Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Chính Phủ Tại Việt Nam Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn, Tài Chính Việt Nam
  • Luận Văn Luận Án Đánh Giá Thực Trạng Và Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Tại Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Ở Việt Nam
  • Tiếp Tục Phát Triển Thị Trường Vốn Cả Về Chiều Rộng Và Chiều Sâu
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Gạo Bền Vững
  • TÓM TẮT: Trong xu thế hội nhập và mở cửa nền kinh tế, phát triển thị trường trái phiếu để huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) đang được các quốc gia quan tâm bởi những tác động tích cực của nó đến nền kinh tế. Phát triển thị trường TPCP có ảnh hưởng không nhỏ đến việc khuyến khích tiết kiệm và thu hút nguồn vốn đầu tư trong toàn xã hội, góp phần điều chỉnh quan hệ cung cầu tiền tệ. Thị trường TPCP còn là một công cụ hiệu quả để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Phát triển thị trường TPCP về các sản phẩm trái phiếu mới; về hệ thống nhà đầu tư, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân hàng thương mại, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài; đẩy mạnh sự minh bạch hóa thông tin, tiếp tục hiện đại hóa công nghệ thông tin là những vấn đề cần thiết hiện nay.

    TỪ KHÓA: Trái phiếu Chính phủ, thị trường trái phiếu Chính phủ.

    ABSTRACT: There has been a trend of integration and opening up in the economy, the development of the bond market to raise capital through the issuance of government bonds is being considered because of its positive effects on the economy. The development of the government bond market has had a considerable impact on encouraging savings and attracting capital investment in the society, contributing to the adjustment of monetary and supply-side relations. The government bond market is also an effective tool to regulate the macro economy. Developing new bond products; system of investors, gradually reducing dependence on commercial banks, attracting foreign investors; promoting information transparency, continuing to modernize information technology are the necessary issues in the market now.

    KEYWORDS: Government bonds, government bond markets.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra mua bán các loại TPCP nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vốn đầu tư của các chủ thể trong xã hội. TPCP phát hành có nhiều kỳ hạn khác nhau, khối lượng phát hành và giao dịch mỗi lần tương đối lớn nên có tác động không nhỏ đến t

    hị trường tài chính và đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, cùng với việc phát hành TPCP của các cơ quan chính phủ, các cơ quan địa phương góp phần làm phong phú khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển và tạo hàng hóa cho thị trường vốn. Phát triển thị trường TPCP là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu phát triển của quốc gia và là công cụ để điều chỉnh nền kinh tế cần được quan tâm. Trong bài báo, tác giả sẽ đề xuất được các giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP để khai thác những lợi ích mà nó mang lại cho nền kinh tế.

    2. NỘI DUNG 2.1. TPCP và thị trường TPCP * Lợi ích của TPCP

    Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.

    TPCP là trái phiếu được phát hành bởi chính phủ một quốc gia. Những trái phiếu này được phát hành nhằm bù đắp sự thiếu hụt ngân sách nhà nước, để xây dựng các công trình công cộng hoặc để giải quyết những khó khăn về tài chính, ổn định nền kinh tế vĩ mô.

    Đầu tư TPCP sẽ mang lại cho người đầu tư một khoản lãi suất ổn định và không phải đóng thuế thu nhập cá nhân. Lãi suất có thể thấp hơn tiền gửi ngân hàng nhưng độ an toàn cao, ít rủi ro do TPCP được đảm bảo chắc chắn bởi uy tín của chính phủ và tài sản của quốc gia. TPCP có tính thanh khoản cao. Người đầu tư có khả năng cầm cố và chuyển nhượng TPCP để chuyển thành tiền trên thị trường thứ cấp một cách dễ dàng. Lợi ích này vượt trội hơn hẳn so với đầu tư trên thị trường bất động sản. TPCP là công cụ an toàn, khối lượng phát hành lớn, có nhiều ưu đãi, do đó TPCP là kênh đầu tư quan trọng của những trung gian tài chính có nguồn tiền lớn, đòi hỏi tính an toàn trong đầu tư như các công ty bảo hiểm nhân thọ, quỹ hưu trí tự nguyện…

    * Các yếu tố cơ bản của TPCP

    TPCP cũng như các loại trái phiếu khác, có 4 yếu tố cơ bản cấu thành: Mệnh giá, lãi suất, kỳ hạn và giá phát hành.

    Mệnh giá: Là giá trị ghi trên trái phiếu, nó xác định tổng số tiền gốc mà trái chủ được nhận cho tới hết thời hạn của trái phiếu. Mệnh giá là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả.

    Lãi suất: Là yếu tố xác định quyền lợi về thu nhập định kỳ cho người sở hữu trái phiếu (chủ nợ). Lãi suất thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công bố trong đợt phát hành. Lãi suất được xác định theo tỷ lệ phần trăm với mệnh giá của trái phiếu. Lãi suất trái phiếu là một trong những yếu tố cơ bản của trái phiếu, là yếu tố quan tâm của nhà đầu tư trái phiếu. Lãi suất trái phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời hạn trái phiếu, chỉ số lạm phát và những biến động của thị trường.

    Kỳ hạn: Là độ dài thời gian cho đến khi người phát hành trái phiếu trả lại toàn bộ tiền gốc cho trái chủ và nhận lại trái phiếu. Ngày hoàn trả lại tiền gốc trái phiếu lần cuối gọi là ngày đáo hạn. Ngày đáo hạn còn là cơ sở quan trọng để xác định các kỳ trả lãi.

    Giá phát hành: Là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông thường, giá phát hành được phát hành theo tỷ lệ phần trăm của mệnh giá. Tùy theo tình hình của người phát hành và tình hình thị trường mà giá phát hành được ấn định một cách hợp lý. Giá phát hành có 3 trường hợp: Giá phát hành thấp hơn mệnh giá, giá phát hành ngang bằng mệnh giá, giá phát hành lớn hơn mệnh giá.

    * Thị trường TPCP

    Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường chứng khoán nói riêng và của thị trường tài chính nói chung. Thị trường TPCP là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi TPCP, việc này diễn ra cả trên thị trường phát hành (thị trường sơ cấp) và thị trường giao dịch (thị trường thứ cấp). TPCP là một loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành. Vì vậy, thị trường TPCP được coi là thị trường nợ.

    Thị trường sơ cấp là thị trường để thực hiện việc phát hành mới các loại TPCP. Thị trường sơ cấp là nơi cung cấp vốn, thông qua hoạt động của thị trường này, những luồng tiền nhàn rỗi trong dân chúng và các tổ chức kinh tế – xã hội có thể chuyển được thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán. Thị trường này hoạt động không liên tục, chỉ hoạt động khi có đợt phát hành trái phiếu mới.

    Thị trường thứ cấp là nơi mua bán các loại trái phiếu đã phát hành trước đó. Hoạt động của thị trường thứ cấp tạo ra khả năng dễ dàng, thuận tiện chuyển đổi trái phiếu thành tiền. Trên thị trường này diễn ra việc mua bán TPCP giữa các nhà đầu tư, tiền thu được từ việc bán trái phiếu không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán trái phiếu nhường lại quyền sở hữu trái phiếu cho nhà đầu tư khác.

    Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; nếu không có thị trường sơ cấp thì không có hàng hóa lưu thông trên thị trường thứ cấp; nếu không có thị trường sơ cấp thì thị trường thứ cấp khó có thể hoạt động hiệu quả và phát triển.

    2.2. Thực trạng thị trường TPCP tại Việt Nam hiện nay

    Hiện nay tại Việt Nam, các nhà đầu tư mua bán TPCP trên hai thị trường truyền thống: Thị trường sơ cấp (mua trái phiếu trong đợt phát hành lần đầu) và thị trường thứ cấp (việc mua bán trái phiếu của những người đang nắm giữ).

    Theo số liệu thống kê được công bố trên trang chúng tôi tháng 01/2018, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã tổ chức 12 phiên đấu thầu, huy động được tổng cộng 19365 tỷ đồng trái phiếu, tăng 63.3% so với tháng 12/2017. Tất cả trái phiếu trúng thầu trong tháng 01/2018 đều do Kho bạc Nhà nước phát hành với tỷ lệ giá trị trúng thầu so với giá trị gọi thầu đạt 97.3%. Khối lượng đặt thầu của tháng 01 cao gấp 4.2 lần khối lượng gọi thầu. Theo đó, lãi suất trúng thầu của trái phiếu kỳ hạn 5 năm là 4.30%/năm, 7 năm là 4.35%/năm, 10 năm trong khoảng 4.38 – 5.15%/năm, 15 năm trong khoảng 4.50 – 5.20%/năm, 20 năm là 5.20%/năm, 30 năm là 5.40%/năm. So với cuối năm 2021, lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước giảm trên tất cả các kỳ hạn, theo đó kỳ hạn 5 năm giảm 0.22%/năm, 10 năm giảm 0.27%/năm, 20 năm giảm 0.82%/năm, 30 năm giảm 0.70%/năm.

    Trên thị trường TPCP thứ cấp, tháng 01/2018, tổng khối lượng giao dịch TPCP theo phương thức giao dịch thông thường (outright) đạt hơn 1.06 tỷ trái phiếu, tương đương với giá trị giao dịch đạt hơn 118 nghìn tỷ đồng, tăng 4.3% về giá trị so với tháng 12/2017. Tổng khối lượng giao dịch TPCP theo phương thức giao dịch mua bán lại (repos) đạt hơn 1.15 tỷ trái phiếu, tương đương với giá trị giao dịch đạt hơn 118 nghìn tỷ đồng, giảm 2.6% về giá trị so với tháng 12/2017. Giá trị giao dịch mua outright của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) đạt hơn 8.9 nghìn tỷ đồng, giá trị giao dịch bán outright của NĐTNN đạt hơn 8.1 nghìn tỷ đồng. Giá trị giao dịch mua repos của NĐTNN đạt hơn 220 tỷ đồng, giá trị giao dịch bán repos của NĐTNN đạt hơn 247 tỷ đồng. Nhìn lại hoạt động của thị trường TPCP năm 2021 có thể thấy những điểm mạnh sau đây:

    Về khung khổ pháp lý: Trong năm 2021, khung khổ pháp lý về phát triển thị trường trái phiếu nói chung, thị trường TPCP nói riêng đã tiếp tục được hoàn thiện từ cấp nghị định đến thông tư hướng dẫn. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định 1911/QĐ-TTg năm 2021 lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2021 – 2021, tầm nhìn đến năm 2030. Hiện nay, việc điều chỉnh thị trường TPCP thực hiện theo quy định tại Nghị định số 01/2011/NĐ-CP, Thông tư số 111/2015/TT-BTC hướng dẫn về phát hành TPCP, Thông tư số 234/2012/TT-BTC hướng dẫn giao dịch TPCP, Thông tư số 150/2011/TT-BTC ngày 9/11/2011 về hướng dẫn hoán đổi TPCP, Thông tư liên tịch số 92/2016/TTLT-BTC-NHNN ngày 27/6/2016 hướng dẫn phát hành tín phiếu kho bạc qua Ngân hàng Nhà nước. Các văn bản pháp lý hướng dẫn đã quy định rõ về quy trình thủ tục phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch TPCP nhằm tăng tính công khai minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư tham gia trên thị trường.

    Về tổ chức thị trường: Trong giai đoạn đầu của thị trường, khi thị trường chứng khoán chưa phát triển và sự tham gia của nhà đầu tư có tổ chức còn hạn chế, Bộ Tài chính chủ yếu phát hành trực tiếp TPCP cho người dân theo phương thức bán lẻ nhưng khối lượng phát hành thấp.

    Khi thị trường chứng khoán đã phát triển ở mức độ nhất định và đã hình thành nhiều nhà đầu tư có tổ chức chuyên nghiệp, Bộ Tài chính đã chuyển dần phát hành TPCP trực tiếp cho người dân theo phương thức bán lẻ sang phát hành TPCP cho các nhà đầu tư có tổ chức theo phương thức đấu thầu. Đặc biệt năm 2009, Sàn Giao dịch chứng khoán được thành lập, TPCP được tổ chức đấu thầu và niêm yết, giao dịch tập trung qua sàn giao dịch để tăng tính thanh khoản của thị trường; đăng ký lưu ký tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, Bộ Tài chính đã hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin trên thị trường để đảm bảo hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu diễn ra thông suốt; rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến niêm yết trái phiếu tạo thanh khoản trên thị trường. Trong giai đoạn này, việc huy động vốn TPCP đã đạt hiệu quả cao hơn so với giai đoạn trước đây.

    Về cơ cấu nhà đầu tư: Cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường tập trung chủ yếu là các ngân hàng thương mại nắm giữ khoảng 77% khối lượng TPCP. Các nhà đầu tư khác (công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài…) nắm giữ khoảng 23% khối lượng TPCP. Tuy nhiên thời gian qua, Bộ Tài chính đã thực hiện đầy đủ các giải pháp để phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn trên thị trường để giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống các ngân hàng thương mại và xây dựng lộ trình thu hút nhà đầu tư nước ngoài.

    Về tổ chức trung gian tài chính: Từ năm 2012, theo quy định của Nghị định số 01/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 17/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn phát hành TPCP tại thị trường trong nước, đã hình thành hệ thống thành viên đấu thầu TPCP với quyền lợi, nghĩa vụ cơ bản như khối lượng mua TPCP tối thiểu, cam kết niêm yết giá chào mua chào bán… Hiện nay, hệ thống thành viên đấu thầu của Việt Nam gồm có 24 thành viên với 18 ngân hàng thương mại, 6 công ty chứng khoán. Bộ Tài chính tiếp tục phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường với nền tảng là các thành viên đấu thầu TPCP hiện nay với đầy đủ các nghĩa vụ và quyền lợi tương tự như các nước trên thế giới.

    Về khối lượng: Trong năm 2021, Kho bạc Nhà nước đã thành công trong việc phát hành trái phiếu dài hạn 20 năm, 30 năm với lợi suất trúng thầu giảm sâu. Kho bạc Nhà nước đã huy động được 182462 tỷ đồng trái phiếu. Nếu như các năm trước, Kho bạc Nhà nước hoặc là giữ nguyên, hoặc là điều chỉnh tăng kế hoạch phát hành thì năm 2021 lại điều chỉnh giảm kế hoạch phát hành từ mức 183.4 nghìn tỷ đồng xuống còn 169.3 nghìn tỷ đồng, vào tháng 11/2017. Đây là một dịch chuyển hết sức tích cực, đặc biệt trong bối cảnh mối lo về nợ công gia tăng nhanh trong những năm gần đây.

    Về phương thức phát hành: Toàn bộ khối lượng trái phiếu phát hành ra thị trường trong năm 2021 thực hiện theo phương thức đấu thầu qua Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (đối với trái phiếu) và Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (đối với tín phiếu). Vì vậy, kế hoạch, lịch biểu, thông tin về đợt phát hành, kết quả phát hành, thanh toán TPCP được công khai minh bạch tới tất cả các nhà đầu tư.

    2.3. Một số giải pháp phát triển thị trường TPCP tại Việt Nam hiện nay

    Trên cơ sở thực trạng và sự cần thiết về phát triển thị trường TPCP như trên, tác giả đã đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP như sau:

    Nhóm thứ nhất: Hoàn thiện cơ chế chính sách, khuôn khổ pháp lý

    – Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý để đảm bảo phù hợp với sự phát triển của thị trường trái phiếu và thông lệ quốc tế;

    – Đẩy mạnh minh bạch hóa thông tin, tiếp tục hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin thông qua xây dựng trang thông tin điện tử chuyên biệt cho thị trường trái phiếu để rút ngắn quy trình từ đấu thầu đến giao dịch trái phiếu nhằm tăng thanh khoản trên thị trường thứ cấp;

    – Tập trung phát triển và hoàn thiện hệ thống chỉ báo thị trường, đặc biệt là các chỉ báo về đường cong lợi suất, chỉ số trái phiếu. Riêng với mục tiêu thu hút nhà đầu tư nước ngoài, việc hoàn thiện các chỉ báo định lượng này có ý nghĩa rất quan trọng.

    Nhóm giải pháp thứ hai: Đa dạng hóa sản phẩm và sự hỗ trợ nhà đầu tư khi họ tham gia thị trường

    – Tạo dựng niềm tin lâu dài và ổn định cho nhà đầu tư. Trên thị trường TPCP, Chính phủ là người đi vay và người cho vay chính là các nhà đầu tư (trong nước và quốc tế). Do vậy, Chính phủ cần tiếp tục kiên định, đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc nâng cao chất lượng nền kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư công nói riêng, tạo lập sự ổn định của kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng, cải thiện hiệu quả sử dụng vốn TPCP, qua đó nâng cao uy tín, xếp hạng tín nhiệm của Chính phủ trong nước cũng như trên trường quốc tế;

    – Phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn trên thị trường như quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm…, giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống các ngân hàng thương mại và xây dựng lộ trình thu hút nhà đầu tư nước ngoài;

    – Phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường trên cơ sở hệ thống thành viên đấu thầu TPCP với các nghĩa vụ và quyền lợi đầy đủ tương tự như các nước trên thế giới;

    Phát triển các sản phẩm trái phiếu mới trên thị trường cũng như các công cụ phòng ngừa rủi ro để thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước như xây dựng và phát triển các sản phẩm trái phiếu phái sinh như hợp đồng kỳ hạn… để phòng ngừa rủi ro trên thị trường trái phiếu;

    – Tạo lập kênh đối thoại thường xuyên với nhà đầu tư. Các hội nghị, hội thảo, đối thoại định kỳ được thực hiện hàng quý nhằm chuyển tải thông tin, định hướng chính sách, giới thiệu, quảng bá thị trường TPCP để chuyển tải thông tin tới nhà đầu tư tiềm năng cũng như nắm bắt nhu cầu, giải quyết vướng mắc kịp thời;

    – Phát hành TPCP trên thị trường vốn quốc tế. Đề án phát hành TPCP ra thị trường vốn quốc tế đã được Chính phủ phê duyệt, Bộ Tài chính cần phối hợp tổ chức phát hành thành công.

    3. KẾT LUẬN

    Năm 2021, với việc chính sách tài khóa đã được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ nợ công có xu hướng giảm nhẹ, thị trường TPCP phát triển mạnh mẽ. Năm 2021 tiếp tục được kỳ vọng là một năm phát triển mạnh mẽ của thị trường TPCP Việt Nam trên cơ sở môi trường vĩ mô ổn định và kỳ vọng về khả năng kết hợp hiệu quả, linh hoạt và nhịp nhàng hơn trong điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Phát triển thị trường TPCP nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô, tạo nguồn vốn cho ngân sách nhà nước, tác động mạnh mẽ đến thị trường vốn, là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả của các nhà đầu tư. Với những lợi ích mà nó mang lại cho nền kinh tế, các giải pháp nhằm phát triển thị trường trái phiếu luôn và cần được quan tâm, chú trọng o

    Tài liệu tham khảo

    . PGS. TS. Vũ Văn Ninh (2015), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB. Tài chính.

    . PGS. TS. Lê Văn Tề, TS. Nguyễn Văn Hà, TS. Nguyễn Đắc Sinh (2015), Thị trường chứng khoán tại Việt Nam, NXB. Thống kê.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gỡ ‘nút Thắt’ Thị Trường Mua Bán Nợ Xấu
  • Những Giải Pháp Tạo Lập Thị Trường Mua Bán Nợ
  • Phát Triển Thị Trường Mua, Bán Nợ Xấu Tập Trung Giải Pháp Bền Vững Cho Xử Lý Nợ Xấu Tại Việt Nam
  • 6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam
  • Luận Văn Luận Văn Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Tại Công Ty Giầy Thượng Đình
  • Luận Án: Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Triển Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Của Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Đức Việt
  • Luận Văn Luận Văn Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Tại Công Ty Giầy Thượng Đình
  • 6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam
  • Phát Triển Thị Trường Mua, Bán Nợ Xấu Tập Trung Giải Pháp Bền Vững Cho Xử Lý Nợ Xấu Tại Việt Nam
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận án tóm tắt với đề tài: Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam, cho các bạn làm luận án tham khảo

    1. 7. 7 (SPBH). Tuy nhiên, xét trên góc độ quản trị kinh doanh, có thể định nghĩa một cách đơn giản: SPBH là sản phẩm mà DNBH bán. Như vậy, sản phẩm BHPNT là sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh BHPNT bán trên thị trường. Nhìn chung các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cũng như các sản phẩm bảo hiểm nói chung có các đặc điểm cơ bản sau: – Là sản phẩm không định hình. – Là sản phẩm có hiệu quả “xê dịch” – Là sản phẩm “không mong đợi” – Là sản phẩm của “chu kỳ kinh doanh đảo ngược” – Là sản phẩm dễ bắt chước 1.2.4.2 Các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ Theo đối tượng bảo hiểm, các sản phẩm BHPNT được chia thành 3 nhóm: – Nhóm các sản phẩm bảo hiểm tài sản – Nhóm các sản phẩm bảo hiểm TNDS – Nhóm các sản phẩm bảo hiểm con người (hay còn được gọi là bảo hiểm tai nạn cá nhân và chi phí y tế) Ngoài ra, tùy thuộc vào nội dung và ý nghĩa khi triển khai, các sản phẩm bảo hiểm có thể được chia thành: sản phẩm bảo hiểm bắt buộc và sản phẩm tự nguyện; sản phẩm bảo hiểm riêng lẻ và bảo hiểm trọn gói; hoặc phân chia sản phẩm bảo hiểm theo nhóm nghiệp vụ bảo hiểm như: bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm máy bay… 1.2.5 Các nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ 1.2.5.1 Môi trường pháp lý Hoạt động của thị trường bảo hiểm không thể nằm ngoài khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia. Nó không chỉ đơn thuần là việc các công ty bảo hiểm trên thị trường phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật, mà chính điều này đảm bảo cho các công ty được cạnh tranh một cách công bằng và lành mạnh trên thị trường, bảo đảm cho quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, từ đó thúc đẩy thị trường phát triển. 1.2.5.2 Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội Sự phát triển kinh tế của quốc gia là nhân tố quan trọng tiếp theo ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Trước hết kinh tế phát triển, tức các ngành sản xuất, dịch vụ phát triển, dẫn đến các nhu cầu về bảo hiểm cũng tăng. Ngoài ra, khi kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng cao, nhu cầu về ăn ở mặc được đáp ứng đầy đủ, thì nhu cầu được bảo vệ trở nên quan trọng. Bên cạnh yếu tố kinh tế, các yếu tố văn hoá xã hội cũng có tác động đáng kể đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ như: dân số, trình độ dân trí, văn hóa tiêu dùng… 1.2.5.3 Môi trường kinh tế quốc tế Xu hướng toàn cầu hoá đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay có sự ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Việc mở cửa và hội nhập còn tạo nhiều cơ hội khác cho các công ty bảo hiểm trong nước như tiếp cận công nghệ bảo hiểm tiên tiến, tiếp cận thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo nhiều thách thức đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm trong nước như cạnh tranh khốc liệt hơn từ thị trường nước ngoài, mất sự bảo trợ của Nhà nước…
    2. 8. 8 1.2.5.4 Năng lực của DNBH Sự phát triển của thị trường BHPNT luôn gắn liền với năng lực của DNBH trong việc cung cấp các sản phẩm bảo hiểm ra thị trường. Năng lực của DNBH được thể hiện trên các mặt: năng lực tài chính; năng lực marketing; năng lực tổ chức, điều hành và trình độ cán bộ. 1.2.5.5 Vai trò của Hiệp hội bảo hiểm Hiệp hội bảo hiểm có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Hiệp hội trước hết là cầu nối giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các DNBH. Bên cạnh đó, là tổ chức đại diện cho các DNBH, hiệp hội bảo hiểm có thể phát huy sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp nhằm xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm bảo hiểm mới, tổ chức đào tạo cho toàn thị trường. Hiệp hội còn là trung tâm cung cấp thông tin và tuyên truyền chung cho các DNBH. 1.2.5.6 Điều kiện kinh tế và nhận thức của khách hàng Khi điều kiện kinh tế của con người càng nâng cao, nhu cầu của họ cũng tăng lên theo các cấp bậc. Vì nhu cầu về bảo hiểm nằm trong cấp độ nhu cầu “an toàn”, ở mức cao hơn nhu cầu cơ bản, nên khi điều kiện kinh tế còn thấp, người dân trước hết còn phải lo đến cái ăn, cái mặc sẽ không có điều kiện để lo đến việc mua bảo hiểm. Khi điều kiện kinh tế tốt hơn, người dân sẽ có điều kiện tài chính để mua bảo hiểm. Nhận thức về sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định lựa chọn sản phẩm bảo hiểm để thoả mãn nhu cầu. Đây là quy luật nói chung không chỉ riêng với sản phẩm bảo hiểm. Thậm chí bảo hiểm còn bị chi phối nhiều hơn bởi bảo hiểm là sản phẩm vô hình, là sản phẩm không mong đợi. 1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ 1.2.6.1 Chỉ tiêu phản ánh năng lực của thị trường bảo hiểm – Số lượng các DNBH đang hoạt động kinh doanh trên thị trường (1.1) – Số lượng trung gian bảo hiểm (1.2) – Số lượng các sản phẩm bảo hiểm (1.3) – Quy mô vốn của thị trường (1.4) 1.2.6.2 Chỉ tiêu phản ánh quy mô thị trường – Số lượng hợp đồng bảo hiểm (1.5) – Số tiền bảo hiểm (1.6) – Doanh thu phí bảo hiểm (1.7) 1.2.6.3 Đóng góp của thị trường bảo hiểm vào các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước – Đóng góp vào GDP (1.9) – Tạo công ăn việc làm (1.10) – Bù đắp thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra (1.11) – Tái bảo hiểm nhằm phát triển quan hệ hợp tác quốc tế và bảo vệ thị trường trong nước: + Phí nhượng (nhận) TBH (1.12) + Phí nhượng (nhận) TBH trong nước, và Phí nhượng (nhận) (1.13) + TBH ra nước ngoài. (1.14) – Giá trị tái đầu tư trở lại nền kinh tế (1.15) – Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
    3. 9. 9 + Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí (1.16) + Hiệu quả theo doanh thu: (1.17) + Hiệu quả theo lợi nhuận: (1.18) – Hiệu quả hoạt động đầu tư: + Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tài chính tổng hợp: (1.19) + Tỷ suất lợi nhuận đầu tư:: (1.20) Hệ thống các chỉ tiêu trên là các chỉ tiêu định lượng phản ánh sự phát triển của thị trường BHPNT. Tuy nhiên, mặc dù là các chỉ tiêu định lượng, nhưng đó là sự thể hiện kết quả phát triển của thị trường về mặt chất lượng. 1.3 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu có đề cập tới sự phát triển của một số thị trường bảo hiểm trên thế giới như Mỹ, Pháp, Đài Loan, và đặc biệt là các nước Asean như Thái lan, Malaysia, luận án nhận thấy rằng muốn phát triển thị trường BHPNT cần giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây: Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Bao gồm các nội dung cơ bản sau: – Quy định về đăng ký và cấp giấy phép kinh doanh: – Quy định về nội dung hoạt động: – Quy định về vốn pháp định và các khoản ký quỹ: – Quy định về dự phòng nghiệp vụ, biên khả năng thanh toán – Quy định về biểu phí và hoa hồng bảo hiểm: – Các quy định khác Thứ hai, thiết lập được một cơ quan quản lý bảo hiểm với đầy đủ quyền lực để thực thi chức năng và quyền lực của mình, được sự thừa nhận và bảo vệ của pháp luật. Thứ ba, tạo sự cạnh tranh hợp lý cho thị trường bảo hiểm phi nhân thọ theo hướng đa dạng hoá về hình thức sở hữu, bảo đảm cơ cấu hài hoà giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và nước ngoài. Thứ tư, tạo cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động của các công ty bảo hiểm một cách có hiệu quả, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo thị trường phát triển bền vững.
    4. 10. 10 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 2006 -2010) 2.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM Do đặc điểm lịch sử của nước ta, sự hình thành và phát triển của thị trường BHPNT Việt Nam đến nay được chia và tóm tắt thành 4 giai đoạn: – Giai đoạn 1964-1974 – Giai đoạn 1975-1993 – Giai đoạn 1994- 2005 – Giai đoạn 2006-2010 2.2 TRỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 2006-2010) 2.2.1 Điều kiện kinh tế – xã hội Việt Nam Giai đoạn 2006-2010 là giai đoạn mà tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam tiếp tục phát triển và tương đối ổn định mặc dù thế giới có nhiều biến đổi và bất ổn cả về mặt kinh tế và chính trị xã hội. Đây là những điều kiện tiền đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường BHPNT trong giai đoạn này cũng như những năm về sau. Một số chỉ tiêu quan trọng được luận án đề cập tới là: GDP, Sản xuất công nghiệp, Sản xuất nông nghiệp, Xuất nhập khẩu, Đầu tư phát triển, Dân số, Thu nhập dân cư, và Giáo dục. 2.2.2 Thực trạng thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 2.2.2.1 Quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động thị trường a. Luật kinh doanh bảo hiểm b. Các Nghị định c. Các Thông tư d. Các đề án, chiến lược Ngoài ra, khi thực hiện kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm, các DNBH còn chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật khác của Việt Nam như: Bộ Luật dân sự, Luật Hàng hải Việt Nam. 2.2.2.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động của thị trường BHPNT Theo quy định, Bộ tài chính là cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm nói chung, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, trong đó có các DNBH phi nhân thọ. Trước đây, Bộ Tài chính có Phòng quản lý bảo hiểm thuộc Vụ Tài chính Ngân hàng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm. Năm 2003, Phòng quản lý bảo hiểm được tách ra thành lập Vụ Bảo hiểm. Trước những yêu cầu mới, do sự phát triển nhanh chóng của thị trường bảo hiểm Việt Nam và xu hướng hội nhập quốc tế, năm 2009 Vụ bảo hiểm đã được chuyển thành Cục quản lý, giám sát bảo hiểm. 2.2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Luận án phân tích sự phát triển của thị trường BHPNT ở Việt Nam trên cơ sở hệ thống các chỉ tiêu được xây dựng ở chương 1. Do hạn chế về số liệu, có một số chỉ tiêu luận án không thể tính toán và phân tích được (Ví dụ: chỉ tiêu phản ánh quy mô thị trường như số lượng hợp đồng bảo hiểm,
    5. 11. 11 số tiền bảo hiểm; chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính như tỷ suất lợi nhuận trên vốn…). Tuy nhiên, việc không tính toán và phân tích được một số chỉ tiêu này có ảnh hưởng không đáng kể đến kết quả phân tích chung của luận án. (1) Năng lực của thị trường bảo hiểm – Số lượng các doanh nghiệp BHPNT hoạt động trên thị trường Nếu như trước năm 1994 ở Việt Nam chỉ có một doanh nghiệp BHPNT thì đến năm 2006 là 22 doanh nghiệp. Năm 2008 thị trường vẫn tiếp tục được mở rộng và phát triển với sự tham gia thị trường của các DNBH như Công ty Cổ phần Bảo hiểm Hàng không, Bảo hiểm Than Khoáng sản. Đến năm 2010 số doanh nghiệp hoạt động trên thị trường là 30 doanh nghiệp, trong đó có 29 DNBH gốc và một doanh nghiệp TBH thuộc các thành phần kinh tế khác nhau: doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bảng 2.9 : Số lƣợng các DNBH trên thị trƣờng BHPNT (2006-2010) Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Số lƣợng DNBH gốc 21 22 27 28 29 Số lƣợng doanh nghiệp TBH 1 1 1 1 1 Tổng 22 23 28 29 30 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) – Số lượng trung gian bảo hiểm Bên cạnh sự gia tăng về số lượng các DNBH, số lượng các trung gian bảo hiểm là đại lý và môi giới bảo hiểm cũng tăng lên. Nếu như năm 2004 số lượng doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là 6 công ty, năm 2007 là 8 công ty, thì đến năm 2010 con số này là 11 công ty (trong đó có 6 công ty cổ phần trong nước và 4 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài). Bảng 2.10: Số lƣợng các DNMGBH ở Việt Nam Năm 2004 2006 2008 2009 2010 Số lƣợng DNMGBH 6 8 8 10 11 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) Đại lý BHPNT cũng không ngừng được tăng lên và đa dạng hóa về hình thức, đặc biệt là đại lý tổ chức như ngân hàng, bưu điện, hội phụ nữ. Hầu hết các DNBH, dù ít hay nhiều, đều triển khai hoạt động Bancassurance, nhất là đối với các DNBH lớn như Bảo Việt, hay các DNBH thuộc ngân hàng như ABIC, BIC. Năm 2009 số lượng đại lý bảo hiểm phi nhân thọ là 37.561 người, tăng 3,69% so với năm 2008. Năm 2010 con số này là khoảng 42.000 người. – Số lượng các sản phẩm bảo hiểm triển khai trên thị trường Thị trường BHPNT Việt Nam đã triển khai được hầu hết các sản phẩm bảo hiểm cơ bản bao gồm cả bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm TNDS. Hiện nay theo phân loại của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm và Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các sản phẩm BHPNT được chia thành 11 nhóm. Năm 2004 số lượng sản phẩm BHPNT được bán trên thị trường là 413 (trong đó chủ yếu là sản phẩm bảo hiểm tài sản với 290 sản phẩm), đến năm 2010 con số này đã tăng lên khoảng 620 sản phẩm. – Quy mô vốn của thị trường Quy mô vốn của các DNBH và thị trường càng tăng, năng lực tài chính của thị trường tăng và khả năng bảo vệ của thị trường đối với nền kinh tế xã hội cũng tăng lên. Số lượng bảng 2.12 cho thấy, năm 2004 vốn chủ sở hữu của thị trường là trên 3.000 tỷ đồng, đến năm 2010 là 11.027 tỷ đồng
    6. 12. 12 tăng gấp 3,65 lần. Bảng 2.12: Quy mô vốn chủ sở hữu của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Năm 2004 2008 2010 Quy mô vốn chủ sở hữu (tỷ đồng) 3.020 8.615 11.027 Tăng so với năm 2004 (lần) – 2,85 3,65 (Nguồn: Ban bảo hiểm phi hàng hải, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) (2) Quy mô thị trường Bảng 2.13 cho thấy, doanh thu phí và tốc độ tăng doanh thu phí của toàn thị trường BHPNT Việt Nam giai đoạn 2006-2010. Tốc độ tăng doanh thu phí cao nhất là năm 2007 với 31%. Tính chung cho cả giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng bình quân năm của thị trường là 25,4%. Bảng 2.13: Doanh thu phí bảo hiểm thị trƣờng BHPNT (2006-2010) Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Doanh thu phí bảo hiểm (tỷ đ) 6.381 8.360 10.887 13.644 17.052 Tốc độ tăng (%) 16 31 30 25 25 (Nguồn:Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) – Tạo công ăn việc làm Số liệu bảng 2.18 cho thấy, tổng số lao động làm việc trong lĩnh vực BHPNT là 83.017 người, cán bộ nhân viên bảo hiểm là 17.017 người, đại lý bảo hiểm là 66.000 người. Bảng 2.18: Lao động làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ năm 2010 Đơn vị: người Tổng số lao động Số lƣợng cán bộ, nhân viên Số lƣợng đại lý 83.017 17.017 66.000 (Nguồn: Dự thảo chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020 ) Ngành bảo hiểm đang được coi là một trong những ngành “nóng” thu hút lực lượng lao động lớn, có chất lượng cao. Điều này xuất phát từ việc số lượng các DNBH mới được cấp giấy phép hoạt động tăng lên; các DNBH đã thành lập thì mở rộng mạng lưới hoạt động đến khắp các tỉnh thành; thậm chí tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ chí Minh có tới 3 công ty thành viên của cùng một công ty bảo hiểm. – Bù đắp thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra Với vai trò là “tấm lá chắn” cho nền kinh tế, thị trường BHPNT đã góp phần quan trọng trong việc bù đắp các thiệt hại tài chính cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội do rủi ro gây ra. Năm 2006 số tiền bồi thường của toàn thị trường là 2.495 tỷ đồng; đến năm 2010 con số này là 6.384 tỷ đồng, tăng gấp gần 3 lần so với năm 2007 (bảng 2.19). Tỷ lệ bồi thường các năm nhìn chung dao động quanh con số 40%. Bảng 2.19: Tình hình bồi thƣờng bảo hiểm gốc toàn thị trƣờng (2006-2010) Năm 2006 2007 2008 2009 2010 STBT (tỷ đồng) 2.495 3.228 4.511 5.272 6.384 Tốc độ tăng (%) 15,72 29,38 39,75 16,87 21,09 Tỷ lệ bồi thƣờng bq (%) 39,09 38,62 41,43 38,64 37,44 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)
    7. 13. 13 – Bảo vệ hoạt động bảo hiểm gốc và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế thông qua hoạt động tái bảo hiểm Bảng 2.21: Tình hình nhƣợng TBH của thị trƣờng BHPNT (2006-2010) Năm 2006 2007 2008 2009 2010 1. Tổng phí nhƣợng TBH (tỷ đ) 2.491 3.528 4.220 5.103 6.314 1.1 Phí nhƣợng TBH ngoài nƣớc 1.504 2.082 2.603 3.292 4.128 1.2 Phí nhƣợng TBH trong nƣớc 987 1.446 1.617 1.811 2.186 2. Phí nhƣợng TBH /phí BH gốc (%) 39,04 42,20 38,76 37,40 37,03 3. Tỷ lệ phí nhƣợng TBH ra ngoài nƣớc so với phí BH gốc (%) 23,57 24,90 23,91 24,13 24,20 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) Số liệu bảng 2.21 cho thấy, tổng phí nhượng TBH qua các năm là tăng dần, năm 2006 đạt 2.491 tỷ đồng, đến năm 2010 con số này là 6.314 tỷ đồng. Trong đó phí bảo hiểm chủ yếu được nhượng tái ra nước ngoài. Năm 2010 phí nhượng tái ra nước ngoài là 4.128 tỷ đồng, chiếm 65,35% tổng phí nhượng tái, phí nhượng tái trong nước chỉ chiếm 34,65%. Tỷ lệ phí nhượng TBH ra nước ngoài của thị trường BHPNT trung bình trong 5 năm qua là 24,14%. Bảng 2.22 cho thấy tình hình nhận TBH của thị trường BHPNT. Năm 2010 phí nhận TBH là 1.340 tỷ đồng, trong đó phần nhận từ trong nước là chủ yếu, 975 tỷ đồng chiếm 72,76%; phần nhận TBH từ nước ngoài là 365 tỷ đồng chiếm 27,24%. Bảng 2.22: Tình hình nhận TBH của thị trƣờng BHPNT (2006-2010) Đơn vị: tỷ đồng Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng phí nhận TBH 557 717 787 1.000 1.340 Phí nhận TBH ngoài nƣớc 100 147 140 179 365 Phí nhận TBH trong nƣớc 457 570 647 821 975 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) – Giá trị tái đầu tư trở lại nền kinh tế Đầu tư tài chính là hoạt động không thể thiếu đối với các DNBH. Với nguồn vốn lớn từ vốn chủ sở hữu và các quỹ DPNVBH, các DNBH đang tham gia tích cực vào thị trường tài chính Việt Nam. Tổng giá trị đầu tư trở lại nền kinh tế của thị trường BHPNT năm 2007 là 11.125 tỷ đồng; đến năm 2010 là 23.000 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2007 (bảng 2.23). Phần lớn các DNBH đều đã thành lập Phòng đầu tư hoặc Ban đầu tư riêng biệt. Tính đến năm 2010, đã có Bảo Việt, Bảo Minh thành lập Công ty môi giới chứng khoán. Bên cạnh đó, Bảo Việt còn thành lập được ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty đầu tư. Có thể nói thị trường BHPNT đã góp phần nhất định vào việc phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam. Bảng 2.23: Giá trị đầu tƣ trở lại nền kinh tế của thị trƣờng BHPNT (2007-2010) Năm 2007 2008 2009 2010 Giá trị đầu tƣ (tỷ đồng) 11.125 15.179 17.585 23.000 Tốc độ tăng (%) – 36,44 15,85 30,79 (Nguồn: Cục quản lý, giám sát bảo hiểm)
    8. 14. 14 (4) Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm không thể tách rời với việc kinh doanh có hiệu quả của các DNBH. Xét về hiệu quả kinh doanh chung cho toàn bộ hoạt động kinh doanh (bao gồm cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động đầu tư và hoạt động khác), các DNBH đều có lãi. Tuy nhiên, nếu tính riêng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2008 có đến 16 DNBH trong tổng số 25 doanh nghiệp hoạt động bị thua lỗ về nghiệp vụ bảo hiểm, tổng số lỗ nghiệp vụ bảo hiểm toàn thị trường là 163 tỷ đồng. Sang năm 2009, con số cũng không sáng sủa hơn với 10 doanh nghiệp có lãi, với số lãi của từng DNBH từ 1 tỷ đến 52 tỷ đồng, nhưng tổng thị trường lỗ nghiệp vụ bảo hiểm tới trên 200 tỷ đồng. Hậu quả là các doanh nghiệp BHPNT phải lấy lãi từ đầu tư tài chính bằng vốn chủ sở hữu, trong đó có thặng dư vốn phát hành cổ phiếu, và dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm để bù đắp. Từ đó cổ tức chia cho cổ đông thấp, kém hấp dẫn trên thị trường chứng khoán. Với tỷ lệ bồi thường chung của toàn thị trường trong 5 năm qua là 39,04% (so với Thái lan là 50%), việc kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp không hiệu quả là một vấn đề lớn đặt ra cho thị trường BHPNT nước ta. 2.2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển của thị trường BHPNT a. Kết quả đạt được (1) Thị trường phát triển đáng kể, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển và ổn định nền kinh tế Thị trường BHPNT trong thời gian qua luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng GDP. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân 25%/năm. Khá cao so với các nước trong khu vực, như Thái lan là 10%. Thị trường BHPNT có đóng góp đáng kể trong việc khắc phục những thiệt hại do rủi ro gây ra cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Tổng số tiền bồi thường tăng liên tục qua các năm, năm 2010 tổng số tiền bồi thường đạt 6.384 tỷ đồng. Bên cạnh đó, thị trường BHPNT tạo lập được nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội với giá trị đầu tư trở lại cho nền kinh tế năm 2010 là 23.000 tỷ đồng. Số lượng lao động trong ngành bảo hiểm trước năm 1999 chỉ có 30.000 người, đến năm 2009 đã lên tới 182.319 người và năm 2010 là trên 200.000 người (bao gồm cả BHNT và BHPNT). (2) Cấu trúc thị trường ngày càng được hoàn chỉnh hơn Năng lực “cung” của thị trường BHPNT từng bước tăng lên đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường. Trước năm 1993, thị trường chỉ có duy nhất Bảo Việt, thì đến hết năm 2010 trên thị trường đã có 28 DNBH gốc, 01 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Nội dung và lĩnh vực hoạt động của các DNBH được mở rộng; số lượng sản phẩm bảo hiểm gia tăng và chất lượng dịch vụ được dần cải thiện. Năng lực tài chính của thị trường tăng nhanh. Việc thành lập Cục quản lý, giám sát bảo hiểm Việt Nam cho thấy công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm được chú trọng, nhằm đảm bảo cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển theo đúng mục tiêu và định hướng của nhà nước đặt ra. Kể từ khi ra đời đến nay, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam. (3) Thị trường bước đầu đã hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế Việt Nam tích cực tham gia Diễn đàn các cơ quan quản lý bảo hiểm ASEAN. Mục tiêu của
    9. 16. 16 (2) Thị trường đang tiềm ẩn những yếu tố rủi ro mất ổn định Thị trường BHPNT Việt Nam phát triển với tốc độ cao trong những năm qua nhưng cũng đang tiềm ẩn rủi ro mất ổn định thông qua số lượng các DNBH đang bị thua lỗ kinh doanh bảo hiểm. Theo Hiệp hội bảo hiểm Việt nam, bình quân trên thị trường có đến 80%-85% số lượng chi nhánh của mỗi doanh nghiệp BHPNT có kết quả kinh doanh là con số âm. Trên các diễn dàn, câu nói về thị trường bảo hiểm Việt nam “càng làm càng lỗ” đã trở thành quen thuộc. Xét trong thời gian ngắn việc lỗ này là có thể chấp nhận được, nhưng nếu tình trạng này kéo dài thì sự đổ vỡ của thị trường là điều có thể xảy ra và kéo theo những hậu quả khôn lường: DNBH mất khả năng chi trả, người mua bảo hiểm không được đền bù hoặc đền bù không đầy đủ, sản xuất kinh doanh, đời sống người dân không được ổn định kịp thời sau rủi ro… (3) Thị trường phát triển chưa cân đối và đồng bộ Thị trường BHPNT nước ta trong thời gian qua tăng trưởng nhanh nhưng phát triển chưa cân đối và đồng bộ, từ đó làm hạn chế vai trò của thị trường đối với sự phát triển chung của nền kinh tế nước nhà. Sự phát triển không cân đối và đồng bộ đó được thể hiện ở cả chiều rộng và chiều sâu: – Thị trường phát triển mới chỉ tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn. Đại bộ phận người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa không có điều kiện được tiếp cận với các loại hình bảo hiểm. – Sản phẩm bảo hiểm tuy có nhiều nhưng khá giống nhau và vẫn còn thiếu trong một số lĩnh vực, khu vực của thị trường. Nhiều sản phẩm nhu cầu thị trường là lớn nhưng chưa đáp ứng được, nhất là các sản phẩm bảo hiểm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm nghề nghiệp y dược, luật sư… – Trên thị trường hiện nay có 30 DNBH, con số chưa phải là nhiều so với các nước trong khu vực (ví dụ Thái lan là 71 công ty bảo hiểm gốc và 2 công ty tái bảo hiểm), nhưng tình trạng DNBH chuyên ngành cạnh tranh không lành mạnh đang ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của thị trường. – Thị trường vẫn chưa có sự tham gia của các tổ chức bảo hiểm tương hỗ mặc dù đã có cơ sở pháp lý cho việc thành lập loại hình tổ chức bảo hiểm này. Trong khi đó, với đặc thù phương thức sản xuất và đặc thù văn hóa xã hội, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam hoàn toàn phù hợp cho bảo hiểm tương hỗ hình thành và phát triển. – Thị trường bảo hiểm Việt Nam tuy mở cửa nhưng, điều này mới diễn ra theo một chiều từ bên ngoài vào. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chỉ tập trung khai thác thị trường trong nước, chưa có kế hoạch thâm nhập thị trường nước ngoài, đặc biệt là trong khu vực ASEAN. – Mặc dù đã có 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động trên thị trường BHPNT, song hoạt động của các doanh nghiệp này chủ yếu mới dừng lại ở việc thu xếp bảo hiểm, đặc biệt là các DNMGBH trong nước. Khối lượng dịch vụ khai thác qua môi giới bảo hiểm cũng còn chiếm tỷ trọng nhỏ. (4) Thị trường phát triển chưa mang tính chuyên nghiệp Thị trường BHPNT thời gian qua mới chỉ được chú trọng phát triển về mặt số lượng mà chưa được quan tâm đầy đủ về mặt chất lượng. Các DNBH chủ yếu cạnh tranh bằng cách hạ phí, mở rộng điều khoản thái quá, sử dụng sức ép hành chính để ép mua bảo hiểm và trả hoa hồng quá cao. Trong khi đó các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm thông qua hoàn thiện các khâu khai thác, giám định bồi thường chưa được chú trọng đúng mức.
    10. 18. 18 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM 3.1 ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020 3.1.1 Những thuận lợi và khó khăn 3.1.1.1 Thuận lợi Về kinh tế: Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001- 2010, Việt Nam đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lược 2001-2010 đã được thực hiện, đạt bước phát triển mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Đây là những điều kiện tiền đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường BHPNT ở tất cả các loại hình bảo hiểm: tài sản, TNDS, con người. Về văn hóa-xã hội: Trên cơ sở xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật; dự kiến đến năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sĩ và 26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5- 2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm. Thực tế này sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển của thị trường BHPNT nước ta. Về kinh tế quốc tế: Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế nước nhà sẽ giúp các DNBH trong nước sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với các đối tác là tổ chức kinh doanh bảo hiểm nước ngoài có uy tín, có kinh nghiệm, có tiềm lực tài chính mạnh để hợp tác chuyển giao công nghệ, tăng cường năng lực tài chính, chuyển nhượng tái bảo hiểm và phát triển hoạt động kinh doanh 3.1.1.2 Khó khăn Về kinh tế: Sự phát triển chưa đồng bộ, chưa có sự gắn kết giữa các mảng thị trường tài chính Việt Nam cũng sẽ có những tác động tiêu cực tới sự phát triển của thị trường BHPNT. Một khi chính sách lãi suất còn chưa ổn định; chính sách phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP) còn bất cập; tổ chức niêm yết và giao dịch chứng khoán trên thị trường upcom chưa hiệu quả, thị trường TPCP chưa chuyên biệt hóa;… sẽ ảnh hưởng hoạt động đầu tư của các DNBH, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đến kết quả và hiệu quả kinh doanh chung của DNBH. Về văn hóa xã hội: Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm
    11. 19. 19 ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia. Những điều này sẽ tiềm ẩn những nguy cơ đe dọa tới sự ổn định và hiệu quả kinh doanh của các DNBH. Về kinh tế quốc tế: Việc thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bảo hiểm nói chung, thị trường BHPNT nói riêng sẽ tạo áp lực cạnh tranh ngày càng tăng đối với các DNBH trong nước. Năng lực hoạt động của các DNBH trong nước còn nhiều hạn chế, khả năng tài chính chưa thực sự vững mạnh, công nghệ quản trị điều hành còn lạc hậu, trình độ đội ngũ cán bộ bảo hiểm chưa cao và thiếu kinh nghiệm thực tiễn,… là các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các DNBH này. 3.1.2 Mục tiêu phát triển thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Theo dự thảo Chiến lược, mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm nói chung, thị trường BHPNT nói riêng trong giai đoạn tới dự kiến đặt ra như sau: Mục tiêu chung: Chiến lược phát triển TTBH Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cần đạt được các mục tiêu cơ bản sau: – Thị trường bảo hiểm tiếp tục phát triển toàn diện, bền vững, đóng góp quan trọng vào sự ổn định và tăng trưởng kinh tế đất nước; phát huy mạnh mẽ vai trò là tấm lá chắn an toàn của nền kinh tế-xã hội trước các nguy cơ rủi ro và là kênh huy động vốn hữu hiệu cho đầu tư phát triển. – Thị trường bảo hiểm phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn và định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng bộ với sự phát triển của các thị trường dịch vụ tài chính khác; tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm trong khu vực và trên thế giới. – Nhà nước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và thực hiện quản lý thị trường bảo hiểm bằng pháp luật, phát huy vai trò của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam nhằm tạo nền tảng và động lực cho các DNBH, DNMGBH phát triển. Mục tiêu cụ thể: – Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm, nâng cao tỷ trọng dịch vụ bảo hiểm trên GDP: Nâng tỷ trọng đóng góp của ngành bảo hiểm trong GDP lên khoảng 3% năm 2021 và 4% năm 2021. Theo như cơ cấu hiện nay, BHPNT sẽ đóng góp khoảng một nửa (1,5% vào năm 2021 và 2% vào năm 2021) Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm đạt 18-20% trong giai đoạn 2011-2020, trong đó: tăng trưởng bảo hiểm phi nhân thọ bình quân đạt 29-30%; tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ bình quân đạt 16-18%; tăng trưởng môi giới bảo hiểm bình quân đạt 20-25%, tỷ trọng phí bảo hiểm (phi nhân thọ) được thu xếp qua môi giới chiếm 20%. – Ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội Đáp ứng yêu cầu bồi thường và trả tiền bảo hiểm nhanh chóng và đầy đủ, bảo đảm ổn định tài chính cho nền kinh tế và cuộc sống dân cư trước các rủi ro. Phấn đấu nâng tổng nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 150.000 tỷ đồng vào năm 2021 (tăng khoảng 2 lần so với năm 2010) và đạt 300.000 tỷ đồng vào năm 2021 (tăng khoảng 3,5 lần so với năm 2010). Theo như cơ cấu trong những năm qua, thị trường BHPNT sẽ đóng góp khoảng gần 50%, còn lại là của thị trường BHNT. – Tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu cho ngân sách nhà nước Tiếp tục mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm một cách sâu rộng, qua đó góp phần tạo thêm việc làm cho xã hội. Theo số liệu mà luận án có được từ Tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, một số chỉ tiêu dự báo về thị trường BHPNT, trong đó có dự báo về nguồn nhân lực bảo hiểm
    12. 22. 22 những chính sách điều chỉnh phù hợp, kịp thời. 3.3.3 Nâng cao năng lực quản lý và giám sát bảo hiểm của Nhà nƣớc Nâng cao năng lực quản lý và giám sát nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhằm mục đích đảm bảo thị trường hoạt động và phát triển theo đúng các quy định pháp luật, các định hướng phát triển thị trường đã được đặt ra. Công tác quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm cần phải được thực hiện toàn diện, trên cơ sở nền tảng pháp luật có vận dụng kết hợp các loại công cụ quản lý, giám sát khác. Việc quản lý giám sát phải dựa trên hệ thống các chỉ tiêu khách quan, phù hợp với yêu cầu thực tiễn kinh doanh bảo hiểm của nước ta và các nguyên tắc chuẩn mực quốc tế. Để làm được những điều trên, năng lực quản lý của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm cần phải được tăng cường trên tất cả các mặt: trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý, trình độ tổ chức bộ máy quản lý, trình độ và khả năng áp dụng công nghệ thông tin quản lý. Cụ thể: – Nâng cao trình bộ chuyên môn của cán bộ quản lý nhà nước – Tăng cường quản lý nhà nước thông qua công tác giám sát từ xa và giám sát tại chỗ – Hoàn thiện mô hình quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm 3.3.4 Nâng cao năng lực bảo hiểm của các DNBH Việc nâng cao năng lực bảo hiểm cho các DNBH cần phải được thực hiện đồng bộ trên các mặt: – Nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn – Chú trọng đến công tác quản lý rủi ro – Phát triển sản phẩm bảo hiểm mới – Mở rộng địa bàn hoạt động và đa đạng hóa kênh phân phối – Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền – Nâng cao chất lượng dịch vụ ở từng khâu triển khai nghiệp vụ – Nâng cao trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực 3.3.5 Nâng cao vai trò của Hiệp hội bảo hiểm – Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả với cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm – Sử a đổi, bổ sung Điều lê ̣Hiê ̣p hội bảo hiểm Viê ̣t Nam cho phù hợp với điều kiện mới – Nghiên cứu đến năm 2021 có thể tách riêng Hiệp hội các nhà bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ và môi giới bảo hiểm 3.3.6 Nâng cao nhận thức của ngƣời dân về bảo hiểm Với một thị trường bảo hiểm đầy tiềm năng nhưng tỷ lệ được khai thác thấp (bảng số liệu 2.23) có một phần lý do quan trọng là do nhận thức của người dân về bảo hiểm chưa có hoặc có nhưng không đầy đủ, trong khi bảo hiểm là một sản phẩm dịch vụ “khó”. Phần lớn lỗi ở đây thường được cho là do các DNBH chưa làm tốt công tác thông tin tuyên truyền vì họ là người cung cấp dịch vụ bảo hiểm. Tuy nhiên, nếu nói như vậy là một chiều, bởi bản thân khách hàng, với tư cách là người tiêu dùng, cũng phải tự trang bị kiến thức và có sự hiểu biết để tiêu dùng một cách khôn ngoan nhất. Chính vì vậy, nâng cao nhận thức của người dân về bảo hiểm một mặt là nhiệm vụ quan trọng của các DNBH, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam; mặt khác cũng là trách nhiệm và quyền lợi của bản thân người dân với tư cách là người tiêu dùng. Lúc này vai trò của Hiệp hội người tiêu dùng, của các hội ngành nghề (như hiệp hội các nhà XNK trong việc mua bảo hiểm hàng hóa XNK), của các tổ chức hội
    13. 23. 23 đoàn thể (như hội phụ nữ, hội nông dân) trong việc giáo dục kiến thức bảo hiểm là rất quan trọng. 3.3.7 Giải pháp khác Phát triển thị trường BHPNT phải gắn liền với phát triển “cầu” của thị trường là tất yếu khách quan. Trong khi đó, “cầu” của thị trường phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế-xã hội chung của đất nước và điều kiện cụ thể của từng khách hàng. Với khách hàng cá nhân, đó là điều kiện hoàn cảnh gia đình như thu nhập, số con, độ tuổi con cái, nghề nghiệp, học thức…Với khách hàng là tổ chức đó là đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực của tổ chức, tư duy của người lãnh đạo…Chính vì vậy, phát triển kinh tế nước nhà là tiền đề quan trọng để kích “cầu” trên thị trường. Hoạt động của thị trường BHPNT có thể nói phục vụ cho mọi hoạt động của nền kinh tế: hoạt động XNK có bảo hiểm hàng hóa XNK; hoạt động giao thông vận tải có bảo hiểm máy bay, bảo hiểm tàu hỏa, bảo hiểm xe cơ giới; hoạt động xây dựng lắp đặt có bảo hiểm xây dựng lắp đặt…Chính vì vậy sự phối kết hợp giữa ngành bảo hiểm với các ngành nghề trong nền kinh tế là cần thiết. Sự phối kết hợp có hiệu quả sẽ đem lại nhiều lợi ích: lợi ích cho ngành bảo hiểm, lợi ích cho người mua bảo hiểm và lợi ích quốc gia.
    14. 24. 24 KẾT LUẬN Với đề tài nghiên cứu “Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam”, luận án đã đạt được những kết quả chủ yếu sau: (1) Hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ gồm: Tổng quan về bảo hiểm thương mại và BHPNT; thị trường BHPNT, đặc điểm và cấu trúc hoạt động của thị trường BHPNT; các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường BHPNT; hệ thống các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của thị trường BHPNT; và một số bài học kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường BHPNT. Đây là cơ sở lý luận cho việc phân tích thực trạng phát triển của trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn 1994-2004. Có thể nói, đóng góp mới quan trọng của luận án về mặt lý luận là nghiên cứu và trình bày được các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường BHPNT, và hệ thống chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của thị trường BHPNT (2) Phân tích thực trạng phát triển thị trường BHPNT Việt Nam giai đoạn 2006- 2010. Mặc dù có nhiều biến động, đặc biệt là sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhưng nhìn chung các điều kiện kinh tế xã hội Việt nam vẫn khá thuận lợi cho sự phát triển của thị trường BHPNT: GDP và thu nhập bình quân đầu người vẫn tăng qua các năm, kim nghạch XNK, giá trị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp tăng liên tục… Nhìn chung thị trường BHPNT Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể trong thời gian qua: số lượng DNBH cuối năm 2010 là 30 doanh nghiệp (29 DNBH gốc và 01 doanh nghiệp TBH), tốc độ tăng trưởng phí bình quân 5 năm qua là 25%/năm, ngành bảo hiểm đã đáp ứng một phần nhu cầu đa dạng và ngày càng tăng của thị trường về các loại hình dịch vụ bảo hiểm, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước. Tuy nhiên thị trường BHPNT nước ta trong thời gian qua cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế: (1) Quy mô thị trường còn nhỏ bé, chưa khai thác hết tiềm năng, (2) Thị trường đang tiềm ẩn những yếu tố rủi ro mất ổn định, (3) Thị trường phát triển chưa cân đối và đồng bộ, và (4) Thị trường phát triển chưa mang tính chuyên nghiệp. Luận án cũng trình bày và phân tích 6 nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại này. – Trên cơ sở định hướng phát triển thị trường BHPNT đến năm 2021, luận án xây dựng 3 quan điểm định hướng cho những giải pháp đưa ra nhằm phát triển thị trường đến năm 2021. Các giải pháp luận án đưa ra gồm: (1) Hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, (2) Xây dựng và ban hành Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020; xây dựng các chính sách, các đề án, các chương trình bảo hiểm vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội quốc gia, (3) Nâng cao năng lực quản lý và giám sát bảo hiểm của Nhà nước, (4) Nâng cao năng lực bảo hiểm của các DNBH, (5) Nâng cao vai trò của Hiệp hội bảo hiểm, (6) Nâng cao nhận thức của người dân về bảo hiểm, (7) Giải pháp khác Mặc dù đã cố gắng học tập và nghiên cứu, song luận án không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót như không thực hiện được điều tra, khảo sát, các số liệu thị trường chưa hoàn toàn đầy đủ do Việt Nam không có số liệu thống kê… Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu để luận án được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Thị Trường Tiền Tệ
  • Thị Trường Xuất Khẩu Nông Sản Việt Nam
  • Tìm Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Nông Sản Việt Nam
  • Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Nông Sản Sạch
  • Năm Giải Pháp Trọng Tâm Để Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Năm 2021
  • Giải Pháp Sáng Tạo Cho Chiến Lược Marketing Mùa Tết 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Quản Trị Chiến Lược Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Khách Sạn Golden Sun Palace
  • Sản Phẩm Và Chiến Lược Sản Phẩm
  • Trung Tam Thong Tin Va Du Bao Kinh Te
  • Tài Liệu Luận Án Nghiên Cứu Giải Pháp Xử Lý Rơm Nhằm Cải Thiện Môi Trường Đất Trồng Lúa Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • Giải Pháp Nào Cải Thiện Ô Nhiễm Môi Trường Ở Hà Nội Và Tp Hồ Chí Minh?
  • Tết Nguyên Đán là thời điểm người dùng TikTok hoạt động sôi nổi nhất trong năm, với lượt xem video tăng 196% so với ngày thường. Trong dịp Tết 2021, chiến dịch “Dọn Nghiệp Thoát Ế” với lối kể chuyện phá cách đã gây được sự chú ý, đạt hơn 24 triệu lượt xem trên TikTok và 1,4 triệu lượt tương tác trên các nền tảng mạng xã hội khác. Năm 2021, series “Hành trình Tết” lại tiếp tục tạo dấu ấn chỉ trong 15 ngày với 6 xu hướng nổi bật: #demianTet (để Mị ăn Tết), #choiTet (chơi Tết), #samtet (sắm Tết), #antet (ăn Tết), #boiTet (bói Tết) và #toingayTet (tôi ngày Tết). Những nhãn hàng liên kết với TikTok cũng thu được nhiều thành tựu đáng kể, trong đó chiến dịch #phieucungxechat của Vinfast tận dụng môi trường ảo để mang lại trải nghiệm lái thử xe điện cho người dùng đã thu về hơn 200 triệu lượt xem, 101 ngàn video tham gia. Đây chính là cơ sở cho thấy năm 2021, TikTok tiếp tục sẽ là nền tảng lên ngôi để trở thành một lựa chọn tối ưu của các marketer.

    Từ công thức vàng cho chiến dịch Marketing Tết 2021…

    Sau khi đã chọn được nền tảng để “chọn mặt gửi KPI” như TikTok, các chiến dịch truyền thông muốn nổi bật trong mùa Tết 2021 này cần đảm bảo được 4 yếu tố sau:

    1/ Gây ấn tượng bằng DẤU ẤN THƯƠNG HIỆU – nhằm khẳng định tên tuổi thương hiệu cũng như tạo ra sự khác biệt của thương hiệu đối với người tiêu dùng. Hiện nay, TikTok cung cấp những chiến dịch như tạo ra các bộ lọc hình ảnh cho riêng thương hiệu, hỗ trợ lan truyền các chiến dịch của thương hiệu đến với người dùng nhanh chóng.

    2/ Lan toả CÂU CHUYỆN Ý NGHĨA. Sau một năm chịu ảnh hưởng từ đại dịch và thiên tai, những câu chuyện ý nghĩa, nhân văn, tích cực sẽ được người dùng đón nhận mạnh mẽ. Thực tế, các chiến dịch cộng đồng trên TikTok như #Thankyouhero #Vudieuruatay rất được người dùng hưởng ứng và tương tác với số lượt xem video rất cao.

    3/ Thêm thắt YẾU TỐ HÀI HƯỚC. Năm 2021, top các chiến dịch Tết nổi bật nhất trên social media (theo Younet Media) như “Lắc xì Momo” cùng sự tham gia của danh hài Trấn Thành hay “Ai chuyện cũ bán không” với màn trình diễn duyên dáng của Trúc Nhân đều mang các yếu tố hài hước, vui vẻ. Đây chính là điểm khiến người tiêu dùng có thể xem đi xem lại một TVC hay tương tác nhiều hơn với thương hiệu.

    4/ Sáng tạo TRẢI NGHIỆM TƯƠNG TÁC. Đây sẽ là một yếu tố lên ngôi trong Tết 2021 này, khi việc đi lại, du lịch bị hạn chế, người dùng có xu hướng tương tác online nhiều hơn. Những ứng dụng công nghệ để tương tác hay các social challenge nên được cân nhắc để đưa vào chiến dịch truyền thông nhằm tận dụng sự thay đổi trong hành vi của người dùng hiện đại, cũng như tạo ra mối liên kết sâu sắc với họ.

    Đến CHILL TET – giải pháp sáng tạo cho mùa Tết 2021

    Mang những ưu điểm độc nhất chỉ có thể tìm thấy tại TikTok, CHILL TET là nơi thể hiện các giá trị truyền thống, các câu chuyện ý nghĩa một cách phá cách và sáng tạo. Với thử thách ảo #naucoratchill, những món ăn đặc trưng ngày Tết được biến hoá thú vị và được thiết kế theo dấu ấn đặc trưng của thương hiệu. Nhãn hàng và người dùng cũng có thể cùng trân quý khoảng thời gian và khoảnh khắc bên cạnh nhau ngày Tết với #chillcungnhau hay #bandnaychillphet. Ngoài ra, phong tục “xin xăm” để các nhãn hàng gửi lời chúc đến người tiêu dùng cũng có thể được lột tả sáng tạo với hashtag #chillgiduocnay.

    Với việc thấu hiểu suy nghĩ của khách hàng và khả năng nắm bắt xu hướng nhạy bén, CHILL TET của TikTok chính là giải pháp sáng tạo giúp doanh nghiệp và chiến dịch truyền thông nổi bật, mang đến nhiều kỳ vọng khả quan cho các nhãn hàng trong dịp Tết Nguyên đán đặc biệt sắp đến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 Chiến Lược Marketing Tối Ưu Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • Tuyển Nhân Viên Pháp Lý Nguồn Tại Công Ty Tnhh Giải Pháp Chiến Lược Leto, Việc Làm
  • Tuyển Nhân Viên Pháp Chế Doanh Nghiệp Làm Việc Tại Công Ty Tnhh Giải Pháp Chiến Lược Leto
  • Tuyển Nhân Viên Pháp Chế Doanh Nghiệp Tại Công Ty Tnhh Giải Pháp Chiến Lược Leto
  • Đề Tài: Hoàn Thiện Chiến Lược Xúc Tiến Hỗn Hợp Trong Hoạt Động Marketing Vận Tải Đường Biển, Hay
  • Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Kết Quả Học Tập, Điểm Cao, Hot 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tham Luận Một Số Biện Pháp Nâng Cao Kết Quả Học Tập Của Sinh Viên
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Công Nghệ Sao Vàng Svc
  • Hạn Chế Ô Nhiễm Môi Trường Từ Rác Thải Nhựa
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Kỹ Thuật Ata
  • Luận Văn Luận Văn Thực Trạng Và Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nhập Khẩu Nguyên Vật Liệu Của Công Ty Tnhh Kỹ Thuật Công Nghiệp Việt Nam
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH …..…. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HOÁ HỌC Chuyên ngành : PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Đề tài NGHIÊN CỨU VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH YẾU MÔN HOÁ HỌC LỚP 10 THPT GVHD : chúng tôi TRỊNH VĂN BIỀU SVTH : LÊ THỊ THANH TRUYỀN TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 05 năm 2013
    2. 2. LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian thực hiện khoá luận , do chưa quen việc, tôi đã gặp không ít khó khăn. Được sự hướng dẫn nhiệt tình, quan tâm, động viên của chúng tôi Trịnh Văn Biều – người thầy trực tiếp hướng dẫn đề tài này, tôi đã hoàn thành công việc đúng như dự kiến. Do vậy, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến với thầy, chúc thầy sức khoẻ và luôn thành công trong cuộc sống. Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các thầy cô ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã nhiệt tình đóng góp ý kiến cho đề tài. Cảm ơn các thầy cô và các em học sinh lớp 10 trường THPT Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đã giúp tôi thực nghiệm đề tài này. Tôi cũng gởi lời cảm ơn các bạn sinh viên lớp Hoá Kiên Giang đã giúp tôi thực hiện phiếu điều tra một cách nhanh chóng. Tôi xin trân trọng gửi đến quý thầy cô cùng tất cả mọi người lòng biết ơn sâu sắc nhất. Dù đã hết sức cố gắng, chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè để đề tài hoàn thiện hơn. chúng tôi 05/2013
    3. 4. 2.2.1. Biện pháp 1: Giáo dục ý thức học tập cho HS…………………………………..64 2.2.2. Biện pháp 2: Sử dụng các quy luật trí nhớ ……………………………………….66 2.2.3. Biện pháp 3: Kiểm tra một cách thường xuyên liên tục……………………..67 2.2.4. Biện pháp 4: Lấp lỗ hổng và hệ thống hoá kiến thức…………………………68 2.2.5. Biện pháp 5: Gây hứng thú học tập …………………………………………………69 2.2.6. Biện pháp 6: Sử dụng bài tập một cách có hiệu quả…………………………..70 2.2.7. Biện pháp 7: Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực…………………..71 2.2.8. Biện pháp 8: Hướng dẫn học sinh phương pháp học …………………………72 2.2.9. Biện pháp 9: Lên kế hoạch phụ đạo…………………………………………………72 2.3. Vận dụng các biện pháp trong một số bài lên lớp hóa học 10 THPT …………74 2.3.1. Giáo án bài : LUYỆN TẬP:PHẢN ỨNG OXI HOÁ-KHỬ ……………………….74 2.3.2. Giáo án bài : CLO…………………………..78Error! Bookmark not defined. 2.3.3. Giáo án bài : HIĐROCLORUA-AXIT CLOHIĐRIC-MUỐI CLORUA……….81 2.3.4. Giáo án bài : LƯU HUỲNH……………………………………………………………..84 2.3.5. Giáo án bài : HIDRO SUNFUA – LƯU HUỲNH ĐIOXIT – LƯU HUỲNH TRIOXIT ………………………………………………………………………………………………89 2.3.6. Giáo án bài : AXIT SUNFUARIC -MUỐI SUNFAT………………………………92 Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………………………………………..97 3.1. Mục đích thực nghiệm…………………………………………………………………………97 3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm………………………………………………………………………..97 3.3. Đối tượng thực nghiệm………………………………………………………………………..97 3.4. Tiến hành thực nghiệm………………………………………………………………………..97 3.5. Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm………………………………………………..98 3.6. Kết quả thực nghiệm …………………………………………………………………………..99 3.7. Phân tích kết quả thực nghiệm ………………………………………………………….. 102 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………..103 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
    4. 5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BP : Biện pháp BTH : Bảng tuần hoàn CTe : Công thức electron CTCT : Công thức cấu tạo CNH : Công nghiệp hóa CNTT : Công nghệ thông tin ĐC : Đối chứng GV : Giáo viên HS : Học sinh HSTBY : Học sinh trung bình yếu LLDH : Lý luận dạy học NXB : Nhà xuất bản PP : Phương pháp PPDH : Phương pháp dạy học PTDH : Phương tiện dạy học QTDH : Quá trình dạy học SBT : Sách bài tập SGK : Sách giáo khoa THPT : Trung học phổ thông TN : Thực nghiệm TNSP : Thực nghiệm sư phạm VD : Ví dụ
    5. 6. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Các phương pháp dạy học hóa học cơ bản………………………………………… 21 Bảng 1.2: So sánh trắc nghiệm khách quan và tự luận….. ………………………………….. 35 Bảng 1.3 : Danh sách giáo viên tham gia thực hiện phiếu điều tra ……………………… 49 Bảng 1.4 :Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập môn hoá học …………………….. 50 Bảng 1.5:Đặc điểm của HSTBY môn hoá ……………………………………………………….. 51 Bảng 1.6 :Nguyên nhân dẫn đến học yếu môn hoá học……………………………………… 52 Bảng 1.7 :Các biện pháp để tăng hiệu quả dạy học …………………………………………… 53 Bảng 1.8: Ý kiến của HS về sự yêu thích đối với việc học môn hóa học……………… 53 Bảng 1.9: Mức độ yêu thích của HS đối với việc giải bài tập môn hóa học………….. 54 Bảng 1.10: Mức độ yêu thích của HS đối với các môn học tự nhiên…. ……………….. 54 Bảng 1.11: Khả năng hiểu lý thuyết và vận dụng giải bài tập hóa học của HS……… 55 Bảng 1.12: Mức độ tập trung chú ý của HS khi thầy cô giải bài tập hóa học………… 55 Bảng 2.1 : Mẫu danh sách học sinh phụ dao……………………………………………………. 73 Bảng 3.1: Danh sách các lớp thực nghiệm – đối chứng……………………………………. 97 Bảng 3.2: Bảng phân phối điểm số của các lớp TN-ĐC…………………………………… 100 Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất ….. ………………………………………………………….. 100 Bảng 3.4: Bảng phân phối tần suất tích luỹ…… ………………………………………………. 100 Bảng 3.5: Bảng phân loại kết quả kiểm tra…………………………………………………….. 101 Bảng 3.6: Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng….. ………………………………………… 102
    6. 7. DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra cặp ĐC1 – TN2…………………………. 101 Hình 3.2: Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra cặp ĐC2 – TN2…………………………. 102 Hình 3.3: Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra cặp ĐC1 – TN1… …………………….. 103 Hình 3.4: Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra cặp ĐC2 – TN2… …………………….. 103
    7. 10. 3 7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7.1. Về nội dung: chương trình hóa học lớp 10 ở trường trung học phổ thông. 7.2. Về địa bàn nghiên cứu: trường THPT Vĩnh Thuận- huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang 7.3. Về thời gian: học kì 2 năm học 2012 – 2013 8. ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI – Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập cho HSTBY môn hóa lớp 10 THPT. – Thiết kế một số giáo án vận dụng các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập cho HSTBY môn hoá học lớp 10.
    8. 12. 5 10.Phạm Thế Nhân (1999), Nội dung và biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường phổ thông trung học một số tỉnh miền núi, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội. 11.Đặng Thị Thanh Bình (2006), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học bồi dưỡng học sinh khá giỏi lớp 10 THPT, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội. 12.Nguyễn Vũ Cẩm Thạch (2008), Nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học lớp 11 thông qua việc xây dựng blog hóa học, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. 13. Lê Tấn Diện (2009), Nội dung và biện pháp bồi dưỡng HS giỏi hóa học hữu cơ THPT, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. 14. Phạm Thị Thanh Nhàn (2009), Vận dụng phương pháp dạy học phức hợp để thiết kế bài lên lớp nhằm nâng cao chất lượng dạy học những nội dung mới Hóa học 12 THPT, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. 15.Trần Thị Thanh Hà (2011), Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm nâng cao năng lực tự học cho HSG hóa lớp 12, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. 16.Trương Thị Lâm Thảo (2011), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần hiđrocacbon lớp 11 THPT, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. 17.Nguyễn Anh Duy (2011), Những biện pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn hoá lớp 10 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ , Đại Học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. 18.Nguyễn Thị Tuyết Trang (2012), Một số biện pháp giúp học sinh trung bình yếu học tốt môn hoá học phần hidrocacbon lớp 11- ban cơ bản, Luận văn thạc sĩ, Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh. Nhìn chung các tác giả đã đưa ra rất nhiều biện pháp phong phú, đa dạng để bồi dưỡng học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học. Tuy nhiên trong các đề tài theo hướng nghiên cứu trên, phần lớn là về học sinh giỏi hoặc trung bình, số nói về HSTBY thì vẫn còn ít.
    9. 13. 6 1.2. Một số vấn đề về dạy học 1.2.1. Khái niệm học Tác giả Phan Trọng Ngọ trong tài liệu “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” Quá trình dạy học là hệ thống những hành động của GV và HS, dưới sự hướng dẫn của GV, HS tự giác nắm vững những hệ thống cơ sở khoa học, phát triển được năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và phẩm chất nhân cách. Dạy và học là một hoạt động kép bao gồm dạy (do thầy đảm nhận) và học (do trò đảm nhận) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy và học. GV giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của HS. HS giữ vai trò tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học của bản thân. Hoạt động dạy và học là một hệ thống toàn vẹn gồm 4 nhân tố: Học (HS) – Dạy (GV) – Kiến thức (nội dung) – Mội trường (những điều kiện dạy học cụ thể). Các nhân tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học không tồn tại rời rạc bên nhau mà luôn có tác động qua lại lẫn nhau, quy định lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau để mỗi yếu tố hoàn thành chức năng của mình trong tác động dạy học. HỌC (học sinh) DẠY (giáo viên) MÔI TRƯỜNG KIẾN THỨC Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy học 1.2.4. Nhiệm vụ của quá trình dạy học * Nhiệm vụ trí dục của môn hóa học là cung cấp cho HS hệ thống các kiến thức, kĩ năng cơ bản về hóa học, hình thành cho các em phương pháp nghiên cứu khoa học. − Hệ thống các kiến thức cơ bản về hóa học: + Các khái niệm hóa học cơ bản và ngôn ngữ hóa học. + Hệ thống kiến thức về cấu tạo chất. + Hệ thống kiến thức về phản ứng hóa học. + Các định luật hóa học cơ bản. + Kiến thức về dung dịch và các quá trình xảy ra trong dung dịch. + Kiến thức về sự phân loại các chất và các chất cụ thể. + Trang bị cho HS những kiến thức kỹ thuật tổng hợp. − Hệ thống các kĩ năng cơ bản về hóa học: + Kĩ năng tiến hành thí nghiệm. + Kĩ năng vận dụng kiến thức. + Kĩ năng phân tích, tổng hợp. + Kĩ năng giải bài tập. − Hình thành cho các em phương pháp nghiên cứu khoa học.  Nhiệm vụ đức dục của môn hóa học là phát triển năng lực nhận thức, góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, thế giới quan cho HS. − Giúp HS hình thành thế giới quan. − Nâng cao nhận thức của HS về vai trò, nhiệm vụ của hóa học.
    10. 16. 9 − Góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, lao động. 1.2.6. Các quy luật học tập Trong quá trình xây dựng các mô hình dạy học, các nhà tâm lý học hành vi đã xác định được khá nhiều quy luật học tập. Trong đó có bốn quy luật quan trọng: quy luật tâm thế, quy luật luyện tập, quy luật di chuyển và quy luật hiệu quả. 1.2.6.1. Quy luật tâm thế Tâm thế là khi cá thể người và động vật sẵn sàng hình thành các mối liên hệ là điều gì đó, một cách dễ chịu hay không làm điều gì đó khó chịu. Sự sẵn sàng tâm lý (tâm thế) là điều kiện quan trọng của việc học, vì sự hài lòng hay hẫng hụt phụ thuộc vào trạng thái sẵn sàng của cá nhân. Nhà trường không thể buộc học viên học, nếu chúng không được chuẩn bị về mặt tâm lý hay sinh lý. 1.2.6.2. Quy luật luyện tập Bất kỳ một phản ứng nào được hình thành, cũng cần có luyện tập. Tuy nhiên, trong các nhà hành vi có nhiều cách hiểu về quy luật này. E.L.Thorndike và các nhà hành vi cổ điển coi trọng việc luyện tập các phản ứng bằng cách củng cố các mối liên hệ giữa S (kích thích) với R (phản ứng). Mối liên hệ nào cũng được tăng cường tỷ lệ thuận với số lượng thời gian nó xuất hiện và tỷ lệ thuận với sức mạnh trung bình và khoảng thời gian liên hệ. Ngược lại, khi mối liên hệ không được thực hiện giữa kích thích và phản ứng (giữa S và R) trong một khoảng thời gian thì sức mạnh của mối lien hệ giảm sút. E.C.Tolman quan tâm tới việc luyện tập các mốc, các sơ đồ nhận thức: A.Bandura quan tâm củng cố nhận thức các mô hình biểu tượng về hành vi mẫu. Còn B.Skinner hướng việc luyện tập các phản ứng thông qua hệ thống củng cố tinh vi: khen thưởng và trách phạt. 1.2.6.3. Quy luật di chuyển liên tưởng Nếu trong điều kiện hành động đồng thời của các tác nhân kích thích, một trong số đó gây ra tác nhân phản ứng thì những kích thích khác cũng có khả năng gây ra chính những phản ứng đó. 1.2.6.4. Quy luật hiệu quả E.L.Thorndike đã phát biểu quy luật hiệu quả như sau: “Bất kỳ hành động nào trong tình huống đã cho gây ra sự thỏa mãn gắn liền với tình huống đó, nếu tình huống lại xuất hiện, thì sự xuất hiện hành động đó có xác suất lớn hơn so với trước
    11. 18. 11 *Miaxisep: “Hứng thú chính là thái độ nhận thức tích cực”. *Sukina: “Hứng thú là xu hướng của ý nghĩa, tư tưởng…muốn hiểu biết sự vật”. Hứng thú nhận thức là xu hướng lựa chọn của cá nhân nhằm vào lĩnh vực nhận thức, nhằm vào nội dung của nó và quá trình tiếp thu kiến thức. Hứng thú có tính chất lự̣a chọn. – Đặc điểm đặc trưng của hứng thú nhận thức là xu thế con người đi sâu vào bản chất của đối tượng nhận thức mà không dừng lại ở bề ngoài của hiện tượng. – Hứng thú nhận thức là cái tạo ra động cơ quan trọng nhất của hoạt động. – Hứng thú đòi hỏi con người phải hoạt động tích cực, tìm tòi hoặc sáng tạo. *Carroll-E.lzad: – Hứng thú là hình thức biểu hiện thường xuyên nhất của xúc động. Hứng thú là một trong những cảm xúc nền tảng của con người: hứng thú, vui sướng, ngạc nhiên, đau khổ, căm giận, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi. Hứng thú là cảm xúc tích cực được trải nghiệm thường xuyên nhất. – Hứng thú là một trong những cảm xúc bẩm sinh cơ bản và là cảm xúc chiếm ưu thế trong tất cả các cảm xúc của con người. Hứng thú là nguồn quan trọng của hệ động cơ. Hứng thú là nền tảng của hệ động cơ có tính chất cực kỳ quan trọng đối với các hoạt động nói chung và hoạt động nhận thức nói riêng. 1.3.2.2. Tác dụng của hứng thú – Hứng thú duy trì trạng thái tỉnh táo của cơ thể. Hứng thú làm cho con người phấn chấn vui tươi, làm việc lâu mệt mỏi. Chỉ khi nào có hứng thú thì sự cố gắng mới được bền bỉ. Hứng thú làm cho quá trình dạy học trở nên hấp dẫn. – Hứng thú cho phép con người duy trì sự chú ý thường xuyên. – Hứng thú làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ (quy luật hướng đích và quy luật ưu tiên). – Hứng thú tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động. Theo Alecxêep:”Chỉ có hứng thú đối với một hoạt động nào đó mới đảm bảo cho hoạt động ấy được tích cực. – Hứng thú là động cơ chiếm ưu thế trong hoạt động hàng ngày của con người. Hứng thú là hệ động cơ duy nhất có thể duy trì được công việc hàng ngày một cách
    12. 19. 12 bình thường. Hứng thú ảnh hưởng đến tính chất, diễn biến và kết quả của hoạt động. Hứng thú làm cho hiệu quả của hoạt động được nâng cao. – Cảm xúc hứng thú tham gia điều khiển tri giác và tư duy. Hứng thú điều khiển hoạt động định hướng. Chính cảm xúc hứng thú cùng với các cấu trúc và định hướng nhận thức quyết định phương hướng của tri giác, nhận thức và hành động. – Hứng thú tạo cơ sở động cơ cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo. Hứng thú có vai trò trung tâm trong các hoạt động sáng tạo. – Hứng thú là hệ động cơ cực kỳ quan trọng trong sự phát triển các kỹ năng, kỹ xảo và trí tuệ. – Hứng thú rất cần thiết với sự phát triển nhân cách, phát triển tri giác và nhận thức. – Hứng thú có vai trò quan trọng trong sự phát triển cuộc sống xã hội và duy trì các quan hệ giữa các cá nhân. Hứng thú cũng giúp duy trì các quan hệ tình dục và gia đình. 1.3.2.3. Một số biện pháp gây hứng thú trong dạy học *Gây hứng thú bằng cái mới lạ: – Những điều mới lạ, những khác biệt với cái thông thường của nội dung kiến thức. – Cách nhìn mới đối với kiến thức. Một kiến thức quen thuộc nhưng có thể phát hiện ra trong đó những nét mới nếu chúng ta quan sát nó dưới một góc độ khác, một cách nhìn khác, hoặc nghiên cứu nó một cách sâu sắc hơn. *Gây hứng thú bằng sự phong phú đa dạng, luôn thay đổi: – Sự đa dạng về phương pháp dạy học. – Sự đa dạng về hình thức tổ chức dạy học … *Gây hứng thú bằng sự bất ngờ, ngạc nhiên. *Gây hứng thú bằng tính chất phức tạp, khó khăn, mạo hiểm, có vấn đề của kiến thức. Cho học sinh tham gia những hoạt động sáng tạo: nghiên cứu, tìm tòi, khám phá kiến thức. *Gây hứng thú bằng sự bí ẩn, bí mật, kích thích tính tò mò (ví dụ: khi kể lại lịch sử của các tên gọi, phát minh…).
    13. 20. 13 *Gây hứng thú bằng sự lợi ích, thiết thực, những hình ảnh tưởng tượng đến kết quả của công việc. Theo Bruner thì: “Chúng ta hứng thú với những công việc nào mà chúng ta thực hiện có kết quả tốt”. Học sinh hứng thú sau khi giải xong một bài tập khó. *Gây hứng thú bằng sự thỏa mãn nhu cầu, đem lại cảm giác thú vị, dễ chịu. *Gây hứng thú bằng cách tác động vào ý thức, tình cảm. – Cảm xúc và thái độ của giáo viên. – Quan hệ thầy – trò, trò – trò. 1.3.3. Trí nhớ , Nguyễn Như Ý chủ biên. – “Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trước đây.”Tâm lý học Đại cương đã tổng kết 5 quy luật của trí nhớ. Các quy luật này có rất nhiều ứng dụng trong dạy học, giáo viên có thể vận dụng để nâng cao hiệu quả bài lên lớp.  Quy luật hướng đích Muốn ghi nhớ tốt cần tập trung sự chú ý vào một mục tiêu rõ ràng, cụ thể. Chú ý là tập trung tinh thần vào một đối tượng rõ ràng nhất định. Đỉnh điểm của chú ý là sự tập trung tinh thần. Tập trung tinh thần là để cho óc ngừng lâu trên một hình ảnh độc nhất. Tập trung tinh thần không làm mệt mỏi toàn bộ trí óc mà chỉ một phần trí óc bị ảnh hưởng bởi sự tập trung ấy. Ví dụ: Người ta đã làm thí nghiệm cho học sinh A đọc một bài văn dài nửa trang cho 10 học sinh khác. 10 học sinh này có nhiệm vụ phải thuộc để đọc lại cho cả lớp nghe. A đọc từ 15 đến 20 lần và 10 học sinh kia đã thuộc bài. Nhưng A thì lại không thuộc (vì A có tích cực đọc nhưng không có chủ định nhớ).  Quy luật ưu tiên Sự ghi nhớ có chọn lọc theo mức độ ưu tiên khác nhau tùy đặc điểm từng tài liệu. a) Bao giờ thì hình ảnh cụ thể cũng dễ nhớ hơn ngôn từ trừu tượng. b) Sự việc, hiện tượng càng hấp dẫn, sinh động, gây hứng thú, để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí thì càng dễ hình dung và hoài niệm lại. Ví dụ: Các bài giảng khi có thêm phương tiện trực quan (hình vẽ, thí nghiệm) hỗ trợ thì học sinh sẽ nhớ bài đó sâu sắc hơn các bài khác. c) Tài liệu cũng sẽ dễ nhớ khi: – Có ý nghĩa quan trọng, cần thiết, bổ ích. – Gây sự tranh cãi. – Có vấn đề giải quyết chưa trọn vẹn.  Quy luật liên tưởng Liên tưởng xảy ra khi điều bạn nói hay nghĩ có mối liên hệ với ý tưởng đã có trước, chúng là nền tảng cho một ký ức có rèn luyện.
    14. 27. 20 Ưu điểm chính của liên tưởng là ghi nhận nhanh kể cả thông tin có và không có trật tự. Xét về bản chất, liên tưởng dựa trên khả năng quan sát tinh vi, kết hợp các suy diễn để ghi nhận thông tin vận dụng trong dạy học. a. Muốn nhớ điều gì phải tìm cách liên kết nó với những cái khác Muốn nhớ nhanh, nhớ lâu phải thấu hiểu vấn đề, phải tìm ra các mối liên hệ: – Giữa kiến thức mới và vốn kiến thức sẵn có. – Giữa các ý tưởng, các bộ phận của kiến thức. – Giữa vốn kiến thức đã có và thực tế cuộc sống. b. Phải tìm ra mối liên hệ logic, theo trật tự giữa – Các vật có tính chất tương tự hay tương phản nhau. – Các vật gần nhau về thời gian và không gian. – Các vật có mối quan hệ phụ thuộc, ngang hàng hay giao nhau. c. Phân loại Chúng ta sẽ rất khó nhọc khi phải ghi nhớ điều gì phi lý và hỗn độn. Phân loại là sắp các vật, các vấn đề ra từng hạng cho có trật tự, tuỳ theo những điểm tương cận của chúng. Trí nhớ dễ ghi nhận những vấn đề được sắp xếp theo trật tự hợp lý, bởi vì trật tự hợp lý khiến ảnh tượng này phải khêu gợi ảnh tượng kia, ý này nhắc nhở ý khác. Ví dụ: Học thuộc một bài học có dàn bài chi tiết rõ ràng, trật tự thì nhanh hơn một bài có dàn bài không rõ ràng, chi tiết.  Quy luật lặp lại Muốn nhớ điều gì phải lặp đi lặp lại thật nhiều lần. Ôn tập là mẹ của trí nhớ. Cách tốt nhất để ghi nhớ là lặp đi lặp lại. Sự lặp lại là một phương pháp rất hiệu quả trong việc bảo tồn trí nhớ, nó là một điều kiện thiết yếu nếu muốn tạo được một ký ức máy móc. Ví dụ: Đối với trẻ nhỏ, để giúp các em nhớ được chữ cái, đọc được vần, thầy cô thường xuyên lặp đi lặp lại các chữ đó và cho các em ê a đọc theo, tác dụng rất có hiệu quả.  Quy luật kìm hãm Sự ghi nhớ sau bao giờ cũng làm suy giảm sự ghi nhớ trước: – Cần quên đi những gì không cần thiết bằng cách không nhắc lại, gợi lại.
    15. 28. 21 – Cần xác định rõ mức độ cần ghi nhớ với mỗi tài liệu (dài hạn, ngắn hạn hoặc tức thời). – Lựa chọn thật kỹ những gì sẽ học thuộc lòng. 1.3.3.7. Để sự ghi nhớ bài học có hiệu quả  Tập trung chú ý – Học sinh phải ở trạng thái hoạt động tích cực. – Giáo viên cần làm rõ tầm quan trọng và ích lợi của vấn đề. – Xác định trọng tâm, bỏ qua những cái không cần thiết. – Định hướng rõ ràng vào mục tiêu cụ thể. – Tạo những điều kiện thuận lợi cho sự chú. Gắn tài liệu cần ghi nhớ vào mục đích học tập của học sinh, làm cho nội dung đó trở thành mục đích của hành động, hình thành được nhu cầu, hứng thú của học sinh với tài liệu đó.  Sử dụng tối đa các giác quan – Thị giác là quan trọng nhất vì dễ tạo biểu tượng bằng hình ảnh. – Sử dụng sơ đồ, mô hình, hình vẽ, thí nghiệm…. để chuyển những vấn đề trừu tượng thành hình ảnh cụ thể.  Đọc to, đọc thầm hoặc viết ra giấy khi học thuộc lòng Học thuộc lòng: Nên kết hợp ghi nhớ có ý nghĩa với ghi nhớ máy móc, nghĩa là ghi nhớ trên cơ sở thông hiểu tài liệu. Các lợi ích của học thuộc lòng: – Nhanh chóng nhớ lại được kiến thức lúc cần sử dụng. – Giúp ta nhớ được những gì khó ghi nhất. – Là cách tập dượt khả năng ghi nhớ, khiến cho trí nhớ nhạy bén hơn.  Tạo thật nhiều mối liên hệ – Lập dàn ý, tóm tắt ý chính. – Tìm sự liên kết giữa các ý. – Dùng phương pháp phân loại. – So sánh sự giống và khác nhau. – Hệ thống hóa kiến thức. – Tìm “chữ thần”của câu – Gán cho các chữ, con số vô nghĩa một ý nghĩa, đặt thành thơ, văn vần. Ví dụ: Để nhớ 10 ankan đầu tiên.
    16. 29. 22 Metan Etan Propan Butan Pentan Hexan Heptan Octan Nonan Decan Mẹ Em Phải Bón Phân Hóa Học Ở Ngoài Đồng  Lặp đi lặp lại thật nhiều lần – Nhắc lại ngay trong bài giảng,sau mỗi bài, mỗi chương. – Thực hiện tốt khâu củng cố. – Ôn luyện thường xuyên những kiến thức quan trọng.  Có kế hoạnh học tập hợp lý – Ôn lại bài ngay trong ngày và ngày hôm sau. Tổ chức cho học sinh tái hiện tài liệu học tập, làm bài tập ứng dụng ngay sau khi ở trường về nhà, ôn tập ngay sau khi học tài liệu mới, sau đó việc ôn tập có thể thưa dần. – Phân chia hợp lý các lần ôn tập. Khoảng cách ngắn quá hiệu quả kém, lâu quá cũng ít tác dụng (khoảng cách hợp lý tùy theo từng người). – Nên học lúc đầu óc minh mẫn, tỉnh táo (tốt nhất lúc sáng sớm). – Sau khi học tối nên đi ngủ ngay. – Cần phải có thời gian học tập và ôn tập hợp lý, không để xảy ra kiểu học “nước tới chân mới nhảy”, thì kiến thức mới luôn khắc sâu và vững chắc. 1.3.4. Phương pháp dạy học , các phương pháp dạy học tích cực có những đặc trưng cơ bản sau: *Đặt trọng tâm vào hoạt động của người học Trong dạy học tích cực, người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa
    17. 36. 29 sinh tự tìm hiểu, phát hiện ra thì học sinh sẽ khắc sâu, nhớ lâu hơn dẫn đến chất lượng học tập của học sinh cũng được nâng cao. f. Giáo dục đạo đức tư tưởng: Khi giải bài tập học sinh đã được rèn luyện về tính kiên nhẫn, tính sáng tạo khi xử trí các vấn đề xảy ra. Mặt khác, việc tự mình giải các bài tập hóa học thường xuyên cũng góp phần rèn luyện cho học sinh tinh thần kỉ luật, tính tự kiềm chế, cách suy nghĩ và trình bày chính xác, khoa học, qua đó nâng cao lòng yêu thích bộ môn. g. Giáo dục kĩ thuật tổng hợp: Riêng đối với bộ môn hóa học thì đã có nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng hợp, còn bài tập hóa học thì tạo điều kiện tốt cho nhiệm vụ giáo dục này phát triển vì những vấn đề kĩ thuật của nền sản xuất được biến thành nội dung của các bài tập hóa học. Bài tập hóa học còn cung cấp những số liệu mới về phát minh, về năng suất lao động, về sản lượng mà ngành sản xuất hóa học đạt được giúp học sinh hòa nhịp với sự phát triển khoa học kĩ thuật của thời đại mình đang sống. 1.3.6.3. Phân loại bài tập hóa học Theo chúng tôi Trịnh Văn Biều * Theo Đại từ điển Tiếng Việt “Kiểm tra” nghĩa là:” xem xét thực chất, thực tế”. * Theo từ điển Giáo dục Kiểm tra là một bộ phân của quá trình họat động dạy – học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết qủa học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ
    18. 38. 31 bản của thực trạng đó để tìm ra các bịên pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời để củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của họat động dạy – học. * Trong lý luận dạy học, kiểm tra là giai đọan kết thúc của một quá trình dạy học, đảm nhận một chức năng lý luận dạy học cơ bản chủ yếu không thể thiếu được của quá trình này. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh, đặc biệt là HSTBY. 1.3.7.1. Chức năng của kiểm tra Kiểm tra – đánh giá gồm nhiều chức năng bộ phận liên kết thống nhất với nhau, thâm nhập vào nhau và bổ sung cho nhau.  Chức năng phát hiện, điều chỉnh Thông qua việc tiến hành kiểm tra đánh giá giáo viên phát hiện được thực trạng kết quả học tập của học sinh cũng như những nguyên nhân cơ bản dẫn tới thực trạng này. Cụ thể là: -Xác định được mức độ lĩnh hội và hoàn thiện hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh (cả về khối lượng và chất lượng) khi kết thúc môn học. -Nắm được cụ thể, chính xác trình độ, năng lực của mỗi học sinh trong lớp để có biện pháp giúp đỡ riêng thích hợp. -Theo dõi được sự tiến bộ hoặc sa sút của học sinh trong quá trình học tập để có sự nhắc nhở, động viên giúp đỡ kịp thời. -Thông qua kiểm tra biết được tính hiệu quả của một phương pháp giảng dạy hoặc một chương trình đào tạo nào đó và từ đó có thể khắc phục những hạn chế. Đây là những cơ sở thực tế để giáo viên điều chỉnh và hoàn thiện hoạt động dạy của mình cũng như hoạt động học tập của học sinh.  Cung cấp thông tin phản hồi cho người học Kết quả kiểm tra- đánh giá giúp người học thấy được năng lực của bản thân trong quá trình học tập. Muốn vậy, thông tin về kiểm tra – đánh giá cần đa dạng (cho điểm kết hợp với nhận xét …) và hoạt động kiểm tra – đánh giá cần diễn ra tương đối thường xuyên. Hiện nay giáo viên thường phải dạy các lớp đông, nên không thể kiểm tra- đánh giá thường xuyên, vì ít có thời gian chấm bài nên đa số cũng chỉ cho điểm chứ hiếm khi nhận xét về ưu, nhược điểm của học sinh.
    19. 39. 32  Củng cố kiến thức, phát triển trí tuệ của học sinh Thông qua kiểm tra – đánh giá, học sinh có điều kiện học tập tích cực, phát huy cao độ năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của bản thân nhằm ghi nhớ, tái hiện, khái quát hoá, hệ thống hoá những tri thức thu lượm được, rèn luyện và hoàn thiện những kỹ năng, kỹ xảo … Qua kiểm tra – đánh giá học sinh được tập dượt trình bày tri thức của mình (bằng ngôn ngữ nói hay viết) một cách nhất quán, hệ thống. Khi đó tri thức được diễn đạt bằng ngôn ngữ của bản thân, đảm bảo cho chúng được lĩnh hội một cách vững chắc. Như vậy, kiểm tra – đánh giá kết quả học tập giúp học sinh có cơ hội củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng và phát triển trí tuệ.  Chức năng giáo dục – động viên học tập Đây là chức năng quan trọng của kiểm tra – đánh giá. Kiểm tra không chỉ với mục đích thu thập điểm số mà còn có tác dụng giáo dục thái độ học tập, khuyến khích học sinh chăm chỉ, cẩn thận, có tinh thần trách nhiệm. Điều này đòi hỏi giáo viên phải hết sức thận trọng trong đối xử với học sinh nhất là khi gặp tình huống không bình thường trong kiểm tra – đánh giá. Việc kiểm tra – đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, còn giúp học sinh hiểu biết năng lực của mình rõ hơn, tránh thái độ lạc quan, tự tin quá đáng. Kiểm tra – đánh giá là một phương tiện củng cố niềm tin của học sinh vào sức mạnh và khả năng của mình, kích thích học sinh vươn lên hơn nữa. Ngoài ra, việc kiểm tra – đánh giá còn giáo dục học sinh năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá và tự hoàn thiện học vấn của mình, giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, tạo điều kiện cho học sinh giúp đỡ nhau trong học tập. Thực tiễn cho thấy một khi hoạt động kiểm tra – đánh giá được tổ chức đều đặn và thích hợp thì chất lượng học tập không ngừng được nâng cao. Kiểm tra – đánh giá giúp cho việc học tập diễn ra thuận lợi, hiệu quả hơn. Theo tâm lí học, cho điểm hay xếp loại được xếp vào loại hoạt động khích lệ tạo nên động cơ bên ngoài. Nếu nó được kết hợp với hứng thú học tập (động cơ bên trong), sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động học tập của học sinh. Tuy nhiên, nếu quá đề cao hoặc áp dụng thái quá các biện pháp khích lệ thì có thể dẫn đến việc khuyến khích học sinh điều chỉnh mục đích học tập của họ. Không ít học
    20. 40. 33 sinh hiện nay coi điểm số hay xếp hạng là mục tiêu quan trọng nhất đã tìm đủ mọi cách để có thành tích học tập cao, gây nên tác dụng ngược rất có hại. 1.3.7.2. Kiểm tra viết a) Kiểm tra tự luận Học sinh làm những bài kiểm tra viết trong những khoảng thời gian khác nhau tùy theo yêu cầu của đề thi (15 phút đến 180 phút). Học sinh phải tự trả lời và diễn đạt nó bằng ngôn ngữ của chính mình. Một bài kiểm tra tự luận gồm một số câu hỏi tương đối ít và có tính tổng quát, đòi hỏi học sinh phải trả lời theo cách hiểu của mình. Chính vì vậy, kiểm tra tự luận đòi hỏi có nhiều thời gian để suy nghĩ và viết. * Ưu điểm: – Dễ ra đề ở mọi nhu cầu nhận thức. – Soạn đề nhanh, ít tốn công sức. – Kiểm tra sâu về một vấn đề (hiểu và vận dụng kiến thức). – Rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày bằng ngôn ngữ viết. – Kiểm tra quá trình suy nghĩ của học sinh đối với nội dung kiểm tra. – Đánh giá được khả năng tư duy lý luận, giải quyết vấn đề, tính sáng tạo, cảm xúc. – Không thể đóan mò nội dung trả lời. Nội dung trả lời do người học lựa chọn, cho nên có thể biết được những đặc điểm, hạn chế của người học. – Dễ phát hiện hiện tượng trao đổi bài. * Nhược điểm: – Không kiểm tra được bề rộng của kiến thức. Dễ dẫn đến hiện tượng học tủ. – Không rèn luyện được khả năng trình bày bằng ngôn ngữ nói cho học sinh. – Kết quả bài kiểm tra phụ thuộc rất nhiều vào cách chấm của giáo viên. Khó chấm chính xác, độ tin cậy thường thấp. – Mất nhiều thời gian chấm bài. – Khó ra nhiều đề có độ khó tương đương. b) Kiểm tra trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) là những bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có sẵn các phương án trả lời, yêu cầu học sinh suy nghĩ và chọn phương án trả lời đúng nhất bằng một ký hiệu nhất định. Bài kiểm tra TNKQ thường gồm nhiều câu hỏi có tính chuyên biệt chỉ đòi hỏi những câu trả lời ngắn gọn. Khi làm một bài trắc
    21. 41. 34 nghiệm khách quan thí sinh cần một lượng thì giờ ngắn để đọc và suy nghĩ. * Ưu điểm: – Có thể đo lường một cách đa dạng và khách quan với nhiều mức độ từ nhận thức đơn giản đến các hình thức phức tạp hơn, trừ hình thức tổng hợp. – Vì học sinh viết rất ít, nên trong một thời gian tương đối ngắn cũng có thể đánh giá một lượng đáng kể các kiến thức cần thiết. – Chấm điểm được thực hiện khách quan vì không cần diễn dịch ý tưởng của học sinh như trong bài viết. – Chấm nhanh. – Có thể đặt ra những câu hỏi trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải phân biệt được các câu trả lời có mức độ đúng chỉ hơn kém nhau đôi chút. – Lượng thông in phản hồi rất lớn, nếu biết xử lí sẽ giúp điều chỉnh và cải thiện chất lượng giáo dục. * Nhược điểm: – Soạn đề thi tốn kém, khó khăn, lâu. – Không kiểm tra được bề sâu của kiến thức. – Không rèn luyện được khả năng nói, viết. – Không kiểm tra khả năng sáng tạo, khả năng tổng hợp kiến thức cũng như phương pháp tư duy, giải thích chứng minh của học sinh. – Không kiểm tra được kĩ năng thực hành, thí nghiệm. – Học sinh có thể chọn đúng ngẫu nhiên. – Học sinh dễ quay cóp. Bảng 1.2: So sánh trắc nghiệm khách quan và tự luận Trắc nghiệm khách quan Tự luận Phạm vi Cả chương trình (hạn chế được học tủ). Một số phần của chương trình. Ra đề Tốn nhiều công sức. Ít tốn công. Chấm bài – Nhanh, có thể dùng máy. – Rất khách quan. – Độ chính xác cao. – Mất nhiều thời gian. – Phụ thuộc người chấm. – Sai số thường từ 0,5 – 1
    22. 42. 35 điểm. Đánh giá khả năng diễn đạt Không được. Được. Đánh giá năng lực tư duy Được một phần. Được. 1.3.7.3. Kiểm tra vấn đáp Phương pháp kiểm tra vấn đáp được ứng dụng rộng rãi trong việc kiểm tra đầu giờ. Đây là phương tiện tốt để giáo viên nghiên cứu cá biệt học sinh của mình, vì trong quá trình này có những tiếp xúc riêng. Việc hỏi miệng đơn giản nhất và dễ hiểu đối với học sinh. Nó tỏ ra thích hợp hơn cả so với các cách hỏi khác. Song sự đơn giản này cũng là tương đối. Khó khăn chính của cách hỏi này là trong một thời gian hạn chế (2-3 tiết/tuần) và với số lượng học sinh đông, giáo viên thường không thể hỏi từng học sinh. Vì vậy giáo viên cần phải suy nghĩ vị trí của việc hỏi vấn đáp trong toàn bộ hệ thống kiểm tra kiến thức chung sao cho kết quả của việc hỏi vấn đáp bổ sung những kết quả của việc kiểm tra khác.  Ưu điểm: – Kiểm tra vấn đáp cho thấy rõ học sinh đã nắm tài liệu đầy đủ, nhất quán, sâu sắc, có suy nghĩa đến mức nào và sử dụng tài liệu ra sao; có nắm vững phương pháp nghiên cứu các hiện tượng đã đề cập đến không, có hoàn toàn chứng minh những lời kết luận; đã nắm vững kỹ xảo diễn đạt ngôn ngữ đến mức nào. Tất cả những điều đó có thể phát hiện được trong khi nghe học sinh trả lời và sau đó nêu thêm những câu hỏi về các vấn đề mà giáo viên chú ý. – Kiểm tra vấn đáp có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của học sinh, giúp học sinh rèn kỹ năng nói, diễn đạt trước lớp. – Kiểm tra vấn đáp giúp giáo viên xây dựng những cơ sở vững chắc cho sự lĩnh hội tài liệu mà học sinh sắp học trong phần giảng bài mới sau đó. Bởi vì chủ của chương trình đựơc xây dựng trực tiếp từ những tri thức đã học trước. Việc nắm vững cái mới trong trường hợp này không thể thực hiện được hoặc sẽ rất khó khăn nếu như học sinh không nắm vững cái cũ. Nhiệm vụ của kiểm tra vấn đáp lúc này sẽ là kiểm tra xem cơ sở nhận thức này có chất lượng tốt và vững chắc đến mức độ
    23. 43. 36 nào, làm sáng tỏ trong nhận thức của các em tài liệu đã học và làm chính xác thêm từng điểm của tài liệu còn chưa nắm vững.  Nhiệm vụ của kiểm tra vấn đáp – Kiểm tra kiến thức về các định luật và khái niệm hoá học cơ bản. – Kiểm tra kiến thức có hệ thống về các sự kiện và học thuyết. – Kiểm tra kỹ năng áp dụng lý thuyết để giải thích các sự kiện và dùng sự kiện để minh họa lý thuyết đã học. – Kiểm tra kỹ năng nhận biết các chất và làm những thí nghiệm đơn giản nhất. – Giải các bài tập tính toán và thí nghiệm. Khi kiểm tra kiến thức cần chú ý đến kỹ năng trình bày tài liệu chặt chẽ, nêu kết luận và tư duy logic. Để kiểm tra kiến thức và kỹ năng học sinh độc lập trình bày nội dung một cách chặt chẽ, giáo viên nên cho học sinh một câu hỏi cơ bản. Để hiểu rõ kỹ năng áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, tốt nhất là đề nghị học sinh viết công thức, viết phương trình phản ứng, giải bài tập. Ngoài ra có thể đặt những câu hỏi bổ sung kiểm tra kiến thức về các định luật hoặc định nghĩa các phản ứng. Cần tổ chức sao cho gợi được hứng thú của học sinh đối với những câu hỏi của giáo viên và câu trả lời của bạn. Khi yêu cầu học sinh tự trình bày điều đã học, cần dạy học sinh biết trả lời, không những trả lời câu hỏi mà còn biết tự trình bày chặt chẽ một chương nhỏ đã học. Muốn vậy phải cho các em dàn bài trả lời.  Chuẩn bị hệ thống câu hỏi khi kiểm tra vấn đáp Câu hỏi phải được giáo viên chuẩn bị từ trước dựa trên các nguyên tắc đặt câu hỏi và phải được ghi đầy đủ, cẩn thận trong giáo án. Hệ thống câu hỏi hoá học có thể được phân chia thành những nhóm như sau: 1. Tìm hiểu mục đích (để làm gì?). VD: Khi điều chế khí Clo bằng phương pháp điện phân dung dịch NaCl phải sử dụng màng ngăn xốp để làm gì? 2. Tìm hiểu nguyên nhân (vì sao?). VD: Tại sao khi đi từ đầu đến cuối chu kỳ bán kính nguyên tử của các nguyên tố giảm xuống?
    24. 44. 37 3. Tìm hiểu phương pháp (bằng cách nào?). VD: Bằng phương pháp nào có thể thu được khí Clo có lẫn khí HCl? 4. Tìm hiểu bản chất của sự vật hiện tượng. VD: Giải thích tính tẩy trắng của Clo ẩm. 5. So sánh sự giống nhau và khác nhau. VD: So sánh tính chất của acid sunfuric với acid clohydric và acid nitric. 6. So sánh mức độ hơn kém. VD: So sánh khả năng ôxi hoá của Clo và Oxi. 7. Phân loại vấn đề: VD: Những hidro cacbon nào có thể tham gia phản ứng thế, những hidrocacbon nào có thể tham gia phản ứng thế cộng, trùng hợp, giải thích. 8. Tổng hợp, hệ thống kiến thức: VD: Lập bảng tổng kết về hidrocacbon. 9. Phán đoán khả năng xảy ra: VD: Điều gì xảy ra khi cho từng giọt dung dịch AlCl3 vào dung dịch NaOH. 10. Vận dụng kiến thức đã học để giải quyết nhiệm vụ: VD: Dựa vào hoá tính của anken, ankin hãy phân biệt hỗn hợp CH4, C2H4, C2H2. 11. Nhận xét, đánh giá: VD: Nhận xét gì khi cho quì tím vào các dung dịch sau: CH3COONa, NH4Cl, NaCl. Giải thích.  Những câu hỏi nên đặt ra cho học sinh trong vấn đáp Đặc điểm của các câu hỏi cũng có một tầm quan trọng lớn đối với việc kiểm tra kiến thức và kỹ năng của học sinh. Tốt nhất là nên đặt những câu hỏi kiểm tra: – Kiến thức về các thuyết và các định luật đã học. – Kiến thức về các chất, các dấu hiệu của phản ứng và các điều kiện để tiến hành phản ứng. – Kỹ năng sử dụng các kiến thức lý thuyết để giải thích – Bản chất của các quá trình và hiện tượng. Cần thường xuyên đặt những câu hỏi góp phần phát triển tư duy logic. Thuộc những câu hỏi dạng này có các câu hỏi: – So sánh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Cải Thiện Điều Kiện Làm Việc Trong Các Cơ Sở Cán Kéo Thep Quy Mô Nhỏ Tại Miền Trung
  • Cải Thiện Điều Kiện Và Môi Trường Làm Việc, Giảm Thiểu Tai Nạn Lao Động, Bệnh Nghề Nghiệp
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Việc
  • Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ
  • Nâng Cao Chất Lượng Nhân Sự Nhờ Quản Lý Công Việc Hiệu Quả
  • Giải Pháp Nào Chống Kẹt Xe?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Chống Kẹt Xe Ngã Tư Thủ Đức
  • Giải Quyết Kẹt Xe Như Thế Nào?
  • Giải Pháp Đơn Giản Giúp Giải Quyết Nạn Kẹt Xe
  • Giải Pháp Nào Để Giải Quyết Kẹt Xe Tại Quốc Lộ N2 Và Quốc Lộ 62?
  • Tp.hcm Triển Khai Nhiều Giải Pháp Hạn Chế Kẹt Xe, Giảm Tngt
  • Ở thành phố, nơi nào cũng có các chợ tự phát lấn chiếm buôn bán đến tận lòng đường, chính quyền sở tại phải mạnh dạn dẹp bỏ. Thực ra các chợ tự phát chỉ hình thành từ những ý nghĩ “cơ hội”, tiện thì ngồi bán, tiện thì đứng mua, thậm chí mua bán cả trên cầu, các vườn hoa, các giao điểm lưu thông… Rồi thêm tình trạng các công trình thi công khác nhau cùng một điểm khiến việc đào lên lấp xuống liên tục, tại sao các nhà quản lý không cùng nhau thống nhất một phương án thi công để vừa đỡ tốn tiền thuế của dân vừa ít gây ảnh hưởng đến giao thông. Các loại xe 3 bánh đã có lệnh cấm, thu hồi và người hành nghề xe 3 bánh đã được chính quyền hỗ trợ vốn để chuyển đổi nghề, vậy mà nay vẫn thấy xe 3 bánh trên đường từ trung tâm đến vùng ven.

    Xe buýt lớn như hiện nay bị dư luận phản ứng nhiều bởi nó khó luồn lách, chiếm diện tích mặt đường lớn, quay vòng ít, là nguyên nhân xảy ra ùn tắc giao thông, nhà quản lý cần lắng nghe, có sự điều chỉnh thích hợp.

    Trong khi các phương án vĩ mô: xây dựng đường trên cao, thành lập hệ thống metro, tuyên truyền giáo dục ý thức của người tham gia giao thông còn nhiều bàn cãi và nghiên cứu thì giải quyết tận gốc các vấn đề vi mô như kể trên lại là việc trong tầm tay. Chỉ cần các nhà quản lý nêu cao tinh thần trách nhiệm, cùng phối hợp với nhau, làm kiên quyết và thường xuyên, xử lý mọi vi phạm bằng những biện pháp chế tài cứng rắn, không chập chờn, chắc chắn tình trạng giao thông của thành phố sẽ sáng sủa hơn rất nhiều.

    Đặng Chí Lợi Phải dẹp chợ tự phát

    Tình trạng chợ tự phát ở khắp các quận, huyện trong thành phố là nỗi bức xúc từ người dân cho đến chính quyền địa phương, là một trong những nguyên nhân gây nạn kẹt xe và tai nạn giao thông. Chính quyền địa phương có ra tay dọn dẹp nhưng thiếu kiên quyết nên rồi đâu vẫn vào đấy, những kẻ lấn chiếm lòng, lề đường đâm ra xem thường luật pháp và dửng dưng trước nhân viên công lực.

    Việc chiếm dụng lòng, lề đường, các lề cầu để mua bán gia cầm và các xe trái cây… đậu hàng dài gây khó khăn cho các phương tiện giao thông, nhất là khi có người dừng xe để mua hàng. Có nơi như trên chợ Cầu, các nhân viên trật tự ngồi cách những người bán hàng trên cầu chỉ có… 2m, họ cười nói vô tư như không thấy những người buôn bán trên cầu vậy. Diệt nạn chợ tự phát và nhất là việc chiếm lòng, lề đường, lề cầu để buôn bán là việc cần giải quyết triệt để.

    Huyền Đam – Thu Hường Người dân đóng phí nuôi xe buýt?

    Đọc xong bài viết “Thu phí môi trường xe cá nhân” của ông Lê Trung Tính (Sở Giao thông Vận tải TPHCM), đăng trên Diễn đàn: Giải pháp chống kẹt xe, Báo SGGP ngày 27-10-2011, tôi thấy không ổn bởi số xe mang biển số của các địa phương khác lưu thông trên địa bàn thành phố hiện khá nhiều, làm sao thu phí? Đề xuất thu phí xe cá nhân “để trợ giá cho hệ thống xe buýt (không phải chi từ ngân sách hiện nay); đồng thời có thêm nguồn kinh phí nhằm đầu tư hiện đại hóa hệ thống xe buýt thành phố nhằm nâng cao chất lượng và thu hút hành khách đi lại…” của ông Tính có phù hợp hay không bởi vận tải hành khách công cộng cũng là một ngành nghề kinh doanh như bao ngành nghề khác, lẽ nào lại buộc người dân phải đóng phí để nuôi xe buýt?

    Nên chăng có loại vé xe buýt được sử dụng trong ngày và đi trên các tuyến xe buýt để khuyến khích người đi xe buýt? Tôi nghĩ chỉ khi nào các phương tiện vận tải công cộng nói chung và xe buýt nói riêng thật sự tiện lợi cho người tiêu dùng, khi đó người dân sẽ tự giác từ bỏ xe máy.

    B.H. Sao vẫn đầu tư xe buýt loại lớn?

    Thông tin về buổi làm việc của Ban Kinh tế -Ngân sách HĐND TPHCM giám sát hoạt động vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) bằng xe buýt trên địa bàn TPHCM, chúng tôi thấy có một nghịch lý trong đề án đầu tư phát triển xe buýt chưa được xem xét thấu đáo.

    Theo đề án này, giai đoạn 2011-2015, ngành VTHKCC thành phố sẽ đầu tư thêm 1.680 xe buýt, trong đó chỉ có loại xe buýt to như cũ (40-50-80 chỗ ngồi). Như thế, vấn đề dư luận, các nhà quản lý, nhà khoa học đề xuất thành phố phải sớm chuyển đổi, thay thế dần xe buýt loại to, cồng kềnh như hiện nay bằng xe buýt loại trung, loại nhỏ để tránh kẹt xe, ùn tắc giao thông, đã không được đề án này xem xét.

    Nhìn lại thực tế, TPHCM đang có 3.000 xe buýt loại to hoạt động trên các tuyến đường và chính là thủ phạm gây ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm. Người đi đường chứng kiến cảnh kẹt xe, trong đó hàng đoàn xe buýt dàn hàng, chắn ngang hết diện tích đường đi đều thấy hãi hùng và ngán ngẩm những “anh chàng khổng lồ” này.

    Chính vì thế, việc bổ sung thêm gần 1.700 xe buýt loại to như nêu trên chắc chắn sẽ tăng áp lực kẹt xe, ùn tắc ở TPHCM. Trong khi bài toán ùn tắc giao thông vẫn đang rối bời như canh hẹ và giải pháp tăng diện tích mặt đường hầu như bế tắc thì việc đầu tư phát triển thêm xe buýt như đề án đưa ra có khả thi và hiệu quả?

    Mục tiêu nâng cao chất lượng xe buýt là việc cần phải làm và để xe buýt đáp ứng nhu cầu đi lại của đông đảo người dân và nhất là không góp phần gây ra kẹt xe, ùn tắc giao thông, thì ngành VTHKCC phải lắng nghe ý kiến người dân lẫn dư luận. Những gì cần phải làm để khắc phục, hạn chế, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động xe buýt thì dù khó cũng phải làm và hướng tới mục tiêu lâu dài, bền vững.

    Biện pháp thiết thực

    Nhà tôi ở Thủ Đức và tôi thường đi học, đi làm mỗi ngày qua các tuyến đường Đinh Bộ Lĩnh, Bạch Đằng, Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tôi quan sát và nhận thấy rằng trên những tuyến đường này cũng như rất nhiều tuyến đường khác trên địa bàn TPHCM có rất nhiều hẻm, đường nhỏ cắt qua tuyến đường chính, xin gọi tắt là đường cắt ngang.

    Theo tôi đây chính là một nguyên nhân gây ra kẹt xe vào những giờ cao điểm. Trên thực tế, dù lượng xe có đông nhưng nếu sự di chuyển thuận lợi, không xảy ra va quẹt hay tai nạn thì các phương tiện vẫn tiếp tục lưu thông được, có chăng vận tốc sẽ giảm mà thôi. Nhưng nếu các phương tiện xe máy thậm chí cả xe tải nhỏ, xe lam chạy từ trong các đường cắt ngang vào đường chính sẽ làm các phương tiện lưu thông trên đường chính bị ùn lại.

    Sau đó, các phương tiện giao thông trên hai loại đường này sẽ tìm cách tránh nhau, tạo ra sự hỗn loạn. Trong khi đó, trên mỗi tuyến đường chính cứ 200 – 300m lại có một hẻm hay đường nhỏ cắt ngang. Do đó, sự ùn ứ cứ tích tụ lại, gây ra sự kẹt xe trầm trọng kéo dài.

    Do đó, theo tôi cần có lực lượng điều tiết giao thông tại mỗi đường cắt ngang này. Lực lượng này sẽ hướng dẫn những người điều khiển phương tiện từ trong hẻm, các đường nhỏ ra đường chính một cách đồng loạt, không di chuyển lẻ tẻ gây ra sự hỗn loạn. Tất nhiên, với số lượng đường cắt ngang rất nhiều như hiện nay, nếu áp dụng biện pháp này sẽ rất tốn nhân lực. Tuy nhiên, tôi nghĩ hoàn toàn có thể huy động lực lượng thanh niên tình nguyện vào công việc này.

    Đồng thời, TP cần có sự hỗ trợ kinh phí cũng như sự ghi nhận thành tích của những cá nhân tham gia vào việc này. Thiết nghĩ, giải quyết vấn nạn kẹt xe ngay từ trong hẻm, trong đường nhỏ là một việc làm thiết thực và sẽ mang lại hiệu quả.

    MẠNH TÙNG Nên trợ giá cho xe đưa rước học sinh Trước tình hình giao thông đô thị ở TPHCM đang xấu đi và áp lực giải quyết, xử lý ùn tắc, tai nạn giao thông đang trở thành vấn đề khẩn cấp, chúng tôi rất đồng tình với lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải và TPHCM về những giải pháp trước mắt cũng như lâu dài phải làm. Giải pháp nào cũng quan trọng và cần thiết, trong đó có những giải pháp có thể làm ngay và không tốn kém nhiều, mang lại hiệu quả tức thời. Đó là cách giải bài toán đưa rước học sinh (HS) một cách phù hợp.

    TPHCM hiện có 1,2 triệu HS các cấp và hàng trăm ngàn sinh viên các trường đại học hàng ngày tham gia giao thông, tạo áp lực kẹt xe khủng khiếp vào giờ cao điểm. Giải quyết bài toán nan giải này như thế nào? Là phụ huynh (PH), tôi và nhiều người đều mệt mỏi vì áp lực đưa rước con cái suốt 12 năm đèn sách. Nếu chọn xe buýt thì bến, tuyến chưa linh động, phù hợp, thường trễ giờ học, giờ về. Còn chọn xe đưa rước của trường thì giá cũng khá cao, giờ giấc đi quá sớm so với giờ học và chọn xe ôm thì không rẻ hơn, lại lo lắng vì thiếu an toàn…

    Hỗ trợ xe đưa rước học sinh cũng có thể góp phần giảm kẹt xe.Ảnh: CAO THĂNG

    Từ thực tế nêu trên, rất mong ngành giao thông vận tải và vận tải hành khách công cộng nghiên cứu và sớm tạo điều kiện cho HS có thể đi học bằng xe đưa rước – xe buýt công cộng loại vừa – nhỏ, thay vì xe buýt lớn cồng kềnh, chiếm đường sá, gây kẹt xe như hiện nay. Khi chúng ta đã tập cho các công dân nhỏ đi xe công cộng thì lớn lên, các em sẽ quen dần với việc này và không có nhu cầu sắm phương tiện cá nhân.

    HÀ ANH

    Những giải pháp khả thi

    Để phần nào chống kẹt xe, tôi xin đề xuất:

    Thứ nhất, các trường học (cả đại học, cao đẳng) nên khuyến khích học sinh và sinh viên đi học bằng xe công cộng như xe buýt hoặc có xe đưa rước. Điều này nhằm hạn chế việc đậu xe, đưa đón học sinh của các phụ huynh, giảm lưu lượng mô tô, xe máy lưu thông trên đường và hạn chế tình trạng điều khiển xe khi chưa đủ tuổi, hạn chế tai nạn giao thông.

    Thứ hai, các trường ở cùng một khu vực nên bố trí giờ học lệch nhau và giờ tan trường của học sinh, sinh viên nên sớm hoặc trễ hơn giờ tan sở của các cán bộ nhân viên nhà nước khoảng 30 phút đến 1 giờ để tránh sự tập trung lưu lượng xe trong một thời điểm.

    Thứ 3, phân lại tuyến đường của xe buýt, xe máy, xe tải, xe con. Nghiêm khắc xử phạt những vi phạm khi lấn tuyến, chạy quá tốc độ.

    Tôi nghĩ, giải pháp nào đề ra cũng cần có sự tham gia đông đảo và kêu gọi được mọi người tham gia. Điều quan trọng vẫn là do ý thức tham gia giao thông của người dân. Nếu ai cũng có ý thức không lấn tuyến, không vi phạm luật thì những khó khăn này có đáng là bao.

    THU HƯƠNG (Thủ Đức)

    Hạn chế xe cá nhân có điều kiện

    Thói quen sử dụng xe cá nhân của người dân khó có thể thay đổi trong một thời gian ngắn trong khi hệ thống phương tiện vận tải công cộng còn ít và lạc hậu. Vì vậy, để hạn chế xe cá nhân tôi đề xuất:

    Nên bắt đầu từ việc tuyên truyền, động viên rồi tăng cường sự lựa chọn cho người dân và sau cùng mới dùng biện pháp hành chính. Trước hết, tăng cường công tác tuyên truyền những ưu điểm của giao thông công cộng, nêu rõ những hạn chế của xe cá nhân để nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề này. Trong quá trình đó, cần tăng cường các loại hình vận tải công cộng, ngoài xe buýt cần từng bước có thêm xe điện, xe điện ngầm, xe lửa nội thị… Cuối cùng, khi hai biện pháp trên đã có những kết quả căn cơ thì mới dùng biện pháp hành chính.

    Đối với các giải pháp cụ thể, cần thiết thực hiện việc hạn chế xe cá nhân có điều kiện, chứ không xem đây là một giải pháp tiến hành một cách rộng khắp, toàn diện. Cụ thể là thực hiện thí điểm ở các đô thị lớn với quy mô và áp lực giao thông lớn để giải quyết kịp thời những bức xúc. Trên cơ sở rút kinh nghiệm kết quả thực hiện cụ thể có thể góp phần hoàn chỉnh hành lang pháp lý và đưa ra những giải pháp thiết thực, khả thi hơn để áp dụng cho các địa phương khác. Bên cạnh đó phải có lộ trình cụ thể, nêu rõ việc cần thực hiện ở mỗi giai đoạn. Trước mắt việc hạn chế xe cá nhân có thể áp dụng ngay đối với các loại xe cá nhân quá hạn sử dụng, gây ô nhiễm môi trường, không đảm bảo an toàn giao thông…

    TRÚC GIANG (quận 3)

    Xử lý ngay hành vi cản trở lưu thông

    Hiện nay giao thông trên nhiều tuyến đường khá lộn xộn bởi sự tùy tiện, thiếu ý thức của người dân, rất cần cơ quan chức năng mạnh tay xử lý. Như trên Quốc lộ 1A, đoạn từ Đại học Nông Lâm TPHCM đến ngã ba vào Đại học Quốc gia TPHCM thuộc địa bàn khu phố 6, phường Linh Trung, quận Thủ Đức đang bị các điểm vá xe chiếm dụng.

    Các điểm này vá vỏ xe ô tô ngay trên đường, gây cản trở giao thông. Bên cạnh đó, nhiều người lười đi thêm một quãng đường đã đi ngược chiều, buộc những người đi đúng hướng phải né tránh, chạy dạt ra đường nên rất nguy hiểm. Đây là “điểm nóng” về đi ngược chiều nhưng rất ít thấy cảnh sát giao thông tuần tra, xử lý.

    Các xe buýt khu vực cầu bộ hành Suối Tiên thường dừng lại lâu quá mức mỗi khi đón khách góp phần làm giao thông ùn tắc, hỗn loạn. Phần đường dành cho xe máy bị xe buýt lấn chiếm nên người đi xe máy phải chạy qua làn đường xe ô tô. Lực lượng thanh tra giao thông thường xuyên nhắc nhở cánh tài xế nhưng không mang lại kết quả cao.

    Bên cạnh đó, hàng chục bến cóc dọc theo quốc lộ 1A như chợ Tam Bình, cầu vượt Sóng Thần, cầu vượt Linh Xuân (quận Thủ Đức) tấp nập xe ra vào khiến giao thông hỗn loạn. Vào các ngày lễ tết, giao thông càng phức tạp hơn bởi nhiều người không vào bến, nghĩ đón xe dọc đường cho nhanh.

    Hoài Thiệu Một cách giảm ùn tắc đường Nguyễn Văn Trỗi – Nam Kỳ Khởi Nghĩa

    Đường Nguyễn Văn Trỗi, quận Phú Nhuận và đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, giờ cao điểm buổi sáng thường ùn tắc giao thông hướng từ sân bay Tân Sơn Nhất về quận 1, còn giờ cao điểm chiều thường ùn tắc hướng ngược lại, trong đó giao lộ Nguyễn Văn Trỗi – Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận thường bị ùn tắc, thậm chí kéo dài qua cả cầu Công Lý.

    Để giảm tải cho giao lộ Nguyễn Văn Trỗi – Huỳnh Văn Bánh, tôi thấy cần trả lại công năng giao thông của đường Cao Thắng để người có nhu cầu sang đường Phan Đình Phùng không phải chạy tiếp đến giao lộ Nguyễn Văn Trỗi – Huỳnh Văn Bánh.

    Để giảm bớt lượng phương tiện tham gia giao thông tại giao lộ Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Trần Quốc Toản, quận 3, theo tôi nên “cắt góc” phía đối diện Viện Y học dân tộc để các phương tiện giao thông được rẽ phải sang đường Trần Quốc Toản.

    B.H. Cần một giải pháp dài hạn

    Vấn nạn ùn tắc giao thông tại hai thành phố lớn nhất nước đã có nhiều hội thảo, tranh luận, góp ý để tìm ra giải pháp. Người ta nêu nhiều nguyên nhân (hạ tầng kỹ thuật, ô tô con, xe gắn máy…) nhưng theo tôi nguyên nhân chính là: thiếu tầm nhìn chiến lược. Ùn tắc giao thông đã diễn ra nhiều năm ở nhiều nước và họ đã giải quyết bằng nhiều giải pháp. Ta không rút kinh nghiệm, cứ để nó phát triển, ngoài tầm kiểm soát.

    Đường sá các nước cũng rất đa dạng, không chỉ có độc nhất đường trên mặt đất, dày đặc đèn xanh, đèn đỏ như ở ta. Nên làm thêm nhiều đường trên cao nhỏ hẹp chỉ đủ chiều ngang và tải trọng cho ô tô con và xe hai bánh (chiều ngang cỡ 5 – 6m đủ cho 2 làn xe).

    Các đường hiện nay có chiều rộng cỡ 20 – 30m trở lên có thể làm đường trên cao, mà ở mặt đất còn đủ cho hai chiều xe chạy (đường trên cao 5 – 6m thì chân trụ chỉ cần 4 – 5m, còn thừa mỗi bên 6 – 7m). Làm đường như vậy không phải giải tỏa mặt bằng nhiều. Đường nhỏ ít tốn kém và thi công đơn giản, nhanh. Đường trên cao giải quyết được ùn tắc giao thông ở các giao lộ; đèn xanh đèn đỏ ở các giao lộ làm tăng ùn tắc giao thông. Giờ cao điểm phải chờ 2 – 3 đèn đỏ mới qua được ngã tư, xe 2 đầu ùn lại không thể nhích lên được.

    Vì vậy cần làm đường ngầm hoặc cầu vượt ở các giao lộ. Phải giải tỏa một số nhà, nhưng cố gắng mỗi năm làm 5 – 10 giao lộ thì 10 – 20 năm sau sẽ góp phần giảm ùn tắc giao thông. Những nơi có điều kiện thì làm trước (ngã tư Hàng Xanh, Lăng Cha Cả…); giải quyết thông thoáng vỉa hè cho người đi bộ. Ở Hồng Công vỉa hè thông thoáng, sạch sẽ nên đông người đi. Ở ta gần như toàn bộ lề đường bị chiếm dụng, nếu có vỉa hè thông thoáng thì với quãng đường một vài kilômét ai cũng có thể bỏ xe ở nhà và đi bộ.

    3– Giải quyết phương tiện giao thông công cộng. Ở ta phương tiện giao thông công cộng quá cồng kềnh, đi đâu tắc đấy, mà chỉ đi các trục đường chính, không đáp ứng nhu cầu người dân (đi nhiều đường phụ, ngõ ngách, phải dùng xe máy thôi). Tôi đề nghị loại bỏ xe cồng kềnh (ô tô 50 chỗ ngồi) ở nội thành, đầu tư thật nhiều xe nhỏ gọn (chiều ngang cỡ xe 20 – 30 chỗ ngồi, hai tầng, chở được nhiều người mà chiếm ít diện tích mặt đường và đi được vào các đường nhỏ. Làm nhiều chỗ đón và trả khách, khách không phải chờ đợi lâu. Những năm đầu miễn thuế và trợ giá để có giá vé hấp dẫn, mọi người sẽ thích đi xe công cộng.

    4- Loại bỏ xe gắn máy, một nguyên nhân gây ùn tắc giao thông. Việc này không dễ, nên cần tuyên truyền rộng rãi, lấy ý kiến dân để dần loại bỏ xe cá nhân này. Bên cạnh đó, không cho đăng ký xe mới trên toàn quốc, cấm nhập khẩu, hạn chế sản xuất. Số xe mới không cho tiêu thụ thì khuyến khích xuất khẩu.

    5- Nghiên cứu hạn chế dần xe 4 bánh ngay từ bây giờ, vì sau 5 – 10 năm nữa, đời sống khá lên, số người sử dụng xe ô tô con lại diễn ra như xe máy.

    NGUYỄN VĂN THÁI

    (Đường Bạch Đằng, P2, Q.Tân Bình)

    Các giải pháp như làm lệch giờ, lệch ca… đều có tính chất chữa cháy, tình thế. Để giải quyết căn cơ, rõ ràng phải xây dựng lại hạ tầng, thậm chí xây dựng thành phố mới. Trước thực tế như vậy, tôi xin có một số góp ý thêm sau:

    1.- Cần xử lý nghiêm những vi phạm luật giao thông. Chấm dứt cảnh lấn chiếm làn đường tại các giao lộ khi chờ đèn đỏ, chờ tàu hỏa…

    2.- Cấm đậu ô tô ở lòng, lề đường (nơi nào có thể cho đậu xe thì thu phí cao).

    3.- Cấm triệt để kinh doanh, buôn bán lấn chiếm lòng, lề đường.

    4.- Không cho phát triển taxi nữa (đây cũng là cũng một dạng xe cá nhân).

    5.- Nơi nào có điều kiện thì đưa trường học vào trong công viên, vừa tránh cảnh tập trung đưa đón trước cổng trường gây ùn tắc, vừa tạo sự yên tĩnh cho học sinh học tập (ưu tiên giải tỏa những trường nhỏ, nằm mặt tiền đường chính).

    6.- Cho học sinh cấp 1 và cấp 2 đi học lệch ngày với học sinh cấp 3 (Ví dụ: cấp 1 và 2 đi học thứ hai, tư, sáu. Thứ ba, năm và bảy cho học sinh cấp 3. Mầm non, mẫu giáo học cả ngày). Dĩ nhiên phải bàn với ngành giáo dục. Làm việc này, còn có thể giúp học sinh bớt căng thẳng, có thời gian ôn bài ở nhà, kéo dãn hợp lý thời gian học và nghỉ (tại Úc, họ chia thời gian học thành 4 học kỳ). Thời gian nghỉ hè rút ngắn, giúp phụ huynh trong việc quản lý con em khi thời gian nghỉ hè quá dài.

    7.- Nghiên cứu, khuyến khích làm việc tại nhà (làm việc trên máy tính).

    ĐINH QUỐC CƯỜNG

    (Trung tâm Công nghệ sau thu hoạch)

    Các sở ngành đã khởi động Tiếp tục chuyên đề “Chống ùn tắc giao thông tại TPHCM”, chúng tôi gửi đến bạn đọc những hoạt động mới nhất của thành phố cũng như các ý kiến đóng góp của một số chuyên gia và nhà quản lý xung quanh nội dung này. Theo báo cáo bước đầu của Sở Giao thông Vận tải TPHCM – đơn vị được UBND TPHCM giao nhiệm vụ tổng kết công tác triển khai thực hiện Quyết định 25/2011 ngày 14-5-2011 của UBND TPHCM về giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011 – 2021 tầm nhìn đến 2021, đến nay đã có 14 đơn vị xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch hành động. Xong phần nghiên cứu

    Mới hơn 5 tháng kể từ khi UBND TPHCM ban hành Quyết định 25 về giảm ùn tắc giao thông giai đoạn từ 2011 – 2021 nhưng nhiều sở ngành được giao nhiệm vụ thực thi quyết định đã xây dựng xong kế hoạch hành động cho đơn vị mình. Một kết quả đáng ghi nhận song cũng chưa hẳn là thành tích xuất sắc bởi đa phần những kế hoạch này đều nằm trong chức trách cũng như nhiệm vụ công tác thường kỳ của các sở ngành.

    Đứng đầu trong danh sách những đơn vị xây dựng xong kế hoạch triển khai chương trình chống ùn tắc giao thông của TPHCM là Sở Giao thông Vận tải với 26 nhiệm vụ đã cơ bản hoàn thành. Đơn cử các quy hoạch về phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng, về bến bãi hàng hóa đường bộ, về phát triển mạng lưới giao thông thủy… đều đã được Sở Giao thông Vận tải hoàn chỉnh và đang trình UBND TPHCM xem xét. Trong nhiều lĩnh vực, Sở Giao thông Vận tải đã chủ động triển khai một số phần việc như lập dự án nạo vét một số tuyến đường thủy nội địa để tạo cú hích cho sự phát triển của loại hình vận tải này.

    Đặc biệt, sở đã hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu triển khai loại hình vận tải hành khách công cộng bằng đường thủy để chia tải cho hệ thống đường bộ đang quá tải. 4 khu quản lý giao thông đô thị thuộc sở đã xây dựng kế hoạch tổ chức giao thông cho từng khu vực đồng thời lên kế hoạch giải quyết ùn tắc giao thông cho từng giai đoạn. Một vành đai giao thông mới nhằm hạn chế xe khách từ 30 chỗ trở lên lưu thông trong các giờ cao điểm sáng, chiều đang được Sở Giao thông Vận tải soạn thảo.

    Song hành theo đó là kế hoạch xây cầu vượt, hầm chui qua đường cho người đi bộ được chuẩn bị khá chi tiết. Công tác nghiên cứu các vị trí dừng chờ khách cho taxi ở một số khu vực thuận lợi trong trung tâm thành phố đang được tính toán.

    Đề án đổi mới xe buýt, phát triển xe buýt chạy bằng khí CNG, làm đường dành riêng cho xe buýt nhằm từng bước triển khai loại hình vận tải công cộng BRT có sức chở lớn đã được Sở Giao thông Vận tải trình UBND TPHCM xem xét.

    Các chỉ tiêu cụ thể về chống ùn tắc giao thông theo Quyết định 25/2011 của UBND TPHCM

    – Tổng chiều dài đường làm mới đưa vào sử dụng: 210km.

    – Số cây cầu xây dựng mới đưa vào sử dụng: 50 cây cầu.

    – Mật độ đường giao thông đến năm 2021 đạt 1,87km/km²; đến năm 2021 đạt 2,17km/km².

    – Tỷ lệ đất dành cho giao thông đến năm 2021 đạt 8,18%; đến năm 2021 đạt 12,2%.

    – Khối lượng vận tải hành khách công cộng đô thị đến năm 2021 đáp ứng được 15% nhu cầu đi lại; đến năm 2021 đáp ứng được 30% nhu cầu đi lại.

    – Kìm hãm và giảm dần số vụ ùn tắc giao thông.

    – Giảm 5% số vụ, số người chết và số người bị thương do tai nạn giao thông hàng năm so với năm liền kề trước đó.

    Sở Tài nguyên – Môi trường có một nhiệm vụ và đã hoàn thành trong quý 2-2011: Rà soát, xác định vị trí, địa điểm, pháp lý về đất đai, quy mô diện tích cụ thể các địa điểm quy hoạch xây dựng bến bãi cho xe buýt trên địa bàn thành phố. Đến nay, Sở Tài nguyên – Môi trường đã thống nhất được với 15/24 quận, huyện về quỹ đất dành cho giao thông tĩnh với diện tích 676,22ha/1.141,03ha (bao gồm các bến bãi hiện có là 72,87ha), đạt tỷ lệ 59,26% so với quy hoạch.

    Thách thức lớn nhất đang ở… phía trước

    Theo tiến sĩ Nguyễn Trọng Hòa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM, xây dựng được quy hoạch, kế hoạch phát triển đô thị, chống ùn tắc giao thông nghĩa là mới đi được 30% đoạn đường. Triển khai thực hiện tốt quy hoạch mới là 70% đoạn đường và là giai đoạn quyết định nhất. Ngoại trừ một số sở, ngành như Kế hoạch – Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên – Môi trường… chủ yếu thực hiện công tác chống ùn tắc giao thông bằng công tác nghiên cứu, riêng Sở Giao thông Vận tải với hàng loạt dự án cụ thể đang rất cần nguồn tài chính mạnh mẽ cũng như một cơ chế mang tính đột phá để thực hiện nhiệm vụ của mình.

    Ông Bùi Xuân Cường, Phó Giám đốc Sở Giao thông Vận tải chuyên trách giao thông cho rằng, để xây dựng hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông đúng theo quy hoạch, thành phố cần hàng trăm ngàn tỷ đồng/năm. “Hay như việc đổi mới xe buýt cũ, đầu tư thêm xe buýt mới, làm đường dành riêng cho xe buýt thành phố cũng phải đầu tư hàng trăm ngàn tỷ đồng”, ông Dương Hồng Thanh, Phó Giám đốc chuyên trách vận tải của Sở Giao thông Vận tải nói. Và sau cùng để xây dựng đủ 6 tuyến metro theo quy hoạch, thành phố phải có hàng tỷ USD… Như vậy, từ những tín hiệu tốt ban đầu: các sở, ngành cùng xắn tay nghiên cứu các giải pháp chống ùn tắc giao thông cho đến khi trật tự an toàn giao thông được lập lại, TPHCM còn phải đi những bước dài nữa. Tuy nhiên, khởi đầu như thế cũng là tốt. Vấn đề còn lại là sự quyết tâm thực hiện.

    Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hòa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM: Doanh nghiệp địa ốc nên chia sẻ gánh nặng với thành phố Viện Nghiên cứu phát triển đang nghiên cứu đề án “thu phí phát triển hạ tầng”như là một trong những giải pháp thu hút nguồn lực cho phát triển hạ tầng giao thông, chống ùn tắc giao thông. Báo Sài Gòn Giải Phóng đã có cuộc trao nhanh đổi với Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hòa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM xung quanh vấn đề này.

    – Phóng viên: Thưa tiến sĩ, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực này lo lắng cho rằng đã phải đóng rất nhiều khoản thuế, phí và lệ phí khác nhau. Nay nếu phải đóng thêm “phí phát triển hạ tầng”, e doanh nghiệp không chịu nổi. Lý do để viện triển khai đề án trên là gì? Và ông nghĩ sao về ý kiến của các doanh nghiệp?

    – Nhưng đã gọi khoản tiền này là “phí phát triển hạ tầng” thì phải được Hội đồng nhân dân TPHCM xem xét chấp thuận?

    – Đúng thế, đề án này khi hoàn thành, nếu muốn triển khai thực hiện, UBND TPHCM sẽ phải trình HĐND TP xem xét chấp thuận. Thậm chí nếu cần, thành phố sẽ báo cáo Chính phủ xin chủ trương. Tuy nhiên, bên cạnh việc vận động doanh nghiệp đóng góp, tôi cho rằng TPHCM vẫn phải nỗ lực thu hút các nguồn vốn ODA, đa dạng hóa các hình thức thu hút đầu tư như BOT, BT, PPP… vì xây dựng hạ tầng đòi hỏi những nguồn vốn rất lớn, không thể trông chờ vào sự đóng góp “hảo tâm” của doanh nghiệp kinh doanh địa ốc được.

    SƠN LAM

    AN NHIÊN Xem xét đồng bộ các yếu tố tác động

    Để giải quyết tận gốc nạn kẹt xe tại TPHCM trong bối cảnh hiện nay, chính quyền TP cần có đề án “Đánh giá sức chứa giao thông vận tải hiện tại và đề xuất sức chứa hợp lý cho từng giai đoạn” dựa trên quan điểm phát triển bền vững kinh tế – xã hội – môi trường. Từ đó tham mưu cho các cấp lãnh đạo có những quyết sách đúng đắn cho từng yếu tố tham gia giao thông:

    – Yếu tố con người: Ý thức dân chúng ở mức độ nào trong khu vực; tăng cường giáo dục giao thông trong nhà trường và các phương tiện thông tin đại chúng; dân số quá tải ở mức độ nào, vùng nào, khống chế nhập cư hay giãn dân, bố trí lại các cơ sở sản xuất, xây dựng khu dân cư, đô thị vệ tinh…

    Ô tô cá nhân là một trong những phương tiện gây ùn tắc giao thông. Ảnh: Thanh Tâm

    – Yếu tố phương tiện:

    Có cương quyết giảm phương tiện cá nhân không và đưa ra cách giảm thuyết phục dân chúng; cương quyết bỏ các loại phương tiện cũ kỹ, lạc hậu; tổ chức cho các phương tiện lưu thông như thế nào; chỗ nào chạy hỗn hợp, chỗ nào phân luồng, một chiều, hai chiều; từng bước đưa các phương tiện hiện đại, lịch sự, văn minh, vận chuyển khối lượng lớn vào vận hành khai thác… Phương tiện hiện đại, tiện nghi, sạch đẹp sẽ là thông điệp không lời đến cộng đồng, sẽ là một kênh truyền tải ý thức cộng đồng miễn phí hữu hiệu nhất.

    – Yếu tố cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Hiện nay, TPHCM chỉ có mạng lưới cầu – đường bộ trên mặt đất và một số ít các giao cắt khác mức; diện tích dành cho giao thông là quá nhỏ (kể cả giao thông tĩnh) khi mà dân cư đổ dồn về đây ngày một tăng, lượng phương tiện cá nhân tăng chóng mặt (nhất là xe máy) với hệ số sử dụng chỗ ngồi rất thấp (hầu hết 1 người/xe máy, 2 – 3 người/xe hơi).

    Còn khoảng 10 năm nữa TPHCM mới có 1 – 2 tuyến metro vận tải khối lượng lớn mà cũng chỉ đi ngầm ở địa phận trung tâm, còn lại vẫn đi nổi trên mặt đất. Còn đường trên cao mới nghiên cứu một tuyến dọc kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, nhưng kinh phí xây dựng rất lớn.

    Trên mặt đất sẽ làm gì? Có nên mở rộng đường nội ô hay không, khi tổng kinh phí đền bù khổng lồ và tài sản của dân bị đập bỏ mà hiệu quả lại rất kém, thậm chí đi ngược lại mong muốn của cộng đồng; đã đến lúc cần bố trí gấp mạng lưới bến đỗ xe tại vòng ngoài trên các hướng chính trước khi đi vào trung tâm nội ô thành phố; tăng cường bãi đỗ xe ngầm tại các công viên, siêu thị, công sở, trường học, chỗ tập trung đông dân cư.

    Đối với mạng lưới đường nội ô không nên mở rộng mà tập trung chỉnh trang đô thị, đầu tư đồng bộ một lần và lâu dài (công trình ngầm, mặt đường, vỉa hè, cây xanh, chỗ lên xuống…) trên từng tuyến cụ thể (thà làm đồng bộ tốt một tuyến còn hơn làm dàn trải)…

    Th.S NGUYỄN NHƯ TRIỂN

    (PGĐ TTNC kinh tế miền Nam Viện Chiến lược phát triển – Bộ KH-ĐT)

    Tình trạng khẩn cấp cần giải quyết

    Tôi rất đồng tình với ý kiến bức xúc đại diện cho đông đảo cử tri của đại biểu Quốc hội Lê Thị Nga (Thái Nguyên) khi nói về tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông ngang với tiêu chí tình trạng khẩn cấp. Có thể nào chấp nhận thực tế mỗi năm tai nạn giao thông cướp đi 11.000 mạng sống và gây thương tích cho hàng chục ngàn người khác.

    Làm sao người dân ở các đô thị lớn có thể sống chung với kẹt xe, ùn tắc giao thông hết năm này đến năm khác? Không thể tính hết hệ lụy, hậu quả nghiêm trọng từ bóng đen tai nạn giao thông cũng như căn bệnh ùn tắc giao thông đang diễn ra ngày một trầm trọng, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống nói chung.

    Đúng như nhận định của đại biểu Lê Thị Nga, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng tồi tệ về bức tranh giao thông ở Việt Nam là do công tác quản lý nhà nước về giao thông ở các cấp yếu kém, kèm theo các giải pháp thiếu kiên quyết, hành động nửa vời, “đầu voi đuôi chuột”, thậm chí tiêu cực… Có thể nói luật không thiếu, các quy định có thừa thế nhưng, việc thực thi chậm trễ thiếu trách nhiệm và không ai bị kỷ luật vì để xảy ra tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông kéo dài.

    Đã đến lúc chúng ta phải đưa ra quyết sách phù hợp, sáng suốt để giải bài toán giao thông, cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông tương xứng với tốc độ phát triển nhanh phương tiện vận tải, phương tiện xe cá nhân và nhu cầu đi lại bằng phương tiện công cộng. Nếu không làm mạnh mẽ, quyết liệt và chọn ra giải pháp đúng vì lợi ích cộng đồng, vì sự phát triển bền vững thì ùn tắc giao thông và nỗi đau tai nạn giao thông vẫn chưa có lối ra. Như thế, nếu còn những quan ngại, đắn đo trong việc tìm một giải pháp làm hài lòng tất cả các đối tượng trong xã hội thì chúng ta vẫn tiếp tục bế tắc với bài toán nêu trên.

    HÀ ANH

    Người dân TPHCM phải sống chung với cảnh kẹt xe đến bao giờ? Ảnh: K.B.

    Loay hoay giữa vòng xoáy

    Mấy ngày gần đây, sau ý kiến đề nghị thay đổi giờ làm việc, giờ học theo đề xuất của Bộ trưởng Bộ GTVT nhằm chống kẹt xe ở Hà Nội và TPHCM, dư luận có khá nhiều ý kiến đồng tình và phản ứng. Theo tôi, bài toán kẹt xe tương tự như bài toán cách đây mươi, mười lăm năm, TPHCM đã vất vả trong việc giải tỏa nhà ven kênh Nhiêu Lộc do một thời gian buông lỏng trong việc xây cất, lấn chiếm.

    Các giải pháp như thay đổi giờ làm việc, giờ học… có thể ít nhiều phát huy hiệu quả nhưng giống như người loay hoay giữa vòng xoáy trong khi thác nước vẫn tiếp tục ồ ạt đổ xuống không dừng. Chặn dòng chảy, thiết nghĩ là giải pháp gốc cho vấn đề nan giải này. Cứ nhìn vào con số sẽ thấy. Tại Hà Nội, chỉ trong 5 năm, từ 2005 – 2010, lượng xe ô tô lên đến 300.000 chiếc, tốc độ tăng bình quân từ 14% – 16%/năm.

    Tại TPHCM, mỗi ngày có 1.200 xe gắn máy và 100 ô tô đăng ký mới. Người ta tính ra rằng, tại TPHCM, cứ mỗi phút có thêm 1 xe gắn máy và 15 phút có thêm 1 xe ô tô đăng ký mới. Chỉ mỗi xe gắn máy chiếm 5m² và ô tô chiếm 20m² mặt đường thì chỉ một đêm thức dậy thành phố phải cần thêm 8.000m² mặt đường cho xe lưu thông. Đó là chưa kể, ngoài 5 triệu xe đang lưu hành còn có thêm 1 triệu xe gắn máy và 60.000 ô tô lưu hành vào thành phố mỗi ngày… Những con số choáng ngộp!

    Trong lúc người dân và nhà nước đang loay hoay với bài toán kẹt xe thì mới đây người ta giật mình khi Honda VN công bố ăn mừng xuất xưởng chiếc xe máy thứ 10 triệu. Riêng năm 2010, hãng này đã bán ra 1,7 triệu xe và dự kiến năm 2011 sẽ bán được 2 triệu chiếc. Đó là chưa kể số lượng xe của Vespa, Suzuki… Nhiều loại xe gắn máy vẫn tiếp tục được các nhà sản xuất tung ra: sau xe SH nay đã có phiên bản SHi, sau Piaggio nhập khẩu nay đã có xe lắp ráp trong nước, sau Air Blade Thái là hàng loạt phiên bản mới lắp ráp trong nước…

    Riêng ô tô, con số từ VAMA cho biết, 10 tháng của năm 2010, lượng xe bán ra lên đến 88.600 chiếc ô tô, bên cạnh những dòng siêu xe và xe nhập khẩu nguyên chiếc vẫn tiếp tục đổ vào VN bằng nhiều con đường khác nhau.

    Theo tôi, điều chỉnh giờ học, giờ làm… để chống kẹt xe chỉ là giải pháp “ngọn”. Chặn dòng chảy xe gắn máy và ô tô cá nhân lắp ráp cũng như nhập khẩu sẽ là giải pháp gốc, hữu hiệu để giảm lượng xe mới tham gia giao thông trên mặt đường. Bên cạnh đó, nhà nước cần có quy định loại dần những xe cũ, quá niên hạn sử dụng đồng thời bù đắp bằng những phương tiện công cộng như xe buýt, xe điện ngầm… Nếu không chặn dòng chảy xe cá nhân lắp ráp và nhập khẩu mới, dù có tăng cường thêm xe buýt, xe điện cũng chỉ làm cho giao thông vốn đang bị kẹt nghiêm trọng lại càng nghiêm trọng thêm.

    Giải pháp Hạn chế xe cá nhân (xe máy hay ôtô) cho tôi cảm nhận như là ngành giao thông đang ùn tắc giao thông nên hạn chế xe cá nhân. Thiết nghĩ ùn tắc giao thông là một vấn đề lớn của thành phố, chuyện không thể đơn giản và dễ dàng như thế được mà sẽ có hàng loạt câu hỏi được đặt ra như là “Người dân dùng phương tiện gì để đi lại?” và rất nhiều vấn nạn được đặt ra cần phải giải quyết.

    Xe cá nhân hay xe cộ nói chung lưu thông trên đường là lẽ đương nhiên; không phải là tội đồ mà là nạn nhân của nạn kẹt xe! Giải pháp của chúng ta là nhằm giải quyết nạn kẹt xe, chứ không phải là cưỡng chế xe cá nhân (xe máy, ôtô) hay xe cộ nói chung để giải phóng mặt… đường. Có thể nói chúng ta đang giải quyết vấn đề bằng quy trình ngược!

    Phải nhìn nhận như lãnh đạo UBND TPHCM đã nêu ra trong buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ GTVT về hiện trạng công trình giao thông đô thị của TP với quỹ đất dành cho giao thông quá thấp (chỉ chiếm dưới 10% diện tích đất đô thị) cũng như theo sự đánh giá của các nhà chuyên môn thì mạng lưới giao thông TP phân bố không đều, đường ngắn và hẹp quá lỗi thời, quản lý đô thị chưa hợp lý… Đây chính là nguyên nhân làm ùn tắc giao thông cần phải giải quyết.

    Ở đây cũng phải ghi nhận những nỗ lực của lãnh đạo TP, của Chính phủ trong việc giải quyết ùn tắc giao thông, giữ gìn an toàn giao thông đô thị với các dự án như mở các tuyến metro, cải thiện mạng lưới giao thông công cộng (xe buýt), mở đường, xây cầu, phân luồng, giãn dân, xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, dời các bệnh viện trường học ra ngoài trung tâm, triển khai dự án bãi đậu xe ngầm…

    Tuy nhiên với nhiều lý do, điều này vẫn chưa theo kịp sự phát triển mọi mặt của TP. Vì thế nếu muốn nhanh chóng giải quyết ùn tắc giao thông, theo tôi TP phải tăng tốc các dự án. Giải pháp đó căn cơ hơn giải pháp hạn chế xe cá nhân!

    Trước quyết tâm của Bộ trưởng Bộ GTVT về mong muốn sớm cải tạo bức tranh giao thông đô thị lộn xộn, người dân rất đồng tình. Bài toán hóc búa nhằm giảm tải ùn tắc giao thông không đơn giản và tất cả giải pháp của các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra đều cần thiết. Thế nhưng, bóc tách và chọn giải pháp đột phá nào phù hợp, góp phần cải thiện ngay tình trạng ùn tắc, kẹt xe là việc phải ưu tiên làm và làm bằng được.

    Chúng tôi đồng tình với giải pháp hạn chế sử dụng xe cá nhân lưu thông nhưng cảm thấy phía trước mờ mịt lối ra, nếu không muốn nói là bế tắc chuyện đi lại. Làm sao có thể đưa đón con đi học bằng xe buýt, làm sao có thể đến nơi làm việc không bị trễ giờ làm nếu chọn buýt… Cứ nghĩ như thế nên tôi và nhiều người đành tiếp tục chọn xe máy đồng hành với cuộc sống mưu sinh, sinh hoạt thường ngày.

    Để người dân từ bỏ xe cá nhân, chọn phương tiện giao thông công cộng thì ngành GTVT TPHCM phải hành động khẩn, vào cuộc ngay lập tức. Đó là tập trung cải tạo hạ tầng giao thông theo hướng hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển đô thị đông dân như đầu tư xây dựng hệ thống tàu điện ngầm, tuyến đường trên cao.

    Trước mắt, TPHCM phải quan tâm cải thiện hình ảnh xe buýt, tạo điều kiện cho xe buýt vận hành phù hợp, thuận lợi, đáp ứng nhu cầu đi lại của các tầng lớp nhân dân. Thành phố phải sớm thay đổi loại xe buýt to cồng kềnh bằng xe buýt nhỏ, gắn máy lạnh, có thể đón khách ở những tuyến đường nhỏ, khu dân cư xa…

    Song song đó, thành phố phải ưu tiên dành đất công cho quy hoạch bến bãi và xúc tiến ngay việc khoét vỉa hè rộng làm bến đỗ cho xe buýt đón trả khách an toàn, giảm bớt gây kẹt xe… Nếu 10 năm về trước, thành phố quyết tâm thực hiện quy hoạch đô thị và ưu tiên dành đất để phát triển giao thông công cộng thì bây giờ chúng ta đâu phải đau đầu vì hàng loạt cái khó, tốn kém chi phí đền bù giải tỏa.

    Hữu Lợi – Nguyễn Trần – Nguyễn Đắc Nghĩa Giải pháp chống kẹt xe – Tăng hiệu quả xe buýt

      Xe buýt cho người khuyết tật: Chờ đến bao giờ?

    Anh Lê Minh Duy bị bệnh bại liệt, phải đi làm bằng xe lăn. Do không có cơ hội tiếp cận với xe buýt dành cho người khuyết tật nên anh phải chọn giải pháp thuê nhà gần nơi làm việc. Anh cho biết: “Tuy TP đã trang bị một số ít xe buýt dành cho người khuyết tật nhưng chỉ giới hạn chạy một số tuyến nên chúng tôi muốn “đồng hành cùng buýt” đến những nơi cần đến rất khó khăn”.

    Trong khi nhu cầu được đi học, đi làm bằng xe buýt của cộng đồng người khuyết tật ở TPHCM rất lớn nhưng hiện nay số lượng xe buýt và nhà chờ dành cho họ còn rất ít. Do đầu tư các tuyến xe buýt chưa nhiều và việc đón khách là người khuyết tật thiếu nhiệt tình nên nhiều người khuyết tật đành “chia tay” với xe buýt.

    Vì lý do ít người khuyết tật đi lại nên một số xe buýt ở TPHCM dù được trang bị sàn thấp đã tháo bỏ khiến cho cơ hội đi lại bằng phương tiện công cộng của họ càng thu hẹp hơn. Từ năm 2011, Luật Người khuyết tật Việt Nam có hiệu lực đã mở thêm cơ hội, tạo điều kiện cho người khuyết tật trong cả nước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, hội nhập với xã hội.

    Tuy nhiên, theo bà Võ Thị Hoàng Yến, Giám đốc Trung tâm Khuyết tật và phát triển (DRD), để có thể hòa nhập vào cộng đồng, tham gia học tập, lao động và các hoạt động xã hội khác, người khuyết tật rất cần sự bảo trợ của nhà nước trong việc tháo bỏ rào cản về phương tiện giao thông công cộng. Để giúp người khuyết tật chạm vào ước mơ sớm được đi xe buýt, trong kiến nghị gởi đến UBND TPHCM, các ngành chức năng ở TPHCM và Trung tâm Quản lý và Điều hành vận tải hành khách công cộng, Trung tâm DRD đề xuất nên mua xe buýt sàn thấp thay vì sàn cao như những xe buýt đang sử dụng. Điều này đem lại nhiều cái lợi cho người khuyết tật cũng như những đối tượng khác là người già, trẻ em, phụ nữ có thai…

    Đồng tình với quan điểm này, Trung tâm Quản lý và Điều hành vận tải hành khách công cộng cho rằng thành phố và ngành vận tải công cộng đang hướng tới dịch vụ xe buýt gần gũi hơn cho người khuyết tật. Ngoài việc cải tạo một số xe buýt phục vụ người khuyết tật trên tuyến Sài Gòn – Bình Tây và tuyến Bến xe miền Tây – ký túc xá Đại học Quốc gia, thành phố cũng đầu tư thí điểm xe buýt chạy bằng nhiên liệu sạch CNG, có lắp đặt thêm thiết bị hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận.

    Song song đó, trong thời gian tới (2011-2020), trung tâm sẽ tiến hành cải tạo 210 vị trí trạm dừng, nhà chờ xe buýt đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận được với xe buýt. Ngoài ra, kế hoạch đầu tư sửa chữa vỉa hè trên từng tuyến đường sẽ được thực hiện đồng bộ về kết cấu, thiết kế để đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận và sử dụng. Mục tiêu mà trung tâm và ngành vận tải công cộng TP đặt ra là đảm bảo đến năm 2021 số lượng phương tiện xe buýt đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về giao thông tiếp cận đạt 5%-10% trên tổng số lượng xe buýt toàn TP.

    Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này không dễ và cái khó mà trung tâm đưa ra chính là giá thành đầu tư mua xe buýt tiếp cận cao hơn giá xe buýt bình thường 30%-50%. Vốn ở đâu và TP có cấp bù lãi suất vay? Đây là câu hỏi chưa có lời giải và dự án đầu tư xe buýt tiếp cận của TPHCM vẫn đang chờ UBND TPHCM xem xét.

    Trong khi Bộ trưởng Bộ GTVT đang kêu gọi người dân đồng hành cùng buýt thì việc tạo cơ hội cho cộng đồng người khuyết tật được tiếp cận xe buýt là chủ trương nhân văn và kinh tế. Thay vì “nhốt” những người khuyết tật ở nhà và nhà nước phải trợ cấp nuôi họ thì chúng ta hãy mở rộng cơ hội hội nhập xã hội, tự tìm việc làm, thu nhập, cải thiện cuộc sống cho họ.

    Tại các nước phát triển và ở quanh chúng ta như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…, người khuyết tật được tạo điều kiện thuận lợi để đi lại bằng phương tiện công cộng như xe buýt, metro, taxi… Vậy đến bao giờ người khuyết tật ở TPHCM nói riêng và Việt Nam nói chung có thể tiếp cận rộng rãi với phương tiện giao thông công cộng? Rất mong UBND TPHCM và các ngành chức năng sớm triển khai dự án nói trên.

    Vấn nạn kẹt xe, ùn tắc giao thông tại Hà Nội và TPHCM giờ đây đã trở thành nỗi ám ảnh đối với những người dân đang cư ngụ, sinh sống ở hai đô thị lớn này. Cho nên, câu chuyện đi tìm giải pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng trên luôn thu hút sự chú ý của dư luận. Thời gian vừa qua, các phương tiện thông tin đã đăng tải nhiều ý kiến khác nhau chung quanh việc hạn chế xe cá nhân. Nhưng theo tôi, còn có một “thủ phạm” gây ùn tắc giao thông cần phải được “điểm danh” để xử lý, đó là những tuyến xe buýt chưa hợp lý, kém hiệu quả!

    Đơn cử như sáng 24-10, vào khoảng 8 giờ 15, tôi lưu thông trên đường Hồng Bàng (đoạn quận 5) – con đường có lộ giới thuộc vào hạng lý tưởng của TPHCM, với 2 chiều xe được tách bạch bởi tiểu đảo hoa viên ở giữa, thế nhưng bên làn đường chạy về hướng Bến xe miền Tây, dòng xe cộ phải chậm chạp nhích từng bước một. Nguyên nhân là do cùng thời điểm ấy, trên đoạn đường này có đến… 6 chiếc xe buýt cứ lần lượt tấp vào nhà chờ rồi trở ngược ra đường.

    Theo tôi, trong gói giải pháp chống ùn tắc giao thông cần có nội dung sắp xếp lại luồng tuyến xe buýt phù hợp với nhu cầu sử dụng. Không nên cứng nhắc rằng ở một lộ trình thì bắt buộc cứ sau vài chục phút là phải có một chuyến xe. Nếu như lộ trình đó chỉ đông khách vào một số giờ nhất định (ví dụ như giờ vào ca, vào học buổi sáng và tan tầm buổi chiều) thì chúng ta có thể tăng chuyến vào giờ cao điểm và giảm chuyến, thậm chí không tổ chức chuyến trong giờ thấp điểm.

    Cách làm này có thể gây bất tiện cho một vài hành khách nhưng số đông người lưu thông trên đường sẽ được thụ hưởng lợi ích. Thiết nghĩ, ngành giao thông cần khảo sát và sắp xếp lại để tăng hiệu quả hoạt động của xe buýt.

    K.HÀ – HOÀNG TRỌNG KHÔI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Đơn Giản Tránh Kẹt Xe Không Phải Ai Cũng Biết
  • Giảm Thiểu Kẹt Xe Bằng Giải Pháp Công Nghệ
  • Giải Pháp Giảm Kẹt Xe: Số Đông Hưởng Lợi, Kiên Quyết Triển Khai
  • Nha Trang Bàn Giải Pháp Chống Kẹt Xe
  • Tp.hcm Đưa Ra Hàng Loạt Giải Pháp Chống Kẹt Xe Cuối Năm
  • Giảm Thiểu Kẹt Xe Bằng Giải Pháp Công Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Đơn Giản Tránh Kẹt Xe Không Phải Ai Cũng Biết
  • Giải Pháp Nào Chống Kẹt Xe?
  • Giải Pháp Chống Kẹt Xe Ngã Tư Thủ Đức
  • Giải Quyết Kẹt Xe Như Thế Nào?
  • Giải Pháp Đơn Giản Giúp Giải Quyết Nạn Kẹt Xe
  • Việt Nam đặt mục tiêu trở thành trung tâm khởi nghiệp công nghệ của Đông Nam Á. Xét trên số lượng những ý tưởng táo bạo đến từ Việt Nam, kế hoạch này đang có những thành công nhất định. Nhưng song song với sự phát triển đó, khách đến đây gặp phải một thực trạng khác: nạn kẹt xe đang tăng.

    Theo báo cáo điều chỉnh Chiến lược phát triển giao thông vận tải đến 2021, tầm nhìn đến năm 2030 của bộ Giao thông Vận tải, trong khoảng thời gian từ năm 2000 tới 2011, số lượng xe hơi và xe gắn máy tại chúng tôi tăng gấp năm lần. Bất kỳ ai đã từng lái xe trên tuyến đường Điện Biên Phủ hay Hai Bà Trưng, chúng tôi hay giao lộ Phan Trọng Tuệ, Hà Nội trong giờ cao điểm đều dễ dàng nhận ra tình trạng giao thông càng ngày trở nên xấu đi.

    TP.HCM, Hà Nội và các thành phố đang phát triển khác của Việt Nam đang đứng trước một xu thế toàn cầu – đô thị hoá. Từ con số 13% vào năm 1900, tỉ lệ dân số thế giới sống tại các thành thị được dự đoán sẽ tăng lên 70% vào năm 2050.

    Việc lưu thông khi ấy sẽ không phải là một việc dễ dàng, và sẽ cần rất nhiều sự đầu tư vào hệ thống giao thông công cộng. Chính phủ ước tính sẽ cần đến 48 tỉ đô la Mỹ trong giai đoạn 2021 – 2021 để nâng cấp hạ tầng cơ sở giao thông. Đây là một khoản tiền khổng lồ đối với bất kỳ chính phủ nào. Nhưng vấn đề có thể được giải quyết nhờ một lĩnh vực chính phủ cũng đang nỗ lực khuyến khích phát triển: công nghệ.

    Bên cạnh ứng dụng công nghệ trong quy hoạch, quản lý, điều phối giao thông công cộng, công nghệ có thể được ứng dụng để tạo ra các giải pháp mới. Chẳng hạn các ứng dụng gọi xe dựa trên nền kinh tế chia sẻ giúp mọi người dễ dàng hơn trong việc chia sẻ phương tiện cá nhân, đáp ứng nhu cầu di chuyển mà số lượng xe không phải tăng thêm. Hay ứng dụng đi chung xe (carpooling) không làm chính phủ tốn thêm chi phí, và có thể tạo nên những ảnh hưởng ngay lập tức. Việc giảm kẹt xe và tạo nên những môi trường lành mạnh, đáng sống sẽ là một trong những kết quả tích cực.

    Uber đã mang dịch vụ đi chung xe này đến hơn 30 thành phố qua công nghệ uberPOOL, kết nối nhiều hành khách đi cùng hướng cùng một lúc. Tại Manila, hơn 120 ngàn người đi Metro Manila đã sử dụng dịch vụ này kể từ khi chính thức ra mắt vào tháng 6 vừa qua. Hiệu quả này giúp tiết kiệm được hơn 75 ngàn lít nhiên liệu, giảm được 175 triệu tấn khí thải CO2. Dịch vụ này cũng đã được triển khai tại Singapore, Jakarta.

    Tất nhiên, đi chung xe không phải là một ý tưởng mới. Người dân Việt Nam hay bất kỳ nơi nào trên thế giới đều đã từng thử đi chung xe từ hàng thập kỷ trước. Điểm khác biệt lớn nhất lúc này là những ứng dụng chia sẻ chuyến đi có thể kết nối ngay tức thì các hành khách mong muốn đến cùng một địa điểm vào cùng một thời điểm. Được công nghệ hỗ trợ, đây sẽ là một mô hình có thể thành công và tạo nên ảnh hưởng ở tầm rộng lớn.

    Và chúng tôi tin rằng, hệ thống luật nên tạo cơ hội cho người thường sử dụng phương tiện cá nhân để chia sẻ chuyến đi và việc đi chung có thể được nhân rộng.

    Một dấu hiệu đáng mừng là đang ngày càng có nhiều cải cách, ngày càng nhiều thành phố đang giới thiệu các bộ luật rất tiến bộ. Cốt lõi của các điều luật mới này chính là niềm tin rằng một công dân bình thường được quyền chở một công dân khác, miễn là tuân thủ theo các điều luật đảm bảo về an toàn và các tiêu chuẩn bảo vệ hành khách.

    Giờ đây, công nghệ có khả năng giúp cho các thành phố của chúng ta trở nên ít tắc nghẽn hơn và đáng sống hơn. Nhưng việc giảm phụ thuộc vào xe hơi cần cả một sự thay đổi về tư duy cũng như công nghệ. Trong hàng thập kỷ, xe hơi vẫn được xem như một biểu tượng của sự thành đạt. Tuy vậy, tư duy này đang bắt đầu thay đổi khi người tiêu dùng nhận ra rằng việc nhấn một nút trên điện thoại để có thể bắt được xe sẽ dễ dàng hơn việc phải trải qua nhiều rắc rối và chi phí tốn kém khi sở hữu một chiếc xe riêng.

    Vì Việt Nam đang tìm kiếm các giải pháp giảm tắc nghẽn giao thông, chính phủ nên đề nghị Quốc hội xem xét lại các điều luật để có thể khuyến khích việc chia sẻ chuyến đi. Chúng ta không cần phải chờ 5 – 10 năm để có thể tạo nên những thành phố của tương lai. Với những bộ luật tiến bộ cùng công nghệ sẵn có, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng những giải pháp linh hoạt cho các thành phố thông minh từ ngày hôm nay.

    Thuận Phạm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Giảm Kẹt Xe: Số Đông Hưởng Lợi, Kiên Quyết Triển Khai
  • Nha Trang Bàn Giải Pháp Chống Kẹt Xe
  • Tp.hcm Đưa Ra Hàng Loạt Giải Pháp Chống Kẹt Xe Cuối Năm
  • Cần Thay Đổi Suy Nghĩ Trong Giải Quyết Kẹt Xe
  • Giải Pháp Nào Cho Vấn Đề Kẹt Xe Quốc Lộ 51
  • Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Ở Tỉnh Bắc Cạn

    --- Bài mới hơn ---

  • Nền Kinh Tế Việt Nam Dưới Góc Nhìn Kinh Tế Tri Thức
  • Kinh Tế Tuần Hoàn: Cánh Cửa Thần Kỳ Để Việt Nam Phát Triển Bền Vững
  • Hội Thảo “phát Triển Kinh Tế Tuần Hoàn Ở Các Tỉnh, Thành Phía Nam
  • Kinh Tế Tuần Hoàn, Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Cho Doanh Nghiệp
  • Tiểu Luận Đảng Bộ Xã Quỳnh Bảng Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Thời Kì Mới
  • g rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản Việc phát triển kinh tế trang trại nên đi theo trình tự từ đơn giản lên hiện đại, lấy việc phát triển kinh tế hộ làm tiền đề để hình thành kinh tế trang trại, tránh sử dụng các công cụ kích thích kinh tế trực tiếp để tạo ra một hệ thống các trang trại phong trào, không có tính ổn định và bền vững. Xây dựng các hộ gia đình thành các hộ kinh tế tự chủ. Nhiều địa phương miền núi vẫn còn tồn tại hai loại gia đình: Gia đình lớn và gia đình nhỏ. Các gia đình lớn, do tác động của cơ chế làm ăn mới, do những khó khăn ngày càng không thể khắc phục về lương thực, thực phẩm ngày càng phân rã nhanh hơn (đây là khuynh hướng tích cực). Nói chung, ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các gia đình nhỏ (hay là tiểu gia đình) là tế bào của xã hội. Loại hình gia đình này có khả năng thích ứng linh hoạt nhất với nền nông nghiệp tiểu nông. Việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình là rất đúng hướng và cần phải xúc tiến nhanh hơn, mạnh hơn. Tuy nhiên, mấu chốt của vấn đề giao và nhận đất rừng là chỗ phải xác định rõ ràng quyền sở hữu và quyền thừa kế của người nông dân đề người nông dân thực sự yên tâm sản xuất, đầu tư lâu dài theo kiểu canh tác trang trại trên các mảnh đất mà họ đã nhận. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 90 Kinh tế trang trại là lực lượng xung kích đi đầu trong sản xuất nông sản hàng hóa, đồng thời cũng là lực lượng đi đầu trong ứng dụng tiến bộ KH&CN nông nghiệp trong thời kỳ đi lên CNH. Kinh tế trang trại không đơn nhất mà rất đa dạng về đặc điểm, tiềm năng kinh tế kỹ thuật và qui mô sản xuất. Trang trại ở vùng đồi núi khác trang trại vùng đồng bằng, và vùng ven biển. Trang trại sản xuất lương thực, cây công nghiệp, cây ăn trái, khác trang trại chăn nuôi trâu bò, lợn, gà, nuôi trồng thủy sản, và khác trang trại trồng rừng, vì vậy mỗi loại trang trại trong từng thời kỳ có những yêu cầu về KH&CN khác nhau. Kinh tế trang trại lại có qui mô nhỏ, vừa, lớn, do đó khả năng tiếp thu và ứng dụng tiến bộ KH&CN cũng khác nhau. KH&CN nông nghiệp chỉ đem lại hiệu quả kinh tế khi các trang trại lựa chọn đúng được loại hình, mức độ phù hợp với đặc điểm, yêu cầu và khả năng kinh tế kỹ thuật cụ thể của từng trang trại. Trang trại là nơi có thể đẩy mạnh ứng dụng khoa công nghệ làm tác nhân quan trọng để phát triển công nghệ sau thu hoạch: Thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến và thị trường (marketting) – nâng cao giá trị kinh tế của nông sản phẩm hàng hoá. Khi khả năng nguồn cung trong trang trại không đủ thì nó giúp tiêu thụ sản phẩm cho nông dân và cung cấp dịch vụ (vật tư, kỹ thuật v.v…) cho các hộ gia đình xung quanh địa bàn. Với hiệu quả kinh tế được trực tiếp thấy và điều kiện sản xuất trong vùng không có gì khác biệt nhiều, các hộ nông dân trong vùng sẽ học tập làm theo mô hình làm kinh tế của các trang trại này. 3.1.1.2. Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới Sản xuất nông nghiệp cần phải đáp ứng các nhu cầu ngày một tăng của xã hội trong điều kiện nguồn lực bị hạn chế. Vì vậy muốn phát triển bền vững, cách cơ bản để giải quyết vấn đề này là tăng năng suất. Do nhu cầu cấp bách, hiện nay có khuynh hướng là nhiều vùng đất vốn không thích hợp cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 91 sản xuất nông nghiệp cũng được huy động để sản xuất, điều này sẽ gây ra những tác động không tốt cho môi trường do đó nó cần được ngăn chặn. Để được bền vững trong thời hạn dài, việc phát triển kinh tế trang trại cũng phải nhằm vào việc bảo vệ tài nguyên. Nhân dân địa phương cần phải được tham gia trong việc bảo vệ và quản lý lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Họ cần phải được chia sẻ những lợi ích của các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ các khu vực mà họ sinh sống. Vì vậy, để phát triển bền vững các chủ trang trại phải gắn kết được lợi ích của mình với lợi ích cộng đồng. Việc đẩy mạnh áp dụng các kỹ thuật trong các trang trại nhằm nâng cao năng lực sản xuất, giảm tổn thất do sâu bệnh, bảo vệ tài nguyên đất và nước v.v… sẽ tạo ra hạt nhân tốt để kích thích các đối tượng khác cùng áp dụng. Vì vậy cần khuyến khích các chủ trang trại, các nông dân đầu tư vào việc sử dụng đất một cách bền vững bằng cách giao cho họ quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài và tạo điều kiện thuận lợi cho họ sở hữu về các nguồn lợi sản sinh từ đất đai. Phát triển các cách sử dụng lâu bền về công nghệ sinh học, và các trang trại sẽ đóng vai trò là cầu nối để chuyển giao công nghệ này một cách an toàn hợp lý, cho cộng đồng cư dân địa phương, đặc biệt là chuyển giao cho các hộ nông dân đang sản xuất các cây trồng, vật nuôi tương tự. Sự bền vững của nông nghiệp nông thôn còn đòi hỏi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, cần phải có các chính sách để khuyến khích chủ trang trại sử dụng các biện pháp quản lý sản xuất tổng hợp nhằm tránh tình trạng các chủ trang trại vì chạy theo mục tiêu lợi nhuận nên lạm dụng quá mức các chất hoá học để kiểm soát sâu bệnh, diệt trừ cỏ dại hoặc sử dụng các chất kích thích tăng trưởng để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi… gây ra những tác hại lâu dài cho sức khoẻ con người và môi trường sinh thái. Việc phát triển kinh tế trang trại là bước đi tất yếu của nền sản xuất nông nghiệp nước ta trên con đường CNH, HĐH. Tuy nhiên do đặc điểm ở nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 92 thôn Việt nam nói chung và Bắc Kạn nói riêng tồn tại tính cộng đồng làng xã rất cao nên khi đẩy mạnh phát triển KTTT cần phải tính đến yếu tố này. Nghĩa là các trang trại phải dựa trên nền tảng gia đình là chủ yếu, lao động chủ yếu trong trang trại là người nhà hoặc bà con làng xóm. Trang trại phải là một hạt nhân văn hoá của làng xã về mặt cấu trúc, không nên biến trang trại thành một thực thể độc lập với cộng đồng làng xã. Mục đích của chương trình chống nghèo khó là làm cho mọi người có khả năng tốt hơn để có một cuộc sống theo lối bền vững. Sự phát triển kinh tế trang trại ở các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa là cần thiết vì nó có khả năng tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho người dân thiếu việc làm ngày hôm nay và cho những lực lượng lao động đang lớn lên. 3.1.1.3. Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn Trên thực tế, sau nhiều lần tiến hành giao đất canh tác cho nông dân, đến nay đất nông nghiệp nước ta về cơ bản vẫn rất manh mún. Tại miền Bắc bình quân 6.637m2/ hộ, miền Nam 10.757m2/ hộ. Vì vậy, để tiến đến sản xuất hàng hoá, Nhà nước không chỉ dừng lại ở những giải pháp chung chung mà phải có những việc làm thiết thực đẩy nhanh tốc độ DĐĐT, tích tụ ruộng đất. Cần có cơ chế quản lý, khuyến khích nông dân “dồn điền, đổi thửa”, phấn đấu để mỗi hộ có 1 – 2 thửa ruộng; khuyến khích việc cho thuê hoặc chuyển nhượng ruộng đất nhưng để sản xuất, nhằm đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất ở nông thôn, tạo điều kiện để hình thành các trang trại quy mô lớn, sản xuất khối lượng hàng hóa lớn. Theo các chuyên gia, tích tụ ruộng đất phải đi đôi với phát triển ngành nghề, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho nông dân. GS. Nguyễn Lân Dũng cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 93 rằng, để trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2021, lao động nông nghiệp phải giảm xuống chỉ còn 23%, phải chuyển khoảng 50% lao động nông nghiệp hiện nay sang các ngành kinh tế khác, đi đôi với tích tụ đất đai để có thể cơ giới hoá các khâu canh tác và thu hoạch. Ngoài ra, chính sách đất đai phải tạo điều kiện và thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hiện có và khai thác nhanh đất hoang hoá đang còn chiếm một diện tích lớn. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ, thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, nâng cao trình độ công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch. Chú trọng phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cả trong và ngoài nước. Nhân rộng các mô hình liên kết kinh tế hộ nông dân, các hình thức kinh tế hợp tác và HTX, nông lâm trường, kinh tế trang trại gắn với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ. Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ đầu tư ban đầu thoả đáng cho việc chuyển lao động và dân cư đến những nơi khó khăn nhưng giàu tiềm năng kinh tế, có vị trí xung yếu về an ninh, quốc phòng, tạo đà phát triển nhanh cho những vùng này để giảm sự cách biệt. Giải quyết các vướng mắc về chính sách và thể chế để tạo động lực mới thúc đẩy kinh tế – xã hội nông thôn phát triển vững chắc. Đề cao trách nhiệm và tính năng động, sáng tạo của nhiều địa phương, ban ngành trong việc tạo thuận lợi cho nông dân, các thành phần kinh tế có nhu cầu và khả năng mạnh dạn đầu tư phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn theo đúng pháp luật. Về cầu lao động, để nông thôn thực sự phát triển bền vững theo hướng CNH HĐH, trước hết phải phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có làng nghề và kinh tế trang trại, nơi tạo ra thu nhập cao và ổn định hơn. Thực tế cho thấy các loại hình kinh tế này có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tốt hơn và có tiềm lực kinh tế để sẵn sàng đầu tư khi cần thiêt. Kinh tế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 94 trang trại có khả năng làm tăng giá trị sản phẩm theo hướng xuất khẩu và hình thành các thị trường nông sản ngay tại địa phương. Như vậy kinh tế trang trại là lực lượng xung kích đi đầu trong sản xuất nông sản hàng hóa, đồng thời cũng là lực lượng đi đầu trong ứng dụng tiến bộ KH&CN nông nghiệp thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. 3.1.2. Quan điểm riêng đối với tỉnh Bắc Kạn Căn cứ vào kết qủa nghiên cứu của đề tài, đối với tỉnh Bắc Kạn chúng tôi thấy cần thêm một số quan điểm sau: * Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá gắn với việc phát triển các trang trại phù hợp với tiểu vùng sinh thái và công nghệ sinh học. Chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt; phát triển ngành nghề nông thôn để chuyển một số lao động nông nghiệp sang các ngành sản xuất phi nông nghiệp. Hình thành các vùng kinh tế trang trại tập trung theo quy hoạch của tỉnh dành cho các cây trồng, vật nuôi hàng hoá có lợi thế so sánh. Ưu tiên cho phát triển các trang trại mới tập trung vào vùng kinh tế trọng điểm được quy hoạch cho các cây trồng, vật nuôi hàng hoá mũi nhọn, vừa khuyến khích và có cơ chế kích thích sự phát triển nội tại của các cơ sở hiện có điều kiện, phát triển thành loại hình kinh tế trang trại. Cần quan tâm phát triển các trang trại sử dụng nhiều lao động. Hiện nay vấn đề lao động đến độ tuổi không có công ăn việc làm ổn định ở nông thôn là rất quan trọng. Rất nhiều người lao động nông nghiệp ở thị xã Bắc Kạn và các khu công nghiệp bị mất đất trong quá trình đô thị hoá. Họ đang có tiền do đền bù giải phóng mặt bằng, tuy nhiên tìm ra một công việc có thu nhập ổn đinh đối với họ là một vấn đề khó. Việc phát triển kinh tế trang trại còn giải quyết tận gốc làn sóng di dân ra đô thị trong quá trình đô thị hoá và cùng với nó là tệ nạn xã hội và sự cách biệt giàu nghèo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 95 * Khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành nghề, đa dạng hoá các loại hình kinh tế ở nông thôn miền núi, khắc phục tư tưởng và thói quen của việc điều hành nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc với sự chi phối lớn của kinh tế tự nhiên. Các nghề thủ công ở miền núi kém phát triển làm cho quá trình đô thị hoá chậm chạp, mật độ tập trung dân cư thấp, nhu cầu xã hội về tiêu thụ các sản phẩm thủ công chưa đủ cho các nghề này tách khỏi nghề nông. Theo đó, cần phải cấy nghề hình thành làng thủ công ở các vùng miền núi như các làng thủ công ở đồng bằng Bắc bộ. * Về phương diện kinh tế, kinh doanh miền núi có các thế mạnh riêng, vừa mang tính phổ biến, vừa có yếu tố đặc thù. Nói chung thì các thế mạnh của miền núi thể hiện rõ ràng nhất ở hai khả năng cụ thể: + Thâm canh đất rừng, vườn rừng + Chăn nuôi gia súc lớn (chủ yếu là đàn trâu, bò) Thực chất đây chính là mô hình kinh tế nông – lâm hay lâm – nông kết hợp có tác dụng kích thích sự phát triển của khuynh hướng sản xuất hàng hoá. * Bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn sự đa dạng sinh học Sự tổn thất về đa dạng sinh học đang diễn ra ngày một gay gắt, chủ yếu là do sự phá huỷ môi trường sinh sống, sự khai thác quá mức, sự ô nhiễm và do việc đưa vào nuôi trồng các loài động và thực vật nhập ngoại một cách không thích hợp. Sự suy giảm về đa dạng sinh học xảy ra phần lớn là do con người, và trong đó chính cách khai thác tận diệt tự nhiên để phục vụ cho mục đích tối đa hoá lợi nhuận của các cơ sở kinh doanh nông nghiệp phải chịu một phần trách nhiệm. Để đảm bảo sự đa dạng sinh học, ngoài việc cần tiến hành các nghiên cứu dài hạn về tầm quan trọng của sự đa dạng sinh học đối với những hệ sinh thái sản xuất ra hàng hoá và cho những lợi ích về môi trường nhằm có biện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 96 pháp tích cực để bảo vệ các nguồn gien quý. Tỉnh còn cần phải khuyến khích các chủ trang trại, nông dân áp dụng các phương pháp canh tác thân thiện với tự nhiên và các loài sinh vật hoang dã nhằm duy trì và phát triển thêm sự đa dạng sinh học. Việc thực hiện cơ chế phân chia hợp lý và công bằng các lợi ích thu được do sử dụng nguồn tài nguyên sinh vật và tài nguyên gien giữa nơi tạo ra và nơi sử dụng các nguồn tài nguyên này cũng có tác dụng tốt trong vấn đề này. Nhân dân địa phương phải được chia sẻ những lợi ích về kinh tế và thương mại của những nguồn sinh học đa dạng mà họ đã có công duy trì, phát triển và tạo mới. 3.2. NHỮNG ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH BẮC KẠN 3.2.1. Căn cứ để định hƣớng – Căn cứ Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) Đảng Cộng sản Việt nam “Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001-2010”; – Căn cứ Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về chủ trương phát triển kinh tế trang trại; – Căn cứ Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ IX nhiệm kỳ 2005 – 2010; – Căn cứ Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Kạn đến năm 2021; – Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của tác giả luận văn này. 3.2.2. Phƣơng hƣớng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn 3.2.2.1. Phương hướng chung Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Bắc Kạn lần thứ IX đã định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010: “Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo lương thực, tăng nông sản hàng hoá. Khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về đất đai, nguồn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 97 lực. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với vùng, miền. Tăng cường các biện pháp ứng dụng hoa học, công nghệ mới để nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích. Mở rộng phát triển mô hình kinh tế trang trại và trồng rừng kinh tế…”. 3.2.2.2. Định hướng cơ bản phát triển kinh tế trang trại * Đối với nông nghiệp, vừa chú trọng đầu tư thâm canh, chuyên môn hoá vừa kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm đảm bảo tính bền vững trong sản xuất kinh doanh. Về sản xuất lương thực, trọng tâm là lúa nước và ngô lai trên cơ sở thâm canh giống mới có năng suất cao. Về cây công nghiệp ngắn ngày phát triển mạnh thuốc lá, đậu tương, đỗ xanh và đỗ đen, lạc và mía v.v. trên cơ sở sử dụng giống mới vầ sản xuất theo dây chuyền công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng. Trồng thâm canh, tạo vành đai thực phẩm cho thị xã Bắc Kạn đối với các loại rau đậu theo hướng sạch; trồng hoa thương phẩm các loại phục vụ cho nhu cầu thị trường. Về cây ăn quả, tập trung phát triển tính tới nhu cầu thị trường các loại cây như nhãn, vải thiều, mận, cam quýt, hồng không hạt v.v… trên cơ sở chất lượng giống tốt và gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm. * Đối với chăn nuôi: Tập trung phát triển nuôi trâu bò thịt, dê, lợn nạc, gia cầm theo hướng bán công nghiệp, công nghiệp. Trước mắt áp dụng mô hình chăn nuôi bán công nghiệp để phát triển đàn gia súc và gia cầm ở vùng bằng và trên vùng đồi. Tăng cường công tác thú y, phòng chống dịch và đặc biệt chú trọng chất lượng con giống. Phát triển mạnh chăn nuôi trên cơ sở thúc đẩy việc chế biến thức ăn gia súc và nhu cầu thị trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 98 * Vừa chú trọng trồng rừng sản xuất vừa kết hợp với trồng rừng phòng hộ để bảo vệ môi trường sinh thái, bên cạnh đó phát triển mạnh sản xuất lâm sản ngoài gỗ để có nguồn thu nhập trước mắt từ rừng Tăng cường trồng rừng nguyên liệu để cung cấp nguyên liệu cho chế biến, chú trọng các loài cây mọc nhanh, loại gỗ sản phẩm đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Trước mắt tập trung vào các các loại như hồi, thảo quả, sa nhân, chè đắng, song mây v.v… nhưng với cách làm thận trọng theo phương châm có kết quả mới tiếp tục triển khai trên quy mô rộng và có đầu tư lớn. Chú trọng phát triển trang trại theo hướng SXKD tổng hợp gắn với đồi rừng là thế mạnh của địa phương. Gắn phát triển trang trại với kinh doanh dịch vụ như du lịch sinh thái, tham quan học tập… gắn sản xuất với tiêu dùng trong địa phương, gắn sản xuất với môi trường nhằm gia tăng tổng năng suất đầu ra (TFP). * Phát triển mô hình nuôi trồng thuỷ sản theo phương pháp công nghiệp đối với các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao như cá hồi, chình v.v… ở những nơi có đủ điều kiện nhằm mang lại hiệu quả cao * Đẩy mạnh ứng dụng khoa công nghệ ở các trang trại làm tác nhân quan trọng để phát triển công nghệ sau thu hoạch: Thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến và thị trường (marketting) – Nâng cao giá trị kinh tế của nông sản phẩm hàng hoá. * Bảo vệ môi trường sinh thái kết hợp với du lịch và dịch vụ. Phát triển ngành nghề dịch vụ, gắn với du lịch sinh thái ở những trang trại gắn với làng nghề truyền thống, gắn với địa danh về tài nguyên du lịch tự nhiên như hồ Ba Bể; các khu vực du lịch lịch sử – văn hoá, lễ hội sẽ tạo ra sức hút du khách và mang lại nguồn thu nhập ổn định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 99 3.3. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 3.3.1. Mục tiêu tổng quát – Phát triển và mở rộng mô hình kinh tế trang trại, kinh tế đồi rừng nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về đất đai, nguồn lực, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng; lấy trang trại cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, lâm nghiệp làm đột phá về hiệu quả kinh tế. Tích cực ứng dụng khoa học, công nghệ mới để nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích. – Định hướng đến 2021: xác định kinh tế trang trại và kinh tế đồi rừng là hình thức kinh tế chủ yếu để khai thác tốt nhất những lợi thế trong nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các loại hình trang trại với phương châm: chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững; coi trọng bảo vệ môi sinh, môi trường. 3.3.2. Mục tiêu cụ thể – Từ nay đến năm 2010 số lượng trang trại hàng năm tăng bình quân 30%. Phát triển kinh tế đồi rừng theo hướng thâm canh, mở rộng diện tích trồng cây có giá trị kinh tế cao, từng bước phát triển thành các trang trại tổng hợp. – Phấn đấu đưa diện tích đất sử dụng để phát triển kinh tế trang trại lên 500 ha năm 2010, tăng 300 ha so với năm 2006. – Doanh thu bình quân cho một trang trại tăng: 1,3-1,5 lần so với năm 2006, trong đó: trang trại cây ăn quả tăng 1,7-2,0 lần; chăn nuôi tăng 1,4-1,6 lần; lâm nghiệp và tổng hợp tăng 1,2-1,4 lần. – Đến năm 2010, 100% các trang traị có mức thu nhập hàng hoá và dịch vụ theo giá thực tế đạt trên 100 triệu đồng/ năm; – Nâng cao tỷ suất nông lâm sản hàng hoá trong tổng giá trị nông sản phẩm và dịch vụ của các trang trại bình quân đạt 80%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 100 3.4. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 3.4.1. Giải pháp chung cho toàn bộ các trang trại 3.4.1.1. Quy hoạch khoanh vùng, lựa chọn mô hình kinh tế trang trại phù hợp với từng vùng sinh thái, đặc điểm tự nhiên của tỉnh và từng huyện, thị Việc quy hoạch phân vùng phát triển kinh tế trang trại nhằm tạo điều kiện cho tất cả các vùng trên địa bàn tỉnh phát triển đồng đều trên cơ sở hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và liên kết giữa các vùng, tạo nên sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trên địa bàn. Cụ thể: – Đối với vùng núi: Với độ cao trung bình từ 500 – 750m, mật độ dân cư thưa thớt, chủ yếu là rừng tự nhiên có chức năng phòng hộ là chính. Về cơ bản mô hình trang trại ở vùng này là trang trại lâm nghiệp, trồng rừng kinh tế, cây bản địa lấy gỗ có giá trị kinh tế cao, mô hình trang trại nông – lâm kết hợp, bảo vệ nguồn gen thực vật quý hiếm theo các dự án. – Đối với vùng đồi núi thấp: với chức năng vừa phòng hộ, vừa khai thác kinh tế nên các thành phần trong mô hình kinh tế trang trại ở đây có thể kết hợp nông – lâm nghiệp, vừa khoanh nuôi bảo vệ rừng, vừa trồng cây công nghiệp (hồi, quế, thông, bạch đàn, keo…), cây ăn quả, vừa phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, dê, lợn). Phát triển các trang trại trồng rừng kinh tế (cây lấy gỗ), cây công nghiệp lâu năm kết hợp với chăn nuôi đại gia súc, trồng cây ngắn ngày theo phương thức lấy ngắn nuôi dài. – Đối với vùng đồng bằng: Với nhiệm vụ chiến lược là vùng kinh tế trọng điểm, đảm bảo vững chắc an toàn lương thực cho cả tỉnh, tạo sản phẩm hàng hoá đạt chất lượng cao cho thị trường. Vì vậy, phát triển mô hình trang trại nông nghiệp toàn diện như: trang trại trồng trọt (thâm canh cây lúa chất lượng cao, cây thực phẩm, trang trại lúa cá), chăn nuôi (lợn, gia cầm), nuôi trồng thuỷ sản, dịch vụ hoặc kết hợp các mô hình trên. – Về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở dùng chung do nhà nước đầu tư theo quy định của luật khuyến khích đầu tư trong nước. Trước mắt bao gồm các công trình chủ yếu: Đường giao thông vùng, đường điện hạ thế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 101 – Quy hoạch phát triển các trang trại chăn nuôi: cần cách xa khu vực dân cư tập trung, có biện pháp xử lý tránh ô nhiễm môi trường. 3.4.1.2. Giải pháp về đất đai – Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thuê đất, cấp quyền sử dụng đất cho các dự án chế biến, dịch vụ và mở rộng diện tích cho các trang trại. Thực hiện đầy đủ các chính sách khuyến khích của các ngành về lĩnh vực nông nghiệp. – Đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ trang trại, hộ gia đình được giao đất phát triển theo quy hoạch. Triển khai cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại đối với số trang trại đạt tiêu chuẩn hiện có nhằm tạo điều kiện cho các chủ trang trại yên tâm đầu tư và vay vốn sản xuất. – Hộ gia đình, cá nhân phi nông nghiệp hoặc ở các địa phương khác, các doanh nghiệp có nguyện vọng và khả năng lập nghiệp đầu tư vốn phát triển trang trại được UBND xã sở tại cho thuê đất sản xuất. – Miễn tiền thuế sử dụng đất cho các trang trại đối với các xã vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn và giảm 50% cho các xã vùng đồng bằng trong 5 năm đối với diện tích đất vượt hạn điền. – Miễn tiền thuê đất 7 năm đối với các xã vùng núi, và 3 năm đối với các xã vùng đồng bằng, vùng khai hoang phục hoá… – Khuyến khích các hộ dân chuyển nhượng, dồn điền, đổi thửa tạo điều kiện tích tụ ruộng đất, chuyển đổi từ đất khác sang trang trại chuyên canh hoặc kết hợp. Khi hết thời hạn giao đất theo NĐ64/CP (năm 2014), tiến hành giao lại ruộng đất có điều chỉnh theo hướng tập trung, quy mô diện tích lớn, tạo điều kiện để các hộ dân an tâm đầu tư phát triển kinh tế trang trại. – Xây dựng đề án giao đất, cho thuê diện tích đất, mặt nước cho hộ gia đình, tổ chức, cá nhân để phát triển kinh tế trang trại. – Đẩy nhanh tiến độ giao đất cho các hộ dân vùng đồi núi để phát triển kinh tế lâm nghiệp, trong giao đất phải căn cứ vào quỹ đất trống đồi núi trọc ở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 102 địa phương, nhu cầu và khả năng đầu tư trồng rừng, tránh tình trạng đất giao không sản xuất hoặc sử dụng không hết diện tích, giữ đất trong khi các hộ có nhu cầu không có đất trồng rừng. Đồng thời, ưu tiên các hộ ở địa phương đó, hộ có ý chí vươn lên làm giàu; mặt khác cần khuyến khích những người có vốn ở nơi khác để đầu tư phát triển kinh tế trang trại theo hợp đồng sử dụng đất. Hộ gia đình sản xuất nông nghiệp có nhu cầu và khả năng sử dụng đất vượt hạn điền của địa phương được UBND xã xét thuê đất phát triển kinh tế trang trại. 3.4.1.3. Giải pháp về đầu tư và vốn – Các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vay vốn đối với phát triển kinh tế trang trại như: thành lập quỹ cho vay kinh tế trang trại từ huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, quy định lãi suất và thời hạn cho vay hợp lý, cần phát triển hình thức cho vay tín chấp, mức vốn vay nhiều hơn so với quy định hiện nay của ngân hàng. Thực hiện Quyết định số 423/QĐ/NHNN ngày 22/9/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về quy định chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại. Triển khai thực hiện Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao đất, thuê, nhận, khoán rừng và đất lâm nghiệp. – Phối hợp với các chương trình, dự án khuyến nông, nguồn vốn giải quyết việc làm để cho vay phát triển kinh tế trang trại. Các tổ chức chính trị xã hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ…) bố trí một phần kinh phí từ các nguồn vốn cho vay để phát triển theo mô hình trang trại. – Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện, thuỷ lợi… ở các vùng quy hoạch kinh tế trang trại, chế biến sản phẩm nông nghiệp, để khuyến khích các hộ gia đình, cá nhân phát triển trang trại sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp. – Lập dự án giới thiệu tiềm năng và cơ hội hợp tác đầu tư, nhất là đầu tư công nghệ chế biến thức ăn gia súc, chế biến nông sản. Tăng cường đầu tư xây dụng các mô hình kinh tế trang trại và nhân diện rộng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 103 – Các trang trại được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai khi thuê đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng, trồng cây lâu năm và khi thuê diện tích các vùng nước tự nhiên chưa có đầu tư cải tạo vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản. – Chính sách của tỉnh: hỗ trợ 01 triệu đồng/trang trại mới thành lập; các chính sách khác áp dụng theo quy định chính sách hàng năm của tỉnh. 3.4.1.4. Giải pháp về khoa học kỹ thuật và công nghệ – Việc đầu tiên là cần chú trọng công tác thông tin KH&CN cho các chủ trang trại. Hiện nay ngành nông nghiệp chỉ hoạt động khuyến nông chung cho nông dân cả nghèo lẫn giàu. Đã đến lúc cần tập trung công tác khuyến nông riêng đối với các hộ nông dân – trang trại sản xuất hàng hóa là lực lượng xung kích, đi đầu trong ứng dụng tiến bộ KH&CN, tổ chức các câu lạc bộ khuyến nông cho các chủ trang trại theo ngành sản xuất, như các trang trại sản xuất lúa hàng hóa, sản xuất chè, cây ăn quả, nuôi gà, vịt, nuôi lợn, nuôi trâu bò, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng với qui mô vừa và lớn, khối lượng hàng hóa nhiều ở từng địa phương, đi vào từng chuyên đề thiết thực. – Cần chú trọng và tiếp tục đầu tư thoả đáng cho công tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, khuyến công để chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ cho trang trại, đưa các giống cây trồng, vật nuôi có phẩm chất tốt, sản phẩm chất lượng cao vào sản xuất; áp dụng công nghệ mới trong công nghiệp chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp; rút kinh nghiệm và nhân rộng các điển hình thành công ra nhiều trang trại khác. – Phổ biến cho các trang trại biết có thể bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái từng vùng và phù hợp với quy hoạch các vùng chuyên canh ở địa phương, đặc biệt đối với các loại cây trồng dài ngày để giúp các trang trại lựa chọn phương hướng sản xuất phù hợp. – Khuyến khích các hình thức liên kết và hợp tác trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ nông nghiệp, trong đó coi trọng sự liên kết giữa các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 104 trung tâm, viện nghiên cứu ở trong và ngoài huyện với các trang trại hạt nhân trên từng vùng để nghiên cứu tạo ra những giống vật nuôi cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai thổ nhưỡng và chịu được điều kiện khí hậu ở địa phương cũng như chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ cho các trang trại. – Trên cơ sở quy hoạch về phát triển giống cây trồng, vật nuôi đến năm 2010 của tỉnh, khuyến khích và hỗ trợ các trang trại sản xuất giống cây trồng, vật nuôi tại địa phương để cung cấp giống tại chổ. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, để sản xuất kinh doanh có lợi, các trang trại nước ta phải lựa chọn và ứng dụng KH&CN thích hợp, hỗn hợp và tổng hợp. KH&CN thích hợp là sử dụng các loại vật tư kỹ thuật, động lực, công cụ và công nghệ phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật của sản xuất, của từng trang trại, và yêu cầu chất lượng sản phẩm của thị trường tiêu thụ. KH&CN hỗn hợp là sử dụng đan xen giữa các cấp độ công nghệ khác nhau (cổ truyền kết hợp với hiện đại, thủ công kết hợp với cơ khí v.v…) trong các công đoạn sản xuất chế biến các loại nông sản, nhằm sử dụng hợp lý nhất các yếu tố kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. KH&CN tổng hợp là sử dụng đồng bộ các công nghệ sinh học, hóa học, cơ điện trong chu trình sản xuất, chế biến nông sản của các trang trại, huy động sức mạnh tổng hợp của KH&CN, tạo ra hợp lực đem lại hiệu quả kinh tế cao. 3.4.1.5. Giải pháp về lao động và nguồn nhân lực Nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và trình độ khoa học kỹ thuật của chủ trang trại, hộ gia đình, cá nhân cụ thể: – Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng về quản lý, quy trình và cách thức làm giàu từ kinh tế trang trại không chỉ cho các chủ trại mà còn cho cả những người có nguyện vọng và có khả năng trở thành chủ trại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 105 – Về nội dung đào tạo bồi dưỡng cần hướng vào những vấn đề của kinh tế trang trại, xu hướng phát triển trang trại; các chủ trương, đường lối, chính sách về phát triển kinh tế trang trại; đặc biệt là các kiến thức về tổ chức và quản trị kinh doanh trong các trang trại như xác định phương hướng kinh doanh, tổ chức sử dụng các yếu tố sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. – Tổ chức các lớp chuyển giao kỹ thuật và công nghệ mới cho các chủ trại, hỗ trợ họ trong việc triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. – Đào tạo bằng nhiều hình thức như lớp tại địa phương, tham quan, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật… với sự tổ chức hỗ trợ của các cơ quan như Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Khoa học và Công nghệ, Hội Nông dân… – Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các trang trại bằng cách hướng vào tổ chức tốt việc đào tạo nghề phù hợp cho một bộ phận lao động làm thuê, nhất là bộ phận lao động kỹ thuật. 3.4.1.6. Giải pháp về thị trường tiêu thụ – Tổ chức dự báo thị trường, mở rộng hình thức thông tin kinh tế. – Khuyến khích thành lập hợp tác xã, tổ hợp dịch vụ chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm. – Mở rộng và phát triển hệ thống tiêu thụ sản phẩm, trong đó chú trọng khâu bảo quản nhằm hạn chế tổn thất sau thu hoạch. – Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thu hút các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện đầu tư để phát triển dịch vụ đầu vào, đầu ra cho nông sản. – Nhà nước cùng các tổ chức kinh tế có các biện pháp thu mua, chế biến, dự trữ, điều hoà cung cầu để giữ giá ổn định một số mặt hàng thiết yếu nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cuả nhà kinh doanh và người tiêu dùng. – Các cơ sở chế biến nông, lâm sản có ý nghĩa quyết định tới chất lượng hàng hoá nông sản. Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp theo chiều dọc phải là quá trình từ sản xuất, gắn với chế biến và tiêu thụ hàng hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 106 – Cần khuyến khích, hỗ trợ cho sự ra đời của các cơ sở chế biến nông sản như cơ sở chế biến thức ăn gia súc, gia cầm. Chế biến hoa quả mơ, chuối, nhãn, vải… 3.4.1.7. Môi trường kinh doanh và tư pháp Tiến hành cấp đăng ký kinh doanh cho các trang trại có đủ điều kiện. Đăng ký kinh doanh cho trang trại gia đình là một việc làm hợp lý và hết sức cần thiết. Hiện tại mới có 2 trong tổng số 21 trang trại của Bắc Kạn mới đã đăng ký kinh doanh (vào khoảng 9,5%). Thông qua đó, giúp cho Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mình đối với loại hình trang trại gia đình. Mặt khác, để đảm bảo quyền tự do kinh doanh và tinh thần cải cách thủ tục hành chính hiện nay, không cần thiết phải đặt ra thủ tục cấp giấy chứng nhận cho trang trại gia đình. Việc thỏa mãn các tiêu chí của trang trại gia đình sẽ được các hộ gia đình chứng minh thông qua các giấy tờ cần thiết trong hồ sơ đăng ký kinh doanh (ví dụ như giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, báo cáo tóm tắt tình hình sản xuất kinh doanh,…). Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là cơ sở pháp lý duy nhất chứng minh tư cách pháp lý của trang trại gia đình. Hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường; khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát triển. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng SX hàng hóa. Xây dựng HTX mô hình mới là một giải pháp quan trọng giúp cho kinh tế hộ nông dân phát triển sản xuất hàng hoá ổn định vững chắc. Xây dựng HTX kiểu mới vừa là giải pháp vừa là xu thế và mục tiêu của phát triển kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại. Phân vùng kinh tế và phân bổ lại lao động dân cư. Trong điều kiện đặc điểm điều kiện tự nhiên không đồng nhất, cần có những tiêu chuẩn phân vùng nhỏ cho các huyện thị. Tuy không tạo thành vùng chuyên canh lớn thì cũng tạo ra một lượng sản phẩm đủ lớn cho kinh tế hàng hoá phát triển, thúc đẩy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 107 phân bố lại lao động dân cư hiện nay cư trú rất phân tán, nhất là vùng cao, vùng sâu,vùng xa. Tổ chức công tác truyền thông giúp cho các hộ vượt qua tâm lý an phận, tâm lý tự ti, phong tục tập quán sản xuất tự túc, tự cấp, sản xuất manh mún nhỏ lẻ để tăng cường nghị lực vượt qua khó khăn trước mắt, tích cực nỗ lực trong sản xuất kinh doanh. Tuyên truyền chủ trương chính sách của Trung ương cũng như địa phương về phát triển kinh tế trang trại trong giai đoạn tới. Phổ biến quy hoạch, kế hoạch phát triển các vùng kinh tế trang trại trong tỉnh cho tất cả các đối tượng có nhu cầu làm trang trại để thu hút đầu tư. Thông tin, phổ biến kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của các trang trại điển hình tạo ra động lực trong đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Bằng các phương thức cụ thể: Tổ chức hội thảo Phát sóng trên đài truyền hình, trên báo địa phương Phát tờ rơi, tờ bướm 3.4.1.8. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế trang trại – Thực hiện quản lý nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại, nhằm định hướng phát triển và đảm bảo công bằng trong sản xuất kinh doanh, khuyết khích mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực của loại hình kinh tế trang trại, khắc phục tình trạng phát triển mang tính tự phát tích tụ ruộng đất tràn lan. – Xác định các loại hình trang trại và hình thức kinh doanh để có sự quản lý thống nhất và phù hợp với từng loại hình trang trại, nhất là loại hình trang trại có thuê mướn nhiều lao động mà chủ trại không trực tiếp tham gia sản xuất trong trang trại. – Thực hiện quản lý nhà nước đối với đầu ra, chất lượng sản phẩm nhằm đảm bảo lợi ích chung của Nhà nước, quyền lợi của người tiêu dùng và môi trường sinh thái. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 108 – Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra đối với kinh tế trang trại, đảm bảo các chủ trang trại thực hiện đầy đủ qui trình kỹ thuật canh tác bảo vệ và làm giàu đất, bảo vệ môi trường; thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo pháp luật. Đồng thời, bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ trang trại về tài sản và các lợi ích khác. – Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm dịch giống, thực hiện quy trình sản xuất, du nhập giống chất lượng cao và sạch bệnh. Đa dạng hoá các loại giống cây trồng, vật nuôi. Đưa các đối tượng nuôi, trồng đã thử nghiệm có hiệu quả vào sản xuất để đa dạng hoá các đối tượng nuôi, trồng. 3.4.1.9. Hình thành, phát triển quan hệ hợp tác giữa các trang trại – Hình thành và phát triển quan hệ hợp tác giữa các trang trại nhằm trao đổi kinh nghiệm, trình độ quản lý, trao đổi sản phẩm, dịch vụ để nâng cao hiệu quả kinh tế. – Khuyến khích thành lập các câu lạc bộ, tổ hợp tác theo từng loại hình trang trại để liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh, tạo sức cạnh tranh và sự ổn định trong tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, hạn chế tình trạng ép giá của các tư thương và rủi ro trong sản xuất kinh doanh. – Xây dựng mối quan hệ giữa các tổ hợp tác, chủ trang trại với các hộ dân để các chủ trang trại, tổ hợp tác là đầu mối thu mua, tiêu thụ sản phẩm nông sản. Tóm lại: Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tới có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2021. Chính vì vậy, chương trình này cần được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở một cách đồng bộ, tạo sự đột phá quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 109 3.4.2. Giải pháp cho nhóm trang trại 3.4.2.1. Trang trại trồng trọt Nên tập trung vùng ven đô, vùng có lợi thế so sánh cao; đồng thời chuyển diện tích trồng lúa năng suất thấp, không chủ động được nước tưới sang nuôi trồng thủy sản hoặc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày. Về cây công nghiệp ngắn ngày, phát triển mạnh thuốc lá, đậu tương, đỗ xanh, đỗ đen, lạc và mía v.v. trên cơ sở sử dụng giống mới và sản xuất theo dây truyền công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng. Trồng thâm canh, tạo vành đai thực phẩm cho thị xã đối với các loại rau, đậu theo hướng sạch; trồng hoa thương phẩm các loại phục vụ cho nhu cầu thị trường. Về cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày tập trung phát triển tính tới nhu cầu thị trường các loại cây như hồng không hạt, cam, quýt, chè, v.v trên cơ sở giống mới và gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm. Phát triển để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến: hình thành 1000 ha cam, quýt nguyên liệu tại Thị xã Bắc Kạn; Bạch Thông; Chợ Đồn; Chè Shan tuyết và chè chất lượng cao; Vùng trồng đỗ tương, thuốc lá, khoai môn 700 ha tại Bạch Thông, Ba Bể, thị xã Bắc Kạn, Chợ Mới; 500 ha Hồng không hạt tại Ba Bể, Ngân Sơn, Chợ Đồn; 3.4.2.2. Trang trại chăn nuôi Một là về giống, vật nuôi, tiếp tục sử dụng con giống tốt trong nước, khuyến khích các chủ trang trại, doanh nghiệp nhập nguồn gien, giống có năng suất chất lượng cao: Chương trình cải tạo chất lượng đàn bò địa phương bằng giống bò lai Sind; chương trình móng cái hoá đàn lợn nái, nuôi lợn hướng lạc, lợn siêu lạc; phát triển đa dạng đàn gia cầm trong chăn nuôi có khả năng tăng trọng nhanh như các giống gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Sắc-sô, ngan Pháp; Hai là về thức ăn chăn nuôi, người chăn nuôi và nhà máy chế biến phải ký hợp đồng, bảo đảm cung cấp ổn định và chất lượng thức ăn tốt. Ba là công nghệ chuồng trại, người chăn nuôi phải nghiên cứu các mẫu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 110 chuồng trại, áp dụng các loại máng ăn, uống, phù hợp với từng vật nuôi. 3.4.2.3. Trang trại lâm nghiệp Đối với diện tích rừng nghèo kiệt, khuyến khích các tổ chức, cá nhân cải tạo và trồng lại rừng để nâng cao giá trị sử dụng rừng và đất rừng. Đối với diện tích đất trống, thu hút đầu tư vào lĩnh vực trồng rừng tạo vùng nguyên liệu tập trung, theo hướng đầu tư thâm canh gắn với công nghiệp chế biến, kết hợp sản xuất lâm – nông – ngư nghiệp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Loài cây chính cho trồng rừng sản xuất: Keo, thông, mỡ, trúc… để tạo vùng nguyên liệu cho sản xuất ván MDF, ván ghép thanh, sản xuất giấy. Diện tích trồng rừng nguyên liệu khoảng 40 nghìn ha tập trung ở các huyện Chợ Mới, Chợ Đồn, Ba Bể để sản xuất các mặt hàng đồ mộc gia dụng, vật liệu xây dựng và đồ gỗ mỹ nghệ. Đầu tư trồng 10 nghìn ha trúc sào ở thị xã Bắc Kạn, Ba Bể, Pác Nặm để có thể sản xuất 4-5 triệu trúc đoạn/ năm. Đầu tư trồng rừng theo cơ chế sạch (CDM) trên diện tích đất trống, đồi núi trọc ở các huyện Pắc Nậm, Ngân Sơn, Ba Bể, Na Rì, Chợ Đồn, Chợ Mới, Bạch Thông. 3.3.2.4. Trang trại thuỷ sản Phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở các hồ chứa, hồ tự nhiên và nuôi cá lồng trên các sông, suối. Trong nuôi thủy sản sử dụng giống mới như rô phi đơn tính, cá tra, cá basa, tôm càng xanh, Nghiên cứu giúp các địa phương, các chủ trang trại, các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản xây dựng phương án đổi đất dồn ao để tạo điều kiện cho việc hình thành các trang trại thủy sản sản xuất tập trung với quy mô lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư nuôi thâm canh công nghiệp. Có chính sách thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản để hình thành nên các cơ sở sản xuất thủy sản tập trung. Đây chính là những mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp, để cho các chủ trang trại, các hộ gia đình tham quan học tập; đồng thời cũng là cơ sở dịch vụ đầu vào con giống, thức ăn,.v.v… và tiêu thụ sản phẩm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 111 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN 1. Kinh tế trang trại ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Nó cho phép khai thác, sử dụng triệt để tiềm năng về đất đai, đặc biệt ở những vùng đồi núi như Bắc Kạn hiện nay mang lại khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn cho xã hội. 2. Tuy mới hình thành và phát triển ở nước ta nói chung và Bắc Kạn nói riêng, kinh tế trang trại đã khẳng định là một hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ, phù hợp và có hiệu quả trong nông nghiệp. Nó đã và đang góp phần tạo ra quan hệ sản xuất mới ở nông thôn, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. 3. Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của một vùng ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế trang trại. Chính sự kết hợp giữa sự đa dạng với sự lựa chọn loại hình đem lại giá trị kinh tế cao trong kinh doanh trang trại ở Bắc Kạn hiện nay đã thể hiện sự năng động của các trang trại. Tuy nhiên số lượng, quy mô cũng như trình độ sản xuất kinh doanh của các trang trại của Bắc Kạn còn hạn chế và đang trong giai đoạn phát triển ban đầu bởi nền kinh tế địa phương còn mang nặng tính tự nhiên, thị trường nhỏ hẹp. 4. Thực trạng kinh tế trang trại ở Bắc Kạn cho thấy, các nguồn lực của các trang trại huy động còn thấp, kết quả sản xuất cũng như hiệu quả kinh tế mang lại cũng chưa cao. Tuy nhiên, qua thực tế cũng có thể kết luận rằng: nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doạnh của các trang trại ở đây không phải do quy mô đất đai của trang trại mà do sự lựa chọn loại hình kinh doanh phát huy lợi thế so sánh của địa phương; trình độ quản lý của chủ trang trại đã mang lại nhiều trang trại có quy mô đất đai nhỏ nhưng có tỷ suất nông sản hàng hoá lớn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 112 5. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy loại hình kinh doanh có hiệu quả nhất ở Bắc Kạn cũng chính là khai thác và sử dụng nguồn lực là lợi thế so sánh của địa phương. Cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc kết hợp với lâm nghiệp hiện tại vẫn hướng đi mang lại hiệu quả tốt nhất cho các chủ trang trại. Tuy nhiên điều kiện tự nhiên không đồng nhất, quản lý đất đai manh mún là một trở ngại để phát triển sản xuất với quy mô lớn. 6. Cũng như các loại hình kinh tế mới hình thành khác, kinh tế trang trại cần một môi trường chính sách, thể chế cần thiết cho sự tồn tại và phát triển ổn định, bền vững. Vai trò của công tác truyền thông, nâng cao năng lực của chủ trang trại, hỗ trợ thị trường v.v… trong phát triển kinh tế trang trại là những vấn đề mà các cấp chính quyền cần phải quan tâm. KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Ở nước ta, vị trí chính thức của trang trại gia đình đã có hơn 8 năm hình thành và phát triển. Đã đến lúc cần phải nhìn lại để thấy rõ mặt mạnh, mặt còn hạn chế của chính sách pháp luật về trang trại gia đình. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển trang trại gia đình, Nhà nước cần ban hành một luật hoặc pháp lệnh về trang trại gia đình tạo khung pháp lý cho hoạt động của loại hình này, trong đó xác định rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý, các điều kiện để được xác định là trang trại gia đình, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của trang trại. Với một tư cách pháp lý độc lập, một địa vị pháp lý bình đẳng với các chủ thể kinh doanh khác sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để trang trại gia đình tự tin, chủ động bước vào “sân chơi” lớn – nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta hiện nay. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Lao động thương binh và xã hội (2000), Thông tư hướng dẫn áp dụng một số chế độ làm việc trong các trang trại, Hà Nội. 2. Các Mác – Tư bản, Quyển 3 tập 1, NXB Sự thật Hà nội 1960. 3. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2007), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2006, NXB Thống kê, Hà Nội. 4. Nguyễn Điền, Nông nghiệp nước Mỹ – Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Thống kê, Hà Nội, 1998. 5. Nguyễn Điền, Trần Đức, Trần Huy Năng (1993), Kinh tế Trang trại gia đình trên thế giới và châu Á, NXB Thống kê. 6. Trần Đức, Kinh tế trang trại vùng đồi núi, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998. 7. Nguyễn Đình Hà, Nguyễn Khánh Quắc (1999), Kinh tế nông nghiệp gia đình nông trại, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 8. Đào Hữu Hoà (2005), Vai trò của kinh tế trang trại trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp bền vững, Trường đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đà Nẵng. 9. Hoàng Văn Hoa, Hoàng Thị Quý, Phạm Huy Vinh (1999), Quá trình phát triển kinh nghiệm trang trại ở Việt nam và một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm; Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam, Trường đại học KTQD, Hà Nội. 10. Trần Văn Hưng, Hoàng Văn Chính (2000), Kinh tế trang trại gia đình nông lâm nghiệp, Hà Nội. 11. Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và châu Á, NXB thống kê 1993 12. Liên Bộ Nông nghiệp và PTNT – Tổng cục Thống kê (2003), Thông tư liên tịch hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 114 13. Mác – Ăng ghen toàn tập, bản tiếng Nga – tập 25 phần II, Matxcơva 1961. 14. Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn (2004), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ khi có Nghị quyết 03/NQ-CP, Bắc Kạn. 15. Lê Duy Phong (2001), Kinh tế trang trại sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ; Kinh tế trang trại sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 03/NQ-CP, Trường ĐHKT thành phố HCM, Vũng Tàu. 16. Lê Trường Sơn (2004), Trang trại gia đình – một loại hình doanh nghiệp mới trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, (Số 3, 2004). 17. Lê Trọng (2000), Phát triển và quản lý trang trại trong kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp Hà Nội. 18. Trần Tác (2001), “Một số giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại ở Việt nam”, Kinh tế trang trại sau một năm thực hiện Nghị quyết 03/NQ-CP, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu. 19. Nguyễn Thị Thắc (1999), Thực trạng và những giải pháp phát triển kinh tế trang trại tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ kinh tế nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 20. Đoàn Quang Thiệu (2001), Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hệ thống nông lâm kết hợp ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên , Luận án Tiến sỹ kinh tế, Hà Nội. 21. Tổng cục Thống kê (2007), Báo cáo sơ bộ kết quả cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2006, Hà Nội. 22. Nguyễn Văn Tuấn (2000), Quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp, Hà nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 115 23. Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn (2006), Quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Kạn đến năm 2021, Bắc Kạn. 24. V.I. Lê-nin toàn tập – tập 17, NXB tiến bộ Matxcơva 1978. 25. Viện Kinh tế (1995), Kinh tế hộ trong nông thôn Việt nam, NXB khoa học xã hội, Hà Nội. 26. Ngô Bằng Việt (2001), Đánh gía hiệu quả kinh tế của một số mô hình trang trại điển hình ở huyện miền núi Đoan Hùng, Phú Thọ, Luận văn cử nhân kinh tế, Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 116 PHỤ LỤC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Địa Phương Xác Định Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Cơ Chế Vận Hành Của Nền Kinh Tế Hàng Hoá Nhiều Thành Phần Và Những Giải Pháp Cơ Bản Để Phát Triển Nền Kinh Tế Ở Nước Ta
  • Luận Văn Đề Án Thực Trạng, Phương Hướng Và Những Giải Pháp Để Phát Triển Kinh Tế Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Ở Nước Ta
  • Đề Cương Ôn Địa 11A1
  • Từ Chuyển Dịch Năng Lượng Tái Tạo Tại Mỹ Latinh Đến Giải Pháp Tạo Sự Bùng Nổ
  • Đề Tài Giải Pháp Xây Dựng Thương Hiệu, Điểm 8, Hot

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Và Phát Triển Thương Hiệu Cam Vinh
  • Giải Pháp Nâng Cao Hình Ảnh Doanh Nghiệp Thông Minh
  • Giải Pháp Lưu Trữ Hình Ảnh Tối Ưu Cho Nhiếp Ảnh, Studio.
  • Giới Thiệu Giải Pháp Lưu Trữ Hình Ảnh Bằng Công Nghệ Synology Nas
  • Đâu Là Giải Pháp Lưu Trữ Hình Ảnh Tốt Nhất Hiện Nay?
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    1. 5. v DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH Biều đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện mức độ nhận biết thương hiệu Xây dựng Số 12………23 Biểu đồ 2.2. Mức độ nhận biết đầu tiên giữa các thương hiệu xây dựng trên thị trường…………………………………………………………………………………24 Biểu đồ 2.3. Biểu đồ thể hiện hình ảnh thương hiệu Xây dựng Số 12 của khách hàng……………………………………………………………………………………………………………….25 Biểu đồ 2.4. Số lượng người đã mua và chưa mua sản phẩm của thương hiệu Xây dựng Số 12………………………………………………………………………………….27 Biểu đồ 2.5. Thời gian khách hàng đã mua nhà của thương hiệu Xây dựng Số 12….27 Biểu đồ 2.6. Mức độ hài lòng của khách hàng đối với thương hiệu Xây dựng Số12…28 Biểu đồ 2.7. Biểu đồ thể hiện các yếu tố quyết định để khách hàng mua sản phẩm của thương hiệu Xây dựng Số 12………………………………………………………….29 Biểu đồ 2.8. Biểu đồ thể nguồn thông tin khách hàng biết đến các thương hiệu xây dựng có trên thị trường………………………………………………………………..33 Biểu đồ 2.9. Biểu đồ thể hiện người tiêu dùng cảm nhận về thương hiệu của Công ty………………………………………………………………………………………34 Biểu đồ 2.10. Mức độ đã từng giới thiệu của khách hàng về thương hiệu Xây dựng Số 12………………………………………………………………………………………35 Biểu đồ 2.11. Mức độ khách hàng sẵn sàng giới thiệu cho bạn bè, người thân về công ty Xây dựng Số 12…………………………………………………………………….35 Bảng 1.1. Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu……………………………………………………….5 Bảng 2.1. Trình độ lao động trong Công ty tính đến nay……………………………………….19 Bảng 2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2012- 2014………………………………..19 Bảng 2.3. Chi phí sản xuất kinh doanh một số dự án…………………………………………….30 Hình 2.1. Số lượng và mức độ phức tạp của các gói thầu của công ty Xây dựng Số 12…………………………………………………………………………………………………………………..31
    2. 6. vi MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………………………..1 1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………………………1 2. Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………………………………………………….2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………………………….2 4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………………………2 5. Kết cấu đề tài nghiên cứu …………………………………………………………………………………..2 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU………………………………………………………………………………………………………..3 1.1. Các khái niệm, vai trò của thương hiệu………………………………………………………………..3 1.1.1. Khái niệm về Thương hiệu (Brand)…………………………………………………………….3 1.1.2.1. Đối với doanh nghiệp…………………………………………………………………………5 1.1.2.2. Đối với khách hàng ……………………………………………………………………………6 1.1.2.3. Đối với nền kinh tế trong xu hướng hội nhập ………………………………………..6 1.2. Nội dung xây dựng thương hiệu………………………………………………………………………….7 1.2.1. Xác định tầm nhìn thương hiệu ………………………………………………………………….7 1.2.2. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu…………………………………………………..7 1.2.2.1. Tên thương hiệu ………………………………………………………………………………..7 1.2.2.2. Biểu trưng (Logo) thương hiệu ……………………………………………………………8 1.2.2.3. Câu khẩu hiệu (Slogan)………………………………………………………………………8 1.2.2.4. Nhạc hiệu………………………………………………………………………………………….8 1.2.3. Chiến lược marketing trong xây dựng và phát triển thương hiệu…………………….9 1.2.3.1. Chiến lược sản phẩm………………………………………………………………………….9 1.2.3.2. Chiến lược giá …………………………………………………………………………………..9 1.2.3.3. Chiến lược phân phối ……………………………………………………………………….10 1.2.3.4. Chiến lược xúc tiến hỗn hợp ……………………………………………………………..10 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 ……………………………………………………………………………………………..12 CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 12 ……………………………………………..13
    3. 7. vii 2.1. Giới thiệu về Công ty Cổ phần Xây dựng Số 12……………………………………………….13 2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty………………………………………………14 2.1.2. Chức năng, lĩnh vực hoạt động của công ty ……………………………………………….15 2.1.2.1. Chức năng……………………………………………………………………………………….15 2.1.2.2. Nhiệm vụ ………………………………………………………………………………………..15 2.1.2.3. Lĩnh vực hoạt động…………………………………………………………………………..15 2.1.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại công ty……………………………………………………………….16 2.1.3.1. Sơ đồ cơ cấu của công ty…………………………………………………………………..16 2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận ………………………………………………..16 2.2. Thực trạng xây dựng Thương hiệu của Công ty Cổ phần Xây dựng Số 12 …………..20 2.2.1. Xác định tầm nhìn thương hiệu ………………………………………………………………..20 2.2.2. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu…………………………………………………21 2.2.2.1. Tên gọi……………………………………………………………………………………………21 2.2.2.2. Biểu tượng thương hiệu – Logo …………………………………………………………22 2.2.2.3. Khẩu hiệu (Slogan)…………………………………………………………………………..22 2.2.2.4. Nhạc hiệu………………………………………………………………………………………..22 2.2.3. Chiến lược marketing trong xây dựng và phát triển thương hiệu của…………….25 Công ty Cổ phần Xây dựng Số 12…………………………………………………………………………25 2.2.3.1. Chiến lược sản phẩm………………………………………………………………………..25 2.2.3.2. Chiến lược giá …………………………………………………………………………………29 2.2.3.3. Chiến lược phân phối ……………………………………………………………………….31 2.2.3.4. Chiến lược xúc tiến hỗn hợp ……………………………………………………………..32 2.3. Ưu và nhược điểm trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu của …………………..36 Công ty …………………………………………………………………………………………………………………36 2.3.1. Ưu điểm………………………………………………………………………………………………..36 2.3.2. Nhược điểm …………………………………………………………………………………………..37 2.3.3. Nguyên nhân………………………………………………………………………………………….37 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 ……………………………………………………………………………………………..38
    4. 8. viii CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 12. ………………………………………………………………………………………………….39 3.1. Định hướng phát triển thương hiệu của công ty Xây dựng Số 12…………………………..39 3.2. Giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty Xây dựng Số 12…………….39 3.2.1. Giải pháp nâng cao nhận thức của Công ty về thương hiệu…………………………….39 3.2.2. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm của Công ty …………………………..40 3.2.3. Hình thành mức giá hợp lý và linh hoạt ……………………………………………………….41 3.2.4. Xây dựng kênh phân phối đa dạng ………………………………………………………………42 3.2.5. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến trong xây dựng và phát triển thương hiệu Công ty 43 3.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực………………………………………………………….45 3.3.Kiến nghị …………………………………………………………………………………………………………….48 3.3.1.Đối với nhà nước ……………………………………………………………………………………………48 3.3.2.Đối với doanh nghiệp ……………………………………………………………………………………..49 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………………………..50
    5. 9. 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xu hướng hội nhập nền kinh tế thị trường hiện nay xuất hiện vô số các thương hiệu khác nhau. Làm thế nào để khách hàng nhận biết mình là ai và nhận diện đúng hình ảnh của thương hiệu mình là một việc không dễ dàng chút nào. Thương hiệu có tác động rất lớn đến hành vi tiêu dùng của khách hàng. Một thương hiệu nổi tiếng có uy tín thì sản phẩm hay dịch vụ của họ được khách hàng tín nhiệm hơn các thương hiệu khác. Chính vì vậy mà bất kì một doanh nghiệp nào cũng cần có một chiến lược xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu. Mà doanh nghiệp muốn xây dưng một thương hiệu thành công là cả một quá trình phấn đấu lâu dài. Thương hiệu là một tài sản quý giá đối với doanh nghiệp, vì đôi khi một thương hiệu mạnh được định giá cao hơn tài sản mà doanh nghiệp đó có. Ngày nay, Trong điều kiện phát triển của đất nước hiện nay, nhu cầu nâng cấp cơ sở hạ tầng, kiến tạo những không gian sống và làm việc có chất lượng, cũng như xây dựng rất nhiều các công trình khác là hết sức bức thiết, khi đời sống người dân ngày càng phát triển thì nhu cầu về sự an toàn càng được người dân chú trọng. Đặc biệt là nhu cầu an toàn về nhà ở. Vì thế vấn đề xây dựng một thương hiệu mạnh trong ngành xây dựng là một vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Hiện nay, thị trường xây dựng Việt Nam được đánh giá là có sự chuyển biến tích cực với số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng phát triển nhanh và có tốc độ tăng trưởng cao. Bên cạnh việc đảm bảo chất lượng trong việc xây dựng của mình, các doanh nghiệp trong nước cần một sự đầu tư và nỗ lực rất lớn để có thể phát triển và nâng cao hình ảnh thương hiệu của mình trên thị trường trong nước và khu vực. Trên địa bàn Đồng Nai có rất nhiều thương hiệu mạnh trong ngành xây dựng như: Nguyễn Hoàng, Toàn Thịnh Phát, Phúc Hiếu… chứng tỏ nhu cầu địa ốc ở Đồng Nai ngày càng tăng cao. Chính vì tiềm năng phát triển thị trường còn rất lớn, cơ hội theo lộ trình cam kết WTO đều mở rộng ngang bằng cho tất cả các công ty xây dựng, đồng thời Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2021 trở thành đất nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
    6. 10. 2 Trong khi đó thương hiệu của công ty Xây dựng Số 12 vẫn chưa được biết đến như một công ty xây dựng chuyên nghiệp, do đó em chọn đề tài: “Một số giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu tại công ty Xây dựng Số 12” Với đề tài này, em hy vọng sẽ khái quát hóa được những lý luận cơ bản về thương hiệu, nắm được thực trạng xây dựng thương hiệu của công ty và từ đó có thể đưa ra giải pháp phù hợp để xây dựng và phát triển thương hiệu tại công ty Xây dựng Số 12 trên thị trường Việt Nam. 2. Mục tiêu nghiên cứu Phân tích thực trạng xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty Xây dựng Số 12. Đề xuất các biện pháp thực hiện việc xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu: thực tiễn hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty Cổ phần Xây dựng Số 12. – Phạm vi nghiên cứu: Các số liệu được lấy từ năm 2012 – 2014 tại công ty Xây dựng Số 12. 4. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp phân tích, so sánh, diễn giải và đưa ra vấn đề. Phương pháp khảo sát khách hàng: lập bảng khảo sát tại khu vực Đồng Nai. 5. Kết cấu đề tài nghiên cứu Luận văn có kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về thương hiệu và xây dựng thương hiệu. Chương 2: Giới thiệu về công ty và thực trạng xây dựng thương hiệu của công ty Xây dựng Số 12. Chương 3: Một số giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu tại công ty Xây dựng Số 12.
    7. 11. 3 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU 1.1. Các khái niệm, vai trò của thương hiệu 1.1.1. Khái niệm về Thương hiệu (Brand) Trước thập niên 80, khái niệm giá trị thương hiệu hoàn toàn xa lạ với kinh doanh cũng như đối với những chuyen gia thẩm định giá trị doanh nghiệp. Họ đánh giá tài sản của doanh nghiệp chỉ là những vật hữu hình như nhà xưởng, máy móc thiết bị… Bước sang thập niên 80, sau hàng loạt các cuộc sáp nhập người ta bắt đầu nhận thức được “Thương hiệu” là một loại tài sản đáng giá. Điều này được minh chứng qua giá cả giao dịch của những vụ mua bán, sáp nhập trên thị trường thời bấy giờ, tập đoàn Nestlé đã mua Rowntree với giá gấp 3 lần giá trị của công ty trên thị trường chứng khoán và gấp 26 lần lợi nhuận của công ty. Tập đoàn Builton được bán với giá gấp 35 lần giá trị lợi nhuận của nó. Kể từ đó, quá trình định hình giá trị thương hiệu ngày một rõ hơn. Trong marketing, thương hiệu được xem là trung tâm của các công cụ marketingvì thương hiệu chính là những gì các nhà nghiên cứu marketing xây dựng và nuôi dưỡng để cung cấp lợi ích cho khách hàng mục tiêu của mình. Khái niệm về thương hiệu ra đời từ rất lâu và trước khi marketing trở thành một ngành nghiên cứu riêng biệt trong kinh doanh. Cụ thể giai đoạn từ 1870 đến 1914 được coi là giai đoạn hình thành và phát triển khái niệm thương hiệu, giai đoạn 1919 đến cuối thế kỷ 20 là giai đoạn mà các công ty đa quốc gia, các tập đoàn kinh doanh trên thế giới ứng dụng, phát triển khái niệm thương hiệu và mô hình giám đốc thương hiệu. Vậy thương hiệu là gì? Theo thời gian khái niệm về thương hiệu cũng đã được thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của ngành marketing, vì vậy có nhiều quan điểm và định nghĩa về thương hiệu khác nhau. a) Quan điểm truyền thống Theo Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ: ”Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụcủa một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu khác của đối thủ cạnh tranh”. b) Quan điểm tổng hợp – Theo Ambler và Styles định nghĩa:
    8. 12. 4 “Thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích, chức năng cho khách hàng. Như vậy các thành phần marketing hỗn hợp ( sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của thương hiệu”. – Theo David Aaker: “Thương hiệu là hình ảnh có tính chất văn hóa, lý tính, cảm xúc, trực quan và độc quyền mà bạn liên tưởng đến khi nhắc đến một sản phẩm hay một công ty” (Building Strong Brand – 1996). – Dưới gó độ sở hữu trí tuệ: Thương hiệu là thuật ngữ để chỉ chung các đối tượng sở hữu trí tưệ thường được nhắc đến và được bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương hiệu, chỉ dẫn địa lý hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa. Từ khi hội nhập nền kinh tế thế giới, hàng hóa trên thị trường càng trở nên đa dạng và phong phú hơn về chủng loại, mẫu mã, số lượng. Sản phẩm của những thương hiệu nổi tiếng nước ngoài ngày càng được khách hàng tín nhiệm cao. Điều này khiến các Doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn trong sự cạnh tranh và tồn tại do thương hiệu không đủ mạnh. Kết quả nghiên cứu của dự án ” Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam xây dựng và quảng bá thương hiệu” do báo Sài Gòn Tiếp thị và câu lạc bộ Hàng Việt Nam Chất lượng cao tổ chức, các doanh nghiệp được nghiên cứu chỉ xem xây dựng thương hiệu là mối quan tâm thứ 2 sau việc tiêu thụ sản phẩm, hơn 80% doanh nghiệp được điều tra chưa phân công nhân sự phụ trách chuyên môn thương hiệu. Vì ở Việt Nam, khái niệm thương hiệu thường được hiểu đồng nghĩa với nhãn hiệu hóa. Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm thương hiệu được hiểu rộng hơn nhiều. Nó có thể là bất kỳ cái gì được gắn liền với sản phẩm hoặc dịch vụ, nhằm làm cho chúng được nhận diện dễ dàng và khác biệt hóa với các sản phẩm cùng loại. Do đó, việc đầu tiên trong quá trình tạo dựng thương hiệu là lựa chọn và thiết kế cho sản phẩm hoặc dihj vụ mottj tên gọi, logo, biểu tượng, màu sắc, sản phẩm, thị hiếu người tiêu dùng… Nhìn chung, qua nhiều định nghĩa khác nhau thì thương hiệu là một khái niệm xuyên suốt cả quy trình từ thông điệp truyền đi bởi doanh nghiệp đến thông điệp mà khách hàng cảm nhận được.
    9. 13. 5 Vậy thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm (hoặc doanh nhgiệp), bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi logo, “hình ảnh” và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại đó. Bảng 1.1. Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu Đặc trưng Nhãn hiệu Thương hiệu Thuật ngữ Trademark Brand Tính hữu hình Nhìn thấy, sờ mó, nghe… (hàm ý xác nhận bên ngoài) Bao gồm cả hữu hình và vô hình: cảm nhận, nhận thức… Giá trị Thường thể hiện qua hệ thống sổ sách kế toán Hầu như chưa được công nhận trong sổ sách kế toán Tiếp cận Dưới góc độ luật pháp Tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng Bảo hộ Luật pháp chứng nhận và bảo hộ Người tiêu dùng chứng nhận, tin cậy và trung thành Nhái, giả Có hàng nhái, hàng giả Không có trường hợp nhái, giả thương hiệu Phụ trách Luật sư, chuyên viên pháp lý Chuyên viên quản trị, marketing 1.1.2. Vai trò của thương hiệu 1.1.2.1. Đối với doanh nghiệp Thiết lập được chỗ đứng của mình khi hình thành thương hiệu, đồng thời tuyên bố về sự có mặt trên thị trường và là cơ sở để phát triẻn doanh nghiệp, thể hiện sự cam kết của doanh nghiệp, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị doanh nghiệp. Là công cụ để nhận diện và khác biệt hóa sản phẩm, là phương tiện bảo vệ hợp pháp các lợi thế và đặc điểm riêng của sản phẩm, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp. Khẳng định đẳng cấp chất lượng trước khách hàng và là tài sản vô hình, góp phần quan trọng tăng thu lợi nhuận trong tương lai bằng những giá trị tăng thêm. Thương hiệu giúp doanh nghiệp giảm các chi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại, hoạt động marketing.
    10. 14. 6 Thương hiệu mang lại những lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có điều kiện phòng thủ và chống lại các đối thủ khác. Do vậy, đối với các công ty thương hiệu được coi như một tài sản có giá trị rất lớn, bởi nó có khả năng tác động đến thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Nó được mua và bán bởi có thể đảm bảo thu nhập bền vững trong tương lai cho chủ sở hữu thương hiệu. Vì thế người ta đã phải trả những khoản tiền không nhỏ cho thương hiệu khi liên doanh, liên kết hoặc mua lại thương hiệu. 1.1.2.2. Đối với khách hàng Thương hiệu giúp cho người tiêu dùng xác định nguồn gốc, xuất sứ của sản phẩm.Nếu khách hàng nhận ra một thương hiệu và có một vài kiến thức về thương hiệu đó, họ không phải suy nghĩ nhiều hoặc tìm kiếm xử lý nhiều thông tin để đưa ra quyết định về tiêu dùng sản phẩm. Như vậy, từ khía cạnh kinh tế, thương hiệu cho phép khách hàng giảm bớt chi phí tìm kiếm sản phẩm cả bên trong và bên ngoài. Dựa vào những gì họ đã biết về thương hiệu – chất lượng, đặc tính của sản phẩm… khách hàng hình thành những giả định và kỳ vọng có cơ sở về những gì mà họ chưa biết về thương hiệu Góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Thương hiệu được nhà nước bảo hộ sẽ ngăn ngừa tình trạng sản phẩm bị làm giả, làm nhái lừa gật người tiêu dùng. Mối quan hệ giữa thương hiệu với khách hàng có thể được xem như một kiểu cam kết hoặc giao kèo. Khách hàng đặt niềm tin và sự trung thành của mình vào thương hiệu và ngầm hiểu rằng bằng cách nào đó thương hiệu sẽ đáp lại và mang lại lợi ích cho họ thông qua tính năng hợp lý của sản phẩm, giá cả phù hợp, các chương trình tiếp thị, khuyến mại và các hỗ trợ khác. Nếu khách hàng nhận thấy những ưu điểm và lợi ích từ việc mua thương hiệu cũng như họ cảm thấy thỏa mãn khi tiêu thụ sản phẩm thì khách hàng có thể tiếp tục mua thương hiệu đó. 1.1.2.3. Đối với nền kinh tế trong xu hướng hội nhập Trong nền kinh tế thị trường hội nhập hiện nay, thương hiệu là biểu hiện cho sự sức mạnh và niềm tự hào của quốc gia. Một quốc gia có nhiều thương hiệu nổi tiếng với truyền thống lâu đời là biểu hiện của sự trưởng tồn và phát triển đi lên của quốc gia đó. Việc xây dựng thương hiệu mạnh sẽ là rào cản chống lại sự xâm nhập của các
    11. 15. 7 hàng hóa kém chất lượng, giá re từ bên ngoài, bảo vệ thị trường nội địa. Các thương hiệu của sản phẩm Việt Nam được người tiêu dùng nước ngoài biết đến, điều đó sẽ củng cố và tạo uy tín cho Việt Nam trên thị trường thế giới, góp phần tích cực cho việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, làm tiền đề cho đất nước tiến nhanh, thu hẹp khoảng cách với các nước khác trên thế giới. 1.2. Nội dung xây dựng thương hiệu 1.2.1. Xác định tầm nhìn thương hiệu Tầm nhìn là một hình ảnh, một bức tranh sinh động về điều có thể xảy ra của một thương hiệu trong tương lai. Khi đề cập đến một ý định, một mục đích mang tính chiến lược, chúng ta thường hay hình tượng hóa nó bằng một hình ảnh của tương lai. Tầm nhìn bao hàm ý nghĩa của một tiêu chuẩn tuyệt hảo, một điều lý tưởng. Nó mang tính lựa chọn một trong những giá trị tuyệt vời nhất của một thương hiệu. Tầm nhìn còn có tính chất của một sự độc đáo, nó ám chỉ đển việc tạo ra một điều gì đó đặc biệt. Tầm nhìn thương hiệu là một thông điệp ngắn gọn và xuyên suốt định hướng hoạt động đường dài cho một thương hiệu 1.2.2. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu Nhận diện thương hiệu (Brand Identity) là tổng hợp tất cả tín hiệu của một thương hiệu, mà khi được thực hiện tốt nó sẽ thể hiện bản sắc chiến lược thương hiệu trên tất cả các phương tiện truyền thông theo một phương thức phối hợp và nhất quán cùng với thời gian. Hệ thống nhận diện thương hiệu bao gồm cả thành phần cảm xúc, bản sắc và cá tính thương hiệu (không nhìn thấy được) và các yếu tố nhìn thấy được như tên, biểu trưng, câu khẩu hiệu, hình ảnh đại diện… Nội dung của hệ thống nhận diện thương hiệu được lột tả rõ nét thông qua các yếu tố chính có thể nhìn thấy được. 1.2.2.1. Tên thương hiệu Theo Richard Moore: Tên thương hiệu là tên mà doanh nghiệp sử dụng để giới thiệu sản phẩm và phản ánh tính cách thương hiệu của mình. Theo Philip Kotle, tên thương hiệu là bộ phận không thể thiếu của thương hiệu giúp thương hiệu được nhận ra và gọi lên được, giúp thương hiệu phát huy ý nghĩa của nó đối với doanh nghiệp và đối với khách hàng.
    12. 16. 8 Nếu không có tên gọi và biểu tượng của thương hiệu thì doanh nghiệp không thể làm cho khách hàng nhận ra thương hiệu của mình trước hàng trăm ngàn các sản phẩm khác của đối thủ cạnh tranh hoặc mua sản phẩm một cách dễ dàng hơn. 1.2.2.2. Biểu trưng (Logo) thương hiệu – Biểu trưng Biểu trưng là những ký hiệu, hình ảnh, màu sắc, chữ viết, đường nét… mang tính cô đọng và khái quát nhất có chức năng thông tin, truyền đạt thông điệp qua kênh thị giác để biểu thị một ý niệm hay vấn đề nào đó trong đời sống xã hội. Biểu trưng có thể phân thành hai lọa chính: Biểu trưng kinh doanh dùng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và biểu trưng phi kinh doanh dùng cho các đoàn thể và tổ chức xã hội. – Logo Logo là một dạng thức đặc biệt của biểu trưng, về mặt thiết kế nó có thể được cấu trúc bằng chữ, bằng ký hiệu hoặc hình ảnh. Nhưng khác với tên doanh nghiệp và tên thương hiệu, logo thường không lấy toàn bộ cấu hình chữ của tên doanh nghiệp và tên thương hiệu làm bố cục. Nó thường dùng chữ tắt hoặc các ký hiệu, hình ảnh được cấu trúc một cách nghiêm ngặt, tạo thành một bố cục mang tính tượng trưng cao. Logo là tín hiệu đại diện của một doanh nghiệp, một sản phẩm, nhiều người từng quen thuộc với logo của các công ty, các tập đoàn lớn trên thế giới. 1.2.2.3. Câu khẩu hiệu (Slogan) Câu khẩu hiệu là một đoạn văn ngắn, chứa đựng và truyền đạt các thông tin mang tính mô tả và thuyết phục về thương hiệu. Câu khẩu hiệu là một bộ phận cấu thành của thương hiệu, nó chiếm một vị trí không kém phần quan trọng trong thương hiệu. Câu khẩu hiệu phải có tính hàm súc, khái quát cao, có giá trị phổ biến rộng rãi, nó bổ sung tạo điều kiện để khách hàng và công chúng có thể tiếp cận nhanh hơn, dễ bảo lưu trong tâm trí. Khẩu hiệu không nhất thiết phải như biểu trưng hay tên thương hiệu mà có thể được thay đổi điều chỉnh tùy theo chiến lược marketing của doanh nghiệp, theo đoạn thị trường mà doanh nghiệp khai thác. 1.2.2.4. Nhạc hiệu Nhạc hiệu là một đoạn nhạc hoặc một bài hát ngắn dễ nhớ, dễ lặp lại, được sáng
    13. 18. 10 nhận được một số lượng hàng hóa hay dịch vụ nhất định để có thể sử dụng hay chiếm hữu hàng hóa hay dịch vụ đó. Giá là thành tố duy nhất trong marketing hỗn hợp có thể tạo ra doanh thu, những thành tố còn lại chỉ tạo ra chi phí. Giá cũng là một trong những thành tố linh hoạt nhất: nó có thể thay đổi nhanh chóng, không giống như các chỉ tiêu kỹ thuậtcủa sản phẩm hay sự cam kết với các kênh phân phối. – Vai trò Đối với doanh nghiệp: giá cả là yếu tố quyết định về mức độ lẫn khả năng bù đắp chi phí sản xuất và có thể đạt đến mức độ lợi nhuận nhất định. Giá cả là căn cứ quan trọng để giúp cho doanh nghiệp có phương án kinh doanh và là một tái hiện quan trọng giúp cho doanh nghiệp nhận biết và đánh giá các cơ hội kinh doanh. Đối với người tiêu dùng: giá tác động như một yếu tố quyết định việc lựa chọn của người mua. Giá cả còn là yếu tố đánh giá sự hiểu biết của người mua về sản phẩm mà họ mua. Giá hàng hóa là chỉ số đánh giá phần được và chi phí người mua phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hóa. 1.2.3.3. Chiến lược phân phối Theo Philip Kotler: Chiến lược kênh phân phối là tập hợp các nguyên tắc nhờ đó doanh nghiệp có thể thực hiện được các mục tiêu tại thị trường mục tiêu. Kênh phân phối là một hệ thống các tổ chức hoặc cá nhân có quyền sở hữu sản phẩm hoặc giúp đỡ trong việc chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm nào đó khi nó di chuyển từ người sản xuất đến người mua cuối cùng. 1.2.3.4. Chiến lược xúc tiến hỗn hợp Xúc tiến hốn hợp là một hoạt động rất quan trọng và cần thiết trong quá trình kinh doanh của công ty. Có nhiều cách tiếp cận đối với khái niệm xúc tiến hỗn hợp trong kinh doanh. Theo định nghĩa chung, xúc tiến hỗn hợp là “Bất kỳ nỗ lực nào từ phía người bán để thuyết phục người mua chấp nhận thông tin của người bán và lưu trữ nó dưới hình thức có thể phục hồi lại được”. Xuất phát từ góc độ công ty xúc tiến thương mại được hiểu một cách tổng hợp và cụ thể như sau: “Xúc tiến hỗn hợp là một lĩnh vực hoạt động marketing đặc biệt và có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng chiêu khách và xác lập một quan hệ thuận lợi giữa công ty và khách hàng với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm
    14. 19. 11 phố hợp và triển khai năng động chiến lược và chương trình marketing – mix đã lựa chọn của công ty”. Bản chất của xúc tiến hỗn hợp: Là một công cụ quan trọng, là vấn đề cốt lõi của bất kỳ tổ chức nào để thực hiện chiến lược và chương trình marketing. Thực chất xúc tiến hỗn hợp là cầu nối giữa cung và cầu để người bán thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng đồng thời giảm được chi phí và rủi ro trong kinh doanh. Nhờ có xúc tiến hỗn hợp mà người tiêu dùng biết được rằng có những sản phẩm gì trên thị trường, được bán ở đâu, hay sản phẩm muốn mua thì loại nào tốt nhất…
    15. 20. 12 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm (hoặc doanh nhgiệp), bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi logo, “hình ảnh” và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại đó. Thương hiệu là một thuật ngữ với nội hàm rộng. Thương hiệu là hình tượng về hang hóa hoạc doanh nghiệp. Dấu hiệu thương hiệu phải được xác lập và tồn tại rõ ràng trong tâm trí khách hàng. Ngoài các thuộc tính chức năng hay công dụng của sản phẩm thông thường, thương hiệu mang lại những cảm xúc từ sản phẩm đó. Thương hiệu khác với nhãn hiệu. Thương hiệu không chỉ giúp cho doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trên thị trường mà còn mang lại lợi nhuận cao, giảm chi phí cho hoạt động xúc tiến thương hiệu, đồng thời giúp khách hàng lựa chọn những sản phẩm có chất lượng, uy tín trên thị trường, được nhà nước bảo hộ chống hàng giả, nhái, giúp khách hàng yên tâm khi lựa chọ mua sản phẩm và tiết kiệm thời gian cho việc tìm kiếm sản phẩm tốt. Việc xây dựng và phát triển thương hiệu cần phải hiểu rõ hơn các vấn đề xây dựng tầm nhìn, nhận diện hệ thống thương hiệu ( tên, logo, khẩu hiệu…), và các chiến lược được sử dụng trong marketing ( sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến hốn hợp).
    16. 22. 14 + Tư vấn lập và quản lý dự án. Thiết kế kêt cấu công trình dân dụng, công nghiệp. Giám sát thi công xây dựng công trình công cộng, nhà ở, giao thông : cầu, đường bộ… 2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Trải qua hơn 11 năm hình thành và phát triển, vượt qua những khó khăn và thách thức, từ một công ty nhỏ xây dựng cho địa phương. Nay đã trở thành Công ty Cổ phần Xây dựng Số 12 chuyên xây dựng, thi công tại tỉnh Đồng Nai và những tỉnh khác đã có những bước phát triển mạnh mẽ, vượt bậc về quy mô, với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Công ty Cổ phần Xây dựng Số 12 được thành lập ngày 25 tháng 11 năm 2009 với vốn điều lệ là 18.000.000.000 đồng được cấp giấy chứng nhận ĐKKD số: 3600712212 do Phòng Đăng Ký Kinh Doanh của Sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Đồng Nai cấp. Phương châm “lấy tâm làm gốc, tầm vương xa”. Với nổ lực không ngừng nâng cao chất lượng trong thi công – xây dựng bằng uy tín chất lượng. Sau 11 năm hoạt động đến nay Công ty đã có nhiều công trình xây dựng tại tỉnh Đồng Nai và các tỉnh: Mở rộng nhà điều hành điện lực Thống Nhất – Công ty điện lực tỉnh Đồng Nai; Trụ sở chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Nai; Khoa dinh dưỡng Bệnh viện Đa khoa khu vực Thống Nhất – tỉnh Đồng Nai; Công ty Cổ phần thủy sản Bến Tre – BESACO ( gói thầu số 1); Điện chiếu sáng tỉnh lộ 719 đoạn trên địa bàn xã Tân Tiến – thị xã La Gi – tỉnh Bình Thuận. Không những thế, công ty còn mở rộng thi công trang trí với trang thiết bị hiện đại, quy mô lớn đáp ứng được các tiêu chuẩn. Góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm người lao động tại địa phương và các tỉnh lân cận, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người lao động với mức lương trung bình 4 triệu đồng/ tháng. Hiện nay công ty đã xây dựng các công trình, quản lý các dự án với quy mô lớn mang lại nhiều doanh thu trăm triệu đồng năm 2014, đóng góp vào ngân sách nhà nước tại địa phương gần 300 triệu đồng/năm. Trong năm 2021, mặt dù khó khăn vẫn còn tiếp tục nhưng công ty luôn đặt mục tiêu giữ vững chất lượng thi công cũng như lập dự án đấu thầu cho các công trình sắp tới.
    17. 23. 15 2.1.2. Chức năng, lĩnh vực hoạt động của công ty 2.1.2.1. Chức năng Công ty được thành lập với chức năng chính là xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, tư vấn lập và quản lý dự án, giám sát thi công công trình công cộng. Xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển, tạo việc làm cho nguồn lao động dồi dào tại địa phương và tăng mức thu ngân sách cho tỉnh nhà. 2.1.2.2. Nhiệm vụ – Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chính sách chủ trương và chế độ của Nhà nước theo quy định của Pháp luật về thuế, môi trường,… – Thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động, phân phối thu nhập hợp lý, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. – Thực hiện nghiêm túc các hợp đồng xây dựng, chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình trước Nhà nước, trước khách hàng, trước Pháp luật về các công trình của công ty. – Luôn có những chính sách thu hút tuyển dụng và đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề cao, có chính sách ưu đãi đối với đội ngũ công nhân có tay nghề, tạo điều kiện để họ gắn kết với công ty. 2.1.2.3. Lĩnh vực hoạt động  Xây dựng công trình dân dụng, nhà ở, khu công nghiệp, công trình nhà nước, giao thông thủy lợi, bưu chính viễn thông, trạm biến áp và đường dây tải điện đến 35KV.  Thi công lắp đặt hệ thống chiếu sáng, hệ thống cấp thoát nước.  Thi công trang trí nội thất. San lấp mặt bằng, gia công sản xuất cơ khí (không sản xuất tại trụ sở).  Phá dỡ công trình. Mua bán lắp đặt thiết bị phòng cháy chữa cháy, hệ thống chống sét, camera quan sát, hệ thống điện lạnh. Mua bán vật liệu xây dựng ( không chứa vật liệu xây dựng tại trụ sở), kim loại màu thiết bị và máy móc xây dựng.  Tư vấn lập và quản lý dự án. Thiết kế kêt cấu công trình dân dụng, công nghiệp. Giám sát thi công xây dựng công trình công cộng, nhà ở, giao thông : cầu, đường bộ…
    18. 24. 16 2.1.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại công ty 2.1.3.1. Sơ đồ cơ cấu của công ty 2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận  Chỉ huy trưởng Là người được Giám đốc bổ nhiệm, thay mặt cho Công ty tại công trường xây dựng, trực tiếp điều hành công việc thi công, điều phối hoạt động của các đơn vị thi công. Có trách nhiệm xác định chi phí thi công, đảm bảo mức chi phí đã duyệt.  Ban Quản lý kỹ thuật và chất lượng tại trụ sở Bộ phận này thực hiện việc kiểm soát quản lý chất lượng, kiểm tra thường xuyên và định kỳ chất lượng thi công các hạng mục theo đúng các yêu cầu kỹ thuật. Khi phát hiện có sai phạm chất lượng tại hiện trường có quyền kiến nghị với Chỉ huy trưởng và báo cáo về trụ sở có biện pháp xử lý, – chế độ lương bổng, đãi ngộ lao động. Bộ phận kế toán, tiền lương: có trách điều chỉnh kịp thời.  Bộ phận hành chính: nhân sự, kế toán, tiền lương, bảo vệ, an toàn, y tế – Bộ phận nhân sự: tuyển dụng nhân sự, giải quyết nhiệm vụ giải quyết tiền lương kịp thời, chịu trách nhiệm về tài chính. – Bộ phận an toàn gồm các kỹ thuật viên về an toàn thường xuyên kiểm tra công tác an toàn trong mọi công tác thi công. Áp dụng các tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn vào công trường. Cố vấn các biện pháp an toàn thi công cho các tổ đội thi công. Giám Đốc Bộ phận hành chính Kế hoạch vật tư Kỹ thuật Thí nghiệm và kiểm tra chất lượng
    19. 26. 18 Bao gồm các đội thi công trực tiếp đứng đầu các đội trưởng là các kỹ sư có nhiều kinh nghiệm và trong từng đội có các tổ đội xây lắp và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp thi công : – Đội xây lắp phần thô: thực hiện công tác nền móng, bê tong cốt thép… – Đội thi công lắp đặt: thực hiện công các lắp đặt đường thiết bị điện, trạm biến áp và đường dây ống cấp nước và công tác điện nước phục vụ thi công.  Bộ phận thí nghiệm và kiểm tra đảm bảo chất lượng * Bộ phận đảm bảo chất lượng Bộ phận quản lý chất lượng tại công trường có nhiệm vụ lập kế hoạch chi tiết về việc kiểm tra, quản lý chất lượng và các thủ tục, các phương pháp lấy mẫu và thí nghiệm. Lấy mẫu vật liệu, thiết bị sử dụng cho công trình như thép, xi măng, đá, sỏi, gạch, cát, nước… tiến hành thí nghiệm sau đó đưa ra các thông số kỹ thuật và kết luận về việc sử dụng loại vật liệu đó cho công trình. Khi công trình thi công thì tiến hành lấy các mẫu thử sản phẩm như : bê tông, vữa, … kiểm tra đưa ra kết luận các sản phẩm này. Bộ phận quản lý chất lượng cũng thường xuyên kiểm tra, cố vấn về phương pháp thi công các công tác đặt biệt có yêu cầu kỹ thuật cao. * Bộ phận thí nghiệm và kiểm tra Bố trí các máy móc thiết bị và cán bộ kỹ thuật chuyên môn. Trong trường hợp cần thiết kết hợp với các đơn vị có tư cách pháp nhân để tiến hành thí nghiệm, thử nghiệm và kiểm tra. Chia làm các bộ phận chức năng sau: – Bộ phận thí nghiệm và kiểm tra tại hiện trường. – Bộ phận thí nghiệm, thử nghiệm và kiểm tra trong phòng thí nghiệm. Tình hình lao động tại công ty Nguồn lao động của công ty biến động qua từng thời kỳ, tùy thuộc vào các dự án mà nguồn nhân lục của công ty nhiều hay ít.
    20. 27. 19 Bảng 2.1. Trình độ lao động trong Công ty tính đến nay Đơn vị tính: người Phân cấp trình độ Các cấp lãnh đạo Nhân viên các phòng ban Công nhân Tổng Trên đại học 0 0 0 0 Đại học, Cao đẳng 3 23 0 26 Trung cấp, các trường dạy nghê 0 16 0 16 Công nhân bậc 1 – 4 0 0 84 84 Lao động phổ thông 0 0 124 124 Tổng 3 39 208 250 Qua bảng 2.1, ta thấy lực lượng cán bộ chủ chốt bao gồm 3 người đều được đào tạo qua các trường lớp chuyên môn cao. Tuy lực lượng cán bộ còn mỏng nhưng với tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyen môn hóa khá đồng đều, nên đội ngũ cán bộ của Công ty luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Còn đối với các công nhân thi công mặc dù số công nhân qua các lớp đào tạo ít nhưng luôn có ý thức tuân thủ nội quy làm việc, đảm bảo tiến độ thi công, đáp ứng thời gian hoàn thành giao cho khách hàng. Đây là một trong những điều kiện khá quan trọng tạo đà cho sự phát triển của Công ty trong thời gian qua. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Bảng 2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2012- 2014 (ĐVT: đồng) STT Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 1 Doanh thu thuần 11.755.570.704 12.004.018.154 12.252.246.565 2 Giá vốn 9.992.814.606 10.042.465.256 10.850.109.208 3 Lợi nhuận gộp 1.762.756.089 1.961.552.898 1.402.137.357
    21. 28. 20 4 Doanh thu hoạt động tài chính 588.324 627.521 667.618 5 Chi phí tài chính 11.906.945 14.706.812 17.862.909 6 Chi phí vật tư 997.684.195 1.023.865.142 1.259.354.125 7 Chi phí quản lý DN 723.684.195 614.25 6.645 554.829.095 8 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 30.187.390 309.351.820 293.884.229 9 Chi phí thuế TNDN hiện hành 7.546.848 77.337.955 73.471.057 10 Chi phí thuế ưu đãi 30.187.390 309.351.820 293.884.229 11 Lợi nhuận sau thuế 22.640.543 232.013.865 220.413.172 (Nguồn từ phòng kế toán) Nhận xét: Qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2012 – 2014, ta có thể thấy hoạt động xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng Số 12 có sự phát triển ổn định và tăng trưởng đều qua các năm, hầu như chỉ số về doanh thu và lợi nhuận đều có xu hướng tăng. Cụ thể: doanh thu thuần tăng, doanh thu hoạt động tài chính tăng, giá vốn, chi phí quản lý doanh nghiệp giảm. Đặc biệt, chỉ trong 2 năm 2012 đến 20113, lợi nhuận sau thuế của công ty tăng mạnh, từ 22.640.543 đồng lên 232.013.865 đồng (vì công ty thay đổi vốn điều lệ vào đầu năm 2012, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh). Năm 2014, lợi nhuận sau thuế có sự giảm nhẹ so với năm 2013 , từ 232.013.865 đồng xuống 220.413.172 đồng nhưng vẫn có thể thấy, hoạt động kinh doanh của công ty tăng trưởng nhanh, khá ổn định và hiệu quả.  Điều này cho thấy Công ty Cổ phần Xây dựng Số 12 hoạt động rất hiệu quả. 2.2. Thực trạng xây dựng Thương hiệu của Công ty Cổ phần Xây dựng Số 12 2.2.1. Xác định tầm nhìn thương hiệu Triết lý kinh doanh: “Tâm” và “Tầm” Với chữ “Tâm”, Công ty Xây dựng Số 12 luôn tâm niệm cung cấp sản phẩm và
    22. 29. 21 dịch vụ cho khách hàng bằng cả trái tim, luôn hướng tới việc đạt hiệu quả và hiệu năng cao nhất và liên tục. Ở góc độ “Tầm”, Công ty thể hiện bằng cam kết không ngừng đầu tư về công nghệ xây dựng hiện đại và trên hết là đội ngũ nhân viên tâm huyết và tài năng. Tầm nhìn của thương hiệu là kim nam chỉ của mọi hoạt động của doanh nghiệp. Toàn thể thành viên trong công ty luôn duy trì hòa bình trong hợp tác và cạnh tranh, sẵn sàng giúp cho tất cả các nên cùng nhau tiến lên một tầm cao mới. Trong suốt quá tình hoạt động, toàn thể nhân viên luôn luôn nhiệt tình với sứ mệnh đã xác định và kiên định với những cam kết trong Chính sách Chất lượng với đòi hỏi cao nhất của chính mình. Đồng thời nằm trong xu hướng phát triển chung của toàn cầu, Công ty luôn chú trọng đến yếu tố môi trường, nơi xây dựng, các trang thiết bị cho đến quy trình làm việc. Với tôn chỉ hoạt động là tối đa hóa lợi ích của khách hàng để tạo giá trị gia tăng chung cho công ty và xã hội. Công ty luôn hướng đến sự sáng tạo với những sản phẩm mang tính độc đáo, khác biệt, đậm đà bản sắc dân tộc, gần gũi với môi trường tự nhiên và đầy đủ tiện ích cho khách hàng. Tầm nhìn chiến lược lâu dài của công ty là tập trung xây dựng Công ty phát triển toàn diện trên cơ sở lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là đầu tư xây dựng nhà ở, khu công nghiệp, cơ quan nhà nước… đảm bảo tăng trưởng ổn định lợi nhuận hàng năm, không ngừng phát triển và khẳng định thương hiệu “Xây dựng Số 12”. Phát huy cao độ mọi nguồn lực để nâng cao năng klực cạnh tanh và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, xây dựng văn hóa doanh nghiệp mang bản sắc riêng của công ty “Xây dựng Số 12” 2.2.2. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu 2.2.2.1. Tên gọi  Tên tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 12  Tên tiếng Anh:12 join stuck Do nhu cầu phát triển mạnh trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, Công ty đã quyết định thành lập Công ty Xây dựng Số 12 nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở cũng như những công trình công cộng. Tên gọi của Công ty hướng vào lĩnh vực hoạt động, chữ “12” thể hiện 12 tháng trong một năm, mỗi tháng sẽ phấn làm cho công ty phát triển, có những sản phẩm ngày càng chất lượng, đưa sản phẩm tốt nhất đến người
    23. 30. 22 tiêu dùng, đồng thời xây dựng một thương hiệu hiện đại, chuyên nghiệp, luôn hướng về khách hàng và phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế. 2.2.2.2. Biểu tượng thương hiệu – Logo Công ty sử dụng logo ngôi nhà tổng thể là biểu hiện của Công ty. Với 2 màu sắc chủ đạo là màu đỏ và màu trắng với nhiều ý nghĩa đặc trưng. Màu đỏ là biểu trưng cho lòng nhiệt huyết, tràn đầy năng lượng và tràn đầy năng lượng pha lẫn hàm ý của sự tin tưởng, trách nhiệm và bền vững, màu trắng thể hiện tâm hồn trong sáng, luôn hướng đến đều tốt đẹp nhất cho mọi người. Biểu tượng một ngôi nhà – biểu tượng của tổ ấm, nơi yên bình, nơi mà mọi người muốn về nhà hoặc muốn có việc làm, Công ty muốn xây dựng hình ảnh thân thiện hơn với người tiêu dùng. Số “12” thể hiện con đường, mục đích chúng ta hướng đến, vừa toát lên khí thế của những con người đã dốc sức xây dựng nên ngôi nhà – Xây dựng Số 12. 2.2.2.3. Khẩu hiệu (Slogan) Slogan của Công ty là: “Nâng cao chất lượng nâng tầm cao mới” Với khẩu hiệu này Công ty luôn cam kết nỗ lực, đầu tư toàn diện mọi nguồn lực, vật chất, tinh thần để cung cấp cho khách hàng những công trình nhà ở, khu đô thị, cơ quan nhà nước, khu công nghiệp đảm bảo chất lượng tốt. Đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng, phù hợp với yêu cầu cải thiện, nâng cao cảnh quan kiến trúc đô thị, hài hòa với môi trường sống, môi trường làm việc cho cộng đồng xã hội. 2.2.2.4. Nhạc hiệu Nhạc hiệu là yếu tố cấu thành thương hiệu được thể hiện bằng âm nhạc. Những đoạn nhạc thú vị gắn chặt vào đầu óc người tiêu dùng, dù có muốn hay không. Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty chưa chú trọng tới thiết kế nhạc hiệu cho Công ty, chỉ có nhữn ca khúc vui về tinh thần “Nối vòng tay lớn” – cũng chỉ mang tính khích lệ cán bộ nhân viên trong công ty, chưa thể hiện được sự hướng tới khách hàng, chưa được lưu tuyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nên không gây
    24. 31. 23 được sự chú ý, và đi vào tâm trí khách hàng. Điều này là hạn chế của Công ty nói riêng và của doanh nghiệp Việt Nam nói chung.  Qua khảo sát trực tiếp khách hàng về mức độ nhận biết về thương hiệu Công ty Xây dựng Số 12: – Đối tượng khảo sát: Công nhân – viên chức, nhu cầu nhà ở. – Tuổi từ 24 trở lên. – Địa điểm khảo sát: thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.  Đối với thương hiệu Xây dựng Số 12 Theo khảo sát người tiêu tại Đồng Nai, với ngẫu nhiên 100 người, mức độ nhận biết của người tiêu dùng đối với thương hiệu Xây dựng Số 12 là khá 67%, còn lại 33% là những người không biết đến thương hiệu Xây dựng Số 12. Theo kết quả khảo sát thực tế và nhìn vào biểu đồ ta thấy sự phát triển thương hiệu Xây dựng Số 12 tại khu vực Đồng Nai là khá cao, điều đó đã góp phần làm cho thương hiệu ngày càng chiếm lĩnh thị phần trên thị trường nhiều hơn nữa. Tuy nhiên 33% chưa từng biết đến thương hiệu Xây dựng Số 12 là con số không nhỏ để công ty có thể khẳng định sự nhận biết khách hàng về thương hiệu, trên thị trường các đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều, nên công ty cần phải nắm bắt nhu cầu và mong muốn của khách hàng nhằm phục vụ tốt nhất.  Đối với thương hiệu xây dựng khác trong ngành 67% 33% Biều đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện mức độ nhận biết thương hiệu Xây dựng Số 12 Đã từng biết Xây dựng Số 12 Chưa từng biết Xây dựng Số 12
    25. 32. 24 Khảo sát 100 người về mức độ nhận biết đầu tiên về thương hiệu xây dựng. Qua kết quả cho thấy các thương hiệu xây dựng khác trên thị trường thì thương hiệu Xây dựng Số 12 chiếm tỷ lệ cao hơn 32%, nhưng so với các thương hiệu khác thì nhìn chung không có sự chênh lệch quá lớn đặt biệt khách hàng cũng nhớ đến thương hiệu Toàn Thịnh Phát cũng chiếm khá cao 34%. Vì vậy, công ty cần xác định rõ hơn việc định vụ thương hiệu và phân khúc thị trường của mình khi nhắc đến ngành xây dựng đầu tiên thì khách hàng sẽ nhớ ngay công ty Xây dựng Số 12. Hình ảnh thương hiệu nó sẽ tạo cho người tiêu dùng liên tưởng đến một cái gì gắn với thương hiệu. Trong suốt quá trình hoạt động của mình thương hiệu Xây dựng Số 12 mang hình ảnh “Chất lượng – Uy tín” trong tâm trí người tiêu dùng. Công ty luôn phấn đấu học hỏi không ngừng để mang lại những sản phẩm tốt nhất cho khách hàng. Theo kết quả nghiên cứu người tiêu dùng về hình ảnh thương hiệu, 29% người tiêu dùng biết đến thương hiệu Xây dựng Số 12 cho rằng hình ảnh thương hiệu của Công ty danh cho những người có thu nhập cao, 43% dành cho người có thu nhập khá, 24% dành cho người có thu nhập trung bình và 4% dành cho người có thu nhập thấp. 32% 34% 23% 11% Biểu đồ 2.2. Mức độ nhận biết đầu tiên giữa các thương hiệu xây dựng trên thị trường Số 12 Toàn Thịnh Phát Nguyễn Hoàng Khác
    26. 34. 26 cấp có uy tín, các công trình được thi công theo các thông số kỹ thuật quy định và luôn có sự giám sát, kiểm định chặt chẽ của phòng kỹ thuật do đó các công trình xây dựng được bàn giao đưa ra thị trường theo tiêu chuẩn của Việt Nam luôn đem đến sự an tâm, hài lòng của khách hàng, tạo được sự tin tưởng vào thương hiệu của Công ty. Dịch vụ bảo trì là một phần không thể thiếu và được tính 1.5% vào giá trị hợp đồng. Công ty đã tổ chức một đội ngũ kỹ thuật có chuyên môn cao chuyên phụ trách về vấn đề này, theo đó với những khoản mục nằm trong quy định của hợp đồng thì Công ty có trách nhiệm bảo trì định kỳ hoặc khi xảy ra sự cố. Những khoản mục nằm ngoài quy định của hợp đồng sẽ được sửa chữa với mức phí hợp lý khi khách hàng có nhu cầu. Chất lượng sản phẩm luôn là điều quan tâm hàng đầu của Công ty. Công ty Xây dựng Số 12 đã áp dụng quy trình quản lý chất lượng ISO 9001:2008 vào các lĩnh vực hoạt động, nhằm cung cấp sản phẩm tốt nhất nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng, đồng thời phải liên tục cải tiến hệ thống quản lý của mình để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Chất lượng sản phẩm của Công ty được thể hiện qua chất lượng cơ sở hạ tầng rộng khắp Đồng Nai, nguồn nhân lực chất lượng, quy trình làm việc, xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế.  Mức độ trung thành của khách hàng đối với thương hiệu Xây dựng Số 12.
    27. 36. 28 Để người tiêu dùng biết đến thương hiệu của mình là một việc làm tương đối khó khăn. Nhưng làm cho người tiêu dùng hài lòng với thương hiệu của mình càng khó hơn rất nhiều. Theo khảo sát về mức độ hài lòng của người tiêu dùng đối với thương hiệu Xây dựng Số 12 của 74% khách hàng đã sử dụng: mức độ hài lòng cao chiếm 68%, rất hài lòng chiếm 7%, bình thường là 35%, không có người nào phỏng vấn mà câu trả lời là không hài lòng và rất không hài lòng.  Khảo sát khách hàng về yếu tố quyết định mua sản phẩm của thương hiệu Xâydựng Số 12. Câu hỏi loại (MA). Rất hài lòng Hài lòng Bình thường Không hài lòng Rất không hài lòng 7% 68% 35% 0% 0% Biểu đồ 2.6. Mức độ hài lòng của khách hàng đối với thương hiệu Xây dựng Số 12
    28. 38. 30 phí mà Công ty phải bỏ ra để có được công trình hoàn chỉnh và chuyển giao cho khách hàng và các chi phí quản lý. – Đặc điểm của sản phẩm: xuất phát từ nhóm khách hàng mục tiêu.  Đây là các yếu tố mà Doanh nghiệp có thể tác động, điều chỉnh, nó phụ thuộc vào tầm nhìn và chiến lược trong từng thời kỳ của Công ty.  Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp – Sự phát triển của nền kinh tế: trong điều kiện kinh tế hiện nay đang có xu hướng đổi mới, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong đó không kém phần quan trọng trong việc xây dựng các công trình hiện đại theo xu hướng hội nhập. – Vị trí địa lý: ở mỗi khu vực khác nhau thì có mức giá khác nhau. Với quan niệm của người Á Đông thì Công ty cũng có quan tâm đến yếu tố phong thủy trong việc định giá nhà. – Quy định của pháp luật: việc định giá của Công ty luôn đảm bảo quy định về hạn mức mà nhà nước quy định cho mỗi khu vực.  Đây là những yếu tố mà Doanh nghiệp không thể tác động hay thay đổi. Tuy nhiên căn cứ vào điều khoản từng thời kỳ Công ty đã có những điều chỉnh linh hoạt nhằm tận dụng cơ hội cũng như hạn chế rủi ro mà Công ty có thể gặp phải. Bảng 2.3. Chi phí sản xuất kinh doanh một số dự án Đơn vị tính: đồng Tên các dự án hoàn thành Chi phí Năm hoàn thành Ngân hàng Nông nghiệp huyện Thống Nhất 14.551.291.543 2012 Điện chiếu sáng tỉnh lộ 719 đoạn trên địa bàn Xã Tân Tiến – thị xã La Gi – tỉnh Bình Thuận 998.366.000 2012 Xây dựng nhà ở học sinh Trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai 6.845.630.789 2013 Trung tâm y tế dự phòng huyện Tân Phú 19.626.225.195 2013
    29. 39. 31 Trụ sở làm việc chi cục thuế Biên Hòa – tỉnh Đồng Nai 37.198.307.000 2014 Xây lắp nhà làm việc và các hạng mục phụ trợ Chi cục thuế huyện Định Quán – Đồng Nai 16.534.263.000 2014 (Nguồn phòng kế toán) Từ bảng trên cho ta thấy các dự án có giá trị lớn, do vậy Công ty thường áp dụng các hình thức thanh toán thành nhiều kỳ. Đối với các dự án lớn sẽ chia ra 4 kỳ, còn các dự án trung và thấp thì 2 – 3 kỳ tùy vào từng thời kỳ mà Công ty áp dụng. Hình thức thanh toán này giúp khách hàng giảm được gánh nặng tài chính, không phải thanh toán một số tiền lớn tại một thời điểm vừa giúp Doanh nghiệp có nguồn vốn ứng trước để trang trải chi phí, nó cũng góp phần vào chia sẻ rủi ro giữa khách hàng và doanh nghiệp. Số lượng khách hàng biết đến sản phẩm của Công ty ngày càng tăng, điều này được minh chứng qua số lượng gói thầu mà công ty Xây dựng Số 12 được mời tham gia và trúng thầu tăng lên nhanh chóng từ 2012 đến nay cả về số lượng và quy mô. 2.2.3.3. Chiến lược phân phối Việc phân phối sản phẩm của Công ty chủ yếu được thực hiện thông qua giao dịch trực tiếp, các dự án trong đấu thàu là chính. 3 5 10 -2 0 2 4 6 8 10 12 2011 2012 2013 2014 2021 Hình 2.1. Số lượng và mức độ phức tạp của các gói thầu của công ty Xây dựng Số 12
    30. 42. 34 Rất không hài lòng Không hài lòng Bình thường Hài lòng Rất hài lòng 0% 2% 33% 62% 3% Biểu đồ 2.9. Biểu đồ thể hiện người tiêu dùng cảm nhận về thương hiệu của Công ty đang sử dụng trong thời gian hiện nay, vẫn được người tiêu dùng chú ý và quan tâm đến.  Khảo sát khách hàng về cảm nhận của khách hàng về dịch vụ chăm sóc, bảo trì sản phẩm của thương hiệu Xây dựng Số 12. Quan bảng khảo sát, ta thấy với 74% khách hàng đã từng sử dụng sản phẩm của Công ty, sau khi bàn giao cho khách hàng Công ty còn chú trọng đến việc bảo trì, dịch vụ chăm sóc, tư vấn cho khách hàng khá tốt, được khách hàng đánh giá khá cao, điều đó cho thấy Công ty luôn nỗ lực phục vụ cho khách hàng tốt nhất, không chỉ đầu vào mà còn trong tương lai nữa. Đồng thời Công ty cũng cần phấn đấu hơn nữa trong tâm trí khách hàng để thương hiệu của Công ty được vang xa và luôn đặt “Chất lượng – Uy tín” lên hàng đầu.
    31. 43. 35 Khi được hỏi khách hàng có giới thiệu cho người quen biết khi đã từng mua sản phẩm của công ty Xây dựng Số 12 chưa, kết quả thu được: 61% giới thiệu cho người thân, bạn bè; 39% chưa từng giới thiệu. Điều này cho thấy, khách hàng trung thành và tin tưởng vào sản phẩm của Xây dựng Số 12 cao, họ không ngần ngại giới thiệu cho người thân, bạn bè biết về thương hiệu công ty Xây dựng Số 12 là công ty uy tín, sản phảm chất lượng và giá cả hợp lý đối với người tiêu dùng. Nhưng con số 39 người chưa từng giới thiệu là con số cũng khá lớn, vì vậy Công ty cần đầu tư không chỉ về chất lượng mà còn phải đầu tư vào việc quảng bá hình ảnh thương hiệu của Công ty cho khách hàng hiện tại và tiềm năng. 61% 39% Biểu đồ 2.10. Mức độ đã từng giới thiệu của khách hàng về thương hiệu Xây dựng Số 12 Đã từng giới thiệu Chưa từng giới thiệu Chắc chắn giới thiệu Giới thiệu Chưa biết Có thể giới thiệu Chắc chắn không giới thiệu 1 51 19 22 7 Biểu đồ 2.11. Mức độ khách hàng sẵn sàng giới thiệu cho bạn bè, người thân về công ty Xây dựng Số 12
    32. 44. 36 Qua khảo sát, mức độ khách hàng sẵn sàng giới thiệu cho người thân, bạn bè khi có nhu cầu về nhà ở, công trình công nghiệp… chiếm 51%, chắc chắn giới thiệu 1%, có thể giới thiệu 22%, chưa biết chiếm 19% và chắc chắn không giới thiệu chiếm 7%. Qua đó cho thấy, khách hàng ngày càng biết đến Công ty nhiều nhưng lượng khách sẵn sàng giới thiệu Công ty cho người khác vẫn còn chưa cao lắm, điều này chứng tỏ Công ty cần phải nỗ lực hơn nữa để khách hàng vững tin, mạnh dạng giới thiệu Công ty cho người khác. Công ty cần xây dựng các truyền thông đại chúng, cũng như xây dựng thương hiệu qua chất lượng, uy tín mà làm nên sức mạnh. 2.3. Ưu và nhược điểm trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu của Công ty 2.3.1. Ưu điểm Công ty đã định vị được hình ảnh thương hiệu trong tâm trí khách hàng qua việc xây dựng và truyền thông các yếu tố nhận diện thương hiệu của Công ty tới khách hàng ( tên, logo, slogan…). Công ty đã vận dụng khá hiệu quả các chiến lược marketing hỗn hợp cho chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu của mình. Đồng thời, Công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm trong ngành với việc sử dụng các phương tiện truyền thông đã giúp Công ty truyền tải được thông điệp tới khách hàng. Sản phẩm của Công ty đã có chỗ đứng trên thị trường tạo ấn tượng rất tốt đối với khách hàng. Uy tín của Công ty ngày càng được biết đến nhờ vào việc không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sự khác biệt về chất liệu, chính sách giá linh hoạt, hệ thống kênh phân phối thông suốt đến người tiêu dùng. Là đơn vị có hơn 11 năm kinh nghiệm trong ngành, Công ty rất ý thức về vấn đề chất lượng nguồn nhân lực, nhất là cán bộ trẻ. Hiện tại, đội ngũ nhân sự trẻ dưới 35 tuổi chiếm hơn 57% trong tổng số 250 nhân sự toàn Công ty. Ngoài mức lương thiết lập ở mức cạnh tranh với các đơn vị lớn trong ngành, Công ty còn có nhiều chế độ, chính sách để gắn bó với đội ngũ nhân tài: thưởng theo kết quả kinh doanh của Công ty, thưởng nóng cho nhưng thành tích đóng góp xuất sắc và nổi bật, cổ phiếu thưởng… Những chính sách này sẽ tạo điều kiện để mọi người vừa gắn trách nhiệm với quyền lợi một cách lâu dài.
    33. 45. 37 Hình ảnh ngôi nhà nói lên Công ty không ngừng học hỏi cũng như phấn đấu xây dựng nên các công trình với quy mô nhỏ và lớn, các ngôi nhà đẹp cho khách hàng. Bên cạnh đó, thông qua logo, khách hàng và đối tác có thể cảm nhận được hoạt động của Công ty không chỉ giới hạn về phạm vi tại khu vực Đồng Nai mà nó sẽ vươn mình phát triển mạnh mẽ, vươn xa ra khỏi phạm vi nhỏ hẹp để đến với thị trường rộng lớn hơn trên phạm vi đất nước. Một số công trình công ty đã xây dựng: Mở rộng nhà điều hành điện lực Thống Nhất – Công ty điện lực tỉnh Đồng Nai; Trụ sở chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Nai; Công ty Cổ phần thủy sản Bến Tre – BESACO ( gói thầu số 1); Điện chiếu sáng tỉnh lộ 719 đoạn trên địa bàn xã Tân Tiến – thị xã La Gi – tỉnh Bình Thuận… 2.3.2. Nhược điểm – Công ty đã đầu tư xây dựng các yếu tố nhận diện thương hiệu như: tên, logo, slogan song vẫn còn nhiều yếu tố nhận diện thương hiệu khác mà Công ty vẫn chưa quan tâm xây dựng như: chưa có nhạc hiệu riêng, chưa chú trọng xây dựng các yếu tố cơ sở vật chất, chưa có đồng phục nhân viên. – Thời điểm xuất hiện và ý nghĩa của logo hiện tại không được diễn giải và lưu lại làm tài liệu quản trị thương hiệu trong công ty. Hệ thống nhận diện thương hiệu của công ty chưa được quan tâm và thống nhất, làm giảm hình ảnh một nhà xây dựng chuyên nghiệp. – Chưa đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm của Công ty. – Cần chú trọng đến giá cả hợp lý trong việc đấu thầu cũng như các hợp đồng khách hàng với Công ty. – Chưa chú trọng đến việc xây dựng kênh phân phối cho công ty, chủ yếu kênh truyền thống là chính. – Việc xây dựng và phát triển thương hiệu theo hướng hỗn hợp xúc tiến chưa hiệu quả.:Chi phí đầu tư cho xây dựng và phát triển thương hiệu chưa cao, đặc biệt là khi Công ty đang trong giai đoạn bước đầu định vị thương hiệu trên thị trường; Công ty chưa xây dựng riêng cho mình một website riêng. – Chưa quan tâm đến tinh thần làm việc, đời sống của nhân viên. Chất lượng nhân lực còn hạn chế. 2.3.3. Nguyên nhân – Chưa có sự nhận thức đầy đủ của Công ty về vai trò và tầm quan trọng của
    34. 46. 38 thương hiệu do đó việc xây dựng và phát triển thương hiệu chưa được coi trọng và đánh giá đúng mức. – Đối với các Doanh nghiệp Việt Nam, thương hiệu vẫn còn là một khái niệm khá mới. Vấn đề thương hiệu trên thị trường chỉ mới được phát triển trong những năm gần đây vì vậy các Doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng nói riêng chưa nhạn thức hết tầm quan trọng và vai trò của thương hiệu với việc nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của mình nên chưa thực sự có những chiến lược và chính sách của Doanh nghiệp, ngành về xây dựng và phát triển thương hiệu của Doanh nghiệp. TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Vấn đề xây dựng thương hiệu mang ý nghĩa sống còn của một doanh nghiệp trong thời kỳ cạnh tranh toàn cầu hóa và hội nhập vì vậy sẽ chịu sự tác động tác động của nhiều yếu tố. Qua đánh giá tình hình hoạt động xây dựng, phát triển thương hiệu của công ty Cổ phần Xây dựng Số 12 có thể thấy được tình hình hoạt động, khả năng sử dụng các công cụ truyền thông, cũng như điểm mạnh – yếu trong việc xây dựng thương hiệu của Công ty, sự trung thành khách hàng, mức độ hài lòng, mức độ nhận biết thương hiệu của khách hàng dành cho công ty Xây dựng Số 12. Tuy nhiên, việc đầu tư và thực hiện những hoạt động đó còn chưa xứng với tiềm năng phát triển cũng như yêu cầu thị trường. Vì vậy, nghiên cứu và đề ra các giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu của Công ty để nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Thương Hiệu Báo Chí Việt Nam
  • Phương Châm Quản Lí Spa
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12
  • Báo Cáo Sơ Kết Thực Hiện Quy Định Số 11
  • Thực Hiện Quy Định Số 11
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp Dệt May Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Sức Cạnh Tranh Của Hàng Hoá Việt Nam
  • Đề Án Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp Dệt May Việt Nam
  • Bài 3. Những Vấn Đề Đặt Ra Công Tác Quản Lý Đảng Viên Ở Chi Bộ Nông Thôn
  • Chuyên Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Rau An Toàn Ở Việt Nam
  • Luận Văn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Thúc Đẩy Sản Xuất Và Tiêu Thụ Rau An Toàn Trên Địa Bàn Huyện Gia Lâm
  • hẩm quyết định chữ tín của doanh nghiệp và tạo lợi thế có tính quyết định trong cạnh tranh,cạnh tranh bằng sản phảm thường được thể hiện qua các mặt sau : – Cạnh tranh về trình độ của sản phẩm – Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm – Cạnh tranh về Bao bì – Cạnh tranh về nhãn mác.uy tín ca sản phẩm – Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu lựa chọn một sản phẩm phù hợp với thị trường. 2.2 Cạnh tranh bằng giá Giá là một trong các công cụ quan trọng trong cạnh tranh,thường được sử dụng trong giai đoạn đầu của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bước vào một thị trường mới…Cạnh tranh bằng giá thường được thể hiện qua các biện pháp sau : – Kinh doanh với chi phí thấp – Bán với mức giá hạ hoặc mức giá thấp Để đạt được mức giá thấp doanh nghiệp cần phải xem xét hạ giá sản pẩm của đơn vị mình.có càng nhièu khả năng hạ giá sẽ có càng nhiều lợi thế so với đối thủ canh tranh.Khả năng hạ giá phụ thuộc vào các yếu tố sau : – Chi phí về kinh tế thấp – Khả năng bán hàng tốt,do đó có khối lượng bán lớn – Khả năng về tài chính tốt Hạ giá là phương pháp cuối cùng mà doanh nghiệp sẽ tực hiện trong cạnh tranh bởi hạ giá ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp.Vì vậy doanh nghiệp cần lựa chọn một thời điểm thích hợp để tiến hành sử dụng giá cả làm vũ khí cạnh tranh. 2.3 Cạnh tranh về phân phối và bán hàng Cạnh tranh về phân phối và bán hàng được thể hiện qua các mọi dung chủ yếu sau đây : – Khả năng đa dạng hóa các kênh và chọn được kênh chủ lực – Tìm được những người điều khiển đủ mạnhlàm đại lý cho doanh nghiệp – Có hệ thống bán hàng phong phú – Có nhiều biện pháp để kết dính các kênh lại với nhau – Có khả năng hợp tác giữa người bán trên thị trường,đặc biệt là trong các thị trường lớn. – Có các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng hợp lý – Kết hợp hợp lý giữa phương thức bán và phương thức thanh toán 2.4 Cạnh tranh về thời cơ thị trường Doanh nghiệp nào dự báo đựoc thời cơ thị truờng và nắm bắt được thời cơ thị trường sẽ chiến thắng trong cạnh tranhThời cơ thị trường thường xuất hiện do các yếu tố sau : – Do thay đổi của môi trường công nghệ – Do sự thay đổi của yếu tố dân cư và điều kiện tự nhiên – Do các quan hệ tự tạo lập được của từng doanh nghiệp Cạnh tranh về thời cơ thị trừong thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo được những thay đổi của thị trường.Tù đó có các chính sách khai thác hợp lý và sớm hơn so với các doanh nghiệp khác.Tuy nhiên,cạnh tranh về thời cơ thị trường cũng còn thể hiện ở chỗ doanh ngiệp tìm ra được những lợi thế kinh doanh sớmvà đi vào khai thác thị trường và một loạt sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ sớm bị lão hóa.Yêu cầu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thích ứng nhanh với những thay đổi đó. 2.5 Canh tranh về không gian và thời gian Loại cạnh tranh này xuất hiện những vấn đề về chính sách sản phẩm và chính sách giá cả của sản phẩm.Giá cả của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường chênh lệch là không lớn,chất lượng sản phẩm là tương đối ổn định.Trong trường hợp như vậy,thời cơ và thời gian có vai trò qua trọng và nó quyết địn về việc buôn bán.Những doanh nghiệp nào có quá trình buôn bán thuận tiện nhất,nhanh nhất sẽ chiến thắng trong cạnh tranh.Để thực hiện được việc bán hàng nhanh và thuận tiện bhất phải sử dụng một loạt các giải pháp sau : – Ký kết hợp đồng nhanh và thuận tiện – Điều kiện bán hàng nhanh và thuận tiện – Thu tục thanh toán nhanh – Các hoạt đọng sau khi bán phong phú Song vấn đề chính là tạo được uy tín giữa người mua và người bán.Làm tốt được công tác này sẽ tạo điều kiện cơ bản cho côn tác tiêu thụ được hoàn thiện. 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh Đã có nhiều nghiên cứu về vai trò tác động của các yếu tố cấu trúc quyết định cường độ cạnh tranh trên thị trường,trong đó nghiên cứu của M.E Porter là một nhận định rất rõ nét.Theo M.E Porter thì có 5 yếu tố tham gia quyết định cường độ cạnh tranh, đó là : 3.1. Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong nghành Trước hết các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong nghành quyết định tính chất và mức độ tranh đua nhằm giành giật lợi thế trong nghành mà mục đích cuối cùng là giữ vững và phát triển thị phần hiện có,bảo đảm có thẻ có mức lợi nhuận cao nhất.Sự cạnh tranh của các đối thủ hiện tại có xu hướng làm tăng cường độ cạnh tranh và làm giảm mức lơi nhuận của nghành.Có nhiều hìnhthức và công cụ cạnh tranh được các đổi thủ sử dụng khi cạnh tranh trên thị trường,ví dụ như cạnh tranh về giá hay cạnh tranh về chất lượng sản phẩm.Trên thực tế ,khi các đối thủ cạnh tranh với nhau thường sử dụng công cụ cạnh tranh tổng hợp,trên cơ sở cạnh tranh về giá với các hình thức và công cụ canh tranh khác như:chất lượng sản phẩm cùng với áp dụng sự khác biệt về sản phẩm,marketing… Thường thì cạnh tranh trở lên khốc liệt khi nghành ở giai đoạn bão hoà,hoặc suy thoái,hoặc có đông các đối thủ cạnh tranh bằng vai phải lứa với các chiến lược cạnh tranh đa dạnh và do những rào cản kinh tế làm cho các doanh nghiệp khó tự do di chuyển sang nghành khác. Để có thể bảo vệ khả năng cạnh tranh của mình,các doanh nghiêp cần phải thu thập đủ thông tin cần thiết về các đối thủ cạnh tranh chính có sức mạnh trên thị truờng và tình trạng nghành để làm cơ sở hoạch định chiến lược. 3.2. Nguy cơ đe doạ nhập nghành từ các đối thủ tiềm ẩn Hiểu biết đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn luôn có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp vì sự xuất hiện của các đối thủ mới, đặc biệt khi các đối thủ này có khả năng mở rộng sản xuất và chiếm lĩnh thị phần,sẽ làm cạnh tranh trở lên khốc liệt và không ổn định. Để hạn chế sự đe doạ của các đối thủ tiềm ẩn các doanh nghiệp thường duy trì và không ngừng nâng cao các hàng rào bảo vệ hợp pháp, đặc biệt là về công nghệ.Trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay,các công ty xuyên quốc gia hoặc các công ty nước ngoài có tiềm lực tài chính và công nghệ dáng kể thực sự là đối thủ “nặng ký” đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong nước là những doanh nghiêp có tiềm lực rất hạn chế và sức cạnh tranh thấp. 3.3. Quyền lực thương lượng hay khả năng ép giá của người mua Đối với các doanh nghiệp thì mọi việc chỉ có ý nghĩa khi tiêu thụ được sản phẩm và có lãi.Chính vì vậy, sự tính nhiệm của khách hàn luôn là tài sản có giá trị quan trọng của doanh nghiệp và doanh nghiệp có được là do doanh nghiệp biết cách thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ canh tranh khác.Người mua luôn muốn trả giá thấp vì vậy sẽ thực hiẹn việc ép giá,gây áp lực đòi chất lượng cao hoặc đòi được phục vụ nhiều hơn đối với doanh nghiệp khi có điều kiện, điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Để hạn chế bớt quyền thương lượng của người mua,các doanh nghiệp cần phải phân loại khách hàng hiện tại và tương lai cùng với các nhu cầu và thị hiếu của họ làm cơ sở đinh hướng cho kế hoạch Marketing và chiến lược kinh doanh nói chung. 3.4. Quyền lực thương lượng hay khả năng ép giá của người cung ứng Người cung ứng các yếu tố đầu vào luôn muốn thu nhiều lợi nhuận,vì vậy họ có thể đe doạ tăng giá hoặc giảm chất lượng sản phẩm đặt mua, nhằm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp khi họ có điều kiện,ví dụ trong trường hơp người cung ứng có lợi thế về nguòn nguyên vật liệu hoặc sản phẩm của người cung ứng là vật tư đầu vào qan trọng của khách hàng.Trong thực tế các doanh nghiệp luôn phải ứng phó một cách thường xuyên đến nguồn cung ứng ngay trong nội bộ doanh nghiệp,có thể đó là lực lượng lao động, đặc biệt là những lao động có trình độ cao vì khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có năng lực là một tiền đề quan trọng bảo đảm sự thành công của doanh nghiệp. 3.5. Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm thay thế Các sản phẩm thay thế luôn có thể có tác động lớn đến mức độ lợi nhuận tiềm năng của nghành, nhất là những sản phẩm có chu kỳ sống ngắn như máy tính , đồ điện tử…Vì phần lớn các sản phẩm thay thế làkết quả của quá trình thay đổi công nghệ,nên thường có ưu thế về chất lượng và giá thành sản phẩm, mặc dù giá thành ban đầu có thể cao hơn so với các sản phẩm có bán trên thị truờng.Biện pháp chủ yếu sử dụng để hạn chế sự tác động của sản phẩm thay thế là tăng cường đầu tư cho R&D của doanh nghiệp, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý…nhằm giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc tăng cường tính độc đáo khác biệt của sản phẩm. CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM I. Dệt May Việt Nam : những thành tựu đạt được Sau một hơn 1 năm gia nhập WTO, dệt may Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2007 đạt 7,78 tỷ USD, tăng 33,35% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với mức 20% của năm 2006. Như vậy, năm 2007, ngành công nghiệp dệt may nước ta vượt 280 triệu USD so với mục tiêu. Đáng chú ý, có những tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đã vượt qua dầu thô để trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất. 1 . Kim ngạch xuất tới các thị trường chủ lực Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta tăng mạnh chủ yếu do xuất khẩu sang Mỹ bứt phá mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê, Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ năm đạt 4,47 tỷ USD, tămg 46,65% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với mức tăng 16,97% của năm 2006. Trong 3 thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam năm 2007, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt mức tăng trưởng cao nhất. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ tăng từ 52,18% trong năm 2006 lên 57,39% trong năm 2007. Điều này khẳng định, thị trường Mỹ đóng vai trò rất to lớn đến sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may nước ta. EU là thị trường lớn thứ 2 đối với xuất khẩu hàng dệt may nước ta. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 19,74%, thấp hơn so với mức 37,46% của năm 2006 nên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang EU giảm từ 21,32% của năm 2006 xuống 19,14% trong năm 2007. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản tăng 12,14% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với mức 3,93% của năm 2006. Hiện tại, Nhật Bản là thị trường lớn thứ 3, chiếm 9,05% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta. Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi không phải là thị trường lớn đối với xuất khẩu hàng dệt may của nước ta trong năm 2007 nhưng có mức tăng trưởng kim ngạch rất cao, tăng lần lượt 563,8% và 294,27% so với năm 2006, cao hơn mức tăng trưởng 134,99% và 124,38% của năm 2006. Trong số những thị trường nhập khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam, Đài Loan là một trong số ít thị trường bị giảm kim ngạch trong 2 năm liên tiếp. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Đài Loan giảm 0,95% so với năm 2005. Năm 2007, mức giảm là 11,18%. 2. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu một số chủng loại Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu 2 chủng loại hàng dệt may chủ yếu của nước ta đều tăng so với năm 2006, nhất là mặt hàng áo thun. Ngoài các mặt hàng chính, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng váy, quần áo trẻ em, quần áo ngủ, găng tay, khăn, quần Jean, áo nỉ và bít tất có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với năm 2006. Bên cạnh đó, số lượng thị trường và doanh nghiệp xuất khẩu hầu hết các mặt hàng tăng mạnh so với năm 2006. Kim ngạch xuất khẩu một số chủng loại hàng dệt may của Việt Nam năm 2007 Chủng loại Năm 2006 (USD) So 06/05 (%) Tỷ trọng KN 2006 (%) Năm 2007 (USD) So 07/06 (%) Tỷ trọng 2007 (%) áo thun 945.476.760 24,55 16,21 1.535.519.704 62,41 19,74 Quần dài 1.063.976.168 27,10 18,24 1.351.295.436 27,00 17,37 áo Jacket 870.361.651 17,18 14,92 1.120.698.284 28,76 14,40 áo sơ mi 417.138.945 5,09 7,15 465.213.343 11,52 5,98 áo khoác 289.504.178 30,26 4,96 368.240.225 27,20 4,73 Quần Short 241.002.398 49,79 4,13 354.994.563 47,30 4,56 Váy 197.064.826 35,09 3,38 321.211.458 63,00 4,13 Vải 205.245.350 65,05 3,52 297.425.968 44,91 3,82 áo loại khác 338.862.772 80,44 5,81 294.460.298 -13,10 3,78 Q.áo trẻ em 131.835.535 19,89 2,26 259.926.533 97,16 3,34 Đồ lót 172.060.977 6,95 2,95 204.004.648 18,57 2,62 Quần áo Vest 111.458.210 22,68 1,91 124.735.786 11,91 1,60 Q.áo loại khác 75.515.637 -56,24 1,29 123.406.276 63,42 1,59 Q.thể thao 70.292.612 44,31 1,20 103.296.782 46,95 1,33 Hàng may mặc khác 4.808.610 -95,83 0,08 91.763.578 1808,32 1,18 áo Kimono 92.358.438 -1,33 1,58 91.522.212 -0,91 1,18 Màn 82.878.395 233,89 1,42 83.201.759 0,39 1,07 áo len 63.307.965 7,98 1,09 76.093.081 20,20 0,98 Q.áo ngủ 40.727.559 25,97 0,70 69.466.457 70,56 0,89 Găng tay 28.989.316 70,49 0,50 60.056.841 107,17 0,77 Khăn bông 71.241.576 47,78 1,22 59.350.831 -16,69 0,76 Q.áo BHLĐ 37.313.410 91,11 0,64 41.227.617 10,49 0,53 Q.áo bơi 31.095.432 0,19 0,53 41.213.208 32,54 0,53 Khăn 12.446.153 -56,85 0,21 33.801.999 171,59 0,43 Quần Jean 11.340.717 -16,23 0,19 31.250.621 175,56 0,40 áo Ghilê 28.833.288 70,52 0,49 30.345.147 5,24 0,39 áo nỉ 16.619.893 -68,29 0,28 26.242.358 57,90 0,34 Khăn lông 24.227.708 -3,61 0,42 24.111.642 -0,48 0,31 Bít tất 7.525.782 16,34 0,13 14.899.711 97,98 0,19 Q.áo y tế 13.426.165 0,17 PL may 6.921.749 17,27 0,12 10.341.383 49,40 0,13 Q.áo Jacket 12.540.725 -11,96 0,21 9.154.847 -27,00 0,12 áo gió 11.410.674 -9,70 0,20 7.293.227 -36,08 0,09 Caravat 7.369.658 -13,29 0,13 6.772.916 -8,10 0,09 Q.áo thun 5.110.638 -17,79 0,09 6.213.564 21,58 0,08 3. Số lượng và quy mô xuất khẩu của các doanh nghiệp Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta tăng mạnh nhờ số lượng cũng như quy mô xuất khẩu của các doanh nghiệp tăng mạnh. Theo số liệu thống kê, năm 2007, toàn ngành công nghiệp dệt may nước ta có 2.390 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, tăng 85 doanh nghiệp so với năm 2006. Phần lớn, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp tăng mạnh so với năm 2006. Năm 2007, số lượng các doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may xuất khẩu cao tăng mạnh so với năm 2006. Cụ thể: + Có 4 doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD, tăng 2 doanh nghiệp so với năm 2006. + 15 doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu từ trên 50 triệu USD đến dưới 100 triệu USD, tăng 4 doanh nghiệp so với năm 2006. + Có 174 doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu từ trên 10 triệu USD đến dưới 50 triệu USD, tăng 50 doanh nghiệp so với năm 2006. + Có 638 doanh nghiệp đạt kim ngạch từ trên 1 triệu USD đến dưới 10 triệu USD, tăng 47 doanh nghiệp so với năm 2006. Bên cạnh những nỗ lực để tăng kim ngạch xuất khẩu, năm 2007, các doanh nghiệp đã đẩy mạnh việc phát triển thương hiệu Trong năm 2007, các doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam đã cho ra mắt hàng loạt các thương hiệu mới. Điều này thể hiện sự linh hoạt và nhạy bén của các doanh nghiệp dệt may. Với năng lực sản xuất 15 triệu sản phẩm may mặc/năm, Công ty cổ phần Dệt may Thành Công đang kinh doanh với 4 thương hiệu là TCM, GenX, Nam&Man, Novetly và vừa bổ sung thêm vào bộ sưu tập này một thương hiệu thời trang mới dành cho trẻ em mang tên F.O.C (Fashion Of Children). Sự ra đời của thương hiệu F.O.C được DN kỳ vọng sẽ tạo ra một bước đột phá vào phân khúc thị trường vốn có sức tiêu thụ rất mạnh, nhưng lâu nay chưa có nhiều DN quan tâm. Là doanh nghiệp có ưu thế về lĩnh vực hàng dệt kim, Công ty đã và sẽ tiếp tục tập trung đầu tư cho những dòng sản phẩm sử dụng các loại nguyên liệu dệt kim, cotton, như quần áo trẻ em, đồ mặc ở nhà, hoặc đồ thể thao… Như vậy, ngoài GenX là dòng sản phẩm thể thao, Nam&Man chuyên dành cho phái mạnh…, dòng sản phẩm F.O.C sẽ được sản xuất hoàn toàn từ chất liệu cotton pha sợi spandex, giúp quần áo mềm mại và co giãn tốt, thích hợp cho trẻ nhỏ. Cùng với Thành Công, Tổng công ty May Việt Tiến, vốn đã thành công với các thương hiệu T-up, Vee Sendy…cũng đã giới thiệu đến người tiêu dùng hai thương hiệu mới là San Sciaro và Manhattan. Trong đó, San Sciaro là thương hiệu thời trang nam cao cấp mang phong cách Italy, còn Manhattan là thương hiệu thời trang cao cấp thuộc Tập đoàn Perry Ellis International và Perry Ellis International Europe của Mỹ. Đối tượng khách hàng mà hai dòng sản phẩm cao cấp này hướng tới chính là các doanh nhân, những người thành đạt, nhà quản lý… Bên cạnh Thành Công và Việt Tiến, Công ty TNHH Dệt may Thái Tuấn, dù đã tạo dựng được thương hiệu Thái Tuấn khá vững chắc trên thị trường từ nhiều năm nay, cũng đã quyết định phát triển thương hiệu theo từng đối tượng tiêu dùng riêng. Cụ thể, ở Thái Tuấn, Rosshi là thương hiệu của dòng sản phẩm may sẵn cao cấp dành riêng cho nữ giới; Lench là dòng sản phẩm vải áo dài nữ sinh cao cấp; Mennis là dòng sản phẩm may sẵn cao cấp dành cho nam sinh; còn Thatexco là dòng sản phẩm vải phi bóng dành cho nữ. Và giờ đây, Thái Tuấn lại cho ra đời thêm một thương hiệu mới: Happiness – dòng sản phẩm vải áo dài cưới với những hoa văn chuyên biệt. 4. Dệt may chú trọng thị trường nội địa Sức tiêu thụ hàng dệt may của thị trường nội địa Việt Nam khá lớn với hơn 84 triệu dân và khoảng 4 triệu khách du lịch mỗi năm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang phải cạnh tranh rất gay gắt với hàng hoá nhập khẩu. Để tăng sức cạnh tranh với các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia và bảo vệ thị phần hàng dệt may tại thị trường nội địa. Tập đoàn Dệt may Việt Nam đã đưa siêu thị Vinatex Mỹ Phước I tại Khu Công nghiệp Mỹ Phước I (Bình Dương) đi vào hoạt động. Đây là siêu thị thứ 45 thuộc hệ thống siêu thị Vinatex. Dự kiến đến năm 2010, Vinatex sẽ tiếp tục đầu tư và mở rộng mạng lưới VinatexMart tại hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước với 80 cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại. 5. Năm 2008,dự kiến kim ngạch 9,5 tỷ USD Với kết quả đã đạt được năm 2007, ngành Dệt May phấn đấu năm 2008 đạt chỉ tiêu xuất khẩu là 9,5 tỷ USD, vượt qua dầu thô (dự kiến đạt 9 tỷ USD). Như vậy, xuất khẩu hàng dệt may sẽ về đích trước gần 2 năm so với kế hoạch đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD vào năm 2010. Mục tiêu xuất khẩu hàng dệt may tới các thị trường chính trong năm 2008 là Mỹ đạt 5,3 – 5,5 tỷ USD, thị trường EU đạt 1,6 – 1,8 tỷ USD và thị trường Nhật đạt khoảng 800 triệu USD. Năm 2007, xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ diễn ra khá suôn sẻ. Tất cả 5 Cat hàng dệt may bị áp dụng cơ chế giám sát không có biểu hiện nào đáng lo ngại và phía Mỹ cũng tuyên bố chưa bán phá giá vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ vẫn tiếp tục duy trì cơ chế giám sát cho đến hết năm 2008. Trước tình hình này, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ cần hợp tác chặt chẽ với các nhà nhập khẩu lớn của Mỹ, thực hiện các đơn hàng có chất lượng và giá cao, tránh những đơn hàng đơn giản, giá trị thấp làm ảnh hưởng đến mức giá bình quân của cả nước, là cơ sở để phía Mỹ tự khởi kiện chống bán phá giá. Hơn nữa, bắt đầu từ 1/1/2008, Hiệp hội dệt may Việt Nam sẽ nhờ Hải quan thu phí trị giá 0,01% kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp đi Mỹ để lấy kinh phí thuê tư vấn chống lại các vụ kiện. Là thị trường lớn thứ hai sau Mỹ, EU luôn được coi là thị trường tiềm năng và truyền thống của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam. Trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU, hàng dệt may có kim ngạch đứng thứ hai sau giày dép. Số liệu thống kê cho thấy, nếu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU chỉ đạt 537,1 triệu USD, đến năm 2004 đã tăng lên mức 760 triệu USD, năm 2005 tiếp tục tăng lên mức 882,8 triệu USD, năm 2006 vượt qua ngưỡng 1 tỷ USD (đạt 1,245 tỷ USD), năm 2007 đạt 1,49 tỷ USD, tăng 19,74% so năm 2006, tăng 62,2% so năm 2005, gấp gần 3 lần so năm 2003. Theo các chuyên gia Vụ Xuất- nhập khẩu, đặc điểm của khu vực thị trường EU là nhiều thị trường “ngách” có mức sống và nhu cầu hàng dệt may rất đa dạng từ hàng có phẩm cấp thấp đến hàng có chất lượng cao phù hợp năng lực sản xuất nhiều thành phần của Việt Nam. Tuy nhiên, việc mất giá của đồng đôla Mỹ so với đồng euro là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu sang thị trường này. Năm 2008, EU cũng sẽ bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc và sẽ áp dụng một hệ thống giám sát “kiểm tra kép” để theo dõi việc cấp phép xuất khẩu hàng dệt may tại Trung Quốc và việc nhập khẩu mặt hàng này vào EU. So với trước đây, rõ ràng từ năm 2008 xuất khẩu của Trung Quốc sang EU sẽ thuận lợi hơn. Và như thế, các nước xuất khẩu hàng dệt may sẽ không dễ dàng nếu muốn tăng thị phần tại EU, bởi hàng dệt may của các nước trong đó có Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn với hàng dệt may Trung Quốc vốn có năng lực cạnh tranh cao do chủ động được nguyên phụ liệu và có khả năng đáp ứng nhiều loại phẩm cấp hàng hóa. Hiện nay Mỹ và EU đang có đề xuất trong khuôn khổ WTO dự thảo thỏa thuận quy định về nhãn mác đối với hàng dệt may, giày dép và hàng du lịch. Theo đó, hàng dệt may xuất khẩu cần phải có nhãn mác nêu rõ xuất xứ hàng hóa, thành phần vải và hướng dẫn sử dụng. Với đề xuất này, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần nghiên cứu kỹ và chuẩn bị cho việc nhận đơn hàng và lên kế hoạch sản xuất của mình cho phù hợp. Ngoài 2 thị trường lớn trên, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may cần đẩy mạnh xuất khẩu tới Nhật Bản, Mêhicô, Đài Loan…Đặc biệt, doanh nghiệp cần chú trọng mở rộng tới các thị trường nhỏ nhưng có tốc độ tăng trưởng kim ngạch rất cao trong 2 năm 2006 và năm 2007 như Arập Xê út, Singapo, Ucraina, Campuchia, Brazil, Thái Lan, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ… Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tới một số thị trường Thị trường Năm 2006 (USD) So 06/05 (%) Tỷ trọng KN năm 2006 Năm 2007 (USD) So 07/06 (%) Tỷ trọng KN năm 2007 Mỹ 3.044.578.648 16,97 52,18 4.464.846.921 46.65 57,39 EU 1.243.802.232 37,46 21,32 1.489.358.989 19.74 19,14 Nhật Bản 627.631.744 3,93 10,76 703.846.323 12.14 9,05 Đài Loan 181.411.982 -0,95 3,11 161.137.224 -11.18 2,07 Canada 97.304.524 20,23 1,67 135.495.465 39.25 1,74 Hàn Quốc 82.900.300 67,55 1,42 84.962.558 2.49 1,09 Nga 62.438.296 30,33 1,07 79.040.130 26.59 1,02 Mêhicô 0,00 54.531.325 0,70 Trung Quốc 29.695.879 265,92 0,51 43.109.281 45.17 0,55 Thổ Nhĩ Kỳ 5.696.843 134,99 0,10 37.815.679 563.80 0,49 Hồng Kông 31.144.900 148,75 0,53 36.627.356 17.60 0,47 UAE 27.406.316 351,44 0,47 28.543.848 4.15 0,37 Campuchia 18.516.032 5,640 0,32 28.541.830 54.15 0,37 Malaysia 33.684.586 37,78 0,58 25.333.409 -24.79 0,33 Singapore 19.108.360 285,40 0,33 24.152.919 26.40 0,31 Inđônêxia 17.417.452 1.036 0,30 24.802.963 42.40 0,32 ả Rập Xê út 18.142.725 166,95 0,31 27.197.926 49.91 0,35 Ôxtrâylia 23.677.017 -4,54 0,41 24.169.316 2.08 0,31 Ukraina 12.232.452 284,32 0,21 21.430.912 75.20 0,28 Thái Lan 10.711.086 367,75 0,18 16.413.745 53.24 0,21 Nam Phi 3.372.915 124,38 0,06 13.298.430 294.27 0,17 Thụy Sỹ 10.826.785 31,97 0,19 11.345.936 4.80 0,15 Philipine 6.361.150 373,29 0,11 11.204.768 76.14 0,14 II. Dệt may Việt Nam: khó khăn Dệt may Việt Nam đã vượt qua dầu khí, trở thành ngành dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu (XK) với tốc độ tăng trưởng 30%/năm. Tuy nhiên do phần lớn là gia công, phải phụ thuộc đến 70% – 80% vào nguồn nguyên phụ liệu (NPL) nhập khẩu nên giá trị XK vẫn rất thấp. Trong khi đó, mục tiêu mà ngành dệt may Việt Nam đưa ra là đến năm 2010 phải chủ động 50% nguồn nguyên liệu để “tăng chất” XK, đang có nguy cơ không thành hiện thực. 1. Sản lượng cao nhưng chất lượng thấp Theo số liệu từ Bộ Công thương, kim ngạch XK dệt may của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2007 đạt 5,8 tỷ USD, nhưng riêng chi phí để nhập khẩu vải sợi và phụ kiện dệt may đã chiếm đến 4,9 tỷ USD. Trong khi tốc độ và giá trị tăng trưởng của ngành dệt may phụ thuộc rất nhiều vào sản xuất FOB (mua NPL, bán thành phẩm) và khả năng chủ động nguồn NPL thì tỷ lệ sản xuất hàng FOB ở Việt Nam đến nay chỉ chiếm khoảng 20% – 25%. Nếu hiểu đúng nghĩa của sản xuất FOB thì các doanh nghiệp (DN) Việt Nam cũng mới dừng lại ở dạng sản xuất FOB “cấp 2” (một hình thức gia công thông qua hợp đồng trung gian). Do không đủ năng lực để tự thiết kế mẫu, chủ động lựa chọn NPL, tự chào bán sản phẩm, nên các DN Việt Nam phải nhận sản xuất lại hàng theo chỉ định của nhà sản xuất FOB “cấp 1”. Trên thực tế, các DN sản xuất FOB của Việt Nam tự mua NPL, nhưng phải mua theo mẫu của FOB “cấp 1” đưa ra (với đơn hàng FOB này DN được hưởng thêm 5% – 10% trên giá trị NPL). Trong khi đó, theo tổng giám đốc một DN dệt may lớn tại TPHCM, ở thời điểm này, khi Trung Quốc đã chào hàng cho thị trường năm 2009 – 2010 thông qua những catalogue về mẫu mã, chất liệu vải may, xu hướng thời trang, thì các DN Việt Nam đang phải tìm mua lại các tài liệu này để… nghiên cứu thị trường! Còn theo tìm hiểu của phóng viên, trong các quốc gia cạnh tranh với Việt Nam trong XK dệt may đã đặt ra những tham vọng rất lớn (đến năm 2010, Trung Quốc đặt mục tiêu tăng trưởng XK lên 50%, Ấn Độ là 25 tỷ USD, Bangladesh là 18 tỷ USD – tăng gấp đôi so với hiện nay) thì Việt Nam chỉ dám đưa ra chỉ tiêu khiêm tốn là đến năm 2010 kim ngạch XK vào khoảng 10 – 12 tỷ USD. 2.Chủ động nguồn nguyên liệu : nguy cơ vỡ kế hoạch Trước tình hình trên, để chủ động nguồn NPL, thời gian qua, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cùng nhiều DN dệt may trong nước đã liên doanh hợp tác với nhiều tập đoàn nước ngoài để đầu tư các dự án sản xuất NPL dệt may, hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa NPL lên 50% vào năm 2010. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong khi số dự án đầu tư vào ngành dệt may hiện nay chỉ “đếm trên đầu ngón tay” thì tốc độ triển khai các dự án cũng rất chậm, thậm chí không ít dự án vẫn còn trên giấy. Tại KCN dệt may Phố Nối B (Hưng Yên), tính đến nay Vinatex mới đưa vào hoạt động 3 nhà máy sản xuất chỉ khâu, dệt kim và nhuộm. Công ty liên doanh Phong Phú – ITG (Mỹ) dù đã đầu tư xây dựng khu liên hợp dệt nhuộm tại KCN Hòa Khánh (Đà Nẵng) với tổng vốn đầu tư trên 80 triệu USD để sản xuất các loại vải cotton cao cấp xuất khẩu, nhưng đến năm 2008 mới có thể hoạt động. Ở phía Nam, cụm nhà máy do Công ty cổ phần Việt Tiến Đông Á liên kết với Tập đoàn Tung Shing (Hồng Công) xây dựng tại huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai cũng mới hoàn thành giai đoạn 1 (sản xuất lắp ráp thiết bị, linh kiện may công nghiệp). Dự kiến đến năm 2009 – 2010, liên doanh này mới tiếp tục xây dựng nhà máy sản xuất chỉ khâu (sản lượng 10 triệu cuộn chỉ/năm và nhà máy wash công nghiệp có công suất 10 triệu sản phẩm/năm) để cung cấp cho các DN trong nước… Đối với các dự án xây dựng trung tâm giao dịch NPL dệt may, đến nay vẫn chưa có trung tâm nào hoàn thành theo kế hoạch. Trong khi các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam đã có nhiều cơ sở vững chắc cho bước nhảy vọt trong XK dệt may, thì xem ra, Việt Nam chỉ có thể nỗ lực để nâng tỷ lệ “gia công giá cao” chứ chưa thể thực hiện được việc chủ động nguồn NPL theo mục tiêu đã định. Điều đó cũng có nghĩa, việc nâng chất XK của ngành dệt may Việt Nam còn lâu mới trở thành hiện thực. 3. Thua thiệt vì lo cạnh tranh nhau Dệt may đã vươn lên thành mặt hàng xuất khẩu (XK) số 1 của Việt Nam trong năm 2007.Nhưng giá trị mang lại vẫn còn thấp. Ngoài nguyên nhân là các DN đều phải chi phí quá lớn cho việc nhập khẩu nguyên phụ liệu, thì một yếu tố quan trọng dẫn đến thực tế trên là sự thiếu “đoàn kết” giữa các doanh nghiệp (DN) trong nước.Việt Nam đã lọt vào top 10/156 nước xuất khẩu hàng dệt may của thế giới. Tăng trưởng XK hàng dệt may Việt Nam năm sau cao hơn năm trước. Sự phát triển trong XK hàng dệt may là điều đáng mừng, tuy nhiên, hàng gia công vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn trong XK hiện nay; hàng FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm) vẫn còn thấp, chỉ chiếm khoảng 25%-30% lượng hàng xuất khẩu. Các DN Việt Nam đang nỗ lực nâng cao năng lực sản xuất để gia tăng tỷ lệ sản xuất FOB. Nhưng việc cạnh tranh lẫn nhau giữa các DN trong nước, đã tạo điều kiện cho các nhà nhập khẩu ép giá, thậm chí chuyển từ đơn hàng sản xuất FOB trước đây sang gia công. Theo tính toán của các DN, lợi nhuận của đơn hàng sản xuất FOB gấp 3 lần so với gia công, vì lợi nhuận từ việc làm hàng gia công rất thấp. Thực tế này đang xảy ra với các DN dệt may tại TPHCM. Một nhà nhập khẩu Pháp chuyên đặt hàng sản xuất FOB trước đây đã chuyển sang đặt hàng theo hình thức gia công. Điều này đang đi ngược lại mong muốn của doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Một DN nhận gia công cho nhà nhập khẩu này cho biết, hiện nay mỗi DN tự đưa ra một mức giá riêng, nên nhà nhập khẩu “chảnh”, ép giá, sẵn sàng chuyển đơn hàng sang công ty khác nếu DN không chịu mức giá thỏa thuận. Vì sự sống còn của DN và để có việc làm cho công nhân, DN đành phải chấp nhận gia công với cái giá không mong muốn. Nhà nhập khẩu đã nắm được điểm yếu này và cũng biết rõ là đang có nhiều DN xếp hàng để nhận làm với giá thấp hơn. Đó là nỗi bức xúc rất lớn, nhưng tự một vài DN không thể làm thay đổi được điều này. Thực tế đó cho thấy, rõ ràng, các DN trong nước đang tự giết nhau, nhận phần thiệt về mình, còn cái lợi thì để cho nhà nhập khẩu hưởng.Điều này cũng đang làm ảnh hưởng đến việc XK hàng dệt may vào thị trường Mỹ, khi Bộ Thương mại Mỹ đưa ra cơ chế giám sát chống phá giá đối với hàng dệt may Việt Nam. Bộ Công thương và Hiệp hội Dệt may đã kêu gọi các DN trong nước không ký những đơn hàng giá thấp, đừng vì cái lợi trước mắt mà làm ảnh hưởng đến hình ảnh chung của Việt Nam. 4. Những thách thức khác Một hạn chế khác không kém phần quan trọng, đó là thị trường lao động của ngành dệt may hiện chưa ổn định, phần nhiều là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, chưa có đội ngũ thiết kế chuyên nghiệp tạo ra các mẫu mã phong phú phù hợp với thị hiếu. Thực tế cho thấy phần lớn doanh nghiệp Nhà nước trong ngành dệt may sau khi cổ phần hoá đã tăng trưởng đáng kể với cơ chế quản trị mới. Tuy nhiên, đến cuối 2008 chế độ này sẽ bị bãi bỏ và ngành dệt may Việt Nam sẽ lại đứng trước những thử thách mới : còn một bộ phận doanh nghiệp vẫn lúng túng, chưa xác định được mặt hàng và thị phần cốt lõi phù hợp với điều kiện của mình”… Song song đó, năng suất lao động của nhiều doanh nghiệp vẫn còn thấp hơn 30% – 50% so với mức bình quân của doanh nghiệp các nước trong khu vực, 90% số doanh nghiệp trong ngành dệt may vẫn còn xa lạ với ba chữ ERP (hệ thống quản lý tích hợp nguồn lực)… Ngoài ra trong năm 2008, ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với 4 lực cản lớn. Đó là: sự tăng trưởng lớn của 4 “đại gia”: Trung Quốc, Bangladesh, Campuchia và Ấn Độ; nguy cơ tiềm ẩn từ thị trường Hoa Kỳ, do lần đánh giá thứ 2 (vào tháng 3-2008) sẽ khó khăn hơn rất nhiều, bởi trong 6 tháng cuối năm 2007, tốc độ tăng xuất khẩu vào Hoa Kỳ đã lên tới 40%; vấn đề đình công và thiếu công nhân ngành dệt may đang ngày một trầm trọng; cần phải giải quyết vấn đề tiền lương ngành dệt may cho tương xứng với những ngành khác. CHƯƠNG IIIGIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM I. Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp. Hàng dệt may Việt Nam hiện đang phải đối đầu với những nước có khả năng cạnh tranh cao, có nhiều thuận lợi và kinh nghiệm hoạt động trong cơ chế thị trường về các mặt như: vật tư, thiết bị, quản lý, tài chính, tiếp thị, nghiên cứu và phát triển. Sản phẩm của các nước rất đa dạng, có thể thoả mãn các nhu cầu từ cấp thấp đến cấp cao của người tiêu dùng.Vì vậy để nâng cao sức cạnh tranh của dệt may Việt Nam,các doanh nghiệp trong ngành cần thực hiện những giải pháp đồng bộ manh tính chiến lược sau : Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư hoàn chỉnh vào các cụm Công nghiệp Dệt may theo hướng tập trung vào lĩnh vực dệt – nhuộm, đầu tư hoàn tất khâu vải và phụ liệu để đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho may xuất khẩu nhằm tiến tới tăng tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm may mặc xuất khẩu từ 30% lên 60%, giảm dần tỷ lệ hàng gia công; Bên cạnh đó, đầu tư mở rộng sản xuất tại các địa phương có tiềm năng, có nguồn nhân lực dồi dào; phối hợp liên doanh – liên kết và giúp đỡ các địa phương phát triển ngành dệt may và cùng thực hiện các đơn hàng lớn; hỗ trợ các doanh nghiệp may địa phương đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường có tiềm năng khác. Để nâng cao khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp cần tập trung vào thực hiện đề án Thời trang hóa sản xuất và kinh doanh ngành Dệt may Việt Nam cùng với việc đẩy mạnh xây dựng thương hiệu sản phẩm trong nước và khu vực. Vào thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp dệt may không nên quá tập trung vào một thị trường mà cần chuyển hướng sang các thị trường còn nhiều tiềm năng như Trung Cận Đông, châu Phi, châu Úc… Các doanh nghiệp cần đầu tư cơ sở sản xuất kỹ thuật, tận dụng lợi thế sân nhà, củng cố và mở rộng mạng lưới phân phối để giữ vững thị trường nội địa, đồng thời đẩy mạnh việc liên doanh, liên kết với các đối tác để đầu tư mạnh hơn vào việc sản xuất vải, phụ liệu ngay ở trong nước… Thực hiện chuyên môn hoá các sản phẩm và xác định quy mô sản xuất của các doanh nghiệp lớn theo mô hình “công ty mẹ, công ty con” đủ mạnh về tài chính, công nghệ, khả năng điều hành nhằm đảm bảo đạt tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời chú trọng khuyến khích phát triển sản xuất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, tập trung nghiên cứu phát triển sản phẩm mới theo hướng đa dạng hoá (sản phẩm phổ biến với nhiều màu sắc, hoa văn kiểu cách, chủng loại vật liệu thích hợp), thực hiện cơ chế linh hoạt trong sản xuất nhằm thích nghi với sự thay đổi và biến động của thị trường như: thay đổi mẫu mã, sản xuất đơn hàng nhỏ, ứng dụng công nghệ mới và cải tiến kỹ thuật,… để tăng năng suất lao động và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Các doanh nghiệp Dệt may cần coi trọng việc đào tạo nguồn nhân lực công nghệ, tiếp thị và quản trị doanh nghiệp chuyên ngành dệt may, đồng thời có chính sách để thu hút thêm nguồn nhân lực giỏi…Cần hạn chế xuất khẩu đối với các đơn hàng đẳng cấp thấp có giá trị quá thấp, chuyển sang sản xuất sản phẩm có chất lượng cao và thương hiệu có đẳng cấp cao. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần tìm hiểu luật chống bán phá giá của đối tác để kiện toàn hệ thống sổ sách, rõ ràng, minh bạch về xuất xứ hàng hóa, chi phí và giá thành sản phẩm xuất khẩu. Để tăng tính cạnh tranh, các doanh nghiệp dệt may cần cố gắng giảm giá thành sản phẩm thông qua các biện pháp nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cố định trong quản lý, giảm tiêu hao năng lượng điện trong sản xuất (ở Việt Nam thường cao hơn 2,4 đến 3,6 lần so với các nước trong khu vực), chia sẻ giữa các doanh nghiệp chi phí tiếp thị, chi phí thông tin thị trường. Triệt để thực hiện chủ trương tiết kiệm 10% chi phí của các doanh nghiệp, coi đó như là cơ sở để tăng khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam so với hàng dệt may Trung Quốc. Chỉ có làm như vậy, các doanh nghiệp dệt may mới tạo được giá cả sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường và được nhiều người tiêu dùng chấp nhận. Tổ chức tốt các hoạt động thông tin về thị trường, về đầu tư, về sản xuất, về nhập khẩu của ngành dệt may trên các website và các bản tin hàng tháng. Thành lập các trung tâm giao dịch tư vấn hỗ trợ dịch vụ, trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu, trung tâm thương mại, nhằm giới thiệu sản phẩm, trực tiếp với người tiêu dùng và qua đó tìm các biện pháp để thâm nhập thị trường. Tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại để xây dựng hình ảnh ngành dệt may Việt Nam theo phương châm “chất lượng, nhãn hiệu, uy tín dịch vụ, trách nhiệm xã hội” thông qua việc: Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001, ISO 14000, SA 8000; Tham gia các cuộc triển lãm hội chợ quốc tế; Xác định cấp tiêu chuẩn sản phẩm trên cơ sở tiêu chuẩn của các thị trường chính. Qua đó, xác định cơ cấu mặt hàng và định hướng cho các doanh nghiệp. Thành lập Trung tâm đào tạo chuyên ngành dệt may nhằm đào tạo các chuyên viên cao cấp về: Thiết kế thời trang, cán bộ mặt hàng, tiếp thị hàng hoá, tổ trưởng – chuyền trưởng, quản lý chất lượng, quản lý kho hàng, quản lý xuất nhập khẩu. Tiếp tục phát triển mạng lưới tiêu thụ để chiếm lĩnh thị trường nội địa, Tổng công ty dệt may (VINATEX) có thể là đầu mối tập hợp các doanh nghiệp dệt may trong cả nước để hình thành hệ thống cửa hàng – siêu thị kinh doanh hàng thời trang dệt may, trước hết mở tại các thành phố lớn để trong một vài năm tới hệ thống cửa hàng siêu thị này sẽ có mặt hầu hết tại các tỉnh thành, thành phố lớn trong cả nước. Nâng cao vai trò và tăng cường hơn nữa chức năng hoạt động của Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS) trong việc tổ chức thông tin kịp thời tình hình thị trường cho doanh nghiệp, tổ chức các hoạt động xây dựng hình ảnh tốt đẹp về ngành dệt may Việt Nam tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm, xúc tiến xây dựng một số thương hiệu nổi tiếng mang tính quốc gia tại các thị trường xuất khẩu, tổ chức các hoạt động xâm nhập mạng lưới bán lẻ tại thị trường nước ngoài, đề xuất các chế độ, cơ chế, chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong ngành.Nghiên cứu và thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp thông lệ quốc tế để bảo vệ các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước. Có những giải pháp chiến lược tổng thể giúp doanh nghiệp chống lại những vụ kiện bán phá giá phi lý II. Định hướng phát triển của chính phủ đối với dệt may Hiểu được tầm quan trọng của nghành dệt may trong việc phát triển kinh tế đất nước, Chính phủ đã xây dựng và phê duyệt Chiến lược phát triển nghành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2021, định hướng đến năm 2021 nhằm phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới. 1. Quan điểm phát triển 1.1 Phát triển ngành Dệt May theo hướng chuyên môn hoá, hiện đại hóa, nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng sản phẩm. Tạo điều kiện cho ngành Dệt May Việt Nam tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững và hiệu quả. Khắc phục những điểm yếu của ngành dệt may là thương hiệu của các doanh nghiệp còn yếu, mẫu mã thời trang chưa được quan tâm, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, cung cấp nguyên phụ liệu vừa thiếu vừa không kịp thời. 1.2. Lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành, mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời phát triển tối đa thị 1.3. Phát triển ngành Dệt May phải gắn với bảo vệ môi trường và xu thế dịch chuyển lao động nông nghiệp nông thôn. Di chuyển các trường nội địa. Tập trung phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm trong ngành.cơ sở gây ô nhiễm môi trường vào các Khu, Cụm Công nghiệp tập trung để tạo điều kiện xử lý môi trường. Chuyển các doanh nghiệp Dệt May sử dụng nhiều lao động về các vùng nông thôn, đồng thời phát triển thị trường thời trang Dệt May Việt Nam tại các đô thị và thành phố lớn. 1.4. Đa dạng hóa sở hữu và loại hình doanh nghiệp trong ngành Dệt May, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư phát triển Dệt May Việt Nam. Trong đó chú trọng kêu gọi những nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào những lĩnh vực mà các nhà đầu tư trong nước còn yếu và thiếu kinh nghiệm. 1.5. Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cho sự phát triển bền vững của ngành Dệt May Việt Nam; Trong đó, chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề nhằm tạo ra đội ngũ doanh nhân giỏi, cán bộ, công nhân lành nghề, chuyên sâu. 2. Định hướng phát triển 2.1. Sản phẩm a) Tập trung phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội thị trường. Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc. Chú trọng công tác thiết kế thời trang, tạo ra các sản phẩm dệt may có đặc tính khác biệt cao, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm cho các doanh nghiệp. Đẩy nhanh việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu hội nhập trong ngành Dệt May. Tăng nhanh sản lượng các sản phẩm dệt may, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. b) Kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư sản xuất xơ sợi tổng hợp, nguyên phụ liệu, phụ tùng thay thế và các sản phẩm hỗ trợ để cung cấp cho các doanh nghiệp trong ngành. c) Xây dựng Chương trình sản xuất vải phục vụ xuất khẩu. Tập đoàn Dệt May Việt Nam giữ vai trò nòng cốt thực hiện Chương trình này. d) Xây dựng Chương trình phát triển cây bông, trong đó chú trọng xây dựng các vùng trồng bông có tưới nhằm tăng năng suất và chất lượng bông xơ của Việt Nam để cung cấp cho ngành dệt. 2.2 Đầu tư và phát triển sản xuất a) Đối với các doanh nghiệp may: Từng bước đi dời các cơ sở sản xuất về các địa phương có nguồn lao động nông nghiệp và thuận lợi giao thông. Xây dựng các trung tâm thời trang, các đơn vị nghiên cứu thiết kế mẫu, các Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu và thương mại tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn. b) Đối với các doanh nghiệp sợi, dệt, nhuộm và hoàn tất vải: Xây dựng các Khu, Cụm Công nghiệp chuyên ngành dệt may có cơ sở hạ tầng đủ điều kiện cung cấp điện, nước, xử lý nước thải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường theo quy định của Nhà nước. Thực hiện di dời và xây dựng mới các cơ sở dệt nhuộm tại các Khu, Cụm Công nghiệp tập trung để có điều kiện xử lý nước thải và giải quyết tốt việc ô nhiễm môi trường. c) Xây dựng các vùng chuyên canh bông có tưới tại các địa bàn có đủ điều kiện về đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu nhằm nâng cao sản lượng, năng suất và chất lượng bông xơ. 2.3 Bảo vệ môi trường a) Xây dựng Báo cáo đánh giá tác động môi trường phù hợp với Chiến lược phát triển ngành Dệt May và các quy định pháp luật về môi trường. b) Tập trung xử lý triệt để các cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Triển khai xây dựng các Khu, Cụm Công nghiệp Dệt May có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tiêu chuẩn môi trường để di dời các cơ sở dệt may có nguy cơ gây ô nhiễm vào khu công nghiệp. c) Triển khai Chương trình sản xuất sạch hơn trong ngành Dệt may, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn quản lý môi trường theo ISO 14000, tạo môi trường lao động tốt cho người lao động theo tiêu chuẩn SA 8000. d) Xây dựng và thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ trong ngành Dệt May theo hướng thân thiện với môi trường. e) Tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học công nghệ về môi trường. g) Đáp ứng các yêu cầu về môi trường và rào cản kỹ thuật để hội nhập kinh tế quốc tế. 3. Các giải pháp thực hiện chiến lược 3.1 Giải pháp về đầu tư a) Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển ngành dệt may để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. b) Xây dựng các dự án đầu tư trong lĩnh vực dệt, nhuộm, sản xuất nguyên liệu bông xơ và sợi nhân tạo, sản xuất nguyên phụ liệu, để kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Trong đó ưu tiên các dự án sản xuất vải dệt thoi phục vụ cho sản xuất hàng may mặc xuất khẩu. c) Xây dựng các khu công nghiệp chuyên ngành Dệt May có đủ điều kiện hạ tầng cung cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, đảm bảo các yêu cầu về môi trường và lao động có khả năng đào tạo. d) Phối hợp với các địa phương đầu tư phát triển cây bông, trong đó chú trọng xây dựng vùng bông có tưới, từng bước đáp ứng nhu cầu bông cho ngành dệt, sợi. 3.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực Triển khai Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt May Việt Nam theo các nội dung sau: a) Mở các lớp đào tạo cán bộ quản lý kinh tế – kỹ thuật, cán bộ pháp chế, cán bộ bán hàng chuyên ngành Dệt May, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề của các dự án dệt, nhuộm trọng điểm. b) Mở các khoá đào tạo về thiết kế và phân tích vải, kỹ năng quản lý sản xuất, kỹ năng bán hàng (gồm các kỹ năng thiết kế, làm mẫu, bán hàng, kiến thức về tiêu chuẩn nguyên liệu, sản phẩm tiêu chuẩn môi trường và lao động). c) Liên kết với các tổ chức quốc tế để cử cán bộ, học sinh tham gia các khoá đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ pháp chế, cán bộ kỹ thuật, cán bộ bán hàng, đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề cao tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài. d) Kết hợp việc đào tạo dài hạn với đào tạo ngắn hạn, kết hợp giữa đào tạo chính quy với đào tạo tại chỗ, kết hợp giữa đào tạo trong nước với việc cử cán bộ ra nước ngoài để đào tạo. e) Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt May, xây dựng Trường Đại học Dệt May và Thời trang để tạo cơ sở vất chất cho việc triển khai các lớp đào tạo. g) Duy trì thường xuyên các lớp đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp, công nhân thông qua hệ thống các trường chuyên nghiệp của ngành dệt may nhằm cung cấp đủ nguồn nhân lực cho ngành. Hiệp hội Dệt May Việt Nam và Tập đoàn Dệt May Việt Nam là đầu mối để phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước triển khai Chương trình đạo tạo nguồn nhân lực cho ngành. 3.3 Giải pháp về khoa học công nghệ a) Tổ chức lại các Viện nghiên cứu chuyên ngành dệt may theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm. – Nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ, khả năng thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện nghiên cứu. – Hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong ngành đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu triển khai các tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam. b) Nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới để tạo ra các sản phẩm dệt có tính năng khác biệt, triển khai các chương trình sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, áp dụng các phần mềm trong thiết kế, quản lý sản xuất và chất lượng sản phẩm Dệt May. c) Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm dệt may phù hợp và hài hoà với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thông lệ quốc tế. Hỗ trợ nâng cấp các trung tâm giám định, kiểm tra chất lượng sản phẩm Dệt May, hỗ trợ cho các doanh nghiệp Dệt May trong quản lý chất lượng và khắc phục các rào cản kỹ thuật. d) Xây dựng phòng thí nghiệm sinh thái Dệt May và Trung tâm phát triển các mặt hàng vải trong giai đoạn 2008-2010. e) Xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành Dệt May, nâng cao chất lượng của trang thông tin điện tử. g) Nghiên cứu xây dựng các chính sách khuyến khích thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành Dệt May. 3.4 Giải pháp thị trường a) Tập trung mọi khả năng và cơ hội đàm phán mở rộng thị trường Dệt May trên thị trường quốc tế. b) Cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu theo hướng thực hiện cơ chế một dấu, một cửa, đơn giản hoá các thủ tục. c) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại. d) Tăng cường công tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế. Chuẩn bị kỹ việc chống các rào cản kỹ thuật mới của các nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu. e) Tổ chức mạng lưới bán lẻ trong nước, đổi mới phương thức tiếp thị xuất khẩu, đồng thời quan tâm đến việc xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm, xây dựng hình ảnh của ngành Dệt May Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế. g) Bố trí đủ cán bộ pháp chế cho các doanh nghiệp trong ngành để tham gia soạn thảo, đàm phán và giải quyết các tranh chấp hợp đồng, nhất là hợp đồng thương mại quốc tế. 3.5 Giải pháp về cung ứng nguyên phụ liệu a) Xây dựng các Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp trong ngành. b) Xây dựng các doanh nghiệp kinh doanh nguyên phụ liệu tập trung nhằm đáp ứng được nhu cầu nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp với chất lượng cao và giá nhập khẩu hợp lý. 3.6 Giải pháp về tài chính a) Vốn cho đầu tư phát triển Để giải quyết vốn cho đầu tư phát triển, ngành Dệt May Việt Nam huy động vốn từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước thông qua các hình thức hợp tác kinh doanh, công ty liên doanh, công ty liên kết, cổ phần hoá các doanh nghiệp, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Khuyến khích các doanh nghiệp huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán (phát hành trái phiếu, cổ phiếu, trái phiếu quốc tế), vay thương mại với điều kiện có hoặc không có sự bảo lãnh của Chính phủ. b) Vốn cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và xử tý môi trường Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Viện nghiên cứu, các Trường đào tạo trong ngành Dệt May Việt Nam để tăng cường cơ sở vật chất và thực hiện các hoạt động nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt May theo nguyên tắc phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Nhà nước cho doanh nghiệp Dệt May được vay vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA và vốn của quỹ môi trường để thực hiện các dự án xử lý môi trường. KẾT LUẬN Nghành dệt may Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò của mình kinh tế quốc dân.Giờ đây không ai có thể phụ nhận được vai trò của nghành dệt may,mà nhất là trong thời buổi kinh tế hội nhập hiện nay thì nghành dệt may càng trở lên cần thiết nhằm khai thác và huy động mọi tiềm năng của đất nước. Tuy có nhiều thuận lợi, song các doanh nghiệp dệt may cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình phát triển và hội nhập do còn nhiều hạn chế trong khả năng cạnh tranh tại những thị trường mới. Nhưng đây là một nghành có vai trò quyết định không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may nước ta không chỉ là nhiệm vụ sống còn của bản thân các doanh nghiệp mà còn là mục tiêu của đất nước trong quá trình phát triển nền kinh tế. Vì thế, trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam với năng lực cạnh tranh còn ở trình độ thấp cần nỗ lực hơn nữa để khonog bị thụt lùi lại đằng sau so với các doanh nghiệp dệt may khác trên thế giới. Đồng thời, Nhà nước với vai trò điều hành nền kinh tế cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể phát huy được hết uu thế của mình,nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên trường quốc tế. Hy vọng bằng chính sự nỗ lực của mình ,cùng với sự nỗ lực của Nhà nước, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của mình không chỉ trên trường nội địa mà cả trên thị trường quốc tế. Có như thế, nghành dệt may mới ngày càng trở thành một nghành mũi nhọn trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Do hạn chế về thời gian và năng lực nên bài viết này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý, nhận xét và chỉ bảo của thầy cô. Cuối cùng em xin trân thành cảm ơn thầy Cấn Anh Tuấn đã hướng dẫn em hoàn thành đề án này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Thực Trạng Hút Thuốc Lá Và Việc Thực Hiện Chính Sách Phòng Chống Tác Hại Thuốc Lá Trên Địa Bàn Thành Phố Đà Nẵng
  • Thành Phố Hà Nội Đề 6 Giải Pháp Phòng Chống Tác Hại Của Thuốc Lá
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên Ở Chi Bộ Trường Thcs Tân Khánh
  • Thực Trạng Và Các Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo.
  • Chính Sách Xóa Đói, Giảm Nghèo
  • Giải Pháp Quản Lý Nhân Sự Ngành Dệt May

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Trị Nguồn Nhân Lực Tại Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Hà Nội Cpm
  • Cách Tự Viết Chương Trình Tổng Hợp, Thống Kê Bằng Vba Trên Excel
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp An Ninh Phương Nam
  • Tuyển Kỹ Sư Bán Hàng Cấp Cao Tại Công Ty Tnhh Giải Pháp Atz, Việc Làm
  • Công Ty Tnhh Dịch Vụ Giải Pháp Atz
  • Trong cuộc hội thảo gần đây nhất về: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”. Các chuyên gia khẳng định rằng: Muốn phát triển và gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành dệt may cần có chiến lược xây dựng và quản lý nguồn nhân sự chất lượng cao một cách hiệu quả.

    Đặc điểm của ngành dệt may

    Dệt may là ngành nhằm đáp ứng sự thỏa mãn, gắn liền với nhu cầu của con người. Do đó, sản phẩm của ngành này thường rất đa dạng, có như vậy mới có thể phục vụ tốt nhất mọi nhu cầu của các tầng lớp xã hội. Đây cũng là ngành cần rất nhiều nhân lực ở nhiều bộ phận với nhiều trình độ khác nhau.

    Môi trường làm việc của ngành dệt may phải tiếp xúc với nhiều người, với nhiều phương tiện máy móc và vật liệu, chất liệu khác nhau. Nên đòi hỏi người người lao động cần có khả năng thích nghi, cũng như tinh thần hợp tác, làm việc nhóm. Bên cạnh đó, dệt may còn là ngành không chỉ chú trọng đến chất lượng mà còn chú trọng về sản lượng sản xuất. Vậy nên, áp lực công việc của ngành này sẽ khá nặng, do đó đòi hỏi người lao động cần có sức khỏe tốt, tinh thần làm việc cao và khả năng chịu áp lực tốt.

    Tính đặc thù của ngành dệt may

    Trong tất cả các ngành sản xuất, có thể nói dệt may là một ngành khó quản lý nhất do một số đặc thù trong quy trình thực hiện. Một số đặc thù của ngành hàng này như việc bóc tách định mức vô cùng khó khăn. Mỗi sản phẩm của ngành dệt may sẽ có rất nhiều chi tiết cũng như công đoạn khác nhau, vì vậy nhiều doanh nghiệp ngay từ đầu đã gặp khó khăn trong vấn đề quản lý định mức.

    Bên cạnh đó, do đặc thù ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp đảm nhận từ khâu sản xuất đến khâu phân phối, thì việc tính toán giá thành sản phẩm có ảnh hưởng rất nhiều đến doanh thu của công ty, doanh nghiệp. Chưa hết, còn rất nhiều những quy trình sau đó mà nếu doanh nghiệp không có một phương pháp quản lý hiệu quả, thì rất dễ gặp phải những khó khăn trong quá trình sản xuất.

    Đặc điểm khách hàng của sản phẩm dệt may rất phong phú, đa dạng và yêu cầu ngày càng cao trên nhiều khía cạnh như: mẫu mã, màu sắc, chất liệu, giá cả, tính thời vụ… Tuy nhiên, đặc thù đại đa số đơn vị dệt may hiện nay lại là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên nguồn lực và mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực marketing và nghiên cứu thị trường còn nhiều hạn chế.

    Xu thế trong ngành dệt may

    Những năm trở lại đây, ngành dệt may đã góp phần đáng kể trong việc phát triển kinh tế và xã hội tại Việt Nam. Theo định hướng phát triển ngành dệt may do Bộ Thương Mại và Công Nghiệp đã đề ra, đến năm 2021 ngành công nghiệp dệt may sẽ trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, định hướng xuất khẩu và có thể đáp ứng nhu cầu cao của người tiêu dùng. Từ đó, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động và thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư từ nước ngoài.

    Bên cạnh đó, sự chuyển hoá xanh trong lĩnh vực dệt may với sự tham gia của hàng trăm thương hiệu may mặc trên thế giới đã đặt ngành dệt may Việt Nam trước những thách thức mới. Để có thể giữ được đà tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng được yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ, nguyên liệu sản xuất phải là nội địa, mà còn phải chứng minh được trách nhiệm xã hội của mình với sức khoẻ của cộng đồng.

    Một trong những khó khăn trong việc quản lý nhân sự ngành dệt may hiện nay, chính là việc thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao. Lực lượng lao động trong ngành dệt may hiện nay vào khoảng 2,5 triệu người, trong đó có 80% là nữ. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp dệt may luôn phải đối mặt với thực trạng là sự dịch chuyển nhân sự, khó tuyển được nguồn nhân lực chất lượng cao.

    Đồng thời, để có được nguồn nhân lực ổn định và có tay nghề, doanh nghiệp hoạt động ở quy mô nào cũng cần phải đầu tư bài bản, đảm bảo công việc ổn định, thu nhập tương đối tốt và luôn phải đào tạo, nâng cao trình độ và tay nghề cho đội ngũ cán bộ công nhân viên.

    Dù có vị thế là ngành công nghiệp trọng điểm, nhưng với đặc trưng của ngành dệt may, người quản lý thường gặp nhiều khó khăn như: không quản lý được số lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ nhân viên, không kiểm soát được tác phong làm việc, không thể đánh giá được hiệu quả làm việc của từng nhóm, phân xưởng hay từng nhân viên…

    Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, để có thể duy trì sự phát triển cũng như tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Thì ngành dệt may Việt Nam, cần áp dụng các giải pháp quản lý nhân sự tối ưu để có được nguồn nhân lực chất lượng, phát triển doanh nghiệp vững bền.

    Để quản lý nhân sự ngành dệt may hiệu quả, Công ty giải pháp Tinh Hoa bằng kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực xin chia sẻ đến quý công ty, doanh nghiệp một số giải pháp quản lý nhân sự trong thời đại kỷ nguyên số hiện nay.

    Giải pháp quản lý nhân sự ngành dệt may đầu tiên phải kể đến là máy chấm công. Máy chấm công được biết đến là một thiết bị dùng để ghi nhận thời gian ra vào của các nhân viên trong một công ty, doanh nghiệp.

    Máy hoạt động với mục đích giúp cho người quản lý biết được ý thức làm việc của mỗi nhân viên là như thế nào. Đồng thời, máy chấm công còn hỗ trợ tính lương cho nhân viên mà không tốn nhiều thời gian hay công sức. Doanh nghiệp ngành dệt may lắp đặt máy chấm công sẽ giúp quản lý thời gian làm việc, giảm thiểu khối lượng công việc ghi chép giấy tờ như trước đây một cách hiệu quả. Ngoài ra, máy chấm công còn có thể kiểm soát việc ra vào của từng nhân viên cụ thể.

    Hiện có 4 loại máy chấm công được sử dụng phổ biến:

    • Máy chấm công vân tay: Là loại máy sử dụng các dấu hiệu riêng trên vân tay để nhận dạng từng nhân viên. Các nhân viên được đăng ký mẫu vân tay từ trước, các mẫu vân tay này sẽ được máy lưu trữ và quản lý.
    • Máy chấm công thẻ từ: Là máy chấm công sử dụng thẻ cảm ứng không tiếp xúc proximity, hoặc thẻ mafire để chấm công. Mỗi chiếc thẻ từ sẽ được nhà sản xuất mã hóa một dãy số (thường là dãy 16bit), thẻ từ này sẽ được nhân viên nhân sự đăng ký lên máy cho từng nhân viên để họ có thể chấm công.
    • Máy chấm công nhận diện khuôn mặt: Là loại máy sử dụng các thuật toán nhận dạng khuôn mặt để xác định danh tính nhân viên đang chấm công.
    • Máy chấm công vein tay: Là loại máy dùng công nghệ nhận dạng vein (mạch máu trên ngón tay) kết hợp với chức năng vân tay đem lại sự tiện lợi khi chấm công và nhận dạng.

    Nếu đem so sánh máy chấm công với hình thức chấm công bằng tay truyền thống, bạn sẽ nhận ra được giá trị và lợi ích tuyệt vời mà thiết bị công nghệ tiên tiến này mang lại. Đây được đánh giá là một giải pháp quản lý nhân sự ngành dệt may lý tưởng, mà các doanh nghiệp hiện nay cần quan tâm và chú trọng.

    Đồng bộ nhiều máy chấm công (DASS)

    Các doanh nghiệp ngành dệt may phần lớn là sản xuất theo hình thức gia công, nên để mở rộng sản xuất bắt buộc đơn vị phải đầu tư xây dựng nhiều phân xưởng. Các phân xưởng có thể nằm ở nhiều khu vực và địa điểm khác nhau.

    Tuy nhiên, nếu quy định mỗi nhân viên chỉ được chấm công tại một khu vực nhất định, thì sẽ gây nên tình trạng: tốn nhiều thời gian đăng kí và upload dữ liệu nhân viên lên các máy chấm công, không thể upload từng nhân viên mà phải upload toàn bộ nhân viên lên máy. Điều này, khiến cho bộ nhớ máy chấm công bị đầy, vì dữ liệu nhân viên cũ vẫn chưa được xoá đi.

    Với việc ứng dụng giải pháp đồng bộ nhiều máy chấm công (Dass), doanh nghiệp ngành dệt may có thể tiết kiệm nhiều thời gian cho bộ phận nhân sự. Bộ phận quản lý, chỉ cần quản lý nhân viên theo phòng ban, mà không cần phải lo việc upload dữ liệu lên máy chấm công. Đặc biệt, dữ liệu nhân viên cũ sẽ được xóa hoàn toàn khỏi máy chấm công, từ đó giúp máy chạy nhanh hơn, mượt hơn.

    Kiểm soát ra vào cổng

    Một giải pháp quản lý nhân sự cho ngành dệt may hiệu quả được đề xuất nữa, chính là hệ thống kiểm soát ra vào cổng Access Control. Với khả năng có thể kiểm soát đơn lẻ hoặc kết hợp, Access Control sẽ giúp cho việc quản lý ra vào của các doanh nghiệp dệt may được bảo mật an ninh, chặt chẽ. Đồng thời, giúp cho người quản lý có thể giám sát kiểm soát nguồn nhân lực một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

    Ngoài tính năng chính này, hệ thống kiểm soát ra vào cổng Access Control còn được kết hợp với phần mềm chấm công tạo lên một giải pháp chấm công, tính lương, phân ca và kiểm soát cửa phân quyền ra vào,… cho từng đối tượng một cách chính xác. Việc này giúp cho các doanh nghiệp dệt may có thể thúc đẩy nhanh chóng quá trình tự động hóa, tạo môi trường làm việc năng động chuyên nghiệp, giảm bớt chi phí cho việc quản lý nhân sự.

    Quản lý suất ăn công nghiệp

    Doanh nghiệp dệt may dù có quy mô nhỏ, thì số lượng công nhân viên ít nhất cũng đạt từ 200 – 300 người. Vậy nên, khi cung cấp suất ăn công nghiệp, doanh nghiệp dệt may sẽ tốn nhiều thời gian cho việc báo cơm và thống kê số suất ăn. Đồng thời, phải chịu chi phí hao hụt do phải trả tiền cho số lượng suất ăn nhiều hơn số nhân viên ăn thực tế. Đặc biệt, là vấn đề cung cấp cấp số lượng phần ăn của đơn vị cung cấp không được chính xác,…

    Trước thực trạng này, việc ứng dụng giải pháp quản lý suất ăn công nghiệp ICMS là điều cần thiết, để đảm bảo chi phí. Theo đó, phần mềm sẽ cho phép tích hợp với hệ thống chấm công để tính suất ăn và lập kế hoạch thực phẩm theo ca, ngày làm việc của toàn doanh nghiệp.

    Ứng dụng giải pháp quản lý suất ăn công nghiệp ICMS, doanh nghiệp ngành dệt may sẽ nhận được những lợi ích như:

    • Có thể chuẩn bị tốt hơn số lượng phần ăn, đặc biệt khi công ty cho phép nhân viên lựa chọn nhiều món khác nhau và khi số lượng người đăng ký làm việc thay đổi theo ca.
    • Giúp nhà bếp kiểm soát tốt hơn số người lấy thức ăn: ai được lấy loại phần ăn nào, lấy bao nhiêu … Phần mềm sẽ lưu trữ thông tin đăng ký ăn và hiển thị khi nhân viên quét thẻ hoặc vân tay. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được các chi phí phải trả, do việc người lạ từ bên ngoài vào ăn.
    • Ngăn chặn việc một nhân viên có thể lấy nhiều phần ăn. Quản lý tốt hơn việc phát phần ăn khi doanh nghiệp có các phần ăn đặc biệt cho những người làm ca đặc biệt hoặc vị trí đặc biệt.
    • Tổng kết nhanh chóng số lần ăn ở mỗi bộ phận, mỗi ca làm việc, mỗi người, giúp cho bộ phận kế toán làm việc hiệu quả và chuẩn xác hơn.

    Nhiều doanh nghiệp thường xem nhẹ việc quản lý suất ăn, vì nghĩ rằng phần hao hụt sẽ không đáng bao nhiêu. Nhưng với số lượng công nhân viên đạt mức hàng trăm, hàng nghìn,.. thì con số này quả thật là khổng lồ. Vậy nên, việc áp dụng giải pháp quản lý suất ăn công nghiệp ICMS chưa bao giờ là điều lãng phí, đối với các doanh nghiệp ngành dệt may.

    Phần mềm quản lý nhân sự HRpro7

    Việc triển khai phần mềm quản lý nhân sự HRpro7, hiện được nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Theo đó, dù doanh nghiệp của bạn đang ở quy mô nào cũng đều có thể áp dụng phù hợp và hiệu quả.

    Phần mềm quản lý nhân sự với khả năng mở rộng và dễ dàng tích hợp với các ứng dụng kinh doanh khác, sẽ giúp cho doanh nghiệp ngành dệt may giảm chi phí triển khai và bảo trì một cách hiệu quả.

    Hấp dẫn hơn, khi việc triển khai và áp dụng phần mềm quản lý nhân sự HRpro7 trong doanh nghiệp là điều cần thiết, để đảm bảo tính nhất quán trong quy trình quản lý và giúp bộ phận nhân sự giảm tải nhiều công việc mang tính chất lặp đi lặp lại nhàm chán. Ngoài ra, phần mềm cũng giúp giảm chi phí giấy lưu trữ thông tin lớn, và quá trình truy xuất thông tin cũng được diễn ra với tốc độ nhanh chóng hơn.

    Sở dĩ, phần mềm nhân sự HRpro7 được giới thiệu như một tham khảo tốt, là bởi phần mềm không tập trung phô diễn các tính năng mà hệ thống sẵn có. HRpro7 luôn quan tâm đến những khó khăn và nhu cầu thực sự của doanh nghiệp. Dựa vào đó, doanh nghiệp có thể tự điều chỉnh cho đơn vị mình một hệ thống phần mềm nhân sự chuyên biệt, nhưng phù hợp và luôn phát huy được hiệu quả một cách tốt nhất.

    Phần mềm đánh giá KPI

    Phần lớn các doanh nghiệp dệt may hiện nay đều gặp khó khăn trong việc đánh giá nhân viên. Cụ thể là:

    • Giải pháp tổ chức đánh giá chưa được hiệu quả, còn quá sơ sài.
    • Kết quả đánh giá chưa có tích hợp với phần mềm lương.
    • Các tiêu chí đánh giá chưa thực sự đa dạng, và thay đổi tùy theo đối tượng.
    • Việc đánh giá chưa có kế hoạch thời gian cụ thể là theo quý, tháng, tuần, hay là hàng ngày.

    Tuy nhiên, nếu am hiểu công nghệ mới và áp dụng giải pháp đánh giá nhân sự Smartboss KPI. Doanh nghiệp dệt may có thể thiết lập, quản lý, đo lường, đánh giá kết quả của từng nhân viên, bộ phận và cả công ty,… bằng KPI. Qua đó, xác định nhân viên có thành tích tốt và trả lương hiệu quả theo kết quả công việc được giao.

    Như vậy, với việc ứng dụng phần mềm đánh giá nhân viên Smartboss KPI, doanh nghiệp có thể tiết kiệm thời gian tổ chức đánh giá nhân sự và làm báo cáo tổng kết. Bên cạnh đó, việc đánh giá cũng có thể diễn ra dễ dàng trên web/ mobile. Đặc biệt là có thể kiểm soát tốt chất lượng công việc mà ban lãnh đạo đã giao cho từng phân xưởng dệt may cụ thể.

    Nếu bạn muốn nhân viên của mình phải “tâm phục khẩu phục” trong việc quản lý và chi trả lương thưởng. Thì còn chần chừ gì mà không ứng dụng ngay và luôn phần mềm đánh giá nhân viên mang tên Smartboss KPI này!

    Theo thống kê mới nhất, Công ty giải pháp Tinh Hoa đã cung cấp các giải pháp quản lý nhân sự ngành dệt may hiệu quả cho một số đơn vị như: Công ty TNHH TM Việt Vương, Công ty CP ATEX 28, FURUKAWA… Hiện tại, các công ty, doanh nghiệp này đều phát triển khá tốt và từng bước khẳng định vị thế của mình trên thị trường.

    Đăng ký sử dụng miễn phí

    Sau khi đăng ký, hệ thống sẽ gửi hướng dẫn đăng nhập đến email bạn đăng ký, vui lòng kiểm tra hộp thư hoặc spam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Quản Lý Nhân Sự Từ Xa Cho Nhà Lãnh Đạo
  • Quản Lý Nhân Sự Các Công Trình Xây Dựng
  • Quản Lý Nhân Sự Ngành Sản Xuất Giày
  • Giải Pháp Quản Lý Nhân Sự Hiệu Quả
  • Hoàn Thiện Các Giải Pháp Quản Trị Nguồn Nhân Lực Của Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Tài Năng Tại Hà Nội
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50