Khái Niệm Và Vai Trò Của Chức Năng Tổ Chức

--- Bài mới hơn ---

  • Hành Vi Tổ Chức (Organizational Behavior) Là Gì? Sự Cần Thiết Và Vai Trò Của Hành Vi Tổ Chức
  • Hành Vi Tổ Chức Là Gì?
  • Vị Trí, Chức Năng Của Đoàn Tncs Hồ Chí Minh
  • Tổ Chức Du Lịch Thế Giới
  • Chuyên Gia Tổ Chức Du Lịch Thế Giới Làm Việc Tại Tỉnh Ta
  • Tổ chức được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Khoa học quản lý nghiên cứu tổ chức với tư cách là hệ thống con người – xã hội với những quá trình, hiện tượng và hoạt động của con người. Để có một quan niệm khoa học về tổ chức cần phải nhận thức nó ở hai góc độ: 1.Tổ chức với tính cách là một thực thể; 2. Tổ chức với tính cách là một hoạt động.

    * Tổ chức với tư cách là một thực thể

    Khi được hiểu như một thực thể hay như một đơn vị xã hội thì còn có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức.

    Theo cách hiểu thông thường nhất: Tổ chức là một đơn vị xã hội bao gồm những thành viên cùng gia nhập vào đơn vị xã hội đó để hoàn thành mục tiêu chung và mục tiêu cá nhân.

    Các nhà xã hội học cho rằng: tổ chức là một cấu trúc xã hội đặc biệt của nhóm thứ cấp (primay group), được tạo nên bởi những hành động mang tính khuôn mẫu của các thành viên và các nhóm tồn tại trong nó nhằm đạt những mục tiêu nhất định.

    Một số lớn các nhà tư tưởng về tổ chức coi tổ chức như là một tập hợp các mối quan hệ của con người trong mọi hoạt động của nhóm.

    Theo C.I Barnard, tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức nhằm hoàn thành mục tiêu chung.

    Hay nói một cách đơn giản, tổ chức là sự liên kết của nhiều người theo một cách thức nhất định và có cùng mục đích chung.

    * Tổ chức với tư cách là một hoạt động (hay là chức năng tổ chức)

    Chức năng tổ chức là một trong những chức năng quan trọng của quy trình quản lý. Mục đích của chức năng tổ chức là nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời số lượng và chất lượng nhân lực, phối hợp các nỗ lực thông qua việc thiết kế một cơ cấu tổ chức hợp lý và các mối quan hệ quyền lực. Nội dung cơ bản của chức năng tổ chức là thiết kế bộ máy, phân công công việc và giao quyền.

    Chức năng tổ chức hướng đến việc phân chia những nhiệm vụ chung thành những công việc cụ thể cho từng bộ phận với những quyền hạn tương ứng. Với những hàm nghĩa này, chúng ta có thể hiểu chức năng tổ chức là sự phân chia các nhiệm vụ thành những công việc, trao quyền hạn, xác định những nguyên tắc thích hợp cho các bộ phận và quyết định quy mô thích hợp cho từng bộ phận.

    Với ý nghĩa như trên, chúng ta hiểu tổ chức là quy trình thiết kế bộ máy, sắp xếp, bố trí, sử dụng và phát triển các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chung.

    Từ định nghĩa này, có thể thấy những hoạt động cơ bản của chức năng tổ chức bao gồm:

    – Xác định những nhiệm vụ thực hiện để đạt đựơc mục tiêu chung

    – Nhóm gộp các hoạt động này thành những bộ phận

    – Phân công người phụ trách các bộ phận và công việc của từng bộ phận đó

    – Giao phó quyền hạn tương ứng để thực hiện nhiệm vụ

    – Xác lập cơ chế cho sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận, và trong việc phối hợp quyền hạn và thông tin, theo cả chiều ngang và chiều dọc của cơ cấu tổ chức (thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức).

    Như vậy, bản chất của chức năng tổ chức là thực hiện sự phân công lao động hợp lý (cả lao động quản lý và lao động cụ thể) để phát huy cao nhất khả năng của nguồn nhân lực nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu chung. Vì thế, tổ chức là một công việc chuyên môn vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.

    2. Vai trò của chức năng tổ chức

    Nếu như tầm quan trọng của công tác lập kế hoạch được thể hiện ở việc xác định mục tiêu và phương án hành động thì chức năng tổ chức thể hiện tầm quan trọng của nó ở việc biến những mục tiêu thành hiện thực. Sẽ không sai khi nói rằng chức năng tổ chức là nhân tố quyết định sự thành bại của mọi tổ chức. Tất cả các quyết định quản lý, kế hoạch, hoạt động lãnh đạo và kiểm tra sẽ không trở thành hiện thực nếu không biết tổ chức thực hiện một cách khoa học. Vai trò của chức năng tổ chức thể hiện ra ở những phương diện cơ bản sau:

    Thực hiện tốt chức năng tổ chức trong việc xây dựng bộ máy sẽ đảm bảo được nề nếp, nhịp nhàng trong phối hợp giữa các bộ phận, đảm bảo tính kỷ luật và phát huy được sở trường của mỗi cá nhân và mỗi bộ phận trong tổ chức. Ngược lại, khi bộ máy tổ chức không được thiết kế phù hợp có thể làm cho các hoạt động của tổ chức kém hiệu quả và gặp nhiều khó khăn.

    Đồng thời, trong việc phân công công việc, nếu bố trí, sắp xếp sai nhân lực sẽ lãng phí nguồn lực của tổ chức (nhân lực, vật lực, tài lực.v.v), đánh mất cơ hội, làm cho tổ chức bị suy yếu.

    – Xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý cùng với cơ chế vận hành, phối hợp giữa các bộ phận. Từ đó, có thể nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm tối đa sự lãng phí trong việc vận hành hoạt động của bộ máy tổ chức.

    – Nhằm phát huy cao nhất các tiềm năng và khả năng của từng thành viên

    Việc phân công chính xác con người và công việc sẽ phát huy được cao nhất tiềm năng của mỗi người.

    – Phối hợp các sức mạnh riêng lẻ thành một hợp lực

    Tổ chức tạo ra sự thống nhất, sự hợp tác (bộ phận, cá nhân với nhau, giữa các nguồn lực, các mục tiêu) tạo nên tính trội của hệ thống. Nhờ có công tác tổ chức mà các hoạt động của các bộ phận khác nhau không bị chồng chéo lên nhau, và xác định được mối liên hệ và kết hợp giữa các bộ phận đó trong quá trình thực hiện mục tiêu.

    Thông qua chức năng tổ chức, chủ thể quản lý sẽ liên kết hoạt động của các cá nhân, bộ phận và các hoạt động thành một thể thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức hiệu quả hơn.

    – Đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý.

    Thông qua quá trình phân công công việc và xác định mối quan hệ trong công việc giữa các bộ phận (Cơ chế) sẽ làm cho hiệu lực của các quyết định quản lý được nâng cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lại Bàn Về Vai Trò Của Nhà Nước
  • Kế Toán Tổng Hợp Thực Hành: Các Ví Dụ Về Kế Toán Sản Xuất Tính Giá Thành Trong Các Loại Hình Doanh Nghiệp (Phần 2)
  • Các Kiểu Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp:
  • Bảo Vệ Dân Phố, Dân Phòng Sẽ Có Tên Gọi Mới
  • Chi Bộ Tổ Dân Phố Số 6 Phường Việt Hưng Làm Tốt Công Tác Xây Dựng Đảng, Hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ Năm 2021
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Quản Trị Nhân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Trị Nhân Sự Là Gì? Vai Trò Của Quản Trị Nhân Sự Là Gì?
  • Vai Trò Của Quản Trị Nhân Sự Trong Thời Đại 4.0
  • Quản Trị Sản Xuất Và Dịch Vụ
  • Bộ Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Quản Trị Sản Xuất Và Dịch Vụ
  • Tài Liệu Giáo Trình Quản Trị Sản Xuất
  • Nhân sự là một trong các nguồn lực quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Vì vậy vấn đề nhân sự luôn được quan tâm hàng đầu.

    Có rất nhiều cách phát biểu khác nhau về quản trị nhân sự:

    Còn giáo sư Felix Migro thì cho rằng: “Quản trị nhân sự là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt mức tối đa có thể”.

    Quản trị nhân sự là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật vì quản trị nhân sự là một lĩnh vực gắn bó nhiều đến văn hoá tổ chức và chứa đựng nhiều giá trị nhân văn hơn bất cứ một lĩnh vực quản trị nào khác.

    Yếu tố giúp ta nhận biết được một xí nghiệp hoạt động tốt hay không hoạt động tốt, thành công hay không thành công chính là lực lượng nhân sự của nó- những con người cụ thể với lòng nhiệt tình và óc sáng kiến. Mọi thứ còn lại như: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể. Vì vậy có thể khẳng định rằng quản trị nhân sự có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp .

    Trong doanh nghiệp quản trị nhân sự thuộc chức năng chính của nhà quản trị, giúp nhà quản trị đạt được mục đích thông qua nỗ lực của người khác. Các nhà quản trị có vai trò đề ra các chính sách, đường lối, chủ trương có tính chất định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp do đó nhà quản trị phải là người biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao. Người thực hiện các đường lối chính sách mà nhà quản trị đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên, vì vậy cho nên có thể nói rằng: “mọi quản trị suy cho cùng cũng là quản trị con người”.

    Quản trị nhân sự góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động. Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh tế nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho người lao động hưởng thành quả do họ làm ra.

    Quản trị nhân sự gắn liền với mọi tổ chức, bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân sự. Quản trị nhân sự là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức. Quản trị nhân sự hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ cấp quản trị nào cũng có nhân viên dưới quyền vì thế đều phải có quản trị nhân sự. Cung cách quản trị nhân sự tạo ra bầu không khí văn hoá cho một doanh nghiệp . Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp .

    Quản trị nhân sự có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, nó là hoạt động bề sâu chìm bên trong doanh nghiệp nhưng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp .

    Quản trị nhân sự là một hoạt động của quản trị doanh nghiệp, là quá trình tổ chức nguồn lao động cho doanh nghiệp, là phân bố sử dụng nguồn lao động một cách khoa học và có hiệu quả trên cơ sở phân tích công việc, bố trí lao động hợp lý, trên cơ sở xác định nhu cầu lao động để tiến hành tuyển dụng nhân sự, đào tạo và phát triển nhân sự, đánh giá nhân sự thông qua việc thực hiện.

    Nội dung của quản trị nhân sự có thể khái quát theo sơ đồ sau

    Sơ đồ 1: Nội dung chủ yếu của quản trị nhân sự

    Thuyết X: Thuyết con người kinh tế (Taylor, Gant, Ghinbert, Fayol…).

    Thuyết này cho rằng: bản chất của con người là lười biếng, máy móc, vô tổ chức. Con người chỉ làm việc cầm chừng để kiếm sống và luôn tránh né công việc, chỉ thích vật chất không cần giao lưu bạn bè hội nhóm. Vì vậy cách giải quyết hợp lý nhất là phân chia công việc thành các thao tác lặp đi lặp lại để dễ học. Ngoài ra các nhà quản lý phải thường xuyên giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện của các nhân viên thừa hành. Sử dụng hệ thống có tôn ty trật tự rõ ràng và một chế độ khen thưởng, trừng phạt nghiêm khắc. Với phong cách quản lý này sẽ làm cho nhân viên cảm thấy lo lắng và sợ hãi. Họ chấp nhận cả các công việc nặng nhọc vì lương cao và người chủ hà khắc. Trong điều kiện như thế người lao động sẽ cảm thấy mệt mỏi, tổn hại đến sức khoẻ và tinh thần, thiếu đi óc sáng tạo trong quá trình hoàn thành công việc được giao. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp .

    Thuyết Y: Thuyết con người xã hội (Gregor, Maslow, Likest).

    Thuyết này đánh giá tiềm ẩn trong con người là những khả năng rất lớn cần được khơi gợi và khai thác. Con người ở bất kỳ cương vị nào cũng có tinh thần trách nhiệm cao và làm việc hết sức để hoàn thành các công việc được giao. Ai cũng thấy mình có ích và được tôn trọng, được chia sẻ trách nhiệm, được tự khẳng định mình. Từ cách nhìn nhận và đánh giá này thì phương pháp quản lý được áp dụng là thông qua sự tự giác, tạo điều kiện thuận lợi để nhân viên chủ động làm việc và kiểm tra công việc của mình. Nhà quản lý phải tin tưởng chủ động lôi cuốn nhân vào công việc, có quan hệ hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa cấp trên và cấp dưới. Với phong cách quản lý này người nhân viên tự thấy mình quan trọng và có vai trò trong tập thể càng có trách nhiệm hơn với công việc được giao phó. Tự nguyện tự giác làm việc, tận dụng khai thác triệt để tiềm năng của bản thân để hoàn thành công việc một cách tốt nhất.

    Thuyết Z: Của các xí nghiệp Nhật Bản.

    Thuyết này cho rằng người lao động sung sướng là chìa khoá dẫn tới năng suất lao động cao. Sự tin tưởng tuyệt đối vào người lao động, sự tế nhị trong cư xử và phối hợp chặt chẽ trong tập thể là các yếu tố quyết định đến sự thành công của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp. Theo thuyết này các nhà quản lý quan tâm đến nhân viên của mình, tạo điều kiện cho họ được học hành, phân chia quyền lợi thích đáng công bằng. Phương pháp này làm cho nhân viên cảm thấy tin tưởng và trung thành với doanh nghiệp, coi doanh nghiệp như nhà của mình. Nhưng đôi khi phong cách quản lý này lại tạo cho nhân viên trở nên ỷ lại, thụ động trong công việc đôi khi ảnh hưởng tới tiến độ hoạt động của doanh nghiệp.

    Khái niệm

    Hiệu quả quản trị nhân sự của doanh nghiệp là hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu về nhân sự mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí để có được kết quả đó.

    Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị nhân sự

    Hiệu quả quản trị nhân sự của doanh nghiệp được đánh giá thông qua một hoặc một số chỉ tiêu nhất định, những chỉ tiêu hiệu quả này phụ thuộc chặt chẽ vào các mục tiêu hoạt động của các chủ thể hiệu quả.

    Cũng như các hoạt động kinh tế, trong hoạt động quản trị nhân sự, doanh nghiệp thường đặt ra các mục tiêu cụ thể về hoạt động nhân sự. Các mục tiêu đó thường là các mục tiêu sau đây:

    • Chi phí cho lao động nhỏ nhất
    • Giá trị ( lợi nhuận ) do người lao động tạo ra lớn nhất
    • Đạt được sự ổn định nội bộ, tạo việc làm đầy đủ cho người lao động và không có tình trạng dư thừa lao động.
    • Người lao động làm đúng ngành nghề đã được học của mình.
    • Nâng cao chất lượng lao động.
    • Tăng thu nhập của người lao động.
    • Đảm bảo công bằng giữa những người lao động.
    • Đảm bảo sự đồng thụân của người lao động.
    • Thái độ chấp hành và trung thành của người lao động đối với doanh nghiệp.

    Các mục tiêu trên có thể quy tụ thành các mục tiêu cơ bản, quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp đó là đảm bảo nguồn nhân sự có chất lượng, trình độ để thực hiện công việc và có thái độ chấp hành, trung thành với doanh nghiệp đồng thời đạt được sự ổn định nhân sự. Với mục tiêu đó thì các tiêu chí để đánh giá hiệu quả quản trị nhân sự là nguồn nhân sự có chất lượng, trình độ và đạt được sự ổn định trong giai đoạn đề ra các mục tiêu đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Và Phân Tích Ý Nghĩa, Vai Trò, Chức Năng, Nguyên Nhân Và Hậu Quả Gây Ô Nhiễm Tài Nguyên Rừng
  • Đề Tài Phân Tích Ý Nghĩa, Vai Trò, Chức Năng, Nguyên Nhân Và Hậu Quả Gây Ô Nhiễm Tài Nguyên Rừng
  • Khái Niệm Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Quỹ Đầu Tư Được Điều Hành Và Hoạt Động Thế Nào?
  • Tìm Hiểu Về Chức Năng Và Hoạt Động Của Quỹ Đầu Tư
  • Hệ Điều Hành Là Gì? Tổng Quan Về Khái Niệm Và Vai Trò Của Hệ Điều Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Các Phím F1
  • Tin Học 12 Bài 10: Cơ Sở Dữ Liệu Quan Hệ
  • Trắc Nghiệm Tin Học 12 Bài 2 (Có Đáp Án): Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu.
  • Nhiều Bất Cập Trong Hoạt Động Hđnd Cấp Huyện, Cấp Xã
  • Chức Năng Giám Sát Của Hđnd Cấp Xã
  • Hệ điều hành là gì?

    Hệ điều hành là một phần mềm chạy trên máy tính và các thiết bị di động, dùng để điều hành, quản lý các thiết bị phần cứng và các tài nguyên phần mềm trên máy tính, các thiết bị di động.

    Hệ điều hành đóng vai trò quan trọng, cung cấp một môi trường mà người sử dụng có thể phát triển và thực hiện các ứng dụng một cách dễ dàng. Hay nói cách khác, hệ điều hành chính là “sợi dây” trung gian trong việc giao tiếp giữa người sử dụng và phần cứng của máy.

    Hệ điều hành giữ chức năng gì?

    Với 4 chức năng chính mà hệ điều hành nào cũng phải đáp ứng: quản lý bộ nhớ, quản lý thiết bị, quản lý CPU và quản lý hệ thống tập tin. Ngoài ra, sẽ còn thêm các chức năng khác đối với các hệ điều hành mạng. Không chỉ phải đảm bảo nhiệm vụ của mình, mà các chức năng này luôn tồn tại song hành, kết hợp hài hoà với nhau trong mọi hoạt động.

    Quản lý bộ nhớ: nhiệm vụ chính là giám sát, theo dõi, quản lý và điều hành bộ nhớ chính. Với mỗi yêu cầu cung cấp bộ nhớ, chức năng này sẽ kiểm tra tính hợp lệ của thông điệp được gửi đến. Nếu phù hợp, nó sẽ cung cấp một vùng bộ nhớ trống hiện tại. Chức năng này cũng làm nhiệm vụ thu hồi vùng nhớ đã cấp phát.

    Quản lý CPU: Làm nhiệm vụ cấp phát quyền sử dụng CPU cũng như ghi lại trạng thái thực thi của mỗi chương trình. Nếu một tác vụ nào đó thực hiện quá giới hạn thời gian cho phép sẽ bắt buộc nhường CPU cho tác vụ khác. Sau đó, bộ quản lý sẽ phục hồi lại tác vụ cũ nhờ vào thông tin trạng thái đã lưu trước đó.

    Quản lý thiết bị: Cấp phát và thu hồi quyền truy xuất đến các thiết bị như máy in, màn hình, bàn phím, …

    Quản lý hệ thống tập tin: Cho phép lưu trữ cũng như truy xuất các tập tin.

    Quản lý mạng: Quản lý việc chia sẻ tài nguyên giữa những người dùng trong hệ thống. Đồng thời cung cấp các dịch vụ mạng như truyền gói tin, thông điệp, …

    Hệ điều hành Windows

    Ra đời vào năm 1985, hệ điều hành Windows của Microsoft cho đến thời điểm hiện tại đã trở thành là hệ điều hành được sử dụng phổ biến nhất trên máy vi tính với gần 90% thị phần. Vì thị phần của Windows lớn như vậy nên phần mềm ứng dụng được phát triển để chạy trên Windows cũng nhiều hơn bất kỳ hệ điều hành nào khác.

    Một số đặc trưng chung của Windows là:

    Hệ thống giao diện dựa trên cơ sở trình đơn (menu) với các biểu tượng kết hợp giữa đồ họa và văn bản giải thích.

    Đảm bảo sự ổn định trong khả năng làm việc với bất kỳ môi trường mạng.

    Hệ điều hành Mac OS

    Mac OS đặc biệt được thiết kế bởi hãng Apple và dành riêng cho máy tính Macintosh, do được thiết kế để chạy với máy vi tính của Apple nên Mac OS không được sử dụng rộng rãi như hệ điều hành Windows. Vì vậy, có rất ít chương trình ứng dụng được viết cho nó.

    Ở thời điểm hiện tại, thì dòng hệ điều hành cũng như hãng máy này được sử dụng rộng rãi hơn. Và được đánh giá là một trong những hệ điều hành sáng tạo và thông minh nhất.

    hệ điều hành Mac OS được sử dụng rộng rãi, dễ sử dụng và có nhiều tính năng đa dạng phù hợp đối với tất cả các đối tượng sử dụng.

    Hệ điều hành UNIX

    hệ điều hành UNIX do Ke Thompson và Dennis Ritchie thuộc phòng thí nghiệm Bell của hãng AT&T xây dựng vào những năm 1970.

    Một số nét đặc trưng của UNIX là:

    Đây là hệ điều hành đa nhiệm được nhiều người dùng.

    Hệ thống quản lý tập tin đơn giản và khá hiệu quả.

    Có một hệ thống phong phú các module và chương trình tiện ích hệ thống.

    Hệ điều hành LINUX

    Trên cơ sở của UNIX, năm 1991 Linus Torvalds người Phần Lan, khi còn là sinh viên đã phát triển một hệ điều hành mới cho máy tính cá nhân gọi là Linux. hệ điều hành Linux có tính mở rất cao:

    Cung cấp cả chương trình nguồn của toàn bộ hệ thống, tức là mọi người có thể sửa đổi, bổ sung, nâng cấp và sử dụng mà không bị vi phạm quyền tác giả. hệ điều hành này không thể có một công cụ cài đặt nào mang tính thống nhất được do đây là hệ điều hành có tính mở. Mặt khác, còn ít các phần mềm ứng dụng chạy trên Linux so với Windows nên việc sử dụng Linux còn bị hạn chế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Một Hệ Điều Hành Là Gì? / Công Nghệ
  • Driver Là Gì? Có Bao Nhiêu Loại Driver Dùng Trên Máy Tính ?
  • Ô Tô Có Bao Nhiêu Chi Tiết? Chức Năng Chính Của Từng Bộ Phận
  • Phần Mở Rộng File Là Gì?
  • Giáo Án Nghề Thvp Giao An Nghe 20102011 Doc
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Thị Trường Xuất Khẩu Với Doanh Nghiệp Xuất Khẩu

    --- Bài mới hơn ---

  • X Là Một Học Sinh Học Giỏi, Nhưng Gia Đình Lại Khó Khăn Nên X Phải Phụ Giúp Gia Đình Kiếm Thêm Thu Nhập. Hiện Nay, Do Trời Mưa Nhiều Nên X Có Ý Định Bán Áo Mưa, Song X Không Biết Lựa Chọn Loại Áo Mưa Nào Cho Phù Hợp Với Người Tiêu Dùng. Nếu Em Là X Trong Tình Huống Đó, Em Sẽ Vận Dụng Chức Năng Nào Của Thị Trường Để Ra Quyết Định Cho Công Việc Buôn Bán Của Mình Được Thuận Lợi?
  • Ngk Việt Nam Giúp Người Tiêu Dùng Mua Hàng Chính Hãng
  • Của Thị Trường Quan Trọng Như Thế Nào Đối Với Người Bán?
  • Vai Trò Của Marketing Là Gì? Marketing Quan Trọng Như Thế Nào?
  • Thị Trường Thực Phẩm Chức Năng Việt Nam Như Thế Nào?
  • Nói đến thị trường là ta hình dung ra đó là nơi xảy ra các hoạt động kinh doanh. “Thị trường ” chính là một phạm trù của kinh tế hàng hoá ra đời. Thuật ngữ ” thị trường ” được rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế định nghĩa. Song cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào mang tính khái quát thống nhất và trọn vẹn. Vì trong mỗi thời kì phát triển, trên mỗi khía cạnh, lĩnh vực thị trường lại được định nghĩa một cách khác nhau.

    Theo trường phái Cổ điển thì: Thị trường là nơi diễn ra các trao đổi, mua bán hàng hoá. Theo định nghĩa này thì thị trường được ví như “một cái chợ ” có đầy đủ không gian và thời gian, dung lượng cụ thể, xong nó chỉ phù hợp với thời kì sản xuất chưa phát triển các hình thức mua bán trao đổi còn đơn giản. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển tới trình độ cao, các hình thức mua bán trao đổi trở lên phức tạp đa dạng phong phú thì khái niệm này không còn phù hợp. Theo khái niệm hiện đại (P.A SAMUELSON ) th ì “Thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá. Như vậy thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hoá, lưu thông tiền tệ, các giao dịch mua bán và các dịch vụ. Khái niệm này đã ” lột tả” được bản chất của thị trường trong thời kỳ phát triển này, song khái niệm này mới chỉ đứng trên khía cạnh của nhà phân tích kinh tế nói về thị trường chưa giúp cho doanh nghiệp xác định được mục tiêu của mình.

    Theo MC CARTHY: Thị trường có thể hiểu là một nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự (giống nhau) và những người bán đưa ra sản phẩm khác nhau với cách thức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó. Khái niệm này không những nói lên được bản chất của thị trường mà còn giúp cho doanh nghiệp xác định được mục tiêu, phương hướng kinh doanh của mình: Đó là hướng tới khách hàng, mục tiêu tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng để đạt được lợi nhuận tối đa.

    Trên cơ sở khái niệm MC Carthy thị trường của xuất khẩu của doanh nghiệp được định nghĩa như sau: Thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nước ngoài tiềm năng của doanh nghiệp tức là những khách hàng nước ngoài đang mua hoặc sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp ấy.

    Qua khái niệm này doanh nghiệp không chỉ xác định được mục tiêu của doanh nghiệp là hướng tới khách hàng với nhu cầu đặc trưng của họ mà còn xác định rõ nhu cầu, cơ cấu nhu cầu đó mang đặc tính cơ bản của thị trường quốc tế, bị chi phối bởi tập quán văn hoá, ngôn ngữ lối sống, điều kiện tự nhiên của các nước đó…

    Nói tóm lại:Thị trường chính là nơi giúp cho doanh nghiệp “người bán” xác định được.

    + Sản xuất kinh doanh cái gì?.

    + Cho đối tượng khách hàng nào?.

    + Và sản xuất kinh doanh như thế nào?.

    Còn giúp người tiêu dùng ( người mua )biết được:

    + Ai sẽ đáp ứng nhu cầu của mình?.

    + Nhu cầu được thoả mãn đến mức nào?.

    + Khả năng thanh toán ra sao?.

    Đối với các doanh nghiệp thì việc xác định các yếu tố của thị trường cũng rất cần thiết. Điều đó giúp cho doanh nghiệp hiểu hơn về mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố đó và đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp.

    Các yếu tố của thị trường gồm cung, cầu và giá cả thị trường.

    Tổng hợp các nhu cầu của khách hàng tạo nên cầu của hàng hoá. Đối với các doanh nghiệp thì nhu cầu đòi hỏi phải cụ thể hơn đó là các nhu cầu có khả năng thanh toán và đặc biệt là các nhu cầu về các mặt hàng của doanh nghiệp đã, sẽ và có khả năng kinh doanh. Đối với thị trường nước ngoài thì nhu cầu có khả năng thanh toán là khác nhau giữa các nước phát triển khác nhau. Đối với các nước phát triển thì thu nhập của người dân rất cao, mạng lưới phân phối khá hoàn chỉnh do vậy đối với hàng hoá thông thường, nhất là nhu cầu yếu phẩm thì nhu cầu và nhu cầu có khả năng thanh toán là tương đương nhau. Nhưng đối với các nước kém phát triển thì hai loại nhu cầu có sự khác biệt rất lớn đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu và điều tra kỹ lưỡng.

    Tổng hợp các nguồn cung ứng sản phẩm cho khách hàng trên thị trường tạo nên cung hàng hoá. Hay chính xác hơn đó chính là doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì đối thủ cạnh tranh không phải chỉ là doanh nghiệp trong nước mà quan trọng hơn là các doanh nghiệp quốc tế với đủ loại hình kinh doanh khác nhau.

    Sự tương tác giữa cung và cầu (tương tác giữa người mua và người bán, người bán và người bán, người mua và người mua) hình thành giá cả thị trường. Giá cả thị trường là đại lượng biến động do sự tương tác của cung và cầu trên thị trường của một loại hàng hoá ở địa điểm và thời điểm cụ thể. Nhưng ở thị trường xuất khẩu thì giá cả không chỉ bị chi phối của cung và cầu mà còn bị chi phối bởi hai yếu tố nữa đó là sự tác động của địa phương (chính phủ các nước) và tỷ giá hối đoái, hai yếu tố này có tác động mạnh và chi phối lớn đến giá cả hàng hoá. Vì vậy điều đầu tiên đối với doanh nghiệp khi nghiên cứu giá cần xem xét đến hai yếu tố này.

    Một yếu tố nữa của thị trường đó là cạnh tranh yếu tố này chỉ xuất hiện một cách rõ nét khi kinh tế hàng hoá phát triển với mức độ cao. Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp trong cùng một ngành hoặc có những sản phẩm có khả năng thay thế loại hàng hoá của doanh nghiệp trên cùng một thị trường và trong cùng một thời kỳ. Đối với thị trường xuất khẩu thì đối thủ cạnh tranh không chỉ hiểu là các doanh nghiệp trong nội địa (có ưu thế khuyến khích dùng hàng nội địa), mà còn là các đối thủ nước ngoài với nguồn lực mạnh và các chiến lược cạnh tranh nổi trội hơn.

    Tìm hiểu và nắm, biết cách điều phối yếu tố thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp chinh phục được thị trường và đạt được hiệu quả kinh doanh như mong muốn.

    Thị trường có 4 chức năng cơ bản, trên cơ sở hiểu rõ được 4 chức năng này sẽ giúp cho doanh nghiệp khai thác được tối đa những lợi ích cần khai thác được tốt.

    Chức năng thừa nhận:

    Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán trong quá trình trao đổi hàng hoá. Người bán (doanh nghiệp ) đưa hàng hoá của mình vào thị trường với mong muốn là bán được để bù đắp chi phí và thu được lợi nhuận. Người mua tìm đến thị trường để mua hàng hoá đúng với công dụng, hợp thị hiếu và có khả năng thanh toán theo đúng mong muốn của mình. Trong quá trình trao đổi đó nếu hàng hoá không phù hợp với khả năng thanh toán hoặc không phù hợp với công dụng thị hiếu người tiêu dùng hàng hoá sẽ không bán được tức là không được thị trường thừa nhận và ngược lại sẽ được thừa nhận. Để được thừa nhận trên thị trường quốc tế doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường để hiểu được nhu cầu của khách hàng, hàng hoá của doanh nghiệp phải phù hợp nhu cầu (phù hợp về số lượng, chất lượng sự đồng bộ qui cách, cỡ loại, màu sắc, giá cả, thời gian, địa điểm…) của khách hàng.

    Chức năng thực hiện:

    Trên thị trường người bán thì cần tiền, người mua cần hàng. Sự trao đổi giữa hai bên mua và bán phải được thực hiện thông qua giá trị trao đổi giá hàng bằng tiền hoặc bằng vàng hoặc bằng những chứng từ có giá trị khác. Chức năng này đối với doanh nghiệp rất quan trọng là yếu tố quyết định đến thu nhập của doanh nghiệp. Để tiêu thụ được hàng doanh nghiệp không chỉ đưa ra được mức giá hợp lý ( thu được lợi nhuận ) mà doanh nghiệp phải xem xét đến tỉ giá hối đoái, chính sách của chính phủ và các yếu tố ảnh hưởng đến giá, khả năng thanh toán của khách hàng trên thị trường đó để đảm bảo chức năng này của thị trường được thực hiện.

    Chức năng điều tiết và kích thích:

    Thông qua sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, thị trường điều tiết và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển. Với điều kiện quan hệ quốc tế ổn định và thuận lợi hàng hoá tiêu thụ nhanh sẽ kích thích doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nhiều hơn. Và ngược lại. Chức năng điều tiết kích thích của thị trường nó điều tiết sự ra nhập hoặc rút ra khỏi một số ngành kinh doanh của doanh nghiệp. Nó khuyến khích các nhà kinh doanh giỏi và điều chỉnh theo hướng đầu tư kinh doanh có lợi, các mặt hàng mới có chất lượng cao có khả năng bán với khối lượng lớn.

    Chức năng thông tin:

    Theo PA SAMUELSON nói thì thị trường chính là nơi giúp doanh nghiệp quyết định 3 vấn đề kinh tế cơ bản của mình đó là: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và phân phối cho ai?. Tại sao thị trường lại giúp doanh nghiệp quyết định được là bởi vì thị trường chính là nơi cung cấp thông tin cho doanh nghiệp. Thị trường chứa đựng các thông tin về tổng số cung cầu và cơ cấu cung cầu quan hệ cung cầu của từng loại hàng hoá và chi phí giá cả thị trường…

    Tuy vậy không phải bất cứ thông tin nào của thị trường đều đúng đắn. doanh nghiệp phải biết chắt lọc các thông tin của thị trường để đưa ra các quyết định đúng đắn nhất cho kế hoạch kinh doanh của mình.

    Vai trò của thị trường: Xuất khẩu đó chính là sự trao đổi mua bán hàng hoá với các nước (ngoài biên giới). Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt với các quốc gia khác nhau. Thị trường xuất khẩu không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, người tiêu dùng và nó có đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà nước trong thời kỳ “mở cửa”.

    Đối với nhà nước:

    – Xuất khẩu giúp cho nước đó phát huy được lợi thế so sánh của đất nước và tăng hiệu quả kinh tế làm cho kinh tế đất nước phát triển và phồn thịnh hơn. Nó khuyến khích kích thích sự phát triển trong nước (do tăng được thị trường tiêu thụ hàng hoá). Nó nâng cao chất lượng hàng hoá trong nước (do sự cạnh tranh toàn cầu hoá cao). Xuất khẩu còn tạo sự gắn kết quan hệ phụ thuộc tương hỗ giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước cùng phát triển. Thông qua kinh doanh xuất khẩu sẽ phát huy, sử dụng tốt được nguồn lao động và tài nguyên của đất nước, góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ trong nước, tạo vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp trong nước.

    Để phát triển xuất khẩu thì tất yếu doanh nghiệp phải phát triển thị trường xuất khẩu. Vì vậy phát triển thị trường đối với Nhà nước là yếu tố quan trọng trong sự phồn thịnh của đất nước.

    Đối với người tiêu dùng:

    Thị trường xuất khẩu phát triển sẽ giúp cho kinh tế xã hội phát triển, đời sống nhân dân nâng cao tạo điều kiện cho sức mua lớn. Mặt khác mở rộng thị trường xuất khẩu cho phép người tiêu dùng được tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn đa dạng và phong phú, chi phí tiêu dùng trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn giá trị nhận được khi chưa có thị trường xuất nhập khẩu.

    Đối với doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp xuất nhập khẩu:

    Thị trường xuất khẩu có một vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu nó là nơi sống còn của doanh nghiệp. Thị trường chính là môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, các hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp đều được giải quyết trên thị trường.

    Thị trường chính là nơi cung cấp thông tin kinh doanh cho doanh nghiệp (thông tin về cung, cầu, giá cả, số lượng, chất lượng sản phẩm…) thị trường chính là nơi quyết định được các vấn đề về kinh doanh (sản xuất cái gì? như thế nào? và cho ai?) và thị trường cũng chính là mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp thông qua chức năng thực hiện thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá cho doanh nghiệp và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy chiếm lĩnh được thị trường chính là sự dành lợi nhuận- đó chính là mục tiêu sống còn của doanh nghiệp.

    Như đã nói ở trên muốn thành công trong kinh doanh thì phải hiểu cặn kẽ về thị trường. Để hiểu rõ về thị trường và có thể chiếm lĩnh được thì cần phải phân loại chúng. Có rất nhiều cách phân loại tuỳ từng mục đích kinh doanh khác nhau mà ta có các phân loại khác nhau. Ở bài viết nhỏ này chỉ giới thiệu một số cách phân loại đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Căn cứ vào mức độ xã hội hoá của thị trường:

    – Thị trường địa phương: Là nơi diễn ra các hoạt động mua bán với dung lượng thị trường nhỏ. Và chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán của địa phương đó.

    – Thị trường quốc gia: Là nơi diễn ra hoạt động mua bán giữa những người trong cùng một quốc gia và chịu ảnh hưởng chung bởi các quan hệ kinh tế chính trị trong nước.

    – Thị trường quốc tế: Là nơi diễn ra hoạt động mua bán giữa các quốc gia khác nhau và chịu tác động chung của các thông lệ quốc tế và biến đổi theo từng quốc gia đặc thù.

    Cách phân chia này giúp cho doanh nghiệp hiểu hơn về phong tục tập quán, chính trị, luật pháp của từng thị trường.

    Căn cứ vào phương thức hình thành giá cả thị trường:

    – Thị trường độc quyền: Trên thị trường này giá cả và các quan hệ kinh tế khác do các nhà độc quyền áp đặt, thường là những độc quyền, độc tôn hoặc các liên minh độc quyền.

    – Thị trường cạnh tranh: Đó là thị trường mà ở đó người bán và người mua tham gia với số lượng lớn và không ai có ưu thế để cung ứng hay mua trên thị trường, không ai quyết định giá mà chỉ chấp nhận giá. Các sản phẩm mua bán trên thị trường là đồng nhất không có sự dị biệt.

    – Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp hiểu được bản chất của thị trường để có những phương hướng, kế hoạch kinh doanh thích hợp đặc biệt là các chiến lược cạnh tranh phù hợp với từng đặc tính của thị trường.

    Căn cứ theo khả năng tiêu thụ:

    – Thị trường thực tế: Là thị trường thực tại doanh nghiệp đang tồn tại và chiếm lĩnh (còn gọi là thị trường hiện tại).

    – Thị trường tiềm năng: Là thị trường doanh nghiệp chuẩn bị và có khả năng chiếm lĩnh trong thời gian tới (còn gọi là thị trường tương lai).

    Cách phân chia này giúp cho doanh nghiệp đưa ra được các chiến lược về thị trường một cách đứng đắn về việc mở rộng thị trường hay xâm nhập thị trường.

    Căn cứ vào tỷ trọng hàng hoá:

    – Thị trường chính: Là thị trường mà số lượng hàng hoá bán ra chiếm đại đa số so với tổng khối lượng hàng hoá được đưa ra tiêu thụ của Công ty. Hiện nay thị trường chính của doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam chủ yếu ở 4 khu vực lớn: Châu Á Thài Bình Dương, Tây Bắc Âu, Nam Mỹ, Châu Phi và Tây Nam Á.

    Cách phân chia nàygiúp cho doanh nghiệp đưa ra cách phân phối sản phẩm hàng hoá một cách hợp lý, có phương cách xúc tiến khuyếch trương sản phẩm phù hợp.

    Đó là cách phân chia các loại thị trường. Tuy rằng với cách phân loại này đã giúp cho doanh nghiệp định hình được các đặc điểm thị trường, nhưng nó chưa giúp cho doanh nghiệp xác định được nhu cầu khách hàng một cách cụ thể mà đối với doanh nghiệp muốn phát triển thị trường phải biết và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng do vậy tất yếu doanh nghiệp phải phân nhỏ thị trường theo nhu cầu thị hiếu của khách hàng đó chính là phân đoạn thị trường.

    Phân đoạn thị trường là sự phân chia thị trường thành những bộ phận nhỏ dựa vào phân loại nhu cầu của từng nhóm khách hàng cụ thể. Tất cả các thị trường nhỏ trong tổng thể thị trường đều có điểm đồng nhất giống nhau, xong ở từng đoạn thị trường thì nhu cầu của nhóm khách hàng lại khác nhau do vậy đòi hỏi phân đoạn thị trường phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

    + Nhu cầu và hành vi ứng xử của các cá nhân trong nhóm phải hoàn toàn đồng nhất (giống nhau).

    + Nhu cầu và hành vi ứng xử của các khách hàng thuộc các nhóm khác nhau (phân đoạn thị trường khác nhau) phải có sự khác biệt đủ lớn. Và số lượng khách hàng phải đủ lớn ở mỗi nhóm để đạt hiệu quả khi khai thác cơ hội kinh doanh .

    + Phải lựa chọn chính xác tiêu thức của sự khác biệt giữa các nhóm để xác định được đặc điểm của từng nhóm.

    Đó là yêu cầu của phân đoạn thị trường. Tuỳ từng loại mặt hàng, mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn tiêu thức phân loại phù hợp ví dụ như phân đoạn theo lứa tuổi, theo giới tính, theo thu nhập, theo thị hiếu….

    Tất cả các kiến thức về thị trường đã nói ở trên đều nhằm giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiểu hơn về bản chất qui luật của thị trường xong để tiếp cận và chiếm lĩnh vào thị trường thì doanh nghiệp cần phải phát triển thị trường xuất khẩu của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 2 (Có Đáp Án): Hàng Hóa
  • Tiền Lương Là Gì? Khái Niệm, Chức Năng Tiền Lương
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • 163 Câu Trắc Nghiệm Tài Chính Tiền Tệ
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Quản Trị Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Trị Sản Xuất & Vai Trò, Nhiệm Vụ Của Người Quản Trị Trong Chức Năng Sản Xuất
  • Quản Trị Sản Xuất Và Vai Trò Của Người Quản Trị Sản Xuất Trong Chức Năng Sản Xuất
  • Vai Trò Và Mối Quan Hệ Của Quản Trị Sản Xuất Với Các Chức Năng Quản Trị Chính Khác
  • Vai Trò Của Người Quản Lý Trong Quản Lý Sản Xuất
  • Các Phân Hệ, Chức Năng Của Phần Mềm Quản Lý Sản Xuất (Phần 3)
  • Quản trị nhân sự (quản lý nguồn nhân lực) là một trong những công việc quan trọng không chỉ trong các doanh nghiệp mà còn trong bất kì tổ chức kinh doanh nào.

    Chiến lược con người hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp phát triển mạnh và đồng đều nhiều mặt. Một nhà quản trị không có đủ năng lực cũng như các kiến thức quản trị sẽ khiến doanh nghiệp có nguy cơ làm ăn thua lỗ.

    Vậy quản trị nhân sự là gì và quản trị nhân sự đóng vai trò như thế nào trong các doanh nghiệp?

    Quản trị nhân sự là gì ?

    Quản trị nhân sự là gì ?

    Tầm quan trọng của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp thì không phải ai cũng nắm được. Trong một doanh nghiệp yếu kém và làm ăn thua lỗ, người ta sẽ chỉ rõ ra sự yếu kém trong kỹ năng quản trị nhân sự của nhà quản trị. Nhà quản trị không có sức mạnh sẽ gây ra sự lãng phí nguồn nhân lực và vật lực.

    Mặt khác, việc quản trị nhân sự giúp tạo ra các bản sắc văn hóa riêng của mỗi công ty, doanh nghiệp. Về mặt cơ bản, Quản trị bao gồm các chức năng chính sau :

    + Chức năng hoạch định

    + Chức năng tổ chức

    + Chức năng lãnh đạo

    + Chức năng kiểm tra

    Việc hoạch định giúp thiết lập các mục tiêu và đối tượng của tổ chức doanh nghiệp. Từ đó đưa các biểu đồ công việc phát triển, dựa vào đó có thể thấy đối tượng phát triển như thế nào. Vấn đề tổ chức doanh nghiệp sẽ trở lên quan trọng hơn khi đã có kế hoạch. Trong chức năng hoạch định của quản trị, việc cần làm là kết hợp con người, nguồn vốn và các trang thiết bị sao cho hiệu quả.

    Các công việc chính trong quản trị nhân sự bao gồm :

    1. Phân tích công việc

    2. Tuyển dụng nhân viên

    3. Training chuyên môn cho nhân viên nhằm nâng cao năng lực

    4. Nâng hiệu quả sử dụng lao động

    Các công việc trong quản trị nhân sự

    Vai trò của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp

    Quản lý về đề ra chính sách quản trị tài nguyên nhân sự

    Quản trị nhân sự có vai trò quản lý chính sách tài nguyên nhân sự và đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các chính sách của nhà nước. Bên cạnh đó nhà quản trị còn có thể tự đề ra các chính sách nhân sự trong phạm vi doanh nghiệp.

    Dựa vào các chính sách doanh nghiệp, nhà quản trị sẽ cố vấn cho chủ doanh nghiệp hay người đứng đầu tổ chức giải quyết các vấn đề về con người trong doanh nghiệp.

    Tư vấn nhân sự

    Công việc tư vấn nhân sự của bộ phận quản trị nhân sự

    Trong một doanh nghiệp sẽ có rất nhiều vấn đề phát sinh thường xuyên. Ví dụ như nhân viên bỏ việc, nhân viên vắng mặt hay các vấn đề về tiền lương, phụ cấp. Người phụ trách quản trị nhân sự sẽ phải giải quyết tất cả các vấn đề trên bằng việc tư vấn phương hướng giải quyết cho chủ doanh nghiệp, từ đó dẫn đến vai trò tư vấn nhân sự của người quản trị.

    Giám sát nhân viên

    Đây là một trong những công việc cơ bản của người làm quản trị nhân sự. Từ những chính sách của nhà nước và của riêng doanh nghiệp, nhà quản trị sẽ giám sát và yêu cầu nhân viên thực hiện đúng với các chính sách và chương trình đã đề ra.

    Bên cạnh công việc giám sát, nhà quản trị nhân sự còn phải kiểm tra các thành tích của nhân viên, không bỏ qua các thành tích nhân viên đạt được và phải có chế độ đãi ngộ hợp lý.

    Một công việc nữa cũng khá quan trọng của người làm quản trị nhân sự đó là giải quyết các vấn đề của nhân viên như đơn khiếu nại, tai nạn lao động, kỳ hạn của các hợp đồng, lý do nhân viên vắng mặt, các phương thức kỷ luật đối với nhân viên vi phạm kỷ luật. Toàn bộ các kiểm tra của bộ phận quản trị nhân sự đều phải có văn bản và cuối cùng là báo cáo lên cấp lãnh đạo.

    Với tầm quan trọng của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, không ít các nhà quản trị đã đăng ký theo học các khóa học quản trị nhân sự nhằm nâng cao năng lực quản trị của bản thân, giúp đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn.

    Tham khảo bài viết: Khóa học quản trị nhân sự ngắn hạn tốt nhất hiện nay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu Và Chức Năng Của Quản Trị Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp
  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Trong Quản Lý Ngân Sách Nhà Nước
  • Trách Nhiệm, Quyền Hạn Của Các Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Trong Quản Lý Quỹ Ngân Sách Nhà Nước
  • Công Việc Của Nhân Viên Quản Lý Sản Xuất Là Làm Gì?
  • Chi Tiết Về Quản Lý Sản Xuất
  • Quản Trị Marketing Khái Niệm Và Vai Trò

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Trị Marketing Là Gì? Vai Trò Của Quản Trị Marketing Trong Doanh Nghiệp
  • Quản Trị Marketing Là Gì? Quy Trình Quản Trị Marketing
  • Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Marketing
  • Chiến Lược Marketing Là Gì? 5 Chiến Lược Marketing Hiệu Quả
  • Chiến Lược Cấp Kinh Doanh Và Chiến Lược Cấp Chức Năng
  • Quản trị Marketing là gì?

    Quản trị marketing là quá trình lập kế hoạch, và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối hàng hoá, dịch vụ và ý tưởng để tạo sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thoả mãn những mục tiêu của khách hàng và tổ chức.

    Quản trị Marketing bao gồm 3 giai đoạn chính như sau:

    Cụ thể hơn:

    • Phân tích các cơ hội marketing
    • Nghiên cứu & lựa chọn thị trường mục tiêu
    • Thiết kế chiến lược
    • Họach định các chương trình mkt
    • Tổ chức, thực hiện & kiểm tra nỗ lực mkt

    Đặc điểm của Quản trị Marketing

    • Là quá trình gồm các giai đoạn kế tiếp nhau được tiến hành liên tục
    • Là hoạt động quản trị theo mục tiêu đã đặt ra.
    • Là nhu cầu thị trường và quản trị khách hàng.
    • Bao gồm tất cả các quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác và môi trường bên ngoài.
    • Bao gồm một tập hợp các hoạt động chức năng kết nối các chức năng quản trị khác của doanh nghiệp
    • Yêu cầu phải có đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp và có bộ máy tổ chức quản trị marketing hợp lý.

    Vai Trò Quản Trị Marketing

    Quản trị marketing nhằm xây dựng và duy trì những trao đổi có ích lợi với những người mua mà mình muốn hướng đến, trong mục đích đạt được các mục tiêu được đề ra của tổ chức. Quản Trị Marketing Có những vai trò chính như sau:

    • Tối đa hóa việc tiêu thụ: Công việc của Marketing là tạo những kích thích và ham muốn sự tiêu thụ tối đa, bên cạnh đó sẽ tạo ra sự sản xuất, thuê mướn nhân công và tối đa doanh thu.
    • Tạo sự thỏa mãn cho khách hàng bằng chất lượng và dịch vụ: tạo điều kiện dễ dàng để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng tối đa.
      Tối đa hóa các sự chọn lựa : Đa dạng hóa sản phẩm sẽ kéo theo nhiều sự chọn lựa. Việc tối đa hóa sự chọn lựa của người tiêu dùng sẽ biến thành sự phí tổn , hàng hóa và dịch vụ sẽ đắt hơn vì việc đa dạng hóa quá rộng sẽ đòi hỏi thời đoạn vận hành của sản xuất ngắn hơn và cấp độ phát minh cao hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích 6 Chức Năng Của Marketing Hiện Đại
  • Chức Năng Của Marketing Là Gì? Tìm Hiểu Thêm Về Chức Năng Của Marketing
  • Nghiên Cứu Hoạt Động Marketing 5 Nhóm Sản Phẩm Có Doanh Thu Lớn Nhất Của Công Ty Dược Phẩm Sanofi Aventis Tại Việt Nam Từ 2006 Đến 2009
  • Bản Chất, Nội Dung Và Chức Năng Của Marketing Quốc Tế
  • Chuong 1 Bản Chất Của Marketing
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Marketing Mix Đối Với Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Căn Bản Về Marketing
  • 7 Chức Năng Cơ Bản Của Bao Bì Sản Phẩm
  • Bao Bì Sản Phẩm Là Gì? Chức Năng Của Bao Bì Sản Phẩm?
  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Trong Doanh Nghiệp
  • Vai Trò Của Marketing Trong Doanh Nghiệp
  • Marketing mix (marketing hỗn hợp) là sự phối hợp hay sắp xếp các thành phần của marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh doanh thực tế của mỗi doanh nghiệp nhằm củng cố vững chắc vị trí của doanh nghiệp trên thương trường

    + Đề tài luận văn quản trị marketing

    1. Khái niệm marketing mix

    Marketing-mix là sự phối hợp hay sắp xếp các thành phần của Marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh doanh thực tế của mỗi doanh nghiệp nhằm củng cố vị trí vững chắc của doanh nghiệp trên thương trường. Nếu các thành phần Marketing được phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ thích ứng với tình hình thị trường đang diễn ra thì công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trôi chảy, hạn chế được những rủi ro và do đó, mục tiêu sẽ hài lòng khách hàng và nhờ đó đạt được lợi nhuận tối đa,phát triển kinh doanh bền vững. Những yếu tố trong Marketing-mix bao gồm bốn yếu tố sau đây: (1) chính sách về sản phẩm (Product), (2) chính sách về giá cả (Price), (3) chính sách phân phối (Place) và (4) chính sách xúc tiến thương mại (Promotion).

    1.1 Product (Sản phẩm):

    Là điểm cốt lõi trong việc đáp ứng nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng. Nếu sản phẩm không tốt thì mọi nổ lực của các hình thức tiếp thị khác đều sẽ thất bại.

    Sản phẩm là nền tảng của mọi hoạt động kinh doanh. Các công ty nhắm tới mục đích là làm cho sản phẩm của mình khác biệt và tốt hơn để có thể thu hút và khiến cho thị trường mục tiêu ưu thích sản phẩm để có thể trả giá ở mức cao nhất.

    1.3 Place (Phân phối):

    Là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng qua hai dạng, kênh phân phối trung gian và kênh phân phối trực tiếp, để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp là tiêu thụ sản phẩm và mang lại giá trị lợi ích cho người tiêu dùng. Những địa điểm phù hợp sẽ tạo sự tiện lợi cho khách hàng tiết kiệm được thời gian. Do đó địa điểm càng gần khách hàng thì khả năng khách hàng đến sử dụng dịch vụ càng cao.

    Đối với mỗi doanh nghiệp, việc lựa chọn sản phẩm nào, chính sách giá thế nào cho phù hợp thôi chưa đủ, mà doanh nghiệp còn phải xét đến phương thức đưa sản phẩm đó ra thị trường như thế nào, bằng những kênh phân phối nào. Nội dung cơ bản của chính sách phân phối trong marketing sản phẩm mới là thiết kế và quản lý mạng lưới bán hàng trong giai đoạn đầu doanh nghiệp tung sản phẩm ra thị trường. Mạng lưới bán hàng đó là tập hợp các kênh với sự tham gia của các chủ thể khác nhau có khả năng và uy tín khác nhau để đưa hàng hoá từ doanh nghiệp sản xuất đến các khách hàng một cách thành công.

    Xác định kênh phân phối là một trong những nội dung quan trọng của chính sách phân phối. Việc thiết kế và quản lý kênh phân phối mới của doanh nghiệp cần phù hợp tính chất sản phẩm, dễ dàng tìm mua sản phẩm, đảm bảo tăng doanh số bán và thiết lập mối quan hệ gần gũi giữa các trung gian. Dựa vào sự phân chia phương thức phân phối, ứng với phân phối trực tiếp có kênh 0 (kênh phân phối trực tiếp) và kênh 1, 2, 3 ứng với phân phối gián tiếp là kênh phân phối gián tiếp. Để hiệu quả hóa hoạt động phân phối, doanh nghiệp cần xác định loại hình phân phối phù hợp cho từng giai đoạn. Có 3 chiến lược phân phối chủ yếu được sử dụng, đó là: Phân phối độc quyền, phân phối có chọn lọc, phân phối tập trung.

    1.4 Promotion (xúc tiến thương mại):

    Là tập hợp những hoạt động mang tính chất thông tin hữu ích nhằm gây ấn tượng, kích thích và thuyết phục khả năng mua sản phẩm của người tiêu dùng và tạo uy tín đối với doanh nghiệp.

    • Thúc đẩy bán hàng
    • Tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
    • Truyền đạt thông tin về doanh nghiệp đến người tiêu dùng
    • Là vũ khí cạnh tranh trên thương trường

    Các doanh nghiệp thường sử dụng hai chiến lược kéo và đẩy để tác động đến từng nhóm khách hàng mục tiêu khác nhau. Chiến lược kéo là lôi kéo, khuyến khích khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp mình. Ngược lại, chiến lược đẩy là đẩy hàng hóa ra thị trường thông qua các mạng lưới phân phối.

    Nhà quản trị tài năng là nhà tổ chức, điều hành phối hợp các thành phần marketing trong một chiến lược chung đảm bảo thế chủ động với mọi tình huống diễn biến phức tạp của thị trường. Các thành tố đó là:

    – Chiêu thị /Thông tin marketing (Promotion)

    Marketing – mix còn được gọi là chính sách 4P – do viết tắt 4 chữ đầu các thành tố (đây là quan điểm của giáo sư Jerome McCarthy đưa ra vào những năm 60).

    2. Lịch sử của Marketing mix

    Trong bài báo “Khái niệm về Marketing mix” của mình, Neil Borden đã xây dựng lại lịch sử của thuật ngữ “marketing mix”. Ông bắt đầu giảng dạy vào các học kỳ sau khi người bạn cùng cộng tác, James Culliton, mô tả vai trò của người quản lý marketing vào năm 1948 như một “máy trộn nguyên liệu”, một người đôi khi theo công thức nấu ăn được chuẩn bị bởi những người khác, đôi khi họ chuẩn bị công thức riêng của mình, đôi khi chế biến lại một công thức từ các thành phần có sẵn, và lúc khác thì phát minh ra các thành phần mới mà chưa ai thực hiện.

    Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ làm thuê báo cáo thực tập tại Hà Nội, Tp HCM và các tỉnh thành khác với dịch vụ chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài báo cáo thực tập, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

    3. Vai trò của Marketing Mix

    3.1 Vai trò và ý nghĩa của marketing-mix trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

    Hiểu theo nghĩa rộng, toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động Marketing, từ hình thành ý tưởng sản xuất đến một loại hàng hàng hóa đến triển khai sản xuất và tiêu thụ để hàng hóa đó thực sự được bán trên thị trường.

    Marketing- mix giúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường do nó cung cấp khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường và môi trường bên ngoài.Và chỉ ra cho doanh nghiệp biết được cần phải cung cấp cho thị trường đúng cái thị trường cần, phù hợp với mong muốn và khả năng mua của người tiêu dùng.

    Marketing-mix tạo ra sự kết nối các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với thị trường trong tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất. Marketing cung cấp các hoạt động tìm kiếm thông tin từ thị trường và truyền đạt thông tin từ doanh nghiệp ra thị trường, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ,…

    Marketing-mix giúp tìm kiếm và khám phá ra nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng hiện tại và trong tương lai. Để sáng tạo ra nhiều loại hàng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ để mang đến những lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó của người tiêu dùng. Thậm chí nó còn có thể mang đến những lợi ích vượt quá sự mong đợi của người tiêu dùng. Ví dụ ngày nay tầng lớp trẻ tuổi và năng động họ không phải tốn nhiều thời gian để pha chế các loại nước mắm mà họ yêu thích như trước đây, các loại đó đã được các nhà sản xuất nước mắm hàng đầu trên thị trường như Masanfood nghiên cứu và pha chế sẵn, cung cấp đến tận nơi cho người tiêu dùng ở mọi nơi mọi lúc.

    Marketing-mix giúp tạo điều kiện tốt cho cung cầu gặp nhau qua thông tin hai chiều: Từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng và ngược lại từ người tiêu dùng đến doanh nghiệp. Trên cơ sở xử lý thông tin về thị trường, doanh nghiệp có các họat động nhằm làm cho sản phẩm tiêu dùng được bán nhanh hơn, nhiều hơn giúp củng cố, tạo uy tín và phát triển doanh nghiệp trên thị trường. Đồng thời gia tăng giá trị lợi ích cho người tiêu dùng.

    3.3 Vai trò và ý nghĩa của Marketing-mix đối với xã hội

    Ngày nay Marketing-mix được biết đến không chỉ cung cấp và thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mà nó còn được biết đến với các vai trò quan trọng trong xã hội. Nó có tác dụng như sự cung cấp một mức sống cho xã hội. Khi xem xét toàn bộ hoạt động Marketing của doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng, ngoài yếu tố hiệu quả về mặt kinh tế. Các doanh nghiệp này đang có các hoạt động vì cộng đồng vì mục đích xã hội ví vụ như:

    Bên cạnh yếu tố sản xuất kinh doanh là các vấn đề bảo vệ môi trường và phúc lợi xã hội. Để nâng cao hình ảnh và vị thế của doanh nghiệp lên tầm cao mới.

    Đặc biệt trong tình hình toàn cầu hóa như hiện nay. Vai trò của marketing lại càng được thể hiện quan trọng. Nó giúp cho người tiêu dùng trong nước tiếp cận được các sản phẩm tiêu dùng và dịch vụ của nước ngoài nhanh và hiệu quả nhất. Ngược lại nó cũng thúc đẩy cho các doanh nghiệp trong nước đưa các sản phẩm tiêu dùng của mình để giới thiệu, trao đổi thương mại với bạn bè và khách hàng quốc tế. Góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và quảng bá hình ảnh quốc gia trên thị trường quốc tế.

    4. Video khái niệm marketing mix

    5. Khái niệm chính sách marketing và 4p trong marketing là gì

    Mô hình 4p trong marketing (cũng được biết đến như là mô hình marketing Mix được E J McCarthy nói đến lần đầu tiên vào năm 1960) được những người làm marketing dùng như một công cụ để thực hiện chiến lược marketing. Bộ phận marketing trong cách doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp này để tạo ra phản ứng tối ưu từ thị trường bằng cách “trộn lẫn” 4 yếu tố theo cách tối ưu nhất. Điều quan trọng là cần hiểu là các nguyên tắc của 4p trong marketing là các thành tố có thể kiểm soát được.

    5.1. Khái niệm chính sách marketing- mix

    – Gồm các mục tiêu, các mục đích, các chính sách để đạt được mục tiêu.

    – Gồm các quyết định.

    – Là mục tiêu dài hạn

    – Là mục tiêu ngắn hạn

    – Chỉ ra hướng kinh doanh cho doanh nghiệp.

    – Là hoạt động cụ thể của doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu.

    5.2. Phân tích 4P trong marketing phức hợp

    5.2.1 Product (Sản phẩm)

    Một đối tượng hữu hình hoặc một dịch vụ vô hình đó là khối lượng sản xuất hoặc sản xuất trên quy mô lớn với một khối lượng cụ thể của đơn vị. Sản phẩm vô hình là dịch vụ như ngành du lịch và các ngành công nghiệp khách sạn hoặc mã số các sản phẩm như nạp điện thoại di động và tín dụng. Ví dụ điển hình của một khối lượng sản xuất vật thể hữu hình là những chiếc xe có động cơ và dao cạo dùng một lần. Một khối lượng chưa rõ ràng nhưng phổ biến dịch vụ sản xuất là một hệ thống điều hành máy tính.

    Một số câu hỏi về vấn đề sản phẩm cần phải trả lời:

    • · Khách hàng muốn điều gì từ sản phẩm/dịch vụ của chúng ta? Cần những gì để thỏa mãn điều đó?
    • · Kích cỡ, màu sắc? Tên gọi của sản phẩm?
    • · Làm thế nào để khác biệt chúng với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh?

    5.2.2 Price (Giá cả)

    Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch vụ của nhà cung cấp. Nó được xác định bởi một số yếu tố trong đó có thị phần, cạnh tranh, chi phí nguyên liệu, nhận dạng sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng với sản phẩm. Việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không những vô cùng quan trọng mà còn mang tính thách thức. Nếu đặt giá quá thấp, nhà cung cấp sẽ phải tăng số lượng bán trên đơn vị sản phẩm theo chi phí để có lợi nhuận. Nếu đặt giá quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Quyết định về giá bao gồm điểm giá, giá niêm yết, chiết khấu, thời kỳ thanh toán,…

    Các câu hỏi bạn cần trả lời được:

    • · Có thiết lập mức giá cho sản phẩm/dịch vụ trong khu vực này hay không?
    • · Khách hàng có nhạy cảm với giá hay không? Có cần giảm giá để giành nhiều thị phần phải không? Hay tăng giá khi bạn muốn tăng lợi nhuận biên?
    • · Chiết khấu như thế nào cho những khách hàng thương mại, hay cho từng phân khúc khách hàng cụ thể?
    • · Bạn so sánh giá của mình với đối thủ cạnh tranh như thế nào?

    5.2.3 Place (Phân phối)

    Đại diện cho các địa điểm mà một sản phẩm có thể được mua. Nó thường được gọi là các kênh phân phối. Nó có thể bao gồm bất kỳ cửa hàng vật lý cũng như các cửa hàng ảo trên Internet. Việc cung cấp sản phẩm đến nơi và vào thời điểm mà khách hàng yêu cầu là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của bất kỳ kế hoạch marketing nào.

    Những câu hỏi bạn cần trả lời trong vấn đề kênh phân phối:

    • · Khách hàng có thể tìm thấy sản phẩm/dịch vụ của bạn ở đâu?
    • · Loại cửa hàng nào mà bạn muốn khách hàng bước vào? Cửa hàng hay siêu thị? Trực tuyến? Bán hàng trực tiếp hay qua catalog.
    • · Làm thế nào để bạn thâm nhập được vào kênh phân phối phù hợp?
    • · Bạn có cần một đội ngũ bán hàng hay không? Hay tham gia một hội chợ thương mại? Hay bán hàng trực tuyến? Hay gửi mẫu thử đến cho các công ty mà bạn muốn đặt mối quan hệ?
    • · Đối thủ của bạn làm ai? Và bạn có thể học được gì từ những họ? hay tạo ra sự khác biệt?

    Trong phần Promotion, bạn cần quan tâm những vấn đề như sau:

    • · Ở đâu và khi nào bạn có thể truyền thông điệp marketing của mình đến thị trường mục tiêu?
    • · Thời điểm nào là thích hợp nhất để quảng bá sản phẩm? Có những mùa hoặc những dịp đặc biệt nào trên thị trường? Có bất kỳ vấn đề môi trường nào ảnh hưởng đến thời gian ra mắt sản phẩm, hay giai đoạn quảng bá sản phẩm tiếp theo không?
    • · Đối thủ cạnh tranh đã sử dụng các biện pháp chiêu thị như thế nào? Những biện pháp đó có ảnh hưởng đến hoạt động chiêu thị mà bạn đã chọn không?

    5.3. Kết luận 4p trong marketing

    Như vây 4p trong marketing là một trong những mô hình marketing căn bản và nổi tiếng nhất, nó sẽ giúp bạn xác định những lựa chọn trong marketing về sản phẩm, kênh phân phối, giá cả và tiếp thị nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của nhóm khách hàng mục tiêu mà còn giúp tăng cường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hãy sử dụng nó khi bạn hoạch định một kế hoạch mới, đánh giá mỗi đợt tung sản phẩm, để tối ưu hóa các tác động đến khách hàng mục tiêu, kết quả kinh doanh.

    Đã có nhiều chuyên gia mở rộng mô hình Marketing Hỗn hợp từ 4P lên 5P và chữ P thứ năm thường được nhắc đến là Con người (People). Thậm chí một số chuyên gia còn gợi ý mô hình 7P cho các công ty dịch vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Marketing Du Lịch Là Gì? 10 Phương Pháp Marketing Du Lịch Nổi Bật
  • Định Nghĩa, Mục Đích Của Marketing Du Lịch
  • Marketing Du Lịch Là Gì? 10 Bí Quyết Marketing Du Lịch Hiệu Quả Dựa Trên Khách Hàng
  • Đề Tài Giải Pháp Hỗ Trợ Marketing Tại Công Ty Dược Phẩm, Điểm Cao
  • ✅ Cách Marketing Dược Phẩm 👉chuyên Sâu
  • Ngân Sách Địa Phương Là Gì? Khái Niệm Và Vai Trò Của Ngân Sách Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Thuốc Giải Độc Gan Của Nhật Tốt Nhất 2021 Cho Người Gan Yếu, Rượu Bia
  • Top 10 Thực Phẩm Chức Năng Nhật Nổi Tiếng Tốt Hiệu Quả Nhất 2021
  • Top Thuốc Bổ Gan& Giải Độc Gan Của Nhật 2021 Đang Hot
  • Thực Phẩm Chức Năng Của Úc
  • Swisse Liver Detox Thực Phẩm Chức Năng Viên Uống Bổ Gan, Thải Độc 120 Viên Của Úc
  • Ngân sách địa phương là gì?

    Ngân sách địa phương là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi tiêu của chính quyền địa phương. Ngân sách địa phương là nguồn lực để chính quyền địa phương thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chi phối, điều chỉnh các hoạt động khác của xã hội, cùng với NSTW góp phần phát triển kinh tế của cả nước.

    Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ NSTW cho NSĐP và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương [60]

    Bản chất của Ngân sách địa phương là các mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa chính quyền địa phương với chính quyền trung ương, giữa chính quyền địa phương với các chủ thể khác như tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước và các cấp chính quyền địa phương với nhau trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ NSĐP.

    Vai trò của Ngân sách địa phương

    Chính quyền địa phương sử dụng Ngân sách địa phương trước hết là để duy trì bộ máy của chính quyền địa phương, để thực hiện các nhiệm vụ được giao phó.

    Ngân sách địa phương có những vai trò sau:

    Vai trò 1: Duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương

    Bộ máy chính quyền địa phương muốn tồn tại và hoạt động cần phải có nguồn tài chính đảm bảo. Thông qua thu NSĐP sẽ tạo lập được quỹ NSĐP để đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhu cầu chi tiêu của chính quyền địa phương mà trước hết là nuôi bộ máy chính quyền địa phương. Nguồn thu của NSĐP trước hết được sử dụng để bảo đảm các chi phí hoạt động thường xuyên cho chính quyền địa phương (chi lương, phụ cấp, hội nghị, hoạt động nghiệp vụ,…) sau đó mới sử dụng để đầu tư phát triển,..

    Vai trò 2: Đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền địa phương

    Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương. Nhiệm vụ của chính quyền địa phương sẽ được cụ thể hóa trong từng thời kỳ. NS trung ương tập trung các khoản thu lớn để đảm bảo các nhiệm vụ chi mang tính huyết mạch của cả nước, còn Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý. NS của cấp nào sẽ được sử dụng để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của cấp đó. Trong trường hợp chính quyền địa phương thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên thì NS cấp trên phải chuyển kinh phí cho NSĐP để thực hiện nhiệm vụ đó.

    Vai trò 3: Tác động tới sự ổn định và phát triển bền vững của tài chính quốc gia

    NSĐP là một bộ phận cấu thành của NSNN. Do vậy, NSĐP có tác động tới NSNN. Sự ổn định, bền vững của NSĐP là cơ sở đảm bảo sự ổn định, vững chắc của NSNN. Về nguyên tắc NSĐP không được bội chi, nên khi xây dựng DT nếu thu NSĐP mà không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu thì NSTW sẽ cấp bổ sung cân đối. Vì vậy, NSĐP không cân đối được sẽ là gánh nặng của NSNN và ngược lại nếu NSĐP mạnh đủ đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho địa phương, NSTW sẽ không phải cấp bổ sung cân đối, thậm chí NSĐP còn điều tiết về NSTW. NSĐP sử dụng có hiệu quả sẽ có tác động tới sự phát triển kinh tế của địa phương, tạo nguồn thu ổn định cho NSĐP và cả NSTW.

    Ngân sách địa phương là gì? Khái niệm và vai trò của Ngân sách địa phương

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Cấp Quản Lý Ngân Sách Địa Phương Nghiên Cứu Tại Tp. Hà Nội
  • Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam
  • Luận Văn Cơ Cấu Tổ Chức Và Chức Năng Của Các Phòng Ban Tại Pg Bank Hà Nội
  • Khái Quát Về Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Hà Nội
  • Chi Ngân Sách Nhà Nước Là Gì? Phân Loại Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Lập Kế Hoạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Ma Sói: Quản Trò
  • Hướng Dẫn Luật Board Game Ma Sói Characters
  • Danh Sách Các Chức Năng Trong Ma Sói Ultimate ( Ultimate Werewolf Deluxe Edition Và Các Bản Mở Rộng)
  • Hướng Dẫn Cách Chơi Ma Sói Cơ Bản
  • Cách Chơi Bài Ma Sói, Luật Chơi Cơ Bản
  • Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kế hoạch , tổ chức , lãnh đạo và kiểm tra. Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, giúp nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra.

    Cho đến nay thì có rất nhiều khái niệm về chức năng lập kế hoạch. Với mỗi quan điểm , mỗi cách tiếp cận khác nhau đều có khái niệm riêng nhưng tất cả đều cố gắng biểu hiện đúng bản chất của phạm trù quản lý này.

    Nếu đứng trên góc độ ra quyết định thì : ” Lập kế hoạch là một loại ra quyết định đặc thù để xác định một tương lai cụ thể mà các nhà quản lý mong muốn cho tổ chức của họ “. Quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra . Lập kế hoạch có thể ví như là bắt đầu từ rễ cái của một cây sồi lớn , rồi từ đó mọc lên các ” nhánh” tổ chức , lãnh đạo và kiểm tra. Xét theo quan điểm này thì lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yêú đối với mỗi nhà quản lý. Với cách tiếp cận theo quá trình :

    Kế hoạch sản xuất kinh doanh có thể coi là quá trình liên tục xoáy trôn ốc với chất lượng ngày càng tăng lên kể từ khi chuẩn bị xây dựng kế hoạch cho tới lúc chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch nhằm đưa hoạt động của doanh nghiệp theo đúng mục tiêu đã đề ra .

    Theo STEYNER thì :”Lập kế hoạch là một quá trình bắt đầu từ việc thiết lập các mục tiêu , quyết định các chiến lược , các chính sách , kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu đã định .Lập kế hoạch cho phép thiết lập các quyết định khả thi và bao gồm cả chu kỳ mới của việc thiết lập mục tiêu và quyết định chiến lược nhằm hoàn thiện hơn nữa.”

    Theo cách tiếp cận này thì lập kế hoạch được xem là một quá trình tiếp diễn phản ánh và thích ứng được với những biến động diễn ra trong môi trường của mỗi tổ chức, đó là quá trình thích ứng với sự không chắc chắn của môi trường bằng việc xác định trước các phương án hành động để đạt được mục tiêu cụ thể của tổ chức.

    Với cách tiếp cận theo nội dung và vai trò :

    Theo RONNER :”Hoạt động của công tác lập kế hoạch là một trong những hoạt động nhằm tìm ra con đường để huy động và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách có hiệu quả nhất để phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh .”

    Theo HENRYPAYH : “Lập kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản của quá trình quản lý cấp công ty , xét về mặt bản chất thì hoạt động này nhằm mục đích xem xét các mục tiêu , các phương án kinh doanh , bước đi trình tự và cách tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.”

    Như vậy , Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được các mục tiêu đó . Lập kế hoạch nhằm mục đích xác định mục tiêu cần phải đạt được là cái gì ?và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó như thế nào ? Tức là , lập kế hoạch bao gồm việc xác định rõ các mục tiêu cần đạt được , xây dựng một chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đã đặt ra , và việc triển khai một hệ thống các kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động.

    Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì kế hoạch là một trong những công cụ điều tiết chủ yếu của Nhà nước.Còn trong phạm vi một doanh nghiệp hay một tổ chức thì lập kế hoạch là khâu đầu tiên , là chức năng quan trọng của quá trình quản lý và là cơ sở để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiêụ quả cao , đạt được mục tiêu đề ra.

    Các nhà quản lý cần phải lập kế hoạch bởi vì lập kế hoạch cho biết phương hướng hoạt động trong tương lai , làm giảm sự tác động của những thay đổi từ môi trường , tránh được sự lãng phí và dư thừa nguồn lực , và thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra . Hiện nay , trong cơ chế thị trường có thể thấy lập kế hoạch có các vai trò to lớn đối với các doanh nghiệp. Bao gồm :

    -Kế hoạch là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong một doanh nghiệp . Lập kế hoạch cho biết mục tiêu , và cách thức đạt được mục tiêu của doanh nghiệp . Khi tất cả nhân viên trong cùng một doanh nghiệp biết được doanh nghiệp mình sẽ đi đâu và họ sẽ cần phải đóng góp gì để đạt được mục tiêu đó , thì chắc chắn họ sẽ cùng nhau phối hợp , hợp tác và làm việc một cách có tổ chức. Nếu thiếu kế hoạch thì quĩ đạo đi tới mục tiêu của doanh nghiệp sẽ là đường ziczăc phi hiệu quả .

    -Lập kế hoạch có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của doanh nghiệp, hay tổ chức . Sự bất ổn định và thay đổi của môi trường làm cho công tác lập kế hoạch trở thành tất yếu và rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp , mỗi nhà quản lý .Lập kế hoạch buộc những nhà quản lý phải nhìn về phía trước , dự đoán được những thay đổi trong nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của chúng để đưa ra những giải pháp ứng phó thích hợp.

    -Lập kế hoạch làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp . Khi lập kế hoạch thì những mục tiêu đã được xác định , những phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đã được lựa chọn nên sẽ sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả , cực tiểu hoá chi phí bởi vì nó chủ động vào các hoạt động hiệu quả và phù hợp.

    -Lập kế hoạch sẽ thiết lập được những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểm tra đạt hiệu quả cao . Một doanh nghiệp hay tổ chức nếu không có kế hoạch thì giống như là một khúc gỗ trôi nổi trên dòng sông thời gian. Một khi doanh nghiệp không xác định được là mình phải đạt tới cái gì và đạt tới bằng cách nào , thì đương nhiên sẽ không thể xác định đựợc liệu mình có thực hiện được mục tiêu hay chưa , và cũng không thể có được những biện pháp để điều chỉnh kịp thời khi có những lệch lạc xảy ra . Do vậy, có thể nói nếu không có kế hoạch thì cũng không có cả kiểm tra .

    Như vậy , lập kế hoạch quả thật là quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp , mỗi nhà quản lý . Nếu không có kế hoạch thì nhà quản lý có thể không biết tổ chức , khai thác con người và các nguồn lực khác của doanh nghiệp một cách có hiệu quả , thậm chí sẽ không có được một ý tưởng rõ ràng về cái họ cần tổ chức và khai thác . Không có kế hoạch , nhà quản lý và các nhân viên của họ sẽ rất khó đạt được mục tiêu của mình , họ không biết khi nào và ở đâu cần phải làm gì .

    Còn đối với mỗi cá nhân chúng ta cũng vậy , nếu chúng ta không biết tự lập kế hoạch cho bản thân mình thì chúng ta không thể xác định được rõ mục tiêu của chúng ta cần phải đạt tới là gì ? với năng lực của mình thì chúng ta cần phải làm gì để đạt được mục tiêu đó ? Không có kế hoạch chúng ta sẽ không có những thời gian biểu cho các hoạt động của mình, không có được sự nỗ lực và cố gắng hết mình để đạt được mục tiêu . Vì thế mà chúng ta cứ để thời gian trôi đi một cách vô ích và hành động một cách thụ động trước sự thay đổi của môi trường xung quanh ta . Vì vậy mà việc đạt được mục tiêu của mỗi cá nhân ta sẽ là không cao , thậm chí còn không thể đạt được mục tiêu mà mình mong muốn .

    Tóm lại , chức năng lập kế hoạch là chức năng đầu tiên , là xuất phát điểm của mọi quá trình quản lý . Bất kể là cấp quản lý cao hay thấp , việc lập ra được những kế hoạch có hiệu quả sẽ là chiếc chìa khoá cho việc thực hiện một cách hiệu quả những mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.

    Hệ thốngkế hoạch của một tổ chức là tổng hợp của nhiều loại kế hoạch khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một định hướng nhất định nhằm thực hiện mục tiêu tối cao của tổ chức.

    Các kế hoạch của một tổ chức được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Theo mỗi tiêu thức phân loại thì lại có một hệ thống kế hoạch khác nhau.

    Theo mức độ tổng quát

    Sứ mệnh

    Sứ mệnh là một bức thông điệp thể hiện lý do tồn tại của tổ chức , sứ mệnh sẽ trả lời cho câu hỏi : Tổ chức tồn tại vì mục đích nào? Một tổ chức khi thành lập trước hết đều phải xác định được sứ mệnh của mình . Sứ mệnh của một tổ chức được đặt ra trên cơ sở xác định những lĩnh vực hoạt động của tổ chức đó , những giả định về mục đích , sự thành đạt và vị trí của tổ chức trong môi trường hoạt động của nó .Sứ mệnh của tổ chức là bộ phận tương đối ổn định , mang tính bản sắc của tổ chức và có vai trò thống nhất cũng như khích lệ các thành viên của tổ chức trong việc thực hiện mục tiêu chung . Sứ mệnh tổ chức bao gồm hai loại sau :

    Sứ mệnh được công bố : là sứ mệnh thông báo được thông báo một cách công khai cho mọi người , thông qua thị trường để doanh nghiệp đạt đựơc mục tiêu , và nó đựơc thể hiện thông qua các khẩu hiệu , các triết lý kinh doanh ngắn gọn của doanh nghiệp .

    Sứ mệnh không được công bố: Là sứ mệnh thể hiện lợi ích tối cao của doanh nghiệp.

    Như vậy , có thể nói sứ mệnh là cơ sở đầu tiên để xác định mục tiêu chiến lược của tổ chức, là phương hướng phấn đấu của tổ chức trong suốt thời gian tồn tại của mình và nó là cơ sở để xác định phương thức hành động cơ bản của tổ chức.

    Kế hoạch chiến luợc

    Kế hoạch tác nghiệp

    Các kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng một lần: là những kế hoạch cho những hoạt động không lặp lại.Bao gồm:

    -Chương trình: Là một tổ hợp các chính sách , các thủ tục , các qui tắc và các nguồn lực cần thiết có thể huy động nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định mang tính độc lập tương đối . Mục tiêu của chương trình là mục tiêu quan trọng , ưu tiên nhưng lại mang tính độc lập tương đối vì thế trong quá trình thực hiện nó đòi hỏi phải có sự phối hợp của các bộ phận khác . Chương trình được hỗ trợ bởi những ngân quĩ cần thiết .Một chương trình tương đối lớn , quan trọng thường bao gồm trong nó nhiều chương trình nhỏ phụ trợ . Ví dụ chương trình xoá đói giảm nghèo của chính phủ bao gồm có các chương trình phụ trợ như chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế , chương trình cho vay vốn , …

    -Dự án : Thường có mục tiêu cụ thể , quan trọng , mang tính độc lập tương đối . Nguồn lực để thực hiện mục tiêu của dự án phải rõ ràng bao gồm cả hình thái nguồn lực theo thời gian và không gian.

    -Các ngân quĩ: Là kế hoạch tác nghiệp được thể hiện bằng số . Ngân quĩ không chỉ đơn thuần là ngân quĩ bằng tiền mà còn có ngân quĩ phi tiền tệ như ngân quĩ nhân công , ngân quĩ nguyên vật liệu , ngân quĩ máy móc thiết bị …

    Các kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng nhiều lần : Là các kế hoạch cho những hoạt động thường xuyên lặp lại. Bao gồm:

    -Chính sách: Là những qui định chung để hướng dẫn tư duy và hành động khi ra quyết định trong các lĩnh vực cơ bản của tổ chức .Chính sách thể hiện các quan điểm và giá trị của tổ chức nhằm giải quyết các vấn đề có tính thường xuyên lặp lại .Trong một tổ chức có thể có nhiều loại chính sách khác nhau cho những mảng hoạt động cơ bản . Ví dụ : chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nhằm xác định các giải pháp và công cụ để hỗ trợ các doanh nghiệp này phát triển hơn nữa như cho vay vốn ưu đãi để đầu tư,giảm thuế suất… Chính sách bảo đảm sự phối hợp hành động và giúp cho việc thống nhất các kế hoạch khác nhau trong tổ chức . Trong phạm vi co giãn nào đó thì các chính sách là những tài liệu chỉ dẫn cho việc ra quyết định. Chính sách khuyến khích được tính tự do sáng tạo nhưng phạm vi tự do sáng tạo lại tuỳ thuộc vào chức vụ cấp bậc quản lý , mức độ phân quyền của tổ chức ….

    -Thủ tục: Là các kế hoạch chỉ ra một cách chính xác và chi tiết chuỗi các hành động cần thiết phải thực hiện theo trình tự thời gian hoặc cấp bậc quản lý để đạt được mục tiêu nhất định . Ví dụ như thủ tục xuất nhập nguyên vật liệu, hàng hoá , thủ tục tuyển sinh …

    -Quy tắc : Là loại hình kế hoạch đơn giản nhất cho biết những hành động nào có thể làm , những hành động nào không được làm . Giữa thủ tục và qui tắc có điểm giống nhau đó là : Đều là những hướng dẫn mang tính bắt buộc cho các hoạt động . Nhưng các qui tắc gắn với việc hướng dẫn hành động mà không bao hàm về mặt thời gian , trong khi đó thủ tục bao hàm qui định trình tự thời gian cho các hành động . Ví dụ : Qui tắc không được hút thuốc trong công sở , qui tắc không được sử dung tài liệu trong thi cử . Ngoài ra , các chính sách hướng dẫn việc ra quyết định trong khi qui tắc cũng là sự hướng dẫn nhưng không cho phép có sự lựa chọn hay sáng tạo trong khi áp dụng chúng . Như vậy , chính sách có độ linh hoạt cao hơn so với qui tắc và thủ tục .

    Theo thời gian thực hiện kế hoạch

    Các kế hoạch được phân ra thành kế hoạch ngắn hạn , trung hạn , dài hạn.

      Kế hoạch dài hạn : Là kế hoạch cho thời kỳ từ 5 năm trở lên nhằm xác định các lĩnh vực hoạt động của tổ chức,xác định các mục tiêu,chính sách giải pháp dài hạn về tài chính , đầu tư , nghiên cứu phát triển chúng tôi những nhà quản lý cấp cao lập mang tính tập trung cao và linh hoạt.

    -Kế hoạch trung hạn: Là kế hoạch cho thời kỳ từ 1 đến 5 năm nhằm phác thảo các chính sách , chương tình trung hạn để thực hiện các mục tiêu được hoạch định trong chiến lược của tổ chức.Kế hoạch trung hạn được lập bởi các chuyên gia quản lý cấp cao , chuyên gia quản lý điều hành đồng thời nó ít tập trung và ít uyển chuyển hơn kế hoạch dài hạn.

    -Kế hoạch ngắn hạn : Là kế hoạch cho thời kỳ dưới 1 năm , là sự cụ thể hoá nhiệm vụ sản xuất kinh doanh dựa vào mục tiêu chiến lược , kế hoạch , kết quả nghiên cứu thị trường , các căn cứ xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện năm kế hoạch do các chuyên gia quản lý điều hành và chuyên gia quản lý thực hiện lập nên .Kế hoạch này không mang tính chất tập trung và thường rất cứng nhắc , ít linh hoạt .

    Ba loại kế hoạch trên có quan hệ hữu cơ với nhau .Trong đó, kế hoạch dài hạn giữ vai trò trung tâm , chỉ đạo trong hệ thống kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở để xây dựng kế hoạch trung hạn và kế hoạch hằng năm.

    Theo mức cụ thể

    Bao gồm kế hoạch cụ thể và kế hoạch định hướng.

    -Kế hoạch cụ thể : Là những kế hoạch mà mục tiêu đã được xác định rất rõ ràng , không có sự mập mờ và hiểu nhầm trong loại kế hoạch này.

    -Kế hoạch định hướng : Là kế hoạch đưa ra những hướng chỉ đạo chung và có tính linh hoạt .Khi môi trường có độ bất ổn định cao, khi doanh nghiệp đang trong giai đoạn hình thành và suy thoái trong chu kỳ kinh doanh của nó thì kế hoạch định hướng hay được sử dụng hơn kế hoạch cụ thể .

    Tuy nhiên, việc phân loại kế hoạch theo các tiêu thức trên chỉ mang tính chất tương đối ,các kế hoạch có mối quan hệ qua lại với nhau.Ví dụ như, kế hoạch chiến lược có thể bao gồm cả kế hoạch dài hạn và ngắn hạn nhưng kế hoạch chiến lược nhấn mạnh bức tranh tổng thể và dài hạn hơn , trong khi đó kế hoạch tác nghiệp phần lớn là những kế hoạch ngắn hạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Lá Lách
  • Chương 81: 79. Lá Lách Có Những Ích Lợi Gì?
  • Tất Cả Những Gì Bạn Cần Biết Về Lá Lách
  • Lá Lách Nằm Ở Đâu Và Có Vai Trò Gì?
  • Lipid Huyết Tương Là Gì? Chức Năng Của Lipid Huyết Tương
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Thị Trường Ngoại Hối

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Thị Trường Ngoại Hối Là Gì Bạn Có Biết? – Tin Tức Kinh Tế
  • Tiểu Luận Thị Trường Ngoại Hối
  • Thanh Khoản Thị Trường Tài Chính Việt Nam Và Một Số Khuyến Nghị
  • Tổng Hợp Mẫu Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Kinh Nghiệm Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Của Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới Từ Khía Cạnh Chính Sách
  • A. Khái niệm:

    Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi ngoại tệ thông qua quan hệ cung cầu. Việc trao đổi bao gồm việc mua một đồng tiền này và đồng thời bán một đồng tiền khác. Như vậy, các đồng tiền được trao đổi từng cặp với nhau. Ví dụ: USD/DEM

    Ở các nước phát triển các quan hệ cung cầu ngoại hối đều tập trung ở thị trường ngoại hối. Trung tâm của thị  trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng, thông qua thị trường liên hàng mọi giao dịch mua bán ngoại hối có thể tiến hành trực tiếp với nhau.

    Quá trình hình thành thị trường ngoại hối đã hình thành hai hệ thống tổ chức khác nhau. Hệ thống hối đoái Anh – Mỹ và hệ thống hối đoái châu Âu.

    Theo hệ thống Anh – Mỹ thì thị trường hối đoái có tính chất biểu tượng, chỉ giao dịch ngoại hối thường xuyên giữa một số ngân hàng và người môi giới qua các phương tiện thông tin hiện đại, tức là loại thị trường không qua quầy. Quan hệ này có thể là trực tiếp, có thể là gián tiếp qua điện thoại. Thị trường ngoại hối thực chất không phải là một địa điểm cụ thể, tức không phải là một văn phòng nơi mọi người ngồi lại với nhau mà đó là một mạng lưới thông tin liên lạc ngân hàng nối mạng điện tử với nhau, liên kết với người môi giới ngoại hối.

    Theo hệ thống Châu Âu lục địa (không bao gồm nước Anh) thì thị trường hối đoái có địa điểm giao dịch nhất định và các giao dịch diễn ra hàng ngày, những người mua bán ngoại hối đến đó để giao dịch và ký hợp đồng, nhưng chủ yếu qua điện thoại, fax…

    Các thị trường ngoại hối lớn trên thế giới gồm có: London, NewYork, Tokyô, Singapore, HongKong, Frankfurt… với doanh số hàng ngày rất lớn.

    • Đặc điểm của thị trường ngoại hối

    Quá trình hình thành thị trường ngoại hối đã hình thành hai hệ thống tổ chức khác nhau. Hệ thống hối đoái Anh – Mỹ và hệ thống hối đoái châu Âu.Theo hệ thống Anh – Mỹ thì thị trường hối đoái có tính chất biểu tượng, chỉ giao dịch ngoại hối thường xuyên giữa một số ngân hàng và người môi giới qua các phương tiện thông tin hiện đại, tức là loại thị trường không qua quầy. Quan hệ này có thể là trực tiếp, có thể là gián tiếp qua điện thoại.thực chất không phải là một địa điểm cụ thể, tức không phải là một văn phòng nơi mọi người ngồi lại với nhau mà đó là một mạng lưới thông tin liên lạc ngân hàng nối mạng điện tử với nhau, liên kết với người môi giới ngoại hối.Theo hệ thống Châu Âu lục địa (không bao gồm nước Anh) thì thị trường hối đoái có địa điểm giao dịch nhất định và các giao dịch diễn ra hàng ngày, những người mua bán ngoại hối đến đó để giao dịch và ký hợp đồng, nhưng chủ yếu qua điện thoại, fax…Các thị trường ngoại hối lớn trên thế giới gồm có: London, NewYork, Tokyô, Singapore, HongKong, Frankfurt… với doanh số hàng ngày rất lớn.

    Thị trường ngoại hối mang tính quốc tế.

    Thị trường ngoại hối mang tính quốc tế do chênh lệch mức giờ của từng khu vực, thị trường hoạt động gần như liên tục trừ ngày nghĩ truyền thống. Về mặt lý thuyết, từ khi đóng cửa các thị trường Châu Âu, giao dịch có thể được tiến hành ở New York, Tokyo.

    Phạm vi hoạt động của thị trường ngoại hối của nó không chỉ dừng lại ở một quốc gia mà mở rộng trên phạm vi quốc tế nhằm phục vụ cho các nhu cầu mua bán, giao dịch về ngoại tệ. Sự phát triển của hệ thống thông tin liên lạc tạo điều kiện thực hiện các cuộc đàm thoại thế giới nhanh chóng và tức thời với toàn bộ thị trường hối đoái đang mở cửa, dẫn đến việc quốc tế hoá việc yết giá nói riêng và hoạt động của thị trường ngoại hối nói chung.

    Thị trường ngoại hối hoạt động liên tục.

    Thị trường hối đoái hoạt động liên tục suốt ngày đêm 24giờ/ ngày trên các khu vực khác nhau của thế giới.

    – Không có địa điểm cụ thể.

    – Các giao dịch mua bán được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như: telex, điện thoại, máy vi tính

    – Trong bất cứ giao dịch ngoại hối nào thì ít nhất có một đồng tiền đóng vai trò làm ngoại tệ.

    – Ngôn ngữ sử dụng trên thị trường rất ngắn gọn, mang nhiều quy ước nghiệp vụ rất khó hiểu với người thường.

    – Doanh số hoạt động trên thị trường ngoại hối rất lớn.

    – Giá cả hàng hoá của thị trường ngoại hối chính là tỷ giá hối đoái được hình thành một cách hợp lý, linh hoạt dựa trên quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Do đó, thị trường ngoại hối rất nhạy cảm không chỉ với các chỉ số kinh tế như tổng sản phẩm xã hội., mức tăng sản xuất, tỷ lệ lạm phát, sự biến động của lãi suất mà còn chịu sự tác động của các sự kiện chính trị – xã hội như: biểu tình, thiên tai, chiến tranh…

    • Hàng hóa của thị trường hối đoái

    Hàng hóa được mua bán trên thị trường hối đoái là ngoại hối. Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng để thanh toán giữa các quốc gia. Tùy theo quan niệm của Luật quản lý ngoại hối của mỗi nước mà khái niệm ngoại hối không giống nhau. Về cơ bản, ngoại hối gồm 5 loại sau:

    Ngoại tệ là tiền của nước khác lưu thông trong một nước. Ngoại tệ bao gồm: ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng.

    Ngoại tệ trong khi lưu thông thanh toán quốc tế tồn tại dưới các hình thức của các phương tiện lưu thông tín dụng. Ví dụ séc, hối phiếu, điện chuyển tiền và thư chuyển tiền.

    Các phương tiện thanh toán này thể hiện chủ yếu các quan hệ giữa các ngân hàng. Các ngân hàng chuyển chúng cho các ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài. Nghiệp vụ thanh toán thực hiện bằng cách chuyển một số tiền từ tài khoản của ngân hàng ủy thác vào tài khoản của ngân hàng nhận ủy thác. Sau đó số tiền này được ghi vào tài khoản của người hưởng lợi quy định trên các phương tiện thanh toán đó.

    Ngoại tệ tín dụng là các phương tiện không có giá trị nội tại mà chỉ là dấu hiệu của tiền tệ. Các ngoại tệ tín dụng là kết quả của hợp đồng mua bán hàng hóa và nghiệp vụ của các ngân hàng tạo ra.

    – Các phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ: hối phiếu, lệnh phiếu, thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, thẻ tín dụng, thư tín dụng ngân hàng.

    – Các chứng khoán có giá trị bằng ngoại tệ: cổ phiếu, trái phiếu công ty, công trái quốc gia, trái phiếu kho bạc.

    – Vàng, bạc, kim cương, ngọc trai, đá quý…được dùng làm tiền.

    – Tiền của Việt Nam dưới các hình thức sau: tiền của Việt Nam ở nước ngoài dưới mọi hình thức khi quay lại Việt Nam, tiền Việt Nam là lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tiền Việt Nam có nguồn gốc ngoại tệ khác.

    Như vậy, ngoại hối là những phuơng tiện thanh toán thể hiện dưới dạng ngoại tệ hoặc các khoản phải thu, phải đòi bằng ngoại tệ kể cả vàng theo tiêu chuẩn quốc tế.

    B. Các thành phần tham gia thị trường ngoại hối

    Các bên tham gia trên thị trường ngoại hối là các ngân hàng thương mại cỡ lớn, người môi giới ngoại hối, ngân hàng trung ương và các công ty và nhà đầu tư. Ngoài ra, còn có các định chế tài chính khác như: các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm và cả cá nhân có vốn. Khu vực chính yếu trong thị trường hối đoái là thị trường liên ngân hàng. Ở đó các ngân hàng có thể giao dịch trực tiếp với nhau hoặc thông qua các nhà môi giới.

    a. Các ngân hàng thương mại

    Các ngân hàng thương mại có ảnh hưởng lớn đến sự vận động của thị trường ngoại hối. Họ kinh doanh trên danh nghĩa thay mặt cho khách hàng hay cho chính bản thân.

    Ngân hàng tiến hành giao dịch ngoại hối với hai mục đích: Thực hiện kinh doanh cho chính mình và cho khách hàng.

    + Giao dịch kinh doanh cho chính mình

    + Cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Chẳng hạn, ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ bảo hiểm vốn cho các doanh nghiệp trước sự biến động của tỷ giá. Mặt khác, đây là một nghiệp vụ để ngân hàng tối đa hoá lợi nhuận bằng cách tận dụng thời cơ “Mua rẻ – bán đắt’’. Các ngân hàng thương mại áp dụng hai loại tỷ giá. Loại tỷ gía bán buôn áp dụng trên thị trường liên ngân hàng và tỷ giá bán lẽ áp dụng đối với các giao dịch có doanh số nhỏ của khách hàng.

    Kết quả của hoạt động này là ngân hàng thu phí.

    Các ngân hàng thương mại là hạt nhân của thị trường hối đoái, giữ vai trò quan trọng trên thị trường hối đoái. Các ngân hàng thương mại lớn có các chi nhánh, đại lý ở nước ngoài, họ kinh doanh ngoại hối là chủ yếu, còn các ngân hàng khác đóng vai trò phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh dưới sự chỉ đạo của các ngân hàng thương mại lớn.

    Các ngân hàng này có nhiệm vụ điều chỉnh mức dự trữ của từng loại ngoại tệ khác nhau. Các ngân hàng thương mại chủ yếu là mua đi bán lại các loại ngoại tệ hoặc là các giao dịch có tính chất đầu cơ.

    b. Các ngân hàng trung ương

    Với tư cách là người canh giữ hệ thống tiền tệ – Ngân hàng và người chủ của dự trữ ngoại hối quốc gia, các Ngân hàng trung ương đôi khi là thành phần cơ bản trên thị trường hối đoái thông qua hành vi can thiệp trên thị trường.

    Các ngân hàng trung ương vẫn thường xuyên can thiệp vào thị trường ngoại hối với hai tư cách:

    – Ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán ngoại tệ để cân bằng hoạt động của các khách hàng của mình chủ yếu là các ngân hàng thương mại.

    – Giám sát hoạt động của thị trường trong khuôn khổ quy định của luật pháp. Sự can thiệp của ngân hàng trung ương nhằm để giúp nâng giá hoặc giảm giá đồng tiền bản tệ khi nó ở mức có thể làm tổn hại đến chính sách tiền tệ quốc gia hoặc để triệt tiêu hiện tượng đầu cơ trên thị trường.

    c. Các cá nhân hay các nhà kinh doanh (khách hàng mua bán lẻ)

    Nhòm thành viên này bao gồm những công dân trong và ngoài nước có nhu cầu mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để phục vụ cho hoạt động đầu tư, cho vay, đi công tác hay đi du lịch ở nước ngoài hoặc khi nhận được các khoản lợi tức đầu tư hay chuyển tiền.

    d. Các nhà môi giới ngoại hối

    Người môi giới thực hiện các lệnh mua bán ngoại hối theo yêu cầu của khách hàng và hưởng phí. Các nhà môi giới nắm vững tỷ gía của nhiều thị trường. Vì vậy, tại các trung tâm tài chính quốc tế thường có một số nhà môi giới ngoại hối giúp các ngân hàng thương mại thực hiện lệnh mua và bán ngoại hối, từ đó cung cấp tỷ giá chào bán và tỷ giá chào mua cho khách hàng một cách nhanh nhất và ưu việt nhất và nhận một khoản phí môi giới. Có thể nói,

    các nhà môi giới là những trung gian giữa các ngân hàng và là trung gian giữa ngân hàng và khách hàng, qua đó góp phần tích cực vào hoạt động của thị trường bằng cách làm cho cung và cầu tiếp cận với nhau.

    e. Các doanh nghiệp

    Các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp này vừa là chủ thể có nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán các hợp đồng thương mại quốc tế, vừa là chủ thể cung ngoại tệ khi có các khoản thu về việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ…Các doanh nghiệp này được xem như là chủ thể hình thành nên khối lượng mua và bán ngoại hối lớn nhất trên thị trường ngoại hối.

    C. Vai trò của thị trường ngoại hối

    – Cân đối các nhu cầu mua bán ngoại tệ

    Thị trường ngoại hối tạo ra cơ chế hữu hiệu đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ phục vụ cho các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Thể hiện:

    Thị trường ngoại hối hoạt động liên tục và mang tính toàn cầu nên đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của bất kỳ người mua, người bán nào đều có thể được đáp ứng ngay lập tức.

    Khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu ngoại tệ, sự tham dự của các ngân hàng và các nhà đầu cơ đã góp phần giải quyết sự mất cân đối đó thông qua việc điều chỉnh tỷ giá cân bằng của thị trường hoặc thông qua đầu cơ ngoại tệ.

    – Phòng chống rủi ro tỷ giá

    Ngày nay đa số các nước trên thế giới đều áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi nên tỷ giá hối đoái luôn luôn biến động. Sự biến động của tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các chủ thể. Các công ty xuất nhập khẩu, công ty đa quốc gia và các cá nhân có nguồn thu, nguồn chi ngoại tệ trong tương lai chịu ảnh hưởng rủi ro rất lớn về sự biến động của tỷ giá hối đoái. Do vậy, các chủ thể này cần thiết phải áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế những rủi ro này.

    Thông qua các nghiệp vụ mua bán kỳ hạn, quyền chọn…của thị trường ngoại hối sẽ giúp cho các công ty, doanh nghiệp phòng ngừa được rủi ro.

    – Tạo ra thu nhập cho người sở hữu ngoại tệ

    Các ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường ngoại hối chủ yếu là giao dịch cho chính mình. Các ngân hàng chủ yếu tiến hành các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá (Acbít) giữa các thị trường để thu lời qua việc mua ở thị trường này giá rẻ hơn và bán lại ở thị trường kia giá cao hơn.

    Không chỉ có các ngân hàng mà các công ty, doanh nghiệp và cá nhân cũng có thể thu lời thông qua hoạt động đầu cơ ngoại tệ. Ngoài ra, thị trường ngoại hối còn giúp các nhà đầu tư chuyển đổi ngoại tệ phục vụ cho việc đầu tư vào thị trường có mức lãi dự tính cao.

    thị trường ngoại hối

    giao dịch ngoại hối

    thị trường hối đoái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Và Chức Năng Của Thị Trường Ngoại Hối Forex
  • Sự Giới Thiệu Về Khái Niệm Ngoại Hối
  • Thị Trường Tài Chính Là Gì? Cấu Trúc Của Thị Trường Ra Sao?
  • Những Tiêu Chí Cơ Bản Của Thị Trường Bất Động Sản Minh Bạch
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Quản Lý Nhà Và Thị Trường Bất Động Sản
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50