Một Số Biện Pháp Để Bảo Vệ Môi Trường

--- Bài mới hơn ---

  • 7 Bí Quyết Vàng Giúp Trẻ Mạnh Dạn Tự Tin Trong Giao Tiếp
  • Nếu Mẹ Muốn Con Tự Tin Trong Giao Tiếp, Sớm Tự Lập Thì Đừng Quên 13 Điều Cần Làm Mỗi Ngày Này Nhé
  • Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực Nhận Thức Của Học Sinh Lớp 4,5 Trong Dạy Học Luyện Từ Và Câu
  • Skkn Dạy Học Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Học Tập Của Học Sinh
  • Các Biện Pháp Giúp Học Sinh Mau Tiến Bộ
    • Xử lý các chất gây ô nhiễm gây từ nguồn phát sinh.
    • Tập trung:
    • Chống ô nhiễm không khí bởi bụi, các khí thải của động cơ đốt trong, các hợp chất CFC, lưu huỳnh, oxid nitơ.
    • Chống ô nhiễm các nguồn nước bởi các chất thải sinh hoạt, kim loại nặng, phosphat, nitrat, cianur, thuốc trừ sâu, trừ cỏ …
      Xử lý nước thải sinh hoạt
    • Nếu lượng nước ít và không chứa các thành phần độc hại thì dùng các quá trình tự nhiên như sa lắng, oxi hóa sinh học…
    • Nếu lượng nước thải nhiều và có chứa các thành phần độc hại thì phải qua các giai đoạn như xử lý sơ bộ để loại bỏ các tạp chất rắn có kích thước tương đối lớn và giai đoạn loại bỏ các tạp chất hữu cơ bằng cách dùng quá trình oxi hóa sinh hóa. Sau giai đoạn này có thể thải nước thải vào môi trường.

    Đây là biện pháp tốt nhất vì “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Tăng cường quản lý chất thải, không cho chất thải lan truyền ra các quyển đặc biệt là chất thải ngành công nghiệp và xử lí nhiên liệu hạt nhân.

    Thay thế các chất gây ô nhiễm bằng các chất không gây hay ít gây ô nhiễm. Tuy nhiên, con người cũng hết sức thận trọng vì một số trường hợp, chưa dự đoán được tác động của chất thay thế.

      CFC và halon: dùng để thay thế các dẫn xuất Clo, Flo của CH4, C2H6 ; các halon dùng để thay thế các dẫn xuất Clo, Flo và brom của các ankan.
    • CFC’s và halon được dùng nhiều trong chữa cháy, dung môi cho các loại sơn phun, mỹ phẩm, thuốc trừ sâu hại thực vật, thay thế NH3 và SO2 trong các máy làm lạnh.
    • 1970, người ta mới phát hiện ra CFC’s và halon là một trong các thủ phạm chính gây suy thoái lớp ozone.
    • 1985, các nước đã ký công ước Vienna và 1987 ký Nghị định thư Montreal quy định việc cắt giảm và tiến tới xóa bỏ việc sử dụng các hợp chất CFC và halon. Công ước cũng khuyến khích việc nghiên cứu tìm các chất thay thế.
    • 1994, Chính phủ Việt Nam cũng đã ký Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal.
    • Thay thuốc trừ sâu, trừ cỏ như DDT, 666… bằng các chế phẩm sinh học.
    • Sử dụng xăng không pha chì.
    • Dùng dầu thực vật thay một phần các sản phẩm dầu mỏ trong nhiên liệu của các động cơ đốt trong.
    • Tìm kiếm các công nghệ không có chất thải – sản xuất sạch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Giá Trị Biểu Hiện Của Biện Pháp Điệp Ngữ Được Sử Dụng Trong Đoạn Văn Sau
  • Về Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2021
  • Các Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2021
  • Các Quy Định Pháp Luật Về Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt
  • Quy Định Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt
  • Nguyên Tắc “Bảo Vệ Môi Trường, Tài Nguyên Biển”

    --- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Là Gì? Chúng Ta Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường?
  • Bảo Vệ Môi Trường Luôn Xanh Sạch Đẹp
  • Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Cho Học Sinh Trong Một Số …
  • Tham Vấn Các Biện Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Bảo Vệ Trẻ Em Và Quyền Trẻ Em
  • Chuyên Mục: Tìm Hiểu Luật Trẻ Em (Phần 4) .công An Tra Vinh
  • Nguyên tắc “bảo vệ môi trường, tài nguyên biển” 

     

    Nhận thức được điều này, vấn đề bảo vệ môi trường biển đã được các quốc gia quan tâm. Nhiều Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển đã được ra đời: Công ước London năm 1972 về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ các chất thải do tàu và các chất thải khác; Công ước 1973 về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ các chất thải do tàu; Công ước Brussel 1969 về các biện pháp chống ô nhiễm dầu do các vụ tai nạn trên biển cả; Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982… Những công ước này đã tạo cơ sở và hành lang pháp lý cho việc gìn giữ môi trường biển, ngăn ngừa ô nhiễm trên biển.

     

     

    Về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, Điều 192 UNCLOS 1982 quy định: “Các quốc gia có quyền thuộc chủ quyền khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình theo chính sách về môi trường và theo đúng nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi trường biển của mình”.

    Về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, UNCLOS 1982 khẳng định: “Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ và gìn giữ môi trường biển”. Đây là nghĩa vụ xuất phát từ quyền lợi của các quốc gia ven biển cũng như cộng đồng quốc tế trong các vùng biển của quốc gia ven biển. Quốc gia ven biển có quyền tối cao để khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình nhưng họ vẫn phải thi hành các chính sách về môi trường để bảo vệ môi trường biển. “Các quốc gia có trách nhiệm quan tâm đến việc hoàn thành các nhiệm vụ quốc tế của mình về vấn đề bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, các quốc gia có trách nhiệm thực thi theo đúng pháp luật quốc tế”.

    UNCLOS 1982 không chỉ quy định nghĩa vụ của các nước trong việc bảo vệ môi trường biển mà còn dành một phần riêng đề cập tới vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

     

    Nguồn: Trích từ tài liệu “100 câu hỏi đáp về biển, đảo Việt Nam”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Dinh Dưỡng Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc
  • Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 3
  • Bài 68. Một Số Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Hiện Nay Ở Việt Nam, Nguyên Nhân, Biện Pháp Khắc Phục
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nơi Trường Học.
  • Quan Tâm Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Học
  • #1 Vai Trò Của Pháp Luật Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Xanh
  • Bài 68. Một số biện pháp bảo vệ môi trường

    Một số biện pháp bảo vệ môi trường

    Người thực hiện: Nguyễn Thị Đào

    Một số biện pháp bảo vệ môi trường

    1

    2

    4

    3

    5

    a.Ngày nay,ở nhiều quốc gia trên thế giới,trong đó có nước ta đã có luật bảo vệ rừng,khuyến khích trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc.

    b. Mọi người , trong đó có chúng ta phải luôn có ý thức giữ vệ sinh và thường xuyên dọn vệ sinh cho môi trường sạch sẽ.

    c.Để chống việc mưa lớn có thể rửa trôi đất ở những sườn núi dốc,người ta đã làm ruộng bậc thang.Ruộng bậc thang vừa giúp giữ đất,vừa giúp giữ nước để trồng trọt.

    d.Bọ rùa chuyên ăn các loại rệp cây.Việc sử dụng bọ rùa để tiêu diệt các loaị rệp phá hoại mùa màng là một biện pháp sinh học góp phần bảo vệ môi trường,bảo vệ sự cân bằng sinh thái trên đồng ruộng.

    e.Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện nghiêm ngặt việc xử lý nước thải bằng cách để nước thải chảy vào hệ thống thoát nước rồi đưa vào bộ phận xử lý nước thải.

    Mỗi thông tin trong khung chữ ứng với hình nào?

    Các biện pháp bảo vệ môi trường

    Ai thực hiện

    Quốc

    gia

    Gia

    đình

    Cộng

    đồng

    a.Ngày nay,ở nhiều quốc gia trên thế giới,trong đó có nước ta đã có luật bảo vệ rừng,khuyến khích trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc.

    b. Mọi người , trong đó có chúng ta phải luôn có ý thức giữ vệ sinh và thường xuyên dọn vệ sinh cho môi trường sạch sẽ.

    c.Để chống việc mưa lớn có thể rửa trôi đất ở những sườn núi dốc,người ta đã làm ruộng bậc thang.Ruộng bậc thang vừa giúp giữ đất,vừa giúp giữ nước để trồng trọt.

    d.Bọ rùa chuyên ăn các loại rệp cây.Việc sử dụng bọ rùa để tiêu diệt các loaị rệp phá hoại mùa màng là một biện pháp sinh học góp phần bảo vệ môi trường,bảo vệ sự cân bằng sinh thái trên đồng ruộng.

    e.Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện nghiêm ngặt việc xử lý nước thải bằng cách để nước thải chảy vào hệ thống thoát nước rồi đưa vào bộ phận xử lý nước thải.

    +

    +

    +

    +

    +

    +

    +

    +

    +

    +

    +

    +

    Bảo vệ môi trường không phải là việc riêng của một quốc gia nào, một tổ chức nào. Đó là nhiệm vụ chung của mọi người trên thế giới.Mỗi chúng ta, tùy lứa tuổi, công việc và nơi sống đều có thể góp phần bảo vệ môi trường.

    Một số biện pháp bảo vệ môi trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nào Được Các Thành Phố Lớn Áp Dụng?
  • Các Quốc Gia Trên Thế Giới Bảo Vệ Môi Trường Như Thế Nào?
  • Những Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Được Các Thành Phố Lớn Áp Dụng
  • Môi Trường Là Gì, Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Môi Trường Là Gì? Tại Sao Phải Bảo Vệ Môi Trường?
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ 5 Tuổi
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Là Học Sinh, Sinh Viên Em Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường
  • Phải Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường Ở Mỗi Gia Đình, Khu Dân Cư Và Nơi Công Cộng?
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Gì? Những Cách Bảo Vệ Môi Trường Đơn Giản Nhất
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THANH TRÌ

    TRƯỜNG MẦM NON XÃ YÊN MỸ

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    Đề tài:

    Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môI trường

    thông qua các hoạt động cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

    ở trường mầm non yên mỹ

    Lĩnh vực : Giáo dục mẫu giáo.

    Tên tác giả : Trần Thị Tuyết Nhung.

    Chức vụ : Giáo viên.

    Năm học 2012-2013

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    “Tất cả vì một thế giới ngày mai – Hãy chung tay bảo vệ môi trường”.

    Môi trường là nơi nuôi dưỡng con người cả về thể chất lẫn tinh thần, nhưng cũng chính con người trong quá trình tồn tại và phát triển đã khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây nên sự mất cân bằng sinh thái, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Mỗi năm trên thế giới có hàng vạn người chết vì các loại dịch bệnh do nguồn nước bị ô nhiễm và môi trường mất vệ sinh gây ra. Một trong các nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng trên là do thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người. Vì vậy, hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề cấp bách,có tính chiến lược toàn cầu.

    ” Giữ gìn vệ sinh môi trường góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống là trách nhiệm của mỗi chúng ta”. Mỗi chúng ta ai cũng nhận thức được tầm quan trọng của sức khỏe đối với bản thân, không có sức khỏe con người sống đâu- còn ý nghĩa. “Người khỏe mạnh thì có trăm điều ước, người đau ốm thì chỉ ước một điều” chắc hẳn ai cũng đoán được điều ước đó là có sức khoẻ. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để mỗi người đều có một sức khỏe tốt, ngoài những yếu tố về dinh dưỡng, thể dục thể thao tinh thần thoải mái thì môi trường sống trong sạch đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Vậy môi trường sống trong sạch là gì?Làm thế nào để có môi trường trong sạch? Mỗi chúng ta đã đóng góp được gì để cho môi trường ngày càng trong sạch hơn? Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của mỗi cá nhân chúng ta.

    Ngày nay, giáo dục bảo vệ môi trường đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trường học và được quan tâm ngay từ bậc học đầu tiên: ” Giáo dục mầm non”.

    Giáo dục bảo vệ môi truờng cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và của con người nói chung, biết cách sống tích cực với môi trường. Mục đích của giáo dục bảo vệ môi trường là hình thành cho trẻ có thói quen tốt biết sắp xếp đồ dùng đồ chơi trong lớp và ngoài trời gọn gàng ngăn nắp, biết bỏ rác đúng nơi qui định, biết chăm sóc cây xanh và chăm sóc con vật nuôi, hình thành cho trẻ có thái độ thiện cảm bảo vệ môi trường, biết được hành vi xấu như vứt rác bừa bãi nơi công cộng, vẽ bẩn lên tường, dẫm đạplên cây xanh…Bên cạnh đó giúp cho các bậc phụ huynh và cộng đồng có kiến thức cơ bản về giáo dục bảo vệ môi trường và tích cực tham gia vào các hoạt động làm ” Xanh- sạch – đẹp” cho đất nước và cho thế hệ mai sau

    Trên thực tế,ở trường mầm non xã Yên Mỹ nói chung và lớp mẫu giáo lớn (A2) nói riêng vấn đề giáo dục môi trường cho trẻ mầm non còn hạn chế, chưa phát huy hết được việc cho trẻ hiểu về môi trường, được quan sát, tiếp cận, làm các trải nghiệm thực tiễn.Ở lớp, tôi nhận thấy có một số phụ huynh chưa quan tâm đến vấn đề môi trường của trường/ lớp, gia đình. Còn học sinh thì chưa tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường như: vệ sinh thân thể, sắp xếp đồ dùng đồ chơi, giữ gìn lớp học sạch sẽ, chăm sóc cây, thu gom lá, rác thải ngoài sân trường…Ví dụ như ăn kẹo hoặc ăn bánh xong không vứt ngay

    vỏ vào thùng rác mà vứt dấu vào một xó kín đáo hay nhìn thấy vỏ bim bim, vỏ hộp sữa ngoài sân trường không nhặtbỏ vào thùng rác đúng nơi qui định…

    Là một giáo viên hàng ngày đang trực tiếp giáo dục những thế hệ tương lai của đất nước, tôi nhận ra một điều thật quan trọng trong công việc của mình là cần phải giáo dục cho trẻ ngay từ bậc học mầm noný thức bảo vệ môi trường. Điều này là vô cùng quan trọng trong đời sống của trẻ sau này, vì khi trẻ có

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Của Doanh Nghiệp
  • Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Chuyên Đề: Bảo Vệ Môi Trường Du Lịch
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Phát Triển Du Lịch Ở Nghệ An
  • Các Công Nghệ Bảo Vệ Môi Trường “made In Vn”
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường Để Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Cho Em Hỏi :một Số Giải Pháp Nhằm Bảo Vệ Môi Trường Trong Quá Trình Phát Triển Du Lịch?
  • Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Quy Hoạch Giao Thông Đường Thủy Nội Địa
  • Chủ Động Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Biển Và Hải Đảo
  • Trình Bày Thực Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Để Bảo Vệ Môi Trường Biển Đảo
  • Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, khảo cổ học kiến trúc, các công trình sáng tạo của con người qua các thời kỳ lịch sử và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ cho mục đích du lịch. Tóm lại tài nguyên du lịch nhân văn có thể nói tóm tắt bao gồm các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể (theo Luật di sản văn hoá)

    Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đều cùng tồn tại trong môi trường nhất định, nếu môi trường đó được gìn giữ bảo vệ lưu giữ cùng với những vẻ nguyên sơ ban đầu thì những tài nguyên du lịch đó càng có sức lan toả hấp dẫn cũng như việc thu hút khách đến tham quan ngày càng đông hơn. Chúng ta không chủ trương phát triển du lịch bằng bất cứ giá nào, miễn là thu được nguồn lợi kinh tế cao, không tính đến mặt trái của du lịch để lại hậu quả về môi trường và văn hoá xã hội. Chỉ trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn giữa du lịch và bảo vệ môi trường với bảo tồn làm giầu và phát huy di sản văn hoá thì mới có du lịch bền vững. Nhiều nước trên thế giới vấn đề bảo vệ di sản Thiên nhiên cũng như việc gìn giữ di sản văn hoá được quan tâm hàng đầu nhằm bảo vệ môi trường sinh thái trong thiên nhiên cũng như việc bảo tồn những di sản văn hoá của cộng đồng, đặc biệt ở vùng miền núi vùng đồng bào các dân tộc lại càng có ý nghĩa rất quan trọng trong công cuộc xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá. Vấn đề bảo tồn phát huy những giá trị di sản văn hoá, bảo vệ gìn giữ môi trường sinh thái trong thiên nhiên chính là mục tiêu then chốt, rường cột để phát triển du lịch bền vững. Trong những năm qua công tác du lịch tại Cao Bằng đã được các ngành các cấp từ trung ương đến cơ sở quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển, là tỉnh miền núi có tiềm năng lớn về du lịch, cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước, thu nhập bình quân đầu người của người dân Cao Bằng cũng được tăng lên, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được của một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng dân cư. Lượng khách du lịch đến Cao Bằng trong năm 2012 đạt 459.636 lượt người tăng 26% so với cùng kỳ năm trước , trong đó khách quốc tế 24.171 lượt tăng 41%, khách nội địa 435.465 lượt tăng 25%. Doanh thu từ du lịch đạt trên 71tỷ tăng 26% so cùng kỳ năm trước. Như vậy bức tranh toàn cảnh về du lịch Cao Bằng những năm gần đây đã có những thành tích đáng khích lệ. Song để du lịch Cao Bằng có những bước tiến nhanh và bền vững chúng ta cần trao đổi một số giải pháp phục vụ cho sự nghiệp du lịch tỉnh nhà đặc biệt là vấn đề bảo vệ phát triển tài nguyên môi trường du lịch tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới, mà theo chúng tôi hai loại tài nguyên luôn song hành với du lịch như hình với bóng: Môi trường sinh thái và môi trường di sản văn hoá ở tỉnh Cao Bằng, bước đầu có thể chia làm 4 cụm:

    1. Du lịch về nguồn kết hợp với cảnh quan môi trường sinh thái khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó. Việc bảo tồn tài nguyên du lịch ở khu di tích có nhiều việc phải làm: Việc đầu tiên là bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể tại khu di tích, công tác này chúng ta đang làm bước đầu thu được những kết quả đáng khích lệ. Một việc làm cần có quy hoạch thực hiện hàng năm đó là gìn giữ phát triển cảnh quan môi trường sinh thái của khu di tích để gần trở lại với những năm 1941 – 1945 khi cụ Hồ sống và hoạt động cách mạng ở Pác bó

    2. Khu du lịch thắng cảnh thác Bản Giốc động Ngườm Ngao nhiều năm qua khi phục vụ khách du lịch đến thăm chúng ta vẫn thường xuyên tuyên truyền cho du khách có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ cảnh quan môi trường danh thắng tuy nhiên do điều kiện và sự nhìn nhận chưa thấu đáo toàn diện nên đã xây dựng một số công trình phát triển kinh tế như nhà máy thuỷ điện Bản Rạ (xã Đàm Thuỷ), cũng như nhà máy thuỷ điện Pác Bó khi mùa khô đập chặn nước suối Lê Nin chẩy vào nhà máy nên có những đoạn suối Lê Nin không có nước trở thành dòng suối chết những công trình xây dựng trên rất ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường khu di tích, danh thắng.

    3. Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Phia Oắc – Phia Đén có độ cao từ 1.500 – 1931 m khí hậu quanh năm mát mẻ nhiều năm có tuyết phủ vào tháng 12 và đầu tháng Giêng hệ động thực vật quý hiếm đặc trưng cho hệ sinh thái của rừng á nhiệt đới. Vừa qua UBND tỉnh Cao Bằng đã phối hợp với Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường VIệt Nam tiến hành khảo sát đánh giá lại tài nguyên rừng và đa dạng sinh học rà soát lại quy hoạch, tình hình quản lý của khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc thời gian từ quý II năm 2011 đến hết 2012, kết qủa khảo sát cho thấy khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén có đầy đủ các tiêu chí để chuyển hạng thành Vườn Quốc gia, với tỉnh Cao Bằng khu di tích danh thắng Phia Oắc – Phia Đén đã trở thành di tích văn hoá cấp tỉnh từ tháng 7 năm 2012. Tuy nhiên môi trường sinh thái Phia Oắc – Phia Đén cần phải bảo vệ gìn giữ một cách khẩn cấp. Tài nguyên du lịch ở đây đang bị xâm hại, khu rừng nguuyên sinh đang bị tổn thất do chính tác động con người gây nên rừng cây vẫn bị lén lút chặt hạ, hầm lò khai thác quặng trái phép khi không có lực lượng chức năng thì vẫn hoạt động.

    4. Khu di tích tâm linh với hệ thống đền, chùa, miếu thờ khu vực xung quanh Thành phố Cao Bằng, một địa chỉ rất thuận tiện đối với du khách mỗi khi có dịp đến thăm tỉnh Cao Bằng. Với 3 di tích lịch sử cấp Quốc Gia, 5 di tích cấp tỉnh, đường dẫn tới những di tích rất thuận lợi, gần khu vực đông dân cư của Thành phố, các di tích đã được trùng tu tôn tạo bước đầu, và mùa lế hội hàng năm rất đông du khách đến tham quan vãn cảnh. Do thiếu quy hoạch trong quản lý và xây dựng tổng thể nên nhiều di sản văn hoá chỉ chú ý đầu tư xây dựng các công trình kiến trúc để tăng thêm vẻ “hoành tráng” mà thiếu đi hẳn mảng không gian môi trường văn hoá trước đây đã có của các di sản đó là hệ thống cây xanh đặc biệt là những cây cổ thụ lâu năm, bảo vệ chu đáo cẩn thận những cây đã có, trồng thêm một số cây lâu năm trong khuôn viên khi quỹ đất còn cho phép. Xin được ví dụ Đền Kỳ Sầm chỉ đẹp – cổ kính – uy nghi và ngưỡng mộ khi cụm cây xanh cổ thụ ở đó là cây Muỗm, cây Đa, cây Gạo được trường tồn và phát triển xanh tươi với thời gian, năm tháng. Về pháp lý nhà nước đã ban hành rất nhiều bộ Luật để bảo vệ môi trường thiên nhiên, di sản văn hoá song những Luật đó có thường xuyên đến được với người dân hay không để những điều ghi trong các bộ Luật đó trở thành những hành động thực tiễn thường xuyên và tự nguyện tự giác của cộng đồng dân cư mới là điều mong đợi của chúng ta. Từ quan điểm lấy dân làm gốc, với tôn chỉ mục đích của các Hội chính trị xã hội nghề nghiệp đặc thù từ ngày thành lập Hội Bảo vệ Thiên nhiên và môi trường Cao Bằng (1998) đến nay. Hội luôn xác định nhiệm vụ chính của mình là tích cực tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường di sản văn hoá, đây là những việc làm đang nhận được sự quan tâm hưởng ứng của toàn xã hội, ngày nay khi mà trình độ dân trí phát triển ngày càng cao thì họ cùng hiểu rằng: Bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ cuộc sống của chính mình, hàng năm Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường tỉnh đã mở từ 3-4 lớp tập huấn trong cộng đồng với mục tiêu nâng cao nhận thức cho dân về bảo vệ môi trường, đồng thời thành lập những chi hội cơ sở về tự quản trong bảo vệ môi trường đến nay đã có trên 45 chi hội với hàng nghìn hội viên đang hoạt động với phong trào bảo vệ môi trường. Địa chỉ những lớp huấn luyện mà Hội hướng tới là những nơi có đặc thù riêng như vùng dân tộc đồng bào thiểu số, những tập quán lạc hậu đang ảnh hưởng đến bảo vệ môi trường, những nơi danh lam thắng cảnh có các di sản văn hoá nổi bật và khu du lịch đang và sẽ thu hút du khách đến tham quan học tập tại Cao Bằng.

    Vừa qua sau khi tập huấn nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường tại Pác Bó chúng tôi đi sâu vào chuyên đề bảo vệ môi trường vùng dỉ sản văn hoá tiêu biểu Quốc gia, tại Pác Bó đã thành lập được chi hội Bảo vệ Thiên nhiên và môi trường tại địa phương, đến nay ý thức bảo vệ môi trường ở khu di tích lịch sử đã được nâng lên rõ rệt. Nhiều địa phương khác trong tỉnh như: Xã Đàm Thuỷ huyện Trùng Khánh, vùng di sản văn hoá đông dân cư như Cao Bình xã Hưng Đạo cũng vậy, gần đây nhất sau tập huấn nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường chúng tôi đã thành lập chi hội quần chúng bảo vệ môi trường tại xã Phúc Sen tháng 12/2012, đồng thời phối hợp với các chương trình khác của xã nhằm hướng tới xây dựng, tôn vinh xã Phúc Sen trở thành một xã phát triển toàn diện về kinh tế – xã hội đồng thời phát huy những di sản văn hoá độc đáo của dân tộc Nùng bảo vệ môi trường sinh thái đặc sắc độc đáo, mô hình ấy cũng chính là Bảo vệ môi trường để phục vụ cho phát triển du lịch bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Đảm Bảo Môi Trường Cho Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Tỉnh Khánh Hòa
  • Tìm Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Tại Các Khu Du Lịch Quốc Gia
  • Phát Triển Du Lịch Và Bảo Vệ Môi Trường: Vẫn Là Cán Cân Lệch!
  • Đề Tài : Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Của Sinh Viên Tại Đại Học Cần Thơ
  • “đề Nghị Khẩn Trương Có Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí, Nguồn Nước”
  • Môi Trường Sống Là Gì ? Một Số Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Đề Ruột Khoang Day Hoc Chu De 2 Ruot Khoang 7 Doc
  • Bài 33 : Đặc Điểm Sông Ngòi Việt Nam
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Cho Nạn Ô Nhiễm Môi Trường
  • Biên Pháp Ngừa Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Có Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Trong Sinh Học 9
  • Môi trường sống là gì?

    Môi trường sống bao gồm những yếu tố tự nhiên và vật chất bao quanh con người, có các mối quan hệ mật thiết với nhau, làm ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.

    Khái niệm về môi trường sống rất rộng lớn, môi trường sống chính là nơi tồn tại sự sống của nhân loại trên Trái Đất. Có 2 loại môi trường chính đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Ngoài ra còn có môi trường nhân tạo cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người.

    * Môi trường tự nhiên gồm những thành phần tự nhiên như địa hình, địa chất, khí hậu, đất đai, sinh vật và nước,…

    * Môi trường xã hội là tổng thể tất cả những mối quan hệ xã hội giữa con người với con người thông qua hệ thống pháp luật, quy định, thể chế, cam kết,…

    * Môi trường nhân tạo là các đối tượng lao động do con người sản xuất và chịu sự chi phối của con người chẳng hạn như nhà ở, các công trình kiến trúc,…

    Môi trường sống chính là không gian sống, cung cấp tài nguyên thiên nhiên và đồng thời cũng là nơi chứa đựng những rác thải mà con người tạo ra trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Một môi trường sống trong lành, sạch sẽ thì sức khỏe con người mới được đảm bảo. Nhưng thực tế môi trường sống của con người đang ngày càng bị hủy hoại nghiêm trọng mà nguyên nhân chính là do con người gây ra.

    Chức năng của môi trường sống là gì ?

    Môi trường sống có những chức năng như:

    – Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.

    – Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và sản xuất của con người.

    – Môi trường cũng là nơi chứa đựng các rác thải do con người tạo ra trong cuộc sống và các hoạt động sản xuất.

    – Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.

    – Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên đến con người và các sinh vật có trên Trái Đất.

    Chúng ta cần làm gì để bảo vệ môi trường sống

    Cuộc sống con người ngày càng hiện đại thì con người lại muốn cuộc sống được chất lượng hơn nhưng thực tế điều này rất khó mà thực hiện được. Hiện nay môi trường nước, không khí đang bị ô nhiễm ở mức báo động, đe dọa đến đời sống của chính chúng ta và sinh vật. Vì vậy chúng ta cần phải có biện pháp ngăn chặn và bảo vệ môi trường sống, cân bằng lại hệ sinh thái.

    Xử lý và vệ sinh môi trường xung quanh

    Trong cuộc sống hằng ngày, con người và động vật đều đặn thải ra một lượng chất thải và rác thải khá lớn. Nếu chúng ta không thu gom và xử lý kịp thời đúng nơi quy định sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường ra xung quanh và những rác thải sẽ rơi xuống cống làm tắc cống làm dòng chảy không thể lưu thông được.

    Tình trạng này cứ diễn ra hằng ngày sẽ làm cho chỗ ứ đọng nước bị ô nhiễm, bốc mùi hôi nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống. Và để hạn chế điều đó xảy ra thì việc chúng ta cần làm hiện nay là dựng bể chứa rác thải và xử lý đúng nơi quy định, theo định kỳ để tránh tràn ứ nước ra xung quanh môi trường.

    Giữ gìn và trồng nhiều cây xanh

    Trong quá trình quang hợp cây xanh sẽ hấp thụ khí CO 2 và thải ra khí O 2, ngăn chặn xói mòn và cung cấp môi trường sinh thái cho các sinh vật và con người.

    Tìm hiểu : những gì có thể tái chế được từ những đồ dùng bỏ đi

    Tích cực trồng nhiều cây xanh, không chặt phá bừa bãi. Có thể giữ gìn cây xanh bằng cách chọn những đồ dùng nội thất làm từ tre, nứa để thân thiện với môi trường.

    Sử dụng những chất liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên

    Vì vậy hãy sử dụng các hóa chất được chiết xuất từ thiên nhiên, hãy đấu tranh vì môi trường sống trong lành, đẩy lùi bệnh tật.

    Nguyên tắc 3R

    3R là viết tắt của các cụm từ tiếng Anh: Reduce – Reuse and Recycle có nghĩa là Giảm sử dụng – Tái sử dụng và Sử dụng sản phẩm tái chế.

    Thực tế mà chúng ta thấy đó là con người tiêu thụ nhiều hơn những gì mà thiên nhiên cung cấp, khiến tài nguyên ngày càng cạn kiệt, ngay cả nguồn nước là vô tận mà vẫn bị cạn kiệt.

    Vì vậy nếu không cần thiết thì hãy giảm thói quen sử dụng túi nilon và tăng cường tái sử dụng và sử dụng những đồ dùng tái chế để môi trường được tốt hơn, giảm lượng rác thải ra môi trường.

    Tận dụng và sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió

    Đây là những nguồn năng lượng sạch, là nguồn năng lượng tự nhiên vô hạn, có hiệu suất sử dụng lâu dài và cao. Nhưng chi phí để sử dụng được công nghệ năng lượng này khá đắt đỏ nên chưa được dùng phổ biến nhiều.

    Nhưng cách thực hiện dễ nhất hiện nay là hãy mở cửa hết ra để đón ánh sáng mặt trời thay vì sử dụng đèn chiếu sáng.

    Hạn chế dùng túi nilon

    Chúng ta đều biết rằng túi nilon mất rất lâu mới có thể phân hủy hoàn toàn, nó có thể tồn tại hàng trăm năm. Nếu bạn sử dụng túi nilon mà không được xử lý đúng cách sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng sau này. Một khi không được phân hủy trong đất thì túi nilon sẽ làm mất dần môi trường sống của sinh vật trong đất, làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của thực vật.

    Xem Thêm:

    Chỉ với những việc làm đơn giản thường ngày trong cuộc sống là chúng ta đã góp một phần vào việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta. Vì môi trường sống xanh sạch đẹp, cuộc sống trong lành hãy hạn chế xả rác ra môi trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện 6 Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý, Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • 6 Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý, Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Những Biện Pháp Hữu Ích Để Bảo Vệ Môi Trường
  • Bảo Vệ Môi Trường Sống
  • Vì Sao Cần Phải Bảo Vệ Môi Trường Xung Quanh Chúng Ta?
  • Các Giải Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên, Môi Trường Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Biển?
  • Ô Nhiễm Môi Trường Biển: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Các Biện Pháp
  • Các Giải Pháp Góp Phần Bảo Vệ Môi Trường Biển
  • Môi Trường Biển Việt Nam
  • Ô Nhiễm Môi Trường Biển
  • Tăng cường xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp lý để khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững biển

    Tại Trung Quốc, cùng với việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường biển, đến nay Trung Quốc đã ban hành nhiều văn bản pháp qui khác nhau nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển đi đôi với việc bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển, ví dụ như Luật về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Trung Quốc. Tương tự Trung Quốc, nhiều quốc gia khác đã xây dựng, hoàn thiện hệ thống, công cụ pháp lý về khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững biển, ví dụ như Mỹ thông qua Luật Biển vào năm 2000, Canada đã xây dựng và ban hành Luật Biển từ năm 1997, Úc với Luật Bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường, trong đó áp dụng toàn diện đối với biển.

    Khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng và tăng cường kiểm soát, ngăn ngừa các nguồn ô nhiễm biển

    Để giải quyết vấn đề ô nhiễm biển có nguồn gốc từ biển và từ đất liền, nhiều chương trình hành động nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng với các điểm, khu vực, vùng bị ô nhiễm và suy thoái nặng đã được triển khai. Việc ứng phó, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai trên biển và vùng ven biển, bảo vệ và cải thiện môi trường các khu vực trọng điểm tại các vùng biển cũng tích cực được tiến hành; công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động du lịch, hàng hải; khoan, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí; khai thác khoáng sản; đánh bắt, nuôi trồng thủy sản; thải đổ bùn nạo vét luồng giao thông thủy, công trình biển… cũng được ưu tiên chú trọng ở nhiều nước.

    Quản lý dựa vào hệ sinh thái

    Quản lý dựa vào hệ sinh thái là một cách tiếp cận quản lý thống nhất chú trọng xem xét toàn bộ hệ sinh thái, các mối liên hệ xuyên suốt trong toàn hệ thống và các ảnh hưởng, tác động tích tụ do các họat động của con người tạo ra. Trong bối cảnh nhu cầu quản lý và phát triển bền vững môi trường biển ngày càng trở nên cấp thiết, cách tiếp cận quản lý sinh thái được xem là nguyên tắc cơ bản của chính sách biển quốc gia các nước như Úc, Mỹ, Canada… và được áp dụng triển khai thành công trong thực tiễn quản lý biển tại Khu bảo tồn Great Barrier Reef Marine Park của Úc, vùng biển Bering của Mỹ…

    Quy hoạch và phân vùng không gian biển và đới bờ

    Quản lý biển trên cơ sở quy hoạch, phân vùng không gian biển và đới bờ hiện là xu thế quản lý biển hiện đại được triển khai ở nhiều quốc gia. Tại Mỹ, việc xây dựng qui hoạch, phân vùng không gian biển và đới bờ chính là một trong những ưu tiên cần triển khai trong chính sách biển dưới thời Tổng thống Obama. Nhóm đặc nhiệm về Chính sách biển của Tồng thống đã đề xuất một khung qui hoạch, phân vùng không gian biển và đới bờ quốc gia.

    Xây dựng các khu bảo tồn biển

    Khu bảo tồn biển được xây dựng nhằm bảo vệ và giữ gìn tính đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa.

    Quản lý dựa vào cộng đồng/Mô hình đồng quản lý

    Phương thức quản lý nguồn lợi biển dựa trên cơ sở cộng đồng đã được áp dụng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển và được thừa nhận là phương thức hiệu quả, ít tốn kém để duy trì và quản lý nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng sinh học và đáp ứng các mục tiêu bảo tồn khác cũng như nhu cầu sinh kế của con người. Trong khu vực, Phillipine, Indonesia… là những quốc gia đầu tiên sớm mạnh dạn triển khai áp dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và đã đạt được những thành công nhất định.

    Chú trọng các giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven biển

    Tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia với số lượng ngư dân đông đảo như Trung Quốc, Indonesia… đã có nhiều hoạt động, chương trình đa dạng sinh kế bền vững cho cư dân ven biển được triển khai như đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ nuôi trồng thủy sản bền vững, xây dựng chương trình du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn biển, đào tạo nghề hướng dẫn viên du lịch cho cộng đồng dân cư… và đã thu được những kết quả đáng khích lệ.

    Lồng ghép vấn đề thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) vào trong chính sách, qui hoạch và công tác quản lý tài nguyên và môi trường biển

    Kể từ Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH ra đời đến nay, nhiều quốc gia đã chú trọng, chủ động lồng ghép vấn đề BĐKH vào trong chính sách, qui hoạch và công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển của mình. Tại Bangladesh, Chương trình hành động thích ứng với Chương trình hành động Quốc gia về thích ứng với BĐKH đã được xây dựng để lồng ghép biện pháp thích ứng BĐKH cụ thể vào trong nhiều lĩnh vực, ví dụ như quản lý đới bờ, quản lý tài nguyên nước, chương trình phòng tránh thảm họa thiên tai.

    Ngoài ra, còn một số biện pháp khác như:Xây dựng cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai, thảm họa, chống xói lở bờ biển, bảo vệ dân cư, ứng phó với BĐKH; xây dựng cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai, thảm họa, chống xói lở bờ biển, bảo vệ dân cư, ứng phó với BĐKH, đẩy mạnh điều tra, khảo sát, quan trắc, nghiên cứu về tài nguyên, môi trường biển để sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; tăng cường xây dựng, quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên môi trường biển; tăng cường giáo dục, đào tạo phát triển nguồn nhân lực biển phục công tác điều tra, nghiên cứu và quản lý tài nguyên, môi trường biển; nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư về biển để khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển o

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Môi Trường Trong Xây Dựng Và Phát Triển Kết Cấu Hạ Tầng Giao Thông Vận Tải
  • Ô Nhiễm Môi Trường Trong Các Công Trình Xây Dựng
  • Sử Dụng Vật Liệu Tái Chế Trong Xây Dựng
  • Bài 2: Các Công Trình Và Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Bảo Vệ Môi Trường Trong Hoạt Động Xây Dựng
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Bài 14 Trang 46 Gdcd Lớp 7: Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên
  • Các Biện Pháp Giúp Bảo Vệ Môi Trường Đơn Giản Nhất
  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Rác Thải Trong Nhà Hàng, Quán Ăn?
  • Chính Sách Bảo Vệ Môi Trường Trong Hoạt Động Kinh Doanh Khách Sạn
  • Dùng Công Cụ Kinh Tế Để Tạo Đột Phá Trong Bảo Vệ Môi Trường
  • : Sau khi tập thể dục buổi sáng xong, tôi cho trẻ rửa tay bằng xà phòng để giữ gìn vệ sinh cá nhân phòng tránh các dịch bệnh và giáo dục trẻ phải sử dụng nước tiết kiệm sau khi sử dụng để trẻ biết được bảo vệ giữ gìn vệ sinh cá nhân, sử dụng nguồn tài nguyên nước tiết kiệm cũng là bảo vệ môi trường.

    Tôi luôn giúp trẻ hiểu biết về môi trường xung quanh trẻ: Lớp, trường, gia đình, làng xóm. Phân biệt được môi trường sạch và môi trường bẩn . Tôi chuẩn bị: Hai chậu nước như nhau sau đó tôi cho trẻ rửa tay chỉ sử dụng trong một chậu. Sau khi trẻ rửa tay xong, tôi cho trẻ quan sát lại hai chậu nước và so sánh để trẻ biết được đâu là nước sạch, đâu là nước bẩn giúp trẻ ý thức được cách giữ vệ sinh cơ thể. Từ đó, trẻ có ý thức phải giữ cho môi trường được sạch sẽ như không vứt rác, vứt đồ chơi bừa bãi, tham gia vệ sinh lau chùi sắp xếp đồ chơi ngăn nắp, bỏ rác vào thùng rác, biết đi vệ sinh đúng nơi qui định, giữ sạch sẽ nhà vệ sinh và rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh, tiết kiệm nước trong sinh hoạt hàng ngày, không để vòi nước chảy liên tục, thấy nước chảy tràn biết khoá vòi lại, giữ gìn đồ chơi. Trẻ có ý thức trong chăm sóc bảo vệ cây cối như tưới cây, làm cỏ. Khi cho trẻ tìm hiểu về môi trường tự nhiên tôi giải thích cho trẻ thấy được lợi ích và tác hại của gió, nắng, mưa. Các biện pháp tránh nắng, tránh gió, tránh mưa, không ngồi lâu chỗ có gió lùa, mặc ấm khi có gió rét,…

    Tôi xây dựng góc thiên nhiên phong phú, trong đó tôi trồng nhiều loại cây tạo điều kiện cho trẻ tham quan thực tế qua hoạt động phát triển nhận thức trẻ có thể tìm hiểu thêm về sự sinh trưởng của cây từ lúc ươm hạt, nẩy mầm, cho đến lúc cây phát triển giúp trẻ yêu thiên nhiên và giờ học của trẻ thêm sinh động. Tôi giáo dục cho trẻ lòng yêu thiên nhiên biết chăm sóc và bảo quản, giữ gìn môi trường xung quanh trẻ.

    hoạt động phát triển nhận thức: Cô cho trẻ làm thí nghiệm trồng cây con, thông qua đó giáo dục trẻ biết ích lợi của cây đối với đời sống của con người như là che bóng mát, giảm bụi, tiếng ồn, cho gỗ làm nhà, cho hoa để trang trí tạo cảnh đẹp, cho quả để ăn và một số cây còn dùng để làm thuốc chữa được nhiều bệnh, ngoài ra cây rừng còn giúp cản gió, bão, ngăn chặn lũ lụt.

    Nhìn thấy các tranh ảnh có mình, trẻ rất thích đến xem từ đó mà tôi phối hợp với cha mẹ trẻ giáo dục trẻ phải có ý thức giữ gìn trường, lớp sạch đẹp những cháu có ý thức tốt sẽ được tôi nêu gương trước các bạn trong mỗi tuần trẻ rất vui và các bạn trong lớp thấy được đó là hành vi tốt nên cũng thực hiện theo,…Chính vì muốn được nêu gương trẻ phải phấn đấu thực hiện tốt việc bảo vệ trường lớp xanh- sạch- đẹp. Dần dần, tôi hình thành được cho trẻ ý thức biết bảo vệ môi trường ngay tại trường, lớp của mình. Từ đó sẽ dễ dàng hình thành cho trẻ ý thức bảo vệ môi trường xung quanh. Tôi cũng tuyên truyền để cha mẹ trẻ biết để động viên trẻ thực hiện tốt hơn và nhắc nhở trẻ phát huy hơn thực hiện cả khi ở nhà, ở nơi công cộng.

    : Cha mẹ phải chú ý đến trẻ, khi ăn quà bánh xong trẻ phải biết bỏ rác đúng nơi quy định, không vứt rác xuống sông, ao hồ, luôn giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ, nhà cửa luôn được sạch sẽ thoáng mát và phải luôn nhắc nhở trẻ thường xuyên, tạo tình huống cho trẻ thực hành. Muốn làm được điều đó thì cha mẹ phải là người làm gương cho trẻ,… Ví dụ: Cháu ,… thường sắp xếp các đồ dùng của lớp ngăn nắp, trẻ luôn nhắc nhở các bạn phải bỏ rác đúng nơi, khi thấy rác trẻ tự nhặt rác và bỏ vào thùng rác, biết chăm sóc cây xanh. Vì vậy việc giáo dục cho trẻ có ý thức tốt về bảo vệ môi trường cũng rất cần sự kết hợp của cha mẹ trẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Tại Khu Du Lịch Hải Tiến
  • Giải Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Giải Pháp Quản Lý Và Khắc Phục Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Hướng Dẫn Lập Cam Kết Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Bảo Vệ Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường “xanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Chế Quản Lí Học Sinh Bán Trú
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Bán Trú Thông Qua Các Hoạt Động Ngoại Khóa Tại Trường Ptdtbt Thcs Bản Hon
  • Báo Cáo Tham Luận Về Mô Hình Bán Trú
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Quản Lý Hiệu Quả Các Hoạt Động Ngoại Khó Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Cho Học Sinh Bán Trú Tại Trường Ptdtbt Thcs Nhôn Mai
  • Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng, Chăm Sóc Học Sinh Bán Trú
  • Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới có thu nhập thấp với dân số đông, Việt Nam cũng là nước đang đối đầu với những vấn đề gay cấn do tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp và sự sa sút của chất lượng môi trường. Sau ba mươi năm chiến tranh ác liệt, nhân dân và chính phủ Việt Nam đã cố gắng nhiều để phát triển kinh tế, đồng thời bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Chiến lược Quốc gia về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã được phác ra từ năm 1985, sau đó đã đề ra chương trình hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững.

    Hiện nay có nhiều vấn đề về môi trường mà Việt Nam đang phải đối đầu, trong đó những vấn đề nghiêm trọng nhất là nạn phá rừng, sự khai thác quá mức tài nguyên sinh học, sự xuống cấp của tài nguyên đất, việc bảo tồn nguồn nước ngọt kém hiệu quả và nạn ô nhiễm môi trường gia tăng, đó là chưa kể đến tác động lâu dài của chiến tranh đến môi trường. Những vấn đề rắc rối nói trên đang ngày càng trầm trọng hơn do dân số tăng nhanh và nạn đói nghèo chưa được giải quyết một cách thấu đáo.

    Bởi vậy điều quan trọng nhất là phải biết đón trước những vấn đề môi trường có thể xảy ra mà công cuộc phát triển kinh tế đem lại; từ đó có những biện pháp đề phòng, giảm nhẹ hậu quả bằng cách thực hiện một chiến lược môi trường phù hợp với phát triển bền vững, thông qua việc sử dụng bền vững các tài nguyên thiên nhiên và lôi cuốn được đại bộ phận nhân dân tham gia vào việc bảo vệ môi trường và tài nguyên.

    Môi trường sống của chúng ta bao gồm đất, nước và không khí; tất cả được duy trì nhờ năng lượng Mặt Trời. Con người chỉ là một trong những quần thể sinh vật tồn tại trên Trái Đất, cũng tuân theo quy luật sinh ra, lớn lên và chết. Nhưng không giống như những loài sinh vật khác, con người đã phát triển một hệ thống kinh tế sử dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tận dụng hầu hết mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cũng thải ra môi trường sống đủ loại chất thải làm môi trường bị ô nhiễm. Con người đang gánh chịu hậu quả do chính mình gây ra.

    Làm thế nào để khắc phục tình trạng suy thoái, ô nhiễm môi trường nhằm đảm bảo sức khoẻ, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo đời sống lành mạnh, ấm no hạnh phúc cho mọi người đó không chỉ là trách nhiệm của các cấp lãnh đạo , Đảng, chính quyền, của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm của mọi người dân. Chỉ thị 36 CT/ TW của Bộ chính trị và công văn 1320/ CP của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh vai trò của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền và trách nhiệm của mỗi công dân trong công cuộc bảo vệ môi trường. Chỉ thị đã đề ra 6 nhiệm vụ cơ bản cần được thực hiện trong đó chương trình giáo dục môi trường đối với thanh thiếu niên.

    Giáo dục môi trường là quá trình nhằm phát triển ở trẻ sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề môi trường, dựa trên những tri thức đó mà hình thành thái độ, ý thức, trách nhiệm và kỹ năng hành động; để các em học sinh tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề môi trường trước mắt cũng như lâu dài về sau. Giáo dục môi trường là nhiệm vụ của chúng ta – những người làm công tác giáo dục. Môi trường là điều kiện sống còn và phát triển của toàn nhân loại, ” Hãy cứu lấy môi trường!” đang là tiếng kêu cấp thiết vang khắp địa cầu, đang được tổ chức quốc tế tích cực thực hiện; ngành Giáo dục – Đào tạo đã và đang cùng với nhiều ngành chức năng khác trong cả nước thực hiện nhiệm vụ này.

    Bằng những quyết định và hành động cụ thể, con người cần cải thiện môi trường sống của mình không chỉ cho hôm nay mà cho cả mai sau.

    Từ những hiểu biết và suy nghĩ trên, với trách nhiệmcủa người cán bộ quản lý trường học, chúng tôi luôn trăn trở làm thế nào để đáp ứng được một phần yêu cầu mà toàn cầu đang quan tâm nói chung và trong trường học nói riêng. Chúng tôi đã không ngừng cố gắng suy nghĩ và rút ra được kinh nghiệm nho nhỏ: “Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường “Xanh – sạch – đẹp” ở trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ” đạt kết quả tốt trong nhiều năm vừa qua đặc biệt là trong năm học 2005 – 2006 này.

    B. ĐẶT VẤN ĐỀ:

    Môi trường “Xanh- sạch – đẹp” là vô cùng cần thiết và hết sức quan trọng đối với cuộc sống chúng ta. Nó bảo đảm cho sự sống của chúng ta được tốt đẹp hơn. Giáo dục môi trường là một quá trình lâu dài, nó cần được bắt đầu ở tuổi mẫu giáo và tiếp tục được học trong những năm học phổ thông cũng như sau này trong suốt cuộc đời. Những trẻ em ở lứa tuổi tiểu học được giáo dục cách tôn trọng môi trường xung quanh sẽ góp phần giữ gìn môi trường trên toàn trái đất này. Đó cũng là lý do tại sao giáo dục môi trường được coi là yếu tố chủ chốt trong quá trình giáo dục phổ thông đặc biệt ỏ bậc tiểu học. Học sinh bậc tiểu học – Những người chủ tương lai của đất nước đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đối chiếu với thực trạng môi trường ở một số trường tiểu học thì sao?

    Thực trạng việc xây dựng môi trường “Xanh – sạch – đẹp“ở trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ

    1. Về phía nhà trường:

    – Trước đây trường được xây dựng trên một khu đất tạp lẫn nhiều sỏi đá và đất bạc màu. Do đó, cây trồng chậm phát triển, dễ hư hỏng do đất xấu, chăm sóc không được thường xuyên, cây bị thiếu nước và phần lớn nước giếng khoan lẫn độ phèn PH cao hoặc do giống cây chưa phù hợp với đất.

    – Cây vừa mới lớn đã bị sâu bệnh làm suy giảm sức phát triển của cây và kém mỹ quan. Không có người chuyên chăm bón cho cây.

    Tóm lại vùng đất của trường không phù hợp với sự phát triển của cây cỏ.

    – Trường vừa mới tách cơ sở vật chất còn thiếu thốn, Lãnh đạo nhà trường chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng môi trường cảnh quan trường học “Xanh – sạch – đẹp“.

    2. Về phía học sinh:

    Các em tuổi còn nhỏ, phần lớn chưa biết yêu quí, giữ gìn trường học xanh, sạch đẹp , chưa có thái độ thân thiện với môi trường như:

    – Trong sân trường, trước cổng trường còn hiện tượng giấy, lá, hộp gói quà bánh ăn sáng.

    – Cây cối, bồn hoa vẫn còn có em bẻ cành, hái hoa, dẫm chân lên thảm cỏ.

    – Học sinh khi rửa tay, chân ở vòi nước vẫn còn quên khoá máy…

    – Trường lớp học vẫn còn hiện tượng xé vở làm giấy nháp, gấp đồ chơi, giấy màu thủ công bỏ bừa bãi ngăn bàn, dưới lớp sau giờ học…

    – Tường còn bị bôi bẩn, cửa kính, cửa chớp dính đầy bụi bặm…

    3.Về phía phụ huynh học sinh:

    Một bộ phận phụ huynh học sinh chưa có nhận thức đúng về xây dựng trường “Xanh – sạch – đẹp“, tạo cảnh quan Sư phạm trong lành giúp con em mình học tốt nên khi đón con trời mưa vẫn “vô tư” phóng xe lên những thảm cỏ xanh mượt. Hơn nữa phụ huynh đóng trên địa bàn phường còn nghèo nên việc tham gia xã hội hoá giáo dục còn hạn chế.

    4. Về phía giáo viên:

    Một bộ phận giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc lồng ghép giáo dục môi trường, tích hợp từ các môn học vào giảng dạy hoặc có chú ý giáo dục môi trường nhưng nội dung còn nghèo, hình thức còn mang tính gượng ép, chưa đạt hiệu quả cao. Nhìn chung giáo viên chỉ chú ý đến giảng dạy mà không mấy quan tâm đến môi trường xung quanh lớp học, trường học. Cây trong lớp còn quên tưới, xem đó là nhiệm vụ của nhà trường. Đặc biệt hiện tượng lãng phí điện ở các lớp như khi trời sáng rõ, khi tan trường, giờ ra chơi vẫn không tắt điện, quạt trong lớp,…

    5. Việc phối hợp với các đoàn thể còn hạn chế như: chưa tổ chức được các nội dung và hình thức thi đua trong giáo dục bảo vệ môi trường giữa các tổ trực trong lớp và giữa các lớp trong trường.

    Những tồn tại nêu trên có nhiều nguyên nhân như việc học sinh chưa hiểu hết ý nghĩa, vai trò của môi trường đối với đời sống của con người, một bộ phận giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học cũng như về phía phụ huynh, một số ít xin cho con đi học vẫn kén chọn trường có cảnh quan sư phạm “Sáng – xanh – sạch – đẹp” nhưng chưa ý thức được việc làm của bản thân mình. Song về mặt chủ quan đó là công tác lãnh đạo, chỉ đạo về xây dựngtrường “Xanh – sạch – đẹp“, chưa có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm, tổ chức triển khai chưa đúng mức ( chỉ nặng về đánh giá ) của ngành, của Hiệu trưởng, của các đoàn thể, phụ huynh.. .Mặt khác các biện pháp triển khai lại thiếu đồng bộ.

    Do đó, việc lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học và một số hoạt động ngoại khoá là cách tiếp cận sẽ giáo dục cho học sinh có những quy định đúng đắn đối với môi trường trong nhiều tình huống khác nhau của cuộc sống. C. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Để giải quyết các thực trạng nêu trên cũng như để xây dựng môi trường, cảnh quan sư phạm trường học “Xanh – sạch – đẹp” và giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên ấy là một nội dung cơ bản, một mục tiêu quan trọng của công tác giáo dục môi trường cho học sinh theo yêu cầu hiện nay.

    Nội dung và yêu cầu xây dựng môi trường, cảnh quan sư phạm nhà trường học:

    Xanh – sạch – đẹp được thể hiện qua các tiêu chí trong chuẩn xanh hoá nhà trường kèm theo chỉ thị 22/ 1997/ CT – BGD&ĐT ngày 1/ 12/ 1997 của Bộ GD&ĐT v/v tổ chức hoạt động “Xanh hoá nhà trường” trong trường phổ thông và sau đó được chọn lọc phù hợp với tình hình thự tế nhà trường phổ thông trong tập “Thiết kế trường học xanh – sạch – đẹp” của chương trình phát triển của LHQ trong dự án VIE/ 98/ 018; đó là các tiêu chuẩn sau:

    1- Trồng cây.

    2- Xây dựng vườn trường.

    3- Giảm thiểu xói mòn đất.

    4- Quản lý rác thải.

    5- Đảm bảo các điều kiện vệ sinh ở các khu vệ sinh.

    6- Tiết kiệm điện nước.

    7- Xanh hoá lớp học và phòng làm việc của trường.

    8- Tổ chức các hoạt động vì môi trường.

    9- Theo dõi sự thay đổi môi trường của nhà trường.

    10- Phát huy ảnh hưởng tích cực của nhà trường đối với cộng đồng.

    11- Nơi có điền kiện xây dựng vườn sinh thái, hòn non bộ, rừng tự nhiên, ươm cây … v.v…

    Một số nội dung xây dựng và bảo vệ môi trường còn được hướng dẫn trong các tài liệu GD môi trường lồng ghép và ngay trong các tài liệu tổ chức sinh hoạt ngoại khoá “Vì môi trường” do Ngành GD – ĐT và các cơ quan hữu quan hướng dẫn.

    Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến xây dựng và bảo vệ môi trường nhà trường “Xanh – sạch – đẹp” thông qua các biện pháp cụ thể sau:

    * Biện pháp thứ nhất: Đối với Ban giám hiệu:

    Ngay từ đầu Ban giám hiệu chúng tôi đã tiến hành:

    1.Thành lập Ban chỉ đạo v/v xây dựng môi trường, cảnh quan sư phạm trường học “Xanh – sạch – đẹp” gồm Ban giám hiệu, Tổng phụ trách Đội, các tổ trưởng chuyên môn và đại diện Hội cha mẹ học sinh.

    2. Xây dựng kế hoạch: Từng bộ phận lên kế hoạch thực hiện: năm – tháng – tuần.

    3. Lập dự trù kinh phí.

    4. Tổ chức họp phân công và triển khai các tiêu chí.

    5. Tham mưu với các chính quyền địa phương, tuyêntruyền trong cộng đồng.

    6.1 Trồng cây

    6.2 Quản lý chất thải

    6.3 Giảm tiêu thụ

    6.4 Làm xanh phòng học

    6.5 Làm xanh văn phòng

    6.6 Một số hoạt động khác

    7. Kiểm tra – Đôn đốc – Đánh giá

    8. Tổng kết – Nhân điển hình.

    * Kiểm tra – Đôn đốc – Đánh giá kết quả: Đây là khâu rất quan trọng, qua kiểm tra hàng tuần, hàng tháng có sơ kết từng bộ phận và giao ban rút kinh nghiệm kịp thời những mặt còn hạn chế để đề ra biện pháp cần khắc phục.

    Để thực hiện tốt những vần đề nêu trên, trước hết Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đúng mức tạo ra sự chuyển biến tích cực sau mỗi năm học làm cho nhà trường ngày càng trở nên xanh – sạch – đẹp. Để kịp thời khắc phục thực trạng thứ nhất trường chúng tôi lựa chọn giống cây nhanh phát triển, toả nhiều bóng mát song vấn đề đặt ra là làm thế nào để thường xuyên duy trì được hệ thống cây xanh không bị hư hỏng, không có tình trạng chậm phát triển, khắc phục các loại bệnh của từng loại cây,.. Trường chúng tôi đã mời người của công ty cây xanh đến hướng dẫn việc chăm sóc, tưới bón cho lãnh đạo nhà trường cùng bộ phận bảo vệ. Sau khi nắm bắt được các biện pháp , kỹ thuật chăm sóc cây, lãnh đạo nhà trường họp bộ phận bảo vệ, phân công công việc, gắn trách nhiệm với từng thành viên. Bên cạnh đó cán bộ quản lý cũng có kế hoạch kiểm tra sâu sát, thường xuyên, kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót.Chuẩn bị cho khai giảng cũng như hàng tháng theo định kỳ trường có bón phân và thuốc trừ sâu bệnh cho cây cảnh và cây bóng mát.

    – Ban giám hiệu trưởng nhà trường đã chủ động chuẩn bị tốt kế hoạch nhằm tạo được sự chuyển biến cho mỗi năm học, môi trường trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ luôn có những thay đổi tích cực làm cho môi trường ngày càng xanh – sạch – đẹp.

    – Ngay sau khi chuẩn bị kết thúc học kỳ I, nhân dịp tổ chức cuộc họp phụ huynh học sinh toàn trường, Lãnh đạo nhà trường cùng giáo viên toàn trường đã làm tốt công tác “Xã hội hoá giáo dục”. Thực hiện lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu : “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”, “Vì lợi ích mười năm trồng cây”, nhà trường đã vận động trong phụ huynh học sinh mỗi lớp đầu tư một cây xanh để trang trí trong lớp học. Hưởng ứng phong trào “Xanh hoá lớp học” 100 % lớp tham gia tốt. Phụ huynh học sinh đã nhiệt tình hưởng ứng và hiểu được ý nghĩa thiết thực xây dựng môi trường “Xanh – sạch – đẹp” cho chính con em mình. Cũng từ đó không còn hiện tượng mỗi khi trời mưa phụ huynh phóng băng qua thảm cỏ nữa. Hiện nay, trường của chúng tôi còn tổ chức “Ngày hội vì môi trường” bao gồm nhiều hình thức phong phú, hấp dẫn nhằm lôi cuốn, giáo dục học sinh ý thức với môi trường mình đang sống như: Thi vẽ tranh, đóng các tiểu phẩm về môi trường,…

    *. Biện pháp thứ hai: Lồng ghép vào các môn học.

    Ngay từ đầu năm học sau khi lãnh đạo nhà trường sắp xếp xong công tác tổ chức biên chế lớp học, tổ chuyên môn và yêu cầu các tổ phân công mạng lưới chuyên môn và đồng thời phát cho mỗi tổ chuyên môn một bảng liệt kê giáo dục môi trường có thể khai thác từ sách giáo khoa. Tổ trưởng chuyên môn sẽ phát cho giáo viên phụ trách chuyên sâu rà soát chương trình từng môn và điền vào theo mẫu:

    Bộ môn Đạo đức – Lớp 2: Đã thu được bảng liệt kê như sau:

    Bộ môn Âm nhạc – Lớp 2: Đã thu được bảng liệt kê như sau:

    MÔN ÂM NHẠC – LỚP MỘT, BỐN MÔN ÂM NHẠC -LỚP BA, NĂM

    Với những bài dạy này chúng tôi yêu cầu giáo viên soạn giáo án điện tử để có nhiều hình ảnh động giúp học sinh nhận thức một cách thực tế hơn. Đây là những bài dạy về môi trường chứ không phải là lồng ghép.

    + Tên bài học cụ thể phần nào, mục nào?

    + Loại hình: cần lựa chọn 1 trong 2 loại hình (khai thác từ nội dung sách giáo khoa hay hoạt động ngoại khoá)

    + Mục đích của việc đưa nội dung giáo dục môi trường là gì ?

    Môn Đạo đức: “Bảo vệ cây và hoa nơi công cộng” – Trích đoạn từ giáo án của giáo viên Khối 1(Có giáo án minh hoạ).

    Ví dụ: Môn tự nhiên, xã hội (23): Sự kỳ diệu của lá cây – trích từ giáo án của giáo viên Khối 3 dự thi giáo viên giỏi cơ sở .

    (Có giáo án minh hoạ)

    * Song song với việc dạy giáo dục môi trường trong tiết chính khoá chúng tôi còn định hướng cho giáo viên mạnh dạn thiết kế những giáo án giáo dục môi trường thông qua hoạt động ngoại khoá đưa vào tiết HĐTT

    Xin trích dẫn 1 mẫu giáo án “Ngoại khoá” qua bài “Cây và hoa” của giáo viên Khối 1 (Có giáo án minh hoạ)

    Qua quan sát 100 % học sinh tham gia rất hào hứng và đặc biệt giáo viên cũng cảm thấy rất thoải mái bên học sinh so với trước đây giáo viên thấy “thu mình” trong bốn bức tường thì giờ đây tôi đã được nghe giáo viên tâm sự khi nói về học sinh của mình trong giờ ngoại khoá “Những em nhút nhát trong lớp đứng trước nhóm bạn đồng trang lứa và cô giáo như một người bạn lớn thì đã mạnh dạn bộc lộ tình cảm tư chất của mình đối với môi trường hàng ngày em học tập, vui chơi bằng những câu hỏi ngây thơ ngộ nghĩnh “Cô ơi, sao cây cỏ trong chậu hoa thì phải nhổ đi mà ở sân trường mình lại có thảm cỏ mọc đẹp như vậy mình có nhổ không cô?”; rồi thì “Vì sao lại thế” làm bất chợt chúng tôi nghĩ đến một đoạn trong lời một bài hát trong chuyên mục VTV1 phát cho thiếu nhi cách đây mấy năm “Sao không lại là thế này mà lại là thế kia”; “Vì sao lại thế”… Chúng ta phải tìm ra ngọn nguồn. Càng thêm hiểu biết chúng ta càng lớn khôn”. Việc đưa các em ra sinh hoạt tập thể ngoài trời để giáo dục môi trường chúng tôi thấy học sinh trở nên gắn bó với nhau hơn, việc giáo dục hiểu biết về môi trường trở nên gần gũi với các em hơn.

    *. Biện pháp thứ 3: Phối hợp với các đoàn thể .

    1/ Đối với giáo viên Tổng phụ trách Đội:

    Đã nhiều năm nay bất cứ ai đặt chân đến trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ chúng tôi chắc hẳn không khỏi ngạc nhiên bởi một môi trường trong lành, một môi trường không hề có giấy, rác hay lá cây rơi xuống sân trường. Đơn giản thôi, trường của chúng tôi đã thực hiện tốt “Hồi trống vì môi trường” đấy! Cứ trước giờ vào học 20 phút, đến trường chúng tôi là các bạn sẽ được nghe và được nhìn thấy một cảnh sinh hoạt hết sức bình thường nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Mỗi buổi sớm mai khi hồi trống trường vang lên là lúc những cô bé, cậu bé toàn trường nhanh tay nhặt hết lá vàng rơi gom vào thùng rác; chỉ trong vòng 5 phút là sân trường lại khoác một tấm áo mới lại mang một gương mặt mới với một dáng vẻ mới. Rồi tất cả các em học sinh lại rửa tay vào lớp truy bài, chắc chắn em nào cũng cảm thấy khoan khoái dễ chịu đầy cảm hứng để chuẩn bị cho một buổi học mới. Một việc làm cứ lặp đi, lặp lại tưởng chừng như nhàm chán nhưng không, cứ mỗi ngày một chút nó thấm sâu vào trong trí não trẻ thơ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Chúng tôi giáo dục học sinh theo khẩu hiệu sau:

    “Một người không thể ngăn được lũ Một người không thể ngăn được bão Nhưng một người có thể trồng được một cây, lượm được một cái rác”

    – Bên cạnh việc thực hịên tốt “Hồi trống vì môi trường” năm học này học sinh mỗi lớp còn làm tốt việc chăm sóc cây cảnh trong lớp cũng như ở sân trường. Mỗi cây trên sân trường đều được mang trên mình một biển hiệu “Cây xanh lớp …”, các em tự nguyện chăm sóc và bảo vệ, đặc biệt không có hiện tượng bứt lá, bẻ cành hay giẫm chân lên những thảm cỏ xanh mượt bên gốc cây.

    – Đó là ngoài sân trường còn trong lớp học thì sao ? Ngay từ đầu năm học giáo viên Tổng phụ trách Đội Phát động phong trào Kế hoạch nhỏ thông qua việc phát cho mỗi lớp một thùng giấy để cuối lớp nhằm quản lý rác thải sạch, thu gom giấy vụn sau các giờ thủ công hoặc vở nháp đã hết,…Tiền bán được làm quỹ khen thưởng cho những lớp, cá nhân trong các cuộc vui về giáo dục môi trường…

    Ví dụ trò chơi 1: Nghe nhạc đoán tên giai điệu bài hát: “Các bài hát nói về các loài cây” .Trò chơi này có thể một khối hoặc toàn trường, ngoài trời hoặc trong lớp đều được cả.

    * Mục tiêu: Gợi cho học sinh nhớ lại những loài cây và ích lợi của cây qua những khúc ca gần gũi với các em.

    * Cách tiến hành: Giáo viên bật nhạc, Học sinh toàn trường lắng nghe tên bài hát hoặc hát một vài câu trong bài hát đó, học sinh nào biết thì giơ tay.

    Mục tiêu: Hoc sinh biết hát các bài hát về các loài cây, từ đó các em thấy yêu hơn cây cối xung quanh mình.

    Ví dụ trò chơi 3: Giải ô chữ kì diệu

    Câu hỏi gợi ý:

    1/ Từ có 5 chữ cái, đây là một phương tiện giao thông không gây ô nhiễm môi trường: (Xe đạp)

    3/ Từ có 4 chữ cái, trong sinh hoạt hằng ngày, thứ gì đượcdùng vào viêc: nấu ăn, tắm rửa, giặt giũ…: (nước)

    4/ Từ có 8 chữ cái, đây là một vật dung để đựng những đồ phế thải: (Thùng rác).

    5/ Từ có 6 chữ cái, để môi trường của chúng ta luôn luôn được sạch sẽ thì chúng ta cần phải làm gì? (Vệ sinh)

    6/ Từ có 7 chữ cái, tên của hành tinh chúng ta đang sống là gì? (Trái Đất).

    7/ Từ có 11 chữ cái. cứ mỗi dịp xuân về chúng ta lại có phong trào gì? (Tết trồng cây)

    8/ Từ có bảy chữ cái, đây là một thứ có thể toả bong mát, góp phần rất lớn làm cho bầu không khí thêm trong lành và còn làm giảm tiếng ồn: (Cây xanh)

    9/ Từ có 3 chữ cái, một trong yếu tố rất quan trọng để cây sống được? (Đất)

    10/ Từ có 10 chữ cái, chúng ta thường thu gom giấy loại để xây dựng quỹ, đó là phong trào gì? (Kế hoạch nhỏ)

    11/ Từ có 9 chữ cái, đây là một loài cây có hoa đỏ, nở và mùa hè, rất than thiện với tuổi học trò: (Cây phượng)

    • Từ khoá của ô chữ: “Xanh- sạch- đẹp”.
    • Ngoài ra có thể sưu tầm nhiều ô chữ về chủ đề môi trường mà từ khoá là: “Chăm sóc, bảo vệ “…
    • Giáo viên chốt lại:

    Môi trường là tập hợp tất cả những gì chúng ta thấy được hoặc cảm nhận được ở xung quanh chúng ta, như các thành phần tự nhiên và thành phần nhân tạo, ảnh hưởng đến đời sống, sự tồn tại và phát triển của con người.

    * Ở những tháng chủ điểm, nhân dịp chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20 – 11, nhà trường còn phối hợp với trưởng ban Mỹ thuật phát động phong trào giữ gìn vệ sinh trường lớp thông qua cuộc thi “Viết, vẽ về thầy cô – mái trường mến yêu của em”. Kết quả 129 học sinh tham gia, trong đó có 60 đề tài vẽ về chúng em làm tốt phong trào “Hồi trống vì môi trường”.

    D. KẾT QUẢ:

    – Việc giáo dục môi trường đã mang lại cho các em học sinh tình cảm và trách nhiệm đối với môi trường xung quanh mình, đặc biệt là trường, lớp – ngôi nhà thứ hai của em.

    – 100 % học sinh thấy rõ tác dụng của việc giữ gìn vệ sinh trường lớp luôn luôn xanh – sạch – đẹp. Mỗi học sinh đều xác định được việc mình làm: bảo vệ giữ gìn cho trường lớp sạch đẹp là làm tăng sức khoẻ, cho các em học tập tốt hơn và cũng là làm đẹp thêm cho quê hương đất nước.

    – Qua kiểm tra đánh giá về y tế học đường của đoàn y tế Quận vừa qua cũng đánh giá rất tốt về vệ sinh học đường của trường của trường chúng tôi.

    – Đa số giáo viên đã vận dụng một cách linh hoạt, khéo léo việc dạy lồng ghép, tích hợp việc giáo dục môi trường vào các môn học. Trong năm học này có 42 giáo án dạy về giáo dục môi trường và dạy lồng ghép giáo dục môi trường. Đặc biệt đợt dự thi giáo viên giỏi cơ sở vừa qua đã có 7/ 14 giáo án thể hiện thành công việc giáo dục yếu tố môi trường qua các môn học Đạo đức, Tự nhiên & xã hội từ lớp 1 đến lớp 5 được đánh giá rất tốt.

    – Trường Huỳnh Ngọc Huệ chúng tôi luôn là điểm đến của các hội thi, hội nghị của Sở, của Phòng GD&ĐT, của phường Hoà Khê …, luôn được bạn bè đồng nghiệp cũng như khách đánh giá rất cao về sự thay đổi từng ngày về cảnh quan trường học xanh – sạch – đẹp,

    E. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

    – Giáo dục môi trường là một quá trình lâu dài, nó cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, phải làm từ lứa tuổi mẫu giáo tới khi trưởng thành để tạo những hành vi tốt đẹp và trách nhiệm đối với môi trường và nhất là giáo dục cho học sinh ý thức tự giác ngay từ khi các em mới đăt chân đến trường.

    – Bộ phận chuyên môn cần chỉ đạo sâu sát đến từng tổ chuyên môn và quan tâm đúng mức đến việc dạy lồng ghép, tích hợp thông qua nhiều môn học bằng nhiều hình thức có tính linh hoạt, thích ứng với nhiều con đường lĩnh hôi, theo những cách thức khác nhau nhưng đều đi đến một mục tiêu chung là làm rõ khái niệm xanh sạch đẹp cho học sinh và cung cấp cho học sinh các kiến thức cũng như giáo dục ý thức tự giác để từ đó các em xem đó là trách nhiệm của mỗi người.Trường học là nơi các em học tập, vui chơi hằng ngày – là mái nhà thứ hai của các em.

    – Lãnh đạo nhà trường cần phối hợp với các đoàn thể như Hôi cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác phân công học sinh chăm sóc cây xanh ở trong lớp cũng như ỏ sân trường, phải thường xuyên kiểm tra đánh giá khen thưởng kịp thời những cá nhân và tập thể đồng thời vận động, tuyên truyền những cá nhân và tập thể khắc phục những tồn tại, phát huy tốt các thành quả mà tập thể nhà trường đã dày công gây dựng.

    – Người giáo viên cần nắm vững mục tiêu về giáo dục môi trường mà mỗi hoạt động cần đạt tới là: giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó ( nhận thức); những khái niệm cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường ( thái độ, hành vi); những kỹ năng giải quyết cũng như thuyết phục các thành viên cùng tham gia ( kỹ năng); tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề môi trường và có hành động thích hợp giải quyết vấn đề ( tham gia tích cực)

    -Trong giảng dạy người giáo viên cần hết sức chú ý khi sử dụng đồ dùng dạy học đặc biệt là mẫu vật thật.Chẳng hạn khi dạy bài ” Cây bạch đàn”

    giáo viên không nên có nhiều cây bạch đàn con đến lớp để phát cho học sinh quan sát. Giáo viên chỉ cần sử dụng một cành của cây bạch đàn song giáo viên cũng cần phải lưu ý học sinh rằng: Bình thường chúng ta có nên bẻ cành hái lá không? Đúng vậy chúng ta không nên làm điều đó. Riêng hôm nay vì lớp ta đang cần tìm hiểu về cây bạch đàn nên cô đã phải làm cái việc bình thường không nên làm. Nhưng các em thấy đó, cô cũng chỉ bẻ một cành nhỏ…” Bởi vì nếu không xử lý cẩn thận chúng ta sẽ rất dễ đi ngược lại mục đích cơ bản của giờ dạy.

    -Chỉ đạo Ban hoạt động ngoài giờ để tổ chức các hình thức hoạt động tập thể vui tươi và hấp dẫn nhằm giáo dục môi trường đến với các em một cách tự nhiên nhất, nhẹ nhàng mà hiệu quả nhất ….

    Tóm lại: là những người cán bộ quản lý trường học với mong muốn xây dựng một ngôi Huỳnh Ngọc Huệ “Xanh- sạch- đẹp” góp phần làm đẹp thêm cho quê hương đất nước, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm đã nêu trên và đã áp dụng đạt kết quả tốt. Đây cũng là một kinh nghiệm nhỏ: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường “Xanh – sạch – đẹp” ở trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ” đạt kết quả tốt trong nhiều năm vừa qua đặc biệt là trong năm học 2005 – 2006 này, có thể không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi vô cùng biết ơn sự góp ý chân thành của các cấp lãnh đạo và quý thầy cô để chúng tôi ngày càng có nhiều kinh nghiệm tốt hơn.

    Thanh Khê, ngày 9 tháng 1 năm 2006

    Đồng tác giả

    Vương Thị Vân – Trần Thị Minh Hà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 59. Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Lý Thuyết Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Môn Sinh Học Tiếng Anh Là Gì Và Cánh Cửa Đại Học Mở Rộng
  • Chế Phẩm Sinh Học Tiếng Anh Là Gì Vậy?
  • Trả Lời Câu Hỏi Sinh 12 Bài 44 Trang 197
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nâng Cao Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Vệ Sinh Môi Trường Trong Thi Công Dự Án Xây Dựng
  • Biện Pháp An Toàn Lao Động Vệ Sinh Môi Trường
  • Kế Hoạch Quản Lý Môi Trường Xây Dựng
  • Biện Pháp Cải Tạo Đất Phèn Hữu Ích Cho Người Nông Dân
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON I. ĐẶT VẤN ĐỀ : 1. Lý do chọn đề tài. Theo điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới 34 % trẻ em bị bệnh và 36 % trẻ em dưới 14 tuổi bị chết trên thế giới là do biến đổi các yếu tố về môi trường, 1/3 bênh bùng phát ở trẻ em toàn cầu là do biến đổi các yếu tố về không khí, đất, nước và thực phẩm. Các thảm họa thiên nhiên như lốc xoáy, cháy lớn... có thể gây sang chấn động tâm thần mạnh với trẻ em khi các trẻ em phải chứng liến cảnh mất đi người thân, nhà cửa bị tàn phá, mắc bệnh nhiễm khuẩn... Tỷ lệ mắc bệnh hen toàn cầu đã tăng gấp đôi trong 15 năm qua do tăng ô nhiễm môi trường, 5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong mỗi năm do bệnh sốt rét... môi trường ảnh hưởng rất lớn đối với trẻ em. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục bảo vệ môi trường, Đảng, Nhà nước và Bộ GD & ĐT đã ban hành nhiều văn bản, tạo điều kiện cho công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Ngày 21 tháng 4 năm 2006 Vụ Giáo dục mầm non đã có công văn hướng dẫn thực hiện chỉ thị 02/2005/BGD&ĐT về việc: "Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non giai đoạn "2005 -2010". Công văn đã đề ra nhiệm vụ cho các các cơ sở giáo dục Mầm non tham gia vào công tác giáo dục bảo vệ môi trường từ đó trẻ hiểu biết về môi trường, giúp trẻ có hành vi, thái độ ứng xử phù hợp với môi trường để gìn giữ BVMT, biết sống hòa nhập với môi trường nhằm đảm bảo phát triển lành mạnh. Trẻ biết môi trường xung quanh trẻ bao gồm những gì? Trẻ biết phân biệt được môi trường xung quanh trẻ, những việc làm tốt - xấu đối với môi trường và làm gì để bảo vệ môi trường?. Hay cũng có thể giáo dục trẻ cách chăm sóc giữ gìn sức khỏe cho bản thân trẻ, biết chăm sóc và bảo vệ cây cối, bảo vệ con vật nơi mình ở. Biết về một số ngành nghề, văn hóa, phong tục tập quán của địa phương, xây dựng cho trẻ niềm tự hào và ý thức gìn giữ bảo tồn văn hoá dân tộc. Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ ở đơn vị tôi phụ trách đã được chú trọng song kết quả chưa cao: Phụ huynh còn xem nhẹ việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ nên sự phối hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ còn khó khăn. Một số trẻ ở lớp tôi phụ trách ý thức bảo vệ môi trường của trẻ còn kém, trẻ chỉ làm khi người lớn yêu cầu, chưa có tính tự giác nên tôi rất lo lắng về vấn đề ý thức BVMT của trẻ. Xuất phát những lý do trên tôi đã giành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm ra một số biện pháp "Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5- 6 tuổi trong trường mầm non" 2. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non tôi đang công tác. 3. Xác định mục tiêu nghiên cứu Tìm ra một số biện pháp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non. Giúp cho giáo viên có những kinh nghiệm trong việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ từ đó hình thành cho trẻ ý thức tốt trong việc bảo vệ môi trường. 4. Xây dựng giả thiết nghiên cứu: Nếu các giải pháp giúp trẻ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường được áp dụng hiệu quả thì trẻ biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ thể và trí tuệ.Tôi tin chắc rằng thế hệ trẻ sau này sẽ có ý thức bảo vệ môi trường tốt. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực thi đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp điều tra giáo dục. - Phương pháp quan sát sư phạm. - Phương pháp thực hành, thực nghiệm sư phạm. - Phương pháp điều tra thực trạng học sinh 6. Dự báo những đóng góp của đề tài: - Việc áp dụng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) giúp giáo viên thực hiệc các nội dung giáo dục một cách nhạy bén, linh hoạt, không trùng lặp, không gây quá tải, tận dụng nguồn nguyên vật liệu phế thải có sẵn để biến những dụng cụ dạy và học đơn giản nhưng mang tính khoa học và sáng tạo để trẻ thực hành và trải nghiệm một cách thoải mái và không gượng ép. - Nâng cao nhận thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm. - Kết hợp cùng phụ huynh tham gia nhiều phong trào xây dựng môi trường trong sạch, tham gia đóng góp phế liệu làm đồ dùng đồ chơi. Phụ huynh hiểu được ý nghĩa của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ. - Tạo cho trẻ thói quen nề nếp, sự hứng thú, sáng tạo linh hoạt cho trẻ vào các tiết học II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. CƠ SỞ KHOA HỌC 1.1. Cơ sở lý luận: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người. Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và sự phát triển kinh tế văn hoá của đất nước, của nhân loại. Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn và khắc phục hậu quả mà con người hay thiên nhiên gây cho môi trường. Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là quá trình giáo dục có mục đích nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, có sự quan tâm đến vấn đề môi trường phù hợp với lứa tuổi, được thể hiện qua những kiến thức, thái độ hành vi của trẻ đối với môi trường xung quanh. Vấn đề ô nhiễm môi trường đang diễn ra liên tục ở tất cả các nước trên thế giới, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới toàn cầu như tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước, hạn hán lũ lụt ...xảy ra liên tục mà gần đây nhất như Trung Quốc đang trả giá cho tình trạng ô nhiễm làm ảnh hưởng tới sức khoẻ. Nhân tố con người là yếu tố chính làm cho tình trạng ô nhiễm càng ra tăng trầm trọng nhưng chính con người cũng là nhân tố bảo vệ môi trường và cải thiện môi trường sống. Môi trường sống của con người là vũ trụ bao la, trong đó hệ mặt trời và trái đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp rõ nét nhất. Môi trường thiên nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên; đất, nước, không khí, ánh sáng ...tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người. Môi trường nhân tạo gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội do con người tạo nên, chịu sự chi phối của con người. Môi trường xã hội bao gồm mối quan hệ giữa người với người. Những vấn đề môi trường này nó cùng nhau tồn tại, xen lẫn và tương tác chặt chẽ vào nhau. Đặc biệt hơn hiện nay sự bùng nổ dân số cùng với quá trình đô thị hóa nhà máy, xí nghiệp đã tạo ra nhiều khí thải .....đang xâm nhập và làm ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của con người. Hoạt động bảo vệ môi trường là khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, ứng phó sự cố môi trường; là giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp. Ngày nay chúng ta không chỉ đào tạo những con người có trí thức có khoa học có tình yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, yêu lao động mà còn tạo nên những con người biết yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, giầu mơ ước, sáng tạo và còn biết nhìn xa trông rộng. Những phẩm chất ấy con người phải được hình thành từ lứa tuổi mầm non, lứa tuổi hứa hẹn bao điều tốt đẹp trong tương lai. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Vấn đề giáo dục trẻ mầm non ý thức bảo vệ môi trường được thực hiện trong các hoạt động hàng ngày của trẻ tại lớp. Từ lúc đón trẻ, đến các hoạt động học, hoạt động chơi, ăn, ngủđều được giáo viên thực hiện lồng ghép việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ. Như những năm trước tại lớp tôi phụ trách cũng đã thực hiện một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường như thông qua tranh ảnh, tôi đàm thoại cùng trẻ về hành động, việc làm của các bạn nhỏ về ý thức BVMT ( bỏ rác vào thùng, trồng cây). hay tổ chức các buổi lao động dọn sân trường, giao nhiệm vụ cho từng nhóm trẻ, hay giáo dục trẻ ý thức BVMT thông qua trò chơi nhưng đạt hiệu quả chưa cao. Trẻ chỉ nhớ được lúc đó nhưng sau thì lại quên ngay, và khi lao động thì trẻ làm một cách miễn cưỡng, coi đấy là nhiệm vụ của mình phải làm. 2. THỰC TRẠNG TRƯỜNG LỚP 1. Thuận lợi: 1.1. Về cơ sở vật chất - Được sự quan tâm giúp đỡ từ phía phòng GD & ĐT, của Ban giám hiệu nhà trường cùng với phụ huynh học sinh đã giúp đỡ về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ, lớp tôi được trang bị đầy đủ đồ dùng đồ chơi theo Thông tư 02, môi trường an toàn và thân thiện. - Trường, lớp rộng rãi, thoáng mát, có hệ thống thoát nước phù hợp nước và rác thải được xử lý hợp vệ sinh và kịp thời, trường có đầy đủ dụng cụ lao động trong và ngoài lớp: chổi, thùng rác hàng năm nhà trường chi ra một số tiền mua sắm, tu sửa dụng cụ lao động. 1.2. Học sinh Lớp tôi phụ trách có 27 cháu (trong đó có số lượng trẻ nam 14, trẻ nữ 13 cháu), tất cả trẻ đều phát triển bình thường, nhanh nhẹn, hoạt bát. 1.3. Phụ huynh Tất cả phụ huynh rất quan tâm đến con em mình, thường xuyên đưa đón trẻ đi học chuyên cần và trao đổi tình hình sức khỏe, học tập, vui chơi của trẻ khi ở nhà cũng như ở trường với giáo viên phụ trách lớp. 1.4. Giáo viên - Bản thân tôi đã được đào tạo đạt trình độ Đại học, có tinh thần học hỏi, nhiệt tình trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ, luôn tìm tòi vận dụng các phương pháp, hình thức đổi mới vào các hoạt động nhằm thu hút trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động - Được học tập đúc rút kinh nghiệm qua thăm lớp dự giờ đồng nghiệp - Bản thân được trực tiếp tham dự các chuyên đề giáo dục mầm non do Phòng GD&ĐT tổ chức, trong đó có chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non, giáo dục trẻ ứng phó với biến đổi khí hậutôi biết thiết kế bài giảng điện tử trong giảng dạy gây hứng thú cho trẻ, giúp trẻ nắm vững kiến thức. Bên cạnh những thuận lợi, còn không ít mặt khó khăn trong việc nâng cao ý thức BVMT cho trẻ. 2. Khó khăn: 1.1. Cơ sở vật chất - Trường mầm non còn ở 2 điểm, chưa có đầy đủ các phòng chức năng và diện tích phòng sinh hoạt chung, công trình vệ sinh, phòng kho của các lớp đang còn chật hẹp. - Vườn cây ăn quả, bồn hoa cây cảnh của nhà trường quy hoạch chưa được đẹp. 1.2. Học sinh - Một số trẻ chưa có ý thức bảo vệ môi trường : Như còn giẫm đạp lên vỏ sữa, vỏ bim bim ... và coi đó là trò chơi hấp dẫn. Hay nhiều lúc trẻ vẫn chạy một cách vô tư chưa biết nhặt rác ngay dưới chân mình để bỏ vào thùng, chơi chạy quá đà giẫm hết cả lên vườn hoa của trường, thậm chí còn bẻ cành cây, bẻ hoa vườn trường, đi vệ sinh, rửa tay chưa biết khoá vòi nước lại..... 1.3. Phụ huynh Là một xã thuộc miền núi, hầu hết phụ huynh là nông dân, làm ruộng nên họ nhận thức rằng: Việc giáo dục con cái chỉ là dạy trẻ học đếm, học chữ cái còn việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ là việc làm không cần thiết và họ nhận thức bảo vệ môi trường không phải trách nhiệm của họ. 3. Khảo sát điều tra ban đầu: Bảng khảo sát đầu năm về thói quen, ý thức bảo vệ môi trường của trẻ Tổng số trẻ được khảo sát: 27 trẻ 5 tuổi TT Các hành vi đánh giá Kết quả đánh giá Tỷ lệ Số lượng trẻ đạt được 1 Biết chăm sóc và bảo vệ cây, chăm sóc và bảo vệ vật nuôi. 19 / 27 70 % 2 Biết giữ gìn trật tự,vệ sinh công cộng, vệ sinh trường lớp 18 / 27 67 % 3 Biết cất dọn đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định 21 / 27 78 % 4 Tự giác gom rác vào thùng 13 / 27 48 % 5 Phân biệt được những hành động đúng, hành động sai với môi trường 17 / 27 63 % 6 Biết tiết kiệm điện, nước khi sử dụng và tắt khi không sử dụng 12 / 27 44 % 7 Nhắc nhở mọi người không được xả rác bừa bãi 11 / 27 41 % Từ những kết quả khảo sát như trên tôi luôn suy nghĩ và trăn trở xem mình phải làm gì và làm thế nào để nâng cao kết quả giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ đồng thời nhắc nhở cả phụ huynh, đánh thức ở họ ý thức bảo vệ môi trường, hãy sống cho mình và cả tương lai của con em mình sau này. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau đây: 3. NHỮNG BIỆN PHÁP 3.1. Xây dựng trường học an toàn toàn diện Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyên chịu tác động bởi thiên tai. Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi thiên tai xảy ra. Do đó, cần cần đầu tư xây dựng trường học an toàn sẽ giảm thiểu nguy hiểm, mất mát về tính mạng, tài sảndo thiên tai và biến đổi khí hậu. Trường học được xây dựng an toàn: vật liệu, kỹ thuật, lối thoát hiểm Đưa nội dung GD ứng phó với BĐKH và phòng chống thiên tai vào công tác quản lý thường xuyên tại trường. Có kế hoạch dự phòng, hàng năm nhà trường tổ chức diễn tập về ứng phó với biến đổi khí hậu cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, phụ huynh và học sinh. Bằng mọi hình thức giáo dục giảm nhẹ rủi ro thiên tai trong trường học: Đưa nội dung GD ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường tích hợp vào trong các hoạt động giáo dục của trẻ. Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho GV, nhân viên, học sinh về việc BVMT và ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm hướng tới một trường học an toàn toàn diện. 3.2. C" g­¬ng mÉu chuÈn mùc: Sự gương mẫu của cô và những người xung quanh ¶nh h­ëng rÊt lín ®èi víi trÎ. Đặc điểm của trẻ là hay bắt chước, có thể bắt chước cái đúng, cái tốt, nhưng cũng có thể bắt chước cái sai, cái xấu. Vì vậy cô giáo và mọi người xung quanh cần thực hiện triệt để lời nói phải đi đôi với việc làm để thực sự là tấm gương sáng cho các cháu noi theo. Cô và mọi người quanh trẻ tích cực bảo vệ môi trường : Vệ sinh trường lớp sạch sẽ, gọn gàng; sử dụng điện nước tiết kiệm, hiệu quả; chăm sóc cây trồng vật nuôi thì trẻ sẽ bắt chước và làm theo những hành vi tốt của người lớn. Thông qua hoạt động học: Trẻ được tham gia nhiều vào các hoạt động khác nhau: khám phá khoa học, âm nhạc, làm quen tác phẩm văn học, tạo hình...mỗi hoạt động trên đều có những đặc trưng riêng và có ưu thế khác nhau như: trẻ quan sát, đàm thoại, thực hành trải nghiệm, thí nghiệm, chơi các trò chơi.....với trẻ để trẻ nhận ra được những việc làm tốt, không tốt, những hành động đúng - hành động không đúng kích thích trẻ suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, có thái độ phù hợp với môi trường trong và ngoài lớp học. Ví dụ: Tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi " Chọn những hành vi đúng - sai": Cô làm tranh vẽ về việc giữ gìn bảo vệ môi trường của một bạn nhỏ như: bé vứt rác vào thùng, vứt rác bừa bãi, bé quét nhà, giẫm lên cỏ, bé đu cành cây, bé ngồi lên bàn, bé tranh giành đồ chơi...Sau đó chia trẻ làm hai đội, mỗi đội có một bức tranh yêu cầu trẻ phải bật qua các vòng và yêu cầu một đội đánh dấu X vào vòng tròn các hành vi đúng và một đội đánh dấu nhân vào vòng tròn những hành vi sai. Thời gian sau một bản nhạc đội nào khoanh được đúng theo yêu cầu là chiến thắng. Trò chơi " Chọn những hành vi đúng - sai" Tôi cho trẻ xem tranh ảnh, đoạn băng tình huống : Bạn ngắt hoa bẻ cành, bạn giẫm lên hoa, bạn vứt rác bừa bãi sau đó hỏi trẻ " Con sẽ làm gì nếu con gặp bạn nhỏ đó?" * "Chủ đề: Bản thân": Mục đích là giáo dục trẻ biết ích lợi của việc giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường đối với sức khoẻ con người. Trẻ có hành vi và thói quen tốt trong ăn uống: mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt ngoài đường...Nhận biết ký hiệu thông thường: nhà vệ sinh nam, nữ, thùng đựng rác.. và biết một số vật dụng, nơi nguy hiểm đối với bản thân: dao, kéo, ổ cắm điện, ao, hồ... Trẻ chú ý quan sát những việc làm của người lớn: Khi ra khỏi nhà phải tắt thiết bị điện, nước khi không sử dụng, trẻ có thái độ không đồng tình với người không biết tiết kiệm điện nước Giờ học khám phá khoa học: "Năm giác quan của bé". Cho trẻ kháchm phá thực hành trải nghiệm các giác quan và qua đó giáo dục trẻ biết chăm sóc giữ gìn đôi mắt ( không dụi tay bẩn lên mắt, rửa mặt hàng ngày bằng nước và khăn sạch ). Giáo dục trẻ biết giúp đỡ những bạn bị khiếm thị, bị cận... không cho tay bẩn vào tai, không dùng que ngoáy tai của mình và của bạn, khi tắm gội chú ý không để nước chui vào tai... biết đội mũ ô khi ra nắng và đeo khẩu trang, thường xuyên đánh răng và không ăn những thức ăn quá nóng, quá lạnh phải giữ vệ sinh răng miệng hàng ngày, tiết kiệm nước khi rửa tay và đánh răng... Hay tiết hoạt động âm nhạc bài hát " Cùng nhau bảo vệ môi trường" nhạc và lời nước ngoài: (Jang Young Song) tôi còn GDBVMT cho trẻ bằng cách giáo dục trẻ qua bài hát: Cô hỏi: Trong bài hát, rác trước khi vứt vào thùng phải làm gì?( Phải phân loại rác) Bài hát nên khuyên chúng ta nên phân loại rác trước khi cho vào thùng rác, phải luôn ý thức sử dụng lại các đồ vật có thể dùng được. *"Chủ đề: Gia đình'': Nhận biết môi trường gia đình bao gồm: Các phòng ở, nhà vệ sinh, sân vườn, nguồn nước, các đồ dùng và sự sắp đặt trong gia đình. Trẻ thấy được sự thay đổi của môi trường xung quanh nhà của trẻ, nhận biết được môi trường sạch: Các phòng ở, nhà vệ sinh, chuồng gia súc, sân vườn, nguồn nước, các đồ dùng được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, không bụi, không khói và không có tiếng ồn, môi trường bẩn trong gia đình: Nhà ở, sân vườn không được quét dọn, đồ dùng đồ chơi không được lau chùi và sắp xếp gọn gàng, bụi bẩn và trẻ biết tác hại của môi trường bẩn đối với con người. Từ đó, trẻ biêt quý trọng giữ gìn đồ dùng trong gia đình, cất đồ dùng, đồ chơi đúng chỗ, bỏ rác đúng nơi quy định, không khạc nhổ bừa bãi...có ý thức về những điều nên làm như: khoá vòi nước không sử dụng, tắt điện khi ra khỏi phòng, giúp đỡ bố mẹ những công việc vừa sức giúp môi trường sống của gia đình xanh, sạch đẹp như: quét nhà, tưới cây Tiết KPKH: "Đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình bé" Trẻ biết một số đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình như: bóng điện để thắp sáng, quạt, tivi, đài, tủ lạnh, ấm điện... Cô giáo dục trẻ những kỹ năng sử dụng đồ dùng bằng điện đúng cách vừa tiết kiệm lại có thể bảo quản đồ dùng, tránh được những vấn đề gây cháy nổ hay nguy hiểm khác.Cô đưa ra các tình huống nhằm lồng ghép nội dung "Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả" như khi ra khỏi phòng các con phải làm gì? ( Tắt đèn, tắt tivi, quạt...) * "Chủ đề: Thế giới thực vật": Giáo dục trẻ biết quá trình phát triển của cây ích lợi của cây xanh với môi trường sống và biết chặt phá rừng bừa bãi làm cho môi trường ô nhiễm, thiên tai xẩy ra nhiều và nghiêm trọng ảnh hưởng tới đời sống của con người. Tôi cho trẻ chuẩn bị đồ dùng chai dầu ăn, dầu xả... cắt thành những hình ngộ nghĩnh, hấp dẫn và cho trẻ làm thí nghiệm " Trồng cây" Chậu trồng cây được làm từ chai, lọ Trẻ được tự tay gieo trồng và mục đích của tôi là trẻ được thực hành, tìm hiểu và hàng ngày quan sát chăm sóc để trẻ biết quá trình phát triển của cây. Sưu tầm bài hát, bài thơ, câu đố, hò vè... về các loài cây để trẻ biết được ích lợi của cây đối với con người từ đó trẻ có thái độ yêu quí biết chăm sóc bảo vệ cây xanh.( không bứt lá, bẻ cành, lá, hoa, không giẫm lên cỏ, hoa...). Bên cạnh đó tôi mở rộng tìm những video về những cây thực vật sống trong lòng Đại Dương, biển, đảo cho trẻ tìm hiểu và cung cấp cho trẻ thấy được môi trường biển đang bị ô nhiễm do khai thác chặt phá cây trồng ven biển và các loại tảo, rong biển quá mức.. Các hoạt động giúp trẻ biết được sự phát triển của cây xanh, tận dụng các nguồn nguyên liệu từ thiên nhiên làm một số đồ chơi: con trâu, chong chong, đồng hồ... Con trâu, đồng hồ, chong chóng được làm từ lá đa, lá dừa Trẻ biết mối quan hệ cây xanh với môi trường sống, biết rừng là nơi có nhiều cây, giúp chắn gió, ngăn lũ là nơi sinh sống của nhiều loại động thực vật. * "Chủ đề: Thế giới động vật": Ngoài việc tôi cung cấp cho trẻ kiến thức về đặc điểm, ích lợi cũng như tác hại của một số con vật với đời sống con người. Tôi còn giáo dục trẻ yêu quí các con vật nuôi, mong muốn và thực hiện những hành động tốt để chăm sóc bảo vệ những con vật gần gũi. VD: Tôi cho trẻ cùng quan sát thí nghiệm với 2 con cá ở 2 bình nước khác nhau ( bình nước sạch và bình nước bẩn) cho trẻ nhận xét về sự tồn tại c

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ 5 6 Tuổi Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Mầm Non
  • Những Vấn Đề Vệ Sinh Trường Mầm Non Bạn Cần Biết
  • Hướng Dẫn Vệ Sinh Môi Trường Trong Lớp Học Mầm Non
  • Giải Pháp Không Khí Sạch Cho Lớp Học Mầm Non, Nhà Trẻ Và Trường Học
  • Bài 18. Vận Chuyển Máu Qua Hệ Mạch. Vệ Sinh Hệ Tuần Hoàn
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100