Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Mầm Non Tam Thanh

--- Bài mới hơn ---

  • Tp Cẩm Phả: Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • STT

    Số trang

    I

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1

    Lý do chọn đề tài

    2

    2

    Mục đích nghiên cứu

    3

    3

    Phạm vi, đối tượng

    3

    4

    Phương pháp nghiên cứu

    3

    5

    Giả thiết khoa học

    3

    6

    Dự báo đóng góp mới của đề tài

    4

    II

    PHẦN NỘI DUNG

    1

    Cơ sở khoa học

    5

    1.1

    Cơ sở lý luận

    5

    1.2

    Cơ sở thực tiễn

    5

    2

    Khảo sát thực tế trước khi thực hiện đề tài

    6,7

    3

    Các giải pháp thực hiện

    3.1

    Bồi dưỡng về ý thức trách nhiệm phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ

    8

    3.2

    Xây dựng môi trường học tập trong và ngoài lớp

    9

    3.3

    Đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

    10

    3.4

    Đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn

    11

    3.5

    Tăng cường công tác kiểm tra, thăm lớp dự giờ

    11

    3.6

    12

    3.7

    Tổ chức các cuộc thi cấp trường

    13

    3.8

    Bồi dưỡng chuyên môn qua các hoạt động chuyên môn khác

    13,14

    3.9

    Bồi dưỡng đội ngũ qua việc phát huy nội lực

    15

    3.10

    Nêu cao tính gương mẫu của cán bộ quản lý

    16

    4

    Kết quả đạt được

    16,17,18

    III

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1

    Kết luận

    19

    2

    Kiến nghị và đề xuất

    20

    I. PHẦN MỞ ĐÂU

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trong những năm qua Nhà nước quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hóa, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên, đáp ứng nhu cầu thực tế đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng đã khẳng định vai trò “Quyết định chất lượng giáo dục” là của đội ngũ nhà giáo. Điều này thể hiện niềm vui, thể hiện niềm tin vừa thể hiện sự mong đợi rất nhiều từ Đảng và nhà nước đối với đội ngũ giáo viên trong công cuộc đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

    Chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên trong trường mầm non sẽ góp phần to lớn đưa lại hiệu quả cao về chất lượng trẻ, giúp cho trẻ phát triển toàn diện, chuẩn bị tốt tâm thế để bước vào lớp một. Chính vì vậy, người giáo viên mầm non được xem là người đặt nền móng đầu tiên, là yếu tố quyết định và hình thành nhân cách đầu tiên cho trẻ. Nhiệm vụ của người giáo viên mầm non hết sức nặng nề, ngoài việc truyền thụ những kiến thức kỹ năng đơn giản, ban đầu cho trẻ thì còn phải chăm sóc, nuôi dưỡng, uốn nắn và tập cho trẻ những thói quen, kỹ năng sống.

    Để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng nhu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay thì việc dạy học giữ vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Thông qua hoạt động dạy – học nhận thức về trí tuệ và hành vi của trẻ được phát triển. Điều này chứng tỏ việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non là hết sức cần thiết.

    Chất lượng đội ngũ nâng cao, tạo được niềm tin cho các bậc phụ huynh an tâm gửi con đến trường.

    Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.

    Trước mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, nhiệm vụ đặt lên cho đội ngũ nhà giáo những yêu cầu mới với trách nhiệm lớn hơn trong dạy học và giáo dụcMỗi nhà giáo theo yêu cầu đổi mới không những phải là người giỏi về chuyên môn mà còn cần phải có năng lực sư phạm, năng lực giáo dục và lối sống, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm…. Đồng thời có trách nhiệm cao trong việc xây dựng môi giáo dục cho trẻ hoạt động. Chính vì vậy việc xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cho giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phát triển chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục Mầm non nói riêng, là mục tiêu hàng đầu, là nhiệm vụ then chốt trong công cuộc đổi mới, toàn diện giáo dục.

    Với vai trò là một cán bộ quản lý, phụ trách chuyên môn, nhận thức được vai trò của đội ngũ giáo viên đối với chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, đó là một đòi hỏi thách thức đối với những người làm công tác quản lý như chúng tôi. Đứng trước tình hình đó bản thân tôi thấy được vai trò trách nhiệm của mình trong việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng yêu đổi mới từng ngày của ngành, đáp ứng được sự phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và sự đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục, đồng thời nhằm đảm bảo yêu cầu chăm sóc giáo dục cho trẻ Mầm non phát triển một cách toàn diện về các mặt đức – trí – thể – mỹ nhằm đáp ứng yêu cầu của xu thế ngày nay. Chính vì vậy tôi chọn “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Mầm non Tam Thanh” làm đề tài nghiên cứu.

    2. Mục đích nghiên cứu:

    – Nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn, hiệu quả trong việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục. Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện.

    – Nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng say mê và tâm huyết với nghề, trau dồi phẩm chất đạo đức lối sống tốt trong nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên.

    – Đảm bảo được chất lượng chăm sóc giáo dục trong trường mầm non theo yêu cầu “Đổi mới căn bản và toàn diện” giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.

    – Tăng cường đầu tư CSVC trang thiết bị dạy học nhằm đảm bảo chất lượng dạy và học.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    – Đối tượng nghiên cứu: Để thực hiện được đề tài “Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Mầm non Tam Thanh” tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 26 giáo viên và học sinh các độ tuổi.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp điều tra khảo sát, phân tích đánh giá chất lượng của giáo viên.

    – Phương pháp quan sát

    – Phương pháp trải nghiệm

    5. Giả thiết khoa học

    Đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường, đội ngũ mạnh hay không là do sự quản lý, chỉ đạo, sự bồi dưỡng của cán bộ quản lý trong nhà trường. Nếu cán bộ quản lý có tinh thần trách nhiệm cao luôn quan tâm theo dõi các hoạt động của giáo viên, biết lo lắng, trăn trở trước những tồn tại của đội ngũ và chất lượng chăm sóc, giáo dục trong nhà trường, thì chất lượng nhà trường nói chung sẽ được thay đổi rõ nét, đặc biệt sẽ tạo được lòng tin của phụ huynh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục. Nhưng ngược lại nếu một quản lý không có tinh thần trách nhiệm, không quan tâm trăn trở với những tồn tại của đội ngũ giáo viên, chất lượng của nhà trường, không chịu khó học tập và tìm tòi nghiên cứu các giải pháp tốt để năng cao chất lượng trong nhà trường, chắc chắn chất lượng đội ngũ, chất lượng học sinh và sự phát triển của nhà trường sẽ ngày càng xuống dốc đồng thời sẽ không có lòng tin tự phụ huynh và của các cấp… làm mất đi sự tin tưởng và hy vọng của Ngành, của Đảng và Nhà nước.

    6. Dự báo đóng góp mới của đề tài:

    Các biện pháp bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ trong trường mầm non mà bản thân tôi đã áp dụng thực nghiệm trong thời gian vừa qua thực sự có hiệu quả. Muốn có đội ngũ giáo viên mầm non mạnh về mọi mặt thì điều không thể thiếu đó là công tác bồi dưỡng, việc vận dụng các biện pháp một cách sáng tạo, khoa học và phù hợp từng thời điểm sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non. Góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị Quyết 29 của BCHTW Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện…

    II. PHẦN NỘI DUNG

    1. Cơ sở khoa học

    1.1 Cơ sở lý luận

    Trong những năm qua cùng với sự phát triển của giáo dục và đào tạo, giáo dục mầm non ngày càng đổi mới. Bậc học mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhiệm vụ của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về đức – trí – thể – mỹ, hình thành các yếu tố ban đầu về nhân cách con người, chuẩn bị tâm thế làm hành trang cho trẻ vào lớp 1. Chúng ta khẳng định rằng bậc học Mầm non tạo nền tảng ban đầu cho quá trình đào tạo phát triển con người toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa.

    Bồi dưỡng được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ sung thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên môn, mang tính ứng dụng.

    Còn đội ngũ ở đây là toàn thể các giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non.

    Như vậy, đối với công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là khâu không thể thiếu trong giáo dục đặc biệt trong trường mầm non.

    Thời gian vừa qua bậc học mầm non cũng đã có nhiều đóng góp và có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác “Thay Đảng rèn người”, trẻ mầm non được sống và học tập trong môi trường chăm sóc giáo dục tốt sẽ tạo tiền đề cho các bậc học tiếp theo và thời gian qua bậc học Mầm non đã làm được điều đó. Tuy nhiên nhằm đáp ứng đổi mới căn bản và phù hợp với yêu cầu xã hội phát triển, không chỉ dừng lại và bằng lòng với những kết quả đã đạt được, để thực hiện mục tiêu đổi mới, ngay từ bây giờ chúng ta cần tập trung cao việc nâng cao chất lượng trong các nhà trường mà nòng cốt là đội ngũ giáo viên.

    Để thực hiện được nhiệm vụ trên người giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm cao, sự tâm huyết và tính kiên nhẫn, chịu khó học tập, lối sống đạo đức, trình độ, kỹ năng sư phạm và các lĩnh vực khác. Làm tốt nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ nhằm giúp trẻ phát triển một cách toàn diện, hình thành ở trẻ tính năng động, tự tin tự lập, lĩnh hội nhanh những kiến thức, yêu cầu này đòi hỏi người giáo viên trước hết phải xác định được vai trò trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ ở trường, phải tạo cho trẻ “học bằng chơi – chơi mà học” với phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm.

    Đứng trước những yêu cầu và sự cần thiết của nâng cao chất lượng giáo dục trong trường mầm non nhằm đạt được mục tiêu của ngành nói chung của trường nói riêng. Vì vậy bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên là rất cần thiết và cấp bách, mang tính thường xuyên và lâu dài.

    1.2 Cơ sở thực tiễn

    Thời gian gần đây việc đào tạo và bồi dưỡng cho giáo viên nói chung và đặc biệt cho giáo viên mầm non nói riêng của giáo dục ta khá rõ nét, việc quan tâm đến trình độ năng lực, chất lượng chuyên môn của các cấp các ngành đối với giáo viên mầm non được coi trọng và chú ý. Tuy nhiên về thực tế mà nói giáo viên mầm non nói chung và giáo viên trường tôi nói riêng, đang tồn tại tại ở một số lĩnh vực cơ bản trong hoạt động chuyên môn. Điều hạn chế tồn tại nhiều nhất của giáo viên là năng lực chuyên môn như việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm đang còn có nhiều hạn chế, giáo viên còn cứng nhắc trong phương pháp lên lớp, chưa sáng tạo trong các hình thức tổ chức, đang còn rập khuôn áp đặt trẻ. Kỹ năng sư phạm chưa thật sự đạt kết quả cao, giáo viên còn rụt rè, thiếu tự tin, khả năng thu hút trẻ tích cực tham gia vào hoạt động chưa hiệu quả. Kỹ năng tiếp cận với công nghệ thông tin đang còn yếu. Những giáo viên trẻ tuổi năng động, tiếp cận với cái mới tương đối nhưng họ lại chưa có kinh nghiệm trong chuyên môn và kỹ năng sư phạm. Đứng trước những hạn chế, tồn tại của giáo viên là một người cán bộ quản lý cần có trách nhiệm cao trong việc tìm ra các nguyên nhân và giải pháp phù hợp để bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, nhằm đảm bảo chất lượng tốt nhất của nhà trường.

    Để khắc phục những tồn tại nêu trên, cần thiết phải có những giải pháp quản lý mang tính chiến lược và các biện pháp cụ thể để phát triển đội ngũ giáo viên trong trường Mầm non. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra được một đội ngũ giáo viên Mầm non phát triển đủ về số lượng, chuẩn hoá và đồng bộ về trình độ chuyên môn, có sự kế thừa để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác chăm sóc giáo dục trẻ, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp giáo dục. Và chúng ta khẳng định rằng công tác xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà những người cán bộ quản lý cần phải quan tâm.

    2. Khảo sát thực tế trước khi thực hiện đề tài:

    2.1 Thuận lợi

    – Nhà trường có Ban giám hiệu đều trẻ tuổi, có sức khỏe và nghiệp vụ chuyên môn khá vững vàng, luôn nhiệt tình, năng động và có kế hoạch chỉ đạo các hoạt động của trường một cách khoa học.

    – Bản thân tôi là một cán bộ quản lý luôn xác định tinh thần trách nhiệm cao với nghề, luôn quan tâm theo dõi hoạt động của nhà trường.

    – Tập thể giáo viên có trình độ chuẩn và trên chuẩn, luôn tích cực tham gia các hoạt động của nhà trường, một số giáo viên trẻ tiếp cận cái mới nhanh, có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động trên lớp.

    – Được sự quan tâm của các cấp các ngành và đặc biệt luôn nhận được sư quan tâm, đồng thuận của hội cha mẹ học sinh trong các hoạt động của nhà trường.

    2.2 Khó khăn

    – Cơ sở vật chất các phòng học chật chội, các trang thiết bị hiện đại phục vụ dạy và học còn thiếu thốn, đồ dùng đồ chơi trang thiết bị dạy học còn thiếu cả về số lượng và chủng loại dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ trong việc dạy và học.

    – Một số giáo viên trẻ nhận thức và ý thức trách nhiệm trong nghề nghiệp chưa cao, chưa tự giác trong vấn đề tự học, tự bồi dưỡng.

    – Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên không đồng đều. Kỹ năng lên lớp của số đông giáo viên cứng nhắc, thiếu tự tin, chưa biết khai thác những

    mặt mạnh của bản thân mà họ có sẵn, chưa linh hoạt sáng tạo trong cách tổ chức

    – Chất lượng của trẻ chưa đạt kết quả cao về các lĩnh vực theo mục tiêu của từng độ tuổi.

    – Đời sống của nhân dân còn thấp, nhận thức của phụ huynh về bậc học chưa cao.

    2.3 Kết quả khảo sát đánh giá

    Là một quản lý được phân công phụ trách chuyên môn khối mẫu, tôi luôn theo dõi và tìm hiểu về chất lượng đội ngũ của giáo viên trường mình, nhằm để tìm ra được các biện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng đội ngũ ngày càng đi lên. Để làm được điều đó trước tiên tôi đã xây dựng kế hoạch và nội dung khảo sát nhằm có được con số chính xác để tìm ra biện pháp, giải pháp phù hợp nhất cho đội ngũ của giáo viên trong trường.

    Khảo sát về chất lượng đội ngũ giáo viên trước khi thực hiện đề tài:

    Số lượng 26 người

    TT

    Nội dung khảo sát

    Số lượng

    Tỷ lệ

    1

    Nắm vững nội dung, kiến thức, kỹ năng, nội dung chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ theo độ tuổi

    14/26

    54%

    2

    Vận dụng các phương pháp lên lớp sáng tạo, tổ chức lớp học phù hợp với nội dung yêu cầu

    15/26

    57%

    3

    Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học

    11/26

    42%

    4

    Sáng tạo trong việc tự làm đồ dùng đồ chơi bằng các nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có tại địa phương.

    14/26

    54%

    5

    Mạnh dạn, tự tin khi lên lớp

    12/26

    46%

    Khảo sát chất lượng trẻ trước khi thực hiện đề tài số lượng 380 trẻ

    TT

    Nội dung khảo sát

    Số lượng

    Tỷ lệ

    1

    Số trẻ nắm được các yêu cầu kiến thức các lĩnh vực phát triển theo độ tuổi

    170/380

    45%

    2

    Trẻ có một số kỹ năng thực hiện các bài tập, động tác theo nội dung bài học.

    160/380

    42%

    3

    Trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp với người lớn.

    190/380

    50%

    4

    Sáng tạo trong việc tự làm đồ dùng đồ chơi bằng các nguyên vật liệu thiên nhiễn sẵn có tại địa phương do cô giáo hướng dẫn

    150/380

    39%

    Đứng trước thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên và học sinh như vậy, xác định vai trò của người cán bộ quản lý tôi đặt câu hỏi mình phải làm gì? làm như thế nào? Để khắc phục những khó khăn tồn tại để giúp đỡ giáo viên áp dụng vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ, giáo viên biết tận dụng điều kiện thuận lợi nhất để trẻ được tìm tòi, khám phá, trải nghiệm, tích cực hứng thú trong hoạt động với công tác chăm sóc giáo dục trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ trong trường Mầm non.

    Với những băn khoăn trăn trở, tôi dã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Mầm non.

    3. Các giải pháp thực hiện.

    3.1. Bồi dưỡng về ý thức trách nhiệm phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

    Giáo viên mầm non được ví như người mẹ hiền thứ hai của trẻ, thời gian trẻ ở trường bên cô giáo là khoảng thời gian nhiều hơn ở nhà, các hoạt động đối với trẻ hầu hết phải được sự hướng dẫn, quan tâm chăm sóc của giáo viên. Người giáo viên phải thiết tha, hứng thú với nghề nghiệp, yêu mến, tôn trọng trẻ là tấm gương hàng ngày đối với trẻ. Lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm là động lực giúp cho người giáo viên gắn bó với trẻ, điều đó biểu hiện ở lòng nhân hậu, vị tha, công bằng, tế nhị và chu đáo, quan tâm để ý từng thay đổi nhỏ của trẻ. Đây là yếu tố quyết định về chất lượng đối với giáo viên mầm non. Giáo viên phải biết làm cho trẻ lúc nào cũng cảm thấy mình được yêu quý, được an toàn, cảm nhận được cô là mẹ, phải tỉ mỉ để phát hiện ra những nhu cầu của cá nhân trẻ ở mọi lúc mọi nơi, điều đó thể hiện sự gần gủi mà ở bậc học khác không thể có được.

    Trên thực tế tôi quan sát và nhận thấy một số giáo viên chưa thật sự xác định được vai trò nhiệm vụ của mình mà trước hết là tinh thần trách nhiệm, là tinh thần tự giác, đạo đức nghề ngiệp, đặc biệt tình thương của giáo viên đối với trẻ nhỏ. Chính vì thế việc bồi dưỡng ý thức trách nhiệm, đạo đức lối sống, sự tâm huyết cho đội ngũ giáo viên là rất cần thiết, nó được xem là biện pháp đầu tiên để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nhằm làm thay đổi chất lượng chăm sóc giáo của nhà trường.

    Để làm tốt được vấn đề đó tôi đã chủ động tham mưu với chi ủy chi bộ xây dựng chuyên đề “Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm” và tổ chức thực hiện chuyên đề này một cách nghiêm túc đến tận đảng viên, giáo viên, đồng thời đưa tiêu chí về ý thức tinh thần, trách nhiệm, đạo đức nhà giáo vào tiêu chí xếp loại hàng tháng. Để hiệu quả hơn tôi đề xuất với hiệu trưởng sắp xếp bố trí giáo viên có ý thức trách nhiệm đứng cùng lớp với giáo viên còn hạn chế về những yếu tố đó. Qua những buổi sinh hoạt chuyên môn Ban giám hiệu cần phải đưa nội dung vào cuộc họp nhằm động viên và nhắc nhở bồi dưỡng thêm cho giáo viên. Phối hợp với công đoàn trong công tác bồi dưỡng, nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức lối sống trong các buổi sinh hoạt công đoàn. Ngoài ra để có kết quả cao hơn tôi đã phối hợp các đoàn thể trong nhà trường, các buổi sinh hoạt cần phải có nội dung bồi dưỡng ý thức, trách nhiệm đạo đức lối sống vào cuộc họp bằng các hình thức khác nhau, quá trình triển khai cần có nghệ thuật tránh sự nhàm chán và điểm qua những gương điển hình..

    Ngoài những hình thức bồi dưỡng đó Ban giám hiệu phải thường xuyên quan sát, kiểm tra theo dõi các hành vi trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ của giáo viên, để kịp thời động viên nhắc nhở tránh tình trạng, giáo viên gây ra rồi mới kiểm tra khiển trách. Đặc biệt những tấm gương có ý thức cao về tinh thần trách nhiệm, có tình thương mẫu mực giữa giáo viên dành cho trẻ, Ban giám hiệu, các đoàn thể trong trường cần tuyên dương và động viên khuyến khích, nhằm tiếp tục phát huy ở họ những ưu điểm và để họ lan tỏa đến những giáo viên khác.

    Đối với trẻ mầm non an toàn là vấn đề hàng đầu, vậy làm thế nào để đảm bảo được điều này hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm, đạo đức của giáo viên. Với biện pháp bồi dưỡng ý thức trách nhiệm, đạo đức lối sống nghề nghiệp cho giáo viên với các giải pháp đưa ra trên tôi tin rằng đội n

    --- Bài cũ hơn ---

  • “Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Ở Trường Mầm Non Đồngtĩnh
  • Quy Định Về Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện, Phòng, Chống Bạo Lực Học Đường .công An Tra Vinh
  • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn Trong Bậc Học Mầm Non Ở Huyện Đông Sơn
  • Skkn Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Đạt Hiệu Quả Cao Tại Trường Mầm Non Hải Vân, Huyện Như Thanh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Tiếp Tục Chỉ Đạo Xây Dựng “Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Trung Hưng
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Soát Ô Nhiễm Môi Trường Đất
  • Tổng Hợp Cách Chữa Bệnh Stress Không Cần Dùng Thuốc
  • Bài 6 Hiệu Ứng Nhà Kinh Là Hiện Tượ…
  • Bài Tuyên Truyền Phòng Chống Tác Hại Thuốc Lá
  • Chủ Động Kiềm Chế Lạm Phát
  • Thực tế cho thấy việc đó đòi hỏi giáo viên phải chủ động lựa chọn  nội dung theo từng đối tượng học sinh, tức là phải dạy học xuất phát từ trình độ, năng lực, điều kiện cụ thể của từng học sinh. Điều đó có nghĩa là phải “cá thể hoá” dạy học, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập. Điều đó không có nghĩa là làm giảm vai trò của người giáo viên mà chính là làm tăng vai trò chủ động, sáng tạo của họ. Điều đó cũng kéo theo sự thay đổi hoạt động học tập của học sinh. Mục đích của việc làm này là nhằm tạo điều kiện cho mọi học sinh có thể học tập tích cực, sáng tạo, chủ động theo khả năng của mình trong từng lĩnh vực. Cách dạy này gọi là: “Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh” (phương pháp dạy học toán).

    Vì lý do trên mà trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi đưa ra một số biện pháp gây hứng thú trong giờ học toán cho học sinh tiểu học bằng cách tổ chức các hoạt động học tập để học sinh tự tìm tòi khám phá kiến thức mới góp phần nâng cao chất lượng trong các giờ học toán.

    II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    I. Thực trạng của lớp:

    I.1 Thuận lợi

    Cơ sở vật chất đảm bảo, đủ ánh sáng thoáng mát.

    Các em đã qua chương trình học lớp 1 dến lớp 4 của môn toán và đã làm quen với các phép tính cơ bản và làm quen với phần phân số,

    Các em được đào tạo theo chẩn mực của học sinh từ những năm trước nên nề nếp lớp ổn định và các em tương đối ngoan trong các giờ học.

    I.2. Khó khăn

    Tâm lý học sinh hiện nay, việc học môn toán, các em rất ngại hay nói đúng hơn là sợ do còn yếu và ít học toán. Thời gian tập trung cho việc học toán còn ít. Do vậy, học sinh không phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sáng tạo trong khi học môn toán, không hình thành được kĩ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa của trí lực học sinh. Năm học trước, tôi áp dụng đề tài này cho lớp tôi và thấy có kết quả rất khả quan nên đến đầu năm học 2011-2012, được sự đồng ý của Hội đồng khoa học trường, tôi đăng ký thực hiện đề tài này cho học sinh lớp lớp 5A.

    Do đó, vào đầu năm học tôi thống kê các sai lầm của học sinh trong lớp tôi để tìm ra nguyên nhân và các biện pháp để khắc phục ngay cho môn toán.

    Qua thống kê, tôi nhận thấy học sinh của lớp tôi học chưa tốt về môn toán do những nguyên nhân sau:

    Một số em tiếp thu bài còn chậm, ý thức tự học chưa cao.

    Chưa hiểu và nắm được đầy các khái niệm trong môn toán và chưa có hứng thú trong môn học toán.

    II. Biện pháp thực hiện

    II.1. Tự tìm tòi, khám phá kiến thức trong học tập.

    Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội; con người không chỉ tiếp thu những cái đã có mà luôn chủ động tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những cái mới phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống của mình. Tính tích cực trong học tập là tính tích cực trong hoạt động nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập bằng hoạt động tìm tòi, khám phá.

    Hoạt động tìm tòi, khám phá là một chuỗi hành động và thao tác để hướng tới một mục tiêu xác định. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ mức độ thấp đến mức đọ cao tuỳ theo năng lực tư duy của từng học sinh và được tổ chức thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm.

    Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có thể tóm tắt như sau:

    A. Mục tiêu của hoạt động:

    – Hình thành kiến thức, kĩ năng mới.

    – Xây dựng thái độ, niềm tin cho học sinh.

    – Rèn luyện khả năng tư duy, năng lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề.

    B. Các dạng hoạt động:

    – Trả lời câu hỏi và đặt câu hỏi.(hỏi – đáp)

    – Lập bảng, biểu đồ, sơ đồ, phân tích dữ kiện.

    – Thông báo kết quả, kiểm định kết quả.

    – Đưa ra giải pháp, kiến thức mới.

    C. Hình thức tổ chức:

    – Hoạt động cá nhân.

    – Hoạt động theo nhóm (2 người hoặc 4 người).

    – Làm việc chung cả lớp.

    – Trò chơi.

    II.2. Tác dụng của hoạt động tự tìm tòi khám phá kiến thức mới.

    – Giúp học sinh rèn luyện tính chủ động, sáng tạo trong học Toán.

    – Học sinh sẽ hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức nếu như chính mình tìm ra kiến thức đó hoặc góp phần cùng các bạn tìm tòi, khám phá, xây dựng lên kiến thức đó.

    – Trong quá trình tìm tòi, khám phá học sinh tự đánh giá được kiến thức của mình. Cụ thể:

    + Khi gặp khó khăn chưa giải quyết được vấn đề, học sinh tự đo được thiếu sót của mình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm.

    + Khi tranh luận với các bạn, học sinh cũng tự đánh giá được trình độ của mình so với các bạn để tự rèn luyện, điều chỉnh.

    – Trong quá trình học sinh tự tìm tòi, khám phá, Giáo viên biết được tình hình của học sinh về mức độ nắm kiến thức từ vốn hiểu biết, từ bài học cũ; trình độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hệ giữa yếu tố đã biết với yếu tố phải tìm.

    – Học sinh tự tìm tòi, khám phá sẽ rèn luyện được tính kiên trì vượt khó

    khăn và một số phẩm chất tốt của người học Toán như: Tự tin, suy luận có cơ sở, coi trọng tính chính xác, tính hệ thống…

    II.3. Quy trình dạy học để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới.

    II.3.1. Đặc trưng của cách dạy

    – Giáo viên đặt ra bài toán nhận thức chứa đựng mâu thuẫn hoặc mối quan hệ giữa cái đã biết với cái phải tìm theo cấu trúc một cách hợp lí, tự nhiên.

    – Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào tình huống có vấn đề. Khi đó học sinh được đặt vào trạng thái muốn tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh nội dung kiến thức.

    – Bằng cách giải bài toán nhận thức mà học sinh lĩnh hội được một cách tự giác và tích cực cả kiến thức và kĩ năng; từ đó có được niềm vui của sự nhận thức sáng tạo.

    II.3.2. Quy trình cụ thể.

    Bước 1: Ôn tập tái hiện

    Bước 2: Phát hiện, nêu vấn đề:

    Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa rõ và xem đó là vấn đề cần được giải quyết trong tiết học đó.

    Bước 3: Tổng hợp, so sánh và đề xuất ý tưởng:

    Bước 4: Dự đoán giả thuyết:

    Cho học sinh suy nghĩ tiếp và dự đoán hay đề xuất giả thuyết về nội dung kiến thức, kĩ năng mới.

    Bước 5: Kiểm tra giả thuyết:

    Cho học sinh kiểm tra giả thuyết đã đề xuất qua một số ví dụ cụ thể để khẳng định đó là kiến thức, kĩ năng mới.

    Bước 6: Rút ra kiến thức mới:

    Sau khi kiểm tra và khẳng định giả thuyết đó là đúng, Giáo viên cho học sinh phân tích tìm ra kết luận chung về kiến thức, kĩ năng mới.

    II.3.3. Một số lưu ý khi thực hiện cách dạy để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới.

    – Phải chú ý ngay từ việc soạn giáo án. Phải tập trung vào việc thiết kế các hoạt động của học sinh trước, trên cơ sở đó mới xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của Giáo viên.

    – Số lượng hoạt động và mức độ tư duy trong mỗi tiết học phải phù hợp với trình độ học sinh để có đủ thời gian tổ chức hoạt động tìm tòi, khám phá.

    – Nghiên cứu kĩ nội dung bài học, tìm kiếm các tinh huống có vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh tìm tòi, khám phá.

    II.3.4. Một số ví dụ:

    II.3.4.1. Ví dụ 1: Tuần 1 – Bài: Phân số thập phân (trang 8 SGK)

    I. Mục tiêu.

    – Giúp học sinh nhận biết được các phân số thập phân.

    – Giúp các em biết được một số phân số có thể viết thành phân số thập phận và biết cách chuyển những phân số đó thành phân số thập phân.

    II. Các hoạt động dạy học chủ yếu.

    1. Kiểm tra bài cũ: (5 – 6 phút)

    – Kiểm tra viết tất cả học sinh trong lớp ( có thể dùng phiếu kiểm tra).

    (1 học sinh lên bảng làm , yêu cầu học sinh này trình bày ở bảng bên trái.)

    Đề bài

    Đáp án

    (Học sinh làm)

    a) So sánh với = =

    = =

    b) với = =

    = =

    2. Bài mới

    a) Giới thiệu bài:

    Dựa vào các bài làm trên bảng, giáo viên dùng thước để chỉ vào những phân số nói đến: Để so sánh với ta so sánh hai phân số tương đương là với , để so sánh với ta so sánh 2 phân số tương ứng là với , những phân số này…… và phân số (giáo viên dùng phấn màu đóng khung 5 phân số đó) gọi là phân số thập phân. Từ đó giáo viên giới thiệu tên bài mới

    VD: Phân số thập phân

    b. Giới thiệu về phân số thập phân: ( 15 – 18 phút)

    *) Nhận biết phân số thập phân.

    – Dựa vào 5 phân số trên, mỗi học sinh trong lớp viết vào giấy nháp 2 phân số thập phân và hai phân số không phải là phân số thập phân (1 học sinh A lên bảng viết).

    – Tất cả lớp, dùng bút đánh dấu đặc điểm của phân số thập phân (học sinh A cũng làm tương tự ở bảng).

    – Ba, bốn học sinh nêu đặc điểm mà minh đánh dấu (trong đó có học sinh A)

    – Giáo viên tổng kết theo phần a (SGK) và yêu cầu cả lớp cầm bút gạch 1 gạch dưới 3 chữ: Có mẫu số và gạch 2 gạch dưới các số 10;100,1000;… (trong SGK)

    – Giáo viên viết sẵn 5 phân số (ở bài 3 trang 8) vào băng giấy rồi gắn lên bảng. Gọi 1 học sinh lên bảng, yêu cầu dùng bút hãy xoá những phân số không phải là phân số thập phân trong 5 phân số ở băng giấy đó – tất cả học sinh còn lại cũng dùng bút xoá tương tự ở bài 3 trang 8 SGK.

    – Cũng từ bài làm kiểm tra của học sinh ở trên (đáp án). Giáo viên chỉ và nói tiếp: Khi so sánh với ta đã chuyển thành và chuyển thành , … thế là ta đã làm 1 việc là chuyển từ 1 phân số thành 1 phân số thập phân.

    *) Chuyển 1 phân số thành phân số thập phân.

    Dựa theo cách chuyển như bài kiểm tra trên.

    – Từng em trình bày trong giấy nháp, chuyển và thành phân số thập phân.

    – Gọi 1 học sinh lên bảng làm.

    – Cả lớp sửa lại câu trên thành 1 câu đúng. (gọi 1 học sinh lên bảng viết câu đúng đó).

    – Giáo viên tổng kết và gắn lên bảng băng giấy đã viết sẵn cách chuyển.

    Cách chuyển: Tìm một số khi nhân với mẫu số để được 10, 100, 1000… rồi nhân số ấy với cả tử số và mẫu số sẽ được phân số thập phân.

    c. Thực hành ( 12 – 15 phút).

    Bài 1: Đọc phân số thập phân.

    Từng em trong lớp (gọi một học sinh lên bảng làm) ghi lời đọc cho từng phân số thập phân ở dưới phân số thập phân đó trong SGK. Theo mẫu.

    ; ; ; ;

    Chín phần mười

    Bài 2: Viết phân số thập phân.

    Tiến hành tương tự như trên. Theo mẫu:

    Bảy phần mười; hai mươi phần trăm; bốn trăm bảy mươi lăm phần nghìn; một phần triệu.

    Bài 4. Chuyển phân số thành phân số thập phân.

    + Tất cả học sinh điều làm bài ngay trong sách giáo khoa hoặc vào giấy nháp (gọi 2 học sinh lên bảng). Giáo viên chú ý kèm cặp, giúp đỡ những em còn yếu làm bài.

    II.3.4.2- Ví dụ 2: Tuần 15 – Bài: Giải toán về tỉ số phần trăm (trang 75 SGK)

    I. Mục tiêu.

    Giúp học sinh:

    – Biết cách tìm tỷ số phần trăm của hai số.

    – Biết vận dụng để giải các bài toán đơn giản có nội dung tìm tỷ số phần trăm của hai số.

    II. Các hoạt động dạy học chủ yếu

    * Hoạt động 1: Tổ chức cho học sinh nhắc lại khái niệm tỉ số phần trăm.

    chẳng hạn: GV nêu bài toán tương tự ví dụ 2 trang 74 trong SGK, ghi tóm tắt lên bảng:

    Số HS toàn trường: 400

    Số học sinh nữ: 208

    Sau đó hỏi học sinh: Tỉ số phần trăm của số học sinh nữ và số học sinh toàn trường là bao nhiêu? Hay: Số HS nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số HS toàn trường? (Kết quả là 52%).

    * Hoạt động 2: Giới thiệu hoặc hướng dẫn HS cách tìm tỉ số phần trăm của hai số 315 và 600.

    – Gợi ý để HS có thể viết tỷ số của số HS nữ và số HS toàn trường (315 : 600).

    – Giao việc cho HS làm thế nào để đưa tỉ số (315 : 600) về tỉ số phần trăm. Từ đó xuất hiện vấn đề cần phải giải quyết.

    – Giúp HS tự tìm đọc cách giải quyết là thực hiện phép chia. Nếu không thì yêu cầu HS thực hiện phép chia (315 : 600 = 0,525).

    – Hướng dẫn để HS tự tìm thấy được là để chuyển tỉ số về tỉ số phần trăm thì phải nhân kết quả đó với 100 và chia cho 100.

    0,525 x 100 : 100 = 52,5 : 100 = 52, 5%.

    – Từ đó dẫn dắt giúp học sinh nêu được quy tắc:

    + Chia 315 cho 600.

    + Nhân thương đó với 100 và viết kí hiệu % vào bên phải tích vừa tìm được.

    * Hoạt động 3: Hướng dẫn HS vận dụng để giải bài toán có nội dung tìm tỉ số phần trăm.

    – GV đọc bài toán hoặc gọi HS đọc bài toán trong SGK và giải thích: Khi 80 kg nước biển bốc hơi hết thì thu được 2,8 kg muối. Tìm tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển.

    – Hướng dẫn học sinh trình bày lời giải bài toán:

    Bài giải

    Tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển là:

    2,8 : 80 = 0,035

    0,035 = 3,5 %

    Đáp số : 3,5 %

    * Hoạt động 4: Tổ chức cho HS luyện tập thực hành qua 3 bài tập. Bài 1: Cho HS nêu bài toán, GV giới thiệu mẫu. Yêu cầu HS làm vào vở, sau đó trao đổi kết quả với nhau.

    0,3 = 30%; 0,234 = 23,4 %; 1,35 = 135 %.

    Bài 2: Giáo viên giới thiệu mẫu (cho HS thực hiện tính 19 : 30, dừng lại ở 4 chữ số sau dấu phẩy, viết 0,6333… = 63,33%). Cho HS tự làm bài, gọi 1 vài HS trình bày trên bảng rồi chữa bài. Kết quả là:

    45 : 61 = 0,7377… = 73,77 %;

    1,2 : 26 = 0,0461 … = 4,61 %.

    Bài 3: Hướng dẫn HS tìm hiểu đề bài, tóm tắt bài toán, làm vào vở. GV chú

    ý giúp đỡ học sinh còn lúng túng. Có thể cho HS trao đổi theo nhóm để giải

    toán. Gọi HS trình bày trên bảng hoặc bảng phụ.

    Bài giải

    Tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS của lớp học là.

    13 : 25 = 0,52.

    0,52 = 52%

    Đáp số: 52%

    II.3.4.3- Ví dụ 3: Tuần 18 – Bài: Diện tích hình tam giác (trang 87 SGK)

    I/- Mục tiêu.

    – HS tự hình thành được công thức tính diện tích của hình tam giác.

    – Biết vận dụng công thức để tính diện tích hình tam giác.

    II/- Các hoạt động dạy học chủ yếu

    Hoạt động 1: Hình thành công thức tính diện tích hình tam giác.

    Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề.

    GV: Đưa hình tam giác chuẩn bị sẵn (như hình vẽ 1), yêu cầu HS tính diện tích của hình tam giác (xem hình 1).

    3cm

    4cm

    Bước 2: Tổ chức cho HS phát hiện và tìm hiểu vấn đề (hoạt động theo nhóm nhỏ).

    – GV gợi ý để HS phát hiện được: Vấn đề được đặt ra là gì? (tính diện tích của hình tam giác). HS tìm cách giải quyết vấn đề?

    Bước 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động giải quyết vấn đề.

    Cắt tam giác ghép thành hình chữ nhật (hình 2).

    Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình bình hành (hình 3).

    Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình chữ nhật (hình 4).

    Hoặc đếm số ô vuông nằm trọn trong tam giác (hình 1).

    Hình 2 Hình 3 Hình 4

    – Các nhóm trình bày cách giải quyết vấn đề của nhóm mình và trao đổi ý kiến về các cách đó để tự rút ra được: Có 2 cách là thuận lợi hơn cả, đó là:

    Cách 1: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau ghép thành 1 hình bình hành.

    Cách 2: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau cắt, ghép thành hình chữ nhật.

    (các cách khác nhau không thuận lợi bằng). GV có thể hướng dẫn:

    Theo cách 1:

    Dùng 2 tam giác bằng nhau ghép lại để tạo thành hình bình hành ABCD (như hình vẽ)

    A

    H H

    Cho học sinh so sánh, đối chiếu các yếu tố hình học trong hình để thấy: Hình bình hành ABCD gổm 2 hình tam giác bằng nhau ghép lại nên có diện tích gấp 2 lần diện tích hình tam giác ABC. Hình bình hành ABCD và hình tam gíc ABC có chung đáy BC và đường cao AH.

    Tính diện tích hình bình hành ABCD bằng cách: lấy đáy x chiều cao, tức là BC x AH.

    Rút ra cách tính diện tích hình tam giác ABC là:

    Từ đó nêu quy tắc và công thức tính như SGK

    Theo cách 2 (là cách trong SGK):

    Sử dụng mô hình chuẩn bị trước: Lấy ra 2 tam giác bằng nhau (trong đó có một tam giác đã chia làm hai mảnh) rồi ghép thành hình chữ nhật.

    Hoặc sử dụng giấy (đã chuẩn bị sẵn ở trên ), cắt đồng thời 2 tam giác bằng nhau (gấp đôi mảnh giấy, cắt theo hình tam giác đã vẽ), rồi cắt một tam giác (theo đường cao) được 2 tam giác nhỏ ghép vào tam giác kia để được hình chữ nhật.

    Bước 4: Tổ chức cho HS phân tích vấn đề và khái quát hoá vấn đề (hoạt động cá nhân kết hợp hoạt dộng chung cả lớp).

    + GV mô tả hoạt động cắt, ghép trên bằng hình vẽ:

    Đường cắt

    1 2

    1 2

    + GV hướng dẫn HS so sánh, đồi chiếu các yếu tố hình học trong hình vừa ghép để nhận thấy: Chiều rộng của hình chữ nhật bằng chiều cao của hình tam giác, chiều dài của hình chữ nhật bằng cạnh đáy của hình tam giác. Từ đó, GV có thể gợi ý:

    * Viết ngắn gọn cách tính diện tích của hình chữ nhật? (Chiều cao x đáy).

    * So sánh diện tích của hình tam giác với diện tích của hình chữ nhật và rút ra cách tính diện tích của hình tam giác (chiều cao x đáy: 2);

    + GV nhận xét kết quả làm việc của HS, hướng dẫn HS khái quát hoá: S = a x b : 2, trong đó a là độ dài đáy, h là chiều cao tương ứng với đáy a (a và h có cùng đơn vị đo) S là diện tích (kèm hình vẽ).

    h

    a

    * Lưu ý HS: Cần ghi nhớ công thức, cách thành lập công thức để vận dụng trong những trường hợp khác sẽ gặp sau này.

    + Học sinh áp dụng công thức (vừa thành lập) để tính diện tích tam giác đã nêu trong bước 1 (3 x 4 : 2 = 6 (cm2))

    Hoạt động 2: : Thực hành

    Bài 1: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo.

    + HS tự làm và nêu kết quả. HS khác nhận xét (cách tính và kết quả).

    8 x 6 : 2 = 24 cm2;

    2,3 x 1,2 : 2 = 1, 38 dm2.

    + GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. Nhận xét về đơn vị đo (đáy và chiều cao đều có đơn vị đo là cm (dm)), diện tích có đơn vị đo là cm2 (dm2).

    Bài 2: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao không có cùng đơn vị đo (1 bài) và 1 bài tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo, số đo là số thập phân nhưng số chữ số ở phần nguyên khác nhau.

    + HS tự làm và nêu kết quả? HS khác nhận xét.

    a) 5m = 50 dm; hoặc 24 dm = 2,4 m.

    50 x 24 : 2 = 600 (dm2); hoặc 5 x 2,4 : 2 = 6 (m2).

    b) 42,5 x 5,2 : 2 = 110,5 (m2)

    + HS phát hiện thêm vấn đề: số đo độ dài đáy và chiều cao không cùng đơn vị đo (câu a).+ GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. GV nhận xét, kết luận và nêu vấn đề: trước khi áp dụng công thức tính diện tích hình tam giác cần lưu ý điều gì? (đổi số đo độ dài đáy và chiều cao về cùng số đo)

    III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    Kết quả đạt được:

    Lớp 5A

    GIỎI

    KHÁ

    TRUNG BÌNH

    YẾU

    SL

    TL(%)

    SL

    TL(%)

    SL

    TL(%)

    SL

    TL(%)

    Sĩ số:31

    Nhờ vận dụng những biện pháp tạo tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán ở trên tôi thấy chất lượng môn Toán của lớp tôi tăng lên rất nhiều. Tôi đã đối chiếu bài kiểm tra cuối học kỳ II với bài kiểm tra Khảo sát đầu năm học năm như sau:

    IV. KẾT LUẬN

    Các biện pháp tạo ra tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán là rất quan trọng, nó mang lại rất nhiều lợi ích cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học.

    – Về nhận thức: đa số giáo viên trong nhà trường đều hiểu và xác định được vai trò và sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp. giáo viên, tổ chuyên môn đều xây dựng các giờ dạy thử, các giờ dạy mẫu nhằm định hình cho mình một phương pháp dạy học phù hợp trong từng bài dạy, tiết dạy. nếu trước kia giáo viên đổi mới phương pháp dạy học chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân thì nay dựa vào cơ sở khoa học và định hướng của đề tài mà giáo viên có một cách nhìn tổng thể để đổi mới phương pháp dạy học, nhờ đó mà thực hiện dễ dàng và hiệu quả hơn. Cách dạy này có một số ưu điểm sau:

    + Học sinh nắm chắc được kiến thức trọng tâm của bài.

    + Phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập.

    + Giáo viên không phải nói nhiều mà thay vào đó học sinh sẽ được thực hành nhiều.

    + Các tồn tại của những năm học trước đã được khắc phục ở năm học này.

    + Tiết học đảm bảo đúng thời gian quy định (không kết thúc sớm), tránh được sự đơn điệu trong bài học, thu hút sự chú ý của học sinh.

    Tôi xin trân thành cảm ơn

    Người viết

    Nguyễn Ngọc Ánh

    V. KIẾN NGHỊ

    1. Đối với nhà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Đạt Loại C Cấp Huyện Năm Học 2014
  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Biện Pháp Khắc Phục Trẻ Suy Dinh Dưỡng Và Thấp Còi Ở Trường Mầm Non
  • Phát Huy Sức Mạnh Thời Đại Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế ‘biện Pháp Ngoại Giao Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia’
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Dinh Dưỡng Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ
  • Nguyên Tắc “Bảo Vệ Môi Trường, Tài Nguyên Biển”
  • Môi Trường Là Gì? Chúng Ta Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường?
  • Bảo Vệ Môi Trường Luôn Xanh Sạch Đẹp
  • 1.1. Lí do chọn đề tài

    Chúng ta biết rằng trẻ ở lứa tuổi mầm non là thế hệ tương lai của đất nước. Ở độ tuổi này trẻ cần được quan tâm chăm sóc và giáo dục thật tốt để trẻ phát triển một cách toàn diện. Mọi sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi này đều là nền tảng cho sự phát triển của trẻ về sau. Bên cạnh viêc giáo dục trẻ phát triển nhận thức thì việc rèn luyện và phát triển nhân cách của trẻ qua những hành vi thói quen hàng ngày cũng hết sức cần thiết.

    Xã hội ngày nay đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, nhiều vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh. Bên cạnh những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực gây nguy hại cho con người đặc biệt là trẻ em. Do đó việc hình thành kỹ năng sống cho trẻ em đang trở thành nhiệm vụ quan trọng đối với người quản lí giáo dục và giáo viên. Giáo dục kỹ năng sống phải được đo bằng sự vận dụng những kinh nghiệm đó trong cuộc sống mỗi cá nhân để sống tích cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa.

    Nghiên cứu về sự phát triển của não trẻ cho thấy rằng khả năng giao tiếp với mọi người, khả năng biết tự kiểm soát, biết cách ứng xử phù hợp với các yêu cầu, biết cách giải quyết các vấn đề của bản thân một cách tự lập có ảnh hưởng rất quan trọng đối với kết quả học tập của trẻ tại trường. Để đáp ứng được yêu cầu của giáo dục mầm non hiện nay thì mỗi nhà trường, mỗi nhóm lớp cần tăng cường sự tham gia một cách có hứng thú của học sinh vào các quá trình hoạt động giáo dục ở nhà trường, ở cộng đồng một cách tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo theo quan điểm giáo dục “ lấy trẻ làm trung tâm”.

    Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết để giúp trẻ khám phá thế giới tâm hồn mình một cách có định hướng, khiến trẻ biết quý trọng bản thân, nuôi dưỡng những giá trị sống nền tảng và hình thành những kỹ năng sống tích cực trong trẻ, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trên các lĩnh vực: Thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ. Từ đó, chúng ta xây dựng cho trẻ những kỹ năng sống hòa nhập với thế giới xung quanh. Ở mỗi lứa tuổi thì trẻ cần có những sự tác động khác nhau đến kỹ năng sống của trẻ. Chăm sóc và giáo dục trẻ từ lứa tuổi mầm non chính là cơ sở giúp trẻ phát triển toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần, là nền tảng giúp cho quá trình học tập lâu dài của trẻ sau này.

    Thế nhưng trong thực tế hiện nay, có không ít giáo viên chưa hiểu nhiều về nội dung phải dạy trẻ lứa tuổi mẫu giáo những kỹ năng sống cơ bản, chưa biết vận dụng từ những kế hoạch định hướng chung để rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. Mặt khác với yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên thường lãng quên các trò chơi dân gian, các hoạt động tập thể mang tính lành mạnh. Kỹ năng sống của trẻ ở trường tôi còn nhiều hạn chế: trẻ chưa mạnh dạn tự tin khi đứng trước đám đông, chưa có kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng hoạt động nhóm và giải quyết vấn đề còn chậm, không linh hoạt. Nội dung dạy kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo đã triển khai được một số năm học, tuy nhiên kết quả đạt trên trẻ chưa cao và chưa đồng đều giữa các trẻ. Đó là do giáo viên chưa nắm rõ kiến thức, nội dung và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Nếu giáo viên thực hiện chuyên sâu và có phương pháp giáo dục phù hợp thì kết quả trên trẻ sẽ có bước tiến bộ nhanh chóng.

    Xuất phát từ những vấn đề trên, bản thân là một cán bộ quản lý, tôi suy 

    nghĩ rằng việc dạy kỹ năng sống cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một việc 

    làm rất cần thiết và cực kỳ quan trọng nên tôi quyết địnhlựa chọn đề tài “ Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Xuân Lộc” làm đề tài nghiên cứu trong năm học 2021-2019.

    1. 2. Mục đích nghiên cứu

    – Nghiên cứu đề tài để tìm ra một số biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trườngmầm non Xuân Lộc đạt kết quả cao.

    1. 3. Đối tượng nghiên cứu

    – Trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Xuân Lộc

    1. 4. Phương pháp nghiên cứu

    – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết

    – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

    – phương pháp kiểm tra, đánh giá

    – Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

    2. NỘI DUNG

    2. 1. Cơ sở lí luận.

    Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mầm non là hết sức cần thiết. Các bé ở lứa tuổi này nhận thức cũng như hành động đều trong sáng như tờ giấy trắng, khi gieo vào các em những gì thì nó sẽ hình thành thói quen sau này cho các em như vậy. Một trong những nhiệm vụ để thực hiện chương trình giáo dục mầm non có hiệu quả đó là chú trọng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đòi hỏi mỗi giáo viên phải suy nghĩ, sáng tạo trong việc lựa trọn nội dung, phương pháp dạy học theo giáo trình mầm non hiện nay. Đặc biệt chú trọng tìm năng lực cá nhân của trẻ, lấy trẻ và năng lực cá nhân của trẻ làm trung tâm.

    Để rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ, giáo viên, gia đình thường xuyên trò chuyện

    Với trẻ để trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp với bạn bè, bố mẹ và người lạ. Người lớn không những phát huy thế mạnh ở trẻ mọi lúc mọi nơi, đây là cơ sở để trẻ phát huy tính tích cực của mình.Từ đó trẻ sẽ hứng thú hơn khi tham gia vào các hoạt động khác. Trong mỗi đứa trẻ đều có những tài năng thiên bẩm. “Sự chuẩn bị kỹ càng từ lúc đầu đời, chính là chìa khóa thành công cho tương lai mỗi cháu”. Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ lứa tuổi mầm non chính là cơ sở giúp trẻ hoàn thiện về thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mỹ là nền tảng cho qúa trình học tập xuốt đời của bé.

    Vậy rèn luện kỹ năng sống cho trẻ là gì? Và rèn luyện kỹ năng sống như thế nào là vấn đề có nhiều câu hỏi đặt ra. Kỹ năng sống được hiểu là kỹ năng và hành động. Để có được kỹ năng sống ở trẻ cần hình thành ở trẻ ý thức về việc làm nào đóTrẻ được hành động nhiều lần sẽ trở thành thói quen, tạo nên ý thức ở trẻ. Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”(Theo định nghĩa Tổ chức Y tế Thế giới)

    Lứa tuổi mầm non là giai đoạn học – tiếp thu – lĩnh hội giá trị sống để phát triển nhân cách. Kỹ năng sống là những kỹ năng nền tảng để hình thành nhân cách trẻ. Phát triển về các mặt thể chất, tình cảm-xã hội, ngôn ngữ, nhận thức, giúp trẻ  sẵn  sàng đi học lớp một ở trường phổ thông sau này.

    Muốn vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thực 

    hành. Nhưng trên thực tế, trong xã hội hiện nay các gia đình thường chú trọng 

    đến việc học kiến thức của trẻ mà không chú ý đến phát triển các kỹ năng cho

    trẻ. Bố mẹ luôn bao bọc, nuông chiều, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan 

    tâm đến người khác và các kỹ năng trong cuộc sống rất hạn chế. Điều đó gây khó khăn cho trẻ trong việc có tình huống bất ngờ xảy ra. Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin tự lập, tò mò khả năng thấu hiểu và giao tiếp bị hạn chế.

    Với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt ý của mình trong nhóm bạn. Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. Biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biết mình đang học lớp nào, thích cái gì và điạ chỉ nhà mình ở đâu. Nhận biết các ưu khuyết 

    điểm của bản thân. Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cánh lắng 

    nghe mọi người và đối đáp. Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ 

    an toàn cho mình nơi công cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài 

    phố, khi gặp người lạ,)

    2.2. Thực trạng của vấn đề

    * Thuận lợi:

    – Nhà trường luôn được sự quan tâm của phòng giáo dục và đào tạo huyện Hậu Lộc và ban lãnh đạo địa phương nên đã có những thay đổi đáng kể về cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi và trang thiết bị dạy học. Trường đã được công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ một năm 2021.

    – Nhà trường có đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ khỏe, luôn năng nổ, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, và có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn đạt 100%.

    – Trẻ được phân chia học theo độ tuổi 100% và được thực hiện chương trình giáo dục mầm non với trang thiết bị tương đối đầy đủ.

     - Phụ huynh học sinh đã thay đổi nhiều về nhận thức trong việc phối kết hợp với nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

    * Khó khăn:

    – Giáo viên còn phụ thuộc nhiều vào tài liệu chỉ chú trọng dạy các hoạt động học mà chưa chú ý đến việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ hàng ngày. Giáo viên còn thiếu kỹ năng tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ.

    – Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống phát triển hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tửTrẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh.

    – Một số gia đình còn nuông chiều con thái quá, luôn sẵn sàng phục vụ trẻ nên con có thái độ ngang bướng, ỷ lại, hay làm nũng bố mẹ. Mặc dù rất quan tâm đến con nhưng đa số phụ huynh là công nhân nên ít có thời gian dành cho con, phần lớn đều nhờ cậy ông bà. Vì vậy việc thống nhất quan điểm, biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ giữa giáo viên và phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn.

    * Kết quả của thực trạng:

    Bảng 1: Khảo sát năng lực giáo dục kỹ năng sống của giáo viên

    Tổng số giáo viên

    Hiểu và nắm vứng kiến thức giáo dục KNS cho trẻ

    Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục KNS cho trẻ

    Công tác tuyên truyền phụ huynh tham gia giáo dục KNS cho trẻ.

    Tốt

    Khá

    TB

    Yếu

    Tốt

    Khá

    TB

    Yếu

    Tốt

    Khá

    TB

    Yếu

    16

    4

    6

    6

    0

    3

    4

    7

    2

    3

    4

    7

    2

    Tỷ lệ

    25

    37,5

    37,5

    0

    18,7

    31,2

    43,8

    12,5

    18,7

    25

    43,8

    12,5

    Bảng 2: Khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ

    Độ tuổi

    Tổng số trẻ

    Trẻ có kỹ năng sống tự tin, giao tiếp tình cảm,ứng xử

    Trẻ có kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm

    Trẻ có kỹ năng tò mò, ham khám phá

    Kỹ năng tự phục vụ, tự bảo vệ và giải quyết vấn đề

    Tốt

    Khá

    TB

    Yêu

    Tốt

    Khá

    TB

    Yếu

    Tốt

    Khá

    TB

    Yếu

    Tốt

    Khá

    TB

    Yêu

    3-4 tuổi

    75

    12

    15

    37

    11

    11

    14

    38

    12

    10

    16

    35

    14

    17

    18

    27

    13

    4-5 tuổi

    77

    15

    18

    35

    9

    13

    20

    34

    10

    12

    18

    35

    12

    18

    20

    27

    12

    5-6 tuổi

    80

    18

    21

    34

    7

    16

    22

    34

    8

    15

    20

    36

    9

    20

    22

    28

    10

    Tổng số

    232

    45

    54

    106

    27

    40

    56

    106

    30

    37

    54

    106

    35

    55

    60

    82

    35

    Tỷ lệ

    19,4

    23,3

    45,7

    11,6

    17,2

    24,1

    45,7

    12,9

    15,9

    23,3

    45,7

    15

    23,7

    25,8

    35,3

    15

    Nhìn vào bảng khảo sát ta thấy kỹ năng sống của còn nhiều hạn chế. Kỹ năng mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, kỹ năng hợp tác, hoạt động theo nhóm; kỹ năng tò mò, ham khám phá; Kỹ năng tự phục vụ, tự bảo vệ và giải quyết vấn đề ở trẻ mức độ trung bình và yếu còn chiếm tỷ lệ khá cao. Điều đó cho thấy chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trường còn thấp.

    Nguyên nhân là do một số giáo viên còn chậm trong việc đổi mới phương pháp giáo dục trẻ, chưa nắm rõ được các nội dung cũng như phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng. Phụ huynh học sinh chưa chú trọng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, còn nuông chiều và làm thay trẻ nhiều.

    2. 3. Các biện pháp thực hiện.

    Biện pháp 1: Bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên và xây dựng kế hoạch thực hiện.

    *Tổ chức bồi dưỡng cán bộ giáo viên:

    Việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong nhà trường là việc làm thường 

    xuyên, liên tục theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần của ban giám hiệu nhà 

    trường. Muốn nâng cao chất lượng kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thì trước tiên giáo viên phải có nhận thức hơn ai hết về những nội dung dạy trẻ. Để giúp giáo viên có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kỹ năng sống cho trẻ thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là một việc làm không thể thiếu.

    Đầu năm học ban giám hiệu nhà trường đã thành lập tổ chuyên môn, chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ trong năm học và kế hoạch hàng tháng. Tôi đã chỉ đạo tổ chuyên môn sinh hoạt theo định kỳ đều đặn hàng tháng và có kế hoạch nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, được ban giám hiệu nhà trường duyệt 

    * Bồi dưỡng về thực hành giáo dục kỹ năng sống cho giáo viên

      Cho giáo viên tập thực hành các thao tác để dạy trẻ giống như trong đĩa (giáo viên tự quan sát lẫn nhau và cùng sửa chữa cho nhau để toàn bộ giáo viên phải thao tác thật chính xác). Đây được coi là biện pháp then chốt, bởi vì đội ngũ giáo viên là những người trực tiếp xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, là những tấm gương cho trẻ học tập và noi theo, là lực lượng quyết định chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường.

    Để giáo viên hình dung được một cách cụ thể hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, tôi đã lựa chọn và chỉ đạo giáo viên giỏi, có kinh nghiệm dạy tiết mẫu để tất cả giáo viên được dự và học tập rút kinh nghiệm. Tôi chỉ đạo các đồng chí trong tổ chuyên môn xây dựng hoạt động dạy theo các độ tuổi với các hoạt động khác nhau để cho giáo viên được học hỏi nhiều hơn. Sauk hi tiến hành các hoạt động dạy mẫu tôi tổ chức họp chuyên môn để giáo viên nhận xét đánh giá về hoạt động đó và rút kinh nghiệm. Qua đó tôi cũng nhấn mạnh lại các nội dung, phương pháp tổ chức một hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để giáo viên khắc sâu hơn.

    (Ảnh 1:Giáo viên tham dự tiết dạy mẫu dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ)

    * Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ:

    Ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch thực hiện chuyên đề “ Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và coi đây là chuyên đề trọng tâm của năm học gắn với chuyên đề giáo dục lấy trẻ làm trung tâm một cách cụ thể, sát với thực tế của nhà trường cũng như của địa phương. Sau khi xây dựng kế hoạch xong tôi đưa ra tập thể sư phạm nhà trường bàn bạc, bổ sung, thống nhất khẳng định mục tiêu, giải pháp và thời gian thực hiện. Tôi chỉ đạo cho các tổ chuyên môn họp và giáo viên nêu nhiệm vụ trọng tâm của tổ trong năm học. Trong đó nhấn mạnh đến việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động giáo dục đặc biệt chú ý đến yếu tố cá nhân của trẻ.

    * Tổ chức hội thảo về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ:

    Ví dụ: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là gì? Vì sao lại phải giáo dục kỹ năng sống cho trẻ?Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống đối với trẻ. Giúp trẻ hứng thú lĩnh hội được các kỹ năng sống bạn phải làm gì..?

    ( Ảnh 2: Cán bộ, giáo viên tham dự hội thảo)

    Biện pháp 2. Xác định các nội dung để giáo viên dạy kỹ năng sống cho trẻ.

    Để thực hiện có hiệu quả việc nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thì trước hết mỗi giáo viên cần phải xác định được nội dung giáo dục kỹ năng sống gồm những gì? Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ có kế hoạch cụ thể và trọng tâm hơn khi tiến hành các hoạt động giáo dục phù hợp với từng lứa tuổi mà mình phụ trách.

    Đối với tâm sinh lý trẻ mẫu giáo thì có nhiều kỹ năng quan trọng mà trẻ cần phải biết trước khi tập trung vào học văn hoá. Thực tế kết quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy các kỹ năng quan trọng nhất trẻ phải học chính là những kỹ năng sống như: Kỹ năng giao tiếp mạnh dạn, tự tin; kỹ năng học tập ham khám phá; kỹ năng làm việc theo nhóm; kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tự phục vụ và tự bảo vệ… Tôi đã cụ thể hóa nội dung của những k

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 3
  • Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Chính Trị Trong Lực Lượng Vũ Trang Tỉnh
  • Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người
  • Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Dinh Dưỡng Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ
  • Nguyên Tắc “Bảo Vệ Môi Trường, Tài Nguyên Biển”
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    GIÁO DỤC ÂM NHẠC CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI

    TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA HƯNG

    Người thực hiện: Phạm Thị Giang

    Chức vụ: Giáo viên

    Đơn vị công tác: Trường Mầm non Nga Hưng

    SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

    THANH HOÁ NĂM 2021

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    Trang

    1. MỞ ĐẦU

    1

    1.1. Lý do chọn đề tài.

    1

    1.2. Mục đích nghiên cứu.

    2

    1.3. Đối tượng nghiên cứu.

    2

    1.4. Phương pháp nghiên cứu.

    2

    2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    2

    2.1. Cơ sở lý luận

    2

    2.2. Thực trạng vấn đề.

    3

    2.3. Giải pháp thực hiện

    5

    Giải pháp 1. Nâng cao nhận thức về âm nhạc, trau dồi kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng âm nhạc cho cô.

    5

    Giải pháp 2. Hình thành và giáo dục nề nếp, rèn kĩ năng và kích thích sự sáng tạo của trẻ trong giáo dục âm nhạc

    6

    Giải pháp 3. Tổ chức giáo dục âm nhạc cho trẻ thông qua hoạt động học âm nhạc.

    7

    Giải pháp 4. Lồng ghép giáo dục âm nhạc vào các hoạt động hàng ngày.

    15

    Giải pháp 5. Giáo dục âm nhạc thông qua các ngày lễ, ngày hội cho trẻ.

    18

    Giải pháp 6. Công tác phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục âm nhạc cho trẻ.

    19

    2.4. Hiệu quả sau khi áp dụng các biện pháp đã lựa chọn.

    20

    3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    21

    3.1. Kết luận

    21

    3.2. Kiến nghị

    21

    Tài liệu tham khảo

    22

    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Lý do chọn đề tài.

    Nghệ thuật là một trong những con đường, phương tiện giáo dục độc đáo để thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển thẩm mĩ. Về phương diện này nhà lí luận mĩ-EliotW.Eisnesr đã từng nói: “Giáo dục thẩm mĩ là giáo dục đạo đức cho con người trong và thông qua nghệ thuật”. Mà âm nhạc là loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư, tình cảm, tư tưởng và những mong muốn của con người. Hình tượng của nghệ thuật âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của 7 nốt nhạc với các thăng trầm của nó biến hóa vô tận như những chữ cái của ngôn ngữ

    Âm nhạc vốn rất gần gũi với trẻ em, tuy nhiên ở những năm đầu tiên của cuộc sống những phản ứng vui vẻ của trẻ khi nghe âm nhạc vẫn còn mơ hồ, thậm chí còn lẫn lộn giữa âm nhạc và âm thanh khác nhau ở xung quanh mình, sự cảm thụ âm nhạc của trẻ còn ở nhiều mức độ khác nhau. Có cháu yêu đến độ say mê, có cháu lại rất thờ ơ, hờ hững khi những giai điệu nhạc vang lên. Và mức độ yêu âm nhạc phần lớn do hoàn cảnh cuộc sống, môi trường giáo dục của người lớn xung quanh. Vì vậy mà giáo dục âm nhạc đến với trẻ thơ như là phương tiện giáo dục trẻ về thẩm mỹ, đạo đức, góp phần phát triển tâm sinh lý trẻ. Âm nhạc đối với trẻ là một thế giới kỳ diệu đầy cảm xúc.

     Mục đích của giáo dục âm nhạc là giáo dục tình cảm đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ. Giáo dục âm nhạc hình thành cho trẻ lòng yêu thiên nhiên, Tổ quốc, tình yêu thương con người Không chỉ vậy, giáo dục âm nhạc còn là phương tiện nâng cao khả năng trí tuệ, phát triển thể chất, giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, củng cố kiến thức trẻ qua học tập, vui chơi. Quá trình trẻ tiếp xúc và hoạt động âm nhạc như học hát, nghe hát, vận động theo nhạc, chơi trò chơi âm nhạc… sẽ hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển toàn diện, hài hoà, là sự phát triển về thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực. Chính vì vậy, giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

    Vì thế, dạy hát nhằm giúp trẻ biết cảm thụ âm nhạc, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ min

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Chính Trị Trong Lực Lượng Vũ Trang Tỉnh
  • Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người
  • Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng
  • 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu…
  • Kinh Nghiệm Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan
  • Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Chuẩn Quốc Gia Mức Độ 1 Ở Trường Tiểu Học Xuân Lộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan
  • 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu…
  • Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng
  • Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người
  • Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Chính Trị Trong Lực Lượng Vũ Trang Tỉnh
  • STT

    Tên mục

    Trang

    1

    1. PHẦN MỞ ĐẦU

    2

    1.1. Lí do chọn đề tài:

    1

    3

    1.2. Mục đích nghiên cứu

    1

    4

    1.3. Đối tượng nghiên cứu

    1

    5

    1.4. Phương pháp nghiên cứu

    2

    6

    2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    7

    2.1. Cơ sở lí luận

    3

    8

    2.2. Thực trạng về quản lý xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1

    8

    9

    2.3. Một số giải pháp xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 1 ở trường Tiểu học Xuân Lộc

    12

    10

    2.4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm

    15

    12

    3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    13

    – Kết luận

    18

    14

    – Kiến nghị

    19

    15

    Tài liệu tham khảo

    20

    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Lí do chọn đề tài:

    Xác định rõ chuẩn quốc gia về trường học được xem là thước đo đánh giá hình thức hoạt động và hiệu quả đạt được của các loại hình trường, trên cơ sở đó để thực hiện mục tiêu: “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”1.

    Theo Nghị quyết của Đảng bộ xã Xuân Lộc lần thứ XIX: “Trong nhiệm kỳ có hai trường đạt Chuẩn Quốc gia”3. Trong đó lộ trình xây dựng trường tiểu học được Hội đồng nhân dân huyện Thường Xuân thông qua. Đây là chỉ tiêu mang tính đột phá đối với sự nghiệp giáo dục của xã. Bởi vì, để nâng cao chất lượng giáo dục, để giáo dục phát triển, không có giải pháp nào khác là xây dựng trường theo hướng đạt Chuẩn Quốc gia. Bên cạnh, xây dựng trường Chuẩn Quốc gia cũng là một tiêu chí quan trọng trong đề án xây dựng nông thôn mới hiện nay.

    Với kinh nghiệm bản thân trong việc xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia thời gian qua cho thấy, xây dựng được một trường đạt chuẩn Quốc gia là một quá trình chuẩn bị kỹ càng về mọi mặt, phải có sự nỗ lực, quyết tâm cao của các ngành, các cấp cùng với sự hỗ trợ tích cực của xã hội, bên cạnh là vai trò nòng cốt là ngành giáo dục. Với một địa phương còn khó khăn nhiều về kinh tế thì việc xây dựng trường Chuẩn Quốc gia thật sự là một thách thức, nếu không có biện pháp, giải pháp tốt thì khó có khả năng đạt được.

    Trong Nghị quyết số 29- NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: [Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực]2.

    Để đáp ứng tốt các yêu cầu quan điểm chỉ đạo trên của Đảng, của ngành Giáo dục và thực hiện trách nhiệm của một cơ sở giáo dục xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 vào năm học 2021 – 2021. Chính vì những lí do trên nên tôi chọn nội dung: “Một số biện pháp xây dựng trường Chuẩn Quốc gia mức độ 1 ở trường Tiểu học Xuân Lộc” làm đề tài nghiên cứu cho bản thân trong năm học 2021 – 2021 và những năm tiếp theo.

    1.2. Mục đích nghiên cứu:

    Chọn đề tài với mục đích đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc, Thường Xuân, Thanh Hoá đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu:

    * Đối tượng nghiên cứu:

    Tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý, tham mưu nhằm xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1.

    * Phạm vi nghiên cứu:

    Trường Tiểu học Xuân Lộc, Tiểu học Ngọc Phụng 2 huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu:

    * Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

    – Nghiên cứu văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng; nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, của ngành về trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia.

    * Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

    – Phương pháp quan sát.

    – Phương pháp phỏng vấn, điều tra.

    – Phương pháp hội thảo, hội nghị về kinh nghiệm xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1.

    2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    2.1. Cơ sở lí luận:

    2.1.1. Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia:

    Chúng ta biết rằng : “Giáo dục là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Giáo dục đào tạo là con đường cơ bản nhất hoàn thiện nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của thời kì CNH, HĐH đất nước”. Để đạt được mục tiêu của giáo dục trong thời kì mới, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân trong đó đặc biệt chú trọng đến bậc Tiểu học bởi “Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên và được xác định là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân”. Vấn đề được quan tâm là: Làm thế nào để các nhà trường Tiểu học phải đảm bảo tương xứng với mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học Tiểu học trong giai đoạn hiện nay? Đó cũng chính là những điểm khởi nguồn cho việc phải xây dựng được trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia. Trường Tiểu học theo tiêu chuẩn mới này bắt đầu được hình thành từ năm 1996 theo định hướng chiến lược của Nghị quyết TW 2 (khoá 8) với mô hình thiết chế tổng thể, hoàn chỉnh và chuẩn quốc gia. Ngày 28 tháng 12 năm 2012 Bộ Giáo dục – Đào tạo đã ban hành Thông tư số: 59/2012/TT-BGDĐT, Quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 theo 5 tiêu chuẩn:

    Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lí nhà trường (Điều 12)

    Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh (Điều 13)

    Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học (Điều 14)

    Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội (Điều 15)

    Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục giáo dục và kết quả giáo dục (Điều 16)

    Năm tiêu chuẩn trên là các tiêu chuẩn cần thiết để đảm bảo tổ chức các hoạt động giáo dục có chất lượng toàn diện, kết thành giải pháp tổng thể để tạo điều kiện tốt nhất cho trường Tiểu học thực hiện đầy đủ mục tiêu và kế hoạch giáo dục Tiểu học, phát triển đúng hướng theo định hướng chiến lược của Đảng.

    2.1.2. Cơ cở pháp lý của việc quản lý nhằm xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1:

    Xây dựng trường chuẩn quốc gia là một tất yếu trong giai đoạn hiện nay đã góp phần vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật. Đó là điều kiện để hiện đại hóa các trường học, giúp cho cán bộ giáo viên và học sinh được tiếp cận, được sử dụng tốt nhất các điều kiện khoa học công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập. Ngoài ra xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 1 còn là cơ hội để nhà trường quảng bá thương hiệu và định hướng tương lai lâu dài đáp ứng nhu cầu nguồn lực cho một xã hội tiên tiến. Vì vậy xây dựng trường chuẩn quốc gia cần dựa vào những cơ sở pháp lý cụ thể:

    * 5 tiêu chuẩn xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1:

    “Điều 12”4. Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường

    Đạt các quy định tại Điều 7 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau:

    1. Thực hiện nhiệm vụ của các tổ chuyên môn, tổ văn phòng

    Nhà trường tổ chức định kì các hoạt động trao đổi chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, tham quan, trao đổi học tập kinh nghiệm với các trường bạn và có báo cáo đánh giá cụ thể đối với mỗi hoạt động này.

    2. Quản lý hành chính và thực hiện các phong trào thi đua

    a) Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý;

    b) Chủ động, sáng tạo và đạt kết quả cao trong việc thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua theo hướng dẫn của ngành và quy định của Nhà nước.

    3. Quản lý các hoạt động giáo dục

    a) Nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động năm học, học kì, tháng, tuần; có phương hướng phát triển từng thời kì; có biện pháp tổ chức thực hiện kế hoạch đúng tiến độ;

    b) Quản lý và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động dạy, học và các hoạt động giáo dục khác;

    c) Các tổ chức, đoàn thể và hội đồng nhà trường được tổ chức và hoạt động có hiệu quả;

    d) Nhà trường chấp hành sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn, nghiệp vụ của phòng giáo dục và đào tạo. Thực hiện nghiêm túc báo cáo định kì và đột xuất (nếu có) tình hình giáo dục tiểu học ở địa phương với cấp trên theo quy định.

    “Điều 13″4. Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và HS

    Đạt các quy định tại Điều 8 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau:

    1. Năng lực của cán bộ quản lý

    a) Trình độ đào tạo của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng từ Cao đẳng Sư phạm trở lên; hiệu trưởng có ít nhất 5 năm dạy học, phó hiệu trưởng có ít nhất 3 năm dạy học (không kể thời gian tập sự);

    b) Đánh giá hiệu trưởng, phó hiệu trưởng hằng năm theo Quy định Chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học đạt từ mức khá trở lên.

    2. Số lượng, trình độ đào tạo của giáo viên

    a) Bảo đảm đủ số lượng và cơ cấu giáo viên để dạy các môn học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo viên dạy các môn thể dục, âm nhạc, mĩ thuật, ngoại ngữ và tin học chưa qua đào tạo sư phạm tiểu học phải được tập huấn và được cấp Chứng chỉ sư phạm tiểu học;

    b) Có 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó ít nhất 40% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn;

    c) Công tác đào tạo, bồi dưỡng: nhà trường có quy hoạch xây dựng đội ngũ, kế hoạch bồi dưỡng để tất cả giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo; thực hiện nghiêm túc chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo; từng giáo viên có kế hoạch và thực hiện tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; có ít nhất 70% giáo viên được xếp loại khá, giỏi về bồi dưỡng thường xuyên, trong đó có ít nhất 25% giáo viên được xếp loại giỏi về bồi dưỡng thường xuyên, không có giáo viên không hoàn thành kế hoạch.

    3. Kết quả đánh giá, xếp loại giáo viên

    a) Có ít nhất 50% giáo viên đạt loại khá trở lên, trong đó có ít nhất 15% giáo viên đạt loại xuất sắc theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học;

    b) Có ít nhất 50% giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, trong đó ít nhất 20% giáo viên đạt danh hiệu dạy giỏi cấp huyện trở lên; không có giáo viên yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ.

    “Điều 14”4. Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học

    Đạt các quy định tại Điều 9 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau:

    1. Diện tích, khuôn viên, sân chơi, sân tập

    a) Diện tích, khuôn viên, sân chơi, sân tập thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học;

    b) Đối với những trường ở thành phố, thị xã và thị trấn đã được xây dựng từ năm 1997 trở về trước, do điều kiện đặc thù, có thể vận dụng để tính diện tích khuôn viên nhà trường là diện tích mặt bằng sử dụng; có sân chơi, sân tập đảm bảo yêu cầu cho học sinh luyện tập thường xuyên, có hiệu quả; tổ chức được ít nhất 1 buổi/tháng cho học sinh học tập thực tế ở ngoài lớp học;

    c) Bảo đảm yêu cầu môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp, yên tĩnh, thoáng mát, thuận tiện cho học sinh học tập, vui chơi; không có hàng quán, nhà ở trong khu vực trường; môi trường xung quanh khu vực trường sạch, đẹp, an toàn;

    d) Diện tích sân chơi, sân tập thể dục thể thao (hoặc nhà đa năng) được bố trí, xây dựng theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học; sân trường có trồng cây bóng mát và có thảm cỏ.

    2. Phòng học, bảng, bàn ghế cho giáo viên, học sinh

    a) Trường có tối đa không quá 30 lớp; mỗi lớp có tối đa không quá 35 học sinh. Có đủ 1 phòng học/1 lớp. Diện tích phòng học đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của Bộ Y tế.

    b) Kích thước, vật liệu, kết cấu, kiểu dáng, màu sắc bàn ghế học sinh bảo đảm quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế.

    3. Khối phòng, trang thiết bị văn phòng phục vụ công tác quản lý, dạy và học

    a) Khối phòng phục vụ học tập, khối phòng hành chính quản trị thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học;

    b) Khu nhà bếp, nhà nghỉ (nếu có) phải đảm bảo điều kiện sức khỏe và an toàn, vệ sinh cho học sinh.

    4. Khu vệ sinh, nhà để xe, hệ thống nước sạch, hệ thống thoát nước, thu gom rác

    a) Khu vệ sinh của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh đảm bảo yêu cầu an toàn, thuận tiện, sạch sẽ và được xây dựng ở vị trí phù hợp với cảnh quan nhà trường;

    b) Có nhà để xe cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và đảm bảo an toàn, tiện lợi.

    5. Thư viện

    a) Có thư viện đạt chuẩn trở lên theo quy định về tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

    b) Hoạt động của thư viện đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, dạy học của cán bộ, giáo viên và học tập của học sinh.

    6. Thiết bị dạy học và hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học

    Sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ lên lớp và tự làm một số đồ dùng dạy học của giáo viên đảm bảo hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp được quy định trong Chương trình giáo dục Tiểu học.

    “Điều 15”4. Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

    Đạt các quy định tại Điều 10 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau:

    1. Nhà trường chủ động, tích cực tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền và phối hợp với các tổ chức đoàn thể của địa phương để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh trong nhà trường và ở địa phương.

    2. Nhà trường phối hợp với các tổ chức đoàn thể của địa phương, huy động sự tham gia của cộng đồng để giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đạo đức lối sống, pháp luật, nghệ thuật, thể dục thể thao cho học sinh và thực hiện mục tiêu, kế hoạch giáo dục.

    3. Chăm sóc di tích lịch sử, cách mạng, công trình văn hóa; chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với Nước, Mẹ Việt Nam Anh hùng ở địa phương.

    4. Huy động được sự đóng góp về công sức và tiền của của các tổ chức, cá nhân và gia đình để xây dựng cơ sở vật chất; bổ sung phương tiện, thiết bị dạy và học; khen thưởng giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi và hỗ trợ học sinh nghèo.

    “Điều 16”4. Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục

    Đạt các quy định tại Điều 11 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau:

    1. Thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học

    a) Dạy đủ các môn học, đúng chương trình, kế hoạch, đảm bảo yêu cầu của chuẩn kiến thức, kỹ năng; lựa chọn nội dung, thời lượng, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với từng đối tượng và đáp ứng yêu cầu, khả năng nhận thức của từng học sinh;

    b) Có ít nhất 50% học sinh học 2 buổi/ngày và có kế hoạch từng năm để tăng số lượng học sinh học 2 buổi/ngày.

    2. Các hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường

    Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp theo kế hoạch với các hình thức phong phú phù hợp với lứa tuổi học sinh và đạt kết quả thiết thực.

    3. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học

    a) Nhà trường đạt các tiêu chí chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 trở lên; không có hiện tượng tái mù chữ ở địa phương;

    b) Tổ chức tốt “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”; huy động được 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; tỷ lệ học đúng độ tuổi đạt từ 90% trở lên.

    4. Kết quả xếp loại giáo dục của học sinh

    a) Tỷ lệ học sinh xếp loại giáo dục từ trung bình trở lên đạt ít nhất 96%;

    b) Tỷ lệ học sinh xếp loại giáo dục khá, giỏi đạt ít nhất 50%, trong đó loại giỏi đạt ít nhất 15%;

    c) Có học sinh tham gia và đạt giải các hội thi, giao lưu do cấp huyện trở lên tổ chức.

    5. Tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục thể chất, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường

    a) Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, tiêm chủng cho học sinh;

    b) Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, vui chơi, thể dục thể thao…

    6. Hiệu quả đào tạo của nhà trường

    a) Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm học đạt ít nhất 90%;

    b) Trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt từ 95% trở lên.

    Nội dung các tiêu chuẩn trên có tính pháp lí, tính thực tiễn và tính hiện đại đảm bảo cho tổ chức các hoạt động giáo dục có chất lượng toàn diện, tạo điều kiện tiếp cận với trình độ phát triển của các trường học ở các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Các tiêu chuẩn chứa đựng tinh thần và nội dung Luật Giáo dục, Luật chăm sóc bảo vệ trẻ em và các văn bản dưới luật về Giáo dục; tổng kết được kinh nghiệm của Giáo dục Việt Nam, kinh nghiệm xây dựng các điển hình tiên tiến của địa phương. Vì vậy có thể nói 5 tiêu chuẩn trên đủ điều kiện để tạo thành một nhà trường hoàn chỉnh với chất lượng giáo dục toàn dịên, thể hiện trình độ phát triển mới của nhà trường, phù hợp với yêu cầu CNH,HĐH đất nước.

    2.2. Thực trạng về xây dựng quả lý trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn

    Quốc gia mức độ 1:

    2.2.1. Một số đặc điểm tình hình giáo dục của xã Xuân Lộc và nhà trường

    * Một số đặc điểm tình hình giáo dục của xã Xuân Lộc:

    Xã Xuân Lộc nằm ở khu vực phía Tây huyện Thường Xuân. Là một trong những xã vùng 135 có điều kiện kinh tế khó khăn, dân trí thấp.

    Với tổng diện tích đất tự nhiên là: 3 269,89 ha, 931 hộ và 3828 nhân khẩu. Gồm 2 dân tộc chung sống: Thái và Kinh.

    Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Xuân Lộc luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, nên đã đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục phát triển cả về quy mô và chất lượng. Hệ thống giáo dục của xã có một trường Tiểu học, một trường THCS và một trường Mầm non, trong đó trường Tiểu học được ưu tiên xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1trước nhất.

    Ngoài ra, giáo dục địa phương còn được đầu tư từ các dự án TKK trước đây, nhận được sự quan tâm từ các tổ chức, các Ban ngành, đoàn thể, Hội Khuyến học xã, Hội đồng hương Thắng Lộc.

    Tóm lại: Nhiều năm trở lại đây, giáo dục Xuân Lộc đã tạo được nhiều bước chuyển biến cơ bản về quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt là thực hiện tốt công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia. Điều đó đã tạo điều kiện cho giáo dục phát triển vững chắc, xây dựng được mặt bằng mới, thế đứng mới, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương.

    * Tình hình nhà trường Tiểu học Xuân Lộc:

    Tiểu học Xuân Lộc Trong những năm qua, trường đã có nhiều thành tích trong công tác dạy và học. Vì vậy, nhà trường liên tục được công nhận trường tiên tiến cấp huyện, được Sở giáo dục và Đào tạo tặng Giấy khen. Trường được công nhận là trường đạt chuẩn mức chất lượng tối thiểu năm 2021. Đến nay, Ban giám hiệu nhà trường đã có kế hoạch xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 1, song vì điều kiện kinh tế của địa phương còn gặp nhiều khó khăn nên việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất chưa được thực hiện một cách nhanh chóng. Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và trường Tiểu học phấn đấu đến năm 2021, trường Tiểu học sẽ đạt trường chuẩn Quốc gia mức độ 1.

    * Một số kết quả đã đạt được trong việc quản lý xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1:

    Về tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý

    1. Thực hiện quản lí, hiệu lực quản lí

    Trong từng năm học, BGH nhà trường đã xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm học đó. Trong kế hoạch nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm của từng học kỳ, từng tháng để trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch cho từng tuần. Từ kế hoạch chung của nhà trường, các tổ, khối, cá nhân đã xây dựng kế hoạch cho chính mình và đưa ra các biện pháp cụ thể để thực hiện tốt kế hoạch mà mình đã xây dựng. Hiệu trưởng đã tổ chức cho nhà trường thực hiện đúng theo lịch trình mà kế hoạch đã xây dựng, đảm bảo tính khoa học, tính dân chủ, tính hiệu quả trong quá trình thực hiện kế hoạch.

    + Trong quá trình quản lí, bản thân là Hiệu trưởng tôi luôn chú trọng đến việc thực hiện công bằng, dân chủ, công khai. Điều này được thể hiện qua việc xây dựng các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm học có được sự đồng thuận, nhất trí cao của tập thể cán bộ, giáo viên; việc đánh giá xếp loại giáo viên hàng tháng, hàng kì trên các tiêu chí đã được xác định, đảm bảo hợp lí, hợp tình; việc thu chi tài chính đảm bảo đúng nguyên tắc, công khai, minh bạch.

    + Trong thời gian qua, nhà trường luôn luôn tham mưu với UBND xã và vận động phụ huynh học sinh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Toán Tiếp Cận Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông 2021 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học
  • Skkn Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc
  • Hướng Nghiên Cứu, Hoàn Thiện Chế Định Áp Giải, Dẫn Giải Trong Bltths 2021
  • Các Bước Thi Công Hoàn Thiện Công Trình Xây Dựng
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bước Thi Công Hoàn Thiện Công Trình Xây Dựng
  • Hướng Nghiên Cứu, Hoàn Thiện Chế Định Áp Giải, Dẫn Giải Trong Bltths 2021
  • Skkn Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Toán Tiếp Cận Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông 2021 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Chuẩn Quốc Gia Mức Độ 1 Ở Trường Tiểu Học Xuân Lộc
  • Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn về công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những khâu quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên môn, nhà trường chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên một số vấn đề cơ bản sau:

    – Bản chất của tăng cường tiếng Việt là giúp học sinh chưa biết hoặc biết nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống giáo dục sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Tăng cường tiếng Việt không có nghĩa là tăng thêm lượng kiến thức mà chúng ta có thể giảm bớt hay nói cách khác là điều chỉnh lượng kiến thức làm cho nó dễ hiểu hơn, phù hợp hơn với đối tượng học sinh.

    – Tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số có vai trò quan quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Bởi vì, đối với học sinh dân tộc thiểu số tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2. Học sinh học bằng ngôn ngữ 1 (NN1) so với ngôn ngữ 2 (NN2) có sự khác biệt, cụ thể:

    + Học sinh học bằng NN1 có vốn tiếng Việt khoảng 4000 từ (trước khi đi học), tư duy trực tiếp bằng TV (tiếp cận TV tự nhiên), tiếp thu ngôn ngữ hiệu quả từ nghe – nói – đọc – viết và có tác động tích cực của gia đình, cộng đồng.

    + Học sinh học bằng NN2 thường không biết hoặc biết ít tiếng Việt, tư duy gián tiếp (tiếp cận tiếng Việt áp đặt), tiếp thu tiếng Việt hạn chế do không hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa – ngữ pháp. Các em ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng và chịu sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ.

    – Khi thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh, giáo viên cần giúp các em tiếp cận với kiến thức, kĩ năng các môn học thông qua kinh nghiệm mà các em trích lũy được trước đó (có thể bằng tiếng mẹ đẻ), theo mức độ từ dễ đến khó. Chú ý đến học sinh, đến cuộc sống và môi trường học tập của các em, tạo điều kiện để học sinh được học tập theo đặc điểm cá nhân. Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Sử dụng đồ dùng học tập đa dạng, thường xuyên trong các hoạt động học tập.

    Hiểu được sự khác biệt giữa học sinh kinh và học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng việt sẽ giúp giáo viên lựa chọn được những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số ở địa phương; tạo điều kiện thuận lợi để giúp học sinh học bằng NN2 lấp được chỗ trống về sự chênh lệch khoảng 4000 từ (trước khi đến trường).

    b.2. Thực hiện hiệu quả công tác Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường

    Chuẩn bị tiếng Việt là bước đầu của tăng cường tiếng Việt. Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một giúp các em có thể nghe hiểu một số câu, từ ngữ để giao tiếp với giáo viên, bạn bè; nhận diện được các chữ cái tiếng Việt, biết cách cầm bút, tư thế ngồi viết, thuộc một số bài hát, các nề nếp học tập…; có tâm thế sẵn sàng đi học, học các môn học và thực hiện các hoạt động giáo dục.

    Công tác chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số thường được tổ chức trong dịp hè, trong khoảng thời gian một tháng vào trước năm học. Để thực hiện hiệu quả công tác này, trước hết, lãnh đạo nhà trường cần xây dựng kế hoạch Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một; phân công nhiệm vụ cụ thể và triển khai kế hoạch kịp thời đến từng giáo viên trong trường; phối hợp tốt với thôn buôn và cha mẹ học sinh điều tra vận động học ra lớp.

    Chương trình học được thực hiện theo chương trình “Tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc” theo tài liệu “Kế hoạch bài học Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường” của Bộ (tài liệu  được cấp phát cho giáo viên tập huấn hè 2008), gồm 60 bài, 180 tiết. Căn cứ vào đối tượng HS cụ thể của từng lớp, lãnh đạo nhà trường chỉ đạo giáo viên lựa chọn một số nội dung ở tài liệu (phù hợp với đối tượng) để dạy cho trẻ.

    Ví dụ:

    – Căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, giáo viên lựa chọn số lượng,

    thời lượng bài dạy cụ thể trong thời gian một tháng như sau: Tổng số bài dạy

    là 30 bài, mỗi bài học trong 03 tiết, mỗi tiết khoảng 30 phút, sau mỗi tiết học có 05 phút chuyển tiết, giữa mỗi buổi học có 15 phút để vui chơi.

    – Trong mỗi tiết học, ngoài thời gian tập nói, giáo viên dành từ 15 đến 20 phút để hướng dẫn học sinh tập nhận diện các chữ cái từ dễ đến khó, tập tô, tập viết các âm vần.

    Để đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần tăng cường việc sử dụng đồ dùng dạy học (các thiết bị dạy học, tranh ảnh trực quan, đồ dùng dạy học tự làm…), tuyệt đối tránh dạy chay, hình thức. Cuối đợt học, giáo viên tổ chức khảo sát với từng học sinh để có kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng trong năm học.

    Đa số học sinh tham gia học tập là học sinh dân tộc thiểu số có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không thể vận động các em đóng góp để chi trả tiền bồi dưỡng cho giáo viên. Vì vậy, nhà trường có thể trích nguồn kinh phí chi thường xuyên của đơn vị để động viên, bồi dưỡng cho giáo viên trực tiếp giảng dạy.

    b.3. Tăng cường tiếng Việt trong các môn học

    Như chúng ta đã biết, trong điều kiện thực hiện một chương trình và một bộ sách giáo khoa, dù dạy học các môn học, bài học bằng tiếng Vệt cho học sinh Kinh hay học sinh dân tộc thiểu số thì giáo viên đều phải bám sát một chuẩn chung quốc gia về kiến thức và kĩ năng của các môn học. Để đáp ứng chuẩn này, khi dạy học các môn học cho học sinh dân tộc thiểu số, giáo viên cần tiến hành một số biện pháp tăng cường tiếng Việt nhằm giúp học sinh học bằng tiếng Việt có hiệu quả.

    – Chỉ đạo giáo viên chủ động điều chỉnh nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác để tập trung vào dạy môn Tiếng Việt, Toán.

    – Thực hiện dạy học phân hóa đối tượng học sinh như: phân hóa theo sở

    thích, khả năng tiếp thu, đặc điểm cá nhân của học sinh,…

    – Sử dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; tăng cường tổ chức dạy học theo nhóm, trò chơi học tập; sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên, có hiệu quả; khuyến khích sử dụng các trò chơi học tập để tăng cường tiếng Việt và yêu thích tiếng Việt cho học sinh.

    – Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích giáo viên tự học tiếng mẹ đẻ của học sinh để giúp các em vượt qua rào cản ngôn ngữ (có thể sử dụng song ngữ để giải nghĩa từ,)

    – Sử dụng hiệu quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Tài liệu bổ trợ tiếng Việt 1,2,3” để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong các buổi học thứ hai.

    – Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học (giáo viên chủ nhiệm lập danh sách những học sinh cần tăng cường tiếng Việt cho giáo viên bộ môn, giáo viên bộ môn dành thời gian trong mỗi tiết học để tăng cường tiếng Việt cho học sinh).

    – Riêng khối lớp một, chỉ đạo giáo viên thực hiện phương án tăng thời lượng tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết (3 tiết/ bài) đối với chương trình hiện hành ( trong những năm học trước và năm học 2021-2017).

    Bên cạnh việc thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học, việc tổ chức dạy học môn Tiếng Êđê cho học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường cũng rất cần thiết. Học tiếng mẹ đẻ không chỉ giúp học sinh biết giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng, chữ viết của dân tộc mình mà còn hỗ trợ đắc lực cho các em trong việc học tập các môn học khác, đặc biệt là môn tiếng Việt.

    Để giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt trong các môn học, lãnh đạo nhà trường phải thực sự đồng hành cùng giáo viên. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, lãnh đạo nhà trường góp ý, chia sẻ và cùng giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện.

    b.4. Xây dựng môi trường học tiếng Việt cho học sinh

    b.4.1. Xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường

    Những ấn tượng trực giác hết sức quan trọng đối với trẻ em, đặc biệt là giai đoạn đầu của bậc tiểu học. Nếu hằng ngày học sinh học sinh được tiếp xúc với một không gian lớp học và trường học tiếng Việt, thì chắc chắn tiếng Việt sẽ dần dần được khắc sâu vào trí nhớ của các em. Vì vậy, xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường là một trong những yếu tố giúp giáo viên thực hiện hiệu quả công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Tùy vào tình hình thực tiễn, nhà trường định hướng cho giáo viên tạo cảnh quan tiếng Việt phù hợp.

    Ví dụ:

    – Đối với không gian trường học tiếng Việt có thể là: khẩu hiệu, áp phích, bản tin,; tên lớp, tên phòng chức năng,

    Bên cạnh đó, nhà trường cần thực hiện tốt việc xây dựng mô hình thư viện trường học thân thiện: thư viện xanh, thư viện lớp học, thư viện lưu động,Tăng cường các hoạt động giao tiếp trong trường học, lớp học thông qua hoạt động học tập, vui chơi,để thực hiện hiệu quả xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường.

    b.4.2. Xây dựng môi trường học tiếng Việt trong gia đình

    – Khảo sát để nắm được điều kiện cụ thể của từng gia đình học sinh như: ti vi, sách báo, góc học tập,

    – Xây dựng kế hoạch vận động, hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo môi trường tiếng Việt phù hợp với điều kiện từng gia đình, như: tạo góc học tập cho con em, đóng bàn ghế học tập, chọn vị trí đặt bàn học đủ ánh sáng, trang trí góc học tập (thời khóa biểu, giấy khen,); hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo điều kiện về thời gian và nhắc nhở con em học bài, quan sát việc học của con em, nhắc nhở con em nghe radio, xem ti vi, đọc sách báo (nếu gia đình có), khuyến khích cha mẹ học sinh giao tiếp với con bằng tiếng Việt,

    b.4.3. Tổ chức hiệu quả các hoạt động ngoài giờ lên lớp

    Hoạt động ngoài giờ lên lớp đóng một vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường. Chính từ những hoạt động như: hoạt động tập thể, hoạt động xã hội,…không chỉ trang bị cho các em những kiến thức cơ bản mà còn góp phần thực hiện hiệu quả việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, trau dồi cho các em những kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, hình thành nhân cách học sinh, đem lại niềm vui cho các em khi đến trường.

    Để tổ chức hiệu quả các động ngoài giờ lên lớp, chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho Tổng phụ trách đội phối hợp với Bí thư đoàn trường căn cứ hướng dẫn về hoạt động ngoài giờ lên lớp của Phòng Giáo dục và Đào tạo, nhiệm vụ năm học của nhà trường và đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp ngay từ đầu năm. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện kế hoạch, rút kinh nghiệm và có sự điều chỉnh phù hợp trong quá trình thực hiện.

    * Một số hình ảnh Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp

    H1: Hội thi Phụ trách đội giỏi

    H2: Tổ chức các trò chơi dân gian trong tiết Hoạt động tập thể đầu tuần

    Bên cạnh việc tổ chức các hội thi, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp cũng là một trong những tiêu chí được nhà trường hết sức quan tâm. Trước hết, phải xác định mục tiêu rõ ràng để giáo viên và học sinh thực hiện: giữ vệ sinh khuôn viên trường, vệ sinh nguồn nước, hệ thống thoát nước; giữ gìn vệ sinh và cảnh quan môi trường, có nhiều cây xanh bóng mát trong sân trường,… Tổ chức cho học sinh chăm sóc cây thường xuyên; vệ sinh phòng học đủ ánh sáng, thoáng mát, bàn ghế đúng qui cách, đủ chỗ ngồi; trang trí

    lớp học thân thiện.

    Tổ chức hiệu quả các hoạt động tập thể lành mạnh giúp xây dựng mối quan hệ tốt giữa thầy và trò, trò và trò. Giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt, ứng xử hợp lí các tình huống trong cuộc sống, kĩ năng làm việc và học tập theo nhóm, có ý thức rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội vì vậy, trong những năm học gần đây, không có tai nạn đáng tiếc nào xẩy ra với học sinh. Các em tự tin hơn trong giao tiếp, tích cực, tự giác hơn trong việc chấp hành các nội quy của nhà trường.

    b.5. Tăng cường công tác vận động duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần

    Duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói chung và công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt nhất. Để làm tốt công tác duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần, chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:

    b.5.1. Công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

    Bác Hồ đã chỉ rõ: “ Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà trường và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách, trước hết là phải làm gương cho các em hết mọi việc”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh.

    Muốn công tác phối hợp đạt hiệu quả cao, trước hết nhà trường phải thực sự là trung tâm văn hóa giáo dục ở địa phương. Luôn gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên.

    Chuẩn bị cho năm học mới, ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức thống kê số liệu học sinh đầu năm; tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể địa phương tập trung truyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn buôn, thông qua đài truyền thanh của xã về ngày toàn dân đưa trẻ đến trường. Làm tốt công tác tuyển sinh trẻ trong độ tuổi vào lớp 1. Đối với những gia đình ở xa thôn buôn, chúng tôi phân công giáo viên dân tộc tại chỗ đến tận nhà học sinh để vận động cha mẹ học sinh đưa trẻ đến trường nhập học.

    Sau ngày tựu trường, chỉ đạo giáo viên nắm tình hình sĩ số học sinh đến lớp, tìm hiểu nguyên nhân những học sinh chưa ra lớp, phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền thôn buôn tìm biện pháp vận động phù hợp với từng đối tượng học sinh để huy động tối đa số học sinh trong độ tuổi đến trường. Thường xuyên kiểm tra việc đi học chuyên cần của học sinh nhằm phát hiện kịp thời những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ học để có giải pháp khắc phục, không để học sinh bỏ học lâu ngày rồi mới tìm hiểu nguyên nhân và vận động.

    Phối hợp với ban chỉ đạo xã tuyên truyền nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về vai trò của công tác giáo dục. Vận động các gia đình tạo điều kiện cho con em được đi học và thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình.

    Tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cùng quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương. Từ đó, huy động các nguồn lực và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học, học sinh bỏ học trở lại trường, hỗ trợ kịp thời những gia đình khó khăn để con em họ được đến trường như: hỗ trợ quần áo, sách vở, đồ dùng học tập…

    b.5.2. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm

    Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong việc giúp nhà trường thực hiện tốt công tác giáo dục học sinh, trong đó có công tác duy trì sĩ số. Một giáo viên chủ nhiệm tốt không chỉ giúp lớp mình học tốt mà còn biết cách để giúp học sinh siêng năng học tập, yêu thích đến trường và làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh.

    Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần, ngay sau khi tổ chức bàn giao chất lượng học sinh, chúng tôi tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ tiêu duy trì sĩ số học sinh cho từng giáo viên chủ nhiệm lớp, xem đó là một trong những tiêu chí quan trọng để xét thi đua cuối năm. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm kiểm tra thường xuyên việc đi học chuyên cần của học sinh. Nếu học sinh nghỉ học không có lý do quá hai ngày, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm đến nhà học sinh để vận động các em trở lại lớp. Trường hợp học sinh vẫn không ra lớp sau khi đã được vận động thì phải báo ngay cho ban giám hiệu nhà trường để kịp thời phối hợp ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương có biện pháp vận động học sinh đi học lại.

    Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên phối hợp chặt chẽ với gia đình để giáo dục học sinh. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Bằng việc tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ giúp các em được tiếp xúc với môi trưòng rộng lớn hơn, phong phú hơn. Từ đó, học sinh học hỏi được nhiều hơn, có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt tốt hơn, yêu thích đến trường hơn và từng bước giúp các em hoàn thiện nhân cách của mình.

    b.5.3. Phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn

    Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có vai trò hết sức quan trọng trong công tác duy trì sĩ số học sinh, đặc biệt là tỉ lệ chuyên cần của học sinh trong các buổi học thứ hai. Vì vậy, bên cạnh việc giao trách nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm, chúng tôi cũng gắn trách nhiệm cho giáo viên bộ môn trong công tác phối hợp vận động học sinh đi học đều, duy trì sĩ số học sinh.

    Học sinh thường vắng học vào buổi học thứ hai có thể vì do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên các em ở nhà phụ giúp gia đình tăng thêm thu nhập. Cũng có thể vì các em không thích môn học do giáo viên bộ môn dạy,…Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu nguyên nhân, phối hợp cùng giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có kết quả học tập tốt hơn ở các môn học, từ đó các em sẽ hứng thú học tập và đi học đều đặn. Hơn nữa, thông qua việc trao đổi với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm sẽ nắm được

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm, Hiệu Quả Của Việt Nam: Thực Trạng Và Vấn Đề Đặt Ra
  • Kiểm Toán Năng Lượng Và Giải Pháp Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm, Hiệu Quả
  • Cẩm Nang Sử Dụng Tiết Kiệm Năng Lượng Hiệu Quả
  • Mách Bạn Những Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Năng Hiệu Quả Nhất
  • Các Giải Pháp Ngăn Chặn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Các Giải Pháp Ngăn Chặn
  • Mách Bạn Những Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Năng Hiệu Quả Nhất
  • Cẩm Nang Sử Dụng Tiết Kiệm Năng Lượng Hiệu Quả
  • Kiểm Toán Năng Lượng Và Giải Pháp Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm, Hiệu Quả
  • *Nguyên nhân dẫn đến chữ viết chưa đẹp của học sinh.

    – Về phía giáo viên:

    Việc học sinh viết đúng và đẹp hay không phụ thuộc rất nhiều vào người giáo viên trực tiếp dạy học. Người giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình viết chữ đẹp hay xấu của học sinh. Qua thực tế ta thấy có rất nhiều nguyên nhân từ phía giáo viên dẫn đến việc học sinh viết chữ chưa đẹp.

    + Chữ viết chưa đáp ứng yêu cầu trực quan trong việc giảng dạy, chỉ thấy 1 số ít giáo viên viết đẹp, đúng mẫu chữ.

    + Ít chú trọng việc rèn chữ viết cho học sinh, chỉ lưu ý trong giờ tập viết chưa hướng dẫn kĩ càng trong các tiết học khác.

    + Chưa có biện pháp rèn chữ viết cụ thể. Chưa giúp học sinh nắm các nét cơ bản, cấu tạo con chữ, dòng kẻ, kĩ thuật viết.trong các tiết luyện viết mà chỉ cần nhấn mạnh về độ cac con chữ.

    + Hướng dẫn rèn chữ viết chưa theo từng đối tượng học sinh.

    + Nhiều thầy cô giáo còn phụ thuộc quá nhiều vào máy tính, công nghệ thông tin, không coi trọng rèn chữ viết của bản thân.

    – Về phía học sinh:

    + Nguyên nhân chủ yếu do học sinh chưa nắm được các nét cơ bản cấu tạo chữ ghi âm, vần, tiếng, dấu thanh chưa nắm vững quy trình viết chữ cái, quy trình nối các nét trong chữ cái trong chữ ghi tiếng nên chữ viết mới sai độ cao.

    + Một số em chưa biết cách cầm bút và ngồi học đúng tư thế.

    + Đa số học sinh không có thói quen rèn chữ viết, không có ý thức trong việc rèn chữ viết, thậm chí không cần quan tâm đến chữ viết đẹp hay xấu.

    + Vẫn còn một số học sinh chưa nghiêm túc nghe giảng lúc đầu, các em chưa cẩn thận khi viết, các em muốn viết nhanh để hoàn thành bài viết nhằm ghi “ thành tích” với giáo viên và các bạn. Một số học sinh đồ dùng học tập còn thiếu , một số học sinh mắc bệnh về mắt.

    + Ngoài ra còn có một số học sinh chưa ý thức được việc giữ gìn sức khỏe, đồ dùng học tập , bên cạnh còn có một số em hay ra mồ hôi tay.

    III. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG RÈN CHỮ

    1. Sử dụng phương pháp phân tích nguyên nhân và hướng dẫn cách khắc phục

    – Thiếu nét: Do thói quen của học sinh chưa viết hết nét chữ đã dừng lại, tôi đã thường xuyên nhắc để tạo thói quen viết hết nét và dừng bút đúng điểm, đúng quy định. Cho học sinh thêm nét cho đủ nét ở ngay những chữ học sinh vừa viết thiếu nét, đồng thời xem lại những bài viết trước chữ nào thiếu nét thì thêm vào cho đủ.

    – Thừa nét: Lỗi này do học sinh viết sai quy trình, điểm đặt bút ban đầu, nét đầu học sinh viết không đúng, dừng vượt quá điểm quy định. Với lỗi này tôi đã hướng dẫn lại quy trình viết chữ cái đó.

    – Sai nét: Lỗi này thường là do học sinh cầm bút sai quy định, các ngón tay quá sát xuống ngòi bút, khi viết biên độ giao động của ngòi bút ngắn, đầu ngòi bút di chuyển không linh hoạt làm cho nét chữ bị cong vẹo gây sai nét. Cách khắc phục là tôi thường xuyên nhắc học sinh cầm bút cao tay lên (từ đầu ngòi bút đến chỗ tay cầm khoảng 2,5 cm). Khi viết 3 ngón tay cử động co duỗi linh hoạt phối hợp với cử động của cổ tay, cánh tay.

    – Khoảng cách: Lỗi này thường mắc với những học sinh viết hay nhấc bút, không viết liền mạch, đưa tay không đều. Với lỗi này tôi hướng dẫn học sinh kĩ thuật viết liền mạch, đưa đều tay. Quy định về khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ là 2/3 đơn vị chữ (1 con chữ o) khoảng cách giữa hai chữ trong một từ là một đơn vị chữ (1 ô vuông đơn vị). Viết xong chữ mới đánh dấu chữ và dấu ghi thanh.

    VD: viết chữ: trắng – Hướng dẫn viết:  t-h-u-y-e-n – thuyen (liền mạch) xong mới đánh dấu t, ê và dấu (huyền) – thuyền

    – Dấu chữ, dấu thanh: Học sinh thường mắc lỗi đánh dấu quá to, quá cao không đúng vị trí. Lỗi này thường do các em không cẩn thận mặt khác còn do giáo viên không hướng dẫn và nhắc nhở các em thường xuyên. Để khắc phục lỗi này tôi đã quy định lại cách đánh dấu chữ và dấu thanh nhỏ bằng 1/2 đơn vị chữ. Dấu thanh đánh vào âm chính của vần và không vượt quá đơn vị thứ hai. Nếu chữ có dấu mũ thì các dấu thanh nằm bên phải dấu mũ. Đánh dấu nhỏ thì những nét chính của chữ sẽ nổi rõ, dấu nhỏ còn giúp trang vở không bị rối, bài viết sẽ thoáng hơn.

    2. Sử dụng phương pháp kể chuyện nêu gương

    Khi dạy tập viết cho học sinh, điều quan trọng là phải gây được hứng thú, làm cho học sinh yêu thích rèn viết chữ đẹp từ đó các em say mê và quyết tâm rèn chữ cho đẹp. Tôi đã nêu những gương sáng về rèn chữ viết, kể những câu chuyện về rèn chữ như: Thần siêu luyện chữ, Chữ người tử tù, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu… Nêu những gương người thật việc thật, ví dụ: Em A chữ viết đẹp nhất trường, các em hãy quan sát chữ viết của bạn và học tập. Tôi phô tô các bài viết của học sinh đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quốc gia để làm mẫu cho các em, đồng thời động viên các em nếu cố gắng, kiên trì rèn luyện thì chữ viết của các em cũng đạt được như vậy thậm chí có thể đẹp hơn. Khi đã  gây được hứng thú cho học sinh, lúc đó các em rất thích rèn viết chữ đẹp. Lúc này tôi sẽ cung cấp các bài tập để rèn kĩ năng viết.

    3. Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở

    Sử dụng trong giai đoạn đầu của tiết học để hướng dẫn học sinh phân tích nhận xét cấu tạo của chữ cái, độ cao, độ rộng con chữ, nét giống nhau và khác biệt giữa con chữ mới với con chữ đã học từ trước. Tôi đặt câu hỏi và định hướng cho học sinh trả lời.

    4 . Sử dụng phương pháp trực quan

     Sử dụng khi hình thành biểu tượng về chữ cho các em. Phương tiện trực quan là chữ mẫu: Chữ mẫu in sẵn, chữ phóng to trên bảng, chữ trong vở tập viết, hộp chữ mẫu, hoặc một bài viết đẹp, chữ của giáo viên khi sửa chấm bài… Chữ mẫu phải đúng quy định, rõ ràng và đẹp.

    Khi dạy chữ viết, việc đưa giáo cụ trực quan là chữ viết mẫu được in sẵn từng chữ cái, bảng chữ cái. Đây là việc làm để cung cấp cho học biểu tượng về chữ viết, chưa cung cấp được kĩ năng viết. Nếu trực quan cho học sinh quan sát chữ của cô giáo viết mẫu còn có giá trị hơn. Tôi vừa viết, vừa phân tích từng nét của chữ cái hoặc từng kĩ thuật nối liền nét các con chữ trong một chữ. Việc viết mẫu của giáo viên còn có tác dụng tạo niềm tin cho học sinh, mặt khác học sinh cũng dễ tiếp thu hơn, tạo điều kiện cho việc rèn kĩ năng viết liền mạch, viết nhanh. Khi chấm bài, chữa bài, lời phê, chữ viết của giáo viên được học sinh quan sát như một loại chữ mẫu. Vì vậy, tôi cũng luôn chú ý rèn chữ viết cho mình được đúng mẫu, rõ ràng, đều, đẹp. Ngoài ra khi dạy viết chữ tôi cũng chú ý đọc mẫu các chữ đó, đọc đúng cũng góp phần quan trọng để đảm bảo viết đúng.

    5. Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành

    Sử dụng để hình thành kĩ năng viết chữ cho học sinh. Đây là một phương pháp cực kì quan trọng. Chữ viết, tập viết chữ có tính chất thực hành. Tôi phải thường xuyên nhắc nhở học sinh ở mọi lúc mọi nơi, không chỉ ở môn tập viết mà còn ở tất cả các môn khác, môn nào cũng cần chữ viết để ghi nội dung bài. Các bài tập cho học sinh luyện tập cần chú ý, các chữ có nét giống nhau thì cùng xếp vào một nhóm để rèn. Rèn chữ với số lượng ít nhưng lặp lại nhiều lần với yêu cầu cao dần. Cho học sinh viết đi viết lại nhiều lần một bài để giáo viên dễ dàng nhận ra lỗi sai của học sinh đồng thời cũng dễ nhận xét sự tiến bộ của học sinh. 

    Tôi đã hướng dẫn học sinh luyện tập tiến hành từ thấp nên cao, tăng dần độ khó để học sinh dễ tiếp thu: viết đúng rồi viết nhanh, viết đẹp. Việc luyện chữ phải được tiến hành một cách đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, phân môn tập viết cũng như các môn khác, môn học khác.

    Khi học sinh luyện tập viết chữ, tôi luôn chú ý uốn nắn để các em cầm bút đúng và ngồi đúng tư thế. Nơi ngồi viết cần phải đảm bảo đủ ánh sáng, ghế ngồi viết phải phù hợp với chiều cao của học sinh.

    Các hình thức luyện tập:

    Tập viết chữ trên bảng lớp: Khi kiểm tra bài cũ, hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp.

    Tập viết chữ vào bảng con của học sinh: Trước khi tập viết tôi luôn nhắc nhở học sinh lau bảng từ trên xuống, cách sử dụng và bảo quản phấn, cách lau tay sau khi viết. Khi viết xong giơ bảng lên để kiểm tra theo lệnh của cô giáo.

    Luyện tập trong vở tập viết: Tôi hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng của từng bài viết. Trước khi học sinh viết tôi luôn nhắc nhở một lần nữa về kỹ năng: tư thế ngồi viết cách cầm bút và để vở:

    – Tư thế ngồi viết: Ngay từ khi vào lớp ở tuần đầu tôi hướng dẫn học sinh rất kĩ về tư thế ngồi viết một cách thoải mái nhất, không gò bó (dễ gây tê mỏi), hai tay phải đặt đúng điểm tựa quy định mới điều khiển cây bút theo sự chỉ huy của não được. Ngồi quá cao, đầu phải cúi gằm xuống. Ngồi quá thấp, đầu phải nhìn lên (điều này phụ thuộc vào bàn ghế phải thích hợp kích cỡ học sinh). Tuyệt đối không quỳ, nằm, ngồi viết tùy tiện. Khoảng cách từ mắt đến tầm 25cm đến 30cm là vừa (hơn một gang tay người lớn); không được nhìn quá gần vở vì thiếu ánh sáng sẽ dẫn đến cận thị .

    + Cột sống lưng luôn ở tư thế thẳng đứng, vuông góc với mặt ghé ngồi. Không ngồi vặn vẹo, lâu dần thành có tật, dẫn đến lẹch cột sống, rất khó chữa sau nay.

    +  Hai chân thoải mái, không để chân co, chân duỗi khiến cột sống phải lệch vẹo và chữ viết sẽ xiên lệch theo.

    + Tay trái để xuôi theo chiều  ngồi, giữ lấy mép vở cho khỏi xô lệch , đồng thời làm điểm tựa cho trọng lượng nửa người bên trái.

    – Cách cầm bút: Cầm bút bằng 3 ngón tay của bàn tay phải: ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa. Đầu ngón trỏ đặt trên thân bút (cách đầu ngòi bút chừng 2,5cm.), đầu ngón cái giữ bên trái thân bút; đầu ngón giữa tựa vào bên phải thân bút. Khi viết 3 ngón tay này giữ bút, điều khiển bút dịch chuyển. Ngoài ra cần sự phối hợp của cổ tay, cánh tay, khuỷu tay.  Không để ngửa bàn tay quá, tạo nên trọng lượng tì xuống lưng của hai ngón tay út và áp út (ngón đeo nhẫn). Ngược lại không úp quá nghiêng bàn tay về bên trái (nhìn từ trên xuống thấy cả 4 ngón tay: trỏ, giữa, áp út và út).

    Các tư thế tay cầm bút không đúng sẽ dẫn đến các cố tật sau này khó chữa như: căng cứng, mỏi cơ gân bàn tay; viết chóng mỏi tay; ra nhiều mồ hôi tay; không thể viết lâu, viết nhanh được.

    Cầm bút xuôi theo chiều ngồi. Góc độ bút đặt so với mặt giấy khoảng 450 . Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 900. Đưa bút từ trái qua phải từ trên xuống dưới các nét đưa lên hoặc đưa sang ngang phải thật nhẹ tay, không ấn mạnh đầu bút vào mặt giấy.

    Tiếp theo, tôi dạy cho học sinh các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, dạy cho học sinh kỹ năng viết các nét, cách lia bút và cách nối nét. Đồng thời giúp học sinh xác định được khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ ô li để hình thành kỹ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và tiến tới là viết đẹp, viết nhanh.

    Luyện tập viết chữ khi học các môn học khác: tôi luôn có những yêu cầu về chữ viết của học sinh khi học những môn học khác. Coi chữ viết là một trong những tiêu chuẩn kiểm tra và đánh giá tất cả các môn học.

    6. Sử dụng phương pháp chia nhóm, rèn cho học sinh viết đúng trọng tâm từng nhóm chữ.

    Nếu cùng một lúc đòi hỏi học sinh viết đúng và đẹp ngay là điều rất khó thực hiện, mặt khác căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ cái để học sinh viết đúng kĩ thuật ngay từ đầu tôi chia nhóm chữ và xác định chữ trọng tâm đại diện cho mỗi nhóm chữ học sinh hay sai chỗ nào, học sinh gặp khó khăn gì khi viét các chữ ở nhóm đó.

    Nhóm 1: Gồm các chữ :  i u ư t p y n m v r s

    Với nhóm chữ này học sinh hay thắc mắc lỗi viết chưa đúng nét nối giữa các nét, nét móc thường bị đổ nghiêng, khi hất lên thường choãi chân ra nên không đúng .

    – Để khắc phục nhược điểm trên ngay từ nét bút đầu tiên tôi đặt trọng tâm rèn luyện học sinh viết nét móc ngược, móc 2 đầu thật đúng, thật ngay ngắn trước khi ghép các nét tạo thành chữ. Khi ghép chữ tôi luôn chú ý minh họa rõ nét điểm đặt bút, điểm dừng bút của mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp.

    -Từ các nét cơ bản ở nhóm chữ thứ nhất được viết đúng kĩ thuật học sinh sẽ có cơ sở viết chữ ở nhóm thứ 2 dễ hơn.

    Nhóm 2: Gồm các chữ : l   b  h  k  

    Ở nhóm chữ này học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét và chữ viết còn cong vẹo.

    – Để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của các nét khuyết tôi luôn cho học sinh xác định rõ ràng điểm giao nhau của nét khuyết bằng 1 dấu chầm nhỏ và rèn cho học sinh thói quen luôn đưa bút từ điểm bắt đầu qua đúng chấm rồi mới đưa bút lên tiếp thì mới viết đúng.

    – Để viết được nhóm chữ này thẳng, ngay ngắn thì cần rèn cho học sinh biết viết nét sổ thật đúng,thật thẳng ở ngay các bài nét chữ cơ bản khi nào thành thạo thì mới tiến hành viét nét khuyết .

    Nhóm 3 :   Gồm các chữ :  o ô ơ a ă â d đ q g c e ê x

    Với nhóm chữ này nhiều người cứ nghĩ là đơn giản nhưng thực tế hầu hết học sinh viết sai từ chữ o như chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữ không đều đầu to đầu bé. Chính vì vậy ở nhóm chữ này tôi xác định cần dạy học sinh viết đúng chữ o để làm cơ sở cho viết đúng các chữ khác trong nhóm. vậy thì o viết thế nào cho đúng? Điểm đặt bút từ đâu? chiều ngang chiếm tỉ lệ bao nhiêu so với chiều cao? Đó là việc làm rất khó để cho học sinh xác định được. Vì vậy khi dạy chữ o tôi kẻ một ô vuông trên bảng rồi chia ra 3 phần bằng nhau, đánh dấu 4 điểm ở giữa các cạnh hình chữ nhật, dùng phấn màu chấm hình chữ o sau đó tô lên các dấu chấm,vừa tô vừa giảng kĩ, nhấn mạnh điểm đặt bút đầu tiên và điểm dừng bút chính là điểm để viết thêm dấu  “,” chữ o và điểm để nối các nét chữ khác khi viết nhanh. Viết được chữ o đúng học sinh dễ dàng viết đúng các chữ cái khác trong nhóm.

    Sau khi chia các nhóm chữ, xác định trọng tâm cần dạy kĩ ở mỗi nhóm tôi luôn đặt ra một kế hoạch rèn chữ hàng tuần, hàng tháng 1 cách cụ thể. Mỗi tuần tôi rèn một nhóm chữ nhất định, rèn đúng loại chữ này thì mới chuyển sang loại chữ khác, loại chữ này viết đúng kỹ thuật mới chuyển sang rèn loại chữ khác rồi tiến tới rèn viết đẹp nên học sinh rất say mê,phấn khởi, không căng thẳng lo lắng khi tập viết.

    Sau mỗi bài viết cần nhận xét “nét nào được, nét nào hỏng?”. Tìm nguyên nhân vì sao hỏng: Tại tư thế cầm bút, ngồi viết không đúng quy định, tay đặt bút không có điểm tựa, vì chưa chuyển dịch bút đúng tầm tay đưa bút, do vướng vấp cạnh bàn, mặt giấy không nhẵn, mực xuống không đều… Tóm lại có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chữ xấu trong khi viết.

    Khi đã phát hiện ra nguyên nhân chỗ viết hỏng, cần giúp trẻ rút kinh nghiệm, tránh vấp phải sai sót tương tự ở lần sau.

    Khi viết thấy mỏi tay,mồ hôi tay ra nhiều , hoặc hoa mắt, nhức đầu, có nghĩa là ngồi quá lâu, phải nghỉ giải lao, chuyển sang các hoạt động cơ bắp như :vươn vai, hít thở, tập thể dục…Sau 4 đến 5 phút trở lại ngồi viết sẽ có hiệu quả hơn.

    Tương tự khi dạy chữ viết hoa, tôi cũng chú ý cho học sinh phân tích kĩ chữ đầu tiên của nhóm, tập viết thật kĩ chữ đầu tiên của nhóm cho thật đẹp, từ đó học sinh có thể phân tích và tự rèn các chữ còn lại.

    Dựa và các nét chữ đồng dạng ta chia chữ cái viết hoa thành các nhóm như sau:

    + Nhóm 1:   A Ă Â N M

    + Nhóm 2:   P  B R D Đ

    + Nhóm 3:   C G S L E Ê T  

    + Nhóm 4:    I K V H    

    + Nhóm 5:   O Ô Ơ Q 

    + Nhóm 6:   U Ư Y X  

    7. Sự mẫu mực chữ viết của giáo viên là phương tiện quan trọng để dạy học sinh viết đúng, đẹp.

     Chúng ta thường nói rằng “Thầy nào – trò nấy”. Thực tế thấy rằng nếu giáo

    viên viết chữ đẹp và có ý thức rèn chữ viết thì chất lượng chữ viết của lớp đó sẽ cao và qua thực tế ở mỗi lớp khác nhau thì chữ viết của học sinh sẽ khác nhau. Và học sinh trong một lớp thì chữ viết lại tương đối giống nhau và rất giống chữ của giáo viên. Một giáo viên có chữ viết đẹp sẽ có thể có nhiều học trò viết chữ đẹp và ngược lại. Như vậy muốn dạy cho học sinh kĩ năng viết chữ đúng yêu cầu, luyện cho học sinh viết chữ ngày càng đẹp; ngoài việc nắm vững nội dung phương pháp dạy học, giáo viên còn cần có năng lực thẩm mĩ để cảm nhận được vẻ đẹp của chữ viết, có khả năng viết chữ đẹp để học sinh noi theo.

    Người giáo viên phải coi trọng việc trình bày trên bảng là trang viết mẫu mực của mình cho học sinh noi theo. Do vậy việc khổ công rèn luyện viết đúng,viết đẹp,viết rõ ràng và ngay ngắn là tiêu chí mọi GV đều phải đặt ra và thực hiện bằng được trong từng giờ học,trong từng cách trình bày bảng sao cho khoa học, đẹp mắt.

    Ngoài yêu cầu về viết đúng, viết đẹp tôi còn luôn chú ý tạo sự thống nhất trong cách trình bày bảng ở từng phân môn và thể hiện bài dạy. Từ đó quy định cách trình bày bài viết trong vở của học sinh để tạo ra sự thống nhất, chuẩn mực từ các chi tiết nhỏ nhất (gạch chân, kẻ hết bài, kẻ hết buổi, cách ghi phân môn, cách trình bày bài thơ lục bát, thơ tự do và bài văn xuôi…) hay khi chấm bài tôi rất chú ý đến việc chữa lỗi kĩ cho học sinh kết hợp với lời phê chính xác, mang tính khích lệ, chỉ bảo, luôn chứa đựng tình cảm, động viên học sinh để học sinh tự tin vào bản thân khi viết bài và nhận ra những tồn tại cần khắc phục.

    8. Giáo dục cho học sinh tính cẩn thận

    Một trong những điều kiện để học sinh viết chữ đẹp chính là đức tính cẩn thận và kiên trì. Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều học sinh viết chưa đẹp bởi các em chưa viết cẩn thận mà thậm chí còn “viết ngoáy”. “ Viết ngoáy”, là viết nhanh một cách cẩu thả, không thể chấp nhận được với bất kì lớp nào, nhất là với học sinh tiểu học. Vì thế, giáo viên cần phải giáo dục học sinh tính tỉ mỉ, cẩn thận, giáo dục qua các bài học, qua các gương trong thực tế ngay từ thời gian dầu để học sinh không có thói quen “viết ngoáy”. Nếu có, giáo viên phải giúp học sinh dần dần khắc phục nhược điểm này, để khắc phục được lỗi trên, nhìn chung giáo viên phải ân cần, dịu dàng uốn nắn, kể cả lỗi do vụng về mà để vở bị dây bẩn hay quăn góc. Thông qua rèn chữ viết cần nhắc nhở học sinh có ý thức giữ sách vở bằng cách: Có giấy lót tay khi viết, để tay cẩn thận không làm quăn góc. Riêng với lỗi viết cẩu thả giáo viên có thể nghiêm khắc hơn để đưa học sinh vào nề nếp. Giáo viên luôn nhắc nhở học sinh: các em luôn phải ghi nhớ dòng chữ ghi ngay góc mỗi trang vở: “ Luyện nét chữ, rèn nết người”. từ đó để các em luôn có tính tự giác và cẩn thận hơn.

    9. Sử dụng có hiệu quả các đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng dạy học tự làm.

    Để một tiết học dẫn đến thành công là nhờ một phần rất lớn dựa vào việc sử dụng đồ dùng dạy học. Đồ dùng dạy học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành và nắm bắt tri thức của học sinh tiểu học, đặc biệt là đối với học sinh lớp 1. Vì các em còn rất nhỏ nên hầu hết đều tư duy trực quan thông qua: tranh ảnh, mô hình, vật mẫu,…giúp các em tiếp thu được kiến thức của bài tốt hơn.

    Có thể nói ngay từ lớp 1, các kĩ năng nghe – nói – đọc – viết là vô cùng quan trọng. Vấn đề rèn chữ viết cho học sinh được thầy cô hết sức quan tâm, rèn luyện cho học sinh viết đúng – viết đẹp…Qua đó góp phần rèn luyện cho các em học sinh tính cẩn thận, tính kỉ luật, lòng tự trọng đối với bản thân, cũng như đối với thầy cô và bạn đọc bài của mình. Ngoài những đồ dùng dạy học đã có sẵn, tôi còn quyết định tự làm 1 bộ mẫu chữ thường và chữ hoa được chia theo nhóm có các nét viết tương đồng nhau. Nhằm đóng góp 1 phần công sức nhỏ bé của mình giúp học sinh nắm các con chữ nhanh hơn, viết đúng và đẹp hơn. Bên cạnh đó giúp học sinh sửa 1 số lỗi sai cơ bản trong khi viết và làm bài.

    Để làm bộ đồ dùng dạy học này tôi sử dụng bìa cứng tận dụng từ các loại giấy đã qua sử dụng như: quyển lịch, tranh, báo; bút dạ màu, thước kẻ, kéo, keo dán giấy

    Đồ dùng dạy học do tôi tự làm có thể dạy được tất cả các bài tập viết chữ hoa và chữ thường trong phân môn tập viết của lớp 1 (cả 2 học kỳ). Dạy được cả hai loại mẫu chữ cỡ 2 ô ly và cỡ 1 ô ly.

    Ngoài ra bộ đồ dùng dạy mẫu chữ này còn sử dụng rất tốt ở lớp 2, lớp 3 và luyện chữ đẹp cho học sinh tiểu học. Giúp học sinh nắm nhanh, nắm chắc các con chữ cái. Từ đó học sinh biết đọc thông viết thạo các chữ cái theo 1 quy luật chung rất lôgic và khoa học.

    Khi chia 29 chữ cái thường và hoa theo nhóm sẽ giúp học sinh khắc sâu và có sự phân biệt sự giống và khác nhau giữa các con chữ. Có mối liên hệ kiến thức giữa bài cũ và bài mới.

    Trong khi viết học sinh thường quên không viết hoa, viết sai chữ thường hoặc chữ hoa, để khắc phục không bị tẩy xoá tôi đã sử dụng hiệu quả bộ đồ dùng dạy học của mình như:

    a) Sửa từ chữ thường sang chữ thường

    a (ă, â, d, g,q)

    l (b, k, h)

    r (v, s)

    n (m, h, p,v)

    i (t, u, ư, y)

    o (ô, ơ, a, ă, â, g)

    c (e, ê, x, d, q)

    b) Sửa từ chữ hoa này sang chữ hoa khác

    C G

    P (B, R, D

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…
  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Kinh Nghiệm Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Các Giải Pháp Ngăn Chặn
  • Mách Bạn Những Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Năng Hiệu Quả Nhất
  • Cẩm Nang Sử Dụng Tiết Kiệm Năng Lượng Hiệu Quả
  • Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải: Đề Cương VIMARU 

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.

    Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại.

    Nước ta đang trong qúa trình Công nghiệp hoá – hiện đại hoá với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự khách quan khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với những tiềm năng và ưu thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.

    Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế… đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    của nhà nước . Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu.

    Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành phần kinh tế nói chung và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.

    Nhận thức rõ được tính cấp bách của vấn đề trên, sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu em xin mạnh dạn được trình bày một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: ”Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam“.

    BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI GỒM BA PHẦN:

    PHẦN I: Một số lý luận chung về tín dụng, rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn tín dụng trong Ngân hàng thương mại.

    PHẦN II: Thực trạng và nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam .

    PHẦN III: Một số biện pháp cơ bản hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phùng Bích Ngọc – Giảng viên trường ĐHDL Phương Đông, cùng các cô chú tại Ngân hàng No&PTNT huyện Sa Pa đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tiểu luận này.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

    1- Khái niệm Tín dụng Ngân hàng

    Ngân hàng là người môi giới giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, Ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh. Đó là hoạt động sinh lời chủ yếu trong các Ngân hàng thương mại-hoạt động tín dụng. Về nội dung kinh tế, tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một số lượng tiền nhất định của Ngân hàng (người cho vay) cho người đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả theo lãi.

    Tín dụng là phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự phát triển kinh tế xã hội là tiền đề nảy sinh các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng : tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng … Trong đó, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh.

    2- Vai trò tín dụng trong nền kinh tế thị trường.

    Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng như là một tổ chức cấp phát vốn ngân sách vì vậy thường xảy ra nơi cần vốn để sản xuất thì không có hoặc không kịp thời, nơi thì để vốn nằm ứ đọng trong một thời gian dài. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hầu như tình trạng đó đã chấm dứt. Với sự cải tổ hệ thống Ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, hàng loạt các Ngân hàng thương mại được thành lập. Nhằm mục đích huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các thành phần kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của toàn xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    2.1.1- Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế.

    Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân, là cầu nối cung và cầu về vốn. Là tổ chức kinh doanh tiền tệ các Ngân hàng thương mại luôn cố gắng đat lợi nhuận tối đa để tự khẳng định mình. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 – 80% thu nhập cho Ngân hàng . Việc tập trung và phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Như vậy tín dụng Ngân hàng là cánh tay đắc lực của Ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao chất lượng và điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kìm chế và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường kinh doanh ổn định.

    2.1.2- Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu tư phát triển.

    Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Để có thể mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như: nguồn nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuật, vốn…

    Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung ứng. Để có vốn doanh nghiệp có thể tim kiếm ở các nguồn khác nhau… nhưng những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Vì vậy thường thì các doanh nghiệp tìm đến các Ngân hàng bởi vì Ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ, Ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp tư vấn và vốn bổ xung. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất mở rộng và đầu tư phát triển của nền kinh tế.

    2.1.3- Tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ.

    Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ xung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng Ngân hàng được coi như một giải pháp để giải quuyết mâu thuẫn này. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế.

    Tất cả mọi quốc gia đều dùng tín dụng Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cân vốn. Nhưng việc cho vay này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà viêc đầu tư dược thực hiện qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng. Quá trình này rất quan trọng với các Ngân hàng, nó mang tính sống còn của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã đưa ra những biện pháp chính sách khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay hỗ trợ các dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát triển kinh tế.

    Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế đã tạo cho nước ta thế và lực mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy vai trò và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.

    II- RỦI RO TÍN DỤNG

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Khái niệm rủi ro tín dụng.

    Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng và cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho Ngân hàng ngoài sự mong đợi của Ngân hàng mà nguyên nhân của nó có thể là do Ngân hàng , khách hàng hoặc có thể là nguyên nhân khách quan.

    2- Các loại rủi ro tín dụng

    2.1- Rủi ro mất vốn

    Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng Ngân hàng là ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ Ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng Ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là các món cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng, do đó nếu các khoản cho vay của Ngân hàng không được hoàn trả, Ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của Ngân hàng sẽ khiến Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.

    2.2- Rủi ro sai hẹn

    Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho Ngân hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin Ngân hàng ra hạn thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được Ngân hàng chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.

    2.3- Rủi ro lãi suất

     

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Quá trình chuyển hoá tài sản của Ngân hàng  bao gồm việc huy động

    vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.

    2.4. Rủi ro tỷ giá

    Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một Ngân hàng Úc cấp tín dụng bằng đồng bảng Anh cho một công ty của Anh. Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đôla Úc.Thậm chí trong trường hợp đồng bảng Anh giảm giá đáng kể, thì cả gốc và lãi khi chuyển sang đôla Úc có thể là nhỏ hơn số gốc đầu tư ban đầu, và do đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bang Anh sang đôla Úc, thì số tiên thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái.

    3- Nguyên nhân rủi ro tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.1- Thông tin không cân xứng

    Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cả những gì mà người ta cần biết về bên để có được một quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt, trước khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.

    Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Do việc lựa chọn đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ.

    Những người dễ có thể tạo ra một kết cục đối nghịch nhất lại có thể được lựa chọn nhất. Họ là những người vay tiền ít được ưa chuộng nhất vì có nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không hoàn trả được những món nợ của họ.

    Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Đó là khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả. Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác xuất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định thôi không cho vay nữa. Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với Ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù những số liệu này đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị. Nhiều khi các Ngân hàng thương mại có những quyết định đầu tư không căn cứ vào số liệu báo cáo của đơn vị mà thường dựa vào những cảm nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.2- Môi trường kinh tế

    Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới. Trong thời gian qua nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành Ngân hàng ….

    Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng . Như một cá thể tự nhiên, Ngân hàng “khoẻ mạnh” hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay không.

    3.3- Môi trừơng pháp lý

    3.4- Những nguyên nhân bất khả kháng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đát, hoả hoạn…, các vụ ăn cắp, lừa đảo… gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng hoặc của khách hàng khiến người vay mất khả năng trả nợ vay.

    Đối với loại rủi ro này, Ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như: mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức, trách nhiệm cho nhân viên Ngân hàng …

    1- Tình hình quản lý tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trong những năm qua.

    1.1- Tình hình huy động vốn

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    trái phiếu Ngân hàng để nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn, huy động vôn bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn…

    Đến cuối năm 2003, số dư tiền gửi tại các tổ chưc tín dụng tăng 45% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức tăng năm trước và vượt kế hoạch đề ra. Nhìn chung số vốn huy động được từ nền kinh tế – xã hội tăng đều đặn trong các năm gần đây, rất có ý nghĩa đối với sự phát triển trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta chưa cao.

    So với đầu năm, tính sơ bộ đến hết tháng 6 năm 2004, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng trong cả nước tăng khoảng 16%, trong nguồn vốn huy động từ dân cư tăng 8%. Bảng so sánh phân tích sau đây giúp ta nhận rõ hơn tình hình này:

    Bảng 1: Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn của các TCTD

    Tỷ trọng

    Tăng so với đầu năm 2004(%)

    So sánh

    trong tổng

    Tỷ trọng trong

    Huy động vốn

    nguồn vốn

    tổng nguồn vốn

    Nhóm các

    của các

    từ dân cư

    của các TCTD

    TCTD

    TCTD (%)

    Các   TCTD   nhà

    75,7

    8

    10

    nước

    Các chi nhánh NH

    1

    nước ngoài & NH

    13

    1

    liên doanh

    Các TCTD cổ phần

    10

    5

    9

    Các TCTD phi NH

    0,3

    6

    7

    Các TCTD hợp tác

    1

    10

    ( Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số đặc biệt – Số 1 năm 2004)

    Vốn huy động của các Ngân hàng thương mại tăng và lãi suất huy động cũng được tăng mặc dù lãi suất huy động ngoại tệ tiếp tục giảm. Nhu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    cầu vay vốn băng đồng VN tăng mạnh hơn vay bằng ngoại tệ, hầu hết các doanh nghiệp tránh vay vốn bằng ngoại tệ mà chuyển sang đề nghị vay vốn bằng VND.

    1.2- Tình hình sử dụng vốn

    Tình hình huy động vốn chủ yếu tập trung vào các Ngân hàng thương mại quốc doanh ( chiếm tỷ trọng 80%), tương tự thị phần tín dụng cũng tập trung tương đương, điều này là hiển nhiên bởi quy luật lợi thế nhờ quy mô. Nhìn vào bảng 2 ta thấy, nếu cho vay bằng VND cả khu vực Ngân hàng thương mại Quốc doanh cao gấp 4,5-5 lần so với Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng thương mại chỉ gấp 1,5-2,5 lần. Điều này phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động tín dụng có tính cách biệt. Khách hàng của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là khách hàng trong nước nên họ lệch về vay bằng VND nhằm dự phòng rủi ro về tỷ giávà lãi suất không quá cao so với USD, thậm chí còn rẻ hơn sau khi điều chỉnh theo sự thay đổi của tỷ giá. Thị phần ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là các khoản vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoặc Ngân hàng liên doanh.

    Bảng 2 : Mức tập trung thị phần cho vay của các NHTMQD và NHTM ngoài quốc doanh .

    Năm

    1998

    1999

    2000

    2001

    2002

    2003

    NHTMQD

    79,6

    75,5

    77,2

    81,4

    81,6

    71,4

    Trong đó: -VND

    53,8

    53,5

    59,3

    65,9

    65,9

    61,1

    – Ngoại tệ

    25,8

    22,2

    18,0

    15,7

    15,7

    10,3

    NHTM ngoài quốc

    20,4

    24,5

    22,8

    18,4

    18,4

    28,6

    doanh.

    Trong đó: -VND

    7,5

    10,1

    9,5

    12,1

    12,1

    20,4

    – Ngoại tệ

    12,9

    14,4

    13,2

    6,3

    6,3

    8,2

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Tổng

    100

    100

    100

    100

    100

    100

    (Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 8 năm 2004)

    Mặc dù thị phần huy động, cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm phần lớn nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh từ các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, mặt khác họ là người phản ứng chậm trong sử dụng mỗi công cụ, chiến thuật cạnh tranh. Tính nhạy cảm của các Ngân hàng thương mại quốc doanh theo thông tin thị trường còn chậm nên đã bị các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài lấn trong từng thời điểm, trên từng mặt riêng lẻ của hoạt động Ngân hàng .

    Sức cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trên khía cạnh huy động vốn rất thấp. Ngân hàng thương mại cổ phàn bị yếu thế bởi mức độ tin cậy thấp, mặc dù các Ngân hàng này luôn phại đặt mức lãi suất huy động cao hơn các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do sợ thị phần vốn huy động có thể bị giảm sút, các Ngân hàng thương mại quốc doanh đôi lúc để mức lãi suất huy động ngang bằng Ngân hàng thương mại cổ phần. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không có khả năng cạnh tranh vì họ bị ràng buộc bởi quy định của Ngân hàng nhà nước chứ không phải là họ không có sức cạnh tranh trong lĩnh vực huy động tiết kiệm từ dân cư. Trong tương lai quy định của Ngân hàng nhà nước nới lỏng thị phần huy động vốn của các Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ bị ảnh hưởng lớn.

    Rõ ràng các Ngân hàng thương mại quốc doanh có nguồn vốn lớn, giá vốn thấp, có mối quan hệ lâu dài với khách hàng nhưng chưa tạo thế chủ động và lấn át các Ngân hàng nước ngoài. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, mục tiêu của chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là mở rộng thi phần, thôn tính khách hàng để tạo sự ổn định và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh cần phải đánh giá lợi nhuận cho cả gói dịch vụ đối với từng khách hàng từ thanh toán quốc tế giao dịch vốn, kinh doanh ngoại tệ, tín dụng… chứ không nhất thiết từng hoạt động riêng biệt phải sinh lời.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Điều này đòi hỏi tính liên kết, hợp tác giữa các bộ phận ngày càng chặt chẽ và nó cũng đòi hỏi rằng chất lượng dịch vụ khách hàng phải tốt hơn, phát triển sản phẩm mới, cải tiến chất lượng dịch vụ.

    2- Một số vấn đề quản lý rủi ro tín dụng

    2.1- Giá cả thế chấp, cầm cố trong các chu kỳ tín dụng

    Một trong những giải pháp cổ điển để tối thiểu hoá rủi ro tín dụng là yêu cầu người vay thế chấp hoặc cầm cố tài sản khi vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, giải pháp này không đảm bảo sự thành công cho chính sách tín dụng của Ngân hàng. Một trong những nguyên nhân thất bại là sự xuất hiện mối quan hệ phản hồi giữa các khoản vay và tài sản thế chấp, cầm cố tài sản trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Do đó để định giá tài sản thế chấp, cầm cố một cách hợp lý cần lưu tâm đến động thái của nền kinh tế quốc dân.

    Khi cho vay vào thời điểm “đỉnh” của chu kỳ tín dụng (cũng tương ứng với chu kỳ phát triển kinh tế) có đảm bảo bàng tải sản thế chấp, cầm cố được đánh giá theo thời kỳ này, thì khi phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ, TCTD sẽ bị thua lỗ. Vì vậy, khi ra quyết định cho vay cần lưu tâm đến thời điểm của nền kinh tế.

    2.2- Các rủi ro khi cho cá nhân vay vốn tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Ngày nay phân tích rủi ro tín dụng ngày càng có xu hướng hợp thức hoá và tiêu chuẩn hoá. Đối với các thể nhân vay vốn, trong thẩm định năng lực tín dụng, các Ngân hàng thường sử dụng phương pháp cho điểm. Tổng số điểm được tính cho toàn bộ các đặc điểm của khách hàng sẽ được so sánh với một giá trị tới hạn nào đó, và tuỳ theo kết quả so sánh mà khách hàng có thể xếp vào loại đối tượng có khả năng vay hoặc không có khả năng vay. Vậy những vấn đề nào có thể nảy sinh trong quá trình lựa chọn khách hàng ?

    Thứ nhất, xem xét toàn bộ các đặc điểm chủ yếu của khách hàng là một vấn đề khá phức tạp vì nhiều đặc điểm mang tính tâm lý, sinh lý, chính trị, xã hội… rất khó có thể có được một kết luận hoàn hảo.

    Thứ hai, đánh giá các đặc điểm của khách hàng theo cách cho điểm thường mang tính chủ quan. Để tăng tính khách quan trong việc cho điểm thường dựa trên cơ sở thông tin phản hồi về khả năng hoàn trả nợ vay trong quá khứ của khách hàng vay vốn. Trong trường hợp này mức điểm đánh giá là % nợ vay đã được hoàn trả. Tuy nhiên, quy trình này cũng không thể loại bỏ hoàn toàn những tồn tại nói trên, bởi vì kỳ thu nhập các thông tin phản hồi có thể khác nhau và được lựa chọn theo mong muốn chủ quan.

    Thứ ba,việc sử dụng các thang điểm đánh giá trong các phép tính toán không phải là những đại lượng “xơ cứng” theo thời gian, vì những biến động trong các điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm thay đổi mức độ rủi ro mỗi đặc điểm.

    Do đó, việc cho các thể nhân vay vốn tín dụng dựa trên cơ sở lượng hoá rủi ro là một việc làm không đơn giản. Luôn luôn có nhu cầu kiểm tra, sàng lọc lại các kết qủa một cách thận trọng.

    2.3- Rủi ro khi cho vay khách hàng là pháp nhân.

    Trong phương pháp phân tích rủi ro tín dụng khi cho một pháp nhân vay vốn cũng nổi lên những vấn đề bức xúc như trường hợp khách hàng là thể nhân. Khi tính xác suất vỡ nợ của một công ty, các nhà phân tích Ngân hàng sử dụng mô hình đa nhân tố bao hàm một quy trình đáng giá các chỉ tiêu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    hoạt động cơ bản của công ty vay vốn, để từ đó tính được một chỉ tiêu tổng hợp về xác suất vỡ nợ của công ty. Sau đó đem so sánh chỉ tiêu tổng hợp này với các giá trị chuẩn và rút ra kết luận cuối cùng về khả năng thanh toán của tổ chức kinh tế.

    Tình hình phức tạp khi có nhiều phương pháp phân tích định lượng về khả năng thanh toán dựa trên việc tính toán các chỉ tiêu đặc biệt theo các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán. Trong đó có các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán ngay, khả năng thanh toán dài hạn, các chỉ tiêu về thu nhập.

    Mỗi một hệ số nêu trên đều có giá trị tiêu chuẩn dựa trên cơ sở đó để thực hiện so sánh với hệ số tính toán. Hơn nữa trong thực tiễn, các giá trị tiêu chuẩn này thường được áp dụng chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và ít thay đổi. Chúng ta phải phân biệt theo ngành, lĩnh vực khác nhau theo cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ khác nhau một cách khách quan. Phải gắn chặt với lạm phát bởi vì tốc độ tăng của nó sẽ làm tăng các chỉ tiêu thực hiện. Rõ ràng sẽ là không có gì sai khi khẳng định rằng, các số chỉ tiêu chuẩn cần được phân biệt theo vùng, lãnh thổ bởi vì các địa phương khác nhau sẽ có điều kiện tái sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm không giống nhau, làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.

    Sự xuất hiện nhiều phương pháp khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng gây nên một vấn đề, các kết quả phân tích theo các phương pháp khác nhau thường cho những kết quả hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, phải thừa nhận rằng, ngày nay các nhà phân tích Ngân hàng đang đối mặt với một nhiệm vụ hết sức phức tạp là nên chọn những phương pháp nào để phân tích rủi ro tín dụng và sử dụng vào thời điểm nào là hợp lý. Tình hình còn phức tạp hơn vì cho đến nay vẫn chưa có một tiêu chí khách quan nào để làm luận cứ khoa học cho những sự lựa chọn nêu trên.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Nâng cao chất lượng cán bộ của Ngân hàng :

    1.1- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng .

    Nói lên vai trò quan trọng của những người đứng đầu trong một tổ chức nói chung và trong một Ngân hàng thương mại nói riêng. Người lãnh đạo Ngân hàng giỏi là người biết kết hợp hài hoà phát huy tối đa sức mạnh của tát cảc các nguồn lực Ngân hàng thương mại mình có thành sức mạnh tổng thể của Ngân hàng.

    Với tư cách là người chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của Ngân hàng, ban lãnh đạo vì vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện tựu chung gồm 3 khả năng chủ yếu: khả ngăng về chuyên môn, khả năng phân tích phán đoán và khả năng nghệ thuật đối nhân xử thế. Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của ban lãnh đạo Ngân hàng để lãnh đạo và đưa ra những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực, có tầm nhìn rộng trong công việc, hiểu biết về pháp luật.

    1.2- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho các cán bộ tín dụng.

    Không thể đạt được sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng nếu không có đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ nghiệp vụ, nhận thức xã hội và hiểu biết về pháp luật tốt. Sự hợp tác của toàn thể cán bộ nhân viên trong Ngân hàng là sức mạnh lớn nhất để Ngân hàng có thể đứng vững và lớn mạnh trong điều kiện khắc nghiệt hiện nay. Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng trong công tác tuyển dụng con người và đào tạo cán bộ có chất lượng cao. Cần phải có định hướng tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng, yếu tố con người luôn là yếu tố chủ đạo của mọi hoạt động vì con người là chủ thể của nền kinh tế.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Người cán bộ giỏi là người có tầm nhìn rộng trong tương lai, ví dụ một mặt hàng sản xuất này có thể tại thời điểm hiện tại thị trường chưa cần thiết nhưng trong một hoặc một vài năm tới nó lại là một mặt hàng không thể thiếu đối với thi trường. Nếu như là một người cán bộ có tầm nhìn hiểu biết rộng thì họ sẽ đầu tư vào mặt hàng sản xuất đó, và trong một vài năm tới họ sẽ có một khoản lời đáng kể. Mặt khác, nếu như cán bộ tín dụng không nắm bắt được thị trường và xu hướng của nó thì rủi ro mất vốn trong tương lai là rất lớn.

    Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật, thị trường, các lĩnh vực khác về kinh tế-tài chính, tin học và ngoại ngữ. Đồng thời chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp kinh doanh của ngành để ngày càng có sự nỗ lực trong công việc. Ngoài ra, cấp trên còn có chế độ khen thưởng những cán bộ làm tốt và có biện pháp xử lý kịp thời những cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm trong phòng chống rủi ro, thiếu đạo đức trong hoạt động tín dụng.

    2- Nâng cao chât lượng thẩm định khách hàng

    Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Ngân hàng ngày cành được khẳng định. Doanh nghiệp cần Ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và là động lực để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ các tiêu chuẩn cần phải có để thành lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo. Trong đó năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ.

    Nói cách khác, dưới con mắt Ngân hàng năng lực tài chính của doanh nghiệp là sự hiện thân của vốn tín dụng được bảo toàn sinh lợi, do đó nó cần

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    được coi là yếu tố hàng đầu để quyết định quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp.

    Trên thực tế có một số Ngân hàng chỉ chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trên cơ sở số liệu hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và kế hoạch kinh doanh trong thời kỳ vay vốn, kết hợp việc phân tích hiệu quả phương án sản suất kinh doanh có sử dụng vốn vay. Song, các chỉ số tài chính đúc kết từ báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp chỉ là những đại lượng mang tính thời điểm, khó có thể đại diện cho bản chất vốn có của doanh nghiệp, chưa kể đến phần lớn con số đó đã được doanh nghiệp gọt giũa trước khi trình Ngân hàng. Trong nhiều trường hợp tại thời điểm tưởng như khoản tín dụng được hoàn trả thì biến cố xuất hiện- doanh nghiệp đầu tư lỗ, tài sản Nợ tài chính gia tăng…, kết quả là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn có hiệu qủa cao nhưng khoản tín dụng không thu hồi được do dòng tiền cuốn trôi vào các ngõ ngách khác.

    3- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng.

    3.1- Cần nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng bằng hình thức thế chấp cầm cố.

    Đối với việc nhận tài sản thế chấp cầm cố điều quan trọng là phải xem xét tính pháp lý của hồ sơ thế chấp cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc chuyển nhượng tài sản khi bán đấu giá tránh hiện tượng lừa đảo bằng giấy chứng nhận sở hữu giả. bên cạnh đó cần quan tâm tới việc định giá chính xác tài sản đặc biệt đối với tài sản là nhà đất , dây chuyền máy móc thiết bị nhập ngoại đã qua sử dụng. nếu tài sản cầm cố thế chấp là ngoại tệ cần quan `tâm tới các yếu tố ảnh hưởng trong tương lai như tỷ giá lạm phát …. nhất là những khoản cho vay lớn và dài hạn.

    Một thực tế là các tài sản thế chấp cầm cố rất phong phú và đa dạng cán bộ tín dụng Ngân hàng không thể hểu rõ nguồn gốc đặc điểm những yếu tố tác động cũng như giá trị của chúng. Ví dụ: để thực hiện một món vay thế

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    chấp bởi nhà đất đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ có những kiến thức cơ bản về nhà đất như luật đất đai, biểu tính giá nhà đất của chính quyền thành phố mà còn phải hiểu biết rõ về giá cả thực những biến động của nó trên thị trường. Một cán bộ tín dụng dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hiểu biết được tất cả các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế bởi vậy để có thể định giá chính xác giá trị tài sản thế chấp cán bộ tín dụng nên đưa ra những chỉ tiêu nhất định để đánh giá. Với tài sản thế chấp là nhà đất thì cần những chỉ tiêu như: vị trí ngôi nhà, tình trạng hiện tại, sự biến động giá trên thị trường

    … với những tài sản thế chấp cầm cố bằng máy móc thì Ngân hàng nên cùng người vay thuê người giám định như vậy vừa khách quan vừa đảm bảo được tính chính xác.

    Một điều kiện không thể thiếu với tài sản thế chấp cầm cố là khả năng phát mại tài sản không chỉ là những tài sản có giá trị được nhà nước cho phép mà nó còn là những tài sản có khả năng bán được trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Do vậy khi nhận tài sản thế chấp cán bộ tín dụng không nên nhận những tài sản quá lớn, những công trình đang xây dựng dở dang khi phát mại rất khó tìm được người mua mà nếu có cũng thể bù đắp đựoc khoản cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần kiểm tra kỹ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu không ít trường hợp một tài sản đem thế chấp vay vốn ở nhiều Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng nên có quan hệ tốt với địa phương tránh vướng mắc trong quá trình sử lý tài sản thế chấp. Bởi vậy, Ngân hàng nên yêu cầu tất cả các thành viên ký vào giấy đề nghị vay vốn.

    3.2 Bảo lãnh:

    Bảo lãnh có nhiều ưu điểm hơn so với cầm cố và thế chấp. Trong suốt thời hạn cầm cố thế chấp phía Ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của những tài sản thế chấp này khi đó bên bảo lãnh cam kết dùng tất cả tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ không phải quá quan tâm đến việc kiểm tra tình trạng của từng tài sản cụ thể tránh được những nhựơc điểm của cầm cố và thế chấp. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng có

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    thể gặp rủi ro mất vốn nếu bên bảo lãnh mất khả năng thanh toán bị tuyên bố phá sản và không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh. Chính vì vậy mà Ngân hàng nên tìm hiểu kỹ về bên bảo lãnh và chỉ chấp thuận sự bảo lãnh của các công ty lớn và có uy tín hoặc yêu cầu bên bảo lãnh phải dùng tài sản để cầm cố thế chấp. Khả năng thực hiện việc trả nợ vay không chỉ phụ thuộc vào việc bên bảo lãnh có đủ tài sản mà quan trọng hơn là bên bảo lãnh có những nguồn thu nhập ổn định để bảo đảm có tiền thanh toán theo đúng lịch biểu của hợp đồng vay vốn. Ngân hàng cần xem xét thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh nhằm tạo thuận lợi cho cả Ngân hàng, người vay lẫn người bảo lãnh .

    3.3 Thực hiện bảo hiểm tín dụng:

    Có ba hình thức để bảo hiểm tín dụng như sau:

    • Thứ nhất: Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho nghành nghề mà họ kinh doanh vì vậy những khoản tín dụng trong trường hợp này coi như cũng được bảo hiểm một cách gián tiếp. Phương pháp này không làm phát sinh thêm thao tác nghiệp vụ trong Ngân hàng. để sử dụng tốt hình thức này thì Ngân hàng cần có chính sách ưu tiên cho vay về khối lượng và lãi suất đối với các doanh nghiệp, cá nhân mua bảo hiểm.

     

    • Thứ hai: Sử dụng biện pháp bảo lưu, nghĩa là Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách lập các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại khi gặp rủi ro tín dụng từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo được tình hình tài chính của Ngân hàng, rủi ro luôn song hành với hoạt động kinh doanh nhưng đối với mỗi thành phần kinh tế thì hệ số rủi ro tín dụng có khác nhau, việc quy định tỷ trọng rủi ro cụ thể cho từng loại tín dụng có hiệu quả hơn. Phần sử dụng vốn Ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, Ngân hàng phải lấy vốn tự có để bù đắp song vốn của Ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng. Như vậy hình thành quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro tín dụng là hợp lý và cần thiết.

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Hàng năm Ngân hàng cần phải trích 10% lợi nhuận trong mọi hoạt động kinh doanh của mình để lập quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro. Quỹ này được thành lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ của Ngân hàng . Quỹ dự trữ đặc biệt này sẽ giúp Ngân hàng khắc phục được những khoản tổn thất tín dụng do tình trạng nợ khoanh, nợ tồn đọng lâu dài… để đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng.

    -Thứ ba: Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp. Như thế Ngân hàng sẽ tránh được những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với những khoản vốn đầu tư.

    4- Xử lý món vay có vấn đề.

    Trong xử lý các khoản vay có vấn đề, có hai sự lựa chọ tổng quát: khai thác hoặc thanh lý. Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc. Thanh lý là ép người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp để đat được mục tiêu.

    Món vay có vấn đề được hiểu là món vay đã quá hạn hoặc món vay tuy chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ cho Ngân hàng do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện

    • phạm pháp luật như lừa đảo, trốn thuế… Xử lý món vay có vấn đề là áp dụng các biện pháp khác nhau để thu hồi nợ. Theo kinh nghiệm của các nhà Ngân hàng thì giải pháp khai thác là khôn ngoan hơn, vì sự tồn tại và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Chính các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt này đã cứu không ít khách hàng từ chỗ sắp ”khuynh gia bại sản” đến chỗ “gượng” lại được, tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với Ngân hàng. Các giải pháp khai thác bao gồm:

    – Thương lượng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giãn nợ. – Tiếp thêm vốn giúp khách hàng.

    – Đảo nợ.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    5- Mở rộng cạnh tranh.

    5.1 Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro

    Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các Ngân hàng còn hẹp, phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động. Các Ngân hàng thương mại cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.

    Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh… để đến khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng sẽ không chịu ảnh hương lớn. Vì thế, các NHTM phải phân tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau.

    5.2 Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tín dụng.

    Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các Ngân hàng trên thế giới áp dụng một cách có hiệu quả. Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam có đến 90% tài sản nợ là đầu tư trực tiếp nên khả năng rủi ro rất cao. Vì thế muốn hạn chế rủi ro tín dụng thì việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tín dụng rất cần được coi trọng. Có đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thì Ngân hàng mới có thêm lợi nhuận mà các dịch vụ đem lại.

    Muốn đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì các Ngân hàng thương mại phải tăng cường các trang thiết bị hiện đại như: máy vi tính, máy Fax cũng như cơ sở vật chất, thiết bị kho tàng. Đồng thời phải đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, vi tính thu thập thông tin thị trường… cho cán bộ Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với các trung tâm môi giới, tư vấn pháp luật… để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

    Phải từng bước chuyển dịch cơ cấu từ vốn bán lẻ sang bán buôn, mở rộng và phát triển dịch vụ đã có như thanh toán Quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C… Khi hình thành và phát triển những dịch vụ

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    mới, Ngân hàng không những thích nghi với nhu cầu của quá trình tái sản xuất mà bằng con đường đa dạng hoá việc cung ứng tín dụng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng thêm thu nhập cho mình mà có một nguồn nhất định để bù đắp nhũng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng gặp phải. Tuy nhiên, muốn đa dạng hoá dịch vụ Ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng phải có một khoản chi phí lớn về tiền của vì nó phụ thuộc vào quá trình hiện đaị hoá công nghệ Ngân hàng cả về máy móc thiết bị lẫn trình độ tinh thông nghiệp vụ mới của cán bộ Ngân hàng .

    5.3. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng.

    Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng sẽ giúp Ngân

    hàng:

    • Đánh giá đúng chất lượng khách hàn hệ tín dụng thường xuyên, Ngân hàng có thể nắm bắt, tiết kiệm được chi phí thẩm định và kiểm tra giám sát. Thông qua việc quan được những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng. Căn cứ vào số tiền dư trên tài khoản của họ, Ngân hàng sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng vốn, tiền mặt cũng như quan hệ với các khách hàng khác trong việc mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm…

    Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khàch hàng và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm được cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, tránh được rủi ro về đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn cũng như các chi phí giám sát khách hàng khi đã có sẵn phương thức giám sát khách hàng.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    • Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng, thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng Ngân hàng có thể huy động được một khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng. Sự am hiểu của khách hàng sẽ làm cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về loại tín dụng, khối lượng tín dụng, giá cả cho vay để có kế hoạch bố trí nguồn vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng. Do tiết kiệm được chi phí trong thẩm định, kiểm tra giám sát khách hàng nên Ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để hạ lãi suất cho vay, điều đó sẽ cuốn hút được khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó hơn với Ngân hàng. Mối quan hệ không những ngày càng được củng cố đối với khách hàng sẽ càng có cơ hội để nâng cao chất lượng tín dụng.
    • Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời kỳ và xu hướng phát triển hoạt động Ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động của thị trường, tìm kiếm cơ hội không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh Ngân hàng.

    Có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, nhất là rủi ro về đạo đức để vươn tới sự hoàn thiện về chất lượng tín dụng, nhằm tạo dựng được hình ảnh, biểu tượng tốt của Ngân hàng trên thị trường.

    Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, Ngân hàng phải có kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của Ngân hàng trên thị trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với Ngân hàng như những người bạn tin cậy.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng. Các Ngân hàng thương mại góp phần điều hoà lượng tiền trong lưu thông giúp ổn định giá cả, chống lạm phát, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế giúp quá trình sản xuất – trao đổi – tiêu dùng diễn ra trôi chảy hơn. Ngân hàng thương mại huy động với mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện việc tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. Thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.

    Tuy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đem lại hiệu quả cao nhưng kèm theo đó là rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Một Ngân hàng gặp rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Ngân hàng.Vì thế, rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu không những đối với cán bộ Ngân hàng mà còn là của toàn xã hội.

    Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong quá trình hoạt động, các Ngân hàng thương mại đã và đang gặp không ít khó khăn trong việc huy đọng vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả. Đặc biệt đối với kinh tế ngoài quốc doanh, hoạt động cho vay đối với loại hình này còn có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Với tính cấp thiết này, mong rằng một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh mà em đã trình bày sẽ góp một phần nhỏ vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung. Qua đó, góp phần củng cố sự phát triển và ổn định của hệ thống Ngân hàng, đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước.

    Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những khuyết điểm. Vì vậy, em rất mong muốn được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài viết có ý nghĩa thực tiễn hơn. Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Thông Qua Hoạt Động Tạo Hình Cho Trẻ 4
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)
  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  •                                TS Phạm Thị Kim Anh

                                    Viện NCSP-Trường ĐHSP Hà Nội

                                   ĐT; 0988184413. Email:[email protected]

     

         

    1. Mở đầu

    Theo “Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới” ban hành tháng 5/2018, Bộ GD&ĐT yêu cầu: “Bảo đảm tất cả GV cơ sở GDPT trên cả nước hoàn thành chương trình bồi dưỡng trước thời gian bắt đầu triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa GDPT mới. Kế hoạch được thực hiện tuần tự đối với từng cấp học. Đối với cấp THPT, GV được bồi dưỡng từ năm học 2021-2022

    Để góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng GV, trong bài báo này chúng tôi tập trung vào đổi mới các thành tố trong khâu bồi dưỡng GV, nhất là trong tổ chức và quản lí bồi dưỡng

    2. Nội dung

    2.1. Khảo sát nhu cầu, phân loại đối tượng, lập kế hoạch bồi dưỡng sát với yêu cầu và năng lực của GV

    Các nghiên cứu , , . Lí luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, nhu cầu bồi dưỡng của GV rất đa dạng, tùy thuộc vào từng nhóm đối tượng cụ thể cũng như trình độ năng lực của mỗi GV. Đặc biệt, số năm kinh nghiệm giảng dạy có tương quan tỷ lệ nghịch với nhu cầu cần được bồi dưỡng. Không có nhu cầu nào là chung cho mọi GV. Vì vậy, công việc đầu tiên là phải tiến hành khảo sát, đánh giá nhu cầu để thấy rõ cái đang cần, đang thiếu và đang yếu của GV. Từ đó phân loại đối tượng, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho sát với yêu cầu thực tiễn của GV.

    Để làm tốt điều này, cần phải thực hiện các việc sau:

    – Thứ nhất, xây dựng phiếu điều tra, tiến hành khảo sát năng lực và nhu cầu của GV ở trường THPT. Qua việc trả lời những câu hỏi cụ thể, GV sẽ tự soi rọi, đánh giá hoạt động DH- GD của bản thân để nêu rõ những khó khăn, hạn chế, yếu kém; tự đặt ra nhu cầu cho mình. Trên cơ sở các thông tin mà GV cung cấp, xác định nhu cầu thực tế của GV, phân loại nhu cầu theo từng đối tượng.

    -Thứ hai, xác định mục tiêu và lập kế hoạch bồi dưỡng

    Khi các nhu cầu bồi dưỡng của GV đã được xác định, bước tiếp theo là phải chuyển các yêu cầu này thành các mục tiêu bồi dưỡng hay các kết quả mong muốn của hoạt động bồi dưỡng.

    2.2. Phân công và phân cấp bồi dưỡng một cách rõ ràng

               Để tránh được sự “tam sao thất bản” và khắc phục được nhược điểm, hạn chế của “mô hình thác nước” trong bồi dưỡng GV từ cấp quốc gia xuống tỉnh, huyện, hiện nay Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo thực hiện theo kiểu phân tầng ở 2 cấp: Cấp Trung ương và cấp địa phương.

     Ở cấp địa phương sẽ bồi dưỡng GV đại trà thông qua đội ngũ GV cốt cán và bằng nhiều hình thức, trong đó chú trọng hình thức bồi dưỡng trực tuyến.

    Với cách phân cấp như vậy, việc bồi dưỡng GV ở các địa phương sẽ tránh được  những nhược điểm của cách bồi dưỡng trước đây và GV được tiếp thu kiến thức, kĩ năng trực tiếp từ đội ngũ GV cốt cán cũng như học được ở mọi lúc, mọi nơi qua bồi dưỡng trực tuyến.

           Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là cách làm mới và tối ưu. Bởi lẽ việc sử dụng đội ngũ GV cốt cán để bồi dưỡng cho GV cấp địa phương cũng chỉ diễn ra theo đợt/chu kì và theo những yêu cầu của Bộ/ngành với những nội dung đã định sẵn và nó không thể thực hiện một cách thường xuyên, liên tục. Do đó, cần mạnh dạn trao quyền tự chủ cho các cơ sở GD ở địa phương chủ động trong việc lập kế hoạch, triển khai bồi dưỡng GV tại cơ sở, đồng thời phải trao cho các trường ĐHSP có chất lượng cao chịu trách nhiệm trong việc bồi dưỡng GV. “Các trường ĐHSP phải chịu trách nhiệm cả 3 công đoạn trong một quá trình: Tạo ra sản phẩm, đưa vào sử dụng và bảo dưỡng (bảo trì) sản phẩm. Nghĩa là việc bồi dưỡng GV là trách nhiệm của trường sư phạm”. . Còn theo nhận xét của Đinh Quang Báo-Nguyên hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội: “Nội dung chương trình bồi dưỡng chưa gãi đúng chỗ ngứa của GV”

    Tới đây, theo kế hoạch của Bộ GD&ĐT, nội dung chương trình và tài liệu bồi dưỡng ở cả cấp trung ương và địa phương  đều cùng thống nhất thực hiện 2 nội dung:

     -Hướng dẫn dạy học môn học theo CT GDPT mới;

    – Hướng dẫn sử dụng hệ thống tài liệu bồi dưỡng giáo viên qua mạng (do CT ETEP biên soạn).

    Điều đó là cần thiết, song chưa đủ. Theo chúng tôi, cần xây dựng những chuyên đề chuyên sâu tập trung vào 3 mảng nội dung chính:

    b)Bồi dưỡng năng lực DH và năng lực GD cho GV ( năng lực nghiệp vụ sư phạm)

    c)Bồi dưỡng phát triển các giá trị, đạo đức nghề nghiệp ( phẩm chất đạo đức)

                Trong việc bồi dưỡng năng lực DH và năng lực GD cho GV, theo chúng tôi, cần tập trung vào những điểm yếu, những khó khăn mà GV đang gặp phải theo yêu cầu đổi mới. Các nghiên cứu của Hoàng Thị Kim Huệ , Nguyễn Danh Nam . Như vậy, việc học tập trực tuyến đang là xu thế chung của các nước.

    Sử dụng hình thức học trực tuyến để bồi dưỡng cho GV là một giải pháp hay nhằm  giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong cơ hội bồi dưỡng của GV và phát huy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng của GV trên một qui mô rộng lớn khắp cả nước, từ thành thị, nông thôn cho đến hải đảo xa xôi và những vùng núi hẻo lánh. Hiện nay, khi công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, chuyển sang thời kỳ Cách mạng 4.0, thì việc lựa chọn hình thức bồi dưỡng này được đặc biệt quan tâm, trong đó E- Learning là xu hướng tất yếu nhằm giúp GV có  thể học được ở mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với trình độ, hoàn cảnh, thời gian, khoảng cách xa xôi về địa lí và  giảm được chi phí. Do phương thức này chú trọng vào người học và việc tự học nên cần một lượng tài liệu phong phú, đa dạng để giúp cho GV không mất quá nhiều thời gian cho việc tìm kiếm thông tin trên mạng. Để việc hỗ trợ GV  thành công hơn, cần tổ chức các buổi học trực tuyến để giảng viên trực tiếp gặp gỡ, trao đổi và giải đáp thắc mắc về những kiến thức quan trọng nhất cho người học. Những vấn đề giới thiệu lý thuyết, các tình huống thực tế, mô phỏng, bài giảng mẫu… sẽ để GV tự học qua mạng.

    Hiện nay trang mạng “Trường học kết nối” đã được Bộ GD&ĐT khuyến khích GV sử dụng như là một phương thức để bồi dưỡng và tự bồi dưỡng cho GV. Vì vậy cần phát huy hiệu quả  trang mạng này để thực hiện tốt việc bồi dưỡng theo nhu cầu của từng cá nhân.

    Bên cạnh đó, việc sử dụng facebook để tạo lập, liên kết với một nhóm GV cũng là một hình thức cần được khuyến khích sử dụng để bồi dưỡng lẫn nhau. Qua trang này, mọi GV đều được chia sẻ, học tập kinh nghiệm và giải đáp vướng mắc trong các công việc giảng dạy, giáo dục HS.

    Có thể nói, các hình thức dựa trên ứng dụng ICT rất giá trị, đem lại nhiều tiện ích đối với việc bồi dưỡng GV trong bối cảnh hiện nay. Các Sở GD&ĐT, các trường ĐHSP và cơ sở bồi dưỡng GV cần vận dụng tốt phương thức này để gắn kết mọi GV là thành viên của cộng đồng học tập qua mạng.

    Cả hai hình thức bồi dưỡng tập trung, trực tiếp và trực tuyến qua mạng Internet cần kết hợp chặt chẽ với nhau, không nên tuyệt đối hóa vai trò của bất cứ hình thức nào và phải có tư vấn, hỗ trợ của giảng viên sư phạm/ đội ngũ cán bộ cốt cán cơ sở.

    Ngoài những hình thức bồi dưỡng trên, cần vận dụng linh hoạt các hình thức khác như: Hội thảo, xemine, sinh hoạt cụm chuyên môn; dự giờ đồng nghiệp, tự học, tự bồi dưỡng qua sách, tài liệu để phát triển cộng đồng học tập trong GV tại cơ sở.

    Việc tổ chức cho GV tham quan thực tế tại các trường phổ thông chất lượng cao để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy, GD cũng là một trong những hình thức cần được đẩy mạnh, vì nó đem lại nhiều điều bổ ích cho chúng tôi nhiên, cần lựa chọn những  mô hình trường tham quan tiêu biểu.

    2.4.2. Về địa điểm tổ chức bồi dưỡng:  không nên đưa GV đến những nơi qúa xa, nhất là những  khu du lịch, nghỉ mát. Điều này dẫn đến tình trạng GV học tập thì ít mà nghỉ mát thì nhiều. Bức xúc về tình trạng này, Đinh Xuân Lâm trong nhiều năm trước đây đã từng lên tiếng:“Cần chấm dứt kiểu bồi dưỡng tập trung GV đi biển mùa hè nghe báo cáo…Tôi đã từng đi báo cáo về SGK lớp 10, dăm ba buổi họ ngồi nghe, nhưng có thiết thực gì mấy đâu” …họ rất coi trọng việc bồi dưỡng tại chỗ cho GV. Điều đó không chỉ gắn việc bồi dưỡng những nội dung lí thuyết với thực tiễn tại môi trường lớp học, mà còn giảm khó khăn về giao thông đi lại, về thời gian lưu trú và kinh phí. Theo kết quả điều tra, khảo sát năm 2021 của chúng tôi, phần lớn GV có nhu cầu  tổ chức tại các cụm trường THPT, các Trung tâm GD thường xuyên của huyện, hoặc có thể tổ chức tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm (nếu ở gần) để khai thác và phát huy thế mạnh của các đơn vị này trong công tác bồi dưỡng.

    2.4.3.Về phương pháp bồi dưỡng

     Chú trọng việc bồi dưỡng GV tại đơn vị cơ sở (xây dựng cộng đồng học tập trong nhà trường), hướng GV đi vào con đường tự học, tự nghiên cứu để mở rộng, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ.

         2.5.Đổi mới công tác quản lí bồi dưỡng

          Để khắc phục tình trạng quản lí nặng tính hành chính và hình thức, công tác quản lí bồi dưỡng cần phải đổi mới một cách căn bản. Cần lựa chọn các hình thức đánh giá phù hợp, linh hoạt, mềm dẻo để thúc đẩy động cơ phát triển nghề nghiệp của GV. Trong đó, không so sánh, không xếp thứ hạng, không cho điểm và nhận xét GV. Điều đó không có nghĩa là buông lỏng mà chính là thể hiện sự tín nhiệm và tin cậy vào khả năng tự phát triển của GV. Mặt khác, phải giải phóng GV thoát khỏi những ràng buộc hành chính để họ có thể tự do học tập và sáng tạo. Đây chính là bí quyết thành công trong công tác bồi dưỡng GV của một số nước. Bên cạnh đó, nên giảm số tiết lên lớp mỗi ngày cho GV để họ có thời gian cùng nhau trao đổi chuyên môn, rút kinh nghiệm và góp ý các tiết dạy sau được tốt hơn. 

             Trong quá trình triển khai bồi dưỡng trực tuyến, để khắc phục tình trạng GV không tham gia, các cơ sở tổ chức bồi dưỡng cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý GV (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, các trường phổ thông) để giám sát, đánh giá và công nhận kết quả bồi dưỡng của GV một cách hiệu quả. 

                Về nội dung bồi dưỡng, cần kiểm tra – đánh giá trên các phương diện:

    – Nhận thức của GV  về các vấn đề đã được bồi dưỡng;

    -Sự vận dụng những kiến thức, kỹ năng được bồi dưỡng vào thực tiễn DH- GD ở nhà trường của GV và hiệu quả của nó.

    -Đánh giá sự phù hợp của nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng GV.                Từ đó tìm ra những bất cập, hạn chế, những điểm cần rút kinh nghiệm và tiến hành cải tiến hoạt động bồi dưỡng GV được tốt hơn.

    Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả của các đợt bồi dưỡng GV, cần tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và đầu tư thỏa đáng về kinh phí cho công tác bồi dưỡng GV, nhất là hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ cho việc tự học, tự bồi dưỡng của GV và tổ chức bồi dưỡng qua mạng.

         2.6. Sử dụng đội ngũ giảng viên sư phạm cốt cán, phát huy thế mạnh của các trường sư phạm trong công tác bồi dưỡng GV

    Giảng viên các trường ĐHSP phải là lực lượng chủ yếu trong các đợt tập huấn, bồi dưỡng để đảm bảo chất lượng của đội quân “chuyên nghiệp” đi dạy nghề, tránh để các trường sư phạm “đứng ngoài cuộc nhìn vào” hoặc chỉ đóng vai trò “được mời tham gia” như thời gian dài trước đây.

              Trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền GD Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã coi các trường sư phạm là “cái nóc nhà” của đổi mới giáo dục. Sứ mệnh của nó không chỉ là đào tạo ra đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu thực tiễn của GDPT mà còn phải có nhiệm vụ hỗ trợ, bồi dưỡng để phát triển năng lực nghề nghiệp suốt đời cho GV. Vì thế, Dự án ETEP của Bộ GD&ĐT đã chọn 7 trường ĐHSP và Học viện QLGD để thúc đẩy việc bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ GVPT dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến. Theo Dự án này, sẽ có khoảng 280 giảng viên sư phạm được lựa chọn từ các trường ĐHSP chủ chốt được bồi dưỡng, tăng cường năng lực để làm nhiệm vụ bồi dưỡng GV phổ thông cốt cán trong quá trình bồi dưỡng thường xuyên, liên tục tại trường phổ thông cho các GV khác.

                Với vai trò, nhiệm vụ như vậy, giảng viên các trường ĐHSP  tới đây sẽ  trở thành lực lượng nòng cốt trong việc bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp của GV.

            Muốn thực hiện được điều này, các trường sư phạm phải làm những việc sau đây:

         – Xây dựng được cơ chế, chính sách để điều khiển mối quan hệ giữa Trường ĐHSP với trường phổ thông theo mô hình cung ứng- dịch vụ trong công tác bồi dưỡng GV. Đặc biệt, phải tạo ra được chính sách giảm thiểu tối đa sự can thiệp nặng về hành chính của hệ thống gián tiếp (phòng/ sở) để trường ĐHSP và trường phổ thông phải chịu trách nhiệm trước xã hội. Như vậy việc bồi dưỡng trực tiếp từ trường sư phạm cho GV mới thuận lợi và tránh được những rào cản cũng như sự chồng chéo.

    – Có hợp đồng trách nhiệm ba bên giữa Trường ĐHSP với cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục phổ thông trong hoạt động bồi dưỡng GV dựa trên chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lợi ích của từng bên.

    – Xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng GV chuẩn mực để GV dễ dàng học tập.

    – Đặc biệt, cần có đội ngũ giảng viên cốt cán giỏi về chuyên môn- NVSP, giàu kinh nghiệm và rất am hiểu thực tiễn phổ thông để trực tiếp làm nhiệm vụ bồi dưỡng GV.

    – Xây dựng được hạ tầng công nghệ thông tin, mạng internet kết nối với GV các trường phổ thông .

    – Được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước để chi trả cho các hoạt động bồi dưỡng GV. Đây là điều kiện thiết yếu, vì nếu không có kinh phí thì không thể triển khai được hoạt động bồi dưỡng. Bên cạnh đó, cần phối hợp với các Sở GD&ĐT, các trường THPT để có thêm nguồn kinh phí chi trả cho các hoạt động này.

    Cuối cùng, phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm của giảng viên trong việc kết nối, hòa nhập với trường phổ thông để tiến hành bồi dưỡng, bảo trì sản phẩm đầu ra của mình đạt chất lượng tốt.

    2.7. Nâng cao ý thức, trách nhiệm tự học, tự bồi dưỡng của GV, có sự hướng dẫn của  GV cốt cán, chuyên gia giáo dục

    GV muốn trở thành những người biết học tập suốt đời và tự bồi dưỡng thì rất cần có kĩ năng giao tiếp (lắng nghe và phản hồi tích cực); kĩ năng đặt câu hỏi và kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin… để trực tiếp trao đổi, học hỏi từ các chuyên gia, giảng viên cũng như khai thác mạng Internet. Đồng thời, phải dành một lượng thời gian phù hợp để tự trau dồi nghiệp vụ, tham gia các khóa huấn luyện, bồi dưỡng.

    Trong hoạt động tự học, tự bồi dưỡng, GV cần được làm việc trực tiếp và tương tác sâu với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu GD và những người đào tạo GV. Ở đó, vai trò của họ là những người học tích cực, đồng thời là những người hợp tác, đồng thiết kế và là những người thực hiện, triển khai các ý tưởng từ chương trình vào trong thực tế lớp học. Họ được tham gia vào một cộng đồng học tập chuyên nghiệp, giúp họ có những biến chuyển sâu sắc trong nhận thức cũng như trong các hoạt động thực hành DH ở trên lớp, từ đó dần phát triên chuyên môn và năng lực nghề nghiệp của mình.

    3. Kết luận

      

                                                  Tài liệu tham khảo

    1.      Phạm Thị Kim Anh (2017)- Trường ĐHSP trong việc bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới GD (Kỷ yếu Hội thảo “Bồi dưỡng GV và CBQL GD đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPT”. NXBĐH Thái Nguyên, Tháng 11 năm 2021, tr 33-40). ISBN: 978-604-915-575-8.

    2.     Phạm Thị Kim Anh (2015)-Chất lượng bồi dưỡng giáo viên phổ thông hiện nay-Thực trạng và biện pháp. Kỷ yếu HT Quốc giaNâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV và cán bộ QLGD”  Từ 31/10-1/11/2015- Đại học Vinh.

    3.      Phạm Thị Kim Anh (2018)-Yêu cầu đổi mới GDPT và những vấn đề đặt ra đối với công tác bồi dưỡng đội ngũ GV THPT hiện nay .T/C Dạy và học ngày nay, tháng 9/2018, tr 30-33.

    4.      Phạm Thị Kim Anh (2017)Giải pháp hỗ trợ hoạt động nghề nghiệp cho GV trẻ (kinh nghiệm dưới 3 năm) của trường ĐHSP trong đào tạo giáo viên. Đề tài nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng năm 2021. Viện NCSP-ĐHSP Hà Nội.

    5.     Hoàng Thị Kim Huệ (2017)-Xây dựng bộ công cụ, đề xuất phương án khảo sát đánh giá năng lực và nhu cầu bồi dưỡng của GV phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp”. MS HD12.Trường ĐHSP Hà Nội (Chương trình ETEP).

    6.     Bộ GD&ĐT(2018)- Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. số 270/KH-BGDDT, ngày 2 tháng 5 năm 2021, tr1.

    7.      Thế Đan -Học trực tuyến: Tốc độ phát triển nhanh mở ra kỷ nguyên đào tạo mới, ngày 24.11.2018. http://etep.moet.gov.vn/tintuc/chitiet?Id=798.

    8. Lê Đức Giang- Kiều Phương Chi (2018)-“ Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Giáo viên THPT đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông”. http://etep.moet.gov.vn/tintuc/chitiet?Id=540

    9. Nguyễn Vinh Hiển- Trong bài: “Đổi mới tất cả các thành tố trong bồi dưỡng giáo viên”của Nguyễn Nhung. Báo GD&TĐ Ngày 21.2.2018. chúng tôi tr1

    10. Kỷ yếu HT Quốc giaNâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV và cán bộ QLGD”  Từ 31/10-1/11/2015- Đại học Vinh.

    11. Kỷ yếu Hội thảo “Bồi dưỡng GV và CBQL GD đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPT”. NXBĐH Thái Nguyên, Tháng 11 năm 2021, tr 33-40). ISBN: 978-604-915-575-8.

    12. Đinh Xuân Lâm (2008)- Trong bài: “Hội Lịch sử kiến nghị thay đổi chương trình, SGK  và viết lại sách”, http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=43305.

    13. Hoàng Đức Minh,  trong bài “Điểm nhấn trong bồi dưỡng giáo viên, CNQL theo chuẩn” của Hiếu Nguyễn. https://giaoducthoidai.vn/giao-duc/diem-nhan-trong-boi-duong-giao-vien-cbql-theo-chuan-3907354.html. Ngày 23.11.2017.

    1. Nguyễn Danh Nam (2017). Khảo sát đánh giá nhu cầu bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý các cấp ở khu vực được phân công trong Chương trình ETEP – Khảo sát sâu tại Thái Nguyên. Đề tài Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ cấp cơ sở (Chương trình ETEP), Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

    Tóm tắt: Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên (GV) để “đón đầu” thực hiện chương trình giáo dục (CTGD) phổ thông  mới đang là một trong những vấn đề trọng tâm và cấp bách nhằm trang bị cho đội ngũ GV có đủ năng lực đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục (GD). Để góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng GV, trong bài báo này chúng tôi tập trung nêu và phân tích 7 biện pháp cơ bản sau đây: (1) Khảo sát nhu cầu, phân loại đối tượng, lập kế hoạch bồi dưỡng sát với yêu cầu và năng lực của GV;(2) Phân công và phân cấp bồi dưỡng một cách rõ ràng;(3) Xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng thiết thực, chuyên sâu và dựa trên nhu cầu của GV; (4) Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng; (5) Đổi mới công tác quản lí bồi dưỡng; (6)Sử dụng đội ngũ giảng viên sư phạm cốt cán, phát huy thế mạnh của các trường sư phạm trong công tác bồi dưỡng GV;  (7) Nâng cao ý thức, trách nhiệm tự học, tự bồi dưỡng của GV, có sự hướng dẫn của các GV cốt cán và chuyên gia giáo dục. Những biện pháp này là những thành tố quan trọng không thể thiếu được trong công tác bồi dưỡng.

            Từ khóa: Biện pháp, chất lượng, bồi dưỡng giáo viên,  THPT, đổi mới giáo dục.

     

    Some measures to improve the quality of upper higher school’ teacher training in order to meet the educational innovation’s requirements

     

    Abstract: Training to improve teachers’ competencies to “anticipate” the implementation of the new general education curriculum is one of the key and urgent issues to equip qualified teachers to meet the education innovation’s requirements. In order to contribute to improving the quality of teacher training, in this paper, we focus on introducing and analyzing the following 7 basic measures: (1) Do well the needs survey, classification of objects for training plan closely to teachers’ requirements and their competencies; (2) Assign and decentralize training clearly; (3) Develop content of practical, intensive and demand-based training program; (4) Innovating methods and forms of training; (5) Innovating management work; (6) Using a team of core pedagogical teachers, promoting the strengths of universities of education in teacher training; (7) Raising teachers’ awareness and responsibilities of self-study and self-training, with the guidance of core teachers and educational experts. These measures are important components indispensable in the teachers’ training.

    Keywords: Measure, Quality, teacher training, upper higher school, educational innovation

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Thông Qua Hoạt Động Tạo Hình Cho Trẻ 4
  • 20 Cách Làm Marketing Online Hiệu Quả Mà Không Phải Ai Cũng Biết
  • 5 Cách Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Với Chi Phí Cực Thấp
  • Em Hãy Nêu Một Số Nhận Xét Về Tình …
  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Thông Qua Hoạt Động Tạo Hình Cho Trẻ 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)
  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…
  • TRƯỜNG MẦM NON HẢI LONG

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHUYÊN ĐỀ XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CHO TRẺ MẪU GIÁO 4-5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON HẢI LONG

    Người thực hiện: Lê Thị Nga

    Chức vụ: Giáo viên

    Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Hải Long

    SKKN Thuộc lĩnh vực : Chuyên môn

    NHƯ THANH NĂM 2021

    MỤC LỤC

    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Lí do chọn đề tài.

    Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động hấp dẫn nhất đối với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, nó giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và thể hiện một cách sinh động những gì chúng nhìn thấy trong thế giới xung quanh, những gì làm trẻ rung động mạnh mẽ và gây cho chúng những rung động xúc cảm, tình cảm tích cực. Hoạt động tạo hình là một hoạt động có đầy đủ điều kiện để đảm bảo sự tác động đồng bộ lên mọi mặt phát triển của trẻ em về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất và hình thành các phẩm chất kĩ năng ban đầu của con người. Hiểu được tầm quan trọng đó, tôi luôn tìm tòi những biện pháp và các giải pháp, tốt nhất để giúp trẻ hoạt động tích cực trong lĩnh vực này.

    Hoạt động tạo hình còn là phương tiện để trẻ thể hiện những ấn tượng, hiểu biết và ý muốn của mình về thế giới xung quanh. Kết quả của hoạt động tạo hình phụ thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm mà trẻ tích lũy được trong nhiều hoạt động khác. Việc tham gia vào các hoạt động khác sẽ khơi nguồn cảm hứng làm nảy sinh những ý tưởng, sáng tạo của trẻ.

    Vậy làm thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình?. Theo tôi môi trường hoạt động thuận lợi và quá trình thực hiện các kỷ năng tạo hình của trẻ sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình. Tuy nhiên hoạt động tạo hình không thể thực hiện được nếu không có môi trường trong và ngoài lớp học, nguyên vật liệu tạo hình. Để hoạt động tạo hình có hiệu quả thì việc lựa chọn, xây dựng môi trường giáo dục và sử dụng nguyên vật liệu tạo hình là rất quan trọng. Môi trường giáo dục càng phong phú bao nhiêu thì khả năng sáng tạo của trẻ càng phát huy bấy nhiêu.

    Xuất phát từ lý do này tôi đã xây dựng môi trường giáo dục trong và ngoài lớp học, tìm tòi và sưu tầm các nguyên vật liệu, đặc biệt là nguyên vật liệu hết sức gần gũi với trẻ nhằm khuyến khích tính chủ động và khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình của trẻ lớp tôi. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: Một số biện pháp thực hiện hiệu quả chuyên đề xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thông qua hoạt động tạo hình cho trẻ 4-5 tuổi tại trường Mầm Non Hải Long

    1. 2. Mục đích nghiên cứu.

    Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong lĩnh vực hoạt động tạo hình cho trẻ 4-5 tuổi

    1. 3. Đối tượng nghiên cứu

    Nghiên cứu vấn đề về xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thông qua hoạt động tạo hình cho trẻ Mẫu giáo 4-5 tuổi

    1. 4. Phương pháp nghiên cứu

    – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

    – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

    – Phương pháp thống kê xử lý số liệu.

    – Phương pháp quan sát.

    – Phương pháp đàm thoại.

    – Phương pháp trực quan và hành động.

    2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    2.1. Cơ sở lý luận

    * Quan điểm xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

    Để xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm yêu cầu giáo viên phải xây dựng được môi trường xã hội và môi trường vật chất, trong và ngoài lớp học. Khi sắp xếp môi trường giáo dục giáo viên cần phải nhạy bén trong vấn đề sắp xếp phù hợp các góc chơi, học liệu, nguyên vật liệu phải đa dạng phong phú cả trong lớp và ngoài trời. Bởi vì môi trường giáo dục có ảnh hưởng đến sự thành công trong học tập của trẻ và ảnh hưởng đến nội dung và kết quả mong đợi, còn môi trường bên trong và bên ngoài lớp học đều rất quan trọng chúng cung cấp nhiều cơ hội học tập và vui chơi khác nhau của trẻ .

    – Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con nên chưa kết hợp tốt với cô giáo trong việc sưu tầm nguyên vật liệu từ thiên nhiên cho con thực hiện hoạt động tạo hình ở lớp cùng các bạn

    – Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc dạy và học có phần còn hạn chế

    * Kết quả thực trạng.

    Bảng kháo sát thực trạng của trẻ trước khi áp dụng sáng kiến.

    STT

    Chỉ tiêu

    Số trẻ được khảo sát

    Kết quả khả sát

    Trẻ đạt tốt

    Trẻ đạt khá

    Trẻ đạt TB

    Trẻ chưa đạt

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    1

    Trẻ có hứng thú tham gia hoạt động tạo hình

    28

    4

    14.3

    5

    17.9

    12

    42.8

    7

    25

    2

    Kỹ năng tạo hình của trẻ ( vẽ, nặn, cắt, xé dán, xếp hình…)

    28

    4

    14.3

    4

    14.3

    12

    42.8

    8

    28.6

    3

    Khả năng sử dung nguyên vật liệu trong khi hoạt động

    28

    4

    14.3

    4

    14.3

    12

    42.8

    8

    28.6

    4

    Sản phẩm tạo hình của trẻ

    28

    4

    14.3

    5

    17.9

    12

    42.8

    7

    25

    Qua kết quả khảo sát thực trạng cho thấy, các nội dung khảo sát vẫn còn những trẻ chưa đạt về hoạt động tạo hình. Vì vậy khi tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ theo quan điểm xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cần phải đạt kết quả cao hơn

    2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

    – Xây dựng kế hoạch nâng cao hoạt động tạo hình

    – Xây dựng môi trường trong lớp và ngoài lớp học theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm

    – Chú trọng sưu tầm nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương

    – Cho trẻ làm quen với nguyên vật liệu và các tác phẩm nghệ thuật

    – Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình tổ chức cho trẻ hoạt động tạo hình

    – Phối kết hợp với phụ huynh

    – Công tác tham mưu với nhà trường

    CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch nâng cao hoạt động tạo hình

    * Căn cứ xây dựng kế hoạch

    – Nhiệm vụ năm học 2021-2018 của ngành và của trường Mầm Non Hải Long

    – Thông tư số 28/2016/TT – BGD-ĐT ngày 30 tháng 12 năm 2021 về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo thông tư số 17/2009 của BGD-ĐT

    – Chuyên đề xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

    – Hướng dẫn của ban giám hiệu về xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thông qua hoạt động tạo hình

    – Rà soát tình hình thực trạng của lớp mình phụ trách

    * Đánh giá thực trạng của lớp

    – Về cơ sở vật chất

    – Vấn đề xây dựng môi trường trong và ngoài lớp học

    – Về năng khiếu nghệ thuật tạo hình của cô

    – Thực trạng khả năng thẩm mỹ của trẻ trong hoạt động tạo hình

    * Mục tiêu

    – Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thông qua hoạt động tạo hình phải mang tính bền vững

    – Khơi dậy niềm cảm hứng đam mê nghệ thuật, yêu thích cái đẹp của trẻ thông qua hoạt động tạo hình

    – Cá nhân mỗi trẻ đều hiểu được thế nào là nghệ thuật tạo hình và có ý muốn tham gia vào tất cả các hoạt động tạo hình

    – Trẻ biết sáng tạo, phát huy được sự sáng tạo nghệ thuật và nâng cao ký năng tạo hình

    – Khuyến khích trẻ sáng tạo, giao lưu, trao đổi với nhau trong quá trình hoạt động

    – Giáo viên thể hiện sự quan tâm, khuyến khích, lôi cuốn trẻ vào hoạt động

    Biện pháp 2: Xây dựng môi trường trong lớp và ngoài lớp học theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm

    * Xây dựng môi trường giáo dục trong lớp học

    – Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, bản thân tôi nghĩ trang trí lớp học là một cách nhằm tạo ra môi trường giáo dục để gây cảm xúc, gây ấn tượng ngay từ ban đầu cho trẻ về nghệ thuật tạo hình.

    Để lưu lại các sản phẩm tạo hình của trẻ tôi dành một góc nhỏ yêu thương để lưu lại các sản phẩm của trẻ để trẻ nhìn thấy được các sản phẩm của mình, của bạn phát triển óc tư duy tưởng tượng tìm ra cái đẹp, cái xấu.

    ( Góc trưng bày sản phẩm của trẻ)

    + Các góc hoạt động như góc chơi phân vai tôi đặt tên là “Lớp học của bé” trong đó có hình ảnh Cô giáo đang dạy học và bé mặc tạp dề nấu cơm, có đồ dùng dụng cụ chế biến. Hay góc xây dựng tôi lấy tên: Kỷ sư tí hon, công trình mơ ước,… có hình ảnh các bé hoặc các con vật đang chuyển các vật liệu xây dựng, đang làm các bác thợ xây dựng từ các hình ảnh ngộ nghĩnh ở phía trên mảng tường.

    Ví dụ: Ở góc hoạt động tạo hình.

    ( Góc tạo hình trong lớp )

    Từ những lời gợi mở như vậy tôi đã kích thích trẻ hứng thú tạo ra sản phẩm mới cho riêng mình là giáo viên tôi sẽ lưu các sản phẩm đó của trẻ tại một góc và đặt tên cho góc đó là sản phẩm của bé để ngày ngày trẻ được quan sát các tác phẩm nghệ thuật của mình cũng như các tác phẩm của bạn. Từ đó trẻ đúc rút ra các bài học làm thế nào để tạo ra các sản phẩm đẹp mắt.

    Ví dụ: Giấy màu, tranh ảnh cũ, báo tạp chí, sáp màu, màu nước, vải vụn, len sợi, rơm rạ, lá cây, lạt, hột hạt, sỏi, chai nhựa, xốp, keo dính, …

    ( Trẻ hoạt động với các nguyên vật liệu phế thải của địa phương)

    Ở đây nguyên vật liệu thì tôi luôn để ở trạng thái mở giúp trẻ dễ lấy để sử dụng khi vào hoạt động. trẻ, kết hợp với lời gợi ý trẻ vào góc chơi. Từ đó giúp trẻ được củng cố và làm quen kiến thức đó giúp trẻ tăng thêm vốn kiến thức, kỹ năng hơn trong giờ hoạt động chung .

    – Tôi bố trí mỗi trẻ có một ô để gài sản phẩm được nhận xét đánh giá của trẻ, được trẻ tự tay cầm ra ô của mình cài vào, ở đây trẻ được quan sát toàn bộ sản phẩm của mình và của bạn. Trẻ có thể tự so sánh bài của ai đẹp hơn, ai xấu hơn, nếu bài của bé xấu thì bé phải cố lên lần sau phải làm cho đẹp hơn để bằng bạn hoặc làm đẹp hơn để có bài trang trí trong các góc. Từ kết quả đó sẽ kích thích lòng ham muốn say mê học tạo hình của trẻ.

    Tóm lại, việc tạo môi trường hấp dẫn cho trẻ là một việc làm rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng tạo hình cho trẻ.

    * Xây dựng môi trường giáo dục ngoài lớp học

    Căn cứ từ thực trạng đã đánh giá về vấn đề xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại lớp. Từ đầu năm tôi đã xác định rõ các mục tiêu về xây dựng môi trường bên ngoài lớp học phù hợp với điều kiện thực tế của lớp, của trường. Mục tiêu đặt ra là dựa vào diện tích tổng thể của lớp học và khuôn viên của nhà trường để xây dựng môi trường ngoài lớp học theo các khu vực phù hợp

    – Bên cạnh đó, tôi cho trẻ hoạt động tạo hình mọi lúc, mọi nơi như giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ nhặt lá cây rơi rồi tôi giúp trẻ sáng tạo nên những con vật ngộ nghĩnh và dễ thương, thể hiện các sản phẩm tạo hình để làm giàu vốn kinh nghiệm cho trẻ và kết hợp rèn luyện các kỹ năng về tạo hình cho trẻ

    – Để đưa hoạt động tạo hình vào hoạt động ngoài trời thì trong quá trình quan sát cô luôn lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ được tự nhận xét đánh giá, được cầm, sờ, nắn Trẻ phải tự nói lên ý kiến của mình. Chính vì thế cô cần có kiến thức sâu rộng về thế giới xung quanh để cung cấp cho trẻ.

    – Khu vực tạo hình ngoài trời, chơi với cát nước: được bố trí dưới các gốc cây bằng việc sử dụng các nguyên vật liệu thiên nhiên như: sỏi, đá, hột hạt để xếp hình các con vật, các phương tiện giao thông.. lá cây để làm hoa, giỏ sách, các con vật, chong chóng…Bút màu dùng để vẽ hoa, tô màu tranh ..

    (Trẻ làm đồ chơi bằng lá cây )

    Biện pháp 3: Chú trọng sưu tầm nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương

    Đê thực hiện hoạt động tạo hình đạt hiệu quả tốt tôi đã tiến hành sưu tầm thành kho nguyên vật liệu từ phế thải và thiên nhiên

    Hiện nay các nguyên vật liệu, phế thải từ các gia đình vô cùng phong phú như: các lọ nước uống, lõi giấy vệ sinh, họa báo, hộp bánh, hộp sữa chuaĐặc biệt như trường tôi thuộc trường nằm trên địa bàn xã chủ yếu là nghề nông nên việc sưu tầm các loại hạt, củ quả, rơm, sỏi đá, vỏ ngao, vỏ hến là rất thuận tiện .

    (Trẻ hoạt động với lá dong, lá chuối, lá mít)

    (Trẻ hoạt động với lá mít, lá dừa, nan lạt)

    Qua đó giúp trẻ hiểu được công dụng và tầm quan trọng của các nguyên vật liệu trong hoạt động tạo hình. Trẻ đã biết chế các nguyên vật liệu này thành những sản phẩm tạo hình đẹp mắt, có sự giúp đỡ của cô và sự sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ

    ( Các sản phẩm từ nguyên vật liệu phế thải, lá cây )

    Để cho trẻ dễ lấy, dễ nhìn tôi bố trí, sắp xếp đặt các nguyên vật liệu ở góc nghệ thuật cho trẻ được thực hiện bất cứ lúc nào trẻ thích, trẻ muốn chơi.

    Tôi nhận thấy rằng sau khi tiếp xúc với các nguyên vật liệu và các tác phẩm nghệ thuật và được khám phá về chúng trẻ càng tò mò và có hứng sáng tạo nhiều hơn

    * Phát triển thẩm mỹ qua hoạt động tạo hình

    Trong thực tế đã chứng minh: Đối với trẻ 4 – 5 tuổi tri giác sự vật hiện tượng bằng tư duy trực quan hành động. Trẻ 4 – 5 tuổi kỹ năng tạo hình của trẻ còn yếu như: Kỹ năng cầm bút còn ngượng, nét vẽ nguệch ngoạc, tô màu còn chờm ra ngoài, sử dụng đường nét vụng về,… Trẻ chưa vẽ được nét gấp khúc mà chỉ mới sử dụng nét thẳng, nét xiên để vẽ và tô màu. Chính vì vậy, cô phải đưa ra các biện pháp rèn kỹ năng tạo hình cho trẻ.

    Từ việc tạo môi trường thẩm mỹ xung quanh lớp để gây ấn tượng, kích thích lòng ham muốn ở trẻ tạo ra sản phẩm để được trưng bày trang trí trong lớp. Để phát huy

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Cách Làm Marketing Online Hiệu Quả Mà Không Phải Ai Cũng Biết
  • 5 Cách Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Với Chi Phí Cực Thấp
  • Em Hãy Nêu Một Số Nhận Xét Về Tình …
  • Sang Kien Kinh Nghiem – Mầm Non Vĩnh Trị
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50