Top 16 # Khoa Thăm Dò Chức Năng Là Gì / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Khoa Thăm Dò Chức Năng / 2023

Tổng số nhân lực: 17

Tổng số bác sỹ: 07

Tổng số điều dưỡng: 09 (03 cử nhân + 06 điều dưỡng)

Hộ lý: 01.

1. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ

Khoa Thăm dò chức năng bệnh viện Châm cứu trung ương được thành lập ngày 12/07/1996 theo quyết định số 1247/QĐ-BYT.

Chức năng:

Là khoa cận lâm sàng thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán của y học hiện đại để chẩn đoán các rối loạn về chức năng của hệ thống các cơ quan trong cơ thể.

Nhiệm vụ:

Thăm dò chẩn đoán các chức năng sinh lý và các rối loạn bệnh lý để phục vụ công tác khám chữa bệnh cho bệnh nhân.

Điều trị cho các bệnh nhân ngoại trú.

Tham gia công tác nghiên cứu khoa học.

Tham gia công tác đào tạo và chỉ đạo tuyến.

2. HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN

Để đáp ứng thực hiện những chức năng và nhiệm vụ trên, khoa Thăm dò chức năng được trang bị nhiều máy móc thiết bị hiện đại, chẩn đoán chuyên dụng kỹ thuật cao của y học hiện đại

PHẦN THĂM DÒ CHỨC NĂNG

A. ĐIỆN CƠ ĐỒ (EMG)

Máy điện cơ dùng để đo tốc độ dẫn truyền thần kinh của các dây thần kinh ngoại vi: nhằm phát hiện tổn thương dẫn truyền kiểu tổn thương Myelin của các dây thần kinh ngoại vi phát hiện các block dẫn truyền chèn ép rễ dây thần kinh và vị trí tổn thương của dây thần kinh. Ví dụ: tổn thương của các dây thần kinh trụ, thần kinh giữa, thần kinh quay, thần kinh hông to, thần kinh chày, thần kinh mác… thường gặp trong các bệnh lý như:

+ H/c Guillaine-Barré.

+ H/c ống cổ tay

+ Viêm đa dây thần kinh hủy Myelin

+ Viêm đa dây thần kinh thể tổn thương sợi trục đơn thuần

+ Bệnh lý có tổn thương đa rễ thần kinh

+ Các trường hợp chèn ép rễ thần kinh (thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống…)

Đo phản xạ Blink:

Thăm khám, đánh giá phát hiện tổn thương và mức độ hồi phục sự dẫn truyền thần kinh của dây thần kinh số VII, tổn thương thực thể nhân dây V.

Điện cơ kim

Đánh giá tình trạng của cơ thông qua các hình ảnh đặc hiệu thường gặp trong các bệnh lý:

+ Tổn thương teo cơ do nguyên nhân thần kinh.

+ Tổn thương thoái hóa thần kinh.

+ Tổn thương teo cơ do bệnh lý sợi cơ.

B. ĐIỆN NÃO ĐỒ (EEG)

Các bệnh lý có tổn thương thực thể não như: chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, các bệnh lý nhiễm trùng, nhiễm độc não.

Các bệnh lý do rối loạn chức năng của hệ thống thần kinh trung ương như cơn Migraine qua một số dấu hiệu gợi ý (đau đầu, mất thị giác…),rối loạn tuần hoàn não, rối loạn tâm thần, sa sút trí tuệ, bại não…

EEG giúp phát hiện sớm và định hướng chẩn đoán những tổn thương có dấu hiệu choán chỗ trong hộp sọ như u, apxe vùng vỏ não, những tổn thương nhỏ dạng ổ khuyết như cơn thiếu máu não thoáng qua.

Kết hợp với lâm sàng, điện não có giá trị chẩn đoán xác định cơn động kinh cục bộ, động kinh cơn toàn thể, theo dõi tiến triển điều trị , đáp ứng lâm sàng và điều chỉnh thuốc cho phù hợp.

C. ĐO LƯU HUYẾT NÃO, LƯU HUYẾT CHI (REG)

Bằng việc ghi lại những thay đổi điện trở của não từ thành mạch máu mỗi lần mạch đập, qua phần mềm tính toán xử lý số liệu, cho chúng ta biết tình trạng mạch máu não và lưu lượng tuần hoàn máu não.

+ Đau đầu mạn tính

+ H/c Raynaud

+ Các chứng tê bì đầu chi hay lạnh tứ chi.

D. ĐIỆN TIM – ĐIỆN TIM GẮNG SỨC (ECG)

Việc ghi lại những tín hiệu điện do nút xoang của tim phát ra qua các điện cực trước tim và các điện cực chi cho hình ảnh của sóng điện tim, giúp thăm dò chức năng hoạt động của tim từ đó định hướng chẩn đoán các bệnh lý như:

+ Nhịp tim không đều, rối loạn dẫn truyền nhĩ-thất hoặc block nhĩ-thất

+ Bệnh về mạch vành

+ Bệnh về cơ tim

Khi các bệnh lý tim mạch không có tính chất thường xuyên thì nghiệm pháp vận động gắng sức trong quá trình ghi điện tim sẽ giúp cho việc chẩn đoán, thăm dò chính xác hơn.

E. ĐO THÍNH LỰC ĐỒ.

Với việc phát ra các tần số sóng âm thanh khác nhau ở ngưỡng nghe kết hợp với sự hợp tác của bệnh nhân, đo từ ngưỡng thấp nhất cho tới ngưỡng cao nhất sẽ cho chúng ta các chỉ số về ngưỡng nghe, qua đó thăm dò, đánh giá được các mức độ điếc đối với bệnh nhân.

Đồng thời việc phát các sóng âm thanh cả bằng đường khí và bằng đường xương sẽ giúp thăm dò được các kiểu tổn thương, bộ phận tổn thương trong hệ thống thính giác.

F. ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ

Khoa Thăm dò chức năng có các trang thiết bị hiện đại đáp ứng được các yêu cầu điều trị, có các buồng khám bệnh và điều trị khang trang sạch đẹp đầy đủ tiện nghi, với đội ngũ bác sỹ và điều dưỡng được đào tạo có trình độ chuyên môn cao, phục vụ bệnh nhân tận tình chu đáo.

Khoa có nhiều máy móc hiện đại phục vụ cho công tác điều trị bệnh đạt hiệu quả cao như:

Máy điện châm PG8 của Nhật

Máy điều trị sóng xung kích: RADIALSPEC của Mỹ

Máy kéo giãn cột sống của Australia và Mỹ

Máy xoa bóp hơi toàn thân: DS MAREF MARK III Plus MK 300

Đèn điều trị hồng ngoại

Phòng cấy chỉ hiện đại

Các thủ thuật điều trị được thực hiện tại khoa Thăm dò chức năng

Điện châm

Thủy châm

Xoa bóp bấm huyệt bằng tay

Điều trị bằng tia hồng ngoại

Xoa bóp bằng máy xoa bóp hơi

Điều trị bằng sóng xung kích

Kéo giãn cột sống cổ, thắt lưng

Xông hơi thuốc y học cổ truyền

Ngâm bồn thuốc y học cổ truyền

Cấy chỉ catgut.

* Email: thamdochucnangbvcc49@gmail.com

Khoa Thăm Dò Chức Năng, Cơ Cấu Tổ Chức / 2023

Số điện thoại liên hệ: 04.62979722.

Lãnh đạo khoa phòng hiện tại:

PTK PT: BS CKI VŨ HUY HIỀN.

PTK: Ths. NGUYỄN TUẤN DŨNG.

Quá trình thành lập:

Thành lập 11/05/2011 trên cơ sở chia tách từ khoa Chẩn đoán hình ảnh theo quyết định số 193/QĐ-SYT của Sở Y tế HN.

Tổng số nhân lực hiện có: 20 người.

Bao gồm:

01 BSCKI.

02 Thạc sỹ.

04 Bác sỹ.

02 điều dưỡng đại học.

08 điều dưỡng cao đẳng.

02 điều dưỡng trung học.

01 hộ lý.

Trang thiết bị hiện có:

02 dàn máy nội soi ống mềm video Olympus CV180 gồm 01 dây nội soi dạ dày, 01 dây nội soi đại tràng và 01 dây nội soi cửa sổ nghiêng.

01 dàn máy nội soi ống mềm video Fujinon 4450HD gồm 01 dây nội soi phế quản.

02 máy điện tim.

01 máy đo chức năng hô hấp Coco.

Thành tích đạt được:

Luôn hoàn thành vượt mức chỉ tiêu do BV giao.

Đạt giải nhất hội thao sáng tạo tuổi trẻ 2016.

Giải nhất tập thể hội thi điều dưỡng giỏi BV năm 2016.

Giải ba hội thao sáng tạo tuổi trẻ Sở Y tế HN 2017.

Công việc nổi bật mà khoa triển khai thực hiện:

Phối hợp với công đoàn BV, đoàn Thanh niên đi khám từ thiện cho nhân dân.

Triển khai các kỹ thuật mũi nhon, phức tạp như: NS phế quản; Nội soi chụp mật tụy ngược dòng (ERCP); đặt stent đường tiêu hóa…

Công tác đào tạo:

01 BS đang đi học Thạc sỹ.

01 Điều dưỡng đang đi học đại học.

05 điều dưỡng đang đi học cao đẳng.

02 điều dưỡng đang đi học nâng cao chuyên môn.

Thường xuyên tổ chức đào tạo tại chỗ cho BS và điều dưỡng.

Nghiên cứu khoa học:

Mỗi năm đều tham gia ít nhất 01 đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở.

Hướng phát triển:

Tiếp tục đào tạo nâng cao chất lượng nhân viên để 100% điều dưỡng đạt mức cao đẳng trở lên.

Đào tạo liên tục để các bác sỹ đều có điều kiện học sau đại học.

Cử 1 bác sỹ đi học CKII.

Tiếp tục phát triển những kỹ thuật mũi nhọn về nội soi như cắt hớt niêm mạc qua NS (ESD-EMR)…

Đầu từ dàn máy đo mật độ loãng xương.

Thăm Dò Chức Năng Thận / 2023

Những xét nghiệm thuộc loại này cũng có rất nhiều và có nhiều cách sắp xếp. Có cách sắp xếp theo phương pháp làm xét nghiệm. Ví dụ: các xét nghiệm cần lấy máu và các xét nghiệm không cần lấy máu. Có cách sắp xếp theo chức năng sinh lý của thận. Ví dụ: các xét nghiệm thăm dò bài tiết urê, các xét nghiệm thăm dò chức phận chuyển hoá nước và muối, v.v….

Dù sắp xếp theo cách nào thì qua các xét nghiệm đó chúng ta cũng cần phải biết tổn thương ở cầu thận, ống thận không, hay tổn thương ở cả hai. Cho nên trong bài này sẽsắp xếp các xét nghiệm thành 3 nhóm:

Các xét nghiệm thăm dò chức năng toàn bộ.

Các xét nghiệm thăm dò chức năng lọc của thận.

Các xét nghiệm thăm dò chức năngngoại tiết (excretion) và tái hấp thu của ống thận.

Các xét nghiệm đó không phải hoàn toàn tách rời hẵn nhau. Những xét nghiệm này khá phức tạp và kết quả chỉ có giá trị tương đối vì nó chịu ảnh hưởng của rất nhều yếu tố: bản thân quá trình sinh lý học của thận cũng đã khá phức tạp, mà còn nhiều vấn đề y học chưa biết tới, chưa lý giải được. Mặt khác những xét nghiệm đó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại lai như kỹ thuật sinh hoá, cách lấy nước tiểu, lấy máu, chúng tôi nên phải thực hiện các xét nghiệm hết sức

thận trọng, chính xác.

Quá trình hình thành nước tiểu

Để hiểu rõ nguyên lý của các phương pháp thăm dò, cần nhắc lại quátrình hình thành nước tiểu như sau:

Theo Ludwig, Cushny thì cầu thận là một màng lọc bán thẩm thấu, lọc các chất có trọng huyết tương, trừ protein và mỡ. Oáng thận sẽ tái hấp thu một số lớn nước để thành nước tiểu thực sự. Gần đây người ta thấy ống thận còn ngoại tiết một số chất. Nhưvậy sự hình thành nước tiểu có 3 quá trình: lọc ở cầu thận, tái hấp thụ và ngoại tiết của ống thận.

Hiện tượng lọc ở cầu thận

Cầu thận lọc khoảng 20% huyết tương đi qua nghĩa là 120 – 130 ml phút của cả hai thận.

Richarras, Arthur, Walker,… lấy nước tiểu ở cầu thận của súc vật, thấy không có protein, mỡ và có Glucoza. Đo độ glucoza, Cl, urê, photphat, creatinin, axitsunfuric,… giống hệt như trong huyết tương và có cùng áp lực thẩm thấu, cùng tính chất dẫn điện cùng pH. Có một số chất chỉ lọc bởi cầu thận mà không bị tái hấp thụ bởi ống thận như creatinin nội sinh, insulin, mannitol, Na hyposunfit, sucroza, xyloza.

Cho nên có thể dùng các chất này để tính khối lượng lọc của cầu thận dựa trên khái niệm về độ lọc(cléarence): nếu gọi D là lưu lượng của một chất được đào thải hết vào nước tiểu trong một phút, P là độ đậm của chất đó trong huyết tương ở cùng thờigian đó thì tỷ số D/P là lượng huyết tương mang chất đó đi qua cầu thận trong một phút và được cầu thận lọc hết. Tỷ số D/P gọi là “độ lọc” D và Pđều là con số biết được. Độ lọc cầu thận của các chất trên gàn giống

nhưnhau đều bằng 130 ml/phút.

Tái hấp thu ở ống thận

Hầu hết các chất hữu cơ được tái hấp thụ ở ống thận. Glucoza được hấp thu hoàn toàn ở ống thận. Urê, axit, uric, axit amin được tái hấp thu 1phần còn phốt phat, Cl, Na, được tái hấp thu quá nhiều, cứmỗi phút 130ml nước tiểu đầu tiên, chỉ còn lại 1-2ml nước tiểu thực sự.

Hiện tượng ngoại tiết của ống thận

Ống thận còn ngoại tiết ra một số chất. Hiện tượng này trước hết là đối với các chất như là iot cản quang. PAH, PSP, pennixilin, streptomyxin và cả K nữa, cho nên cũng dựa vào nguyên lý trên, người ta tính được “độ lọc” các chất đó của ống thận căn cứ vào khả năng ngoạitiết của ống thận. Những chất nào có độ lọc lớn hơn độ lọc cầu thận làcó thêm hiện tượngtiết của ống thận. Ví dụ:

PAH 600-700ml/phút.

Iot 600 – 700ml/phút.

PSP 400ml/phút.

Có một số yếu tố ảnh hưởng đến “độ lọc” của ống thận.

Sự cố định của protein huyết thanh:

Ví dụ PAH có độ lọc 600. phần cầu thận là 120. phần ống thận là 480. nhưng PAH – cũng giống như một số các chất khác – không hoàn toàn tự do trong huyết tương mà một phần nhỏ gắn vào protein (đối với PAH = 20%), điều đó không gây cản trở cho sự ngoại tiết của ống thận nhưng gây cản trở cho việc lọc ở cầu thận, độ lọc ở cầu thận của PAHbị giảm 20%.

Giới hạn trên hay thềm ngoại tiết của ống thận:

Độ lọc ống thận của các chất trên chỉ có giá trị khi độ đậm của nó trong huyết tương đối thấp. Nếu cao qua một một giới hạn nào đó thì ống thận thải tiết giảm đi. Đối với PAH giới hạn trên “Tm” là 76mg/phút.

Sự cạnh tranh của các chất:

Hai chất cùng ngoại tiết bởi ống thận sẽ cạnh tranh lẫn nhau. Ví dụ khi bài tiếtPAH, độ lọc của PSP giảm. Ở cầu thận không bao giờ có hiện tượng này.

Có những chất vừa tái hấp thu vửa bị ngoại tiếp:

Ví dụ kali. Do đó những kết quả thăm dò chức năng ống thận chỉ có giá trị tương đốiso với những thăm dò chức năng cầu thận.

Thăm dò chức năng toàn bộ

Có 4 phương pháp:

Nghiên cứu đậm độ một số chất trong máu: Urê và creatinin, các chất điện giải.

Nghiên cứu khả năng bài tiết urê.

Nghiên cứu khả năng bài tiết một số chất màu: phenol sunfolphatalein (PSP), bleu methylen.

Nghiên cứu khả năng cô đặc của thận: Do tỷ trọng nước tiểu.

Định lượng một số chấttrong máu

Có một số chất khi suy thận sẽ bị ứ lại trong máu như: axituric, một số chất điện giải, N cặn bã…

Định lượng creatinin:

Lượng creatinin mà ta thu được là tổng số creatinin chuyển từ creatin ra.

Bình thường có0,8 -1,2 mg/%.

Định lượng urê máu:

Bình thường 20 – 30 mg/% không quá 50mg/%.

Trong viêm thận cấp, mạn, ứ nước bể thận… tăng lên cao, có khi tới 300 -400mg/%, trong núơc tiểu urê lại giảm xuống (bình thường: 26 -30g/lít).

Định lượng nitơ toàn phần và nitơ cặn bã:

Tỷ số giữa N toàn phần phi protein và N urê:

Định lượng các chất điện giải: Bình thường:

Tổng các chất điện giải trong máu bình thường trong đó:

Bệnh lý:

Ngoài suy thận, còn một số trường hợp khác cũng có thay đổiđiện giải máu.:

Ăn nhạt lâu ngày ( o suy tim, xơ gan…): Tổng lượng các chất điện giải giảm Cl, Na, K đều giảm.

Mất nước cấp diễn: Cl, Na, K, Ca giảm.

Dùng Coctison lâu ngày: Cl, Na tăng, K giảm.

Hội chứng Conn: Cl, Na, tăng, K giảm.

Bệnh Addison: K tăng, Na, Cl giảm.

Nghiên cứu khả năng bài tiết urê của thận

Urê trong máu lúc đói/urê nước tiểu 24 giờ. Phương pháp Jules Cottes:

Bình thường R = Urê máu x 100 / Urê nước tiểu 24 giờ = 2. Suy thận sẽ tăng quá 2. tỷ số này ít có giá trị.

Hằng số:

Trước đây có làm nhưng hiện naykhông áp dụng nữa vì thiếu chính xác.

Độ lọc Vanslyke (cléarance de Purée):

Người bệnh nằm nghỉ hoàn toàn trong thời gian làm xét nghiệm. Sáng sớm đi tiểu hết bỏ đi.

Nằm nghỉ và uống 100ml nước, 1 giờ sau đi đái lấy nước tiểu, đồng thời lấy máu đem thử urê.

Lại uống 100ml nước nữa, 1 giờ sau lấy nước tiểu. Trộn nước tiểu hai lần và đem thử urê. Có thể cho người bệnh uống½đến 1 lít nước để lấy số lượng nướcxtiểu được nhiều.

Đó là độ lọc tối đa. Nếu tính ra phần trăm thì độ lọc tối đa %: Ltđ% = Ltđx 100 / 75 = Ltđ x 1,33.

Lượng nước tiểu < 2ml/phút: độ lọc mẫu (Lm):

Đó là độ lọc tối đa. Nếu tính ra phần trăm thì độ lọc tối đa phần trăm:

Lượng nước tiểu < 2ml/phút: độ lọc mẫu (Lm).

Kết quả:

Bình thường: Ltđ % = 75% ; Lmẫu = 54%

Bệnh lý: Nếu Ltđ<75% là suy thận. Trong đó:

50 – 75% là nghi ngờ.

50 – 30%suy thận rõ.

10 – 30% suy thận rõ.

10 – 30% suy thận nặng.

10% trở xuống: Sắp chết, nguy kịch.

Đối với độ lọc mẫu dưới 50% là suy thận.

Theo Hamburger nghiệm pháp này chỉ có giá trị khi không bị sai sót lúc lấy máu, urê máu dưới80mg%. phương pháp này đánh giá trình độ suy thận tốt hơn bằng số Ambard.

Đối với người bệnh gầy yếu, không lấy núơc tiểu 2 giờ, mà lấy nước tiểu 24 giờ thật đúng, thật hếtvà tìm lưu lượng urê /phút. Lấy máu nhiều giờ trongngày tìm urê (có thể lấy2,3 lần rồi chia trung bình), chia urê nước tiểu /phút cho urê máu.Với phương pháp này, độ lọc dưới 40ml/phút mới coi là suy thận.

Nghiên cứu khả năngbài tiết chất màu và tỷ trọng nước tiểu.

Chủ yếu là để thăm dò ống thận, sẽ nói ở phần sau:

Thăm dò chức năng lọc cầu thận

Độ lọc inulin Manitol Na hyposunfit

Người ta thường dùng inulin, manitol, Na Hyposunfit để đo độ lọc cầu thận vì các chất này không bị biến hoá đi trong cơ thể, chúng có độ lọc hằng định dù độ đậmcủa nó trong huyết tương cao hay thấp, không bị tái hấp thu, không bị ống thận bài tiết.

Cách làm:

Chất định dùng cần tiêm rỏ giọt tỉnh mạch để giữ độ đậm trong huyết tương luôn luôn hằng định. Nước tiểu đi từ cầu thận tới bàng quang mất 6 – 8 phút nên độ đậm trong nước tiểu sẽ tương ứng với độ đậm trong máu trước đó 6- 8 phút.

Inulin: Dùng dung dịch 10% để đạt tớ độ đậm trong huyết tương là 200 – 350g/lít. Hyposunfit: dùng dung dịch 10%, với liều lượng 20g/kg thể trọng, Mannitol dùng dung dịch 20%, 50ml, 30 phút sau khi tiêm các chất đó, đái hết bỏ nước tiểu đi, uống 300ml nước.

Phút 40 lấy 15ml máu (có fluorua để bảo quản).

Phút 50 lấy nước tiểu thật hết.

Phút 60 lại lấy 15ml máu.

Phút 70 lấy nước tiểu.

Định lượng các chất đó trong máu và nước tiểu, áp dụng công thứcU x V / Pđể tínhđộ lọc (U và P là đậm độ chất thí nghiệm trong nước tiểu và trong máu. V là lượngnước tiểu trong 1 phút). Nếu so sánh với diện tích cơ thể (1,73m2).

Kết quả:

Bình thường: Độ lọc của các chất trên gần giống nhau và bằng 130ml/phút ± 30.

Bệnh lý: Khi dưới 100ml/phút là suy thận.

Theo Hamburger thì các phương pháp này chỉ có giá trị khi lấy nước tiểu đúng, liều lượng nước tiểu phải trên 1,5 ml/phút.

Inulin là một polyosit, dùng nó có gây khó khăn là dễ gây tai biến, đắt tiền và định lượng khó nhưng chính xác nên còn hiện được sử dụng rộng rãi ở nơi có đủ điều kiện và phương tiện. Manitol là chất đa rượu dễ dùng, rẻ tiền, dễ định lượng. Nhưng trong trường hợp ống thận có tồn thương thì nó bị hấp thu lại từ5 – 15% kết quả bị sai lạc. Na hyposunfit cũng vậy, được áp dụng ở nơi thiếu phương tiện và không có điều kiện.

Độ lọc Creatinin

Cách làm:

Sáng nhịn đói, uống 2g creatinin và 50ml nước, nằm nghỉ 1 giờ sau lấy nước tiểu và máu, 40 phút sau lấy máu và nước tiểu lần 2.

Máu hai lần trộn lẫn, nước tiểu cũng trộn lẫn và đem định lượng creatinin rồi áp dụng công thức chung để tính độ lọc creatinin ngoại sinh: hoặc tính theo công thức:

Độ đậm creatinin nước tiểu / độ đậm creatinin máu = chỉ sốđậm độ. Lưu lượng nước tiểu/phút = L.

Độ lọc creatinin C = chỉ số đậm độ x L.

Kết quả:

Bình thường:110ml/phút.

Bệnh lý: Suy thận, suy tim < 100ml/phút.

Thăm dò chức năng ống thận

Thăm dò chức năng chuyển hoá nước

Chủ yếu là các phương pháp đo tỷ trọng nước tiểu, qua đó biết được khả năng tái hấp thu nước, làm cô đặc nước tiểu của ống thận.

So sánh lượng nước tiểu trong ngày và đêm:

Lấy nước tiểu 9 giờ sáng đến 9 giờ tối và từ 9 giờ tốiđến 9 giờ sáng ngày hôm sau. Bình thường lượng nước tiểu ban ngày gấp hai lần ban đêm. Nếu ban đêmnhiều hơnthường là do ứ nước và suy thận.

Đo tỷ trọng nước tiểu 3 giờ 1 lần (phương pháp Zimmiski):

Bình thường tỷ trọng thay đổi tuỳ theo lượng nước uống vào. Trong suy thận tỷ trọng ít thay đổi và thấp.

Nghiệm pháp gây đái nhiều của Vaquez Cottet:

Cho uống một lượng nước 600ml trong vòng 4 giờ. Lượng nước tiểu bài tiết rabàng hoặc lớn hơn lượng nước uống vào, tỷ trọng thay đổi từng lúc. Trong suy thận, lượng nước tiểu ít hơn và tỷ trọng giảm, không thay đổi.

Nghiệm pháp pha loãng của Volhard:

Người bệnh nhịn đói, thông bàng quang, lấy hết nước tiểu. Sau đó cho uống 1,5 lít nước trong vòng nửa giờ. Người bệnh nằm ngửa trên giường trong thời gian làm nghiệm pháp. Cứ nửa giờ lấy nước tiểu 1 lần để định số lượng và tỷ trọng, làm trong 4 giờ liền.

Bình thường: Tỷ trọng lúc thấp nhất dưới 1,002. lượng nước tiểu bài tiết trong 4 giờ bằng hoặc lớn hơn lượng nước uống vào.

Suy thận: Số lượng nước bài tiết ra ít hơn lượng núơc uống vào. Tỷ trọng lúc thấp nhất trên 1,002. phươn pháp này chịu ảnh hưởngcủa nhiều yếu tố ngoại thận như gan, tim…

Chống chỉ định khi có phù hoặc suy hoàn toàn.

Nghiệm pháp cô đặc của Vohard:

Người bệnh nằm nghỉ trên giường suốt 24 giờ, ăn khô không uống nước. Tổng số nước đưa vào cơ thể trong 24 giờ tối đa là 500ml. Cứ 3 giờ lấy nước tiểu một lần, định tỷ trọng và số lượng, làm trong 24 giờ.

Bình thường: Thận bài tiết từ 300 – 700ml nước tiểu. Tỷ trọng 1,025 đến 1,035. tỷ trọng lúc cao nhất tối thiểu phải 1,025.

Suy thận: Tỷ trọng giảm dưới 1,025.

Phương pháp này bị ảnh hưởng của các yếu tố: Ra mồ hôi nhiều, ỉa chảy, nôn.

Nghiệm pháp làm thay đổi tỷ trọng nước tiểu bằng tinh chất thùy sau tuyến yên:

Tinh chất thuỳ sau tuyến yên có tác dụng làm tăng hấp thu của ống thận do đó đái ít đi.

Cách làm: Uống 750 ml nước trong 45 phút. Sau đó đái hết bỏ đi. Một giờ sau đái hết, lấy nước tiểu tỷ trọng núơc tiểu này là a. Tiêm ngay 10 đơn vị thùy sau tuyến yên (tiêm dưới da) 1 giờ, 2 giờ sau khi tiêm lại lấy nước tiểu, tỷ trọng nước tiểu này là D (lấy mẫu nước tiểu nào có tỷ trọng cao nhất).

Bình thường:d = 100% dao động trong 80 – 130%; a càng cao, d càng thấp thì càng gần tỷtrọng giới hạn.

Bệnh lý: Dưới 80% = ống thận tổn thương, càng thấp tổn thương càng nặng.

Trên 130% trong suy gan. Gan không phá huỷ tinh chất thuỳ trong tuyến yên.

Chống chỉ định: Có thai, tăng huyết áp, có cơn đau thắt ngực.

Thăm dò chức năng bài tiết chất màu PSP và xanh Metylen

Phương pháp PSP:

Uống 200ml nước làm hai lần, cách nhau 30 phút. Sau đó 15 phút lấy nước tiểu, rồi tiêm tĩnh mạch 1ml dung dịch PSP 6%, 15 phút và 70 phút sau khi tiêm, thông bàng quang lấy nước tiểu vào hai cốc khác nhau. Làm kiềm tính nước tiểu bằng vài giọt Na, thêm cho đủ 1000ml bằng nước cất. Đemso sánh với mẫu PSP.

Bình thường: PSP bài tiết sau 15 phút ít nhất là 15% và sau 70 phút ít nhất là 55%.

Suy thận: PSP bài tiết giảm đi. Nếu bài tiết giảm ½ thì urê máu tăng cao, nếu bài tiết rất ít, urê máu thường quá cao, trên 2g/lít. Khi đường tiết niệu bị tắc thì thời gian bài tiết PSP bị chậm hoặc không bài tiết ra được.

Phương pháp này hay áp dụng vì dễ thực hiện vàít độc.

Phương pháp xanh Metylen:

Trong phương pháp thăm dò bài tiếtchất màu, có thể dùng xanh metylen 1/120 tiêm 1ml vào tĩnh mạch. Sau đó soi bàng quang để quan sát thời gian bài tiết xanh metylen ra nước tiểu của từng bên thận. Nếu không soi được thì thông bàng quang lấy nước tiểu, nước tiểu có xanh metylen sẽ có màu xanh.

Bình thường: 30 phút sau nước tiểu có màu xanh. Giờ thứ 3-4 xanh nhất. Sau 48 giờ xanh hết.

Bệnh lý: Bài tiết kéo dài và chậm trong viêm thận kẽ.

Bài tiết sớm và nhiều trong viêm thận bán cấp.

Ứ nước tiểu bể thận: Thời gian bài tiết cũng chậm hoặc bị tắc hẳn.

Hai phương pháp này có thể bị sai lạc kết quả vì liều lượng không đúng, nhất là trong trường hợp có cản trở trong đường tiết niệu làm cho các chất đóbài tiết chậm và ít đi: sỏi thận niệu quản, tiền liệt tuyến to…

Diodrast và PAG là hai chất người ta thấy hầu như biến mất trong máu tĩnh mạch sau khi đã qua thận. Ởtĩnh mạch thận, chúng chỉ còn tối đa 10% so với trong máu động mạch thận.

Cách làm:

Dùng dung dịch PAH 20% tiêm nhỏ giọt tĩnh mạch để giữ cho đậm độ trong huyết tương được hằng định, không cao quá 50mg/l. có thể cho uống6g PAH trong 300ml nước, nhưng không tốt bằng.

Kết quả:

Bình thường: Độ lọc PAH là 600ml/phút ± 200. lưu lượng máu qua thận 1200ml/phút, bằng ¼ lượng tim.

Bệnh lý: Nếu độ lọc dưới 400ml/phút là suy thận hoặc tốc độ tuần hoàn giảm. Muốn đánh giá tốc độ tuần hoàn thận thì ống thận phải hoàn toàn bình thườngmới có giá trị.

Lưu lượng máu qua thận giảm: Hẹp động mạch thận, suy tuần hoàn, viêm thận mạn…

Thăm dò từng thận

Muốn có thái độ xử trí đúng đắn phải thăm dò từng bên. Thường áp dụng mấy phương pháp sau đây:

Bài tiết chất màu:

Lấy nước tiểu riêng từng thận: Phải đưa ống thông vào từng thậnqua máy soi bàng quang.

Chụp thận có chất cản quang qua đường tĩnh mạch. Dùng iot phóng xạ (I 123).

Hai phương pháp trên đã nói tới. Dươi đây chỉ nói đến phương pháp dùngI 123. đó là phương pháp có giá trị nhất, áp dụng phổ biến ở nhiều nước. Ở nước ta hiện nay chưa áp dụng.

Kết quả: Kết quả được biểu diễn bằng một đường cong parabon.

Bình thường: Đường biểu diễn của thận có 3 giai đoạn.

OA: giai đoạn vào động mạch thận: 2-4 phút.

AB: giai đoạn vào nhu mô thận: 3 phút.

BC: giai đoạn bài tiết: 5 – 8phút.

Đường biểu diễn của máu là đường cong hypecbon, thời gian5-7 phút

AB kéo dài: Các bệnh về mạch thận nhưhẹp, tắc động mạch thận.

AB kéo dài: Các bệnh suy thận như viêm cầu thận, viêm đài bểthận mạn tính làm suy thận. BC kéo dài: các bệnh làm tắc đường tiết niệu như sỏi, lao.

Vấn đề chọn lọc các phương pháp, khó mà đề ra được một công thức nhất định. Tuỳ theo tình hình thực tế, tuỳ theo điều kiện hoàn cảnh mà áp dụng phương pháp nào cho thích hợp.

Thăm dò chức năng toàn bộ:

Đo urê máu và độ lọc Vanslyke.

Tỷ lệ các chất điện giải trong máu.

Thăm dò chức năng cầu thận:

Độ lọc inulin.

Độ lọc manitol.

Độ lọc creatin nội sinh

Thăm dò chức năng ống thận:

Tính chất thuỳ sau tuyến yên.

Bài tiết PSP.

Nghiệm pháp Vohar.

Đo tỷ trọng nước tiểu theo phương pháp Zimmiski 3 giờ đo một lần. Thăm dò từng thận riêng rẻ.

Lấy nước tiểu từng bên.

Chụp thận có chất cản quang qua tĩnh mạch.

Thành viên chúng tôi

Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp / 2023

Chẩn đoán xác định hen phế quản, COPD, các rối loạn thông khí khác

Chẩn đoán phân biệt hen phế quản với COPD, bệnh lý có rối loạn khác như giảm oxy máu, tăng cacbonic máu, đa hồng cầu…

Đo lường ảnh hưởng của bệnh lên chức năng phổi

Để tầm soát người có nguy cơ bị bệnh phổi: hút thuốc lá, phơi nhiễm với các chất độc hại

Đánh giá nguy cơ, tiên lượng trước phẫu thuật (cắt thùy phổi, cắt phổi,…)

Theo dõi tác dụng phụ của thuốc có độc tính trên phổi

Các nghiên cứu dịch tể học

Trường hợp tổn thương phổi có nguy cơ biến chứng khi làm hô hấp ký (kén khí lớn của phổi, màng phổi, ho máu nhiều, áp xe phổi lớn…)

Bệnh nhân không hợp tác (rối loạn tâm thần, giảm thính lực…)

Chấn thương vùng hàm mặt, lồng ngực

Mới phẫu thuật ngực, bụng, mắt

Bệnh lý tim mạch nặng: suy tim xung huyết, bệnh mạch vành, nghi ngờ hoặc xác định phình tách động mạch

Phụ thuộc vào thao tác của người đo và sự phối hợp của đối tượng được đo

Không đặc hiệu cho từng bệnh lý hô hấp

Vài chỉ số biến thiên lớn như FEF 25-75

Đo 3 lần với đường cong có thể chấp nhận được

Chênh lệch FEV1 và FVC giữa các lần đo không quá 5% hay 150 ml

Thực hiện không quá 8 lần

Thời gian thở ra tối thiểu 6 giây? (trẻ em tối thiểu 3 giây)

Đường cong lưu lượng thở ra có bình nguyên kéo dài 1 giây?

Việc bắt đầu test có thỏa đáng không (ít hơn 5% thể tích ngoại suy)

Đối tượng đã hiểu được các chỉ dẫn thực hiện hay chưa?

Việc hít vào có được thực hiện với gắng sức cao nhất hay không?

Việc thở ra có trôi chảy và liên tục hay ko?

Gắng sức có đạt mức cao nhất khi thở ra hay không (có peak)?

Sự chênh lệch có ít hơn 150ml giữa FVC lớn nhất và lớn nhì hay không (100ml khi FVC<1.0L)

Sự chênh lệch có ít hơn 150ml giữa FEV1 lớn nhất và lớn nhì hay ko (100ml khi FVC<1.0L)

Có tài liệu chứng minh cho việc thiếu khả năng có thể lặp lại hay ko?

Nếu FVC bình thường: về cơ bản không có RLTKHC

Nếu FVC giảm: có thể RLTKHC hoặc TN

Xem đường nét của đường cong lưu lượng- thể tích

Nếu đường cong bình thường và FVC bình thường thì hầu hết kết quả test là bình thường. Ta bước sang bước V, VI. Nếu FVC giảm và đường cong lưu lượng – thể tích dốc xuống, FEV1/FVC bình thường thì có thể do RLTKHC, hen PQ không điển hình, hoặc một bất thường không rõ ràng. Trong trường hợp này cần đo TLC để phân biệt rõ. Nếu TLC giảm thì chẩn đoán chắc chắn RLTK hạn chế

Nếu đường cong hất lên và độ dốc giảm, lưu lượng giảm( xem hình ) thì hầu hết là RLTKTN. Chú ý đôi khi RLTK hỗn hợp cũng có hình dạng như vậy

Nếu đường cong lưu lượng- thể tích dẹt xuống thì gợi ý tắc nghẽn đường thở lớn (từ carina đến miệng)

Lưu lượng thở ra ở khoảng giữa 50% của FVC (FEF 25-75) hầu như thay đối giống như FEV1, nhưng nó thường giảm trước FEV1 trong sự phát hiện tắc nghẽn đường thở ở giai đoạn sớm, FEF 25-75 đôi khi giảm trong khi FVC, FEV1 và MVV bình .Trường hợp này hay gặp ở người già với triệu chứng nghèo nàn. Tuy nhiên chỉ số này biến thiên lớn nên một số tác giả khuyên phải thận khi đọc chỉ số này.

MVV sẽ thay đổi trong hầu hết các trường hợp như là FEV1. Với FEV1 bình thường thì MVV sẽ bình thường( FEV1- 40 = MVV). Cần lưu ý đến giới hạn thấp hơn ( FEV1- 30)

Nếu FEV1 giảm do RLTKTN thì MVV cùng sẽ giảm. Nhưng trong RLTKTN, FEV1 – 40 = MVV không phải lúc nào cũng đúng

Nếu FEV1 giảm do RLTKHC thì MVV luôn luôn giảm nhưng không phải giảm nhiều như FEV1

Nếu FEV1 bình thường nhưng MVV giảm dưới giới hạn dưới có thể gặp trong các trường hợp sau:

Bệnh nhân bị ốm, mệt, ho,hoặc thực hiện đo chưa gắng sức tối đa

Xem BN có rối loạn thần kinh cơ

Xem BN có tắc nghẽn đường thở lớn không. MVV giảm trong cả 3 loại tắc nghẽn trong, ngoài lồng ngực và cả hai. Trường hợp này phải xem hình dạng dẹt của đường cong lưu lượng- thể tích để khẳng định.

Nếu BN bị béo phì thì MVV giảm trước khi FEV1 giảm

Tiffenaeu (FEV1/VC) giảm < 70% giá trị dự đoán

Và/hoặc Gaensler (FEV1/FVC) giảm < 70%

Tùy thuộc mức độ giảm FEV1 để đánh giá mức độ nặng RLTKTN

TLC, VC, FVC giảm < 80% giá trị dự đoán

FEV1/VC bình thường hay tăng

Đánh giá mức độ RLTKHC dựa vào giá trị VC hoặc FVC (lấy giá trị lớn hơn)

80 – 60 : nhẹ 60 – 40 : trung bình