đặc biệt là các doanh nghiệp kiểm soát được hàng hóa một cách chặt chẽ hơn. Việc quản lý của hệ thống sẽ được kiểm soát trong tất cả các khâu: Nhập hàng, quản lý đơn hàng, quản lý kho hàng, quản lý nhân viên, chăm sóc khách hàng,…  

    Chức năng quản lý đơn hàng

    Đương nhiên không thể không kể tới chức năng quản lý đơn hàng của các phần mềm này, đây là chức năng tối quan trọng giúp việc bán hàng và quản lý bán hàng hiệu quả hơn 

    Chức năng quản lý kho hàng hóa

    Bất kể người kinh doanh nào cũng biết việc quản lý tốt số lượng hàng hóa trong kho góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Do đó chức năng quản lý hàng hóa của phần mềm quản lý là chức năng vô cùng quan trọng, không thể thiếu. 

    Chức năng báo cáo

    Trong kinh doanh, để quản lý tốt việc bán hàng thì không thể không quan tâm đến việc báo cáo. Vì thế phần mềm quản lý bán hàng được thiết kế với chức năng hỗ trợ xuất báo cáo tự động một cách chính xác nhất. Có thể chia các dạng báo cáo thành bốn mảng lớn: báo cáo bán hàng; báo cáo tồn kho; báo cáo doanh thu theo ngày, tuần hay tháng.

    Quản lý tài chính

    Phần mềm còn hỗ trợ hữu ích người kinh doanh về vấn đề quản lý tài chính kế toán, quản lý tiền mặt, tiền công nợ khách hàng, tiền hàng, tiền đơn vị giao hàng thu hộ, tiền thuế, tiền thuê mặt bằng,… và các khoản thu chi khác trong kinh doanh.

    Quản lý khách hàng

    Thông tin khách hàng được phần mềm lưu trữ lại để người bán hàng dễ dàng nhận biết khách hàng là khách mới hay khách cũ, khách quen để có chương trình bán hàng và tri ân hợp lý.

    Hệ thống quản lý bán hàng tại các mô hình kinh doanh phổ biến

    Hệ thống quản lý bán hàng ở siêu thị

    Với nhu cầu mua sắm ngày càng tăng từ người tiêu dùng, siêu thị ngày một trở nên phổ biến, đặc biệt trong thời gian dịch bệnh. Như vậy, nhu cầu mở rộng các siêu thị cũng tăng nhanh đòi hỏi công tác quản lý hiệu quả hơn.

    Hệ thống quản lý bán hàng chính là hệ thống thông tin sử dụng trong quá trình quản lý tiếp thị và quản lý quan hệ khách hàng (CRM). Hệ thống này giúp tự động hóa một số chức năng quản lý bán hàng.

    Các hệ thống quản lý ra đời đáp ứng các nhu cầu sau:

    • Thống kê theo yêu cầu
    • Quản lý kho hàng, kiểm kê hàng hóa
    • Lập hóa đơn, kiểm kê hóa đơn
    • Nhập thông tin khách hàng thân thiết, và các hình thức khuyến mãi đi kèm
    • Xuất báo cáo doanh thu hàng ngày

    Các phần mềm hệ thống quản lý bán hàng trong siêu thị giúp họ tiết kiệm thời gian vận hành, giúp quản lý số liệu chính xác đồng thời cung cấp các báo cáo nhanh chóng kịp thời.

    Hệ thống quản lý bán hàng online

    Hệ thống quản lý bán hàng online là những phần mềm quản lý công việc bán hàng, giúp cho người dùng, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh quản lý hàng hóa một cách có hệ thống, chặt chẽ hơn. Tất cả các khâu như: nhập hàng, kiểm soát đơn hàng, kho hàng, nhân viên, chăm sóc khách hàng, xuất kho vận chuyển … sẽ đều được quản lý bởi hệ thống này. 

    • Nhập hàng: Hệ thống sẽ cho bạn thống kê chi tiết về việc nhập hàng giúp bạn quản lý trình trạng kho hàng tốt hơn.
    • Kiểm soát đơn hàng: Hệ thống sẽ giúp bạn kiểm soát các hóa đơn, từ đó tiết kiệm thời gian trong việc thống kê chi phí hay lợi nhuận của doanh nghiệp.
    • Quản lý nhân viên và khách hàng: Mọi thông tin về nhân viên cũng như khách hàng sẽ được quản lý chặt chẽ bởi hệ thống. Bạn có thể dễ dàng truy xuất các thông tin khi cần sử dụng hệ thống quản lý.

    Các phần mềm quản lý bán hàng online hiện không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp, hay thậm chí đối với các cửa hàng kinh doanh nhỏ lẻ. Đây là ứng dụng cần thiết cho mọi doanh nghiệp và quy mô kinh doanh, giúp mang lại cho chủ doanh nghiệp một bức tranh tổng quát về: đội ngũ nhân sự, sản phẩm cũng như khách hàng của mình. 

    Cách quản lý bán hàng online hiệu quả

    Quản lý với Google Suite

    Có nhiều phần mềm quản lý bán hàng hữu hiệu nhưng khi nhắc đến sự tiện dụng, tính miễn phí và tính quen thuộc thì không thể không kể đến cách quản lý bằng google sheet của google drive. Đầu tiên kể sơ qua về cách dùng Google Drive (gọi tắt là Drive), bạn chỉ cần có 1 tài khoản Google thì có thể đăng nhập và sử dụng tất cả các ứng dụng như Gmail, Drive, Calendar, GooglePlus, Youtube,…

    Giao diện của “Trang tính” này hoàn toàn giống với giao diện Excel mà các bạn hay dùng trên Window. Tuy nhiên lợi thế của Google Sheet nằm ở đặc điểm:

    • Cập nhật dữ liệu online một cách nhanh chóng, được lưu bởi điện toán đám mây, không bao giờ sợ mất dữ liệu.
    • Xem mọi lúc mọi nơi, trực tiếp trên di động hoặc máy tính.
    • Chức năng auto-saved (tự động lưu) mà không cần phải bấm, không lo mất điện mà bị “bay mất” dữ liệu nữa.
    • Chia sẻ trực tiếp cho nhiều thành viên khác bằng cách bấm vào nút chia sẻ ở góc phải màn hình và thêm một địa chỉ email của người mà bạn muốn chia sẻ.
    • Chia sẻ dưới dạng “chỉ được xem” trong trường hợp không muốn người khác thay đổi dữ liệu của mình.

    Tương tự bạn cũng có thể quản lý việc bán hàng của mình bằng Excel nhưng khi sử dụng phần mềm này bạn cần lưu ý luôn save lại dữ liệu để tránh mất dữ liệu một cách đáng tiếc.

    Quản lý bằng mã vạch

    Việc quản lý hàng hóa và quản lý kho theo phương thức truyền thống đã gặp rất nhiều khó khăn, bên cạnh đó, việc nhầm lẫn lại thường xuyên xảy ra khiến chủ cửa hàng gặp nhiều rắc rối. Nắm bắt được tâm lý đó, phần mềm quản lý bán hàng đã cho phép tích hợp mã vạch vào để quản lý, giúp giải quyết vấn đề này.

    Nhờ đó giúp người sử dụng và chủ doanh nghiệp quản lý được nguồn hàng và chất lượng sản phẩm. Việc ứng dụng mã vạch vào quản lý hàng hóa là một bước tiến lớn trong ngành kinh doanh.

    Việc quản lý hàng hóa bằng mã vạch mang lại rất nhiều lợi ích cho chủ cửa hàng, giúp chủ cửa hàng dễ dàng kiểm soát số lượng xuất nhập tồn, kiểm soát đơn hàng đã bán, kiểm tra chất lượng hàng hóa và tìm kiếm thông tin sản phẩm một cách nhanh chóng, giúp tiết kiệm thời gian và công sức.

    Xây dựng hệ thống quản lý bán hàng

    Hệ thống quản lý bán hàng bao gồm bốn yếu tố chính: quản lý sản phẩm, kho hàng, nhân viên và quản lý khách hàng. Khi xây dựng hệ thống quản lý, bạn cần chú ý đến việc kết hợp chặt chẽ bốn yếu tố này.

    Xây dựng mô hình phân cấp là một bước quan trọng, bạn cần định hình phạm vi của hệ thống cần quản lý. Đây cũng là công cụ giúp bạn nhân rộng và phát triển hệ thống khi có nhu cầu.

    Đào tạo đội ngũ nhân viên là điều cần thiết. Nhân viên cần phải am hiểu về cách vận hành hệ thống quản lý để có thể áp dụng tốt trong thực tế.

    Bản thân lãnh đạo cũng cần phải sử dụng thành thạo hệ thống quản lý, như vậy phần mềm mới có thể trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực trong vấn đề kinh doanh.

    Odoo – hệ thống ERP toàn diện với tính năng quản lý bán hàng

    Nền tảng hoạch định nguồn lực doanh nghiệp Odoo sở hữu giao diện tối ưu, linh hoạt và dễ sử dụng. Cùng các module và tính năng quản lý bán hàng, Odoo giúp các doanh nghiệp vận hành một cách dễ dàng và hiệu quả.

    Cụ thể, Odoo cung cấp các tính năng:

    • Tạo báo giá chuyên nghiệp
    • Quản lý giao dịch và hợp đồng,
    • Công cụ giao tiếp
    • Quản lý hàng tồn kho
    • Tạo báo cáo

    Ngoài ra, là một nền tảng mã nguồn mở, vì vậy Odoo có khả năng tích hợp các nền tảng quản trị của doanh nghiệp. Ví dụ, doanh nghiệp có thể tích hợp phần mềm kế toán sẵn có với Odoo hoặc tích hợp các chức năng chăm sóc khách hàng với nền tảng này. Odoo có mạng lưới đối tác toàn cầu, giúp việc triển khai tích hợp được thực hiện nhanh chóng. Tại Việt Nam, Magenest là một trong những đối tác hàng đầu của Odoo với đội ngũ lập trình viên đông đảo, chuyên môn cao. Tìm hiểu ngay về Odoo và các tính năng quản lý bán hàng toàn diện.

    Kết luận

    Hi vọng qua bài viết này, bạn đã hiểu thế nào là một hệ thống bán hàng và tìm ra cho mình được cách quản lý việc bán hàng phù hợp với mô hình kinh doanh của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Bản Mô Tả Công Việc Bước Đệm Để Tái Cấu Trúc Kpi Phòng Kế Toán
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Tài Chính Kế Toán
  • Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Tài Chính Kế Toán
  • Phòng Kế Hoạch Tài Vụ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Sở
  • Các Biện Pháp Kỹ Thuật Lâm Sinh Và Công Tác Cải Thiện Giống Cho Rừng Trồng Keo Cung Cấp Gỗ Xẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bút Pháp Ước Lệ Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều
  • Căn Cứ Áp Dụng Biện Pháp Ngăn Chặn Thay Thế Tạm Giam Theo Qui Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2021
  • Trong Pháp Luật, “bảo Lãnh” Khác “bảo Lĩnh” Ra Sao?
  • Bảo Lĩnh Là Gì? Quy Định Của Pháp Luật Về Bảo Lĩnh
  • Hình Thức Quản Lý Nhà Nước Theo Pháp Luật Hành Chính
  • Kết quả đánh giá trước và sau khoá học đã cho thấy rằng khoá đào đạo đã đạt được mục đích của nó là

    xây dựngvàquảnlýrừngtrồng. Phầnlớnthành viên tham gia khoá học đều rất hài lòng với nội dung và

    cácbàitrình bày, tuy nhiên cóyêu cầucần thêm thông tin vềvấnđềphân bóncho rừngtrồng. Tác động

    trựctiếp đượcthểhiệnlàcáccán bộ đếntừYên Bái đãrấtthíchkỹthuậttỉacành tỉathân mớinàycho

    nên họ đãquyết địnhmua rấtnhiềudụngcụsau khoáhọc.

    CARD Project 032/05VIE – Phát triển bền vững và hiệu quả kinh tế cho các rừng

    trồng keo cung cấp gỗ xẻ ở Việt Nam

    Báo cáo khoá đào tạo

    Các biện pháp kỹ thuât lâm sinh và công tác cải thiện giống cho rừng trồng keo cung

    cấp gỗ xẻ

    3-5 tháng 3, 2009

    Trạm thực nghiệm Ba Vì

    Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng

    Khongsak Pinyopusarerk và Phi Hong Hai

    11 tháng 3, 2009

    Giới thiệu

    Trong khuôn khổ dự án CARD 032/05 VIE, phát triển bền vững và hiệu quả kinh tế cho rừng trồng keo

    cung cấp gỗ xẻ ở Việt Nam, một khoá đào tạo về cải thiện giống cho rừng trồng keo và các biện pháp kỹ

    thuật lâm sinh đã được triển khai từ ngày 3 đến 5 tháng 3 năm 2009 tại Trạm thực nghiệm Ba Vì thuộc

    Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI), cách Hà Nội 70km. Mặc dù mục đích chính của khoá

    đào tạo là hướng dẫn các cán bộ khuyến lâm các tỉnh về các một số kỹ thuật cơ bản về cải thiện giống

    cây rừng và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng trồng, nhưng các cán bộ nghiên cứu trẻ thuộc

    Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng và một số người dân địa phương cũng được mời tham dự lớp học.

    Đã có 18 thành viên đăng ký tham gia và 2 thành viên dự thính, trong đó, có 6 thành viên là nữ giới.

    Danh sách thành viên tham dự lớp học ở Phụ lục 1.

    Khoá học bao gồm các bài giảng vào buổi sáng và các chuyến thăm hiện trường, thực hành vào buổi

    chiều.

    Tham gia giảng dạy gồm có Mr Khongsak Pinyopusarerk (CSIRO), Ông Phí Hồng Hải, phó giám đốc

    RCFTI, Ông Mai Trung Kiên (Trạm thực nghiệm Ba Vì, RCFTI)

    Kỹ năng và hiểu biết của các thành viên tham gia lớp học đã được khảo sát vào đầu khoá học. Vào cuối

    khoá học, họ được hỏi các câu hỏi để xác định họ đã học được những gì. Bản đánh giá khoá học được

    tóm tắt ở phụ lục 2.

    Tất cả các slide của bài trình bày nằm trong phụ lục 3 – 6.

    Chương trình học:

    1. Một số kỹ thuật cơ bản trong cải thiện di truyền các loài keo (Khongsak and Hai)

    truyền các loài keo ở Việt Nam và các nước láng giềng như Thái lan. Nội dung tập trung chủ yếu vào

    thực hành nhiều hơn là lý thuyết, cái gì nên làm và các gì không nên làm. Xây dựng và quản lý rừng

    2. Tỉa cành và tỉa thưa rừng trồng keo (Khongsak and Hai)

    Bài trình bày này tập trung chủ yếu vào lợi ích của tỉa cành và tỉa thưa nhằm làm tăng giá trị của thành

    phẩm gỗ xẻ mà các chủ xưởng thích mua hơn. Chủ xưởng sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn để mua gỗ xẻ có

    đường kính lớn hơn khi so sánh với giá bán gỗ đề làm bột giấy.

    Phần trình bày này tập trung vào kỹ thuật tỉa thân, tỉa cành, tỉa thưa rừng trồng, đầy là một kỹ thuật lâm

    sinh rất quan trong đối với các loài keo, đặc biệt là Keo tai tượng nếu như mục đích cung cấp gỗ xẻ. Đó

    là vì những cành chết nếu không được tỉa bỏ sẽ làm gỗ mất màu và thối mục ở Keo tai tượng. Thêm vào

    đó, tỉa thân những cây còn non cũng đã được đưa ra thào thuận với các học viên. Cả hai biện pháp tỉa

    này đều giúp làm tăng giá trị của rừng trồng.

    Tỉa thưa rừng trồng cũng rất quan trọng vì sinh trưởng của các cây cá thể cũng được cải thiện.

    Tầm quan trọng của thời điểm tỉa thưa cũng được nhấn mạnh để đảm bảo ràng cây thích nghi được với

    các tác động này.

    3. Quản lý bền vững rừng trồng (Khongsak and Hai)

    Trong nội dung quản lý rừng trồng bền vững, bài trình bày của chúng tôi tập trung chủ yếu xoay quanh

    ba cây hỏi sau đây:

    1. Rừng trồng có thể sinh trưởng mãi qua nhiều chu kỳ ở cùng một địa điểm không?

    2. Năng suất rừng trồng có thể được duy trì qua nhiều chu kỳ kinh doanh khong?

    3. Chúng ta phải có các biện pháp quản lý lâm sinh như thế nào để giúp sản lượng rừng được bền

    vững?

    1. Quản lý đất: làm đất theo rạch

    2. Quản lý thực bì: phòng trừ cỏ dại

    3. Quản lý dinh dưỡng: bón phân

    4. Nhân giống hom (Kien)

    Dựa trên những kinh nghiệm thực tế, Ông Kiên đã trình bày quy trình nhân giống các loài keo, đặc biệt

    là keo lai. Bài trình bày của ông Kiên chủ yếu để xác định các dòng tốt nhất, xây dựng và chăm sóc

    vườn vật liệu, chuẩn bị vật liệu giâm hom và quá trình ra rễ của cây hom.

    Ông Mai Trung Kiên trình bày về nhân giống sinh dưỡng

    Thăm vườn ươm, hiện trường và thực hành

    tạo. Do đó, có thể chỉ cho các học viên lớp học đầy đủ về các tác động lâm sinh và cải thiện di truyền.

    1. Nhân giống

    Vườn vật liệu keo lai

    Ông Kiên (đầu tiên bên tay trái) đang giải thích về nhân giống hom keo lai

    Bộ rễ phát triển sau 15 ngày.

    2. Tăng thu di truyền

    Các học viên thăm khảo nghiệm dòng vô tính keo lai

    Tiến sỹ Hà Huy Thịnh, giám đốc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng giải thích về xây dựng khảo

    nghiệm hậu thế/ vườn giống thế hệ 2 của loài Keo lá liềm

    Các học viên thăm rừng giống Keo lá tràm

    3. Thực hành tỉa thân

    Rừng trồng keo lai 6 tháng tuổi được sử dụng để thực hành tỉa thân

    Học viện thực hành

    Rừng trồng Keo lai sau khi áp dụng tỉa thân.

    4. Thực hành tỉa cành

    Phần thực hành tỉa cành được thực hiện ở rừng trồng keo lai 26 tháng tuổi. Tất cả các học viên đều có cơ

    hội sử dụng dụng cụ tỉa cành trong suốt thời gian diễn ra khoá học. Chúng tôi nhận ra rằng, có rất ít học

    viên biết đến các dụng cụ này trước đó. Các học viên đến từ Lâm trường Thác Bà đã rất ấn tượng với

    các dụng cụ này vì thế, họ đã dừng lại Melinh Plaza, Hà Nội để mua một vài dụng cụ trước khi họ quay

    trở về Yên Bái.

    Rừng trồng Keo lai 26 tháng tuổi trước khi tỉa cành

    Các học viên đang thực hành tỉa cành sử dụng các dụng cụ tỉa cành (kéo, cưa tay và kéo cắt cành cán

    dài)

    Hình dáng cây được cải thiện nhiều sau khi tỉa cành

    5. Thăm xưởng xẻ

    Vào ngày cuối cùng, chúng tôi đưa các học viên thăm một xưởng xẻ nhỏ gần trạm thực nghiệm Ba Vì.

    Chúng tôi không gặp chủ nhà nhưng chúng tôi đã có các thông tin ông ta mua gỗ xẻ của rất nhiều loài ở

    xung quanh khu vực này, trong đó, gỗ xẻ keo chiếm hơn 50%.

    Gỗ xẻ keo ở phía trước xưởng xẻ

    Ông Hải chỉ cho các học viên các tấm gỗ xẻ keo.

    Kết luận

    Kết quả đánh giá trước và sau khoá học đã cho thấy rằng khoá đào đạo đã đạt được mục đích của nó là

    xây dựng và quản lý rừng trồng. Phần lớn thành viên tham gia khoá học đều rất hài lòng với nội dung và

    các bài trình bày, tuy nhiên có yêu cầu cần thêm thông tin về vấn đề phân bón cho rừng trồng. Tác động

    trực tiếp được thể hiện là các cán bộ đến từ Yên Bái đã rất thích kỹ thuật tỉa cành tỉa thân mới này cho

    nên họ đã quyết định mua rất nhiều dụng cụ sau khoá học.

    Phụ lục 1

    Danh sách thành viên

    No. Name Organisation Province

    1 Mr Nguyen Hong Hai Lao Cai Forest Department Lao Cai

    2 Mr Ngo Quoc Manh Bao Yen Forest Company Lao Cai

    3 Mr Nguyen Van Vien Bao Thang Forest Company Lao Cai

    4 Ms Hoang Thi Dung Hoa Binh Forest Department Hoa Binh

    5 Mr Nguyen Thanh Tam Minh Hoa Binh Forest Department Hoa Binh

    6 Mr Nguyen Thanh Cuong Hoa Binh Forest Department Hoa Binh

    7 Mr Tran Quang Thien Yen Bai Forest Department Yen Bai

    8 Mr Vuong Quoc Dat Thac Ba Forest Enterprise Yen Bai

    9 Mr Nguyen Van Bang Thac Ba Forest Enterprise Yen Bai

    10 Mr Hoang Thanh Phuc Northern Mountainous Forest Research CentreThai Nguyen

    11 Mr Nguyen Tien Dap Northern Mountainous Forest Research CentreThai Nguyen

    12 Mr Ngo Duc Chinh RCFTI Ha Noi

    13 Mr Quach Manh Tung RCFTI Ha Noi

    14 Mr La Anh Duong RCFTI Ha Noi

    15 Mr Tran Quoc Toan RCFTI Ha Noi

    16 Ms Nguyen Thi Lieu Farmer at Cam Quy Commune, Ba Vi Ha Noi

    17 Ms Than Thi Phong Farmer at Cam Quy Commune Ha Noi

    List of participants attending CARD training course at Ba Vi station

    Phụ lục 2-1

    Kết quả đánh giá lớp học trước khi khoá học diễn ra

    Answer (Trả lời)

    Questions

    (Câu hỏi)

    Know

    well (biết

    rõ)

    Not so well

    (Chưa biết

    rõ lắm)

    Don’t know

    (Không

    biết)

    Do you know how to plant acacia

    for sawlogs, compared to

    pulpwood? (Bạn có biết làm thể nào

    để trồng rừng Keo gỗ xẻ, so sánh

    với trồng rừng gỗ nguyên liệu

    giấy?)

    10 8

    Do you know how to choose soil

    for acacia sawlog plantations? (Bạn

    có biết làm thế nào để chọn lập địa

    trồng rừng cho gỗ xẻ?)

    5 9 4

    Do you know suitable species of

    acacia for sawlog planting? (Bạn có

    biết loài Keo nào phù hợp để trồng

    rừng gỗ xẻ?)

    6 9 3

    Do you know suitable stocking for

    acacia sawlog planting? (Bạn có

    biết mật độ nào phù hợp để trồng

    rừng gỗ xẻ?)

    10 5 3

    Do you know amount of fertilizer

    for acacia sawlog planting? (Bạn có

    biết bón bao nhiêu phân là phù hợp

    để trồng rừng gỗ xẻ?)

    13 4 1

    Do you know techniques for

    weeding of acacia sawlog

    plantation? (Bạn có biết các kỹ

    thuật làm cỏ nào phù hợp để trồng

    rừng gỗ xẻ?)

    15 3 0

    Dow you know method for

    singling? (Bạn có biết phương pháp

    tỉa đơn thân?)

    1 7 10

    Do you know purpose of singling?

    (Bạn có biết mục tiêu của tỉa đơn

    thân?)

    8 10

    Do you know techniques for form

    pruning? (Bạn có biết các kỹ thuật

    tỉa duy trì trục thân?)

    3 15

    Do you know purpose of form

    pruning? (Bạn có biết mục tiêu của

    tỉa duy trì trục thân?)

    3 15

    Do you know techniques of lift

    pruning? (Bạn có biết kỹ thuật của

    tỉa cành?)

    7 11

    Do you know purpose of lift

    pruning? (Bạn có biết mục tiêu của

    tỉa cành?)

    3 15

    Do you know techniques for

    thinning? (Bạn có biết kỹ thuật của

    tỉa thưa?)

    10 3 5

    Do you know purpose of thinning?

    (Bạn có biết mục tiêu của tỉa thưa?)

    10 3 5

    Do you know suitable tools for

    singling, pruning and thinning?

    (Bạn có biết dụng cụ nào phù hợp

    cho tỉa đơn thân, tỉa cành và tỉa

    thưa?)

    13 5

    Do you know requirement of acacia

    wood for sawlogs? (Bạn có biết các

    yêu cầu của gỗ Keo sử dụng trồng

    gỗ xẻ?)

    3 15

    Total score 70 81 125

    Phụ lục 2-2

    Kết quả đánh giá sau khi lớp học diễn ra

    Answer (Trả lời)

    Questions

    (Câu hỏi)

    Know

    well (biết

    rõ)

    Not so well

    (Chưa biết

    rõ lắm)

    Don’t know

    (Không

    biết)

    Do you know how to plant acacia

    for sawlogs, compared to

    pulpwood? (Bạn có biết làm thể nào

    để trồng rừng Keo gỗ xẻ, so sánh

    với trồng rừng gỗ nguyên liệu

    giấy?)

    15 3

    Do you know how to choose soil

    for acacia sawlog plantations? (Bạn

    có biết làm thế nào để chọn lập địa

    trồng rừng cho gỗ xẻ?)

    12 6

    Do you know suitable species of

    acacia for sawlog planting? (Bạn có

    biết loài Keo nào phù hợp để trồng

    rừng gỗ xẻ?)

    18

    Do you know suitable stocking for

    acacia sawlog planting? (Bạn có

    biết mật độ nào phù hợp để trồng

    rừng gỗ xẻ?)

    18

    Do you know amount of fertilizer

    for acacia sawlog planting? (Bạn có

    biết bón bao nhiêu phân là phù hợp

    để trồng rừng gỗ xẻ?)

    10 8

    Do you know techniques for

    weeding of acacia sawlog

    plantation? (Bạn có biết các kỹ

    thuật làm cỏ nào phù hợp để trồng

    rừng gỗ xẻ?)

    18

    Dow you know method for

    singling? (Bạn có biết phương pháp

    tỉa đơn thân?)

    18

    Do you know purpose of singling?

    (Bạn có biết mục tiêu của tỉa đơn

    thân?)

    18

    Do you know techniques for form

    pruning? (Bạn có biết các kỹ thuật

    tỉa duy trì trục thân?)

    17 1

    Do you know purpose of form

    pruning? (Bạn có biết mục tiêu của

    tỉa duy trì trục thân?)

    17 1

    Do you know techniques of lift

    pruning? (Bạn có biết kỹ thuật của

    tỉa cành?)

    18

    Do you know purpose of lift

    pruning? (Bạn có biết mục tiêu của

    tỉa cành?)

    18

    Do you know techniques for

    thinning? (Bạn có biết kỹ thuật của

    tỉa thưa?)

    18

    Do you know purpose of thinning?

    (Bạn có biết mục tiêu của tỉa thưa?)

    18

    Do you know suitable tools for

    singling, pruning and thinning?

    (Bạn có biết dụng cụ nào phù hợp

    cho tỉa đơn thân, tỉa cành và tỉa

    thưa?)

    18

    Do you know requirement of acacia

    wood for sawlogs? (Bạn có biết các

    yêu cầu của gỗ Keo sử dụng trồng

    gỗ xẻ?)

    15 3

    Total score 284 22 0

    Các file đính kèm theo tài liệu này:

    • nong_nghiep_39__6178.pdf

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cưỡng Chế Hành Chính: Khái Niệm Và Đặc Điểm
  • Làm Gì Để Bảo Vệ Sức Khỏe Khỏi Ô Nhiễm Không Khí?
  • Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Là Gì?
  • Các Phương Thức Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ
  • So Sánh Biện Pháp Cưỡng Chế Thi Hành Án Dân Sự Và Biện Pháp Bảo Đảm Thi Hành Án Dân Sự
  • Nguyên Nhân Làm Cho Đất Chua, Tác Hại Và Biện Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Cổ Phần Giống Cây Trồng Nha Hố
  • Đề Cương Ôn Tập Kì I Năm Học 2021
  • Vì Sao Phải Cải Tạo Đất? Có Thể Cải Tạo Đất Bằng Những Biện Pháp Nào?
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm “Một Số Biện Pháp Giúp Duy Trì Sĩ Số Trẻ 5
  • 4 Đặc Trưng Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Nguyên nhân làm cho đất chua

    Căn cứ vào trị số pH để chia đất thành các dạng: Đất chua (pH 7,5), đây là cơ sở để xây dựng kế hoạch cải tạo và sử dụng đất hiệu quả hơn.

    Đất bị chua do rửa trôi bởi nước mưa, nước tưới dư thừa. Nước mang đi chất dinh dưỡng hòa tan, trong đó có chứa nhiều chất kiềm như: canxi (Ca), Magiê (Mg), Kali (K)… xuống tầng đất sâu, sông suối, ao hồ và làm cho đất mất chất kiềm, trở nên chua.

    Cây trồng hút dinh dưỡng (N,P,K), ngoài ra còn hút khá nhiều (Ca, Mg…) do trồng nhiều vụ/năm, giống năng suất cao, vì thế lượng Ca và Mg trong đất mất đi càng nhiều.

    Sự phân giải chất hữu cơ thải ra nhiều loại axit Cacbonic (H2CO3), axit Sunfuric (H2SO4), axit Nitric (HNO3) axit Axetic (CH3COOH)…các axit này hòa tan Ca, Mg và rửa trôi, làm cho đất chua. Mặt khác, bón phân khoáng mang gốc axit như: Phân Sunfat amôn (SA), Clorua kali (KCl), Sunfat kali (K2SO4), Suppe lân…cũng làm đất bị chua.

    Tác hại

    Khi đất chua, các khoáng sét trong đất bị phá vỡ, giải phóng ra các ion Al3+ tự do gây bất lợi cho cây trồng. Nếu đất chua nhiều, ion Al3+ di động cao có thể gây độc cho hệ rễ cây, làm cho rễ bị bó và chùn lại không phát triển. Muốn sản xuất được trên nền đất này cần phải cải thiện độ chua đất trước khi gieo trồng.

     

    Kết quả do hộ dân thuộc chương trình chứng nhận RFA (Rain Forest Alliance) cung cấp

    Biện pháp cải tạo

    Bón vôi là biện pháp hữu hiệu và đơn giản nhằm cải tạo độ chua của đất. Căn cứ vào độ chua của đất để quyết định lượng vôi cần bón. Khi bón vôi, dùng vôi xám tốt hơn vôi trắng vì có cả Ca và Mg.

    Trong quá trình canh tác tăng cường bón phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh cho cây trồng. Khi sử dụng phân hoá học, nên chọn loại phân trung tính hoặc kiềm như DAP, MKP, KNO3, Ca(NO3)2, lân nung chảy, Apatit, urê, Phosphorit, NH4NO3… Quản lý nước thích hợp, hạn chế dòng chảy, trồng cây che phủ đất kết hợp làm phân xanh. Hạn chế tối đa dùng thuốc trừ cỏ làm trắng đất, làm giảm hệ sinh vật đất, giảm lượng hữu cơ trong đất.

    Ảnh hưởng độ chua của đất đối với cây tiêu

    Đặc điểm của cây tiêu ưa đất gần trung tính và có phản ứng rất tích cực với việc bón vôi. Nếu trồng trong điều kiện đất có pH thấp, cây tiêu rất dễ bị nhiễm bệnh, năng suất và chất lượng đều giảm sút. Để đảm bảo vườn tiêu sinh trưởng, phát triển tốt người trồng tiêu thường xuyên kiểm tra độ pH đất; tùy theo độ pH của đất để quyết định lượng vôi cần bón theo bảng hướng dẫn (Công thức tính lượng vôi cần bón: Q (tấn CaO/ha) = 0,84H; pH = -lg[H]);

    Bảng hướng dẫn lượng vôi cần bón cải tạo độ chua của đất

    Thực tế xã Quảng Thành là vùng đất trồng tiêu mới so với các vùng khác trên địa bàn tỉnh, nhưng trong quá trình khai thác và sử dụng đất chưa tốt dẫn đến đất bị chua. Điều này chứng tỏ đối với những vùng trồng tiêu khác trên địa bàn cũng có thể đang ở trong tình trạng giống như xã Quảng Thành; do vậy, các cơ quan chuyên môn Ngành nông nghiệp cần tích cực khuyến cáo các hộ dân đang trồng tiêu, phải đặc biệt quan tâm và có kế hoạch bón phân hợp lý để cải tạo độ chua của đất giúp cây tiêu sinh trưởng, phát triển tốt hơn.

    Thanh Sơn – Chi cục Trồng trọt & BVTV BRVT

    – Giáo trình Nông hóa,Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà nội;

    – Kết quả phân tích mẫu đất của Trung tâm nghiên cứu đất, phân bón và môi trường Tây Nguyên.

    Thông tin sản phẩm

    Không có văn bản thay thế tự động nào.

    Kali phosphate (phân MKP)

    K2O: 35%

    P2O5: 52%

    Tinh thể màu trắng (white crystal)

    Công thức hóa học : KH2PO4

    Quy cách: 25kg/bao (25kg/bag)

    Use for pried of getting flower & bearing fruits

    Được sản xuất từ axit phốtphoric kỹ thuật và Kali Cacbonat .

    Công dụng:

    – Dùng trong nông nghiệp: là chất giàu lân và kali tan thích hợp bón cho cây thời kì ra hoa và đậu trái.

    Là loại hóa chất dùng lên men vi sinh trong sản xuất bột ngọt, men bánh mì ; dùng làm phân bón vi lượng, …

    Mức chỉ tiêu:

    Tinh thể màu trắng Min 98 %

    Kali phosphate (phân MKP) K2O: 35% P2O5: 52% Tinh thể màu trắng (white crystal) Công thức hóa học :Quy cách: 25kg/bao (25kg/bag) Use for pried of getting flower & bearing fruits Được sản xuất từ axit phốtphoric kỹ thuật và Kali Cacbonat . Công dụng: – Dùng trong nông nghiệp: là chất giàu lân và kali tan thích hợp bón cho cây thời kì ra hoa và đậu trái. Là loại hóa chất dùng lên men vi sinh trong sản xuất bột ngọt, men bánh mì ; dùng làm phân bón vi lượng, … Mức chỉ tiêu: Tinh thể màu trắng Min 98 %

    Mono Potassium Phosphate. Phân có chứa 2 dưỡng chất chính là lân (52%) và kali (34%) ở dạng hòa tan hoàn toàn nên thường được dùng làm phân bón lá hoặc hòa vào hệ thống tưới nhỏ giọt. Phân MKP không chứa chất đạm nên dễ dàng điều chỉnh lượng đạm bón theo nhu cầu của cây trồng.

    Phân MKP thường được sử dụng vào các thời kỳ cây trồng có nhu cầu cao về chất lân và kali. Khi được phun vào thời kỳ cây con có 4-6 lá, Phân MKP giúp hệ thống rễ phát triển sớm, cây trồng hấp thu các chất dinh dưỡng thuận lợi và vì vậy tăng cường khả năng chống hạn. Trong môi trường bị ngộ độc phèn và ngộ độc hữu cơ, phun Phân MKP có tác dụng kích thích ra rễ non, giúp cây mau hồi phục.

    Do không chứa đạm, nên vào mùa mưa Phân MKP thường được dùng để thay thế phân nitrate kali (KNO3) nhằm cung cấp chất kali làm tăng năng suất cây trồng đồng thời hạn chế được một số bệnh hại như đạo ôn, khô vằn, thán thư…

    Liên hệ mua phân bón MKP:

    CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ XNK NÔNG TRANG XANH

    GREENFARM  IMPORT  EXPORT INVESTMENT CONSULTANT JOINT STOCK COMPANY

    Tên công ty viết tắt: GREENFARM JSC

    • Địa chỉ VP: 33T2 (251/33) Dương Bá Trạc, P.1, Q.8, TP.HCM
    • Hotline: 0903.865.035 – 0915.45.18.15
    • Email: [email protected]
    • Website: http://www.nongtrangxanh.net – www.greenfarmjsc.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Cải Tạo Độ Chua (Độ Ph) Của Đất
  • Top 9 Các Phương Pháp Bảo Quản Rau Quả Sau Thu Hoạch
  • Công Nghệ Sau Thu Hoạch Một Số Nông Sản
  • Quy Trình Bảo Quản Nông Sản Sau Thu Hoạch
  • Sứ Mạng Sống Còn Của Cả Loài Người
  • 4 Biện Pháp Cải Tạo Đất Nhiễm Mặn Hiệu Quả Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Xử Lý Cây, Đất Bị Nhiễm Mặn
  • Suy Giảm Chất Lượng Đất: Hiện Trạng, Nguyên Nhân & Giải Pháp
  • Hiệu Quả Bất Ngờ Khi Cải Tạo Đất Bằng Phân Trùn Quế
  • Bón Vôi: Giải Pháp Canh Tác Bền Vững Cho Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • Biện Pháp Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất, Vì Nông Nghiệp Bền Vững
  • Đất nhiễm mặn là hiện tượng nguy hiểm ảnh hưởng xấu tới sự sinh trưởng của nhiều loại cây trồng. Ở Việt Nam, đất mặn có xấp xỉ 2 triệu ha, chiếm gần 6% tổng diện tích đất tự nhiên (Theo Sở nông nghiệp TP.HCM). Quá trình mặn hóa là do ảnh hưởng của nước biển, do đó, thành phần các loại muối tan ở đất mặn Việt Nam giống như thành phần muối tan của nước biển (Lê Văn Khoa, Đất và môi trường, 2003).

    Hiện nay, dưới tác động của biến đổi khí hậu, với biểu hiện là mực nước biển dâng lên, vấn đề mặn hóa có nguy cơ trầm trọng hơn. Cải tạo đất nhiễm mặn làm sao cho hiệu quả là một vấn đề mà người nông dân luôn quan tâm để có thể an tâm canh tác, đặc biệt là ở các vùng thường xuyên bị ngập mặn như khu vực ven biển như đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong bài viết này, LINA Supply Chain đã tổng hợp được các biện pháp cải tạo đất nhiễm mặn hiệu quả nhất, bao gồm: Biện pháp thủy lợi, biện pháp sinh học, biện pháp luân canh và biện pháp hóa học.

    1. Biện pháp thủy lợi

    Nông dân xã An Ninh Đông (huyện Tuy An) bơm nước ngọt rửa mặn, phóng phèn (theo baophuyen.com.vn)

    Đất mặn có chứa chủ yếu là các muối hòa tan như clorua, natri sunfat, canxi và magie nên chúng có thể dễ dàng được rửa trôi mà không làm tăng pH nhiều. Rửa mặn bằng nước mưa hay nước tưới là con đường để loại bỏ muối thừa ra khỏi đất. Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này cần xây dựng hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh để đưa nước vào các cánh đồng để rửa mặn và tiêu nước đi.

    Đầu tiên, đưa nước ngọt vào rửa mặn: dẫn nước ngọt vào ruộng, cày, bừa, sục bùn để các muối hòa tan, ngâm ruộng sau đó tháo nước ra kênh, mương, ra sông.

    Tiếp theo, cày sâu, đưa vôi nông nghiệp (CaCO3) và vôi thạch cao (CaSO4) ở các lớp đất sâu lên mặt đất, cày phá đáy làm tơi xốp tầng đế cày, cắt đứt mao quản làm cho muối không thể bốc lên mặt đất được. Đây là biện pháp thường áp dụng đối với các loại đất mặn được hình thành trong điều kiện khô hạn và bán khô hạn.

    Lượng nước cần thiết để thực hiện hiệu quả việc rửa mặn cho đất tùy thuộc vào các yếu tố như sau:

    • Hàm lượng độ mặn ban đầu trong đất,

    • Mức độ mặn của đất ít nhất thích hợp cho cây trồng.

    • Độ sâu đất cần cải tạo, trong đó đặc tính của đất là yếu tố chính để xác định lượng nước cần thiết cho việc rửa mặn.

    Khoảng 80% lượng muối sẽ bị loại bỏ ra khỏi 30cm đất nếu một mực nước tương đương được bơm vào, tương tự như vậy, để giảm hàm lượng muối của 50cm đất xuống 20% sẽ cần sự di chuyển của khoảng 50cm nước thông qua đất.

    2. Biện pháp sinh học

    Tuyển chọn và lai tạo các giống cây chống chịu mặn, xác định các loại cây trồng có khả năng chịu mặn khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn cải tạo đất và từng vùng canh tác với các hệ thống canh tác khác nhau, ví dụ: chọn lọc các giống mía chịu mặn cho vùng trồng ở Cù Lao Dung (Sóc Trăng) vụ sản xuất năm 2021 đã bị mặn xâm nhập gây thiệt hại nặng. Chọn lọc các giống lúa chịu mặn cho vùng sản xuất dễ bị nhiễm mặn và cho vùng lúa, tôm.

    Giống lúa OM9921 có khả năng chịu mặn 4‰, chịu phèn khá

    Viện Lúa ĐBSCL (2016) đã khuyến cáo các giống lúa do Viện chọn, tạo có khả năng chịu mặn như sau:

    STTGiống lúaĐộ chịu mặnĐộ chịu phènNăng suất1OM69763-4‰Tốt6 – 9 tấn/ha2OM25173-4‰Không chịu phèn5 – 8 tấn/ha3OM56294-6‰Tốt, đặc biệt vùng phèn mặn6 – 8 tấn/ha4OM80173-4‰Khá7 – 9 tấn/ha5OM99214‰Khá7 – 8 tấn/ha6OM81084‰Khá6 – 8 tấn/ha7OM66774-6‰Khá5 – 8 tấn/ha8OM102524-6‰Khá (mang gene ngập và mặn)7 – 9 tấn/ha9OM61623-4‰Không chịu phèn6 – 8 tấn/ha10OM49002-3‰Không chịu phèn7 – 8 tấn/ha11OM54512-3‰Khá6 – 8 tấn/ha11 giống lúa có khả năng chịu mặn tốt do Viện Lúa ĐBSCL chọn

    Tất cả các giống trên đều thích hợp cho các tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL. 

    Hiện tại chưa có nghiên cứu nhiều về cỏ chăn nuôi thích nghi vùng mặn. Tuy nhiên trong thực tế đã có nhiều loại cỏ như cỏ chỉ, cỏ nước mặn, cỏ bắp nước có thể phát triển sau vụ lúa và trong giai đoạn nước mặn nuôi tôm ở vùng lúa – tôm. 

    3. Biện pháp luân canh

    Cải tạo đất bằng luân canh cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trên các vùng đất mặn vùng sát biển nhất thì nuôi trồng thủy sản, tiếp theo là trồng cói và các cây chịu mặn, trong cùng là trồng lúa. Từ thực tiễn luân canh cơ cấu cây trồng vật nuôi ở các tỉnh ven biển miền Bắc, người ta đã đúc kết kinh nghiệm: “lúa lấn cói, cói lấn cá, cá lấn biển”.

    Nông dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu kiểm tra tôm càng xanh xen lúa.

    Nhiều tỉnh đã có phương án giảm diện tích lúa 2-3 vụ/năm sang trồng lúa 1 vụ luân canh với nuôi tôm hoặc nuôi trồng thủy sản trong thời gian nhiễm mặn. Nhiều vùng lúa – tôm đã đem lại hiệu quả cao và thu nhập ổn định cho nông dân. Các tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có mô hình luân canh tôm sú – lúa là một hệ thống canh tác đặc biệt và đã trở thành tập quán canh tác hàng chục năm nay. 

    Hiện nay ở ĐBSCL đang có 7 tỉnh áp dụng hệ thống canh tác tôm – lúa là Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre, Kiên Giang và Long An. Trong đó, có một số tỉnh không chỉ có tôm sú mà còn có các loài thủy sản khác như tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh, cua, cá các loại v.v. với tổng diện tích khoảng 140.000 ha, trong đó diện tích lớn nhất là Kiên Giang với 60.000 ha và thấp nhất là Long An với 500 ha.

    4. Biện pháp hóa học

    Trong đất nhiễm mặn có ion Na+ đóng vai trò hết sức quan trọng. Ion này sẽ gây ra các tính chất ảnh hưởng có hại về mặt vật lí, hóa học, sinh học v.v. Khi cải tạo hóa học đất mặn, nhất thiết phải loại trừ ion Na+ trong dung dịch đất và keo đất bằng việc thay thế bởi ion Ca2+. 

    Giải phóng Na+ ra khỏi keo đất tạo thuận lợi cho việc rửa mặn, tháo nước ngọt vào rửa mặn, bổ sung chất hữu cơ. Sau khi bón vôi cho đất chúng ta nên bón thêm phân xanh, phân hữu cơ có tác dụng làm tăng lượng mùn cho đất, giúp vi sinh vật phát triển, giúp đất tơi xốp, giảm tỉ lệ sét, tăng tỷ lệ bùn, hạt keo.

    Bón vôi cho đất để giảm bớt độ mặn, diệt trừ nấm bệnh

    Người ta thường dùng các dạng vôi có chứa canxi hoặc lân có chứa canxi để cải tạo đất mặn. Lượng vôi được bón để cải tạo đất tùy theo loại cây trồng và thành phần cơ giới đất nhẹ hay nặng: đất rất mặn thường kết hợp với chua, phèn. 

    • Độ pH < 3,5 bón 2,0 – 5,0 tấn phân bón vôi (CaO)/ha; 

    • Độ pH từ 3,5 – 4,5 bón 1,0 – 2,0 tấn/ha;

    • Độ pH = 4,5 – 5,5 bón 0,5 – 1,0 tấn/ha.

    Đất nhiễm mặn thường đi kèm với độ phèn cao. Một trong những biện pháp xử lý là sử dụng phân Lân nung chảy. Phân Lân nung chảy (Lân Văn Điển & Ninh Bình), còn gọi là Tecmo phosphate hoặc Phosphat canxi magiê. Phân Lân này dạng bột rời màu xanh xám, ít tan trong nước, dễ tan trong axit, không chua. Được khuyến cáo sử dụng thích hợp cho đất phèn, mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều loại đất khác. Đất càng chua phèn hiệu quả của phân Lân nung chảy càng cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đất Phèn Trồng Cây Gì Phù Hợp, Đem Lại Hiệu Quả Kinh Tế Cao?
  • Đất Là Gì? Hướng Dẫn Cách Cải Tạo Đất Hiệu Quả Không Phải Ai Cũng Biết!
  • 3 Bước Cải Tạo Đất Vườn Kém Năng Suất Trở Nên Màu Mỡ
  • Các Quá Trình Thổ Nhưỡng Chủ Đạo
  • Giải Pháp Cho Đất Canh Tác Trên Địa Thế Đồi Dốc
  • Biện Pháp Cách Âm Và Hạn Chế Tiếng Ồn Nơi Làm Việc

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam Chi Nhánh Cầu Giấy
  • Luận Văn Đề Tài Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam Và Các Biện Pháp Hạn Chế Rủi Ro
  • Các Giải Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Rắn Sinh Hoạt Trên Địa Bàn Tỉnh Bắc Ninh
  • Bến Tre: Giải Pháp Ngăn Ngừa, Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Quản Lý Và Giảm Thiểu Chất Thải Rắn
  • Biện pháp tốt nhất để khắc phục và hạn chế tiếng ồn cho loại hình nhà ở này chính là cách âm cho các bức tường, trần nhà.

    Cách hạn chế tiếng ồn nào cho thiết kế chung cư, nhà phố

    Có 2 cách để hạn chế tiếng ồn cho nhà ở đó chính là cách âm và tiêu âm. Hai nguyên lý này với những đặc tính và hiệu quả khác nhau nên sẽ được áp dụng cho từng loại tiếng ồn khác nhau.

    cách âm và tiêu âm

    Có 2 cách để hạn chế tiếng ồn cho nhà ở đó chính là cách âm và tiêu âm

    Tiêu âm tức là cách làm khuếch tán các sóng âm, giúp tiếng ồn hạn chế độ vang và bớt ồn hơn, đồng thời tiếng ồn cũng trở nên “êm” hơn. Đây là phương pháp thường được áp dụng để hạn chế tiếng ồn từ các hoạt động sinh hoạt của các thành viên trong gia đình.

    Còn cách âm là phương pháp được sử dụng để ngăn không cho tiếng ồn từ bên ngoài vọng vào nhà, không cho âm thanh trong nhà thoát ra ngoài. So với tiêu âm thì cách âm là biện pháp hữu hiệu và khó hơn. Nhằm đảm bảo hiệu quả cách âm thì bạn cần đảm bảo 3 yếu tố đó là: Vật liệu cách âm chất lượng, độ dày của tường và bề mặt ngoài cùng của các bức tường.

    Cách tiến hành như thế nào?

    Để cách âm cho nhà, bạn cần tiến hành tại các bộ phận sau:

    cách âm cho nhà ở

    Cách mà mọi người thường dùng nhất để cách âm cho cửa là “trát”

    mọi khe hở để ngăn không cho âm thanh bên ngoài lọt vào

    Cách âm cho cửa: Bao gồm cả cửa sổ, cửa chính và cả cửa ban công. Cách mà mọi người thường dùng nhất là “trát” mọi khe hở để ngăn không cho âm thanh bên ngoài lọt vào. Bạn có thể sử dụng các vật liệu như dải cao su, xốp, hoặc là tiến hành bơm silicon để làm kín các khe hở. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng kính đặc biệt có tính năng cách âm. Loại kính này có 2 lớp và chứa khí trơ bên trong để ngăn cản tiếng ồn thoát qua.

    Cách âm cho sàn: Để cách âm cho sàn nhà thì chúng ta sẽ sử dụng các vật liệu có độ dày cao và tiêu âm tốt như thảm lót dày, gỗ đặc, nhựa… nhưng bạn cần hiểu rằng đây không phải là giải pháp tối ưu do thiết kế nhà dạng chung cư thường dựa trên bộ khung liền mạch hoặc là khớp với nhau, vì vậy tiếng động rất dễ từ nền nhà này truyền sang nền nhà khác. Nhằm hạn chế tình trạng này thì ngay từ khi thi công sàn, nên để một khoảng không giữa mặt sàn và kết cấu khung thép của căn nhà. Làm như vậy sẽ giúp gián đoạn âm thanh.

    Cách âm cho sàn

    Để cách âm cho sàn nhà thì chúng ta sẽ sử dụng các vật liệu có độ dày

    cao và tiêu âm tốt như thảm lót dày, gỗ đặc, nhựa…

    Cách âm cho trần: Nếu đã thực hiện cách âm cho tường và sàn mà bỏ qua trần nhà thì coi như mọi nỗ lực đã không được đền đáp. Thực tế, nhà chung cư thường bị ảnh hưởng tiếng ồn từ những nhà ở tầng trên, vì vậy bạn cần sử dụng các loại trần có tính cách âm như trần thạch cao. Chú ý, khi sử dụng loại trần này thì nên chừa một khoảng không với trần nhà nguyên thủy, để hạn chế âm thanh từ trên truyền thẳng xuống.

    Cách âm cho tường nhà: Đây là cách mà các phòng karaoke hay sử dụng. Những vật liệu dày trên 20 cm như thạch cao, gỗ đặc, vữa, mút trứng gà… sẽ giúp cho căn hộ của bạn “đề kháng” lại tiếng ồn từ nhà bên cạnh tốt hơn.

    Cùng Danh Mục:

    Liên Quan Khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Cách Âm Cho Phòng Karaoke Hiệu Quả Mà Tiết Kiệm Chi Phí?
  • Làm Phòng Cách Âm Chống Ồn Từ Đơn Giản Đến Phức Tạp
  • Hướng Dẫn Một Số Phương Pháp Cách Âm Hiệu Quả
  • Đánh Giá Và Đề Xuất Các Biện Pháp Giảm Thiểu Khí Nhà Kính Của Ngành Gia Công Kim Loại Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Tập Đoàn Adm Thúc Đẩy Các Cam Kết Bền Vững Về Giảm Thiểu Khí Thải Nhà Kính Và Năng Lượng Tiêu Thụ
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50