Top 18 # Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Đối Nội Và Đối Ngoại Của Nhà Nước / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Quốc Phòng, An Ninh Và Đối Ngoại / 2023

Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc góp phần tạo vị thế, vai trò của Việt Nam đối với an ninh, hòa bình, ổn định của thế giới_Ảnh: TTXVN

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Kế thừa kế sách “tạo lực, lập thế, tranh thời” của tổ tiên ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; phát huy kết quả đường lối lãnh đạo trong cách mạng giải phóng dân tộc, với tinh thần cách mạng tiến công, để phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước, từ năm 1991 đến nay, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, trong đó có đổi mới tư duy về việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã đề cập đến mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh với việc xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng  - an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”(1). Cương lĩnh cũng chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hòa bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy tiềm năng, lực lượng mọi mặt của đất nước, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… vào củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia; việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Do đó, cần phải “phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”(2). Tuy nhiên, lúc này Đảng ta chưa đặt vấn đề kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của đất nước.

Đến Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại mới rõ ràng, cụ thể hơn, nổi bật là nhận thức rõ vai trò của đối ngoại trong các hoạt động quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các hoạt động đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Đảng chủ trương: “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế. Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại”(3). Từ đây, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại luôn được Đảng khẳng định và đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) tiếp tục bổ sung những quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và mối quan hệ giữa các hoạt động này. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại”(4). Điểm mới trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh lúc này là đã cụ thể hóa mối quan hệ đó vào trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đưa vào hoạt động thực tiễn của các cấp, các ngành, trong đó nhấn mạnh cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa quan điểm, nhận thức của Đảng vẫn chỉ tập trung ở lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chưa cụ thể hóa mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành chiến lược, chính sách, kế hoạch cụ thể.

Đến Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, với việc đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã trở nên đầy đủ, toàn diện, cụ thể và có bước phát triển hơn so với các kỳ đại hội trước, không chỉ trong trong hoạt động nhận thức mà còn cả trong hoạt động thực tiễn với sự cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách thành quy hoạch, kế hoạch, quy chế quản lý và phối hợp hoạt động giữa các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đến năm 2005, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Nhà nước đưa vào Luật Quốc phòng. Điều 5 Luật Quốc phòng đã chỉ rõ nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là “kết hợp với hoạt động an ninh và hoạt động đối ngoại”.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định việc “phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(7) là quan điểm nhất quán đối với công tác quản lý, phối hợp các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc tiếp tục chủ động, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy, Đảng đã đề cập trực tiếp và đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đến Đại hội XII (năm 2016), Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”, trong đó xác định quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”(8), và chỉ rõ quá trình hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cho nên cần phải chủ động trong việc dự báo, xử lý linh hoạt, kịp thời mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi. Việc xác định quan điểm nêu trên là rất cần thiết để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động với việc chủ động giữ nước trong thời bình.

Từ sau Đại hội XII của Đảng, các quan điểm nêu trên trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã chủ động kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, năm 2018, Bộ Chính trị đã phê duyệt “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam”, làm cơ sở cho việc hình thành các chiến lược cụ thể, như “Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới”, “Chiến lược Tác chiến trên không gian mạng” và Luật Quốc phòng (sửa đổi) năm 2018. Điều 3 Luật Quốc phòng năm 2018 đã xác định nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là: “Kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại”. Việc kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại được xác định là một trong những nội dung quan trọng của nền quốc phòng toàn dân.

Từ Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đến nay, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã có sự phát triển mới, ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc; từng bước thấy rõ hơn vai trò của an ninh, đối ngoại đối với quốc phòng và sự cần thiết phải gắn chặt quốc phòng, an ninh với đối ngoại trong một chiến lược thống nhất.

Đồng bào vùng biên vừa là những “đại sứ” ngoại giao nhân dân, vừa là những “cột mốc sống” kiên cường bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc_Ảnh: Trần Bảo Hòa

Kết quả phát triển nhận thức về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được biểu hiện thông qua các kết quả cụ thể như sau:

Về đối nội: Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, chúng ta đã từng bước tăng cường tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước; sức mạnh quân sự, quốc phòng không ngừng lớn mạnh; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố vững chắc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, tạo ra những điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc; sớm nhận diện và kịp thời đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh và xung đột vũ trang.

Về đối ngoại: Với những quan điểm, chủ trương, đúng đắn và sự nỗ lực không ngừng trên các phương diện, Đảng đã từng bước lãnh đạo đất nước phá thế bao vây cấm vận từ bên ngoài; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác; chuyển hóa tính chất, nâng cấp mối quan hệ với một số nước thành quan hệ đối tác, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện; hình thành thế trận ngoại giao vững chắc, bao gồm: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng; giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn với các nước trong khu vực bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; thiết lập quan hệ song phương với các nước, đưa quan hệ hợp tác với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn; từng bước xây dựng được vị thế, uy tín của Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong các diễn đàn, các tổ chức quốc tế, khu vực. Đặc biệt, sự kiện Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 với số phiếu bầu là 192/193 đồng ý, càng khẳng định rõ vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế… Với tư cách là một thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm, Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở một số ngành, địa phương vẫn còn hạn chế; hệ thống luật pháp về việc giải quyết mối quan hệ này chưa hoàn thiện, việc cụ thể hóa sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành các quy hoạch, kế hoạch, quy chế, cơ chế hoạt động có lúc chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong việc giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ; sự phối hợp trong nghiên cứu, dự báo về chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại có mặt chưa theo kịp diễn biến của tình hình.

Linh thiêng lễ chào cột mốc của đại diện lực lượng bảo vệ biên giới ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia_Ảnh: TTXVN

Phương hướng giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời gian tới

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn định, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới, tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa… Điều đó đòi hỏi phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Để thực hiện có hiệu quả việc giải quyết mối quan hệ này, cần tập trung vào một số phương hướng cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với mọi hoạt động quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với việc giải quyết mối quan hệ này phải thông qua đường lối, chủ trương và hệ thống pháp luật. Đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được luật hóa thông qua hệ thống pháp lệnh, nghị định, kế hoạch và các quy chế, quy định, bảo đảm tính nguyên tắc, tính pháp lý trong quá trình thực hiện.

Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đẩy mạnh việc xây dựng, hoạch định, hoàn thiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai đoạn cách mạng, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Ban hành và duy trì nghiêm các quy chế, quy định mới về việc phối hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương, đặc biệt là giữa các ngành quân đội, công an và ngoại giao. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện về nội dung, hình thức, biện pháp kết hợp đấu tranh quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành động sai trái, thù địch, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Hai là, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao tiềm lực kinh tế, tăng cường tiềm lực quân sự, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc.

Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ tạo điều kiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật của đất nước, hình thành nền tảng để phát triển sức mạnh kinh tế, tạo dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng và khả năng huy động tiềm lực kinh tế phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, từng bước phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, tạo thế và lực để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh là quá trình tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp bảo đảm tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là tạo lập sức mạnh về kinh tế – xã hội, tạo cơ sở, tiền đề để tạo lập sức mạnh về quân sự, quốc phòng, an ninh, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu không có sức mạnh, tiềm lực kinh tế thì không có sức mạnh, tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh. Chính tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh mạnh sẽ góp phần bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Vấn đề quan trọng đặt ra là chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, bởi đây là bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực và tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Mục đích cao nhất trong quan hệ đối ngoại là phục vụ lợi ích quốc gia – dân tộc, theo đó, trong quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, tuyệt đối không để Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập, bị động, bất ngờ, đặc biệt là rơi vào trạng thái đối đầu có thể dẫn đến xung đột. Việt Nam cần tiếp tục tích cực, chủ động trong thiết lập, đẩy mạnh các mối quan hệ đối ngoại; trong hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích; trong đề xuất những giải pháp xây dựng hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Giải quyết quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực trên tinh thần “hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”(9). Tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề chung, xây dựng lòng tin chiến lược, hướng đến hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Bốn là, linh hoạt, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia – dân tộc.

Trên tinh thần “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, Việt Nam cần phải linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại, lấy lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam là toàn diện, bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa…; lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; không chỉ có lợi ích trong nước mà còn các lợi ích hợp pháp khác ở ngoài nước.

Trong giải quyết mọi vấn đề đối ngoại, với mọi đối tượng, đối tác, phải bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, thực hiện bình đẳng, cùng có lợi, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; không nóng vội, mà phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(10); tăng cường sự gắn kết an ninh và ổn định của nước ta với an ninh và ổn định của khu vực, từng bước nâng cao mức độ đan xen lợi ích về quốc phòng, an ninh theo hướng tăng cường nhận thức, hợp tác về các vấn đề có chung quan tâm và lợi ích; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, vì lợi ích quốc gia – dân tộc.

Năm là, nâng cao tinh thần yêu nước và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh tinh thần yêu nước và đoàn kết của nhân dân là một động lực vô cùng to lớn, giúp dân tộc ta phát huy sức mạnh tổng hợp, giành chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh gấp mình rất nhiều lần. Tinh thần yêu nước đã tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc tồn tại và phát triển qua những thử thách cam go, khốc liệt và hào hùng của lịch sử. Tuy nhiên, trước những biến động lớn của thời cuộc hiện nay, đòi hỏi tinh thần yêu nước Việt Nam, một mặt, phải duy trì, củng cố những đặc trưng làm nên sức mạnh truyền thống của dân tộc; mặt khác, phải xây dựng và củng cố thêm những nền tảng lý luận và sức mạnh mới nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng, nhất là phát huy vai trò của hệ thống giáo dục, đào tạo và các phương tiện truyền thông trong việc tuyên truyền, giáo dục này; nghiên cứu, lựa chọn nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phải phù hợp với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Lấy lợi ích chung của quốc gia – dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm mục đích của cách mạng. Tích cực đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị các cấp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tích cực, tự giác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xử lý hài hòa các mối quan hệ giai cấp và dân tộc, giai cấp, dân tộc và nhân loại, quốc gia và quốc tế, chiến lược và sách lược, lợi ích toàn bộ và bộ phận, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân cùng tiến bộ, trưởng thành, có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung vì lợi ích quốc gia  - dân tộc./.

(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 17

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 87

(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 40

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 117

(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 111

(6) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr. 20 – 21

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 238

(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 149

(9) Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, Hà Nội, 2018, tr. 3

(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 153

Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước / 2023

Về mối quan hệ giữa nhà nước – thị trường – xã hội thời gian qua

Mối quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội là mối quan hệ lớn, cơ bản, đòi hỏi phải giải quyết hài hòa trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội. Giải quyết tốt mối quan hệ này chính là góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.

1. Thực trạng giải quyết mối quan hệ này những năm qua

(1) Một số kết quả

Một là, trong thực tiễn Nhà nước đã thực sự chú ý đến vai trò “bà đỡ” cho thị trường hình thành và phát triển. Đã thể chế hóa và tạo điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển các loại thị trường, nên các thị trường có sự phát triển mạnh về quy mô và chất lượng, các thị trường mới được hình thành; đã thực sự chủ động và tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực, quy mô giao dịch tăng cao. Đồng thời “xã hội hoá” một số nhiệm vụ của nhà nước; nhà nước mở các ngành, các lĩnh vực, trước đây được coi là độc quyền nhà nước, rút lui dần khỏi lĩnh vực kinh doanh không cần thiết và “nhường lại” cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước  và các doanh nghiệp xã hội nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội.

Hai là, đã hình thành thể chế về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, bao gồm: (i) Phân biệt chức năng quản lý Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở; (ii) Nhà nước “từ bỏ” hoạt động quản trị và can thiệp vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế; (iii) Tách bạch chức năng quản lý kinh tế vĩ mô và chức năng chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước, từng bước xoá bỏ “bộ chủ quản”; “chính quyền chủ quản” của doanh nghiệp nhà nước. Thể chế kinh tế mới hướng tới xác định quan hệ phù hợp giữa bộ ba: Nhà nước, thị trường và xã hội theo nguyên tắc cơ chế thị trường.

Ba là, trong điều hành quản lý vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước đã dần hạn chế tối đa mệnh lệnh hành chính để các hoạt động của thị trường diễn ra chủ yếu theo sự hướng dẫn của các quy luật thị trường, đảm bảo nguyên tắc thị trường “tự điều chỉnh”, đồng thời tăng cường quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Lấy thị trường làm cơ sở chủ yếu để phân bổ các nguồn lực kinh tế  kết hợp với điều tiết vĩ mô của Nhà nước bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và bằng các nguồn lực, các chính sách hướng quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hệ thống kinh doanh vào những lĩnh vực và địa bàn cần thiết.

Thể chế định giá, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ, đã được tự do hóa; giá cá hàng hóa, dịch vụ về cơ bản đã được quyết định bởi thị trường, theo quy luật thị trường. Cạnh tranh trên thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng; độc quyền trong kinh doanh, độc quyền thị trường và cạnh tranh không lành mạnh ngày càng được kiểm soát và có chiều hướng giảm.

Bốn là, vai trò, chức năng của thị trường cũng càng được coi trọng, thể hiện rõ nét ở những điểm sau:

– Thị trường đã thực sự từng bước là căn cứ để Nhà nước định hướng phát triển kinh tế đất nước thông qua các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội.

– Thị trường/doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia cung ứng các dịch vụ xã hội. Hiện nay, Nhà nước thông qua cơ chế thị trường, đang chuyển sang khai thông tiềm năng của khu vực tư nhân, không phải với tư cách là một nguồn thay thế, mà là một nguồn bổ sung cho Nhà nước trong việc cung ứng kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã hội.

– Thị trường là căn cứ để tạo một khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, minh bạch và vững chắc, không chỉ là một hệ thống luật lệ và quy định, mà còn bao hàm các định chế cần thiết để thực hiện và cưỡng chế việc thi hành pháp luật và giải quyết tranh chấp, bao gồm toà án và các cơ quan cưỡng chế thi hành luật.

– Thị trường tham gia kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế, góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế.

Năm là, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Bản thân doanh nghiệp nhà nước cũng phải vận hành, hạch toán theo cơ chế thị trường. Đáng chú ý là việc tách chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý chung của Nhà nước thông qua thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đây là thay đổi lớn, qua đó khắc phục những tồn tại, hạn chế của mô hình thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước hiện nay. Chính phủ cũng đã đẩy mạnh cải cách, cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành góp phần đưa các doanh nghiệp nhà nước được tập trung nhiều hơn vào những lĩnh vực then chốt, quốc phòng, an ninh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ công thiết yếu. Sau gần 18 năm cổ phần hóa, kể từ khi có Nghị quyết TW 3 khóa IX năm 2001 đến nay, tuy vẫn còn chậm, song đã đạt được nhiều kết quả trong việc giảm số lượng DNNN làm ăn thua lỗ, năng lực tài chính, quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước được nâng lên.

Sáu là, khu vực tư nhân có sự phát triển mạnh trong các lĩnh vực pháp luật không cấm, và tham gia cung ứng dịch vụ công. Đây là một trong những thành công của quá trình xử lý quan hệ nhà Nước-thị trường-xã hội trong những năm vừa qua. Trên thực tế vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế ngày càng được thừa nhận và có đóng góp ngày càng lớn xét trên tỷ lệ nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế, đóng góp thu ngân sách, tạo việc làm…Số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh với nhiều loại hình đa dạng, có những doanh nghiệp, tập đoàn lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Bảy là, phát triển các doanh nghiệp xã hội và các hội tự quản. Phát triển doanh nghiệp xã hội (DNXH) là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Từ khi khái niệm DNXH được biết đến vào những năm 2008 đến nay, DNXH đã phát triển đa dạng, có sức ảnh hưởng đến chính sách của nhà nước và lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng. Hoạt động ươm tạo và hỗ trợ các DNXH cũng đạt được những kết quả nhất định. Thống kê cho thấy, số lượng doanh nghiệp kinh doanh tạo tác động xã hội đang chiếm khoảng 4% khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó có hơn 20 tổ chức, đơn vị có chương trình ươm tạo, tăng tốc phát triển hoặc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp và sáng kiến kinh doanh tạo tác động xã hội tại Việt Nam, góp phần tạo nên một hệ sinh thái năng động và đa dạng, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của DNXH.

Bên cạnh các DNXH, với việc đẩy mạnh thực hiện dân chủ hóa cơ sở, trong những năm qua mô hình tự quản khu dân cư đã phát triển khá đa dạng ở nhiều địa phương như: tuyến đường tự quản, tự quản bảo vệ môi trường, tự quản an ninh trật tự…(các tỉnh: Tuyên Quảng, Quảng Nam, Ninh Thuận…) đã góp phần nâng cao đời sống người dân. Đây là hướng quan trọng góp phần nâng cao vai trò thành tố xã hội trong tạo lập môi trường tăng trưởng, giám sát, bổ sung cho những khuyến khuyết của thị trường trong những năm qua.

Tám là, trong quá trình xây dựng cũng như thực hiện chủ trương, chính sách đã chú ý gắn bó hơn chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước-thị trường- xã hội, tức là có sự phân vai ngay trong quá trình xây dựng chủ trương, chính sách, do vậy tính khả thi chính sách cũng cao hơn, có sự đồng thuận của người dân. Sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội vào quá trình định hình chính sách ngày một rõ và hiệu quả.

(2) Hạn chế, yếu kém

Một là, trong những năm qua, việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước- thị trường-xã hội ở nước ta còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập, như lẫn lộn vai trò giữa Nhà nước và thị trường, mà thực chất là Nhà nước hoặc không làm, làm không hết vai trò, hoặc can thiệp vào vai trò của các chủ thể khác trong nền kinh tế thị trường; Nhà nước chưa bổ khuyết tốt được cho thị trường, đôi khi vẫn còn hiện tượng phó mặc thị trường (tình hình được mùa, rớt giá năm nào cũng xảy ra).

Hai là, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế còn thấp, một mặt là do sự can thiệp của Nhà nước không phù hợp với sự vận động của thị trường. Mặt khác, Nhà nước lại thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm các chủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra. Công tác kế hoạch và quy hoạch của Nhà nước trên nhiều lĩnh vực còn bất cập, chưa phù hợp với thực tế.

Trong việc sử dụng các công cụ can thiệp của nhà nước còn tồn tại một số bất cập như: công cụ pháp luật chưa ổn định, Nhà nước chưa thật sự trở thành “trọng tài” cho các chủ thể kinh tế; chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá phối hợp thiếu linh hoạt; thiếu tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước với hệ thống hành chính; hiệu quả của phối hợp chính sách tiền tệ  và chính sách tài khóa thời gian vừa qua còn bộc lộ những hạn chế và đối mặt với một số thách thức; việc cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách  chưa được thiết lập một cách chính thức; lực lượng vật chất của nhà nước can thiệp vào thị trường còn phân tán, lãng phí,  vừa chưa theo quy hoạch, kế hoạch, vừa chưa theo quy luật của thị trường; quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước chưa bảo đảm cho đầu tư nhà nước và tư nhân hiệu quả, thống nhất được lợi ích nhà đầu tư và lợi ích nhà nước, giữa mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giữa phát triển đất nước, vùng và địa phương; hệ thống dịch vụ công chưa phân tách các trách nhiệm tổ chức cung ứng, chi trả phí và quản lý để tiến hành đổi mới hiệu quả, mở rộng cơ hội cho tư nhân tham gia.

Nhà nước còn hạn chế trong kiến tạo phát triển, dẫn dắt thị trường, nhất là kiến tạo phát triển các yếu tố thị trường. Điều này gắn liền với sự chưa rõ trong quan niệm xác định vai trò, mức độ tham gia kiến tạo thị trường của nhà nước, nên hiệu quả thực tế chưa cao.

Ba là, trong những năm qua, kinh tế Nhà nước đã đóng vai trò cột trụ, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế Nhà nước cũng đã bộc lộ hạn chế, bất cập, tập trung vào các vấn đề như: việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản; phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; cơ chế giám sát, công khai, minh bạch hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa tốt; khu vực sự nghiệp công chiếm quy mô lớn, chưa vận hành theo kinh tế thị trường, còn bao cấp lớn từ nhà nước; nguồn lực nhà nước nắm giữ, phân bổ, đầu tư chưa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường; việc huy động các nguồn lực đầu tư cho dịch vụ công, phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ công vẫn còn một số bất cập.

Bốn là, còn tình trạng thiếu bình đẳng, hạn chế tính cạnh tranh và làm suy giảm năng lực kinh doanh của cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tình trạng độc quyền, trái với quy luật cạnh tranh ở một số lĩnh vực vẫn còn tồn tại. Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ. Môi trường kinh doanh, đầu tư chưa thật sự thông thoáng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Giá cả một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu chưa thật sự tuân theo nguyên tắc thị trường.

Năm là, thể chế kinh tế thị trường ở nước ta vẫn chưa thực sự tôn trọng vai trò, chức năng của thị trường, chưa thực sự coi thị trường là một thực thể khách quan, vận động và phát triển theo quy luật vốn có không phụ thuộc vào ý chí cá nhân và tổ chức xã hội nào cả, kể cả ý chí của Chính phủ. Thể hiện rõ nhất là: vẫn còn duy trì chính sách bao cấp, xin cho của nền kinh tế kế hoạch hoá; vẫn duy trì những doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong nhiều lĩnh vực kinh doanh cần chuyển sang thị trường cạnh tranh; vẫn còn tồn tại cung cách quản lý bao cấp, quan liêu, vẫn sử dụng nhiều chính sách trợ cấp, trợ giá theo kiểu cũ không khuyến khích được tinh thần tự lập, tự cường của đối tượng được trợ cấp. Những bộ phận chính sách và thể chế đó không phù hợp thực tế kinh tế thị trường, thậm chí còn là cơ sở nảy sinh lợi ích nhóm, hành vi tham nhũng, lạm quyền… làm giảm động lực phát triển kinh tế. Các yếu tố thị trường, các loại thị trường trong nền kinh tế chậm được đồng bộ hoá. Đây là một trong những lý do Việt Nam vẫn còn bị nhiều nước xem xét và đánh giá là một quốc gia chưa có nền kinh tế thị trường.

Sáu là, về vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền và phát triển kinh tế tư nhân

Nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là điểm đáng ghi nhận trong thời gian qua. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và thực thi, các doanh nghiệp vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong các thủ tục hành chính, đầu tư kinh doanh gây phiền hà, tốn thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Nhà nước dường như chưa thật sự tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa khu vực công và khu vực tư, giữa các tổ chức kinh tế trong khu vực tư, trong tiếp cận các nguồn lực công; chưa giải phóng triệt để tiềm lực, thế mạnh của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Cũng vì vậy hiện phần lớn các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ, quản trị và năng lực tài chính hạn chế.

Bảy là, nhận thức và hoạt động của các tổ chức xã hội còn một số hạn chế. Chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức xã hội không rõ ràng, vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, vừa có nhiệm vụ giám sát, phản biện vai trò của Đảng và Nhà nước. Do chức năng, nhiệm vụ không rõ ràng nên các tổ chức xã hội ở Việt Nam hoạt động còn thụ động, hiệu quả không cao. Mặt khác, cơ sở pháp lý, mà cụ thể là Luật về Hội, Hiệp Hội chưa được ban hành, nên sự hoạt động chưa có sự bảo đảm bằng pháp luật.

Tám là, việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân còn có những hạn chế: Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một số lĩnh vực còn bị vi phạm; còn tình trạng “vừa thiếu dân chủ, vừa thiếu kỷ cương”. Trong xã hội còn không ít biểu hiện mất dân chủ, hoặc dân chủ cực đoan; việc thực hành dân chủ có nơi, có lúc còn mang tính hình thức. Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân vẫn chưa được tạo lập đầy đủ; khả năng kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía nhân dân còn hạn chế. Việc bảo đảm dân chủ trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp có nơi, có lúc chưa được tổ chức, thực hiện tốt. Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở có mặt còn hình thức, chưa thực sự phát huy được vai trò, trách nhiệm của người dân.

(3) Nguyên nhân

Hiện trạng trên có nhiều nguyên nhân, có thể nêu 3 nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, sự đổi mới nhận thức

Những đổi mới trong nhận thức về nhà Nước-thị trường-xã hội chính là cơ sở cho thay đổi trong điều hành hoạt động thực tiễn. Việc tách bạch vai trò Nhà nước đã cho phép các hoạt động kinh doanh nhanh nhạy hơn, giảm được nhiều giấy phép con. Các doanh nghiệp đã chủ động khai thác nguồn lực xã hội, thực hiện đối tác công tư trong hoạt động kinh doanh.

Sự đổi mới trong nhận thức về kinh tế Nhà nước đã thúc đẩy quá trình cải cách doanh nghiệp và đổi mới hoạt động của khu vực Nhà nước theo cơ chế thị trường, dần nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó tư duy về vai trò của các thành phần kinh tế, nhất là với vai trò động lực quan trong của kinh tế tư nhân đã thúc đẩy khu vực kinh tế này phát triển cùng với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, có đóng góp lớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.

Đặc biệt sự đổi mới nhận thức về vai trò thị trường đã góp phần gia tăng vai trò thực tế của thành tố này trong hoạt động thực tiễn. Đáng chú ý là cơ chế thị trường đã hình thành và được vận dụng,  xâm nhập vào nhiều quan hệ kinh tế vốn trước đây đóng khung theo quy định cứng nhắc. Vì vậy nền kinh tế vận hành thông thoáng hơn.

Việc nhìn nhận vai trò xã hội cũng có sự thay đổi, đòi hỏi ngay trong các ý tưởng và quyết sách đã phải tính đến các yếu tố xã hội không chỉ trên phương diện giải quyết các vấn đề xã hội, mà cả trên phương diện tính đến sự tác động của các vấn đề xã hội. Nếu trước đây chỉ chú ý đầu tư kinh tế để từ đó tạo nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội, thì này còn tính đến đầu tư vào các vấn đề xã hội để tạo môi trường điều kiện cho tăng trưởng. Hơn nữa với cách nhìn về vai trò xã hội, nhà nước cũng đã có điều chỉnh trong tạo lập các điều kiện cho các tổ chức xã hội vận hành, phát huy vai trò của mình đóng góp vào sự phát triển, khắc phục những khuyết tật của thị trường.

Tuy nhiên, cái khó trong điều hành hoạt động kinh tế, chính là những quy định và những nhận thức cũ theo tư duy của nền kinh tế kế hoạch tập trung, chúng trói buộc sự sáng tạo, năng động trong hoạt động sản xuất. Mặc dù chuyển sang kinh tế thị trường, cho dù có các quy định, nhưng độ trễ của thói quen vẫn tác động đến các hoạt động điều hành thực tiễn.

Thứ hai, sự thiếu vắng thể chế

Mặc dù đã có những cố gắng và nỗ lực như đã nói ở trên, nhưng nhìn chung hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập và vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Điều này thể hiện rõ nhất qua các thực tiễn như: Hệ thống pháp luật còn thiếu toàn diện, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật; Một số văn bản pháp luật quan trọng đã ban hành song hiệu lực thực thi chưa cao; Tính cụ thể, minh bạch, rõ ràng của nhiều luật còn thấp; Quy trình xây dựng pháp luật còn thiếu tính dân chủ, tính đại chúng. Để các thành tố phát huy tốt vai trò chức năng, bước quan trọng là phải thể chế hóa các nhận thức đã đạt được thành các quy định pháp lý. Tuy những năm qua đã có nhiều cố gắng trong quá trình thể chế hóa, song thực tế vẫn còn thiếu vắng nhiều quy định, ví như Luật về hội, Quy định về kiểm soát độc quyền…

Thứ ba, sự hạn chế trong vận hành của bộ máy Nhà nước

Bộ máy Nhà nước tuy có sự đổi mới cải cách song còn nhiều hạn chế trong vận hành. Đó là tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối bên trong; việc phân cấp, phân quyền tuy chủ trương đã rõ nhưng thực hiện chưa thực sự hiệu quả, chưa đi vào cuộc sống…Cơ chế phối hợp các bộ phận, đầu mối chưa rõ ràng dẫn đến sự  phối hợp giữa các ngành và các địa phương có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ. Tổ chức bộ máy và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội chậm đổi mới; một số nhiệm vụ còn trùng lặp; có biểu hiện hành chính hóa, công chức hóa. Cơ cấu cán bộ, công chức còn bất cập giữa các cấp và trong từng cơ quan; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp cơ sở hạn chế… Những điều đó ảnh hưởng ngay đến quá trình thể chế hóa quan điểm của Đảng, đến năng lực triển khai và thực thi các chính sách và quy định của Nhà nước nói chung, đến phối hợp giải quyết mối quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội nói riêng.

Bàn Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước, Thị Trường Và Xã Hội / 2023

1– Kinh tế thị trường đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Ngày nay, kinh tế thị trường là hình thức tổ chức sản xuất phổ biến không chỉ ở các nước phát triển, mà còn ở cả các nước đang phát triển, có ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế – xã hội của thế giới nói chung, của từng quốc gia nói riêng.

Có thể hiểu nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó các quan hệ thị trường quyết định sự phân bổ nguồn lực thông qua hệ thống giá cả. Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân được tự do ra quyết định kinh tế. Các doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh, lựa chọn quy mô, công nghệ sản xuất và thuê các yếu tố sản xuất; tự do lựa chọn địa điểm và phương thức phân phối sản phẩm tạo ra… Hầu hết các quyết định đó không xuất phát từ động cơ đóng góp cho phúc lợi chung của toàn xã hội mà xuất phát từ lợi ích riêng.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thị trường đã không hoàn hảo như mong đợi, trước hết là trong việc phân bổ nguồn lực hiệu quả. Ngoài ra, trong một số trường hợp, bản thân thị trường không thể mang lại những kết quả mong muốn cho toàn xã hội. Khi điều này xảy ra, các nhà kinh tế nói rằng thị trường đã thất bại.

Chính bởi những lý do này mà nhà nước cần can thiệp vào các hoạt động kinh tế. Các nhà kinh tế đã khẳng định, mặc dù không thể thay thế thị trường, nhưng nhà nước có thể hoàn thiện các hoạt động thị trường.

Trong lịch sử kinh tế học phương Tây từng diễn ra nhiều lần tranh luận về mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Nội dung các cuộc tranh luận chủ yếu xoay quanh vấn đề tương quan giữa nhà nước và thị trường trong nền kinh tế: Nhà nước nhiều hay thị trường nhiều.

Có thể khái quát 3 quan điểm chính sau:

“Nhà nước tối thiểu”

Quan hệ giữa nhà nước với thị trường tự do theo lý thuyết đề cao vai trò “bàn tay vô hình” của thị trường. Đại diện cho trường phái này là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh A-đam Xmít (1723 – 1790). Nói rất vắn tắt và giản đơn, theo ông, thị trường cần phải được vận hành một cách tự do, không bị méo mó bởi các quyết định hành chính.

Quan điểm này cho rằng: dân chúng, các doanh nghiệp hiểu biết về tình trạng của nền kinh tế không kém chính phủ, vì thế họ có đủ dự liệu để tự điều chỉnh hành động của mình sao cho đạt hiệu quả nhất, do vậy không cần đến sự điều tiết của nhà nước. Nhà nước chỉ cần thực hiện ba chức năng quan trọng: một là, bảo vệ xã hội, khiến nó không bị xã hội khác xâm phạm; hai là, bảo vệ thành viên xã hội; ba là, xây dựng và duy trì những công trình công cộng và cơ cấu công cộng nào đó.

Tuy nhiên, rất ít quốc gia còn áp dụng mô hình đề cao tuyệt đối vai trò của thị trường theo lý thuyết “bàn tay vô hình”.

Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, thực tiễn ở phần lớn các nước đã chứng tỏ rằng sự thất bại của can thiệp nhà nước về kinh tế ngày càng mang tính phổ biến và trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Trong giai đoạn này, vai trò tự điều tiết của thị trường lại được đề cao và chủ nghĩa tự do mới lan rộng.

“Nhà nước nhiều”

Quan hệ giữa nhà nước với thị trường theo lý thuyết đề cao vai trò “bàn tay hữu hình” của nhà nước. Học thuyết kinh tế của J.M. Kên là nền tảng tư tưởng về sự can thiệp của nhà nước. Ông cho rằng, nhà nước phải đóng vai trò lớn trong nền kinh tế thị trường. Là người chịu trách nhiệm chính trong việc ổn định các hoạt động kinh tế, nhà nước có nhiệm vụ thực hiện những chính sách và biện pháp tài chính – tiền tệ để chống lại những cuộc suy thoái chu kỳ, bảo đảm đủ việc làm và duy trì nền kinh tế trong trạng thái không có lạm phát.

Nhiều nhà lý luận kinh tế đã đánh giá cao tư tưởng của J.M. Kên, coi đó là “liều thuốc” hữu hiệu giúp cho nền kinh tế tư bản từ kém phát triển trở thành phát triển. Lịch sử cũng đã chứng minh các nền kinh tế thị trường thành công đều cần có sự can thiệp và hỗ trợ của nhà nước.

Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhiều người cho rằng, chủ nghĩa tự do mới là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng này. Và, dường như cuộc khủng hoảng lần này chứng tỏ tính đúng đắn của lý thuyết Kên: nền kinh tế Mỹ bị sụp đổ do thả lỏng quá mức vai trò điều tiết của thị trường tự do, đồng thời việc khắc phục khủng hoảng bằng các gói kích cầu của nhà nước theo đúng đề xuất của J.M. Kên. Rất nhiều chính phủ ở các nước phương Tây cũng đã áp dụng chính sách ứng phó dựa theo quan điểm của chủ nghĩa Kên mới.

“Vỗ bằng hai bàn tay”

Trên thực tế, quan điểm nhìn nhận nhà nước như một hệ thống có vai trò đặc biệt trong việc “sửa chữa” những thất bại của thị trường đã trị vì cả trong lý thuyết kinh tế lẫn trong thực tế điều hành chính sách ở hầu hết các nền kinh tế trên thế giới từ khi học thuyết Kên ra đời (năm 1936) cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Nhưng nó đã dần mất đi tính hấp dẫn do thực tiễn ở phần lớn các nước đã chứng tỏ rằng, sự thất bại của can thiệp nhà nước về kinh tế ngày càng mang tính phổ biến và trở thành một vấn đề nghiêm trọng.

Quan hệ giữa nhà nước với thị trường trong nền kinh tế thị trường hiện đại giống như “bàn tay vô hình”, “bàn tay hữu hình” cũng có những khuyết tật riêng của nó. Vấn đề ở đây là làm thế nào để kết hợp một cách hài hòa cơ chế thị trường với vai trò điều tiết kinh tế của chính phủ. P. A. Xam-en-xơn là một trong những người khởi xướng lý thuyết cho rằng, phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay”, đó là cơ chế thị trường và nhà nước. Để đối phó với những khuyết tật của cơ chế “bàn tay vô hình”, các nền kinh tế hiện đại là sự hỗn hợp giữa thị trường và “bàn tay hữu hình” của nhà nước thông qua các chính sách và luật lệ của chính phủ. Ngày nay, lý thuyết về “nền kinh tế hỗn hợp” đang thu hút được sự quan tâm của các nhà kinh tế ở mọi trường phái khác nhau, và được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, điều khó khăn nhất đối với các chính phủ trong điều hành kinh tế là xác định được ranh giới giữa nhà nước và thị trường.

2– Những ý kiến gần đây về nhà nước đã chỉ ra rằng, sự phân đôi kiểu nhà nước hay thị trường, công cộng hay tư nhân đều thất bại ở hai khía cạnh. Thứ nhất, giữa nhà nước và thị trường, công cộng và tư nhân không có một ranh giới rõ ràng. Ở hầu hết các nước, giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân “thuần túy” là các loại hình liên doanh chồng chéo, ví dụ như các công ty cổ phần; các doanh nghiệp nhà nước có ban quản lý được thuê từ khu vực tư nhân; các hãng tư nhân hoạt động với các đặc quyền của nhà nước; các hợp tác xã;… Thứ hai, các thị trường đòi hỏi một khuôn khổ pháp lý và điều tiết mà chỉ chính phủ mới có thể cung cấp. Các quyền và trách nhiệm pháp lý cũng quan trọng như hệ thống trao đổi hàng hoá của thị trường. Như vậy, vấn đề đặt ra không chỉ đơn thuần là sự lựa chọn giữa nhà nước hay thị trường. Hay nói cách khác, quan hệ giữa nhà nước và thị trường không là mối quan hệ đối lập theo kiểu bên này giảm thì bên kia tăng.

Ở một góc độ khác, mối quan hệ này là mối quan hệ cộng sinh, có tính chất tương hỗ lẫn nhau. Vấn đề đặt ra là có nên coi “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình” là các lực lượng chế ước và cân đối lẫn nhau trong mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, hay cần tìm và phát huy mối quan hệ này thông qua lực lượng xã hội. Xuất hiện một xu hướng mới, là tìm kiếm một lực lượng hoàn toàn mới vượt ra ngoài chính phủ và thị trường để cân bằng mối quan hệ này. Đó là “bàn tay thứ ba”

Với “bàn tay thứ ba”, xã hội thông qua hoạt động có tổ chức khơi dậy ý thức công cộng của dân chúng, qua đó tác động đến quyết sách chính phủ, đồng thời có thể hình thành sự giám sát và chế ước bên ngoài của xã hội đối với quyền lực nhà nước và hành vi thị trường, từ đó tránh được tình trạng quyền lực đi đôi với lạm quyền, lợi ích nhóm, còn thị trường đi đôi với tham lam và giả dối. Ngoài ra, các nhóm xã hội này còn có thể thay thế nhà nước và thị trường cung cấp những sản phẩm công mà nhà nước và thị trường không đủ sức hoặc không muốn cung cấp, bởi: một mặt, các sản phẩm công mà nhà nước cung cấp là những sản phẩm công phổ biến, không thể tính đến sự khác biệt của từng khu vực, đối tượng, do đó về mặt cung cấp một số sản phẩm công đặc thù thì chính phủ không vươn tới được; mặt khác, các doanh nghiệp tư nhân với mục đích lợi nhuận nên sẽ không muốn tham gia cung cấp một số sản phẩm công.

Để thực hiện mục tiêu này, theo xu hướng nói trên, vấn đề đặt ra đối với các quốc gia trong giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường là cần phải xây dựng một xã hội năng động, tồn tại giữa nhà nước và thị trường, nó đòi hỏi thị trường phục tùng xã hội và chịu sự giám sát, quản lý của nhà nước.

Ở nhiều nước tư bản phương Tây, các tổ chức xã hội đã có vai trò không nhỏ trong bảo đảm sự cân bằng của mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Có thể khái quát ở một số vai trò cơ bản sau:

– Tham gia quá trình xây dựng và thực hiện chính sách ở khu vực công.

– Tham gia công tác quản trị khu vực công, đặc biệt các vấn đề về tăng trưởng, cạnh tranh, việc làm.

– Kết nối các mạng lưới xã hội, xây dựng, tạo niềm tin với nhau, tạo nguồn vốn xã hội to lớn, tham gia phát triển các mặt, như tự quản địa phương, hỗ trợ các nghiệp đoàn, bảo vệ các nhóm yếu thế, tham gia bảo vệ môi trường, tăng tình tương thân, tương ái,…

– Tham gia kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội. Thông qua các tổ chức xã hội này, người dân thực hiện vai trò là người đối trọng, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội.

Ngoài ra, một vai trò không nhỏ nữa, đó là tham gia cung cấp các dịch vụ xã hội phi lợi nhuận, xây dựng các doanh nghiệp xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Đặc biệt, các doanh nghiệp xã hội được hình thành từ các sáng kiến xã hội, trên nền tảng giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể của cộng đồng, đã đóng góp vai trò không nhỏ trong cung ứng dịch vụ công. Hiện nay, nhiều quốc gia đã chính thức công nhận doanh nghiệp xã hội và tạo lập khung khổ pháp lý, ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp này để hỗ trợ nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn các mục tiêu xã hội.

Tuy nhiên, các tổ chức xã hội này cũng có những hạn chế nhất định sau(3):

Thứ nhất, do các tổ chức xã hội thường được tổ chức theo những tiêu chí, tôn chỉ của một ngành, nghề, tôn giáo, hoặc khu vực dân cư nhất định,… nên mối quan tâm lớn nhất của họ phần lớn thường dành cho bản thân tổ chức của mình, chứ không cho toàn thể xã hội, ý thức trách nhiệm của các tổ chức này đôi khi cũng có giới hạn.

Thứ hai, một số các tổ chức xã hội, trong đó có các nhóm sắc tộc, tôn giáo cực đoan lợi dụng danh nghĩa của mình để có những hoạt động tiêu cực, gây tác động xấu đến chính trị, an ninh, xã hội ở các quốc gia, tạo nên sự rối loạn, bất ổn định, làm tổn hại sâu sắc đến phát triển an ninh, thịnh vượng, kinh tế, xã hội của các quốc gia.

Thứ ba, các tổ chức xã hội, đặc biệt là các tổ chức phi chính phủ (NGO) ở Liên minh châu Âu (EU) nói chung đã phát triển quá nhanh, vượt khỏi tầm kiểm soát của đất nước. Trong đó có những NGO đã đưa ra những tôn chỉ, mục đích với những hoạt động trái luật, đã can thiệp quá sâu vào chính trị an ninh đất nước, thực hiện những hành động câu kết, bạo loạn, gây mất ổn định, làm tổn hại đến kinh tế, chính trị, xã hội đất nước, khiến cho đời sống của nhân dân thêm khó khăn.

Thứ tư, một số tổ chức xã hội phát triển không dựa trên nền tảng pháp lý (luật về hội), hoạt động không chịu sự chi phối của pháp luật đất nước, sẽ rất dễ dàng tạo ra các nhóm xã hội, giai cấp… đối kháng, đối lập và sẽ tạo nên các phân mảng xã hội, xung đột xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội đất nước.

Tóm lại, nhà nước và thị trường ở trong mối quan hệ vừa đối lập, vừa cộng sinh, có thể hợp lực, vì vậy, cần coi trọng “bàn tay thứ ba” ngoài “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”, để phát huy lực lượng của xã hội. Tuy nhiên, “bàn tay thứ ba” này không phải là “chìa khóa vạn năng”, cứ sử dụng nó thì cái gì cũng có thể giải quyết được. Bởi vì, nó là khu vực nằm giữa nhà nước, thị trường, là một khoảng không gian “không phân định rõ ràng”. Mỗi quốc gia có cách vận dụng, thực hiện xây dựng các tổ chức xã hội khác nhau, cơ sở pháp lý và cơ chế, chế tài vận hành không giống nhau và đều chưa thật rõ ràng.

3- Ở Việt Nam, qua hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã có những thành công bước đầu trong việc hình thành và phát triển cơ chế thị trường, cũng như điều chỉnh vai trò tương ứng của Nhà nước trong nền kinh tế. Trước hết, đó là sự thay đổi cơ bản quan niệm về chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế. Nếu như Đại hội VII chỉ dừng lại ở mức độ xác định nhiệm vụ: “Bộ máy nhà nước từng bước chuyển sang chức năng quản lý nhà nước, khắc phục dần sự can thiệp vào điều hành kinh doanh…” thì đến Đại hội VIII, quan điểm này được cụ thể hóa hơn: “Nhà nước định hướng phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực, thiết lập khuôn khổ pháp luật, xây dựng chính sách nhất quán, phân phối lại thu nhập, hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trường”. Đại hội IX đã xác định rõ định hướng đổi mới chính sách căn bản là: “Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế. Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hóa, nâng cao công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”. Tại Đại hội XII, thành quả của đổi mới trong quan niệm về chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế đã thể hiện rõ ràng, vững chắc hơn với khẳng định: “Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế – xã hội”(4).

Nhà nước cũng từng bước phát huy vai trò của mình trong sửa chữa những “khuyết tật” của thị trường thông qua các chính sách an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường.

Cùng với đó, các tổ chức chính trị – xã hội đóng vai trò không nhỏ trong mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, vừa là trung tâm đoàn kết, tập hợp đông đảo các lực lượng quần chúng nhân dân (tính chất xã hội), đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các thành viên, vừa thực hiện vai trò cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, tổ chức động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.

Để bảo đảm hài hòa mối quan hệ Nhà nước – thị trường – xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, theo chúng tôi, cần lưu ý một số điểm sau:

Một là, xác định sự phối hợp giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là xu hướng khách quan trong quản lý nền kinh tế thị trường hiện đại. Nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước, thị trường và xã hội biến chuyển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở trong từng bối cảnh thời gian, không gian, điều kiện cụ thể. Ở nước ta hiện nay, nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt trong việc phát huy hiệu quả mối quan hệ Nhà nước – thị trường – xã hội là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng, tôn trọng quyền sở hữu cá nhân và lợi ích cá nhân, qua đó nâng cao sự thịnh vượng của mỗi cá nhân và toàn xã hội.

Hai là, Nhà nước giữ vai trò chủ thể phát triển xã hội. Với tư cách là chủ thể chính trị, Nhà nước xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách tạo động lực cho thị trường phát triển, đồng thời tạo sự hài hòa trong phát triển giữa cá nhân và cộng đồng, giữa các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… Coi trọng đúng mức chức năng “làm kinh tế” của Nhà nước. Việc phân bổ các nguồn lực của Nhà nước không thể theo ý muốn chủ quan, mà phải theo các tín hiệu của thị trường, bảo đảm sự minh bạch và có hiệu quả. Muốn vậy, cần tiếp tục đẩy nhanh các tiến trình cơ cấu lại đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và ngân sách nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường, xác định rõ thứ tự các hướng ưu tiên để tập trung hỗ trợ có hiệu quả về tài chính và các nguồn lực khan hiếm cho một số lĩnh vực kinh tế.

Ba là, xây dựng bộ máy quản lý tinh gọn, phân cấp, trao quyền, xã hội hóa có chọn lọc nhiều lĩnh vực quản lý và cung cấp các dịch vụ công, thúc đẩy dân chủ ở cơ sở nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quản lý nhà nước và các dịch vụ hành chính công,… chuyển tư duy từ “Nhà nước quản lý” sang “Nhà nước kiến tạo” hướng vào phục vụ người dân và doanh nghiệp. Cải cách bộ máy hành chính, cắt giảm rào cản, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình để tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa các tác nhân trong nền kinh tế thị trường. Sự tin cậy là một yếu tố quyết định trong các giao dịch trên thị trường, bổ sung cho những “lỗ hổng” của hệ thống pháp luật. Ở nền kinh tế thị trường của nước ta, có nhiều hiện tượng cho thấy có sự thiếu lòng tin giữa các tác nhân trong nền kinh tế, như giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa người dân và doanh nghiệp, giữa người dân và công chức nhà nước,…

Bốn là, phát huy vai trò và sự chủ động tham gia của người dân, các tổ chức xã hội trong quá trình quản lý nhà nước, xã hội. Pháp luật quy định nhân dân có quyền và trách nhiệm giám sát cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để nhân dân và các tổ chức xã hội giám sát hoạt động của mình. Đại hội X của Đảng nêu rõ: “… phát huy vai trò của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức và cơ quan công quyền, phát hiện, đấu tranh với các hiện tượng tham nhũng”(5). Tuy nhiên, từ việc chỉ đạo của Đảng đến việc luật hóa quy định rõ quyền, lợi ích hợp pháp và vai trò giám sát và đặc biệt có cơ chế cho việc thực hiện giám sát chính sách, pháp luật vẫn còn nhiều vấn đề cần được hoàn thiện. Trong thời gian tới, cần tập trung giải quyết vấn đề này, tạo điều kiện để các tổ chức xã hội, nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện chức năng quản lý hành chính của mình.

Năm là, kết hợp hài hòa giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội với bảo đảm an sinh xã hội ngay trong từng bước đi và từng chính sách. Các chính sách xã hội bên cạnh việc bảo đảm công bằng, hướng đến phục vụ con người cần tính đến sự chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân.

Sáu là, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với các hội, tổ chức phi chính phủ. Hệ thống thể chế quản lý tạo ra khuôn khổ cho các tổ chức xã hội tham gia tư vấn, giám định và phản biện chính sách công; đứng ra cung ứng một số dịch vụ xã hội phi lợi nhuận nhận ủy quyền từ nhà nước; bảo vệ quyền lợi của các nhóm thiểu số, yếu thế trong xã hội bị thách thức bởi “thất bại” của thị trường. Đồng thời cần khắc phục việc một số tổ chức xã hội lợi dụng danh nghĩa phi chính phủ để can dự vào các vấn đề chính trị gây bất ổn xã hội, lợi dụng tính chất phi lợi nhuận để trốn thuế. Cần đổi mới cơ chế tài chính hỗ trợ của Nhà nước và quản lý chặt chẽ nguồn tài trợ của nước ngoài để hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, không để nước ngoài lợi dụng các tổ chức phi chính phủ gây tổn hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia./.

(1) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2017, tr. 28

(2) Bao gồm:

– Nhà nước gắn với quyền lực, từ việc hình thành luật pháp đến việc thực thi pháp luật với một bộ máy hành pháp và tư pháp đồ sộ, do vậy khuynh hướng phổ biến là quan liêu, sách nhiễu bằng các thủ tục hành chính phức tạp, rối rắm;

– Các nhà chính trị và các tác nhân khác nhạy bén và tư lợi liên kết để kiểm soát việc phân bổ nguồn lực theo lợi ích của họ;

– Hành vi tham nhũng trong giới chính trị gia và các quan chức chính phủ;

– Không có hoặc thiếu các nhân viên có đủ năng lực với sự hiểu biết cần thiết về kinh tế và các hoạt động kinh doanh;

– Thiếu kiến thức về khu vực tư nhân và cách thức hoạt động của khu vực này.

(3) Xem: Đinh Công Tuấn: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội dân sự ở Liên minh châu Âu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010, tr. 216 – 219

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 98

(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 129

Phạm Việt Dũng – TS, Tạp chí Cộng sản

Theo Tạp chí Cộng sản

【Havip】Mối Quan Hệ Giữa Nội Dung Và Hình Thức Trong Tác Phẩm Văn Học / 2023

Bất kỳ một tác phẩm văn học nghệ thuật nào cũng có mối quan hệ hữu cơ giữa hai mặt cốt lõi là hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng. Đó cũng chính là mối quan hệ của cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Hình thức nghệ thuật là cái biểu đạt, là chất liệu, thủ pháp tổ chức nên tác phẩm nghệ thuật. Nội dung tư tưởng chính là cái được biểu đạt tồn tại bên trong hình thức biểu đạt được tổ chức thành chỉnh thể tác phẩm nghệ thuật. Đây là điều cơ bản của lý luận nghệ thuật nói chung mà tôi nghĩ những người sáng tạo nghệ thuật nhiếp ảnh đã biết.

1. Tác phẩm văn học là gì?

Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hay một tập thể sáng tạo nên nhàm thế hiện những khái quát về cuộc sống, con người và biểu hiện tâm tư, tĩnh cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại bằng hình tượng nghệ thuật.

Tác phẩm văn học bao giờ cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tác phẩm văn học không phải là một sản phẩm cố định. Nó mang tính lịch sử, đa nghĩa, nó có sự biến đổi về văn bản và có sự khác nhau trong cảm thụ của người đọc ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau.

a. Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể

Tính chỉnh thể của tác phẩm văn học được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học có quan hệ mật thiêt như tâm hồn và thể xác.

b. Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học

– Nội dung của tác phẩm văn học

Khái niệm:

Nội dung của tác phẩm bất nguồn từ mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Đó là mối quan hệ nhất định của con người đối với hiện tượng đời sống được phản ánh. Đó vừa là cuộc sống được ý thức, vừa là đánh giá – cảm xúc đối với cuộc sống đó.

Nội dung của tác phẩm văn học là một hiện tượng của đời sống được khai thác bằng nghệ thuật, được chiếu sáng bởi lý tưởng của tác giả, được xuyên suốt bằng vòng tư tưởng của tác giả. (Gulaiép)

– Các khái niệm thuộc về nội dung

+ Đề tài văn học: Là phạm vi cuộc sống được nhà văn lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản.

Ví dụ: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố viết về đề tài người nông dân.

+ Chủ đề tác phẩm: Là nội dung cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm.

Ví dụ: “Tắt đèn” thể hiện sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc và gắn bó máu thịt với người nông dân của Ngô Tất Tố. Đống thời tác phẩm thể hiện thái độ của nhà văn với bọn quan lại, địa chủ.

+ Cảm hứng nghệ thuật: Là tình cảm chủ yếu của văn bản. Đó là những trạng thái tâm hồn, cảm xúc được thể hiện đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản.

Ví dụ: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố có cảm hứng yêu thương, căm giận,

– Hình thức tác phẩm văn học

Khái niệm:

Hình thức là sự biểu hiện của nội dung, là cách thể hiện nội dung. Hình thức được xây dựng dựa trên chất liệu là ngôn ngữ đời sống kết hợp với sự sáng tạo độc đáo của nhà văn.

Hình thức của tác phẩm văn học được xây dựng bằng sự tổng hợp sinh động của một hệ thống những phương tiện thể hiện nhằm diễn đạt cả về bên ngoài lẫn tổ chức bên trong của nội dung tác phẩm trong một quan hệ chỉnh thể thống nhất

– Các khái niệm về hình thức của tác phẩm văn học

+ Ngôn từ: Là yếu tố thứ nhất của văn bản văn học. Nhờ ngôn từ tạo nên chi tiết, hình ảnh, nhân vật trong văn bản.

+ Ngôn từ hiện diện trong câu, hình ảnh, giọng điệu và mang tính cá thể. Có ngôn từ tài hoa của Nguyễn Tuân; trong sáng, tinh tế của Thạch Lam; chân quê của Nguyễn Bính…

+ Kết cấu: Là sắp xếp, tồ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa.

Bất kể văn bản văn học nào cũng đều phải có một kết cấu nhất định. Kết cấu phải phù họp với nội dung.

Có kết cấu hoành tráng với nội dung.

Có kết cấu đầy bất ngờ của truyện cười.

Có kết cấu mở theo dòng suy nghĩ của tùy bút, tạp văn.

+ Thể loại: Là quy tác tố chức hình thức văn bản sao cho phù hợp với nội dung văn bản.

Ví dụ: Diễn tả cảm xúc có thể loại thơ; Kể diễn biến, mối quan hệ của cuộc sống, con người có thể loại truyện; Miêu tả xung đột gay gắt có thể loại kịch; Thể hiện suy nghĩ trước cuộc sống, con người có thể loại kí…

– Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức tác phẩm văn học

Văn bản văn học cần có sự thống nhất cao giữa nội dung và hình thức, nội dung tư tưởng cao đẹp và hình thức nghệ thuật hoàn mĩ. Đây là ý nghĩa vô cùng quan trọng và cũng là tiêu chuẩn dể đánh giá một tác phẩm.

Trong quá trình phân tích, ta không chỉ chú trọng nội dung mà bỏ rơi hình thức. Phân tích bao giờ cũng phải kết hợ giữa nội dung và hình thức.

Trong đời sống văn chương có những văn bản đạt nội dung coi nhẹ hình thức và ngược lại. Chúng ta cần biết điều này khi tìm hiểu và phân tích văn bản.

2. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học

Nói về một tác phẩm có giá trị, Biêlinxki cho rằng: “Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như tâm hồn và thể xác. Nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy. Ở một chỗ khác, ông viết Khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức là nếu tách nó ra khỏi nội dung, có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung và ngược lại, tách nội dung khỏi hình thức, có nghĩa là tiêu diệt hình thức.

Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức được biểu hiên ở 2 mặt: nội dung quyết định hình thức và hình thức phù hợp nội dung.

Trong tác phẩm văn học, nội dung và hình thức bao giờ cũng thống nhất hữu cơ, biện chứng với nhau. Nói như Bi-ê-lin-xki: “Nội dung và hình thức gắn bó như tâm hồn với thể xác”. Sự gắn bó này là kết quả sáng tạo chứa đựng tài năng và tâm huyết của nhà văn. Và những tác phẩm văn học có giá trị lớn thì càng chứng tỏ sự thống nhất cao độ giữa nội dung và hình thức. Nhà văn Nga, Lê-ô-nôp khẳng định: “Tác phẩm nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và là một khám phá về nội dung”.

Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức thể hiện ở mọi phương diện của tác phẩm văn học: ngữ âm, từ vựng, cú pháp, nhân vật, kết cấu, thể loại,…. (số từ trong văn Nam Cao, từ chỉ cảm giác trong văn Thạch Lam).

Trong quan hệ nội dung – hình thức ở tác phẩm văn học thì nội dung bao giờ cũng quyết định hình thức, quyết định sự lựa chọn phươns tiện, phương thức sáng tạo tác nhẩm. Tất cả những yếu tố hình thức như ngôn ngữ kết cấu, thể loại,… đều nhàm phục vụ tốt nhất cho chức năng bộc lộ sinh động và sâu sắc của nội dung tác phẩm.

Tuy nhiên, hình thức cũng có tính độc lập nhất định. Nó tác động trở lại với nội dung. Nó đòi hỏi nhà văn phải có sự tìm tòi, trăn trở để sáng tạo nên những gi có giá trị nghệ thuật cao nhất. Và một khi tìm được phương tiện và phương thức phù hợp nhất thì những phương tiện, phương thức này phát huy tối đa giá trị của chúng và mang lại giá trị vô giá cho tác phẩm.

Kết luận:

Như vậy, một tác phẩm văn học có đứng vững được trong lòng người hay không chính là nhờ tài năng và phẩm chất của người nghệ sĩ. Phải qua bàn tay nhào nặn tài hoa của nhà văn, mỗi tác phẩm mới thực sự là một công trình sáng tạo nghệ thuật. Sáng tạo nghệ thuật là một thứ sáng tạo tinh thần. Nó không sản xuất theo dây chuyền công nghệ mà phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ là người quyết định sự ra đời của tác phẩm. Và tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo nghệ thuật chỉ khi lao động của người nghệ sĩ đúng là lao động sáng tạo. Nhà văn có vai trò quan trọng trong quy trình sáng tạo. Mỗi nhà văn là một thế giới khác nhau, tạo nên sự phong phú cho nền văn học, cho sự đa dạng của các cá tính nghệ thuật.

Quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn là quá trình công phu bởi nó đòi hỏi nhiều trí lực, tâm huyết của người nghệ sĩ. Đó là công việc không chỉ đổ mồ hôi mà thậm chí còn đổ cả máu và nước mắt. Có người nghệ sĩ cả đời chung đúc để viết một tác phẩm nhưng cũng có người chỉ trong một khoảnh khắc một tác phẩm ra đời.

Sự sáng tạo trong văn chương không cho phép người nghê sĩ chân chính dẫm lên đường mòn hay đi theo con đường của người khác. Nam Cao đã từng nói khẳng định một tác phẩm văn học phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu, bác ái, công bằng và “Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có. “Văn học nằm ngoài những định luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết” (Sê-đrin). Tác phẩm văn học đã ghi nhận những sáng tạo của người nghệ sĩ và khẳng định nó bằng những giá trị bất tử của mình.