Các Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Quản Trị Công Ty Chip & Chip
  • Chặn Người Dùng Wifi, Xem Ai Đang Sử Dụng Wifi Chùa Và Ngắt Kết Nối
  • Trình Quản Lý Thiết Bị Android Là Gì, Cách Bật, Tắt, Sử Dụng Ra Sao?
  • Phần Mềm Quản Lý Máy Móc Thiết Bị
  • Kích Hoạt, Tắt Tài Khoản Quản Trị Ẩn Trên Windows 7, 8, 8.1, 10.
  • Các chức năng quản trị trong đều có vai trò vô cùng quan trọng quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi chức năng quản đều có mỗi quan hệ mật thiết và bổ trợ lẫn nhau. Cùng Luận Văn Việt tìm hiểu ngay qua bài viết sau đây.

    Quản trị là một khái niệm rất cần thiết trong bất kỳ công việc nào hay các hoạt động đời sống hàng ngày. Quản trị một tổ chức là sự phối hợp của nhiều nhóm người, nhiều công cụ khác nhau để cùng nhau hoàn thành một loạt các nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức đó.

    Các chức năng chính của quản trị bên dưới sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn:

    Hoạch định là việc hoạch định những kế hoạch và định hướng cho doanh nghiệp trong tương lai. Với sự chi tiết và hợp lý giúp doanh nghiệp được hoạt động có lộ trình và phát triển theo từng giai đoạn.

    Việc hoạch định là công việc quan trọng gắn liền với tầm nhìn phát triển của công ty, do đó đòi hỏi sự đóng góp của toàn bộ cán bộ, đoàn thể của nhân viên, với sự dẫn dắt của ban lãnh đạo doanh nghiệp.

    Hai yếu tố quan trọng nhất của hoạch định là cách thức thực hiện và thời gian. Nhà quản trị phải lên kế hoạch điều phối hợp lí giữa hai yếu tố đó, thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các phòng ban khác nhau. Hoạt động hoạch định cũng phải tận dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp để đảm bảo kế hoạch đề ra được triển khai thuận lợi.

    Đây là chức năng giúp doanh nghiệp có thể vận hành trơn tru và liên tục, duy trì sự phát triển bền vững trong tương lai. Một cơ cấu tổ chức tốt có nghĩa là doanh nghiệp ấy có đủ nguồn lực về tài chính, nhân sự, nguyên vật liệu,… được xây dựng thành một tổ chức chặt chẽ.

    Duy trì chức năng tổ chức hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng phát triển cả chiều dài lẫn chiều rộng, duy trì sự bền vững lâu dài. Chức năng quản trị tổ chức luôn luôn linh hoạt và thay đổi để đáp ứng được mục đích phát triển của doanh nghiệp cũng như tình hình thị trường.

    Chức năng chỉ đạo tốt khi chức năng của nhà quản trị được thể hiện rõ nét, nhà quản trị biết tạo động lực và khuyến khích sự sáng tạo của nhân viên sẽ giúp cho nhân viên phát huy hết năng lực và đóng góp lớn nhất vào doanh nghiệp.

    Là chức năng điều chỉnh tất cả các hoạt động để chúng được phối hợp một cách ăn ý, nhuần nhuyễn, giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả nhất. Chính sự ảnh hưởng từ thái độ, cách ứng xử của nhân viên sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phối hợp công việc giữa các phòng ban và các cấp quản lý.

    Chức năng của việc điều phối trong quản trị giúp cho doanh nghiệp hoạt động trơn tru, kỷ luật và tạo không khí thoải mái cho các phòng ban. Để chức năng quản trị điều phối hiệu quả, các nhà quản lý cần có năng lực quản trị tốt, thông qua quản trị cách ứng xử và phối hợp hoạt động của nhân sự, doanh nghiệp mới có thể đạt được mục tiêu đặt ra.

    Kiểm soát nghĩa là những công việc theo dõi tình hình hoạt động của doanh nghiệp, quản lý hiệu quả công việc của nhân viên, xem xét liệu rằng các nhân viên có đáp ứng đúng mục tiêu công việc đưa ra hay không.

    Chức năng quản trị kiểm soát giúp thiết lập tiêu chuẩn các hoạt động của doanh nghiệp, đưa ra những KPI hợp lý và đo lường, lập báo cáo hoạt động thực tế cho doanh nghiệp.

    Chức năng kiểm soát sẽ giúp doanh nghiệp có được góc nhìn rộng và thực tế trong hiệu quả kinh doanh, đưa ra các dự báo rủi ro và kế hoạch phòng ngừa cũng như phát triển hợp lý trong tương lai.

    Các chức năng quản trị có sự liên kết với nhau, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, các chức năng quản trị cũng sẽ giúp doanh nghiệp quản trị được nguồn lực và duy trì sự phát triển bền vững trong tương lai.

    Các doanh nghiệp lớn có cấp quản trị rõ ràng, và phân cấp bậc, những nhà quản trị lớn chỉ tập trung thời gian vào quản lý những nhà quản trị cấp trung.

    Trong một doanh nghiệp, các cấp quản trị được phân công ở nhiều mức độ khác nhau, mỗi cấp độ sẽ có một vai trò và vị trí nhất định trong tổ chức, cấp độ quản trị càng cao thì chức năng hoạch định và tổ chức càng cao, và ngược lại, chức năng điều hành càng thấp khi cấp quản trị càng thấp.

    Các chức năng của quản trị có mối quan hệ gắn kết với nhau, chức năng này bổ trợ cho chức năng kia, các chức năng quản trị phối hợp hài hòa sẽ giúp tổ chức phát triển và lớn mạnh hơn qua thời gian.

    Như vậy, qua bài viết trên, các bạn hiểu hơn về chức năng quản trị rồi đúng không? Với những chia sẻ trên, Luận Văn Việt hy vọng rằng bạn đã thật tự tin trong kiến thức của mình và định hướng tốt cho lộ trình phát triển của mình trong vai trò các nhà quản trị tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Hạn Của Trưởng Ban Quản Trị Nhà Chung Cư
  • Cư Dân Chung Cư Cần Biết: Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ban Quản Trị Chung Cư?
  • Kinh Tế Chia Sẻ: Sân Nhà Về Tay Đội Khách
  • Chức Năng Của Kế Toán Quản Trị
  • Quản Lý Vận Hành Nhà Chung Cư: Tranh Nhau Vào Ban Quản Trị Để Trục Lợi?
  • Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Nhà Quản Trị
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Quản Lý Nhà Nước Là Gì? Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước
  • Quản trị là việc thiết yếu trong mỗi tổ chức. Vậy chức năng quản trị là gì? Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị ra sao? Hãy tìm hiểu trong bài viết sau. Các chức năng của quản trị

    Chức năng quản trị là gì?

    Chức năng quản trị là những hoạt động riêng biệt của quản trị thể hiện những phương thức tác động của quản trị viên đến các lĩnh vực quản trị trong doanh nghiệp.

    Hoạt động quản trị của con người đã ra đời từ rất lâu nhưng khi con người đã tổ chức các nhà máy, xí nghiệp khổng lồ và đạt được các tiến bộ to lớn về kỹ thuật nhưng khoa học quản trị vẫn chưa được quan tâm đến.

    Phân loại các chức năng của quản trị

    Trong bài viết này, chúng ta sẽ phân loại các chức năng của quản trị theo quan điểm của nhiều nhà khoa học quản trị.

    1. Phân loại quản trị theo Henry Fayol

    Henry Fayol là một nhà khoa học quản trị của Pháp. Bạn có thể tìm hiểu thêm quy tắc quản trị của ông trong bài viết:

    14 nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của Henry Fayol

    Chức năng quản trị được ông chia thành 5 phần, bao gồm:

    Hoạch định: “Doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi nó được hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động, một kế hoạch nhất định nhằm xác định rõ: Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Bán cho ai? Với nguồn tài chính nào?”

    Tổ chức: “Tổ chức một doanh nghiệp tức là trang bị tất cả những gì cần cho hoạt động của nó bao gồm: máy móc, vốn, nhân viên, vật liệu…”

    Phối hợp: “Phối hợp là việc làm cho đồng bộ giữa tất cả những hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi nhuận dễ dàng và có hiệu quả”.

    Chỉ huy: “Có thể xã hội đã được xây dựng xong, giờ chúng ta chỉ việc làm cho nó hoạt động, đó chính là nhiệm vụ của người chỉ huy”.

    Kiểm soát: “Kiểm tra thực chất là quá trình xem lại tất cả việc đã được tiến hành phù hợp với chương trình đã định với những mệnh lệnh đã ban bố và những nguyên lý đã thừa nhận”.

    P: Planning – Hoạch định

    O: Organizing – Tổ chức

    S: Staffing – Nhân sự

    D: Directing – Chỉ huy

    CO: Coordinating – Phối hợp

    R: Reporting – Báo cáo

    B: Budgeting – Ngân sách

    Cách phân loại chức năng quản trị này thể hiện tính kế thừa và phát triển. Có 2 nhân tố ảnh hưởng tới khoa học quản trị ở thời kì này chính là:

    – Sự hình thành các tập đoàn doanh nghiệp dẫn đến việc phải đổi mới vấn đề tổ chức – đặc biệt là việc tuyển dụng các nhân viên quản trị có học vấn vào các vị trí cao cấp.

    – Sự thâm nhập của giới ngân hàng vào hoạt động của các doanh nghiệp với tư cách là các quản trị viên cấp cao.

    3. Phân loại theo H. Koontz và C. O’Donnell

    Kế thừa lại cách phân loại của Fayol, hai nhà khoa học người Mỹ đã phân loại thành 4 chức năng quản trị cơ bản bao gồm:

    – Xác định triết lý, giáo lý và chính sách kinh doanh

    – Kế hoạch kinh doanh và kiểm tra

    – Tổ chức và chỉ huy

    – Phát triển nhà quản trị

    Nội dung của các chức năng quản trị

    Nội dung của các chức năng quản trị Hoạch định

    Là chức năng đầu tiên trong quản trị bao gồm các công việc: Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược tổng thể, thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động.

    Tổ chức

    Bao gồm việc xác định những việc phải làm, những ai tham gia làm việc đó, các công việc sẽ được phối hợp lại với nhau như thế nào? Những bộ phận nào cần phải được thành lập? Quan hệ phân công và trách nhiệm giữa các bộ phận đó, hệ thống quyền hành trong doanh nghiệp.

    Chỉ huy

    Công việc trong doanh nghiệp cần phải có người thực hiện. Để có người làm việc, nhà quản trị cần phải tuyển chọn, thu hút người làm việc, bố trí, bồi dưỡng, động viên và khích lệ nhân viên.

    Việc thiết lập quyền hành và sử dụng quyền hành đó để giao việc cho nhân viên, đưa ra các nội quy, quy định làm việc và ủy quyền cho người khác… là nội dung của chức năng chỉ huy.

    Phối hợp

    Chức năng này bao gồm: Phối hợp theo chiều dọc, nghĩa là phối hợp giữa các cấp quản trị và phối hợp theo chiều ngang nghĩa là phối hợp giữa các chức năng, các lĩnh vực quản trị.

    Kiểm soát

    Chức năng này bao gồm việc xác định thu thập thông tin về thành quả thực tế, so sánh với thành quả kỳ vọng và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch nhằm đảm bảo tổ chức đang đi đúng hướng giúp hoàn thành mục tiêu.

    Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị

    Quan hệ giữa chức năng quản trị với quy mô doanh nghiệp

    Việc thực hiện số lượng các chức năng quản trị ở doanh nghiệp lớn và nhỏ là giống nhau. Tuy nhiên việc đảm bảo chức năng quản trị của các cấp quản trị trong những doanh nghiệp có quy mô khác nhau là khác nhau.

    Điều này thể hiện ở việc các doanh nghiệp nhỏ có cấp quản trị cao nhất có thể can thiệp và điều hành cả những công việc của cấp dưới, trong khi ở các doanh nghiệp lớn thì chức năng quản trị được phân cấp khá rành rọt, cấp quản trị cao nhất chỉ tập trung thời gian vào những chức năng thiết yếu.

    Quan hệ giữa chức năng quản trị với các cấp quản trị

    Trong một doanh nghiệp, các cấp quản trị được phân chia một cách khách quan việc đảm trách các chức năng này ở các mức độ khác nhau. Chức năng hoạch định và tổ chức giảm dần theo cấp quản trị trong khi đó, chức năng điều hành lại tăng lên ở cấp quản trị thấp nhất

    Tính quốc tế của chức năng quản trị

    Mặc dù việc vận dụng các chức năng quản trị vào hệ thống doanh nghiệp ở từng quốc gia, khu vực có thể khác nhau về vai trò, tính chất quan trọng của từng chức năng nhưng xét về tổng thể thì các chức năng theo phân loại của Fayol vẫn được mọi quốc gia công nhận.

    Có thể nói phát minh phân loại chức năng quản lý của Fayol là cơ sở quyết định cho sự tiến bộ của khoa học quản trị từ thế kỷ 20.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Quản Trị
  • Trình Bày Các Chức Năng Của Quản Lý Giáo Dục
  • 4 Chức Năng Của Nhà Quản Lý
  • Khái Niệm, Vai Trò Và Chức Năng Của Quản Lý
  • Bài 20. Cấu Tạo Trong Của Phiến Lá
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • 10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung
  • Theo quan niệm mácxít, nhà nước vừa có chức năng xã hội – chính trị, vừa có chức năng xã hội – dân sự. Tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về vấn đề này là cơ sở phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần: Nhận thức và xử lý đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa các chức năng của nhà nước; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta; xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân.

    1. Cuộc cách mạng vĩ đại về lý luận – tư tưởng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, V.I.Lênin phát triển, đã đem lại quan niệm khoa học về nhà nước và chức năng của nhà nước trên nhiều bình diện, đặc biệt là mối quan hệ giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự trong kiện toàn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Quan điểm mácxít khẳng định rằng, nhà nước chỉ xuất hiện khi đời sống xã hội đòi hỏi và đảm bảo đủ điều kiện để nhà nước hoạt động. Trong thực tiễn lịch sử, điều kiện cần và đủ cho sự hình thành nhà nước là sự phát triển sản xuất xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định, cho phép xã hội có của dư. Khi xã hội tạo được của dư tất yếu sinh ra chế độ tư hữu, lúc đó, xã hội bắt đầu có sự phân hoá giai cấp và mâu thuẫn đối kháng giai cấp không thể điều hoà. Đặc trưng của nhà nước trước hết là thực hiện sự quản lý theo lãnh thổ; đồng thời, quản lý xã hội bằng pháp luật. Quyền lực nhà nước được hình thành, phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội và phản ánh bản chất giai cấp của nhà nước đó. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khẳng định: “Trước hết, bất cứ quyền lực chính trị nào ban đầu đều dựa trên một chức năng kinh tế, xã hội… Hai là, … tác động theo ý nghĩa và chiều hướng của sự phát triển kinh tế có tính quy luật. Như vậy, giữa quyền lực chính trị và phát triển kinh tế không có một sự xung đột nào và phát triển kinh tế được đẩy nhanh hơn, hoặc nó chống lại sự phát triển kinh tế, khi đó trừ một vài trường hợp ngoại lệ, thường thường nó chịu sức ép của sự phát triển kinh tế”(1). Chức năng xã hội của nhà nước được C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp cận dưới nhiều góc độ, song đều xuất phát từ nguyên tắc giai cấp của nhà nước. Trong các luận giải của mình về nhà nước, các ông đã phân tích sự vận động biện chứng của hai lớp nhà nước chính trị và nhà nước xã hội. Đó là sự phản ánh quá trình chuyển hoá biện chứng khách quan giữa nhà nước chính trị và nhà nước xã hội, mà tập trung nhất là đời sống kinh tế. Bí mật của mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội là ở chỗ, nhà nước tách ra thành một bộ phận độc lập, đối lập với xã hội. Song, “không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định, quyết định nhà nước”(2).

    Dưới góc độ phương pháp luận mácxít, nhà nước không chỉ thực hiện sự thống trị của giai cấp, tức chức năng xã hội – chính trị, mà còn thực hiện chức năng công cộng, tức chức năng xã hội – dân sự. Hai chức năng đó tuy khác nhau nhưng biểu hiện cùng một bản chất do tính quy định của nó. “Gia đình và xã hội công dân là những bộ phận hiện thực của nhà nước, là phương thức tồn tại của nhà nước. Gia đình và xã hội công dân tự chúng cấu thành nhà nước”(3). Như vậy, nhà nước là tổng thể của sự tồn tại của nhân dân và nhà nước chính trị chính trị.

    Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chức năng xã hội – chính trị có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nó đòi hỏi phải tiếp cận mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của nhà nước bằng nguyên tắc khách quan, toàn diện và lịch sử – cụ thể; bằng tính hệ thống, tính chỉnh thể, tính lôgíc biện chứng trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp; bằng tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân. Mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xét đến cùng, là đảm bảo tốt hơn sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Để giữ vững định hướng chính trị đối với tất cả các quan hệ xã hội, việc thực hiện chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải dựa trên cơ sở lợi ích và ý chí của giai cấp công nhân; tuân theo sự dẫn dắt, định hướng, chế ước của các quan hệ xã hội – chính trị. Định hướng xã hội – chính trị của nhà nước phải được giữ vững trong quá trình thực hiện chức năng xã hội – dân sự, không đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn xã hội càng phù hợp với nhau thì các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự càng phát triển theo hướng tích cực. Định hướng xã hội – chính trị chỉ đứng vững khi bản thân nó không tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ nền tảng đời sống sinh hoạt bình thường của xã hội dân sự. Nhân dân đóng góp cho nhà nước bao nhiêu về phương diện xã hội – chính trị thì nhà nước cũng phải thoả mãn bấy nhiêu yêu cầu của họ về phương diện xã hội – dân sự. Các nguyên tắc này đòi hỏi phải loại bỏ quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng không chỉ vì lý do chính trị, mà cả lý do khoa học.

    Để tiếp cận đúng mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, còn cần phải tuân thủ nguyên tắc về sự thống nhất giữa vai trò của quần chúng nhân dân và người lãnh đạo. Cơ sở khoa học của nguyên tắc này xuất phát từ lý luận và thực tiễn của mối liên hệ hữu cơ giữa cá nhân với xã hội mà C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc trong các tác phẩm của mình. Nhà nước thực hiện các chức năng của nó không chỉ thông qua vai trò của cộng đồng xã hội, mà còn thông qua vai trò hoạt động tích cực của cá nhân, đặc biệt là người lãnh đạo chủ chốt.

    Trên cơ sở phương pháp luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, việc xem xét các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước luôn được đặt trong mối liên hệ với xã hội dân sự. Thực hiện tốt vấn đề này không chỉ nâng cao vị thế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà còn tăng thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước với đời sống xã hội dân sự.

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn luôn đòi hỏi việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị phải dựa trên cơ sở thoả mãn nhu cầu xã hội dân sự; trong đó, nhu cầu thiết yếu nhất là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, phương thức thực hiện sự thống trị của giai cấp công nhân bằng nhà nước chủ yếu phải là mở rộng dân chủ. Pháp quyền chỉ đứng vững và hiệu quả khi thực hiện bằng dân chủ. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là hiện thân tối ưu của các hình thức dân chủ hoá. Dù trình độ dân chủ phát triển đến đâu, tính chất dân chủ ấy như thế nào thì nó vẫn phải được pháp chế hoá bằng luật pháp. Để thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, phải phát triển mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự.

    Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự được biểu hiện một cách đa dạng trên nhiều nội dung và ở mọi lĩnh vực xã hội, trong đó những nội dung quan trọng cần khẳng định là các mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    2. Các Nghị quyết Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, các Nghị quyết Trung ương chuyên đề, như Nghị quyết Trung ương 3, khoá VII (6 – 1992) Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII (6 – 1997) Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnhVề chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết Trung ương 7, khoá VIII (8 -1999) Về một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước… được các ngành, các địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện đã góp phần quan trọng trong việc ổn định tư tưởng, thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân, giữ vững ổn định xã hội – chính trị, thực hiện có hiệu quả chức năng xã hội – dân sự. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã tạo nền tảng vật chất vững chắc để Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển và quan hệ chặt chẽ hơn với đời sống xã hội dân sự, không gây nên những biến động lớn làm đảo lộn đời sống xã hội dân sự, không có sự tranh giành quyền lực chính trị trong nội bộ cơ quan quyền lực. Đồng thời, tạo cơ sở cho Nhà nước thực hiện một cách thống nhất các chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của mình.

    Trong thời đại toàn cầu hoá, xu hướng luật pháp hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội đã có ảnh hưởng rất lớn và tích cực đối với việc thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước ta. Điều này biểu hiện ở vai trò ngày càng tăng của nhân tố pháp quyền, sự quan tâm hơn của nhà nước đến vấn đề con người và đời sống xã hội, sự hoàn thiện ngày càng cao của kỹ năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Kỹ năng, kỹ thuật tổ chức nhà nước cũng có những nét mới, hợp lý, như sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật quốc tế, lý thuyết về liên minh quốc hội và liên minh chính phủ…

    Ngoài những thành tựu to lớn và cơ bản trên, việc thực hiện và đảm bảo sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự của Nhà nước ta trong thời gian qua không tránh khỏi một số bất cập, chủ yếu do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

    Nguyên nhân chủ quan

    Chúng ta chưa nhận thức và vận dụng đúng, thậm chí vi phạm những nguyên lý cơ bản về mối liên hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước. Trong tổ chức thực hiện, nhất là ở cơ sở, có lúc, có nơi, chúng ta còn tách rời chức năng xã hội – dân sự với chức năng chính trị – xã hội; quá nhấn mạnh, tuyệt đối hoá hoặc là chức năng xã hội – chính trị, hoặc là chức năng xã hội – dân sự. Đặc biệt, chưa nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu của sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do chúng ta chưa luận giải đúng nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối liên hệ biện chứng giữa các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa nhận thức và vận dụng đúng phương thức chuyển hoá của việc thực hiện sự thống nhất chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chưa xây dựng được mối quan hệ hữu cơ vững chắc giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Công tác xây dựng, tổ chức đảng “chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ “còn những biểu hiện tập trung quan liêu, dân chủ hình thức”, “lúng túng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ”. ” Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng“(4). Tổ chức bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, việc phân công, phân cấp giữa bộ và chính quyền địa phương còn nhiều vấn đề chưa rõ; thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà và chậm được đổi mới, hiệu lực thi hành pháp luật yếu. Kỹ thuật tổ chức hành chính cả về phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn nhiều hạn chế. Tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các đoàn thể và hội quần chúng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác vận động quần chúng trong tình hình mới…(5). Văn hoá dân chủ, văn hoá pháp luật của nhân dân còn thấp.

    Nguyên nhân khách quan

    Điểm xuất phát kinh tế của nước ta còn thấp, các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được tạo lập đồng bộ. Thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học công nghệ chưa phát triển. Những tàn dư văn hoá – xã hội, như lề thói độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, gia đình chủ nghĩa và việc thiếu một mặt bằng văn hoá pháp luật, văn hoá dân chủ cao… đã gây không ít khó khăn cho việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước.

    Mặt khác, các thế lực đế quốc và lực lượng chống cộng hiện đang cấu kết với nhau, lợi dụng sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những biện pháp thâm độc và nguy hiểm của chúng trước hết tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc, rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn sai con đường phát triển xã hội; rằng, “không thể có chủ nghĩa xã hội trong thực tế” và kích động phải thực hiện “tư nhân hoá”, “đa nguyên chính trị”… Thực chất là chúng muốn chia rẽ Đảng với Nhà nước, Đảng và Nhà nước với nhân dân; tách quần chúng nhân dân khỏi ảnh hưởng của Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng… nhằm phá hoại sự thống nhất trong thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    3. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo chúng tôi, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, cần nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước; luận giải một cách khoa học nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối quan hệ cũng như sự chuyển hoá giữa các chức năng đó. Đồng thời, phân tích một cách khách quan những nhân tố tác động đến sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước. Để có thể xử lý đúng đắn và khoa học sự tác động đó, cần xem xét nó một cách toàn diện, hệ thống, vừa theo tính chất, vừa theo những lát cắt đồng đại.

    Hai là, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, ” thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ… Hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(6). Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là không ngừng giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta. Phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là phát huy mọi nguồn lực, đặc biệt là lực lượng sản xuất của xã hội, để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội hiện thực. Giữa các khía cạnh đó có mối liên hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ và có sự tương tác biện chứng với nhau, chúng vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là kết quả của nhau. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khía cạnh xã hội – chính trị. Phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là khía cạnh xã hội – dân sự. Đó cũng là những biện pháp quan trọng nhất để nâng cao không ngừng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và thắt chặt mối quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với đời sống xã hội dân sự, nhân tố quyết định sự phát triển thống nhất giữa các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước.

    Ba là, xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Đây là biện pháp không thể thiếu để duy trì và phát triển sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, toàn bộ chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều phải thể hiện nguyện vọng và ý chí của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân.

    Tóm lại, để Nhà nước thực hiện tốt chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, chúng ta phải đẩy mạnh quá trình “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”, “cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước”, “phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế”, “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực” và tích cực “đấu tranh chống tham nhũng”(7) – như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã vạch ra.

    Đã xem: 4304

    Thời gian đăng: Thứ sáu – 02/02/2018 11:34

    Người đăng: Phạm Quang Duy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Của Các Mối Quan Hệ Xã Hội Với Sức Khỏe Ít Ai Ngờ Tới
  • Bàn Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước, Thị Trường Và Xã Hội
  • Mạng Lưới Xã Hội Trong Khám Chữa Bệnh Cho Lao Động Nông Thôn
  • Lý Thuyết Mạng Lưới Xã Hội Trong Nghiên Cứu Tin Đồn
  • Biến Đổi Cơ Cấu Và Chức Năng Gia Đình. Đề Cương Môn Học
  • Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Tài Chính Tiền Tệ
  • Trường Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An
  • Chức Năng Nào Dưới Đây Là Một Trong Những Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 2: Hàng Hóa
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Hàng Hóa
  • 13078

    Quan điểm của K.Marx: tiền tệ bao gồm 5 chức năng: Chức năng thước đo giá trị, Chức năng phương tiện lưu thông, Chức năng phương tiện thanh toán, Chức năng phương tiện dự trữ, Chức năng tiền tệ thế giới.

    Mối quan hệ giữa các chức năng của tiền tệ

    – Chức năng thước đo giá trị

    Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng:

    + Giá trị hàng hoá.

    + Giá trị của tiền.

    + Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

    Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

    – Chức năng phương tiện lưu thông

    Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá. Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

    – Chức năng phương tiện cất trữ

    Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    – Chức năng phương tiện thanh toán

    Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    – Chức năng tiền tệ thế giới

    Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Bản Chất Và Chức Năng Tiền Tệ
  • Chức Năng Cất Trữ Giá Trị (Store Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Đâu Không Phải Là Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ (Chuc Nang Cua Tien Te)
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Quản Trị Công Ty Chip & Chip

    --- Bài mới hơn ---

  • Chặn Người Dùng Wifi, Xem Ai Đang Sử Dụng Wifi Chùa Và Ngắt Kết Nối
  • Trình Quản Lý Thiết Bị Android Là Gì, Cách Bật, Tắt, Sử Dụng Ra Sao?
  • Phần Mềm Quản Lý Máy Móc Thiết Bị
  • Kích Hoạt, Tắt Tài Khoản Quản Trị Ẩn Trên Windows 7, 8, 8.1, 10.
  • Cài Đặt Global Tracker Watch Quản Lý Thiết Bị Định Vị Gps09
  • Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị Công ty Chip & Chip và hiệu quả hoạt động của DN. NẮM BẮT TÂM LÝ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY CHIP & CHIP

    Công ty Chip & Chip chuyên sản xuất sản phẩm về bánh kẹo. Công ty sản xuất chủ yếu là những sản phẩm chiết xuất tinh chất như lá cây bạc hà và nhiều lá cây khác. Công ty đạt doanh thu hàng năm khoảng 2,5 triệu USD, doanh thu ổn định trong thời gian dài.

    Nhận giải bài tập case study giá rẻ

    Quản trị là việc thiết yếu trong mỗi tổ chức. Vậy chức năng quản trị là gì? Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị ra sao? Hãy tìm hiểu trong bài viết sau.

    Chức năng quản trị là gì?

    Chức năng quản trị là những hoạt động riêng biệt của quản trị thể hiện những phương thức tác động của quản trị viên đến các lĩnh vực quản trị trong doanh nghiệp.

    Hoạt động quản trị của con người đã ra đời từ rất lâu nhưng khi con người đã tổ chức các nhà máy, xí nghiệp khổng lồ và đạt được các tiến bộ to lớn về kỹ thuật nhưng khoa học quản trị vẫn chưa được quan tâm đến.

    Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị

    Quan hệ giữa chức năng quản trị với quy mô doanh nghiệp

    Việc thực hiện số lượng các chức năng quản trị ở doanh nghiệp lớn và nhỏ là giống nhau. Tuy nhiên việc đảm bảo chức năng quản trị của các cấp quản trị trong những doanh nghiệp có quy mô khác nhau là khác nhau.

    Điều này thể hiện ở việc các doanh nghiệp nhỏ có cấp quản trị cao nhất có thể can thiệp và điều hành cả những công việc của cấp dưới, trong khi ở các doanh nghiệp lớn thì chức năng quản trị được phân cấp khá rành rọt, cấp quản trị cao nhất chỉ tập trung thời gian vào những chức năng thiết yếu.

    Quan hệ giữa chức năng quản trị với các cấp quản trị

    Trong một doanh nghiệp, các cấp quản trị được phân chia một cách khách quan việc đảm trách các chức năng này ở các mức độ khác nhau. Chức năng hoạch định và tổ chức giảm dần theo cấp quản trị trong khi đó, chức năng điều hành lại tăng lên ở cấp quản trị thấp nhất

    Tính quốc tế của chức năng quản trị

    Mặc dù việc vận dụng các chức năng quản trị vào hệ thống doanh nghiệp ở từng quốc gia, khu vực có thể khác nhau về vai trò, tính chất quan trọng của từng chức năng nhưng xét về tổng thể thì các chức năng theo phân loại của Fayol vẫn được mọi quốc gia công nhận.

    Có thể nói phát minh phân loại chức năng quản lý của Fayol là cơ sở quyết định cho sự tiến bộ của khoa học quản trị từ thế kỷ 20.

    Nội dung của các chức năng quản trị

    Là chức năng đầu tiên trong quản trị bao gồm các công việc: Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược tổng thể, thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động.

    Bao gồm việc xác định những việc phải làm, những ai tham gia làm việc đó, các công việc sẽ được phối hợp lại với nhau như thế nào? Những bộ phận nào cần phải được thành lập? Quan hệ phân công và trách nhiệm giữa các bộ phận đó, hệ thống quyền hành trong doanh nghiệp.

    Công việc trong doanh nghiệp cần phải có người thực hiện. Để có người làm việc, nhà quản trị cần phải tuyển chọn, thu hút người làm việc, bố trí, bồi dưỡng, động viên và khích lệ nhân viên.

    Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị Công ty Chip & Chip. NẮM BẮT TÂM LÝ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY CHIP & CHIP

    Việc thiết lập quyền hành và sử dụng quyền hành đó để giao việc cho nhân viên, đưa ra các nội quy, quy định làm việc và ủy quyền cho người khác… là nội dung của chức năng chỉ huy.

    Chức năng này bao gồm: Phối hợp theo chiều dọc, nghĩa là phối hợp giữa các cấp quản trị và phối hợp theo chiều ngang nghĩa là phối hợp giữa các chức năng, các lĩnh vực quản trị.

    Chức năng này bao gồm việc xác định thu thập thông tin về thành quả thực tế, so sánh với thành quả kỳ vọng và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch nhằm đảm bảo tổ chức đang đi đúng hướng giúp hoàn thành mục tiêu.

    Phân loại các chức năng của quản trị

    Trong bài viết này, chúng ta sẽ phân loại các chức năng của quản trị theo quan điểm của nhiều nhà khoa học quản trị.

    1. Phân loại quản trị theo Henry Fayol

    Henry Fayol là một nhà khoa học quản trị của Pháp. Bạn có thể tìm hiểu thêm quy tắc quản trị của ông trong bài viết:

    Chức năng quản trị được ông chia thành 5 phần, bao gồm:

    • Hoạch định: “Doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi nó được hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động, một kế hoạch nhất định nhằm xác định rõ: Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Bán cho ai? Với nguồn tài chính nào?”
    • Tổ chức: “Tổ chức một doanh nghiệp tức là trang bị tất cả những gì cần cho hoạt động của nó bao gồm: máy móc, vốn, nhân viên, vật liệu…”
    • Phối hợp: “Phối hợp là việc làm cho đồng bộ giữa tất cả những hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi nhuận dễ dàng và có hiệu quả”.
    • Chỉ huy: “Có thể xã hội đã được xây dựng xong, giờ chúng ta chỉ việc làm cho nó hoạt động, đó chính là nhiệm vụ của người chỉ huy”.

    Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị Công ty Chip & Chip. NẮM BẮT TÂM LÝ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY CHIP & CHIP

      Kiểm soát: “Kiểm tra thực chất là quá trình xem lại tất cả việc đã được tiến hành phù hợp với chương trình đã định với những mệnh lệnh đã ban bố và những nguyên lý đã thừa nhận”.

    P: Planning – Hoạch định

    O: Organizing – Tổ chức

    S: Staffing – Nhân sự

    D: Directing – Chỉ huy

    CO: Coordinating – Phối hợp

    R: Reporting – Báo cáo

    B: Budgeting – Ngân sách

    Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị Công ty Chip & Chip. NẮM BẮT TÂM LÝ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY CHIP & CHIP

    Cách phân loại chức năng quản trị này thể hiện tính kế thừa và phát triển. Có 2 nhân tố ảnh hưởng tới khoa học quản trị ở thời kì này chính là:

    • Sự hình thành các tập đoàn doanh nghiệp dẫn đến việc phải đổi mới vấn đề tổ chức – đặc biệt là việc tuyển dụng các nhân viên quản trị có học vấn vào các vị trí cao cấp.
    • Sự thâm nhập của giới ngân hàng vào hoạt động của các doanh nghiệp với tư cách là các quản trị viên cấp cao.

    3. Phân loại theo H. Koontz và C. O’Donnell

    Kế thừa lại cách phân loại của Fayol, hai nhà khoa học người Mỹ đã phân loại thành 4 chức năng quản trị cơ bản bao gồm:

    • Xác định triết lý, giáo lý và chính sách kinh doanh
    • Kế hoạch kinh doanh và kiểm tra
    • Tổ chức và chỉ huy
    • Phát triển nhà quản trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng
  • Quyền Hạn Của Trưởng Ban Quản Trị Nhà Chung Cư
  • Cư Dân Chung Cư Cần Biết: Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ban Quản Trị Chung Cư?
  • Kinh Tế Chia Sẻ: Sân Nhà Về Tay Đội Khách
  • Chức Năng Của Kế Toán Quản Trị
  • Tạo Mối Quan Hệ Giữa Hai Bảng Trong Excel

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Tính Năng Tốt Nhất Trên Excel 2013
  • Pivottable Nâng Cao: Kết Hợp Dữ Liệu Từ Nhiều Sheet
  • Khám Phá Ngay “8 Tính Năng Ưu Việt Trên Excel 2013”
  • Sử Dụng Nhiều Bảng Để Tạo Pivottable
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Sử Dụng Bộ Lọc Dữ Liệu Filter Trong Excel
  • Bạn đã bao giờ dùng hàm VLOOKUP để đưa cột từ một bảng sang một bảng khác? Giờ đây khi Excel có Mô hình Dữ liệu dựng sẵn, thì VLOOKUP đã trở nên lỗi thời. Bạn có thể tạo một mối quan hệ giữa hai bảng dữ liệu, dựa vào những dữ liệu khớp nhau trong từng bảng. Sau đó, bạn có thể tạo trang Power View, dựng PivotTable và các báo cáo khác với các trường từ mỗi bảng, ngay cả khi các bảng đó xuất phát từ các nguồn khác nhau. Ví dụ, nếu bạn có dữ liệu về doanh số bán hàng theo khách hàng, bạn có thể muốn nhập và liên kết dữ liệu hiển thị thời gian thông minh để phân tích các mẫu hình doanh số bán hàng theo năm và tháng.

    Tất cả các bảng trong sổ làm việc đều được liệt kê trong các danh sách Trường PivotTable và Power View.

    1. Hãy bảo đảm sổ làm việc có chứa tối thiểu hai bảng và mỗi bảng đều có một cột có thể được ánh xạ tới một cột trong bảng kia.

    2. Hãy thực hiện một trong những thao tác sau đây: định dạng dữ liệu dưới dạng bảnghoặc nhập dữ liệu bên ngoài dưới dạng bảng trong trang tính mới.

    3. Xác nhận rằng cột ở một trong các bảng có các giá trị dữ liệu duy nhất và không có giá trị trùng lặp. Excel chỉ có thể tạo mối quan hệ nếu một cột có chứa các giá trị duy nhất.

      Ví dụ, để liên kết doanh số bán hàng theo khách hàng với hiển thị thời gian thông minh, cả hai bảng phải chứa ngày tháng có cùng một định dạng (ví dụ: 1/1/2012) và tối thiểu một bảng (hiển thị thời gian thông minh) chỉ liệt kê mỗi ngày một lần trong cột đó.

    Nếu Mối quan hệ bị mờ, thì đó là vì sổ làm việc của bạn chỉ chứa một bảng.

      Bấm OK.

    Tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa các bảng trong Excel

    Ghi chú về mối quan hệ

    Ví dụ: Liên kết dữ liệu hiển thị thời gian thông minh với dữ liệu chuyến bay hàng không

    “Có thể cần phải có mối quan hệ giữa các bảng”

    Bước 1: Xác định bảng nào cần được chỉ rõ trong mối quan hệ

    Bước 2: Tìm các cột có thể được dùng để tạo đường dẫn từ một bảng đến bảng tiếp theo

    Ghi chú về mối quan hệ

    • Bạn sẽ biết mối quan hệ có tồn tại hay không khi bạn kéo các trường từ các bảng khác nhau vào danh sách Trường PivotTable. Nếu bạn không được nhắc tạo mối quan hệ, thì có nghĩa là Excel đã có thông tin mối quan hệ cần thiết để liên kết dữ liệu.

    • Việc tạo mối quan hệ cũng tương tự như việc dùng VLOOKUP: bạn cần các cột có chứa dữ liệu khớp để Excel có thể tham chiếu chéo các hàng trong một bảng với các hàng trong bảng khác. Trong ví dụ hiển thị thời gian thông minh, bảng Khách hàng sẽ cần có các giá trị ngày mà những giá trị này cũng tồn tại trong bảng hiển thị thời gian thông minh.

    • Trong mô hình dữ liệu, mối quan hệ bảng có thể là một-một (mỗi hành khách có một thẻ lên máy bay) hoặc một-nhiều (mỗi chuyến bay có nhiều hành khách) nhưng không thể là nhiều-nhiều. Mối quan hệ nhiều-nhiều gây ra lỗi phụ thuộc vòng tròn, chẳng hạn như “Đã phát hiện sự phụ thuộc vòng tròn”. Lỗi này sẽ xảy ra nếu bạn đặt kết nối trực tiếp giữa hai bảng có quan hệ nhiều-nhiều hoặc kết nối gián tiếp (một chuỗi các mối quan hệ bảng là quan hệ một-nhiều trong từng mối quan hệ nhưng là quan hệ nhiều-nhiều khi xem từ đầu này đến đầu kia. Đọc thêm về Mối quan hệ giữa các bảng trong Mô hình Dữ liệu.

    • Kiểu dữ liệu trong hai cột phải tương thích. Hãy xem Kiểu dữ liệu trong Mô hình Dữ liệu Excel để biết chi tiết.

    • Có thể có các cách khác trực quan hơn để tạo mối quan hệ, đặc biệt là khi bạn không biết chắc cần dùng cột nào. Hãy xem Tạo mối quan hệ trong Dạng xem Sơ đồ trong Power Pivot.

    Ví dụ: Liên kết dữ liệu hiển thị thời gian thông minh với dữ liệu chuyến bay hàng không

    Bạn có thể tìm hiểu về cả mối quan hệ bảng và hiển thị thời gian thông minh bằng cách dùng dữ liệu miễn phí trên Microsoft Azure Marketplace. Một vài bộ trong số các bộ dữ liệu này rất lớn, đòi hỏi phải có kết nối internet nhanh để hoàn thành tải xuống dữ liệu trong một khoảng thời gian hợp lý.

    1. Bắt đầu Power Pivot trong bổ trợ Microsoft Excel và mở cửa sổ Power Pivot.

    2. Nhập tài khoản Microsoft của bạn và bấm Đăng nhập. Xem trước dữ liệu sẽ xuất hiện trong cửa sổ.

    3. Cuộn xuống dưới và bấm Chọn Truy vấn.

    4. Bấm Tiếp.

    5. Cuộn xuống dưới và bấm Chọn Truy vấn.

    6. Bấm Tiếp.

    7. Lưu ý rằng DateKey trong BasicCalendarUS có định dạng 1/1/2012 12:00:00 SA. Bảng On_Time_Performance cũng có cột ngàygiờ, FlightDate, mà các giá trị trong cột này được xác định ở cùng một định dạng: 1/1/2012 12:00:00 SA. Hai cột chứa dữ liệu khớp nhau, có cùng một kiểu dữ liệu và tối thiểu một trong các cột ( DateKey) chỉ chứa giá trị duy nhất. Trong một vài bước tiếp theo, bạn sẽ dùng các cột này để liên kết bảng.

    8. Trong cửa sổ Power Pivot, hãy bấm PivotTable để tạo PivotTable trong trang tính mới hoặc trang tính hiện có.

    9. Lưu ý rằng bây giờ PivotTable liệt kê các tháng nhưng tổng cộng số phút giống nhau cho mọi tháng. Các giá trị lặp lại, giống hệt nhau cho thấy rằng cần có một mối quan hệ.

    10. Trong Danh sách Trường, trong “Có thể cần mối quan hệ giữa các bảng”, hãy bấm Tạo.

    11. Lưu ý rằng tổng số phút bị hủy của mỗi tháng bây giờ đã khác nhau.

    Bây giờ bạn có thể phân chia các chuyến bay đến bị hoãn theo năm và tháng hoặc các giá trị khác trong lịch.

    Mẹo: Theo mặc định, các tháng được liệt kê theo thứ tự bảng chữ cái. Dùng bổ trợ Power Pivot, bạn có thể thay đổi cách sắp xếp để các tháng xuất hiện theo thứ tự thời gian.

    1. Hãy bảo đảm bảng BasicCalendarUS đang mở trong cửa sổ Power Pivot.

    2. Trên bảng Trang đầu, hãy bấm Sắp xếp theo Cột.

    3. Trong Sắp xếp, hãy chọn MonthInCalendar

    4. Trong Theo, hãy chọn MonthOfYear.

    Bây giờ PivotTable sắp xếp từng kết hợp tháng-năm (Tháng 10 năm 2011, Tháng 11 năm 2011) theo số tháng trong năm (10, 11). Thay đổi thứ tự sắp xếp thật dễ dàng vì nguồn cấp DateStream cung cấp tất cả các cột cần thiết để thực hiện thành công tình huống này. Nếu bạn đang dùng bảng hiển thị thời gian thông minh khác, bạn sẽ thực hiện bước khác.

    “Có thể cần phải có mối quan hệ giữa các bảng”

    Khi bạn thêm các trường vào PivotTable, bạn sẽ được thông báo liệu có cần mối quan hệ bảng để làm cho các trường bạn đã chọn trong PivotTable có ý nghĩa hay không.

    Mặc dù Excel có thể cho bạn biết khi nào cần mối quan hệ nhưng nó không thể cho bạn biết cần dùng bảng và cột nào hoặc liệu có thể có mối quan hệ bảng nữa hay không. Hãy thử làm theo các bước sau đây để có câu trả lời bạn cần.

    Bước 1: Xác định bảng nào cần được chỉ rõ trong mối quan hệ

    Nếu mô hình của bạn chỉ chứa một vài bảng, bạn có thể nhanh chóng thấy rõ cần dùng những bảng nào. Nhưng với các mô hình lớn hơn, bạn có thể dùng một số trợ giúp. Một phương pháp là dùng Dạng xem Sơ đồ trong Power Pivot bổ trợ. Dạng xem Sơ đồ cung cấp dạng biểu thị trực quan của tất cả các bảng trong Mô hình Dữ liệu. Dùng Dạng xem Sơ đồ, bạn có thể nhanh chóng xác định bảng nào tách biệt với phần còn lại của mô hình.

    Bước 2: Tìm các cột có thể được dùng để tạo đường dẫn từ một bảng đến bảng tiếp theo

    Sau khi bạn đã xác định ngắt kết nối bảng nào từ phần còn lại của mô hình, hãy xem lại các cột của bảng để xác định xem liệu một cột khác, ở vị trí khác trong mô hình đó, có chứa các dữ liệu khớp nhau hay không.

    Ví dụ, giả sử bạn có mô hình có chứa doanh số bán sản phẩm theo vùng lãnh thổ và sau đó bạn nhập dữ liệu nhân khẩu học để tìm hiểu xem có mối tương quan nào giữa doanh số bán hàng và xu hướng nhân khẩu học trong từng vùng lãnh thổ hay không. Vì dữ liệu nhân khẩu học xuất phát từ nguồn dữ liệu khác, cho nên ban đầu các bảng dữ liệu này tách biệt so với phần còn lại của mô hình. Để tích hợp dữ liệu nhân khẩu học với phần còn lại của mô hình, bạn sẽ cần tìm cột trong một trong số các bảng nhân khẩu học tương ứng với bảng mà bạn đã dùng. Ví dụ, nếu dữ liệu nhân khẩu học được sắp xếp theo khu vực và dữ liệu doanh số bán hàng của bạn chỉ rõ việc bán hàng diễn ra ở khu vực nào, thì bạn có thể liên kết hai bộ dữ liệu bằng cách tìm cột chung, chẳng hạn như Tiểu bang, mã Zip hay Khu vực để thực hiện tra cứu.

    Ngoài các giá trị khớp nhau, có một vài yêu cầu bổ sung đối với việc tạo mối quan hệ:

    • Các giá trị dữ liệu trong cột tra cứu phải là giá trị duy nhất. Nói cách khác, cột đó không được chứa các mục trùng lặp. Trong Mô hình Dữ liệu, chuỗi null và rỗng tương đương với chuỗi trống, đó là giá trị dữ liệu riêng biệt. Điều này có nghĩa là bạn không thể có nhiều giá trị null trong cột tra cứu.

    • Kiểu dữ liệu của cả cột nguồn và cột tra cứu phải tương thích. Để biết thêm thông tin về kiểu dữ liệu, hãy xem Kiểu dữ liệu trong Mô hình Dữ liệu.

    Để tìm hiểu thêm về mối quan hệ bảng, hãy xem Mối quan hệ giữa các bảng trong Mô hình Dữ liệu.

    Đầu Trang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Áp Dụng Replace Trong Excel Hiệu Quả
  • Các Phím Chức Năng F1
  • Bạn Đã Biết Hết Chức Năng Các Phím Tắt Từ F1
  • Cách Cố Định Vùng Dữ Liệu Trong Excel
  • Cố Định Vùng Dữ Liệu Trong Excel
  • Mối Quan Hệ Giữa Ban Quản Lý Dự Án Và Tổ Chuyên Gia Trong Hoạt Động Đấu Thầu

    --- Bài mới hơn ---

  • .:: Trung Tâm Hội Nghị & Tổ Chức Sự Kiện Tỉnh Đồng Nai ::.
  • Phòng Tổ Chức Cán Bộ Lao Động
  • Phòng Tổ Chức Cán Bộ – Lao Động
  • Trường Tiểu Học Mai Đình 1
  • Công Việc Của Một Người Tổ Trưởng Sản Xuất Chuyên Nghiệp
  •   2016-12-11

    Hỏi: Chúng tôi là Ban quản lý dự án khi tổ chức mời thầu thì có bắt buộc thành lập Tổ chuyên gia đấu thầu không? Trường hợp nếu có cả Ban quản lý dự án và Tổ chuyên gia đấu thầu thì chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các đơn vị này trong quá trình đấu thầu như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật đấu thầu thì Bên mời thầu có thể là Chủ đầu tư hoặc cũng có thể đơn vị do Chủ đầu tư thành lập hoặc lựa chọn. Trường hợp của bạn theo chúng tôi hiểu Chủ đầu tư giao cho Ban quản lý dự án làm Bên mời thầu.

    Còn Tổ chuyên gia là các cá nhân có năng lực, kinh nghiệm được bên mời thầu hoặc đơn vị tư vấn đấu thầu thành lập để đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ khác trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

    Việc thành lập Tổ chuyên gia là bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều 75 Luật đấu thầu mà không phụ thuộc vào việc Bên mời thầu là ai. Do vậy trường hợp Ban quản lý dự án tổ chức mời thầu thì vẫn phải lập Tổ chuyên gia.

    Vậy nhiệm vụ, quyền hạn của Bên mời thầu (ở đây là Ban quản lý dự án) và Tổ chuyên gia như thế nào trong quá trình đấu thầu?

    Bền mời thầu có các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 75 Luật đấu thầu quy định về trách nhiệm của bên mời thầu. Cụ thể là: Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu, đánh giá HSDT; lập tổ chuyên gia; thương thảo hoàn thiện hợp đồng…

    Tổ chuyên gia có các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 76 Luật đấu thầu như: đánh giá HSMT, báo cáo Bên mời thầu….

    Như vậy có thể thấy Tổ chuyên gia gần như đơn vị giúp việc của Bên mời thầu trong giai đoạn đánh giá HSDT/HSDST/HSĐX. Còn Bên mời thầu sau khi tiếp nhận ý kiến của Tổ chuyên gia về đánh giá HSDT, danh sách xếp hạng nhà thầu thì tiếp tục đánh giá HSDT và cho ý kiến đối với kết quả đánh giá của tổ chuyên gia để sau đó trình Chủ đầu tư phê duyệt. Ngoài ra Bên mời thầu còn thực hiện nhiều nhiệm vụ khác trong quá trình đấu thầu ngoài việc đánh giá hồ sơ như lập hồ sơ, thương thảo hợp đồng…vv

    Liên hệ: Công ty luật Hà Dương – ĐT: 024.629.116099, Mobile: 0982570397 – Email: [email protected] - Địa chỉ: Phòng 16 a tầng 16, tháp a, tòa nhà Bigtower, số 18 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Tp Hà Nội (MST:  0107908348 – STK: 26810000196593 mở tại BIDV chi nhánh Thái Hà)

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Du Lịch Thế Giới (Unwto): Du Lịch Nội Địa Và Gần Nhà Là Xu Hướng Nổi Bật Trong Năm 2022
  • Tổ Chức Đảng Lãnh Đạo Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Trong Doanh Nghiệp (*)
  • Thương Mại Điện Tử Là Gì? Mô Hình, Đặc Kiểm, Lợi Ích Và Những Khó Khăn Tmđt Tại Việt Nam
  • So Sánh Đặc Điểm Các Cấu Trúc Thị Trường Trong Kinh Tế Vi Mô
  • Kinh Nghiệm Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Của Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới Từ Khía Cạnh Chính Sách
  • Quan Hệ Giữa Chức Năng Quản Trị Marketing Với Các Chức Năng Quản Trị Khác Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Sale Marketing Là Gì? Khác Nhau Cơ Bản Giữa Sale & Marketing
  • Sale Marketing Là Gì ? Phân Biệt Sales Và Marketing
  • Sales Là Gì ? Tất Tần Tật Các Công Việc Của Nhân Viên Sales
  • Sale & Marketing Trong Khách Sạn
  • 3 Mô Hình Tổ Chức Phòng Kinh Doanh Bạn Nên Cân Nhắc Áp Dụng
  • Để thực hiện hoạt động marketing hiệu quả, các doanh nghiệp cần phải có tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp khoa học. Doanh nghiệp cần được tổ chức bộ máy quản lý theo 4 lĩnh vực chức năng quản trị chủ yếu là sản xuất, nhân sự, tài chính và marketing (tất nhiên còn có các bộ phận khác như nghiên cứu & phát triển…). Marketing cần được coi là chức nàng quản trị quan trọng nhất của doanh nghiệp. Nó đóng vai trò kết nối hoạt động của các chức năng khác với thị trường.

    Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đang tồn tại những mô hình tổ chức bộ máy quản trị mà chức năng marketing nằm ở quá nhiều bộ phận khác nhau và không có sự phôi hợp với nhau. Tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp với bộ phận quản trị marketing độc lập có chức năng thực hiện tất cả các hoạt động marketing của doanh nghiệp trên thị trường đang là một đòi hỏi cấp bách của thực tiễn kinh doanh. Tùy .quy mô của doanh nghiệp mà bộ phận marketing được tổ chức theo những hình thức khác nhau nhưng doanh nghiệp nào cũng cần có cơ cấu tổ chức marketing hợp lý với những con người chuyên nghiệp để thực hiện các chức năng quản trị này. Tất nhiên, trong một số doanh nghiệp, toàn bộ chức năng marketing đã được hóa thân thành những nhiệm vụ của các phòng ban truyền thông như phòng kinh doanh, phòng kế hoạch, phòng bán hàng… Rõ ràng, các doanh nghiệp nước ta cần nhanh chóng chuyển từ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý truyền thống sang cơ cấu tổ chức quản lý mới mà ở đó chức năng marketing đựợe xác lập rõ ràng và cụ thể.

    Chức năng quản trị marketing tất nhiên phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các chức năng khác, nhưng nó có vị trí đặc biệt là cầu nối giữa các bộ phận chức năng khác của doanh nghiệp với thị trường bên ngoài. Hoạt động marketing định hướng cho hoạt động của các bộ phận chức năng khác và nó cũng phải đặt trong quan hệ hữu cơ với các bộ phận khác của doanh nghiệp. Chiến lược và kế hoạch marketing định hướng cho các chiến lược và kế hoạch sản xuất, tài chính, nhân sự. Ngược lại, nhà quản trị marketing làm các quyết định marketing không thể tách rời khả năng sản xuất, tài chính và lao động của doanh nghiệp. Mỗi chiến lược và kế hoạch marketing cũng như các biện pháp cụ thể như sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến đều đòi hỏi những nguồn lực cần thiết như vốn, nhân sự, công nghệ mới có thể thực hiện được trong thực tế. Rõ ràng, bộ phận sản xuất phải đảm bảo được chất lượng và số lượng sản phẩm đưa ra thị trường như yêu cầu của bộ phận marketing; hay bộ phận tài chính phải đảm bảo nguồn kinh phí phục vụ hoạt động marketing. Ban giám đốc .doanh nghiệp phải phôi hợp được các bộ phận chức năng với nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp trên thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Tả Công Việc Các Nhân Viên Bộ Phận Marketing
  • Mối Quan Hệ Giữa Marketing Với Các Bộ Phận Chức Năng Khác Của Doanh Nghiệp
  • Trưởng Phòng Kinh Doanh Đảm Trách Công Việc Gì?
  • Kỹ Năng Cần Có Của Trưởng Phòng Kinh Doanh
  • Mục Tiêu Của Trưởng Phòng Marketing Trong Doanh Nghiệp
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Gan Thận Và Bệnh Vảy Nến

    --- Bài mới hơn ---

  • Xét Nghiệm Ast Và Ý Nghĩa Trong Đánh Giá Chức Năng Gan
  • Chỉ Số Ast Là Gì Và Các Mức Bình Thường
  • Xét Nghiệm Transaminase (Alt Hay Alat Và Asat Hay Ast) Trong Đánh Giá Chức Năng Gan
  • Tầm Quan Trọng Của Xét Nghiệm Ast Trong Đánh Giá Chức Năng Gan
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan
  • Mối quan hệ giữa chức năng gan, thận và bệnh vảy nến

    Gan và thận có chức năng lọc các chất độc hại từ bên trong cơ thể ra ngoài. Các chất độc hại này được thải qua do đường phân (gan), nước tiểu (thận). Khi các chức năng của hai bộ phận này hoạt động kém, bạn sẽ thấy rõ sự khác biệt ở chất thải.

    Khi việc thải độc tố qua phân và nước tiểu không hiệu quả. Cơ thể chúng ta sẽ đào thải qua đường da (mồ hôi). Lúc này, khi da phải đào thải lượng độc tố lớn sẽ có thể gây ra các tình trạng chất độc tích tụ dưới da. Bạn có thể gặp các vấn đề như: vàng da, nổi mẩn ngứa mụn nhọt. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến các bệnh viêm da và làm nặng tình trạng bệnh vảy nến.

    Khi các chức gan thận của bạn khỏe, có thể của bạn sẽ dễ dàng đào thải độc tốc ra ngoài. Điều này khiến việc điều trị bệnh vảy nến tốt hơn.

    Chức năng gan thận ảnh hưởng đến bệnh vảy nến và ngược lại.

    Đối với các thể vảy nến nặng rất có khả năng gây ảnh hưởng đến chức năng gan thận. Ví dụ như vảy nến thể mụn mủ có thể làm giảm chức năng gan hoặc suy gan.

    Đối với thận, vảy nến gây nên bệnh thận mãn tính. Do các phương pháp điều trị bệnh có gây tác dụng phụ lên thận, ảnh hưởng đến cơ chế lọc chất thải dư thừa. Khi thận không còn lọc tốt các chất cặn bẩn sẽ bám lại là gây ra sỏi thận.

    Các biện pháp cải thiện chức năng gan thận của người vảy nến

    Có thể tham khảo một số loại rau lá mát sau giúp cải thiện tình trạng kém của chức năng gan thận. Ví dụ như: rau má, rau diếp cá, râu ngô, nha đam, đậu đen … Các loại rau và hạt này bạn xay ra hoặc ninh lấy nước uống giúp thanh nhiệt và giải độc cơ thể.

    Ngoài ra, bạn tham khảo một số thực phẩm sau giúp cải thiện chức năng gan thận cho cả người vảy nến:

    Tác dụng của tỏi với chức năng gan thận và bệnh vảy nến

    Bên cạnh đó thì tỏi cũng giúp người bị cải thiện sức khỏe. Bởi hoạt tính chống viêm hoặc ức chế khả năng gây viêm giúp giảm tình trạng bệnh ở người vảy nến.

    Tác dụng của nghệ với chức năng gan, thận và người vảy nến

    Giống như tỏi thì nghệ cũng là một loại thực phẩm quen thuộc, nghệ cũng có nhiều công dụng chữa bệnh. Trong đó có các tác dụng tốt cho gan và vảy nến. Các dưỡng chất trong nghệ giúp giải các chất độc trong gan và các chất gây ung thu ra ngoài cơ thể. Tác dụng của củ nghệ có thể giúp bạn điều trị viêm khớp vảy nến vì có chứa hoạt chất curcumin giúp chống viêm mạnh mẽ. Củ nghệ có thể ngăn chặn NF-kB, một phân tử trong cơ thể bạn di chuyển vào nhân tế bào để kích hoạt các gene làm tăng tình trạng viêm.

    Tác dụng của các loại ngũ cốc nguyên hạt với chức năng gan thận và người vảy nến

    Tác dụng của các loại rau xanh đối với chức năng gan thận và người vảy nến

    Tác dụng của hạt đu đủ với chức năng gan thận

    Thường thì khi ăn đu đủ mọi người sẽ bỏ hạt và không ăn, nhưng loại hạt này lại mang đến nhiều lợi ích cho cơ thể. Theo nhiều nghiên cứu loại hạt này như 1 phương thuốc tuyệt vời cho các vấn đề về gan. Đối với thận, hạt đu đủ có thể bảo vệ thận. Loại hạt này cũng rất giàu chất chống oxy hóa. Có thể ngăn chặn thiệt hại oxy hóa cho các tế bào của bạn. Từ đó giúp bảo vệ sức khỏe thận. Ngoài ra thì hạt đu đủ có các tác dụng giảm viêm, đau khớp và kháng khuẩn. Giúp các vết thương giảm sưng, đỏ và viêm gây đau nhức từ các bệnh về khớp. Các nghiên cứu chỉ ra hạt đu đủ có tác dụng giảm viêm kháng khuẩn mạnh mẽ ở hệ tiêu hóa giúp tiêu diệt vi khuẩn.

    Tuy nhiên, bạn cần ăn một lượng vừa đủ không lạm dụng. Tốt nhất nên ăn khoảng 1 thìa cafe nhỏ hạt đu đủ mỗi ngày sẽ tốt.Ngoài ra thì bạn cũng có thể sử dụng các sản phẩm chăm sóc gan thận từ thảo dược. Bạn có thể tham khảo

    Hoàn Bì Khang – giúp cải thiện chức năng gan thận và người vảy nến

    Đây là một sản phẩm của công ty TNHH thảo dược thiên nhiên Ánh Mai được sản xuất nhằm hỗ trợ tốt cho người bị vảy nến. Đặc biệt là những người có chức năng gan thận không tốt do ảnh hưởng của bệnh vảy nến. Với các thành phần chủ yếu từ thảo dược thiên nhiên: cao mè đen, cao bồ công anh, cao nghệ vàng … Hoàn Bì Khang Ami là sản phẩm tốt cho người vảy nến gặp các vấn đề với gan.

    Tác dụng của Hoàn Bì Khang Ami

    Sản phẩm giúp thanh nhiệt, mát gan, giải độc gian, giảm tình trạng nóng trong và hỗ trợ tăng cường chức năng gan.

    =================================

    CN CÔNG TY TNHH THẢO DƯỢC THIÊN NHIÊN ÁNH MAI

    Địa chỉ: Đội 13, Thôn Hành Lạc, Thị Trấn Như Quỳnh, Huyện Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên

    Điện thoại: 02473 022 266

    Hotline tư vấn Miễn Phí: 0989 215 096 / 0966 929 656

    Website: https://kemhoanda.com/

    Facebook: https://www.facebook.com/kemvaynen.vn

    Fanpage 1: https://www.facebook.com/kemhoanda/

    Fanpage 2: https://www.facebook.com/thaoduocanhmai/

    Fanpage 3: https://www.facebook.com/kemhoandaami/

    Youtube: https://www.youtube.com/channel/UCXrbiNQCs8d0IQCFcGGs_Sw

    Zalo: http://zalo.me/3052995520703593991

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Thận Kém, Nguy Cơ Nhiễm Độc Thận Nếu Trả Lời “có” 6 Câu Hỏi Này!
  • Thuốc Đại Tràng Bảo Nguyên Có Tốt Không? Giá Tiền, Tác Dụng Và Cách Dùng
  • Sản Phẩm Sắc Ngọc Khang Có Tốt Không Mà Bị Thu Hồi Giấy Công Bố?
  • Xét Nghiệm Ggt Là Gì Và Khi Nào Cần Xét Nghiệm
  • Ý Nghĩa Của Chỉ Số Xét Nghiệm Sinh Hoá Ggt
  • Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Giám Định, Phản Biện Xã Hội
  • Phản Biện Xã Hội: Khái Niệm, Chức Năng Và Điều Kiện Hình Thành
  • Đổi Mới Và Sáng Tạo Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • Chi Nhánh Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Tỉnh Hưng Yên Làm Tốt Chính Sách Tín Dụng Ưu Đãi Đối Với Hộ Nghèo Và Các Đối Tượng Chính Sách Khác
  • Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Về mối quan hệ giữa nhà nước – thị trường – xã hội thời gian qua

    Mối quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội là mối quan hệ lớn, cơ bản, đòi hỏi phải giải quyết hài hòa trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội. Giải quyết tốt mối quan hệ này chính là góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.

    1. Thực trạng giải quyết mối quan hệ này những năm qua

    (1) Một số kết quả

    Một là, trong thực tiễn Nhà nước đã thực sự chú ý đến vai trò “bà đỡ” cho thị trường hình thành và phát triển. Đã thể chế hóa và tạo điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển các loại thị trường, nên các thị trường có sự phát triển mạnh về quy mô và chất lượng, các thị trường mới được hình thành; đã thực sự chủ động và tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực, quy mô giao dịch tăng cao. Đồng thời “xã hội hoá” một số nhiệm vụ của nhà nước; nhà nước mở các ngành, các lĩnh vực, trước đây được coi là độc quyền nhà nước, rút lui dần khỏi lĩnh vực kinh doanh không cần thiết và “nhường lại” cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước  và các doanh nghiệp xã hội nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội.

    Hai là, đã hình thành thể chế về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, bao gồm: (i) Phân biệt chức năng quản lý Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở; (ii) Nhà nước “từ bỏ” hoạt động quản trị và can thiệp vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế; (iii) Tách bạch chức năng quản lý kinh tế vĩ mô và chức năng chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước, từng bước xoá bỏ “bộ chủ quản”; “chính quyền chủ quản” của doanh nghiệp nhà nước. Thể chế kinh tế mới hướng tới xác định quan hệ phù hợp giữa bộ ba: Nhà nước, thị trường và xã hội theo nguyên tắc cơ chế thị trường.

     

     

    Ba là, trong điều hành quản lý vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước đã dần hạn chế tối đa mệnh lệnh hành chính để các hoạt động của thị trường diễn ra chủ yếu theo sự hướng dẫn của các quy luật thị trường, đảm bảo nguyên tắc thị trường “tự điều chỉnh”, đồng thời tăng cường quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Lấy thị trường làm cơ sở chủ yếu để phân bổ các nguồn lực kinh tế  kết hợp với điều tiết vĩ mô của Nhà nước bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và bằng các nguồn lực, các chính sách hướng quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hệ thống kinh doanh vào những lĩnh vực và địa bàn cần thiết.

    Thể chế định giá, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ, đã được tự do hóa; giá cá hàng hóa, dịch vụ về cơ bản đã được quyết định bởi thị trường, theo quy luật thị trường. Cạnh tranh trên thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng; độc quyền trong kinh doanh, độc quyền thị trường và cạnh tranh không lành mạnh ngày càng được kiểm soát và có chiều hướng giảm.

    Bốn là, vai trò, chức năng của thị trường cũng càng được coi trọng, thể hiện rõ nét ở những điểm sau:

    – Thị trường đã thực sự từng bước là căn cứ để Nhà nước định hướng phát triển kinh tế đất nước thông qua các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội.

    – Thị trường/doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia cung ứng các dịch vụ xã hội. Hiện nay, Nhà nước thông qua cơ chế thị trường, đang chuyển sang khai thông tiềm năng của khu vực tư nhân, không phải với tư cách là một nguồn thay thế, mà là một nguồn bổ sung cho Nhà nước trong việc cung ứng kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã hội.

    – Thị trường là căn cứ để tạo một khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, minh bạch và vững chắc, không chỉ là một hệ thống luật lệ và quy định, mà còn bao hàm các định chế cần thiết để thực hiện và cưỡng chế việc thi hành pháp luật và giải quyết tranh chấp, bao gồm toà án và các cơ quan cưỡng chế thi hành luật.

    – Thị trường tham gia kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế, góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế.

    Năm là, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Bản thân doanh nghiệp nhà nước cũng phải vận hành, hạch toán theo cơ chế thị trường. Đáng chú ý là việc tách chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý chung của Nhà nước thông qua thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đây là thay đổi lớn, qua đó khắc phục những tồn tại, hạn chế của mô hình thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước hiện nay. Chính phủ cũng đã đẩy mạnh cải cách, cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành góp phần đưa các doanh nghiệp nhà nước được tập trung nhiều hơn vào những lĩnh vực then chốt, quốc phòng, an ninh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ công thiết yếu. Sau gần 18 năm cổ phần hóa, kể từ khi có Nghị quyết TW 3 khóa IX năm 2001 đến nay, tuy vẫn còn chậm, song đã đạt được nhiều kết quả trong việc giảm số lượng DNNN làm ăn thua lỗ, năng lực tài chính, quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước được nâng lên.

    Sáu là, khu vực tư nhân có sự phát triển mạnh trong các lĩnh vực pháp luật không cấm, và tham gia cung ứng dịch vụ công. Đây là một trong những thành công của quá trình xử lý quan hệ nhà Nước-thị trường-xã hội trong những năm vừa qua. Trên thực tế vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế ngày càng được thừa nhận và có đóng góp ngày càng lớn xét trên tỷ lệ nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế, đóng góp thu ngân sách, tạo việc làm…Số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh với nhiều loại hình đa dạng, có những doanh nghiệp, tập đoàn lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

    Bảy là, phát triển các doanh nghiệp xã hội và các hội tự quản. Phát triển doanh nghiệp xã hội (DNXH) là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Từ khi khái niệm DNXH được biết đến vào những năm 2008 đến nay, DNXH đã phát triển đa dạng, có sức ảnh hưởng đến chính sách của nhà nước và lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng. Hoạt động ươm tạo và hỗ trợ các DNXH cũng đạt được những kết quả nhất định. Thống kê cho thấy, số lượng doanh nghiệp kinh doanh tạo tác động xã hội đang chiếm khoảng 4% khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó có hơn 20 tổ chức, đơn vị có chương trình ươm tạo, tăng tốc phát triển hoặc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp và sáng kiến kinh doanh tạo tác động xã hội tại Việt Nam, góp phần tạo nên một hệ sinh thái năng động và đa dạng, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của DNXH.

    Bên cạnh các DNXH, với việc đẩy mạnh thực hiện dân chủ hóa cơ sở, trong những năm qua mô hình tự quản khu dân cư đã phát triển khá đa dạng ở nhiều địa phương như: tuyến đường tự quản, tự quản bảo vệ môi trường, tự quản an ninh trật tự…(các tỉnh: Tuyên Quảng, Quảng Nam, Ninh Thuận…) đã góp phần nâng cao đời sống người dân. Đây là hướng quan trọng góp phần nâng cao vai trò thành tố xã hội trong tạo lập môi trường tăng trưởng, giám sát, bổ sung cho những khuyến khuyết của thị trường trong những năm qua.

    Tám là, trong quá trình xây dựng cũng như thực hiện chủ trương, chính sách đã chú ý gắn bó hơn chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước-thị trường- xã hội, tức là có sự phân vai ngay trong quá trình xây dựng chủ trương, chính sách, do vậy tính khả thi chính sách cũng cao hơn, có sự đồng thuận của người dân. Sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội vào quá trình định hình chính sách ngày một rõ và hiệu quả.

    (2) Hạn chế, yếu kém

    Một là, trong những năm qua, việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước- thị trường-xã hội ở nước ta còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập, như lẫn lộn vai trò giữa Nhà nước và thị trường, mà thực chất là Nhà nước hoặc không làm, làm không hết vai trò, hoặc can thiệp vào vai trò của các chủ thể khác trong nền kinh tế thị trường; Nhà nước chưa bổ khuyết tốt được cho thị trường, đôi khi vẫn còn hiện tượng phó mặc thị trường (tình hình được mùa, rớt giá năm nào cũng xảy ra).

    Hai là, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế còn thấp, một mặt là do sự can thiệp của Nhà nước không phù hợp với sự vận động của thị trường. Mặt khác, Nhà nước lại thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm các chủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra. Công tác kế hoạch và quy hoạch của Nhà nước trên nhiều lĩnh vực còn bất cập, chưa phù hợp với thực tế.

    Trong việc sử dụng các công cụ can thiệp của nhà nước còn tồn tại một số bất cập như: công cụ pháp luật chưa ổn định, Nhà nước chưa thật sự trở thành “trọng tài” cho các chủ thể kinh tế; chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá phối hợp thiếu linh hoạt; thiếu tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước với hệ thống hành chính; hiệu quả của phối hợp chính sách tiền tệ  và chính sách tài khóa thời gian vừa qua còn bộc lộ những hạn chế và đối mặt với một số thách thức; việc cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách  chưa được thiết lập một cách chính thức; lực lượng vật chất của nhà nước can thiệp vào thị trường còn phân tán, lãng phí,  vừa chưa theo quy hoạch, kế hoạch, vừa chưa theo quy luật của thị trường; quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước chưa bảo đảm cho đầu tư nhà nước và tư nhân hiệu quả, thống nhất được lợi ích nhà đầu tư và lợi ích nhà nước, giữa mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giữa phát triển đất nước, vùng và địa phương; hệ thống dịch vụ công chưa phân tách các trách nhiệm tổ chức cung ứng, chi trả phí và quản lý để tiến hành đổi mới hiệu quả, mở rộng cơ hội cho tư nhân tham gia.

    Nhà nước còn hạn chế trong kiến tạo phát triển, dẫn dắt thị trường, nhất là kiến tạo phát triển các yếu tố thị trường. Điều này gắn liền với sự chưa rõ trong quan niệm xác định vai trò, mức độ tham gia kiến tạo thị trường của nhà nước, nên hiệu quả thực tế chưa cao.

    Ba là, trong những năm qua, kinh tế Nhà nước đã đóng vai trò cột trụ, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế Nhà nước cũng đã bộc lộ hạn chế, bất cập, tập trung vào các vấn đề như: việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản; phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; cơ chế giám sát, công khai, minh bạch hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa tốt; khu vực sự nghiệp công chiếm quy mô lớn, chưa vận hành theo kinh tế thị trường, còn bao cấp lớn từ nhà nước; nguồn lực nhà nước nắm giữ, phân bổ, đầu tư chưa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường; việc huy động các nguồn lực đầu tư cho dịch vụ công, phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ công vẫn còn một số bất cập.

    Bốn là, còn tình trạng thiếu bình đẳng, hạn chế tính cạnh tranh và làm suy giảm năng lực kinh doanh của cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tình trạng độc quyền, trái với quy luật cạnh tranh ở một số lĩnh vực vẫn còn tồn tại. Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ. Môi trường kinh doanh, đầu tư chưa thật sự thông thoáng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Giá cả một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu chưa thật sự tuân theo nguyên tắc thị trường.

    Năm là, thể chế kinh tế thị trường ở nước ta vẫn chưa thực sự tôn trọng vai trò, chức năng của thị trường, chưa thực sự coi thị trường là một thực thể khách quan, vận động và phát triển theo quy luật vốn có không phụ thuộc vào ý chí cá nhân và tổ chức xã hội nào cả, kể cả ý chí của Chính phủ. Thể hiện rõ nhất là: vẫn còn duy trì chính sách bao cấp, xin cho của nền kinh tế kế hoạch hoá; vẫn duy trì những doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong nhiều lĩnh vực kinh doanh cần chuyển sang thị trường cạnh tranh; vẫn còn tồn tại cung cách quản lý bao cấp, quan liêu, vẫn sử dụng nhiều chính sách trợ cấp, trợ giá theo kiểu cũ không khuyến khích được tinh thần tự lập, tự cường của đối tượng được trợ cấp. Những bộ phận chính sách và thể chế đó không phù hợp thực tế kinh tế thị trường, thậm chí còn là cơ sở nảy sinh lợi ích nhóm, hành vi tham nhũng, lạm quyền… làm giảm động lực phát triển kinh tế. Các yếu tố thị trường, các loại thị trường trong nền kinh tế chậm được đồng bộ hoá. Đây là một trong những lý do Việt Nam vẫn còn bị nhiều nước xem xét và đánh giá là một quốc gia chưa có nền kinh tế thị trường.

    Sáu là, về vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền và phát triển kinh tế tư nhân

    Nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là điểm đáng ghi nhận trong thời gian qua. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và thực thi, các doanh nghiệp vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong các thủ tục hành chính, đầu tư kinh doanh gây phiền hà, tốn thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Nhà nước dường như chưa thật sự tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa khu vực công và khu vực tư, giữa các tổ chức kinh tế trong khu vực tư, trong tiếp cận các nguồn lực công; chưa giải phóng triệt để tiềm lực, thế mạnh của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Cũng vì vậy hiện phần lớn các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ, quản trị và năng lực tài chính hạn chế.

    Bảy là, nhận thức và hoạt động của các tổ chức xã hội còn một số hạn chế. Chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức xã hội không rõ ràng, vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, vừa có nhiệm vụ giám sát, phản biện vai trò của Đảng và Nhà nước. Do chức năng, nhiệm vụ không rõ ràng nên các tổ chức xã hội ở Việt Nam hoạt động còn thụ động, hiệu quả không cao. Mặt khác, cơ sở pháp lý, mà cụ thể là Luật về Hội, Hiệp Hội chưa được ban hành, nên sự hoạt động chưa có sự bảo đảm bằng pháp luật.

    Tám là, việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân còn có những hạn chế: Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một số lĩnh vực còn bị vi phạm; còn tình trạng “vừa thiếu dân chủ, vừa thiếu kỷ cương”. Trong xã hội còn không ít biểu hiện mất dân chủ, hoặc dân chủ cực đoan; việc thực hành dân chủ có nơi, có lúc còn mang tính hình thức. Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân vẫn chưa được tạo lập đầy đủ; khả năng kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía nhân dân còn hạn chế. Việc bảo đảm dân chủ trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp có nơi, có lúc chưa được tổ chức, thực hiện tốt. Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở có mặt còn hình thức, chưa thực sự phát huy được vai trò, trách nhiệm của người dân.

    (3) Nguyên nhân

    Hiện trạng trên có nhiều nguyên nhân, có thể nêu 3 nguyên nhân cơ bản sau:

    Thứ nhất, sự đổi mới nhận thức

    Những đổi mới trong nhận thức về nhà Nước-thị trường-xã hội chính là cơ sở cho thay đổi trong điều hành hoạt động thực tiễn. Việc tách bạch vai trò Nhà nước đã cho phép các hoạt động kinh doanh nhanh nhạy hơn, giảm được nhiều giấy phép con. Các doanh nghiệp đã chủ động khai thác nguồn lực xã hội, thực hiện đối tác công tư trong hoạt động kinh doanh.

    Sự đổi mới trong nhận thức về kinh tế Nhà nước đã thúc đẩy quá trình cải cách doanh nghiệp và đổi mới hoạt động của khu vực Nhà nước theo cơ chế thị trường, dần nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó tư duy về vai trò của các thành phần kinh tế, nhất là với vai trò động lực quan trong của kinh tế tư nhân đã thúc đẩy khu vực kinh tế này phát triển cùng với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, có đóng góp lớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.

    Đặc biệt sự đổi mới nhận thức về vai trò thị trường đã góp phần gia tăng vai trò thực tế của thành tố này trong hoạt động thực tiễn. Đáng chú ý là cơ chế thị trường đã hình thành và được vận dụng,  xâm nhập vào nhiều quan hệ kinh tế vốn trước đây đóng khung theo quy định cứng nhắc. Vì vậy nền kinh tế vận hành thông thoáng hơn.

    Việc nhìn nhận vai trò xã hội cũng có sự thay đổi, đòi hỏi ngay trong các ý tưởng và quyết sách đã phải tính đến các yếu tố xã hội không chỉ trên phương diện giải quyết các vấn đề xã hội, mà cả trên phương diện tính đến sự tác động của các vấn đề xã hội. Nếu trước đây chỉ chú ý đầu tư kinh tế để từ đó tạo nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội, thì này còn tính đến đầu tư vào các vấn đề xã hội để tạo môi trường điều kiện cho tăng trưởng. Hơn nữa với cách nhìn về vai trò xã hội, nhà nước cũng đã có điều chỉnh trong tạo lập các điều kiện cho các tổ chức xã hội vận hành, phát huy vai trò của mình đóng góp vào sự phát triển, khắc phục những khuyết tật của thị trường.

    Tuy nhiên, cái khó trong điều hành hoạt động kinh tế, chính là những quy định và những nhận thức cũ theo tư duy của nền kinh tế kế hoạch tập trung, chúng trói buộc sự sáng tạo, năng động trong hoạt động sản xuất. Mặc dù chuyển sang kinh tế thị trường, cho dù có các quy định, nhưng độ trễ của thói quen vẫn tác động đến các hoạt động điều hành thực tiễn.

    Thứ hai, sự thiếu vắng thể chế

    Mặc dù đã có những cố gắng và nỗ lực như đã nói ở trên, nhưng nhìn chung hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập và vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Điều này thể hiện rõ nhất qua các thực tiễn như: Hệ thống pháp luật còn thiếu toàn diện, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật; Một số văn bản pháp luật quan trọng đã ban hành song hiệu lực thực thi chưa cao; Tính cụ thể, minh bạch, rõ ràng của nhiều luật còn thấp; Quy trình xây dựng pháp luật còn thiếu tính dân chủ, tính đại chúng. Để các thành tố phát huy tốt vai trò chức năng, bước quan trọng là phải thể chế hóa các nhận thức đã đạt được thành các quy định pháp lý. Tuy những năm qua đã có nhiều cố gắng trong quá trình thể chế hóa, song thực tế vẫn còn thiếu vắng nhiều quy định, ví như Luật về hội, Quy định về kiểm soát độc quyền…

    Thứ ba, sự hạn chế trong vận hành của bộ máy Nhà nước

    Bộ máy Nhà nước tuy có sự đổi mới cải cách song còn nhiều hạn chế trong vận hành. Đó là tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối bên trong; việc phân cấp, phân quyền tuy chủ trương đã rõ nhưng thực hiện chưa thực sự hiệu quả, chưa đi vào cuộc sống…Cơ chế phối hợp các bộ phận, đầu mối chưa rõ ràng dẫn đến sự  phối hợp giữa các ngành và các địa phương có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ. Tổ chức bộ máy và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội chậm đổi mới; một số nhiệm vụ còn trùng lặp; có biểu hiện hành chính hóa, công chức hóa. Cơ cấu cán bộ, công chức còn bất cập giữa các cấp và trong từng cơ quan; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp cơ sở hạn chế… Những điều đó ảnh hưởng ngay đến quá trình thể chế hóa quan điểm của Đảng, đến năng lực triển khai và thực thi các chính sách và quy định của Nhà nước nói chung, đến phối hợp giải quyết mối quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội nói riêng.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mạng Xã Hội, Mặt Tích Cực Và Tiêu Cực, Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Công Tác Bảo Đảm An Ninh Trật Tự – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Mạng Xã Hội, Vai Trò Và Những Hệ Lụy
  • Tiền Lương Là Gì? Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Lương
  • Chức Năng Của Tiền Lương
  • Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Với Sự Phát Triển Bền Vững Của Đất Nước
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100