Mô Hình Tổ Chức: Tập Đoàn Tài Chính

--- Bài mới hơn ---

  • Công Tác Tổ Chức Của Công Đoàn Cơ Sở
  • Hệ Thống Tiếp Nhận, Trả Lời Kiến Nghị Của Người Dân
  • Vai Trò Đảng Đoàn Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Trong Hoạt Động Của Hđnd Tỉnh Nhiệm Kỳ 2021
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Liên Đoàn Lao Động Tỉnh, Thành Phố Trực Thuộc Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam
  • Mục Đích Lý Tưởng Và Tính Chất Đoàn Tncs Hồ Chí Minh
  • Từ ngày 01/7/2008, mô hình tổ chức mới đa được áp dụng tại Tập đoàn, bao gồm: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng Quản trị (có các Ủy ban chức năng giúp việc); Ban Kiểm soát và hình thành các Khối chức năng. Mô hình quản trị này được xây dựng dựa trên mục tiêu phát triển chiến lược kinh doanh của Tập đoàn; các chuẩn mực quản trị doanh nghiệp của các Tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước; tuân thủ theo các quy định của pháp luật Việt Nam và các quy định tại Điều lệ Tập đoàn Bảo Việt. Mô hình tổ chức này xác định cơ cấu quản trị rõ ràng, áp dụng các chuẩn mực trong quản trị điều hành, xác định trách nhiệm và mối quan hệ của công ty mẹ và các công ty con; qua đó, việc quản trị doanh nghiệp sẽ vừa chặt chẽ, vừa đảm bảo hiệu quả cho doanh nghiệp, nhưng không mang tính mệnh lệnh hành chính. Đây là một dấu mốc quan trọng góp phần đưa Tập đoàn từng bước hòa nhập với thị trường tài chính – bảo hiểm khu vực và thế giới, nâng cao vị thế và hình ảnh của Tập đoàn, nhằm góp phần đạt mục tiêu phát triển Bảo Việt là trở thành Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.

     

     

    HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

     

     

     

    HĐQT Tập đoàn Bảo Việt duy trì việc họp định kỳ mỗi quý một lần nhằm bàn bạc, trao đổi, thống nhất và kịp thời đưa ra các chỉ đạo trong điều hành hoạt động kinh doanh của Tập đoàn. Ngoài việc tổ chức họp định kỳ thường xuyên, HĐQT có thể triệu tập họp bất thường hoặc thực hiện lấy ý kiến các thành viên HĐQT bằng văn bản để ban hành các Nghị quyết, Quyết định của HĐQT dựa trên sự nhất trí, đồng lòng của các thành viên HĐQT và trên cơ sở lợi ích của các cổ đông và vì sự phát triển bền vững của Tập đoàn. Việc tổ chức các phiên họp của HĐQT đảm bảo được thực hiện theo đúng những quy định của Điều lệ Tập đoàn và Luật Doanh nghiệp.

     

     

    BAN KIỂM SOÁT

    Các thành viên Ban Kiểm soát được bầu bằng nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông theo phương thức bầu dồn phiếu với số lượng cụ thể do Đại hội đồng cổ đông quyết định từ 3 đến 5 người.

     

     

     

    CÁC ỦY BAN CHỨC NĂNG

     

     

    ỦY BAN KIỂM TOÁN

     

     

    ỦY BAN CHIẾN LƯỢC VÀ ĐẦU TƯ

    Ủy ban Chiến lược và Đầu tư là Ủy ban trực thuộc HĐQT, có chức năng hoạch định chiến lược phát triển, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược kinh doanh và đề xuất thay đổi về chiến lược kinh doanh của toàn Tập đoàn; thúc đẩy việc thực hiện chiến lược và kế hoạch phát triển của Tập đoàn; hoạch định chiến lược đầu tư, xây dựng chính sách và nguyên tắc đầu tư ngắn, trung và dài hạn; nghiên cứu, thẩm định, đánh giá các khoản đầu tư thuộc thẩm quyền của HĐQT.

    Uỷ ban Chiến lược và Đầu tư có từ ba đến năm ủy viên. Các ủy viên của Uỷ ban Chiến lược và Đầu tư sẽ do HĐQT bổ nhiệm cho từng nhiệm kỳ phù hợp với nhiệm kỳ của HĐQT.

     

     

    ỦY BAN THÙ LAO VÀ BỔ NHIỆM

    Ủy ban Thù lao và Bổ nhiệm là Ủy ban trực thuộc HĐQT, có chức năng tư vấn và tham mưu cho HĐQT trong việc hoạch định, thúc đẩy và đánh giá việc thực hiện chiến lược và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực Tập đoàn; nghiên cứu, thẩm định, đánh giá các đề xuất của của Tổng Giám đốc, Hội đồng thành viên các công ty con do Tập đoàn đầu tư 100% vốn điều lệ, Chủ nhiệm các Ủy ban thuộc HĐQT và các cán bộ quản lý để kiến nghị HĐQT xem xét phê duyệt về những vấn

    Ủy ban Thù lao và Bổ nhiệm có từ ba đến năm ủy viên. Các ủy viên của Ủy ban Thù lao và Bổ nhiệm do HĐQT bổ nhiệm có thời hạn phù hợp với nhiệm kỳ của HĐQT.

     

    Tổng Giám đốc Tập đoàn chịu trách nhiệm lãnh đạo, quản lý và điều hành toàn bộ hoạt động của Tập đoàn Bảo Việt; quyết định các công việc theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được quy định trong Điều lệ Tập đoàn Bảo Việt; thực hiện trách nhiệm thành viên HĐQT theo quy định tại Quy chế hoạt động của HĐQT. Song song với việc hình thành các Ủy ban giúp việc thuộc HĐQT, mô hình tổ chức được xây dựng trên nguyên tắc phân công, quản lý theo các Khối chức năng.

     

     

     

     

     

     

    Tổng Giám đốc Tập đoàn chịu trách nhiệm lãnh đạo, quản lý và điều hành toàn bộ hoạt động của Tập đoàn Bảo Việt; quyết định các công việc theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được quy định trong Điều lệ Tập đoàn Bảo Việt; thực hiện trách nhiệm thành viên HĐQT theo quy định tại Quy chế hoạt động của HĐQT. Song song với việc hình thành các Ủy ban giúp việc thuộc HĐQT, mô hình tổ chức được xây dựng trên nguyên tắc phân công, quản lý theo các Khối chức năng.

     

    Việc hình thành các Khối chức năng đa tạo ra những ưu việt rõ ràng trong khâu quản lý, điều hành, cụ thể: đáp ứng được các chuẩn mực về quản trị doanh nghiệp tiên tiến; việc tổ chức bộ máy mang tính năng động cao, có thể được điều chỉnh tùy theo từng thời kỳ cho phù hợp với việc quản lý kinh doanh; giúp Lãnh đạo Tập đoàn thực hiện việc quản trị doanh nghiệp theo hướng tập trung; tạo lập được tính chuyên môn hóa cao; quá trình ra các quyết định được kịp thời, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động và kinh doanh của Tập đoàn. Việc xác định nhiệm vụ cụ thể của các Khối chức năng là cơ sở để xây dựng bản mô tả công việc đối với từng chức danh công việc và xây dựng chính sách lương, thưởng phù hợp nhằm thu hút nhân sự có năng lực, góp phần vào quá trình đổi mới và góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của Tập đoàn.

     

    admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Thư Chi Đoàn Thôn Năng Nổ
  • Công Tác Đối Ngoại Của Lực Lượng Công An Nhân Dân Trong Tình Hình Mới
  • Mô Tả Công Việc Của Kế Toán Thanh Toán Trong Doanh Nghiệp
  • 5 Tính Năng Nổi Bật Của Máy Đếm Tiền Silicon 8 Plus
  • Viên Uống Điều Trị Tiền Liệt Tuyến Blackmores Prostate Health Formula 60 Capsules
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Mô Hình Tổ Chức Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Chi Nhánh Tỉnh Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phòng Ban Trong Ngân Hàng & Chức Năng Của Mỗi Phòng
  • 5 Thuốc Bổ Gan Của Nhật Bản Tốt Nhất Hiện Nay
  • (Mẫu Mới) Swisse Liver Detox Úc – Viên Uống Thải Độc Mát Gan (Hộp 120 Viên)
  • 2 Loại Thuốc Bổ Gan Đức Được Ưa Chuộng Nhất Hiện Nay
  • Bổ Gan Đức, Giải Độc Gan, Bảo Vệ Gan
  •  Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ, áp dụng cho ngày

    10/09/2021

     như sau:

    Tỷ giá trung tâm

    Tỷ giá

    1 Đô la Mỹ =

    23.249 VND

    Bằng chữ

    Hai mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi chín Đồng Việt Nam

    Số văn bản

    181/TB-NHNN

    Ngày ban hành

    10/09/2021

    at System.Net.FixedSizeReader.ReadPacket(Byte buffer, Int32 readBytes, AsyncProtocolRequest asyncRequest)

    at System.Net.Security.SslState.StartReceiveBlob(Byte buffer, AsyncProtocolRequest asyncRequest)

    at System.Net.Security.SslState.ProcessAuthentication(LazyAsyncResult lazyResult)

    at System.Threading.ExecutionContext.runTryCode(Object userData)

    at System.Runtime.CompilerServices.RuntimeHelpers.ExecuteCodeWithGuaranteedCleanup(TryCode code, CleanupCode backoutCode, Object userData)

    at System.Threading.ExecutionContext.Run(ExecutionContext executionContext, ContextCallback callback, Object state)

    at System.Net.TlsStream.ProcessAuthentication(LazyAsyncResult result)

    at System.Net.TlsStream.Write(Byte buffer, Int32 offset, Int32 size)

    at System.Net.ConnectStream.WriteHeaders(Boolean async)

    at System.Net.HttpWebRequest.GetResponse()

    at Tandan.Portal.ThanhHoa.CrawlTiGiaNganHangTrungUong.CrawlTiGiaNganHangTrungUongUserControl.GetHtmlFromLink(String SrcUrl)

    at Tandan.Portal.ThanhHoa.CrawlTiGiaNganHangTrungUong.CrawlTiGiaNganHangTrungUongUserControl.Page_Load(Object sender, EventArgs e)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Agribank Ngân Hàng Đa Năng Của Nông Dân
  • Tìm Hiểu Về Ngân Sách Nhà Nước
  • Ngân Hàng Thương Mại Và Vai Trò Của Ngân Hàng Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • 8 Thuốc Bổ Gan Của Mỹ Tốt Nhất 2021 Thanh Nhiệt Giải Độc Giá Từ 300K
  • Các Loại Thuốc Bổ Gan Của Mỹ Tin Dùng 2021
  • Yêu Cầu Đổi Mới Và Quan Điểm Xây Dựng Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Trong Điều Kiện Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Đường Lối Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới
  • Xây Dựng Đảng Và Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Xây Dựng Htct Cơ Sở Vững Mạnh Trên Địa Bàn Tỉnh Tây Ninh Hiện Nay
  • Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Nhằm Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Yêu cầu đổi mới và quan điểm xây dựng mô hình tổ chức hệ thống chính trị ở Việt Nam trong điều kiện mới

    1.1. Yêu cầu đổi mới từng thành tố của hệ thống chính trị

    Thứ nhất, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam: Trên bình diện chung, trước những tác động của tình hình mới – thời cơ và thách thức, để hoàn thành sứ mệnh của mình, Đảng phải “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đổi mới”. Đảng cần có đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt; có biện pháp nhân lên sức mạnh nội sinh, phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thời đại; tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân làm chủ xã hội và phát huy tốt vai trò quản lý của Nhà nước ngay từ địa phương, cơ sở. Mặt khác, với vai trò của nhân tố lãnh đạo công cuộc hội nhập, phát triển trong điều kiện đối diện với nhiều thách thức hiện nay, Đảng phải đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống nguy cơ thoái hoá, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá Việt Nam do các thế lực thù địch chủ mưu; không để đất nước bị động, bất ngờ.

    Bên cạnh công tác xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, Đảng cần đặc biệt nhấn mạnh vấn đề xây dựng đạo đức cho Đảng và của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, cán bộ là linh hồn của tổ chức, công việc tốt hay kém đểu là do cán bộ. Về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cùng những nội dung đã được nêu từ những Đại hội trước, Đại hội XII nhấn mạnh: “Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, khắc phục những thủ tục rườm rà, bất hợp lý, giảm bớt giấy tờ, giảm mạnh hội họp”. Khâu then chốt có ý nghĩa quyết định làm tăng sức mạnh của hệ thống chính trị là Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh vể chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức, gắn bó máu thịt với nhân dân vì nhân dân là yếu tố trung tâm của mọi quyền lực, là cội nguồn sức mạnh, bí quyết của mọi thành công. Vì vậy, mọi biểu hiện xa dân, coi thường dân, ức hiếp dân, gây phiền phức cho dân… đều làm cho Đảng tự suy yếu, lỏng lẻo, phá vỡ tính đổng bộ của hệ thống chính trị.

    Thứ hai, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là yếu tố quyết định trực tiếp sự thành công, tính hiệu quả trong vận hành của hệ thống chính trị – hình thức thể hiện và cơ chế vận hành của thể chế chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa.

    Để tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Đại hội XII của Đảng xác định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” và chỉ ra 4 nội dung chủ yếu:

    – Hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật;

    – Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

    – Hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước;

    – Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.

    Trong 4 nội dung nêu trên, Đại hội XII đặc biệt nhấn mạnh cần “Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước… Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát các quyền ỡ các cấp chính quyển” và “Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện”. Đây là một trong những giải pháp nhằm thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ngay tại địa phương, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng- Nhà nước- nhân dân.

    Thứ ba, về Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội. Đảng yêu cầu các cấp ủy đảng và chính quyền “phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin dân, tôn trọng, lắng nghe những ý kiến khác; có hình thức, cơ chế, biện pháp cụ thể, thích hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyên vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tiếp tục tăng cường củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân”.

    Mặt trận Tổ quốc đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Mặt trận cần tăng cường hoạt động “giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

    1.2. Yêu cầu đổi mới mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị và cơ chế thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Điểm nhấn của Đại hội XII khi bàn về hệ thống chính trị được thể hiện rõ ở nội dung, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp giải quyết mối quan hệ, sự tác động biện chứng giữa các thành tố trong hệ thống chính trị nhằm phát huy chức năng, hiệu quả của từng thành tố, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, chức năng phản biện, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và vai trò làm chủ của nhân dân.

    Từ đó, Đảng nêu ra các yêu cầu cụ thể sau:

    Thứ nhất, nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm tới là “Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu”.

    Thứ hai, tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu dể thực thi dân chủ.

    Thứ ba, “Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”. Tập trung vào “Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.

    Thứ tư, phát huy tốt hơn nữa vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. “Tổ chức thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”.

    Nhân dân làm chủ là mục tiêu đặt ra trong sự vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị cũng như trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Tầm quan trọng đặc biệt của nội dung này biểu hiện ở chỗ: quyền lực của Đảng và Nhà nước đều từ quyền lực do nhân dân ủy thác, trao quyền.

    2. Quan điểm xây dựng mô hình tổ chức hệ thống chính trị Việt Nam trong điều kiện mới

    Tình hình quốc tế và trong nước tạo ra cả thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn tác động đan xen nhau đến sự phát triển đất nước, đến công tác xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng. Tình hình đó đòi hỏi Đảng phải đổi mới mạnh mẽ tổ chức, phương thức lãnh đạo để nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Từ thực tiễn phát triển và những nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự lãnh đạo của Đảng cần quán triệt các quan điểm sau:

    1.1. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân

    Chế độ xã hội mới mà nước ta xây dựng là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, chế độ dân chủ cho “số đông”, cho quảng đại quần chúng nhân dân, chế độ dân chủ cao nhất, rộng rãi nhất, triệt để nhất, “dân chủ hơn gấp triệu lần” bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào. Trong chế độ đó, nhân dân là người chủ chân chính. Để xây dựng chế độ như vậy, Đảng ta đã sớm nhận thức được ba nhân tố đóng vai trò cơ bản là Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng đã rất quan tâm giải quyết, xử lý mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng đã coi mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là cơ chế vận hành của thể chế chính trị – xã hội của đất nước. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), lần đầu tiên, Đảng ta đã khẳng định “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”.

    Xuất phát từ việc phân tích đặc điểm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần thiết phải tiếp tục thể chế hoá, cụ thể hoá mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, tiến bộ và công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo nhằm đạt mục tiêu: “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

    1.2. Đảm bảo tính cách mạng và khoa học

    Lịch sử đã chứng minh chủ nghĩa Mác – Lênin là khoa học biện chứng, hiện đại. Đây là khoa học nghiên cứu, luận giải về những quy luật phổ biến về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; về cách mạng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị bền vững tự nhiên của chủ nghĩa Mác – Lênin là sự chính xác về khoa học, tính toàn diện, hệ thống và biện chứng, nhằm giải phóng người lao động, giải phóng xã hội khỏi áp bức, bóc lột và mọi sự tha hóa, thực hiện một xã hội công bằng, nhân đạo. Nhờ được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tinh hoa truyền thống văn hóa dân tộc và nhân loại, Đảng đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân, đế quốc thắng lợi, mang lại nền độc lập, tự do, hòa bình cho đất nước; khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.

    Trên cơ sở định hướng mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xác lập được hệ thống lý luận về con đường và những giải pháp cơ bản nhằm hiện thực hóa những mục tiêu đó. Tại Đại hội VI, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới về kinh tế. Từ đó đến nay, trải qua các kỳ đại hội, Đảng ta đã hình thành về cơ bản hệ thống các quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, được kết tinh ở Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011 (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng như bản Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước.

    Sau hơn 30 năm đổi mới, sự phát triển đất nước đòi hỏi phải ở trình độ mới về chất, muốn vậy Đảng phải nỗ lực có những đột phá mới, trước hết về lý luận để có lời giải đúng cho những đột phá trong thực tiễn để phát triển nhanh, bền vững và hiện đại hóa, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp. Những điểm nêu trên đã được thể hiện tập trung và nổi bật trong chủ đề xuyên suốt của các kỳ Đại hội, nó mang ý nghĩa một thông điệp phát triển mà Đảng ta gửi tới toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và bạn bè quốc tế trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không tô hồng, không bôi đen; toàn diện – khách quan chứ không phiến diện, siêu hình, cực đoan, Đảng ta đã tiến hành nhiều đợt khảo sát thực tiễn ở địa phương và cơ sở, nhất là các vấn đề về kinh tế, mô hình phát triển và cơ chế quản lý, phát hiện ra những mâu thuẫn, bất cập giữa lý luận với thực tiễn, giữa thể chế và chính sách để kịp thời điều chỉnh, xây dựng và ban hành nghị quyết phù hợp với thực tế phát triển.

    Tuy nhiên, để xây dựng hệ thống chính trị ta theo nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất hữu cơ giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc, bảo đảm tính cách mạng và tính khoa học, chúng ta cần: Đổi mới phải dựa trên nền tảng tính khoa học, cách mạng và biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước. Đây là định hướng quan trọng nhất nhằm củng cố, nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta; đồng thời, làm cho Nhà nước thực sự là công cụ pháp lý để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nhận thức khoa học và sâu sắc về tính quy luật của mối quan hệ biện chứng giữa bản chất giai cấp với tính nhân dân và tính dân tộc, tính cách mạng và tính khoa học trong quá trình hình thành, phát triển nhà nước Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. Đó chính là “chìa khoá” để xây dựng, củng cố, hoàn thiện các tổ chức xã hội nhằm mở rộng cơ sở xã hội của nhà nước; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân.

    Trong bối cảnh mới của đất nước, để đảm bảo tính cách mạng và tính khoa học, đòi hỏi phải có sự phân công, phối hợp quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước giữa Đảng – chủ thể lãnh đạo với nhà nước chủ thể quản lý, sao cho vừa đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa đảm bảo vai trò quản lý của nhà nước, hạn chế được bao biện, làm thay từ phía Đảng và dựa dẫm ỷ lại của nhà nước, làm cho trên thực tế cả hai chủ thể đều yếu, không phát huy đúng vị trí và vai trò của mình. Chính vì vậy, cần phải tiếp tục phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước; xác định nội dung, phương thức, cơ chế Đảng lãnh đạo Nhà nước phù hợp với sự phát triển của tình hình mới; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên trong cơ quan Nhà nước. Vấn đề có tính nguyên tắc là “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.

    1.3. Đảm bảo tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, hài hòa giữa kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển

    Đây là quan điểm bao trùm và quán xuyến suốt lộ trình đổi mới hệ thống chính trị nói riêng, đổi mới chính trị nói chung, bảo đảm đồng bộ với tất cả các phương diện đổi mới. Nghĩa là, phải xuất phát từ mục tiêu của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ được thể hiện trên từng lĩnh vực hợp thành, để đổi mới hệ thống chính trị một cách tương dung. Đó chính là sự thống nhất một cách hữu cơ của các mục tiêu cụ thể (kinh tế, chính trị, xã hội,…) hợp thành mục tiêu tổng thể với tư cách là một chỉnh thể của công cuộc đổi mới hiện nay. Đến lượt nó, mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị trở nên tất yếu và là nhân tố cấu thành làm cho việc đổi mới chính trị trở nên hoàn bị, cùng với đổi mới kinh tế, đối ngoại… hợp thành mục tiêu tổng thể của công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ. Làm trái quan điểm, quy luật trên, sẽ kìm hãm phát triển hoặc dẫn tới thất bại.

    Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Bởi vậy, việc đổi mới hệ thống chính trị lấy việc từng bước hình thành và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu cơ bản. Trong cơ chế đó, sự yếu kém của bất kỳ khâu nào cũng có tác động tiêu cực tới việc thực hiện mục tiêu vừa nêu. Trong đổi mới hệ thống chính trị không đơn giản chỉ là sắp xếp lại, thêm bớt một cách cơ học mà là công việc tái cấu trúc cả một hệ thống quyền lực, trong đó, nguyên tắc là phải đảm bảo tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, hài hòa giữa kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển. Bởi lẽ:

    – Được thực hiện bằng những phương thức lãnh đạo đúng đắn, khoa học, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng sẽ không biến thành Đảng bao biện, làm thay các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, mà trở thành điều kiện để các tổ chức thành viên này hoàn thiện cấu trúc bộ máy, xác định đúng chức năng – nhiệm vụ, có phương thức thích hợp như là kết quả của những tìm tòi chủ động, sáng tạo để phát huy sự nỗ lực của các thành viên trong tổ chức mình tham gia vào các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, bảo vệ những quyền lợi và thực thi những trách nhiệm pháp lý của mọi công dân – những nội dung cơ bản của dân chủ xãhội chủ nghĩa .

    – Trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, các thành của hệ thống chính trị càng mạnh lên bao nhiêu, tính tích cực chính trị – xã hội của các tổ chức đó càng cao bao nhiêu thì vai trò của các tổ chức đó trong việc tác động trở lại đối với sự đổi mới của Đảng nói chung, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói riêng càng có hiệu quả thiết thực bấy nhiêu. Điều đó được lý giải không phải chỉ do sự lớn mạnh của các tổ chức này sẽ tạo điều kiện để các thành viên của các tổ chức đó tham gia một cách tích cực hơn, có hiệu quả hơn vào việc đổi mới Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, mà còn do chính sự trưởng thành của các tổ chức đó cũng đặt ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với Đảng, đối với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

    Nhờ sự tác động qua lại nêu trên, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước sẽ góp phần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhờ vậy, những quan điểm, chủ trương của Đảng vì sự phát triển ổn định của đất nước sẽ được thực hiện bằng cả hệ thống chính trị với hiệu quả cao. Điều đó cũng có nghĩa là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới hoạt động của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, qua đó mà nâng cao vai trò và hiệu quả lãnh đạo đối với toàn xã hội.

    1.4. Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, bảo đảm tính lịch sử, cụ thể và phù hợp

    Cần nhận định rõ, trong thực tế không có mô hình hệ thống chính trị nào là hoàn thiện, hoàn mỹ trong mọi giai đoạn, mọi quốc gia, dân tộc; mà chỉ có thể coi các mô hình ấy là phương án giải quyết các vấn đề đặt ra của xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định, do đó, có những thành công trong giới hạn nhất định và có những khiếm khuyết. Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị, không chỉ cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong nước mà cần thiết phải mở rộng nghiên cứu lý luận về hệ thống chính trị ở nhiều nước trên thế giới để tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, tiếp thu một cách cầu thị các giá trị phổ biến của nhân loại, để có cơ sở trong các suy tính về đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị vừa phù hợp với tình hình cụ thể của Việt Nam, vừa đảm bảo hội nhập quốc tế hiệu quả.

    Trong hơn 30 năm đổi mới đất nước, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của Đảng, của Nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tích cực khắc phục sự không tương thích giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị. Do vậy, hệ thống chính trị nước ta đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, với các cơ hội mới, thách thức mới nảy sinh từ quá trình hội nhập sâu rộng, toàn diện vào mọi mặt đời sống quốc tế, Việt Nam phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới chính trị, đảm bảo quyền lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc.

    Trong điều kiện mới hiện nay, việc nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong xây dựng hệ thống chính trị không chỉ là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn hiện nay của Việt Nam sau hơn 30 năm tiến hành đổi mới đất nước mà còn là xu hướng chung của thế giới. Trong bối cảnh đó, Việt Nam phải chịu những sức ép không nhỏ từ cả bên ngoài và nội tại để đổi mới, hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực của hệ thống chính trị, bảo đảm hội nhập quốc tế thành công. Sự phát sinh và diễn biến phức tạp của các vấn đề khi hội nhập quốc tế, đòi hỏi hệ thống chính trị phải đủ mạnh và linh hoạt để kịp thời ứng phó với những vấn đề xuất hiện trong quá trình hội nhập, đáp ứng mục tiêu và nhu cầu phát triển bền vững của dân tộc, đất nước trong bối cảnh mới.

    Tuy nhiên, trước sự phong phú và đa dạng của các mô hình hệ thống chính trị trên thế giới (cả về thực tiễn và lý luận), để đảm bảo không chệch hướng về mặt chính trị, định hướng phát triển; kế thừa và vận dụng linh hoạt những kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng hệ thống chính trị, Đảng ta khi nghiên cứu và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước cần phải dựa trên các cơ sở sau: Bảo đảm sự biện chứng giữa cái phổ biến và cái đặc thù, cái lịch sử và cái lô-gic một cách cụ thể trên phương diện đổi mới hệ thống chính trị là nguyên tắc cần được tuân thủ hết sức nghiêm ngặt. Trong đó, tính phù hợp và hiệu quả là mục tiêu, là thước đo trình độ của việc đổi mới một cách tổng thể và trực tiếp đổi mới chính trị./.

    PGS. TS. Lâm Quốc Tuấn, Học viện CTQG Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Đảng, Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Theo Quan Điểm Đại Hội Xii Của Đảng
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở Trên Địa Bàn Tây Nguyên
  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Ở Các Xã Biên Giới Nước Ta Hiện Nay
  • Chuyên Gia Mách Nước Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc
  • Bàn Về Mô Hình Tổ Chức Tiếp Công Dân Hiện Nay Ở Việt Nam Và Một Số Kiến Nghị

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Tiếp Công Dân 2013, Luật Số 42/2013/qh13
  • Chi Tiết Nhất Về Công An Huyện Mỹ Đức
  • Địa Chỉ Công An Huyện Thanh Trì
  • Chi Tiết Nhất Về Công An Huyện Hoài Đức
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Lực Lượng Cảnh Sát Phòng Cháy, Chữa Cháy Và Cứu Nạn, Cứu Hộ Ở Cấp Tỉnh
  • Theo quy định của Luật, việc tiếp công dân được thực hiện tại Trụ sở Tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân. Trong bài viết này, chúng tôi xin trình bày thực tế về mô hình tổ chức tiếp công dân tại Trụ sở Tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân ở Việt Nam hiện nay – cũng như một số khó khăn, vướng mắc và kiến nghị.

    Thứ nhất, về Trụ sở Tiếp công dân và Ban Tiếp công dân các cấp

    Luật Tiếp công dân quy định về Trụ sở Tiếp công dân Trung ương và Trụ sở Tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện. Ban Tiếp công dân được thành lập để trực tiếp quản lý Trụ sở Tiếp công dân ở mỗi cấp. Triển khai thi hành Luật Tiếp công dân, trong những năm qua, Ban Tiếp công dân các cấp đã được thành lập, kiện toàn và tích cực hoạt động để thực thi các nhiệm vụ.

    Tại Trụ sở Tiếp công dân Trung ương: Thanh tra Chính phủ đã thành lập và kiện toàn tổ chức của Ban Tiếp công dân Trung ương (từ Vụ Tiếp dân và Xử lý đơn thư). Hiện nay, Ban Tiếp công dân Trung ương gồm 5 phòng với tổng số 36 công chức. Ban Tiếp công dân Trung ương có chức năng giúp Tổng Thanh tra Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư; phụ trách Trụ sở Tiếp công dân Trung ương tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; thường trực tiếp công dân của Thanh tra Chính phủ tại 2 Trụ sở; xử lý đơn thư gửi đến Thanh tra Chính phủ, Trụ sở; phối hợp với các cơ quan tham gia tiếp công dân tại Trụ sở kiểm tra, đôn đốc việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ, ngành, địa phương.

    Tại Trụ sở Tiếp công dân Trung ương, Ban Tiếp công dân Trung ương đã tham mưu giúp lãnh đạo Thanh tra Chính phủ phối hợp với các cơ quan: Văn phòng Chính phủ, Ban Dân nguyện của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Chủ tịch Nước làm tốt nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư thường xuyên, nhất là trong thời gian diễn ra các kỳ họp của Trung ương Đảng và Quốc hội.

    Tại Trụ sở Tiếp công dân cấp tỉnh: Đến nay, 63/63 tỉnh, TP trực thuộc Trung ương đã thành lập Ban Tiếp công dân cấp tỉnh. Ban Tiếp công dân cấp tỉnh trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh, do Trưởng ban là Phó Chánh Văn phòng UBND cấp tỉnh phụ trách, số lượng biên chế thường từ 4 – 8 công chức. Riêng Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có số lượng công chức tại Ban này nhiều hơn (Hà Nội: 23 người; TP Hồ Chí Minh: 33 người). Tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, trong Ban Tiếp công dân còn thành lập một số phòng (chẳng hạn, Ban Tiếp công dân của TP Hồ Chí Minh được tổ chức thành 3 phòng, gồm Phòng Xử lý đơn; Phòng Kiểm tra, đôn đốc; Phòng Hành chính, tổng hợp. Ban Tiếp công dân của TP Hà Nội cũng có 3 phòng, gồm Phòng Tiếp dân, xử lý đơn; Phòng Kiểm tra, đôn đốc; Phòng Tổng hợp).

    Tại Trụ sở Tiếp công dân cấp huyện: Ở các địa phương hiện nay, UBND cấp huyện đã thành lập Ban Tiếp công dân cấp huyện trực thuộc Văn phòng HĐND và UBND do Phó Chánh Văn phòng HĐND và UBND kiêm giữ chức vụ Trưởng Ban Tiếp công dân, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của Ban Tiếp công dân tại Trụ sở Tiếp công dân; bố trí từ 1 đến 2 công chức Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện làm nhiệm vụ tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở Tiếp công dân. Một số địa phương cử thêm cán bộ, công chức các phòng, ban của huyện làm nhiệm vụ phối hợp tiếp công dân tại Trụ sở Tiếp công dân.

    Theo quy định của Luật Tiếp công dân, Ban Tiếp công dân cấp huyện phối hợp với đại diện của Văn phòng Huyện ủy, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở Tiếp công dân. Trên thực tế, tại Trụ sở Tiếp công dân cấp huyện, việc tiếp công dân thường xuyên chủ yếu do Ban Tiếp công dân thực hiện. Tại cấp huyện của nhiều địa phương, chưa bố trí để công chức Văn phòng Huyện ủy, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy tham gia tiếp công dân thường xuyên. Việc tiếp công dân của Văn phòng Huyện ủy, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy được thực hiện khi có yêu cầu vụ việc do khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc phạm vi tiếp nhận của các cơ quan này không nhiều.

    Thứ hai, về địa điểm tiếp công dân và bộ phận tiếp công dân

    Tại các Bộ, ngành: Sau khi Luật Tiếp công dân được ban hành và có hiệu lực, Bộ trưởng đã giao cho Thanh tra Bộ là cơ quan thường trực tiếp công dân của Bộ. Tại một số Bộ, Thanh tra Bộ đã thành lập phòng có chức năng, nhiệm vụ tiếp công dân. Chẳng hạn, Bộ Tài nguyên và Môi trường có Phòng Tiếp dân và xử lý đơn; Bộ Tài chính có Phòng Quản lý các vấn đề khiếu nại, tố cáo (KNTC) của công dân; tại Bộ Giao thông vận tải, Phòng Thanh tra 4 có nhiệm vụ chuyên trách công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC và phòng, chống tham nhũng; Bộ Ngoại giao có Phòng Thanh tra, tiếp công dân và giải quyết KNTC.

    Tại một số Bộ, không thành lập Phòng Tiếp công dân riêng mà Thanh tra Bộ cử cán bộ, công chức làm nhiệm vụ thường trực tiếp công dân (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ).

    Đối với các tổng cục, cục, các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ, Bộ đã chỉ đạo các cơ quan này thành lập bộ phận tiếp công dân tại đơn vị mình. Tại các tổng cục, nhiệm vụ thường trực tiếp công dân được giao cho vụ pháp chế, thanh tra; tại các cục giao cho phòng thanh tra, pháp chế hoặc phòng hành chính, tổng hợp. Tại các đơn vị sự nghiệp công lập, tùy đặc điểm, tình hình của đơn vị, thủ trưởng đơn vị giao cho một bộ phận làm nhiệm vụ thường trực tiếp công dân.

    Tại các Sở, ngành ở địa phương: Giám đốc các Sở, ngành đã bố trí Phòng Tiếp công dân và phân công cho Thanh tra Sở thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân. Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Sở, phân công công chức của Thanh tra Sở làm nhiệm vụ tiếp công dân thường xuyên.

    Tuy nhiên, hiện nay số lượng công dân đến các sở là khác nhau, một số sở tiếp công dân nhiều hơn như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Xây dựng, Sở Công thương. Trong khi đó, có sở có rất ít hoặc không có công dân đến (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tư pháp).

    Tại cấp huyện: Công dân chủ yếu đến gặp Ban Tiếp công dân cấp huyện tại Trụ sở Tiếp công dân cấp huyện để KNTC, kiến nghị, phản ánh. Do đó, các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện hầu như không bố trí địa điểm riêng để tiếp công dân mà chỉ phân công công chức tiếp công dân trong trường hợp công dân đến cơ quan mình để KNTC, kiến nghị, phản ánh.

    Ở cấp xã: Về cơ bản, Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn đã tổ chức thực hiện nghiêm túc công tác tiếp công dân theo quy định của Luật Tiếp công dân.

    Tại UBND các xã, phường, thị trấn hiện nay đều ban hành Nội quy tiếp công dân, Lịch tiếp công dân và niêm yết tại địa điểm tiếp công dân hoặc tại bộ phận 1 cửa. Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn là người trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân nên đã thường xuyên đề xuất với cấp ủy Đảng, HĐND, Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp để thực hiện công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư KNTC theo đúng quy định của pháp luật; thường bố trí công chức Văn phòng – Thống kê hoặc công chức địa chính, Tư pháp – Hộ tịch kiêm nhiệm làm nhiệm vụ tiếp công dân thường xuyên tại địa điểm tiếp công dân của xã để tiếp nhận, xử lý các đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh, tranh chấp của nhân dân.

    Thứ ba, một số khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

    Đối với tổ chức bộ máy của Ban Tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện

    Đối với Ban Tiếp công dân cấp tỉnh, theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Luật Tiếp công dân, Ban Tiếp công dân cấp tỉnh trực thuộc Văn phòng UBND cấp tỉnh, do một Phó Chánh Văn phòng phụ trách. Đối với hầu hết các tỉnh, TP, mô hình này là phù hợp.

    Tuy nhiên, tại hai TP lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, mô hình như trên là còn nhiều khó khăn, vướng mắc nên chưa phát huy hiệu quả của công tác tiếp công dân. Do đó, cần nghiên cứu mô hình đặc thù riêng cho hai TP lớn này theo hướng Ban Tiếp công dân của hai TP tương đương cấp sở.

    Đối với các cơ quan tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở Tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện, theo quy định tại Khoản 3 Điều 12 Luật Tiếp công dân thì các cơ quan, như: Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Nội chính Tỉnh ủy phải phối hợp cử cán bộ tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở Tiếp công dân cấp tỉnh. Khoản 3 Điều 13 của Luật cũng quy định Ủy ban Kiểm tra huyện và Văn phòng Huyện ủy cử đại diện phối hợp cùng Ban Tiếp công dân cấp huyện tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở Tiếp công dân cấp huyện.

    Về mối quan hệ giữa Ban Tiếp công dân các cấp: Luật Tiếp công dân không quy định về mối quan hệ giữa Ban Tiếp công dân Trung ương với Ban Tiếp công dân cấp tỉnh, Ban Tiếp công dân cấp tỉnh với Ban Tiếp công dân cấp huyện. Điều đó dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trên thực tế giữa các cơ quan này trong việc hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn, xây dựng báo cáo, nắm bắt thông tin, đôn đốc, kiểm tra… hoạt động tiếp công dân.

    Chúng tôi cho rằng, cần hoàn thiện Luật Tiếp công dân theo hướng quy định về mối quan hệ giữa Ban Tiếp công dân Trung ương với Ban Tiếp công dân cấp tỉnh, Ban Tiếp công dân cấp tỉnh với Ban Tiếp công dân cấp huyện, qua đó đảm bảo cho công tác tiếp công dân tại Trụ sở Tiếp công dân các cấp ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.

    Về tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân: Theo quy định, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm tiếp công dân, bố trí địa điểm tiếp công dân, bố trí công chức làm công tác tiếp công dân.

    Thực tế, những năm qua, tại một số sở, ngành có rất ít hoặc không có công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, nhưng để thực hiện đúng quy định của Luật Tiếp công dân, các sở vẫn phải bố trí công chức thường trực tiếp công dân, trong khi các bộ phận chuyên môn khác vẫn thiếu người. Mặt khác, khi bố trí công chức tiếp công dân mà không có công dân đến, thì việc chi trả chế độ bồi dưỡng cho công chức tiếp công dân sẽ có vướng mắc, gây những ý kiến thắc mắc trong quá trình thực hiện. Chính vì thế, nên chăng cần sửa đổi Khoản 2 Điều 16 Luật Tiếp công dân theo hướng: Trường hợp các sở, ngành không có hoặc rất ít công dân đến KNTC, kiến nghị, phản ánh thì Thanh tra sở chỉ phân công công chức kiêm nhiệm công tác này, đảm bảo sự tiết kiệm về nhân lực, thời gian cho các đơn vị.

    Đối với việc tiếp công dân ở cấp xã: Hiện nay, công chức làm công tác tiếp công dân ở cấp xã hoạt động kiêm nhiệm. Điều này cũng dẫn đến những khó khăn cho công chức cấp xã trong việc hoạt động tiếp công dân, đồng thời cũng gây khó khăn cho người dân khi đến Trụ sở UBND xã, phường, thị trấn để KNTC, kiến nghị, phản ánh, nhất là ở những nơi có mật độ dân số đông như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.

    Để đảm bảo tính chuyên nghiệp, hiệu quả của hoạt động tiếp công dân tại cấp xã, tạo điều kiện cho người dân khi đến Trụ sở UBND xã, phường, thị trấn để KNTC, kiến nghị, phản ánh, cần nghiên cứu sửa đổi Luật Tiếp công dân theo hướng quy định chủ tịch UBND cấp xã bố trí 01 công chức làm công tác tiếp công dân chuyên trách.

    Tóm lại, công tác tiếp công dân luôn được xác định là công việc quan trọng của Đảng và Nhà nước. Làm tốt công tác tiếp công dân là thể hiện bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Do đó, việc hoàn thiện mô hình tổ chức tiếp công dân là thực sự cần thiết, có vai trò quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tiếp công dân, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam của dân, do dân và vì dân./.

    Ths. Phạm Thị Phượng – Phó trưởng phòng, Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ

    Ths. Trần Thị Kim Ngân – Giảng viên Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ Tiếp Công Dân Của Cấp Huyện
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Ban Tiếp Công Dân Cấp Huyện
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Cấp Huyện
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Cán Bộ Công Chức Cấp Xã Kỳ Tiến Trang Điện Tử Xã Kỳ Tiến
  • Xây Dựng Công An Cấp Huyện Vững Mạnh Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu, Nhiệm Vụ Bảo Đảm An Ninh, Trật Tự Trong Tình Hình Mới
  • Làm Rõ Mô Hình Tổ Chức Văn Phòng Hđnd Và Ubnd Cấp Huyện

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Pháp Lí Của Giấy Mời Của Công An Xã/phường
  • Vai Trò Của Hội Cựu Chiến Binh Trong Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Của Tỉnh Từ Năm 1990 Đến Nay
  • Chủ Tịch Hội Cựu Chiến Binh Xã Thanh Thủy Học Tập Và Làm Theo Lời Bác
  • Điều Lệ Hội Lhpn Việt Nam (Bổ Sung, Sửa Đổi)
  • Bạn Có Biết Arduino Là Gì Không? Tìm Hiểu Thêm…
  • Ngày đăng: 22/10/2015 02:51

    Kỳ họp thứ 13, HĐND thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc Ảnh: internet

    Đối với UBND cấp huyện còn có nhiều cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc. UBND là cơ quan chấp hành của HĐND. Do vậy, Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện có chức năng tham mưu, giúp việc phục vụ HĐND phải là chính; tham mưu, giúp việc UBND xem xét, quyết định theo thẩm quyền thì đồng thời đó là hình thức tham mưu, giúp việc, phục vụ các cơ quan HĐND cấp huyện để quyết định và giám sát kịp thời, có hiệu quả. Thực tế những năm qua, nhiều nơi Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện đã bố trí bộ máy tham mưu, giúp việc và phục vụ HĐND nhưng số lượng ít (một Phó chánh Văn phòng, 2 chuyên viên, một lái xe), cán bộ, công chức chưa nhiệt tình, tâm huyết với công việc. Vì làm việc cho HĐND, nhưng lại hưởng lương từ kinh phí hoạt động của UBND và do UBND quyết định bổ nhiệm và tuyển dụng.

    Từ cơ sở và thực tế trên, nên giao Thường trực HĐND cấp huyện quyết định thành lập, bổ nhiệm lãnh đạo, tuyển dụng công chức, nhân viên và quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Văn phòng HĐND và UBND sẽ có nhiều ưu việt. Đó là: Bộ máy Văn phòng sẽ chuyên tâm với hoạt động của HĐND. Thường trực HĐND có quyền tuyển chọn bộ máy để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả. Khắc phục được những hạn chế của việc thành lập Văn phòng theo các Nghị định của Chính phủ trước đây. Xác định rõ Văn phòng HĐND và UBND là bộ máy tham mưu, giúp việc và phục vụ chính các cơ quan HĐND cấp huyện; tham mưu, giúp việc UBND là cơ sở để thực hiện tốt nhiệm vụ của HĐND.

    Hoạt động theo nguyên tắc tập thể

    Luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn HĐND cấp huyện được quyết định 23 nội dung ở 4 lĩnh vực. Đồng thời, còn giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật, việc thực hiện nghị quyết HĐND, giám sát hoạt động của Thường trực, các ban HĐND, UBND, TAND, VKSND cấp huyện. UBND cấp huyện có 6 nhiệm vụ, quyền hạn. Khối lượng công việc của HĐND cấp huyện nhiều và toàn diện; mọi hoạt động của UBND được thực hiện trên cơ sở quyết định của HĐND cấp huyện và cơ quan nhà nước cấp trên ủy quyền, phân cấp, và được các cơ quan HĐND cấp huyện giám sát. Mặt khác, UBND cấp huyện có nhiều cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc theo từng lĩnh vực, HĐND cấp huyện chỉ có Văn phòng.

    Do vậy, lấy nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan HĐND cấp huyện làm cơ sở để quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng HĐND và UBND; nhiệm vụ của UBND làm cơ sở để quy định Văn phòng tham mưu tổng hợp, phục vụ UBND trên cơ sở tham mưu, giúp việc của các cơ quan chuyên môn UBND. Được như vậy, Văn phòng HĐND và UBND tham mưu, giúp việc phục vụ UBND là cơ sở để tham mưu, giúp việc HĐND. Đây là hình thức thể hiện rõ UBND là cơ quan chấp hành của HĐND ngay từ khâu tham mưu, giúp việc quá trình thực hiện nhiệm vụ của HĐND.

    Nguyên tắc hoạt động của các cơ quan HĐND cấp huyện giống cấp tỉnh, phải bảo đảm: Tập trung dân chủ; hiện đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số; phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, và bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, thông suốt. Do vậy, chế độ hoạt động của Văn phòng HĐND và UBND cần phải thực hiện theo nguyên tắc tập thể như Văn phòng HĐND tỉnh để phát huy sức mạnh của bộ máy (có lượng công chức không nhiều). Đồng thời, phải gắn trách nhiệm của cá nhân lãnh đạo Văn phòng theo từng lĩnh vực để nâng cao vai trò, trách nhiệm trong quản lý, sử dụng bộ máy giúp việc. Chánh Văn phòng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo bộ máy tham mưu, giúp việc, phục vụ các cơ quan của HĐND và UBND.

    Gắn trách nhiệm cá nhân theo từng lĩnh vực

    Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định HĐND và UBND cấp huyện có bộ máy giúp việc là Văn phòng HĐND và UBND. Tức là Văn phòng vừa tham mưu, giúp việc phục vụ các cơ quan HĐND, vừa tham mưu giúp việc phục vụ cơ quan chấp hành của HĐND là UBND. Do vậy, chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng phải lấy nhiệm vụ của HĐND là chính, song cơ cấu tổ chức bộ máy phải phù hợp. Không đầy đủ, thiếu khách quan sẽ ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động; không khai thác được sức mạnh tổng hợp về nhân lực, vật lực trong công tác.

    Từ thực tiễn, cơ cấu tổ chức Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện nên quy định theo hướng có Chánh Văn phòng phụ trách chung và 2 Phó chánh Văn phòng. Trong đó, một Phó phụ trách lĩnh vực KT – XH, một Phó phụ trách lĩnh vực pháp chế hành chính. Có các tổ chuyên môn gồm: Hành chính quản trị; tổng hợp tuyên tuyền. Chức năng, nhiệm vụ của tổ hành chính phục vụ mọi hoạt động của HĐND và UBND trong bảo đảm cơ sở vật chất. Tổ tổng hợp quy định đến từng chuyên viên theo hướng chuyên môn hóa theo lĩnh vực tham mưu, giúp việc các cơ quan của HĐND và UBND về tổng hợp, KT – XH; pháp chế; dân tộc nếu có Ban Dân tộc.

    Thực hiện như vậy, bộ máy tăng, biên chế tăng so với trước nhưng so với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan HĐND cấp huyện thì không lớn; so với bộ máy giúp việc của UBND không lớn (bình quân 3 lĩnh vực HĐND có một chuyên viên giúp việc). Hơn thế, mô hình này có nhiều ưu điểm: Chuyên môn hóa được bộ máy tham mưu, giúp việc theo lĩnh vực; bảo đảm được Thường trực, các ban, tổ đại biểu và HĐND, UBND đều có bộ máy tham mưu, giúp việc cụ thể. Cơ cấu như vậy gắn với chức năng, nhiệm vụ như đề xuất trên và giao Thường trực HĐND cấp huyện quyết định thành lập, bổ nhiệm lãnh đạo, tuyển dụng cán bộ công chức và trả lương từ nguồn hoạt động của HĐND sẽ tạo được cơ chế hoạt động thống nhất; bộ máy Văn phòng thực sự là cơ quan tham mưu, giúp việc HĐND hiệu quả, góp phần xây dựng chính quyền cấp huyện trong sạch, vững mạnh.

    Điều 9 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định: Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, huyện là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương… chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên. Văn phòng HĐND và UBND là bộ máy giúp việc chính quyền địa phương, là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ. Do vậy, Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện không phải là cơ quan chuyên môn thuộc UBND như Nghị định số 14/2008/NĐ-CP, số 12/2010/NĐ-CP, số 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định.

    Văn Đức Sơn – Phó bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Vĩnh Phúc

    Theo: daibieunhandan.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phó Chủ Tịch Hội Nông Dân Xã Có Phải Là Chức Danh Được Tính Để Hưởng Chế Độ Bhxh.
  • Lộ Clip Nóng Dài 4 Phút Giữa Chủ Tịch Ubnd Xã Với Nữ Chủ Tịch Hội Nông Dân
  • Chế Độ Đối Với Người Giữ Chức Vụ Chủ Tịch Hội Nông Dân
  • Thẩm Quyển Của Chủ Tịch Và Phó Chủ Tich Ubnd Xã Trong Tranh Chấp Đất Đai ? Tranh Chấp Khi Mua Đất
  • Câu 287.chức Năng Nào Sau Đây Không Thuộc Chức Năng Của Văn Phòng Tỉnh Ủy?
  • Phân Biệt 5 Loại Mô Hình Tổ Chức Doanh Nghiệp Phổ Biến Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Huấn Luyện Dân Quân Binh Chủng
  • Tình Hình Hoạt Động Tại Công Ty Cổ Phần Bibica
  • Bài Tiểu Luận Về Công Ty Bibica
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Trung Tâm Phát Triển Quỹ Đất Thành Phố
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn
  • Base Resources – Bước đầu tiên trong việc tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp là xác định cơ cấu tổ chức bộ máy. Vì sao lại như vậy?

    Một tổ chức được cấu trúc hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp đủ ổn định để thực thi chiến lược thành công và duy trì lợi thế cạnh tranh hiện tại, đồng thời cũng đủ linh hoạt để phát triển các lợi thế cạnh tranh cho chiến lược tương lai.

    Cụ thể, tính ổn định của cơ cấu tổ chức giúp doanh nghiệp quản trị công việc một cách hệ thống, trật tự, nhịp nhàng. Trong khi đó, tính linh hoạt của nó sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phân bổ nguồn lực thích hợp để khai thác các lợi thế cạnh tranh tốt hơn trong tương lai.

    Ở bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số loại hình mô hình tổ chức bộ máy doanh nghiệp nổi bật hiện nay.

    Cơ cấu tổ chức (Organization Structure) là gì?

    Cơ cấu tổ chức là hệ thống các nhiệm vụ, mối quan hệ báo cáo và quyền lực nhằm duy trì sự hoạt động của tổ chức. Cơ cấu tổ chức xác định cách thức phân chia, tập hợp và phối hợp các nhiệm vụ công việc trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.

    Có thể hiểu cơ cấu tổ chức bao gồm:

    • Sơ đồ cơ cấu tổ chức là hình vẽ thể hiện vị trí, mối quan hệ báo cáo và các kênh thông tin (giao tiếp) chính thức trong tổ chức.

    • Mô tả nhiệm vụ cơ bản của các phòng ban, bộ phận (department)

    • Mô tả công việc, quyền hạn trách nhiệm cho các vị trí trong sơ đồ cơ cấu tổ chức.

    • Quy trình làm việc của các phòng ban

    Cơ cấu của tổ chức thường được thể hiện thông qua sơ đồ cơ cấu tổ chức.

    Sơ đồ tổ chức – Org chart là gì?

    Sơ đồ tổ chức (còn được gọi là biểu đồ tổ chức hay organogram) là một sơ đồ trực quan thể hiện cấu trúc bên trong của một công ty bằng cách chi tiết vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các cá nhân trong một tổ chức.

    Sơ đồ cơ cấu tổ chức định dạng tổ chức, mang lại cho mọi người cái nhìn tổng quan về cách tổ chức doanh nghiệp, cho dù đó là văn phòng, một start-up, nhà máy sản xuất hay hình thức nào khác:

    Đặc điểm của cơ cấu tổ chức

    1. Tuyến mệnh lệnh

    Một trong những yếu tố cơ bản để xây dựng nên mô hình tổ chức đó là tuyến mệnh lệnh. Suy cho cùng, mô hình tổ chức là sự sắp xếp quy trình nhận lệnh của các cấp. Việc xây dựng tuyến lệnh có tác dụng tạo nên bộ khung cơ bản cho việc hoàn thiện mô hình sau này.

    2. Số lượng kiểm soát tối ưu

    Mục này đề cập đến số lượng cấp dưới nhà quản lý có thể quản lý hiệu quả. Càng nhiều nhân sự cấp dưới, số lượng nhân sự cấp trên ngày càng phải được tăng cường.

    3. Phân bổ quyền quyết định

    Ai nắm quyền ra quyết định trong tổ chức? Trả lời được câu hỏi này, doanh nghiệp sẽ biết tổ chức của mình thuộc loại cơ cấu nào. Nếu quyền quyết định chỉ tập trung vào tay một cá nhân, tổ chức sẽ thuộc cơ cấu tập trung. Còn nếu quyền được chia cho nhiều người, đó là biểu hiện của cơ cấu phân cấp.

    Cơ cấu tập trung vs Cơ cấu phân cấp 4. Phân chia phòng ban

    Hay còn được gọi là chuyên môn hóa phòng ban. Tính chuyên môn hóa càng cao, doanh nghiệp càng có nhiều lợi ích bởi nó cho phép nhân viên có thể làm chủ trong từng lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, chuyên môn hóa thấp lại mang đến sự linh hoạt vì nhân viên có thể dễ dàng giải quyết đa dạng nhiệm vụ.

    Các mô hình tổ chức phổ biến

    Mô hình #1: Tổ chức phân quyền (Hierarchical Organization)

    Đây là hình thức tổ chức đơn giản và lâu đời nhất. Cơ cấu tổ chức phân quyền hoạt động theo trình tự: chỉ thị được ban hành từ cấp cao nhất, sau đó truyền đạt xuống các quản lý cấp trung rồi đến cấp nhân viên. Nếu nhân viên có mong muốn đề xuất ý kiến, họ sẽ gửi đề xuất lên quản lý trực tiếp. Sau khi phê duyệt, đề xuất lại được chuyển tiếp lên quản lý cấp cao. Kết quả sau đó sẽ được trả về nhân viên theo trình tự ngược lại.

    Kiểu mô hình này mang xu hướng quan liêu và có sự phân biệt lớn. Mối quan hệ giữa người chủ và nhân viên trở nên xa cách do không có sự giao tiếp thường xuyên. Nhân viên chỉ đi làm vì họ cần đồng lương và họ không có mong muốn gắn kết với công ty.

    Tổ chức phân quyền trước kia được áp dụng đối với tất cả công ty, bất kể quy mô, ngành nghề hay vị trí địa lý. Tuy nhiên, khi câu chuyện tuyển dụng ngày càng trở nên “hot”, các doanh nghiệp đã nỗ lực thay thế mô hình cứng nhắc này bằng những mô hình tổ chức “phẳng”, tạo được sự liên kết giữa các nhà quản lý và nhân viên.

    Sơ đồ tổ chức phân quyền

    Tổ chức doanh nghiệp theo mô hình phân quyền mang lại những lợi ích như:

    • Trách nhiệm được cố định và thống nhất ở mỗi cấp, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng. Do đó mỗi cá nhân đều biết mình chịu trách nhiệm với ai và ai là người chịu trách nhiệm thật sự với mình.

    • Lộ trình thăng tiến rõ ràng

    • Tập trung phát triển nhân viên dựa trên kỹ năng chuyên môn

    • Cấu trúc này giúp xác định các nhóm chia sẻ nguồn lực một cách dễ dàng, đồng thời xác định được sự trùng lặp hoặc chồng chéo trách nhiệm

    Tuy nhiên, mô hình này lại quá cồng kềnh, gây ra nhiều bất lợi:

    Mô hình #2: Cơ cấu theo chức năng (Functional Organization)

    Cơ cấu theo chức năng là loại hình cơ cấu tổ chức trong đó từng chức năng quản lý được tách riêng do một bộ phận một cơ quan đảm nhận. Cơ cấu này có đặc điểm là những nhân viên chức năng phải là người am hiểu chuyên môn và thành thạo nghiệp vụ trong phạm vi quản lý của mình .

    Cơ cấu tổ chức theo chức năng được phát triển bởi F.W.Taylor khi ông làm việc với vai trò là một người quản đốc, “chia công việc quản lý để mỗi người từ tổng giám đốc điều hành xuống sẽ đảm nhiệm ít chức năng nhất có thể”.

    Theo Terry, “Tổ chức theo chức năng là tổ chức được chia thành một số chức năng như tài chính, sản xuất, bán hàng, nhân sự, hành chính và bộ phận nghiên cứu phát triển. Mỗi chức năng được thực hiện bởi một chuyên gia”. Quyền hạn của bộ phận điều hành, của nhân viên và quyền hạn thuộc về chức năng như một loại quyền lực thứ ba thuộc loại tổ chức này.

    Ưu điểm của cơ cấu theo chức năng:

    • Đưa ra các chỉ dẫn rõ ràng cho mọi nhân viên trong bộ phận.

    • Trách nhiệm của mọi công nhân và tất cả các bộ phận được cố định, giúp cho trách nhiệm giải trình trở nên chính xác đối với công việc của họ.

    • Mỗi người quản lý là một chuyên gia trong lĩnh vực của mình và phải thực hiện một số lượng giới hạn các chức năng. Vì vậy, chuyên môn hóa hoàn toàn sẽ là một phần của cơ cấu chức năng.

    • Mức độ chuyên môn hóa cao hơn dẫn đến sự cải thiện về chất lượng sản phẩm.

    • Vì yêu cầu công việc là xác định và hữu hình, tổ chức có sử dụng một cách chuyên sâu nguyên tắc chuyên môn hóa lao động ở cấp quản lý.

    • Chuyên môn hóa sẽ dẫn đến sản xuất hàng loạt và tiêu chuẩn hóa.

    • Vì các chuyên viên có đủ thời gian để tư duy sáng tạo, việc lập kế hoạch và giám sát được thực hiện hiệu quả.

    Tuy nhiên cơ cấu theo chức năng cũng có những nhược điểm đem lại bất lợi cho doanh nghiệp:

    • Vì không có người đứng đầu hoặc kiểm soát trực tiếp công nhân, sự phối hợp là khó có thể đạt được.

    • Thiếu khả năng đưa ra quyết định tức thì vì hệ thống phân cấp.

    • Tạo ra rào cản giữa các bộ phận chức năng khác nhau và có thể trở nên kém hiệu quả nếu doanh nghiệp có nhiều sản phẩm hoặc thị trường mục tiêu. Các rào cản được tạo ra cũng có thể hạn chế sự trao đổi và giao tiếp của các bộ phận, gây trở ngại nếu cần bất kỳ sự hợp tác nào

    • Do việc phân chia giám sát, việc thực hiện không thể được thực hiện ngay lập tức.

    • Vì sẽ có nhiều người quản lý có thứ hạng ngang nhau trong cùng một bộ phận, các xung đột lãnh đạo có thể phát sinh.

    • Chuyên viên có ít cơ hội được đào tạo một cách toàn diện, nên khó để lên được các chức lãnh c mục tiêu cá nhân của họ, và họ bắt đầu bỏ qua các mục tiêu do tổ chức thiết lập.

    Mô hình #3: Cấu trúc ma trận (Matrix Organization)

    Cơ cấu tổ chức ma trận được vận hành dựa trên hệ thống quyền hạn và hỗ trợ đa chiều. Thông tin sẽ được luân chuyển theo cả chiều dọc (tuyến chức năng hoạt động) và chiều ngang (tuyến sản phẩm hay cơ sở hoạt động).

    Ban đầu, mô hình ma trận chỉ được áp dụng trong ngành hàng không với điển hình là hai “ông lớn” Lockheed và General Dynamics. Lý do là bởi ngành hàng không có phần việc đòi hỏi cách xử lý riêng biệt, nếu áp dụng mô hình quản lý truyền thống sẽ làm trì trệ, thậm chí làm gián đoạn luồng xử lý công việc của toàn tổ chức. Sau này, cơ cấu ma trận đã được áp dụng trong các công ty đòi hỏi thực hiện nhiều dự án hay sản xuất nhiều sản phẩm trong cùng một khoảng thời gian.

    Sơ đồ ma trận

    Ma trận được coi là cấu trúc khó nhất trong tất cả vì các nguồn lực bị kéo theo nhiều hướng. Cấu trúc tổ chức ma trận phức tạp và đa chiều, tuy nhiên nó có thể giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất và hiệu quả hơn rất nhiều nếu áp dụng thành công. Điểm hấp dẫn của cấu trúc ma trận là nó có thể cung cấp cả tính linh hoạt và khả năng ra quyết định cân bằng hơn (vì có hai chuỗi lệnh thay vì chỉ một). Một dự án được giám sát bởi nhiều ngành kinh doanh cũng tạo cơ hội cho các bộ phận này chia sẻ nguồn lực và giao tiếp cởi mở hơn với nhau – những điều mà họ thường không làm được.

    Mô hình ma trận có thể giải quyết nhiều hạn chế của mô hình phân quyền truyền thống. Cụ thể, mô hình ma trận góp phần:

    Tuy nhiên, sơ đồ ma trận cũng mang lại nhiều sự khó khăn:

    Mô hình #4: Cấu trúc phẳng (Flat Organization)

    Các công ty áp dụng hình thức tổ chức theo cấu trúc phẳng thường không có chức danh công việc. Tất cả mọi người trong tổ chức đều bình đẳng với nhau. Hình thức tổ chức công ty theo cấu trúc phẳng còn được gọi là tổ chức tự quản lý.

    Bạn có thể thắc mắc rằng cấu trúc phẳng vận hành không cần người quản lý, vậy làm thế nào doanh nghiệp có thể hoàn thành mọi việc? Đây chính là lý do mô hình phẳng chỉ có thể áp dụng trong các doanh nghiệp có ít nhân sự hoặc doanh nghiệp phải thật sự tạo dựng văn hóa hợp tác mạnh mẽ giữa các nhân viên.

    Cấu trúc phẳng hoạt động tốt nhất khi nhân viên có sự gắn kết chặt chẽ. Truyền thông nội bộ chính là chìa khóa kết nối mọi người và đảm bảo tất cả đều tham gia với nhiệm vụ thống nhất. Bên cạnh đó, các nền tảng quản lý công việc với chức năng giám sát và kiểm soát quá trình vận hành rất hữu ích trong các doanh nghiệp áp dụng mô hình tổ chức phẳng.

    Với sơ đồ cấu trúc phẳng, mọi thành viên đều công bằng với nhau

    Ví dụ điển hình nhất của hình thức cấu trúc phẳng đó là Valve – công ty cho ra đời các sản phẩm game công nghệ kinh điển như Half-Life, Counter-Strike hay Portal. Tại Valve không hề tồn tại chức danh công việc và sẽ không ai nói bạn phải làm gì. Thay vào đó, tất cả nhân sự tại Valve được tự do tham gia vào bất kỳ dự án nào họ cảm thấy mình đủ năng lực đảm nhận. Nếu nhân viên muốn chạy dự án riêng, họ phải chịu trách nhiệm về vấn đề kinh phí và xây dựng đội ngũ của riêng họ.

    Sơ đồ cấu trúc phẳng có thể áp dụng trong các công ty nhỏ, những công ty startup hoặc các công ty xác định sẽ áp dụng cấu trúc phẳng kể cả khi tăng trưởng.

    Việc áp dụng mô hình cấu trúc phẳng mang lại những lợi ích:

    Tuy nhiên, cấu trúc phẳng cũng có nhiều điểm hạn chế như:

    • Khả năng mất kiểm soát cao: Cơ cấu tổ chức phẳng có vấn đề khi số lượng nhân viên quá lớn vì dễ mất kiểm soát tình hình. Loại hình này không phù hợp với các tập đoàn lớn – kiểu tổ chức không thể thiếu các quản lý cấp trung.

    • Một nhà quản lý có trách nhiệm với quá nhiều người làm việc dưới quyền của mình, không dễ dàng giám sát họ hàng ngày. Việc duy trì kết nối cũng trở nên khó khăn vì trách nhiệm công việc không cho người quản lý đủ thời gian.

    • Trong một cơ cấu tổ chức phẳng, nhân viên phải đảm nhận nhiều trách nhiệm cùng một lúc, điều này tạo ra khó khăn trong suy nghĩ của họ về vai trò thực tế và trách nhiệm giải trình của họ trong công ty.

    • Tạo ra sự tranh giành quyền lực giữa các cấp quản lý cho nhân viên không có quản lý cố định để báo cáo

    • Là rào cản đối với sự tăng trưởng của công ty.

    • Khó khăn trong việc phê duyệt bởi không có sự phân định rõ ràng về quyền hạn

    • Hình thành khoảng trống quyền lực

    • Ít có cơ hội thăng tiến cho nhân viên, nhân viên trở nên thiếu động lực hơn.

    Mô hình #5: Quản lý phi tập trung (Holacratic Organizations)

    Mô hình quản lý phi tập trung không cần đến chức danh, cấp bậc. Quyền lực giữa các cá nhân được phân bổ như nhau. Khác với mô hình phẳng, với mô hình quản lý phi tập trung, công việc sẽ được phân công theo vai trò. Một nhân viên có thể đảm nhận nhiều vai trò khác nhau và nằm trong một vòng tròn gọi là circle.

    Hiểu một cách đơn giản Holacracy là mô hình quản lý không có cấp trên, nhân viên sẽ tự quản lý và đóng vai trò là sếp của chính mình. Trong mô hình phi tập trung, sự minh bạch luôn là yếu tố được đề cao. Tất cả nhân viên và cấp quản lý đều phải tuân thủ theo cùng một nguyên tắc rõ ràng. Hiện nay, quản lý phi tập trung đang được áp dụng tại các doanh nghiệp SME và tổ chức phi lợi nhuận tại các nước tiên tiến.

    Holacratic được coi là mô hình quản trị hiện đại

    Lợi ích của mô hình quản lý phi tập trungy mang lại cho doanh nghiệp:

    • Thay đổi sức mạnh cơ bản của doanh nghiệp: Holacracy đặt ra quy tắc chung cho tất cả mọi người một cách cụ thể và có thể hành động. Các quy tắc này sẽ không cho bạn biết cách cấu trúc tổ chức của bạn mà chỉ cung cấp cho bạn một bộ khung giúp bạn tùy chỉnh các quy trình cụ thể bạn cần thực hiện để mang lại lợi ích cho doanh nghiệp của mình.

    • Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp: Điều này giúp tạo ra sự rõ ràng về người chịu trách nhiệm cho công việc của mình. Mỗi nhân viên trong doanh nghiệp là một người “sếp” tự quản lý công việc của chính mình. Tuy nhiên một số cá nhân có năng lực hơn có thể có phạm vi quyền hạn rộng hơn so với người khác

    • Tạo cho doanh nghiệp quy trình quản lý mới hợp lý chứng minh năng lực của tổ chức: Quản lý phi tập trung cho phép các doanh nghiệp thay vì tái tổ chức lớn cứ sau vài năm thì có thể thay đổi cấu trúc của Công ty ngay khi bạn cảm thấy rằng điều gì đó có thể được cải thiện. Điều này có thể được xảy ra ở mọi cấp độ của tổ chức – mỗi nhóm có quy trình quản trị riêng. Từ đó công ty bạn có thể liên tục được phát triển để đáp ứng với môi trường của nó.

    • Thực hiện tốt nhất mọi hoạt động: Sẽ có thường xuyên các cuộc họp chiến thuật để hoạt động được thực hiện tốt nhất. Chúng sẽ hiệu quả và dẫn đến kết quả đầu ra có thể hành động với quyền sở hữu rõ ràng. Quản lý phi tập trung còn hỗ trợ tự chủ triệt để đồng thời đảm bảo sự phù hợp với các mục tiêu của tổ chức.

    Thoạt nhìn có vẻ mô hình Holacracy là mô hình lý tưởng của mọi doanh nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, mô hình này lại khiến nhiều công ty lao đao khi triển khai. Lý do là bởi Holacracy vận hành không cần các nhà quản lý, do đó, việc tranh giành lợi ích giữa các nhóm và tình trạng rối loạn luồng thông tin thường xuyên xảy ra.

    Ví dụ điển hình của việc áp dụng quản lý phi tập trung là Zappos. Khi giám đốc điều hành quyết định áp dụng mô hình quản trị Holacracy đồng nghĩa với việc Zappos đã mất đi khoảng 14% nhân sự và chỉ giữ lại những nhân viên chấp nhận làm việc với mô hình này. Điều này khiến công ty tại thời điểm đó thiếu trầm trọng nhân lực và việc tuyển dụng được nhân sự làm việc theo mô hình này khá khó. Đây chính là một nhược điểm đáng quan tâm của các doanh nghiệp nếu có dự định áp dụng quản lý phi tập trung vào công tác quản lý doanh nghiệp trong tương lai.

    Mỗi dạng cấu trúc trên lại phù hợp với những đặc trưng về quy mô, chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của một tổ chức cụ thể. Trong thực tiễn, các nhà quản lý có thể vận dụng linh hoạt, mềm dẻo các dạng loại hình nêu trên để thiết lập cơ cấu tổ chức để mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình tổ chức

    Mô hình tổ chức chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, những yếu tố này sẽ quyết định tính hợp lý của cơ cấu tổ chức. Do đó, khi thiết kế và quản lý sự thay đổi của mô hình tổ chức cần phải quan tâm nghiên cứu và đánh giá đúng tác động của chúng đến cơ cấu của tổ chức.

    1. Môi trường bên ngoài

    Trong điều kiện môi trường ổn định, các quyết định về cơ cấu tổ chức sẽ ít thay đổi, mang tính ổn định cao. Ngược lại, trong điều kiện môi trường có nhiều biến động, đòi hỏi sự phản ứng linh hoạt của các cá nhân, bộ phận thì cơ cấu tổ chức phải đảm bảo tính linh hoạt, năng động, và công tác quản lý sự thay đổi là hết sức cần thiết.

    Mối quan hệ về môi trường – cấu trúc giải thích tại sao nhiều nhà quản trị tái cấu trúc tổ chức theo hướng mềm dẻo và linh hoạt. Sự cạnh tranh toàn cầu, sự thúc ép đổi mới sản phẩm từ đối thủ cạnh tranh, nhu cầu gia tăng chất lượng sản phẩm và phân phối sản phẩm nhanh hơn là những ví dụ của những lực lượng môi trường năng động.

    2. Chiến lược của tổ chức

    Chiến lược của tổ chức là tiền đề quan trọng khi thiết kế và thay đổi tổ chức. Vì bản chất cơ cấu tổ chức được hình thành để thực hiện thành công chiến lược của tổ chức.

    Nghiên cứu quan trọng đầu tiên về mối quan hệ chiến lược – cấu trúc được Afred Chander thực hiện tại 100 công ty lớn ở Mỹ. Sau khi thu thập, phân tích sự phát triển của các tổ chức này trong vòng 50 năm qua và nghiên cứu các trường hợp đặc biệt trong lịch sử như công ty Dupont, General Motors, Standard Oil of New Jersy và Sears, Afred Chander kết luận rằng những thay đổi trong chiến lược công ty đi trước và dẫn dắt những thay đổi trong cơ cấu tổ chức.

    3. Công nghệ

    Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng công nghệ của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc thiết kế bộ máy tổ chức. Công nghệ là sự kết hợp các nguồn lực, kiến thức, kỹ thuật để sản xuất ra sản phẩm/ dịch vụ đầu ra cho tổ chức. Một doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao thì cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý sẽ đơn giản hơn một tổ chức sử dụng công nghệ lạc hậu .

    4. Nguồn nhân lực

    Yếu tố cuối cùng ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ cấu tổ chức đó là nguồn nhân lực. Đối với những tổ chức sở hữu nguồn lực có kỹ thuật cao và có số lượng làm việc theo nhóm nhiều thì thích ứng với cấu trúc linh động, mềm dẻo và phân quyền. Và văn hóa của nó dựa trên những giá trị, nguyên tắc là gia tăng tính tự trị của nhân viên. Những nhân viên này thường thích tự do, tự chủ và không thích sự giám sát chặt chẽ từ nhà quản lý. Bởi vậy, khi thiết kế cơ cấu tổ chức, nhà quản trị cần phải lưu tâm đến yêu cầu của nguồn nhân lực, tính phức tạp cũng như hình thức công việc mà nhân viên tham gia.

    Trong thế giới đầy biến động ngày nay, thiết kế tổ chức là một hoạt động liên tục và đồng thời cũng là một thách thức đối với bất kỳ nhà quản lý nào – dù đang quản lý một doanh nghiệp toàn cầu hay một đội nhóm cực nhỏ. Một cơ cấu tổ chức ổn định đồng nghĩa với việc đại bộ phận doanh nghiệp vận hành trôi chảy mà không cần quá nhiều sự giám sát đốc thúc, lúc này nhà lãnh đạo có thể trút bớt gánh nặng công việc và yên tâm xây dựng các chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp.

    Điểm bắt đầu của quản trị là xây dựng một cơ cấu tổ chức khoa học; thiết lập vai trò – nhiệm vụ rõ ràng và triển khai các chính sách hiệu quả. Bộ giải pháp quản trị & phát triển toàn diện nhân sự Base HRM+ giúp các doanh nghiệp thực hiện công việc này một cách dễ dàng với 20 ứng dụng chuyên sâu giải quyết 4 bài toán nhân sự chính: 1. Organizational Design & Employee data platform (Sắp xếp bộ máy tổ chức & Quản lý hồ sơ nhân sự) 2. Compensation & Benefits (C&B) 3. Goal & Performance Review (Thiết lập mục tiêu & Đánh giá hiệu suất)

    4. Learning & Development (Đào tạo và phát triển)

    Đăng ký ngay TẠI ĐÂY để được tư vấn và nhận trải nghiệm demo ứng dụng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Cấu Tổ Chức Quản Trị Theo Chức Năng
  • 5 Loại Cơ Cấu Tổ Chức Chính Trong Một Doanh Nghiệp
  • Tổ Chức Có Chức Năng Thực Hiện Nghiệp Vụ Bảo Lãnh Phát Hành Chứng Khoán
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Khoa Y, Dược Cổ Truyền Trong Bệnh Viện Nhà Nước
  • Tổ Hợp Phím Ctrl+O Dùng Để:
  • Hoàn Thiện Mô Hình Tổ Chức Thực Hiện Chức Năng Đại Diện Chủ Sở Hữu Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Tại Các Tổ Chức Tín Dụng, Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hình Thức Của Các Tổ Chức Tín Dụng, Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Vấn Đề Cạnh Tranh Của Các Tổ Chức Tín Dụng Trong Dự Thảo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Lương Trưởng Thôn Có Cao Không?
  • Sửa Đổi, Bổ Sung Về Tổ Chức Và Hoạt Động Của Thôn, Tổ Dân Phố
  • Chi Bộ Tổ Dân Phố Số 6 Phường Việt Hưng Làm Tốt Công Tác Xây Dựng Đảng, Hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ Năm 2021
  • Ngày đăng:08:18 02/10/2019

    Một trong những nội dung trọng tâm tại Nghị quyết Đại hội Đảng XII đã được thông qua là yêu cầu phải “Nghiên cứu mô hình quản lý phù hợp của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn của nhà nước tại doanh nghiệp”. Triển khai văn kiện Đại hội XII, ngày 03/6/2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

    Theo đó, Nghị quyết đề ra 5 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, bao gồm: (i) Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; (ii) Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để doanh nghiệp nhà nước thật sự vận hành theo cơ chế thị trường; (iii) Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị và nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước; (iv) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, và (v) Đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp tại doanh nghiệp nhà nước.

    Nghị quyết 12-NQ/TW cũng chỉ rõ doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Mặt khác, tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; không để xảy ra thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Tách bạch, phân định rõ chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản lý nhà nước đối với mọi loại hình doanh nghiệp…

    Thực tế, thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn quan và dành nhiều sự hỗ trợ đối với lĩnh vực này, trải suốt quá trình xây dựng và đổi mới, đã có rất nhiều các quyết định, Nghị quyết, các Luật như Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Quản lý, sử dụng vốn vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, cùng với đó là hàng trăm văn bản dưới Luật để hướng dẫn, triển khai thi hành các Luật này. Đây là những hành lang pháp lý đặc biệt quan trọng để hỗ trợ và nâng cao vai trò của doanh nghiệp Nhà nước trong quá trình xây dựng và đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

    Triển khai thực hiện kết luận này, Chính phủ đã thành lập và chính thức đưa Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp đi vào hoạt động. Đến ngày 29/9/2018, Chính phủ đã quyết định ban hành Nghị định số 131/2018/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo Nghị định này, 19 tập đoàn, tổng công ty do các Bộ, ngành quản lý trước đây được chuyển giao về Ủy ban. Một số ít Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố vẫn tiếp tục thực hiện quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bao gồm:

    (i) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tiếp tục quản lý các doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí doanh nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật hiện hành;

    (ii) Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục quản lý vốn nhà nước tại các tổ chức tín dụng (TCTD), doanh nghiệp đặc thù để đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của quản lý nhà nước trong thực hiện cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các TCTD. Đồng thời, không để cho các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp về cùng một đầu mối quản lý nhằm tránh rủi ro và đảm bảo tính khách quan trong hoạt động tín dụng, cho vay theo kinh nghiệm quốc tế.

    (iii) Bộ quản lý ngành tiếp tục quản lý các doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí là doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích và các tổ chức kinh tế, tài chính đặc thù phục vụ công tác quản lý của các Bộ.

    (iv) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục quản lý công ty xổ số và doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phục vụ an sinh xã hội địa phương.

    Thực tế, số lượng doanh nghiệp, quy mô vốn Nhà nước tại các TCTD, doanh nghiệp được giao cho NHNN quản lý, giám sát hoặc được giao làm đại diện chủ sở hữu là rất lớn (12 TCTD, doanh nghiệp Gồm: 08 TCTD (Agribank, BIDV, VCB, Vietinbank, Co-opbank, Oceanbank, GPBank, CB), 01 tổ chức tài chính (BHTG), 03 doanh nghiệp (VAMC, Nhà máy In tiền Quốc gia và Napas).

    và nhóm nghiên cứu

    Nguồn: TCNH số 1/2019

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Được Nhận Tiền Gửi Của Các Loại Tổ Chức Tín Dụng
  • Đặc Điểm Cho Vay Của Tổ Chức Tín Dụng
  • Thống Nhất Chức Năng, Nhiệm Vụ, Bộ Máy Của Tổ Chức Đảng Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tổ Chức Đảng Trong Công Ty Liên Doanh Với Nước Ngoài
  • Những Kỹ Năng Cần Thiết Để Trở Thành Dược Sĩ Ưu Tú
  • Mô Hình Quản Lý Theo Chiều Ngang: Mô Hình Tổ Chức Đối Với Hoạt Động Kinh Doanh Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Cấu Tổ Chức Nằm Ngang (Horizontal Organizational Structure) Là Gì? Ưu Điểm
  • Hệ Thống Quản Lý Doanh Nghiệp
  • 2 Mô Hình Quản Lý Nhân Sự Dành Cho Doanh Nghiệp
  • Các Kiểu Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp
  • Nguyên Tắc Quản Lí Theo Ngành, Chức Năng Kết Hợp Với Quản Lí Theo Địa Phương
  • Mô hình quản lý theo chiều ngang là cách một doanh nghiệp thiết kế cơ cấu tổ chức của mình để đồng thời thực hiện 3 chức năng: thực hiện nhiệm vụ của tổ chức; chia nhỏ các công việc theo vị trí làm việc, phòng, ban, bộ phận, công ty con để triển khai thực hiện; và thiết kế mối quan hệ quản lý để đảm bảo công việc thực hiện theo cách phù hợp với chiến lược của doanh nghiệp. Có nhiều cách khác nhau để doanh nghiệp tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế trên cơ sở chức năng, mô hình doanh nghiệp, khu vực địa lý hoặc kết hợp cả ba nội dung đó. Tuy nhiên, thông thường, các công ty đa quốc gia sử dụng 5 mô hình để tổ chức các hoạt động kinh doanh của mình: mô hình theo chức năng, mô hình theo bộ phận và mô hình ma trận.

    Mô hình theo chức năng (functional structure): mô hình theo chức năng là cách thức tổ chức công việc của doanh nghiệp khi sản phẩm của doanh nghiệp có cùng công nghệ và các áp lực cạnh tranh phải theo đuổi chiến lược toàn cầu. Mô hình chức năng cho phép doanh nghiệp tối đa hóa được lợi ích theo quy mô thông qua việc sắp xếp trách nhiệm công việc và các thiết kế hiệu quả nhất các quan hệ quản lý trong doanh nghiệp. Vì vậy, mô hình này cho phép thành lập các bộ phận riêng biệt tập hợp nhân sự theo chức năng truyền thống của doanh nghiệp nhưng ở các khu vực địa lý khác nhau, tại đó nhân viên sản xuất làm việc với nhân viên sản xuất, nhân viên bán hàng làm việc với nhân viên bán hàng, nhân viên tài chính làm việc với nhân viên tài chính, v.v (Xem Hình 4.7).

    Mô hình theo chức năng thường được các doanh nghiệp có dải hàng hóa hẹp trong đó phương pháp sản xuất và marketing thường không khác nhau nhiều, và thị trường không thường xuyên thay đổi nhiều. Ví dụ, những công ty khai thác dầu hay khoáng sản như Total hay British Petroleum thường sử dụng mô hình tổ chức này.

    Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là doanh nghiệp không thể thích nghi kịp theo các thay đổi của thị trường đòi hỏi có sự phối hợp giữa nhiều chức năng. Mô hình theo chức năng thường khó xây dựng được mối quan hệ hiệu quả giữa việc sáng tạo tri thức với việc ra quyết định nhằm tạo điều kiện cho chức năng marketing phối hợp được với chức năng sản xuất và chức năng tài chính. Cơ chế quản lý theo chiều dọc của mô hình theo chức năng là một chuỗi dài mệnh lệnh trải ở nhiều cấp, khiến cho việc ra quyết định phải dịch chuyển chậm vì thông tin phải trải rộng tới hầu khắp các cấp bậc cần xử lý thông tin.

    Mô hình theo bộ phận (pision structure): Trong khi mô hình theo chức năng được sử dụng tại các doanh nghiệp chủ yếu gắn với nguyên liệu đầu vào thì mô hình theo bộ phận được sử dụng gắn với sản phẩm đầu ra. Mỗi bộ phận trong doanh nghiệp được giao trách nhiệm quản lý một tập hợp hàng hóa khác nhau hoặc tập hợp những thị trường khác nhau. Trên lý thuyết, một công ty đa quốc gia có thể có bộ phận phụ trách quốc tế, hoặc có bộ phận phụ trách sản phẩm trên toàn cầu hoặc bộ phận phụ trách khu vực địa lý trên toàn cầu.

    Mô hình bộ phận quốc tế (international pision structure): Tập hợp nhóm các hoạt động kinh doanh quốc tế lại vào một bộ phận, một ban để những nhân sự phụ trách chuyên môn về quốc tế giải quyết những vấn đề khác nhau như hồ sơ xuất khẩu, giao dịch ngoại hối, quan hệ với chính phủ nước ngoài … ( Xem Hình 4.8.). Mô hình này có khả năng thích nghi nhanh với những thay đổi của môi trường, cho phép doanh nghiệp hoạt động trên nhiều thị trường khác nhau. Mô hình này cũng hạn chế những lãng phí lặp đi lặp lại trong các hoạt động ở nhiều nơi trong tổ chức.

    Bộ phận phụ trách kinh doanh nội địa thường được đánh giá dựa trên hoạt động của bộ phận mình. Do vậy, các bộ phận này thường duy trì và giữ lại sản phẩm, nhân lực, công nghệ và các nguồn lực, không khuyến khích tham gia vào hoạt động quốc tế để thúc đẩy kết quả hoạt động của mình. Một bộ phận quốc tế hoặc phòng, ban phụ trách quốc tế có thể giải quyết được xu hướng trên nếu doanh nghiệp trang bị cho bộ phận này nhân lực để khai thác được năng lực của toàn hệ thống.

    Các doanh nghiệp sử dụng mô hình này để khai thác lợi ích theo quy mô thị trường. Qua việc phân chia bộ phận phụ trách thị trường nội địa, thị trường quốc tế, các doanh nghiệp thực hiện tốt và phù hợp với việc theo đuổi chiến lược đa quốc gia, trong đó không phải chịu nhiều sức ép phải hội nhập và tiêu chuẩn hóa giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Thêm vào đó, giám đốc phụ trách thị trường quốc tế có thể sử dụng các cách thức như chia sẻ kho vận hay cách thức lập dự toán để thực hiện phối hợp một số nhất định các quy trình sản xuất hoặc quản lý trong toàn hệ thống của doanh nghiệp. Mô hình tổ chức này thường được các công ty đa quốc gia của Châu Âu sử dụng do tính phụ thuộc tương đối vào thị trường nội địa của các công ty này.

    Mô hình bộ phận phụ trách sản phẩm (product pision structure): Mô hình phụ trách sản phẩm là một trong những mô hình phổ biến nhất tại các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế hiện nay do hầu hết các doanh nghiệp này đều có dải hàng hóa đa dạng và khác biệt ( Xem Hình 4.9). Ví dụ, việc sáp nhập giữa công ty Moet Hennessy và Louis Vuitton đã tạo ra tập đoàn hàng hóa sang trọng lớn nhất thế giới, tập đoàn LVMH, trong đó những hãng nước hoa Christian Dior, đồng hồ Tag Heuer, đồ túi xách Louis Vuitton, rượu sâm panh Moet & Chandon là thuộc trong các thương hiệu hàng hóa của tập đoàn. Việc không có sự tương đồng giữa nhiều dòng sản phẩm đã dẫn tới việc tập đoàn LVMH chia nhỏ thành 5 bộ phận, mỗi bộ phận tập trung vào một phân đoạn thị trường riêng biệt trên quy mô toàn cầu, đó là: rượu và đồ uống có cồn, thời trang và đồ da thuộc, nước hoa và mỹ phẩm, đồng hồ và trang sức, và hàng bán lẻ khác. Mặc dù có sự lắp lẫn, trùng lặp ở các thị trường cụ thể, các kênh phân phối, các chuỗi cung ứng nhưng các bộ phận này đều tương đối độc lập.

    Tương tự như mô hình theo chức năng, mô hình phụ trách sản phẩm được thiết kế phù hợp với chiến lược toàn cầu do hoạt động ở thị trường nội địa và thị trường nước ngoài đối với cùng một sản phẩm được một bộ phận phụ trách sản phẩm chịu trách nhiệm. Bộ phận này có thể kết hợp tương ứng và kinh nghiệm, tri thức giữa hai thị trường (ví dụ như chia sẻ thông tin về thành công hoặc thất bại trên các thị trường khác nhau với nhau).

    Thêm vào đó, mô hình phụ trách sản phẩm tăng cường năng lực bán hàng hoặc tung sản phẩm mới hoặc dừng bán một dòng sản phẩm nhất định vì các dòng sản phẩm là không có liên hệ với nhau. Tất nhiên, sẽ có các chức năng hoặc hoạt động bị lặp đi lặp lại giữa các bộ phận phụ trách sản phẩm và cũng khó có cơ hội hay cách nào mà một bộ phận phụ trách sản phẩm này có thể học tập được kinh nghiệm quốc tế từ một bộ phận phụ trách sản phẩm khác.

    Các công ty con khác nhau của các bộ phận phụ trách sản phẩm khác nhau hoạt động ở cùng một quốc gia ở nước ngoài sẽ báo cáo về cho các ban và bộ phận khác nhau tại trụ sở chính. Ví dụ, Hình 4.9 mô tả công ty điện và công ty thang máy ở Bỉ sẽ báo cáo về hai bộ phận khác nhau của công ty, vì vậy, sự kết hợp nguồn lực trong một nước có thể không được khai khác nếu các công ty con không liên hệ với nhau và tới cùng một bộ phận phụ trách. Tương tự, có trường hợp, có công ty con tại tập đoàn Westinghouse phải vay vốn với lãi suất cao tại thị trường địa phương trong khi đó một công ty con khác lại đang dư thừa tiền mặt.

    Mô hình bộ phận phụ trách khu vực địa lý (geographic area pision structure): Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình phụ trách theo khu vực địa lý ( Xem Hình 4.10) để vận hành tổ chức của mình khi các doanh nghiệp có hoạt động vận hành ở nước ngoài với quy mô lớn mà tập trung vào một nước hay một vùng cụ thể, bao gồm cả nước chủ nhà. Mô hình này cũng phổ biến đối với các công ty đa quốc gia của Châu Âu do các công ty này thường không có một thị trường nội địa có quy mô lớn. Mô hình này thường phù hợp trong trường hợp doanh nghiệp có được lợi ích từ quy mô sản xuất trên phạm vi khu vực, không phải trên phạm vi toàn cầu do quy mô thị trường hoặc công nghệ sản xuất đặc thù của ngành. Thông thường, mô hình này được các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược đa quốc gia sử dụng do mô hình này dành quyền quản lý phân cấp cho các công ty ở từng nước điều chỉnh thích nghi hơn với các điều kiện của thị trường địa phương.

    Hạn chế của mô hình này là khả năng lắp lẫn công việc trong mỗi khu vực do các công ty con có các hoạt động tạo giá trị giống nhau ở những địa điểm khác nhau chứ không tập trung vào địa điểm hiệu quả nhất. Ví dụ, hãng Neslé có hơn 500 nhà máy ở gần 90 nước để bán khoảng 8.000 nhãn hàng hóa tới hầu hết các nước trên thế giới. Do vậy, trụ sở tại Thụy Sĩ đã đau đầu để quyết định xem chi phí nguyên liệu đầu vào của các công ty con mua từ các nhà cung cấp trên khắp thế giới. Và có những trường hợp, mỗi nhà máy trong số 40 nhà máy của Nestlé tại Hoa Kỳ đã tiến hành mua nguyên liệu một cách độc lập. Việc thiếu sự phối hợp này đã dẫn tới hiện tượng các nhà máy của doanh nghiệp tại Hoa Kỳ phải thanh toán tới 20 mức giá khác nhau đối với sản phẩm vanilla cho cùng một nhà cung cấp.

    Mô hình ma trận (matrix structure): Các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế theo đuổi chiến lược xuyên quốc gia tại đó đáp ứng cả hai yêu cầu đó là hội nhập, toàn cầu hóa và thích nghi địa phương. Để thực hiện chiến lược này, các doanh nghiệp thường thiết kế tổ chức của mình theo mô hình ma trận để cho phép tận dụng được ưu điểm của mô hình theo chức năng và mô hình theo bộ phận (Xem Hình 4.11). Mô hình ma trận về mặt lý thuyết cho phép một doanh nghiệp kinh doanh quốc tế còn hạn chế được những nhược điểm của hai mô hình kể trên.

    Mô hình ma trận thường xác định rõ một công ty con phải báo cáo tới hơn một bộ phận phụ trách bao gồm cả về chức năng, sản phẩm hoặc địa lý. Giả định cơ bản ở đây là mỗi nhóm phải chia sẻ trách nhiệm về hoạt động vận hành ở nước ngoài sẽ khuyến khích việc mỗi nhóm trao đổi thông tin và nguồn lực một cách tự nguyện hơn. Ví dụ, các bộ phận phụ trách sản phẩm phải cạnh tranh với nhau để đảm bảo rằng bộ phận R&D được liên kết với nhóm chức năng như sản xuất, phát triển công nghệ đối với sản phẩm của họ. Các bộ phận phụ trách sản phẩm sẽ phải cạnh tranh để đảm bảo rằng các đối tác ở các khu vực địa lý khác nhau sẽ chú ý và đầu tư quan tâm thỏa đáng đến dòng sản phẩm của mình.

    Các bộ phận phụ trách sản phẩm, phụ trách chức năng và khu vực địa lý phải cùng cạnh tranh với nhau để có được nguồn lực mà những bộ phận khác đang nắm giữ trong ma trận. Ví dụ, số lượng các nguồn lực cần thiết để phát triển sản phẩm dệt ở Mexico phụ thuộc một phần vào cạnh tranh giữa nhóm Châu Âu và Châu Mỹ La tinh và một phần phụ tuộc vào cạnh tranh nguồn lực giữa nhóm sản phẩm dệt và sản phẩm nông sản. Do vậy, mô hình ma trận là sự nhân nhượng hữu ích khi các bộ phận gặp khó khăn trong việc liên kết hay phân tách các hoạt động ở nước ngoài.

    Công ty Dow Chemical thực hiện theo mô hình ma trận cho rằng “chúng tôi theo mô hình ma trận và phụ thuộc vào tinh thần hợp tác, ở đó không có ai chịu trách nhiệm cả. Khi mọi thứ ok, chúng tôi không biết ai để khen thưởng và khi một thứ tồi tệ, chúng tôi không biết ai để phê bình„. Việc giả định nhầm ai đó chịu trách nhiệm đã khiến cho nhiều công ty lại phải quay lại mô hình phân định vai trò và chức năng của các bộ phận.

  • mô hình tổ chức theo sản phẩm của công ty nestle
  • phân biệt một số mô hình tổ chức cơ bản
  • phân loại nhà quản trị theo chiều ngang ví dụ
  • vd cấu trúc tổ chức theo chiều ngang
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Là Gì? Chức Năng Của Quản Trị Trong Tổ Chức
  • Chức Năng Của Quản Trị Là Gì? Tại Sao Cần Đến Quản Trị?
  • Lý Trình Là Gì, Lợi Ích Của Lý Trình Mang Đến Cho Người Lái Xe
  • An Ninh Hàng Không Là Gì? Kiến Thức Cho Bạn Từ A
  • Cục Cảnh Sát Quản Lý Hành Chính Về Trật Tự Xã Hội Tiếng Anh Là Gì
  • Hợp Tác Xã Là Gì? Mô Hình Tổ Chức Quản Lý Của Hợp Tác Xã Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngân Hàng Hợp Tác Xã: Không Chỉ Là Chuyển Đổi Về Tên Gọi
  • Hội Sở Ngân Hàng Là Gì? Và Những Mà Bạn Cần Biết
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Trong Hoạt Động Phát Triển Nông Thôn
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Nn & Ptnt
  • Chuyên Đề Nâng Cao Động Lực Làm Việc Cho Người Lao Động Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Huyện Giao Thủy
  • Hợp tác xã là gì? Mô hình tổ chức quản lý của Hợp tác xã như thế nào? LawKey xin chia sẻ bài viết này để bạn đọc hiểu rõ mô hình Hợp tác xã.

    Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.

    Hợp tác xã là một mô hình tổ chức kinh tế phổ biến từ lâu và được khuyến khích phát triển ở Việt Nam, tồn tại song hành cùng với các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam.

    Việc thành lập hợp tác xã cũng giống với việc thành lập công ty, đều phải đăng ký tại Cơ quan có thẩm quyền.

    Theo Điều 29 Luật Hợp tác xã 2012, cơ cấu tổ chức hợp tác xã gồm đại hội thành viên, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên.

    Mô hình tổ chức quản lý Hợp tác xã

    Mô hình tổ chức Hợp tác xã gồm: Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Giám đốc (Ban giám đốc), Ban kiểm soát.

    Đại hội thành viên Hợp tác xã

    Đại hội thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã. Đại hội thành viên gồm đại hội thành viên thường niên và đại hội thành viên bất thường. Đại hội thành viên được tổ chức dưới hình thức đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu.

    Đại hội thành viên thường niên phải được họp trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính do hội đồng quản trị triệu tập.

    Đại hội thành viên bất thường do hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên hoặc thành viên đại diện của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên triệu tập theo quy định.

    Quyền hạn và nhiệm vụ của đại hội thành viên hợp tác xã được quy định tại Điều 32 Luật Hợp tác xã 2012 và Điều lệ của Hợp tác xã

    Hội đồng quản trị Hợp tác xã

    Hội đồng quản trị hợp tác xã là cơ quan quản lý hợp tác xã do hội nghị thành lập hoặc đại hội thành viên bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo thể thức bỏ phiếu kín. Hội đồng quản trị gồm chủ tịch và thành viên, số lượng thành viên hội đồng quản trị do điều lệ quy định nhưng tối thiểu là 03 người, tối đa là 15 người.

    Nhiệm kỳ: Nhiệm kỳ của hội đồng quản trị hợp tác xã do điều lệ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quy định nhưng tối thiểu là 02 năm, tối đa là 05 năm.

    Kỳ họp: Hội đồng quản trị hợp tác xã họp định kỳ theo quy định của điều lệ nhưng ít nhất 03 tháng một lần do chủ tịch hội đồng quản trị hoặc thành viên hội đồng quản trị được chủ tịch hội đồng quản trị ủy quyền triệu tập.

    Hội đồng quản trị họp bất thường khi có yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số thành viên hội đồng quản trị hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, trưởng ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, giám đốc (tổng giám đốc) hợp tác xã.

    Quyền hạn và nhiệm vụ của Hội đồng quản trị được quy định tại Điều 36 Luật Hợp tác xã 2012 và Điều lệ của Hợp tác xã.

    Chủ tịch Hội đồng quản trị

    Là người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và có quyền hạn, nghĩa vụ lập chương trình, kế hoạch hoạt động của hội đồng quản trị và phân công nhiệm vụ cho các thành viên hội đồng quản trị. Chuẩn bị nội dung, chương trình, triệu tập và chủ trì cuộc họp của hội đồng quản trị, đại hội thành viên trừ trường hợp Luật Hợp tác xã 2012 hoặc điều lệ có quy định khác. Chịu trách nhiệm trước đại hội thành viên và hội đồng quản trị về nhiệm vụ được giao. Ký văn bản của hội đồng quản trị theo quy định của pháp luật và điều lệ; Thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Hợp tác xã 2012 và điều lệ.

    Giám đốc (Tổng Giám đốc) hợp tác xã

    Là người điều hành hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

    Giám đốc (tổng giám đốc) có quyền hạn và nhiệm vụ sau đây:

    – Tổ chức thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã;

    – Thực hiện nghị quyết của đại hội thành viên, quyết định của hội đồng quản trị;

    – Ký kết hợp đồng nhân danh hợp tác xã theo ủy quyền của chủ tịch hội đồng quản trị;

    – Trình hội đồng quản trị báo cáo tài chính hằng năm;

    – Xây dựng phương án tổ chức bộ phận giúp việc, đơn vị trực thuộc của hợp tác xã trình hội đồng quản trị quyết định;

    – Tuyển dụng lao động theo quyết định của hội đồng quản trị;

    – Thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ khác được quy định tại điều lệ, quy chế của hợp tác xã.

    Trường hợp giám đốc (tổng giám đốc) do hợp tác xã thuê thì ngoài việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ quy định nêu trên còn phải thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ theo hợp đồng lao động và có thể được mời tham gia cuộc họp đại hội thành viên, hội đồng quản trị.

    Hợp tác xã có từ 30 thành viên trở lên phải bầu ban kiểm soát. Đối với hợp tác xã có dưới 30 thành viên việc thành lập ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên do điều lệ quy định.

    Ban kiểm soát, kiểm soát viên hoạt động độc lập, kiểm tra và giám sát hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật và điều lệ.

    Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên do đại hội thành viên bầu trực tiếp trong số thành viên, đại diện hợp tác xã thành viên theo thể thức bỏ phiếu kín. Số lượng thành viên ban kiểm soát do đại hội thành viên quyết định nhưng không quá 07 người.

    Nhiệm kỳ của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên theo nhiệm kỳ của hội đồng quản trị.

    Quyền hạn, nhiệm vụ của Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên được quy định tại khoản 4 Điều 39 Luật Hợp tác xã 2012.

    Điện thoại: (024) 665.65.366 Hotline: 0967.59.1128

    Email: [email protected] Facebook: LawKey – Chìa Khoá Pháp Luật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngân Hàng Hợp Tác Xã Phải Là Ngân Hàng Của Các Quỹ Tdnd Và Htx
  • Dịch Vụ Ngân Hàng Bán Lẻ Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Ngân Hàng Bán Lẻ
  • Bảo Lãnh Của Ngân Hàng Thương Mại, Chức Năng Và Vai Trò Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Đặc Điểm, Chức Năng Và Vai Trò Của Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Ủy Ban Quản Lý Vốn Nn Bộc Lộ Bất Cập: Khi Mô Hình Tổ Chức, Quyền Năng Và Nhiệm Vụ Thiếu Rõ Ràng…

    --- Bài mới hơn ---

  • 2 Nhóm Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước Tại Doanh Nghiệp
  • Tất Tần Tật Về Vị Trí Trưởng Phòng Vật Tư
  • Quản Lý Vật Tư Và Hiệu Quả Của Quản Lý Vật Tư Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • 10 Chức Năng Nổi Trội Của Phần Mềm Quản Lý Vật Tư
  • Admin Và Các Chức Năng Của Một Tài Khoản Admin
  • (Pháp lý) . Siêu Ủy ban quản lý vốn nhà nước chính thức ra mắt ngày 30/9/2018 và đã tiếp nhận 19 tổng công ty, tập đoàn kinh tế. Siêu Ủy ban quản lý vốn chủ sở hữu gần 1 triệu tỷ đồng, tổng tài sản khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, chiếm 2/3 tổng tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau hơn 1 năm hoạt động, nhiều bất cập đã bộc lộ, cần phải thay đổi, đặc biệt cần phải soi chiếu lại quyền năng và nhiệm vụ của cơ quan này so với các qui định của pháp luật về đầu tư và quản lý vốn nhà nước… Chức năng, nhiệm vụ quá lớn

    Theo Nghị định số 131/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 09 năm 2021 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp) thì Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cơ quan thuộc Chính phủ; được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật.

    Ủy ban còn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ giao Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu: Quyết định vốn điều lệ khi thành lập và điều chỉnh vốn điều lệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, trừ các doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Quyết định thành lập, tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể, yêu cầu phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và theo đề án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp đã được phê duyệt; Quyết định quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, chấp thuận từ chức, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên

    Thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu.

    Đề xuất Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý tài chính của doanh nghiệp; ban hành, sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý tài chính của doanh nghiệp theo thẩm quyền; phê duyệt để Hội đồng thành viên ban hành Quy chế quản lý tài chính của doanh nghiệp theo thẩm quyền quy định tại điều lệ của doanh nghiệp.

    Ủy ban còn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuộc Chính phủ theo quy định của pháp luật.

    Với chức năng, quyền hạn như vậy, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp quả là một “siêu Ủy ban” như báo chí và các chuyên gia xác định. Tuy nhiên, sau hơn 1 năm kể từ khi 19 tập đoàn và tổng công ty nhà nước thì những bất hợp lý đã bộc lộ, gây bất lợi cho quản lý cũng như sự phát triển của doanh nghiệp.

    Những bất cập đã bộc lộ

    Mới đây, trong cuộc họp với Tổ công tác của Thủ tướng, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng phản ánh, vướng mắc lớn nhất là thẩm quyền phê duyệt dự án của cơ quan đại diện chủ sở hữu chưa được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất trong nội bộ Ủy ban, giữa các bộ, ngành và các doanh nghiệp. Khó khăn kiểu này cũng được một số doanh nghiệp như Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Vietnam Airlines nêu ra tại cuộc họp.

    Cuối năm 2021, Bộ GTVT là nơi bàn giao sớm nhất quyền đại diện vốn chủ sở hữu tại 5 doanh nghiệp: Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), Tổng công ty Đường cao tốc Việt Nam (VEC), Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR), Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) và Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) sau quyết định của Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước (CMSC) nhằm tách bạch quyền quản lý vốn nhà nước và quyền quản lý chuyên ngành đối với các doanh nghiệp.

    Vướng mắc lớn nhất là thẩm quyền phê duyệt dự án của cơ quan đại diện chủ sở hữu chưa được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất trong nội bộ Ủy ban, giữa các bộ, ngành và các doanh nghiệp

    Báo chí đã phản ánh việc Tổng Cty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) sau khi chuyển về UBQLV, các dự án cao tốc dở dang của VEC đã gặp nhiều vướng mắc. Lãnh đạo VEC cho biết: Về mặt danh nghĩa, Quốc hội đã phân bổ vốn từ ngân sách cho VEC, tiền đã có nhưng khi về UBQLV dòng vốn đó bị tắc. Do chưa rõ Bộ GTVT hay UBQLV là cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận và giao vốn cho VEC.

    Vì vậy, dự án cao tốc Bến Lức – Long Thành dù đã triển khai hơn 70% khối lượng công việc bị đình trệ, chậm tiến độ, hiệp định vay vốn hết hiệu lực nhưng chưa có cơ quan nào xử lý.

    Ngoài VEC thì Tổng Cty Đường sắt (VNR) và Tổng Cty Cảng hàng không (ACV) cũng bị ách tắc tương tự. Với ACV, hiện tại đường băng, đường lăn sân bay Tân Sơn Nhất (TPHCM) và Nội Bài (Hà Nội) đều xuống cấp nghiêm trọng. Từ năm 2021, ACV đã báo cáo để tu sửa, nhưng chưa được làm vì vướng quy định. Trường hợp ngân sách khó khăn, ACV sẽ ứng vốn để làm trước, ngân sách trả nợ sau. Do việc đầu tư, sửa chữa sân bay thuộc trách nhiệm của Nhà nước, nên sau khi ACV chuyển giao về UBQLV, Bộ GTVT không thể quyết định giao cho ACV thực hiện công việc này được nữa. Từ đó tới nay, 2 sân bay lớn nhất nước vẫn đối mặt nguy cơ đóng cửa vì xuống cấp.

    Lãnh đạo một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Ủy ban cho biết: Trước đây, chúng tôi báo cáo xin ý kiến Bộ Công Thương về các dự án đầu tư. Tuy nhiên, khi chuyển về UBQLV, chúng tôi báo cáo lãnh đạo ủy ban này. Sau đó, UBQLV lại hỏi ý kiến Bộ Công Thương. Vì vậy, công việc chậm trễ hơn.

    Với góc nhìn chuyên gia, ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) nhận định: Ủy ban Quản lý vốn đã không làm đúng bản chất của mình lúc mới thành lập. Đó là sự dùng dằng trong chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Đây mới là mấu chốt khiến việc thiết kế Ủy ban không đúng với bản chất.

    Ông Cung cho rằng: Vai trò của UBQLV không phải dự án đầu tư mà là giao mục tiêu (như tỷ lệ sinh lời, hệ số tài chính, cải thiện năng lực công nghệ, năng lực cạnh tranh…) để doanh nghiệp thực hiện, chứ không phải đi giao từng dự án. Ủy ban phải làm như thế, còn đầu tư vào đâu, đầu tư như thế nào là quyết định của doanh nghiệp. Ủy ban không phải nơi thẩm định dự án đầu tư của doanh nghiệp. Dự án chỉ là công cụ đạt được mục tiêu mà thôi.

    “Gần đây nhiều ý kiến cho rằng không cần Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp nữa vì Ủy ban không thực hiện đúng chức năng, vai trò của mình. Việc tách bạch quyền chủ sở hữu và quyền quản lý là hoạt động mang tính kỹ thuật, có thể làm được ngay và không cần phải đổi mới tư duy hay chờ chiến lược mới”, ông Nguyễn Đình Cung nói.

    Câu chuyện tách bạch vai trò sở hữu và quản lý vốn được nhiều học giả đặt ra từ lâu. Trước đây, chúng tôi Ngô Trí Long cũng chỉ ra, vướng mắc lớn nhất của tư duy quản lý là quá xem nặng tài sản quốc gia như của riêng Nhà nước và phải quản, nhưng thực ra “cha chung không ai khóc”. Trong khi đó, yêu cầu số một của cơ chế thị trường là phân bổ nguồn lực tối ưu lại không được quan tâm đầy đủ.

    TS Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng CIEM, đã dẫn giải ý kiến của các chuyên gia nước ngoài rằng, ở Việt Nam phân mảng quyền lực của các cơ quan quản lý Nhà nước cực lớn. Hiểu một cách nôm na chỗ nào có tiền là cơ quan nào cũng muốn giành để vào, nếu không gạt bỏ được điều này thì rất khó để thay đổi tư duy và tách bạch được quyền chủ sở hữu và quyền quản lý nhà nước.

    Trước thực tế vướng mắc, trì trệ hiện nay, ngày 17/2, Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giao thông vận tải (GTVT) và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp đánh giá toàn diện đề xuất điều chuyển Tổng công ty Đường sắt Việt Nam từ Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp về trực thuộc Bộ Giao thông vận tải.

    Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giao thông vận tải và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp đánh giá toàn diện những ưu điểm và nhược điểm của đề xuất này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án sắp xếp vào đầu tháng 3/2020.

    Chỉ đạo của Thủ tướng cho thấy điều các chuyên gia dự báo khi thành lập Ủy ban. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, việc thành lập Ủy ban dù với mục đích tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện vốn chủ sở hữu là cần thiết , nhưng nếu mô hình tổ chức không rõ ràng, lại giao cho Ủy ban quá nhiều quyền vượt quá năng lực là không khả thi.

    Bởi theo số liệu được Bộ KHĐT công bố tại thời điểm cuối 2021, trước khi các bộ thực hiện chuyển giao quyền quản lý vốn về UBQLVNN tại doanh nghiệp thì có gần 800 DNNN 100% vốn nhà nước, tổng tài sản lên tới 3 triệu tỉ đồng, vốn chủ sở hữu là hơn 1,2 triệu tỉ đồng. Nếu tính toàn bộ các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn và trên 50% vốn thì con số này đến 5 triệu tỉ đồng. Với cơ cấu tổ chức như hiện nay, việc thực hiện quyền đại diện vốn và đưa ra các quyết định phê duyệt đầu tư quan trọng cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ở tất cả các lĩnh vực là quá sức đối với siêu Ủy ban này.

    Thủ tục “quyết định chủ trương đầu tư” (theo Luật Đầu tư năm 2014 – Luật số 67) và “phê duyệt dự án” (theo Luật Quản lý , sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất và kinh doanh tại doanh nghiệp – Luật số 69) hoàn toàn khác nhau. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư theo Luật số 67 là nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư. Còn việc phê duyệt dự án theo Luật số 69 là nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ cơ quan đại diện sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Hội đồng thành viên doanh nghiệp quyết định. Như vậy việc giao UBQLVNN quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư kinh doanh của tập đoàn, tổng công ty nhà nước là không phù hợp với cả hai qui định của hai luật nêu trên”.

    Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, việc thành lập Ủy ban dù với mục đích tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện vốn chủ sở hữu là cần thiết , nhưng nếu mô hình tổ chức không rõ ràng, lại giao cho Ủy ban quá nhiều quyền vượt quá năng lực là không khả thi.

    Thái Văn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dự Kiến Quý Ii/2018 Thông Qua Chức Năng Và Nhiệm Vụ ‘siêu’ Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước Tại Dn
  • Top Phần Mềm Quản Lý Thư Viện Trường Học Chuyên Nghiệp
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Quản Lý Thể Dục Thể Thao
  • Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý Nhà Nước Về Thuế
  • Chức Năng Quản Lý Doanh Nghiệp Trên Hệ Thống Thuedientu.gdt.gov.vn
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50