Nhận Thức Và Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Nóng Lên Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Hoạt Động Của Con Người Là Nguyên Nhân Chính Dẫn Đến Hiện Tượng Nóng Lên Toàn Cầu
  • Đbscl Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Ứng Phó Khô Hạn, Xâm Nhập Mặn
  • Xuân Mỹ: Giữ Vững, Nâng Cao Chất Lượng Tiêu Chí Nông Thôn Mới
  • Các Giải Pháp Hội Nghị Truyền Hình Polycom
  • 1.Tổng quan vấn đề

    a) Nhận thức về tầm quan trọng, vị trí, vai trò và quan hệ biện chứng của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

    Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ xuyên suốt trong các giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, từ khi ra đời Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, dưới sự lãnh đạo của Đảng cho đến nay. Ở Việt Nam, giải quyết mối quan hệ này được chia làm hai thời kỳ rõ rệt, đó là khi đất nước còn chiến tranh, vừa phải chiến đấu đánh đuổi kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc và vừa xây dựng hậu phương lớn phục vụ tiền tuyến. Tiếp đó là, thời kỳ đất nước được hoà bình, thống nhất bên cạnh nhiệm vụ to lớn đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội, thì bảo vệ Tổ quốc vẫn luôn được xác định là trọng yếu, thường xuyên. Bởi vậy, ở mỗi giai đoạn, việc nhận thức và giải quyết hai nhiệm vụ chiến lược này là vấn đề hệ trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, là một cơ sở để làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử ngày hôm nay.

    Từ truyền thống lịch sử của dân tộc, dựng nước phải đi đôi với giữ nước là bài học mang tính quy luật, được đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử. Ở Việt Nam, trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bài học này được Đảng ta khái quát thành một quan điểm lớn, là nắm vững hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội lần thứ IV của Đảng, khi đất nước đã độc lập, non sông thu về một mối, Đảng ta xác định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đối với bảo vệ Tổ quốc”. Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta vẫn nhất quán quan điểm luôn coi trọng cả hai nhiệm vụ, nhưng bắt đầu đã có những điều chỉnh phù hợp với bối cảnh mới, Đại hội VII, thông qua Cương lĩnh 1991 xác định:” Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”.

         b) Về nội hàm, mục tiêu và quan hệ của hai nhiệm vụ chiến lược trong sự phát triển của đất nước

         Khi đất nước chưa thống nhất, nhiệm vụ và mục tiêu lớn nhất của cả dân tộc là giành độc lập dân tộc, dù có thể ” đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, “ không có gì quý hơn độc lập tự do”. Nhưng khi đất nước chuyển sang giai đoạn mới, đòi hỏi phải xác định lại nội hàm, mục tiêu và mối quan hệ của hai nhiệm vụ cho phù hợp, đối với mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, Đại hội VII, trong Cương lĩnh 1991 xác định: “ Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. Trải qua quá trình gần 35 năm đổi mới, trong điều kiện đất nước có hoà bình, tập trung sức xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, nguy cơ xâm lược, đe doạ đến độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ vẫn còn tiềm ẩn, nhất là vấn đề Biển Đông, biên giới đất liền, sự chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch cùng với âm mưu kích động bạo loạn, lật đổ từ bên ngoài. Điều này càng cho thấy, tầm quan trọng của việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, khi xác định quan điểm mới đã chỉ rõ: “ Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế- xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

    2.Nhận diện các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

    Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một vấn đề hệ trọng không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính quy luật, dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Do vậy, các thế lực cơ hội, thù địch cũng luôn tìm cách chống phá, gây mất ổn định, mong muốn chúng ta giải quyết sai, xử lý không đúng dẫn tới đổ vỡ, thất bại. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, nếu tập trung quá nhiều nguồn lực, tách riêng các nhiệm vụ, không có quan điểm đúng, dẫn tới tập trung quá nhiều cho quốc phòng, an ninh, dẫn tới không đủ nguồn lực cho xây dựng và phát triển kinh tế, tất yếu kinh tế kém phát triển và ngược lại, nếu chỉ tập trung cho phát triển kinh tế, coi nhẹ quốc phòng, an ninh dẫn tới hoặc phải dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài, hoặc luôn trong tình trạng bị đe doạ, phụ thuộc. Vì vậy, âm mưu, thủ đoạn của chúng là tạo ra sự mất cảnh giác, lợi dụng những khó khăn trong từng thời điểm, nhất là khó khăn về kinh tế, khó khăn về bảo vệ chủ quyền biển đảo để phê phán, xuyên tạc.

         Các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh, về lực lượng vũ trang, từ lâu luôn nhấn mạnh rằng, cần phải phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang chỉ tuân thủ pháp luật, không chịu sự lãnh đạo của Đảng; rằng lực lượng vũ trang muốn chuyên nghiệp, muốn có sức mạnh và khách quan thì không chịu sự chi phối của chính trị và ngược lại. Một đảng cầm quyền dễ mất dân chủ, độc đoán chuyên quyền, khi chi phối lực lượng vũ trang sẽ biến lực lượng vũ trang trở thành công cụ cho độc đoán, chuyên quyền, phe phái trong xã hội. Điều này dẫn tới suy yếu trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước đối với bên ngoài, nhưng là công cụ bạo lực đối với trong nước.

         Các thế lực cơ hội, thù địch thường rêu rao rằng, vì sợ mất vị trí lãnh đạo, mất vai trò cầm quyền, chính phủ cộng sản thường xuyên hù doạ nguy cơ từ bên ngoài, sử dụng công an, quân đội trấn áp ở bên trong để đàn áp nhân dân, để bảo vệ đặc quyền đặc lợi, tham nhũng tiêu cực, phe nhóm và lợi ích cha truyền con nối. Trong điều kiện đất nước kém phát triển, nguồn lực phát triển kinh tế, xã hội còn hạn chế, việc đề cao vai trò, tầm quan trọng của quốc phòng, an ninh thực chất là tạo ra một lãnh địa riêng, dùng tiền thuế của dân để đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, tiêu cực ngay trong lực lượng vũ trang, không ai kiểm soát được, dẫn đến làm suy yếu đất nước.

         Vấn đề quân đội làm kinh tế, sử dụng lính nghĩa vụ làm kinh tế quân đội, là một hình thức bóc lột sức lao động và kém hiệu quả, các thế lực cơ hội, thù địch cho rằng, ngày nay trên thế giới, rất ít quốc gia sử dụng quân đội làm kinh tế, ngay cả Trung Quốc cũng hạn chế và đang có xu hướng bỏ hình thức này. Quân đội làm kinh tế vừa thiếu chuyên nghiệp, vừa mở rộng quy mô quân đội không cần thiết, đặc biệt là dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, vì đây là lãnh địa riêng khó kiểm soát. Quân đội làm kinh tế sẽ dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh, thậm trí làm lãng phí nguồn lực của đất nước. Việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh không minh bạch, lãng phí; sử dụng ngân sách nhà nước mua vũ khí, trang thiết bị cho quân đội, công an luôn không minh bạch, công khai, dẫn tới nhiều tiêu cực.

         Chia rẽ quân đội với công an, lực lượng vũ trang với nhân dân, cho rằng Đảng, Nhà nước phân biệt đối xử, coi quân đội quan trọng hơn công an trong khi chiến tranh đã kết thúc. Nguồn lực đất nước đầu tư cho quân đội nhiều hơn công an, trong khi tổ chức bộ máy của công an đã sắp xếp lại, giảm đi đáng kể, quân đội lại cơ bản giữ nguyên, nhiều lĩnh vực, địa bàn không cần thiết, làm cho quy mô quân số lớn, lãng phí trong khi nhiệm vụ an ninh ngày càng lớn hơn. Lực lượng vũ trang hiện nay lẽ ra tập trung vào chống Trung Quốc, trong khi xử lý vấn đề Biển Đông lại sợ Trung Quốc, nhưng lại đàn áp nhân dân. Một số cán bộ quân đội, công an, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp thoái hoá, biến chất bảo kê cho tội phạm, xã hội đen, tham nhũng tiêu cực, giữ nhiều trọng trách quan trọng ở Trung ương và địa phương..

         Một số quan điểm quốc phòng, an ninh của Việt Nam là không phù hợp, nhất là trong điều kiện tình hình Biển Đông hết sức phức tạp; Việt Nam chủ trương 3 không, đặc biệt là không liên minh quân sự là cứng nhắc, ấu trĩ, mơ hồ về tình đồng chí với Trung Quốc hoặc sợ Trung Quốc. Trên thế giới nhiều nước tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn Việt Nam, họ vẫn liên minh quân sự với Mỹ, nhờ đó có nhiều nguồn lực để phát triển kinh tế, có đủ sức mạnh để răn đe sự xâm lăng từ bên ngoài. Trong khi Việt Nam, tiềm lực kinh tế và quốc phòng đều yếu, bị Trung Quốc đe doạ trực diện, xâm chiếm trái phép nhiều đảo của Việt Nam trên biển đông rất ngang ngược, phi lý nhưng Việt Nam bỏ lỡ nhiều cơ hội để liên minh với Mỹ, tranh thủ sức mạnh của Mỹ để răn đe Trung Quốc…

    3. Những luận cứ đấu tranh phản bác

    Sự lớn mạnh toàn diện của đất nước là một thực tế không thể phản bác, để đất nước có được cơ đồ to lớn như ngày nay, đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Việt Nam có điểm xuất phát thấp về kinh tế, bị chiến tranh tàn phá, luôn bị các thế lực bên ngoài, mạnh hơn ta nhiều lần, nhòm ngó xâm chiếm đất đai, chủ quyền biển đảo. Ngày nay, ít có quốc gia nào trên thế giới có được lịch sử chống ngoại xâm anh dũng, kiên cường như Việt Nam. Chiến tranh là điều nhân dân Việt Nam không mong muốn, nhưng để bảo vệ nền độc lập thì dân tộc, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều nhất tề đứng lên, đánh đuổi giặc ngoại xâm,  thống nhất đất nước. Khi hoà bình thì cùng nhau xây dựng để “non sông Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đây thực chất là việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một quan điểm lớn của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngấm sâu vào ý thức của mỗi người dân. Nhờ có chủ trương, phương thức lãnh đạo, thực hiện đúng đắn, không chỉ nguồn lực trong nước mà nguồn lực nước ngoài giúp đỡ; không chỉ nguồn lực Nhà nước mà nhân dân cũng tham gia. Bởi vậy, Việt Nam không chỉ giải quyết tốt vấn đề thống nhất, độc lập, chủ quyền lãnh thổ được giữ vững mà đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên, xã hội ổn định; nhiều chỉ tiêu phát triển, tiến bộ xã hội, đặc biệt là các mục tiêu thiên niên kỷ đều về sớm như tuổi thọ trung bình, tỷ lệ trẻ em đi học, xoá đói, giảm nghèo, được thế giới đánh giá cao.

         Ở Việt Nam, quân đội, công an đều tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân. Khác với các nước trên thế giới, các lực lượng vũ trang ở Việt Nam đều từ Nhân dân mà ra, do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và rèn luyện, là đội quân cách mạng, đội quân công tác, có tổ chức chặt chẽ. Sức mạnh của quốc phòng, an ninh ở Việt Nam là sức mạnh tổng hợp, không chỉ là sự lớn mạnh không ngừng về trang thiết bị, vũ khí mà còn là ở sức mạnh ý chí, tinh thần do Đảng giáo dục và rèn luyện. Thực tế này lý giải vì sao, Việt Nam là một nước nhỏ, kém phát triển, nhưng luôn đánh bại các đế quốc lớn xâm lược. Vì vậy, quân đội và công an ở Việt Nam không chỉ tuân thủ theo pháp luật, mà còn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

         Việc có những cán bộ quân đội, công an, trong đó có cả cán bộ cao cấp thoái hoá, biến chất, không làm thay đổi bản chất tốt đẹp, trong sáng của lực lượng vũ trang từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trong lịch sử cách mạng nước ta, kể cả những lúc khó khăn, cũng có những cán bộ thoái hoá, biến chất và đều bị xử lý nghiêm, đó là quy luật của sự đào thải, nhờ đó, lực lượng vũ trang của ta vững mạnh, tinh nhuệ và phát triển như ngày nay. Bên cạnh đó, chúng ta cũng có không ít những ví dụ về những vụ việc nghiêm trọng, sai phạm lớn trong quan đội, an ninh các nước, trong đó có cả nước Mỹ.

         Việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ trong đó có chủ quyền biển, đảo là kiên quyết, nhất quán từ trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Trong mọi hoàn cảnh, một tấc đất, chủ quyền dân tộc, chúng ta cũng không từ bỏ. Nhờ những thái độ kiên quyết, kiên trì đó, chủ quyền của đất nước trên đất liền, trên biển chúng ta vẫn giữ vững được cho đến hôm nay, biên giới trên đất liền được phân định rõ ràng, minh bạch theo luật pháp quốc tế, trên biển, đảo chúng ta giữ nguyên trạng. Cần phải thấy rằng, tranh chấp chủ quyền biển đảo là một vấn đề cần phải giải quyết lâu dài, kiên trì; tránh vấp phải âm mưu, kích động, chia rẽ của các thế lực cơ hội, thù địch. Nôn nóng, giản đơn và mắc mưu kẻ địch thì chẳng những kinh tế không phát triển, xã hội không ổn định mà chủ quyền, an ninh chúng ta cũng không giữ được. Đó là bài học xương máu cần tỉnh táo.

         Cần phải thấy rằng, các thế lực cơ hội, thù địch không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước, ngay cả khi chúng ta làm tốt. Chúng luôn xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng các phương tiện thông tin, nhất là mạng xã hội, vu cáo, bôi nhọ, chống phá, làm người dân nghi ngờ, mất lòng tin… Bởi vậy, đòi hỏi chúng ta luôn tỉnh táo, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù địch, tránh thụ động, theo đuôi, thậm trí mất phương hướng.

    4.Kiến nghị

    -Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm sáng tỏ vấn đề những mới về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Những vấn đề về an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống; cạnh tranh của các nước lớn; biến đổi khí hậu, thiên tai bệnh dịch; tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là cuộc cách mạng 4.0 đến sự phát triển nước ta trong tình hình mới.

         – Phải đặt việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Xác định các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, các khâu đột phá, nhất là những điểm nghẽn trong sự phát triển và giải quyết mối quan hệ này. Đánh giá đúng thời cơ, nguy cơ nhất là những tác động từ bên ngoài, vấn đề Biển Đông, chủ nghĩa khủng bố, dân tộc cực đoan, cạnh tranh giữa các nước lớn tác động đến chủ quyền, an ninh, đến sự ổn định và phát triển của Việt Nam.

         – Dự báo tác động, âm mưu chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch. Đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao sức đề kháng của nhân dân trước những thông tin sai trái, thù địch. Quan tâm đúng mức việc đấu tranh trên internet, mạng xã hội, nhất là thế hệ trẻ.

         – Bổ sung một số nhận thức mới về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nhất là những giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém. Xác định đúng mục tiêu trong từng thời kỳ, giữa việc giải quyết mối quan hệ này với xây dựng lực lượng quân đội, công an trong tình hình mới; gắn kết quốc phòng, an ninh với đối ngoại; điều chỉnh và cụ thể hoá nội hàm về đối tác, đối tượng…

       – Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong cung cấp thông tin phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng luận cứ thuyết phục, kịp thời, đúng đối tượng; rà soát công tác quy hoạch, các công trình kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, phát hiện những mâu thuẫn, điểm nghẽn để có giải pháp khắc phục kịp thời. Tiếp tục điều chỉnh, sắp xếp lại các đơn vị quân đội, công an làm kinh tế theo hướng giảm dần những lĩnh vực không cần thiết, chấm dứt các loại hình doanh nghiệp quân đội, công an, kinh doanh thương mại, dịch vụ. Rà soát lại đất đai quốc phòng, an ninh được sử dụng làm kinh tế hoặc các mục đích khác không phải quốc phòng, an ninh./.

     

                                                                         chúng tôi Phạm Văn Linh

    Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận TW 

    Nguồn Hội đồng Lý luận TW

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Thức Mới, Tư Duy Mới Về Quốc Phòng Việt Nam
  • Thống Nhất 8 Giải Pháp Trọng Tâm Kéo Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Kiềm Chế, Đẩy Lùi Tai Nạn Giao Thông
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm ( Đạt Loại Khá Cấp Tỉnh) : Trường Thcs Nam Toàn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Giúp Học Sinh Yếu Học Tốt Toán 11
  • Mối Quan Hệ Giữa Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng

    --- Bài mới hơn ---

  • Pierre Bourdieu Và Xã Hội Học Tôn Giáo
  • Phát Huy Nguồn Lực Tôn Giáo Trong Phát Triển Đất Nước
  • Tôn Giáo Trong Phát Triển Bền Vững: Những Vấn Đề Lý Luận
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Xã Hội Hóa Và Lồng Ghép Các Hoạt Động Y Tế
  • 4.8

    /

    5

    (

    13

    bình chọn

    )

    Cơ sở hạ tầng là gì? Kiến trúc thượng tầng của xã hội là gì? Đặc điểm và tính chất của chúng là gì và mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng như thế nào? Hãy tìm câu trả lời trong bài viết này của Luận Văn Việt.

    1. Cơ sở hạ tầng là gì?

    Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định. Dựa vào khái niệm đó, nó đã phản ánh chức năng xã hội của các quan hệ xã hội của các quan hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội.

    Đúng vậy, mỗi một hình thái kinh tế – xã hội có một kết cấu kinh tế đặc trưng là cơ sở hiện thực của xã hội, hình thành một cách quan trong quá trình sản xuất vật chất xã hội. Nó bao gồm không chỉ những quan hệ trực tiếp giữa người với người trong sản xuất vật chất mà nó còn bao gồm cả những quan hệ kinh tế, trao đổi trong quá trình tái sản xuất ra đời sống vật chất của con người.

    2. Đặc điểm và tính chất của cơ sở hạ tầng

    Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể thường bao gồm: kiểu quan hệ sản xuất thống trị trong nền kinh tế. Đồng thời trong mỗi cơ sở hạ tầng xã hội còn có những quan hệ sản xuất khác như: dấu vết, tàn trữ quan hệ sản xuất cũ và mầm mống, tiền đề của quan hệ sản xuất mới.

    Cuộc sống của xã hội cụ thể được đặt trong trước hết bởi kiểu quan hệ sản xuất thống trị tiêu biểu cho cuộc sống ấy và những quan hệ sản xuất quá độ, hay những tàn dư cũ, mầm mống mới có vai trò nhất định giữa chúng tuy có khác nhau nhưng không tách rời nhau vừa đấu tranh với nhau, vừa liên hệ với nhau và hình thành cơ sở hạ tầng của mỗi xã hội cụ thể ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.

    Ví dụ như: Trong xã hội phong kiến ngoài quan hệ sản xuất phong kiến chiếm địa vị thống trị, nó còn có quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội chiếm hữu nô lệ, mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và chính 3 yếu tố đó cấu thành nên cơ sở hạ tầng phong kiến. 

    Đặc trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng là do quan hệ sản xuất thống trị quy định. Quan hệ sản xuất thống trị quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội. Quy định tính chất cơ bản của toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội đương thời mặc dù quan hệ tàn dư, mầm mống có vị trí không đáng kể trong xã hội có nền kinh tế xã hội phát triển đã trưởng thành, nhưng lại có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của xã hội đang ở giai đoạn mang tính chất quá độ. 

    Cơ sở hạ tầng mang tính chất đối kháng tồn tại trong xã hội mà dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tính chất đối kháng của cơ sở hạ tầng được bắt nguồn từ những mâu thuẫn nội tại không thể điều hoà được trong cơ sở hạ tầng đó và do bản chất của kiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định. Đó là sự biểu hiện của sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn người trong xã hội. 

    Như vậy, cơ sở hạ tầng là tổng thể và mâu thuẫn rất phức tạp, là quan hệ vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người. Nó được hình thành trong quá trình sản xuất vật chất và trực tiếp biến đổi theo sự tác động và phát triển của lực lượng sản xuất.

    3. Khái niệm kiến trúc thượng tầng xã hội

    Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm: chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, tôn giáo, nghệ thuật… với những thể chế tương ứng: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể… được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. 

    Bởi vậy, kiến trúc thượng tầng là những hiện tượng xã hội, biểu hiện tập trung đời sống tinh thần của xã hội, là bộ mặt tinh thần tư tưởng của hình thái kinh tế -xã hội. Nó đóng vai trò quan trọng cùng các bộ phận khác trong xã hội hợp thành cơ cấu hoàn chỉnh của hình thái kinh tế-xã hội.

    4. Đặc điểm và tính chất của kiến trúc thượng tầng

    Như vậy, các bộ phận khác nhau của kiến trúc thượng tầng đều ra đời và có vai trò nhất định trong việc tạo nên bộ mặt tinh thần, tư tưởng của xã phát triển trên một cơ sở hạ tầng nhất định, là phản ánh cơ sở hạ tầng.

    Kiến trúc thượng tầng của xã hội có đối kháng giai cấp mang tính giai cấp sâu sắc. Tính giai cấp của kiến trúc thượng tầng biểu hiện ở sự đối địch về quan điểm, tư tưởng và các cuộc đấu tranh về tư tưởng của các giai cấp đối kháng. 

    Bộ phận có quyền lực mạnh nhất của kiến trúc thượng tầng của xã hội có tính chất đối kháng giai cấp là nhà nước – Đây là công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho xã hội về mặt pháp lý – chính trị.

    Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS, những tàn dư tư tưởng của các giai cấp thống trị bóc lột vẫn còn tồn tại trong kiến trúc thượng tầng. Vì vậy, trong kiến trúc thượng tầng của các nước xã hội chủ nghĩa ở thời kỳ này vẫn còn sự đấu tranh giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa với những tàn dư tư tưởng khác. Chỉ đến chủ nghĩa cộng sản, tính giai cấp của giai cấp của giai cấp thượng tầng mới bị xoá bỏ.

    5. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội

    Theo như quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì nhà nước và pháp luật quyết định quan hệ kinh tế, ý thức tư tưởng quyết định tiến trình phát triển của xã hội. Theo chủ nghĩa duy vật, kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định còn ý thức tư tưởng, chính trị không có vai trò gì đối với tiến bộ xã hội. 

    Nhưng theo chủ nghĩa Mác- Lê nin, đã khẳng định: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có quan hệ biện chứng không tách rời nhau, trong đó có cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn kiến trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.

    Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển của cơ sở hạ tầng đóng vai trò với kiến trúc thượng tầng. Kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với tính chất trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng hay cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thượng tầng ấy. 

    Sự biến đổi giữa hai yếu tố này cũng tuân theo mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng diễn ra theo hai hướng: 

    Một là: sự phát triển hoặc giảm đi về lượng dẫn đến sự biến đổi ngay về chất.

    Hai là: sự tăng hay giảm về lượng không làm cho chất thay đổi ngay mà thay đổi dần dần từng phần từng bước.

    Theo quy luật này thì quá trình biến đổi giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng diễn ra như sau:

    Cơ sở hạ tầng ở mỗi giai đoạn lịch sử lại mâu thuẫn phủ định lẫn nhau dẫn đến quá trình đào thải. Mác nói: ”nếu không có phủ định những hình thức tồn tại đã có trước thì không thể có sự phát triển trong bất cứ lĩnh vực nào”. Chính vì cơ sở hạ tầng cũ được thay thế bằng cơ sở hạ tầng mới bao hàm những mặt tích cực tiến bộ của cái cũ đã được cải tạo đi trên những nấc thang mới. Chính vì cơ sở hạ tầng thường xuyên vận động như vậy nên kiến trúc thượng tầng luôn luôn thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của cơ sở hạ tầng.

    Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng xã hội

    Mỗi hình thái kinh tế xã hội có cơ sở hạ tầng, và kiến trúc thượng tầng của nó. Do đó, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mang tính lịch sử cụ thể, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, và cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng. 

    Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng thể hiện trước hết là ở chỗ: Cơ sở hạ tầng là những quan hệ vật chất khách quan quy định mọi quan hệ khác: Về chính trị, tinh thần, tư tưởng của xã hội. Cơ sở hạ tầng nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy, nói cách khác cơ sở hạ tầng đã sinh ra kiến trúc thượng tầng, và kiến trúc thượng tầng bao giờ cũng phản ánh một cơ sở hạ tầng nhất định, không có kiến trúc thượng tầng chung cho mọi xã hội. 

    Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng về tính chất, nội dung và kết cấu: Tính chất của kiến trúc thượng tầng đối kháng hay không đối kháng, nội dung của kiến trúc thượng tầng nghèo nàn hay đa dạng, phong phú và hình thức của kiến trúc thượng tầng gọn nhẹ hay phức tạp do cơ sở hạ tầng quyết định. 

    Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng. Mác viết: ”Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả tất cả các kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị thay đổi ít nhiều nhanh chóng”. 

    Sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng diễn ra rõ rệt khi cơ sở hạ tầng này thay thế cơ sở hạ tầng khác. Nghĩa là, khi cách mạng xã hội đưa đến sự thủ tiêu cơ sở hạ tầng cũ bị xoá bỏ và thay thế cơ sở hạ tầng mới thì sự thống trị cũ bị xoá bỏ và thay thế bằng sự thống trị của giai cấp mới. Qua đó mà chính trị của giai cấp thay đổi, bộ máy nhà nước mới thành lập thay thế nhà nước cũ, ý thức xã hội cũng biến đổi. 

    Trong xã hội có đối kháng giai cấp, sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng diễn ra do kết quả của cuộc đấu tranh gay go phức tạp giữa các giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, mà đỉnh cao là cách mạng xã hội. Những biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xét cho cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nhưng lực lực lượng sản xuất trực tiếp gây ra sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và sự biến đổi của cơ sở hạ tầng đến lượt nó lại làm cho kiến trúc thượng tầng biến đổi.

    Trong sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, không phải cứ cơ sở hạ tầng mới xuất hiện thì kiến trúc thượng tầng mới mất đi ngay mà có bộ phận thay đổi dần dần chậm chạp. Vì trong cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, những tàn dư của cái cũ còn tồn tại rất lâu. Mặt khác cũng có những yếu tố, những hình thức không cơ bản nào đó của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp mới giữ lại, cải tạo để phục vụ cho yêu cầu phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mới. 

    Như vậy, chúng ta có thể thấy cơ sở hạ tầng có quyết định to lớn đối với kiến trúc thượng tầng, do đó trong cách mạng xã hội chủ nghĩa việc xây dựng cơ sở chủ nghĩa có tác dụng vô cùng to lớn đối với cuộc sống của xã hội. Chính vì tầm quan trọng của nó mà khi xem xét, cải tạo một bộ phận nào đó của kiến trúc thượng tầng phải xem xét cải tạo từ cơ sở hạ tầng xã hội. và tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với với kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp trong quá trình chuyển từ một hình thái kinh tế- xã hội khác. 

    Tuy vậy, những quan hệ tinh thần, tư tưởng của xã hội đó là kiến trúc thượng tầng, cũng không hoàn toàn thụ động, nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng sinh ra nó.

    Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng

    Trong mối quan hệ với cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ tầng biểu hiện tập trung đời sống tinh thần xã hội, do đó có vai trò tác động to lớn trở lại với cơ sở hạ tầng. 

    Là một bộ phận cấu thành hình thành kinh tế xã hội, được sinh ra và phát triển trên một cơ sở hạ tầng nhất định, cho nên sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là luôn luôn bảo vệ duy trì, củng cố và hoàn thiện cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đã lỗi thời lạc hậu. 

    Kiến trúc thượng tầng tìm mọi biện pháp để xoá bỏ những tàn dư của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ, ngăn chặn những mầm mống tự phát của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mới nảy sinh trong xã hội ấy. Thực chất trong xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trị chính trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế. Nếu giai cấp thống trị không xác lập được sự thống trị về chính trị và tưởng, cơ sở kinh tế của nó không thể đứng vững được. Vì vậy, kiến trúc thượng tầng thực sự trở thành công cụ, phương tiện để duy trì, bảo vệ địa vị thống trị về kinh tế của giai cấp thống trị của xã hội. 

    Trong các yếu tố cấu thành nên kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng và có tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng vì, nó là một lượng vật chất tập trung sức mạnh kinh tế và chính trị của giai cấp thống trị . Nhà nước không chỉ dựa trên hệ tưởng, mà còn dựa trên những hình thức nhất định của việc kiểm soát xã hội, sử dụng bạo lực, bao gồm các yếu tố vật chất: quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù… để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị, củng cố địa vị của quan hệ sản xuất thống trị. 

    Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp đối kháng đấu tranh với nhau giành chính quyền về tay mình, cũng chính là tạo cho mình sức mạnh kinh tế. Sử dụng quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị sẽ không ngừng mở rộng ảnh hưởng kinh tế trên toàn xã hội. Kinh tế vững mạnh làm cho nhà nước được tăng cường. Nhà nước được tăng cường lại tạo thêm phương tiện vật chất để củng cố vững chắc hơn địa vị kinh tế và xã hội của giai cấp thống trị.

    Cứ như thế, sự tác động qua lại biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng đưa lại sự phát triển hợp quy luật của kinh tế và chính trị. Ở đây, nhà nước là phương tiện vật chất, có sức mạnh kinh tế, còn kinh tế là mục đích của chính trị, điều này được chứng minh qua sự ra đời và sự tồn tại của nhà nước khác nhau. 

    Cùng với nhà nước, các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng cũng đã tác động đến cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức khác nhau. Các yếu tố của kiến trúc thượng tầng không những chỉ có tác động lẫn nhau. Song thường thường những sự tác động đó phải thông qua nhà nước, pháp luật và thể chế tương ứng, chỉ qua đó chúng mới phát huy được hết hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng, và đối với toàn xã hội.

    Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng nó tác động cùng chiều với quy luật vận động của cơ sở hạ tầng. Trái lại, khi nó tác động ngược chiều với quy luật kinh tế khách quan nó sẽ cản trở sự phát triển của cơ sở hạ tầng.

    Hiệu quả tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng, phụ thuộc vào năng động chủ quan trong nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế- xã hội, vào hoạt động thực tiễn của con người. Kiến trúc thượng tầng có vai trò to lớn, định hướng những hoạt động thực tiễn đưa lại phương án phát triển tối ưu cho kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nếu nhấn mạnh, tuyệt đối hoá, phủ nhận tính tất yếu kinh tế của xã hội, sẽ phạm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan dưới những hình thức khác nhau. 

    Nói tóm lại, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có quan hệ biện chứng với nhau. Do đó, khi xem xét và cải tạo xã hội phải thấy rõ vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng và tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng, không được tuyệt đối hoá hoặc hạ thấp yếu tố nào. 

    Trung thành với lý luận Mác – Lênin và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tiễn ở Việt Nam, Đảng chủ trương tập chung đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác coi đó là nhiệm vụ quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trên lĩnh vực chính trị: ”Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý về kinh tế – xã hội bằng pháp luật, kế hoạch, chính trị, thông tin, tuyên truyền giáo dục và công cụ khác” ( Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 7).

    0/5

    (0 Reviews)

    Hy vọng có thể mang đến cho bạn đọc thật nhiều thông tin bổ ích về tất cả các chuyên ngành, giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Chức Năng Copy & Paste Nâng Cao Trong Word 2010
  • Bài 4. Định Dạng Văn Bản
  • Hướng Dẫn Cách Đặt Tab Trong Word 2007 – Word 2010
  • Microsoft Word: Indentation & Tab
  • Cách Thụt Lề Đoạn Văn Trong Word 2010
  • Mối Quan Hệ Giữa Ban Quản Lý Dự Án Và Tổ Chuyên Gia Trong Hoạt Động Đấu Thầu

    --- Bài mới hơn ---

  • .:: Trung Tâm Hội Nghị & Tổ Chức Sự Kiện Tỉnh Đồng Nai ::.
  • Phòng Tổ Chức Cán Bộ Lao Động
  • Phòng Tổ Chức Cán Bộ – Lao Động
  • Trường Tiểu Học Mai Đình 1
  • Công Việc Của Một Người Tổ Trưởng Sản Xuất Chuyên Nghiệp
  •   2016-12-11

    Mối Quan Hệ Giữa Ban Quản Lý Dự Án và Tổ Chuyên Gia Trong Hoạt Động Đấu Thầu

    Hỏi: Chúng tôi là Ban quản lý dự án khi tổ chức mời thầu thì có bắt buộc thành lập Tổ chuyên gia đấu thầu không? Trường hợp nếu có cả Ban quản lý dự án và Tổ chuyên gia đấu thầu thì chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các đơn vị này trong quá trình đấu thầu như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật đấu thầu thì Bên mời thầu có thể là Chủ đầu tư hoặc cũng có thể đơn vị do Chủ đầu tư thành lập hoặc lựa chọn. Trường hợp của bạn theo chúng tôi hiểu Chủ đầu tư giao cho Ban quản lý dự án làm Bên mời thầu.

    Còn Tổ chuyên gia là các cá nhân có năng lực, kinh nghiệm được bên mời thầu hoặc đơn vị tư vấn đấu thầu thành lập để đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ khác trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

    Việc thành lập Tổ chuyên gia là bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều 75 Luật đấu thầu mà không phụ thuộc vào việc Bên mời thầu là ai. Do vậy trường hợp Ban quản lý dự án tổ chức mời thầu thì vẫn phải lập Tổ chuyên gia.

    Vậy nhiệm vụ, quyền hạn của Bên mời thầu (ở đây là Ban quản lý dự án) và Tổ chuyên gia như thế nào trong quá trình đấu thầu?

    Bền mời thầu có các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 75 Luật đấu thầu quy định về trách nhiệm của bên mời thầu. Cụ thể là: Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu, đánh giá HSDT; lập tổ chuyên gia; thương thảo hoàn thiện hợp đồng…

    Tổ chuyên gia có các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 76 Luật đấu thầu như: đánh giá HSMT, báo cáo Bên mời thầu….

    Như vậy có thể thấy Tổ chuyên gia gần như đơn vị giúp việc của Bên mời thầu trong giai đoạn đánh giá HSDT/HSDST/HSĐX. Còn Bên mời thầu sau khi tiếp nhận ý kiến của Tổ chuyên gia về đánh giá HSDT, danh sách xếp hạng nhà thầu thì tiếp tục đánh giá HSDT và cho ý kiến đối với kết quả đánh giá của tổ chuyên gia để sau đó trình Chủ đầu tư phê duyệt. Ngoài ra Bên mời thầu còn thực hiện nhiều nhiệm vụ khác trong quá trình đấu thầu ngoài việc đánh giá hồ sơ như lập hồ sơ, thương thảo hợp đồng…vv

    Liên hệ: Công ty luật Hà Dương – ĐT: 024.629.116099, Mobile: 0982570397 – Email: [email protected] - Địa chỉ: Phòng 16 a tầng 16, tháp a, tòa nhà Bigtower, số 18 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Tp Hà Nội (MST:  0107908348 – STK: 26810000196593 mở tại BIDV chi nhánh Thái Hà)

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Du Lịch Thế Giới (Unwto): Du Lịch Nội Địa Và Gần Nhà Là Xu Hướng Nổi Bật Trong Năm 2021
  • Tổ Chức Đảng Lãnh Đạo Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Trong Doanh Nghiệp (*)
  • Thương Mại Điện Tử Là Gì? Mô Hình, Đặc Kiểm, Lợi Ích Và Những Khó Khăn Tmđt Tại Việt Nam
  • So Sánh Đặc Điểm Các Cấu Trúc Thị Trường Trong Kinh Tế Vi Mô
  • Kinh Nghiệm Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Của Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới Từ Khía Cạnh Chính Sách
  • Nhận Thức Và Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Tuân Theo Các Quy Luật Của Kinh Tế Thị Trường Và Bảo Đảm Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Gửi Tiết Kiệm Online Tại Ngân Hàng Bidv Năm 2021
  • Nhiệm Vụ Kế Toán Vốn Bằng Tiền
  • Cất Giữ Giá Trị Là Gì?
  • Bệnh Rối Loạn Tiền Đình: Nguyên Nhân Và Cách Phòng Tránh. – Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Lào Cai
  • Phát Hành Và Điều Hòa Tiền Mặt
  • 1. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta gần 35 năm qua. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng ngày càng rõ và đầy đủ hơn. Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng được xác định là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với trình độ phát triển đất nước trong từng giai đoạn, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

    Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân trong nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Các quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tự do lưu thông được pháp luật bảo vệ. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Thị trường, với sự tác động của các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, là yếu tố chủ yếu quyết định giá cả hàng hóa, huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; tạo động lực phát triển và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc doanh nghiệp yếu kém. Nhà nước quản lý kinh tế bằng luật pháp, chính sách, các tiêu chuẩn, định mức, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng lực lượng kinh tế của mình (gồm các nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước) để tạo khung khổ pháp luật, môi trường công khai, minh bạch, thuận lợi cho các chủ thể kinh tế, các thị trường hoạt động, cho sản xuất và lưu thông; khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường; đồng thời, thúc đẩy và định hướng phát triển kinh tế, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường. Phân phối được thực hiện theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn và các nguồn lợi khác vào hoạt động kinh tế và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường được bảo đảm bởi vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống luật pháp, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

    Nhận thức, quan điểm của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được thể chế hóa thành luật pháp, chính sách, các chiến lược, chương trình, kế hoạch của nhà nước, được thực hiện đạt kết quả, thành tựu to lớn. Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta đã có đầy đủ các yếu tố của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế theo thông lệ quốc tế, đồng thời các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được củng cố, tăng cường; kinh tế đất nước đạt tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài, cơ cấu và trình độ công nghệ thay đổi tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao.

     

    2. Tuy vậy, từ nhiều năm trước và đến ngày nay, vẫn có một số người, cả ở trong nước và ngoài nước, vì nhiều lý do, nhiều động cơ khác nhau, vẫn cho rằng không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường, các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường là sự gán ghép chủ quan duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ, không có cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, kết quả đạt được còn lớn hơn. Do đó, mặc dù Việt Nam có nhiều nỗ lực tuyên truyền, vận động, nhưng nhiều nước vẫn chưa công nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường để được hưởng các quy chế ưu đãi trong quan hệ kinh tế với các nước.

    Họ còn cho rằng: một mặt, Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường, phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng các hình thức sở hữu; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật, nhưng mặt khác lại xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế thì như vậy là có phân biệt đối xử, không thể bình đẳng, do đó, không thể có kinh tế thị trường thật sự, kinh tế thị trường theo thông lệ quốc tế. Hơn nữa, Nhà nước ta lại xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động cả trong nước và ngoài nước thì nền kinh tế thị trường sẽ phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, như các nước tư bản khác, chứ không phải phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là chủ quan, duy ý chí hay là tự lừa dối chính mình, lừa dối người khác mà thôi…

    Những luận điệu như vậy không phải là không có tác động đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm một số người băn khoăn, ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội; làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; ảnh hưởng tới việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, cần phải được đấu tranh, phản bác.

    3. Sai lầm của những người cho rằng không thể có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thứ nhất, là do họ đã đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế thị trường chủ nghĩa tư bản, cho rằng, chỉ có một loại kinh tế thị trường là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Song, thực chất các quan hệ kinh tế thị trường và các quan hệ tư bản là hoàn toàn khác nhau. Nguồn gốc và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, cung cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của kinh tế thị trường. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản nắm lấy, sử dụng để phát triển thành kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Giá trị và tư bản là những phạm trù khác nhau, cũng như quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư là những quy luật khác nhau.

    Thứ hai, sai lầm của những người này là dường như cho rằng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa từ khi ra đời đến nay là không thay đổi, “nhất thành, bất biến”. Họ không thấy rằng trải qua thời gian, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hiệu quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước để hạn chế, khắc phục những khuyết tật do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường. Ngày nay, nền kinh tế thị trường hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết thị trường là cơ sở, nền tảng, điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (Công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).

    Hơn nữa, kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước. Có mô hình kinh tế thị trường tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế (như Mỹ trước thời Tổng thống D.Trump). Có mô hình kinh tế thị trường xã hội ở nước mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia vào phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như Đức). Có mô hình kinh tế thị trường phúc lợi xã hội ở nước mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt những người cần được trợ giúp: trẻ em, người già, người thất nghiệp… (như các nước Bắc Âu). Có mô hình kinh tế thị trường nhà nước phát triển ở nước mà nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như Nhật Bản, Hàn Quốc)…

    Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại. Chủ nghĩa tư bản đã lấy kinh tế thị trường làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản phát triên, dù ở mức độ khác nhau, đều có định hướng xã hội. Đây là xu hướng tiến bộ, là những mầm mống của chủ nghĩa xã hội trong lòng chủ nghĩa tư bản (là những sự phủ định đối với tư bản tư nhân, dù vẫn chưa phá bỏ được chế độ tư bản). Do tính chất của thời đại, ngày nay, một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cũng có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước này, sử dụng cả kinh tế thị trường và cả kinh tế tư bản chủ nghĩa để xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.

    – Về sai lầm của luận điểm cho rằng các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn đối lập, loại trừ nhau.

    Là một nền kinh tế thị trường thì phải vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường. Đó là các quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, trong đó trung tâm là quy luật giá trị. Đặc trưng của kinh tế thị trường là cạnh tranh. Các doanh nghiệp (dùng doanh nghiệp để chỉ chung cho tất cả các chủ thể kinh tế) luôn phải cạnh tranh với nhau để chiếm được các nguồn lực sản xuất (đất đai, tài nguyên, vốn, lao động, khoa học công nghệ…), các dự án đầu tư, chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cạnh tranh là sức ép, động lực thúc đẩy các doanh nghiệp năng động, sáng tạo, cải tiến quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh hợp lý; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm; tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh; qua đó, thúc đẩy kinh tế phát triển, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Quy luật cạnh tranh là mạnh được, yếu thua. Đây là mặt tích cực của cạnh tranh. Nhưng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng dẫn đến những hậu quả tiêu cực: khai thác tối đa sức lực người lao động (kéo dài giờ làm, tăng cường độ lao động), giảm chi phí cho lao động (giảm lương, giảm bảo hộ lao động); khai thác cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường; sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, như: làm hàng giả, kém chất lượng, ăn cắp công nghệ, buôn lậu, trốn thuế, phá hoại đối thủ… Trong nền kinh tế thị trường có quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển hiện nay, nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh tranh; bảo vệ, tôn trọng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh; nhưng, đồng thời, ngăn ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh.

    Lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường (cả hàng hóa là yếu tố đầu vào của sản xuất và hàng hóa là sản phẩm do sản xuất tạo ra) được điều tiết bởi quy luật cung – cầu. Khi cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống; khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ tăng lên. Sự tăng lên hay giảm xuống của giá cả hàng hóa là tín hiệu của thị trường để những người kinh doanh thương mại chuyển hàng hóa từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao, từ nơi thừa đến nơi thiếu; để các nhà sản xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hóa thừa, cung lớn hơn cầu, tăng cường, mở rộng sản xuất các hàng hóa thiếu, cung nhỏ hơn cầu. Đây chính là sự điều tiết sản xuất và lưu thông một cách tự động, linh hoạt, nhanh nhạy của cơ chế thị trường, là mặt tích cực của quy luật cung – cầu. Nhưng, trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, những người sản xuất và lưu thông đều chạy theo lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè bẹp đối thủ, lại không xác định được tổng cầu của xã hội (từ người sản xuất đến người tiêu dùng phải qua rất nhiều khâu trung gian), nên thường xuyên sản xuất thừa, dẫn đến những cuộc khủng hoảng chu kỳ, phá hoại nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của quy luật cung – cầu, của cơ chế tự điều tiết của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường có quản lý của nhà nước, nhà nước có khả năng thấy rõ hơn từng người sản xuất kinh doanh về tổng cung, tổng cầu của xã hội; sự can thiệp của nhà nước là để khắc phục khiếm khuyết này, khắc phục những mất cân đối lớn, những cuộc khủng hoảng chu kỳ do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường gây ra.

    Quy luật giá trị là quy luật cơ bản, trung tâm của kinh tế thị trường. Giá trị hàng hóa là lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa. Chi phí để sản xuất hàng hóa, xét đến cùng, là chi phí lao động, bao gồm lao động của người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa (lao động sống) và lao động chi phí để sản xuất ra các tư liệu sản xuất được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa này (lao động quá khứ). Về lượng giá trị, không phải mọi hao phí lao động cá biệt của những người sản xuất hàng hóa đều được xã hội thừa nhận để trở thành giá trị, chỉ những hao phí lao động ở mức trung bình xã hội, được hình thành do cạnh tranh, được xem là hao phí lao động xã hội cần thiết, mới là lượng giá trị. Giá trị biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị là hình thái của cải trong nền kinh tế thị trường, là mục tiêu, là yếu tố chi phối mọi hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường.

    Trong kinh tế thị trường, đối với người sản xuất, việc sản xuất hàng hóa nào chỉ là phương tiện để làm giàu, để thu được nhiều giá trị nhất. Trong sản xuất, họ năng động, sáng tạo, cải tiến, đổi mới… là để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, để chi phí sản xuất của họ thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, qua đó thu được nhiều giá trị hơn. Đối với người lưu thông hàng hóa cũng vậy, mua và bán hàng hóa gì đối với họ không quan trọng, vấn đề cũng là để thu được nhiều giá trị nhất, để làm giàu. Họ năng động, sáng tạo, nắm bắt kịp thời yêu cầu của thị trường, đưa hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu, từ nơi giá thấp đến nơi giá cao; cải tiến quản lý để giảm chi phí lưu thông… cũng để thực hiện mục đích này. Đây là cách thức vận hành của quy luật giá trị, cách thức vận hành đó gắn bó chặt chẽ với quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu; có thể nói các quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu là những hình thức biểu hiện, cách thức vận hành của quy luật giá trị. Tác động của quy luật giá trị bao gồm những tác động của quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu (tất nhiên, quy luật giá trị còn có nội dung rộng hơn hai quy luật này), cả những tác động tích cực, như: thúc đẩy năng động, sáng tạo, không ngừng cải tiến quản lý, đổi mới công nghệ… thúc đẩy kinh tế phát triển; điều tiết sản xuất, lưu thông một cách nhanh nhạy… và cả những hậu quả tiêu cực, như: khủng hoảng chu kỳ, phân hóa xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường… Trong các nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là để tạo khung khổ pháp luật và điều kiện thuận lợi cho quy luật giá trị vận hành, đồng thời hạn chế, khắc phục những hậu quả tiêu cực này.

    Trong nền kinh tế thị trường, còn có quy luật lưu thông tiền tệ, một quy luật phái sinh của quy luật giá trị. Đó là quy luật về mối quan hệ giữa hàng hóa và tiền tệ trong lưu thông, về số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa, bảo đảm cho lưu thông hàng hóa thuận lợi, trôi chảy. Theo quy luật này, số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa là do tổng giá trị hàng hóa cần lưu thông và tốc độ luân chuyển (hay tốc độ vòng quay) của tiền quyết định. Trong thời kỳ sử dụng tiền vàng, tiền có đủ giá trị, thì khi số lượng tiền vượt quá yêu cầu của lưu thông hàng hóa, tiền vàng sẽ tự động được rút khỏi lưu thông. Khi tiền giấy thay cho tiền vàng, nếu số lượng tiền vượt quá yêu cầu của lưu thông hàng hóa, tiền sẽ mất giá, gây ra hiện tượng lạm phát. Giữ vững giá trị đồng tiền là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước ở các nước có kinh tế thị trường trên thế giới.

    Tóm lại, trong tất cả các nền kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới, đều có hoạt động của các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường và có vai trò quản lý của nhà nước; nhà nước vừa bảo đảm, tôn trọng hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường, đồng thời, vừa hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực, tự phát do các quy luật kinh tế thị trường gây ra, giữ môi trường ổn định cho kinh tế phát triển và hướng sự phát triển kinh tế vào các mục tiêu xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, quan tâm đến lĩnh vực an sinh xã hội. Song, không có phê phán nào về vai trò của nhà nước, cho rằng điều này đối lập với hoạt động của các quy luật của nền kinh tế thị trường.

     

    Ở nước ta, sau gần 35 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, về cơ bản, đã có đầy đủ các yếu tố của nền kinh tế thị trường hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế: có đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do kinh doanh, tự do lưu thông hàng hóa, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng, hệ thống thị trường phát triển ngày càng đồng bộ…; quản lý kinh tế của nhà nước đã đổi mới, quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giữ giá trị của đồng tiền, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường… Trong điều kiện đó, các quy luật của kinh tế thị trường đã vận hành đồng bộ: các doanh nghiệp đã phải nỗ lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển; giá cả hàng hóa đã cơ bản do thị trường quyết định; sản xuất và lưu thông đã phải chú ý đến những tín hiệu giá cả, cung – cầu trên thị trường; thị trường đã đóng vai trò trực tiếp điều tiết sản xuất và lưu thông, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, huy động và phân bổ các nguồn lực của sản xuất… Các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, để giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định xã hội, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường… Nội dung và phương thức quản lý của nhà nước ta như vậy không mâu thuẫn, cản trở hoạt động của các quy luật của kinh tế thị trường mà tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các quy luật này, để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

    Sai lầm của những người cho rằng nếu kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì không có bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế và không thể có nền kinh tế thị trường, thứ nhất, là do bị ám ảnh bởi kinh tế nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp trước đây và thứ hai, là do hiểu sai về vai trò chủ đạo, cho rằng chủ đạo là phải được ưu đãi, ưu ái của nhà nước, phải chiếm tỷ trọng lớn, chèn ép, lấn lướt các thành phần kinh tế khác. Trong nền kinh tế trước đổi mới, chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, không có kinh tế tư nhân (kinh tế tư nhân không được phép tồn tại); kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế, do nhà nước trực tiếp quản lý bằng kế hoạch hóa tập trung, thì không thể có kinh tế thị trường. Ngày nay, kinh tế nhà nước hoàn toàn khác. Kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực kinh tế của nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là một công cụ của nhà nước, để cùng với các công cụ khác như luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhà nước quản lý, điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Các nguồn lực kinh tế của nhà nước được huy động, phân bổ, sử dụng theo yêu cầu phải phù hợp, phục vụ việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước; nhưng khi thực hiện phải theo cơ chế thị trường, thông qua đấu thầu cạnh tranh, có sự tham gia của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, để việc phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả cao. Doanh nghiệp nhà nước được nhà nước đầu tư, phát triển ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước (nhất là khi các thành phần kinh tế khác không được, không muốn hay không đủ sức đầu tư), làm lực lượng tiên phong, nòng cốt cho sự phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn đó. Các doanh nghiệp nhà nước tự chủ, hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Khi đã có các thành phần kinh tế khác đầu tư vào các ngành, lĩnh vực, địa bàn này và không nhất thiết phải có doanh nghiệp nhà nước, thì nhà nước có thể thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp, chuyển vốn nhà nước đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng khác để thực hiện chiến lược, mục tiêu mới của nhà nước. Như vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với ý nghĩa là công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết, thúc đẩy, định hướng phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Với vai trò đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không mâu thuẫn, cản trở hoạt động của các quy luật kinh tế, với sự phát triển của kinh tế thị trường.

    Trước đổi mới, kinh tế tập thể, dưới hình thức là các hợp tác xã sở hữu tập thể về đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu, quản lý theo kế hoạch, phân phối theo lao động và nằm trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp chung của đất nước thì đối lập với kinh tế thị trường. Trong những năm đổi mới, các hợp tác xã cũng đã được đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt động, khác rất nhiều so với các hợp tác xã trước đây. Hợp tác xã hiện nay (hợp tác xã kiểu mới) là tổ chức kinh tế tập thể do các hộ sản xuất kinh doanh tự nguyện thành lập để làm dịch vụ cho các hộ thành viên, hỗ trợ cho các thành viên, những người sản xuất nhỏ, yếu thế khi tham gia thị trường, giúp họ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tùy theo năng lực của hợp tác xã và nhu cầu của các hộ thành viên, hợp tác xã có thể cung ứng các vật tư, nguyên liệu, các yếu tố đầu vào cho sản xuất của các hộ (với giá rẻ hơn, chất lượng bảo đảm hơn khi từng hộ riêng lẻ mua); đảm nhận các dịch vụ sản xuất như làm đất, chăm sóc, thu hoạch cho các hộ thành viên (tiết kiệm cho các hộ phải mua máy móc thiết bị nhưng sử dụng không hết công suất); bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ thành viên (có lợi hơn cho hộ so với khi từng hộ bảo quản, chế biến, tiêu thụ); hỗ trợ các hộ thành viên vay vốn của các tổ chức tín dụng, ngân hàng… Các hợp tác xã phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà cả trong các lĩnh vực tiểu, thủ công nghiệp, thương mại, vận tải…. Các hợp tác xã từng bước tích lũy vốn, quỹ, tài sản, mở rộng quy mô hoạt động; liên kết với nhau thành hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã theo ngành nghề, theo địa bàn hoạt động… tạo thành mạng lưới rộng khắp để hỗ trợ những người sản xuất nhỏ, đưa những người sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Kinh tế tập thể với vai trò hỗ trợ cho những người sản xuất nhỏ hoạt động, phát triển trong nền kinh tế thị trường và cùng với kinh tế nhà nước, với vai trò là công cụ để nhà nước thúc đẩy, định hướng phát triển kinh tế đất nước, đi tiên phong để thu hút các thành phần kinh tế khác đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng của đất nướcthì hai thành phần kinh tế này được xác định là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đúng đắn, không cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, cản trở sự phát triển của kinh tế thị trường.

    Về sai lầm của luận điểm cho rằng kinh tế tư nhân với vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh thì nền kinh tế không thể phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà sẽ trở thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Quả thật là nếu để kinh tế tư nhân phát triển một cách tự phát thì nền kinh tế thị trường nước ta sẽ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nhưng nền kinh tế thị trường nước ta có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, kinh tế tư nhân không phát triển tự phát, mà phải tuân thủ luật pháp, chính sách của nhà nước, được định hướng hoạt động phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế của nhà nước. Mặt khác, khi nhà nước khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động ở cả trong nước và ngoài nước thì luật pháp, chính sách của nhà nước cũng định hướng các tổng công ty, tập đoàn kinh tế phát triển thành các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội. Bằng cách đó, Nhà nước ta sẽ đưa kinh tế tư nhân vào con đường phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước, một nấc thang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để kinh tế tư nhân đóng góp vào phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    4. Một số kiến nghị

    – Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; cho công tác tư tưởng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, tạo sự thống nhất về chính trị tinh thần trong Đảng và toàn xã hội; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước; tăng thêm động lực, quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, Nhà nước.

    Việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cần tập trung vào tiếp tục làm rõ những vấn đề mà thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đặt ra hiện nay, chuẩn bị cho việc hình thành lý luận về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa như Việt Nam. Đồng thời, cần phải nghiên cứu những vấn đề mới của thời đại, của chủ nghĩa tư bản hiện đại, những mâu thuẫn và xu hướng phát triển trên thế giới, làm rõ tính chất quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay.

    – Tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tập trung vào những vấn đề còn vướng mắc trong nhận thức, quan điểm, lúng túng trong thực hiện, như: thể chế trong huy động, phân bổ các nguồn lực để các nguồn lực được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả; thể chế để thúc đẩy việc sắp xếp lại, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động các hợp tác xã; hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa; xây dựng, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thể chế cho sự ra đời các mô hình kinh doanh mới, phát triển các sản phẩm mới, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thể chế định hướng các doanh nghiệp tư nhân phát triển theo mô hình công ty cổ phần, gắn kết các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, đưa các doanh nghiệp trong nước tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu; thể chế để tạo thuận lợi cho tích tụ tập trung đất đai, phát triển nông nghiệp sản xuất lớn, công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái… để phát huy mặt tích cực của các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời củng cố, tăng cường các nhân tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế.

    – Tiếp tục làm rõ nội dung và thực hiện có kết quả nhiệm vụ chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh mới để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Cái thiếu nhất đối với nước ta, cũng như các nước kinh tế kém phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nói chung, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cơ sở vật chất kỹ thuật, là trình độ phát triển của nền kinh tế (việc hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng hướng tới thực hiện mục tiêu này); bởi xét đến cùng năng suất lao động là yếu tố quyết định sự thắng lợi của một chế độ xã hội. Nhận thức rõ điều này, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; việc thực hiện tuy có đạt một số kết quả, nhưng chưa đạt yêu cầu, mục tiêu đề ra. Trong bối cảnh mới, nguy cơ chưa giàu đã già, rơi vào bẫy thu nhập trung bình, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với thế giới đối với nước ta là rất lớn. Vượt qua thách thức này, nguy cơ này là yêu cầu cấp bách hàng đầu của nước ta trong những năm tới.

    – Tập trung vào đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lượng luật pháp, cơ chế chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực kinh tế; rà soát, khắc phục những chồng chéo, mâu thuẫn, những điểm mơ hồ, bất hợp lý, không khả thi, tình trạng luật pháp mới ban hành, chờ thực hiện đã phải sửa đổi, bổ sung, tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư… Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, xóa bỏ những thủ tục hành chính không hợp lý, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Nâng cao trách nhiệm cá nhân, kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện công vụ, trong tổ chức thực hiện. Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tinh gọn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước, đẩy nhanh việc sử dụng các công cụ, phương thức quản lý hiện đại ở các cơ quan quản lý kinh tế nhà nước các cấp. Điều này gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nhân tố quyết định đối với sự ổn định, phát triển của đất nước, với thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

     

    PGS.TS Nguyễn Văn Thạo

    Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

    Nguồn Hội đồng lý luận Trung ương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Thực Phẩm Bổ Tốt Cho Thận Và Giúp Thận Khỏe
  • Thận Yếu Nên Ăn Gì Để Cải Thiện Và Tăng Cường Sức Khỏe
  • Bấm Huyệt Chữa Thận Yếu Có Nên Không? Những Lưu Ý Khi Thực Hiện
  • Cách Bấm Huyệt Chữa Yếu Sinh Lý Giúp Chồng Thăng Hoa
  • Hướng Dẫn Cách Bấm Huyệt Chữa Thận Yếu Đúng Kỹ Thuật. Xem Ngay!
  • Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Giám Định, Phản Biện Xã Hội
  • Phản Biện Xã Hội: Khái Niệm, Chức Năng Và Điều Kiện Hình Thành
  • Đổi Mới Và Sáng Tạo Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • Chi Nhánh Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Tỉnh Hưng Yên Làm Tốt Chính Sách Tín Dụng Ưu Đãi Đối Với Hộ Nghèo Và Các Đối Tượng Chính Sách Khác
  • Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Về mối quan hệ giữa nhà nước – thị trường – xã hội thời gian qua

    Mối quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội là mối quan hệ lớn, cơ bản, đòi hỏi phải giải quyết hài hòa trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội. Giải quyết tốt mối quan hệ này chính là góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.

    1. Thực trạng giải quyết mối quan hệ này những năm qua

    (1) Một số kết quả

    Một là, trong thực tiễn Nhà nước đã thực sự chú ý đến vai trò “bà đỡ” cho thị trường hình thành và phát triển. Đã thể chế hóa và tạo điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển các loại thị trường, nên các thị trường có sự phát triển mạnh về quy mô và chất lượng, các thị trường mới được hình thành; đã thực sự chủ động và tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực, quy mô giao dịch tăng cao. Đồng thời “xã hội hoá” một số nhiệm vụ của nhà nước; nhà nước mở các ngành, các lĩnh vực, trước đây được coi là độc quyền nhà nước, rút lui dần khỏi lĩnh vực kinh doanh không cần thiết và “nhường lại” cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước  và các doanh nghiệp xã hội nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội.

    Hai là, đã hình thành thể chế về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, bao gồm: (i) Phân biệt chức năng quản lý Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở; (ii) Nhà nước “từ bỏ” hoạt động quản trị và can thiệp vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế; (iii) Tách bạch chức năng quản lý kinh tế vĩ mô và chức năng chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước, từng bước xoá bỏ “bộ chủ quản”; “chính quyền chủ quản” của doanh nghiệp nhà nước. Thể chế kinh tế mới hướng tới xác định quan hệ phù hợp giữa bộ ba: Nhà nước, thị trường và xã hội theo nguyên tắc cơ chế thị trường.

     

     

    Ba là, trong điều hành quản lý vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước đã dần hạn chế tối đa mệnh lệnh hành chính để các hoạt động của thị trường diễn ra chủ yếu theo sự hướng dẫn của các quy luật thị trường, đảm bảo nguyên tắc thị trường “tự điều chỉnh”, đồng thời tăng cường quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Lấy thị trường làm cơ sở chủ yếu để phân bổ các nguồn lực kinh tế  kết hợp với điều tiết vĩ mô của Nhà nước bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và bằng các nguồn lực, các chính sách hướng quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hệ thống kinh doanh vào những lĩnh vực và địa bàn cần thiết.

    Thể chế định giá, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ, đã được tự do hóa; giá cá hàng hóa, dịch vụ về cơ bản đã được quyết định bởi thị trường, theo quy luật thị trường. Cạnh tranh trên thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng; độc quyền trong kinh doanh, độc quyền thị trường và cạnh tranh không lành mạnh ngày càng được kiểm soát và có chiều hướng giảm.

    Bốn là, vai trò, chức năng của thị trường cũng càng được coi trọng, thể hiện rõ nét ở những điểm sau:

    – Thị trường đã thực sự từng bước là căn cứ để Nhà nước định hướng phát triển kinh tế đất nước thông qua các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội.

    – Thị trường/doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia cung ứng các dịch vụ xã hội. Hiện nay, Nhà nước thông qua cơ chế thị trường, đang chuyển sang khai thông tiềm năng của khu vực tư nhân, không phải với tư cách là một nguồn thay thế, mà là một nguồn bổ sung cho Nhà nước trong việc cung ứng kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã hội.

    – Thị trường là căn cứ để tạo một khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, minh bạch và vững chắc, không chỉ là một hệ thống luật lệ và quy định, mà còn bao hàm các định chế cần thiết để thực hiện và cưỡng chế việc thi hành pháp luật và giải quyết tranh chấp, bao gồm toà án và các cơ quan cưỡng chế thi hành luật.

    – Thị trường tham gia kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế, góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế.

    Năm là, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Bản thân doanh nghiệp nhà nước cũng phải vận hành, hạch toán theo cơ chế thị trường. Đáng chú ý là việc tách chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý chung của Nhà nước thông qua thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đây là thay đổi lớn, qua đó khắc phục những tồn tại, hạn chế của mô hình thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước hiện nay. Chính phủ cũng đã đẩy mạnh cải cách, cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành góp phần đưa các doanh nghiệp nhà nước được tập trung nhiều hơn vào những lĩnh vực then chốt, quốc phòng, an ninh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ công thiết yếu. Sau gần 18 năm cổ phần hóa, kể từ khi có Nghị quyết TW 3 khóa IX năm 2001 đến nay, tuy vẫn còn chậm, song đã đạt được nhiều kết quả trong việc giảm số lượng DNNN làm ăn thua lỗ, năng lực tài chính, quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước được nâng lên.

    Sáu là, khu vực tư nhân có sự phát triển mạnh trong các lĩnh vực pháp luật không cấm, và tham gia cung ứng dịch vụ công. Đây là một trong những thành công của quá trình xử lý quan hệ nhà Nước-thị trường-xã hội trong những năm vừa qua. Trên thực tế vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế ngày càng được thừa nhận và có đóng góp ngày càng lớn xét trên tỷ lệ nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế, đóng góp thu ngân sách, tạo việc làm…Số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh với nhiều loại hình đa dạng, có những doanh nghiệp, tập đoàn lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

    Bảy là, phát triển các doanh nghiệp xã hội và các hội tự quản. Phát triển doanh nghiệp xã hội (DNXH) là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Từ khi khái niệm DNXH được biết đến vào những năm 2008 đến nay, DNXH đã phát triển đa dạng, có sức ảnh hưởng đến chính sách của nhà nước và lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng. Hoạt động ươm tạo và hỗ trợ các DNXH cũng đạt được những kết quả nhất định. Thống kê cho thấy, số lượng doanh nghiệp kinh doanh tạo tác động xã hội đang chiếm khoảng 4% khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó có hơn 20 tổ chức, đơn vị có chương trình ươm tạo, tăng tốc phát triển hoặc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp và sáng kiến kinh doanh tạo tác động xã hội tại Việt Nam, góp phần tạo nên một hệ sinh thái năng động và đa dạng, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của DNXH.

    Bên cạnh các DNXH, với việc đẩy mạnh thực hiện dân chủ hóa cơ sở, trong những năm qua mô hình tự quản khu dân cư đã phát triển khá đa dạng ở nhiều địa phương như: tuyến đường tự quản, tự quản bảo vệ môi trường, tự quản an ninh trật tự…(các tỉnh: Tuyên Quảng, Quảng Nam, Ninh Thuận…) đã góp phần nâng cao đời sống người dân. Đây là hướng quan trọng góp phần nâng cao vai trò thành tố xã hội trong tạo lập môi trường tăng trưởng, giám sát, bổ sung cho những khuyến khuyết của thị trường trong những năm qua.

    Tám là, trong quá trình xây dựng cũng như thực hiện chủ trương, chính sách đã chú ý gắn bó hơn chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước-thị trường- xã hội, tức là có sự phân vai ngay trong quá trình xây dựng chủ trương, chính sách, do vậy tính khả thi chính sách cũng cao hơn, có sự đồng thuận của người dân. Sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội vào quá trình định hình chính sách ngày một rõ và hiệu quả.

    (2) Hạn chế, yếu kém

    Một là, trong những năm qua, việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước- thị trường-xã hội ở nước ta còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập, như lẫn lộn vai trò giữa Nhà nước và thị trường, mà thực chất là Nhà nước hoặc không làm, làm không hết vai trò, hoặc can thiệp vào vai trò của các chủ thể khác trong nền kinh tế thị trường; Nhà nước chưa bổ khuyết tốt được cho thị trường, đôi khi vẫn còn hiện tượng phó mặc thị trường (tình hình được mùa, rớt giá năm nào cũng xảy ra).

    Hai là, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế còn thấp, một mặt là do sự can thiệp của Nhà nước không phù hợp với sự vận động của thị trường. Mặt khác, Nhà nước lại thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm các chủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra. Công tác kế hoạch và quy hoạch của Nhà nước trên nhiều lĩnh vực còn bất cập, chưa phù hợp với thực tế.

    Trong việc sử dụng các công cụ can thiệp của nhà nước còn tồn tại một số bất cập như: công cụ pháp luật chưa ổn định, Nhà nước chưa thật sự trở thành “trọng tài” cho các chủ thể kinh tế; chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá phối hợp thiếu linh hoạt; thiếu tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước với hệ thống hành chính; hiệu quả của phối hợp chính sách tiền tệ  và chính sách tài khóa thời gian vừa qua còn bộc lộ những hạn chế và đối mặt với một số thách thức; việc cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách  chưa được thiết lập một cách chính thức; lực lượng vật chất của nhà nước can thiệp vào thị trường còn phân tán, lãng phí,  vừa chưa theo quy hoạch, kế hoạch, vừa chưa theo quy luật của thị trường; quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước chưa bảo đảm cho đầu tư nhà nước và tư nhân hiệu quả, thống nhất được lợi ích nhà đầu tư và lợi ích nhà nước, giữa mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giữa phát triển đất nước, vùng và địa phương; hệ thống dịch vụ công chưa phân tách các trách nhiệm tổ chức cung ứng, chi trả phí và quản lý để tiến hành đổi mới hiệu quả, mở rộng cơ hội cho tư nhân tham gia.

    Nhà nước còn hạn chế trong kiến tạo phát triển, dẫn dắt thị trường, nhất là kiến tạo phát triển các yếu tố thị trường. Điều này gắn liền với sự chưa rõ trong quan niệm xác định vai trò, mức độ tham gia kiến tạo thị trường của nhà nước, nên hiệu quả thực tế chưa cao.

    Ba là, trong những năm qua, kinh tế Nhà nước đã đóng vai trò cột trụ, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế Nhà nước cũng đã bộc lộ hạn chế, bất cập, tập trung vào các vấn đề như: việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản; phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; cơ chế giám sát, công khai, minh bạch hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa tốt; khu vực sự nghiệp công chiếm quy mô lớn, chưa vận hành theo kinh tế thị trường, còn bao cấp lớn từ nhà nước; nguồn lực nhà nước nắm giữ, phân bổ, đầu tư chưa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường; việc huy động các nguồn lực đầu tư cho dịch vụ công, phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ công vẫn còn một số bất cập.

    Bốn là, còn tình trạng thiếu bình đẳng, hạn chế tính cạnh tranh và làm suy giảm năng lực kinh doanh của cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tình trạng độc quyền, trái với quy luật cạnh tranh ở một số lĩnh vực vẫn còn tồn tại. Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ. Môi trường kinh doanh, đầu tư chưa thật sự thông thoáng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Giá cả một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu chưa thật sự tuân theo nguyên tắc thị trường.

    Năm là, thể chế kinh tế thị trường ở nước ta vẫn chưa thực sự tôn trọng vai trò, chức năng của thị trường, chưa thực sự coi thị trường là một thực thể khách quan, vận động và phát triển theo quy luật vốn có không phụ thuộc vào ý chí cá nhân và tổ chức xã hội nào cả, kể cả ý chí của Chính phủ. Thể hiện rõ nhất là: vẫn còn duy trì chính sách bao cấp, xin cho của nền kinh tế kế hoạch hoá; vẫn duy trì những doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong nhiều lĩnh vực kinh doanh cần chuyển sang thị trường cạnh tranh; vẫn còn tồn tại cung cách quản lý bao cấp, quan liêu, vẫn sử dụng nhiều chính sách trợ cấp, trợ giá theo kiểu cũ không khuyến khích được tinh thần tự lập, tự cường của đối tượng được trợ cấp. Những bộ phận chính sách và thể chế đó không phù hợp thực tế kinh tế thị trường, thậm chí còn là cơ sở nảy sinh lợi ích nhóm, hành vi tham nhũng, lạm quyền… làm giảm động lực phát triển kinh tế. Các yếu tố thị trường, các loại thị trường trong nền kinh tế chậm được đồng bộ hoá. Đây là một trong những lý do Việt Nam vẫn còn bị nhiều nước xem xét và đánh giá là một quốc gia chưa có nền kinh tế thị trường.

    Sáu là, về vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền và phát triển kinh tế tư nhân

    Nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là điểm đáng ghi nhận trong thời gian qua. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và thực thi, các doanh nghiệp vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong các thủ tục hành chính, đầu tư kinh doanh gây phiền hà, tốn thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Nhà nước dường như chưa thật sự tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa khu vực công và khu vực tư, giữa các tổ chức kinh tế trong khu vực tư, trong tiếp cận các nguồn lực công; chưa giải phóng triệt để tiềm lực, thế mạnh của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Cũng vì vậy hiện phần lớn các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ, quản trị và năng lực tài chính hạn chế.

    Bảy là, nhận thức và hoạt động của các tổ chức xã hội còn một số hạn chế. Chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức xã hội không rõ ràng, vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, vừa có nhiệm vụ giám sát, phản biện vai trò của Đảng và Nhà nước. Do chức năng, nhiệm vụ không rõ ràng nên các tổ chức xã hội ở Việt Nam hoạt động còn thụ động, hiệu quả không cao. Mặt khác, cơ sở pháp lý, mà cụ thể là Luật về Hội, Hiệp Hội chưa được ban hành, nên sự hoạt động chưa có sự bảo đảm bằng pháp luật.

    Tám là, việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân còn có những hạn chế: Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một số lĩnh vực còn bị vi phạm; còn tình trạng “vừa thiếu dân chủ, vừa thiếu kỷ cương”. Trong xã hội còn không ít biểu hiện mất dân chủ, hoặc dân chủ cực đoan; việc thực hành dân chủ có nơi, có lúc còn mang tính hình thức. Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân vẫn chưa được tạo lập đầy đủ; khả năng kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía nhân dân còn hạn chế. Việc bảo đảm dân chủ trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp có nơi, có lúc chưa được tổ chức, thực hiện tốt. Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở có mặt còn hình thức, chưa thực sự phát huy được vai trò, trách nhiệm của người dân.

    (3) Nguyên nhân

    Hiện trạng trên có nhiều nguyên nhân, có thể nêu 3 nguyên nhân cơ bản sau:

    Thứ nhất, sự đổi mới nhận thức

    Những đổi mới trong nhận thức về nhà Nước-thị trường-xã hội chính là cơ sở cho thay đổi trong điều hành hoạt động thực tiễn. Việc tách bạch vai trò Nhà nước đã cho phép các hoạt động kinh doanh nhanh nhạy hơn, giảm được nhiều giấy phép con. Các doanh nghiệp đã chủ động khai thác nguồn lực xã hội, thực hiện đối tác công tư trong hoạt động kinh doanh.

    Sự đổi mới trong nhận thức về kinh tế Nhà nước đã thúc đẩy quá trình cải cách doanh nghiệp và đổi mới hoạt động của khu vực Nhà nước theo cơ chế thị trường, dần nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó tư duy về vai trò của các thành phần kinh tế, nhất là với vai trò động lực quan trong của kinh tế tư nhân đã thúc đẩy khu vực kinh tế này phát triển cùng với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, có đóng góp lớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.

    Đặc biệt sự đổi mới nhận thức về vai trò thị trường đã góp phần gia tăng vai trò thực tế của thành tố này trong hoạt động thực tiễn. Đáng chú ý là cơ chế thị trường đã hình thành và được vận dụng,  xâm nhập vào nhiều quan hệ kinh tế vốn trước đây đóng khung theo quy định cứng nhắc. Vì vậy nền kinh tế vận hành thông thoáng hơn.

    Việc nhìn nhận vai trò xã hội cũng có sự thay đổi, đòi hỏi ngay trong các ý tưởng và quyết sách đã phải tính đến các yếu tố xã hội không chỉ trên phương diện giải quyết các vấn đề xã hội, mà cả trên phương diện tính đến sự tác động của các vấn đề xã hội. Nếu trước đây chỉ chú ý đầu tư kinh tế để từ đó tạo nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội, thì này còn tính đến đầu tư vào các vấn đề xã hội để tạo môi trường điều kiện cho tăng trưởng. Hơn nữa với cách nhìn về vai trò xã hội, nhà nước cũng đã có điều chỉnh trong tạo lập các điều kiện cho các tổ chức xã hội vận hành, phát huy vai trò của mình đóng góp vào sự phát triển, khắc phục những khuyết tật của thị trường.

    Tuy nhiên, cái khó trong điều hành hoạt động kinh tế, chính là những quy định và những nhận thức cũ theo tư duy của nền kinh tế kế hoạch tập trung, chúng trói buộc sự sáng tạo, năng động trong hoạt động sản xuất. Mặc dù chuyển sang kinh tế thị trường, cho dù có các quy định, nhưng độ trễ của thói quen vẫn tác động đến các hoạt động điều hành thực tiễn.

    Thứ hai, sự thiếu vắng thể chế

    Mặc dù đã có những cố gắng và nỗ lực như đã nói ở trên, nhưng nhìn chung hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập và vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Điều này thể hiện rõ nhất qua các thực tiễn như: Hệ thống pháp luật còn thiếu toàn diện, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật; Một số văn bản pháp luật quan trọng đã ban hành song hiệu lực thực thi chưa cao; Tính cụ thể, minh bạch, rõ ràng của nhiều luật còn thấp; Quy trình xây dựng pháp luật còn thiếu tính dân chủ, tính đại chúng. Để các thành tố phát huy tốt vai trò chức năng, bước quan trọng là phải thể chế hóa các nhận thức đã đạt được thành các quy định pháp lý. Tuy những năm qua đã có nhiều cố gắng trong quá trình thể chế hóa, song thực tế vẫn còn thiếu vắng nhiều quy định, ví như Luật về hội, Quy định về kiểm soát độc quyền…

    Thứ ba, sự hạn chế trong vận hành của bộ máy Nhà nước

    Bộ máy Nhà nước tuy có sự đổi mới cải cách song còn nhiều hạn chế trong vận hành. Đó là tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối bên trong; việc phân cấp, phân quyền tuy chủ trương đã rõ nhưng thực hiện chưa thực sự hiệu quả, chưa đi vào cuộc sống…Cơ chế phối hợp các bộ phận, đầu mối chưa rõ ràng dẫn đến sự  phối hợp giữa các ngành và các địa phương có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ. Tổ chức bộ máy và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội chậm đổi mới; một số nhiệm vụ còn trùng lặp; có biểu hiện hành chính hóa, công chức hóa. Cơ cấu cán bộ, công chức còn bất cập giữa các cấp và trong từng cơ quan; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp cơ sở hạn chế… Những điều đó ảnh hưởng ngay đến quá trình thể chế hóa quan điểm của Đảng, đến năng lực triển khai và thực thi các chính sách và quy định của Nhà nước nói chung, đến phối hợp giải quyết mối quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội nói riêng.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mạng Xã Hội, Mặt Tích Cực Và Tiêu Cực, Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Công Tác Bảo Đảm An Ninh Trật Tự – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Mạng Xã Hội, Vai Trò Và Những Hệ Lụy
  • Tiền Lương Là Gì? Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Lương
  • Chức Năng Của Tiền Lương
  • Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Với Sự Phát Triển Bền Vững Của Đất Nước
  • 【Havip】Mối Quan Hệ Giữa Nội Dung Và Hình Thức Trong Tác Phẩm Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Học: Sự Hợp Lưu Giữa Văn Hóa Và Văn Học Từ Góc Nhìn Ứng Dụng
  • Tổng Hợp Những Nhận Định Văn Học Hay Nhất
  • 30 Câu Nhận Định Phê Bình Giúp Tăng Cường Lý Luận Văn Học Cho Bài Làm
  • Một Số Quan Niệm, Nhận Định Về Văn Học Cực Hay
  • Nhân Vật Văn Học Và Vai Trò Của Nhân Vật Trong Tác Phẩm
  • Bất kỳ một tác phẩm văn học nghệ thuật nào cũng có mối quan hệ hữu cơ giữa hai mặt cốt lõi là hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng. Đó cũng chính là mối quan hệ của cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Hình thức nghệ thuật là cái biểu đạt, là chất liệu, thủ pháp tổ chức nên tác phẩm nghệ thuật. Nội dung tư tưởng chính là cái được biểu đạt tồn tại bên trong hình thức biểu đạt được tổ chức thành chỉnh thể tác phẩm nghệ thuật. Đây là điều cơ bản của lý luận nghệ thuật nói chung mà tôi nghĩ những người sáng tạo nghệ thuật nhiếp ảnh đã biết.

     

     

    1. Tác phẩm văn học là gì?

     

    Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hay một tập thể sáng tạo nên nhàm thế hiện những khái quát về cuộc sống, con người và biểu hiện tâm tư, tĩnh cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại bằng hình tượng nghệ thuật.

    Tác phẩm văn học bao giờ cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tác phẩm văn học không phải là một sản phẩm cố định. Nó mang tính lịch sử, đa nghĩa, nó có sự biến đổi về văn bản và có sự khác nhau trong cảm thụ của người đọc ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau.

     

    a. Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể

     

    Tính chỉnh thể của tác phẩm văn học được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học có quan hệ mật thiêt như tâm hồn và thể xác.

     

    b. Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học

     

    – Nội dung của tác phẩm văn học

     

    Khái niệm:

    Nội dung của tác phẩm bất nguồn từ mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Đó là mối quan hệ nhất định của con người đối với hiện tượng đời sống được phản ánh. Đó vừa là cuộc sống được ý thức, vừa là đánh giá – cảm xúc đối với cuộc sống đó.

    Nội dung của tác phẩm văn học là một hiện tượng của đời sống được khai thác bằng nghệ thuật, được chiếu sáng bởi lý tưởng của tác giả, được xuyên suốt bằng vòng tư tưởng của tác giả. (Gulaiép)

     

    – Các khái niệm thuộc về nội dung

     

    + Đề tài văn học: Là phạm vi cuộc sống được nhà văn lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản.

    Ví dụ: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố viết về đề tài người nông dân.

    + Chủ đề tác phẩm: Là nội dung cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm.

    Ví dụ: “Tắt đèn” thể hiện sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc và gắn bó máu thịt với người nông dân của Ngô Tất Tố. Đống thời tác phẩm thể hiện thái độ của nhà văn với bọn quan lại, địa chủ.

    + Cảm hứng nghệ thuật: Là tình cảm chủ yếu của văn bản. Đó là những trạng thái tâm hồn, cảm xúc được thể hiện đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản.

    Ví dụ: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố có cảm hứng yêu thương, căm giận,

     

    – Hình thức tác phẩm văn học

     

    Khái niệm:

    Hình thức là sự biểu hiện của nội dung, là cách thể hiện nội dung. Hình thức được xây dựng dựa trên chất liệu là ngôn ngữ đời sống kết hợp với sự sáng tạo độc đáo của nhà văn.

    Hình thức của tác phẩm văn học được xây dựng bằng sự tổng hợp sinh động của một hệ thống những phương tiện thể hiện nhằm diễn đạt cả về bên ngoài lẫn tổ chức bên trong của nội dung tác phẩm trong một quan hệ chỉnh thể thống nhất

    – Các khái niệm về hình thức của tác phẩm văn học

    + Ngôn từ: Là yếu tố thứ nhất của văn bản văn học. Nhờ ngôn từ tạo nên chi tiết, hình ảnh, nhân vật trong văn bản.

    + Ngôn từ hiện diện trong câu, hình ảnh, giọng điệu và mang tính cá thể. Có ngôn từ tài hoa của Nguyễn Tuân; trong sáng, tinh tế của Thạch Lam; chân quê của Nguyễn Bính…

    + Kết cấu: Là sắp xếp, tồ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa.

    Bất kể văn bản văn học nào cũng đều phải có một kết cấu nhất định. Kết cấu phải phù họp với nội dung.

    • Có kết cấu hoành tráng với nội dung.
    • Có kết cấu đầy bất ngờ của truyện cười.
    • Có kết cấu mở theo dòng suy nghĩ của tùy bút, tạp văn.

    + Thể loại: Là quy tác tố chức hình thức văn bản sao cho phù hợp với nội dung văn bản.

    Ví dụ: Diễn tả cảm xúc có thể loại thơ; Kể diễn biến, mối quan hệ của cuộc sống, con người có thể loại truyện; Miêu tả xung đột gay gắt có thể loại kịch; Thể hiện suy nghĩ trước cuộc sống, con người có thể loại kí…

     

    – Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức tác phẩm văn học

     

    Văn bản văn học cần có sự thống nhất cao giữa nội dung và hình thức, nội dung tư tưởng cao đẹp và hình thức nghệ thuật hoàn mĩ. Đây là ý nghĩa vô cùng quan trọng và cũng là tiêu chuẩn dể đánh giá một tác phẩm.

    Trong quá trình phân tích, ta không chỉ chú trọng nội dung mà bỏ rơi hình thức. Phân tích bao giờ cũng phải kết hợ giữa nội dung và hình thức.

    Trong đời sống văn chương có những văn bản đạt nội dung coi nhẹ hình thức và ngược lại. Chúng ta cần biết điều này khi tìm hiểu và phân tích văn bản.

     

    2. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học

     

    Nói về một tác phẩm có giá trị, Biêlinxki cho rằng: “Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như tâm hồn và thể xác. Nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy. Ở một chỗ khác, ông viết Khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức là nếu tách nó ra khỏi nội dung, có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung và ngược lại, tách nội dung khỏi hình thức, có nghĩa là tiêu diệt hình thức.

    Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức được biểu hiên ở 2 mặt: nội dung quyết định hình thức và hình thức phù hợp nội dung.

    Trong tác phẩm văn học, nội dung và hình thức bao giờ cũng thống nhất hữu cơ, biện chứng với nhau. Nói như Bi-ê-lin-xki: “Nội dung và hình thức gắn bó như tâm hồn với thể xác”. Sự gắn bó này là kết quả sáng tạo chứa đựng tài năng và tâm huyết của nhà văn. Và những tác phẩm văn học có giá trị lớn thì càng chứng tỏ sự thống nhất cao độ giữa nội dung và hình thức. Nhà văn Nga, Lê-ô-nôp khẳng định: “Tác phẩm nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và là một khám phá về nội dung”.

    Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức thể hiện ở mọi phương diện của tác phẩm văn học: ngữ âm, từ vựng, cú pháp, nhân vật, kết cấu, thể loại,…. (số từ trong văn Nam Cao, từ chỉ cảm giác trong văn Thạch Lam).

    Trong quan hệ nội dung – hình thức ở tác phẩm văn học thì nội dung bao giờ cũng quyết định hình thức, quyết định sự lựa chọn phươns tiện, phương thức sáng tạo tác nhẩm. Tất cả những yếu tố hình thức như ngôn ngữ kết cấu, thể loại,… đều nhàm phục vụ tốt nhất cho chức năng bộc lộ sinh động và sâu sắc của nội dung tác phẩm.

    Tuy nhiên, hình thức cũng có tính độc lập nhất định. Nó tác động trở lại với nội dung. Nó đòi hỏi nhà văn phải có sự tìm tòi, trăn trở để sáng tạo nên những gi có giá trị nghệ thuật cao nhất. Và một khi tìm được phương tiện và phương thức phù hợp nhất thì những phương tiện, phương thức này phát huy tối đa giá trị của chúng và mang lại giá trị vô giá cho tác phẩm.

    Kết luận:

    Như vậy, một tác phẩm văn học có đứng vững được trong lòng người hay không chính là nhờ tài năng và phẩm chất của người nghệ sĩ. Phải qua bàn tay nhào nặn tài hoa của nhà văn, mỗi tác phẩm mới thực sự là một công trình sáng tạo nghệ thuật. Sáng tạo nghệ thuật là một thứ sáng tạo tinh thần. Nó không sản xuất theo dây chuyền công nghệ mà phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ là người quyết định sự ra đời của tác phẩm. Và tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo nghệ thuật chỉ khi lao động của người nghệ sĩ đúng là lao động sáng tạo. Nhà văn có vai trò quan trọng trong quy trình sáng tạo. Mỗi nhà văn là một thế giới khác nhau, tạo nên sự phong phú cho nền văn học, cho sự đa dạng của các cá tính nghệ thuật.

    Quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn là quá trình công phu bởi nó đòi hỏi nhiều trí lực, tâm huyết của người nghệ sĩ. Đó là công việc không chỉ đổ mồ hôi mà thậm chí còn đổ cả máu và nước mắt. Có người nghệ sĩ cả đời chung đúc để viết một tác phẩm nhưng cũng có người chỉ trong một khoảnh khắc một tác phẩm ra đời.

    Sự sáng tạo trong văn chương không cho phép người nghê sĩ chân chính dẫm lên đường mòn hay đi theo con đường của người khác. Nam Cao đã từng nói khẳng định một tác phẩm văn học phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu, bác ái, công bằng và “Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có. “Văn học nằm ngoài những định luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết” (Sê-đrin). Tác phẩm văn học đã ghi nhận những sáng tạo của người nghệ sĩ và khẳng định nó bằng những giá trị bất tử của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Hệ Văn Học – Hiện Thực Và Vấn Đề Tác Động, Tiếp Nhận Và Giao Tiếp Thẩm Mỹ – Văn Nghiệp
  • Văn Học Hiện Thực 1930 – 1945 (Trương Văn Quỳnh)
  • Văn Học Là Sự Phản Ánh Hiện Thực
  • Văn Học Phản Ánh Hiện Thực
  • Giáo Án Lý Luận Văn Học
  • Mối Quan Hệ Giữa Phát Triển Kinh Tế Và Phát Triển Văn Hóa Trong Xây Dựng Và Phát Triển Đất Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Cao Su, Điều Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Phước
  • Xác Định Phương Hướng, Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế
  • Chính Phủ: Triển Khai Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Vai Trò Và Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam
  • Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng
  • 1. Quan niệm về phát triển kinh tế và phát triển văn hóa

    Phát triển kinh tếlà quá trình lớn lên nhiều mặt của nền kinh tế, bao gồm: tăng trưởng GDP; hoàn chỉnh cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao thu nhập trên đầu người và chất lượng cuộc sống. Phát triển kinh tế hiện nay được nhấn mạnh là phát triển bền vững nền kinh tế của mỗi quốc gia. Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế gồm:

    – Tăng trưởng kinh tế là điều kiện đầu tiên, bao gồm: gia tăng về quy mô sản lượng và năng suất trong nền kinh tế, diễn ra trong thời gian tương đối dài và ổn định;

    – Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, thể hiện qua tỷ trọng giữa các ngành, các thành phần kinh tế, các vùng, miền theo hướng tiến bộ, hợp lý hơn… Trong đó, tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng đô thị, tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng;

    – Thu nhập trên đầu người ổn định và nâng cao hơn, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện;

    – Trình độ tư duy khoa học của xã hội phát triển;

    – Nền kinh tế mở và năng động, giàu khả năng thích ứng;

    – Là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại quyết định.

    Mục tiêu của phát triển bền vững là: đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về văn hóa tinh thần; sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội; sự hài hòa giữa con người và tự nhiên. Ba trụ cột của phát triển bền vững là: phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.

    Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế không chỉ bao hàm tăng thu nhập bình quân đầu người mà phải hướng tới phát triển bền vững của cả hiện tại và tương lai, chú trọng cả ba nhân tố: kinh tế, xã hội và môi trường; duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, tăng thu nhập phải gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói giảm nghèo. Tăng trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ cao mà cần ở mức độ hợp lý, bền vững.

    Các nhân tố bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững gồm:

    – Bảo vệ môi trường,

    – Dựa vào sức mạnh nội tại,

    – Bình đẳng trong thu nhập,

    – Xác lập một thị trường lao động thống nhất,

    – Xây dựng một hệ thống an sinh xã hội lành mạnh.

    Như vậy, phát triển kinh tế bền vững phải gắn liền với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển con người.

    Phát triển văn hóa là phát triển toàn diện và đồng bộ các thành tố cấu thành đời sống văn hóa của một quốc gia dân tộc.

    Văn hóa là khái niệm đa nghĩa.

    Thứ nhất, văn hóa được hiểu như là năng lực sáng tạo hướng tới các giá trị nhân văn, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Do đó, văn hóa là phạm trù chỉ thuộc tính của con người (cá nhân và cộng đồng), đánh giá trình độ và chất lượng sống của con người trong hoạt động thực tiễn xã hội. Do đó, phát triển văn hóa là phát triển năng lực và phẩm chất của con người, của cộng đồng, kết tinh vào nhân cách, cốt cách, bản lĩnh của con người trong mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Đây chính là nguồn gốc sản sinh ra các giá trị văn hóa vật chất và các giá trị văn hóa tinh thần, phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.

    Thứ hai, văn hóa được hiểu là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng dựa trên sự phát triển của cơ sở hạ tầng mà cốt lõi là kinh tế. Kinh tế là cơ sở, là điều kiện để phát triển văn hóa. Văn hóa phản ánh sự phát triển kinh tế – xã hội và có tác động năng động đối với tồn tại xã hội, đối với kinh tế. Vì vậy, muốn xây dựng và phát triển nền văn hóa thì phải phát triển kinh tế, chống chủ nghĩa duy tâm, giáo điều – muốn xây dựng nền văn hóa cao trong khi nền kinh tế còn thấp kém, lạc hậu.

    Thứ ba,văn hóa là một trong bốn lĩnh vực chủ yếu quốc gia: kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: trong lĩnh vực kiến thiết nước nhà có bốn lĩnh vực cần được coi trọng ngang nhau. Đó là chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, nhấn mạnh: văn hóa phải được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế và xã hội. Đây là tiền đề để khắc phục xu hướng coi nhẹ văn hóa, xem thường các giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống; tuyệt đối hóa nhân tố kinh tế, rơi vào chủ nghĩa duy kinh tế mà Ph.Ăngghen đã từng phê phán.

    Như vậy, xét trong mối tương quan giữa chính trị, kinh tế, xã hội thì văn hóa là một bộ phận đóng vai trò trụ cột như các lĩnh vực khác, cần có sự quan tâm đầy đủ và đồng bộ để tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong quá trình phát triển. Phát triển văn hóa ở đây chính là phát triển các lĩnh vực hoạt động văn hóa, từ việc xây dựng con người, trọng tâm là xây dựng tư tưởng, đạo đức lối sống tới xây dựng môi trường văn hóa tinh thần lành mạnh; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học nghệ thuật, truyền thông đại chúng, giao lưu hợp tác quốc tế về văn hóa… Đảng xác định mục tiêu phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay là: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(1); cụ thể:

    – Hoàn thiện các giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân v.v…

    – Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

    – Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa…

    – Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam.

    – Từng bước thu hẹp khoảng cách và hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định chế độ xã hội XHCN mà nhân dân xây dựng là xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(2). Đồng thời, Cương lĩnh cũng xác định: “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”(3).

    Mặt khác, văn hóa phát triển sẽ góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động, tạo lập môi trường văn hóa tinh thần lành mạnh, nâng cao trình độ dân trí, trình độ khoa học công nghệ, nâng cao kỷ cương, kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

    Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế và văn hóa là nâng cao chất lượng cuộc sống, đem lại hạnh phúc thực sự cho con người. Đây chính là điểm tương đồng, nơi hội tụ định hướngphát triển của kinh tế và văn hóa.

    Sự khác biệt giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa ở đây chính là sự khác biệt về vai trò, chức năng xã hộitrong việc tham gia vào quá trình phát triển con người để tạo nên sự phát triển tổng thể cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người (bao gồm cá nhân và cộng đồng, dân tộc và nhân loại, các giai cấp và các tầng lớp xã hội khác nhau).

    Nhận thức về vai trò của từng lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: “Đảm bảo gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa- nền tảng tinh thần của xã hội”(4). Khẳng định vai trò của văn hóa trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”(5).

    Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, Đảng ta luôn chú ý đến mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa. Văn kiện Đại hội VI (1986), nhấn mạnh: “Mục tiêu ổn định tình hình, giải phóng năng lực sản xuất không chỉ là phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật mới mà còn là giải quyết các vấn đề xã hội, từ công việc làm đến đời sống vật chất và văn hóa, bồi dưỡng sức dân, xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp, lối sống lành mạnh, thực hiện công bằng xã hội, với ý thức người lao động là lực lượng sản xuất lớn nhất, là chủ thể của xã hội”(6).

    Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: “Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, tiến bộ xã hội, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, đẩy lùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội”(7).

    Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định các mối quan hệ lớncần phải giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững đất nước, không phiến diện, cực đoan, duy ý chí. Trong đó có mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”(8).

    Trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, Đại hội XI nhấn mạnh đến yêu cầu phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa – xã hội hài hòa với phát triển kinh tế: “Tạo bước phát triển mạnh mẽ về văn hóa, xã hội. Tăng đầu tư của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội để phát triển văn hóa, xã hội. Hoàn thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội; thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, đảm bảo phát triển nhanh, bền vững”(9).

    Trên cơ sở tổng kết 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng đã rút một số bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học “Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra”(10). Đại hội tiếp tục nhấn mạnh việc gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế và văn hóa trong quá trình phát triển bền vững đất nước.

    Đại hội XII đã xác định phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(11). Đồng thời, Đảng ta đã xác định mục tiêu: “Đến năm 2021, phấn đấu hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; đảm bảo tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững…”(12).

    Trong lĩnh vực phát triển văn hóa, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”(13); cụ thể là “Thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân với ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật, giữ gìn chữ tín, cạnh tranh lành mạnh vì sự phát triển bền vững đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(14).

    Như vậy, về phương diện lý luận, Đảng ta đã nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Những chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về giải quyết mối quan hệ này trong hoạt động thực tiễn đã góp phần bảo đảm giữ vững định hướng chính trị, đề cao tính văn hóa của nền kinh tế, xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.

    3. Một số vấn đề đặt ra hiện nay

    – Về nhận thức lý luận, phát triển kinh tế và phát triển văn hóa của đất nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay đều hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Điểm tương đồng tạo nên sự thống nhất trong phát triển kinh tế và phát triển văn hóa là vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của con người. Sự phát triển kinh tế và phát triển văn hóa đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, các hoạt động kinh tế chưa có sự gắn kết chặt chẽ với văn hóa; hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế và văn hóa chưa thực sự quan tâm đến sự gắn kết này.

    Trong việc phân bổ các nguồn lực, Nhà nước thường tập trung cho nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế, chưa đầu tư đúng mức cho văn hóa. Trong khi xây dựng quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, các nhà quản lý thường tập trung vào mục tiêu lợi ích kinh tế, chưa chú ý tới điều kiện sống, môi trường lao động và đời sống văn hóa tinh thần của người lao động. Doanh nghiệp thường chạy theo lợi ích kinh tế, ít quan tâm đến các giá trị văn hóa và chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng xã hội. Các hoạt động văn hóa cũng tiến hành theo “quán tính bao cấp cũ”, chưa tích cực chủ động tham gia vào “làm giàu bằng văn hóa” để phát triển kinh tế – xã hội. Sự tách rời giữa hoạt động kinh tế và hoạt động văn hóa có chiều hướng gia tăng cả ở các cấp Trung ương, cấp bộ, ngành và địa phương. Đặc biệt, xu hướng này thể hiện khá rõ ở các ”nhóm lợi ích” khác nhau, tìm cách để “lách luật” nhằm mục tiêu lợi nhuận, phá vỡ kỷ cương, pháp luật, tạo cơ hội cho tham nhũng phát triển, gạt bỏ các giá trị văn hóa và nhân văn ra khỏi hoạt động kinh tế. Đây chính là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của kinh tế, có thể dẫn dắt nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng, đi ngược lại mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, làm biến dạng mục tiêu chính trị. Những vụ án kinh tế lớn gần đây đã cảnh báo nguy cơ này và đòi hỏi phải có các giải pháp khắc phục, trong đó có giải pháp “xây dựng văn hóa trong kinh tế”.

    Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa không phải là mối quan hệ cơ học, tách biệt hoặc đối lập nhau mà quan hệ biện chứng, thể hiện ở chất lượng phát triển bền vững của quốc gia. Nếu phát triển kinh tế để xây dựng nền tảng vật chất thì phát triển văn hóa để tạo dựng nền tảng tinh thần của xã hội. Sự phát triển đồng bộ của hai lĩnh vực trọng yếu này góp phần vào sự phát triển bền vững đất nước. Định hướng giá trị cốt lõi của phát triển kinh tế và phát triển văn hóa là vì lợi ích của quốc gia dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển nhân cách của mỗi con người. Từ thực tiễn đổi mới đất nước 30 năm vừa qua, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm là: “Phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”(17).

    Nếu tiềm lực kinh tế cùng với chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là “sức mạnh cứng” thì văn hóa chính là “sức mạnh mềm”, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đầu tư cho phát triển văn hóa không chỉ là đầu tư cho vấn đề phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng môi trường văn hóa mà còn là đầu tư để phát triển “sức mạnh nội sinh”, đầu tư để phát triển “sức mạnh mềm” của dân tộc trong hội nhập quốc tế.

    Giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Sự điều tiết của Nhà nước cần phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Các tiêu cực, tệ nạn xã hội và đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo chính trị, cán bộ quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp có nguyên nhân sâu xa từ việc chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề xây dựng con người, phát triển văn hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

    Việc giáo dục đạo đức và pháp luật cho con người bước vào kinh tế thị trường hầu như chưa được quan tâm trong hệ thống giáo dục đại học và dạy nghề. Đạo đức công chức, công vụ cũng chưa được quan tâm trong các chương trình đào tạo cán bộ, công chức, viên chức các cấp.

    Từ Đại hội VI đến Đại hội XI, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên nhưng tác động vào đời sống rất hạn chế. Từ khi có Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cuộc chiến chống tham nhũng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống “diễn biến” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng mới có bước đột phá. Nhiều vụ tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, các nhóm lợi ích được xử lý, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, cần quan tâm nâng cao chất lượng phát triển văn hóa và con người, “đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội”; có giải pháp cụ thể và hữu hiệu để phát triển văn hóa, tạo lập các giá trị và chuẩn mực văn hóa và con người phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

    Cần xác định rõ chủ thể của việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa. Nếu không xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc xử lý mối quan hệ này, quan điểm, chủ trương không thể đi vào cuộc sống. Quốc hội, Chính phủ phải kết hợp thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành luật pháp và chính sách, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong xử lý mối quan hệ này. Việc phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong giải quyết mối quan hệ này là cơ sở để kiểm tra, giám sát được các hoạt động thực tiễn. Khi đó, quan điểm chủ trương của Đảng mới được thực thi có hiệu quả.

    (1), (5), (15), (16) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2014, tr.47, 48, 53, 56.

    (2), (3), (8), (9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70, 71, 73, 124.

    (4) ĐCSVN : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.213.

    (6), (7) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.199, 576.

    (10), (11), (12), (13), (14), (17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2021, tr.69, 102, 104, 127, 128, 69-70.

    Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Nguồn Lực Văn Hóa
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Quản Trị Nhân Sự Tại Công Ty Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp I
  • Mẫu Đề Cương Báo Cáo Thực Tập Quản Trị Nguồn Nhân Lực
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Quản Trị Nhân Sự Trong Công Ty
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Dụng Nhân Sự Tại Công Ty Xây Dựng Hà Thắng
  • Chính Sách Và Mối Quan Hệ Giữa Chính Sách Với Pháp Luật Trong Hoạt Động Lập Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàng Loạt Giải Pháp Kích Cầu Du Lịch Đà Nẵng
  • Nhiều Giải Pháp Kích Cầu Du Lịch Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường
  • Giải Pháp Mạnh Để Kích Cầu Du Lịch
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Nhiều Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập thì theo chúng tôi, chính sách được hiều là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách mà thôi.

    Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng, so với khái niệm , chính sách được hiểu rộng hơn nhiều. Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách cần được tìm hiểu ở một số khía cạnh sau đây:

    – Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách.

    – Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật. Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách. Có thể có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn. Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được thừa nhận, được “nhào nặn” bởi “bàn tay công quyền”, tức là được ban hành bởi nhà nước theo một trình tự luật định.

    – Như vậy, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công – nhà nước. Chúng ta vẫn thường nói đến một nguyên tắc của tổ chức thực thi quyền lực chính trị là “Đảng đề ra đường lối, chính sách, Nhà nước thể hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật”. Tuy nhiên, cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò hoạch định chính sách của đảng cầm quyền. Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng chính sách là nhiệm vụ của Đảng, Đảng là người duy nhất có quyền đưa ra chính sách. Đúng. Đảng đề ra đường lối chính sách để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật nhưng việc xây dựng và ban hành pháp luật của Nhà nước cũng chính là Nhà nước xây dựng và ban hành chinh sách (Điều này được phản ánh rất rõ trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay, khi người của Đảng được giao nắm các trọng trách và vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước (trong thành phần của Quốc hội Khoá XII hiện nay số lượng đảng viên chiếm tới 93%; đối với Chính phủ thì 100% thành viên Chính phủ là đảng viên). Đường lối, chính sách của Đảng có thể được copy, được cụ thể hóa trong pháp luật nhưng nó cũng có thể được điều chỉnh, được hoàn thiện trong quá trình thể chế hóa để phù hợp với tư tưởng mới hay đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn xã hội. xây dựng và ban hành pháp luật là thể chế hóa chính sách của Đảng thành pháp luật nhưng cũng là một bước xây dựng và hoàn thiện chính sách. Và vì vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù rất gần gũi và có những điểm giao nhau, là cơ sở tồn tại của nhau trong một chế độ nhà nước pháp quyền.

    Có thể chỉ ra những đặc trưng và cũng là sự khác biệt giữa chính sách và pháp luật ở những điểm sau:

    – Nếu chính sách là những tư tưởng, định hướng, những mong muốn chính trị được thể hiện trong các nghị quyết, các văn kiện của Đảng. Cụ thể là:

    Cần phải xây dựng Đề án chính sách hoàn chỉnh trước khi quyết định xây dựng một dự án luật[4]. Những quy định tại Điều 22 của Luật ban hành văn bản QPPL hiện hành về lập chương trình và thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chỉ phù hợp với việc lập chương trình dài hạn của cả khoá Quốc hội, chưa thể là cơ sở để lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm. Cần phải bổ sung quy định: cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng luật phải xây dựng Đề án chính sách và bảo vệ đề án đó trước các Uỷ ban của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Quốc hội chỉ chấp nhận đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm đối với các dự án luật, pháp lệnh đã có Đề án chính sách được xây dựng hoàn chỉnh theo đề nghị của UBTVQH. Đề án chính sách phải được giao cho các cơ quan chức năng – là các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc nắm vững các vấn đề thuộc lĩnh vực dự kiến ban hành luật nghiên cứu và xây dựng. Việc giao nghiên cứu xây dựng Đề án chính sách nên được bắt đầu sớm, ngay từ khi hình thành những ý tưởng chính sách hay yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, chí ít cũng là ngay sau khi Quốc hội thông qua nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cả khoá Quốc hội, hoặc ngay sau khi Quốc hội điều chỉnh, bổ sung chương trình (nếu có). Đề án chính sách phải được nghiên cứu, xây dựng công phu với đầy đủ các nội dung sau đây:

    * Báo cáo, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực dự kiến;

    * Chứng minh được sự cần thiết phải xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung một đạo luật;

    * Đưa ra được những nội dung dự kiến điều chỉnh – tức là nội dung chính sách của đề án và thuyết minh rõ về sự cần thiết và mục đích điều chỉnh của từng nội dung;

    * Dự báo những tác động đến kinh tế – xã hội của dự án luật, đặc biệt là đến đối tượng tác động, điều chỉnh trực tiếp của luật;

    Sau khi đã có Đề án chính sách được xây dựng hoàn chỉnh với đầy đủ các nội dung nói trên, được Quốc hội chấp nhận đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm thì hệ quả của vấn đề này là Ban soạn thảo dự án luật không phải mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để đầu tư cho những hoạt động đánh giá và nghiên cứu xây dựng chính sách, như tổng kết thực tiễn; đánh giá pháp luật; nghiên cứu kinh nghiệm, đánh giá thông tin; hoặc định ra những nguyên tắc, những định hướng về mặt chính sách…để dành thời gian cho Ban soạn thảo xây dựng dự thảo luật có điều kiện để nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn thông tin; lựa chọn chính sách điều chỉnh phù hợp; tham khảo kinh nghiệm và so sánh pháp luật các nước cũng như quốc tế… thiết kế điều luật và cuối cùng là đưa ra được một dự thảo luật khả thi và đem lại hiệu quả điều chỉnh cao. Việc bóc tách giai đoạn xây dựng Đề án chính sách ra khỏi giai đoạn soạn thảo luật, phân biệt rạch ròi hai giai đoạn như nói trên, theo chúng tôi sẽ đem lại nhiều ưu việt hơn quy trình hiện hành ở những điểm sau:

    Thứ nhất, việc phân định rạch ròi hai giai đoạn nói trên, giúp cho Quốc hội có đủ cơ sở xác định rõ hơn trong việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm. Quốc hội chỉ đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm các dự án luật, pháp lệnh đã được thiết kế về nội dung chính sách dự kiến điều chỉnh – tức là có Đề án chính sách đã được xây dựng và đã được các Uỷ ban của Quốc hội và UBTVQH xem xét, chấp thuận và đề nghị. Từ đó, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm sẽ có tính khả thi cao hơn khi đã được nghiên cứu kỹ về mặt nội dung chính sách. Và chúng tôi cũng chỉ đề cập đến quy trình này trong việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Quốc hội. Vì nếu áp dụng quy trình này để bắt buộc phải có những đề án chính sách hoàn chỉnh, làm cơ sở cho việc xác định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cả khoá Quốc hội là khó khả thi. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cả khóa Quốc hội được dựa trên Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong từng thời kỳ và những định hướng lớn khác mà chưa thể (nhưng không loại trừ) dựa vào các đề án chính sách về từng lĩnh vực hay vấn đề cụ thể);

    Thứ hai, sẽ rút ngắn được rất nhiều thời gian soạn thảo một dự án luật. Thông thường hiện nay, một dự án luật từ khi chuẩn bị soạn thảo đến khi thông qua phải mất vài ba năm, nhưng nếu làm theo quy trình hai công đoạn nói trên thì việc soạn thảo (quy phạm hoá chính sách) và thông qua một dự án luật cõ lẽ chỉ cần đến một năm, thậm chí có thể ngắn hơn. Tuy nhiên, thời gian vật chất để xây dựng Đề án chính sách thì vẫn phải có, nhưng quy trình hai giai đoạn sẽ giảm bớt được gánh nặng cho các cơ quan chủ trì soạn thảo luật, cho Quốc hội, giảm bớt áp lực về chương trình. Và nếu làm theo quy trình này, theo chúng tôi nên bỏ quy trình hai giai đoạn ở Quốc hội hiện nay. Tức là một dự án luật không cần thiết phải đưa ra xem xét ở hai kỳ họp Quốc hội, trừ những dự án chưa đủ điều kiện để xem xét và thông qua trong một kỳ họp. Và như vậy, Quốc hội có thể xem xét và thông qua được nhiều luật hơn trong một kỳ họp, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng hiện nay;

    Thứ ba, nếu việc chuẩn bị tốt về mặt chính sách bằng một đề án được nghiên cứu và xây dựng công phu, bài bản thì chắc chắn sẽ nâng cao được chất lượng của dự án luật, cuộc sống sẽ đi vào luật nhiều hơn và cũng tức là luật sẽ đi vào cuộc sống được tốt hơn. Đồng thời kéo theo nhiều hệ quả tiến bộ khác, như: việc soạn thảo luật sẽ được linh hoạt hơn, Quốc hội không nhất thiết phải giao cho cơ quan đã chủ trì xây dựng Đề án chính sách hay cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó soạn thảo luật mà có thể giao cho một cơ quan khác, thậm chí một Ban soạn thảo độc lập được thành lập bởi Quốc hội, UBTVQH hay Chính phủ mà không thuộc một Bộ hay cơ quan nào, thậm chí có thể áp dụng cơ chế đấu thầu để các cơ quan, tổ chức, các viện nghiên cứu, trường đại học, kể cả các công ty luật cũng có thể tham gia đấu thầu xây dựng các dự án luật; từ đó sẽ hạn chế được tình trạng luật khung; xóa bỏ được tính cục bộ lợi ích vẫn thường tồn tại trong các luật hiện nay.

    Với thực trạng Quy trình lập pháp nói trên chúng tôi cho rằng, đổi mới Quy trình lập pháp hiện nay cần phải có những đột phá mang tính cải cách, nhằm đưa ra một quy trình khoa học và hiệu quả, nâng tầm hoạt động lập pháp của nhà nước ta đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của công cuộc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện đại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Chính Sách
  • D. Giải Pháp Thiết Kế Tổng Mặt Bằng Nhà Máy
  • Thiết Kế Cơ Sở Là Gì? Nội Dung Hồ Sơ Thiết Kế Cơ Sở Chi Tiết Gồm Những Gì?
  • Giải Pháp Thiết Kế Thông Minh Cho Mô Hình Nhà Máy Sản Xuất Hoa Quả Đóng Hộp
  • Tài Liệu Cơ Sở Thiết Kế Nhà Máy
  • Mối Quan Hệ Giữa Bí Thư Huyện Ủy Và Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Huyện Trong Quá Trình Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Bí Thư Huyện Ủy Bình Liêu
  • Ban Tuyên Giáo Huyện Ủy
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Ban Dân Vận Tỉnh Ủy
  • Sáp Nhập Trung Tâm Bồi Dưỡng Chính Trị Vào Ban Tuyên Giáo Huyện Ủy: Hiệu Quả, Thuận Lợi
  • Huyện Ủy Và Các Ban Thuộc Huyện Ủy
  • TNV – Trong tổ chức hệ thống chính trị cấp huyện ở nước ta hiện nay, bí thư huyện ủy thường kiêm Chủ tịch HĐND huyện, Chủ tịch UBND huyện là Phó bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện. Việc bố trí chức danh cán bộ đứng đầu hệ thống tổ chức Đảng và UBND của cấp huyện như trên là một tổng kết thực tiễn hoạt động của HĐND huyện qua hàng chục năm làm thử.

    Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện ủy với chủ tịch UBND huyện là phó bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các mối quan hệ: nguyên tắc tổ chức và cơ chế hoạt động, các mối quan hệ qua hai hệ thống tổ chức Đảng và Nhà nước, bản chất, nội dung của từng mối quan hệ, các hình thức thể hiện từng mối quan hệ…

    Về nguyên tắc tổ chức của mối quan hệ được xác định trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng năm 2001; Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1002, trong các văn kiện đó vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người bí thư huyện ủy kiêm Chủ tịch HĐND huyện, người chủ tịch UBND huyện là phó Bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện đã được quy định, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2915 thì người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện là người lãnh đạo, còn người chủ tịch UBND huyện là phó bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện là đối tượng chịu sự lãnh đạo. Về cơ chế quan hệ thi trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đã xác định cơ chế chung điều hành toàn bộ hoạt động xã hội là: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”. Do đó, theo cơ chế hoạt động này thì người bí thư huyện ủy lãnh đạo toàn diện mọi hoạt động quản lý của người chủ tịch UBND huyện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo pháp luật để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu thông qua bộ máy nhà nước cấp huyện.

    Đối với các mối quan hệ qua hai hệ thống tổ chức Đảng và Nhà nước thì giữa Bí thư huyện ủy và Chủ tịch UBND huyện có bốn mối quan hệ:

    Thứ nhất, mối quan hệ giữa bí thư huyện ủy với tư cách là người đại biểu cao nhất trong hệ thống tổ chức Đảng cấp huyện với chủ tịch UBND huyện với tư cách là người đứng đầu hệ thống tổ chức hành chính nhà nước cấp huyện. Đây thực chất là mối quan hệ Huyện ủy lãnh đạo UBND huyện, một mối quan hệ rất cơ bản trong hệ thống chính trị cấp huyện.

    Thứ hai, mối quan hệ giữa bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện với chủ tịch UBND huyện, đây là mối quan hệ trong hệ thống tổ chức nhà nước cấp huyện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã nêu trên.

    Thứ ba, mối quan hệ giữa bí thư huyện ủy và chủ tịch UBND là phó bí thư huyện, đây là mối quan hệ trong nội bộ cấp ủy huyện theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Thứ tư, mối quan hệ giữa bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện với chủ tịch UBND huyện là phó Bí thư huyện, thành viên của HĐND huyện, đây là mối quan hệ “kép” theo hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước cấp huyện là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2021 đối với cấp huyện.

    Về bản chất các mối quan hệ giữa người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện với người chủ tịch UBND huyện là phó bí thư huyện, thành viên của HĐND huyện, dù xét trong mối quan hệ nào thì bản chất các mối quan hệ trên vẫn là mối quan hệ giữa lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo. Nội dung và hình thức thể hiện mối quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo trong từng mối quan hệ không giống nhau vì tùy thuộc vào vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi người trong từng hệ thống tổ chức mà xác lập các mối quan hệ. Nhưng bản chất các mối quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo giữa người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện với người phó bí thư huyện ủy làm chủ tịch UBND huyện không chỉ đơn thuần tác động một chiều, thụ động do người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện chỉ đạo trực tiếp người phó bí thư huyện ủy làm chủ tịch UBND huyện, mà còn có mối quan hệ tác động qua lại giữa người phó bí thư huyện ủy với người bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện với chủ tịch HĐND huyện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách trong hoạt động của cấp ủy huyện, HĐND huyện.

    Người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND và người phó bí thư huyện ủy làm chủ tịch UBND huyện cũng lãnh đạo, quản lý thực hiện một nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện là tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cùng thực hiện mục tiêu dân giàu, huyện mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do đó, để hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện trong nhiệm kỳ cấp ủy, người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện và người phó bí thư huyện ủy làm Chủ tịch UBND huyện phải thân hiểu lẫn nhau, thường xuyên quan hệ tác động qua lại trên tinh thần tích cực hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ, bổ sung những hạn chế cho nhau, luôn tôn trọng nhau trên tình đồng chí, dân chủ, đoàn kết, thống nhất toàn diện, ý thức trách nhiệm cao, thường xuyên tự phê bình và phê bình một các trung thực, thẳng thắn, thấu lý, đạt tình, luôn tuân thủ Điều lệ Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, luật tổ chức chính quyền địa phương đối với cấp huyện, quy chế làm việc của huyện ủy, nội quy, quy định của UBND huyện.

    Nội dung và các hình thức thể hiện từng mối quan hệ qua hai hệ thống tổ chức Đảng và Nhà nước đối với người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện với người chủ tịch UBND huyện là phó bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện được thể hiện như sau:

    Thứ nhất, về nội dung mối quan hệ giữa người bí thư huyện ủy với người chủ tịch UBND huyện trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là mối quan hệ giữa người đứng đầu thành tố hạt nhân lãnh đạo chính trị với người đứng đầu thành tố quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị trong hệ thống chính trị cấp huyện. Nội dung của mối quan hệ này thực chất chính là nội dung của mối quan hệ huyện ủy lãnh đạo UBND huyện. Nội dung mối quan hệ này rất toàn diện, phong phú, sâu sắc, ngày càng phát triển theo tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bao gồm tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng…Nội dung mối quan hệ trên được thể hiện ngay từ đầu nhiệm kỳ xây dựng nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ huyện, đến việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, triển khai, kiểm tra thực hiện nghị quyết trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong nhiệm kỳ đại hội thực hiện nội dung lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo, đòi hỏi hai người phải thật sự tôn trọng, thông cảm những khó khăn, hạn chế của nhau; đồng thời phải luôn tuân thủ nghiêm túc những nguyên tắc đã được quy định trong Điều lệ của Đảng và pháp luật của nhà nước. Khi gặp những khó khăn, vướng mắc cần tranh thủ ý kiến của lãnh đạo tỉnh để tìm ra những biện pháp giải quyết tốt nhất. Người bí thư huyện ủy và người chủ tịch UBND huyện ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội phải thống nhất cao về phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, những định hướng, chủ trương trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn huyện.

    Nội dung mối quan hệ này còn được thể hiện trong các cuộc họp đột xuất của huyện ủy, Ban Thường vụ, Thường trực huyện ủy, để có nghị quyết, chủ trương, chỉ thị, giải quyết một vấn đề quan trọng, khẩn cấp do tỉnh ủy chỉ đạo hay tình hình đặc biệt cần kíp phải giải quyết về an ninh, chính trị, kinh tế, thiên tai, địch họa, dịch bệnh… Chủ tịch UBND huyện với tư cách là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện có tính độc lập nhất định theo pháp luật trong việc thể hiện mối quan hệ chịu sự lãnh đạo của người bí thư huyện ủy. Do đó, người bí thư huyện ủy cần phải tôn trọng vị trí này của người chủ tịch UBND huyện. Người bí thư huyện ủy có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người chủ tịch UBND huyện bằng cách ra nghị quyết, chủ trương, chỉ thị đúng, chỉ đạo sâu sát việc tổ chức thực hiện, kiểm tra chặt chẽ quá trình thực hiện để người chủ tịch UBND huyện quản lý điều hành trong khuôn khổ pháp luật, còn người chủ tịch UBND huyện có trách nhiệm phải tôn trọng cơ chế, nguyên tắc, cùng người bí thư huyện ủy lãnh đạo xã hội thực hiện nghị quyết, chủ trương, chỉ thị của huyện ủy theo pháp luật. Người bí thư huyện ủy không được can thiệp sâu vào các quyết định của chủ tịch UBND huyện.

    Khi phát hiện thấy có vấn đề gì cần góp ý thì phải vừa căn cứ vào nghị quyết của huyện ủy, vừa phải căn cứ đối chiếu với pháp luật, các chủ trương của nhà nước cấp trên, không được nôn nóng mà bất chấp những quy định của pháp luật. Để cho người chủ tịch UBND huyện phát huy đúng vai trò quản lý theo pháp luật của mình thì đòi hỏi các nghị quyết của huyện ủy phải phù hợp với pháp luật hiện hành. Người chủ tịch UBND huyện phải tôn trọng sự lãnh đạo của huyện ủy, việc thể chế hóa của UBND huyện đều phải xuất phát từ nghị quyết, chủ trương, chỉ thị đồng thời căn cứ vào pháp luật và những quy định của cơ quan nhà nước cấp trên. Các quyết định của UBND huyện chịu sự chi phối rất lớn của UBND tỉnh và ngành cấp trên. Do đó, một khi mối quan hệ với tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, kể cả các ngành của cấp trên nảy sinh những vướng mắc thì quá trình thực hiện nghị quyết của huyện ủy cũng sẽ gặp nhiều khó khăn và kết quả sẽ không cao. Thực tế hiện nay cấp huyện còn phụ thuộc rất lớn vào cấp tỉnh. Từ công tác tổ chức, cán bộ, đến vấn đề định mức chi tiêu trên địa bàn huyện, do đó giữa nghị quyết của huyện ủy và khả năng quản lý thực hiện của chủ tịch UBND huyện còn một khoảng cách, nhiều trường hợp đã có nghị quyết của huyện ủy chưa thực hiện được vì phải chờ tỉnh xem xét quyết định.

    Thứ hai, về nội dung mối quan hệ giữa người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện với người chủ tịch UBND huyện là thành viên của HĐND huyện. Thực chất đây cũng là mối quan hệ giữa lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo trong hệ thống tỏ chức nhà nước cấp huyện. Nội dung mối quan hệ này được thực hiện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2021 đối với cấp huyện.

    Nội dung mối quan hệ trên được thể hiện trong các cuộc họp định ký HĐND 6 tháng một lần, họp bất thường, thường xuyên hàng ngày giữa Thường trực HĐND với Chủ tịch UBND huyện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, tại mục III, mục IV; chương III: mục I, mục II, theo các điều tương ứng đã nêu trên.

    Thứ ba, về nội dung mối quan hệ giữa người bí thư huyện ủy với người chủ tịch UBND huyện là phó bí thư huyện ủy. Thực chất đây là mối quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo trong sinh hoạt nội bộ cấp ủy huyện. Nội dung mối quan hệ này được thực hiện theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2001, Quy chế làm việc của Huyện ủy. Ở đây, chỉ phân tích nội dung mối quan hệ này theo Quy chế làm việc của Huyện ủy. Theo quy chế này thì phó bí thư huyện ủy làm chủ tịch HĐND huyện là thành viên của Thường trực huyện ủy. Do đó, trong quan hệ làm việc thì mọi Nghị quyết, chủ trương của huyện ủy trước khi cụ thể hóa thành kế hoạch của nhà nước đã có sự bàn bạc thống nhất trong Ban Thường vụ. Tuy nhiên, để có sự thống nhất thật sự cả về nhận thức, trách nhiệm và tình cảm thì ngoài việc phải nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong nội bộ, còn phải luôn quan tâm xây dựng được khối đoàn kết thống nhất trong Ban Thường vụ Huyện ủy, mà trước hết là giữa bí thư huyện ủy và chủ tịch UBND huyện là pháo bí thư huyện ủy. Sự đoàn kết thống nhất chặt chẽ này là cơ sở để đoàn kết Ban Chấp hành Đảng bộ huyện.

    Thứ tư, về nội dung mối quan hệ giữa người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện với người chủ tịch UBND huyện là phó bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện. Thực chất nội dung mối quan hệ này là nội dung quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo “kép” trong hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước, giữa hệ thống tổ chức Đảng và Nhà nước theo điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên tắc, quy chế làm việc của huyện ủy, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2021. Cơ chế này đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng từ khâu ra nghị quyết cho đến khi nghị quyết được Nhà nước thể chế hóa, tổ chức thực hiện. Mối quan hệ này giúp cho người bí thư huyện ủy với tư cách là chủ tịch HĐND huyện nắm chắc quá trình thể chế hóa, xây dựng kế hoạch, tổ chức điều hành thực hiện nghị quyết, kế hoạch một cách toàn diện, sâu sát, cụ thể, mà đặc biệt là kế hoạch ngân sách, đây là vấn đề rất nhạy cảm dễ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong chỉ đạo, điều hành. Người phó bí thư huyện ủy làm chủ tịch UBND huyện với tư cách là đại biểu HĐND huyện vừa ở cương vị điều hành, vừa chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của HĐND huyện. Đây chính là cư chế phối hợp thực hiện mối quan hệ “kép”, nhằm kiểm tra hạn chế sự lộng quyền khi giao cho một người nhiều quyền lực và ngăn chặn các tiêu cực khác, đảm bảo cho sự điều hành của Nhà nước cấp huyện theo đúng sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân huyện.

    Nội dung mối quan hệ này được thể hiện rất đa dạng theo từng mối quan hệ “kép” trong hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước, giữa hệ thống tổ chức Đảng với Nhà nước cấp huyện. Trong hệ thống tổ chức Đảng cấp huyện, mối quan hệ này được thể hiện giữa người bí thư huyện ủy với người phó bí thư huyện ủy trong các cuộc hội nghị huyện ủy, họp Ban Thường cụ huyện ủy, Thường trực huyện ủy. Trong hệ thống tổ chức nhà nước cấp huyện, mối quan hệ này được thể hiện trong các cuộc họp thường kỳ HĐND huyện 6 tháng một lần hay họp bất thường, quan hệ thường xuyên hàng ngày giữa người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện với người chủ tịch UBND huyện trong giờ làm việc, ngoài giờ làm việc, qua hệ thống thông tin. Trong thực tế nội dung mối quan hệ này không phải bao giờ cũng được thể hiện rõ rang giữa hệ thống tổ chức đảng với hệ thống tổ chức nhà nước trong các cuộc hội nghị, hội ý, trao đổi cá nhân với nhau, mà nhiều khi mối quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo này được thể hiện đan xen nhau, nên người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện và người chủ tịch UBND huyện là phó bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện, tùy nội dung của từng mối quan hệ được thể hiện, tùy từng vấn đề trong mỗi cuộc hội nghị, cuộc họp, cuộc trao đổi, mà xác định mối quan hệ đúng đắn trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ trên tinh thần đoàn kết, quyết tâm, trách nhiệm cao với nhân dân huyện.

    Người bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch HĐND huyện và người chủ tịch UBND huyện là phó bí thư huyện ủy, thành viên của HĐND huyện cần phải luôn giải quyết tốt mối quan hệ của mình với Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, các ban ngành của Đảng, Nhà nước cấp tỉnh, để tạo những thuận lợi cơ bản trong quá trình công tác, đồng thời phải đảm bảo thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cấp trên. Muốn thế, người bí thư huyện ủy và người chủ tịch UBND huyện phải luôn thống nhất quan điểm, chủ trương trong việc xây dựng nghị quyết, thể chế hóa thành các chương trình, kế hoạch, đề án công tác, chính sách, biện pháp tổ chức thực hiện trên địa bàn huyện. Bí thư huyện ủy và chủ tịch UBND huyện phải tuân thủ nghiêm tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc của Huyện ủy, nội quy, quy định làm việc của UBND huyện, thực hiện đúng các quy trình, các bước ra nghị quyết, chỉ thị, quyết định, chương trình, kế hoạch, đề án công tác, nhất là phải nhanh nhạy nắm bắt, xử lý thong tin, thống nhất giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh có khả năng ảnh hưởng rộng trên địa bàn huyện. Các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, chương trình, kế hoạch, đề án công tác, nếu sai lầm sẽ gây ra nhiều tác hại cho huyện về mọi mặt, làm giảm sát long tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước. Bí thư huyện ủy và chủ tịch UBND huyện không nên để xảy ra tình trạng đổ lỗi cho nhau,không ai chịu trách nhiệm.

    Trong thực tiễn hiện nay, mối quan hệ giữa bí thư huyện ủy và chủ tịch UBND huyện cần phải tránh ba trường hợp: Một là, bí thư huyện ủy do hạn chế về trình độ, năng lực nên khi gặp những vấn đề quan trọng cần phải có chủ trương, ý kiến chỉ đạo để chủ tịch UBND huyện tổ chức thực hiện, nhưng lại lung túng, chần chừ,không quyết đoán, đưa đến chậm trễ công việc hoặc thất bại; hai là, trong cơ chế thị trường đòi hỏi chủ tịch UBND huyện phải năng động, quyết đoán, tranh thủ cơ hội, nên nhiều vấn đề đã tự quyết định, lấn quyền lãnh đạo của bí thư huyện ủy; ba là, bí thư huyện ủy bao biện làm thay công việc của chủ tịch UBND huyện hoặc khoán trắng việc lãnh đạo một số lĩnh vực của đời sống xã hội cho chủ tịch UBND huyện. Trong cả ba trường hợp trên đều làm han chế vai trò lãnh đạo của bí thư huyện ủy và vai trò quản lý của chủ tịch UBND huyện.

    Ths. Bùi Thu Chang

    Viện xây dựng Đảng – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Thẩm Quyền, Trách Nhiệm Của Bí Thư Huyện Ủy
  • #no.1 Dịch Vụ Gia Công, Sửa Chữa Dịch Vụ Gia Công, Sửa Chữa Xi Lanh Thủy Lực
  • Dẫn Hướng Xy Lanh Thủy Lực
  • Xi Lanh Thủy Lực Là Gì? Nguyên Lý Và Cấu Tạo Của Xi Lanh Thủy Lực
  • Gioăng Phớt Xi Lanh Là Gì? Cách Chọn Gioăng Phớt Xi Lanh Thủy Lực
  • Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Với Nền Hành Chính Nhà Nước Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Chức Năng Của Pháp Luật Là Gì?
  • Các Tiêu Chí Đánh Giá Tác Động Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • 3Pl Là Gì? 4Pl Là Gì? So Sánh Giữa 3Pl Và 4Pl
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 12
  • 1. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

    Ngày nay, nhà nước pháp quyền là nhà nước được thực hành mang tính phổ quát ở hầu như tất cả các quốc gia tiến bộ, dân chủ trên thế giới.

    Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền. Xét về thực chất, nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó, quan hệ giữa nhà nước và công dân là quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Trong nhà nước pháp quyền, quyền và tự do của người dân được ghi nhận và bảo đảm, đó cũng là cơ sở chính trị – pháp lý cho việc bảo đảm dân chủ và là sự thể hiện bản chất dân chủ của nhà nước. Ở Việt Nam, Nhà nước pháp quyền được ghi nhận trong Hiến pháp, bên cạnh những đặc điểm của nhà nước pháp quyền nói chung, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam có những đặc trưng cơ bản như sau Xem: PGS. TS. Nguyễn Như Phát (Chủ biên), Đề tài khoa học cấp nhà nước: Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tr 29 – 31, 2010.

    [2] Xem: PGS. TS. Vũ Thư, Tập bài giảng Lý luận cơ bản về nền hành chính nhà nước, trang 3, Học viện khoa học xã hội, 2021.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Bài Tiết Nước Tiểu Lớp 3 Ke Hoach Bai Day Doc
  • Bài 11. Vệ Sinh Cơ Quan Bài Tiết Nước Tiểu
  • Tổng Quan Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Ngành Tư Pháp Theo Quy Định Pháp Luật Hiện Hành
  • Ngành Tư Pháp Đã Tiến Hành Công Cuộc Đổi Mới Sâu Rộng Và Có Nhiều Ấn Tượng
  • Ngành Tư Pháp Nỗ Lực Hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ Được Giao
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50