Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Quốc Phòng, An Ninh Và Đối Ngoại

--- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách An Ninh Đối Ngoại Của Nhật Bản Có Gì Mới?
  • Những Điểm Mới Trong Chính Sách An Ninh Đối Ngoại Của Nhật Bản
  • Khu Nhà Ở Cán Bộ Tổng Cục An Ninh Giá Gốc 16 Triệu
  • Bộ Công An Sẽ Không Còn Những Tổng Cục Nào?
  • Tập Huấn 4 Đạo Luật Và Công Ước Của Liên Hợp Quốc
  • Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại

    Kế thừa kế sách “tạo lực, lập thế, tranh thời” của tổ tiên ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; phát huy kết quả đường lối lãnh đạo trong cách mạng giải phóng dân tộc, với tinh thần cách mạng tiến công, để phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước, từ năm 1991 đến nay, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, trong đó có đổi mới tư duy về việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã đề cập đến mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh với việc xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng  - an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”(1). Cương lĩnh cũng chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hòa bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy tiềm năng, lực lượng mọi mặt của đất nước, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… vào củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia; việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Do đó, cần phải “phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”(2). Tuy nhiên, lúc này Đảng ta chưa đặt vấn đề kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của đất nước.

    Đến Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại mới rõ ràng, cụ thể hơn, nổi bật là nhận thức rõ vai trò của đối ngoại trong các hoạt động quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các hoạt động đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Đảng chủ trương: “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế. Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại”(3). Từ đây, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại luôn được Đảng khẳng định và đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) tiếp tục bổ sung những quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và mối quan hệ giữa các hoạt động này. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại”(4). Điểm mới trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh lúc này là đã cụ thể hóa mối quan hệ đó vào trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đưa vào hoạt động thực tiễn của các cấp, các ngành, trong đó nhấn mạnh cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa quan điểm, nhận thức của Đảng vẫn chỉ tập trung ở lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chưa cụ thể hóa mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành chiến lược, chính sách, kế hoạch cụ thể.

    Đến Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, với việc đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã trở nên đầy đủ, toàn diện, cụ thể và có bước phát triển hơn so với các kỳ đại hội trước, không chỉ trong trong hoạt động nhận thức mà còn cả trong hoạt động thực tiễn với sự cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách thành quy hoạch, kế hoạch, quy chế quản lý và phối hợp hoạt động giữa các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đến năm 2005, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Nhà nước đưa vào Luật Quốc phòng. Điều 5 Luật Quốc phòng đã chỉ rõ nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là “kết hợp với hoạt động an ninh và hoạt động đối ngoại”.

    Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định việc “phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(7) là quan điểm nhất quán đối với công tác quản lý, phối hợp các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc tiếp tục chủ động, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy, Đảng đã đề cập trực tiếp và đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Đến Đại hội XII (năm 2022), Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”, trong đó xác định quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”(8), và chỉ rõ quá trình hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cho nên cần phải chủ động trong việc dự báo, xử lý linh hoạt, kịp thời mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi. Việc xác định quan điểm nêu trên là rất cần thiết để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động với việc chủ động giữ nước trong thời bình.

    Từ sau Đại hội XII của Đảng, các quan điểm nêu trên trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã chủ động kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, năm 2022, Bộ Chính trị đã phê duyệt “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam”, làm cơ sở cho việc hình thành các chiến lược cụ thể, như “Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới”, “Chiến lược Tác chiến trên không gian mạng” và Luật Quốc phòng (sửa đổi) năm 2022. Điều 3 Luật Quốc phòng năm 2022 đã xác định nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là: “Kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại”. Việc kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại được xác định là một trong những nội dung quan trọng của nền quốc phòng toàn dân.

    Từ Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đến nay, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã có sự phát triển mới, ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc; từng bước thấy rõ hơn vai trò của an ninh, đối ngoại đối với quốc phòng và sự cần thiết phải gắn chặt quốc phòng, an ninh với đối ngoại trong một chiến lược thống nhất.

    Kết quả phát triển nhận thức về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại

    Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được biểu hiện thông qua các kết quả cụ thể như sau:

    Về đối nội: Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, chúng ta đã từng bước tăng cường tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước; sức mạnh quân sự, quốc phòng không ngừng lớn mạnh; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố vững chắc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, tạo ra những điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc; sớm nhận diện và kịp thời đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh và xung đột vũ trang.

    Về đối ngoại: Với những quan điểm, chủ trương, đúng đắn và sự nỗ lực không ngừng trên các phương diện, Đảng đã từng bước lãnh đạo đất nước phá thế bao vây cấm vận từ bên ngoài; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác; chuyển hóa tính chất, nâng cấp mối quan hệ với một số nước thành quan hệ đối tác, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện; hình thành thế trận ngoại giao vững chắc, bao gồm: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng; giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn với các nước trong khu vực bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; thiết lập quan hệ song phương với các nước, đưa quan hệ hợp tác với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn; từng bước xây dựng được vị thế, uy tín của Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong các diễn đàn, các tổ chức quốc tế, khu vực. Đặc biệt, sự kiện Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2022 – 2022 với số phiếu bầu là 192/193 đồng ý, càng khẳng định rõ vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế… Với tư cách là một thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm, Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, việc quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở một số ngành, địa phương vẫn còn hạn chế; hệ thống luật pháp về việc giải quyết mối quan hệ này chưa hoàn thiện, việc cụ thể hóa sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành các quy hoạch, kế hoạch, quy chế, cơ chế hoạt động có lúc chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong việc giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ; sự phối hợp trong nghiên cứu, dự báo về chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại có mặt chưa theo kịp diễn biến của tình hình.

    Phương hướng giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời gian tới

    Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn định, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới, tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa… Điều đó đòi hỏi phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Để thực hiện có hiệu quả việc giải quyết mối quan hệ này, cần tập trung vào một số phương hướng cơ bản sau:

    Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với mọi hoạt động quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với việc giải quyết mối quan hệ này phải thông qua đường lối, chủ trương và hệ thống pháp luật. Đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được luật hóa thông qua hệ thống pháp lệnh, nghị định, kế hoạch và các quy chế, quy định, bảo đảm tính nguyên tắc, tính pháp lý trong quá trình thực hiện.

    Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đẩy mạnh việc xây dựng, hoạch định, hoàn thiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai đoạn cách mạng, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Ban hành và duy trì nghiêm các quy chế, quy định mới về việc phối hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương, đặc biệt là giữa các ngành quân đội, công an và ngoại giao. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện về nội dung, hình thức, biện pháp kết hợp đấu tranh quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành động sai trái, thù địch, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Hai là, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao tiềm lực kinh tế, tăng cường tiềm lực quân sự, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc.

    Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ tạo điều kiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật của đất nước, hình thành nền tảng để phát triển sức mạnh kinh tế, tạo dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng và khả năng huy động tiềm lực kinh tế phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, từng bước phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, tạo thế và lực để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh là quá trình tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp bảo đảm tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

    Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là tạo lập sức mạnh về kinh tế – xã hội, tạo cơ sở, tiền đề để tạo lập sức mạnh về quân sự, quốc phòng, an ninh, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu không có sức mạnh, tiềm lực kinh tế thì không có sức mạnh, tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh. Chính tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh mạnh sẽ góp phần bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Vấn đề quan trọng đặt ra là chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, bởi đây là bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực và tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

    Mục đích cao nhất trong quan hệ đối ngoại là phục vụ lợi ích quốc gia – dân tộc, theo đó, trong quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, tuyệt đối không để Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập, bị động, bất ngờ, đặc biệt là rơi vào trạng thái đối đầu có thể dẫn đến xung đột. Việt Nam cần tiếp tục tích cực, chủ động trong thiết lập, đẩy mạnh các mối quan hệ đối ngoại; trong hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích; trong đề xuất những giải pháp xây dựng hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Giải quyết quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực trên tinh thần “hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”(9). Tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề chung, xây dựng lòng tin chiến lược, hướng đến hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.

    Bốn là, linh hoạt, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia – dân tộc.

    Trên tinh thần “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, Việt Nam cần phải linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại, lấy lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam là toàn diện, bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa…; lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; không chỉ có lợi ích trong nước mà còn các lợi ích hợp pháp khác ở ngoài nước.

    Trong giải quyết mọi vấn đề đối ngoại, với mọi đối tượng, đối tác, phải bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, thực hiện bình đẳng, cùng có lợi, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; không nóng vội, mà phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(10); tăng cường sự gắn kết an ninh và ổn định của nước ta với an ninh và ổn định của khu vực, từng bước nâng cao mức độ đan xen lợi ích về quốc phòng, an ninh theo hướng tăng cường nhận thức, hợp tác về các vấn đề có chung quan tâm và lợi ích; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, vì lợi ích quốc gia – dân tộc.

    Năm là, nâng cao tinh thần yêu nước và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

    Lịch sử Việt Nam đã chứng minh tinh thần yêu nước và đoàn kết của nhân dân là một động lực vô cùng to lớn, giúp dân tộc ta phát huy sức mạnh tổng hợp, giành chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh gấp mình rất nhiều lần. Tinh thần yêu nước đã tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc tồn tại và phát triển qua những thử thách cam go, khốc liệt và hào hùng của lịch sử. Tuy nhiên, trước những biến động lớn của thời cuộc hiện nay, đòi hỏi tinh thần yêu nước Việt Nam, một mặt, phải duy trì, củng cố những đặc trưng làm nên sức mạnh truyền thống của dân tộc; mặt khác, phải xây dựng và củng cố thêm những nền tảng lý luận và sức mạnh mới nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng, nhất là phát huy vai trò của hệ thống giáo dục, đào tạo và các phương tiện truyền thông trong việc tuyên truyền, giáo dục này; nghiên cứu, lựa chọn nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phải phù hợp với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

    Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Lấy lợi ích chung của quốc gia – dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm mục đích của cách mạng. Tích cực đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị các cấp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tích cực, tự giác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xử lý hài hòa các mối quan hệ giai cấp và dân tộc, giai cấp, dân tộc và nhân loại, quốc gia và quốc tế, chiến lược và sách lược, lợi ích toàn bộ và bộ phận, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân cùng tiến bộ, trưởng thành, có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung vì lợi ích quốc gia  - dân tộc./.

    (1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 17

    (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 87

    (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 40

    (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 117

    (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 111

    (6) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr. 20 – 21

    (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 238

    (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2022, tr. 149

    (9) Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, Hà Nội, 2022, tr. 3

    (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 153

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Hợp Chặt Chẽ Quốc Phòng Với An Ninh Và Đối Ngoại Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Đảng Ủy Phòng An Ninh Đối Ngoại: Gắn Việc Học Tập Và Làm Theo Bác Với Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Được Giao
  • Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Nào Là Tốt Nhất
  • Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Nên Ăn Gì? Tránh Ăn Gì? Để Kéo Dài Thanh Xuân
  • Loạn Sản Phẩm Hỗ Trợ Tiền Mãn Kinh
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • 10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung
  • Theo quan niệm mácxít, nhà nước vừa có chức năng xã hội – chính trị, vừa có chức năng xã hội – dân sự. Tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về vấn đề này là cơ sở phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần: Nhận thức và xử lý đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa các chức năng của nhà nước; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta; xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân.

    1. Cuộc cách mạng vĩ đại về lý luận – tư tưởng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, V.I.Lênin phát triển, đã đem lại quan niệm khoa học về nhà nước và chức năng của nhà nước trên nhiều bình diện, đặc biệt là mối quan hệ giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự trong kiện toàn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Quan điểm mácxít khẳng định rằng, nhà nước chỉ xuất hiện khi đời sống xã hội đòi hỏi và đảm bảo đủ điều kiện để nhà nước hoạt động. Trong thực tiễn lịch sử, điều kiện cần và đủ cho sự hình thành nhà nước là sự phát triển sản xuất xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định, cho phép xã hội có của dư. Khi xã hội tạo được của dư tất yếu sinh ra chế độ tư hữu, lúc đó, xã hội bắt đầu có sự phân hoá giai cấp và mâu thuẫn đối kháng giai cấp không thể điều hoà. Đặc trưng của nhà nước trước hết là thực hiện sự quản lý theo lãnh thổ; đồng thời, quản lý xã hội bằng pháp luật. Quyền lực nhà nước được hình thành, phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội và phản ánh bản chất giai cấp của nhà nước đó. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khẳng định: “Trước hết, bất cứ quyền lực chính trị nào ban đầu đều dựa trên một chức năng kinh tế, xã hội… Hai là, … tác động theo ý nghĩa và chiều hướng của sự phát triển kinh tế có tính quy luật. Như vậy, giữa quyền lực chính trị và phát triển kinh tế không có một sự xung đột nào và phát triển kinh tế được đẩy nhanh hơn, hoặc nó chống lại sự phát triển kinh tế, khi đó trừ một vài trường hợp ngoại lệ, thường thường nó chịu sức ép của sự phát triển kinh tế”(1). Chức năng xã hội của nhà nước được C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp cận dưới nhiều góc độ, song đều xuất phát từ nguyên tắc giai cấp của nhà nước. Trong các luận giải của mình về nhà nước, các ông đã phân tích sự vận động biện chứng của hai lớp nhà nước chính trị và nhà nước xã hội. Đó là sự phản ánh quá trình chuyển hoá biện chứng khách quan giữa nhà nước chính trị và nhà nước xã hội, mà tập trung nhất là đời sống kinh tế. Bí mật của mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội là ở chỗ, nhà nước tách ra thành một bộ phận độc lập, đối lập với xã hội. Song, “không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định, quyết định nhà nước”(2).

    Dưới góc độ phương pháp luận mácxít, nhà nước không chỉ thực hiện sự thống trị của giai cấp, tức chức năng xã hội – chính trị, mà còn thực hiện chức năng công cộng, tức chức năng xã hội – dân sự. Hai chức năng đó tuy khác nhau nhưng biểu hiện cùng một bản chất do tính quy định của nó. “Gia đình và xã hội công dân là những bộ phận hiện thực của nhà nước, là phương thức tồn tại của nhà nước. Gia đình và xã hội công dân tự chúng cấu thành nhà nước”(3). Như vậy, nhà nước là tổng thể của sự tồn tại của nhân dân và nhà nước chính trị chính trị.

    Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chức năng xã hội – chính trị có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nó đòi hỏi phải tiếp cận mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của nhà nước bằng nguyên tắc khách quan, toàn diện và lịch sử – cụ thể; bằng tính hệ thống, tính chỉnh thể, tính lôgíc biện chứng trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp; bằng tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân. Mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xét đến cùng, là đảm bảo tốt hơn sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Để giữ vững định hướng chính trị đối với tất cả các quan hệ xã hội, việc thực hiện chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải dựa trên cơ sở lợi ích và ý chí của giai cấp công nhân; tuân theo sự dẫn dắt, định hướng, chế ước của các quan hệ xã hội – chính trị. Định hướng xã hội – chính trị của nhà nước phải được giữ vững trong quá trình thực hiện chức năng xã hội – dân sự, không đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn xã hội càng phù hợp với nhau thì các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự càng phát triển theo hướng tích cực. Định hướng xã hội – chính trị chỉ đứng vững khi bản thân nó không tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ nền tảng đời sống sinh hoạt bình thường của xã hội dân sự. Nhân dân đóng góp cho nhà nước bao nhiêu về phương diện xã hội – chính trị thì nhà nước cũng phải thoả mãn bấy nhiêu yêu cầu của họ về phương diện xã hội – dân sự. Các nguyên tắc này đòi hỏi phải loại bỏ quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng không chỉ vì lý do chính trị, mà cả lý do khoa học.

    Để tiếp cận đúng mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, còn cần phải tuân thủ nguyên tắc về sự thống nhất giữa vai trò của quần chúng nhân dân và người lãnh đạo. Cơ sở khoa học của nguyên tắc này xuất phát từ lý luận và thực tiễn của mối liên hệ hữu cơ giữa cá nhân với xã hội mà C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc trong các tác phẩm của mình. Nhà nước thực hiện các chức năng của nó không chỉ thông qua vai trò của cộng đồng xã hội, mà còn thông qua vai trò hoạt động tích cực của cá nhân, đặc biệt là người lãnh đạo chủ chốt.

    Trên cơ sở phương pháp luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, việc xem xét các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước luôn được đặt trong mối liên hệ với xã hội dân sự. Thực hiện tốt vấn đề này không chỉ nâng cao vị thế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà còn tăng thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước với đời sống xã hội dân sự.

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn luôn đòi hỏi việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị phải dựa trên cơ sở thoả mãn nhu cầu xã hội dân sự; trong đó, nhu cầu thiết yếu nhất là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, phương thức thực hiện sự thống trị của giai cấp công nhân bằng nhà nước chủ yếu phải là mở rộng dân chủ. Pháp quyền chỉ đứng vững và hiệu quả khi thực hiện bằng dân chủ. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là hiện thân tối ưu của các hình thức dân chủ hoá. Dù trình độ dân chủ phát triển đến đâu, tính chất dân chủ ấy như thế nào thì nó vẫn phải được pháp chế hoá bằng luật pháp. Để thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, phải phát triển mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự.

    Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự được biểu hiện một cách đa dạng trên nhiều nội dung và ở mọi lĩnh vực xã hội, trong đó những nội dung quan trọng cần khẳng định là các mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    2. Các Nghị quyết Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, các Nghị quyết Trung ương chuyên đề, như Nghị quyết Trung ương 3, khoá VII (6 – 1992) Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII (6 – 1997) Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnhVề chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết Trung ương 7, khoá VIII (8 -1999) Về một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước… được các ngành, các địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện đã góp phần quan trọng trong việc ổn định tư tưởng, thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân, giữ vững ổn định xã hội – chính trị, thực hiện có hiệu quả chức năng xã hội – dân sự. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã tạo nền tảng vật chất vững chắc để Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển và quan hệ chặt chẽ hơn với đời sống xã hội dân sự, không gây nên những biến động lớn làm đảo lộn đời sống xã hội dân sự, không có sự tranh giành quyền lực chính trị trong nội bộ cơ quan quyền lực. Đồng thời, tạo cơ sở cho Nhà nước thực hiện một cách thống nhất các chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của mình.

    Trong thời đại toàn cầu hoá, xu hướng luật pháp hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội đã có ảnh hưởng rất lớn và tích cực đối với việc thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước ta. Điều này biểu hiện ở vai trò ngày càng tăng của nhân tố pháp quyền, sự quan tâm hơn của nhà nước đến vấn đề con người và đời sống xã hội, sự hoàn thiện ngày càng cao của kỹ năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Kỹ năng, kỹ thuật tổ chức nhà nước cũng có những nét mới, hợp lý, như sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật quốc tế, lý thuyết về liên minh quốc hội và liên minh chính phủ…

    Ngoài những thành tựu to lớn và cơ bản trên, việc thực hiện và đảm bảo sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự của Nhà nước ta trong thời gian qua không tránh khỏi một số bất cập, chủ yếu do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

    Nguyên nhân chủ quan

    Chúng ta chưa nhận thức và vận dụng đúng, thậm chí vi phạm những nguyên lý cơ bản về mối liên hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước. Trong tổ chức thực hiện, nhất là ở cơ sở, có lúc, có nơi, chúng ta còn tách rời chức năng xã hội – dân sự với chức năng chính trị – xã hội; quá nhấn mạnh, tuyệt đối hoá hoặc là chức năng xã hội – chính trị, hoặc là chức năng xã hội – dân sự. Đặc biệt, chưa nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu của sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do chúng ta chưa luận giải đúng nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối liên hệ biện chứng giữa các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa nhận thức và vận dụng đúng phương thức chuyển hoá của việc thực hiện sự thống nhất chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chưa xây dựng được mối quan hệ hữu cơ vững chắc giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Công tác xây dựng, tổ chức đảng “chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ “còn những biểu hiện tập trung quan liêu, dân chủ hình thức”, “lúng túng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ”. ” Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng“(4). Tổ chức bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, việc phân công, phân cấp giữa bộ và chính quyền địa phương còn nhiều vấn đề chưa rõ; thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà và chậm được đổi mới, hiệu lực thi hành pháp luật yếu. Kỹ thuật tổ chức hành chính cả về phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn nhiều hạn chế. Tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các đoàn thể và hội quần chúng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác vận động quần chúng trong tình hình mới…(5). Văn hoá dân chủ, văn hoá pháp luật của nhân dân còn thấp.

    Nguyên nhân khách quan

    Điểm xuất phát kinh tế của nước ta còn thấp, các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được tạo lập đồng bộ. Thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học công nghệ chưa phát triển. Những tàn dư văn hoá – xã hội, như lề thói độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, gia đình chủ nghĩa và việc thiếu một mặt bằng văn hoá pháp luật, văn hoá dân chủ cao… đã gây không ít khó khăn cho việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước.

    Mặt khác, các thế lực đế quốc và lực lượng chống cộng hiện đang cấu kết với nhau, lợi dụng sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những biện pháp thâm độc và nguy hiểm của chúng trước hết tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc, rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn sai con đường phát triển xã hội; rằng, “không thể có chủ nghĩa xã hội trong thực tế” và kích động phải thực hiện “tư nhân hoá”, “đa nguyên chính trị”… Thực chất là chúng muốn chia rẽ Đảng với Nhà nước, Đảng và Nhà nước với nhân dân; tách quần chúng nhân dân khỏi ảnh hưởng của Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng… nhằm phá hoại sự thống nhất trong thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    3. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo chúng tôi, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, cần nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước; luận giải một cách khoa học nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối quan hệ cũng như sự chuyển hoá giữa các chức năng đó. Đồng thời, phân tích một cách khách quan những nhân tố tác động đến sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước. Để có thể xử lý đúng đắn và khoa học sự tác động đó, cần xem xét nó một cách toàn diện, hệ thống, vừa theo tính chất, vừa theo những lát cắt đồng đại.

    Hai là, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, ” thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ… Hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(6). Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là không ngừng giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta. Phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là phát huy mọi nguồn lực, đặc biệt là lực lượng sản xuất của xã hội, để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội hiện thực. Giữa các khía cạnh đó có mối liên hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ và có sự tương tác biện chứng với nhau, chúng vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là kết quả của nhau. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khía cạnh xã hội – chính trị. Phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là khía cạnh xã hội – dân sự. Đó cũng là những biện pháp quan trọng nhất để nâng cao không ngừng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và thắt chặt mối quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với đời sống xã hội dân sự, nhân tố quyết định sự phát triển thống nhất giữa các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước.

    Ba là, xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Đây là biện pháp không thể thiếu để duy trì và phát triển sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, toàn bộ chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều phải thể hiện nguyện vọng và ý chí của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân.

    Tóm lại, để Nhà nước thực hiện tốt chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, chúng ta phải đẩy mạnh quá trình “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”, “cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước”, “phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế”, “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực” và tích cực “đấu tranh chống tham nhũng”(7) – như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã vạch ra.

    Đã xem: 4304

    Thời gian đăng: Thứ sáu – 02/02/2018 11:34

    Người đăng: Phạm Quang Duy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Của Các Mối Quan Hệ Xã Hội Với Sức Khỏe Ít Ai Ngờ Tới
  • Bàn Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước, Thị Trường Và Xã Hội
  • Mạng Lưới Xã Hội Trong Khám Chữa Bệnh Cho Lao Động Nông Thôn
  • Lý Thuyết Mạng Lưới Xã Hội Trong Nghiên Cứu Tin Đồn
  • Biến Đổi Cơ Cấu Và Chức Năng Gia Đình. Đề Cương Môn Học
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Gan Thận Và Bệnh Vảy Nến

    --- Bài mới hơn ---

  • Xét Nghiệm Ast Và Ý Nghĩa Trong Đánh Giá Chức Năng Gan
  • Chỉ Số Ast Là Gì Và Các Mức Bình Thường
  • Xét Nghiệm Transaminase (Alt Hay Alat Và Asat Hay Ast) Trong Đánh Giá Chức Năng Gan
  • Tầm Quan Trọng Của Xét Nghiệm Ast Trong Đánh Giá Chức Năng Gan
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan
  • Mối quan hệ giữa chức năng gan, thận và bệnh vảy nến

    Gan và thận có chức năng lọc các chất độc hại từ bên trong cơ thể ra ngoài. Các chất độc hại này được thải qua do đường phân (gan), nước tiểu (thận). Khi các chức năng của hai bộ phận này hoạt động kém, bạn sẽ thấy rõ sự khác biệt ở chất thải.

    Khi việc thải độc tố qua phân và nước tiểu không hiệu quả. Cơ thể chúng ta sẽ đào thải qua đường da (mồ hôi). Lúc này, khi da phải đào thải lượng độc tố lớn sẽ có thể gây ra các tình trạng chất độc tích tụ dưới da. Bạn có thể gặp các vấn đề như: vàng da, nổi mẩn ngứa mụn nhọt. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến các bệnh viêm da và làm nặng tình trạng bệnh vảy nến.

    Khi các chức gan thận của bạn khỏe, có thể của bạn sẽ dễ dàng đào thải độc tốc ra ngoài. Điều này khiến việc điều trị bệnh vảy nến tốt hơn.

    Chức năng gan thận ảnh hưởng đến bệnh vảy nến và ngược lại.

    Đối với các thể vảy nến nặng rất có khả năng gây ảnh hưởng đến chức năng gan thận. Ví dụ như vảy nến thể mụn mủ có thể làm giảm chức năng gan hoặc suy gan.

    Đối với thận, vảy nến gây nên bệnh thận mãn tính. Do các phương pháp điều trị bệnh có gây tác dụng phụ lên thận, ảnh hưởng đến cơ chế lọc chất thải dư thừa. Khi thận không còn lọc tốt các chất cặn bẩn sẽ bám lại là gây ra sỏi thận.

    Các biện pháp cải thiện chức năng gan thận của người vảy nến

    Có thể tham khảo một số loại rau lá mát sau giúp cải thiện tình trạng kém của chức năng gan thận. Ví dụ như: rau má, rau diếp cá, râu ngô, nha đam, đậu đen … Các loại rau và hạt này bạn xay ra hoặc ninh lấy nước uống giúp thanh nhiệt và giải độc cơ thể.

    Ngoài ra, bạn tham khảo một số thực phẩm sau giúp cải thiện chức năng gan thận cho cả người vảy nến:

    Tác dụng của tỏi với chức năng gan thận và bệnh vảy nến

    Bên cạnh đó thì tỏi cũng giúp người bị cải thiện sức khỏe. Bởi hoạt tính chống viêm hoặc ức chế khả năng gây viêm giúp giảm tình trạng bệnh ở người vảy nến.

    Tác dụng của nghệ với chức năng gan, thận và người vảy nến

    Giống như tỏi thì nghệ cũng là một loại thực phẩm quen thuộc, nghệ cũng có nhiều công dụng chữa bệnh. Trong đó có các tác dụng tốt cho gan và vảy nến. Các dưỡng chất trong nghệ giúp giải các chất độc trong gan và các chất gây ung thu ra ngoài cơ thể. Tác dụng của củ nghệ có thể giúp bạn điều trị viêm khớp vảy nến vì có chứa hoạt chất curcumin giúp chống viêm mạnh mẽ. Củ nghệ có thể ngăn chặn NF-kB, một phân tử trong cơ thể bạn di chuyển vào nhân tế bào để kích hoạt các gene làm tăng tình trạng viêm.

    Tác dụng của các loại ngũ cốc nguyên hạt với chức năng gan thận và người vảy nến

    Tác dụng của các loại rau xanh đối với chức năng gan thận và người vảy nến

    Tác dụng của hạt đu đủ với chức năng gan thận

    Thường thì khi ăn đu đủ mọi người sẽ bỏ hạt và không ăn, nhưng loại hạt này lại mang đến nhiều lợi ích cho cơ thể. Theo nhiều nghiên cứu loại hạt này như 1 phương thuốc tuyệt vời cho các vấn đề về gan. Đối với thận, hạt đu đủ có thể bảo vệ thận. Loại hạt này cũng rất giàu chất chống oxy hóa. Có thể ngăn chặn thiệt hại oxy hóa cho các tế bào của bạn. Từ đó giúp bảo vệ sức khỏe thận. Ngoài ra thì hạt đu đủ có các tác dụng giảm viêm, đau khớp và kháng khuẩn. Giúp các vết thương giảm sưng, đỏ và viêm gây đau nhức từ các bệnh về khớp. Các nghiên cứu chỉ ra hạt đu đủ có tác dụng giảm viêm kháng khuẩn mạnh mẽ ở hệ tiêu hóa giúp tiêu diệt vi khuẩn.

    Tuy nhiên, bạn cần ăn một lượng vừa đủ không lạm dụng. Tốt nhất nên ăn khoảng 1 thìa cafe nhỏ hạt đu đủ mỗi ngày sẽ tốt.Ngoài ra thì bạn cũng có thể sử dụng các sản phẩm chăm sóc gan thận từ thảo dược. Bạn có thể tham khảo

    Hoàn Bì Khang – giúp cải thiện chức năng gan thận và người vảy nến

    Đây là một sản phẩm của công ty TNHH thảo dược thiên nhiên Ánh Mai được sản xuất nhằm hỗ trợ tốt cho người bị vảy nến. Đặc biệt là những người có chức năng gan thận không tốt do ảnh hưởng của bệnh vảy nến. Với các thành phần chủ yếu từ thảo dược thiên nhiên: cao mè đen, cao bồ công anh, cao nghệ vàng … Hoàn Bì Khang Ami là sản phẩm tốt cho người vảy nến gặp các vấn đề với gan.

    Tác dụng của Hoàn Bì Khang Ami

    Sản phẩm giúp thanh nhiệt, mát gan, giải độc gian, giảm tình trạng nóng trong và hỗ trợ tăng cường chức năng gan.

    =================================

    CN CÔNG TY TNHH THẢO DƯỢC THIÊN NHIÊN ÁNH MAI

    Địa chỉ: Đội 13, Thôn Hành Lạc, Thị Trấn Như Quỳnh, Huyện Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên

    Điện thoại: 02473 022 266

    Hotline tư vấn Miễn Phí: 0989 215 096 / 0966 929 656

    Website: https://kemhoanda.com/

    Facebook: https://www.facebook.com/kemvaynen.vn

    Fanpage 1: https://www.facebook.com/kemhoanda/

    Fanpage 2: https://www.facebook.com/thaoduocanhmai/

    Fanpage 3: https://www.facebook.com/kemhoandaami/

    Youtube: https://www.youtube.com/channel/UCXrbiNQCs8d0IQCFcGGs_Sw

    Zalo: http://zalo.me/3052995520703593991

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Thận Kém, Nguy Cơ Nhiễm Độc Thận Nếu Trả Lời “có” 6 Câu Hỏi Này!
  • Thuốc Đại Tràng Bảo Nguyên Có Tốt Không? Giá Tiền, Tác Dụng Và Cách Dùng
  • Sản Phẩm Sắc Ngọc Khang Có Tốt Không Mà Bị Thu Hồi Giấy Công Bố?
  • Xét Nghiệm Ggt Là Gì Và Khi Nào Cần Xét Nghiệm
  • Ý Nghĩa Của Chỉ Số Xét Nghiệm Sinh Hoá Ggt
  • Phòng Quan Hệ Đối Ngoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Kinh Tế Đối Ngoại Và Hỗ Trợ Doanh Nghiệp
  • Đối Ngoại Việt Nam 2022: Bản Lĩnh Và Tâm Thế Mới
  • Phòng Hợp Tác Quốc Tế
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Của Sở
  • Những Việc Làm Thiết Thực, Hiệu Quả Ở Phòng An Ninh Đối Nội
  • 1. Quan hệ đối ngoại

    -  Xây dựng mục tiêu và kế hoạch tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, phát triển thương hiệu và hình ảnh của Trường.

    -  Chủ động tìm kiếm, tìm hiểu các tổ chức, cá nhân có năng lực, uy tín và thiện chí hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, NCKH, giới công nghiệp, … để đề xuất với Hiệu trưởng xác lập quan hệ hợp tác. Đề xuất phương án chọn lựa đối tác, lĩnh vực hợp tác. Duy trì mối quan hệ hợp tác với đối tác.

    làm việc tại Trường; theo dõi, đánh giá kết quả làm việc và rút kinh nghiệm để tham mưu cho Hiệu trưởng.

    -  Đầu mối giao tiếp: sắp xếp lịch làm việc, tiếp đón khách trong nước của Trường. Đảm bảo chỗ ăn, ở thuận lợi, chu đáo cho khách trong thời gian công tác tại Trường. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho lãnh đạo cấp Trường đi công tác.

    -  Chuẩn bị, tổ chức các buổi làm việc và ghi chép biên bản các phiên làm việc giữa lãnh đạo Trường với các đoàn khách nước ngoài.

    -  Xin phép tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, sinh hoạt học thuật quốc tế. Phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, sinh hoạt học thuật quốc tế,

    -  Xây dựng/triển khai các chương trình giao lưu, trao đổi học thuật với các đối tác.

    -  Tiếp nhận, soạn thảo, dịch và gửi các tài liệu, thư, điện phục vụ cho các hoạt động quan hệ quốc tế chung của Trường. Dịch các bảng điểm, văn bằng, chứng chỉ do Trường cấp sang tiếng Anh cho người học. Chứng nhận các bản dịch thư mời đi công tác nước ngoài.

    2. Quản lý dự án

    -  Xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế, xây dựng tiếp nhận và quản lý các dự án quốc tế của Trường. Tổ chức ký kết, theo dõi thực hiện, đánh giá định kỳ, tổng kết và đánh giá kết thúc các dự án hợp tác quốc tế.

    -  Tìm kiếm và quản lý các chương trình học bổng quốc tế (đại học và sau đại học) cho SV và cán bộ của Trường.

    -  Phối hợp với Đoàn thanh niên, Hội sinh viên tìm các nguồn học bổng cho SV từ trong và ngoài nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Trưởng Tô Lâm Kiểm Tra Công Tác Tại Cục An Ninh Đối Ngoại
  • Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ An Ninh Tinh Thông, Sắc Bén Về Nghiệp Vụ
  • Phòng An Ninh Đối Nội Triển Khai Chương Trình Công Tác Năm 2022
  • Đảng Bộ Phòng An Ninh Đối Ngoại, Công An Tỉnh: Vững Vàng Hướng Tới Nhiệm Kỳ Mới
  • Nhiệm Vụ, Ký Hiệu, Ý Nghĩa Từng Vị Trí
  • Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Tài Chính Tiền Tệ
  • Trường Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An
  • Chức Năng Nào Dưới Đây Là Một Trong Những Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 2: Hàng Hóa
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Hàng Hóa
  • 13078

    Quan điểm của K.Marx: tiền tệ bao gồm 5 chức năng: Chức năng thước đo giá trị, Chức năng phương tiện lưu thông, Chức năng phương tiện thanh toán, Chức năng phương tiện dự trữ, Chức năng tiền tệ thế giới.

    Mối quan hệ giữa các chức năng của tiền tệ

    – Chức năng thước đo giá trị

    Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng:

    + Giá trị hàng hoá.

    + Giá trị của tiền.

    + Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

    Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

    – Chức năng phương tiện lưu thông

    Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá. Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

    – Chức năng phương tiện cất trữ

    Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    – Chức năng phương tiện thanh toán

    Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    – Chức năng tiền tệ thế giới

    Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Bản Chất Và Chức Năng Tiền Tệ
  • Chức Năng Cất Trữ Giá Trị (Store Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Đâu Không Phải Là Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ (Chuc Nang Cua Tien Te)
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam
  • Các Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Quản Trị Công Ty Chip & Chip
  • Chặn Người Dùng Wifi, Xem Ai Đang Sử Dụng Wifi Chùa Và Ngắt Kết Nối
  • Trình Quản Lý Thiết Bị Android Là Gì, Cách Bật, Tắt, Sử Dụng Ra Sao?
  • Phần Mềm Quản Lý Máy Móc Thiết Bị
  • Kích Hoạt, Tắt Tài Khoản Quản Trị Ẩn Trên Windows 7, 8, 8.1, 10.
  • Các chức năng quản trị trong đều có vai trò vô cùng quan trọng quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi chức năng quản đều có mỗi quan hệ mật thiết và bổ trợ lẫn nhau. Cùng Luận Văn Việt tìm hiểu ngay qua bài viết sau đây.

    Quản trị là một khái niệm rất cần thiết trong bất kỳ công việc nào hay các hoạt động đời sống hàng ngày. Quản trị một tổ chức là sự phối hợp của nhiều nhóm người, nhiều công cụ khác nhau để cùng nhau hoàn thành một loạt các nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức đó.

    Các chức năng chính của quản trị bên dưới sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn:

    Hoạch định là việc hoạch định những kế hoạch và định hướng cho doanh nghiệp trong tương lai. Với sự chi tiết và hợp lý giúp doanh nghiệp được hoạt động có lộ trình và phát triển theo từng giai đoạn.

    Việc hoạch định là công việc quan trọng gắn liền với tầm nhìn phát triển của công ty, do đó đòi hỏi sự đóng góp của toàn bộ cán bộ, đoàn thể của nhân viên, với sự dẫn dắt của ban lãnh đạo doanh nghiệp.

    Hai yếu tố quan trọng nhất của hoạch định là cách thức thực hiện và thời gian. Nhà quản trị phải lên kế hoạch điều phối hợp lí giữa hai yếu tố đó, thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các phòng ban khác nhau. Hoạt động hoạch định cũng phải tận dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp để đảm bảo kế hoạch đề ra được triển khai thuận lợi.

    Đây là chức năng giúp doanh nghiệp có thể vận hành trơn tru và liên tục, duy trì sự phát triển bền vững trong tương lai. Một cơ cấu tổ chức tốt có nghĩa là doanh nghiệp ấy có đủ nguồn lực về tài chính, nhân sự, nguyên vật liệu,… được xây dựng thành một tổ chức chặt chẽ.

    Duy trì chức năng tổ chức hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng phát triển cả chiều dài lẫn chiều rộng, duy trì sự bền vững lâu dài. Chức năng quản trị tổ chức luôn luôn linh hoạt và thay đổi để đáp ứng được mục đích phát triển của doanh nghiệp cũng như tình hình thị trường.

    Chức năng chỉ đạo tốt khi chức năng của nhà quản trị được thể hiện rõ nét, nhà quản trị biết tạo động lực và khuyến khích sự sáng tạo của nhân viên sẽ giúp cho nhân viên phát huy hết năng lực và đóng góp lớn nhất vào doanh nghiệp.

    Là chức năng điều chỉnh tất cả các hoạt động để chúng được phối hợp một cách ăn ý, nhuần nhuyễn, giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả nhất. Chính sự ảnh hưởng từ thái độ, cách ứng xử của nhân viên sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phối hợp công việc giữa các phòng ban và các cấp quản lý.

    Chức năng của việc điều phối trong quản trị giúp cho doanh nghiệp hoạt động trơn tru, kỷ luật và tạo không khí thoải mái cho các phòng ban. Để chức năng quản trị điều phối hiệu quả, các nhà quản lý cần có năng lực quản trị tốt, thông qua quản trị cách ứng xử và phối hợp hoạt động của nhân sự, doanh nghiệp mới có thể đạt được mục tiêu đặt ra.

    Kiểm soát nghĩa là những công việc theo dõi tình hình hoạt động của doanh nghiệp, quản lý hiệu quả công việc của nhân viên, xem xét liệu rằng các nhân viên có đáp ứng đúng mục tiêu công việc đưa ra hay không.

    Chức năng quản trị kiểm soát giúp thiết lập tiêu chuẩn các hoạt động của doanh nghiệp, đưa ra những KPI hợp lý và đo lường, lập báo cáo hoạt động thực tế cho doanh nghiệp.

    Chức năng kiểm soát sẽ giúp doanh nghiệp có được góc nhìn rộng và thực tế trong hiệu quả kinh doanh, đưa ra các dự báo rủi ro và kế hoạch phòng ngừa cũng như phát triển hợp lý trong tương lai.

    Các chức năng quản trị có sự liên kết với nhau, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, các chức năng quản trị cũng sẽ giúp doanh nghiệp quản trị được nguồn lực và duy trì sự phát triển bền vững trong tương lai.

    Các doanh nghiệp lớn có cấp quản trị rõ ràng, và phân cấp bậc, những nhà quản trị lớn chỉ tập trung thời gian vào quản lý những nhà quản trị cấp trung.

    Trong một doanh nghiệp, các cấp quản trị được phân công ở nhiều mức độ khác nhau, mỗi cấp độ sẽ có một vai trò và vị trí nhất định trong tổ chức, cấp độ quản trị càng cao thì chức năng hoạch định và tổ chức càng cao, và ngược lại, chức năng điều hành càng thấp khi cấp quản trị càng thấp.

    Các chức năng của quản trị có mối quan hệ gắn kết với nhau, chức năng này bổ trợ cho chức năng kia, các chức năng quản trị phối hợp hài hòa sẽ giúp tổ chức phát triển và lớn mạnh hơn qua thời gian.

    Như vậy, qua bài viết trên, các bạn hiểu hơn về chức năng quản trị rồi đúng không? Với những chia sẻ trên, Luận Văn Việt hy vọng rằng bạn đã thật tự tin trong kiến thức của mình và định hướng tốt cho lộ trình phát triển của mình trong vai trò các nhà quản trị tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Hạn Của Trưởng Ban Quản Trị Nhà Chung Cư
  • Cư Dân Chung Cư Cần Biết: Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ban Quản Trị Chung Cư?
  • Kinh Tế Chia Sẻ: Sân Nhà Về Tay Đội Khách
  • Chức Năng Của Kế Toán Quản Trị
  • Quản Lý Vận Hành Nhà Chung Cư: Tranh Nhau Vào Ban Quản Trị Để Trục Lợi?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Đối Ngoại

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Nhiệm Vụ Công Tác Đối Ngoại Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ
  • Những Điểm Mới Và Những Nội Dung Cốt Lõi Của Đường Lối Đối Ngoại Trong Văn Kiện Đại Hội Xii Của Đảng
  • Đảng Bộ Cơ Quan Ban Đối Ngoại Trung Ương Phát Huy Vai Trò Của Tổ Chức Đảng Và Đảng Viên Trong Việc Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Của Cơ Quan
  • Ban Đối Ngoại Trung Ương: 65 Năm Vững Bước, Trưởng Thành
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Ban Tuyên Giáo Trung Ương
  • Ngoài các yếu tố về chất lượng sản phẩm, hay nguồn nhân lực thì các mối quan hệ hợp tác cũng góp phần quan trọng vào sự phát triển của doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thì việc đẩy mạnh các mối quan hệ đối ngoại lại càng được chú trọng hơn nữa. Lúc này vai trò của phòng đối ngoại đối với sự thành bại của doanh nghiệp lại càng rõ nét hơn.

    Trong bài viết này HRchannels sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phòng đối ngoại và chức năng, nhiệm vụ của bộ phận này trong doanh nghiệp.

    Tầm quan trọng của phòng đối ngoại

    Chức năng, nhiệm vụ của phòng đối ngoại

    1. Gia tăng độ nhận diện thương hiệu, hình ảnh công ty với các đối tượng tiềm năng

    2. Quản lý mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các cơ quan truyền thông

    Mặc dù công chúng là đối tượng phòng đối ngoại cần hướng đến. Tuy nhiên để có thể tiếp cận với các đối tượng công chúng mục tiêu, phòng đối ngoại cần sự hỗ trợ của các cơ quan truyền thông. Bởi vì các cơ quan truyền thông có tác động rất lớn đến sự nhận thức của công chúng.

    Nhiệm vụ của phòng đối ngoại làm việc với các đơn vị cung cấp các dịch vụ, các cơ quan truyền thông. Chịu trách nhiệm tổ chức các sự kiện, các buổi phỏng vấn và các buổi gặp gỡ với giới truyền thông. Qua đó, xây dựng mối quan hệ đối ngoại và phát triển hình ảnh công ty trong mắt công chúng.

    Bên cạnh đó, phòng đối ngoại cũng là bộ phận liên hệ với các cơ quan truyền thông để triển khai các chương trình, chiến dịch nhằm quảng bá hình ảnh thương hiệu. Đồng thời phối hợp với cơ quan truyền thông trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông.

    3. Thực hiện các hoạt động nhằm phát triển các mối quan hệ đối ngoại chiến lược cho công ty

    Trong doanh nghiệp, phòng đối ngoại là bộ phận có nhiệm vụ xây dựng các mối quan hệ chiến lược với các đối tượng bên ngoài. Đó có thể là khách hàng, đối tác, nhà đầu tư và các cơ quan truyền thông.

    4. Xây dựng và thực hiện các kế hoạch chiến lược nhằm phát triển các mối quan hệ với công chúng

    Mục tiêu của các hoạt động truyền thông và PR đều là tiếp cận với công chúng một cách hiệu quả. Trong vai trò của mình, phòng đối ngoại có nhiệm vụ tham gia vào các chương trình xây dựng thương hiệu, các hoạt động truyền thông và PR của doanh nghiệp.

    Phòng đối ngoại sẽ tiến hành việc khảo sát ý kiến, nghiên cứu thái độ của công chúng đối với các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh và độ nhận diện thương hiệu. Từ các kết quả phân tích nhận được, phòng đối ngoại sẽ xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch, dự tính kết quả, tính toán chi phí của mỗi chiến dịch truyền thông hay sự kiện. Bên cạnh đó, họ cũng theo dõi sát quá trình thực hiện kế hoạch, đảm bảo kế hoạch đạt hiệu quả tốt nhất và đúng tiến độ đã đặt ra.

    HRchannels – Great Solution. Great People!

    HRchannels – Dịch vụ tuyển dụng cao cấp

    Hotline: 08. 3636. 1080

    Email: [email protected] / [email protected]

    Website: www.hrchannels.com

    Địa chỉ: Tầng 10, CIT Building, Ngõ 15 Duy Tân – Cầu Giấy – Hà Nội

    Nguồn ảnh: internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Dấu Ấn Đối Ngoại Việt Nam 2022
  • Kinh Tế Đối Ngoại Nước Ta Hiện Nay: Tình Hình Và Các Giải Pháp
  • Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại
  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại Đối Với Sự Phát Triển Của Một Quốc Gia
  • Kinh Tế Đối Ngoại Là Gì? Các Tiềm Năng Ngành Kinh Tế Đối Ngoại
  • Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Nhà Quản Trị
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Quản Lý Nhà Nước Là Gì? Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước
  • Quản trị là việc thiết yếu trong mỗi tổ chức. Vậy chức năng quản trị là gì? Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị ra sao? Hãy tìm hiểu trong bài viết sau. Các chức năng của quản trị

    Chức năng quản trị là gì?

    Chức năng quản trị là những hoạt động riêng biệt của quản trị thể hiện những phương thức tác động của quản trị viên đến các lĩnh vực quản trị trong doanh nghiệp.

    Hoạt động quản trị của con người đã ra đời từ rất lâu nhưng khi con người đã tổ chức các nhà máy, xí nghiệp khổng lồ và đạt được các tiến bộ to lớn về kỹ thuật nhưng khoa học quản trị vẫn chưa được quan tâm đến.

    Phân loại các chức năng của quản trị

    Trong bài viết này, chúng ta sẽ phân loại các chức năng của quản trị theo quan điểm của nhiều nhà khoa học quản trị.

    1. Phân loại quản trị theo Henry Fayol

    Henry Fayol là một nhà khoa học quản trị của Pháp. Bạn có thể tìm hiểu thêm quy tắc quản trị của ông trong bài viết:

    14 nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của Henry Fayol

    Chức năng quản trị được ông chia thành 5 phần, bao gồm:

    Hoạch định: “Doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi nó được hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động, một kế hoạch nhất định nhằm xác định rõ: Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Bán cho ai? Với nguồn tài chính nào?”

    Tổ chức: “Tổ chức một doanh nghiệp tức là trang bị tất cả những gì cần cho hoạt động của nó bao gồm: máy móc, vốn, nhân viên, vật liệu…”

    Phối hợp: “Phối hợp là việc làm cho đồng bộ giữa tất cả những hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi nhuận dễ dàng và có hiệu quả”.

    Chỉ huy: “Có thể xã hội đã được xây dựng xong, giờ chúng ta chỉ việc làm cho nó hoạt động, đó chính là nhiệm vụ của người chỉ huy”.

    Kiểm soát: “Kiểm tra thực chất là quá trình xem lại tất cả việc đã được tiến hành phù hợp với chương trình đã định với những mệnh lệnh đã ban bố và những nguyên lý đã thừa nhận”.

    P: Planning – Hoạch định

    O: Organizing – Tổ chức

    S: Staffing – Nhân sự

    D: Directing – Chỉ huy

    CO: Coordinating – Phối hợp

    R: Reporting – Báo cáo

    B: Budgeting – Ngân sách

    Cách phân loại chức năng quản trị này thể hiện tính kế thừa và phát triển. Có 2 nhân tố ảnh hưởng tới khoa học quản trị ở thời kì này chính là:

    – Sự hình thành các tập đoàn doanh nghiệp dẫn đến việc phải đổi mới vấn đề tổ chức – đặc biệt là việc tuyển dụng các nhân viên quản trị có học vấn vào các vị trí cao cấp.

    – Sự thâm nhập của giới ngân hàng vào hoạt động của các doanh nghiệp với tư cách là các quản trị viên cấp cao.

    3. Phân loại theo H. Koontz và C. O’Donnell

    Kế thừa lại cách phân loại của Fayol, hai nhà khoa học người Mỹ đã phân loại thành 4 chức năng quản trị cơ bản bao gồm:

    – Xác định triết lý, giáo lý và chính sách kinh doanh

    – Kế hoạch kinh doanh và kiểm tra

    – Tổ chức và chỉ huy

    – Phát triển nhà quản trị

    Nội dung của các chức năng quản trị

    Nội dung của các chức năng quản trị Hoạch định

    Là chức năng đầu tiên trong quản trị bao gồm các công việc: Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược tổng thể, thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động.

    Tổ chức

    Bao gồm việc xác định những việc phải làm, những ai tham gia làm việc đó, các công việc sẽ được phối hợp lại với nhau như thế nào? Những bộ phận nào cần phải được thành lập? Quan hệ phân công và trách nhiệm giữa các bộ phận đó, hệ thống quyền hành trong doanh nghiệp.

    Chỉ huy

    Công việc trong doanh nghiệp cần phải có người thực hiện. Để có người làm việc, nhà quản trị cần phải tuyển chọn, thu hút người làm việc, bố trí, bồi dưỡng, động viên và khích lệ nhân viên.

    Việc thiết lập quyền hành và sử dụng quyền hành đó để giao việc cho nhân viên, đưa ra các nội quy, quy định làm việc và ủy quyền cho người khác… là nội dung của chức năng chỉ huy.

    Phối hợp

    Chức năng này bao gồm: Phối hợp theo chiều dọc, nghĩa là phối hợp giữa các cấp quản trị và phối hợp theo chiều ngang nghĩa là phối hợp giữa các chức năng, các lĩnh vực quản trị.

    Kiểm soát

    Chức năng này bao gồm việc xác định thu thập thông tin về thành quả thực tế, so sánh với thành quả kỳ vọng và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch nhằm đảm bảo tổ chức đang đi đúng hướng giúp hoàn thành mục tiêu.

    Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị

    Quan hệ giữa chức năng quản trị với quy mô doanh nghiệp

    Việc thực hiện số lượng các chức năng quản trị ở doanh nghiệp lớn và nhỏ là giống nhau. Tuy nhiên việc đảm bảo chức năng quản trị của các cấp quản trị trong những doanh nghiệp có quy mô khác nhau là khác nhau.

    Điều này thể hiện ở việc các doanh nghiệp nhỏ có cấp quản trị cao nhất có thể can thiệp và điều hành cả những công việc của cấp dưới, trong khi ở các doanh nghiệp lớn thì chức năng quản trị được phân cấp khá rành rọt, cấp quản trị cao nhất chỉ tập trung thời gian vào những chức năng thiết yếu.

    Quan hệ giữa chức năng quản trị với các cấp quản trị

    Trong một doanh nghiệp, các cấp quản trị được phân chia một cách khách quan việc đảm trách các chức năng này ở các mức độ khác nhau. Chức năng hoạch định và tổ chức giảm dần theo cấp quản trị trong khi đó, chức năng điều hành lại tăng lên ở cấp quản trị thấp nhất

    Tính quốc tế của chức năng quản trị

    Mặc dù việc vận dụng các chức năng quản trị vào hệ thống doanh nghiệp ở từng quốc gia, khu vực có thể khác nhau về vai trò, tính chất quan trọng của từng chức năng nhưng xét về tổng thể thì các chức năng theo phân loại của Fayol vẫn được mọi quốc gia công nhận.

    Có thể nói phát minh phân loại chức năng quản lý của Fayol là cơ sở quyết định cho sự tiến bộ của khoa học quản trị từ thế kỷ 20.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Quản Trị
  • Trình Bày Các Chức Năng Của Quản Lý Giáo Dục
  • 4 Chức Năng Của Nhà Quản Lý
  • Khái Niệm, Vai Trò Và Chức Năng Của Quản Lý
  • Bài 20. Cấu Tạo Trong Của Phiến Lá
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Quản Trị Công Ty Chip & Chip

    --- Bài mới hơn ---

  • Chặn Người Dùng Wifi, Xem Ai Đang Sử Dụng Wifi Chùa Và Ngắt Kết Nối
  • Trình Quản Lý Thiết Bị Android Là Gì, Cách Bật, Tắt, Sử Dụng Ra Sao?
  • Phần Mềm Quản Lý Máy Móc Thiết Bị
  • Kích Hoạt, Tắt Tài Khoản Quản Trị Ẩn Trên Windows 7, 8, 8.1, 10.
  • Cài Đặt Global Tracker Watch Quản Lý Thiết Bị Định Vị Gps09
  • Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị Công ty Chip & Chip và hiệu quả hoạt động của DN. NẮM BẮT TÂM LÝ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY CHIP & CHIP

    Công ty Chip & Chip chuyên sản xuất sản phẩm về bánh kẹo. Công ty sản xuất chủ yếu là những sản phẩm chiết xuất tinh chất như lá cây bạc hà và nhiều lá cây khác. Công ty đạt doanh thu hàng năm khoảng 2,5 triệu USD, doanh thu ổn định trong thời gian dài.

    Nhận giải bài tập case study giá rẻ

    Quản trị là việc thiết yếu trong mỗi tổ chức. Vậy chức năng quản trị là gì? Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị ra sao? Hãy tìm hiểu trong bài viết sau.

    Chức năng quản trị là gì?

    Chức năng quản trị là những hoạt động riêng biệt của quản trị thể hiện những phương thức tác động của quản trị viên đến các lĩnh vực quản trị trong doanh nghiệp.

    Hoạt động quản trị của con người đã ra đời từ rất lâu nhưng khi con người đã tổ chức các nhà máy, xí nghiệp khổng lồ và đạt được các tiến bộ to lớn về kỹ thuật nhưng khoa học quản trị vẫn chưa được quan tâm đến.

    Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị

    Quan hệ giữa chức năng quản trị với quy mô doanh nghiệp

    Việc thực hiện số lượng các chức năng quản trị ở doanh nghiệp lớn và nhỏ là giống nhau. Tuy nhiên việc đảm bảo chức năng quản trị của các cấp quản trị trong những doanh nghiệp có quy mô khác nhau là khác nhau.

    Điều này thể hiện ở việc các doanh nghiệp nhỏ có cấp quản trị cao nhất có thể can thiệp và điều hành cả những công việc của cấp dưới, trong khi ở các doanh nghiệp lớn thì chức năng quản trị được phân cấp khá rành rọt, cấp quản trị cao nhất chỉ tập trung thời gian vào những chức năng thiết yếu.

    Quan hệ giữa chức năng quản trị với các cấp quản trị

    Trong một doanh nghiệp, các cấp quản trị được phân chia một cách khách quan việc đảm trách các chức năng này ở các mức độ khác nhau. Chức năng hoạch định và tổ chức giảm dần theo cấp quản trị trong khi đó, chức năng điều hành lại tăng lên ở cấp quản trị thấp nhất

    Tính quốc tế của chức năng quản trị

    Mặc dù việc vận dụng các chức năng quản trị vào hệ thống doanh nghiệp ở từng quốc gia, khu vực có thể khác nhau về vai trò, tính chất quan trọng của từng chức năng nhưng xét về tổng thể thì các chức năng theo phân loại của Fayol vẫn được mọi quốc gia công nhận.

    Có thể nói phát minh phân loại chức năng quản lý của Fayol là cơ sở quyết định cho sự tiến bộ của khoa học quản trị từ thế kỷ 20.

    Nội dung của các chức năng quản trị

    Là chức năng đầu tiên trong quản trị bao gồm các công việc: Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược tổng thể, thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động.

    Bao gồm việc xác định những việc phải làm, những ai tham gia làm việc đó, các công việc sẽ được phối hợp lại với nhau như thế nào? Những bộ phận nào cần phải được thành lập? Quan hệ phân công và trách nhiệm giữa các bộ phận đó, hệ thống quyền hành trong doanh nghiệp.

    Công việc trong doanh nghiệp cần phải có người thực hiện. Để có người làm việc, nhà quản trị cần phải tuyển chọn, thu hút người làm việc, bố trí, bồi dưỡng, động viên và khích lệ nhân viên.

    Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị Công ty Chip & Chip. NẮM BẮT TÂM LÝ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY CHIP & CHIP

    Việc thiết lập quyền hành và sử dụng quyền hành đó để giao việc cho nhân viên, đưa ra các nội quy, quy định làm việc và ủy quyền cho người khác… là nội dung của chức năng chỉ huy.

    Chức năng này bao gồm: Phối hợp theo chiều dọc, nghĩa là phối hợp giữa các cấp quản trị và phối hợp theo chiều ngang nghĩa là phối hợp giữa các chức năng, các lĩnh vực quản trị.

    Chức năng này bao gồm việc xác định thu thập thông tin về thành quả thực tế, so sánh với thành quả kỳ vọng và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch nhằm đảm bảo tổ chức đang đi đúng hướng giúp hoàn thành mục tiêu.

    Phân loại các chức năng của quản trị

    Trong bài viết này, chúng ta sẽ phân loại các chức năng của quản trị theo quan điểm của nhiều nhà khoa học quản trị.

    1. Phân loại quản trị theo Henry Fayol

    Henry Fayol là một nhà khoa học quản trị của Pháp. Bạn có thể tìm hiểu thêm quy tắc quản trị của ông trong bài viết:

    Chức năng quản trị được ông chia thành 5 phần, bao gồm:

    • Hoạch định: “Doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi nó được hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động, một kế hoạch nhất định nhằm xác định rõ: Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Bán cho ai? Với nguồn tài chính nào?”
    • Tổ chức: “Tổ chức một doanh nghiệp tức là trang bị tất cả những gì cần cho hoạt động của nó bao gồm: máy móc, vốn, nhân viên, vật liệu…”
    • Phối hợp: “Phối hợp là việc làm cho đồng bộ giữa tất cả những hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi nhuận dễ dàng và có hiệu quả”.
    • Chỉ huy: “Có thể xã hội đã được xây dựng xong, giờ chúng ta chỉ việc làm cho nó hoạt động, đó chính là nhiệm vụ của người chỉ huy”.

    Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị Công ty Chip & Chip. NẮM BẮT TÂM LÝ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY CHIP & CHIP

      Kiểm soát: “Kiểm tra thực chất là quá trình xem lại tất cả việc đã được tiến hành phù hợp với chương trình đã định với những mệnh lệnh đã ban bố và những nguyên lý đã thừa nhận”.

    P: Planning – Hoạch định

    O: Organizing – Tổ chức

    S: Staffing – Nhân sự

    D: Directing – Chỉ huy

    CO: Coordinating – Phối hợp

    R: Reporting – Báo cáo

    B: Budgeting – Ngân sách

    Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị Công ty Chip & Chip. NẮM BẮT TÂM LÝ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY CHIP & CHIP

    Cách phân loại chức năng quản trị này thể hiện tính kế thừa và phát triển. Có 2 nhân tố ảnh hưởng tới khoa học quản trị ở thời kì này chính là:

    • Sự hình thành các tập đoàn doanh nghiệp dẫn đến việc phải đổi mới vấn đề tổ chức – đặc biệt là việc tuyển dụng các nhân viên quản trị có học vấn vào các vị trí cao cấp.
    • Sự thâm nhập của giới ngân hàng vào hoạt động của các doanh nghiệp với tư cách là các quản trị viên cấp cao.

    3. Phân loại theo H. Koontz và C. O’Donnell

    Kế thừa lại cách phân loại của Fayol, hai nhà khoa học người Mỹ đã phân loại thành 4 chức năng quản trị cơ bản bao gồm:

    • Xác định triết lý, giáo lý và chính sách kinh doanh
    • Kế hoạch kinh doanh và kiểm tra
    • Tổ chức và chỉ huy
    • Phát triển nhà quản trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng
  • Quyền Hạn Của Trưởng Ban Quản Trị Nhà Chung Cư
  • Cư Dân Chung Cư Cần Biết: Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ban Quản Trị Chung Cư?
  • Kinh Tế Chia Sẻ: Sân Nhà Về Tay Đội Khách
  • Chức Năng Của Kế Toán Quản Trị
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Của Văn Học
  • Đối Nội Là Gì? Những Chính Sách Đối Nội Hiện Nay Ở Việt Nam
  • Samsung Ra Mắt Đồng Hồ Thông Minh Galaxy Watch Active: Xu Hướng Thời Trang, Phong Cách Năng Động
  • Samsung Ra Mắt Đồng Hồ Thông Minh Galaxy Watch Active2 Tại Việt Nam: Khả Năng Theo Dõi Sức Khỏe Và Kết Nối Không Dây Vượt Trội
  • Đồng Hồ Thông Minh Samsung
  • 1. Đối tượng của văn học

    Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Văn học là một trong số các hình thái chiếm lĩnh thế giới bằng nghệ thuật.Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác có đối tượng là thế giới con người, các quan hệ đa dạng của con người với thực tại.Nói cách khác, đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực khách quan trong mối liên hệ sinh động, muôn màu với cuộc sống con người. Hiện thực khách quan là cơ sở phản ánh, thể hiện của tác phẩm văn học, nhưng văn học chiếm lĩnh thế giới khách quan theo cách riêng của mình.

    2. Nội dung của văn học

    Từ sự ý thức về sự sống, văn học phản ánh cuộc sống trong tính toàn vẹn, cụ thể, cảm tính mà con người chủ thể là trung tâm. Văn học làm sống dậy những con người cá thể với những hành động, những quy tắc ứng xử do quan hệ của nhân vật và hoàn cảnh xung quanh hoặc thời đại lịch sử tạo nên. Văn học phản ánh hiện thực nhưng không sao chép giản đơn lại hiện thực đó.Những khoảng trống, những cuộc đời và số phận trong tác phẩm văn học đã được ý thức, lí giải theo nhiều góc độ, nhiều quan điểm khác nhau.Nội dung của văn học bao giờ cũng thể hiện những quan niệm, những của nhà văn về cuộc sống.

    Tóm lại, nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tưởng và giá trị, gắn liền với quan niệm về chân lí đời sống, với cảm hứng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá.

    3. Chức năng của văn học

    Văn học là “sách giáo khoa về cuộc sống”. Khổng Tử dạy ” Kinh thi có thể làm cho người ta phấn chấn, biết xem xét, biết hợp quần, biết oán giận”(Luận ngữ-Thiên Dương hoá). Nguyễn Đình Chiểu cũng viết ” Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà “. Những nhận định đó cho thấy tác dụng to lớn của văn học, trong đó tiêu biểu là ba chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ.

    a. Chức năng nhận thức

    Văn học phản ánh thế giới, giúp người đọc hiểu về cuộc sống muôn màu. Đó là những tri thức về thế giới loài vật, cây cỏ hoa lá, những tri thức về phong tục tập quán, về con người. Điều này lí giải tại sao chúng ta có thể tìm thấy những cứ liệu lịch sử, những tài liệu về xã hội học, dân tộc học trong các tác phẩm văn học. Ta có thể biết được tục ăn trầu, tục thách cưới, tục nối dây,…chính nhờ hàng loạt những tác phẩm thần thoại, cổ tích, sử thi được ghi chép, lưu truyền lại.

    Đặc điểm nhận thức của nghệ thuật gắn liền với bản thân đối tượng và yêu cầu nhận thức riêng của nó. Nghệ thuật hướng về hai đối tượng cơ bản xã hội và con người, nhưng không phải là ghi chép đời sống và mô tả con người mà là nghiên cứu đời sống xã hội và con người.Ở đây, văn học nghệ thuật đồng nghĩa với quá trình “hiểu biết, khám phá và sáng tạo” (Phạm Văn Đồng- dẫn theo Phương Lựu, sđd, trang 169). Khám phá thể hiện ở những khái quát mà nhà văn đạt tới và những vấn đề mà nhà văn nêu ra trong tác phẩm, thậm chí cả những dự báo về tương lai Văn học còn thể hiện chức năng nhận thức thông qua hoạt động tự nhận thức của chính nhà văn.Ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật về con người còn thể hiện ở việc khám phá ra tính cách xã hội điển hình của một giai đoạn, một xã hội, một tầng lớp nào đó. Nó cũng thể hiện trong việc lí giải con người và đặc biệt là vào thế giới bên trong của con người, vào các quá trình tư duy và tình cảm của nó.

    b. Chức năng giáo dục

    Chức năng giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ với chức năng nhận thức.Văn học có chức năng , cải tạo quan điểm, tư tưởng, đạo dức con người. Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, chức năng giáo dục của văn học bộc lộ khác nhau. Ở ViệtNam, do đặc điểm lịch sử, văn học được sử dụng như một công cụ tuyên truyền giác ngô chính trị và động viên quần chúng, thực sự trở thành một phương tiện giáo dục có sức mạnh to lớn trong các cuộc đấu tranh giữ nước.

    Sự tác động của văn học nghệ thuật không phải là sự thuyết giáo suông, không phải là sự áp đặt mà đi theo một con đường đặc thù. Văn học thực hiện chức năng giáo dục thông qua việc đồng hành, đối thoại với bạn đọc, với khán giả. Đó chính là quá trình tự giáo dục bởi sự thay đổi trong bản thân mỗi người không còn chịu sự tác động từ bên ngoài mà diễn ra một cách tự giác.Có được sự tự giác ấy nhờ văn học có sự hấp dẫn đối với người đọc thông qua đặc trưng riêng về ngôn ngữ, nhân vật, chi tiết, cốt truyện. Sức tác động của văn học theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, mỗi ngày một ít, người đọc chịu sự ảnh hưởng, tự nguyện làm theo một mẫu nhân vật, một quan niệm, một triết lí sống mà không nghĩ rằng mình đã bị ép buộc.

    c. Chức năng thẩm mĩ

    Chức năng thẩm mĩ là chức năng đem lại sự hưởng thụ thẩm mĩ cho con người.Văn học có nhiệm vụ thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ, phát triển năng lực thẩm mĩ và thị hiếu thẩm mĩ của con người một cách toàn diện nhất với những thế mạnh riêng của nó.

    Văn học phản ánh cái đẹp vốn có trong thiên nhiên một cách chọn lọc, khái quát kĩ lưỡng làm nhân đôi giá trị của hiện thực.

    Văn học còn sáng tạo mới, vốn không có trong hiện thực.Tác phẩm chứa đựng cái nhìn mới của nhân vật về thế giới còn mang lại một vẻ đẹp mới của âm thanh, màu sắc, hình khối, ngôn ngữ.

    Tiếp xúc với tác phẩm văn học, được đắm mình trong cái đẹp, con người được bồi dưỡng về năng lực ra cái đẹp. Văn học góp phần bồi dưỡng cảm xúc, bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ của con người, giúp con người biết cảm nhận vẻ đẹp trong tác phẩm, biết khám phá cái đẹp trong cuộc sống. Tác phẩm văn học còn nâng cao thị hiếu thẩm mĩ, giáo dục và những quan niệm và sở thích riêng của con người.

    Chức năng thẩm mĩ có vai trò rất lớn trong các chức năng của văn học nhưng không thể đề cao quá mức chức năng này bởi làm như thế sẽ sa vào quan niệm duy mĩ.

    * Mối quan hệ giữa ba chức năng

    Các chức năng của văn học không tồn tại tách rời mà có sự gắn bó một cách chặt chẽ, nhiều lúc sự phân định rạch ròi là khó có thể thực hiện được. Chức năng này có thể bao hàm một phần của chức năng kia, và do đó, thể hiện tốt chức năng này cũng đồng thời tạo điều kiện cho chức năng kia phát huy tác dụng.Ví dụ, chức năng nhận thức là cơ sở để chức năng giáo dục đạt hiệu quả. Nhận thức tốt thì giáo dục mới đạt hiểu quả cao. Giáo dục thẩm mĩ là một phần của chức năng giáo dục. Bởi một hình tượng văn học có giá trị thẩm mĩ cao sẽ đem lại hiệu quả giáo dục như mong muốn.

    Ngoài các chức năng cơ bản trên, người ta còn xác định thêm những chức năng khác của văn học: chức năng giao tiếp, chức năng giải trí, chức năng dự báo…

    Văn học có sức mạnh to lớn trong cải tạo xã hội, cải biến con người. Vì vậy văn học xứng đáng là một vũ khí đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội. Mọi lực lượng xã hội đều sử dụng văn học như một vũ khí tuyên truyền hữu hiệu cho giai cấp mình. Vì thế, việc chọn lựa sách, hướng dẫn học sinh tiểu học đọc những tác phẩm văn học có tác dụng tốt về nhận thức, về đạo đức và thẩm mĩ có trách nhiệm lớn của giáo viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học. Le Thao Van Hoc Pptx
  • Bắt Giữ 3 Đối Tượng Theo Tà Đạo Hà Mòn Lẩn Trốn 8 Năm Trong Rừng
  • Đại Tá Võ Tấn Phong Tiếp Tục Làm Bí Thư Đảng Ủy Phòng An Ninh Đối Nội
  • Đảng Bộ Phòng An Ninh Đối Nội Tổ Chức Đại Hội Nhiệm Kỳ 2022
  • Phòng An Ninh Đối Nội: Hỗ Trợ Các Địa Phương Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×