Khái Niệm, Nội Dung, Vai Trò Chức Năng Lãnh Đạo

--- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Lãnh Đạo
  • Vai Trò Lãnh Đạo Trong Quản Trị Học
  • Về Hệ Thống Tổ Chức Bộ Máy Của Đảng Trong Thực Hiện Chức Năng Lãnh Đạo Đối Với Hệ Thống Chính Trị
  • Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đảng Bộ, Chi Bộ Cơ Sở Cơ Quan
  • Vai Trò Của Lãnh Đạo
  • 1.1 Khái niệm lãnh đạo

    Có nhiều quan niệm khác nhau về lãnh đạo.

    Theo James Gibson: lãnh đạo là một phần công việc của quản lý nhưng không phải toàn bộ công việc quản lý. Lãnh đạo là năng lực thuyết phục người khác hăng hái phấn đấu cho những mục tiêu đã xác định.

    George Tery: Lãnh đạo là hoạt động gây ảnh hưởng đến con người để họ phấn đấu tự nguyện cho các mục tiêu của tổ chức.

    1. Tannenbaum, R. Weschler và F. Massarik: Lãnh đạo là ảnh hưởng liên nhân cách được thực hiện trong tình huống và được định hướng thông qua quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích chung hoặc những mục đích chuyên biệt.
    2. Koontz và các tác giả: Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ cố gắng một cách tự giác và hăng hái thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.
    3. Hersey và Ken Blanc Hard: Lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục đích trong tình huống nhất định.

    Có nhiều quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý. Nhưng có thể khái quát thành hai khuynh hướng điển hình:

    Một là: Lãnh đạo và quản lý là đồng nhất với nhau.

    Hai là: Lãnh đạo và quản lý là hoàn toàn khác biệt.

    Thực chất, lãnh đạo và quản lý vừa có sự đồng nhất, vừa có sự khác biệt. Để thấy được lãnh đạo và quản lý vừa có sự đồng nhất, vừa có sự khác biệt, cần phải căn cứ vào các phương diện sau:

    Thứ nhất, xét về chủ thể hoạt động.

    Sự đồng nhất giữa lãnh đạo và quản lý là ở chỗ một nhà lãnh đạo cũng có thể được gọi là một nhà quản lý, và ngược lại, một nhà quản lý có thể được coi là một nhà lãnh đạo.

    Sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý được biểu hiện: chỉ những nhà quản lý cấp cao mới là những nhà lãnh đạo đúng nghĩa; còn các nhà quản lý cấp trung và cấp thấp thường không được gọi là nhà lãnh đạo.

    Thứ hai, xét về phương diện mục tiêu (Nội dung) hoạt động.

    Sự đồng nhất giữa lãnh đạo và quản lý đó là các hoạt động này dù được thực thi theo cách nào thì cũng nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức.

    Sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý thuộc về tính chất của mục tiêu mà chúng hướng tới. Mục tiêu của lãnh đạo mang tính định hướng, chiến lược, định tính; Mục tiêu của quản lý mang tính chất cụ thể, chiến thuật, định lượng.

    Thứ ba, về phương thức hoạt động.

    Sự đồng nhất giữa lãnh đạo và quản lý: hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý đều phải được thực hiện trên cơ sở khoa học và nghệ thuật để phối hợp các nguồn lực nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất.

    Sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý thể hiện ở chỗ: hoạt động lãnh đạo là hoạt động nhằm hướng dẫn, động viên, khích lệ nhân viên và duy trì kỷ luật, kỷ cương của họ, do vậy, yếu tố nghệ thuật phải được đặt lên hàng đầu và cùng với nó là phải sử dụng yếu tố khoa học; hoạt động quản lý là hoạt động nhằm duy trì kỷ luật, kỷ cương và động viên, khích lệ nhân viên, do vậy, yếu tố khoa học được đặt lên trước và cùng với nó là yếu tố nghệ thuật

    Từ những quan niệm về lãnh đạo và về mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý, xuất phát từ thực tiễn lãnh đạo và quản lý, có thể đưa ra một định nghĩa về lãnh đạo (theo nghĩa rộng) như sau:

    là tác động bằng nghệ thuật và khoa học để gây ảnh hưởng tích cực tới con người để phát huy và phối hợp tiềm năng và năng lực của họ nhằm hướng tới hoàn thành mục tiêu của tổ chức. 1.2 Khái niệm chức năng lãnh đạo

    Với tư cách là một chức năng của quy trình quản lý, chức năng lãnh đạo (lãnh đạo theo nghĩa hẹp) được định nghĩa như sau:

    là tác động bằng nghệ thuật và khoa học để duy trì kỷ luật, kỉ cương của tổ chức và hướng dẫn, thuyết phục, khích lệ nhân viên nhằm phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họ hướng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức. * Đặc trưng của chức năng lãnh đạo

    Chức năng lãnh đạo có các đặc trưng sau:

    – Là một chức năng của quy trình quản lý gắn với chủ thể quản lý

    – Chức năng lãnh đạo có 2 phương diện cơ bản: Duy trì kỉ cương, kỉ luật và động viên, khích lệ nhân viên

    – Vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật vì thế đòi hỏi chủ thể quản lý phải vận dụng các tri thức của nhiều khoa học.

    * Vai trò của chức năng lãnh đạo

    Việc xác định mục tiêu, phương án đúng đắn có thể mang lại hiệu quả cho hoạt động quản lý khi nó được phân công, phân nhiệm, giao quyền và thiết kế bộ máy phù hợp. Tuy nhiên, khi nhà quản lý đã bố trí, sắp xếp đúng người đúng việc là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Vấn đề quan trọng đối với hiệu quả quản lý là làm thế nào để duy trì kỉ luật, kỉ cươngphát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của nhân viên. Đó thực chất là chức năng lãnh đạo (mà nhiều người là chức năng điều khiển, phối hợp của nhà quản lý).

    Chức năng lãnh đạo có những vai trò cơ bản sau:

    – Duy trì kỷ luật, kỷ cương nhằm ổn định tổ chức

    – Hướng dẫn, thuyết phục, khích lệ nhân viên để phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của nhân viên nhằm phát triển tổ chức

    – Phối hợp các cố gắng riêng lẻ thành cố gắng chung

    – Xây dựng văn hoá tổ chức

    2. Nội dung và phương thức của chức năng lãnh đạo

    2.1 Nội dung của chức năng lãnh đạo

      Tác động quyền lực trong việc duy trì kỉ luật, kỉ cương đối với nhân viên

    Việc thực thi kỉ luật, kỉ cương là một nhân tố không thể thiếu để nhằm duy trì sự ổn định của tổ chức. Để thực hiện công việc này nhà quản lý phải sử dụng các công cụ:

    + Pháp luật

    + Chính sách

    + Nội quy, quy chế.v.v.

    Việc thực thi pháp luật, chính sách, nội quy, quy chế đòi hỏi chủ thể quản lý phải tiến hành thường xuyên, nghiêm túc và theo quy trình khoa học.

      Hướng dẫn, thuyết phục và khích lệ nhân viên

    Để khơi dậy động cơ thúc đẩy của nhân viên, phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họ thì người quản phải thực hiện:

    – Hướng dẫn nhân viên trong việc nhận thức sứ mệnh của tổ chức, quyền lợi và nghĩa vụ của họ, nhận thức về yêu cầu của công việc mà họ phải đảm nhận

    – Cung cấp những điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện quyết định quản lý

    – Xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách phù hợp: bố trí, sắp xếp, sử dụng; đánh giá; đào tạo và phát triển nhân lực; tiền lương, tiền công, tiền thưởng, phúc lợi tập thể.v.v.

    – Xây dựng và thực thi văn hoá tổ chức

    2.2 Phương thức thực hiện chức năng lãnh đạo

    Để thực hiện có hiệu quả những nội dung của chức năng lãnh đạo, nhà quản lý phải thực thi:

    – Các nguyên tắc quản lý

    – Các phương pháp quản lý

    – Lựa chọn một mô hình thức và phong cách quản lý phù hợp

    Trong phạm vi cho phép, để làm rõ phương thức thực hiện chức năng lãnh đạo của nhà quản lý, phần này chỉ tập trung giới thiệu các mô thức và phong cách quản lý điển hình đã được khái quát từ thực tiễn để từ đó giúp các nhà quản lý khi thực hiện chức năng lãnh đạo của mình có sự lựa chọn hiệu qủa.

    * 4 mô thức quản lý của R. Likert:

    1. Quản lý quyết đoán – áp chế
    2. Quản lý quyết đoán – nhân từ
    3. Quản lý tham vấn
    4. Quản lý tham gia theo nhóm

    * 5 mô thức quản lý của Jane Mouton và R. Blake:

    1. Phong cách “quản lý suy giảm” (1.1)
    2. Phong cách “quản lý đồng đội” (9.9)
    3. Phong cách “quản lý theo kiểu câu lạc bộ ngoài trời” (1.9)
    4. Phong cách “các nhà quản lý chuyên quyền theo công việc” (9.1)
    5. Phong cách “quản lý chuyên quyền rộng lượng” (5.5)
    1. Xây dựng quyết định rồi công bố cho cấp dưới
    2. Tuyên truyền quyết định với cấp dưới
    3. Báo cáo quyết định cho cấp dưới và khuyến khích họ nêu ý kiến
    4. Dự thảo quyết định và cấp dưới đưa ra ý kiến sửa đổi
    5. Nêu vấn đề, nghe ý kiến cấp dưới sau đó ra quyết định
    6. Nêu yêu cầu và cho cấp dưới quyền ra quyết định
    7. Uỷ quyền cho cấp dưới ra quyết định trong phạm vi vấn đề nhất định.

    Gắn các hành vi ra quyết định với các phong cách lãnh đạo từ độc đoán đến dân chủ

    Tuy nhiên, sở dĩ có nhiều loại mô thức và phong cách quản lý như vậy là do người ta căn cứ vào những tiêu chí khác nhau mà những tiêu chí đó chưa phải là biểu hiện của bản chất của quản lý. Thực chất, nếu căn cứ vào quan hệ quyền lực và cách thức sử dụng quyền lực, có thể phân chia phong cách quản lý thành ba loại điển hình:

    – Phong cách quản lý chuyên quyền

    – Phong cách quản lý dân chủ

    – Phong cách quản lý “tự do”

    Từ ba phong cách này có thể phái sinh những phong cách khác. Các nhà quản lý căn cứ vào điều kiện khách quan cũng như những nhân tố chủ quan để lựa chọn phong cách quản lý cho phù hợp.

    3. Những yêu cầu nhằm nâng cao hiệu quả của chức năng lãnh đạo

    3.1 Những yêu cầu để có nội dung tác động hiệu quả tới nhân viên

    – Những nội quy, quy chế của tổ chức phải phù hợp với pháp luật của nhà nước và điều kiện của đơn vị.

    – Việc xây dựng và thực thi nó phải đảm bảo tính dân chủ: Nó là sản phẩm của trí tuệ tập thể chứ không phải là sự áp đặt ý muốn chủ quan của chủ thể quản lý.

    – Để động viên khích lệ nhân viên, nhiệt tình phát huy tối đa tiềm năng và năng lực của họ nhà quản lý phải nhận thức được các lý thuyết về động cơ thúc đẩy và vận dụng sáng tạo vào điều kiện của tổ chức.

    3.2 Những yêu cầu để có phương thức tác động hiệu quả

    – Chủ thể quản lý phải có năng lực, phẩm chất nhất định

    – Chủ thể quản lý phải biết vận dụng linh hoạt và sáng tạo hệ thống phương pháp quản lý.

    – Chủ thể quản lý phải lựa chọn phong cách quản lý phù hợp

    – Chủ thể quản lý phải tạo lập và hoàn thiện nghệ thuật quản lý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ông Phạm Nhật Vượng, Câu Chuyện Tạo Dựng Và Dẫn Dắt Thị Trường
  • Những “bóng Hồng” Quyền Lực Dưới Quyền Tỷ Phú Phạm Nhật Vượng
  • Đình Chỉ Công Tác 5 Cán Bộ Quản Lý Thị Trường Vòi Tiền
  • Hà Nội Niêm Phong Một Quầy Thuốc Vì ‘chặt Chém’ Giá Khẩu Trang
  • Phân Biệt Phương Pháp Lãnh Đạo Theo Tình Huống Và Phương Pháp Lãnh Đạo Theo Chức Năng
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Chức Năng Tổ Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Hành Vi Tổ Chức (Organizational Behavior) Là Gì? Sự Cần Thiết Và Vai Trò Của Hành Vi Tổ Chức
  • Hành Vi Tổ Chức Là Gì?
  • Vị Trí, Chức Năng Của Đoàn Tncs Hồ Chí Minh
  • Tổ Chức Du Lịch Thế Giới
  • Chuyên Gia Tổ Chức Du Lịch Thế Giới Làm Việc Tại Tỉnh Ta
  • Tổ chức được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Khoa học quản lý nghiên cứu tổ chức với tư cách là hệ thống con người – xã hội với những quá trình, hiện tượng và hoạt động của con người. Để có một quan niệm khoa học về tổ chức cần phải nhận thức nó ở hai góc độ: 1.Tổ chức với tính cách là một thực thể; 2. Tổ chức với tính cách là một hoạt động.

    * Tổ chức với tư cách là một thực thể

    Khi được hiểu như một thực thể hay như một đơn vị xã hội thì còn có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức.

    Theo cách hiểu thông thường nhất: Tổ chức là một đơn vị xã hội bao gồm những thành viên cùng gia nhập vào đơn vị xã hội đó để hoàn thành mục tiêu chung và mục tiêu cá nhân.

    Các nhà xã hội học cho rằng: tổ chức là một cấu trúc xã hội đặc biệt của nhóm thứ cấp (primay group), được tạo nên bởi những hành động mang tính khuôn mẫu của các thành viên và các nhóm tồn tại trong nó nhằm đạt những mục tiêu nhất định.

    Một số lớn các nhà tư tưởng về tổ chức coi tổ chức như là một tập hợp các mối quan hệ của con người trong mọi hoạt động của nhóm.

    Theo C.I Barnard, tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức nhằm hoàn thành mục tiêu chung.

    Hay nói một cách đơn giản, tổ chức là sự liên kết của nhiều người theo một cách thức nhất định và có cùng mục đích chung.

    * Tổ chức với tư cách là một hoạt động (hay là chức năng tổ chức)

    Chức năng tổ chức là một trong những chức năng quan trọng của quy trình quản lý. Mục đích của chức năng tổ chức là nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời số lượng và chất lượng nhân lực, phối hợp các nỗ lực thông qua việc thiết kế một cơ cấu tổ chức hợp lý và các mối quan hệ quyền lực. Nội dung cơ bản của chức năng tổ chức là thiết kế bộ máy, phân công công việc và giao quyền.

    Chức năng tổ chức hướng đến việc phân chia những nhiệm vụ chung thành những công việc cụ thể cho từng bộ phận với những quyền hạn tương ứng. Với những hàm nghĩa này, chúng ta có thể hiểu chức năng tổ chức là sự phân chia các nhiệm vụ thành những công việc, trao quyền hạn, xác định những nguyên tắc thích hợp cho các bộ phận và quyết định quy mô thích hợp cho từng bộ phận.

    Với ý nghĩa như trên, chúng ta hiểu tổ chức là quy trình thiết kế bộ máy, sắp xếp, bố trí, sử dụng và phát triển các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chung.

    Từ định nghĩa này, có thể thấy những hoạt động cơ bản của chức năng tổ chức bao gồm:

    – Xác định những nhiệm vụ thực hiện để đạt đựơc mục tiêu chung

    – Nhóm gộp các hoạt động này thành những bộ phận

    – Phân công người phụ trách các bộ phận và công việc của từng bộ phận đó

    – Giao phó quyền hạn tương ứng để thực hiện nhiệm vụ

    – Xác lập cơ chế cho sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận, và trong việc phối hợp quyền hạn và thông tin, theo cả chiều ngang và chiều dọc của cơ cấu tổ chức (thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức).

    Như vậy, bản chất của chức năng tổ chức là thực hiện sự phân công lao động hợp lý (cả lao động quản lý và lao động cụ thể) để phát huy cao nhất khả năng của nguồn nhân lực nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu chung. Vì thế, tổ chức là một công việc chuyên môn vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.

    2. Vai trò của chức năng tổ chức

    Nếu như tầm quan trọng của công tác lập kế hoạch được thể hiện ở việc xác định mục tiêu và phương án hành động thì chức năng tổ chức thể hiện tầm quan trọng của nó ở việc biến những mục tiêu thành hiện thực. Sẽ không sai khi nói rằng chức năng tổ chức là nhân tố quyết định sự thành bại của mọi tổ chức. Tất cả các quyết định quản lý, kế hoạch, hoạt động lãnh đạo và kiểm tra sẽ không trở thành hiện thực nếu không biết tổ chức thực hiện một cách khoa học. Vai trò của chức năng tổ chức thể hiện ra ở những phương diện cơ bản sau:

    Thực hiện tốt chức năng tổ chức trong việc xây dựng bộ máy sẽ đảm bảo được nề nếp, nhịp nhàng trong phối hợp giữa các bộ phận, đảm bảo tính kỷ luật và phát huy được sở trường của mỗi cá nhân và mỗi bộ phận trong tổ chức. Ngược lại, khi bộ máy tổ chức không được thiết kế phù hợp có thể làm cho các hoạt động của tổ chức kém hiệu quả và gặp nhiều khó khăn.

    Đồng thời, trong việc phân công công việc, nếu bố trí, sắp xếp sai nhân lực sẽ lãng phí nguồn lực của tổ chức (nhân lực, vật lực, tài lực.v.v), đánh mất cơ hội, làm cho tổ chức bị suy yếu.

    – Xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý cùng với cơ chế vận hành, phối hợp giữa các bộ phận. Từ đó, có thể nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm tối đa sự lãng phí trong việc vận hành hoạt động của bộ máy tổ chức.

    – Nhằm phát huy cao nhất các tiềm năng và khả năng của từng thành viên

    Việc phân công chính xác con người và công việc sẽ phát huy được cao nhất tiềm năng của mỗi người.

    – Phối hợp các sức mạnh riêng lẻ thành một hợp lực

    Tổ chức tạo ra sự thống nhất, sự hợp tác (bộ phận, cá nhân với nhau, giữa các nguồn lực, các mục tiêu) tạo nên tính trội của hệ thống. Nhờ có công tác tổ chức mà các hoạt động của các bộ phận khác nhau không bị chồng chéo lên nhau, và xác định được mối liên hệ và kết hợp giữa các bộ phận đó trong quá trình thực hiện mục tiêu.

    Thông qua chức năng tổ chức, chủ thể quản lý sẽ liên kết hoạt động của các cá nhân, bộ phận và các hoạt động thành một thể thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức hiệu quả hơn.

    – Đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý.

    Thông qua quá trình phân công công việc và xác định mối quan hệ trong công việc giữa các bộ phận (Cơ chế) sẽ làm cho hiệu lực của các quyết định quản lý được nâng cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lại Bàn Về Vai Trò Của Nhà Nước
  • Kế Toán Tổng Hợp Thực Hành: Các Ví Dụ Về Kế Toán Sản Xuất Tính Giá Thành Trong Các Loại Hình Doanh Nghiệp (Phần 2)
  • Các Kiểu Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp:
  • Bảo Vệ Dân Phố, Dân Phòng Sẽ Có Tên Gọi Mới
  • Chi Bộ Tổ Dân Phố Số 6 Phường Việt Hưng Làm Tốt Công Tác Xây Dựng Đảng, Hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ Năm 2022
  • Khái Niệm, Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Lương

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tiền Lương, Tiền Công Là Gì, Chức Năng Của Tiền Lương
  • Đừng Triệt Tiêu Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư
  • Luật Sư Là Gì? Những Điều Cần Biết Trong Nghề Luật Sư
  • Môi Trường Có Những Chức Năng Cơ Bản Nào?
  • Nâng Cao Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Hội Môi Trường Gtvt Vn
  • Lao động là một hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm biến đổi tác động một cách tự nhiên thành những vật phẩm đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của con người. Trong mọi chế độ xã hội, việc sáng tạo ra của cải vật chất đều gắn liền với lao động. Do vậy lao động là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất trong quá trình sản xuất. Sản xuất dù dưới hình thức nào thì người lao động, tư liệu sản xuất và đối tượng lao động đều là những nhân tố không thể thiếu để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất xã hội nói chung và quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng thì một vấn đề thiết yếu là phải tái sản xuất sức lao động. Vì vậy khi họ tham gia lao động sản xuất ở các doanh nghiệp thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải trả thù lao cho họ. Trong nền kinh tế thị trường thì việc trả thù lao cho người lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị và được gọi là tiền lương.

    Như vậy tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, theo khối lượng công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiẹp.

    Về bản chất tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động. Mặt khác tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần làm việc hăng hái của người lao động, kính thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ. Nói cách khác tiền lương là một nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động.

    Tiền lương là một phạm trù kinh tế, nó gắn liền với lao động và nền sản xuất hàng hoá. Trong điều kiệ còn tồn tại nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ thu tiền lương còn là một yếu tố của chi phí sản xuất kinh doanh.

    Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp thường sử dụng tiền lương làm đòn bẩy để khuyế khích tinh thần tích cực lao động là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động. Vì vậy tiền lương có các chức năng sau:

    Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vât chất, sức lao động cũng cần phải được tái tạo. Trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau việc tái sản xuất sức lao động có sự khác nhau. Sự khác nhau này thể hiện bởi quan hệ sản xuất thống trị. Song nhìn chung quá trình tái sản xuất sức lao động diễn ra trong lịch sử thể hiện rõ sự tiến bộ của xã hội. Sự tiến bộ này gắn liền với sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của những thành tựu khoa học – kỹ thuật mà nhân loại sáng tạo ra. Chính nó đã làm cho sức lao động được tái sản xuất ngày càng tăng cả về số lượng và cả về chất lượng.

    Quá trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bởi việc trả công cho người lao động thông qua tiền lương.

    Sức lao động là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nó luôn luôn được hoàn thiện và phát triển nhờ thường xuyên được duy trì và khôi phục. Như vậy bản chất của tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho người lao động có một số lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể:

    – Duy trì và phát triển sức lao động của chính mình.

    – Sản xuất ra sức lao động mới.

    – Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hình thành kỹ năng lao động, tăng cường chất lượng lao động.

    Các Mác đã viết: “Một tư tưởng tách rời lợi ích kinh tế thì nhất định sẽ làm nhục nó”. Thực tế cho thấy rằng khi được trả công xứng đáng thì người lao động sẽ làm việc tích cực, sẽ không ngừng hoàn thiện mình hơn nữa và ngược lại, nếu người lao động không được trả lương xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì sẽ có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho lợi ích của doanh nghiệp. Thậm chí nó sẽ có những cuộc đình công xảy ra, bạo loạn gây nên xáo trộn về chính trị, mất ổn định xã hội.

    Ở một mức độ nhất định thì tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị và uy tín của người lao động trong gia đình, tại doanh nghiệp cũng như ngoài xã hội. Do đó cần thực hiện đánh giá đúng năng lực và công lao động của người lao động đối với sự phát triển của doanh nghiệp, để tính tiền lương trở thành công cụ quản lý khuyến khích vật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.

    Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, nhà nước thường thông qua hệt thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ đó tiền lương đã góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội.

    Khi tiền lương được trả cho người lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc thì xã hội có thể xác định chính xác hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể người lao động. Điều này có nghĩa trong công tác thống kê, giúp nhà nước hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo hợp lý thực tế luôn phù hợp với chính sách của nhà nước.

    Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh người sử dụng lao động đứng trước hai sức ép là chi phí sản xuất và kết quả sản xuất. Họ thường tìm mọi cách có thể để làm giảm thiểu chi phí trong đó có tiền lương trả cho người lao động.

    Bộ luật lao động ra đời, trong đó có chế độ tiền lương, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động đồng thời bảo vệ quyền lợi người lao động và lợi ích hợp pháp của người lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, tăng hiệu quả sử dụng và quản lý lao động.

    Với các chức năng trên ta có thể thấy tiền lương đóng một vai trò quan trọng việc thúc đẩy sản xuất và phát triển phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động, tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Khuyến Học Hà Nội Triển Khai Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022
  • Phương Hướng, Nhiệm Vụ Của Hội Khuyến Học Nhiệm Kỳ 2005
  • Tổng Kết 5 Năm Của Hội Khuyến Học Xã An Hiệp Tong Ket 0510 Nhiem Vu 1015 Hoi Khuyen Hoc A Hiep Doc
  • Quy Chế Hoạt Động Của Ban Chấp Hành Hội Khuyến Học
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hội Khuyến Học Trường Thpt Phan Châu Trinh (Tp Đà Nẵng)
  • Khái Niệm, Vai Trò Và Chức Năng Của Quản Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • 4 Chức Năng Của Nhà Quản Lý
  • Trình Bày Các Chức Năng Của Quản Lý Giáo Dục
  • Các Chức Năng Quản Trị
  • Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Quản Trị
  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Nhà Quản Trị
  • Như vậy, quản lý là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để điều khiển nguồn lực thực hiện các tiến trình để giải quyết các vấn đề.

    – Quản lý nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí trong tổ chức giữa những người quản lý và người bị quản lý; giữa những người bị quản lý với nhau.

    – Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các đối tượng quản lý vào mục tiêu đó.

    – Tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân, tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt được mục tiêu quản lý.

    – Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, động viên; uốn nắn lệch lạc, sai sót nhằm giảm bớt thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý.

    – Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của mọi cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.

    c) Chức năng cơ bản của quản lý

    Quản lý có 7 chức năng cơ bản sau:

    Kế hoạch hoá (2): Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, nhằm xây dựng quyết định về mục tiêu, chương trình hành động và bước đi cụ thể trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý.

    Tổ chức chính là sự kết hợp, liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất. Sự phát triển của xã hội đã chứng minh rằng tổ chức là một nhu cầu không thể thiếu được trong mọi hoạt động kinh tế – xã hội.

    Một cơ cấu tổ chức được coi là hợp lý khi nó tuân thủ nguyên tắc thống nhất trong mục tiêu, mỗi cá nhân đều góp phần công sức vào các mục tiêu chung của hệ thống.

    Một tổ chức cũng được coi là hiệu quả khi nó được áp dụng để thực hiện các mục tiêu của hệ thống với mức tối thiểu về chi phí cho bộ máy.

    Đây là chức năng cuối cùng và rất quan trọng của quá trình quản lý đối với mọi hệ thống, yêu cầu phải chính xác đôi với các yếu tố định lượng và định tính. Cách đánh giá này có tầm quan trọng nhất định, nhưng tuyệt đối hoá phương pháp này và bỏ qua các định tính hoặc các yếu tố tiềm ẩn là các yếu tố khó đo lường được bằng con số thì thông tin chưa thật chính xác. Do đó đánh giá hiệu quả phải có thước đo phù họp với mục tiêu theo quan hệ chính xác cao dựa vào các tiêu chuẩn của các yếu tố cả định tính và định lượng.

    Các chức nãng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình tự chặt chẽ, trong quản lý không được coi nhẹ một chức năng nào.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 20. Cấu Tạo Trong Của Phiến Lá
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Vai Trò Phòng Nhân Sự
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Hành Chánh Nhân Sự
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp
  • Tất Tần Tật Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng Nhân Sự “cần Biết”
  • Khái Niệm Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Quốc Tế.

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Marketing Xuất Khẩu Của Công Ty May Thăng Long
  • Vai Trò Và Nội Dung Của Marketing
  • Chiến Lược Thích Ứng Sản Phẩm (Product Adaptation Strategy)
  • Bạn Đã Biết Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Marketing Chưa?
  • Dịch Vụ Tư Vấn Khởi Tạo Phòng Marketing
  • Marketing quốc tế là việc thực hiện các hoạt động nhằm định hướng, nắm bắt nhu cầu thị trường nước ngoài để xác lập các biện pháp thỏa mãn tối đa nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.

    Như vậy ta thấy thực chất Marketing quốc tế chỉ là sự vận dụng nguyên lý, nguyên tắc các phương pháp và kỹ thuật tiến hành của Mareking trong điều kiện thị trường nước ngoài. Sự khác biệt của Marketing quốc tế và Marketing nói chung chỉ ở chỗ là hàng hoá và dịch vụ được tiêu thụ không phải trên thị trường nội địa mà là ở thị trường nước ngoài. Sự khác biệt này chỉ là thứ yếu và càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Marketing trong những điều kiện mới.

    Việc nghiên cứu Marketing quốc tế là chìa khóa để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp ở đây có thể là mua bán hay đầu tư sản xuất… tại các thị trường nước ngoài mà doanh nghiệp muốn nắm bắt. Và khi mà chúng ta nghiên cứu Marketing quốc tế trong trường hợp chỉ áp dụng cho các sản phẩm được sản xuất trong nước nhưng được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài thì đó chính là Marketing – xuất khẩu.

    Với vai trò làm thích ứng các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với điều kiện của môi trường quốc tế, xuất phát từ sự khác biệt to lớn giữa thị trường nước ngoài với thị trường nội địa và giữa thị trường nước ngoài với nhau, để đảm bảo lợi nhuận tôi đa cho doanh nghiệp, Marketing quốc tế thực hiện được những chức năng cơ bản:

    – Thiết lập một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trường để nhận biết một cách nhanh chóng các biến động thị trường và nếu có thể thì dự báo trước các biến động đó.

    – Xác lập khả năng phản ứng nhanh đối với các điều kiện đặc biệt và đồng thời với nó là khả năng thiết ghi nhanh chóng từ phía dịch vụ hành chính.

    – Thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả của các hoạt động đã cam kết bất chấp những khó khăn sinh ra do sự khác biệt về môi trường kế toán, sự biến động về tiền tệ và sự khác biệt về “văn hoá” trong quản lý doanh nghiệp.

    – Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật thu nhập thông tin và kỹ thuật hoạt động trên thị trường để bao quát được mọi trường hợp riêng biệt.

    Thực hiện được những chức năng trên là điều kiện cần thiết cho sự phát triển quốc tế lâu dài và có hiệu quả của doanh nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liều Như Steve Jobs Mới Có Thể Thành Công
  • Chiến Lược Chung Marketing Của Doanh Nghiệp
  • Nghề Marketing: Nghề Dành Cho Các Bạn Trẻ Năng Động, Sáng Tạo
  • Hoạt Động Marketing Tại Các Công Ty Thương Mại Bán Lẻ Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Đề Tài Quản Trị Kinh Doanh Hoàn Thiện Quản Trị Marketing Mix Hay Nhất 2022
  • Khái Niệm Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Hoạt Động Của Các Bộ Phận Chức Năng Trong Tổ Chức
  • 4 Chức Năng Quan Trọng Của Email Marketing
  • 4 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Logictic Là Gì? 4 Chức Năng Của Logictic Trong Doanh Nghiệp.
  • Marketing Là Gì? 9 Chức Năng Của Marketing Đối Với Doanh Nghiệp?
  • Khái niệm Marketing Quốc tế.

    Marketing quốc tế là việc thực hiện các hoạt động nhằm định hướng, nắm bắt nhu cầu thị trường nước ngoài để xác lập các biện pháp thỏa mãn tối đa nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.

    Như vậy ta thấy thực chất Marketing quốc tế chỉ là sự vận dụng nguyên lý, nguyên tắc các phương pháp và kỹ thuật tiến hành của Mareking trong điều kiện thị trường nước ngoài. Sự khác biệt của Marketing quốc tế và Marketing nói chung chỉ ở chỗ là hàng hoá và dịch vụ được tiêu thụ không phải trên thị trường nội địa mà là ở thị trường nước ngoài. Sự khác biệt này chỉ là thứ yếu và càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Marketing trong những điều kiện mới.

    Việc nghiên cứu Marketing quốc tế là chìa khóa để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp ở đây có thể là mua bán hay đầu tư sản xuất… tại các thị trường nước ngoài mà doanh nghiệp muốn nắm bắt. Và khi mà chúng ta nghiên cứu Marketing quốc tế trong trường hợp chỉ áp dụng cho các sản phẩm được sản xuất trong nước nhưng được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài thì đó chính là Marketing – xuất khẩu.

    Vai trò và chức năng của Marketing quốc tế.

    Với vai trò làm thích ứng các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với điều kiện của môi trường quốc tế, xuất phát từ sự khác biệt to lớn giữa thị trường nước ngoài với thị trường nội địa và giữa thị trường nước ngoài với nhau, để đảm bảo lợi nhuận tôi đa cho doanh nghiệp, Marketing quốc tế thực hiện được những chức năng cơ bản:

    – Thiết lập một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trường để nhận biết một cách nhanh chóng các biến động thị trường và nếu có thể thì dự báo trước các biến động đó.

    – Xác lập khả năng phản ứng nhanh đối với các điều kiện đặc biệt và đồng thời với nó là khả năng thiết ghi nhanh chóng từ phía dịch vụ hành chính.

    – Thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả của các hoạt động đã cam kết bất chấp những khó khăn sinh ra do sự khác biệt về môi trường kế toán, sự biến động về tiền tệ và sự khác biệt về “văn hoá” trong quản lý doanh nghiệp.

    – Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật thu nhập thông tin và kỹ thuật hoạt động trên thị trường để bao quát được mọi trường hợp riêng biệt.

    Thực hiện được những chức năng trên là điều kiện cần thiết cho sự phát triển quốc tế lâu dài và có hiệu quả của doanh nghiệp.

    Phạm Thị Bích Ngọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bao Bì Và Vai Trò Của Bao Bì Trong Kinh Doanh
  • Vai Trò Của Bao Bì Trong Marketing
  • Bao Bì Sản Phẩm Và Vai Trò Của Bao Bì Trong Kinh Doanh
  • Công Ty Tnhh Mtv Phước Thịnh
  • Bài 13. Khái Niệm Về Mạch Điện Tử Điều Khiển
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng, Vai Trò Của Thuế

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Thuế Là Gì
  • Thuế Là Gì? Các Đặc Trưng Cơ Bản Và Cách Phân Loại Thuế
  • Thuế Là Gì? Những Đặc Điểm Cơ Bản Của Thuế Hiện Nay
  • Kiến Thức Cơ Bản Về Thuế
  • Hội Đồng Tư Vấn Thuế Phường…: Nhiệm Vụ, Quyền Hạn.. Của Hội Đồng Tư Vấn Thuế
  • Khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò của thuế-Phân loại thuế và yếu tố cấu thành một sắc thuế Người trình bày: Nguyễn Thị Cúc Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Web: chúng tôi Email: [email protected] KẾT CẤU BÀI GiẢNG I. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò của thuế II.Phân loại thuế III. yếu tố cấu thành một sắc thuế I. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò của thuế 1. Khái niệm thuế 2. Đặc điểm của thuế 3. Chức năng, vai trò của thuế 1. Khái niệm thuế Sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và PT của NN. Về kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, NN sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công Về phân phối TN thì thuế là hình thức phân phối và phân phối lại TSPXH và TNQD Về người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc Vây: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội. 2. Đặc điểm của thuế 1. Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước 2. Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp 3. Chức năng, vai trò của thuế 1. Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Ở Việt Nam, tỷ lệ huy động GDP vào NSNN đạt tỷ lệ trên 20% qua các năm, cụ thể Tỷ lệ thu NSNN/GDP Năm 2004: 24,2%;2005:23,8%;2006:25,2% Tỷ lệ thuế, phí/GDP (%) Năm 2004:20,2 %; 2005 :21,1%; 2006 :22,6% Tỷ lệ bội chi NSNN không quá 5% 3. Chức năng, vai trò của thuế 2. Điều tiết vĩ mô nền kinh tế Điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý Điều chỉnh tích luỹ tư bản Thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước. Thay đổi thuế suất Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế 3. Chức năng, vai trò của thuế 3.Điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Thuế là công cụ để NN can thiệp vào quá trình phân phối TN, của cải XH, hạn chế sự chênh lệch lớn về mức sống, về TN giữa các tầng lớp dân cư trong XH. Điều hoà TN giữa các tầng lớp dân cư có thể được thực hiện thông qua các sắc thuế trực thu Ngoài ra việc điều hoà thu nhập, định hướng tiêu dùng còn có thể được thực hiện một phần thông qua các sắc thuế gián thu như thuế TTĐB II. Phân loại thuế 1. Phân loại theo phương thức đánh thuế 2. Phân loại theo cơ sở tính thuế 3. Phân loại theo mức thuế 4. Phân loại theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách 1.Phân loại theo phương thức đánh thuế 1.1. Thuế trực thu :là loại thuế đánh trực tiếp vào TN hoặc tài sản của người nộp thuế. Ưu điểm : động viên trực tiếp vào thu TN chịu thuế. Nhược điểm: dễ gây ra phản ứng từ phía người nộp thuế 1.2. Thuế gián thu : Thu một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ Ưu điểm: đối tượng chịu rộng. Thuế ẩn vào giá bán HHDV nên người chịu thuế thường không cảm nhận được gánh nặng của loại thuế này Nhược điểm :Do có tính chất luỹ thoái nên không đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế. Quan hệ hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu: Tuỳ theo đặc điểm trình độ PT KTXH của mỗi nước mà xác định một tương quan theo tỷ lệ giữa 2 loại thuế này 1. 2. Phân loại theo cơ sở tính thuế Thuế thu nhập Cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được Thuế tiêu dùng Cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại. Thuế tài sản Cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản. 3. Phân loại theo mức thuế Thuế đánh theo tỷ lệ % Thuế lũy tiến Thuế lũy thoái Thuế tỷ lệ cố định Thuế đánh trên mức tuyệt đối Ấn định một số thu bằng tiền trên một đơn vị tính thuế như trọng lượng, khối lượng, diện tích, đơn vị sản phẩm 4. Phân loại theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách Thuế trung ương Được Nhà nước ban hành luật pháp và thu trong phạm vi toàn quốc, NSNNTW hưởng. Thuế địa phương Thu trong phạm vi lãnh thổ vùng hoặc địa phương và NSNN ở địa phương hưởng Việt nam không có thuế TW, thuế ĐP III.CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH MỘT SẮC THUẾ 1. Tên gọi 2. Người nộp thuế 3. Đối tượng chịu thuế 4. Căn cứ tính thuế 5. Ưu đãi thuế 1. Tên gọi Phản ánh nội dung chính của từng loại thuế và để phân biệt với những loại thuế khác Thường đặt tên sắc thuế theo đối tượng đánh thuế (TNDN, TNCN…), theo từng mặt hàng (thuế rượu, thuế thuốc lá…) hoặc theo nội dung (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…) 2. Người nộp thuế Xác định chủ thể có nghĩa vụ phải nộp thuế Người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước. phân biệt người nộp thuế và người chịu thuế. 3. Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra để đánh thuế Mỗi một sắc thuế có đối tượng chịu thuế riêng: VD : HH, DV, Thu nhập… Đối tượng chịu thuế thường được tính theo đơn vị giá trị hoặc theo đơn vị vật lý 4. Căn cứ tính thuế:căncứ tính thuế đối với một sắc thuế là cơ sở tính thuế và thuế suất Cơ sở tính thuế: Cơ sở tính thuế là số lượng đơn vị (theo giá trị hoặc theo đơn vị vật lý) của đối tượng chịu thuế Mỗi sắc thuế có một cơ sở tính thuế riêng Mức thuế : – Mức thuế thể hiện mức độ động viên của NN trên một đơn vị so với cơ sở tính thuế và được biểu hiện dưới hình thức thuế suất hay định suất thuế. – Các loại thuế suất thường áp dụng : – Nguyên tắc xây dựng thuế suất: phù hợp với khả năng thu thuế; ĐB nguồn lực cho NSNN và PTSXKD 5. Ưu đãi thuế Mục đích khuyến khích phát triển sản xuất, thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu KT… Ưu đãi về thuế suất: Áp dụng thuế suất thấp hơn trong thời gian nhất định với lĩnh vực, ngành nghề hoặc địa bàn đầu tư Ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế : Miễn, giảm thuế cho toàn bộ TN hoặc phần TN cần khuyến khích Bên cạnh ưu đãi thuế suất, miễn giảm còn có các hình thức khấu hao nhanh, chuyển lỗ.. Web: chúng tôi Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuế Là Gì ? Khái Niệm Và Đặc Trưng Cơ Bản Của Thuế Năm 2022
  • Khái Niệm Về Thuế? Tại Sao Thuế Lại Không Mang Tính Đối Giá Và Hoàn Trả Trực Tiếp?
  • Đội Ngũ Đại Lý Thuế Quá Mỏng, Chưa Phát Huy Được Hiệu Quả
  • Đại Lý Thuế: Mãi Vẫn Không Chịu Lớn
  • Quyền Và Trách Nhiệm Của Đại Lý Thuế
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Hoạt Động Bảo Lãnh Ngân Hàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Kê Biên, Xử Lý Tài Sản Là Quyền Sử Dụng Đất
  • Kê Biên, Xử Lý Tài Sản Thi Hành Án
  • Kê Biên Tài Sản Là Quyền Sử Dụng Đất
  • Biện Pháp Kê Biên Tài Sản Trong Tố Tụng Hình Sự Bị Hủy Bỏ Khi Nào?
  • Biện Pháp Kê Biên Tài Sản Tương Ứng Số Tiền Phạt Để Bán Đấu Giá
  • Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Bảo lãnh là một hình thái đặc thù của bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ dân sự, là một nghiệp vụ trong hoạt động ngân hàng.

    Hiện nay, sự phát triển của sản xuất, hàng hóa và sự xuất hiện của tiền tệ ngày càng phát triển. Việc phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với việc giao lưu hàng hóa giữa các vùng miền, quốc gia càng lớn đã có một số khó khăn nhất định trong quá trình mua bán, thanh toán, chuyển đổi tiền.

    Vì vậy, việc các thương gia phải thực hiện công việc đổi các loại tiền của các vùng, các nước khác nhau giúp cho việc giao lưu hàng hóa trở nên thuận tiện hơn rất nhiều. Chính vì vậy hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng các dịch vụ để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Một trong những nghiệp vụ phát triển hiện nay của ngân hàng là nghiệp vụ bảo lãnh. Những rủi ro khác nhau trong quá trình kết và thực hiện hợp đồng là lý do sinh ra nhiều loại bảo lãnh khác nhau.

    Dù rằng về cơ bản, chúng được phát hành với mục đích chung bảo vệ người thụ hưởng đối với những rủi ro xảy ra do người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ. Bảo lãnh ngân hàng chính là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp đồng khoản đền bụ trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo lãnh nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp đồng.

    1. Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng

    Bảo lãnh là khái niệm được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, ở mỗi góc độ nó được hiểu theo một nghĩa khác nhau. Hiểu theo phương diện pháp lí thì :” Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền(gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ – Điều 366 Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005.

    Đó là khái niệm bảo lãnh trong quan hệ pháp luật dân sự, theo đó cũng có thể hiểu bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng với nghĩa tương tự. Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 2010, bảo lãnh ngân hàng được hiểu như sau:” Là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay”.

    2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Hoạt động huy động vốn.

    Ngân hàng có thể tạo ra nguồn vốn bằng rất nhiều cách thức khác nhau nhưng chủ yếu chính là từ tiền gửi của các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế theo các loại hình khác nhau. Có ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và ngoài ra ngân hàng còn vay từ các cá nhân, tổ chức hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay bằng các cách thức khác.

    Huy động bằng tiền gửi.

    Tiền gửi giao dịch dịch vụ nhân tiền gửi là một trong những dịch vụ có sớm nhất mà ngân hàng cung cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán hộ khách hàng. Dịch vụ này có nguồn vốn và chi phí thấp nhưng mặt khác lại có quy mô rất lớn đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay khi các lệnh rút tiền cho một cá nhân hay cho bên thứ ba. Cá nhân, tổ chức khi sử dụng loại tài khoản này phần lớn dùng thanh toán cho khách hàng. Nó vừa là tài sản có của khách hàng, vừa là tài sản nợ của ngân hàng và ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả lại cho người gửi vào bất kỳ thời điểm nào. Thông qua đó ngân hàng huy động được lượng vốn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng và thu phí dịch vụ cũng như cung cấp cho khách hàng những tiện ích nhất định.

    Hoạt động sử dụng vốn

    Các ngân hàng thường đi vay các tổ chức tín dụng, các ngân hàng khác. Vay trực tiếp bằng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, bán tín phiếu kho bạc, vay trên thị trường liên ngân hàng, vay ngân hàng trung ương bằng cách tái chiết khấu.

    Đây là hoạt động về ngân quỹ đảm bảo các khoản dự trữ tự nguyện dự trữ bắt buộc, đảm bảo tính thanh khoản, tiền mặt trong quá trình thu. Các hoạt động thanh toán bù trừ, tiền gửi giao dịch tại các tổ chức tín dụng khác. Đây là hoạt động nhằm kiểm soát tình hình ngân quỹ của ngân hàng không mang tính chất sinh lời. Hoạt động cho vay tùy theo từng tiêu chí có thể phân loại các hình thức cho vay theo mục đích sử dụng, bảo đảm hay kỳ hạn…Có thể nói hoạt động cho vay là hoạt động đem lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán và hoạt động ủy thác của khách hàng. Ngân hàng sử dụng vốn để mua chứng khoán có độ an toàn cao. Bên cạnh đó ngân hàng cũng thành lập các công ty chứng khoán với các nghiệp vụ như: tư vấn, bảo lãnh, lưu ký chứng khoán, môi giới…Một hoạt động khác của ngân hàng là nhận sự ủy thác của khách hàng để đầu tư vào những lĩnh vực đem lại lợi nhuận cho khách hàng có rủi ro thấp. Ngân hàng đều có thể cung cấp cả hai loại dịch vụ ủy thác thông thường cho các cá nhân, hộ gia đình và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.

    Hoạt động trung gian như: chuyển tiền hộ, mua bán ngoại tệ, tiền mặt, lưu ký, thanh toán séc, bảo lãnh, tư vấn tài chính, môi giới….

    3. Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh ngân hàng.

    Từ khái niệm trên ta thấy thực chất bảo lãnh ngân hàng là một hình thái đặc thù của bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ dân sự, do vậy mà nó vừa mang đặc thù chung của bảo lãnh vừa mang đặc tính tiêng chỉ có trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.

    Trước hết, với bản chất là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự thì bảo lãnh ngân hàng chứa đựng những thuộc tính chung sau:

    Phạm vi bảo lãnh có thể là toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên.

    Bên cạnh những đặc điểm chung của bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ dân sự thì hoạt động bảo lãnh ngân hàng cũng có những đặc thu sau:

    Về bản chất pháp lí, bảo lãnh ngân hàng là một loại giao dịch thương mại đặc thù. Tính thương mại của hoạt động này thể hiện ở chỗ, hoạt động bảo lãnh ngân hàng vừa do tổ chức tín dụng thực hiện trên “thị trường” nhằm mục đích lợi nhuận vừa có tính chuyên nghiệp như một nghề nghiệp kinh doanh. Do đó mà để thực hiện hoạt động này bát buộc phải thực hiện việc đăng kí kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    Về chủ thể, chủ thể hoạt động bảo lãnh ngân hàng luôn là các tổ chức tín dụng. Do bảo lãnh ngân hàng có tính rủi ro cao bởi vậy mà hoạt động này phải được thực hiện bởi các chủ thể chuyên nghiệp, có điều kiện về vốn là các tổ chức tín dụng.

    Trong bảo lãnh ngân hàng, tổ chức tín dụng không chỉ có tư cách là người bảo lãnh mà còn có tư cách là nhà kinh doanh, thông qua hoạt động bảo lãnh tổ chức tín dụng tạo lợi nhuận cho mình.

    Giao dịch bảo lãnh làm phát sinh hai hợp đồng: hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh. Hai hợp đồng này vừa gắn kết vừa tách rời, có mối quan hệ nhân quả với nhau nhưng hoàn toàn độc lập với nhau. Điều này thể hiện ở chỗ nếu như hợp đồng này vô hiệu thì không đương nhiên hợp đồng kia bị vô hiệu.

    Bảo lãnh ngân hàng là giao dịch không thể hủy ngang bởi người đại diện có thẩm quyền của tố chức tín dụng bảo lãnh.

    Bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được xác lập và thực hiện dựa trên chứng từ.

    4. Vai trò của hoạt động bảo lãnh ngân hàng.

    Vai trò của hoạt động bảo lãnh ngân hàng vô cùng quan trọng, đối với từng chủ thể thì nó có vai trò riêng:

    Đối với tổ chức tín dụng: Đối với ngân hàng, bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay. Không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro mất vốn.

    Đối với nền kinh tế: Sự tồn tại bảo lãnh ngân hàng là một khách quan đối với nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu làm cho nền kinh tế ngày một phát triển. Nó có vai trò như­ một chất xúc tác làm điều hoà, xúc tiến hàng loạt các quan hệ trong hợp đồng kinh tế. Nhờ có bảo lãnh mà các bên có thể tin tưởng yên tâm tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế và có trách nhiệm với hợp đồng của mình đã ký kết. Bảo lãnh ngân hàng góp phần tăng cư­ờng mối quan hệ thư­ơng mại quốc tế giữa các quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Nội Dung Pháp Lý Liên Quan Đến Biện Pháp Bảo Lãnh Đối Với Hơp Đồng Tín Dụng
  • Bảo Lãnh Ngân Hàng Là Gì? Quy Trình Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Bảo Lãnh
  • Trách Nhiệm Khi Bảo Lãnh Cho Vay Ngân Hàng ? Thế Chấp Được Sử Dụng Làm Biện Pháp Bảo Lãnh Tại Ngân Hàng ?
  • #1 Bảo Lãnh Thực Hiện Hợp Đồng Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Vai Trò Của Lãnh Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Của Đội Ngũ Giám Đốc Điều Hành Ở Việt Nam
  • Nâng Cao Vai Trò Lãnh Đạo, Chỉ Đạo, Điều Hành Của Viện Trưởng Vksnd Cấp Huyện
  • Những Câu Hỏi Phỏng Vấn Cho Vị Trí Lãnh Đạo Và Gợi Ý Câu Trả Lời
  • Nghệ Thuật Lãnh Đạo: Bảng Câu Hỏi Về Chức Năng Quản Lý.
  • 3 Câu Hỏi Giúp “định Nghĩa Lại Lãnh Đạo”
  • Kết quả

    Vai trò của lãnh đạo:

    Lãnh đạo là một chức năng cơ bản của quản trị, tất cả các chức năng quản trị sẽ không hoàn thành tốt nếu các nhà quản trị không hiểu được yếu tố con người trong các hoạt động của học và không biết lãnh đạo con người để đạt được kết quả như mong muốn.

    Lãnh đạo là quá trình tác động và quan tâm đến con người.

    Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ cố gắng một cách tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Người lãnh đạo không đứng đằng sau để thúc đẩy hay thúc giục, họ đặt mình lên trước, động viên mọi người hoàn thành mục tiêu đã đề ra. Bất kể một người quản lý lập kế hoạch, tổ chức và kiểm tra kết quả có tốt đến đâu, người đó vẫn phải hỗ trợ những hoạt động đó bằng cách đưa ra những chỉ dẫn cho mọi người, thông tin đầy đủ và lãnh đạo tốt. Việc lãnh đạo phải dựa trên sự hiểu biết về động cơ của con người là gì và điều gì làm cho họ thỏa mãn khi họ góp sức vào việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.

    “Thuật lãnh đạo không chỉ đơn thuần là khả năng lôi cuốn người khác, vì đôi khi đó chỉ là sự mị dân. Đó cũng không phải là khả năng gây cảm tình và thuyết phục người khác vì đây chỉ là kỹ năng bán hàng. Lãnh đạo là nâng tầm nhìn của con người lên mức cao hơn, đưa việc thực hiện công việc đạt tới một tiêu chuẩn cao hơn, và phát triển tính cách của con người vượt qua những giới hạn thông thường. Để có được khả năng lãnh đạo như thế thì không gì tốt hơn là một môi trường doanh nghiệp được xây dựng trên những quy định chặt chẽ về quy định và trách nhiệm, những tiêu chuẩn cao trong thực hiện công việc, và sự tôn trọng của từng cá nhân cũng như công việc của họ” (Peter.F.Drucker, Cách thức quản lý, Butter-heinemann).

    Tạo động lực làm việc cho nhân viên là một vai trò quan trọng của người lãnh đạo. Có thể nói đây là vai trò chính, bởi vì một nhân viên thiếu động lực thúc đẩy sẽ luôn làm việc kém hiệu quả. Ngoài những yếu tố khác, người lãnh đạo phải là:

    -Một huấn luyện viên: Khơi gợi những tiềm lực tốt đẹp nhất của nhân viên.

    -Người điều phối và hỗ trợ: Giúp phá bỏ những trở ngại để nhóm thực hiện công việc một cách trôi chảy.

    Người lãnh đạo muốn tạo động lực làm việc của nhân viên phải tìm hiểu nhân viên của mình, xây dựng môi trường làm việc hợp lý. Môi trường làm việc của doanh nghiệp được xác định bằng các chính sách quản trị và thái độ của mỗi nhân viên. Một môi trường cởi mở và chia sẻ sẽ tạo điều kiện cho nhân viên phát triển kỹ năng và năng lực của mình. Những doanh nghiệp có môi trường làm việc như vậy sẽ quy tụ được nhiều nhân viên đồng lòng với mục tiêu của doanh nghiệp, thực tế những doanh nghiệp như vậy sẽ dễ thành công hơn.

    Nguồn: chúng tôi (Biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đảng Bộ, Chi Bộ Cơ Sở Cơ Quan
  • Về Hệ Thống Tổ Chức Bộ Máy Của Đảng Trong Thực Hiện Chức Năng Lãnh Đạo Đối Với Hệ Thống Chính Trị
  • Vai Trò Lãnh Đạo Trong Quản Trị Học
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Lãnh Đạo
  • Khái Niệm, Nội Dung, Vai Trò Chức Năng Lãnh Đạo
  • Khái Niệm, Chức Năng, Vai Trò Của Tài Chính Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Quản Lý Người Dùng
  • Quản Lý Người Dùng Trên Máy Photocopy
  • Xây Dựng Ứng Dụng Web Có Chức Năng Quản Lý Người Dùng
  • Những Chức Năng Quản Trị Hệ Thống Trong Phần Mềm Bravo
  • Saf: Chức Năng Quản Trị Hệ Thống
  • Tài chính doanh nghiệp là gì? Tài chính doanh nghiệp là làm gì? Hiểu được khái quát những vấn đề chung của tài chính doanh nghiệp. Chức năng cùng vai trò của nhà quản trị tài chính chứng chỉ hành nghề kế toán

    Bản chất của tài chính doanh nghiệp hiện đại: Là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

    Từ đó làm hình thành và biến đổi các loại tài sản lưu động và tài sản cố định nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh đó

    – Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước:

    • Doanh nghiệp hoạt động nộp thuế cho nhà nước
    • Nhà nước đầu tư góp vốn vào doanh nghiệp học xuất nhập khẩu

    – Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, với khác hàng:

    • Các nhà đầu tư bỏ vốn vào doanh nghiệp và nhận về tiền lời từ hoạt động đầu tư
    • Doanh nghiệp bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng và thu tiền về

    – Mối quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp học xuất nhập khẩu ở đâu tốt

    • Doanh nghiệp trả lương, thưởng cho người lao động
    • Các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp có sự phân phối và điều chuyển vốn cho nhau…
    • Tạo vốn và luân chuyển vốn: Là để bảo đảm vốn hoạt động của doanh nghiệp luôn có đủ và ổn đinh, đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh
    • Phân phối lại thu nhập: Nhằm cân đối lại nguồn vốn cho hợp lý, biết cách sử dụng đồng tiền lời sao cho có hiệu quả nhất, qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để gia tăng giá trị doanh nghiệp

    Làm thế nào có thể huy động và sử dụng đồng vốn hiệu quả để doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tối đa

    • Chi tiêu tiền: Doanh nghiệp nên tiêu tiền vào các dự án đầu tư nào trong doanh sách rất nhiều các dự án đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất.
    • Huy động vốn: Doanh nghiệp nên tìm nguồn cung cấp vốn từ đâu để đảm bảo nguồn vốn huy động luôn ổn định với chi phí sử dụng vốn là thấp nhất và an toàn nhất
    • Phân chia lợi nhuận: Doanh nghiệp có các chính sách phân chia cổ tức, lợi nhuận như thế nào để đảm bảo trung hòa lợi ích cho các nhà đầu tư và hiệu quả hoạt động khóa học xuất nhập khẩu thực tế tphcm

    Sơ đồ hoạt động thể hiện vai trò của nhà quản trị tài chính

    • (1) Công ty phát hành các tài sản tài chính ra ngoài thị trường tài chính để huy động vốn
    • (2) Tiền huy động được sẽ được đầu tư mua sắm tài sản tài chính nhằm phục vụ cho hoạt động của công ty.
    • (3) Dòng tiền thu về từ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
    • (4a) Một phần lợi nhuận được giữ lại tại DN nhằm để tái đầu tư. học chứng chỉ kế toán trưởng online
    • (4b) Một phần lợi nhuận còn lại đem chia cho các cổ đông và các nhà đầu tư
    • Tôn trọng pháp luật: Mọi hoạt động tài doanh nghiệp từ khâu lập các dự án tài chính đến khâu tổ chức thực hiện các dự án đều phải chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.
    • Quản lý có kế hoạch: Mọi hoạt động tài chính từ khâu huy động vốn đến khâu sử dụng vốn đều phải được lập kế hoạch cụ thể, bao gồm các kế hoạch ngắn hạn, trung và dài hạn.
    • Hoạt động có hiệu quả:Bộ phận tài chính doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả thì mới tác động tích cực đến các hoạt động khác của doanh nghiệp. Vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thu chi của doanh nghiệp đó.

    Phân loại thành 3 loại thị trường: Sơ cấp, thứ cấp, tập trung

    • Nơi phát hành các tài sản tài chính lần đầu ra công chúng.
    • Làm tăng lượng vốn huy động từ các nhà đầu tư. học nghiệp vụ xuất nhập khẩu ở đâu
    • Làm tăng số lượng các cổ phần và các trái phiếu trên thị trường.
    • Là nơi mua đi bán lại các TSTC đã phát hành lần đầu trên thị trường sơ cấp.
    • Không làm tăng quy mô vốn của doanh nghiệp.
    • Làm tăng tính thanh khoản của các loại chứng khoán.
    • Làm tăng lượng tiền mặt khi cần thiết. học chứng chỉ kế toán trưởng
    • Các loại chứng khoán không được giao dịch trên thị trường tập trung trong một thời điểm và địa điểm cụ thể.
    • Các giao dịch thường được thực hiện thông qua mạng máy tính kết nối trên phạm vi rộng.

    Là các trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng chu chuyển vốn hiệu quả nhất cho nền kinh tế

    Các đinh chế tài chính nhận tiền gửi từ các cá nhân trong xã hội sau đó đầu tư hay cho các tổ chức và cá nhân biết sử dụng vốn có hiệu quả vay

    Vai trò của các chế định tài chính: Cơ chế thanh toán, hoạt động vay và cho vay, phân tán rủi ro

    Trước khi đi vào tìm hiểu về nội dung của Tài chính doanh nghiệp ta cần phải biết là một nhà quản trị tài chính thì bạn phải đưa ra những quyết định giá. Tìm hiểu vai trò và mục đích của việc nghiên cứu tài chính doanh nghiệp.

    1. Doanh nghiệp nên đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh nào? Dự án đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là gì? Những trang thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu gì cần cho dự án đó? Khả năng sinh lời và những rủi ro của dự án đầu tư là gì? (Capital budgeting decision) học nghiệp vụ xuất nhập khẩu tphcm

    3. Doanh nghiệp sẽ phải quản lý các hoạt động tài chính hàng ngày như thế nào? Nội dung quản lý chủ yếu là xử lý những sai lệch (mismatch) giữa các luồng tiền vào (cash inflows) và các luồng tiền ra (cash outflows) trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. Trong trường hợp luồng tiền ra lớn hơn luồng tiền vào, doanh nghiệp phải vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Trong trường hợp luồng tiền vào lớn hơn luồng tiền ra, doanh nghiệp cần xử lý để tránh tình trạng dòng tiền nhàn rỗi không sinh lời.

    Nghiên cứu về Tài chính doanh nghiệp là nhằm giải quyết tốt các vấn đề cơ bản nêu trên.

    Cần lưu ý là hoạt động tài chính trong doanh nghiệp được chia làm hai nhóm hoạt động cơ bản là kiểm soát (controller) và ngân quỹ (treasurer).

    Bộ phận kiểm soát có nhiệm vụ theo dõi các chi phí sản xuất kinh doanh, kế toán tài chính, thanh toán thuế và quản trị thông tin tài chính (là nhiệm vụ của các phòng Kế toán tài vụ tại doanh nghiệp).

    Bộ phận ngân quỹ có nhiệm vụ quản lý tiền mặt (các luồng vào, ra), quản lý các hoạt động tín dụng (cho vay và đi vay) của doanh nghiệp, lập kế hoạch tài chính và đầu tư. Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở phần quản lý ngân quỹ này.

    Do vậy, mục đích quan tâm của quản trị tài chính doanh nghiệp sẽ không giống với kế toán quản trị.

    Quản trị tài chính quan tâm nhiều hơn tới vấn đề thời điểm diễn ra luồng tiền (timing of cash flows) do tồn tại yếu tố giá trị thời gian của đồng tiền và rủi ro luồng tiền (risk of cash flows) vì số lượng và thời điểm luồng tiền nhận được không thể chắc chắn.

    Ba nội dung cơ bản của tài chính doanh nghiệp có thể mô tả tóm tắt như sau:

    Đây là quá trình xác định cách thức để doanh nghiệp có thể huy động được nguồn vốn đầu tư dài hạn cũng như quản lý nguồn vốn đó. Nguồn vốn huy động của doanh nghiệp cho các dự án đầu tư dài hạn tồn tại dưới hai dạng: vốn góp của các cổ đông và vốn vay.

    Nhiệm vụ của nhà quản trị tài chính ở đây là phải xác định được cấu trúc vốn huy động sao cho vừa đảm bảo giảm thiểu chi phí huy động, gia tăng giá trị cho doanh nghiệp đồng thời vẫn kiểm soát được những rủi ro cho doanh nghiệp.

    Ví dụ: Nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp mà cao thì sẽ rất có lợi cho doanh nghiệp vì nó có thể giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp. Chẳng hạn, lãi trả cho các khoản nợ được khấu trừ khi tính thuế nên nếu tỷ lệ phần nguồn vốn cho dự án dưới dạng nợ mà cao thì doanh nghiệp sẽ được lợi về thuế. Hơn nữa, trong khi khả năng tạo ra lợi nhuận của từng đồng vốn sử dụng thì được coi là như nhau nhưng lãi trả cho những đồng vốn huy động bằng vay nợ sẽ luôn cố định.

    Như vậy cùng một mức sinh lời, nếu tỷ lệ nợ trong nguồn vốn đầu tư mà cao thì doanh nghiệp càng lợi. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu mà cao thì doanh nghiệp sẽ dễ gặp những khó khăn về tài chính khi dự án không sinh lời như mong muốn.

    Hơn thế, các chủ nợ sẽ đòi hỏi lãi suất cao hơn khi thấy tỷ lệ nợ trong nguồn vốn huy động của doanh nghiệp quá cao vì sợ rủi ro. Thậm chí, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong vay vốn. học nghề kế toán

    Nội dung của hoạt động quản trị vốn lưu động là kiểm soát các tài sản lưu động và nợ ngắn hạn (bao gồm cả nợ dài hạn đến hạn trả) nhằm đảm bảo doanh nghiệp có đủ tiền cho các chi tiêu cho hoạt động của mình. Các câu hỏi mà nhà quản trị tài chính thường phải trả lời là

    1) Doanh nghiệp cần phải nắm giữ bao nhiều tiền (tiền mặt và tiền gửi ngân hàng), bao nhiêu hàng dự trữ (bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm trong kho)?

    2) Trường hợp nào thì doanh nghiệp nên bán chịu, thời hạn bán chịu nên là bao lâu và đối tượng nào sẽ được doanh nghiệp bán chịu? tự học xuất nhập khẩu

    3) Doanh nghiệp nên vay ngắn hạn hay mua chịu hay thanh toán ngay?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Quản Trị Trong Doanh Nghiệp
  • Quản Trị Doanh Nghiệp Là Gì? Chức Năng Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Quản Trị Logistic Và Chuỗi Cung Ứng
  • Quản Trị Chuỗi Cung Ứng Là Gì? Các Mô Hình Quản Trị Phổ Biến
  • Quản Trị Chuỗi Cung Ứng Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×