Một Số Biện Pháp Trong Việc Duy Trì Sĩ Số Học Sinh

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Viết Biện Pháp Dự Thi Giáo Viên Dạy Giỏi
  • Biện Pháp Dự Thi Giáo Viên Dạy Giỏi
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dạy Lớp Ghép
  • Đặc Điểm, Mục Tiêu Của Quá Trình Dạy Học Lớp Ghép Tiểu Học
  • Giáo Dục Quá Trình Dạy Học Và Phát Triển Lớp Ghép Tiểu Học
  • BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI

    Tên đề tài:

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP

    TRONG VIỆC DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH

    Họ và tên: Ngô Thanh Hoài

    Đơn vị công tác: Trường trung học cơ sở Bàu Năng.

    1/ Lí do chọn đề tài

    Nhiệm vụ một giáo viên chuyên trách công tác phổ cập phải kết hợp cùng giáo viên

    chủ nhiệm tìm ra giải pháp, biện pháp khả thi khắc phục hạn chế học sinh bỏ học và

    học sinh có nguy cơ bỏ học .

    2/Mục đích nghiên cứu

    Cũng cố,duy trì phát huy thành quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở tạo điều kiện

    học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề cho đối tượng từ

    15 tuổi đến 21 tuổi.

    3/ Đối tượng

    Nghiên cứu, tìm hiểu học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học nắm rỏ nguyên

    nhân,phân loại đối tượng.

    4/ Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp điều tra.

    Phương pháp vận động.

    Phương pháp thuyết phục.

    Phương pháp giúp đở.

    5/ Đề tài đưa ra giải pháp mới

    Giáo viên đã sử dụng các giải pháp,biện pháp thích hợp để hổ trợ cho nhà trường

    trong khâu duy trì sĩ số.

    6/ Hiệu quả áp dụng

    1

    Khi áp dụng những giải pháp,biện pháp vận động học sinh bỏ học và học sinh có

    nguy cơ bỏ học tiếp tục đi học nâng cao trình độ dân trí,đáp ứng nhu cầu xã hội. giúp

    giáo viên chuyên trách phổ cập hoàn thành nhiệm vụ của mình.

    7/ Phạm vi áp dụng

    Áp dụng đối với giáo viên được phân công chuyên trách phổ cập và giáo viên chủ

    nhiệm Trường trung học cơ sở Bàu Năng và một số trường trong huyện.

    Bàu Năng, ngày15 tháng 03 năm 2011

    Người thực hiện

    Ngô Thanh Hoài

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    1/ Lý do chọn đề tài

    Xuất phát từ thực tế, hiện tượng học sinh bỏ học có thể được xem là một vấn đề

    khá phổ biến trong xã hội ta hiện nay, mặc dù trong mấy năm qua, việc phổ cập giáo

    dục trung học cơ sở đã đạt chuẩn và tiếp tục duy trì đến năm 2010, nhưng thường khi

    đến mùa vụ thu hoạch, tết nguyên đán đến thì học sinh lại bỏ học để phụ giúp gia đình

    hoặc theo làm ở các cơ sở chế biến. Đây là một công việc rất khó khăn đối với những

    người làm công tác giáo dục.

    2

    Dưới góc độ giáo viên chuyên trách phổ cập một đơn vị, tôi thấy mình cần phải kết

    hợp cùng giáo viên chủ nhiệm và tham mưu Ban chỉ đạo phổ cập xã làm gì, làm thế

    nào để hạn chế việc bỏ học của học sinh, nhằm làm giảm nhẹ gánh nặng cho công tác

    phổ cập giáo dục trung học cơ sở cũng như phổ cập giáo dục bậc trung học.

    Bước vào thế kỷ XXI Đảng và Nhà nước xác định nguồn nhân lực giữ vai trò quyết

    định trong việc phát huy nội lực, phát triển đất nước , hợp tác , cạnh tranh hội nhập

    khu vực và quốc tế đòi hỏi đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

    dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Do vậy toàn xã hội phải thực hiện công tác phổ cập.

    . . .Và đó cũng chính là vấn đề thúc đẩy tôi đến với đề tài nầy .

    2/ Mục đích nghiên cứu

    2.1/ Một trong những vấn đề trăn trở cuả ngành giáo dục cũng như những giáo viên

    có tâm huyết với nghề, đó là vấn đề học sinh bỏ học ngày có chiều hướng gia tăng

    không những sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất đào tạo chung của ngành, chất lượng giáo

    dục cuả trường.Thực chất, tỷ lệ học sinh bỏ học gia tăng không những ảnh hưởng đến

    trình độ trí lực cuả xã hội:

    Nghĩ học quá sớm tương lai cuả các em sẽ đi về đâu? Các em sẽ làm gì gì khi tuổi

    đời còn quá trẻ, sẽ trở thành những đứa trẻ không ngoan, trong số đó có em lại vướng

    vào tệ nạn xã hội hoặc bị lạm dụng sức lao động…Chính vì thế chủ trương cuả nhà

    nước về thực hiện chương trình phổ cập giáo dục giúp các em hoàn thiện trình độ văn

    hoá cuả mình, tạo cho các em có cuộc sống tốt đẹp hơn.

    2.2/ Cũng cố, duy trì phát huy thành quả phổ cập giáo dục xóa mù chữ, phổ cập giáo

    dục trung học cơ sở tạo điều kiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông, trung học

    chuyên nghiệp và đào tạo nghề cho đối tượng từ 15 tuổi đến 21 tuổi.

    2.3/ Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, đảm bảo mọi học sinh được phát triển

    toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, có những hiểu

    biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp.

    Tăng tỉ lệ học sinh trong độ tuổi phổ cập vào các trường trung học phổ thông, trung

    học chuyên nghiệp và trường dạy nghề.

    3

    3/ Đối tượng nghiên cứu

    Nghiên cứu, tìm hiểu học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học ở độ tuổi phổ

    cập nắm rỏ nguyên nhân, phân loại đối tượng

    4/ Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp điều tra.

    Phương pháp vận động.

    Phương pháp thuyết phục.

    Phương pháp giúp đở.

    5/ Giả thuyết khoa học

    Khi áp dụng những giải pháp, biện pháp vận động học sinh bỏ học và học sinh có

    nguy cơ bỏ học tiếp tục đi học nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu xã hội. giúp

    giáo viên chuyên trách phổ cập hoàn thành nhiệm vụ của mình.

    Áp dụng đối với giáo viên được phân công chuyên trách phổ cập và giáo viên chủ

    nhiệm trường trung học cơ sở Bàu Năng và một số trường trong huyện.

    4

    II. NỘI DUNG

    1/ Cơ sở lý luậncủa đề tài

    5

    1.1/ Các văn bản chí đạo các cấp

    Trên cơ sở chỉ thị số 61-CT/TW, ngày 28 tháng 12 năm 2000 của Ban chấp hành

    Trung ương Đảng về thực hiện phổ cập trung học cơ sở.

    Chỉ thị số 01-CT/TU, ký ngày 26 tháng 03 năm 2001của tỉnh ủy tỉnh Tây Ninh

    về thực hiện phổ cập trung học cơ sở .

    Quyết định số 149-QĐ/UB, ngày 07 tháng 08 năm 2001 của Ủy ban nhân dân

    tỉnh Ninh về thực hiện phổ cập trung học cơ sở ..

    Công văn số 05-CV/H, ngày 04 tháng 04 năm 2001 của huyện uỷ Dương Minh

    Châu về về việc thực hiện phổ cập trung học cơ sở .

    Kế hoạch số 08/2001/KH, ngày 23 tháng 08 năm 2001 của Ủy ban nhân dân

    huyện về thực hiện phổ cập trung học cơ sở.

    1.2/ Các quan niệm khác về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở

    Cũng cố thành tựu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phấn đấu ngày

    càng có nhiều trường tiểu học đủ điều kiện học hai buổi tại trường, được học ngoại

    ngữ và tin học.

    Đẩy mạnh nhanh tiến độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tạo điều kiện cho

    những địa phương có khả năng hoàn thành sớm việc phổ cập bậc trung học phổ thông

    qua việc mở rộng quy mô đào tạo và phát triển đa dạng các loại hình trường phổ thông

    trung học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

    Mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở giai đoạn 200-2011 phải bảo đảm

    cho hầu hết thanh niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung

    học cơ sở trước khi hết tuổi18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

    dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    2/ Cơ sở thực tiễn

    2.1/ Thực trạng địa bàn về công tác phổ câp

    Xã Bàu Năng có tổng diện tích tự nhiên là 1832 ha với tổng số dân là 16.156

    người đa số sống bằng nghề nông, trong đó số học sinh đang học các cấp từ tiểu học

    đến trung học cơ sở là 4.322 người chiếm tỉ lệ 28,8 % so với dân số toàn xã.

    6

    Trong năm qua ngành giáo dục xã có những biến đổi đáng kể về số lượng và

    chất lượng, cơ sở vật chất được tăng cường trong công tác dạy và học.Hiện nay xã Bàu

    năng có 5 trừơng học (2 trừơng mẫu giáo,1trường trung học cơ sở và 2 trường tiểu

    học).

    Từ những năm 1990 Dương Minh Châu đã thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học

    và chống mù chữ xã Bàu Năng được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo

    dục tiểu học và chống mù chữ năm 1996, giáo dục đúng độ tuổi năm 2004 và tiếp tục

    xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2004 và đang duy

    trì đạt chuẩn quốc gia về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010-2011.

    Đây là cơ sở phát huy mặt tích cực, rút ra những kinh nghiệm quí báu để thực

    hiện tiếp tục công tác phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

    2.2/ Sự cần thiết của đề tài

    Bảo đảm duy trì, cũng cố kết quả và hoàn thiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung

    học cơ sở, nhằm có kinh nghiệm thực hiện công tác phổ cập bậc trung học phổ thông.

    Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trung học cơ sở, giảm tỷ lệ lưu ban,

    bỏ học, đảm bảo tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm.

    Huy động số học sinh tốt nghiệp tiểu học hàng năm vào học trung học cơ sở đạt

    tỷ lệ chuẩn đúng quy định.

    3/ Nội dung vấn đề

    3.1/ Vấn đề đặt ra:

    Nhìn chung, hầu hết tất cả học sinh trường THCS Bàu Năng đều có thái độ học

    tập đúng đắn, đạo đức tác phong tốt, có tinh thần cầu tiến, chuyên cần, ham học

    hỏi.Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh chưa xác định đúng đắn động cơ

    học tập như :

    Ham chơi hơn ham học dễ dẫn đến nguy cơ học kém, bỏ học. Đồng thời vẫn

    còn một số hộ gia đình ít đất canh tác, còn thiếu thốn về kinh tế nên cho con em nghỉ

    học khi vào mùa vụ để đi làm thuê.

    Cha mẹ lơ là trong việc quản lý, đôn đốc, nhắc nhở con em mình trong vấn đề

    học tập, điều này cũng tạo cho nguy cơ bỏ học của học sinh tăng cao.

    7

    Công tác chủ nhiệm của giáo viên cũng là một vấn đề cần phải sớm chấn chỉnh

    :

    Giáo viên chỉ biết lý do học sinh bỏ học, nhưng bản thân họ chưa biết cách nào

    để giúp các em có điều kiện trở lại lớp, như đến gia đình cùng phụ huynh tìm cách

    tháo gỡ; tham mưu Ban giám hiệu, Hội cha mẹ học sinh . . . để kịp thời giúp đỡ cũng

    như vận động các em trở lại lớp.

    Vào đầu năm học, giáo viên chưa nắm chắc được đối tượng học sinh có nguy

    cơ bỏ học để kịp thời có biện pháp ngăn chặn.Mặt khác, chính đối tượng này thường

    có học lực yếu nên thường xuyên bị thầy, cô la rầy, vô tình giáo viên tạo khoảng cách

    với các em ngày một lớn hơn, và khi các em đã bỏ học thì rất khó vận động trở lại.

    Chính vì chưa giải quyết tốt các vấn đề trên,nên hàng năm ở đơn vị luôn có

    học sinh bỏ học.

    Cụ thể như:

    Năm học 2005 – 2006 có 18 học sinh bỏ học chiếm tỉ lệ 1,96%;

    Năm học 2006 – 2007 có 13 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 1,47%;

    Năm học 2007 – 2008 có 15 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 1,81%;

    Năm học 2008 – 2009 có 6 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 0,71%;

    Năm học 2009 – 2010 có 5 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 0,61%.

    3.2/ Các giải pháp

    3.2.1/Thực hiện tốt công tác giáo dục nhận thức

    Tổ chức triển khai đến các đảng viên trong chi bộ, giáo viên ,công nhân viên

    trong nhà trường và nhân dân trong xã quán triệt tinh thần các văn bản chỉ đạo về công

    tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

    Ban chỉ đạo xã tham mưu với Đảng uỷ thường xuyên chỉ đạo và kiểm tra tiến

    độ thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào tiêu chuẩn xét tư cách

    đảng viên có con em không ra lớp, Ban chỉ đạo chỉ đạo kịp thời các ban ngành đoàn

    thể, ban quản lý ấp, tổ tự quản vận động các em ra lớp phổ cập và chính qui.

    3.2.2/ Xây dựng kế họach tổ chức thực hiện:

    8

    Xây dựng kế hoạch tham mưu Ủy ban nhân dân xà thành lập Ban chỉ đạo

    trong đó đồng chí phó Chủ tịch ủy ban nhân dân xã làm trưởng ban chi đạo và 9 thành

    viên các thành viên Ban chỉ đạo luôn nhiệt tình và tham gia có hiệu quả trong việc

    đề ra cách tổ chức thực hiện.

    Hàng tháng Ban chỉ đạo họp định kỳ và có sơ kết công tác tháng, để đề ra

    biện pháp thực hiện cho tháng tới, phân công cụ thể từng thành viên Ban chỉ đạo phụ

    trách địa bàn.

    3.2.3/ Kết hợp với ban ngành và các đòan thể ở địa phương

    Nhà trường và giáo viên chuyên trách tham mưu với Ban chỉ đạo, chỉ đạo

    Ban quản lý ấp, tổ tự quản kết hợp với trường trung học cơ sở điều tra theo dõi trình

    độ học vấn và dân số trong độ tuổi phải phổ cập của địa bàn. Lấy tổ tự quản làm cơ sở

    để thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở .Chỉ đạo các ban ngành đoàn

    thể xã tham gia vận động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 100%

    đồng thời vận động số học sinh bỏ học giữa chừng ra lớp và huy động đối tượng ra

    lớp.

    Ban ngành đoàn thể đưa công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào kế

    hoạch của mình và xác định đây là nhiệm vụ chung phải thực hiện.

    Vận động các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực cho sự nghiệp giáo dục nói

    chung và công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ thông trung học nói riêng.

    3.2.4/ Tuyên truyền công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở:

    Văn hoá thông tin tuyên truyền cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ chủ

    trương của Đảng và nhà nước ta về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở là

    nâng cao trình độ dân trí.

    Ban chỉ đạo ra quyết định, gửi công văn đến Ban ngành đoàn thể, tổ tự quản

    nắm chắc các đối tượng trong độ tuổi cần huy động và chịu trách nhiệm về công tác

    vận động các em ra lớp chính quy và lớp phổ cập, luôn hỗ trợ trẻ trong độ tuổi ra lớp,

    số học sinh bỏ học giữa chừng để có biện pháp kết hợp cùng nhà trường vận động các

    em ra lớp.

    3.2.5/ Đối với trường Trung học cơ sở:

    9

    đình học sinh, nhằm phân loại học sinh thành những nhóm khác nhau, như : nhóm

    “không có nguy cơ bỏ học” và nhóm “có nguy cơ bỏ học”.

    Đối với nhóm học sinh “có nguy cơ bỏ học” tôi chia ra thành các dạng sau :

    Dạng 1

    Học kém, hỏng kiến thức, nhóm nầy có 14 học sinh, chiếm tỉ lệ 1,7% .

    Dạng 2

    Ham chơi thường hay trốn học , gia đình quản lý không chặt chẽ, nhóm nầy có 10

    học sinh, chiếm tỉ lệ 1,25%.

    Dạng 3 :

    Gồm những học sinh có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt như : gia đình nghèo, cha ghẻ,

    mồ côi, ở trọ gia đình người thân để đi học, nhóm nầy gồm có 53 học sinh ,chiếm tỉ lệ

    6,7%.

    3.4/ Biện pháp thực hiện

    Sau khi đã phân chia nhóm, tôi tiến hành các biện pháp khác nhau để hạn chế

    học sinh bỏ học như sau :

    * ĐỐI VỚI DẠNG I

    Đối với các em học sinh ở dạng nầy do hỏng kiến thức cơ bản của những năm

    học trước nên việc tiếp thu kiến thức mới bị hạn chế, chưa thật sự cố gắng trong học

    tập, chưa có phương pháp học tập đúng đắn, dẫn đến tình trạng yếu kém về kiến thức,

    từ đó dễ có tư tưởng bỏ học.

    Đối với những học sinh nầy tôi kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm tiến hành

    các biện pháp như sau :

    1.3/Phân tích cho các em hiểu tầm quan trọng của việc học.

    ( Giáo viên nói, giảng cho các em biết tình hình kinh tế, xã hội hiện nay chỉ có những

    con người có trình độ, có kiến thức khoa học, có đạo đức mới có thể đảm bảo được

    đời sống và con người đó mới có ích cho xã hội…)

    2.3/Củng cố, hệ thống hóa lại các kiến thức cơ bản mà các em đã hỏng .(Về

    vấn đề nầy, đầu năm Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên lập ra danh sách các em học

    sinh yếu kém ở 2 môn Tiếng Việt và Toán -qua kiểm tra chất lượng đầu năm- để phụ

    11

    đạo cho đối tượng này giờ học lòng vào giờ học chính khóa và có kế hoạch giảng dạy

    hợp lý cho đối tượng này).

    3.3/Hướng dẫn các em có phương pháp học tập đúng đắn, tổ chức các nhóm

    học tập, đôi bạn học tập, phân công các bạn giỏi kèm cặp.( Đây là một vấn đề rất khó

    khăn,cần có sự kiên trì của giáo viên phụ trách lớp vừa động viên các em học yếu ,

    vừa thuyết phục các em học khá giỏi để giúp đỡ nhau, cùng nhau tiến bộ.Các em nầy

    phải đến lớp sớm 20 phút để được các em giỏi kiểm tra, hướng dẫn ).

    4.3/Giáo viên phụ trách (Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chuyên trách phổ cập

    và giáo viên chuyên trách tổng phụ trách đội) phải thường xuyên liên hệ với phụ

    huynh học sinh, nhằm động viên, nhắc nhở con em mình trong học tập.( Giáo viên có

    quyển sổ nhỏ ghi số điện thoại gia đình các em hoặc số điện thoại ở gần nhà các em

    đó, để tiện liên lạc và theo dõi – nhanh, thường xuyên).

    5.3/Kịp thời thông báo với phụ huynh học sinh những biểu hiện lơ là như đi

    học trễ, nghỉ học (có phép cũng như không phép ), nhằm nâng cao tối đa tỉ lệ chuyên

    cần của các em và cũng từ đó nhằm giảm tối đa nguy cơ bỏ học của các em.

    Đối với những em học sinh ở dạng nầy, chủ yếu giáo viên chủ nhiệm phải

    tìm mọi cách để củng cố, nâng cao kiến thức của các em, giúp các em đuổi kịp với các

    bạn và vượt lên trong học tập. Từ đó tạo cho các em lòng mong muốn chiếm lĩnh tri

    thức, hăng say trong học tập, nhằm loại bỏ hẳn suy nghĩ bỏ học (nếu có) trong tư

    tưởng của các em.

    * ĐỐI VỚI DẠNG II

    Đối với các em học sinh ở dạng nầy có thể học lực từ trung bình trở lên

    nhưng ham chơi thường trốn học, đồng thời gia đình quản lí không chặt chẽ. Những

    học sinh thuộc dạng nầy thường có những thái độ bất cần, ít nghe lời thầy cô, vô phép,

    trong lớp ít chú ý nghe giảng, bài học học không được kỹ lắm và ít khi làm bài đầy đủ,

    từ đó mất phương hướng trong học tập dẫn đến nguy cơ bỏ học. Đối với những học

    sinh nầy tôi tiến hành các biện pháp như sau :

    1.3/Giáo viên chủ nhiệm gặp riêng các em thường xuyên, trao đổi nhỏ to tâm

    sự, phân tích cho các em hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, nâng cao trí tuệ

    12

    cũng như trong phát triển nhân cách và tùy từng tình huống mà dùng biện pháp nhẹ

    nhàng hay nghiêm khắc.

    2.3/Quản lý chặt chẽ các em trong suốt buổi học, về vấn đề nầy giáo viên phụ

    trách cũng phải thường xuyên hỏi han các giáo viên có giảng dạy các bộ môn lớp

    mình.

    3.3/Kết hợp với phụ huynh của các em, cách ly các học sinh nầy với những

    bạn xấu, đề nghị phụ huynh học sinh quản lý chặt chẽ các em ở nhà. Riêng ở lớp, giáo

    viên chủ nhiệm xếp cho các em ngồi đầu bàn (nơi giáo viên dễ quan sát ) cùng nhóm

    với những những em học sinh ngoan, học khá giỏi.

    4.3/Kết hợp với các tổ chức giáo dục trong nhà trường như tổ chức Đoàn,

    Đội, tổ chức các buổi sinh hoạt vui chơi lành mạnh để hướng các em vào các hoạt

    động bổ ích. (Với nam, giáo viên giới thiệu các em vào đội bóng đá mi ni của trường

    để các em được vui, khỏe trong học tập.Với nữ, cho các em vào đội văn nghệ của

    lớp…)

    5.3/Giao cho các em một số công việc nhất định trong lớp và theo dõi đôn

    đốc các em hoàn thành nhiệm vụ được giao.Ở đây, giáo viên phụ trách giao cho các

    em làm tổ phó của các tổ, xem về việc giữ trật tự trong giờ học, vệ sinh của tổ…

    6.3/Đề nghị với phụ huynh các em( nếu có thể được) vì một lý do nào đó mà

    con em mình nghỉ học thì phải trực tiếp xin phép hoặc điện thoại với giáo viên phụ

    trách, hạn chế việc viết đơn xin phép nghỉ học của con em.

    Đối với những em học sinh ở dạng nầy ngoài việc kết hợp với phụ huynh

    học sinh với các tổ chức giáo dục trong nhà trường nhằm giáo dục để phát triển nhân

    cách cho các em.

    Giáo viên phụ trách cần phải nâng cao chất lượng học tập của các em như

    đối với các em học sinh ở dạng một, từ đó điều chỉnh những hành vi, thái độ không

    phù hợp, giúp các em hòa đồng với các bạn và nhận thấy tầm quan trọng của việc học,

    có như thế mới giảm thiểu được nguy cơ bỏ học của các em.

    * ĐỐI VỚI DẠNG III

    13

    Những em học sinh ở dạng nầy vì hoàn cảnh gia đình nghèo, đang gặp khó

    khăn cần phải phụ giúp gia đình nên ít có điều kiện trong học tập, các em không yên

    tâm trong học tập, thường nghỉ học để phụ giúp gia đình hoặc giữ nhà, trông em, nếu

    giáo viên phụ trách không tạo điều kiện giúp đỡ thì nguy cơ bỏ học sẽ dễ đến đối với

    các em.

    Đối với những em học sinh ở dạng nầy tôi tiến hành các biện pháp như sau :

    1.3/Giáo viên chủ nhiệm liên hệ và hướng dẫn gia đình điều kiện để được

    miễn các khoản đóng góp về hội phí, xây dựng . Đây là việc làm ở đầu năm học, giáo

    viên phải khẩn trương xem xét tỉ mỉ, chu đáo.

    2.3/ Liên hệ với tổ chức Đoàn, Đội giúp đỡ các em về vật chất như viết, tập .

    . . ( Tổng phụ trách đội đã động viên các đội viên của trường tặng sách cũ,dụng cụ học

    tập . . . Kết quả : đội viên,học sinh tặng 36 xuất quà/36 học sinh trị giá 8 triệu đồng ,

    sách cũ và 200 quyển tập ).

    3.3/Giáo viên chủ nhiệm liên hệ với thư viện trường cho các em mượn sách .

    Giáo viên phụ trách lập danh sách gửi cho cán bộ thư viện trường những ngày đầu

    năm học, và các em đã mượn được đầy đủ tất cả sách giáo khoa .

    4.3/Giáo viên phụ trách sinh hoạt với tập thể lớp trong việc giúp đỡ các bạn

    có hoàn cảnh khó khăn ở lớp.Công việc này các lớp thực hiện rất tốt ( Ở đây, ta còn

    giáo dục được ở các em lòng tương thân tương ái ).

    5.3/Xây dựng không khí tập thể hòa thuận, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn

    nhau, nhằm làm giảm đi sự mặc cảm của những học sinh nghèo. Ở đây, trong giờ sinh

    hoạt giáo viên thường nói chuyện , tổ chức sinh hoạt lớp, vui chơi cùng với các em.

    6.3/Giáo viên phụ trách gặp trực tiếp phụ huynh của các em học sinh nầy

    nhằm phân tích cho họ nhận thấy tầm quan trọng của việc học đối với các em, từ đó họ

    động viên con em mình vượt khó trong học tập : thường sau những cuộc đại hội hoặc

    sau cuộc họp phụ huynh học sinh của lớp (trao đổi riêng).

    Đối với những em học sinh nầy, ngoài việc giáo viên phụ trách kết hợp

    với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tạo điều kiện thuận lợi về vật

    chất cũng như tinh thần giúp các em yên tâm đến lớp, bên cạnh đó giáo viên phụ trách

    14

    HS đầu

    Chết,

    Ch.

    Huy

    Bỏ học

    HS cuối

    Tỷ lệ

    2006-2007

    13

    1,47

    2007-2008

    845

    16

    6

    3

    15

    823

    1,81

    2008-2009

    848

    14

    4

    5

    6

    837

    0,71

    2009-2010

    811

    17

    3

    2

    5

    794

    0,61

    15

    III. KẾT LUẬN

    1/ Bài học kinh nghiệm

    Qua việc áp dụng các biện pháp về việc duy trì sĩ số học sinh , tôi rút ra được

    những bài học quý giá như sau :

    1.1/ Làm sao cho tỉ lệ chuyên cần tăng thì chất lượng học tập cũng như việc duy trì sĩ

    số cũng được nâng cao và chuyển biến tốt đẹp theo.

    1.2/ Cần phải kết hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong

    việc duy trì sĩ số học sinh .

    1.3/Phải thường xuyên kết hợp với phụ huynh học sinh , thông báo kịp thời với phụ

    huynh học sinh về các mặt hoạt động của các em, đặc biệt là vấn đề chuyên cần của

    các em để phụ huynh kịp thời hỗ trợ .

    1.4/ Ban chỉ đạo phổ cập-chống mù chữ xã thường xuyên đổi mới phương thức

    hoạt động cho phù hợp với tình hình thực tế địa bàn, từng đối tượng, đẩy mạnh

    hoạt động và tăng cường công tác kiểm tra,giám sát việc tổ chức thực hiện công

    tác này.

    1.5/ Tăng cường đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy-học tập để

    giảm học sinh tỷ lệ học sinh yếu kém, chú trọng công tác chủ nhiệm nhằm sớm phát

    hiện và ngăn chặn tình trạng học sinh trung học cơ sở có nguy cơ bỏ học, bỏ học giữa

    chừng.

    1.6/Việc duy trì sĩ số của học sinh đối với dạng 3 rất khó phải phụ thuộc vào rất

    nhiều yếu tố, như nhận thức của phụ huynh, học sinh ; điều kiện kinh tế sống của gia

    đình các em chúng tôi đó đối với việc duy trì sĩ số ở dạng 3 nầy, muốn đạt kết quả cao,

    cần phải được sự hỗ trợ của các ban ngành, của Ủy ban nhân dân, nơi gia đình các em

    cư trú như chương trình xóa đói giảm nghèo, miễn giảm thuế, miễn giảm lao động

    công ích . . . Bên cạnh đó, cần có biện pháp khống chế của địa phương nếu những con

    em của gia đình nầy bỏ học .

    2/ Hướng áp dụng đề tài

    16

    17

    18

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Dạy Học Trực Tuyến E
  • Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 【Thành Công Nhất】
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Được Sử Dụng Phổ Biến
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì? Dạy Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Về Phương Pháp Dạy Học
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn: Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Công Tác Chủ Nhiệm
  • Những Biện Pháp Hay Nhằm Duy Trì Sĩ Số Học Sinh
  • Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • * Gia đình phải có trách nhiệm về con em, phải tạo mọi điều kiện để trẻ được theo học. Phải coi việc học của trẻ là hết sức quan trọng. Nếu thấy con em mình không vui hoặc có vấn đề gì khó khăn trong việc học tập của con em thì phải báo ngay với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường để nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ.

    * Giáo viên chủ nhiệm phải nhiệt tình,năng nổ phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương pháp giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng ở trong nhà trường đặc biệt là từng em học sinh để lôi cuốn học sinh,học sinh vui vẻ, tự tin trước khi đến trường tạo thêm niềm vui, phấn khởi thực sự để hội cha mẹ học sinh nhận thấy được ở trường là chỗ dựa vững chắc cho phụ huynh tin tưởng từ đó tạo niềm tin cho phụ huynh phấn khởi và xây dựng môi trường thân thiện ở trong nhà trường .

    – Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương ,tạo những điều kiện môi trường giáo dục tốt.

    – Phải tạo đoàn kết, thương yêu giúp đỡ học sinh trong lớp qua các phong trào. Tạo cho các em động cơ ham học trong việc uốn nắn các em,giáo viên chủ nhiệm phải luôn giữ thái độ bình tĩnh,không nóng vội,không dùng lời lẽ nặng nề với các em, hoà đồng vui vẻ với các em, xem học sinh là con đẻ của mình, chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp.

    -Học sinh tiểu học trong độ tuổi biết tự ái, giận hờn, thích được động viên khen thưởng, tuyệt đối không nên dùng hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt không ham thích đến lớp, phải tạo cho các em một niềm tin để các em an tâm học tập và xem giáo viên chủ nhiệm là người mẹ hiền.

    -Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên.Trong chương trình giảng dạy nên tổ chức những buổi “Học vui,vui học” dưới hình thức ôn tập.

    Việc chuyên cần học tập của học sinh đã quyết định sự tiến bộ của các em,nếu để các em nghỉ học một hai lần với lý do không cần thiết lắm thì các em sẽ thích nghỉ học đi chơi hơn là đến lớp bởi nhiều lý do: Sợ bị phạt, sợ bị chế giễu. Giáo viên nên giải thích tai hại của việc bỏ học và đi học không đầy đủ đẫn đến hậu quả không tốt, ảnh hưởngđến kết quả học tập.

    *Giáo viên chủ nhiệm và nhà trường phải quan tâm tìm hiểu hoàn cảnh của học sinh để tạo điều kiện giúp đỡ, bố trí buổi học phù hợp có thể lập Quỹ tình thương để hổ trợ một phần nào cho các em về mặt vật chất, đồng thời cắt cử các em học sinh trong lớp thường xuyên giúp đỡ,đỡ đần bớt các công việc gia đình để bạn có thời gian đến trường.

    * Các đoàn thể xã hội như: Phụ nữ, nông dân, phải phối hợp với nhà trường quan tâm, giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn. Xây dựng quỹ khuyến học trong từng thôn xã, họ hàng để hỗ trợ thêm cho những em gặp khó khăn trong đời sống kinh tế để giúp các em có thể tiếp tục học tập.

    *Chính quyền địa phương phải có kế hoạch bố trí dân cư hợp lý để tạo điều kiện cho các em đi học gần.Đồng thời có chính sách đãi ngộ đối với những hộ gia đình nghèo, đông con và gặp khó khăn về kinh tế.

    Công đoàn nhà trường xây dựng quỹ khuyến học, quỹ tình thương, quỹ hỗ trợ những học sinh có điều kiện khó khăn về vật chất và tinh thần để các em đi học đầy đủ.

    Giải pháp quan trọng nhất là Nhà trường,Gia đình và xã hội phải phối hợp chặt chẻ với nhau,để cùng nhau giúp đỡ về mọi mặt,tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tiếp tục đến trường.Giảm tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm.

    + Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, gia đình và xã hội.

    + Nắm bắt tình hình cụ thể về các gia đình có học sinh đi học. Các gia đình có đông con; những gia đình có hoàn cảnh khó khăn…

    + Các tổ chức, đoàn thể ở chính quyền địa phương, hội cha mẹ học sinh. Các tổ chức chính trị xã hội ở trong nhà trường; các giáo viên chủ nhiệm.

    + Tìm hiểu về các lí do mà các em thường bỏ học nữa chừng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 4. Luyện Tập: Este Và Chất Béo
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Chương Este Bai Tap Trac Nghiem Chuyen De Este Docx
  • Điều Chế Este Và Ứng Dụng Của Este
  • Biện Pháp Cải Tạo Đất Mặn
  • Biện Pháp Cải Tạo Đất Mặn Đất Phèn
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Địa Lí 8 Tuần 5 Tiết 5: Đặc Điểm Dân Cư
  • Địa 8/ Tuần 5/ Tiết 5
  • Bài 5. Đặc Điểm Dân Cư, Xã Hội Châu Á
  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • MỤC LỤC

    Trang

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài 1

    II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu 1

    1. Mục đích 1

    2. Phương pháp 2

    III . Giới hạn của đề tài 2

    IV . Kế hoạch thực hiện 2

    B. PHẦN NỘI DUNG

    I . Cơ sở lý luận 3

    II. Cơ sở thực tiễn 4

    III. Thực trạng và những mâu thuẫn 4

    1.Thuận lợi……………………………………………………………………….4

    2.Khó khăn……………………………………………………………………….4

    IV . Các biện pháp giải quyết vấn đề 4

    1. Xác định nguyên nhân, lập kế hoạch dạy học sinh yếu kém………………….4

    2. Biện pháp dạy học bằng tình thương………………………………………….5

    3. Biện pháp giao việc cho học sinh yếu kém 6

    4. Biện pháp thư giãn (vui chơi) trong các tiết học 7

    5. Tạo môi trường giáo dục tốt 8

    6. Biện pháp tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp ………………………… 9

    7. Phong trào “Giúp bạn vượt khó “…………………………………………… 9

    8. Phối hợp với phụ huynh học sinh …………………………………………….10

    V . Hiệu quả áp dụng 11

    C. KẾT LUẬN

    I . Ý nghĩa của đề tài đối với công tác 13

    II . Khả năng áp dụng 13

    III . Bài học kinh nghiệm 13

    Tài liệu tham khảo 15

    www.sangkienkinhnghiem.com

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài:

    Hiện nay, việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường tiểu học đóng một vai trò

    rất quan trọng trong việc học tập của học sinh nói riêng và trong việc thực hiện phổ

    cập giáo dục nói chung. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ

    và mang lại kết quả học tập tốt. Nhưng hiện nay, một số học sinh trong địa phương

    thuộc con em gia đình lao động nghèo, một số từ nơi khác đến thị xã Hồng Ngự tạm

    trú, đa phần là làm thuê, vì cuộc sống mưu sinh họ gửi con em vào Trường Tiểu học

    An Thạnh 1 để học. Chính vì mãi lo cho kinh tế gia đình một số phụ huynh ít quan tâm

    đến việc học tập của các em. Nên việc các em nghỉ học, bỏ học trong thời gian nhiều

    ngày ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi.

    Trong những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học ngày càng phổ biến. Cấp học

    càng cao tỷ lệ học sinh bỏ học càng lớn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng

    học sinh bỏ học nhưng trong đó nguyên nhân chính là các em học tập yếu kém nên

    không thích đi học, không thích đến trường.

    Xã hội ngày càng phát triển, thì yêu cầu về giáo dục cũng được nâng cao. Đòi hỏi

    trong xã hội ai cũng được học hành, được tiếp thu được kiến thức kĩ năng, kĩ xảo từ

    nhà trường để phục vụ cuộc sống sau này. Chúng ta ngày đêm đang ra sức phổ cập

    giáo dục ở các cấp học. Nhưng trên thực tế có biết bao nhiêu học sinh bỏ học giữa

    chừng. Biết bao nhiêu trẻ em không biết đọc, biết viết hoặc đọc viết không thông thạo

    mà đã nghỉ học. Tất cả đều là sản phẩm của nhà trường, do không quan tâm đến học

    sinh, không có biện pháp để giúp đỡ học sinh yếu kém.

    Vì thế, qua nhiều năm công tác bản thân tôi luôn suy nghĩ “Biện pháp để duy trì sĩ

    số và đảm bảo chuyên cần học sinh bậc tiểu học “. Do đó tôi quyết định chọn đề tài

    này.

    II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu:

    1. Mục đích :

    – Nhằm đánh giá lại môi trường giáo dục, chất lượng giảng dạy học sinh yếu kém

    ở các trường tiểu học trong những năm qua và hiện nay.

    – Tìm ra những nguyên nhân tại sao việc học sinh chán học và hiện tượng học sinh

    có nguy cơ bỏ học vì học yếu vẫn còn.

    2

    www.sangkienkinhnghiem.com

    – Đưa ra một số giải pháp trong việc đổi mới phương pháp giúp đỡ học sinh yếu

    kém học tập có tiến bộ hơn, tạo môi trường học thân thiện gần gũi giúp học sinh ham

    thích học tập, thích đi học nhiều hơn.

    2. Phương pháp :

    – Phương pháp lấy tư liệu.

    – Phương pháp học mà chơi, chơi mà học.

    – Phương pháp đàm thoạ.

    – Phương pháp xử lý thông tin.

    – Phương pháp thực nghiệm.

    – Phương pháp cải tiến.

    III. Giới hạn của đề tài:

    – Học sinh khối 5 thuộc Trường Tiểu học An Thạnh 1. Đội ngũ thầy (cô) cùng cô

    tổng phụ trách. Phụ huynh học sinh khối 5 của tường.

    IV. Kế hoạch thực hiện:

    – Chọn đề tài.

    – Lập đề cương nghiên cứu.

    – Đọc, thu thập đề tài, viết đề tài.

    – Thu nhập thực tế.

    – Hoàn thành sáng kiến.

    Hội đồng xét duyệt của trường An Thạnh, ngày 27 tháng 04 năm 2012

    Xếp loại:……. Người viết

    CTHĐ

    15

    www.sangkienkinhnghiem.com

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1 . Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học _ NXBGD_Xuất bản 2006

    2 . Giáo trình cao đẳng sư phạm _GS.TS. Diệp Quang Ban_ NXB đại học sư phạm_

    Xuất bản 2001

    3. Giáo trình giáo dục học Tiểu học – GS. TS. Đặng Vũ Hoạt_NXB đại học Huế_Xuất

    bản 2002.

    4. Giáo trình tâm lý học Tiểu học_GS.TS. Bùi Văn Huệ_ NXB đại học Huế_Xuất bản

    2002.

    16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Suy Dinh Dưỡng Trẻ Em : Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả Từ Chuyên Gia
  • Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em
  • Trẻ Bị Suy Dinh Dưỡng Nặng
  • Skkn Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Skkn Về Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực Môn Lịch Sử Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực Môn Lịch Sử Lớp 5 Skkn Mai Hong Suong 20112012 Doc
  • Hiểu Đầy Đủ Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Giáo Dục Học: Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    ĐỀ TÀI:

    “MỘT SỐ BIỆN PHÁP DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH LỚP 5”

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài:

    Hiện nay, việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường tiểu học đóng một vai trò

    rất quan trọng trong việc học tập của học sinh nói riêng và trong việc thực hiện phổ cập

    giáo dục nói chung. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và

    mang lại kết quả học tập tốt. Nhưng hiện nay, một số học sinh trong địa phương thuộc

    con em gia đình lao động nghèo, một số từ nơi khác đến thị xã Hồng Ngự tạm trú, đa

    phần là làm thuê, vì cuộc sống mưu sinh họ gửi con em vào Trường Tiểu học An Thạnh 1

    để học. Chính vì mãi lo cho kinh tế gia đình một số phụ huynh ít quan tâm đến việc học

    tập của các em. Nên việc các em nghỉ học, bỏ học trong thời gian nhiều ngày ảnh hưởng

    đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi.

    Trong những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học ngày càng phổ biến. Cấp học

    càng cao tỷ lệ học sinh bỏ học càng lớn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng

    học sinh bỏ học nhưng trong đó nguyên nhân chính là các em học tập yếu kém nên không

    thích đi học, không thích đến trường.

    Xã hội ngày càng phát triển, thì yêu cầu về giáo dục cũng được nâng cao. Đòi hỏi

    trong xã hội ai cũng được học hành, được tiếp thu được kiến thức kĩ năng, kĩ xảo từ nhà

    trường để phục vụ cuộc sống sau này. Chúng ta ngày đêm đang ra sức phổ cập giáo dục ở

    các cấp học. Nhưng trên thực tế có biết bao nhiêu học sinh bỏ học giữa chừng. Biết bao

    nhiêu trẻ em không biết đọc, biết viết hoặc đọc viết không thông thạo mà đã nghỉ học. Tất

    cả đều là sản phẩm của nhà trường, do không quan tâm đến học sinh, không có biện pháp

    để giúp đỡ học sinh yếu kém.

    Vì thế, qua nhiều năm công tác bản thân tôi luôn suy nghĩ “Biện pháp để duy trì sĩ số

    và đảm bảo chuyên cần học sinh bậc tiểu học “. Do đó tôi quyết định chọn đề tài này.

    II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu:

    1. Mục đích :

    – Nhằm đánh giá lại môi trường giáo dục, chất lượng giảng dạy học sinh yếu kém ở

    các trường tiểu học trong những năm qua và hiện nay.

    – Tìm ra những nguyên nhân tại sao việc học sinh chán học và hiện tượng học sinh có

    nguy cơ bỏ học vì học yếu vẫn còn.

    – Đưa ra một số giải pháp trong việc đổi mới phương pháp giúp đỡ học sinh yếu kém

    học tập có tiến bộ hơn, tạo môi trường học thân thiện gần gũi giúp học sinh ham thích

    học tập, thích đi học nhiều hơn.

    2. Phương pháp :

    – Phương pháp lấy tư liệu.

    – Phương pháp học mà chơi, chơi mà học.

    – Phương pháp đàm thoạ.

    – Phương pháp xử lý thông tin.

    – Phương pháp thực nghiệm.

    – Phương pháp cải tiến.

    III. Giới hạn của đề tài:

    – Học sinh khối 5 thuộc Trường Tiểu học An Thạnh 1. Đội ngũ thầy (cô) cùng cô

    tổng phụ trách. Phụ huynh học sinh khối 5 của tường.

    IV. Kế hoạch thực hiện:

    – Chọn đề tài.

    – Lập đề cương nghiên cứu.

    – Đọc, thu thập đề tài, viết đề tài.

    – Thu nhập thực tế.

    – Hoàn thành sáng kiến.

    B. PHẦN NỘI DUNG

    I.Cơ sở lý luận:

    Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học : Học sinh tiểu học lứa 6 đến 11 tuổi

    các em rất nghịch hiếu động, chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là

    đúng và điều gì là sai, hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quanh

    mình. Khả năng tiếp thu kiến thức nhanh hay chậm của từng nhóm đối tượng học sinh

    cũng khác nhau. Ở các em ý thức học tập chưa có, chưa hiểu rõ mục đích của việc học.

    Các em đi học phần lớn là do sự bắt buộc của gia đình, chỉ một phần nhỏ là ham thích đi

    học (vì đi học được thầy (cô) khen, được điểm 10, được chơi cùng bạn vv…). Do đó ý

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp Chủ Nhiệm
  • Một Số Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Duy Trì Sỉ Số Lớp
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Mot So Bien Phap Duy Tri Si So Hoc Sinh Vung Dan Toc Thieu So Doc
  • Trắc Nghiệm Công Nghệ 10 Bài 10 (Có Đáp Án): Biện Pháp Cải Tạo Và Sử Dụng Đất Mặn, Đất Phèn
  • Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Và Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Bài Tham Luận Về Công Tác Duy Trì Sĩ Số Học Sinh
  • Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Bậc Tiểu Học Sang Kien Kinh Nghiem Doc
  • Giải Pháp Nào Duy Trì Sĩ Số Học Sinh?
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Công Tác Chủ Nhiệm
  • Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha anh. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu và phát triển. Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhận thức con người càng được đánh giá đúng đắn và được đánh giá toàn diện. Vì một tương lai tươi sáng, trẻ em sẽ trở thành chủ nhân hữu ích của tương lai, thì ngay từ thủa ấu thơ trẻ phải được hưởng nền giáo dục phù hợp, hiện đại và toàn diện các mặt.

    Căn cứ số 5396/BGDDT-GDMN ngày 20/8/2012 của bộ giáo dục và đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2012-2013 đề ra nhiệm vụ phát triển quy mô, mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, đẩy mạnh phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi với nội dung. Tăng tỷ lệ huy động trẻ đến các cơ sở giáo dục mầm non ở tất cả các độ tuổi, đảm bảo tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ tăng từ 0,5-1%, và từ 2-3 % đối với trẻ mẫu giáo, phấn đấu tỷ lệ chung toàn quốc đạt ít nhất 22% trẻ độ tuổi nhà trẻ và 85% trẻ độ tuổi mẫu giáo ®Õn tr­êng.

    Để giúp trẻ em có thể đến trường được nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục phát triển toàn diện đối với một trường mầm non nông thôn thuộc xã Vĩnh Quỳnh huyện Thanh Trì Hà Nội là rất khó. Vì thực tế xã Vĩnh Quỳnh là một xã thuần nông và rất đông dân, đa số phụ huynh làm nông nghiệp, chợ búa, nhận thức của phụ huynh về nghành học còn hạn chế, chưa chú trọng việc nuôi dạy con theo khoa học, tỷ lệ học sinh ra lớp thấp, nhiều học sinh không đi học hoặc không ra lớp từ nhà trẻ, mẫu giáo 3-4 tuổi, nhiều học sinh bỏ học giữa chừng. Chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường chưa cao, các hoạt động cũng như các phong trào chưa thật sự nổi trội bên cạnh đó xung quanh địa bàn xã có nhiều trường điểm nổi trội của huyện và nhiều nhóm tư thục hoạt động. Khối cơ quan nằm trên địa bàn xã Vĩnh Quỳnh thuộc địa bàn xã Vĩnh Quỳnh quản lý nhưng không thuận đường giao thông và việc đưa đón trẻ hàng ngày nên nhiều phụ huynh cho con đi học trường khác.

    Nhận thức được vấn đề trên với cương vị là hiệu trưởng của trường mầm non Vĩnh Quỳnh tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để nhiều trẻ trên địa bàn xã được đến trường học tập, vui chơi và phát triển toàn diện. Làm thế nào để duy trì và phát triển số trẻ ra lớp đến trường ngày một đông đạt chỉ tiêu theo yêu cầu của thành phố, huyện, trường đề ra. Vì năm học 2012-2013 trường mầm non xã Vĩnh Quỳnh được xây mới một điểm trường và bàn giao đưa vào sử dụng tháng 9/2012 gồm 8 phòng học và các phòng chức năng với đầy đủ cơ sở vật chất và quy mô theo tiêu chí trường chuẩn Quốc Gia mức độ I. Cải tạo lại hai điểm trường Quỳnh Đô cũ, Vĩnh Ninh ở một số hạng mục như mở rộng các lớp, cải tạo, xây mới toàn bộ các nhà vệ sinh, nâng toàn bộ sân trường, lát gạch đỏ, quét vôi mới toàn trường. Vì thế tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu

    Duy trì sĩ số học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non

    – Nhằm duy trì và phát triển số lượng học sinh trên địa bàn xã Vĩnh Quỳnh ra lớp.

    * Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

    – Đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng mọi mặt trong nhà trường nhằm thu hút trẻ từ 2-5 tuổi trên địa bàn xã Vĩnh Quỳnh ra lớp.

    * Phạm vi áp dụng: Tại trường mầm non xã Vĩnh Quỳnh năm học 2012-2013.

    Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non có vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là bậc học đầu tiên và được xác định là: “Bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân”. Về mục tiêu giáo dục mầm non, văn bản mục tiêu kế hoạch giáo dục ban hành theo quyết định số 2957/GDTH ngày 14/10/1994 của Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo đã khẳng định: “Mầm non là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắn cho giáo dục quốc dân”. Giáo dục mầm non có nhiệm vụ “Hình thành trong học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kỹ năng sống cơ bản” mà chỉ có ở môi trường giáo dục mới hình thành đầy đủ. Vì thế trẻ phải được đến trường, được sống, được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục một cách đầy đủ, tốt nhất theo khoa học tạo tiền đề, nền tảng vững chắc cho sự phát triển sau này của trẻ.

    1. Đặc điểm tình hình.

    Trường MN Vĩnh Quỳnh có 4 điểm trường nằm ở 3 thôn Quỳnh Đô, Vĩnh

    Ninh, ích Vịnh, là một xã thuần nông và rất đông dân.

    – Khu Vĩnh Ninh là khu trung tâm có 8 phòng học mỗi phòng rộng 65m2, bếp rộng 80 m2, có đủ các phòng chức năng, hiệu bộ.

    – Khu Quỳnh Đô có 2 điểm trường được xây mới và cải tạo theo quy mô trường chuẩn quốc gia mức độ I gồm 8 phòng rộng 85m2, 4 phòng rộng 50m2 có đầy đủ các phòng chức năng, hiệu bộ. Điểm trường mới xây bàn giao đưa vào sử dụng tháng 9/2012, điểm trường cải tạo bàn giao đưa vào sử dụng tháng 12/2012.

    – Khu ích Vịnh có 3 phòng học, mỗi phòng rộng 45 m2 và 1 phòng bếp.

    – Năm học 2012-2013 trường mở dạy 23 lớp nhà trẻ mẫu giáo.

    – Tổng số học sinh điều tra là 2385 cháu trong đó có 1166 cháu nhà trẻ và

    1087 trẻ mẫu giáo.

    – Toàn trường có 97 cán bộ giáo viên nhân viên (CBGVNV) trong đó ban giám hiệu 3 đồng chí, giáo viên 67 đồng chí, nhân viên 27 đồng chí.

    – 35/97 CBGVNV có trình độ trên chuẩn đạt 36%.

    – 4/4 điểm trường đều được xây dựng khang trang, rộng rãi có đầy đủ các phòng chức năng, có sân chơi, nhiều cây xanh bóng mát và đồ chơi cho trẻ chơi

    – 4/4 điểm trường cách nhau khoảng 1.000km, ở trung tâm của các thôn thuận tiện cho việc đưa đón con đi học của phụ huynh.

    – Đội ngũ giáo viên trong trường trẻ, khoẻ, yêu nghề mến trẻ.

    – 3/3 CBQL đều có trình độ trên chuẩn, có kinh nghiệm quản lý từ 3-5 năm, hoàn thành chứng chỉ quản lý đã và đang theo học lớp TCLLCT.

    – 100% cán bộ, giáo viên nhân viên đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn.

    – 23/23 được đầu tư đầy đủ đồ dùng, đồ chơi theo chương trình giáo dục mầm non mới.

    Bên cạnh những thuận lợi trên trường mầm non Vĩnh Quỳnh còn gặp một số khó khăn sau.

    – Vĩnh Quỳnh là một xã thuần nông và rất đông dân, toàn xã có 21.300 nhân khẩu.

    – Số trẻ từ 0-5 tuổi đông nhất huyện Thanh Trì gồm 2385 cháu.

    – Trường có nhiều điểm trường (4 điểm) và chưa đạt chuẩn Quốc Gia.

    – Tỷ lệ học sinh ra lớp hàng năm thấp.

    – Chất lượng đội ngũ giáo viên chưa cao, 10 giáo viên mầm non mới tuyển chưa có kinh nghiệm chăm sóc giáo dục trẻ.

    – Vị trí điểm trường không thuận lợi cho việc đưa đón con hàng ngày của phụ huynh khối cơ quan.

    – Trên địa bàn xã có nhiều nhóm lớp tư thục trong đó có 4 nhóm đã được cấp phép và 4 nhóm chưa được cấp phép.

    – Đa số phụ huynh làm nông nghiệp, chợ búa, nhận thức về ngành học còn hạn chế, chưa chú trọng nuôi dạy con theo khoa học.

    Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp sau.

    a. Khảo sát, điều tra trẻ.

    Để có kế hoạch sắp xếp, bố trí lớp học, giao chỉ tiêu cụ thể, phù hợp cho các lớp thì bản thân người hiệu trưởng phải nắm được chính xác số liệu học sinh từ 0-5 tuổi trên địa bàn xã Vĩnh Quỳnh. Vì thế ngay từ buổi họp giao ban công tác tháng 6 với ủy ban nhân dân (UBND) xã Vĩnh Quỳnh tôi đã báo cáo kế hoạch tuyển sinh, chỉ tiêu tuyển sinh của phòng giáo dục để UBND xã được biết sau đó tham mưu với đồng chí chủ tịch xã, đồng chí phó chủ tịch phụ trách văn hóa xã.

    Kết hợp cùng các cộng tác viên dân số ở các cụm dân cư trên địa bàn xã cùng phối hợp điều tra. Đây là việc vô cùng quan trọng bởi thực tế xã Vĩnh Quỳnh là xã lớn gồm 13 cụm dân cư và khối cơ quan nhiều giáo viên, nhân viên không phải người ở xã nên không nắm được hết địa bàn dân cư vì vậy việc điều tra gặp rất nhiều khó khăn.

    Phân công cán bộ giáo viên, nhân viên điều tra. Để thuận tiện cho việc điều tra được nhanh gọn, đầy đủ các thông tin chính xác, tôi nghiên cứu, sắp xếp phân công CBGVNV ở cụm nào thì phối hợp với cộng tác viên dân số ở cụm đó đi điều tra và tranh thủ điều tra vào khoảng thời gian từ 17h-20h hàng ngày. Trong khoảng thời gian này bố, mẹ trẻ mới có ở nhà và cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác.

    – Lịch phân công cụ thể như sau. (Phụ lục 1)

    – Phân công xong tôi hướng dẫn cán bộ, giáo viên, nhân viên điều tra đầy đủ các nội dung theo mẫu phiếu điều tra như sau. (Phụ lục 2)

    – Sau khi có kết quả điều tra tôi giao cho văn thư tổng hợp số liệu, kết quả điều tra. Kết quả điều tra như sau. (Phụ lục 3)

    Qua số liệu điều tra trẻ từ 0-5 tuổi trên địa bàn xã để huy động trẻ ra lớp đông đạt chỉ tiêu phòng giáo dục phân thì việc khảo sát cơ sở vật chất để đáp ứng được số trẻ ra lớp là việc làm cần thiết.

    b. Khảo sát cơ sở vật chất.

    Đây là một biện pháp vô cùng quan trọng vì với số lượng điều tra trẻ đông như vậy mà không đảm bảo được các điều kiện cơ sở vật chất sẽ dẫn đến không đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ vì thế ngay từ đầu năm học tôi tiến hành khảo sát các điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường như sau.

    – Kiểm tra toàn bộ các phòng học, phòng chức năng, trần bên trong, ngoài các lớp học, rèm, cửa, các nhà vệ sinh ở các khu.

    – Kiểm tra toàn bộ hệ thống điện, nước, âm ly, loa đài, vô tuyến, máy tính, đèn, quạt.

    – Kiểm tra toàn bộ môi trường, cảnh quan sư phạm ngoài trời.

    – Kiểm tra, rà soát toàn bộ đồ dùng, đồ chơi ngoài trời, đồ dùng, đồ chơi các lớp theo chương trình chăm sóc giáo dục trẻ, đồ dùng, đồ chơi theo thông tư 02.

    Sau khi rà soát nhà trường lên kế hoạch, sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng và bổ sung kịp thời.

    2. Tuyên truyền vận động trẻ ra lớp.

    Đối với một xã thuần nông, đa số phụ huynh làm nông nghiệp, nhận thức của phụ huynh về ngành học còn hạn chế thì việc tuyên truyền vận động để phụ huynh nhận thức đúng về lợi ích, tầm quan trọng của việc cho trẻ đến trường mầm non là điều vô cùng cần thiết. Vì thế ngay từ đầu tháng 6 các năm học tôi chỉ đạo hiệu phó chuyên môn viết bài, sưu tầm các bài tuyên truyền của các nhà báo có nội dung về giáo dục mầm non (lợi, ích, tầm quan trọng của việc cho trẻ đến trường mầm non…)

    – Viết thông báo tuyển sinh, xây dựng kế hoạch tuyển sinh, phối hợp truyền thanh thôn, xã đọc hàng ngày để phụ huynh hiểu và nắm được.

    – Tuyên truyền qua các buổi họp phụ huynh

    – Tuyên truyền qua các hội nghị của xã như phụ nữ, mặt trận tổ quốc bằng cách báo cáo các kết quả đạt được của cô, trẻ, các hoạt động trong nhà trường, tham gia các phong trào văn hóa, văn nghệ của xã, thôn như hội nghị, hội làng…..Đặc biệt thông qua các hội nghị của xã như: Hội phụ nữ tôi tuyên truyền để các bà, các mẹ, các chị đang sinh sống ở khối cơ quan biết về sự khang trang, rộng rãi và đáp ứng được các điều kiện cơ sở vật, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường để phụ huynh yên tâm đưa con đến trường học mặc dù đi hơi xa một chút nhưng giao thông đảm bảo, quan trọng hơn trẻ được học ở môi trường học tập có đầy đủ các điều kiện tốt nhất.

    3. Xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu phù hợp.

    Xây dựng kế hoạch là tiền đề là khâu đầu tiên đặc biệt quan trọng trong việc giao chỉ tiêu tuyên truyền vận động học sinh ra lớp, nó được ví như chìa khóa, kim chỉ nam mở đường dẫn lối cho người thực hiện đi đến thành công. Xây dựng kế hoạch càng cụ thể, rõ ràng, càng đảm bảo công việc thuận lợi, giúp người thực hiện chủ động không bị lúng túng. Khi xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu tuyển sinh cho các lớp, các lứa tuổi tôi căn cứ công văn số 4229/SGD&ĐT-QLT ngày 20/4/2012 của sở giáo dục và đào tạo Hà Nội về việc hướng dẫn tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 năm học 2012-2013 và công văn số 191/KH-PGD&ĐT huyện Thanh Trì ngày 30/5/2012 về kế hoạch tuyển sinh vào các trường mầm non lớp 1và lớp 6 năm học 2012-2013. Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất, số phòng, nhóm lớp của nhà trường, căn cứ số trẻ điều tra tại xã đặc biệt ưu tiên bố trí lớp dành cho học sinh 5 tuổi. Tôi xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu như sau. Các cháu ở cơ quan nhập học tại điểm trường

    4. Xây dựng cảnh quan sư phạm, trường, lớp đẹp thu hút trẻ đến lớp.

    Xây dựng cảnh quan sư phạm nhà trường là một trong những yếu tố quan trọng nhằm thu hút trẻ yêu trường, yêu lớp và thích được đến trường, lớp học. Nhận thức được vấn đề này tôi lên kế hoạch xây dựng, cải tạo, sửa chữa cảnh quan sư phạm nhà trường như sau.

    – Đầu tư đầy đủ hệ thống các bảng biểu các phòng, nhóm lớp để phụ huynh, trẻ dễ quan sát, các khẩu hiệu phát động các phong trào thi đua trong nhà trường.

    – Sắp xếp các đồ chơi ngoài trời rải rác xung quanh sân gần chỗ có cây xanh mát, không ảnh hưởng đến lối đi lại và việc tổ chức các hoạt động trong nhà trường.

    – Hợp đồng với công ty sữa cô gái Hà Lan vẽ hình ảnh có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, trò chơi dân chúng tôi quanh trường.

    – Đổ đất giao cho mỗi lớp một khu làm vườn rau của trẻ quan sát.

    – Tham mưu tài chính, ủy ban nhân dân xã Vĩnh Quỳnh đầu tư làm khu vui chơi vườn cổ tích cho trẻ.

    – Chỉ đạo giáo viên chọn những sản phẩm tạo hình của trẻ tiêu biểu làm khung treo ở cầu thang lên xuống phòng năng khiếu, sơn hình ảnh các bàn chân, các chữ cái ở cầu thang lên xuống lớp học của trẻ giúp trẻ biết đi lên xuống cầu thang đúng chiều vừa đi vừa được nhìn, đọc các chữ cái, chữ số đã học.

    Điểm trường Quỳnh Đô 2 (mới được cải tạo lại bàn giao cho trường sử dụng tháng 12/2012)

    – Phân công giáo viên có năng khiếu tạo hình sơn, vẽ lại các bức tranh đã cũ, vẽ thêm một số bức tranh mới.

    – Phân công bảo vệ mua sơn, sơn lại toàn bộ những đồ chơi ngoài trời đã cũ.

    – Làm khu vui chơi các con vật.

    – Đổ đất giao các lớp trồng rau làm vườn rau cho trẻ quan sát.

    – Chỉ đạo giáo viên có năng khiếu tạo hình sơn, vẽ lại toàn bộ các bức tranh đó cũ.

    – Phân công bảo vệ kiểm tra, sơn sửa toàn bộ đồ chơi ngoài trời đã cũ.

    – Chỉ đạo giáo viên trang trí các cột bê tông, phía trên treo những bức tranh kết hợp hình ảnh có nội dung giáo dục trẻ.

    – Kêu gọi các chủ hàng cung ứng thực phẩm cho trường mua tặng ghế đá để xung quanh 3 điểm trường.

    – Trường mua vôi, phân công bảo vệ quét lại toàn bộ mặt ngoài của trường, lớp học.

    – Thay thế toàn bộ cờ tổ quốc, cờ đuôi nheo.

    – Mua bổ xung thêm cây xanh.

    5. Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ nhằm thu hút trẻ đến lớp.

    Đây là một biện pháp vô cùng quan trọng vì như chúng ta đều biết hiện nay mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 đến 2 con, các bậc phụ huynh rất quan tâm đến việc chọn trường, chọn lớp cho con em mình vì thế việc không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút trẻ đến trường lớp, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tốt thì phụ huynh yên tâm cho con em mình đến học nếu chất lượng không tốt phụ huynh sẽ chọn trường khác chất lượng tốt hơn, hoặc đi tư thục hay ở nhà học chữ. Vì thế ngay từ đầu năm học trong buổi học tập nhiệm vụ năm học của ngành, của trường tôi luôn nhấn mạnh để cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường nắm được để nêu cao tinh thần đoàn kết, nhất trí mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tham gia tích cực các hoạt động trong nhà trường, phấn đấu nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tạo uy tín tới phụ huynh giúp phụ huynh yên tâm gửi gắm con em mình đến trường.

    a. Nâng cao chất lượng giáo dục.

    – Chỉ đạo hiệu phó chuyên môn triển khai kế hoạch chuyên môn cụ thể, rõ ràng tới 100% giáo viên trong trường, phối hợp với tổ trưởng tổ chuyên môn các khối xây dựng phiên chế chương trình phù hợp lứa tuổi, nhận thức, điều kiện cơ sở vật chất của trường, lớp mình.

    – Phân công mỗi lớp 1 giáo viên có kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn vững vàng với 1 giáo viên mới vào ngành hoặc có trình độ chuyên môn hạn chế để kèm cặp, học hỏi, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

    – Chỉ đạo hiệu phó chuyên môn tổ chức sinh hoạt định kỳ mỗi tháng 2 lần đi sâu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về cách soạn bài, lựa chọn hình thức, trò chơi, truyền tải nội dung kiến thức ngắn gọn, dễ hiểu sao cho trẻ hứng thú nắm được kiến thức theo yêu cầu của bài đặc biệt lưu ý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mới tuyển.

    – Tăng cường dự giờ kiểm tra các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên.

    – Xây dựng 4 lớp điểm ở 4 khối và làm điểm các chuyên đề mà giáo viên còn hạn chế sau đó chỉ đạo hiệu phó chuyên môn phối hợp giáo viên các lớp điểm xây dựng, lên tiết cho 100% giáo viên trong trường kiến tập, học hỏi, rút kinh nghiệm.

    – Tổ chức các buổi hội thảo các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên như:

    + Hội thảo về cách soạn và trình bày giáo án và các loại hồ sơ sổ sách nhóm lớp.

    + Hội thảo về cách quản lý, dạy trẻ khi tách lớp.

    + Hội thảo về nghệ thuật thu hút trẻ và nghệ thuật sử lý các tình huống sư phạm.

    + Hội thảo cách lựa chọn, sáng tạo những hình thức lên lớp, lồng ghép tích hợp nội dung hợp lý.

    – Tổ chức tốt chuyên đề tạo hình, âm nhạc, bảo vệ môi trường, giáo dục tình yêu biển đảo…vv

    – Tổ chức tốt chuyên đề viết SKKN (Mời cô Dương Thuý Quỳnh giảng viên trường đào tạo CBQL về hướng dẫn giáo viên cách viết SKKN)

    – Tổ chức tốt chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học và quản lý giáo dụ

    Hình ảnh nhà trường đang tổ chức hội nghị phát huy

    sáng kiến kinh nghiệm cấp thành phố

    b. Nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng.

    Đối với trẻ mầm non chăm sóc nuôi dưỡng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm phát triển cơ thể khỏe mạnh làm tiền đề cho sự phát triển toàn diện sau này. Công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ rất phức tạp bởi cơ thể trẻ còn non nớt, sức đề kháng kém, vì vậy thực hiện chế độ chăm sóc, ăn uống của trẻ như thế nào để trẻ có một cơ thể khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Là hiệu trưởng của trường mầm non Vĩnh Quỳnh tôi luôn chú trọng đi sâu chỉ đạo, kiểm tra công tác chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường bằng những biện pháp sau.

    – Ký hợp đồng với các chủ hàng cung ứng thực phẩm cho trường đảm bảo nguồn gốc, chất lượng, tươi ngon, giá cả phù hợp, không để ngộ độc thực phẩm xảy ra trong nhà trường.

    – Kiểm tra, rà soát toàn bộ đồ dùng phục vụ công tác chăm sóc giáo dục, bổ sung, thay thế đầy đủ, thường xuyên kiểm tra hệ thống bếp ga, điện, nước, phòng cháy, chữa cháy của nhà trường

    – Chỉ đạo hiệu phó nuôi, kế toán, nhân viên tổ nuôi thực hiện đầy đủ, chính xác các loại sổ sách quản lý theo dõi công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

    – Chỉ đạo hiệu phó nuôi kết hợp kế toán, tổ nuôi xây dựng thực đơn theo mùa, theo tuần chẵn, lẻ, đảm bảo thực đơn đầy đủ cân đối tỷ lệ calo các chất, đặc biệt tỷ lệ, ca, b1 trong bữa ăn của trẻ.

    – Chỉ đạo hiệu phó nuôi tổ chức sinh hoạt tổ nuôi định kỳ mỗi tháng một lần, cử cô nuôi lên thăm lớp để nắm được tình hình ăn của trẻ và có biện pháp thay đổi, điều chỉnh kịp thời.

    – Tăng cường kiểm tra việc giao nhận thực phẩm, chất lượng bữa ăn và công tác vệ sinh an toàn thực phẩm

    – Chỉ đạo 100% cán bộ giáo viên nhân viên làm tốt công tác vệ sinh môi trường vào thứ 2, thứ 6 hàng tuần, không để dịch bệnh xảy ra.

    – Ký hợp đồng phun muỗi, diệt dán, phòng chống dịch bệnh cho trẻ 1 năm 2 lần vào mùa xuân, mùa thu.

    – Tổ chức tập huấn cho 100 % cán bộ, giáo viên, nhân viên biết cách phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

    – Bố trí, sắp xếp cử 100% giáo viên, nhân viên đi tập huấn về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm.

    – Liên hệ, phối hợp với trạm y tế xã khám sức khỏe cho trẻ 1 năm 2 lần vào tháng 10, tháng 3, cho trẻ uống thuốc giun.

    – Chỉ đạo y tế cân đo, theo dõi trẻ trên biểu đồ tăng trưởng theo định kỳ một năm 4 lần vào tháng 9,12,2,4.

    – Chỉ đạo 100% giáo viên các lớp rèn nề nếp thói quen vệ sinh văn minh cho trẻ, động viên trẻ ăn hết xuất.

    – Tăng cường kiểm tra đột xuất, báo trước việc thực hiện quy trình giao nhận, sơ chế, chế biến thực phẩm, thành phẩm của tổ nuôi.

    – Chỉ đạo giáo viên các lớp phối hợp với phụ huynh cùng chăm sóc nuôi trẻ, đặc biệt những trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi, béo, ph

    Hình ảnh đồng chí phó hiệu trưởng phụ trách nuôi dưỡng đang họp tổ nuôi xây dựng thực đơn mới

    6. Tổ chức tốt ngày hội, ngày lễ và các phong trào thi đua nhằm thu hút trẻ đến lớp.

    Tổ chức ngày hội, ngày lễ cho trẻ trong trường mầm non là một hoạt động vô cùng quan trọng và có ý nghĩa. Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu tình cảm cho trẻ mà còn mở rộng cho trẻ sự hiểu biết về xã hội, thiên nhiên, cuộc sống con người, giúp trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, hình thành và phát triển nhân cách toàn diện sau này của trẻ. Tổ chức ngày hội, ngày lễ còn có tác dụng tuyên truyền với các bậc phụ huynh và cộng đồng về các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non. Vì thế ngay từ đầu năm học tôi đó lên kế hoạch từng tháng như sau.

    – Liệt kê các ngày hội, ngày lễ cần tổ chức trong năm như, ngày khai giảng, ngày tết trung thu, ngày hội của các thầy, cô giáo 20/11, ngày tết Noel, ngày tết cổ truyền của dân tộc, ngày quốc tế phụ nữ 8/3, tổng kết năm học, tết thiếu nhi 1/6.

    – Triển khai kế hoạch tổ chức ngày hội, ngày lễ tới 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường nắm được.

    – Chỉ đạo hiệu phó chuyên môn lên kế hoạch, dàn ý, nội dung chương trình.

    – Chỉ đạo 100% các lớp trang trí lớp, tập luyện các tiết mục văn nghệ tạo không khí vui tươi, phấn khởi mong chờ đến ngày hội, ngày lễ.

    – Phân công công việc phù hợp với khả năng từng người như trang trí phông, tập luyện kịch bản, đến ngày hội, ngày lễ nào tôi lên kế hoạch phân công, công việc cụ thể tới phù hợp với khả năng của từng người như tập luyện, kịch bản, tập hát múa, dẫn chương trình, mời, đón tiếp khách mời, chịu trách nhiệm các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, đạo cụ phù hợp với từng ngày hội, ngày lễ.

    – Khi tổ chức các ngày hội, ngày lễ chúng tôi mời nhiều thành phần đến dự như đại biểu phòng giáo dục, đại biểu xã, thôn, các bậc phụ huynh qua đó tuyên truyền với mọi tầng lớp trong xã hội hiểu được tầm quan trọng, lợi ích của việc cho trẻ đến trường mầm non.

    – Tổ chức các ngày hội, ngày lễ đầy đủ trang trọng, hấp dẫn, thu hút nhiều phụ huynh và trẻ hưởng ứng tạo không khí vui tươi, phấn khởi từ đó luôn yêu quý trường lớp, cô giáo và thích được đến trường lớp hàng ngày.

    b. Phong trào thi đua.

    Như chúng ta đều biết phong trào thi đua có tác dụng tuyên truyền sâu rộng đến các bậc phụ huynh và cộng đồng về chăm sóc giáo dục mầm non theo khoa học. Nhận thức đúng tầm quan trọng đó ngay từ đầu năm học tôi liệt kê các hội thi mà trong năm sẽ tổ chức như: Hội thi chấm lớp nào đẹp nhất, hội thi giáo viên nhân viên giỏi cấp trường, hội thi làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo, và các phong trào thi đua, các cuộc vận động cần phát động như: Phong trào văn nghệ, phong trào xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực, phong trào tham gia tập thể dục buổi sáng…cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”. Trước mỗi hội thi tôi đều chỉ đạo hiệu phó chuyên môn xây dựng nội, dung kế hoạch hội thi sau đó triển khai tới 100% cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường. Thành lập ban thi đua gồm các đồng chí trong ban giám hiệu, chủ tịch công đoàn nhà trường, trưởng ban thanh tra nhân dân và tổ trưởng chuyên môn các khối. Tổ chức chấm chọn, đánh giá công bằng, công khai đảm bảo đúng thực chất. Sau mỗi hội thi và kết thúc các phong trào đều đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng kịp thời.

    Sau khi triển khai và áp dụng những biện pháp trên vào công tác duy trì và phát triển số lượng học sinh tại trường cùng với sự nỗ lực đoàn kết, nhất trí không ngừng phấn đấu của toàn bộ tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường. Năm học 2012-2013 nhà trường đã thu được kết quả đáng mừng.

    * Về phía nhà trường.

    – Chi bộ đảng đạt trong sạch, vững mạnh.

    – Trường đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện.

    – Công đoàn đạt công đoàn vững mạnh xuất sắc.

    – Văn nghệ đạt giải nhất.

    – Y tế xếp loại tốt.

    – Hội khỏe măng non đạt giải khuyến khích trò chơi vận động, giải phong cách đồng diễn thể dục.

    – Trường đạt trường tiên tiến thể dục, thể thao cấp huyện.

    – Tổ chức đầy đủ, trang trọng các ngày hội, ngày lễ của trường, có tác dụng tuyên truyền tốt tới các bậc phụ huynh.

    – Tỷ lệ học sinh ra lớp đông, đời sống cán bộ, giáo viên, nhân viên được nâng lên vì thế họ yên tâm công tác.

    * Về phía cô giáo.

    – 100% giáo viên, nhân viên thực hiện nghiêm túc nội quy, quy chế của ngành, của trường đề ra.

    – 100% giáo viên, nhân viên nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

    – 100% giáo viên biết xây dựng môi trường lớp học đẹp, có nhiều góc mở cho trẻ hoạt động, thu hút trẻ thích đến trường lớp.

    – 100% giáo viên, nhân viên tham gia hội các đợt hội giảng 20/11, hội giảng mùa xuân đạt kết quả tốt.

    – 5 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp huyện.

    – 25 giáo viên được phòng giáo dục thanh tra đều xếp loại tốt.

    – 100% giáo viên được đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp.

    – 100% giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền với phụ huynh qua đó tạo mối quan hệ tình cảm, thân thiện giữa cô, trẻ và phụ huynh.

    – Năm học 2012-2013 trường huy động được 1020 trẻ ra lớp tăng 231 trẻ so với năm học trước.

    với năm học trước.

    – 100% trẻ yêu quý trường lớp, thích được đến trường lớp học.

    – Tỷ lệ học sinh ra lớp đông, bình quân 45 cháu /lớp.

    – Mẫu giáo lớn đạt 259/259 đạt 100%

    – Mẫu giáo nhỡ 336/456 đạt 73.7%

    – Mẫu giáo bé 230/327 đạt 61.8%

    – Nhà trẻ 195/618 đạt 31.5%.

    – Tỷ lệ chuyên cần. + Mẫu giáo lớn 5-6 tuổi đạt 90 %.

    + Mẫu giáo 4-5 tuổi đạt 87.5 %.

    + Mẫu giáo bé 3-4 tuổi đạt 86 %.

    – Tỷ lệ bé ngoan đạt 85%.

    – 96% trẻ đạt yêu cầu phát triển thể chất.

    – 98% trẻ đạt yêu cầu phát triển nhận thức.

    – 97% trẻ đạt yêu cầu phát triển ngôn ngữ.

    – 97% trẻ đạt yêu cầu phát triển tình cảm xã hội.

    – 96% trẻ đạt yêu cầu phát triển thẩm mỹ.

    – 95% phụ huynh nhận thức được lợi ích tầm quan trọng của việc cho trẻ đến trường mầm non từ đó cho con đến trường lớp khi đủ tuổi và ngay từ đầu năm học.

    – Phụ huynh phấn khởi khi cho con em mình nhanh nhẹn, khỏe mạnh, mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, nắm được kiến thức theo yêu cầu độ, có một số kỹ năng sống cơ bản …vv.

    – Phụ huynh yên tâm, tin tưởng chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại trường và cho con học tại trường không cho trẻ đi học trường khác nữa.

    Để đạt được kết quả trên đòi hỏi người hiệu trưởng trong nhà trường xác định rõ công việc, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị.

    – Cập nhật, nắm bắt các công văn chỉ đạo của các cấp kịp thời chính xác.

    – Xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường cụ thể rõ ràng, từng nội dung, có kế hoạch dài hạn, có kế hoạch ngắn hạn.

    – Nắm vững đặc điểm tình hình cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên về mọi mặt qua đó sắp xếp, phân công giao việc phù hợp khẳ năng từng người nhằm phát huy, nhân rộng những mặt mạnh.

    – Làm tốt công tác tham mưu lãnh đạo các cấp đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc giáo dục và các hoạt động trong nhà trường.

    – Làm tốt công tác tuyên truyền vận động, xã hội hoá giáo dục góp phần xây dựng có sở vật chất cho trường, lớp ngày càng khang trang hiện đại hơn..

    – Bản thân người quản lý phải nói được, làm được. Biết sắp xếp các công việc, xây dựng kế hoạch cụ thể rõ ràng, phân công phù hợp với từng giáo viên, điều kiện của nhà trường để dễ thực hiện.

    – Phải nắm vững đặc điểm tình hình đội ngũ về tư tưởng, tình cảm, chuyên môn nghiệp vụ, trên cơ sở đó có biện pháp bồi dưỡng, điều chỉnh kịp thời.

    – Động viên, giúp đỡ tạo mội điều kiện cho cán bộ, giáo viên, nhân viên theo học các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

    – Đánh giá CBGVNV trong trường đúng thực chất, đảm bảo công bằng, khách quan, kích thích được tinh thần phấn đấu của tập thể và từng cá nhân.

    – Tổ chức tốt các ngày hội ngày lễ, các phong trào thi đua, không ngừng nâng cao chất lượng mọi mặt trong nhà trường.

    – Thường xuyên chăm lo đến quyền lợi CBGVNV để họ yên tâm công tác.

    – Bố trí lịch tiếp phụ huynh và làm hòm thư góp ý để lắng nghe ý kiến phụ huynh, giải đáp, sửa đổi các ý kiến của phụ huynh kịp thời tạo sự uy ín, tin tưởng của phụ huynh.

    – Bản thân người hiệu trưởng phải thực sự gương mẫu đi đầu trong mọi việc, phải tạo uy tín trong gia đình, nhà trường và xã hội, có khả năng sáng tạo, linh hoạt, nhạy bén trong công tác quản lý, tập hợp được đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường được đội ngũ tin tưởng, yêu quý.

    2. Đề xuất và khuyến nghị:

    Những nhà quản lý phải có tầm nhìn, tâm huyết với nghề và hết lòng vì thế hệ tương lai của đất nước.

    Kính mong các cấp lãnh đạo quan tâm hơn nữa, triển khai xây sớm điểm trường Vĩnh Ninh, Ích Vịnh.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Ở Trường Tiểu Học Y Ngông
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số, Vận Động Học Sinh Đến Trường Tại Các Trường Tiểu Học Xã Cư Pơng
  • Cải Tạo Đất Nhiễm Phèn, Mặn
  • Giáo Án Môn Công Nghệ 7 Tiết 4: Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất Trồng
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Skkn Về Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực Môn Lịch Sử Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực Môn Lịch Sử Lớp 5 Skkn Mai Hong Suong 20112012 Doc
  • Hiểu Đầy Đủ Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Là giáo viên làm công tác chủ nhiệm ở tiểu học thì bất cứ ai cũng mong muốn lớp mình phụ trách không có học sinh bỏ học. Nhưng thực tế thì không phải giáo viên nào, trường nào cũng đảm bảo được công tác duy trì sĩ số 100% khi trường đó ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Trước khi tôi thực hiện đề tài này, cũng có những đồng nghiệp đã nghiên cứu và ứng dụng trong công tác nhưng hiệu quả chưa cao. Có thể do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan mang lại. Tôi cũng có học hỏi và vận dụng nhưng kết quả không như mong muốn. Từ đó, tôi nghiền ngẫm và quyết định tìm hiểu mọi biện pháp để thu hút các em đến lớp, đến trường đảm bảo công tác duy trì sĩ số. Khi nghiên cứu đề tài này tôi cũng phần nào dựa trên một số biện pháp mà đồng nghiệp của mình đã nghiên cứu trước đó nhưng có phần cải biến cho phù hợp với đối tượng học sinh, hoàn cảnh gia đình và thời đại,

    Trường Tiểu học Lê Hồng Phong có tất cả 3 điểm trường. Điểm trường nơi tôi làm công tác chủ nhiệm là buôn Eana với đại đa số dân cư là người dân tộc thiểu số. Hằng năm vẫn xảy ra tình trạng học sinh bỏ học. Các giáo viên và nhà trường cũng tìm mọi cách để những học sinh đó trở lại trường nhưng cũng chỉ được một thời gian sau đó lại nghỉ (Ví dụ: Em Y Hoàng bỏ học năm học 2014 – 2022). Bên cạnh đó, lớp học mà tôi phụ trách cũng gặp phải những khó khăn nhất định:

    Văn hóa, lối sống khác nhiều so với những gì thực tế học tập từ sách vở. Kết quả học tập chưa cao. Một số em điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ mải đi làm thuê kiếm sống không quan tâm đến việc học tập của con, phó mặc hết cho nhà trường và thầy cô giáo. Lớp có một em bố mẹ bỏ nhau, bố và mẹ không nuôi nên em ở với bà ngoại. Vì thế, việc học tập phần nào bị lơ đễnh. Có 3 em bố mẹ đi làm ăn nơi xa, các em sống với ông bà. Có 1 em ham chơi, bị bạn bè xấu lôi kéo vào các trò game online thành nghiện. Một số em nhà ở xa trường học, đường sá đi lại khó khăn. Phần lớn học sinh rất thụ động, kĩ năng sống chưa được chú trọng, kĩ năng giao tiếp chưa tốt, kĩ năng giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường lớp, ý thức bảo vệ của công và ý thức kỉ luật khi tham gia hoạt động tập thể, đặc biệt là tính tự giác, tích cực học tập, hạn chế. Với những thực trạng trên, để duy trì sĩ số học sinh ở lớp chủ nhiệm, đặc biệt là học sinh ở khối lớp 5có nhiều học sinh dân tộc thểu số là một nhiệm vụ bắt buộc đối với cá nhân tôi. Việc duy trì sĩ số học sinh nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, không bắt buộc theo một khuôn mẫu nào cả nên tôi vừa học, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp: a. Mục tiêu của giải pháp: Mục tiêu chủ yếu và quan trọng nhất của giải pháp, biện pháp duy trì sĩ số học sinh là tạo cho các em niềm vui khi đến trường. Từ đó, các em có cơ hội tiếp thu bài một cách đầy đủ nhất, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện về mặt kiến thức, năng lực và phẩm chất của học sinh trong quả trình dạy học một cách chủ động, dễ dàng và chắc chắn. Việc phổ biến và đề ra nội quy ngay từ đầu năm học giúp các em định hướng được nhiệm vụ của bản thân trong năm học. Quan tâm, giúp đỡ học sinh khắc phục khó khăn trong học tập, thoát khỏi sự tự ti, mặc cảm và học sinh có hoàn cảnh khó khăn thì sẽ các em vững tin vào bản thân hơn. Qua đó thêm yêu trường lớp, thầy cô và bạn bè. Phối hợp chặt chẽ với các giáo viên bộ môn, giáo viên dạy thay và Tổng phụ trách Đội giúp giáo viên nắm bắt kịp thời, chính xác tình hình học tập, rèn luyện và cả những thay đổi bất thường mỗi học sinh trong lớp. Từ đó có hướng điều chỉnh phù hợp trong dạy học và giáo dục. Tận dụng tối đa sự tác động của môi trường xã hội tạo mối liên hệ gắn kết giữa nhà trường - gia đình - cộng đồng để giáo dục học sinh phát triển một cách toàn iện nhất. Tổ chức tốt tiết sinh hoạt tập thể - sinh hoạt lớp, tạo môi trường giáo dục tốt giúp các em hứng khởi hơn trong học tập, gắn bó học sinh với học sinh; học sinh với giáo viên; học sinh với trường lớp, b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp Thứ Nhất: Phổ biến nội quy ngay từ đầu năm tới học sinh - phụ huynh Tổ chức học nội quy lớp ngay tuần đầu của năm học. Quy định rõ: học sinh phải đi học đều và đúng giờ, nghỉ học phải có lí do và được cha mẹ xin phép. Tổ chức họp phụ huynh học sinh đầu năm, thông báo cho phụ huynh biết về quy định và nhờ phụ huynh hàng ngày theo dõi, nhắc nhở. Học sinh đến trường đều tự mình đánh dấu vào Bảng theo dõi "Ngày em đến lớp". Gọi điện thoại liên lạc trực tiếp với phụ huynh đối với những trường hợp học sinh tự ý bỏ học. (Tôi đã nắm được 20/25 số điện thoại của phụ huynh học sinh trong lớp). 5 em (Y Sa Muel Niê, H Nang Êban, Y Truyền Byã, Y Khuyến Byã, Y Huy Byã) không có vì bố mẹ không dùng điện thoại nên phải đến tận nhà tìm hiểu nguyên nhân và trao đổi cách khắc phục. Chính nhờ thế mà những học sinh ở lớp tôi chủ nhiệm chỉ nghỉ học 1 ngày không phép thì đến hôm sau đi học lại bình thường, nên năm 2022-2016 lớp tôi chủ nhiệm không có hiện tượng học sinh bỏ học giữa chừng. Thứ hai: Giúp học sinh khắc phục khó khăn trong học tập: Giáo viên hướng dẫn học sinh gặp khó khăn trong tính toán về cách nhận dạng kiến thức, củng cố kiến thức bằng cách ôn luyện theo mỗi ngày. Quan tâm đặc biệt đến các em, hướng dẫn những học sinh khá, giỏi cùng học với các em. Hoặc trực tiếp cùng gia đình phối hợp hướng dẫn các em học ở nhà, ở trường. Đồng thời động viên, tuyên dương kịp thời những em có tiến bộ rõ nét, khuyến khích các em có sự phấn đấu cao hơn, cụ thể: + Em Phạm Tuấn Vũ hỗ trợ em Y Sa Muel Niê. + Em Phạm Văn Huy hỗ trợ em Y Huy byã. + Em Nguyễn Thị Minh hỗ trợ em Vũ Quang Tiến Do vậy, kết quả học tập của những đôi bạn cùng tiến trên có sự tiến bộ rõ rệt. Thứ ba: Giúp học sinh thoát khỏi sự tự ti, mặc cảm: Lúc này vai trò của giáo viên hết sức quan trọng đối với tâm hồn trẻ. Người thầy có thể là cha mẹ hoặc là người bạn và sự điều này giúp cho các em vượt qua khó khăn. Chính vì vậy, mỗi người thầy là người tương tác với các em trong việc học tập, sinh hoạt và cốt yếu là luôn cân bằng giữa tư cách là người giữ kỷ cương, là người bạn tâm tình mỗi khi các em cần sự giúp đỡ. Do vậy, mỗi lời hỏi thăm, mỗi cử chỉ chăm sóc của cô thầy sẽ giúp các em thoát khỏi mọi tự ti, mặc cảm. Có em Vũ Quang Tiến chuyển từ trường khác về lớp 5E từ đầu năm học 2022-2016. Lúc mới về em luôn mặc cảm bởi hoàn cảnh nhà nghèo, nói cà lăm và lại làm quen với mô hình trường học mới (VNEN), bởi nơi em theo học trước đó là chương trình hiện hành, lực học của em cũng không được tốt lắm. Tôi đã luôn quan tâm đến em, hướng dẫn em hòa nhập với mô hình học mới, bạn mới,. Tôi hỏi han em giống như một người mẹ, người chị, người bạn. Tiếp xúc nhiều với cô, với các bạn em dần quen và trở nên mạnh dạn hơn. Có những giờ học Tiến trở nên xuất chúng khiến nhiều bạn ngạc nhiên với câu trả lời khá hoàn hảo và sáng tạo của mình. Những lúc đó tôi đã tuyên dương khích lệ tinh thần của em. Tiến cảm thấy rất phấn khởi và thêm yêu trường lớp, thầy cô giáo và các bạn mới. Từ đó đến nay, Tiến đã mạnh dạn và tự tin hơn nhiều, em luôn đi học đều và đúng giờ. Có khi bị ốm, bố mẹ điện thoại xin phép cô giáo rồi nhưng Tiến cũng chỉ nghỉ một buổi đi khám bệnh, buổi chiều vẫn lên lớp học. Thứ tư: Quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn: Rà soát, nắm bắt những học sinh có hoàn cảnh nghèo, gia cảnh khó khăn đăng kí cho các em được nhận dụng cụ, sách vở, quần áo do Nhà trường và Liên đội và các tổ chức từ thiện hỗ trợ ngay từ đầu năm. Mua sẵn bút chì, thước, ruột bút kim, để trong cặp. Khi các em cần thì đã có ngay để dùng. Kêu gọi các học sinh trong lớp dành tặng bạn một số quần áo cũ và tranh thủ sự hỗ trợ từ một số giáo viên, phụ huynh có khả năng để trang bị thêm những dụng cụ còn lại cho những em có hoàn cảnh khó khăn để các em được yên tâm đến trường, không phải mặc cảm vì nhà nghèo, thiếu thốn. (Ví dụ: Trong lớp, có em Trần Văn Tài theo bố đi câu mực ở biển Nghệ An, mẹ mải mê chơi cờ bạc nên Tài đã đến lớp tập trung muộn hơn các bạn. Khi đến lớp, không có một loại sách vở, dụng cụ học tập nào. Tôi đã liên lạc và gặp mặt mẹ Tài để trao đổi tìm cách giúp em. Mẹ Tài sẽ phải mua sắm vở và đồ dùng học tập cho em còn tôi thì xin với Nhà trường tạo điều kiện cho em mượn một bộ sách hướng dẫn học. Được sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu và sự phối hợp của phụ huynh, Tài đã có đầy đủ các loại sách vở và dụng cụ học tập cần thiết khi đến lớp). Thứ năm: Phối hợp chặt chẽ với các giáo viên bộ môn, giáo viên dạy thay và Tổng phụ trách Đội: Trường Tiểu học lê Hồng Phong chúng tôi thực hiện dạy 9 buổi/tuần. Giáo viên làm công tác chủ nhiệm thực hiện dạy 23 tiết/tuần. Như vậy, với những số tiết còn lại là giáo viên chuyên và giáo viên dạy thay. Vì vậy nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các giáo viên chuyên, giáo viên dạy thay với Tổng phụ trách Đội và giáo viên chủ nhiệm để duy trì tốt sĩ số thì việc học sinh nghỉ học, bỏ tiết là điều khó tránh khỏi. Đầu năm học 2022-2016, lớp 5E tôi dạy có mấy trường hợp (Nguyễn Văn Đức, Y Khuyến Byã, Y Huy Byã, Y Sa muel Niê,) cứ đến tiết chuyên (Tiếng Anh, Tin học, Đạo đức, Kĩ Thuật,) là nghỉ học, bỏ tiết hoặc tùy tiện đổi chỗ trong lớp. Những buổi sau đến lớp, nghe học sinh trong lớp và giáo viên bộ môn phản ánh lại tôi thấy khá bức xúc. Tôi liền trao đổi với các giáo viên chuyên cùng phối hợp để chấn chỉnh kịp thời những điều đó. Tiếp đến, tôi gắn trực tiếp sơ đồ chỗ ngồi, những lưu ý của học sinh mà giáo viên cần giúp đỡ trên bàn giáo viên để các giáo viên đến dạy đều nắm rõ được tên và vị trí của từng em. Về lớp, tôi nhắc nhở và phân tích để các em thấy được tầm quan trọng của việc đi học đều, học đúng, học đủ các môn học và hoạt động giáo dục. Sau đó, tình trạng này đã chấm dứt hoàn toàn. Tất cả học sinh đều tự giác, tích cực trong các tiết học, môn học và các em đều thể hiện lòng tôn kính của mình với thầy cô.( Em Nguyễn Văn Đức sau đó có sự tiến bộ rõ rệt về nhiều mặt: đi học chuyên cần, học tập tốt, chấp hành tốt các quy định của lớp, của trường,Em còn được các thầy cô nhận xét, khen ngợi nhiều hơn trong vở.) Và tôi cũng không còn nghe thấy các thầy cô phàn nàn về học sinh của lớp mình nữa mà thay vào đó là những lời khen: Lớp học ngoan, chăm chỉ; các em rất lễ phép, tích cực trong học tập và hoạt động giáo dục. Thứ sáu: Tận dụng tối đa sự tác động của môi trường xã hội: Có nhiều học sinh bộc phát nhân cách của mình một cách nhanh chóng mà bề ngoài khó nhận biết. Ở trường, việc học tập của các em có dấu hiệu của một sự khủng hoảng như: học không vào, trốn học, không hài lòng với sự nhắc nhở của thầy cô, nhất là sự nổi lên rầm rộ của phong trào chơi game đang diễn ra phổ biến. Ở nhà, các em làm cho cha mẹ phải trăn trở, lo lắng và không nghe lời dạy dỗ của cha mẹ, hay lơ đễnh không thèm để ý bất cứ chuyện gì cả. Đối với những trường hợp trên, giáo viên cần linh động các biện pháp giải quyết, bảo đảm mối quan hệ gắn bó giữa gia đình, nhà trường, tăng cường biện pháp thuyết phục mà không chê trách, răn đe, trách phạt. Để hướng các em hòa nhập cùng tập thể lớp, có thể phân công các em đảm trách một nhiệm vụ nào đó trong lớp hay ghi tên, động viên các em tham gia vào đội tuyển của các môn thể thao hay các phong trào khác trong hoạt động của lớp học, của nhà trường. Từ đó, sự say mê trong nhiệm vụ mới, được sự tin yêu của bạn bè, được sự thương mến của thầy, cô sẽ giúp em vượt qua mọi thị hiếu do môi trường tác động. Cụ thể, trong lớp tôi có em Nguyễn Văn Đức ở thôn Tân Lập. Nhà nghèo, đông anh em, bố ham rượu chè, mẹ suốt ngày đi làm thuê kiếm tiên nuôi cả nhà. Ngay cả các khoản đóng góp theo quy định của trường, của lớp gia đình cũng không có để nộp. Bản thân em Đức lại thích chơi game nên việc em nghỉ học không có lí do diễn ra liên tục trong một thời gian dài khiến tôi khá vất vả. Khi đến lớp, cô giáo hỏi lí do thì em không khi nào nói thật. Tôi đã tìm hiểu qua các giáo viên chủ nhiệm trước, các giáo viên chuyên,Tiếp theo, tôi đến nhà và gặp được mẹ của em Đức. Tôi và mẹ của Đức phối hợp với nhau để giúp Đức đi học chuyên cần hơn. Hôm nào Đức nghỉ học là tôi điện thoại báo cho phụ huynh, một lúc sau thấy Đức đã lên lớp. Hỏi ra mới biết mẹ đã tìm Đức từ quán internet. Có lần khác, Đức nghỉ học, tôi điện thoại cho mẹ em nhưng mẹ lại đang đi làm thuê cho người ta ở nơi xa thế là tôi chạy ra các quán internet để tìm em vào giờ giải lao. Những ngày sau đó, dường như Đức cũng phần nào cảm thấy có lỗi nên không nghỉ học nhưng thái độ hợp tác trên lớp có vẻ miễn cưỡng không thật sự thoải mái. Cuối buổi học, tôi gặp riêng Đức hỏi chuyện, phân tích cho em thấy những cái được cái mất của việc nghỉ học, Những buổi học trên lớp, tôi luôn quan tâm đến Đức một cách tự nhiên, hài hòa. Giao cho em phụ trách vị trí Phó ban Thư viện của lớp. Khi đảm nhận trọng trách này, em sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với các tài liệu có trong thư viện của lớp mà không phải qua khâu trung gian. Các bạn khác muốn mượn tài liệu phải thông qua em, như vậy em thấy được mình cũng có vai trò quan trọng đối với tập thể mà cố gắng. Càng ngày, em càng muốn chứng tỏ khả năng của mình với các bạn nên không còn nghĩ đến chuyện nghỉ học nữa. Cũng có những buổi em nghỉ học nhưng đều có lí do chính đáng do người lớn xin phép. Những buổi học sau lên lớp, em rất tích cực học hỏi bạn về bài đã học hôm trước để theo cho kịp các bạn. Việc đưa được Đức đến lớp đều là thành công lớn nhất trong ngần ấy năm dạy học của tôi. Ngạc nhiên hơn nữa là cuối năm học, Đức đã hoàn thành khá tốt các bài kiểm tra, đặc biệt là môn Tiếng Việt đạt 8 điểm. Các khoản đóng góp tôi cũng xin với nhà trường miễn hết cho em. Các khoản của lớp, bản thân tôi hỗ trợ cho em phần nào còn nữa là sự hỗ trợ của cả tập thể lớp. Mặt khác, đối với những em có mặc cảm do có sự khác biệt về thành phần dân tộc (Kinh, Ê-đê ) hoặc do chưa thích nghi với môi trường như: chuyển trường, lưu ban thì lúc này vai trò của giáo viên rất quan trọng. Giáo viên sẽ lồng ghép giáo dục khi dạy một số bài Địa lí lớp 4, bài Dân cư nước ta (Địa lí lớp 5) . Giáo viên cũng có thể kể câu chuyện "Kinh và Ba na đều là anh em" để hướng tới sự đoàn kết là một. Bên cạnh đó, những cử chỉ, giọng nói của giáo viên tạo nên sự gần gũi giữa hai mối quan hệ là rất cần thiết. Một cái xoa đầu, một lời hỏi thăm là bản thân giáo viên đã tạo cho học sinh một sự tin tưởng, dễ gần. Lòng cảm mến của học sinh đối với giáo viên, giúp các em xóa đi những mặc cảm, tự ti để hòa nhập với tập thể tốt hơn và ý định chán nản, bỏ học, nghỉ học sẽ dễ dàng xóa đi trong đầu óc non nớt của các em. Có các em: Y Sa Muel Niê, Y Huy Byã, H Nang Êban, những ngày đầu nhận lớp, thấy các em có vẻ rụt rè. Tôi âm thầm theo dõi và tìm hiểu nguyên nhân thì được biết hoàn cảnh của các em ấy khá phức tạp. Y Huy có bố mẹ đã li dị, em ấy ở với bà ngoại và dì ruột đang học THCS. Y Sa Muel, bố mẹ đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh, em ở với bà ngoại. H Nang gia đình thuộc hộ nghèo, em còn thường xuyên bị chảy mồ hôi ở tay và chân, Học lực của 3 em đều ở mức yếu (qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm). Thỉnh thoảng các em ấy lại nghỉ học mà không có lí do. Tôi đã trò chuyện riêng với từng em, hỏi han về mọi chuyện và động viên các em. Bên cạnh đó tôi cũng gặp trực tiếp dì của Y Huy, mẹ của H Nang cùng tìm biện pháp giúp các em tiến bộ. Riêng với Y Sa muel, tôi đến nhà nhưng đều không gặp được bà của em (gia đình không ai dùng điện thoại). Tôi đã nhờ đến Hội phụ huynh của lớp, nhờ phụ huynh của những học sinh gần nhà giúp đỡ. Trên lớp, tôi phân các học sinh khá giỏi giúp đỡ các em. Cho các em tham gia vào đội quản Sao, hướng dẫn các học sinh lớp 1, 2 xếp hàng tập thể dục đầu giờ (có sự hướng dẫn của GVCN). Cả ba thấy mình có uy với các em nên khá mạnh dạn khi làm nhiệm vụ được giao. Các em hồ hởi nói về những em nhỏ mà mình phụ trách. Những ngày sau đó, các em rất nhớ nhiệm vụ của mình. Biết được vai trò của mình như thế nào nên các em đều rất cố gắng. Khi có cơ hội là tôi đưa ra những lời khen với các em. Các em cảm thấy được quan tâm, tin tưởng nên việc nghỉ học không lí do đã hoàn toàn không còn. Và việc học tập của các em cũng có sự tiến bộ rõ rệt. Cuối năm, cả ba em đều hoàn thành chương trình. Thứ bảy: Tổ chức tốt tiết sinh hoạt tập thể - sinh hoạt lớp Phối hợp với Đội thiếu niên tổ chức các buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp vui tươi, sinh động, hấp dẫn để các em thấy gần gũi hơn với mọi người. Tuyên dương, khen thưởng kịp thời những cá nhân, nhóm đạt duy trì sĩ số suốt cả tuần để làm gương cho lớp và khen những em có tiến bộ về mặt học tập để các em thấy nhiệm vụ học tập của mình và mỗi ngày đến trường thật sự là một ngày vui. Đối với những mặt học sinh còn hạn chế, nhắc nhở nhẹ nhàng kèm theo hướng dẫn, uốn nắn cho các em để tuần sau các em thực hiện tốt hơn. Ngoài ra, cần nêu gương các anh, chị học sinh những năm trước dù đầu năm còn yếu kém nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng đến cuối năm cũng đã đạt loại Khá, Giỏi để củng cố lòng tin nơi các em. Mời cha mẹ học sinh tham gia vào tiết sinh hoạt lớp để nắm bắt được tình hình học tập và rèn luyện của con em mình. Ví dụ: Trong năm học, tôi có tổ chức tiết sinh hoạt tập thể theo nhu cầu của đông đảo học sinh trong lớp. Thay vì múa hát, tìm hiểu lịch sử, tôi tổ chức thi đấu một số nội dung thể thao theo sở thích của các em như nhảy dây, đá cầu, cầu lông,. Các em rất hào hứng và luôn mong muốn được cô tổ chức như thế nên ngoài việc hăng say học tập thì các em cũng tích cực rèn luyện ở lớp, ở nhà. Từ đó, một số em quên hắn những trò chơi vô bổ và ham đến trường hơn. Thứ tám: Tạo môi trường giáo dục tốt Cùng học sinh trang trí lớp học, các góc học tập thật sinh động., khuyến khích lấy ý tưởng của các em. Mỗi ngày bước vào lớp, tôi đều quan sát cả lớp. Thấy các em có mặt đầy đủ là lòng tôi rất vui. Nhất là những hôm thời tiết khắc nghiệt như: mưa, gió, Những hôm ấy, tôi cho lớp hoan nghênh bằng một tràng pháo tay để động viên khích lệ tinh thần các em. Trong giờ dạy, tôi đầu tư soạn giảng phân hóa theo đối tượng học sinh sao cho phù hợp với trình độ mọi học sinh trong lớp - nhất là những em học yếu nhằm kích thích học sinh hứng thú học tập, tiếp thu bài nhanh hơn. Lồng ghép những câu chuyện thực tế mang tính giáo dục vào các tiết dạy để tạo hứng thú cho các em trong mỗi giờ học. Tôi cũng thật sự hòa nhập cùng các em trong giờ dạy hoạt động ngoại khoá hay trò chơi của đố vui qua hình thức Giải ô chữ trong các tiết Ôn tập Với trường lớp khang trang như hiện nay, đội ngũ giáo viên nhiệt tình, sự quan tâm của Ban Giám hiệu, sân chơi rộng rãi thoáng mát, "lớp học như là nhà" đó là một thuận lợi rất lớn để xây dựng môi trường học tập tốt cho học sinh vui chơi, học tập. Phải tùy hoàn cảnh cụ thể, tạo khung cảnh giáo dục tốt làm cho học sinh ngồi trong lớp học thấy vui tươi, thích thú và được bày tỏ ý kiến của mình với bạn, với cô, không nặng nề, sợ sệt. Luôn cùng nhau chăm sóc, lao động, làm vệ sinh, trang trí trường lớp. Giờ ra chơi, tôi tổ chức hướng dẫn các em vui chơi tập thể, đọc sách báo trong thư viện của lớp của trường để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và sự gần gũi thân mật giữa học sinh với giáo viên nhà trường.Trong những năm qua, bằng hình thức này tôi đã tạo cho các em sự vui thích, tìm tòi tham gia tích cực cho phong trào của lớp, của trường, của huyện tổ chức. Ngoài ra: để ngăn ngừa, khắc phục và phát huy sự thành công của nghệ thuật thuyết phục học sinh trở lại trường lớp sau khi nghỉ, bỏ học thì bản thân giáo viên cần kết hợp chặt chẽ nhiều mặt khác như: Lập kế hoạch giáo dục cá nhân để cung cấp kiến thức, phát triển năng lực và hạn chế tối đa những khó khăn của học sinh như đã nêu, giúp các em hòa nhập một cách tốt nhất với các bạn. Bố trí chỗ ngồi thuận lợi, quan tâm và dành nhiều thời gian trò chuyện tiếp xúc với các em. Đồng thời, luôn tạo ra các tình huống mà từng học sinh đều có thể thệ hiện mình trong đó, còn giáo viên thì cổ vũ, khuyến khích mọi thành công của các em dù là những thành công rất nhỏ nhất. Phối hợp với Đội Thiếu niên, Công đoàn trong nhà trường để có sự hỗ trợ và thường xuyên trao đổi với phụ huynh về kế hoạch giáo dục, thuyết phục các em. Động viên các em tham gia vào các câu lạc bộ văn nghệ, thể thao của lớp, của trường để tạo sự thích thú cho các em . Hợp tác với Ban tự quản lớp lập ra "Đôi bạn cùng tiến" và đề ra những hình thức thi đua khen thưởng để khích lệ tinh thần học tập của các em. c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp: Mỗi biện pháp có chức năng, vai trò riêng nhưng giữa chúng có m

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp Chủ Nhiệm
  • Một Số Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Duy Trì Sỉ Số Lớp
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Mot So Bien Phap Duy Tri Si So Hoc Sinh Vung Dan Toc Thieu So Doc
  • Trắc Nghiệm Công Nghệ 10 Bài 10 (Có Đáp Án): Biện Pháp Cải Tạo Và Sử Dụng Đất Mặn, Đất Phèn
  • Giáo Án Công Nghệ 10 Bài 9: Biện Pháp Cải Tạo Đất Xám Bạc Màu, Đất Xói Mòn Mạnh Trơ Sỏi Đá
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Giáo Án Địa Lí 8 Tuần 5 Tiết 5: Đặc Điểm Dân Cư
  • Địa 8/ Tuần 5/ Tiết 5
  • Bài 5. Đặc Điểm Dân Cư, Xã Hội Châu Á
  • Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    PHẦN 1 : MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài :

    1.1: Lý do khách quan

    Việc duy trì sĩ số đảm bảo chuyên cần ở trường Tiểu học đóng một vai trò rất

    quan trọng trong việc học tập của học sinh. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội

    kiến thức một cách đầy đủ, mang lại kết quả tốt. Nhưng hiện nay, tình hình học

    sinh bỏ học ở Tỉnh Đăk Lăk ta đến mức báo động, nhất là học sinh ở vùng khó

    khăn, vùng biên giới. Theo thống kê của các năm gần đây cho thấy tỉ lệ học sinh

    bỏ học ngày càng cao, nhất là học sinh ở độ tuổi Cấp I, Cấp II.

    Căn cứ vào nghị quyết Hội nghị công nhân viên chức năm học 2009 – 2010

    của Trường Tiểu học La Văn Cầu về việc hạn chế tình trạng học sinh bỏ học.

    Nhà trường đã thành lập Ban phòng chống bỏ học gồm : Ban giám hiệu; giáo

    viên chủ nhiệm; Hội cha mẹ học sinh ; các đoàn thể ; chính quyền địa phương đã

    thống nhất quan điểm về công tác huy động học sinh đến trường và hạn chế tình

    trạng học sinh bỏ học là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã

    hội. Xác định lí do học sinh không muốn đi học và bỏ học giữa chừng có rất

    nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân do học lực yếu, kém dẫn đến chán

    nản, bỏ học là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp thuộc trách nhiệm của ngành

    Giáo dục và Đào tạo.

    Để duy trì, nâng cao hiệu quả công tác phổ cập giáo dục Tiểu học và đạt chỉ

    tiêu phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, đòi hỏi một trong những điều kiện

    không thể thiếu được đó là : ” Duy trì sĩ số cho học sinh nói chung và học sinh

    dân tộc nói riêng ” . Đây là vấn đề mà các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa

    phương quan tâm , chỉ đạo bằng các Nghị quyết của Đảng bộ các cấp và chi bộ

    nhà trường.

    2.1: Lí do chủ quan.

    Với trách nhiệm của một giáo viên Tiểu học, bất cứ người giáo viên chủ nhiệm

    nào cũng mong muốn lớp mình phụ trách suốt từ đầu năm đến cuối năm phải

    đảm bảo về mặt sĩ số cũng như phải đạt yêu cầu về mặt chất lượng học tập.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 1

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Nhưng thực tế vô cùng phức tạp vì đối tượng học sinh rất đa dạng, vì mỗi em có

    hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau, nếu giáo viên không khéo léo thì khó

    mà duy trì sĩ số lớp mình đạt như mong muốn.

    Địa bàn xã Cư Pơng là xã vùng sâu , vùng xa , tỷ lệ học sinh dân tộc chiếm

    87,9% . Hằng năm số lượng học sinh dân tộc bỏ học khá cao, cụ thể năm học

    2007-2008 Trường Tiểu học La Văn Cầu có : 16 em học sinh bỏ học chiếm tỉ

    lệ: 5,14 %. Tỷ lệ học sinh bỏ học nhiều như thế không những ảnh hưởng rất lớn

    đến hiệu quả đào tạo của nhà trường cũng như ngành giáo dục của huyện, nó

    còn ảnh hưởng rất nhiều đến công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi .

    Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy học sinh vùng dân tộc thiểu số, trước những

    vấn đề nêu trên, tôi suy nghĩ rất nhiều: làm thế nào mà duy trì được sĩ số học

    sinh, để thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục Tiểu học và phổ cập giáo dục

    tiểu học đúng độ tuổi. Nên tôi đã chọn đề tài: ” Một số biện pháp duy trì sĩ số

    học sinh vùng dân tộc thiểu số “

    PHẦN 2: MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

    1. Mục tiêu nghiên cứu :

    Tìm ra các mguyên nhân chủ yếu dẫn đến học sinh bỏ học.

    Đề xuất những biện pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc ở Lớp 4 B – Trường

    Tiểu học La Văn Cầu”

    2. Nhiệm vụ nghiên cứu :

    Để dạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên đề tài tự xác định cho mình những

    nhiệm vụ nghiên cứu sau :

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 2

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    2.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài .

    2.2. Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học cao

    ở Trường Tiểu học La Văn Cầu.

    2.3. Đề xuất biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh giai đoạn 2009 – 2010.

    3. Phương pháp nghiên cứu :

    6 em có nguy cơ bỏ học, trong đó: 2

    em có hoàn cảnh gần giống nhau. Bố mẹ làm nghề tự do, suốt ngày lo kiếm

    sống, ít quan tâm đến con mình, nên ngoài giờ đến trường, các em suốt ngày

    lang thang trên đường, học ít chơi nhiều, đến lớp thường muộn giờ, do không

    biết sắp xếp thời gian ở nhà, có hôm 2 em này thức khuya xem phim, sáng ngủ

    quên, tự ý bỏ học mà gia đình không hay biết. Với đối tượng này tôi đã gần gũi

    các em vừa bằng tình thương, vừa nghiêm khắc nhắc nhở phê bình và chỉ ra hậu

    quả để các em sửa chữa. Ngoài ra tôi đã đến nhà gặp phụ huynh của 2 em học

    sinh này. Tôi đã yêu cầu bố mẹ phối hợp với các thầy cô trong việc giáo dục cụ

    thể : Học sinh và cha mẹ cùng làm cam kết thực hiện những nội quy yêu cầu của

    nhà trường, của lớp đề ra. Lập thời gian biểu để học sinh thực hiện ở nhà, có sự

    giám sát của cha mẹ .

    Phân công học sinh khá, giỏi kèm cặp. Những học sinh được phân công giúp

    bạn điều chỉnh giờ học cho phù hợp, giảng bài cho bạn, học cùng bạn và trong

    lớp nhắc nhở động viên và kiểm tra vở ghi chép của các bạn.

    2 em hoàn cảnh bố mẹ ly hôn ở với ông bà, các em rất nhút nhát tự ti hay mặc

    cảm, xa lánh bạn bè, học khá, nhưng không thích phát biểu xây dựng bài. Có

    nhiều hôm 2 em đã rủ nhau nghỉ học. Tôi đã quan tâm gần gũi các em nhiều

    hơn, giúp các em lấy lại thăng bằng, giao cho 2 em, hai nhiệm vụ: 1 em làm lớp

    phó lao động, còn 1 em làm tổ trưởng, dần dần các em đã phát huy được vai trò

    của mình, trở thành những cán bộ lớp năng nổ, có trách nhiệm, khi các em có

    tiến bộ, tôi đã động viên các em kịp thời, bằng cách: thưởng cho các em những

    cuốn tập, những bộ áo quần quyên góp của trường TH Lê Văn Tám (đơn vị kết

    nghĩa).

    1 em bố mất sớm ở với mẹ, em học khá , nhưng rất bướng bỉnh,em

    cũng thường xuyên nghỉ học, hiểu được hoàn cảnh của em , tôi đã trực tiếp gặp

    em thường xuyên, khuyên nhủ, đồng thời phát huy mặt tích cực của em là học

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 9

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    khá , hướng em vào các hoạt động của tập chọn em làm tổ trưởng. Vừa để em

    làm vừa nghiêm khắc với những hành vi của em, một tháng sau em có chuyển

    biến rõ rệt, em đã đi học đều đặn trở lại.

    Cũng có 1 em thường xuyên vi phạm về nề nếp học tập, hay đi học muộn,

    ăn mặc không theo nội quy của nhà trường, nhuộm tóc vàng, giờ học không ghi

    chép bài, hay nói chuyện trong lớp, quay ngang, quay ngửa, khuấy động trong

    lớp, người lớn nói không nghe lời, hay cãi lại, luôn nghĩ ra mọi trò tinh

    nghịch ,hễ la mắng là em nghỉ học. Qua tìm hiểu biết được em này con một gia

    đình khá giả, được bố mẹ nuông chiều. Tôi đã phải thực hiện nhiều biện pháp:

    chủ động gặp gỡ bố mẹ của em bàn bạc góp ý với họ về biện pháp giáo dục,

    không chiều theo sở thích của các em và nghiêm khắc với những sai phạm.

    2.2/ Nắm chất lượng học tập và hạnh kiểm năm trước:

    Trong tuần đầu ôn tập, tôi cho các em ôn lại những bài tập bám sát theo kiến

    thức cơ bản của năm trước, đồng thời tôi còn xem lại học bạ của các em năm

    trước để nắm sức học của từng em. Việc làm này đã giúp tôi lựa chọn biện pháp

    kèm cặp, uốn nắn phù hợp không để cho các em chán nản, bỏ học vì học yếu.

    2.3/ Liên lạc với Chi hội Phụ huynh học sinh của lớp:

    Ở lần họp Phụ huynh học sinh đầu năm, Phụ huynh lớp đã bầu ra Chi hội

    Phụ huynh học sinh của lớp. Chi hội đã giúp tôi tạo điều kiện cho những em

    nghèo có đủ quần áo trắng, đồ dùng học tập…; Cùng tôi tìm đến nhà gia đình

    những học sinh vắng không phép, vận động các em trở lại lớp. Đây là cánh tay

    đắc lực, hỗ trợ cho tôi trong công tác chủ nhiệm.

    2.4/ Giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn:

    Nắm được một số em có hoàn cảnh nghèo đặc biệt ( mồ côi cha hoặc mẹ) ,

    tôi rà soát lại xem em nào còn thiếu quần áo trắng, đồ dùng học tập,… tôi đăng

    kí cho các em được nhận dụng cụ do nhà trường hỗ trợ. Có 3 em con nhà nghèo

    không có đủ áo quần , đồ dùng học tập để đi học . Tôi mua tặng các em đồ dùng

    học tập ngay vào đầu năm học. Ngoài ra tôi còn kêu gọi các em trong lớp dành

    tặng bạn một số quần áo cũ và tranh thủ sự hỗ trợ từ một số phụ huynh có khả

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    10

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    năng để trang bị thêm những dụng cụ còn lại cho những em này để các em được

    yên tâm đến trường, không phải mặc cảm vì nhà nghèo. Qua đây tôi cũng thấy

    tình cảm giữa bạn nhà nghèo và bạn khá giả gần gũi nhau hơn.

    2.5/ Thành lập Đôi bạn học tập:

    – Qua nắm được sức học của từng em, tôi lưu ý nhiều đến những em thuộc

    diện Trung bình, Yếu ( được lên lớp). Tôi phân công một em Giỏi hoặc Khá

    kèm một em Trung bình hoặc Yếu và sắp xếp cho 2 em ngồi cùng một bàn. Tôi

    hướng dẫn cho em Giỏi, Khá cách kèm bạn học. Nhắc nhở bạn học bài, xem lại

    bài; trao đổi kinh nghiệm học tập; cách học bài dễ thuộc; cách vận dụng kiến

    thức đã học vào làm bài tập; hướng dẫn bạn làm bài tập hoặc củng cố kiến thức

    mà bạn chưa hiểu, chữa bài tập vào thời gian 15 phút đầu giờ,…

    – Bản thân tôi đầu giờ cũng vào lớp sớm để kiểm tra tập vở, bài làm ở nhà

    của những học sinh Trung bình, Yếu; xem cách thực hiện của đôi bạn học tập

    như thế nào để có những điều chỉnh cho phù hợp hơn.

    – Qua việc làm trên, tôi thấy tình cảm giữa cô trò đã gắn bó nhau hơn.

    Những em Trung bình, Yếu thường hay nhút nhát, rụt rè nay không còn nữa mà

    trở nên mạnh dạn, tự tin hơn. Từ đó các em càng ham thích đến lớp để hòa nhập

    với bạn bè, việc học của các em ngày càng tiến bộ hơn.

    2.6/ Phổ biến nội quy. Gặp gỡ những gia đình học sinh tự ý bỏ học:

    – Ở tuần đầu tiên, tôi sinh hoạt với học sinh trong lớp rất kĩ về nội quy nhà

    trường, trong đó có phần quy định: Học sinh phải đi học đều và đúng giờ, nghỉ

    học phải có lí do và được cha mẹ xin phép . Tổ chức họp phụ huynh học sinh

    đầu năm, tôi cũng thông báo cho phụ huynh biết về quy định này và nhờ phụ

    huynh hàng ngày theo dõi, nhắc nhở.

    – Đối với những trường hợp học sinh tự ý bỏ học ( vì cha mẹ đi làm không

    có ở nhà) , hết giờ dạy, tôi lập tức đến ngay nhà những em này gặp phụ huynh

    tìm hiểu nguyên nhân và trao đổi cách khắc phục.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    11

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    – Chính nhờ thế mà những học sinh ở lớp tôi chủ nhiệm chỉ nghỉ học 1 ngày

    không phép thì đến hôm sau đi học lại bình thường, nên năm 2009 – 2010 lớp

    tôi chủ nhiệm không có hiện tượng học sinh bỏ học giữa chừng.

    2.7/ Tổ chức tốt tiết sinh hoạt lớp:

    -Trong tiết sinh hoạt cuối tuần, sau khi nghe các tổ trưởng báo cáo, tôi cho

    lớp tuyên dương những tổ đạt duy trì sĩ số suốt cả tuần để làm gương cho lớp và

    khen những em có tiến bộ về mặt học tập để các em thấy nhiệm vụ học tập của

    mình và mỗi ngày đến trường thật sự là một ngày vui.

    – Đối với những mặt học sinh còn hạn chế, tôi nhắc nhở nhẹ nhàng kèm theo

    hướng dẫn, uốn nắn cho các em để tuần sau các em thực hiện tốt hơn.

    – Ngoài ra tôi còn nêu gương các anh, chị học sinh những năm trước dù đầu

    năm còn yếu kém nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng đến cuối năm cũng đã đạt loại

    Khá, Giỏi để củng cố lòng tin nơi các em.

    2.8/ Biện pháp tinh thần:

    – Mỗi ngày bước vào lớp tôi đều quan sát cả lớp, thấy các em có mặt đầy đủ

    là lòng tôi rất vui. Nhất là những hôm thời tiết khắc nghiệt như: mưa, bão, …

    Những hôm ấy, tôi cho lớp hoan nghênh bằng một tràng pháo tay để động viên

    khích lệ tinh thần các em. Trong giờ dạy, tôi đầu tư soạn giảng phân hóa theo

    đối tượng học sinh sao cho phù hợp với trình độ mọi học sinh trong lớp – nhất là

    những em Trung bình, Yếu nhằm kích thích học sinh hứng thú học tập, tiếp thu

    bài nhanh hơn.

    – Tôi cũng thật sự hòa nhập cùng các em trong giờ dạy hoạt động ngoại khoá

    hay trò chơi của môn Thể dục, tổ chức đố vui qua hình thức Giải ô chữ trong các

    tiết Ôn tập hết chương…

    KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

    2. Kết quả:

    Sau một năm áp dụng cách làm trên. Năm 2009 – 2010, ở lớp tôi chủ

    nhiệm đạt kết quả như sau:

    ( Số liệu học sinh Cuối năm học 2009 – 2010)

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    12

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Năm học Đầu năm Cuối năm Tỉ lệ

    T. số Nữ DT T. số Nữ DT

    2009 -2010 19 6 15 19 6 15 100 %

    Từ cách làm trên, tôi đã bày tỏ sáng kiến cho tất cả giáo viên trong tổ, được các

    thành viên trong tổ áp dụng vào công tác chủ nhiệm và nhận thấy việc duy trì sĩ

    số của toàn khối cũng đạt kết quả cao, cụ thể là:

    ( Số liệu học sinh khối 4 Cuối năm học 2009 – 2010)

    Năm

    học

    Đầu năm Cuối năm

    Tỉ lệ

    Chuyển

    đến

    Chuyển

    đi

    Bỏ học

    T.số Nữ DT T.số N

    D

    T

    T.số Nữ T.số Nữ T.

    số

    Nữ DT

    2009 –

    2010

    62 25 56 61 25 55 98,50 0 0 0 0 1 1

    Nhìn lại kết quả trên, bản thân tôi rất vui vì mình đã thực hiện đạt cam kết

    Duy trì sĩ số với Ban Giám Hiệu nhà trường và đã hoàn thành được nhiệm vụ

    của một giáo viên chủ nhiệm.

    + Đối với học sinh: Đã tạo niềm tin nơi các em, em nào cũng ham thích học

    tập, gắn bó với trường lớp hơn.

    + Đối với trường, ngành: Góp phần cùng cấp trên làm phong phú thêm kinh

    nghiệm công tác, phổ biến cho các khối áp dụng thì thiết nghĩ sẽ giảm thiểu tình

    trạng học sinh bỏ học.

    3. Nguyên nhân thành công và tồn tại:

    * Bản thân tôi suy nghĩ rằng, là một giáo viên chủ nhiệm phải đáp ứng những

    yêu cầu sau:

    + Ngoài việc nâng cao chất lượng dạy học, phải đảm bảo đến việc duy trì sĩ

    số lớp.

    + Quan tâm đến học sinh, nhất là nắm rõ hoàn cảnh những em khó khăn để

    kịp thời hỗ trợ về vật chất lẫn tinh thần để các em yên tâm học tập.

    + Tạo mối quan hệ tương hỗ giữa Gia đình – Nhà trường – Xã hội để có biện

    pháp giáo dục tốt hơn.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    13

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    + Tạo tình cảm gắn bó giữa các thành viên trong lớp và tình thân ái giữa thầy

    và trò để học sinh thêm yêu trường lớp hơn.

    * Những tồn tại:

    Trong quá trình thực hiện, chúng ta phải lưu ý những vấn đề sau:

    + Không phải phụ huynh nào cũng quan niệm giống nhau, có gia đình nghèo

    tiền nhưng không chịu nghèo chữ; cũng có gia đình nhìn chuyện học chữ của

    con em họ theo hướng chưa tích cực nên đôi khi họ có thái độ bất cần khi giáo

    viên đến vận động. Lúc ấy người giáo viên phải thật sự kiên nhẫn.

    + Địa bàn dân cư còn một số khó khăn, đường trơn, có gia đình sống ở trong

    rẫy lầy, dốc …nên còn gặp vất vả trong vận động học sinh.

    + Mỗi học sinh có hoàn cảnh, tâm lý khác nhau nên phải tùy theo hoàn cảnh

    của từng em mà áp dụng từng biện pháp thích hợp.

    4. Những bài học kinh nghiệm:

    Qua những việc đã làm, bản thân tôi đã rút ra cho mình bài học kinh nghiệm

    quý báu mà người giáo viên cần phải có và phải thực hiện:

    + Phải thật sự yêu nghề, yêu trẻ; gần gũi, yêu thương trẻ; hiểu biết tâm tư

    nguyện vọng của trẻ; xem trẻ như người thân trong gia đình.

    + Phải nhạy bén trong mọi tình huống và xử lí tình huống đúng lúc, kịp thời.

    + Phải kiên trì, nhẫn nại và chịu khó thì mới không bó tay trước mọi thử

    thách.

    + Thường xuyên liên hệ với phụ huynh học sinh để có được sự hỗ trợ kịp

    thời.

    + Phải tôn trọng những thành tích dù nhỏ của học sinh để kịp thời động viên,

    khích lệ.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    14

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    PHẦN 4: KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT- KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    Người giáo viên chủ nhiệm phải thấy việc thực hiện duy trì sĩ số học sinh là

    trách nhiệm của một nhà giáo. Đây là vấn đề để thực hiện tốt Nghị quyết Hội

    nghị công nhân viên chức hàng năm mà nhà trường đã đề ra để hạn chế tình

    trạng học sinh bỏ học. Đề tài sáng kiến kinh nghiệm về công tác duy trì sĩ số là

    đề tài không mới, tuy nhiên có những kinh nghiệm đã đi vào lối mòn hoặc thụ

    động đã được lập đi lập lại, cho nên bản thân dù thực hiện đề tài cũ nhưng

    mong muốn có những nét mới, có những hiệu quả thiết thực hơn trong tình hình

    hiện nay. Công tác duy trì sĩ số là một nhiệm vụ thường xuyên, dù đứng ở vị trí

    nào ta phải quan tâm thực hiện nghiêm túc vấn đề này, phải vận dụng sáng tạo,

    linh hoạt, năng động trong thực tế; Kết hợp nhiều giải pháp để thực hiện tốt

    công tác này.

    Ngoài ra, để công tác duy trì sĩ số học sinh đạt hiệu quả, người giáo viên chủ

    nhiệm cần phải có tâm đối với mọi học sinh, phải hiểu hoàn cảnh từng học sinh

    để có biện pháp giúp đỡ, tạo điều kiện cho các em ham thích học tập, yêu mến

    thầy cô, thích bạn bè. Việc chống lưu ban, bỏ học là nhằm nâng cao hiệu quả

    công tác phổ cập giáo dục Tiểu học, góp phần nâng cao dân trí là nền tảng ban

    đầu để đào tạo con người mới phát triển về mọi mặt, tham gia vào việc thực hiện

    xây dựng nước nhà ngày càng giàu mạnh.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    15

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Để thực hiện tốt công tác duy trì sĩ số ở trường Tiểu học, bên cạnh sự cố

    gắng của bản thân còn phải có sự hỗ trợ và kết hợp của nhà trường, gia đình và

    các lực lượng xã hội.

    2. Một số đề xuất, kiến nghị:

    Để đảm bảo được công tác duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng giáo dục và tiến

    tới mục tiêu phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi. Cần có sự quan tâm hỗ trợ

    đúng mức của toàn xã hội. Tôi xin có một số đề xuất như sau:

    – Đối với nhà trường:

    + Có hình thức khen thưởng kịp thời đối với lớp, đối với giáo viên chủ nhiệm

    không có học sinh bỏ học.

    – Đối với ngành :

    + Sắp xếp bố trí đủ số lượng giáo viên đứng lớp ngay từ đầu mỗi năm học.

    + Hỗ trợ kinh phí để nhà trường mở lớp 2 buổi/ ngày.

    + Tiếp tục tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, như vậy chất lượng, trình

    độ tay nghề của giáo viên mới nâng lên cả về chất và về lượng.

    – Đối với chính quyền các cấp:

    + Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, gắn kế

    hoạch đầu tư cơ sở vật chất với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

    + Luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ về vật chất cho những em học sinh nghèo và

    những em có hoàn cảnh khó khăn để các em được đến trường như các bạn khác

    và tham gia vận động học sinh bỏ học đi học lại cùng với giáo viên chủ nhiệm.

    Trần Thị Thông

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    17

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    MỤC LỤC

    PHẦN 1: MỞ ĐẦU :

    Trang 1

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1: Lý do khách quan

    1.2: Lý do chủ quan

    PHẦN 2: MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

    Trang 2

    1. Mục tiêu nghiên cứu.

    2. Nhiệm vụ nghiên cứu .

    3. Phương pháp nghiên cứu .

    3.1/ Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết .

    3.2/ Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn .

    3.3/ Nhóm các phương pháp hỗ trợ .

    PHẦN 3 : NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    Trang 3

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN.

    Trang 3

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    18

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA CÔNG TÁC

    DUY TRÌ SĨ SỐ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LA VĂN CẦU .

    Trang 3

    1. Thực trạng công tác duy trì sĩ số ở Trường tiểu học La Văn Cầu.

    2. Những nguyên nhân dẫn đến học sinh ở Trường tiểu học La Văn Cầu bỏ học

    cao .

    CHƯƠNG 3 : NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH Ở

    LỚP 4B TRƯỜNG TH LA VĂN CẦU.

    Trang 5

    1. Các biện pháp

    2.1/ Nắm hoàn cảnh và đặc điểm gia đình từng học sinh

    2.2/ Nắm chất lượng học tập và hạnh kiểm năm trước.

    2.3/ Liên lạc với Chi hội Phụ huynh học sinh của lớp.

    2.4/ Giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

    2.5/ Thành lập Đôi bạn học tập.

    2.6/ Phổ biến nội quy. Gặp gỡ những gia đình học sinh tự ý bỏ học:

    2.7/ Tổ chức tốt tiết sinh hoạt lớp.

    2.8/ Biện pháp tinh thần.

    2/ Kết quả:

    3/ Nguyên nhân thành công và tồn tại.

    4/ Những bài học kinh nghiệm:

    PHẦN 4: KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT- KIẾN NGHỊ

    Trang 10

    1. Kết luận .

    2. Một số đề xuất kiến nghị .

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    19

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Nhận xét , xếp loại của hội đồng khoa học nhà trường :

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang

    21

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Dinh Dưỡng Trẻ Em : Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả Từ Chuyên Gia
  • Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em
  • Trẻ Bị Suy Dinh Dưỡng Nặng
  • Một Số Nguyên Nhân Dẫn Tới Tình Trạng Trẻ Bị Suy Dinh Dưỡng Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Biện Pháp Phục Hồi Trẻ Suy Dinh Dưỡng
  • Skkn Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tham Luận Về Công Tác Duy Trì Sĩ Số Học Sinh
  • Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Bậc Tiểu Học Sang Kien Kinh Nghiem Doc
  • Giải Pháp Nào Duy Trì Sĩ Số Học Sinh?
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Công Tác Chủ Nhiệm
  • Skknduy Trì Sĩ Số Hs Thcs Mot So Bien Phap Duy Tri Si So Hoc Sinh Doc
  • Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    PHẦN 1 : MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài :

    1.1: Lý do khách quan

    Việc duy trì sĩ số đảm bảo chuyên cần ở trường Tiểu học đóng một vai trò rất quan trọng

    trong việc học tập của học sinh. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách

    đầy đủ, mang lại kết quả tốt. Nhưng hiện nay, tình hình học sinh bỏ học ở Tỉnh Đăk Lăk ta

    đến mức báo động, nhất là học sinh ở vùng khó khăn, vùng biên giới. Theo thống kê của

    các năm gần đây cho thấy tỉ lệ học sinh bỏ học ngày càng cao, nhất là học sinh ở độ tuổi

    Cấp I, Cấp II.

    Căn cứ vào nghị quyết Hội nghị công nhân viên chức năm học 2009 – 2010 của Trường

    Tiểu học La Văn Cầu về việc hạn chế tình trạng học sinh bỏ học. Nhà trường đã thành lập

    Ban phòng chống bỏ học gồm : Ban giám hiệu; giáo viên chủ nhiệm; Hội cha mẹ học sinh ;

    các đoàn thể ; chính quyền địa phương đã thống nhất quan điểm về công tác huy động học

    sinh đến trường và hạn chế tình trạng học sinh bỏ học là trách nhiệm của cả hệ thống chính

    trị và của toàn xã hội. Xác định lí do học sinh không muốn đi học và bỏ học giữa chừng có

    rất nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân do học lực yếu, kém dẫn đến chán nản, bỏ

    học là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp thuộc trách nhiệm của ngành Giáo dục và Đào tạo.

    Để duy trì, nâng cao hiệu quả công tác phổ cập giáo dục Tiểu học và đạt chỉ tiêu phổ

    cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, đòi hỏi một trong những điều kiện không thể thiếu

    được đó là : ” Duy trì sĩ số cho học sinh nói chung và học sinh dân tộc nói riêng ” . Đây là

    vấn đề mà các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương quan tâm , chỉ đạo bằng các Nghị

    quyết của Đảng bộ các cấp và chi bộ nhà trường.

    2.1: Lí do chủ quan.

    Với trách nhiệm của một giáo viên Tiểu học, bất cứ người giáo viên chủ nhiệm nào cũng

    mong muốn lớp mình phụ trách suốt từ đầu năm đến cuối năm phải đảm bảo về mặt sĩ số

    cũng như phải đạt yêu cầu về mặt chất lượng học tập. Nhưng thực tế vô cùng phức tạp vì

    đối tượng học sinh rất đa dạng, vì mỗi em có hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau, nếu

    giáo viên không khéo léo thì khó mà duy trì sĩ số lớp mình đạt như mong muốn.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 1

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Địa bàn xã Cư Pơng là xã vùng sâu , vùng xa , tỷ lệ học sinh dân tộc chiếm 87,9% .

    Hằng năm số lượng học sinh dân tộc bỏ học khá cao, cụ thể năm học 2007-2008 Trường

    Tiểu học La Văn Cầu có : 16 em học sinh bỏ học chiếm tỉ lệ: 5,14 %. Tỷ lệ học sinh bỏ

    học nhiều như thế không những ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đào tạo của nhà trường

    cũng như ngành giáo dục của huyện, nó còn ảnh hưởng rất nhiều đến công tác phổ cập giáo

    dục tiểu học đúng độ tuổi . Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy học sinh vùng dân tộc thiểu

    số, trước những vấn đề nêu trên, tôi suy nghĩ rất nhiều: làm thế nào mà duy trì được sĩ số

    học sinh, để thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục Tiểu học và phổ cập giáo dục tiểu học

    đúng độ tuổi. Nên tôi đã chọn đề tài: ” Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân

    tộc thiểu số ”

    PHẦN 2: MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

    1. Mục tiêu nghiên cứu :

    Tìm ra các mguyên nhân chủ yếu dẫn đến học sinh bỏ học.

    Đề xuất những biện pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc ở Lớp 4 B – Trường Tiểu học La

    Văn Cầu”

    2. Nhiệm vụ nghiên cứu :

    Để dạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên đề tài tự xác định cho mình những nhiệm vụ

    nghiên cứu sau :

    2.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài .

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 2

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 3

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    PHẦN 3 : NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN

    Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi tạo những

    cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học cao hơn. Nhà trường

    Tiểu học có vị trí, chức năng, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhân

    cách cho trẻ em, là nơi tổ chức một cách tự giác quá trình phát triển đúng đắn, lâu dài về

    tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng học tập, rèn luyện của học sinh. Mục tiêu, nhiệm

    vụ của trường tiểu học là đem đến cho trẻ em hạnh phúc được học tập, là làm cho trẻ em

    được hưởng thụ một nền giáo dục tốt đẹp ở trường tiểu học.

    Việc duy trì sĩ số trong các trường học, là một chủ trương lớn của ngành giáo dục

    nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng các cấp, đây là giải pháp có tính chiến lược nhằm

    nâng cao chất lượng giáo dục và bồi dưỡng những tài năng của đất nước.

    Vì chỉ trên cơ sở của sự phát triển phong phú, hài hoà có tính toàn diện của nhân cách

    thì tài năng con người mới có điều kiện nảy nở và phát triển một cách cơ bản và bền vững.

    Ở những trường tiểu học việc duy trì tốt sĩ số học sinh, học sinh được giáo dục toàn diện,

    được học đủ các môn học theo quy định, được thực hiện các hoạt động khác; đặc biệt các

    em được học các thầy cô giáo có tâm huyết, có tay nghề và tinh thần trách nhiệm cao, các

    em có đầy đủ các điều kiện và phương tiện học tập, các em được phát triển trong môi

    trường giáo dục đầy đủ, lành mạnh. Trong điều kiện đó, mỗi học sinh sẽ được phát triển

    theo khả năng của mình để đạt chất lượng cao, để trở thành học sinh giỏi và là tiền đề cơ

    bản để trẻ em tiếp tục phát triển và xuất hiện những tài năng sau này, các em sẽ là chủ nhân

    tương lai của đất nước. Với xã Cư Pơng là xã vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc lại

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 4

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Năm học

    Năm học 2007-2008

    Năm học 2008-2009

    Năm học 2009-2010

    đông, kinh tế còn nghèo, tri thức còn rất hạn chế, các em thì chưa xác định được việc học

    là quan trọng, dẫn đến bỏ học nhiều, với bản thân là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi

    luôn trăn trở về vấn đề này.

    Chính vì vậy nên tôi đã suy nghĩ làm thế nào để hạn chế việc bỏ học của các em và

    tôi đã quyết tâm tìm mọi biện pháp để duy trì sĩ số học sinh ở Lớp 4B – Trường Tiểu học

    La Văn Cầu.

    CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA CÔNG TÁC DUY TRÌ SĨ

    SỐ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LA VĂN CẦU :

    1. Thực trạng công tác duy trì sĩ số ở Trường Tiểu học La Văn Cầu.

    Trường Tiểu học La Văn Cầu là trường vùng sâu, vùng xa, có hai điểm trường cách xa

    nhau, địa bàn dân cư rộng, nên việc xây dựng nề nếp, quản lý học sinh còn gặp nhiều khó

    khăn. Học sinh dân tộc chiếm 87,9 %, đa số các em chưa xác định được việc học là quan

    trọng. Điều kiện kinh tế gia đình học sinh còn thiếu thốn. Phần đa phụ huynh học sinh lại

    không biết chữ nên không biết kèm con em khi ở nhà. Có một số học sinh lại chưa qua lớp

    mẫu giáo, nên các em nói tiếng Việt chưa được thành thạo. Vì vậy các em rất khó tiếp thu

    bài.

    Từ những khó khăn trên dẫn đến nhiều năm liền tại Trường Tiểu học La Văn Cầu số lượng

    học sinh bỏ học rất nhiều, cụ thể :

    2. Nguyên nhân học sinh ở Trường Tiểu học La Văn Cầu bỏ học là :

    – Nguyên nhân thứ nhất từ phía gia đình và học sinh :

    + Trẻ em thuộc gia đình nghèo , đông con , các em không có áo quần lành lặn để đến lớp

    như bao bạn khác. Những học sinh này thường mặc cảm , tự ti về hoàn cảnh, tự cho thân

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 5

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    phận của mình không bằng bạn bè , tự tách biệt khỏi tập thể , các em luôn cảm thấy lòng tự

    trọng bị tổn thương và chán nản dẫn đến bỏ học .

    + Phần đa học sinh dân tộc, bố mẹ các em không biết chữ, nên khi đi học về không có ai

    kèm, dẫn đến học yếu, các em phải ở lại lớp nhiều năm liền cảm thấy xấu hổ thế là bỏ học .

    + Có một số em lại chưa qua lớp mẫu giáo, chưa làm quen với Tiếng Việt , các em phát

    âm rất khó, tiếp thu bài cũng chậm đâm ra chán nản , và không thích đi học

    + Trẻ em thuộc gia đình thiếu bố ( mẹ) hoặc thiếu cả bố lẫn mẹ ; Tức là bố mẹ ly hôn

    hoặc bố mẹ hay cãi nhau . Số trẻ em này thường có tính khí bất thường , hay quậy phá ,

    hờn giận , đánh nhau , tự ti , ủ ê , lúc nào cũng mặc cảm , tự cho mình thua kém và tự xa

    lánh bạn bè dẫn đến bỏ học .

    + Trẻ em mồ côi bố hoặc mẹ , thường hay nhút nhát, ít hòa đồng , thường hay sợ hãi đám

    đông , cảm thấy thua kém bạn bè, dẫn đến tự ti , mặc cảm và bỏ học.

    + Trẻ em thuộc gia đình có mức kinh tế trung bình, không đông con, nhưng bố mẹ ít

    quam tâm đến con cái, lo kiếm sống , suốt ngày để các em lêu lổng , không quản lý giờ

    giấc. Số trẻ này rất tự do , bừa bãi , hay quậy phá , học ít chơi nhiều , hay trốn học, thường

    nói dối cha mẹ , thầy cô , hay cãi lại người lớn , không biết nghe lời, ít có lòng tự trọng và

    thích là bỏ học .

    + Trẻ em thuộc gia đình khá giả, có của, được cha mẹ nuông chiều. Thường những em

    này như những ông trời con, tính khí đỏng đảnh, muốn gì được nấy, hay dỗi , thích thì học

    không thích thì thôi, đôi lúc còn tỏ ra khoe khoang coi thường bạn bè .

    – Nguyên nhân thứ hai từ phía nhà trường và giáo viên :

    + Về công tác tổ chức và quản lí : Trường có 1 điểm lẻ cách xa trung tâm, Ban giám

    hiệu chỉ có 2 người rất khó kết hợp với giáo viên để quản lý học sinh .

    + Về đội ngũ giáo viên của trường có: 17 người.

    Trình độ đào tạo giáo viên trong trường: có 16/17 người đạt chuẩn trở lên, Chia theo tỉ

    lệ 1.2 còn thiếu 2 giáo viên, giáo viên đạt ” Giáo viên dạy giỏi” các cấp còn ít, điểm

    trường lẻ cách xa trung tâm.

    + Cơ sở vật chất – thiết bị trường học:

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 6

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Số phòng học của nhà trường có 09 phòng học cấp 4, một số phòng được xây dựng đã

    lâu. Chưa có phòng chức năng, và nơi làm việc riêng cho các bộ phận như :Y tế, công tác

    đội. Thiết bị chưa đủ cho nhu cầu sử dụng giảng dạy trên lớp.

    + Về công tác xã hội hoá giáo dục:

    Những năm trước đây công tác xã hội hoá chưa thực hiện tốt, một phần do dân trí

    địa phương thấp, cộng đồng chưa có sự quan tâm đúng mức. Do đó nhà trường hầu như là

    đơn thương, độc mã làm chủ trận địa giáo dục, có chăng chỉ là sự quan tâm của một bộ

    phận nhỏ phụ huynh. Tuy nhiên cũng có sự quan tâm chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa

    phương, Hội đồng Giáo dục xã …nhưng chưa hiệu quả.

    + Về hiệu quả chất lượng giáo dục:

    Nhà trường đã thực hiện tốt chương trình, kế hoạch dạy học, nhưng do cơ sở vật chất

    thiếu thốn, phương pháp giảng dạy tích cực chưa được áp dụng sâu rộng. Vì vậy chất

    lượng giáo dục chưa cao. Hầu như không có học sinh giỏi cấp tỉnh và học sinh giỏi cấp

    huyện cũng rất hiếm hoi .

    CHƯƠNG 3 : NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH Ở LỚP 4B

    TRƯỜNG TH LA VĂN CẦU:

    Từ những nguyên nhân nêu trên , tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp để duy trì sĩ

    số học sinh như sau :

    1. Các biện pháp:

    2.1/ Nắm hoàn cảnh và đặc điểm gia đình từng học sinh:

    Sau ngày tập trung học sinh, tôi đã có danh sách trích ngang ghi rõ họ tên, nghề nghiệp

    cha mẹ; Hoàn cảnh sinh sống của gia đình: Nắm xem bao nhiêu em có hoàn cảnh đủ ăn?

    bao nhiêu em hộ khó khăn? bao nhiêu em có sổ hộ nghèo? Công việc thường ngày của học

    sinh ở nhà và là đứa con thứ mấy? Ngoài ra, tôi còn trao đổi với giáo viên chủ nhiệm của

    lớp năm trước để nắm rõ hơn về hoàn cảnh gia đình của từng học sinh. Sau đó tôi tập hợp

    thành một quyển sổ theo dõi, phân loại đối tượng học sinh, đặc biệt học sinh có hoàn cảnh

    khó khăn có nguy cơ bỏ học.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 7

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    chỉ ra hậu quả để các em sửa chữa. Ngoài ra tôi đã đến nhà gặp phụ huynh của 2 em học

    sinh này. Tôi đã yêu cầu bố mẹ phối hợp với các thầy cô trong việc giáo dục cụ thể : Học

    sinh và cha mẹ cùng làm cam kết thực hiện những nội quy yêu cầu của nhà trường, của lớp

    đề ra. Lập thời gian biểu để học sinh thực hiện ở nhà, có sự giám sát của cha mẹ .

    Phân công học sinh khá, giỏi kèm cặp. Những học sinh được phân công giúp bạn điều

    chỉnh giờ học cho phù hợp, giảng bài cho bạn, học cùng bạn và trong lớp nhắc nhở động

    viên và kiểm tra vở ghi chép của các bạn.

    2 em hoàn cảnh bố mẹ ly hôn ở với ông bà, các em rất nhút nhát tự ti hay mặc cảm, xa

    lánh bạn bè, học khá, nhưng không thích phát biểu xây dựng bài. Có nhiều hôm 2 em đã rủ

    nhau nghỉ học. Tôi đã quan tâm gần gũi các em nhiều hơn, giúp các em lấy lại thăng bằng,

    giao cho 2 em, hai nhiệm vụ: 1 em làm lớp phó lao động, còn 1 em làm tổ trưởng, dần dần

    các em đã phát huy được vai trò của mình, trở thành những cán bộ lớp năng nổ, có trách

    nhiệm, khi các em có tiến bộ, tôi đã động viên các em kịp thời, bằng cách: thưởng cho các

    em những cuốn tập, những bộ áo quần quyên góp của trường TH Lê Văn Tám (đơn vị kết

    nghĩa).

    Có 1 em bố mất sớm ở với mẹ, em học khá , nhưng rất bướng bỉnh,em cũng thường

    xuyên nghỉ học, hiểu được hoàn cảnh của em , tôi đã trực tiếp gặp em thường xuyên,

    khuyên nhủ, đồng thời phát huy mặt tích cực của em là học khá , hướng em vào các hoạt

    động của tập chọn em làm tổ trưởng. Vừa để em làm vừa nghiêm khắc với những hành vi

    của em, một tháng sau em có chuyển biến rõ rệt, em đã đi học đều đặn trở lại.

    Cũng có 1 em thường xuyên vi phạm về nề nếp học tập, hay đi học muộn, ăn mặc

    không theo nội quy của nhà trường, nhuộm tóc vàng, giờ học không ghi chép bài, hay nói

    chuyện trong lớp, quay ngang, quay ngửa, khuấy động trong lớp, người lớn nói không nghe

    lời, hay cãi lại, luôn nghĩ ra mọi trò tinh nghịch ,hễ la mắng là em nghỉ học. Qua tìm hiểu

    biết được em này con một gia đình khá giả, được bố mẹ nuông chiều. Tôi đã phải thực hiện

    nhiều biện pháp: chủ động gặp gỡ bố mẹ của em bàn bạc góp ý với họ về biện pháp giáo

    dục, không chiều theo sở thích của các em và nghiêm khắc với những sai phạm.

    2.2/ Nắm chất lượng học tập và hạnh kiểm năm trước:

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 9

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Trong tuần đầu ôn tập, tôi cho các em ôn lại những bài tập bám sát theo kiến thức cơ

    bản của năm trước, đồng thời tôi còn xem lại học bạ của các em năm trước để nắm sức học

    của từng em. Việc làm này đã giúp tôi lựa chọn biện pháp kèm cặp, uốn nắn phù hợp

    không để cho các em chán nản, bỏ học vì học yếu.

    2.3/ Liên lạc với Chi hội Phụ huynh học sinh của lớp:

    Ở lần họp Phụ huynh học sinh đầu năm, Phụ huynh lớp đã bầu ra Chi hội Phụ huynh

    học sinh của lớp. Chi hội đã giúp tôi tạo điều kiện cho những em nghèo có đủ quần áo

    trắng, đồ dùng học tập…; Cùng tôi tìm đến nhà gia đình những học sinh vắng không phép,

    vận động các em trở lại lớp. Đây là cánh tay đắc lực, hỗ trợ cho tôi trong công tác chủ

    nhiệm.

    2.4/ Giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn:

    Nắm được một số em có hoàn cảnh nghèo đặc biệt ( mồ côi cha hoặc mẹ) , tôi rà soát

    lại xem em nào còn thiếu quần áo trắng, đồ dùng học tập,… tôi đăng kí cho các em được

    nhận dụng cụ do nhà trường hỗ trợ. Có 3 em con nhà nghèo không có đủ áo quần , đồ dùng

    học tập để đi học . Tôi mua tặng các em đồ dùng học tập ngay vào đầu năm học. Ngoài ra

    tôi còn kêu gọi các em trong lớp dành tặng bạn một số quần áo cũ và tranh thủ sự hỗ trợ từ

    một số phụ huynh có khả năng để trang bị thêm những dụng cụ còn lại cho những em này

    để các em được yên tâm đến trường, không phải mặc cảm vì nhà nghèo. Qua đây tôi cũng

    thấy tình cảm giữa bạn nhà nghèo và bạn khá giả gần gũi nhau hơn.

    2.5/ Thành lập Đôi bạn học tập:

    – Qua nắm được sức học của từng em, tôi lưu ý nhiều đến những em thuộc diện Trung

    bình, Yếu ( được lên lớp). Tôi phân công một em Giỏi hoặc Khá kèm một em Trung bình

    hoặc Yếu và sắp xếp cho 2 em ngồi cùng một bàn. Tôi hướng dẫn cho em Giỏi, Khá cách

    kèm bạn học. Nhắc nhở bạn học bài, xem lại bài; trao đổi kinh nghiệm học tập; cách học

    bài dễ thuộc; cách vận dụng kiến thức đã học vào làm bài tập; hướng dẫn bạn làm bài tập

    hoặc củng cố kiến thức mà bạn chưa hiểu, chữa bài tập vào thời gian 15 phút đầu giờ,…

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 10

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    – Bản thân tôi đầu giờ cũng vào lớp sớm để kiểm tra tập vở, bài làm ở nhà của những

    học sinh Trung bình, Yếu; xem cách thực hiện của đôi bạn học tập như thế nào để có

    những điều chỉnh cho phù hợp hơn.

    – Qua việc làm trên, tôi thấy tình cảm giữa cô trò đã gắn bó nhau hơn. Những em

    Trung bình, Yếu thường hay nhút nhát, rụt rè nay không còn nữa mà trở nên mạnh dạn, tự

    tin hơn. Từ đó các em càng ham thích đến lớp để hòa nhập với bạn bè, việc học của các em

    ngày càng tiến bộ hơn.

    2.6/ Phổ biến nội quy. Gặp gỡ những gia đình học sinh tự ý bỏ học:

    – Ở tuần đầu tiên, tôi sinh hoạt với học sinh trong lớp rất kĩ về nội quy nhà trường,

    trong đó có phần quy định: Học sinh phải đi học đều và đúng giờ, nghỉ học phải có lí do

    và được cha mẹ xin phép . Tổ chức họp phụ huynh học sinh đầu năm, tôi cũng thông báo

    cho phụ huynh biết về quy định này và nhờ phụ huynh hàng ngày theo dõi, nhắc nhở.

    – Đối với những trường hợp học sinh tự ý bỏ học ( vì cha mẹ đi làm không có ở nhà) ,

    hết giờ dạy, tôi lập tức đến ngay nhà những em này gặp phụ huynh tìm hiểu nguyên nhân

    và trao đổi cách khắc phục.

    – Chính nhờ thế mà những học sinh ở lớp tôi chủ nhiệm chỉ nghỉ học 1 ngày không

    phép thì đến hôm sau đi học lại bình thường, nên năm 2009 – 2010 lớp tôi chủ nhiệm

    không có hiện tượng học sinh bỏ học giữa chừng.

    2.7/ Tổ chức tốt tiết sinh hoạt lớp:

    -Trong tiết sinh hoạt cuối tuần, sau khi nghe các tổ trưởng báo cáo, tôi cho lớp tuyên

    dương những tổ đạt duy trì sĩ số suốt cả tuần để làm gương cho lớp và khen những em có

    tiến bộ về mặt học tập để các em thấy nhiệm vụ học tập của mình và mỗi ngày đến trường

    thật sự là một ngày vui.

    – Đối với những mặt học sinh còn hạn chế, tôi nhắc nhở nhẹ nhàng kèm theo hướng

    dẫn, uốn nắn cho các em để tuần sau các em thực hiện tốt hơn.

    – Ngoài ra tôi còn nêu gương các anh, chị học sinh những năm trước dù đầu năm còn

    yếu kém nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng đến cuối năm cũng đã đạt loại Khá, Giỏi để củng

    cố lòng tin nơi các em.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 11

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    2.8/ Biện pháp tinh thần:

    – Mỗi ngày bước vào lớp tôi đều quan sát cả lớp, thấy các em có mặt đầy đủ là lòng tôi

    rất vui. Nhất là những hôm thời tiết khắc nghiệt như: mưa, bão, …Những hôm ấy, tôi cho

    lớp hoan nghênh bằng một tràng pháo tay để động viên khích lệ tinh thần các em. Trong

    giờ dạy, tôi đầu tư soạn giảng phân hóa theo đối tượng học sinh sao cho phù hợp với trình

    độ mọi học sinh trong lớp – nhất là những em Trung bình, Yếu nhằm kích thích học sinh

    hứng thú học tập, tiếp thu bài nhanh hơn.

    – Tôi cũng thật sự hòa nhập cùng các em trong giờ dạy hoạt động ngoại khoá hay trò

    chơi của môn Thể dục, tổ chức đố vui qua hình thức Giải ô chữ trong các tiết Ôn tập hết

    chương…

    KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

    2. Kết quả:

    Sau một năm áp dụng cách làm trên. Năm 2009 – 2010, ở lớp tôi chủ nhiệm đạt

    kết quả như sau:

    ( Số liệu học sinh Cuối năm học 2009 – 2010)

    Đầu năm

    Cuối năm

    Tỉ lệ

    T. số

    Nữ DT

    T. số

    Nữ

    DT

    2009 -2010

    19

    6

    15

    19

    6

    15

    100 %

    Từ cách làm trên, tôi đã bày tỏ sáng kiến cho tất cả giáo viên trong tổ, được các thành

    Năm học

    viên trong tổ áp dụng vào công tác chủ nhiệm và nhận thấy việc duy trì sĩ số của toàn khối

    cũng đạt kết quả cao, cụ thể là:

    ( Số liệu học sinh khối 4 Cuối năm học 2009 – 2010)

    Đầu năm

    N

    D

    Tỉ lệ

    ữ T

    25 55 98,50

    Chuyển

    Chuyển

    đi

    0

    T.số

    0

    0

    Bỏ học

    Nữ

    T.

    0

    Nữ

    2010

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 12

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    Nhìn lại kết quả trên, bản thân tôi rất vui vì mình đã thực hiện đạt cam kết Duy trì sĩ số

    với Ban Giám Hiệu nhà trường và đã hoàn thành được nhiệm vụ của một giáo viên chủ

    nhiệm.

    + Đối với học sinh: Đã tạo niềm tin nơi các em, em nào cũng ham thích học tập, gắn bó

    với trường lớp hơn.

    + Đối với trường, ngành: Góp phần cùng cấp trên làm phong phú thêm kinh nghiệm

    công tác, phổ biến cho các khối áp dụng thì thiết nghĩ sẽ giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ

    học.

    3. Nguyên nhân thành công và tồn tại:

    * Bản thân tôi suy nghĩ rằng, là một giáo viên chủ nhiệm phải đáp ứng những yêu cầu

    sau:

    + Ngoài việc nâng cao chất lượng dạy học, phải đảm bảo đến việc duy trì sĩ số lớp.

    + Quan tâm đến học sinh, nhất là nắm rõ hoàn cảnh những em khó khăn để kịp thời hỗ

    trợ về vật chất lẫn tinh thần để các em yên tâm học tập.

    + Tạo mối quan hệ tương hỗ giữa Gia đình – Nhà trường – Xã hội để có biện pháp giáo

    dục tốt hơn.

    + Tạo tình cảm gắn bó giữa các thành viên trong lớp và tình thân ái giữa thầy và trò để

    học sinh thêm yêu trường lớp hơn.

    * Những tồn tại:

    Trong quá trình thực hiện, chúng ta phải lưu ý những vấn đề sau:

    + Không phải phụ huynh nào cũng quan niệm giống nhau, có gia đình nghèo tiền nhưng

    không chịu nghèo chữ; cũng có gia đình nhìn chuyện học chữ của con em họ theo hướng

    chưa tích cực nên đôi khi họ có thái độ bất cần khi giáo viên đến vận động. Lúc ấy người

    giáo viên phải thật sự kiên nhẫn.

    + Địa bàn dân cư còn một số khó khăn, đường trơn, có gia đình sống ở trong rẫy lầy,

    dốc …nên còn gặp vất vả trong vận động học sinh.

    + Mỗi học sinh có hoàn cảnh, tâm lý khác nhau nên phải tùy theo hoàn cảnh của từng

    em mà áp dụng từng biện pháp thích hợp.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 13

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    4. Những bài học kinh nghiệm:

    Qua những việc đã làm, bản thân tôi đã rút ra cho mình bài học kinh nghiệm quý báu

    mà người giáo viên cần phải có và phải thực hiện:

    + Phải thật sự yêu nghề, yêu trẻ; gần gũi, yêu thương trẻ; hiểu biết tâm tư nguyện vọng

    của trẻ; xem trẻ như người thân trong gia đình.

    + Phải nhạy bén trong mọi tình huống và xử lí tình huống đúng lúc, kịp thời.

    + Phải kiên trì, nhẫn nại và chịu khó thì mới không bó tay trước mọi thử thách.

    + Thường xuyên liên hệ với phụ huynh học sinh để có được sự hỗ trợ kịp thời.

    + Phải tôn trọng những thành tích dù nhỏ của học sinh để kịp thời động viên, khích lệ.

    PHẦN 4: KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT- KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    Người giáo viên chủ nhiệm phải thấy việc thực hiện duy trì sĩ số học sinh là trách nhiệm

    của một nhà giáo. Đây là vấn đề để thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị công nhân viên chức

    hàng năm mà nhà trường đã đề ra để hạn chế tình trạng học sinh bỏ học. Đề tài sáng kiến

    kinh nghiệm về công tác duy trì sĩ số là đề tài không mới, tuy nhiên có những kinh nghiệm

    đã đi vào lối mòn hoặc thụ động đã được lập đi lập lại, cho nên bản thân dù thực hiện đề

    tài cũ nhưng mong muốn có những nét mới, có những hiệu quả thiết thực hơn trong tình

    hình hiện nay. Công tác duy trì sĩ số là một nhiệm vụ thường xuyên, dù đứng ở vị trí nào ta

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 14

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    phải quan tâm thực hiện nghiêm túc vấn đề này, phải vận dụng sáng tạo, linh hoạt, năng

    động trong thực tế; Kết hợp nhiều giải pháp để thực hiện tốt công tác này.

    Ngoài ra, để công tác duy trì sĩ số học sinh đạt hiệu quả, người giáo viên chủ nhiệm cần

    phải có tâm đối với mọi học sinh, phải hiểu hoàn cảnh từng học sinh để có biện pháp giúp

    đỡ, tạo điều kiện cho các em ham thích học tập, yêu mến thầy cô, thích bạn bè. Việc chống

    lưu ban, bỏ học là nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ cập giáo dục Tiểu học, góp phần

    nâng cao dân trí là nền tảng ban đầu để đào tạo con người mới phát triển về mọi mặt, tham

    gia vào việc thực hiện xây dựng nước nhà ngày càng giàu mạnh.

    Để thực hiện tốt công tác duy trì sĩ số ở trường Tiểu học, bên cạnh sự cố gắng của bản

    thân còn phải có sự hỗ trợ và kết hợp của nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội.

    2. Một số đề xuất, kiến nghị:

    Để đảm bảo được công tác duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng giáo dục và tiến tới mục

    tiêu phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi. Cần có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của toàn

    xã hội. Tôi xin có một số đề xuất như sau:

    – Đối với nhà trường:

    + Có hình thức khen thưởng kịp thời đối với lớp, đối với giáo viên chủ nhiệm không có

    học sinh bỏ học.

    – Đối với ngành :

    + Sắp xếp bố trí đủ số lượng giáo viên đứng lớp ngay từ đầu mỗi năm học.

    + Hỗ trợ kinh phí để nhà trường mở lớp 2 buổi/ ngày.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 15

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    + Tiếp tục tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, như vậy chất lượng, trình độ tay nghề

    của giáo viên mới nâng lên cả về chất và về lượng.

    – Đối với chính quyền các cấp:

    + Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, gắn kế hoạch đầu tư

    cơ sở vật chất với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

    + Luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ về vật chất cho những em học sinh nghèo và những em

    có hoàn cảnh khó khăn để các em được đến trường như các bạn khác và tham gia vận động

    học sinh bỏ học đi học lại cùng với giáo viên chủ nhiệm.

    Trần Thị Thông

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 16

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    MỤC LỤC

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 17

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    PHẦN 1: MỞ ĐẦU :

    Trang 1

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1: Lý do khách quan

    1.2: Lý do chủ quan

    PHẦN 2: MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

    Trang 2

    1. Mục tiêu nghiên cứu.

    2. Nhiệm vụ nghiên cứu .

    3. Phương pháp nghiên cứu .

    3.1/ Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết .

    3.2/ Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn .

    3.3/ Nhóm các phương pháp hỗ trợ .

    PHẦN 3 : NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    Trang 3

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN.

    Trang 3

    CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA CÔNG TÁC DUY TRÌ SĨ

    SỐ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LA VĂN CẦU .

    Trang 3

    1. Thực trạng công tác duy trì sĩ số ở Trường tiểu học La Văn Cầu.

    2. Những nguyên nhân dẫn đến học sinh ở Trường tiểu học La Văn Cầu bỏ học cao .

    CHƯƠNG 3 : NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH Ở LỚP 4B

    TRƯỜNG TH LA VĂN CẦU.

    Trang 5

    1. Các biện pháp

    2.1/ Nắm hoàn cảnh và đặc điểm gia đình từng học sinh

    2.2/ Nắm chất lượng học tập và hạnh kiểm năm trước.

    2.3/ Liên lạc với Chi hội Phụ huynh học sinh của lớp.

    2.4/ Giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

    2.5/ Thành lập Đôi bạn học tập.

    2.6/ Phổ biến nội quy. Gặp gỡ những gia đình học sinh tự ý bỏ học:

    2.7/ Tổ chức tốt tiết sinh hoạt lớp.

    2.8/ Biện pháp tinh thần.

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 18

    Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số

    2/ Kết quả:

    3/ Nguyên nhân thành công và tồn tại.

    4/ Những bài học kinh nghiệm:

    PHẦN 4: KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT- KIẾN NGHỊ

    Trang 10

    1. Kết luận .

    2. Một số đề xuất kiến nghị .

    * Trang 19

    Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu

    * Trang 20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Và Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non
  • Skkn Một Số Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Ở Trường Tiểu Học Y Ngông
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số, Vận Động Học Sinh Đến Trường Tại Các Trường Tiểu Học Xã Cư Pơng
  • Cải Tạo Đất Nhiễm Phèn, Mặn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Góp Phần Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Cấp Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Để Duy Trì Sĩ Số Và Đảm Bảo Chuyên Cần Ở Học Sinh Bậc Tiểu Học
  • Tiểu Luận Phân Tích Các Biện Pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • 5 Bước Để Nắm Vững Kỹ Năng Giải Quyết Vấn Đề Mà Bạn Cần Biết
  • Trách Nhiệm Của Nhà Nước Trong Vấn Đề Giải Quyết Việc Làm
  • Nêu Những Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Gia Tăng Dân Số Hiên Nay?
  • TẦM QUAN TRONG TRONG CÔNG TÁC DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH:

    Dạy học là một quá trình mà người giáo viên vừa truyền thụ kiến thức, vừa bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống cho các em học sinh. Ở cấp tiểu học, việc truyền thụ kiến thưc cho học sinh là điều vô cùng quan trọng của người thầy khi lên lớp. Tuy nhiên, giáo viên và học sinh có mối quan hệ rất chặt chẽ. Học sinh cần sự quan tâm, dìu dắt của giáo viên và ngược lại giáo viên cần có chất lượng học tập từ phía học sinh. Để đạt được hiệu quả giáo dục thì công tác duy trì sĩ số học sinh là điều rất quan trọng, rất cần thiết đối với giáo viên chủ nhiệm. Với lý do đó, tôi có suy nghĩ là phải làm cách nào để duy trì sĩ số học sinh, cũng như vận động học sinh bỏ học trở lại lớp. Đối với học sinh tiểu học, các em rất hồn nhiên và chân thật, các em rất thích sống trong sự yêu thương và quan tâm của người lớn. Do đó, giáo viên nên gần gũi để tìm hiểu sớ thích và nguyện vọng của các em. Từ đó tạo những điều kiện cần thiết giúp các em có được niềm vui và hứng thú khi đến trường, đến lớp học tập.

    Với chủ trương của Đảng và nhà nước là từng bước nâng cao mặt bằng dân trí, xây dựng xã hội học tập đáp ứng kịp thời yêu cầu về nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá nước nhà. Vì thế, mọi người đều phải được đi học, nhất là trẻ em phải đi học vì ngày mai phát triển. Do đó, người giáo viên phải tìm mọi cách để giữ vững sĩ số học sinh đến cuối năm học tránh tình trạng các em bỏ học nửa chừng. Làm được điều đó là chúng ta đã góp phần giữ vững và nâng dần chất lượng của công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở nhà trường và ở địa phương.

    NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM GÓP PHẦN DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH:

    Người xưa có câu : ” Yêu trẻ, trẻ đến nhà – Kính già, già để tuổi cho”. Do vậy, tôi nhận thức được một điều là mình cần phải làm thế nào để các em có được niềm vui và hứng thú khi mỗi ngày đến lớp mình học tập.Chính vì vậy, tôi đã nghiên cứu vận dụng một số biện pháp sau:

    Đây là mối quan hệ trong môi trường sư phạm, trên cơ sở chúng ta đang hưởng ứng và thực hiện phong trào thi đua: ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực “

    Đây là mối quan hệ thân thiện, thể hiện tình cảm bạn bè trong quá trình học chung lớp, chung trường. Mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ và cùng chia sẻ với nhau trong học tập cũng như khi sinh hoạt. Bởi lẽ trong lớp các em được giáo viên chủ nhiệm chia các em ra sinh hoạt ở các tổ học tập, nhóm học tập, đôi bạn học tập, đôi bạn cùng tiến, nhóm văn nghệ, nhóm thể thao….Đôi khi giáo viên chủ nhiệm cũng lập những nhóm học tập cùng khu phố, những nhóm học tập cùng tháng sinh….Kể cả những nhóm tổ được lập đột xuất, ngẫu nhiên khi sinh hoạt Đội, sinh hoạt ngoài giờ lên lớp….Vì thế mà các em dễ thân thiện với nhau, đặc biệt là hướng dẫn các em: ” Gọi bạn xưng tên” chúng ta dễ thấy các em rất thiện và dễ thương.

    Giáo viên xây dựng bầu không khí lớp học vui tươi, sinh động, lành mạnh và thân thiện tạo điều kiện cho các em thoải mái, hợp tác và hứng thú tham gia vào các hoạt động trên lớp cùng với giáo viên và bạn bè.Trong đó, giáo viên cần khen ngợi, tuyên dương các em học sinh kịp thời, đúng lúc cũng như tận tình, giúp đỡ các em vượt qua những khó khăn trong học tập. Bên cạnh đó, trong các tiết dạy giáo viên có thể khích lệ để học sinh thích đến lớp bằng cách giải thích cho các em hiểu và thấy được tầm quan trọng của việc học hôm nay sẽ giúp ích cho các em có đươc nghề nghiệp trong tương lai.Việc học hôm nay giúp các em hiểu biết rất nhiều điều về cuộc sống, về xã hội, về thiên nhiên, về các lĩnh vực khác, các em sẽ có được những kiến thức cơ bản.Từ những sự việc mặc dù đơn giản nhưng giúp ích cho các em rất nhiều như nguyên nhân gây bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, biết đươc về khí hậu, thời tiết, sông ngòi, biết tính thu nhập, tiêu dùng trong gia đình, biết được những việc nên làm và không nên làm như nên giúp đỡ phụ nữ, cụ già, em nhỏ…., không nên hút thuốc, uống rượu bia, tiêm chích ma tuý, không nên chửi thề, nói tục…

    Giáo viên nên tìm cái hay nhất của học sinh để phát huy, dù là ưu điểm nhỏ để dần dần lấn át cái chưa hay và trở thành học sinh ngoan. Đồng thời làm công tác tư tưởng với từng nhóm đối tượng làm sao cho các em giỏi hoà đồng, vui vẻ giúp bạn, nhóm học sinh yếu không bị mặc cảm và được cuốn hút vào sự cố gắng rèn luyện chung của cả lớp. Bên cạnh đó sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ của của giáo viên còn thể hiện:

    – Khi học sinh gặp chuyện không vừa ý, giáo viên tìm hiểu kỹ lưỡng để phân tích, giải thích cho phù hợp với tình huống giúp các em hiểu tường tận vấn đề và tâm đắc hơn.

    – Khi các em gặp gia cảnh khó khăn phải nghỉ học đôi ba ngày để phụ giúp cha mẹ mua gánh bán bưng, các em lo sợ không dám trở lại lớp. Lúc đó giáo viên cần tìm hiểu để động viên, giúp đỡ các em trở lại lớp học tập.

    – Khi các em sai phạm, giáo viên không nên nóng vội trừng phạt làm các em sợ hãi và cũng không nên quá dễ với các em. Trong trường hợp này, giáo viên cần bình tĩnh lắng nghe các em nói cũng như các bạn trong lớp nói để tìm hiểu rõ nguyên nhân và mức độ sai phạm của các em để răn dạy, giáo dục.

    Giáo viên phát động phong trào thi đua học tập trong lớp cụ thể ở từng môn, trong đó chia lớp ra từng tổ thi đua.

    – Đầu buổi học : các tổ báo cáo sĩ số cho giáo viên chủ nhiệm.

    – Cuối buổi học: giáo viên tổng kết, khen ngợi những học sinh tích cực học tập, tiếp thu bài tốt. Nếu có học sinh vắng mặt, thì giáo viên tìm hiểu nguyên nhân để tìm hướng giải quyết.

    – Giờ sinh hoạt lớp cuối tuần: giáo viên nhận xét đánh giá phong trào thi đua của lớp bao gồm tinh thần học tập, chuyên cần của các em học chúng tôi đó, giáo viên sẽ biểu dương khen thưởng các em

    : Giáo viên chủ nhiệm phải có lòng thương yêu và tôn trọng nhân cách học sinh, có lòng yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong quá trình làm công tác giảng dạy và giáo dục. Luôn tìm tòi suy nghĩ để đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp với các nhóm đối tượng học sinh. Xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp ở lớp học, tạo bầu không khí vui tươi, cởi mở, thi đua học tập cho các em học sinh.

    Triệu Thanh Nhãn

    HT. TH Phường 2

    TP. Sóc Trăng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Văn 317/cctthc Về Hướng Dẫn Biện Pháp Đơn Giản Hóa Thủ Tục Hành Chính Do Tổ Công Tác Chuyên Trách Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Của Thủ Tướng Chính Phủ Ban Hành
  • Đề Tài: Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Tài Liệu, Hiện Vật Ở Bảo Tàng Hcm
  • #1 Thực Tiễn Thi Hành Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Kinh Tế
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Quản Lý, Bảo Vệ Rừng Trên Địa Bàn Tỉnh Bắc Kạn
  • Dàn Ý Nghị Luận Về Vấn Đề Bạo Lực Gia Đình
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Công Tác Chủ Nhiệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Skknduy Trì Sĩ Số Hs Thcs Mot So Bien Phap Duy Tri Si So Hoc Sinh Doc
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Ở Tiểu Học
  • Những Giải Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 5
  • Đề Tài: Một Só Biện Pháp Dạy Học Kể Chuyện Theo Tranh Ở Lớp 2
  • Đề Tài: Một Só Biện Pháp Dạy Học Kể Chuyện Theo Tranh Ở Lớp 2 Truyen Ke Theo Tranh Lop 2 Doc
  • “Vì lợi ích mười năm trồng cây vì lợi ích trăm năm trồng người”. Câu nói của Bác Hồ đã thấm nhuần vào đường lối của Đảng và nhà nước ta. Hiện nay Đảng và nhà nước ta đã nêu ra việc phát triển toàn diện – giáo dục toàn diện. Vậy mỗi người giáo viên chủ nhiệm phải có nhận thức hết sức đúng đắn về vai trò của người thầy trong lớp học. Một công việc không kém phần quan trọng trong công tác chủ nhiệm đó là duy trì sĩ số học sinh. Việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường tiểu học đóng một vai trò rất quan trọng trong việc học tập của học sinh. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt. Việc các em nghỉ học, bỏ học ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi.

    Thông qua Hội nghị Công chức – Viên chức đầu năm học, Ban giám hiệu luôn nhấn mạnh: “Làm thế nào để công tác duy trì sĩ số tốt, giúp học sinh ham thích học tập và đạt kết quả tốt theo kế hoạch chỉ tiêu của Nhà trường hàng năm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mà Đảng và Nhà nước giao phó”. Trong năm học 2022 – 2022, Tôi được Nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4B. Ngay từ những buổi tựu trường, có một học sinh không đến lớp. Qua tìm hiểu một số em trong lớp, mới biết bạn không đi học nữa vì lớn tuổi nên xấu hổ. Là người giáo viên chủ nhiệm lớp, ai cũng như tôi đều trăn trở, bức xúc trước thực trạng học sinh vắng học, bỏ học, không ham học. Bản thân tôi luôn suy nghĩ và đặt cho mình câu hỏi: “Làm thể nào để duy trì sĩ số và đảm bảo chuyên cần?” Đây cũng là một vấn đề giúp các em tiếp thu bài đầy đủ, có kết quả tốt trong học tập và tiếp tục con đường học vấn của mình. Vậy làm thế nào để công tác duy trì sĩ số lớp mình chủ nhiệm đạt kết quả tốt trong năm học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo của nhà trường nói riêng và góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra cho ngành Giáo dục nói chung. Chính vì thế, tôi quyết tâm tìm mọi biện pháp để duy trì sĩ số học sinh lớp và tôi thấy rất hiệu quả. Một khi làm tốt được công tác duy trì sĩ số học sinh sẽ giúp chúng ta hạn chế tình trạng học sinh bỏ học và thực hiện đúng mục tiêu giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, góp phần xây dựng một xã hội: “Dân trí – Văn minh – Dân giàu – Nước mạnh”

      Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

    Ngay từ đầu năm học, tôi nhận trách nhiệm làm công tác chủ nhiệm lớp. Bản thân tự nhận thấy nhiệm vụ của mình là hết sức quan trọng, giúp nhà trường thực hiện tốt công tác giáo dục trong đó có công tác duy trì sĩ số. Thông qua kế hoạch và chỉ đạo của Ban Giám Hiệu nhà trường, tôi mạnh dạn áp dụng một số biện pháp như sau:

    • Tìm hiểu tình hình và nắm thông tin về học sinh của lớp.
    • Xây dựng tình cảm thân thiện giữa giáo viên và học sinh.
    • Tạo sân chơi đoàn kết trong mỗi tiết học.
    • Xây dựng phong trào: “Cùng bạn học tập”
    • Phối hợp các tổ chức trong Nhà trường.
    • Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong.
    • Kết hợp với phụ huynh học sinh.
    • Cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

    Đầu tiên, tôi cho các em điền thông tin theo mẫu sơ yếu lý lịch. Đồng thời thông qua biên bản bàn giao của giáo viên chủ nhiệm năm trước, tôi đã phần nào nắm được thông tin về học lực, hạnh kiểm của học sinh. Bên cạnh đó tôi còn trò chuyện với giáo viên chủ nhiệm năm trước để có thêm thông tin. Tôi rà soát và chú trọng những học sinh học chưa tiến bộ có nguy cơ bỏ học; tìm hiểu hoàn cảnh sống của gia đình; công việc thường ngày học sinh phải làm ở nhà…. Qua tìm hiểu và thống kê, tôi lưu tâm đến những trường hợp sau:

    1. Em Phan Văn Phương, sinh năm 1997 (lớn hơn 6 tuổi so với đúng độ tuổi): do hổng kiến thức, lưu ban nhiều năm.
    2. Em Nguyễn Duy Thế: do ảnh hưởng từ phía gia đình, bố mẹ làm ăn thua lỗ, nợ nần, mẹ nghĩ quẩn tự vẫn, mặc dù cứu được nhưng phải nằm viện ở TP. HCM hơn 3 tháng, vì thế em không chuyên cần đến lớp.
    3. Em Lê Thị Thúy: vì sức khỏe ốm đau phải nằm viện thường xuyên.
    4. Em Nguyễn Thị Cẩm Tiên: gia đình khó khăn, còn nợ nhà trường 2 năm chưa đóng các khoản tự nguyện.
    5. Em Trần Xuân Phúc: gia đình thiếu quan tâm, em thích chơi hơn là học dẫn đến hổng kiến thức.

    Qua tìm hiểu và khảo sát như thế, tôi đã biết em nào có nguy cơ bỏ học thuộc dạng nào: Học kém, hổng kiến thức; gia đình không quản lý chặt chẽ, ham chơi hay trốn học; học sinh thuộc gia đình khó khăn…. Từ đó, tôi tiến hành vận dụng biện pháp cho từng nhóm đối tượng nhằm giúp các em đi học chuyên cần và đảm bảo duy trì sĩ số.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì phải đảm bảo được sĩ số. Tôi luôn tạo ra môi trường học tập thân thiện, gần gũi với học sinh, làm cho học sinh cảm thấy “mỗi ngày đến trường là một niềm vui” thì sẽ hạn chế được tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học.

    Đối với học sinh chưa ngoan, tôi xem các em như chính con em của mình để gần gũi, động viên, chia xẻ cùng các em. Tôi có lợi thế nhà sát trường, đối với những em xa trường, trưa các em thường ở lại để học buổi thứ hai, tôi gọi các em vào nhà nghỉ ngơi. Trò chuyện và gần gũi cùng các em, tôi ân cần thăm hỏi. Lúc đầu các em còn ngại ngùng nhưng dần về sau các em tự nhiên và rất gần gũi, trò chuyện với cô. Từ đó, tôi hiểu được tâm tư, nguyện vọng của các em hơn. Đối với học sinh yếu kém, thiếu điều kiện học tập, thiếu tình cảm gia đình thì càng được tôi quan tâm chăm sóc hơn, sự dịu dàng đã làm cho các em yên tâm và ham thích đến trường. Tôi luôn luôn khuyên răn các em và giúp các em hiểu được sự sâu sắc của việc đi học. Đối với những em ham chơi, mê game (Em: Trần Vinh). Tôi gặp riêng em đó nhỏ to tâm sự, phân tích cho em hiểu về tầm quan trọng của việc học, đồng thời kể cho em nghe về những gương học tốt, những người giỏi giang. Bên cạnh đó cũng dẫn chứng cho các em thấy một số người không học hành đến nơi đến chốn, lang thang rồi trộm cắp,…Với đối tượng này tôi đã gần gũi với em vừa bằng tình thương, vừa nghiêm khắc nhắc nhở phê bình và chỉ ra hậu quả để các em sửa chữa. Đối với những em có mặc cảm do nhà nghèo, hay phân biệt dân tộc (Nùng, Tày, Mường,….), tôi kể cho các em nghe những câu chuyện nhằm hướng tới sự đoàn kết. Bên cạnh đó, những cử chỉ như xoa đầu các em cùng với lời khen dù chỉ là một thành tích rất nhỏ, một lời hỏi thăm là bản thân giáo viên đã tạo cho học sinh một sự tin tưởng, dễ gần. Học sinh bậc tiểu học rất dễ nghe lời nên tôi dùng lời lẽ dịu ngọt pha trò với các em. Sau những giờ học căng thẳng, tôi thường đọc những câu chuyện vui (sách mượn thư viện) mang tính chất giáo dục cho các em nghe . Những câu chuyện cười đã giúp các em tâm trạng thoải mái để học tiếp. Tôi giúp các em hiểu được tầm quan trọng của việc đi học và hậu quả của việc nghỉ học, bỏ học. Để từ đó, các em hình thành trong tâm trí mình sự ham thích đến trường, xóa đi mặc cảm, tự ti để hòa nhập với tập thể hơn và ý định chán nản, nghỉ học sẽ dễ dàng quên đi trong đầu óc non nớt của các em.

    Trong giảng dạy cũng như chấm chữa bài, tôi luôn quan tâm và chú ý đến những học sinh chưa tiến bộ. Khi học sinh nào làm bài chưa đúng, tôi yêu cầu học sinh đó làm lại chứ không chấm điểm ngay. Tôi giúp đỡ, hướng dẫn học sinh làm lại ngay tại lớp, điểm các em làm lại có thể là điểm khá, điểm giỏi. Bởi tôi quan niệm rằng đối với học sinh tiểu học chấm điểm không phải để bắt lỗi, để la mắng học sinh mà chấm điểm nhằm phát hiện những chỗ chưa đúng của học sinh, giúp các em làm lại cho đúng, cho hoàn thiện hơn. Với cách nói đúng, làm đúng trong học tập sẽ giúp các em trở thành những con người tự tin, trung thực, không gian dối,… Khi có học sinh mắc sai lầm, thiếu sót, tôi luôn cố gắng kiềm chế và tôn trọng học sinh, tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân để có biện pháp giúp đỡ các em sữa chữa. Tóm lại, giáo viên chủ nhiệm tạo được sự mật thiết giữa thầy với trò, giữa học sinh với học sinh, thầy trò tạo được sự vui vẻ học tập trong suốt thời gian ở lớp thì chắc chắn các em sẽ đến lớp đều đặn.

    Trò chơi một khi thâm nhập vào lớp học nhất thiết là một nội dung của bài học, phải góp phần vào việc hình thành kiến thức cơ bản hoặc rèn luyện kỹ năng cơ bản của tiết học. Tạo sân chơi học tập là một hoạt động mà các em hứng thú nhất. Thông qua trò chơi các em lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng, củng cố khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê trong học tập. Đối với những em ham chơi, lười học và những em bị hổng kiến thức, có nguy cơ bỏ học, tôi cho các em tham gia trò chơi nhiều hơn, giao nhiệm vụ trong quá trình hoạt động nhóm,…Tôi luôn tạo cơ hội cho các em tham gia các hoạt động học tập, phát biểu ý kiến,….Tôi biểu dương kịp thời sự tiến bộ – dù là nhỏ nhất đối với các em.

    Tôi luôn chịu khó tìm tòi những trò chơi sao cho phù hợp với nội dung từng bài, từng môn học:

    – Môn Toán tôi thường chọn những trò chơi: Leo núi tìm hoa ; Thi tiếp sức ; Câu cá ; Cá mẹ tìm cá con ; Tìm bạn ; Ai nhanh, ai đúng ; ….

    Tôi thường áp dụng trò chơi này vào dạng bài tính nhẩm – Nhân, chia một số với 10, 100, 1000,… trong các tiết toán Luyện tập, Luyện tập chung.

    Tôi tiến hành cho học sinh chơi theo đội, tổ chức hai đội chơi, số học sinh mỗi đội tương ứng mỗi em một phép tính. Mỗi đội đứng thành đội hình hàng dọc. Khi giáo viên phát lệnh bắt đầu chơi, em đứng đầu ở mỗi hàng bắt đầu thực hiện phép tính đầu tiên rồi về trao phấn cho bạn đứng kế tiếp sau mình. Trò chơi tiếp tục đến bạn cuối cùng của mỗi đội. Đội nào ghi các bước tính của từng bậc thang đúng và ghi được kết quả cuối cùng vào bông hoa trên “đỉnh núi” là đội thắng cuộc.

    – Đối với phân môn Luyện từ và câu, tôi vận dụng một số trò chơi: Thi tìm từ theo chủ điểm (Dạng bài: Mở rộng vốn từ); Nhanh! Nhanh lên bạn ơi (Dạng bài: Xác định đúng từ loại: danh từ, động từ, tính từ); Trò chơi: Tìm bạn (Áp dụng vào dạng bài: Mở rộng vốn từ, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa,); trò chơi: Ghép từ( Vận dụng vào bài tập chính tả, dạy dạng bài đồng nghĩa, từ trái nghĩa) ;….

    – Môn Đạo đức, Khoa học tôi thường tổ chức trò chơi “đóng vai”; “làm phóng viên” ; trò chơi “đi chợ”. Tôi thường gọi những em hay nghỉ học lên tham gia trò chơi nhằm giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp, và rèn luyện kĩ năng sống cần thiết cho các em.

    – Đối với những môn ở dạng bài học thuộc như môn: Khoa học, Lịch sử, Địa lý hoặc phần tìm hiểu bài của phân môn Tập đọc, tôi thường áp dụng trò chơi: Đố bạn; Xì điện; Ai nhanh – Ai đúng; …..vào phần củng cố bài nhằm khắc sâu kiến thức và cảm giác thoải mái, hứng thú trong học tập. Đồng thời giúp các em có kỹ năng giao tiếp và biết đưa ra những câu hỏi để đố bạn có trong nội dung bài.

    Ngoài ra, tôi còn vận dụng một số trò chơi như: Ai khéo tay (Môn toán: các bài vẽ hình học; Môn Khoa học: Vẽ sơ đồ);

    Trong tiết sinh hoạt cuối tuần, tôi hay tổ chức trò chơi: Rung chuông vàng nhằm giúp các em mạnh dạn, tự tin và cũng vừa ôn luyện kiến thức mà các em đã học. Một tháng tôi tổ chức một lần. Tôi chuẩn bị phần thưởng cho các em.( phần thưởng được trích từ quỹ lớp và quỹ heo đất – được sự đồng ý của phụ huynh về các khoản thu này). Tôi quan tâm đến những em có nguy cơ nghỉ học hoặc chưa chuyên cần tham gia trò chơi. Tôi gợi ý cho các em trả lời nếu các em còn lúng túng nhằm giúp các em một sân chơi đoàn kết, thoát khỏi sự tự ti, mặc cảm vì mình học chưa tốt,…Từ đó, các em đi học chuyên cần và kết quả học tập ngày càng tốt hơn.

    Minh họa: Tôi chuẩn bị một số câu hỏi sau:

    Câu 1: Theo em thứ gì quý nhất?

    Câu 2: Muốn nhân một số với 10, 100, 1000 ta làm thế nào?

    1. Viết thêm một, hai, ba,…chữ số 0 vào bên phải số đó.
    2. Viết thêm một, hai, ba,…chữ số 0 vào bên trái số đó.
    3. Bỏ bớt đi một, hai, ba,…. chữ số 0 ở bên phải số đó.

    Câu 3: Ông rất thích thả diều và đã đỗ Trạng nguyên lúc 13 tuổi. Ông là ai?

    Thông qua trò chơi vừa giúp các em khắc sâu kiến thức, vừa tạo ra sự hổ trợ, giúp đỡ nhau giữa các đối tượng học sinh. Nhờ thế mà những em học yếu, lười học không còn mặc cảm, tự ti và ham học hơn.

    Các em học yếu, kém thường có tâm trạng sợ thầy cô mắng, mặc cảm với bạn bè,.. rồi dẫn đến không muốn đến lớp. Vì vậy việc khắc phục tình trạng học yếu kém cũng là việc hạn chế tỉ lệ bỏ học của các em. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm và qua 2 – 3 tuần đầu thực học, tôi tiến hành phân loại học sinh. Tôi phân công cụ thể cho những em khá, giỏi hổ trợ, giúp đỡ những em học yếu. Xem đây là một phong trào và thực hiện xuyên suốt đến cuối năm học. Tôi treo giải thưởng cụ thể để các đôi bạn thi đua với nhau. Tôi tổng kết sự tiến bộ của đôi bạn cùng học theo bốn đợt: Giữa kỳ 1, cuối kỳ 1, giữa kỳ 2 và cuối năm học. Tôi trích tiền quỹ lớp để thưởng các em (được sự thống nhất của phụ huynh trong cuộc họp đầu năm thu quỹ 2000 đồng / 1 tháng / 1 em và xây dựng phong trào “nuôi heo đất”), phần thưởng cho các em là những cuốn tập, những cây bút hoặc những hộp tô màu.

    Tôi chú trọng đến những đôi bạn “giỏi, khá kèm yếu” ở cùng thôn xóm với nhau, các em có thể cùng nhau học trong những buổi nghỉ học ở trường. Tôi tiến hành sắp xếp cho từng đôi bạn đã được phân công ngồi cạnh bàn nhau. Tránh sự nhầm lẫn giúp bạn là cho bạn chép bài. Tôi cũng phân tích cho các em thấy tác hại của việc cho bạn chép bài. Tôi hướng dẫn cho các em giỏi, khá cách giúp bạn trong học tập. Những học sinh được phân công giúp bạn điều chỉnh giờ học cho phù hợp, giảng bài cho bạn, học cùng bạn, nhắc nhở động viên và kiểm tra vở ghi chép của các bạn. Những em giỏi, khá sẽ kiểm tra bài cũ và sự chuẩn bị bài mới của những em yếu trước giờ vào lớp. Các em kèm nhau học 15 phút đầu giờ và cần thiết các em hổ trợ cho nhau trong giờ ra chơi.

    Đối với những em bị hổng kiến thức: Tôi củng cố và hệ thống hóa kiến thức cơ bản rồi có kế hoạch giảng dạy hợp lý (tôi dành thời gian ở buổi học thứ 2 cho những đối tượng này nhiều hơn). Thông qua phong trào này, giúp các em học chưa tiến bộ sẽ không còn tự ti, mặc cảm và ý thức học tốt hơn. Các em ham học và thích đến trường và đẩy lùi tư tưởng bỏ học hay trốn học.

      Phối hợp với Ban giám hiệu Nhà trường:

    Kế hoạch của Ban giám hiệu là nền tảng cho mỗi giáo viên chủ nhiệm thực hiện. Trong những lần họp Hội đồng sư phạm, BGH cũng được nghe những ý kiến của giáo viên chủ nhiệm về thuận lợi và khó khăn của lớp. Tôi cũng trình bày thực trạng của lớp về những học sinh có những trường hợp khó khăn, nhà nghèo không có tiền để tham gia đóng góp các khoản theo quy định của Nhà trường. Mỗi lần nhắc đến việc đóng tiền là các em lại không đi học. Để đảm bảo chất lượng giáo dục và duy trì sĩ số, tôi mạnh dạn đề xuất ý kiến với Ban giám hiệu xin miễn giảm cho những trường hợp đặc biệt khó khăn. Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, tôi liên hệ với phụ huynh và hướng dẫn phụ huynh làm đơn xin miễn giảm các khoản đóng góp.

    Trong năm học lớp tôi có 3 em thuộc diện gia đình khó khăn, không có khả năng đóng góp và Ban giám hiệu đã đồng ý miễn giảm.

    – Em Nguyễn Duy Thế: thôn Bình Minh

    – Em Lê Thị Thúy: Thôn Xuân Long

    – Em Nguyễn Thị Cẩm Tiên

    Được sự quan tâm của Ban giám hiệu và cô giáo chủ nhiệm, gia đình và bản thân các em rất mừng. Đây cũng là một động lực giúp các em học tốt hơn.

    Tâm lý học sinh Tiểu học thường nghe lời cô giáo chủ nhiệm, nên không tránh khỏi việc các em lơ là, không hoàn thành sản phẩm mà giáo viên bộ môn giao phó. Tôi cũng trao đổi với giao viên bộ môn về những trường hợp có nguy cơ bỏ học. Tôi cũng thường xuyên xin phép giáo viên bộ môn được dự giờ, thăm lớp để biết thực lực từng môn học của các em rồi tìm biện pháp giúp đỡ kịp thời các em.

    Hoạt động Đội và phong trào thiếu nhi đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; tạo môi trường vui tươi, lành mạnh để các em đạt kết quả cao hơn trong học tập vả rèn luyện. Thông qua hoạt động Đội, các em được rèn luyện thêm nhiều về phẩm chất của người học sinh cần có như: Tình đoàn kết, lòng nhân ái, tinh thần cầu tiến,…Bởi vậy, tôi luôn quan tâm đến các hoạt động của Đội tổ chức. Mỗi khi Liên đội tổ chức các hội thi, tôi là người cố vấn, chọn lựa những em nào có khả năng đảm nhiệm rồi tiến hành hướng dẫn đến nơi, đến chốn. Tôi đặc biệt quan tâm đến những em ham chơi, nói dối xin về để trốn chơi game. Tôi chọn các em để tham gia thi những trò chơi dân gian: kéo co, ngậm nước phun chai, nhảy bao bố, …Một khi được cô giáo chọn tham gia luyện tập và thi như thế, các em thấy bản thân được cô giáo trọng dụng nên rất hào hứng, quyết tâm luyện tập để đạt kết quả cao và không còn nghĩ đến việc nghỉ học nữa. Hằng tuần, Liên đội có một buổi sinh hoạt Đội dành cho các em. Tôi đi sinh hoạt cùng các em, giúp các em thực hiện nghiêm túc điều lệ, nghi thức Đội, chương trình rèn luyện đội viên,…Qua đó giúp cho các em có được nhiều sân chơi thực bổ ích và lý thú; tạo động lực để các em phấn đấu trở thành “Con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ”.

    Gia đình luôn là chỗ dựa vững chắc cho các em, là động lực giúp các em vượt qua khó khăn. Vì thế, chúng ta cần quyết tâm: “nối nhịp cầu giáo dục với cha mẹ các em”. Khi phối hợp với gia đình học sinh. Tôi thiết nghĩ cần phải linh hoạt vì: “Mỗi cây, mỗi hoa, mỗi gia đình, mỗi hoàn cảnh”, hoàn cảnh gia đình không ai giống ai. Có gia đình có điều kiện kinh tế, có thời gian luôn quan tâm theo dõi sâu sát chuyện học tập của con em, thậm chí luôn đưa rước con cái đi học, theo dõi tập vở của con cái hàng ngày. Nhưng cũng có gia đình đầu tắt mặt tối đi sớm về khuya, họ không có thời gian quan tâm đến con cái, mặc dù ai cũng muốn con mình học giỏi, ngoan ngoãn.

    Thông qua cuộc họp phụ huynh đầu năm, tôi nêu cao tinh thần trách nhiệm của phụ huynh trong việc học tập của học sinh. Tôi trao đổi và quán triệt về sự chuyên cần của các em. Tôi chỉ chấp nhận đồng ý các em nghỉ học với lý do chính đáng như: bệnh, tai nạn,… Còn nghỉ học để đi ăn giỗ, ăn cưới … đều được tôi động viên đi học. Học sinh nghỉ học vì một lý do nào đó thì cha mẹ phải trực tiếp điện thoại cho cô giáo hoặc viết giấy xin phép phải có chữ ký của phụ huynh (tôi đã cho phụ huynh ký vào giấy kiểm tra chất lượng đầu năm – để tránh trường hợp học sinh tự ý nghĩ học và ký thay phụ huynh). Mỗi ngày đến lớp, việc đầu tiên là tôi bao quát lớp, xem các em có đi học đầy đủ không. Nếu thấy vắng em nào mà phụ huynh chưa báo cho giáo viên, tôi liền gọi điện cho phụ huynh em đó để biết vì sao em không đi học.

      Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

    Qua vận dụng đề tài vào lớp 4B, tôi thấy kết quả đạt được rất khả quan.

    Trong năm học 2022 – 2022, qua khảo sát có 5 em có nguy cơ bỏ học và không chuyên cần. Vào đầu năm học, sĩ số lớp tôi dù có biến động nhưng đối tượng bỏ học (Em Phan Văn Phương – Sinh năm: 1997) trước khi tôi có tư tưởng vận dụng đề tài này. Mặc dù tôi cũng thuyết phục em trở lại trường nhưng em quá lớn tuổi nên không tránh khỏi xấu hổ, mặc cảm. Còn trường hợp của em Nguyễn Duy Thế (ảnh hưởng từ phía gia đình, mẹ nằm viện, kinh tế khó khăn) lúc đầu em đi học không chuyên cần, rồi bỏ học một tuần vì điều kiện hoàn cảnh gia đình nhưng cô đã đến nhà và vận động em đi học lại. Điều đáng mừng là em đã ý thức đi học rất chuyên cần, kết quả học tập của em tiến bộ rất nhiều. Đối với em: Nguyễn Thị Cẩm Tiên (nhà nghèo, 2 năm liên tiếp em chưa đóng các khoản tự nguyện), thấy các bạn trong lớp được bố lên đóng tiền, thế là em không đến lớp. Tôi gọi điện để tìm hiểu nguyên nhân, lúc đầu mẹ em báo ốm. Nhưng đến ngày thứ hai, thứ ba đều thấy vắng em. Tôi đến nhà thăm hỏi, động viên và hướng dẫn phụ huynh làm đơn xin miễm giảm. Từ đó, em đi học chuyên cần và kết quả học tập được nâng lên rõ rệt. Còn đối với những em ham chơi, lười học cũng đã dần tiến bộ thể hiện qua các đợt kiểm tra, kết quả học tập đã tiến bộ rõ rệt, không còn điểm yếu nữa.

    Người giáo viên chủ nhiệm phải thấy việc thực hiện duy trì sĩ số học sinh là trách nhiệm của một nhà giáo. Để làm tốt công tác này giáo viên cần kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và các ban ngành của địa phương. Có như vậy công tác chủ nhiệm của giáo viên mới đạt kết quả và khắc phục được tình trạng học sinh bỏ học. Đồng thời cần xây dựng một môi trường lớp học thân thiện, tạo một mối quan hệ gần gũi giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh để các em có được cảm giác thân thiện khi đến lớp. Một điều không kém phần quan trọng nữa đó là người giáo viên phải thật sự nhiệt tình, chịu khó, có tâm huyết, phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề, đổi mới phương pháp giảng dạy để lôi cuốn học sinh, được sự tin tưởng và tín nhiệm của phụ huynh học sinh, biết kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh thì việc duy trì sĩ số sẽ đạt hiệu quả tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Duy Trì Sĩ Số Học Sinh?
  • Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Bậc Tiểu Học Sang Kien Kinh Nghiem Doc
  • Bài Tham Luận Về Công Tác Duy Trì Sĩ Số Học Sinh
  • Skkn Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Và Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100