Top #10 ❤️ Lấy Ví Dụ Làm Rõ Chức Năng Nhiệm Vụ Của Nhà Nước Xhcn Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Làm Rõ Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Lực Lượng Cảnh Sát Biển Việt Nam

Bản Chất Và Vai Trò Của Pháp Luật

Văn Bản Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Văn Bản Pháp Luật?

Các Điều Kiện Để Đảm Bảo Tính Khả Thi Của Văn Bản Pháp Luật

Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật Và Đặc Điểm Của Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật

Văn Bản Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại Văn Bản Pháp Luật

Đại biểu Phạm Đình Cúc (Bà Rịa – Vũng Tàu) tán thành theo dự thảo Luật, đó là CSBVN là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của nhà nước, đồng tình kế thừa Pháp lệnh hiện hành, đồng thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022, trong đó xác định CSBVN là một trong những lực lượng “nòng cốt bảo vệ an ninh quốc gia”; thống nhất Luật An ninh quốc gia, nhằm khẳng định vị trí, vai trò của CSBVN là một trong những lực lượng chủ yếu trong bảo đảm thực thi pháp luật trên biển.

Về quyền hạn của CSBVN, đại biểu Phạm Đình Cúc cho rằng, cần bỏ cụm từ “về tổ chức cơ quan điều tra hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự tại Khoản 5 Điều 9 như Dự thảo Luật”, vì trong luật tổ chức cơ quan điều tra và Luật tố tụng hình sự đã có quy định rõ các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, trong đó có lực lượng CSBVN. Vì vậy Khoản 5, Điều 9 viết lại “tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự theo quy định của pháp luật”.

“Đây là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết, vì vậy việc quy định cụ thể, chi tiết về việc phối hợp hoạt động trong Dự thảo Luật nhằm xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi cơ quan, đơn vị trong phối hợp, hiệp đồng xử lý kịp thời các vấn đề trên biển”, đại biểu Bố Thị Xuân Linh (Bình Thuận) nêu ý kiến.

Theo đại biểu Bố Thị Xuân Linh, cần quy định rõ phạm vi cụ thể nội dung, nguyên tắc và trách nhiệm phối hợp giữa các lưc lượng thực thi pháp luật trên biển, xác định lực lượng chủ trì, lực lượng phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được pháp luật quy định. Đây là một bước tiến bộ so với Pháp lệnh hiện hành. Từ đó tạo cơ sở pháp lý để xây dựng các văn bản dưới luật, ký kết các quy chế phối hợp giữa các lực lượng khác và CSBVN đảm bảo tính khả thi và áp dụng luật vào thực tiễn.

Cũng có ý kiến cho rằng, khi lực lượng CSBVN thực thi nhiệm vụ trên biển cần phải cân nhắc trên các căn cứ chắc chắn có thể dừng hoặc không dừng để kiểm tra, kiểm soát bao gồm các căn cứ: Có hành vi vi phạm pháp luật hoặc dẫn đến dấu hiệu vi phạm pháp luật; không có phương tiện thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận hành vi vi phạm pháp luật hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật; có tố giác tin báo về hành vi vi phạm pháp luật; có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền về truy đuổi, bắt giữ người, tàu thuyền và phương tiện vi phạm pháp luật; người có vi phạm tự giác khai báo về hành vi vi phạm pháp luật.

Trước Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt đã giải trình và tiếp thu ý kiến những vấn các đại biểu Quốc hội nêu.

Một số ý kiến cho rằng, quy định tại khoản 1 là chồng chéo với chức năng, nhiệm vụ của một số lực lượng khác hoạt động trên biển và đề nghị quy định chặt chẽ, bảo đảm tính khả thi; có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “nòng cốt”. Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt cho biết: Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, dự thảo Luật quy định CSBVN là lực lượng chuyên trách của Nhà nước là kế thừa Điều 1 Pháp lệnh CSBVN hiện hành; thể chế hóa Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022, trong đó xác định CSBVN là một trong những lực lượng “nòng cốt bảo vệ an ninh quốc gia”; thống nhất với Luật An ninh quốc gia, nhằm khẳng định vị trí, vai trò của CSBVN là một trong những lực lượng chính, chủ yếu trong bảo đảm thực thi pháp luật trên biển. Đối với Hải quân và Bộ đội Biên phòng, dự thảo Luật đã giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp với CSBVN (khoản 2 Điều 22); đối với Công an, Kiểm ngư, Hải quân… có chức năng, nhiệm vụ riêng theo quy định của pháp luật.

Cơ Cấu Tổ Chức, Biên Chế Của Báo Pháp Luật Việt Nam

【Havip】Bản Chất Của Pháp Luật Là Gì?

Chức Năng Của Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Pháp Luật

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Công Thương Theo Quy Định Pháp Luật

Đề Tài Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay

Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam

Phát Huy Vai Trò Của Tổ Chức Công Đoàn Tham Gia Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Giáo Dục

Trình Bày Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam

Tin Học 10 Bài 3: Giới Thiệu Về Máy Vi Tính

Lý Thuyết: Giới Thiệu Về Máy Tính Trang 19 Sgk Tin Học 10

Cau Truc Va Chuc Nang Cua May Tinh

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

năng Nhà nước.Chức năng kinh tế của Nhà nước cũng là thể thống nhất giữa các

dấu hiệu phản ánh nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế, năng lực thực tế của

bộ máy nhà nước và phạm vi hoạt động hợp pháp của Nhà nước trên lĩnh vực kinh

tế.

Tổ chức quản lí kinh tế là chức năng có tầm quan trọng đặc biệt của bất kì

Nhà nước XHCN nào. Nội dung của chức năng tổ chức và quản lí kinh tế của Nhà

nước XHCN rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần giải quyết,

trong đó công tác kế hoạch hóa, xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN

và cơ chế quản lí là những vấn đề then chốt.

Vậy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương hướng (hay

phương diện, mặt) hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu

nhiệm vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng XHCN.

Vai trò của nhà nước rất quan trọng và không thể thiếu vắng trong mỗi mô

hình kinh tế nhưng vấn đề đặt ra ở đây là những cơ sở lí luận và thực tiễn về vai

trò kinh tế của Nhà nước trong bước chuyển từ nền kinh tế hóa tập trung sang nền

kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam cần phải được làm sáng tỏ từ mối

quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế thông qua phạm trù chức năng kinh tế của Nhà

nước XHCN. Chức năng kinh tế của nhà nước XHCN nói chung là hoạt động của

nhà nước thể hiện vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế xã hội .Chúng ta có thể

khái quát những vấn đề thuộc về lí luận chức năng kinh tế của nhà nước XHCN

Việt Nam thành những điểm nhận xét sau:

1. Lịch sử kinh tế cũng như lịch sử nhà nước ở các nước trên thế giới và ở

Việt Nam qua những thời địa với những mô hình kinh tế khác nhau là lịch sử xác

định vai trò kinh tế của nhà nước đồng thời cũng là lịch sử tìm kiếm sự tối ưu trong

các chính sách kinh tế của nhà nước .Dựa trên cơ sở kinh tế chế độ công hữu về tư

liệu sản xuất, nhà nước XHCN có chức năng quản lí nền kinh tế một cách có kế

hoạch và chức năng này đã từng được coi là chức năng đặc thù của nhà nước

XHCN. Tuy nhiên, trong thời kì quá độ, với những bước quanh co của lịch sử,

4

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

nhà nước, thể hiện ở sự thay đổi căn bản về vai trò kinh tế của Nhà nước. Đặc trưng

của mô hình kinh tế ấy đã quy định những vai trò kinh tế tương ứng của Nhà nước

Việt Nam. Nền kinh tế quốc dân của Việt Nam ngày nay là nền sản xuất hàng hóa

có nhiều thành phần tham gia theo cơ chế thị trường.Trong cơ chế thị trường, trên

nguyên tắc tự do kinh doanh, các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh độc lập về

tài sản, nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ kinh tế một cách bình đẳng

theo nguyên tắc tự định đoạt. Mặt khác, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được

xác định là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.Việc xây dựng nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam không chỉ nhằm mục đích đơn thuần về tăng trưởng kinh tế mà

phải lấy sự tăng trưởng kinh tế làm cơ sở, làm điều kiện để phát triển hài hòa, đáp

ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội, phát triển con người toàn diện.

Những đặc điểm trên đã quyết định sự thay đổi vai trò kinh tế của Nhà nước

khi chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường

định hướng XHCN. Trong cơ chế kinh tế hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trò

lãnh đạo thống nhất toàn bộ nền kinh tế quốc dân đồng thời cũng vừa là người điều

hành, tổ chức các hoạt động kinh tế. Còn trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu đặt

ra là phải xác định rõ tư cách của Nhà nước là người quản lí nền kinh tế quốc dân

trên tầm vĩ mô.Hoạt động kinh tế và quản lí sản xuất kinh doanh là quyền của chủ

thể hoạt động kinh tế. Nhà nước tác động, điều chỉnh các hoạt động kinh tế với tư

cách là cơ quan công quyền mà không can thiệp một cách trực tiếp vào các quan hệ

thị trường.

Phạm vi và nội dung hoạt động thể hiện vai trò kinh tế của nhà nước trong

nền kinh tế thị trường đã có những thay đổi cơ bản. Xét trên tổng thể, Nhà nước

quản lí kinh tế chính là nhà nước trực tiếp tổ chức hoạt động kinh tế trên các lĩnh

vực khác nhau

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc trưng vai trò kinh tế

của Nhà nước được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

6

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

XHCN, vai trò đó lại được thể hiện một cách gián tiếp trên cơ sở thừa nhận và tôn

trọng vai trò của thị trường.

Các cơ sở lí luận, pháp lí và thực tiễn vừa nêu về vai trò kinh tế của nhà

nước, cho phép xác định cơ sở chức năng kinh tế của Nhà nước theo những nội

dung và phương thức thực hiện tương ứng với vai trò của Nhà nước ở mỗi mô hình

kinh tế.

Thật ra kinh tế nhà nước đều có tính tất yếu khách quan ở các mô hình kinh

tế thế giới (Xem: Ngân hàng thế giới, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi,

Nxb chính trị quốc gia, H.1998,tr.41). Nhưng với bản chất của dân, do dân, vì dân,

Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam không phải nhà tư bản lớn và kinh tế nhà

nước ở Việt Nam không phải là hình thức biểu hiện của CNTB độc quyền nhà nước

mà là hình thức của nền kinh tế công hữu phục vụ cho lợi ích của nhân dân trong

đó Nhà nước là người đại diện.Vì thế thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà

nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là vấn đề thực tiễn và lí luận

mới ở Việt Nam hiện nay. Về mặt nhận thức cần thấy vai trò chủ đạo của kinh tế

nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là “sản phẩm” của sự tồn tại

nhiều thành phần kinh tế phát triển theo định hướng XHCN; nếu không có sự phân

công, phối hợp tốt vai trò của các thành phần kinh tế thì cũng không có đựơc vai trò

chủ đạo của kinh tế Nhà nước.

Vai trò của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện

nay được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

– Kinh tế nhà nước là cơ sở vật chất cho việc thực hiện chức năng kinh tế của

nhà nước; là công cụ để hướng dẫn, điều tiết các thành phần kinh tế phát triển theo

định hướng XHCN;

– Kinh tế nhà nước là công cụ hỗ trợ và phục vụ cho các thành phần kinh tế,

tạo điều kiện và thúc đẩy các thành phần kinh tế đều phát triển;

– Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác tạo thành nền tảng của nền kinh

tế quốc dân.

8

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

Nhìn chung cơ cấu kinh tế đất nước đang được chuyển đổi theo hướng công

nghiệp háo, hiện đại hóa; cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch theo

hướng sắp xếp lại và đổi mới kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng kinh tế ngoài

quốc doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng kinh tế nhà nước trong

GDP: khoảng 39%, kinh tế tập thể: 8,5%, kinh tế tư nhân: 3,3%, kinh tế cá thể :

32%, kinh tế hỗn hợp: 3,9%, kinh tế có vốn đầu tư nứơc ngoài: 13,3%. (Đảng cộng

sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc

gia, H,tr.229)

*Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo

Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo như cân đối

giữa tích lũy và tiêu dùng, trong đó tiỉệ tích lũy để phát triển tăng; cân đối tài

chính-tiền tệ. Chính sách của Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi cho việc huy

động các nguồn vốn phát triển, nhất là nguồn vốn trong nước.Năng lực của các

ngành sản xuất, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được nâng lên rõ rệt.

*Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển

Nhờ có những đổi mới trong những chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà

nước, đặc biệt là Luật đầu tư nước ngoài tại Việ Nam được bổ sung, sửa đổi ngày

càng thông thoáng hơn; Luạt thương mại đuợc ban hành và có hiệu lực mà hoạt

động xuất nhập khẩu những năm qua được đánh giá là phát triển khá, đầu tư trực

tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội

của đất nước; vôốnhỗ trợ phát triêểnchính thức (ODA) tiếp tục tăng góp phần phát

triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội. Đồng thời các doanh nghiệp VIệt Nam cũng

đang từng bước mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài

*Cơ chế quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác lập, tổ

chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới

Các chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của

Nhaànước đang dần được thể chế hóa bằng các đạo luật như Luật doanh nghiệp,

Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng, Luật đất đai(sửa đổi), Luật đầu tư nước

10

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

nước Châu Á mà hậu quả của nó đối với Việt Nam cũng khá nặng nề, tình hình

chính trị – xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường.

3.2. Những tồn tại và bất cập trong tổ chức, quản lí kinh tế của Nhà nước

Cộng hòa XHCN Việt Nam

Mỗi bước phát triển kinh tế đều thể hiện mặt thành công và những tồn tại,

bất cập trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước. Nhìn chung, những

tồn tại và bất cập trong hoạt động quản lí kinh tế của Nhà nước hiên nay thể hiện

trên những điểm chủ yếu sau:

*Về hệ thống pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác của Nhà nước

Biểu hiện chung là chính sách đối với các thành phần kinh tế của Nhà nước

hiện nay chưa thật sự đồng bộ và nhất quán. Trong thực tế từ các nguyên tắc hiến

pháp cho đến các đạo luật, các văn bản duới luật và hoạt động thực thi chính sách

hàng ngày của các cơ quan và cán bộ công chức nhà nước… là cả chặng đường dài

mà ở đó có thể có sự khúc xạ, biến tướng so với các chủ trương, chính sách lớn.

Chẳng hạn, giá dịch vụ các loại, giá thuê đất, chế độ tín dụng khác nhau giữa các

loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài. Đến nay, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa được hình thành

đồng bộ, môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng chưa đượctạo lập đầy đủ. Trong

chính sách, thể chế quản lí của Nhà nước còn tồn tại những hình thức bao cấp, vẫn

mang tính chất “xin-cho” gắn với thủ tục phiền hà, thiếu công khai nhưng lại có

nhiều mặt buông lỏng quản lí, không giữ được trật tự, kỉ cương (Báo cáo của Chính

phủ tại kì họp Quốc hội khóa X, 2000)

Từ năm 2000, Việt Nam đã khắc phục đượ tình trạng suy giảm nhuưg nhìn

chung, cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động của Việt Nam chưa có sự chuyển

biến rõ rệt. Lao động trong nông nghiệp chiếm 67%; xuất khẩu chủ yếu là hàng

nguêyn liệu thô hoặc hàng gia công, đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vấn đề bức

xúc, tình trạng phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa thành

thị và nông thôn còn cao.. (theo “Kinh tế Việt Nam trong quá trình cải cách”, Cải

12

Các Kiểu Nhà Nước Trong Lịch Sử Nhân Loại

Các Kiểu Nhà Nước Trong Lịch Sử

Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Thể Hiện Khái Niệm Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Việt Nam(Có Thể Sử Dụng Màu Để Tô) Câu Hỏi 234497

Em Hãy Cho Biết Bản Chất Của Nhà Nước Ta Là Gì? Bộ Máy Nhà Nước Gồm Những Cơ Quan Nào? Nêu Cụ Thể Từng Cơ Quan?

Quản Lý Hành Chánh Nhà Nước

Chức Năng Nhiệm Vụ Của Hành Chính Nhà Nước

Xây Dựng Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

Bảng Mô Tả Công Việc Giám Sát Nhà Hàng Khách Sạn

Bản Mô Tả Công Việc Giám Sát F&b Trong Khách Sạn

Đề Tài Mẫu: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Hàng Trong Hoạt Động Du Lịch

Bai 1 Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ, Bí Thư Chi Bộ Bai 1 Ppt

ỦNG HỘ WEBSITE BẰNG CÁCH BẤM “ĐĂNG KÝ” OR “SUBSCIREBE” KÊNH YOUTUBE ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ KINH PHÍ DUY TRÌ WEBSITE VÀ ĐĂNG TẢI NHIỀU TÀI LIỆU MỚI CHO BẠN.

CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Chức năng.

– Thực hiện công tác tuyển dụng nhận sự đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, chiến lược của công ty.

– Tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo.

– Tổ chức việc quản lý nhân sự toàn công ty.

– Xây dựng quy chế lương thưởng, các biện pháp khuyến khích – kích thích người lao động làm việc, thực hiện các chế độ cho người lao động.

– Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, qui định, chỉ thị của Ban Giám đốc.

– Nghiên cứu, soạn thảo và trình duyệt các qui định áp dụng trong Công ty, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty – các bộ phận và tổ chức thực hiện.

– Phục vụ các công tác hành chánh để BGĐ thuận tiện trong chỉ đạo – điều hành, phục vụ hành chánh để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt.

– Quản lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.

– Tham mưu đề xuất cho BGĐ để xử lý các vấn đề thuộc lãnh vực Tổ chức-Hành chánh – Nhân sự.

2. Chức năng.

– Thực hiện công tác tuyển dụng nhận sự đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, chiến lược của công ty.

– Tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo.

– Tổ chức việc quản lý nhân sự toàn công ty.

– Xây dựng quy chế lương thưởng, các biện pháp khuyến khích – kích thích người lao động làm việc, thực hiện các chế độ cho người lao động.

– Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, qui định, chỉ thị của Ban Giám đốc.

– Nghiên cứu, soạn thảo và trình duyệt các qui định áp dụng trong Công ty, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty – các bộ phận và tổ chức thực hiện.

– Phục vụ các công tác hành chánh để BGĐ thuận tiện trong chỉ đạo – điều hành, phục vụ hành chánh để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt.

– Quản lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.

– Tham mưu đề xuất cho BGĐ để xử lý các vấn đề thuộc lãnh vực Tổ chức-Hành chánh – Nhân sự.

Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Nhà Nước

Những Điều Cần Biết Khi Chọn Mua Mainboard

Bo Mạch Chủ Trên Máy Tính Là Gì?

Motherboard, Mainboard Là Gì Và Có Tác Dụng Gì?

Motherboard Là Gì? Chức Năng Của Bo Mạch Chủ Là Gì?

Nêu Các Kiểu So Sánh Và Lấy Ví Dụ

Nghị Luân Về Việc Ca Dao Thường Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Ẩn Dụ

Ôn Tập Đợt Nghỉ Dịch Bd So Sanh 2 Pptx

Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong Tình Ca Ban Mai Của Chế Lan Viên

Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chế Lan Viên

Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chếlanviên

hiểu rõ luôn nhá!

Các kiểu so sánh

Dựa vào mục đích và các từ so sánh người ta chia phép so sánh thành hai kiểu:

a) So sánh ngang bằng

Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các từ so sánh sau đây: là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu…bấy nhiêu.

Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể sinh động. Vì thế phép so sánh thường mang tính chất cường điệu.

VD: Cao như núi, dài như sông (Tố Hữu)

b) So sánh hơn kém

Trong so sánh hơn kém từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì…

VD:

– Ngôi nhà sàn dài hơn cả tiếng chiêng

Muốn chuyển so sánh hơn kém sang so sánh ngang bằng người ta thêm một trong các từ phủ định: Không, chưa, chẳng… vào trong câu và ngược lại.

VD:

Bóng đá quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.

Bóng đá quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học.

Tác dụng của so sánh

+ So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả.

VD:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. (Ca dao)

+ So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc gợi trí tưởng tượng của ta bay bổng. Vì thế trong thơ thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.

VD:

Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (3) bị lược bỏ. Người đọc người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm cho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

Biện Pháp So Sánh: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ

Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài Của Phạm Ngũ Lão Để Làm Sáng Tỏ Hào Khí

Soạn Bài Vội Vàng Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2

Phân Tích Bài Thơ Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quốc Tuấn

✅ Văn Mẫu: Tỏ Lòng

Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Nhà Nước

Chức Năng Nhiệm Vụ Của Hành Chính Nhà Nước

Xây Dựng Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

Bảng Mô Tả Công Việc Giám Sát Nhà Hàng Khách Sạn

Bản Mô Tả Công Việc Giám Sát F&b Trong Khách Sạn

Đề Tài Mẫu: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Hàng Trong Hoạt Động Du Lịch

1, Bản chất nhà nước ta hiện nay là gì ? Khác nhà nước trước đây như thế nào ?

2, Tình huống: Đến ngày bầu cử Hội đồng nhân dân xã nhưng vì bận đi chợ xa nên bố mẹ em nhờ hàng xóm bỏ phiếu hộ

a. Việc làm của bố mẹ em như vậy là đúng hay sai ? Vì sao

b. Em có thể nói gì với bố mẹ về việc này

Nêu tên chức năng, nhiệm vụ của bốn loại cơ quan trong bộ máy nhà nước ta. Liên hệ với thực tế địa phương, đất nước

Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viết Nam quy định như thế nào về quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo?

Câu 1: Trình bày bản chất của Nhà nước ta? Để chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước em cần phải làm gì? (Lấy 4 ví dụ cụ thể)

Câu 2: Cho tình huống sau:

“Páo bị ốm, bố mẹ Páo không cho đi bệnh viện mà mời thầy mo đến chữa bệnh bằng bùa phép.

Nhưng đã hơn bốn hôm rồi mà bệnh của Páo không thuyên giảm và lại có phần nặng thêm”

A, Em có đồng tình với việc làm của bố mẹ bạn Páo không? Vì sao?

B, Nếu là bạn của Páo em sẽ làm gì?

Câu 3: Thế nào là di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể? Cho biết tên 2 di sản văn hoá vật thể, 2 di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới?

Câu 4: Thế nào là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo? Bản thân em phải làm gì? Để thực hiện tốt quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo?

vì sao nói nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một nhà nước của nhân dân,do nhân dân , vì nhân dân

cảm ơn nhiều nha

ai trả lời tớ vote 5 sao cho

Vì sao công dân có nghĩa vụ tuân theo hiến pháp, pháp luật???

Là 1 công dân của nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam, em sẽ làm gì để thể hiện lòng tôn trọng của mình ?

thanks !

Trông bộ máy nhà nước cơ quan nào là cơ quan quyền lực cao nhất? Vì sao?

Các cậu giúp mình với

Câu hỏi: Cảm nhận của anh (chị) về một nhân vật, phong trào, sự kiện lịch sử hay những đổi thay có tính đột phá của Đà Nẵng, cho thấy sự lãnh đạo linh hoạt, sáng tạo của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng trong 85 năm qua; đồng thời gợi ý một số đề xuất, góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng ngày càng giàu đẹp, an bình, văn minh, hiện đại (Người viết có thể chọn vấn đề nào mà mình tâm huyết nhất).

Bt1:Nhân dân, ủy ban nhân dân, hoạt động nhân dân, quốc hội, chính phủ là các cơ quan nhà nước. Em hãy đặt các từ vào ô cần thiết cho đúng

câu nói: Số cô có mẹ có cha

Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông

số cô có vợ có chồng

sinh con đầu lòng không gái thì trai là của ai?

nếu mẹ em tin vào mê tín dị đoan thì em sẽ làm gì để mẹ không tin vào hiện tượng đó nữa?

Những Điều Cần Biết Khi Chọn Mua Mainboard

Bo Mạch Chủ Trên Máy Tính Là Gì?

Motherboard, Mainboard Là Gì Và Có Tác Dụng Gì?

Motherboard Là Gì? Chức Năng Của Bo Mạch Chủ Là Gì?

Mainboard Là Gì? Tìm Hiểu Kỹ Hơn Về Mainboard (Bo Mạch Chủ)

Ẩn Dụ Là Gì? Có Mấy Kiểu Ẩn Dụ. Lấy Ví Dụ Các Loại

Soạn Bài Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ

Phóng Đại Là Gì? Tìm Hiểu Về Phóng Đại Là Gì?

Soạn Bài Thực Hành Các Phép Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối

Thực Hành Các Phép Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối

Giáo Án Bài Thực Hành Biện Pháp Tu Từ Phép Điệp Và Phép Đối

Xin chào các em ! Trong bài học này các em lớp 6 sẽ được học phương pháp ẩn dụ, khái niệm, một số kiểu ẩn dụ và các ví dụ về phương pháp đó. Để hiểu hơn bài học này mời các em theo dõi bên dưới chi tiết hơn. Bài viết do loigiaihay biên soạn.

Khái niệm về ẩn dụ

Định nghĩa có rất nhiều trên mạng nhưng không phải thông tin nào cũng chuẩn xác. Theo SGK ẩn dụ là gọi tên các sự vật, hoặc hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nhau có tác dụng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm.

Một số hình thức, ví dụ về ẩn dụ

Trong biện pháp ẩn dụ có thể chia ra làm 4 hình thức khác nhau:

– Ẩn dụ hình thức: người nói hoặc viết giấu đi một phần ý nghĩa.

Ví dụ:

Về thăm nhà Bác Làng Sen

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.

– Ẩn dụ cách thức: thể hiện một vấn đề bằng nhiều cách, việc ẩn dụ này giúp người diễn đạt đưa hàm ý vào câu nói.

Ví dụ:

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

– Ẩn dụ phẩm chất: có thể thay thế phẩm chất của sự vật hoặc hiện tượng này bằng phẩm chất của sự vật, hiện tượng khác cả hai phải có nét tương đồng.

Ví dụ:

Người Cha mái tóc bạc

Đốt lửa cho anh nằm

– Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: phép tu từ miêu tả tính chất, đặc điểm của sự vật được nhận biết bằng giác quan này nhưng lại được miêu tả bằng từ ngữ sử dụng cho giác quan khác .

Tác dụng của ẩn dụ

Trong các tác phẩm văn học, ca dao, thơ thường sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ. Biện pháp tu từ ẩn dụ có tác dụng giúp tăng sức biểu cảm cho câu văn/câu thơ. Ẩn dụ giàu hình ảnh và có tính hàm súc cao giúp người đọc người nghe hấp dẫn và bị lôi cuốn.

Ví dụ : Người Cha mái tóc bạc

Nếu dùng như cách thông thường thay người cha bằng “Bác Hồ mái tóc bạc” sẽ trở thành một câu thông thường và mất đi tính biểu cảm. Bài thơ sẽ vô vị.

Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ

Nhiều học sinh rất hay nhầm lẫn giữa ẩn dụ và hoán dụ. Vì vậy chúng tôi sẽ giúp bạn phân tích điểm giống và khác nhau giữa 2 hình thức này.

a. Giống nhau

– Về bản chất cả 2 biện pháp tu từ đều gọi sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác.

– Dựa theo quy luật liên tưởng, gần gũi với nhau.

– Ẩn dụ và hoán dụ đều giúp tăng sức biểu cảm, diễn đạt đến với người đọc, người nghe.

Ẩn dụ còn có thể kết hợp với các biện pháp khác ví dụ như nhân hóa, so sánh…tất cả đều có mục đích cuối cùng là tăng sự hiệu quả khi diễn đạt cho người đọc, người nghe.

Giải bài tập SGK

Câu 1:

Trong 3 cách diễn đạt trên đều mang tính biểu cảm khác nhau.

Cách 1: câu thông thường, không dùng biện pháp tu từ nào. Không có cảm xúc.

Cách 2: Dùng phép so sánh (như), phép so sánh Bác Hồ như người cha, tạo sự gần gũi, thân thương nhiều hơn so với cách 1.

Cách 3: Dùng phép ẩn dụ: người cha = Bác Hồ giúp tăng sức biểu cảm, thể hiện tình cảm của Bác với người lính trong bài thơ.

Câu 2:Tìm ẩn dụ.

a. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây: thái độ trân trọng, biết ơn, những người đã tạo ra thành quả cho thế hệ sau tiếp nhận.

b. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng: nói đến môi trường sống tác động lớn đến nhân cách. Khuyên nhủ con người nên chọn môi trường tốt để sống.

Mực: ẩn dụ về môi trường xấu.

Đèn: ẩn dụ cho điều tốt đẹp, môi trường sống trong lành.

c. Thuyền, bến đó là hình ảnh ẩn dụ.

Thuyền là con trai.

Bến là con gái.

d. Mặt trời đó là ám chỉ Hồ Chí Minh – to lớn, vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Câu 3: Tìm ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Nêu tác dụng.

b. Ánh nắng trừu tượng nhưng trong câu b lại có hình hài, đường nét.

.c. Tiếng rơi rất mỏng

d. Ướt tiếng cười của bố

Câu 4: Chính tả các em tự làm.

Như vậy chúng tôi đã cung cấp toàn bộ kiến thức về ẩn dụ là gì cũng như tác dụng, giải bài tập đầy đủ trong sách giáo khoa. Rất hữu ích cho các bạn học sinh.

Phép Tu Từ So Sánh Ôn Từ Và Câu Ở Lớp 3, 4, 5.

Bài Tập Tìm Hiểu Và Vận Dụng Một Số Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp Ở Tiểu Học

Nhân Mùa Vu Lan 2022::ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa

Đề Thi Bán Kì Ngữ Văn Lớp 10

Phân Tích Bài Thơ “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” Của Nguyễn Duy

Tiểu Luận Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam

Đề Tài Tìm Hiểu Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam

Cụ Thể Hóa Chức Năng Tổ Chức Của Quản Trị Văn Phòng

Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy

Gia Lai: Lập Đoàn Kiểm Tra Dấu Hiệu Vi Phạm Đối Với Trưởng Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy

tế của nhà nước Cộnghòa XHCN Việt Nam hiện nay 3.1.Khái quát về thành tựu đạt được trong việc tổ chức, quản lí kinh tế của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Bằng chính sách, pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác, qua gần hai thập kỉ dổi mới đất nước, Nhà nước ta thực sự đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo ra những chuyển biến to lớn về mọi mặt của đất nước. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu rõ nét và đồng bộ, trong đó tốc độ tăng trưởng khá cao ở tất cả các ngành, các lĩnh vực.Nếu tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm từ 1976-1980 chỉ có 0,4% thì từ năm 1991-1999, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 7,7%.Nếu nhìn khái quát giai đoạn từ 1996 đến nay thì những thành tựu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau: *Nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân được duy trì Sản xuất nông nghiệp liên tục phát triển, sản lượng lương thực bình quân đầu người đã tăng từ 360kg năm 1995 lên trên 444kg năm 2000.Các ngành công nghiệp và xây dựng vượt qua những khó khăn, thách thức đạt được nhiều tiến bộ với nhịp độ tăng trưởng bình quân 13,5%/năm; giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,8%/năm *Cơ cấu nền kinh tế quốc dân đã có chuyển biến tích cực Nhìn chung cơ cấu kinh tế đất nước đang được chuyển đổi theo hướng công nghiệp háo, hiện đại hóa; cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại và đổi mới kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng kinh tế nhà nước trong GDP: khoảng 39%, kinh tế tập thể: 8,5%, kinh tế tư nhân: 3,3%, kinh tế cá thể : 32%, kinh tế hỗn hợp: 3,9%, kinh tế có vốn đầu tư nứơc ngoài: 13,3%. (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H,tr.229) *Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo như cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, trong đó tiỉệ tích lũy để phát triển tăng; cân đối tài chính-tiền tệ. Chính sách của Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn vốn phát triển, nhất là nguồn vốn trong nước.Năng lực của các ngành sản xuất, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được nâng lên rõ rệt. *Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển Nhờ có những đổi mới trong những chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước, đặc biệt là Luật đầu tư nước ngoài tại Việ Nam được bổ sung, sửa đổi ngày càng thông thoáng hơn; Luạt thương mại đuợc ban hành và có hiệu lực mà hoạt động xuất nhập khẩu những năm qua được đánh giá là phát triển khá, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng góp phần tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; vôốnhỗ trợ phát triêểnchính thức (ODA) tiếp tục tăng góp phần phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội. Đồng thời các doanh nghiệp VIệt Nam cũng đang từng bước mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài *Cơ chế quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác lập, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới Các chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Nhaànước đang dần được thể chế hóa bằng các đạo luật như Luật doanh nghiệp, Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng, Luật đất đai(sửa đổi), Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam(sửa đổi), Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Bộ luật lao động, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật khoa học và công nghệ … Nhiều loại thị trường hàng hóa dịch vụ như thị trường vốn, tiền tệ, tài chính, lao động, bất động sản, khoa học và công nghệ đã được thừa nhận và bước đầu được tạo lập khuôn khổ pháp lí. Cơ chế quản lí kinh tế vĩ mô của nhà nước đã được định hình; hành lang pháp lí cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế dã đựoc xác lập. Các thủ tục hành chínhđã giảm bớt, tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới một bước quan trọng theo các yêu cầu của việc đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh. Chính sách chủ động hội nhập với nền kinh tế quốc tế và khu vực đang được tăng cường trên cơ sở phát huy năng lực của nền kinh tế đất nước. Đánh giá tình hình chung sau 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đó là tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nền kinh tế từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế . Đặc biệt là nhà nước đã kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp, chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng XHCN; cơ cấu nền kinh tế quốc dân từ chỗ chủ yếu có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể nay đã huyển sang nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần trong đó nền kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Đời sống nhân dân những năm qua được cải thiện, đất nước đã ra khỏi khủng hoaảng kinh tế-xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thị trường do những biến động ở Liên Xô và các nước Đông Âu gây ra; phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, không để bị cuốn sâu vào cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế ở một số nước Châu Á mà hậu quả của nó đối với Việt Nam cũng khá nặng nề, tình hình chính trị-xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường. 3.2.Những tồn tại và bất cập trong tổ chức, quản lí kinh tế của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Mỗi bước phát triển kinh tế đều thể hiện mặt thành công và những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước. Nhìn chung, những tồn tại và bất cập trong hoạt động quản lí kinh tế của Nhà nước hiên nay thể hiện trên những điểm chủ yếu sau: *Về hệ thống pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác của Nhà nước Biểu hiện chung là chính sách đối với các thành phần kinh tế của Nhà nước hiện nay chưa thật sự đồng bộ và nhất quán. Trong thực tế từ các nguyên tắc hiến pháp cho đến các đạo luật, các văn bản duới luật và hoạt động thực thi chính sách hàng ngày của các cơ quan và cán bộ công chức nhà nước… là cả chặng đường dài mà ở đó có thể có sự khúc xạ, biến tướng so với các chủ trương, chính sách lớn. Chẳng hạn, giá dịch vụ các loại, giá thuê đất, chế độ tín dụng khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa được hình thành đồng bộ, môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng chưa đượctạo lập đầy đủ. Trong chính sách, thể chế quản lí của Nhà nước còn tồn tại những hình thức bao cấp, vẫn mang tính chất “xin-cho” gắn với thủ tục phiền hà, thiếu công khai nhưng lại có nhiều mặt buông lỏng quản lí, không giữ được trật tự, kỉ cương (Báo cáo của Chính phủ tại kì họp Quốc hội khóa X, 2000) Từ năm 2000, Việt Nam đã khắc phục đượ tình trạng suy giảm nhuưg nhìn chung, cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động của Việt Nam chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Lao động trong nông nghiệp chiếm 67%; xuất khẩu chủ yếu là hàng nguêyn liệu thô hoặc hàng gia công, đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, tình trạng phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa thành thị và nông thôn còn cao.. (theo “Kinh tế Việt Nam trong quá trình cải cách”,Cải cách kinh tế, tài chính Việt Nam& Trung Quốc và thành tựu và triển vọng, Nxb. Tài chính,tác giả Nguyễn Công Nghiệp, H, tr.14) Trong gần 20 năm đổi mới đất nước, bên cạnh những kết quả đã đạt được, về xây dựng hệ thống pháp luật cũng như hoạt động thi hành pháp luật và giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong các tầng lớp nhân dân còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục để phát triển kinh tế-xã hội theo chiều sâu của sự nghiệp đổi mới đất nước. So với nhu cầu của đất nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội hiên nay thì có thể thấy hệ thống pháp luật còn những khuyết điểm như sau : Chúng ta vẫn còn thiếu pháp luật trong một số lĩnh vực quan trọng như cạnh tranh, chốn độc quyền; chứng khoán; kiểm toán; kế toán, thốn kê; kinh doanh bất động sản Luật pháp của nhà nước ta vẫn chưa đồng bộ, phần lớn chỉ dưừnglại ở các nguyên tắc chung, muốn đi vào cuộc sống phải ban hành nhiều văn bản dưới luật để hướng dẫn chi tiết mà nhiều khi việc này còn chậm trễ. Pháp luật về kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh thậm chí còn mâu thuẫn ,thiếu tính minh bạch và tính xác định gây khó khăn cho việc sử dụng pháp luật của các nhà đầu tư. Nhà nước ta có bộ máy thi hành pháp luật khá đồ sộ nhưng hiệu lực và hiệu quả còn chưa tương xứng; năng lực cán bộ, công chức nhà nước còn yếu; việc giải quyết các treanh chấp kinh tế, dân sự còn chậm . Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật còn kém, trong đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vi phạm nư kinh doanh trái phép, buôn lậu, hàng giả, trốn thuế, nợ đọng thuế … Cùng đó, Luật pháp nhà nước ta hay phải sửa đổ,i bổ sung cũng có mặt trái là không đảm bảo được tính ổn định cho sự vận hành của các quan hệ kinh tế Thêm nữa, pháp luật kinh tế thiếu nhiều cơ chế kiểm soát thông qua thị trường, ít mang tính chất cuủa”luật tư” (xem “Mấy điều về pháp luật kinh tế Việt Nam hiện nay”-Nguyễn Am Hiểu, Tạp chí Luật học, số 3/1999, tr.25).Nhìn chung pháp luật hiện hành còn đang thể hiện những điểm mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước. Đó là mâu thuẫn trong việc thừa nhận nền kinh tế thị trường theo nguyên tắc tự do kinh doanh mà trên thực tế các cơ chế chính sách, các quy định cụ thể vẫn còn nặng về thủ tục hành chính.Ngaòi ra, hệ thống pháp luật kinh tế của VIệt Nam còn nhiều sự khác biệt với hệ thống pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới. * Về việc thực hiện chức năng quản lí đối với kinh tế Nhà nước Tình hình chung hiện nay của khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam cho thấy một số doanh nghiệp vươn lên thích ứng với cơ chế thị trường và phát huy được tác dụng tích cực nhưng nhìn chung hiệu quả kinh doanh cảu các doanh nghiệp nhà nước còn thấp, việc sử dụng các nguồn lực của kinh tế nhà nước còn hạn chế và lãng phí. Nhiều daonh nghiệp thua lỗ kéo dài, chưa được sắp xếp lại.Chủ trương cổ phần hóa, đổi mới quan hệ sở hữu và cơ chế quản lí doanh nghiệp nhà nước tiến hành vẫn còn chậm.Hệ thống cơ chế, chính sách đối với kinh tế nhà ước vẫn chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, chưa tạo ra được cơ sở pháp lí vững chắc đẻ cho các chủ thể kinh tế nhà nước tham gia cạnh tranh. Hiện nay, các tổng công ty nhà nước còn nhiều vấn đề bất cập về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động, chưa thật sự thể hiện được vai trò của mình như là tất yếu kinh tế-xã hội mà còn mang nặng tính hành chính. Đảng cộng sản Việt Nam cũng nhận dịnh là khu vực nhà nước chậm được sắp xếp củng cố và đổi mới… Còn một bộ phận không ít doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thiếu năng động, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước (theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.52) *Về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Từ nguyên tắc chung về sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở tập trung thống nhất quyền lực nhà nước. Hiện nay cũngcòn nhiều vấn đề phải tiếp tục giải quyết theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn còn những bất hợp lí, thiếu cơ sở khoa học, tình trạng chồng lấn chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền còn khá phổ biến.Các bộ quản lí ngành kinh tế và bộ tổng hợp chưa có tiêu chí khoa học để phân biệt, có bộ chỉ thực hiện một chức năng. Sự phân công, phối hợp giữa các bộ với nhau, giữa bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lí kinh tế-xã hội chưa thật rõ ràng và hợp lí. Nhìn chung, như nhận định của chính phủ VIệt Nam về htực trạng nền hành chính hiện nay là tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng, nấc: phương thức quản lí hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa thông suốt (theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010) Trong điều kiện hiện nay, hoạt động tư pháp ngày càng được nhà nước chú trọng là điều tất yếu, bởi lẽ tính hoàn chỉnh và cân đối của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một trong những biểu hiện cho tính thống nhất của quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Tuy nhiên cũng phải thấy việc kiểm soát các quan hệ kinh tế -xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường là lĩnh vực còn mới đối với cơ quan tư pháp Việt Nam. Hiệu quả hoạt động tư pháp hiện nay phản ánh tình trạng hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy cũng như năng lực quản lí cán bộ của ngành tư pháp Việt Nam đang còn nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức quản lí kinh tế của Việt Nam hiện nya có nhiều bất cập mà Nhà nước đang từng bước khắc phục. Đó là tình trạng quá nhiều người trong các cơ quan hành chính chế độ chức trách còn chưa cụ thể, trình độ năng lực còn hạn chế, tình trạng quna liêu, tham nhũng không phải ít. Nhiều người không muốn xóa bỏ cơ chế làm việc cũ vì sợ mất đi những đặc quyền đặc lợi qua các khoản thu bất chính từ cơ chế “xin-cho”.Mặt khác, đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế hiện nay đông nhưng không đồng bộ, vừa htừa lại vừa thiếu, trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo quản lí chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới nhất là quản lí kinh tế thị trường .Nhìn chung thực trạng về bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công hcức hiên nay đang là thách thức lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước . 3.3.Nguyên nhân những tồn tại và bất cập Ngoài các nguyên nhân khách quan là do xuất phát từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, với những hậu quả của nhiều năm chiến tranh ác liệt và htiên tai nặng nề thì nhưữngtồn tại và bất cập trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước hiên nay còn do các nguyên nhân chủ quan. Những nguyên nhân chủ quan bao gồm nhận thức và hành động của con người thể hiện trong cả tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các cơ quan cũng như cán bộ, công chức nhà nước. Đó là các nguyên nhân sau: Thứ nhất, đó là do ảnh hưởng tư tưởng cũ trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.Nền kinh tế thị truờng định hướng XHCN ở Việt Nam được xây dựng từ cơ sở trước đó vốn là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.Vì thế những nếp nghĩ thói quen hành động của con người đã mấy chục năm vẫn còn ảnh huởng rất lớn và không dễ dàng thoát khỏi ngay đựơc.Trong tình hình hiện nay, tàn dư của chủ nghĩa nhà nước trong quản lí kinh tế thể hiện ở chỗ vẫn còn tàn dư tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế mà không thấy vai trò tự điều chỉnh của xã hội và những sự cần thiết của sự điều chỉnh mang tính nhà nước. Biểu hiện của tàn dư này có thể gặp khá phổ biến trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước như trong hoạt động xây dựng các đạo luật, các văn bản duới luật như nghị định của Chính phủ là văn bản nào cũng thấy có phần, chương quy định về quản lí nhà nước trong lĩnh vực ấy mà nhiều khi thiếu cơ sở vững chắc và thiếu tính khả thi. Biểu hiện khác về sự ảnh hưởng của tư tưởng quản lí nhà nước trong cơ chế cũ là về tính chủ đạo của kinh tế nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo về bản chất khác với tính tập trung của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Nhưng hiện vãn còn quan niệm cho rằng kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo nghĩa là kinh tế nhà nước phải nắm giữ hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và nếu như vậy thì mới thể hiện định hướng XHCN của nền kinh tế. Từ đó mà người ta vẫn chưa hoàn toàn gột bỏ được tư tưởng về chế độ bao cấp của Nhà nước thể hiện ở chế độ bảo hộ doanh nghiệp nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng rào thuế quan nghiêm ngặt. Về quản lí nhà nước với các chủ thể kinh tế nhà nước, đến nay trong việc xây dựng và tổ chức bộ máy chủ quản lí hành chính với doanh nghiệp nhà nước với kiểu quản lí đơn chức năng, cồng kềnh nhiều tầng nấc, nhiều người. Thứ hai, do nhận thức chưa thống nhất về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Đây một phần cũng là hệ quả của nguyên nhân trên và mặt khác còn do việc sao chép kinh nghiệm của nước ngoài một cách máy móc không phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Biểu hiện của sự không thống nhất trong nhận thức về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay trước hết là tính không đồng bộ của hệ thống chính sách của Nhà nước. Các chính sách lớn thì mở nhưng việc thực thi hàng ngày thì lại bị vướng mắc hay cản trở bởi hàng loạt các quy định, các thủ tục hành chính rườm rà, ách tắc. Đó là biểu hiện về tư tưởng cục bộ của các ngành, các cơ quan, các địa phương trong quá trình thực thi chính sách kinh tế của Nhà nước. Nhiều người muốn níu kéo cơ chế cũ là do những lợi ích cá nhân trong cơ chế đó nhưng ngay trong nhận thức chung của xã hội, của các cán bộ, công chức nhà nước cũng chưa đạt đến sự thống nhất về những vấn đề như xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chính sách đất đai, kinh tế trang trại, nội dung và bước đi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (theo Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H,2001,tr.17). Về vấn đề vait rò chủ đạo của nền kinh tế hiện nay vẫn có sự nhận thức chưa thống nhất, chẳng hạn không ít người vẫn coi trọng số lượng hơn chất lượng, cho rằng cần phải thành lập doanh nghiệp nhà nước hơn nữa để làm đối trọng với doanh nghiệp dân doanh nhằm tạo ra thế cạnh tranh,… Thứ ba, do trình độ năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức còn chưa thật sự đáp ứng được yêu cấu của nhiệm vụ. Việ Nam xây dựng nền kinh tế thị truờng định hướng XHCN vốn từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhiều cán bộ, công chức nhà nước được đào tạo theo mô hiình kinh tế cũ không còn phù hợp với yêu cầu mới của nhiệm vụ. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước tuươg xứng với yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mới đạt được kết quả bước đầu, chưa thật sự vững chắc. Vì thế, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì những bất cập về trình độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là điều dễ hiểu. 4.Phương hướng nâng cao hiệu quả chức năng kinh tế 4.1.Chiến lược phát triển pháp luật và hoàn thiện hệ thống kinh tế Trong quản lí kinh tế, Nhà nước phải sử dụng đồng bộ tất cả các công cụ trong đó pháp luật là nền tảng.Từ đường lối chính sách của Đảngvà Nhà nước để xây dựng hệ thống pháp luật, không phải chỉ có việc là chuyển thành ngôn từ pháp lí hay đem lại cho chúng hình thức của văn bản pháp luật mà đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu thích đáng những nhu cầu, mức độ cần điều chỉnh các quan hệ kinh tế-xã hội. Không phải toàn bộ nội dung đường lối, chính sách đếu được đưa vào nội dung văn bản quy phạm pháp luật mà còn phải qua quá trình thể chế hóa với những yêu cầu đặc thù. Điều này đòi hỏi cần phải khắc phục tình trạng văn bản pháp luật được ban hành vội vã, mang tính chủ quan, chưa đủ độ chín muồi, kém tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế. Lĩnh vực kinh doanh là lĩnh vực hết sức năng động và phức tạp nên các chính sách của nhà nước, các biện pháp kế hoạch cũng phải đa dạng và linh hoạt. Tuy nhiên, pháp luật của Nhà nước phản ánh đầy đủ cái đa dạng phong phú ấy bằng phương pháp riêng của mình; pháp luật mang trong nó cái “hồn” của chính sách chứ không thể sao chép chính sách một cách gượng ép. Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật của nước ta là chính sách, kế hoạch phát triển tổng thể của Nhà nước gồm cả lập pháp, thi hành pháp luật nhằm giáo dục nâng cao ý thức pháp luật để hoàn thiện các giải pháp đồng bộ về pháp luật để điều chỉnh các hoạt động kinh tế-xã hội; tạo thế chủ động về hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của Nhà nước; ổn định hóa chính sách pháp luật.Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật của Nhà nước trong điều kiện hiện nay cũng cần phải được hoàn thiện trên cơ sở coi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đang diễn ra mạnh mẽ như là tất yếu khách quan của thời đại..Chiến lược phát triển pháp luật của Nhà nước phải xác định được những vấn đề cơ bản, có tính định hướng cũng như chương trình hóa dài hạn gồm: -Hướng phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội và nhu càu mức độ điều chỉnh một cách tổng quát; -Các nhu cầu điều chỉnh trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội quan trọng. -Chương trình xây dựng các lĩnh vực pháp luật; -Chương trình tổ chức thực hiện pháp luật, giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật. Có thể quan niệm hệ thống pháp luật về kinh tế được cấu trúc theo hai mảng lớn sau: Thứ nhất là hệ thống các qui phạm pháp luật xác định chế độ quản lí của Nhà nước với hoạt động kinh tế. Hệ thống này điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước và quyền của các chủ thể kinh tế, xác dịnh phạm vi thẩm quyền của Nhà nước và quyền của các chủ thể kinh tế. Đặc trưng của quan hệ xã hội trong mảng này là quan hệ giữa một bên là Nhà nước-cơ quan công quyền đại diện cho lợi ích của xã hôi, của người tiêu dùng có thẩm quyền theo quy định của pháp luật buộc các chủ thể kinh tế phải thực hiện những nghĩa vụ do pháp luật quy định, còn các chủ thể kinh tế có quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước phải thực hiện những công việc theo luật định đảm bảo cho hoạt động kinh tế được thuận lợi. Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước chỉ được thực hiện những hành vi do luật định không được can thiệp quá giới hạn thẩm quyền, làm cản trở các hoạt động kinh tế. Chủ thể kinh tế chỉ phải thực hiện những nghĩa vụ do luật định một cách rõ ràng, công khai, ngoài ra không có nghĩa vụ bắt buộc nào khác. Thứ hai là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giao dịch giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng. Đây là mảng lớn thứ hai trong hệ thống pháp luật về kinh tế và cũng là mảng còn yếu, Nhà nước cần tập trung khắc phục. Đặc trưng của mảng quan hệ xã hội giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng là lợic ích kinh tế quyết định sự tham gia quan hệ đồng thời nó trực tiếp quyết định hành vi của họ. Do vậy, các nguyên tắc quan trọng hàng đầu của hệ thống các quy phạm trong mảng này là nguyên tắc tự định đoạt, nguyên tắc tự do thỏa thuận trên cơ sở không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong lĩnh vực này, chủ thể được tự do thỏa thuận tất cả những gì mà pháp luật không cấm, tất cả những gì ngoài phạm vi pháp luật quy định phải có điều kiện, pahỉ xin phép… Nhà nước tôn trọng tất cả những thỏa thuận như vậy và đảm bảo cho các thỏa htuận, cam kết hợp pháp được tuân thủ như ý chí của cá bên. Đồng thời, vai trò to lớn của nhà nước còn được htể hiện ở chỗ Nhà nước chủ động nghiên cứu và hoàn thiện các mô hình, các hình thức pháp lí cho cá loại hình thị trường, cá giao dịch kinh tế hoặc khắc phục những điểm bất cập của pháp luật hiện hành, tạo môi trường pháp lí thông htoáng và thuận lợi cho cá chủ thể kinh tế hoạt động. HIện nay, một trong những vấn đề bức xúc trong mảng pháp luật này là vấn đề hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng. Mặt khác, mảng pháp luật về các loại hình doanh nghiệp nhất là luật về công ti cũng cần phải được hoàn thiện để đảm bảo tính “tự hành” cho các quan hệ về tổ chức nội bộ của công ty. Hệ thống pháp luật về kinh tế được coi là hoàn chỉnh là hệ thống phải phát triển đầy đủ cả hai mảng pháp luật kể trên..Nguyên tắc xuyên suốt hệ thống pháp luật về kinh tế là dành sự thuận lợi nhất cho hoạt động của các chủ thể kinh tế chứ khong phải chỉ dành thuận lợi cho hoạt động quản lí nhà nước mà gây trở ngại cho hoạt động kinh tế.. Bởi vậy, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng: -Phát huy vai trò các yếu tố cơ bản của thị truờng gồm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong hoạt động kinh tế; tự do kinh doanh; sự vận động tự do của vốn và hàng hóa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế. -Đảm bảo sự quản lí vĩ mô của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế; -Đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật; -Đảm bảo hiệu lực thực hiện của hệ thống pháp luật; -Đảm bảo sự tương thích với pháp luật và thông lệ quốc tế của hệ thống pháp luật. Từ các yêu cầu cơ bản trên, cần tập trung vào các giải pháp sau đây cho việc hoàn thiện và nâng cao vai trò của hệ thống pháp luật kinh tế : Thứ nhất, hoàn thiện và tăng cường bảo đảm các quy định của pháp luật về quyền tự do kinh doanh.Quyền tự do kinh doanh bao gồm tự do thành lập doanh nghiệp và tự chủ trong hoạt động kinh doanh. Để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường thì nhu cầu mở rộng quyền tự do kinh doanh và tăng cường tính hiện thực của quyền ấy là đòi hỏi tiên quyết của nhà nước trong tất cả các hoạt động từ xây dưng pháp luật đến bảo vệ pháp

Cơ Cấu Tổ Chức, Điều Hành Và Quản Lý Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước

Xây Dựng Một Số Quân Binh Chủng Tiến Thẳng Lên Hiện Đại

Giáo Án Lịch Sử 7 Bài 20: Nước Đại Việt Thời Lê Sơ (1428

Binh Chủng Liên Lạc Tổ Chức Hội Nghị Quân Chính Năm 2022

Phòng Tổ Chức Cán Bộ

Ngân Hàng Nhà Nước Là Gì? Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước?

Thủ Tướng Chính Phủ Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Thanh Tra, Giám Sát Ngân Hàng

Ngân Hàng Trung Gian (Intermediary Bank) Là Gì? Vai Trò Chức Năng

Ngân Hàng Trung Gian (Intermediary Bank) Là Gì? Các Loại Hình Ngân Hàng Trung Gian

Các Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại

Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại

Ngân hàng nhà nước là gì? Khái niệm, chức năng nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam? Ngân hàng nhà nước là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ?

Trong bất cứ một quốc gia, một nền kinh tế nào thì không thể thiếu hệ thống các ngân hàng hoạt động trung gian trao đổi tiền tệ, cho vay tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cho vay vốn để phát triển kinh tế để vượt qua khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh do thiếu vốn đầu tư.

Tuy nhiên, các ngân hàng hoạt động và cần có sự giám sát của ngân hàng nhà nước để quản lý và xử lí vi phạm trong lĩnh vực tín dụng. Trong bài viết này chúng tôi sẽ làm rõ các khái niệm, chức năng nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng nhà nước là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ. Các quy định.

Theo quy định của pháp luật thì ngân hàng Nhà nước là có tư cách pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngân hàng Nhà nước được thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và , thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ theo quy định của pháp luật.

2. Cơ cấu của ngân hàng nhà nước Việt Nam

Theo quy định của pháp luật thì chính phủ ban hành cơ cấu của ngân hàng nhà nước như sau:

+ Vụ Chính sách tiền tệ theo quy định của pháp luật là một trong những cơ quan quyết định chế độ, công bố tỉ giá đối hoái, đưa ra các cơ chế điều hành tỉ giá.

+ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế là một trong những chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ quan của ngân hàng nhà nước Việt Nam.

+ Vụ dự báo thống kê

+ Vụ hợp tác quốc tế là một trong những đơn vị thuộc tổng cục hải quan có chức năng tham mưu giúp tổng cục trưởng, tổng cục hải quan thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan theo quy định của pháp luật cũng là một tổ chức thuộc cơ cấu của ngân hàng trung ương.

+ Vụ ổn định tiền tệ – tài chính cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu của ngân hàng trung ương có các chức năng, nhiệm vụ tham mưu giúp thống đốc trong hoạt động, đánh giá, thực thi, phân tích các chế độ, chính sách an toàn vĩ mô của hệ thống tài chính và biện pháp phòng ngừa rủi ro có tính hệ thống của các hệ thống tài chính.

+ Vụ kiểm toán nội bộ cũng là một đơn vị thuộc ngân hàng trung ương để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kiếm toán nội bộ mọi hoạt động tại các đơn vị thuộc hệ thống của ngân hàng của nhà nước.

+ Vụ pháp chế là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương có những chức năng tham mưu giúp thống đốc thực hiện việc quản lý nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong ngành nhân hàng.

+ Vụ tài chính, kế toán cũng là một đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước

+ Vụ truyền thông cũng thuộc đơn vị cơ cấu của ngân hàng nhà nước.

+ Văn phòng là một đơn vị cơ cấu của ngân hàng trung ương.

+ Cục công nghệ thông tin

+ Cục phát hành và kho quỹ là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương giúp cho thống đốc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng ngân hàng trong lĩnh vực phát hành và kho quỹ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.

+ Cục quản trị là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương có các chức năng tổ chức thực hiện các công tác quản trị, đảm bảo hậu cần phục vụ cho các hoạt động tại trụ sở chính và các công tác bảo vệ trong hệ thống ngân hàng nhà nước.

+ Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng là hoạt động của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn và là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương

+ Các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng là một trong những đơn vị cơ cấu của ngân hàng nhà nước.

+ Viện chiến lược ngân hàng cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước và là một trong những tổ chức khoa học và công nghệ công lập trực thuộc ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chế độ tự chủ đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo quy định của ngân hàng nhà nước theo quy định của pháp luật.

+ Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước và là tổ chức sự nghiệp công lập trực thuộc ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chức năng đăng ký tín dụng quốc gia, thu nhận, xử lý, lưu trữ phân tích thông tin tín dụng, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, chấm điểm, xếp hạng tín dụng pháp nhân và thể nhân trên lãnh thổ nước Việt Nam nhằm cung ứng các sản phẩm dịch vụ thông tin tín dụng theo quy định của ngân hàng nhà nước phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước của ngân hàng theo quy định của pháp luật.

+ Thời báo ngân hàng cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước và là một kênh thông tin hàng đầu về lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm giữ uy tín và truyền tải thông tin nhanh nhất đến những bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực tài chính ngân hàng theo quy định của pháp luật.

+ Tạp chí ngân hàng cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước và là một đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động chủ yếu theo luật báo chí, có các nhiệm vụ giúp thống đốc ngân hàng thực hiện công tác thông tin tuyên truyền phổ biến đường lối chủ trương của đảng chính sách pháp luật của nhà nước hoạt động ngân hàng và những thành tựu về khoa học công nghệ của ngành ngân hàng theo quy định của pháp luật.

+ Học viện Ngân hàng.

Các đơn vị trên là một trong những đơn vị hành chính giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương và một số đơn vị là đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.

Theo quy định của pháp luật thì vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Hợp tác quốc tế có 7 phòng; Vụ Quản lý ngoại hối, Vụ Tài chính – Kế toán, Vụ Dự báo, thống kê, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế có 6 phòng; Vụ Kiểm toán nội bộ, Vụ Tổ chức cán bộ có 5 phòng; Vụ Thanh toán, Vụ Pháp chế có 4 phòng; Vụ Ổn định tiền tệ – tài chính có 3 phòng.

Hiện nay, văn phòng có 5 phòng; Cục Phát hành và kho quỹ có 09 phòng và Chi cục tại thành phố Hồ Chí Minh; Cục Quản trị có 7 phòng và Chi cục tại thành phố Hồ Chí Minh; Cục Công nghệ thông tin có 7 phòng và Chi cục tại thành phố Hồ Chí Minh; Sở Giao dịch có 9 phòng.

Ngoài ra, thì các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Chi nhánh thành phố Hà Nội có 7 phòng; Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh có 8 phòng; Chi nhánh tỉnh, thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nghệ An, Đắk Lắk có 5 phòng; 56 Chi nhánh tỉnh còn lại có 4 phòng.

– Với tư cách là cơ quan của Chính phủ, ngân hàng nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, khác với các Bộ khác thì

+ Quản lý nhà nước không chỉ bằng các biện pháp hành chính mà chủ yếu bằng các biện pháp kinh tế thông qua hoạt động của mình

+ Ngân hàng nhà nước đem về cho ngân sách nhà nước nguồn thu.

– Với tư cách là ngân hàng trung ương, ngân hàng trung ương còn có các chức năng sau:

+ Là ngân hàng duy nhất phát hành tiền của Việt Nam

+ Là ngân hàng của tổ chức tín dụng thể hiện mở tài khoản nhận tiền gửi cho vay, thực hiện các giao dịch thanh toán cho các tổ chức tín dụng hoặc cho hệ thống kho bạc.

+ Làm đại lý cho kho bạc trong việc bán, trả gốc và lãi cho trái phiếu Chính Phủ.

– Mọi hệ thống ngân hàng đều hướng vào thực hiện 3 mục tiêu sau:

+ Ổn định tiền tệ (ổn định giá cả, tỷ giá hối đoái của Việt Nam đồng hay ổn định sức mua đối nội, đối ngoại..)

+ Bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng

+ Thúc đấy kinh tế tăng trưởng

– Các mục tiêu có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa hỗ trợ thúc đấy nhau, vừa loại trừ nhau. Vì vậy, khi điều hành nếu cần giải quyết một mục tiêu thì cẩn phải tính đến hệ quả và tác động của nó đối với mục tiêu khác.

Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Thanh Tra, Giám Sát Ngân Hàng

Vai Trò Của Alt Và Ast Trong Chẩn Đoán Các Bệnh Về Gan

Chỉ Số Xét Nghiệm Sgot Là Gì? Khi Nào Cần Xét Nghiệm Sgot ?

Chỉ Số Sgot Là Gì? Ý Nghĩa Của Các Chỉ Số Trong Xét Nghiệm Men Gan

Xét Nghiệm Sgot Thường Được Chỉ Định Khi Nào?

Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?

Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236

Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?

Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ

Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư

Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?

Tiền là thứ dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng). Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.

Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.

Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học

Định nghĩa

Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ tương rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết. Từ đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế thừ các hoạt động thương mại. Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Trong kinh tế học, có một số khái niệm về tiền.

* Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại.

* Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dẽ dàng chuyển thành tiền mặt.

* Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái phiếu, kỳ phiéu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.

Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa

Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa

Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11

Tác Hại Của Whey Protein

Phân Biệt Whey Protein Concentrate, Isolate Và Hydolyzed

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước Tỉnh Hưng Yên

Mã Số Ngân Hàng Acb Được Dùng Để Làm Gì?

Tổng Đài Ngân Hàng Acb 24/24

Ngân Hàng Acb Nợ Xấu Tăng Hơn 60% So Cuối Năm 2022

Số Hotline Tổng Đài Acb Là Gì? Các Chức Năng Của Tổng Đài Acb

(Theo Nghị định 96/2008/NĐ-CP, ngày 26/08/2008)

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước.

Ngân hàng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

1. Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Ngân hàng Nhà nước đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

2. Trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm, hàng năm; chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động và các dự án, công trình quan trọng thuộc lĩnh vực ngân hàng; dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật.

3. Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị thuộc lĩnh vực quản lý của Ngân hàng Nhà nước.

4. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án, công trình quan trọng thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước đã được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.

5. Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, trình Chính phủ để trình Quốc hội; sử dụng lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; trình Chính phủ đề án phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

6. Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải thể, đổi tên và chấp thuận việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng; hướng dẫn về các điều kiện thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

7. Kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng; kiểm soátt tín dụng; xử lý các hành vi vi phạm luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật.

a) Quản lý các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật.

b) Quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước; kiểm soát dự trữ quốc tế;

c) Xác định tỷ giá giữa Việt Nam đồng và ngoại tệ, tổ chức và phát triển thị trường ngoại tệ; xây dựng cơ chế tỷ giá trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

9. Về xây dựng cán cân thanh toán quốc tế:

a) Thu thập, tổng hợp, lập dự báo và theo dõi việc thực hiện cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam; báo cáo tình hình thực hiện cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam theo quy định của pháp luật;

b) Làm đầu mối cung cấp số liệu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam cho các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

10. Về quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của người cư trú là tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và cá nhân theo quy định của pháp luật:

a) Thực hiện quản lý nhà nước đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức khác thuộc khu vực công; giám sát, theo dõi việc vay, trả nợ nước ngoài của khu vực tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra việc bảo lãnh vay nước ngoài của các ngân hàng thương mại và của các tổ chức khác được phép cấp bảo lãnh vay nước ngoài theo quy định của pháp luật;

c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính điều hành hạn mức vay thương mại nước ngoài hàng năm của doanh nghiệp, tổ chức khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

d) Tổng hợp tình hình vay, trả nợ nước ngoài hàng năm của các doanh nghiệp, tổ chức khác thuộc khu vực công và khu vực tư nhân; báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Tài chính để tổng hợp chung tình hình về vay, trả nợ nước ngoài hàng năm của cả nước;

đ) Hướng dẫn và tổ chức việc đăng ký các khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức khác thuộc khu vực công và khu vực tư nhân (kể cả các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh);

g) Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro từ nợ của khu vực doanh nghiệp;

h) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về quản lý vay, trả nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật.

11. Về quản lý cho vay và thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng:

a) Phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định mức, nguồn vốn, hình thức, đối tượng, cơ chế quản lý cho vay và thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ;

b) Quy định điều kiện, đối tượng, hình thức và cơ chế quản lý cho vay, thu hồi nợ nước ngoài đối với người cư trú là tổ chức tín dụng;

c) Quy định điều kiện, thủ tục, quy trình cấp phép và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cho phép người cư trú là tổ chức kinh tế cho vay, thu hồi nợ nước ngoài;

d) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về cho vay và thu hồi nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật.

12. Về đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng :

13. Đại diện cho nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các ngân hàng và tổ chức tiền tệ quốc tế theo uỷ quyền của Chủ tịch nước, Chính phủ:

a) Thực hiện chức năng thành viên tại Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư quốc tế (International Investment Bank – IIB), Ngân hàng Hợp tác kinh tế quốc tế (International Bank Por Economic Cooperation – IBEC);

14. Về việc thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương:

a) Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu huỷ tiền;

b) Thực hiện tái cấp vốn để cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế;

c) Điều hành thị trường tiền tệ; thực hiện nghiệp vụ thị trường mở;

d) Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng; quản lý nhà nước đối với hoạt động thanh toán; cung ứng dịch vụ thanh toán; tổ chức thực hiện chính sách khuyến khích, mở rộng và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

đ) Làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước;

e) Tổ chức hệ thống thông tin và cung ứng dịch vụ thông tin ngân hàng; quản lý các tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; phân tích xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Việt Nam;

g) Thực hiện các nghiệp vụ khác của Ngân hàng Trung ương.

15. Quyết định phê duyệt và tổ chức thực hiện các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền; thẩm định và kiểm tra việc thực hiện các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ngân hàng theo quy định của pháp luật.

16. Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật; được sử dụng các khoản trích từ nguồn thu hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về ngoại hối, tiền tệ và hoạt động ngân hàng để phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.

17. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật.

18. Tổ chức và chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của pháp luật.

19. Quyết định các chủ trương, biện pháp cụ thể và chỉ đạo thực hiện cơ chế hoạt động của các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

20. Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước:

a) Xây dựng đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và chỉ đạo thực hiện sau khi đề án được phê duyệt;

b) Phê duyệt theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng;

c) Trình Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm theo thẩm quyền các chức danh thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc các tổ chức tín dụng nhà nước, doanh nghiệp nhà nước khác thuộcphạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước.

21. Hướng dẫn và kiểm tra hoạt động của hội, tổ chức phi chính phủ trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước; xử lý hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của hội, tổ chức phi chính phủ theo quy định của pháp luật.

22. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng thuộc thẩm quyền; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, cửa quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật.

23. Quyết định và chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của Ngân hàng Nhà nước theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; quyết định và chỉ đạo đổi mới phương thức làm việc, hiện đại hoá công sở và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của Ngân hàng Nhà nước.

24. Quản lý ngạch công chức, viên chức chuyên ngành thuộc lĩnh vực ngân hàng:

a) Tổ chức thi nâng ngạch viên chức; ban hành tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ ngạch viên chức được phân công, phân cấp quản lý theo quy định của pháp luật;

b) Xây dựng tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch công chức thuộc lĩnh vực ngân hàng để Bộ Nội vụ ban hành.

25. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, chế độ nghỉ hưu, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương và các chế độ chính sách khác đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước.

26. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế về tiền lương, tuyển dụng và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với đặc thù của Ngân hàng Nhà nước.

27. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và theo quy định của pháp luật.

Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

Quy Định Chức Năng, Quyền Hạn Của Ngân Hàng Nhà Nước

Các Mô Hình Ngân Hàng Trung Ương Và Lựa Chọn Phù Hợp Với Việt Nam

Nhiệm Vụ Và Chức Năng Của Ngân Hàng Trung Ương Liên Bang Nga

Download Chuong: Ngan Hang Trung Uong Va Chinh Sach Tien Te

🌟 Home
🌟 Top