Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mẫu Giáo 3

--- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Định Hướng Xây Dựng Chương Trình Giáo Dục Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Skkn Một Số Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Các Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Cho Học Sinh Trường Tiểu Học Thị Trấn Cẩm Thủy
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Để Thực Hiện Tốt Tiết Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Khối 6
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Phẩm Chất Cho Học Sinh Lớp 5 Tại Trường Tiểu Học Quảng Tâm
  • 1.1. Lý do chọn đề tài:

    Trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới, vấn đề hình thành hệ giá trị chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại là một trong những vẫn đề có ý nghĩa quyết định. Giải quyết vấn đề này trong lĩnh vực đạo đức chính là làm hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức mới phù hợp với truyền thống và yêu cầu của thời đại. Trong các nhà trường nước ta hiện nay luôn lấy giáo dục con người làm gốc, giáo dục đạo đức là ưu tiên, coi sự nghiệp trồng người là cơ bản của giáo dục.

    Nghị quyết của bộ chính trị về cải cách giáo dục đã ghi rõ: “Giáo dục thế hệ trẻ yêu quê hương tổ quốc, xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản, ý thức làm chủ tập thể, tính thật thà khiêm tốn, dũng cảm. Do đó việc giáo dục lễ giáo cho thế hệ trẻ là một quá trình lâu dài, xuyên suốt trong quá trình giáo dục”. Nó đòi hỏi phải có sự chung tay, góp sức của gia đình và toàn xã hội, muốn thế hệ trẻ có đủ trí, đức những lớp người đó không ai khác chính là thế hệ trẻ hôm nay. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của một nước độc lập Bác viết: ‘‘Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Vệt Nam có được vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ vào một phần lớn công học tập của các cháu”.

    Ta cũng nhận thấy rõ hơn việc hình thành nhân cách tình cảm lối sống cho trẻ là nhiệm vụ rất quan trọng trong cơ sở giáo dục Mầm Non và trong các bậc cha mẹ trẻ. Khoa học cũng đã khẳng định rằng: Nền móng đầu tiên của nhân cách, sự phát triển về mặt đạo đức cho trẻ sau này đều mang rõ dấu ấn của thời thơ ấu. Vì thế lứa tuổi này ta phải chăm lo phát triển toàn diện cho trẻ, trên cơ sở đó mà từng bước hình thành nhân cách cho trẻ theo phương hướng yêu cầu mà xã hội mới đặt ra.

    Tại trường học Mầm Non việc giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các chế độ sinh hoạt hằg ngày của cô và trẻ như : Đón trẻ, thể dục sáng, giờ hoạt động chung, hoạt động vui chơi, đi dạo, ăn trưa, ngủ trưa, hoạt động chiều, nêu gương và chuẩn bị ra về. Thông qua hoạt động hằng ngày cô giáo giáo dục lễ giáo cho trẻ có ý thức, tự tin và tôn trọng mọi người xung quanh, giáo dục tinh thần tự lực tự giác, ý thức kỷ luật trật tự trong sinh hoạt, hành vi văn minh, giữ gìn vệ sinh, giáo dục tình thương quan hệ đoàn kết nhân ái với bạn bè. Biết yêu mến và tôn trọng người lớn Giáo dục nề nếp cho trẻ còn thông qua trò chơi vì: Vui chơi là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo. Các đặc điểm tâm lý mới, tính cách mới của trẻ được hình thành chủ yếu trong hoạt động chủ đạo này. Vì vậy trong công tác giáo dục nề nếp cho trẻ thông qua trò chơi là một phương tiện mạnh mẽ nhất.

    VD: Trong khi chơi trẻ đã thể hiện rõ các tính cách của trẻ qua các nhân vật, cách đóng vai, cách ứng sử với trẻ trong nhóm chơi.

    giữa các vai chơi với nhau. Khi chơi thể hiện tính cách của từng vai chơi vì vậy

    việc nêu gương quan trọng ngay cả đối với trẻ đóng vai.

    Giáo dục nề nếp lễ giáo thông qua hoạt động học tập nhằm trau dồi cho trẻ những tri thức cần thiết về cuộc sống xung quanh mà giúp trẻ gắn bó với quê hương, biết yêu quý người lao động có những hành vi văn minh, làm giàu vốn tri thức về cuộc sống cho trẻ.

    Thông qua hoạt động học cô giáo từng bước giáo dục trẻ có ý thức kỷ luật, kỹ năng, biết chủ động tự lực vượt qua những khó khăn để hình thành được công việc mà cô giáo giao cho.

    Giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua lao động vừa sức phù hợp với đời sống sinh hoạt cũng là phương tiện giáo dục nề nếp cho trẻ .Thông qua lao động hình thành cho trẻ những phẩm chất của người lao động. Trẻ tự giác khi có tinh thần trách nhiệm,những công việc hợp với lứa tuổi sẽ giúp trẻ cảm thấy mình tốt hơn đồng thời biết quan tâm đến người khác.

    Giáo dục lễ giáo cho trẻ dân tộc thiểu số vùng cao chính là một cơ sở lý luận giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách, tình cảm trí tuệ. Là nền tảng vững chắc cho sự nghiệp học tập suốt đời của trẻ.

    Tuy nhiên một bộ phận gia đình thuộc dân tộc thiểu số vùng cao vẫn còn giữ những hủ tục, những quan niệm dân tộc ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành nhân cách, tình cảm của trẻ. Vì vậy giáo dục lễ giáo chính là một giải pháp đúng đắn cho trẻ vùng dân tộc thiểu số vùng cao hiện nay nhằm mục đích tăng cường giáo dục truyền thống đạo đức văn minh cho thế hệ trẻ.

    Bên cạnh đó cùng với sự phát triển chung của nền văn hoá xã hội trẻ chịu sự tác động trực tiếp của nhiều tác động tâm lý bên ngoài xã hội, đó là tác động giáo dục của người lớn. Chính vì vậy giáo dục lễ giáo cho trẻ nói chung và trẻ dân tộc thiểu số ở Trường Mầm Non Điền Trung vùng cao nói riêng là một biện pháp mang tính cấp bách và rất cần thiết cho việc hình thành và phát triển nhân cách hành vi của trẻ vùng dân tộc thiểu số sau này. Chính vì vậy bản thân tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi dân tộc thiểu số ” để nâng cao chất lượng nề nếp cho trẻ.

    1. 2. Mục đích nghiên cứu:

    – Khảo sát thực trạng một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 3 – 4

    tuổi dân tộc thiểu số ở trường mầm non Điền Trung

    1. 3. Đối tượng nghiên cứu:

    – Thực trạng giáo dục lễ giáo của trẻ lớp mẫu giáo bé C2 3 – 4 tuổi trường mầm non Điền Trung

    1. 4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

    – Phương pháp quan sát sư phạm.

    – Phương pháp dùng lời.

    – Phương pháp dùng trò chơi.

    – Phương pháp trực quan, trải nghiệm.

    – Phương pháp thống kê và xử lý và xử lý sơ liệu.

    2. NỘI DUNG

    2.1. Cơ sở lý luận

    Đất nước việt nam dân tộc việt nam có truyền thống văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc với 54 dân tộc anh em trên cả nước, mỗi một dân tộc có một bản sắc tập tục quan niệm riêng. Và ngày hôm nay cùng tiến lên trên con đường hội nhập nền kinh tế của nước ngoài tác động không nhỏ đến nền văn hoá Việt Nam, vì vậy để thế hệ trẻ thơ mãi giữ được bản sắc truyền thống văn hoá của dân tộc mà không bị lai căng pha trộn thì giáo dục không chưa đủ mà phải đi sâu có mục đích chính là hình thành phát triển lễ giáo cho trẻ dân tộc thiểu số một cách toàn diện.

    Lễ giáo là nét đẹp văn hoá truyền thống được đặt lên hàng đầu của lứa tuổi mẫu giáo là bước ngoặt đầu tiên hình thành ở trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách như: Giáo dục nhân cách nói với người lớn, phong cách ứng sử có phép tắc có văn hoá, có đạo lý phù hợp với nhu cầu của xã hội.

    Thực tế từ xưa đến nay người ta đã khẳng định vai trò to lớn của giáo dục tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người đặc biệt với trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số vùng cao hiện nay.

    Cùng với sự phát triển của văn hoá kinh tế xã hội đạo đức trẻ đang bị xuống cấp nghiêm trọng những lễ giáo lễ nghi hành vi ứng sử lối sống tốt đẹp đang bị bào mòn, hành vi đạo đức sống lệch lạc ngày càng gia tăng. Còn với trẻ dân tộc thiểu số vùng cao thì sao?

    Trẻ còn mang nhiều hủ tục của người dân tộc mường: Như trẻ nói tiếng mường. Khi trẻ đến lớp khi chào cô trẻ cũng chào bằng tiếng dân tộc.

    VD: Coan cháo cô giào! Hay khi muốn gọi cô trẻ cũng gọi: Cô giào ới! Đặc biệt trẻ nói tiếng dân tộc với nhau trong khi học khi chơi, trẻ giao tiếp với nhau chỉ xưng hô bằng mày tao với nhau như thói quen hằng ngày của trẻ ở nhà.

    VD: Khi trẻ muốn gọi bạn sang cùng chơi trẻ gọi ngay:

    Lái ní mân ho! Có nghĩa sang đây với tao.

    VD: Khi trẻ hỏi cô giáo về cái gì trẻ cũng nói bằng tiếng dân tộc: Cài chi ní!

    Có nghĩa là: Cái gì đây? Nhưng trẻ chỉ hỏi ngang, buông trôi không ý thức được câu hỏi của mình là hỏi ai? Hay ngay trong hoạt động góc khi chơi với nhau trẻ dân tộc chỉ dùng tiếng dân tộc với nhau.

    VD: Trẻ chơi trong góc xây dựng khi trẻ phân công việc cho nhau hay bảo nhau lấy gì thì trẻ đều phát âm bằng tiếng dân tộc như:

    Ho xây xoong rối dâu trông cân ti. Tao xây song rồi mày trồng cây đi.

    Đó chính là điều mà nhiều giáo viên như tôi phải quan tâm lo ngại. Bởi trẻ chỉ giao tiếp bằng tiếng dân tộc, tôi nghĩ phải làm thế nào cho trẻ có lễ phép với cô giáo, làm thế nào để trẻ nói với nhau bằng tiếng việt. Đặc biệt là làm sao để trẻ sưng hô với nhau một cách lịch sự với các bạn cùng chơi.

    Bước đầu của trẻ đến trường Mầm Non chào cô, chào bạn bằng tiếng dân tộc, chưa có thói quen giữ gìn vệ sinh, giao tiếp với các bạn và cô giáo còn là một hạn chế vì vậy hình thành giáo dục nhân cách ăn nói, lễ phép trong giao tiếp cho trẻ dân tộc vùng cao là một việc rất quan trọng phù hợp với văn hoá Việt Nam. Chúng ta phải giúp trẻ dân tộc thiểu số làm quen với một số chuẩn mực đạo đức và những hành vi có văn hoá trong cuộc sống hằng ngày, để hình thành thói quen hành vi văn minh.

    Vì những lý do đã nêu ở trên với mục tiêu giáo dục lễ giáo cho trẻ dân tộc thiểu số được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác giáo dục trẻ dân tộc hiện nay. Bản thân là một giáo giáo viên Mầm Non lại xuất phát từ một thành viên sinh ra và lớn lên ở vùng cao nơi dân tộc thiểu số chiếm phần lớn, nên tôi phần nào hiểu được tâm lý nhân cách và truyền thống cũng như phong tục của người dân tộc thiểu số vùng cao nơi tôi sinh sống và công tác.

    Tôi bắt đầu nghiên cứu chọn đề tài này nhằm mục đích tự tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức lễ giáo cho trẻ nói chung và trẻ dân tộc thiểu số trường Mầm Non Điền Trung vùng cao huyện Bá Thước nói riêng. Tôi nhận thấy giáo dục lễ giáo đạo đức cho trẻ dân tộc thiểu số là hết sức quan trọng đối với lớp trẻ vùng dân tộc hiện nay. Nhưng làm được điều này không phải việc một sớm một chiều, nhất là trong lúc này tâm hồn trẻ đang ngây ngô trong sáng như một tờ giấy trắng. Vì vậy cha mẹ phải là những người thầy đầu tiên uốn nắn trẻ và gia đình cũng là trường học đầu tiên của trẻ. Nhưng một gia đình của trẻ dân tộc thiểu số thì sao?

    Bước đầu trẻ đã có một số kỹ năng tích luỹ được một số tri thức, thói quen lễ giáo của vùng dân tộc thiểu số để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày bằng cách học lõm, bắt trước người lớn. Trẻ được trải nghiệm, được nhìn thấy, được nghe thấy. Vì vậy giáo viên và gia đình là người quan sát trực tiếp đến trẻ phải gương mẫu, dạy và tập cho trẻ những hành vi văn minh ở mọi lúc, mọi nơi nhằm hình thành những kỹ năng sống ban đầu của trẻ.

    Đó là lí do đã thúc đẩy tôi bắt đầu triển khai áp dụng “Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi vùng dân tộc thiểu số”. Nhằm hình thành và

    phát triển nhân cách lễ giáo cho trẻ dân tộc thiểu số vùng cao.

    2. 2. Thực trạng

    2.2.1. Thuận lợi :

    Trẻ trong lớp đều có chung một độ tuổi, có sự thống nhất giáo dục của hai cô giáo về phương pháp.

    Số trẻ được đi học từ nhà trẻ nên đã có một số thói quen lễ giáo.

    Đa số trẻ hiểu tiếng việt khi giao tiếp.

    Một số phụ huynh quan tâm đến việc giáo dục lễ giáo cho trẻ như tập nói đủ câu, gọi dạ bảo vâng, biết cảm ơn khi được giúp đỡ, biết xin lỗi khi làm sai, biết được khi được ai cho một vật gì thì biết xin bằng hai tay.

    Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tân giúp đỡ tạo điều kiện về mọi mặt.

    2.2.2. Khó khăn:

    Một số phụ huynh chưa quan tâm rèn luyện cho trẻ nói đủ câu, còn để cho trẻ tự làm theo ý của trẻ chưa cương quyết.

    Trẻ có thói quen nói trống không, ra vào lớp một cách tự do chưa có nề nếp thói quen, chưa biết xin phép đi vệ sinh khi có nhu cầu, có trẻ tự ra ngoài nhưng có trẻ tè ra quần.

    Nhiều trẻ chưa biết xin và cảm ơn khi được người khác giúp đỡ, chưa biết xin lỗi khi bị mắc lỗi, chưa biết xin bằng hai tay khi người lớn đưa, chưa biết chơi cùng các bạn một cách đoàn kết, đang còn tranh dành đồ chơi của các bạn.

    Phần đông trẻ chưa có thói quen, chưa có nề nếp. Trẻ đến trường còn khóc không muốn ở trường, không muốn tham gia các hoạt động cùng cô giáo và các bạn.

    Nhận thức của phần lớn phụ huynh còn xem nhẹ việc giáo dục lễ giáo cho con cái mình ngay từ lứa tuổi bập bẹ, trẻ tự học, tự phục vụ mình một cách không có hệ thống, không khoa học.

    Nhận thức trẻ không đồng đều, tư duy còn chậm, trẻ còn hỏi và trả lời cô bằng tiếng dân tộc, có trẻ lại trả lời cô bằng những câu trống không. Trẻ ra vào lớp một cách tự nhiên trong khi học cũng như trong khi chơi.

    Bên cạnh đó lại có những gia đình nuông chiều con quá mức chỉ mải mê kiếm tiền sao nhãng việc học hành ít quan tâm đến những hành vi của trẻ.

    Cũng do đời sống kinh tế khó khăn, đại bộ phận các gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng sâu vùng xa còn thiếu các phương tiện thông tin đại chúng còn thiếu, trình độ văn hoá của các bậc cha mẹ thấp.

    Một bộ phận không biết đọc biết viết nên thiếu kinh nghiệm trong nuôi dạy con cái.

    Đứng trước tình hình như vậy tôi lo lắng phải dạy trẻ như thế nào và bằng những biện pháp gì? để tất cả trẻ lớp tôi có những thói quen và hành vi đạo đức chuẩn mực của xã hội. Tôi đã nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả các biện pháp mà tôi đưa ra ngay trong lớp tôi phụ trách.

    2.2.3. Thực trạng ban đầu:

    Qua một thời gian trải qua quá trình tiến hành thực nghiệm, khảo sát ban đầu trên trẻ cho thấy kết quả đầu năm của trẻ trên lớp được như sau:

    Nội dung khảo sát

    SCKS

    Kết quả khảo sát

    Đạt

    Chưa đạt

    Số cháu

    %

    Số cháu

    %

    Trẻ biết chào hỏi xưng hô lễ phép

    30

    9

    30

    21

    70

    Biết cảm ơn, xin lỗi nhận đồ vật bằng hai tay.

    30

    13

    43

    17

    57

    Ho, ngáp, hắt hơi biết lấy tay che miệng

    30

    12

    40

    18

    60

    Mạnh dạn giới thiệu tên, tuổi

    30

    11

    37

    19

    63

    Trẻ biết tự xúc để ăn

    30

    12

    40

    18

    60

    Thói quen chờ đợi đến lượt

    30

    13

    43

    17

    57

    Thực hiện các yêu cầu của cô giáo và người lớn.

    30

    12

    40

    18

    60

    Phân biệt được các hành vi tốt, xấu

    30

    13

    43

    17

    57

    2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện.

    Biện pháp 1: Giáo viên và phụ huynh là tấm gương cho trẻ noi theo trong mọi hoạt động

    Các bậc phụ huynh và cô giáo có sự ảnh hưởng nhiều nhất tới sự phát triển nhân cách của trẻ. Vì vậy để giáo dục được lễ giáo cho trẻ dân tộc thiểu số trước tiên phụ huynh và giáo viên phải là tấm gương cho trẻ noi theo.

    Đúng vậy cô giáo phải có phẩm chất của một nhà giáo và là tấm gương sáng để trẻ noi theo. Khi xưng hô với trẻ tôi luôn ân cần nhẹ nhàng, khi giao tiếp với phụ huynh trong giờ đón trẻ, trả trẻ tôi ân cần khiêm tốn lịch sự trong giao tiếp với phụ huynh, cháu hỏi gì tôi trả lời rõ ràng tôn trọng ý kiến của trẻ.

    Là người lớn luôn phải giữ đúng lời hứa để gương mẫu cho trẻ. Cha mẹ phải làm gương cho trẻ phải biết giữ những mối quan hệ hành vi quan hệ họ hàng một cách có hiệu quả để nuôi dạy con cách sống, cách thể hiện tình cảm nhân cách sống với mọi người. Hãy làm gương tốt cho trẻ vì lứa tuổi này trẻ bắt trước rất nhanh kể cả những thói xấu của người lớn, chính vì thế ta phải dạy cho trẻ những đức tính tốt như: Sự cảm thông, kiên trì, an ủi, lòng bao dung để trẻ duy trì nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp.

    Bất kỳ ở đứa trẻ nào cũng thích được thương yêu gần gũi vì thế mọi biểu hiện của cô giáo từ lòng nhân hậu vị tha công bằng sẽ để lại dấu ấn trong trẻ. Vì vậy khi giao tiếp với bạn bè đồng nghiêp hay với phụ huynh trước mặt trẻ tôi luôn có chuẩn mực trong giao tiếp. Đặc biệt tôi phải luôn chú ý đến trang phục gọn gàng, lịch sự, không đi ngang qua mặt trẻ để trẻ có thể học được cái hay cái đẹp từ cô. VD: Cô khen những trẻ đi học ngoan, đúng giờ, mặc quần áo đầu tóc gọn gàng, sạch đẹp, đi học biết chào cô khi đến lớp không khóc nhètrước tập thể lớp. Ngay hôm sau tôi thấy có nhiều cháu đi học biết chào hỏi cô, ăn mặc sạch sẽ. Vì cháu bắt chước bạn để được cô khen.

    Còn khi chê trẻ không chê chung chung nhưng cũng phải tìm cách chê thật khéo léo. Không chê trước tập thể lớp mà phải gần gũi, ân cần, nhắc nhỡ, góp ý riêng với trẻ để trẻ không vì xấu hổ mà có ý nghĩ không muốn đi học.

    – Tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm một cách hào hứng được tham gia các tình huống và sử lí tình huống. Ví dụ: khi cô tặng quà cho trẻ, trẻ được tặng quà phải biết xin và cảm ơn.

    Trẻ được nhận quà biết xin và cảm ơn

    Nhìn chung, để giáo dục cho trẻ dân tộc thiểu số có một lễ giáo văn hoá tốt đẹp thì trước tiên cô giáo và phụ huynh phải là tấm gương tốt cho học cho trẻ học tập noi theo.

    Biện pháp 2: Giáo dục lễ giáo, nề nếp, thói quen cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số.

    Việc hình thành giáo dục lễ giáo thói quen, cần giáo dục cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi để nhằm mục đích giúp trẻ dễ nhớ và khắc sâu được, nhưng trẻ sẽ rất dễ quên nếu ta không uốn nắn sữa chữa hàng ngày cho trẻ.

    Để đưa trẻ vào nền nếp trước tiên từ việc đón trẻ đến lớp và trả trẻ về. Trẻ dân tộc vùng cao đến trường chưa có nề nếp, trẻ chào cô bằng tiếng dân tộc, có trẻ chào cô nhưng lí dí rụt dè. Đặc biệt những ngày đầu tiên trẻ còn nhút nhát tôi đã gần gũi và trò chuyện với trẻ. Trao đổi với phụ huynh để phụ huynh nhắc trẻ chào cô. Đặc biệt cô làm gương trước cho trẻ bằng cách chào phụ huynh của trẻ trước và chào trẻ của mình.

    VD: Cô chào con! Và ngay sau đó trong đầu trẻ đã nảy ra suy nghĩ về lí do đó, kết quả của ngày hôm sau khi nghe cô chào: Cô chào con! Thì ngay lập tức trẻ đã chào cô. Tôi phải khen ngợi và khuyến khích để trẻ thích thú sau đó là nhắc trẻ chào các

    bạn của mình vào chào tạm biệt người đưa mình đến trường.

    Trẻ chào cô giáo khi đến lớp

    Đặc biệt khi đón trẻ tôi ân cần trò chuyện với trẻ và phải nghiêm túc trong việc xưng hô với trẻ và bố mẹ trẻ, tập cho trẻ đến lớp chào cô sau đó là chào tạm biệt người thân, chào các bạn, trẻ cất đồ dùng rồi vào lớp theo đúng nội quy. Đó là việc rèn nề nếp khi trẻ đến lớp

    Từ đó tập cho trẻ thói quen văn minh ở trường lớp, Giáo dục trẻ tinh thần tự lực tự giác ý thức kỷ luật trật tự trong sinh hoạt hành vi văn minh, giữ gìn vệ sinh chung.

    Giáo dục trẻ quan hệ đoàn kết nhân ái với bạn bè biết yêu mến và tôn trọng người lớn. Có ý thức giữ gìn tài sản chung và tài sản riêng. Để giáo dục nề nếp thói quen cho trẻ tôi thường xuyên nhắc nhở, kiểm tra, để giúp trẻ có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh chung. Không vứt rác bừa bãi, bỏ rác vào đúng nơi quy định.

    Kiểm tra việc giao tiếp ứng xử bằng ngôn ngữ của trẻ, tránh trường hợp nói tục chửi bậy ở trẻ. Vì thế tôi luôn kiểm tra chỉnh sửa để trẻ ứng sử một cách có văn hoá.

    Tôi thường xuyên giáo dục trẻ biết nói có chừng mực, từ tốn và cần giữ gìn vệ sinh chung. Khi cho trẻ ăn bất cứ thứ gì tôi cũng giáo dục trẻ bỏ rác đúng nơi quy định.

    VD: Ăn xong con phải bỏ vỏ vào đâu?

    Giáo dục trẻ biết xin lỗi, cảm ơn: khi trẻ chơi tự do hay trong bất kỳ các hoạt động nếu trẻ làm gì sai đối với bạn. Với bản thân tôi việc phải làm ngay là phải giúp trẻ nhận ra lỗi của mình và sửa sai, sau đó việc tiếp theo nên làm là phải xin lỗi cô xin lỗi bạn. Nếu ai cho gì thì phải biết xin và nói lời cảm ơn, nếu người lớn cho gì thì phải nhận bằng 2 tay và biết nói cảm ơn người đó.

    Từ những việc làm đó diễn ra hàng ngày và thường xuyên sẽ giúp trẻ hình thành một nề nếp thói quen tốt đẹp h

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Giúp Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quảgiáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs
  • Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thpt: Việc Làm Cần Thiết
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống (Kns) Cho Học Sinh Lớp 2 Thôngqua Các Môn Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Cho Học Sinh Trong Một Số …

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Vấn Các Biện Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Bảo Vệ Trẻ Em Và Quyền Trẻ Em
  • Chuyên Mục: Tìm Hiểu Luật Trẻ Em (Phần 4) .công An Tra Vinh
  • Không Khí Ô Nhiễm: Làm Thế Nào Để Bảo Vệ Sức Khỏe?
  • Suy Thoái Rừng Trên Thế Giới
  • Quy Chế Đảm Bảo An Toàn Thông Tin
  • (MÃ MÔ ĐUN TH 43)

    GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI  TRƯỜNG CHO HỌC SINH

    TRONG MỘT SỐ MÔN HỌC Ở TIỂU HỌC

    @&?

    Tháng 11 năm 2022

     1.

    Mục tiêu GDBVMT trong trường tiểu học

    Kiến thức

    :

    trang bị cho HS hệ thống những kiến thức cơ bản ban đầu về môi trường phù hợp với độ tuổi và tâm sinh lí của HS. Cụ thể :

    + Có những hiểu biết cơ bản ban đầu về tự nhiên, về môi trường

    + Nhận thức được mối quan hệ khăng khít, tác động lẫn nhau giữa con người với MT, những tác động của hoạt động con người đối với MT.

    + Những vấn đề của MT tự nhiên và toàn cầu, hậu quả việc MT bị biến đổi xấu đi gây ra.

    + Nội dung và các biện pháp BVMT.

    + Các chủ trương, chính sách và pháp luật BVMT của nước ta và trách nhiệm của mỗi công dân.

    Thái độ

    :

    Cần hình thành cho các em ý thức quan tâm đến môi trường và thái độ trách nhiệm đối với môi trường:

    + Từng bước bồi dưỡng cho HS lòng yêu quý thiên nhiên, tình cảm trân trọng tự nhiên và có nhu cầu bảo vệ môi trường

    + ý thức được về tầm quan trọng của trong sạch đối với đời sống của con người, phát triển thái độ tích cực đối với môi trường.

    + Thể hiện sự quan tâm tới việc cải thiện môi trường để có ý thức sử dụng hợp lí chúng, có tinh thần phê phán đối với những hành vi gây ô nhiễm môi trường.

    + Có ý thức tuyên truyền, vận động mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường sống.

    Hành vi

    :

    Cần trang bị cho HS những kĩ năng và hành vi ứng xử tích cực trong việc BVMT :

    + Có kĩ năng đánh giá những tác động của con người đối với tự nhiên, dự đoán những hậu quả của chúng.

    + Tham gia tích cực, có hiệu quả vào các hoạt động giữ gìn vệ sinh, bảo đảm sự trong sạch của môi trường sống, tham gia tích cực vào việc bảo tồn nguồn tài nguyên.

    – Để thực hiện mục tiêu GDBVMT ở cấp tiểu học cần tích hợp, lồng ghép nội dung GDBVMT vào các môn học ở tiểu học.

    – Thực hiện GDBVMT thông qua các hoạt động Giáo dục NGLL ở tiểu học.

    – Quan tâm đến môi trường địa phương, thiết thực góp phần cải thiện MT địa phương, tạo thói quen ứng xử thân thiện với MT.

    Tích hợp, lồng ghép giáo dục BVMT vào các môn học cấp tiểu học có 3 mức độ : Mức độ toàn phần, mức độ bộ phận và mức độ liên hệ // 2 phương thức : Trực tiếp, Gián tiếp. 

    Mức độ toàn phần : Khi mục tiêu, nội dung của bài phù hợp hoàn toàn với mục tiêu, nội dung của giáo dục BVMT.

    Mức độ bộ phận : Khi chỉ có một bộ phận bài học có mục tiêu, nội dung phù hợp với giáo dục BVMT.

    Mức độ liên hệ : Khi mục tiêu, nội dung của bài có điều kiện liên hệ một cách lô gic với nội dung giáo dục BVMT.

     2. Môi trường là gì?

           – Môi trường là một tập hợp các yếu tố xung quanh hay là các điều kiện bên ngoài có tác động qua lại (trực tiếp, gián tiếp) tới sự tồn tại và phát triển của sinh vật.

           – Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.

    3. Thế nào là môi trường sống ?

            – Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, đất, nước và không khí, ánh sáng, công nghệ, kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mỹ học.

             – Môi trường sống của con người được phân thành: môi trường sống tự nhiên và môi trường sống xã hội

               * Môi trường tự nhiên

        Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cõy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.

     * Môi trường xã hội

        Là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định … ở các cấp khác nhau như: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với thế giới sinh vật khác.

        Ngoài ra người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo: Bao gồm tất cả các nhân tố vật lí, sinh vật, xã hội do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên …và chịu sự chi phối của con người.

               * Môi trường nhà trường bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong trường như phòng học, phòng thí nghiệm, thầy giáo, cô giáo, học sinh, nội quy của trường, các tổ chức xã hội như Đoàn, Đội, …

     3. Giáo dục bảo vệ môi trường:

               * Giáo dục bảo vệ môi trường đã và đang là một vấn đề được cả thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đặc biệt quan tâm. Chất lượng môi trường có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển bền vững đối với cuộc sống con người. Môi trường là một khái niệm quen thuộc và tồn tại xung quanh chúng ta.

         Giáo dục môi trường vào bậc tiểu học để bảo vệ trẻ, các em như một bộ phận nhỏ của môi trường trước sự xuống cấp của nó, đồng thời coi trẻ em là một lực lượng bảo vệ môi trường. Giáo dục môi trường là một hoạt động quan trọng trong hoạt động giáo dục của nhà trường, góp phần hình thành một số năng lực cho học sinh để phát triển toàn diện nhân cách cho các em, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra.

        Hoạt động giáo dục môi trường gắn nhà trường với thực tiễn, giúp các em mở rộng kiến thức, xây dựng những tình cảm tốt đẹp, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các em; biến quá trình giáo dục thành tự giác. Hoạt động giáo dục môi trường cần được quan tâm, chú trọng, đầu tư hơn nữa của các nhà quản lý giáo dục. Mục tiêu của giáo dục cần được xem xét với chú trọng đến giáo dục môi trường nhằm góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh.       

    * Ô nhiễm môi trường trên Thế giới

    Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng

    + Gia tăng nồng độ Co2 và So2 trong khí quyển

    + Nhiệt độ trái đất tăng: trong vòng 100 năm trở lại đây TĐ nóng lên 0, 5 độ và dự báo trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,5- 4,5 độ so với TK XX.

    + Mức nước biển sẽ dâng cao từ 25- 145cm do băng tan, nhấn chìm nhiều vùng rộng lớn.

    + Gia tăng tầng xuất thiên tai.

    Suy giảm tầng Ôzôn

    – Tài nguyên bị suy thoái

    – Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng

    Nguyên nhân : Sự phát triển khu đô thị, công nghiệp, du lịch, đổ bỏ chất thải…

    Hậu quả : hàng năm trung bình trên 20 triệu người chết vì các nguyên nhân môi trường.

    – Gia tăng dân số

    – Suy giăm tính đa dạng sinh học (đa dạng di truyền; loài; sinh thái)

    Ô nhiễm môi trường Việt Nam

    – Suy thoái môi trýờng đất : trên 50% diện tích đất tự nhiên của nýớc ta bị thoái hoá (bạc màu, phèn, xói mòn…).DT không gian sống đang ngày càng thu hẹp.

    – Suy thoái rừng : chất lýợng rừng giảm và sự thu hẹp DT rừng.

    – Suy giảm đa dạng sinh học : VN là 1 trong 10

    trung tâm ĐDSH cao trên thế giới. Những năm gần đây bị suy giảm nhiều.

    Ô nhiễm MT nước

    – Ô nhiễm MT không khí

    – Ô nhiễm MT chất thải rắn

    4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường tại trường tiểu học:

        – Các cấp quản lý giáo dục cần nhận thức được vai trò to lớn của việc bảo vệ môi trường để từ đó coi giáo dục môi trường là một bộ môn trong chương trình học của bậc tiểu học, đồng thời biên soạn sách, tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn này. Bên cạnh đó, tăng cường bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của việc giáo dục môi trường cho học sinh ở bậc tiểu học.

         – Tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường trong các tiết sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, sắp xếp và đưa vào kế hoạch sinh hoạt từng tháng.

         – Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục môi trường trong các trường tiểu học. Áp dụng các công trình khoa học, triển khai các dự án bảo vệ môi trường vào thực hiện tại các trường tiểu học.

    5. Kết luận:

          – Giáo dục môi trường là một quá trình (thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy) hình thành và phát triển ở học sinh sự hiểu biết, kĩ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về môi trường, tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái.

          – Giáo dục BVMT nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó; những khái niệm cơ bản về môi trường và BVMT; những tình cảm, mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường; những kĩ năng giải quyết cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia; tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề về môi trường và có những hành động thích hợp giải quyết vấn đề.

          – Môi trường Việt Nam và trên thế giới đang bị ô nhiễm và bị suy thoái nghiêm trọng đã gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của một bộ phận lớn cư dân trên trái đất. Bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp bách, nóng bỏng không chỉ ở Việt Nam mà cả trên toàn thế giới.

           – Sự thiếu hiểu biết về môi trường và GDBVMT là một trong những nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm và suy thoái môi trường. Do đó GDBVMT phải là một nội dung giáo dục quan trọng nhằm đào tạo con người có kiến thức, có đạo đức về môi trường, có năng lực phát hiện và xử lí các vấn đề môi trường trong thực tiễn.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Môi Trường Luôn Xanh Sạch Đẹp
  • Môi Trường Là Gì? Chúng Ta Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường?
  • Nguyên Tắc “Bảo Vệ Môi Trường, Tài Nguyên Biển”
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Dinh Dưỡng Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Minh Cho Trẻ 5 – 6 Tuổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Thực Hiện Tốt Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Nghị Định Số 111/2013/nđ
  • Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn
  • Nhiều Giải Pháp Tạo Việc Làm Sau Đại Dịch Covid
  • Dễ Dàng Phân Biệt Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Với Mẹo Hay
  • Một số biện pháp giáo dục hành vi văn minh cho trẻ 5 – 6 tuổi

    ĐẶT VẤN ĐỀ

     “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”.

    Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, đất nước. Trẻ em hôm nay là những công dân của thế giới mai sau. Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội và của mỗi gia đình. Trong giáo dục thì giáo dục những hành vi văn minh cho trẻ là không thể thiếu được. Những hành vi của trẻ có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của trẻ đến môi trường xung quanh ( Thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình). Đối với trẻ thơ, việc hình thành những hành vi ban đầu có ý nghĩa vô cùng to lớn. Chẳng thế mà tục ngữ Việt Nam có câu:

    “Uốn cây từ thủa còn non

    Dạy con từ thủa con còn thơ ngây”.

    Thói quen có hành vi văn minh lịch sự là nền tảng đạo đức của mỗi con người, là hành vi văn hóa. Ngay từ nhỏ trẻ cần được uốn nắn, giáo dục từ cử chỉ, lời nói, hành động văn minh, lịch sự thì lớn lên trẻ mới trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Làm thế nào để giáo dục cho trẻ những hành vi văn minh đạt kết quả cao? Đối với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ mầm non những lời giảng giải, giải thích đơn thuần không đem lại hiệu quả cao trong giáo dục do đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này dễ nhớ nhanh quên. Mặt khác những lời rao giảng thường gây cho trẻ áp lực tâm lý, trẻ căng thẳng trong quá trình tiếp nhận vì thế quá trình chuyển đổi từ kiến thức thành nhận thức, từ nhận thức tới hành động, từ hành động thành thói quen không được thực hiện trọn vẹn.

    Là một giáo viên nhiều năm kinh nghiệm dạy lớp mẫu giáo lớn, tôi nhận thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giáo dục hành vi văn minh cho trẻ. Tôi đã trăn trở suy nghĩ, tìm tòi làm thế nào để trẻ hiểu “Hành vi văn minh là gì?”, “Vì sao phải giáo dục hành vi văn minh cho trẻ?”, “Làm thế nào để dục hành vi văn minh cho trẻ?. Bởi ở lứa tuổi này ta không thể đem những lý thuyết khô khan để rao giảng cho trẻ hiểu. Tư duy của trẻ ở giai đoạn này là tư duy “trực quan hình tượng”.Trẻ học mà chơi – chơi mà học, trẻ chỉ tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm khi được truyền đạt một cách dễ hiểu, gần gũi với trẻ.

    Nhân cách con người “làm quen văn học” là một hoạt động không thể thiếu đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non, vì thông qua các hoạt động làm quen với các tác phẩm văn học, trẻ được làm quen với những ngôn từ chuẩn mực, những ngôn ngữ, hành vi không thể thiếu được trong giao tiếp, trong đời sống con người. Đặc biệt nó rất gần gũi với trẻ thơ từ buổi đầu thơ ấu trẻ đã sống trong không khí lời ru “ầu ơ” đầy yêu thương của mẹ, bà… và đó là cánh cửa mở ra chân trời nhận thức cho trẻ. Từ khi lọt lòng mẹ đến lúc chập chững tập đi, tập nói, đến lúc trẻ biết viết, đọc thì văn học là chiếc cầu nối, là phương tiện dẫn dắt trẻ. Qua những câu truyện kể – bài thơ là tấm gương mẫu mực về nhận thức, hành vi cho trẻ học tập là phương tiện hữu hiệu trong việc giáo dục trẻ lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, tình yêu mến bạn bè, với những người thân, biết được việc làm tốt – xấu, biết yêu cái đẹp , cái thiện, ghét cái ác, phê phán những việc xấu và còn là phương tiện hình thành các phẩm chất đạo đức trong sáng.

    Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn thơ – truyện để giáo dục hành vi văn minh cho trẻ. Qua thời gian thực hiện, tôi nhận thấy các bài thơ, câu chuyện có sự tác động rất lớn đến nhận thức của trẻ. Các hình tượng nhân vật có sức hấp dẫn đã lôi cuốn trẻ, khiến trẻ yêu thích, từ đó trẻ thích học theo, bắt chước các việc làm, hành động của nhân vật.Từ việc thích bắt chước dần dần tạo cho trẻ thói quen ,thói quen đi vào nhận thức và trở thành sự tự ý thức. Qua quá trình áp dụng vào thực tiễn, tôi đã nghiên cứu và đưa ra được một số biện pháp, đó là nguyên nhân tôi chọn đề tài:

    “Một số biện pháp giáo dục hành vi văn minh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học ở Trường mầm non ”.

    * Mục đích nghiên cứu :

    Đánh giá thực trạng giáo dục hành vi văn minh cho trẻ tại lớp mẫu giáo lớn A1 – Trường Mầm non B Thị Trấn Văn Điển.

    * Đối tượng nghiên cứu: Tôi đi sâu nghiên cứu các bài thơ, câu chuyện.

    * Phạm vi nghiên cứu : Lớp MGL A1 trường MN B thị trấn Văn Điển – Thanh Trì – Hà Nội

    * Kế hoạch nghiên cứu:

    Từ 5/9/2013 đến 20/9/2013: Chọn đề tài và trang bị lý luận

    Từ 20/9/2013 đến 1/4/2013: Tiến hành nghiên cứu và áp dụng các biện pháp giáo dục hành vi văn minh cho trẻ qua thơ – truyện.

    Từ 1/4/2014 đến 10/4/2014: Phân tích kết quả và viết sáng kiến kinh nghiệm mầm non

     GIẢI QUYẾT VẪN ĐỀ

    1. Cơ sở lý luận:

    – Khái niệm “hành vi”:

    + “Hành vi” là cách ứng xử của con người đối với một sự vật, một sự kiện, một hiện tượng trong hoàn cảnh, tình huống cụ thể.

    – Khái niệm “văn minh”: “văn minh” là một quy tắc ứng xử.

        Hiểu trẻ là điều kiện tiên quyết để giáo dục trẻ có hiệu quả. Nhà giáo dục K.Đ.Usinxki đã nói: “Muốn giáo dục con người thì phải hiểu con người về mọi mặt”. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 tuổi và bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi , tôi đã xác định những hành vi văn minh cần cho trẻ như sau:

    Hành vi văn minh trong giao tiếp:

    + Có thói quen chào hỏi, cám ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn, phù hợp với tình huống.

    + Không nói tục chửi bậy.

    + Chăm chú lắng nghe người khác, đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh măt phù hợp và chờ đến lượt trong trò chuyện.

    + Không nói leo, không ngắt lời người khác.

    + Biết hỏi han quan tâm, giúp đỡ người khác.

    – Hành vi văn minh trong ăn uống:

    + Không nói chuyện khi ăn.

    +Biết nhặt cơm rơi vãi bỏ vào đĩa.

    + Khi ăn không nhai nhồm nhoàm, không nuốt vội, phải nhai từ tốn.

    + Không xúc quá đầy hoặc giành hết thức ăn cho riêng mình, không bỏ dở suất ăn.

    + Biết và không ăn những thứ có hại cho sức khỏe.

    + Biết dùng tay, khăn che miệng khi ho, ngáp, hắt hơi, hỉ mũi…

    – Hành vi văn minh nơi công cộng:

    + Biết giữ vệ sinh nơi công cộng, có thói quen chăm sóc giữ gìn cảnh đẹp thiên nhiên môi trường sạch sẽ.

    + Có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày như vứt rác đúng nơi qui định, không ngắt lá bẻ cành, dẵm lên cỏ.

    + Thói quen thực hiện các qui định giao thông: đi bộ trên vỉa hè, đi sang đường đúng nơi qui định, ngồi trên các phương tiện giao thông đảm bảo an toàn.

       Các cháu mầm non, tâm hồn trẻ như tờ giấy trắng, nếu khéo vẽ thì tròn, còn không khéo thì méo mó. Là một giáo viên mầm non nhiều năm dạy lớp mẫu giáo lớn tôi cũng suy nghĩ nhiều về vấn đề đó, tôi nghĩ mình cần phải đầu tư nhiều vào việc giáo dục những hành vi văn minh cho các cháu tô điểm vào tâm hồn các cháu những cái hay cái đẹp, để các cháu trở thành những bông hoa thơm ngát, là người có hành vi văn minh lịch sự.

    1. Cơ sở thực tiễn:
    2. Đặc điểm chung:

     Trường mầm non B thị trấn Văn Điển là một trường mầm non có bề dày thành tích trong nhiều năm. Nhiều giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp huyện, thành phố.

     Năm học 2013-2014, tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo lớn lớn A1 với sĩ số 45 học sinh. Trong khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này từ tháng 9/2013 đến tháng 4/2014 tôi gặp phải những thuận lợi và khó khăn sau:

    1.1 Thuận lợi:

    – Tình hình chung:

    + Lớp khang trang, sạch sẽ, thoáng mát được trang bị cơ sở vật chất.

    + Ban giám hiệu luôn quan tâm giúp đỡ, bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao các điều kiện CSVS động viên khích lệ giáo viên phát huy hết khả năng sáng tạo.

    – Giáo viên:

    + 3/3 cô có trình độ trên chuẩn, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ.

    + Bản thân là giáo viên phụ trách lớp MGL nhiều năm, nắm bắt và hiểu rõ được đặc điểm tâm lý, nhận thức của trẻ.

    – Học sinh: Trẻ nhanh nhẹn, hoạt bát, thích giúp đỡ cô trong các công việc của lớp.

    Phụ huynh: Đa số phụ huynh đều quan tâm đến việc học của con nên rất thuận lợi cho việc tuyên truyền kết hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường.

    1.2 Khó khăn:

    – Cơ sở vật chất:

    + Các tài liệu chuyên môn về phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục hành vi văn minh cho trẻ còn nằm rải rác ở nhiều nơi, nhiều loại nên việc sưu tầm tìm kiếm gặp khó khăn.

    – Giáo viên: Phải sáng tạo, sử dụng các biện pháp một cách linh hoạt để dạy trẻ đáp ứng yêu cầu của chương trình và những thay đổi của xã hội.

    – Học sinh:

    + Có một số học sinh yếu, hay nghỉ học nên gặp khó khăn trong việc cung cấp các kiến thức và rèn luyện cho trẻ.

    + Nhiều trẻ được gia đình chiều, được bố mẹ, ông bà ở nhà làm hộ mọi việc nên trẻ ỉ lại.

    – Phụ huynh: Còn một số phụ huynh chưa được tiếp cận nên nhận thức về vai trò của việc giáo dục hành vi văn minh cho trẻ còn hạn chế nên việc phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh còn gặp khó khăn.

      Với những khó khăn trên tôi đã nghiên cứu, áp dụng các biện pháp khắc phục, sửa đổi và giáo dục trẻ một cách đúng đắn nhất.

    1. Đánh giá thực trạng kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ lớp A1:

    * Mục đích:

    – Giáo viên đánh giá được kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ trong lớp mình phụ trách để phân loại kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ trong lớp từ đó xây dựng kế hoạch và áp dụng các biện pháp phù hợp với trẻ.

    * Cách làm:

    Căn cứ vào khung chương trình giáo dục mầm non, bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, đặc điểm phát triển của trẻ, tôi đã xác định các tiêu chí đánh giá kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ dựa trên các tiêu chí sau:

    Tiêu chí 1: Các hành vi văn minh trong giao tiếp.

    + Có thói quen chào hỏi, cám ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn, phù hợp với tình huống.

    + Không nói tục chửi bậy.

    + Chăm chú lắng nghe người khác, đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh măt phù hợp và chờ đến lượt trong trò chuyện.

    + Không nói leo, không ngắt lời người khác.

    + Biết hỏi han quan tâm, giúp đỡ người khác.

    – Tiêu chí 2: Các hành vi văn minh trong ăn uống.

    + Không nói chuyện khi ăn.

    + Biết nhặt cơm rơi vãi bỏ vào đĩa.

    + Khi ăn không nhai nhồm nhoàm, không nuốt vội, phải nhai từ tốn.

    + Không xúc quá đầy hoặc giành hết thức ăn cho riêng mình, không bỏ dở suất ăn.

    + Biết và không ăn những thứ có hại cho sức khỏe.

    + Biết dùng tay, khăn che miệng khi ho, ngáp, hắt hơi, hỉ mũi…

    – Tiêu chí 3: Các hành vi văn minh nơi công cộng.

    +Biết giữ vệ sinh nơi công cộng, có thói quen chăm sóc giữ gìn cảnh đẹp thiên nhiên môi trường sạch sẽ.

    + Có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày như vứt rác đúng nơi qui định, không ngắt lá bẻ cành, dẵm lên cỏ.

    + Thói quen thực hiện các qui định giao thông: đi bộ trên vỉa hè, đi sang đường đúng nơi qui định, ngồi trên các phương tiện giao thông đảm bảo an toàn.

    Link tải tài liệu:   http://tinyurl.com/giaoductrevanmimh

  • --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Văn Hóa Học Đường Của Sinh Viên Khoa Sư Phạm Mầm Non Trường Đại Học Hạ Long – Trường Đại Học Hạ Long
  • Thực Trạng Văn Hóa Học Đường
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Sinh Viên Tại Trường Đại Học Công Nghiệp Dệt May Hà Nội
  • Phương Pháp Hỗ Trợ Trẻ Khiếm Thính Trong Giáo Dục Hoà Nhập
  • Các Phương Pháp Phát Triển Trí Thông Minh Cho Trẻ Mầm Non
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: “Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Phát Triển Thể Chất Cho Trẻ 5
  • Đề Tài Kinh Nghiệm “Giáo Dục Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Giữ Gìn Một Số Nét Văn Hóa Truyền Thốn Dân Tộc Thông Qua Các Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Trong Trường Ptdt Nội Trú”
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan Ở Lớp 2 Trường Tiểu Học Thạch Lâm 2
  • Chương Trình Môn Giáo Dục Thể Chất Cấp Tiểu Học 2022
  • I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    1/ Đặt vấn đề:

    Lứa tuổi Mầm non trẻ đã dần dần hình thành hoạt động giao tiếp với mọi người xung quanh. Chính vì vậy, ngay từ lứa tuổi này chúng ta phải chăm lo phát triển toàn diện cho trẻ, trên cơ sở đó mà từng bước hình thành nhân cách cho trẻ.

    Giáo dục lễ giáo giúp trẻ làm quen một số hành vi, chuẩn mực đạo đức đơn giản, phổ biến, cần thiết với lứa tuổi Mầm non trong quan hệ của trẻ với bản thân, với mọi người xung quanh, với gia đình, nhà trường, môi trường thiên nhiên…Từ đó, hình thành ở trẻ một số nền nếp, thói quen và hành vi đẹp, biết phân biệt cái tốt, cái xấu, cái nào đáng chê trách, cái nào được khen, cái nào nên bỏ, cái nào nên noi theo…

    Hẳn ai ai cũng đều mong muốn đứa con yêu của mình lớn lên sẽ được phát triển toàn diện về mọi mặt. Trong hành trang cho trẻ bước vào đời bên cạnh vốn kiến thức cơ bản về thế giới xung quanh, trẻ cần phải mang theo một nhân cách tốt. Vì vậy, trong nhiệm vụ trọng tâm của ngành học Mầm non là phát triển toàn diện cho các cháu về mọi mặt, thì giáo dục lễ giáo là một nội dung được đặt lên hàng đầu. Giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo là một nhu cầu không thể thiếu, không thể xem nhẹ. Trăn trở với mục tiêu chung của giáo dục, là người giáo viên Mầm non tôi nguyện góp một phần sức nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lễ giáo cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo nhằm góp phần hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ. Tôi luôn tìm kiếm các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục lễ giáo cho các cháu nhằm đạt kết quả tốt nhất.

    Năm học 2022-2017tôi được phân công đứng lớp Chồi ở điểm chính, hầu hết các cháu chưa làm quen với môi trường sư phạm. Phần lớn bố mẹ của các cháu làm nông nên việc quan tâm đến con em còn hạn chế. Bên cạnh đó một phần vì mục tiêu của giảm tỷ lệ sinh con nên số con trong mỗi gia đình ít đi, thì trẻ ngày càng được nuông chiều thái quá. Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo cho con em ở lứa tuổi Mầm non, nên thường khoán trắng cho giáo viên. Thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự do, hay nói lêu, trả lời có những câu cụt, câu què, ra vào lớp tự nhiên…Các cháu thường có thái độ hành vi chưa đúng, cách ứng xử với bạn bè chưa được thân thiện hòa nhã. Đứng trước tình hình như vậy, tôi rất lo lắng phải dạy trẻ như thế nào và bằng những biện pháp gì để tất cả trẻ lớp tôi có những thói quen và hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội.

    Đầu tiên cô giáo cần giáo dục trẻ những hành vi văn hoá trong cuộc sống hằng ngày như có thái độ đúng với cô giáo và người lớn, bạn bè, có tình yêu đối với mọi sự vật, hiện tượng xung quanh… Giáo dục lễ giáo nhằm hình thành cho trẻ cơ sở ban đầu về nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, mỗi cô giáo chúng ta có trách nhiệm góp phần đào tạo thế hệ trẻ thành những con người phát triển toàn diện về nhân cách – trí tuệ. Do đó tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 4-5 tuổi”

    2/ Mục đích đề tài:

    Giáo dục lễ giáo ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Qua giáo dục lễ giáo với nhiều hình thức khác nhau, trẻ sẽ tiếp thu và sẽ học theo sự thể hiện của từng nhân vật của các bài thơ, câu chuyện, hình ảnh… Biến những cái có trong bài thơ, câu chuyện thành sự hiểu biết và tiếp xúc hàng ngày của mình, trẻ sẽ ngoan hơn, giỏi hơn. Khi giao tiếp trẻ sẽ nói năng nhẹ nhàng, mạch lạc, có văn hóa trong các câu nói, cử chỉ, hành động của trẻ với mọi người.

    Phương tiện tốt nhất để hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ là giáo dục lễ giáo. Qua các hình thức giáo dục lễ giáo có tác động rất mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm của trẻ đối với mọi người, đặc biệt là giao tiếp với cô giáo và bạn bè trong lớp.

    Qua giáo dục lễ giáo, trẻ sẽ lĩnh hội được những mối quan hệ và tình cảm gia đình, bạn bè, thầy cô giáo trong các tác phẩm văn học và các hình ảnh có nội dung giáo dục trẻ cao, và qua giao tiếp với bạn bè, cô giáo. Đây là phương tiện giáo dục nhằm hình thành cho trẻ những tình cảm yêu thương gần gũi với mọi người, kính trọng, lễ phép với người thân của mình.

    Giáo dục lễ giáo góp phần giúp cho các cháu có thể mạnh dạn tự tin hơn khi đến trường, khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Giáo dục lễ giáo được các cháu thể hiện qua mọi hoạt động giao tiếp hàng ngày, qua các giờ hoạt động vui chơi và học tập. Giáo dục lễ giáo còn nhằm hình thành ở trẻ các kỹ xảo và thói quen đạo đức, thói quen có văn hóa với người lớn, với bạn bè, thói quen nói đúng sự thật, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ngăn nắp, làm các công việc có ích, có thói quen cố gắng lao động.

    3/ Lịch sử đề tài:

    Mỗi con người sinh ra và lớn lên luôn cần được sự quan tâm, sự giáo dục kịp thời, nhất là lứa tuổi mầm non. Do đó, ngay từ đầu năm học, nhiệm vụ giáo dục lễ giáo cho các cháu tôi luôn đưa lên đầu và dành nhiều nhiệt quyết để thực hiện mục tiêu này.

    4/ Phạm vi đề tài:

    Trong năm học 2022-2017 thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành phát động và luôn lấy mục tiêu giáo dục lễ giáo cho trẻ là nhiệm vụ hàng đầu trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, để góp một phần nhỏ bé của mình vào quá trình hình thành cho trẻ một nhân cách theo mục tiêu của ngành, của toàn xã hội. Chính vì thế tôi đã nghiên cứu và đã vận dụng phương pháp lồng ghép “ Giáo dục lễ giáo cho trẻ 4-5 tuổi” vào trong các môn học, giờ hoạt động vui chơi của các cháu, tuyên truyền đến phụ huynh, thông qua các chế độ sinh hoạt hằng ngày…ngay từ đầu năm học cho đến nay.

    II/ NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM

    1/ Thực trạng đề tài:

    Ở lớp Chồi 2 mà tôi đang phụ trách, đa phần các cháu là con nông dân, kinh tế gia đình phụ thuộc vào nghề nông là chủ yếu. Do bận rộn với công việc mưu sinh kiếm sống nên một phần phụ huynh chưa nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của trẻ lứa tuổi mầm non. Các cháu đi học ăn mặc chưa sạch sẽ, đầu tóc chưa gọn gàng, một số cháu vào lớp chưa biết chào cô. Phần đông các cháu còn làm theo ý muốn của mình, chưa biết vâng lời. Khi cô yêu cầu cháu làm một điều gì đó đôi khi cháu tỏ ý không hài lòng, thậm chí còn cãi lại với cô.

    Đa số các cháu ở điểm tôi đang phụ trách chưa ra lớp lần nào, chỉ có một số cháu năm học trước được học lớp chồi. Do đó, khi bước vào năm học, trẻ còn rụt rè, lo sợ, có trẻ lại khóc nhè. Một số khác lại xưng hô mày tao với bạn, giành đồ chơi với bạn, đánh bạn, nghịch phá, có cháu còn nói tục chửi thề… Cháu chưa có ý thức tập trung nghe cô giảng bài, luôn làm theo ý muốn của mình, cháu hay đùa giỡn, nói chuyện gây mất trật tự trong giờ học làm cho tiết học kém hiệu quả, ảnh hưởng đến các cháu khác.

    Tôi luôn tìm cách khắc phục mọi khó khăn để tạo cho các cháu có một môi trường giáo dục tốt nhất. Thống kê khảo sát chất lượng chuyên đề “Giáo dục lễ giáo” đầu năm học của lớp tôi như sau:

     

                     Tiêu chí

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Thời gian

    Tiêu chí 1

     

    Biết vâng lời, giúp đỡ bố mẹ, cô giáo những việc vừa sức.

    Tiêu chí 2

     

    Cố gắng tự hoàn thành công việc được giao.

    Tiêu chí 3

     

    Biết biểu lộ cảm xúc:vui ,buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên, xấu hổ

    Tiêu chí 4

     

    Biết an ủi, chia vui với người thân và bạn bè

    Tiêu chí 5

     

    Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép.

    Tiêu chí 6

     

    Thích chăm sóc cây, con vật quen thuộc.

    Tiêu chí 7

     

    Biết nhắc nhở người khác giữ gìn và bảo vệ môi trường.

    Tháng 9/2014

    14/28

    50%

    17/28

    60,7%

    16/28

    57,1%

    14/28

    50%

    18/28

    64,3%

    19/28

    67,9%

    16/28

    57,1%

     

    Dựa vào những vấn đề nêu ở trên, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ trong nhà trường Mầm non. Vì thiết nghĩ nhà trường là nơi giáo dục đạo đức cho các cháu tốt nhất.

    2/ Những vấn đề cần giải quyết:

    Tôi luôn tự hỏi phải giáo dục các cháu như thế nào để các cháu có được những nền tản cơ bản của chuẩn mực đạo đức xã hội, góp phần vào hành trang cho các cháu bước vào lớp một. Từ những thực tế trên tôi nhận thấy để giáo dục cho trẻ Mầm non có những hành vi chuẩn mực ban đầu cần thực hiện các nội dung sau:

    – Lồng ghép giáo dục lễ giáo thông qua các hoạt động học tập.

    – Xây dựng góc tuyên truyền, nêu cao vai trò của phụ huynh trong việc giáo dục trẻ.              

    – Giáo dục lễ giáo thông qua các tác phẩm văn học, thơ ca.

    – Giáo dục lễ giáo thông qua các hoạt động tập thể.                        

    3/ Biện pháp giải quyết:

    Trong trường Mầm non không có giờ đạo đức riêng, mà thông qua sử dụng hình thức tích hợp với nội dung bài dạy của các lĩnh vực để hướng trẻ tới cảm xúc, tình cảm, hành vi lễ giáo. Nắm được đặc điểm tình hình của từng cháu, tôi chọn ra một số biện pháp như sau:

    Hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi Mầm non là vui chơi. Chơi là hoạt động của trẻ mẫu giáo tạo ra những nét tâm lý mới tiêu biểu là sự hình thành nhân cách trong mối quan hệ giữa trẻ em cùng chơi với nhau. Đối với trẻ mẫu giáo chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không thể phát triển đuợc, trong trò chơi trẻ học cách sử dụng đồ vật, học những quy tắc ứng xử giữa con người với con người. Vì vậy, trong công tác giáo dục lễ giáo cho các cháu trò chơi là phương tiện giáo dục mạnh mẽ nhất.

    Ví dụ:

    – Chủ điểm “Gia đình”, trẻ chơi trò chơi đóng vai “Gia đình của bé”. Trẻ biết tự phân vai chơi cho nhau: một trẻ đóng vai mẹ, một trẻ đóng vai bố và một trẻ đóng vai con. Trẻ biết được:

              + Bố thường đi làm việc, bố luôn thương yêu mẹ và các con, chăm sóc cho các con, dạy con học, đưa con đến trường.

              + Mẹ là người nấu cơm cho con ăn, tắm rửa cho con, đưa con đi học, dạy con học bài…

              + Con lúc nào cũng phải yêu thương, kính trọng bố mẹ, vâng lời bố mẹ, khi nói chuyện phải biết dạ thưa, khi có khách đến nhà phải biết chào hỏi. Biết giúp đỡ bố mẹ những công việc vừa sức: rửa chén, quét nhà, phụ mẹ nấu cơm, trông em…

    Thông qua trò chơi trẻ được tiếp xúc với đồ dùng đồ chơi. Cô nên tạo ra những đồ dùng đồ chơi mang tính thẩm mỹ, hấp dẫn trẻ bằng vẻ trong sáng giản dị giúp trẻ hình thành thị hiếu thẩm mỹ. Qua đó giáo dục các cháu biết giữ gìn đồ dùng đồ chơi cẩn thận, biết lau chùi sạch sẽ, lấy và cất dọn gọn gàng đúng nơi quy định, nhằm hình thành ở trẻ nền nếp thói quen trong sinh hoạt vui chơi. Đồng thời qua đó giúp các cháu yêu thích đồ dùng đồ chơi, cảm thụ được cái đẹp, yêu thích các sản phẩm của mình và bạn tạo ra trong quá trình chơi.

    Ví dụ:

    – Ở chủ điểm “Vật nuôi trong gia đình” quan sát trẻ chơi ở góc xây dựng, tôi thấy: Cháu lấy đồ chơi xây dựng (hàng rào, cây xanh, chuồng trại…) một cách nhẹ nhàng, cẩn thận. Cháu xây được mô hình “Nông trại vui vẻ” với các chuồng trại: chuồng heo, chuồng bò, chuồng gà…Cháu biết cảm nhận được cái đẹp từ mô hình cháu xây dựng nên, từ đó giúp cháu yêu thích các đồ dùng đồ chơi và vai chơi của mình. Sau giờ chơi, tôi thấy cháu biết phân công nhau cất đồ chơi vào đúng nơi ban đầu lấy xuống.

    – Cũng ở chủ điểm “Vật nuôi trong gia đình”, cháu vào góc nghệ thuật và nặn một số vật nuôi đơn giản. Cháu tạo ra được chú gà con màu vàng xinh xắn, chú heo con màu hồng mũm mĩm. Quan sát tôi thấy cháu rất thích thú và trân trọng sản phẩm mình tạo ra, biết cất dọn học cụ vào kệ gọn gàng ngay ngắn.

              Trò chơi cũng giúp cho các em nâng cao tính kỷ luật, tự giác thông qua việc ý thức được các vai trò trong cuộc chơi, chấp hành các quy định của trò chơi một cách tự nguyện. Dần dần điều đó sẽ hình thành ở trẻ một thói quen tốt là tự đặt ra cho mình những nguyên tắc về kỷ luật, làm nền tảng cho các hoạt động sau này.

    Để vai chơi luôn đạt kết quả cao trong giáo dục đạo đức cho các cháu tôi chú trọng cách sắp xếp, bố trí các góc chơi gọn gàng, hấp dẫn trẻ; sân chơi luôn sạch sẽ, thoáng mát, đầy đủ ánh sáng và không khí trong lành. Tôi luôn tìm tòi sáng tạo trong việc làm ra đồ dùng đồ chơi cho trẻ. Với tôi đồ chơi phải phong phú nhiều dáng vẻ để có thể sử dụng vào nhiều loại trò chơi. Đồng thời đồ chơi còn phải mang tính thẩm mỹ hấp dẫn trẻ bằng vẻ trong sáng giản dị, giúp trẻ hình thành thị hiếu thẩm mỹ. Tôi chú trọng sử dụng nhiều đồ chơi dân gian. Cần tránh những đồ chơi sắc nhọn dễ gây thương tích hoặc những thứ độc hại, những đồ chơi bạo lực. Việc tiếp xúc với đồ dùng đồ chơi trong quá trình chơi giúp các cháu biết yêu quý, trân trọng giữ gìn bảo vệ các đồ dùng đồ chơi, sau khi chơi xong biết sắp xếp đồ dùng đồ chơi vào đúng nơi quy định.

    Ví dụ:

    Trò chơi ĐVTCĐ có tác động rất mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm trẻ mẫu giáo. Trẻ lao vào chơi với tất cả tinh thần say mê của nó. Trong khi vui chơi trẻ tỏ ra vui sướng và nhiệt tình. Khi phản ánh vào trò chơi những mối quan hệ giữa người và người và nhập vào những mối quan hệ đó thì những rung động mang tính người của trẻ được gợi lên. Trong trò chơi trẻ đã thể hiện được tình người, như thái độ chu đáo, ân cần, sự đồng cảm, tinh thần tương trợ và một số phẩm chất đạo đức khác.

    Ví dụ:

    – Ở góc bán hàng, trẻ đóng vai người mua hàng và người bán hàng.

              + Người bán hàng: Biết chào hỏi, mời khách mua hàng, bán đúng giá, không bán giá đắt. Thái độ ân cần vui vẻ với khách hàng, biết cảm ơn khi bán được hàng và nhận tiền…

              + Người mua hàng: Bên cạnh việc biết gọi tên các mặt hàng cần mua, người mua phải vui vẻ, biết đưa tiền và nhận hàng bằng hai tay, biết cảm ơn khi nhận hàng và trả tiền cho người bán…

    Hoạt động vui chơi, mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ ở tuổi mẫu giáo thực sự đóng vai trò chủ đạo. Ý nghĩa chủ đạo thể hiện trước hết là ở chỗ nó giúp tẻ giải quyết mâu thuẫn trong bước phát triển từ tuổi ấu nhi lên tuổi mẫu giáo. Trò chơi là phương tiện góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Trò chơi tạo ra những nét tâm lý đặc trưng cho tuổi mẫu giáo, mà nổi bật là tính hình tượng và tính dễ xúc cảm, khiến cho nhân cách của trẻ mẫu giáo mang tính độc đáo khó tìm thấy ở các lứa tuổi khác. Do đó tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ. Trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người.

    3.2/Lồng ghép giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các hoạt động học tập.

     

    Như chúng ta đã biết, ở trường mầm non không có giờ đạo đức riêng, mà thông qua sử dụng hình thức tích hợp, lồng ghép với nội dung bài dạy của các lĩnh vực để dạy và hướng trẻ tới cảm xúc, tình cảm, hành vi lễ giáo. Qua các tiết học hằng ngày trẻ được tham gia vào nhiều hoạt động như: Hát- múa, đọc thơ, kể chuyện, làm quen môi trường xung quanh, toán,… Chính vì vậy, lồng ghép nội dung giáo dục lễ giáo vào các hoạt động có nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi lễ phép, có văn hoá .

    Ví dụ : qua giờ khám phám khoa học (về cây xanh )

    Cô giáo có thể đàm thoại: cây xanh để làm gì? cây xanh có lợi như thế nào ?

    Muốn có nhiều cây xanh chúng ta phải làm gì ?

    Qua lợi ích của cây xanh, cô giáo dục cháu không ngắt ngọn bẻ cành, mà phải biết bảo vệ chăm sóc cây xanh để cây cho ta  nhiều  lợi ích và phê phán những tệ nạn chặt cây phá rừng gây ô nhiễm môi trường, gây ra những thảm hoạ thiên tai như: cháy rừng, lũ quét.

       Đối với giờ học tạo hình : tô màu người thân trong gia đình

    Cô có thể đàm thoại .

    Gia đình cháu gồm có những ai ?

    Gia đình cháu thuộc gia đình nhỏ hay gia đình lớn ?

    Mọi người sống trong gia đình phải như thế nào với nhau ?

    Giáo dục trẻ biết yêu thương, kính trọng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ ngoan ngoãn, vâng lời chăm chỉ học hành, lễ phép .

    + Giờ làm quen văn học :qua câu chuyện bác gấu đen và hai chú thỏ

    Cô đàm thoại với trẻ :

    Thỏ xám có tính cách như thế nào ?

    Thỏ trắng có tính cách như thế nào ?

    Con thích nhân vật nào nhất ?vì sao ?

    Cô giáo dục cháu lòng thật thà, chăm lo lao động, dạy, hình thành cho trẻ lòng nhân ái đối với mọi người xung quanh, giúp đỡ các bạn cùng lớp, bảo vệ những bạn mới đến lớp bằng cách chơi với các bạn, nhường đồ chơi  và biết hướng dẫn bạn cách chơi.

    + Giờ học âm nhạc :Bài hát “Bông hoa mừng cô”

    Đàm thoại :

    Đối với cô giáo các con phải như thế nào ?

    Khi tặng hoa cho cô, các con tặng bằng mấy tay ?

    Thông qua đó giáo dục trẻ khi nhận hoặc trao vật gì với người lớn nên trao hoặc nhận bằng hai tay, khi nhận các con nói lời cám ơn. Vì thế mà cô giáo luôn là người mẹ thứ hai để giáo dục chăm sóc và nuôi dạy trẻ những kỹ năng sống  ở trong trường mầm non cũng như ở ngoài xã hội trẻ luôn có thái độ lễ phép ngoan như gặp người lớn tuổi ở nhà hay ngoài đường trẻ sẽ khoanh tay chào con chào ông, bác, cô, chị ạ .

    Cô luôn hướng trẻ đến những điều tốt đẹp, đến cái thiện trong cuộc sống, tránh xa những cái xấu, cái ác. Dạy trẻ phải biết học tập và làm theo tấm gương của Bác Hồ. Cô giúp cháu biết được Bác là vị lãnh tụ vĩ đại của nước Việt Nam, Bác giản dị và hiền từ, nhưng giàu tình thương yêu, nhân ái. Lúc sinh thời Bác luôn lo cho dân cho nước, quan tâm chăm sóc các cháu thiếu nhi. Bác là một người cha mà tất cả mọi ngưòi đều kính mến, yêu quý.

    Ví dụ:

    – Qua câu chuyện “Niềm vui bất ngờ”, cô giúp các cháu biết đuợc Bác rất giản dị, hiền từ, luôn thuơng yêu các cháu thiếu nhi. Và các cháu thiếu nhi cũng vậy, ai cũng xúc động khi được gặp Bác vì ai cũng yêu quý Bác. Qua đó, cô giáo dục các cháu phải biết chăm ngoan học giỏi, vâng lời cô để xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ.

    Qua các tiết học cô dạy các cháu biết yêu quý thầy cô giáo của mình, những người đã yêu thương, lo lắng cho các cháu, trang bị cho các cháu hành trang kiến thức để bước vào đời. Giúp các cháu biết ơn và yêu kính các cô chú bộ đội đang bảo vệ biên giới, các chú công an đang giữ gìn trật tự xã hội để cho các cháu có được cuộc sống yên bình. Giúp các cháu biết ơn các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ đất nước, cho các cháu được cắp sách đến trường.

    Ví dụ:

    – Qua sự kiện ngày 20/11 với đề tài “Cô giáo của em”. Cô dạy trẻ biết được công việc của người giáo viên là dạy cho các cháu học. Lúc nào cô cũng thương yêu các cháu, mong các cháu học cho thật giỏi để sau này trở thành người có ích cho xã hội. Qua đó, trẻ biết yêu kính thầy cô của mình, ý thức được sẽ vâng lời cô và luôn chăm ngoan học giỏi.

    – Qua sự kiện ngày 22/12- ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam. Trẻ biết đuợc công việc của các cô chú bộ đội là rất vất vả. Các cô chú phải ngày đêm canh giữ đất trời ở tận nơi rừng núi cao hay nơi hải đảo xa xôi để cho các cháu có được cuộc sống yên bình mà an tâm học tập. Qua đó, trẻ biết ơn các cô chú bộ đội và sẽ chăm học hơn nữa để không phụ lòng các cô chú ấy.

    Trong hoạt động tổ chức các tiết học, các nhóm trẻ phải biết giúp đỡ lẫn nhau, mở rộng tìm năng và thành tựu đạt được bằng những năng lực tình cảm mới, chia sẻ tình cảm yêu thương chăm sóc những người gần gũi. Qua đó giáo dục lễ giáo cho các cháu, giúp cháu có ý thức trong cuộc sống hàng ngày và giúp trẻ có cách ứng xử tốt để trưởng thành và thể hiện sự yêu thương những người thân trong gia đình, những người xung quanh trẻ.

    3.3/ Xây dựng góc tuyên truyền, nêu cao vai trò của phụ huynh trong việc giáo dục trẻ.

     

    Trường tôi mỗi lớp đều có góc tuyên truyền. Ở góc tuyên truyền của lớp tôi thường xuyên cắt dán thay đổi hình ảnh có nội dung giáo dục lễ giáo cho các cháu, hoặc cắt dán một số bài thơ, câu đố, truyện thơ, bài hát, ca dao…về chuyên đề giáo dục lễ giáo cho các cháu và phụ huynh cùng xem. Trẻ em có đặc điểm dễ nhớ nhưng lại mau quên. Song, trẻ được trực quan bằng hình ảnh những gương tốt, hoặc qua thơ, qua chuyện thì trẻ dễ tiếp thu, dễ phân biệt việc làm nào tốt, việc làm nào xấu.

    Ví dụ:

    Từng tháng tôi lên kế hoạch có yêu cầu nội dung cao hơn, bên cạnh đó tôi thay tranh ảnh bài thơ có nội dung phù hợp với chủ điểm từng tháng. Góc tuyên truyền thường để ngoài cửa tiện cho phụ huynh dễ nhìn, qua đó giúp cho các bậc phụ huynh biết được kế hoạch chăm sóc của nhà trường để có hướng nhắc nhở con cái.

    Ngoài ra tôi còn sưu tầm tranh truyện, sách báo nhi đồng có hình ảnh và nội dung về lễ giáo phù hợp với trẻ làm thành một album, để đến giờ hoạt động chơi trẻ về góc học tập có thể mở ra xem.

    Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về thói quen của trẻ, về sự thay đổi của trẻ trong ngày để có hướng giáo dục trẻ tốt hơn, thuận lợi hơn.

    Ví dụ:

    – Vào giờ đón trẻ hoặc trả trẻ, cô có thể trò chuyện, trao đổi với phụ huynh về đặc điểm, thói quen hàng ngày của trẻ như: sáng trẻ đi học có thưa ông bà không, khi có khách đến nhà trẻ có thưa không, khi nhận vật gì đó từ người lớn trẻ có nhận bằng hai tay không, trẻ có nói tục chửi thề hay nói những câu trổng không không…Từ đó, cô biết được thói quen của trẻ, biết được đặc điểm tâm lý của trẻ mà tìm ra biện pháp giáo dục trẻ có hiệu quả.

    Mời phụ huynh tham gia dự giờ các tiết thao giảng, thanh tra để phụ huynh nắm được tình hình học cũng như các mặt khác của trẻ mà kịp thời giáo dục thêm cho trẻ lúc ở nhà.

    Ví dụ:

    – Mời phụ huynh dự giờ tiết hoạt động chơi giúp cho phụ huynh thấy được cách trẻ giao tiếp, ứng xử, chơi với nhau. Phụ huynh sẽ thấy được mặt mạnh cũng như mặt yếu của con mình để có phương pháp dạy thêm cho trẻ ở nhà.

         Muốn giáo dục lễ giáo cho trẻ được tốt thì bản thân giáo viên và phụ huynh phải là tấm gương sáng, gương mẫu cho trẻ noi theo. Mọi hoạt động của cô, của người lớn đều ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ vì vậy khi giao tiếp với phụ huynh lời nói của cô phải luôn chuẩn mực, lịch sự, nhằm làm gương cho trẻ noi theo. Đồng thời phải luôn tôn trọng lắng nghe ý kiến của phụ huynh để tạo cho phụ huynh sự tin tưởng.

    Phụ huynh phải luôn là tấm gương để trẻ noi theo. Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ thường hay học hỏi và bắt chước theo người lớn rất nhanh, nhất là các lời nói và hành động của bố mẹ. Do đó phụ huynh cần phải tránh những hành động lời nói thiếu văn hóa trước mặt trẻ.

    Ví dụ:

    – Người lớn luôn dạy trẻ không được xưng mày tao, thế nhưng có một số gia đình lại gọi con bằng mày, hay có một số phụ huynh có thói quen nói những câu thiếu văn minh trong giao tiếp làm cho trẻ cũng học hỏi theo… Chính điều này đã gây không ít khó khăn trong việc uốn nắn trẻ.

    Kết hợp với phụ huynh và nhà trường giúp trẻ có lối sống biết giao tiếp, ứng xử với mọi người xung quanh. Khi nói chuyện với người lớn phải biết trả lời “dạ thưa”. Khi người lớn hỏi phải trả lời “vâng dạ”, không được chỉ gật hay lắc đầu. Trong giờ học nếu muốn phát biểu trẻ phải giơ tay, khi được đưa cho vật gì phải nhận bằng hai tay và phải biết cảm ơn, khi có lỗi phải biết nhận lỗi và xin lỗi.

    Các bậc phụ huynh và cô giáo có ảnh hưởng nhiều nhất đến trẻ, luôn là những tấm gương cho trẻ nhìn vào mà học tập. Trẻ con bắt chước rất nhanh nhất là các thói xấu của người lớn. Do đó, người lớn nên để ý các hành vi ứng xử của mình trong khi giao tiếp với bạn bè, họ hàng xung quanh. Cha mẹ có lối sống tốt là cách tốt nhất và thuận lợi nhất để giáo dục con cái có lối sống tốt. Qua những tính cách đó sẽ giúp nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp làm tăng sự phát triển của con trẻ. Để việc giáo dục đạt hiệu quả tốt nhất tôi đã phối hợp chặt chẽ với phụ huynh (trò chuyện trao đổi trong các giờ đón và trả trẻ, thông qua sổ bé ngoan…). Việc tuyên truyền giáo dục lễ giáo cho phụ huynh nắm là điều rất cần thiết, từ đó phụ huynh có ý thức giáo dục lễ giáo cho trẻ lúc ở nhà. Qua thời gian trẻ lớp tôi tiến bộ rõ rệt như xưng hô lễ phép lịch sự trong giao tiếp nhờ sự giáo dục bằng phương châm “Trường học là nhà, nhà là trường học”.

    3.4/Giáo dục lễ giáo thông qua các tác phẩm văn học, thơ ca.

    Tôi nhận thấy giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các tác phẩm văn học, thơ ca đạt kết quả cao nhất và trẻ hứng thú nhất.

    Ví dụ: Dạy kể truyện “ Ai đáng khen nhiều hơn ”Tôi nhấn mạnh cho trẻ biết những hành vi và việc làm tốt của thỏ anh như vâng lời mẹ, biết giúp mọi người khi gặp khó khăn, biết nhường nhịn em nhỏ…. Giáo dục trẻ phải ngoan ngoãn vâng lời bố mẹ, nhường nhịn em nhỏ, biết yêu thương giúp đỡ mọi người. Tôi gợi ý hỏi trẻ để trẻ xin phép được kể những việc làm của mình đã giúp bố mẹ ở nhà như: Trông em quét nhà xứng đáng với lời Bác Hồ đã dạy “ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ tuỳ theo sức của mình ”vì vậy giờ học rất sinh động, gây hứng thú lôi cuốn trẻ vào giờ học đạt kết quả cao.

    Với câu chuyện “ Đôi bạn tốt” tôi tìm tòi nghiên cứu, sưu tầm về tính cách các nhân vật với các biểu hiện sắc thái khác nhau, để tìm ra cái hay, cái sáng tạo qua nhân vật nhằm thu hút trẻ, kích thích sự hứng thú của trẻ, giúp trẻ dễ dàng cảm nhận được nội dung câu chuyện.Tôi nghiên cứu làm rối que, rối tay để biểu diễn cho trẻ xem để trẻ hiểu rõ hơn các nhân vật, hiểu nội dung câu chuyện.

    Ngoài ra, tôi còn cho trẻ đóng vai các nhân vật trong câu chuyện nhằm giúp trẻ hiểu rõ hơn các nhân vật, hiểu nội dung câu chuyện.Thông qua câu chuyện giáo dục trẻ không chê bai bạn bè, biết yêu thương, quan tâm, giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn.

         

     

     

     

    Thông qua các bài thơ, câu chuyện tôi thường giáo dục trẻ như hằng ngày bố mẹ làm việc vất vả để nuôi các con, vì vậy các con phải biết phụ giúp, đỡ đần cho bố mẹ bớt những công việc vừa sức của mình như: quét  nhà , cho gà ăn, tưới nước cho hoa, chăm sóc nhổ cỏ cho các cây  và còn phải học hành thật là chăm chỉ. Tôi dán tranh “Bé quét nhà”, “Bé cho gà ăn thóc”, “Bé cùng chị tưới nước, bắt sâu cho hoa” và ghép với bài thơ

    Buổi sáng

    Sáng nào cũng vậy

    Bé dậy cùng bà

    Ra trước sân nhà

    Tập bài thể dục

    Đánh răng rửa mặt

    Lấy chổi quét nhà

    Cho gà ăn thóc

    Thương ba khó nhọc

    Bé học chuyên cần

    Thương mẹ tảo tần

    Bé ngoan lễ phép.

    Khi giáo dục trẻ hành vi không tham lam, khi thấy vật gì của ai đánh rơi thì nhặt trả lại cho người mất, tôi cho trẻ đọc bài thơ đồng dao:

    “ Bà hai đi chợ mua rau

    Cái tôm cái tép đi sau lưng bà

    Tiền bà trong túi rơi ra

    Tép, tôm nhặt được trả bà mua rau”

    Giáo dục trẻ hành vi trong lớp không được nói chuyện riêng, khi có cô giáo hoặc có người vào lớp thì phải biết chào hỏi lễ phép. Tôi dán tranh “ Bé chào bà” và ghép với bài thơ:

    Trong lớp

    Thấy cô vào lớp

    Nhớ khoanh tay chào

    Đừng làm ồn ào

    Khi nghe cô hỏi

    Lúc nào muốn nói

    Em nhớ thưa cô

    Trong các hoạt động tôi rèn cách nói năng, cách chào hỏi, biết cảm ơn, xin lỗi. Để trẻ nhớ lâu tôi dạy trẻ qua bài thơ:

    Cảm ơn và xin lỗi

    “Ai giúp cho cái gì

    Nhớ cảm ơn ngay đi

    Lỡ làm điều sai trái

    Dù với ai cũng vậy

    Xin lỗi cho đàng hoàng

    Muốn trẻ thành bé ngoan

    Phải biết làm như vậy”.

    Muốn trẻ nắm được nội quy ra vào lớp tôi dạy trẻ thuộc bài thơ:

    Ra vào lớp

    “Khi đi em bước nhẹ nhàng

    Không làm xô ghế động bàn mới ngoan

    Ra vào lớp nhẹ chân tay

    Không như lúc ở ngoài sân nô đùa

    Nhắc nhau nhường bước người già

    Những người mang nặng mới là bé ngoan”.

    Thông qua các bài thơ câu chuyện chúng ta có thể truyền tải những kiến thức, những kỹ năng cần thiết của cuộc sống cho trẻ một cách nhẹ nhàng không gò bó.Qua những bài thơ câu truyện giúp trẻ hình thành một số thói quen, hành vi văn minh trong cuộc sống hằng ngày.

    3.5. Giáo dục lễ giáo thông qua các hoạt động tập thể.                        

    Ông cha ta có câu ”Tiên học lễ, hậu học văn” nghĩa là nhiệm vụ học đầu tiên của mỗi con người phải là lễ nghĩa, học cách làm người sau đó mới đến văn hoá, kiến thức. Chính vì vậy giáo dục lễ giáo cho trẻ mầm non có một vai trò quan trọng bởi trẻ mầm non là lứa tuổi dễ tiếp thu nhất. Xác định rõ được điều đó tôi luôn chú trọng việc giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các hoạt động tập thể thông qua tổ chức ngày hội, ngày lễ .

    Qua “Ngày hội đến trường của bé” các bé được biết ý nghĩa của ngày khai trường là ngày đầu tiên của năm học, được giao lưu gặp gỡ bạn bè, được tham gia vào các tiết mục văn nghệ, được cô yêu thương vỗ về, được làm quen với bạn mới… Từ đó, giáo dục cho trẻ yêu trường, yêu lớp, kính trọng cô giáo, quan tâm tới bạn bè. Hay qua ngày hội “Vui trung thu nhớ Bác Hồ” để mọi người, mọi gia đình và toàn xã hội dành cho các bé sự quan tâm, chăm lo và những tình cảm yêu thương trìu mến. Từ đó, giáo dục trẻ biết bày tỏ lòng cảm ơn đối với những người đã quan tâm đến mình, giáo dục trẻ tinh thần đoàn kết với bạn, biết xếp hàng đợi đến lượt mình… Qua tổ chức kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam giáo dục trẻ biết qúy trọng, nghe lời cô giáo.

    Qua các Hội thi để giáo dục trẻ tính mạnh dạn trong giao tiếp, nói năng lễ phép, biết phối hợp với bạn, chơi trò chơi đúng luật,…

     

    Qua tổ chức “Kỉ niệm ngày sinh nhật Bác 19/5” để giáo dục trẻ biết nhớ ơn, yêu quý, kính trọng Bác Hồ,  kính yêu người luôn dành sự quan tâm đến các cháu khi Bác còn sống.

    Thông qua việc tổ chức cho trẻ tham gia vào hoạt động ngày hội, ngày lễ  ngoài giúp trẻ hiểu ý nghĩa của những ngày lễ lớn, truyền thống của dân tộc mà thông qua đó giáo dục trẻ lòng tự hào dân tộc, biết ơn những người đi trước, người lớn tuổi, từ đó khuyến khích trẻ học tập và phấn đấu thành người có ích sau này.

    – Giáo dục trẻ có ý thức biết giữ gìn bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp như nhặt rác, thu gom lá cây khô, ý thức bỏ rác vào sọt rác không vứt rác bừa bãi,…

     

     

    – Tổ chức cho trẻ chăm sóc cây, hoa ở góc thiên nhiên của trường, lớp.Giáo dục trẻ biết yêu quí và chăm sóc cây xanh, hoa của trường, lớp.

     

     

    4/ Kết quả chuyển biến của đối tượng.

    Sau những biện pháp tôi nghiên cứu và thực hiện chất lượng giáo dục về lễ giáo tăng lên rõ rệt đó là điều làm tôi phấn khởi, yêu nghề, yêu trẻ càng nhiều, giúp tôi có nghị lực trong công tác.

    Trẻ đã ngoan hơn, lễ phép hơn, trẻ được hình thành những thói quen vệ sinh văn minh, biết chào hỏi khi có khách đến, biết trao nhận bằng hai tay, biết quan tâm giúp đỡ bạn bè, cô giáo, ba mẹ, không nói tục, đánh bạn, kính trọng cô giáo và người lớn, biết trung thực thật thà, yêu mến tất cả mọi người xung quanh và yêu quê hương đất nước.

    Các bậc phụ huynh cũng có những chuyển biến rõ rệt về lời ăn tiếng nói, về phong cách và quan tâm ngày càng nhiều đến con em mình hơn.

    Bản thân tôi được trao đổi kiến thức và kinh nghiệm dạy trẻ qua các môn học, các hoạt động, được phụ huynh và các đồng nghiệp quý mến và tin yêu hơn.

    Qua khảo sát các tiêu chí lớp tôi đạt được kết quả như sau:

     

            Tiêu chí

     

     

     

     

    Giai đoạn

    Tiêu chí 1

     

    Biết vâng lời, giúp đỡ bố mẹ, cô giáo những việc vừa sức.

    Tiêu chí 2

     

    Cố gắng tự hoàn thành công việc được giao.

    Tiêu chí 3

     

    Biết biểu lộ cảm xúc:vui ,buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên, xấu hổ

    Tiêu chí 4

     

    Biết an ủi, chia vui với người thân và bạn bè

    Tiêu chí 5

     

    Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép.

    Tiêu chí 6

     

    Thích chăm sóc cây, con vật quen thuộc.

    Tiêu chí 7

     

    Biết nhắc nhở người khác giữ gìn và bảo vệ môi trường.

    I

    18/28

    64,3%

    22/28

    78,6%

    21/28

    75%

    22/28

    78,6%

    20/28

    71,4%

    21/28

    75%

    20/28

    71,4%

    II

    22/28

    78,5%

    23/28

    82,1%

    24/28

    85,7%

    23/28

    82,1%

    23/28

    82,1%

    24/28

    85,7%

    22/28

    78,5%

    III

    26/20

    92,8%

    26/20

    92,8%

    27/28

    96,4%

    26/20

    92,8%

    26/20

    92,8%

    26/20

    92,8%

    26/20

    92,8%

    III/ KẾT LUẬN

    1/ Tóm lược giải pháp

    Qua việc thực hiện giáo dục lễ giáo cho các cháu, tôi rút ra được một số kinh nghiệm như sau:

    Cô giáo cùng các bậc phụ huynh phải luôn là tấm gương sáng cho trẻ noi theo. Người lớn đóng vai trò vừa là nhà giáo dục vừa là một người bạn gần gũi thân thiết với trẻ. Thông qua giao tiếp, người lớn sẽ dễ dàng hướng trẻ đến những điều hay, lẽ phải của cuộc sống .

    Mọi hoạt động trong nhà trường, trong lớp học đều giúp trẻ hình thành thói quen tốt. Vì vậy cô nên tìm cách sắp xếp các hoạt động cho trẻ, bố trí các góc chơi, sân chơi và lồng ghép giáo dục lễ giáo vào sao cho thích hợp và có hiệu quả nhất.

    Bên cạnh đó, cô giáo luôn phối hợp với phụ huynh để nắm được những đặc điểm yếu kém về hành vi đạo đức cho cháu mà giáo dục, uốn nắn cháu kịp thời.

    Cô luôn động viên khuyến khích trẻ làm điều tốt. Tuyên dương trẻ khi trẻ làm được việc để trẻ thấy được mình cũng quan trọng, việc làm của mình có ích, trẻ sẽ có niềm vui và động lực để làm những việc sau nữa tốt hơn.

    2/ Phạm vi đối tượng áp dụng

    Đề tài “Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 4-5tuổi” đã và đang áp dụng cho lớp Chồi 2 của tôi phụ trách. Tôi nhận thấy những biện pháp nêu trên rất đơn giản, bất cứ người giáo viên nào cũng có thể áp dụng thực hiện được cho lớp mình. Nội dung giáo dục phù hợp với tất cả trẻ ở độ tuổi 4-5 tuổi. Tuy nhiên tùy theo điều kiện của từng lớp, cô giáo xây dựng kế hoạch khác nhau nhằm mang lại hiệu quả giáo dục cao cho lớp mình.

                                                             

     

     

     

     

     

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Phát Triển Thẩm Mỹ Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Giáo Dục Hướng Nghiệp Ở Trường Thpt Hoà Phú
  • Nghệ Thuật Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Các Từ Nối Chỉ Sự Đối Lập Trong Ielts Writing Và Ielts Speaking
  • Biện Pháp Đối Phó Trong Tiếng Tiếng Anh
  • “Một Số Biện Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ 24

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Đúng Về Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Từ 0
  • 1.2.3. Áp Dụng Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Trang Tuyên Truyền, Phổ Biến Pháp Luật
  • Đáp Án Về Luật Bình Đẳng Giới
  • So Sánh Biện Pháp Cưỡng Chế Thi Hành Án Dân Sự Và Biện Pháp Bảo Đảm Thi Hành Án Dân Sự
  • Là một giáo viên Mầm non, câu châm ngôn giáo dục mà tôi tâm đắc nhất chính là “Giáo dục không phải là đong cho đầy thùng mà là thắp sáng lên ngọn lửa”. “Một đứa trẻ không phải là một chiếc lọ hoa để đổ cho đầy mà là một ngọn lửa cần được thắp sáng”. Với tôi, trẻ em không phải là một chiếc lọ hoa để người lớn và thầy cô giáo tìm cách đổ đầy nước và tự cho những điều đó là đúng. Mà, trẻ em là ngọn lửa và việc chúng ta cần làm là các cô giáo Mầm non hãy nhóm và truyền lửa cho trẻ, để trẻ được thể hiện bản thân mình, được trải nghiệm để được trưởng thành.

    Khoa học đã chứng minh, giai đoạn trẻ từ 0-6 tuổi là “giai đoạn Vàng” trong sự phát triển của trẻ. Ở độ tuổi này, trẻ bắt đầu làm quen với thế giới xung quanh, yêu thích khám phá, nhạy cảm với những biến đổi và có khả năng ghi nhớ đặc biệt tốt. Chính vì vậy, giáo dục trẻ ngay từ tuổi Mầm non được toàn xã hội và gia đình quan tâm. “Giáo dục sớm” cho trẻ là giáo dục nhằm bồi dưỡng tố chất, qua đó giúp trẻ có sự phát triển nổi trội về thể chất cũng như tinh thần.

    Vậy “Giáo dục sớm” là gì? trước hết chúng ta sẽ đi tìm hiểu cụm từ “Giáo dục sớm”. Giáo dục sớm là phương thức giáo dục áp dụng đối với trẻ từ trong bào thai đến 6 tuổi nhằm phát huy những tố chất tốt đẹp, lấy tố chất xây dựng nên tính cách, từ đó làm cơ sở cho sự phát triển con người sau này.

    Song, thực tế ở một số trường mầm non nói chung và trường Mầm non Hồng Châu chúng tôi nói riêng cho thấy. Khi nói tới cụm từ “Giáo dục sớm” cho trẻ dưới 3 tuổi, thì có nhiều bậc phụ huynh có tâm lý muốn cho con ở nhà, không cho con đến nhà trẻ hoặc ra ngoài vì nghĩ các cháu còn nhỏ chưa biết gì mà đến trường, hoặc ra ngoài sợ trẻ bị nguy hiểm, hay lây và mắc các dịch bệnh… Chính vì vậy mà tỷ lệ trẻ từ 24-36 tháng tuổi đến trường còn hạn chế. Năm học 2022-2019 lớp nhà trẻ do tôi phụ trách đầu năm chỉ được 14 cháu chưa đủ so với chỉ tiêu và quy định tại Điều lệ trường Mầm non.

    Năm học 2022 -2020 tôi tiếp tục được phân công dạy nhóm trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường Mầm non Hồng Châu, tôi luôn suy nghĩ tìm ra các biện pháp “Giáo dục sớm” cho trẻ để tạo niềm tin của phụ huynh đưa trẻ đến trường và góp phần nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ. Chính vì vậy, tôi mạnh đề xuất “Một số biện pháp giáo dục sớm cho trẻ 24-36 tháng tuổi” mà tôi đã áp dụng tại trường Mầm non Hồng Châu, xin phép được trình bày trước hội thi.

    Biện pháp 1: Luôn làm bạn của trẻ, cùng chơi với trẻ bất cứ lúc nào có thể.

    Để việc “Giáo dục sớm” cho trẻ có hiệu quả, đầu tiên tôi luôn hướng tới những cảm nhận của trẻ về cuộc sống xung quanh. Từ đó tạo cơ hội để trẻ được trải nghiệm các sự vật gần gũi xung quanh trẻ một cách phong phú.

    Vì vậy, tôi luôn bên cạnh trẻ khi trẻ chơi, cùng chơi với trẻ bất cứ lúc nào có thể, để kích thích niềm đam mê của trẻ, tiến hành giáo dục không chú ý tới khó dễ…

    VD: trong giờ hoạt động với đồ vật, trẻ chơi xếp chồng các khối gỗ lên nhau, tôi không yêu cầu trẻ phải làm được ngay từ đầu, mà tôi luôn chú ý đến lòng ham học hỏi, tinh thần say mê khám phá của trẻ. Mặc dù trẻ có thể xếp chậm không như tôi mong muốn nhưng không vì thế tôi làm thay luôn trẻ, làm như vậy dễ hình thành tư tưởng nản chí khi gặp khó khăn, dựa dẫm trong trẻ.

    Hình ảnh cô giáo ngồi chơi xếp hình cùng các con

    * Biện pháp 2:  Giáo dục cho trẻ thông qua hoạt động chơi – học.

    Chơi có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp trẻ nhận thức được thế giới xung quanh bằng cách tiếp xúc, tìm hiểu, khám phá với các đồ vật xung quanh trẻ. Từ đó, trẻ thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, khám phá tạo cho trẻ sự nhanh nhẹn, phấn khởi, vui nhộn, tâm lý thoải mái và hứng thú với môi trường tự nhiên, đồng thời giúp trẻ tự tin, mạnh dạn hơn.

    VD: Với nhóm bài học phát triển các giác quan: Tôi dắt các bé đi dạo khu vườn trường, cho bé quan sát “ Góc thiên nhiên” tôi có thể cho bé nhắm mắt và thử đoán tên các loài hoa thông qua khứu giác; ngửi mùi hoa, sơ tay vào lá cây hoặc cho các con vui chơi cùng với các đồ vật mang theo từ lớp ra đó cũng là cách để nuôi dưỡng cảm xúc ở trẻ.

    Hình ảnh các bé cùng cô quan sát góc thiên nhiên

    Trong giờ học tôi luôn khơi gợi được sự hứng thú về tinh thần và khả năng tưởng tượng của trẻ.

    Ví dụ: Giờ học nhận biết màu sắc: Tôi mang một thùng các quả bóng nhỏ có nhiều màu khác nhau, ban đầu, tôi sẽ giới thiệu với các bé những gam màu đơn giản như “ Màu xanh – màu đỏ” và sau đó tăng mức độ khó lên dần. Sau đó, tôi đọc tên một màu để các bé chọn quả bóng có màu đỏ hoặc cùng bé xắp xếp các quả bóng theo thứ tự màu sắc khác nhau.

    Hình ảnh các bé cùng cô nhận biết màu sắc

    * Biện pháp 3: Dõi theo trẻ

    Việc dõi theo trẻ là một trong những điều quan trọng nhất, mà chúng tôi thường nhắc nhở nhau “dõi theo trẻ”, và tin tưởng rằng mỗi trẻ đều có thời hạn riêng để phát triển bản thân. Dõi theo trẻ có nghĩa là mỗi đứa trẻ có những nhu cầu, niềm đam mê và tài năng riêng và trẻ nên được dạy và hướng dẫn cho phù hợp…

    VD: Tôi sẽ dõi theo trẻ khi trẻ bắt đầu phát triển về tình cảm bạn bè như: thể hiện sự đồng cảm, thể hiện cảm xúc đối với những người bạn chơi cùng mình, thậm chí là những con búp bê mà trẻ chơi hàng ngày…

    Hình ảnh các bé biết thể hiện cảm xúc cùng cô

    * Biện pháp 4: Phối kết hợp với cha mẹ trong việc “ Giáo dục sớm” cho trẻ.

    Khi nói đến “ Giáo dục sớm” cho trẻ dưới 3 tuổi thì không một ngôi trường nào tốt bằng gia đình, và không một người thầy nào tốt như cha mẹ!” câu nói này càng đúng hơn đối với những trẻ vừa mới lọt lòng cho đến khi được 3 tuổi. Đó là giai đoạn trẻ được bao bọc, dạy dỗ từ người thân trong gia đình đồng thời cũng là giai đoạn trẻ có sự phát triển nhanh và mạnh nhất về mặt não bộ. “Giáo dục sớm” đúng cách cho trẻ trong giai đoạn này đặc biệt hiệu quả trong việc hình thành nhân cách và trí thông minh cho trẻ. Vì vậy, mỗi lần chơi cùng trẻ tôi thường chụp lại những hình ảnh mà khi ở lớp trẻ hứng thú khám phá, trải nghiệm cùng cô để làm minh chứng tuyên truyền, giải thích với phụ huynh rằng cha mẹ hãy luôn bên con mỗi khi con chơi hay khám phá điều gì đó, bên con như một người bạn, để con tự học từ chơi mà không bị gián đoạn và chỉ can thiệp hoặc giúp đỡ trẻ khi có nguy cơ gây hại hoặc nguy hiểm.

    Điều quan trọng trong các phương pháp giáo dục sớm chính là việc cha mẹ cần kiên trì và phải bình tĩnh để cùng bé học tập và rèn luyện. Để giúp con học hỏi được những điều bổ ích thì cha mẹ chính là những người thầy đầu tiên và có ảnh hưởng lớn nhất đến các con.

    Sau khi áp dụng các biện pháp giáo dục sớm cho trẻ tại trường, kết quả đạt được như sau:

    Tỷ lệ trẻ 24-36 tháng tuổi đến lớp ngày càng đông; hiện tại lớp tôi có 23 cháu; tăng 9 cháu so với thời điểm này của năm học trước.

    Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hồn nhiên, tự tin hơn mỗi khi tiếp xúc với mọi người xung quanh; có nề nếp trong học tập, vui chơi, vui vẻ với các bạn, thích được hát múa, ăn hết xuất, ngủ đúng giờ, một số trẻ có khả năng tự phục vụ bản thân như: Biết tự lấy ghế ngồi vào bàn ăn, biết tự xúc cơm và biết cất, lấy đúng đồ dùng cá nhân của mình.

    Các bậc phụ huynh quan tâm đến trẻ nhiều hơn, đưa con đi học đều, đúng giờ, biết khuyến khích con khám phá mọi vật xung quanh; Không la mắng trẻ khi chúng nghịch đất cát; Không quát mắng hay chán nản khi trẻ lỡ làm rơi vỡ đồ vật trong nhà. Luôn khuyến khích trẻ khi trẻ muốn tìm hiểu những điều mới lạ;…và thường xuyên phối kết hợp với chúng tôi trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ 0
  • Giáo Dục Dinh Dưỡng Sức Khỏe Cho Trẻ Ở Trường Mầm Non
  • Một Số Phương Pháp Dạy Trẻ Tự Kỷ
  • Một Số Biện Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Nắm Tình Hình; Quản Lý, Giáo Dục Đối Tượng Của Lực Lượng Cảnh Sát Khu Vực Trong Phòng Ngừa Tội Phạm Trên Địa Bàn Quảng Bình – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Một Số Biện Pháp Chăm Sóc Giáo Dục Trẻ Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Phát Triển Thể Chất Cho Trẻ 5
  • Đề Tài Kinh Nghiệm “Giáo Dục Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Giữ Gìn Một Số Nét Văn Hóa Truyền Thốn Dân Tộc Thông Qua Các Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Trong Trường Ptdt Nội Trú”
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan Ở Lớp 2 Trường Tiểu Học Thạch Lâm 2
  • Chương Trình Môn Giáo Dục Thể Chất Cấp Tiểu Học 2022
  • Chú Trọng Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Học Sinh
  • PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC LỄ GIÁO

    CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

    Người thực hiện: Phạm Thị An

    Chức vụ : Giáo viên

    Đơn vị công tác : Trường Mầm non TT Lam Sơn – Thọ Xuân

    SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

    THANH HÓA, NĂM 2022

    —————

    MỤC LỤC

    Nội dung Trang

    MỞ ĐẦU: …………..2

    Lý do chọn đề tài: …………… ……2

    Mục đích nghiên cứu: ……………….. 3

    Đối tượng nghiên cứu: …………….3

    Phương pháp nghiên cứu: ……………4

    NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: ……………..4

    Cơ sở lý luận: ……………..4

    Thực trạng ………………………………………………………………………………….5

    Các biện pháp thực hiện:………………………………………7

    Kết quả thực hiện: …………………………………… .20

    3. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ: …………….21

    a. Kết luận: ……………………………………………………………………………………….21

    b. Kiến nghị:………………………………………………………………………………………22

    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Lý do chọn đề tài

    Đứng trước tình hình đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển không ngừng của nền giáo dục nước nhà, đứng trước thời kỳ hội nhập kinh tế, đất nước đang trên đường mở cửa những ảnh hưởng không nhỏ của nền nhiều nền văn hóa khác nhau. Thì việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa vốn có của cha ông ta từ ngàn xưa là nhiệm vụ cần và cập nhật nhất. Bên cạnh đó, việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu thêm bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình cũng là vấn đề cần thiết- làm thế nào để cho thế hệ trẻ của chúng ta “Hoà nhập mà không hoà tan”.

    Trong thời đại hiện nay, tiếp thu nhiều nền văn hóa đến từ các nước, chủ yếu đến từ phương Tây nên việc lễ nghi phép tắc dần dần không còn được coi trọng, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến thế hệ trẻ của chúng ta. Cộng thêm việc phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, con người trở nên lười giao tiếp trực tiếp, chai lì cảm xúc (vô cảm) và không sàng lọc được những gì nên nói nên làm.

    Từ ngàn xưa kinh nghiệm của cha ông ta đã đúc kết nhiệm vụ học đầu tiên của mỗi con người phải là “Tiên học lễ, hậu học văn” lễ phép là nét đẹp văn hoá được đặt lên hàng đầu khi nhìn nhận và đánh giá về một ai đó mà chúng ta thường bàn luận. Trong thời đại hiện nay, tiếp thu nhiều nền văn hoá khác nhau nên đâu đó vẫn còn nhiều câu chuyện thương tâm về đạo đức, lễ giáo của con người, việc mà tôi và các bạn đã nghe và thấy trên thông tin đại chúng, trong cuộc sống hằng ngày.

    Như chúng ta đã biết, ở lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là mẫu giáo bé là giai đoạn vô cùng quan trọng để tạo cho trẻ một số kỹ năng sống ban đầu, đặt nền tảng vững chắc trong suốt quá trình phát triển sau này của trẻ. Đây là giai đoạn khó khăn nhất trong việc hình thành và phát triển nhân cách vì kinh nghiệm của trẻ còn quá nghèo nàn, đơn điệu

    Việc phát triển toàn diện của trẻ được chứa đựng trong tất cả các hoạt động như: học tập, lao động, vui chơi đều mang ý nghĩa và vai trò giáo dục lễ giáo cho trẻ. Giáo dục lễ giáo có tác động rất lớn đến sự phát triển đời sống tình cảm của trẻ đối với mọi người, đặc biệt là giao tiếp với cô giáo và bạn bè trong lớp.

    Giáo dục lễ giáo là gì?

    Là giáo dục cả về phẩm chất đạo đức và tính cách, lối sống của trẻ, hình thành cho trẻ nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.

    Vậy giáo dục lễ giáo được thực hiện ở đâu?

    Theo tôi phải giáo dục ở mọi lúc mọi nơi và trong các hoạt động. Thông qua đó những tính cách của trẻ được bộc lộ rõ, nhiều phẩm chất đạo đức được hình thành và phát triển. Vì vậy, việc giáo dục lễ giáo cho trẻ ở lứa tuổi mầm non đóng vai trò hết sức quan trọng, cần thiết và có ý nghĩa.

    Ngày nay trong điều kiện kinh tế phát triển, đang trên con đường hội nhập, đất nước chúng ta phải giao lưu với nhiều đất nước, nhiều nền văn hóa khác nhau. Làm thế nào cho thế hệ trẻ của chúng ta hòa nhập mà không hòa tan, trong mỗi con người Việt Nam, chúng ta vẫn giữ được những gì gọi là “Vốn văn hóa của dân tộc Việt Nam” trong thời kỳ đổi mới, thì việc giáo dục cho trẻ phát triển về trí tuệ thôi không đủ mà phải giáo dục trẻ biết giữ được truyền thống vốn có của ông cha ta từ từ ngàn xưa là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách nhất trong các mục tiêu phát triển con người toàn diện hiện nay .

    Trăn trở trước thực tế xã hội đang diễn ra, tôi nhận thấy rằng việc giáo dục lễ giáo ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng cần thiết và quan trọng nó là một trong những yếu tố hình thành nhân cách ban đầu và góp phần phát triển toàn diện cho trẻ. Giúp trẻ có hiểu biết, có hành vi ứng xử và thái độ đúng đối với các mối liên hệ, kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày của trẻ ở mức độ đơn giản, hình thành kỹ năng tự phục vụ bản thân, biết ứng xử trong gia đình ở trường lớp, với môi trường tự nhiên – xã hội. Giáo dục lễ giáo nói chung là giáo dục phép tắc, hành động, cách ăn nói, giao tiếp ứng xử lễ phép có văn hoá đạo đức phù hợp với yêu cầu xã hội hiện nay. Đây cũng là vấn đề mà giáo viên và các bậc phụ huynh cũng luôn quan tâm. Vì vây việc chăm sóc giáo dục lễ giáo trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo là nhiệm vụ hết sức cần thiết đối với người giáo viên mầm non.

    Điều đặc biệt hơn nữa là đối với trẻ mầm non đặc điểm của trẻ là “Dễ nhớ, mau quên” và tính hay bắt chước cho nên việc giáo dục lễ giáo cần được sớm thực hiện và thường xuyên rèn luyện như các cụ xưa có câu “Dạy con từ thuở còn thơ” việc giáo dục lễ giáo nhằm tăng cường vốn hiểu biết, mối quan hệ giao tiếp với cộng đồng đưa trẻ vào môi trường thân thiện thật lành mạnh và trong sáng. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 5 – 6 tuổi ” để nghiên cứu.

    1.2. Mục đích nghiên cứu

    Như trên đã trình bày: Giáo dục lễ giáo đã trở thành nhiệm vụ quan trọng và được quan tâm ngay từ bậc học mầm non.phải bắt đầu từ lứa tuổi mầm non và phải được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên để giúp trẻ có thể phát triển toàn diện về nhân cách. Mục đích nghiên cứu của tôi là nhằm tìm ra phương pháp hiệu quả nhất trang bị cho trẻ bước đầu có những có kỹ năng nhất định cần thiết về lễ giáo để trẻ có thể tự tin hơn trong giáo tiếp hàng ngày.

    – Giúp giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng, cần thiết phải giáo dục lễ giáo cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non. Đồng thời bước đầu tháo gỡ những vướng mắc lúng túng về nội dung, biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ. Từ đó cùng các đồng nghiệp tìm ra được một số biện pháp, hình thức tổ chức hữu hiệu để giáo dục lễ giáo cho trẻ Mầm non. 

    – Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; có hành vi, thói quen đúng đắn để trao dồi kiến thức về lễ giáo, biết kính trên nhường dưới và biết nói lời “cảm ơn”, ”xin lỗi” đúng lúc đúng chỗ.

    – Hình thành cho trẻ sự mạnh dạn tự tin trước đám đông.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Thị trấn Lam sơn – Thọ Xuân – Thanh Hóa

    1.4. Phương pháp nghiên cứu

             - Phương pháp nghiên cứu lý luận.

             – Phương pháp điều tra thực trạng.

     - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

             – Nhóm phương pháp quan sát.

             - Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm.

    2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN

    2.1. Cơ sở lý luận:

    Từ ngàn xưa cha ông ta đã đúc kết kinh nghiệm và có câu: “Tiên học lễ, 

    hậu học văn”. Lễ phép là nét đẹp văn hoá được đặt lên hàng đầu khi nhìn nhận 

    đánh giá phẩm chất của một người dân Việt Nam. 

    Nhưng trong điều kiện kinh tế phát triển và đang trên con đường hội nhập, đất nước chúng ta phải giao lưu với nhiều nền văn hoá khác nhau. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ tiếp thu thêm nhiều nền văn hóa phổ biến, rộng rãi khác. Nhưng làm thế nào để cho thế hệ trẻ của chúng ta ” Hoà nhập mà không hoà tan” trong mỗi chúng ta vẫn giữ được những cái thuộc về “văn hoá của dân tộc Việt Nam”. Như vậy trong thời đại ngày nay việc giáo dục cho trẻ phát triển về trí tuệ thôi chưa đủ mà còn phải giáo dục trẻ giữ được truyền thống văn hoá vốn có của con người Việt Nam, đó là nhiệm vụ cấp thiết trong các mục tiêu phát triển con người toàn diện hiện nay.  Mặt khác trong mục tiêu giáo dục đào tạo ghi rõ phải hình thành và phát triển cho trẻ hài hòa, cân đối, biết giàu lòng yêu thương biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ mọi người, biết yêu thích và giữ gìn cái đẹp, thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá và tìm tòi một số kỹ năng cơ bản như: nhẹ nhàng, khéo léo, biết xin lỗi và nhận lỗi khi mình có lỗi.  Bởi vậy, từ lâu giáo dục lễ giáo cho trẻ đã cuốn hút sự quan tâm của các 

    nhà giáo dục và các bậc phu huynh, nó chiếm một vị trí quan trong trong đời 

    sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ và là nền văn hóa đặc biệt đối với trẻ. 

    Tuy nhiên trẻ mầm non ban đầu còn chưa hiểu hết việc kính trọng, thưa gửi lễ phép còn ứng xử theo cách riêng của bản thân mình với người lớn tuổi, với bạn bè và cô giáo. Trước thực trạng đó là một giáo viên mầm non, người trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ, tôi không thể không suy nghĩ và nhận thấy rằng việc giáo dục lễ giáo cho trẻ là việc mà mỗi giáo viên phải thực hiện thường xuyên liên tục và xem nó như một phần công việc hàng ngày của mình. 

    Giáo dục lễ giáo cho trẻ mầm non là một phần rất quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ, là khâu đầu tiên hình thành nhân cách cho trẻ.Vì vậy trong mục tiêu trong giáo dục mầm non ghi rõ. Hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa: khỏe mạnh nhanh nhẹn, phát triển hài hòa, giàu lòng yêu thương biết quan tâm, nhường nhịn giúp mọi người, biết yêu thương và giữ gìn cái đẹp, thông minh ham hiểu biết, thích khám phá và tìm tòi một số khả năng: Nhẹ nhàng, khéo léo, biết xin lỗi và nhận lỗi.

    Để trẻ có thể dễ dàng tiếp thu những lễ nghi phép tắc, những hành vi văn minh, những lời nói cử chỉ đẹp thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội bên cạnh đó đòi hỏi người giáo viên phải thật sự là người hiểu biết, năng động, kiến thức, tình cảm, có nhiều sáng tạo.Chính vì thế, việc tìm ra biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ là rất cần thiết hiện nay trong giáo dục trẻ.

    Vấn đề giáo dục lễ giáo không phải là vấn đề mới, trước đây và hiện nay chúng ta vẫn làm nhưng làm thế nào để giáo dục lễ giáo có hiệu quả. Đây cũng là vấn đề mà các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh cũng luôn quan tâm. Điều đặc biệt hơn nữa là đối với trẻ mầm non đặc điểm của trẻ là dễ nhớ, mau quên và tính hay bắt chước cho nên việc giáo dục lễ giáo cần được sớm thực hiện và thường xuyên rèn luyện như các cụ xưa có câu “Dạy con từ thuở còn thơ”.

    Bên cạnh đó, vì mục tiêu giảm tỷ lệ sinh con nên số con trong mỗi gia đình ít đi, thì trẻ ngày càng được nuông chiều thái quá, trẻ muốn gì được nấy, đây cũng là vấn đề không nhỏ ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề giáo dục lễ giáo cho trẻ. Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo cho con em ở lứa tuổi mầm non, nên thường khoán trắng cho giáo viên.

    Là giáo viên mầm non tôi thấy việc giáo dục lễ giáo cho trẻ luôn được chú trọng và đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa cao đâu đó vẫn còn những câu nói cụt, nói què, những hành vi thiếu văn minh. Vậy làm thế nào? Và bằng cách nào? để vệc giáo dục lễ giáo cho trẻ mang lại hiệu quả cao. Đây là vấn đề cấp bách của toàn xã hội không phải của riêng ai.

    Trăn trở với mục tiêu chung của ngành giáo dục, vấn đề cấp bách của toàn xã hội là người giáo viên mầm non tôi không thể không suy nghĩ và nhận thấy rằng việc giáo dục lễ giáo cho trẻ hiện nay đang là vấn đề bức xúc, là việc làm cần thiết có vai trò to lớn trong việc giáo dục trẻ không riêng bậc học mầm non mà còn nhiều bậc học khác. Đặc biệt, năm nay tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi. Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 5- 6 tuổi” để góp một phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lễ giáo cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo nhằm góp phần hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ.

    2.2. Thực trạng:

    Trong quá trình giảng dạy năm học 2022- 2022 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi. Thời gian vừa qua tôi được tiếp xúc gần gũi với trẻ tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu và nắm được thực trạng tình hình của trẻ

    Trong quá trình thực hiện, tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:

    * Thuận lợi:

              – Được sự quan tâm giúp đỡ của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thọ Xuân, của Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện đầy đủ về cơ sở vật chất cũng như tài liệu phục vụ giảng dạy.

              – Phòng học rộng rãi thoáng mát, lớp học sạch đẹp mang tính sư phạm nên trẻ rất thích đi học và thuận lợi cho việc giáo dục trẻ.

    – Hai giáo viên trẻ, nhiệt tình, có trình độ chuẩn, có ý thức học hỏi đồng nghiệp và qua các phương tiện thông tin đại chúng.

    – Phụ huynh của lớp rất nhiệt tình, luôn giúp đỡ và phối kết hợp với cô giáo trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ.

    * Khó khăn:

    – Trong lớp có không ít những cháu là con em người địa phương nên nhận thức của trẻ còn hạn chế, phụ huynh ít quan tâm đến vấn đề học tập của con cái đặc biệt là vấn đề giáo dục lễ giáo.

    – Trẻ chưa mạnh dạn, chưa nhanh nhẹn, còn nhút nhát, thụ động.

    – Tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, phim ảnh và một số trò chơi không lành mạnh đã ảnh hưởng không ít đến sự phát triển nhân cách của trẻ.

    – Nhận thức của trẻ chưa đồng đều nên việc truyền thụ kiến thức đến trẻ còn gặp rất nhiều khó khăn.

    Tình hình thực tế hiện nay cho thấy tâm lý phụ huynh luôn nuông chiều trẻ thái quá đã làm cho trẻ nhận thức một cách lệch lạc về hành vi của mình. Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo cho trẻ ở tuổi mầm non nên thường cho rằng trẻ ở lớp như thế nào là do cô giáo.Nhận thức của phụ huynh còn hạn chế, con thích gì thì chiều đấy, do công việc bận rộn, có điều kiện kinh tế nên giao việc cho hết người giúp việc.Còn có trẻ ở nhà tự do, tiếp xúc với môi trường chưa lành mạnh, chưa biết kính trọng , lễ phép với người lớn tuổi và bạn bè. Nếu trẻ được giáo dục trong môi trường lành mạnh tức gia đình, nhà trường và xã hội, nhà trường giáo dục về lễ giáo thì trẻ sẽ phát triển tốt hơn và ngược lại nếu gia đình mà không chú trọng vào việc giáo dục lễ giáo để trẻ tiếp thu hoặc nghe thấy mọi người nói những ngôn từ không đẹp thì trẻ sẽ bắt chước ngay.

    Thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự do, trả lời câu hỏi của cô còn trả lời trống không, ra vào lớp không xin phép, nói năng không biết dạ thưa, nhận và đưa người lớn bằng một tay, không biết cám ơn khi nhận quà, không biết xin lỗi khi làm sai, tranh giành đồ chơi với bạn, chưa quan tâm đến bạn cùng lớp, bạn gần lớp, bạn trong trường khi thấy bạn vui, buồn, khócđa số trẻ thường không quan tâm, lối sống của người lớn đã ảnh hưởng đến trẻ.

    Bên cạnh đó, những bộn bề lo toan cho công việc, cho đời sống kinh tế của mỗi gia đình nên việc chú trọng, quan tâm giáo dục cho con cái ngày càng hạn chế, bị lãng quên, đặc biệt là vấn đề giáo dục lễ giáo.

    Đứng trước thực trạng đó, tôi rất lo lắng phải dạy trẻ như thế nào và bằng những biện pháp gì để tất cả trẻ lớp tôi có những thói quen và hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội, chính vì thế “Biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 5- 6 tuổi” là một lựa chọn đúng đắn.

    * Khảo sát thực trạng: 

    Vào đầu tháng 9, tôi tiến hành khảo sát để đánh giá về chất lượng giáo dục  lễ giáo của trẻ trong lớp để từ đó có kế hoạch bồi dưỡng, cụ thể : 

    Nội dung khảo sát

    Tổng số trẻ

    Đạt

    Chưa đạt

    Số lượng

    Tỉ lệ %

    Số lượng

    Tỉ lệ

    %

    – Trẻ biết chào hỏi lễ phép

    35

    25

    71,4%

    10

    28,5%

    – Biết cảm ơn, xin lỗi

    35

    24

    68,5%

    11

    31,4%

    – Biết giữ gìn, cất, sắp xếp đồ chơi theo quy định

    35

    22

    62,8%

    13

    37,1%

    – Biết giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường

    35

    26

    74,2%

    9

    25,7%

    – Biết nhường nhịn giúp đỡ bạn

    35

    20

    57,1%

    15

    42,8

    – Trẻ mạnh dạn trong giao tiếp

    35

    26

    74,2%

    9

    25,7%

    2. 3. Các biện pháp thực hiện

    Thực tế tại lớp, tôi sử dụng một số biện pháp như dùng lời giải thích, trò chuyện với trẻ, dùng câu chuyện kể, cho trẻ xem tranh và nhận xét nội dung tranh, giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các trò chơi, khích lệ nêu gương… Bằng những nội dung giáo dục gần gũi kết hợp với cách tác động đúng lúc đã giúp tôi thực hiện có hiệu quả việc giáo dục cho trẻ tại lớp.

    * Biện pháp 1: Tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người giáo viên gương mẫu.

    – Ở lứa tuổi của trẻ luôn thích được cô yêu thương, gần gũi, mọi hành vi của cô được trẻ lưu tâm nhất. Vì vậy cô luôn luôn chuẩn mực trong lúc giao tiếp với người lớn, với trẻ không to tiếng quát tháo, xưng hô dịu dàng bằng cô và con, giờ đón trả trẻ tôi luôn ân cần dịu dàng thương yêu trẻ, khiêm tốn lịch sự trong giao tiếp với phụ huynh, cháu hỏi gì tôi trả lời rõ ràng, tôn trọng lời nói của trẻ, lắng nghe ý kiến  của trẻ.

    – Tôi hứa điều gì với trẻ là thực hiện đúng lời hứa, nếu trẻ có hành vi hoặc lời nói không hay tôi nhẹ nhàng góp ý và khuyến khích trẻ tránh sai phạm lần sau. Tuyệt đối không chạm tự ái của trẻ hoặc làm trẻ phải sợ hãi lo lắng. Tác phong quần áo tôi luôn chú ý ăn mặc đẹp, lịch sự, cô tươi trẻ cháu rất thích. Cô thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo hay cô giáo là mẹ hiền, mẹ và cô là hai cô giáo, trẻ có hai mẹ hiền nhất định trẻ sẽ là con ngoan trò giỏi.

    *Biện pháp 2: Giáo dục lễ giáo thông qua giờ học

    Đưa nội dung giáo dục lễ giáo vào các giờ học nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hoá.

    Ví dụ:

    + Phát triển thể chất: Cô thường xuyên nhắc nhở trẻ siêng năng thể dục, tập đều đặn giúp cơ thể khoẻ mạnh, rèn luyện tính kiên nhẫn, trong lúc tập không chen lấn, không xô đẩy chúng tôi đó giáo dục trẻ có thói quen tốt trong cuộc sống hằng ngày trẻ ăn, ngủ đúng giờ, biết nhường nhịn, biết trật tự, biết kỷ luật, biết chờ đợi đến lượt và không từ chối công việc của chính mình.

    Đối với hoạt động phát triển thể chất cô giáo dục trẻ siêng năng tập thể dục đều đặn, thường xuyên giúp cơ thể khoẻ mạnh, rèn luyện tính kiên nhẫn, trong lúc tập giáo dục trẻ không chen lấn, xô đẩy nhau qua đó giáo dục trẻ có thói quen tốt trong cuộc sống hằng ngày giáo dục trẻ ăn, ngủ đúng giờ

    + Phát triển nhận thức: Qua giờ khám phá khoa học “Cây xanh và môi trường sống”.

    Cô giáo dục trẻ biết chăm sóc vườn rau, nhổ cỏ cho rau,. không hái hoa, không bẻ cành, mà phải biết bảo vệ cây xanh để cây cho ta bóng mát, hoa quả, không khí trong lành.

    Dạy trẻ làm quen với môi trường xung quanh qua bài “Trường Mẫu giáo của chúng ta” tôi chú ý liên hệ giáo dục trẻ qua một số nội dung như sau:

    – Trong lớp các bạn đều đoàn kết thương yêu nhau, được cô giáo quý mến

    – Ngồi học cô nói phải chú ý lắng nghe, muốn nói phải đưa tay phát biểu.

    – Khi thấy khách đến biết chào, muốn ra vào lớp phải xin phép cô giáo.

    – Khi chơi với bạn biết đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, không tranh giành đồ chơi của bạn, chơi xong biết cất đúng nơi quy định, gọn gàng.

    – Biết lắng nghe người khác nói và chờ đến lượt.

    + Phát triển thẩm mỹ: “Vẽ người thân trong gia đình” giáo dục trẻ biết yêu thương, kính trọng đối với ông bà, cha mẹ, anh chị, biết nhường nhịn em bé. Hay qua bài hát “Bông hồng tặng cô” giáo dục trẻ khi nhận hoặc trao vật gì cho người lớn nên trao nhận bằng hai tay, nói lời cảm ơn.

    + Phát triển ngôn ngữ: Qua chuyện “Hai anh em” cô giáo dục trẻ lòng thật thà, yêu lao động,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: “Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 4
  • Skkn Một Số Biện Pháp Phát Triển Thẩm Mỹ Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Giáo Dục Hướng Nghiệp Ở Trường Thpt Hoà Phú
  • Nghệ Thuật Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Các Từ Nối Chỉ Sự Đối Lập Trong Ielts Writing Và Ielts Speaking
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Dinh Dưỡng Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ
  • Nguyên Tắc “Bảo Vệ Môi Trường, Tài Nguyên Biển”
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    GIÁO DỤC ÂM NHẠC CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI

    TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA HƯNG

    Người thực hiện: Phạm Thị Giang

    Chức vụ: Giáo viên

    Đơn vị công tác: Trường Mầm non Nga Hưng

    SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

    THANH HOÁ NĂM 2022

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    Trang

    1. MỞ ĐẦU

    1

    1.1. Lý do chọn đề tài.

    1

    1.2. Mục đích nghiên cứu.

    2

    1.3. Đối tượng nghiên cứu.

    2

    1.4. Phương pháp nghiên cứu.

    2

    2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    2

    2.1. Cơ sở lý luận

    2

    2.2. Thực trạng vấn đề.

    3

    2.3. Giải pháp thực hiện

    5

    Giải pháp 1. Nâng cao nhận thức về âm nhạc, trau dồi kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng âm nhạc cho cô.

    5

    Giải pháp 2. Hình thành và giáo dục nề nếp, rèn kĩ năng và kích thích sự sáng tạo của trẻ trong giáo dục âm nhạc

    6

    Giải pháp 3. Tổ chức giáo dục âm nhạc cho trẻ thông qua hoạt động học âm nhạc.

    7

    Giải pháp 4. Lồng ghép giáo dục âm nhạc vào các hoạt động hàng ngày.

    15

    Giải pháp 5. Giáo dục âm nhạc thông qua các ngày lễ, ngày hội cho trẻ.

    18

    Giải pháp 6. Công tác phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục âm nhạc cho trẻ.

    19

    2.4. Hiệu quả sau khi áp dụng các biện pháp đã lựa chọn.

    20

    3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    21

    3.1. Kết luận

    21

    3.2. Kiến nghị

    21

    Tài liệu tham khảo

    22

    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Lý do chọn đề tài.

    Nghệ thuật là một trong những con đường, phương tiện giáo dục độc đáo để thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển thẩm mĩ. Về phương diện này nhà lí luận mĩ-EliotW.Eisnesr đã từng nói: “Giáo dục thẩm mĩ là giáo dục đạo đức cho con người trong và thông qua nghệ thuật”. Mà âm nhạc là loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư, tình cảm, tư tưởng và những mong muốn của con người. Hình tượng của nghệ thuật âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của 7 nốt nhạc với các thăng trầm của nó biến hóa vô tận như những chữ cái của ngôn ngữ

    Âm nhạc vốn rất gần gũi với trẻ em, tuy nhiên ở những năm đầu tiên của cuộc sống những phản ứng vui vẻ của trẻ khi nghe âm nhạc vẫn còn mơ hồ, thậm chí còn lẫn lộn giữa âm nhạc và âm thanh khác nhau ở xung quanh mình, sự cảm thụ âm nhạc của trẻ còn ở nhiều mức độ khác nhau. Có cháu yêu đến độ say mê, có cháu lại rất thờ ơ, hờ hững khi những giai điệu nhạc vang lên. Và mức độ yêu âm nhạc phần lớn do hoàn cảnh cuộc sống, môi trường giáo dục của người lớn xung quanh. Vì vậy mà giáo dục âm nhạc đến với trẻ thơ như là phương tiện giáo dục trẻ về thẩm mỹ, đạo đức, góp phần phát triển tâm sinh lý trẻ. Âm nhạc đối với trẻ là một thế giới kỳ diệu đầy cảm xúc.

     Mục đích của giáo dục âm nhạc là giáo dục tình cảm đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ. Giáo dục âm nhạc hình thành cho trẻ lòng yêu thiên nhiên, Tổ quốc, tình yêu thương con người Không chỉ vậy, giáo dục âm nhạc còn là phương tiện nâng cao khả năng trí tuệ, phát triển thể chất, giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, củng cố kiến thức trẻ qua học tập, vui chơi. Quá trình trẻ tiếp xúc và hoạt động âm nhạc như học hát, nghe hát, vận động theo nhạc, chơi trò chơi âm nhạc… sẽ hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển toàn diện, hài hoà, là sự phát triển về thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực. Chính vì vậy, giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

    Vì thế, dạy hát nhằm giúp trẻ biết cảm thụ âm nhạc, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ min

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Chính Trị Trong Lực Lượng Vũ Trang Tỉnh
  • Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người
  • Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng
  • 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu…
  • Kinh Nghiệm Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan
  • Một Số Biện Pháp Chăm Sóc Giáo Dục Trẻ Ở Trường Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Nắm Tình Hình; Quản Lý, Giáo Dục Đối Tượng Của Lực Lượng Cảnh Sát Khu Vực Trong Phòng Ngừa Tội Phạm Trên Địa Bàn Quảng Bình – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Một Số Phương Pháp Dạy Trẻ Tự Kỷ
  • Giáo Dục Dinh Dưỡng Sức Khỏe Cho Trẻ Ở Trường Mầm Non
  • Phương Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ 0
  • “Một Số Biện Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ 24
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON

    Trẻ em như những những búp măng còn non nớt, để trẻ có thể pháttriển một cách cứng cáp nhà trường cần có biện pháp chăm sóc trẻ mầm non một cách đúng đắn. Để làm tốt điều này nhà trường cần dự phối kếthợp của các lực lượng xã hội và gia đình các trẻ để kết quả giáo dục được nân gcao.

    Nhận rõ được tầm quan trọng này, Trường mầm non Ngán Chiên luôn chú trọng vào nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe cho các trẻ ngay từ những ngày đầu đến trường.

    Hiểu được các con cần gì?

    Mỗi một bé sẽ có thể chất, tình cảm, xã hội, trí tuệ, hoàn cảnhgia đình, văn hóa và tâm lý khác nhau. Do đó, mỗi trẻ em có hứng thú, cách học tập khác nhau. Mỗi một biện pháp chăm sóc trẻ mầm non cũng sẽ phù hợp với riêng từng trẻ.

    Để nâng cao được chất lượng chăm sóc giáo dục cho trẻ thì môi trường ngoài lớp học có một vai trò vô cùng quan trọng luôn tập trung xây dựng môitrường an toàn, sạch đẹp, mang lại sự tươi mới cho trẻ. Không gian trường có diện tích đất đủ rộng để bố trí các khu vực cho trẻ hoạt động vui chơi, sinh hoạt, học tập ngoài trời một cách khoa học và phù hợp.

    Các khu chơi thể thao, khu đồ chơi ngoài trời, khu vực chơi giaothông, khu vực chơi với đất cát, khu vực trẻ trồng cây, trồng rau và chăm sóc cây cối… được bố trí hợp lý để các em được vui chơi, hoạt động thoải mái nhất.

    Môi trường học an toàn, thân thiện cho trẻ:

    Yếu tố an toàn và thân thiện ở đây phải được thể hiện không chỉ ởmôi trường thiên nhiên (như đầy đủ lượng ánh sáng, không khí trong lành, nguồn nước sạch), môi trường vật chất (bao gồm điều kiện phòng học, sân chơi, nơi ngủ nghỉ)

    Giáo viên tận tình, quan tâm đến từng em nhỏ

    Luôn lấy trẻ làm trung tâm, dạy trẻ học bằng cách chơi, chơi để học. Chương trình giáo dục thực hiện chặt chẽ theo sự hướng dẫn của Phòng giáo dục, phù hợp với lứa tuổi và được cập nhật thường xuyên, liên tục. Phương pháp giáo dục được nghiên cứu kỹ càng từ các chương trình giáo dục truyền thống của Việt Nam

    Ngoài ra nhà trường chú trọng kỹ năng sống trong biện pháp chămsóc trẻ nhằm phát triển toàn diện các kĩ năng mềm chotrẻ, đồng thời phát hiện sớm những tài năng tiềm ẩn ở trẻ, giúp trẻ phát huy sự nhanh nhạy, khéo léo đồng thời tối đa trí tưởng tượng, sức sáng tạo và làm giàu tâm hồn, cảm xúc của trẻ.

    Người viết tin: Phàn Thị Hồng

    • Cách phòng chống 1 số dịch bệnh cho trẻ

      (59

      Lượt xem

      )

    • Bệnh Sởi và các biện pháp phòng bệnh

      (55

      Lượt xem

      )

    • MỘT SỐ CÁCH CHĂM SÓC TRẺ MẦM NON

      (170

      Lượt xem

      )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Làm Gì Để Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ Mầm Non, Trong Thời Gian Trẻ Nghỉ Học Ở Nhà Để Phòng, Chống Dịch Bệnh Covid
  • Một Số Kinh Nghiệm Trong Việc Thực Hiện Công Tác Phổ Cập Giáo Dục Mầm Non Cho Trẻ Em 5 Tuổi Tại Địa Bàn Xã Yên Lâm
  • Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non
  • Thuận Lợi Và Khó Khăn Trong Công Tác Giáo Dục Trẻ Mầm Non
  • Rút Kinh Nghiệm Việc Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Mới
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Trẻ Mẫu Giáo 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống (Kns) Cho Học Sinh Lớp 2 Thôngqua Các Môn Học
  • Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thpt: Việc Làm Cần Thiết
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quảgiáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Giúp Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mẫu Giáo 3
  • Nội dung

    Trang

    I. Mở đầu

    1

    1.1. Lí do chọn đề tài

    1

    1.2. Mục đích nghiên cứu

    1

    1.3. Đối tượng nghiên cứu

    1

    1.4. Phương pháp nghiên cứu

    1

    II. Nội dung

    2

    2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề

    2

    2.2. Thực trạng của vấn đề

    2

    2.3. Các biện pháp tổ chức thực hiện

    4

    2.3.1. Biện pháp 1: Tăng cường tính khoa học trong giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo qua hoạt động tạo hình

    4

    2.3.2. Biện pháp 2: Đổi mới phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình .

    5

    2.3.3. Biện pháp 3: Giáo viên chuẩn bị các tri thức, các kĩ năng có tính chất kĩ thuật trong hoạt động tạo hình.

    10

    2.3.4. Biện pháp 4: Giáo viên cần phát huy tối đa những khả năng thể hiện của ngôn ngữ tạo hình trong tranh của trẻ

    11

    2.3.5. Biện pháp 5: Thiết kế các trò chơi tạo hình Vẽ, nặn, xếp dán tranh, chắp ghép phù hợp với các độ tuổi của trẻ nhằm từng bước phát triển khả năng tạo hình

    13

    2.4. Hiệu quả của SKKN

    15

    III. Kết luận và kiến nghị

    16

    3.1. Kết luận

    16

    3.2.Kiến nghị

    16

    I. Mở đầu

    1.1. Lí do chọn đề tài:

    Giáo dục Mầm non không phải chỉ đơn thuần là chăm sóc trẻ mà giáo dục mầm non là giáo dục toàn diện cho trẻ về năm mặt: Ngôn ngữ, nhận thức, thẩm mỹ, thể chất, tình cảm – xã hội. Vậy, phát triển thẩm mỹ là một trong năm lĩnh vực giáo dục toàn diện cho trẻ Mầm non nói riêng và với trẻ em nói chung.

    Nội dung hoạt động tạo hình trong trường mầm non được coi như là một phương tiện phát triển thẩm mỹ cho trẻ rất hữu hiệu. Thông qua hoạt động tạo hình mà trẻ có thể phát triển các chức năng tâm lí như khả năng quan sát – tri giác các sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó buộc trẻ phải tư duy và quá trình đó làm phát triển óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ, trẻ ham muốn, hứng thú và tích cực tạo ra cái đẹp. Đây là yếu tố cần thiết và có thể nói là không thể thiếu được để góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách.

    Giáo dục thẩm mỹ qua hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non là nhiệm vụ chiến lược trong hoạt động giáo dục của nhà trường, góp phần giải quyết mối quan hệ giữa “Đức – Trí – Thể – Mỹ” trong sự phát triển con người ở các mục tiêu giáo dục. Quan niệm về cái đẹp cái xấu ngày nay rất phức tạp dường như không có một quy định chuẩn nào cụ thể. Vì vậy việc giáo dục thẩm mĩ thông qua hoạt động tạo hình sẽ góp phần nâng cao nhận thức cũng như tầm quan trọng của GDTM đối với thế hệ trẻ.

    Thực tiễn trong các trường Mầm non chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ. Trong khi đó giáo dục thẩm mĩ có vai trò quan trọng làm tăng khả năng tư duy, trí tưởng tượng sáng tạo và làm phong phú thêm đời sống tinh thần cho trẻ. Đặc biệt là rèn cho trẻ kỹ năng cầm bút tô, vẽ, tư thế ngồi tạo tiền đề và tâm thế tốt cho trẻ bước vào lớp một.

    Trong quá trình tổ chức hoạt động tạo hình giáo viên ít khi chú ý đến làm thế nào giúp trẻ hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp từ thiên nhiên, ý nghĩa những bức tranh, hay các sản phẩm vẽ, nặn, xé, dán và tính tích cực sáng tạo cá nhân. Nếu chúng ta biết cách khai thác để phát triển thẩm mĩ cho trẻ thông qua hoạt động tạo hình thì không những tư duy, trí tượng tượng sáng tạo của trẻ được tăng lên mà còn giúp trẻ biết cảm nhận, yêu thích cái đẹp, tâm hồn trong sáng, hướng tới giá trị Chân – Thiện – Mĩ. Với những lí do trên, tôi manh dạn chọn đề tài “ Một số biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Điền Thượng huyện Bá Thước ”

    1.2. Mục đích nghiên cứu

    Trên cơ sở thực tiễn giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông

    qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Điền Thượng, đề xuất các biện pháp giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Điền Thượng huyện Bá Thước.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu

    Biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Điển Thượng huyện Bá Thước.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu

    – Phương pháp phỏng vấn

    – Phương pháp quan sát

    – Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

    – Nhóm phương pháp tìm tòi, sáng tạo: bao gồm các phương pháp hướng dẫn mang tính gợi mở, các hoạt động, các bìa tập tạo hình, các tình huống có vấn đề trong tạo hình, các bài tập sáng tạo trong tạo hình.[4]

    – Dùng thống kê toán học để xử lý số liệu

    II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

    2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

    Luật Giáo dục ngày 14/6/2005 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25/11/2009.

    Luật Giáo dục năm 2009 nhấn mạnh: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” và “Quan tâm đầy đủ đến giáo dục phẩm chất, đạo đức, ý thức công dân, giáo dục sức khoẻ và giáo dục thẩm mỹ (GDTM) cho học sinh là yêu cầu chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn mới ở nước ta”. Có thể nói cùng với đức dục, trí dục, thể dục, GDTM là một trong những con đường hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại.

    Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình là quá trình tác động của nhà sư phạm mầm non tới trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình nhằm hình thành những quan hệ thẩm mỹ đúng đắn của trẻ với hiện thực góp phần xây dựng nền tảng cho sự phát triển nhân cách hài hòa, toàn diện cho trẻ.

    Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2022 về việc sửa đổi bổ sung một số nội dung của chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    – Tình hình địa phương.

    Điền Thượng là một xã thuộc chương trình 135 của huyện Bá Thước. Phía Đông giáp xã Điền Hạ, phía Tây giáp xã Thiết ống, phía Bắc giáp xã Điền

    Quang. Xã Điền Thượng có tổng dân số là 3496 người. Trong đó 98% đồng bào dân tộc thiểu số và đa số là dân tộc Mường, ngoài ra còn có dân tộc Thái và dân tộc Kinh sinh sống trên địa bàn xã. Địa bàn xã bị chia cắt bởi những đồi núi nên dân cư không tập trung mà được chia ra thành 7 thôn bản. Kinh tế của nhân dân trong vùng rất khó khăn, nhiều gia đình chưa quan tâm đến việc học tập và sinh hoạt của trẻ.

    Thực trạng trường mầm non Điền Thượng.

    Trường Mầm non Điền Thượng là một trường vùng sâu, vùng xa của huyện Bá Thước. Nhà trường đã nhận được sự quan tâm hỗ trợ chính quyền trong quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất và nguồn lực con người theo đề án xây dựng trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia. Với trẻ mẫu giáo chủ yếu là con em các gia đình nông thôn đồng bào dân tộc miền núi kinh tế còn gặp nhiều khó khăn.

    – Thực trạng nhận thức của giáo viên về giáo dục thẩm mỹ:

    – Thực trạng mức độ thực hiện nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo qua hoạt động tạo hình:

    Hướng dẫn trẻ tạo ra các sản phẩm tạo hình (Tranh tô, vẽ, nặn, xé dán, xếp dán, trang trí đồ dùng đồ chơi tự tạo, thổi màu, in ấn…).

    Dạy trẻ cảm thụ cái đẹp thông qua hoạt động tạo hình.

    Dạy trẻ sử dụng các kỹ năng tạo hình để tạo ra sản phẩm tạo hình

    Giúp trẻ biết nhận xét, đánh giá các tác phẩm nghệ thuật tạo hình của mình và của bạn.

    Dạy trẻ yêu thích cảnh đẹp trong trường, lớp và trong cuộc sống

    Hạn chế: Hầu hết giáo viên rất ngại cho trẻ sử dụng màu nước vì sợ trẻ dây bẩn ra tay và ra quần áo. Trong khi đó nội dung cho trẻ thổi màu và in ấn là nội dung kích thích hứng thú và tạo cho trẻ có nhiều cơ hội để sáng tạo và cảm nhận

    được cái đẹp của sản phẩm mình tạo ra.

    – Thực trạng về mức đánh giá phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ

    mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình:

    Mặt mạnh: Nhóm phương pháp tìm tòi, sáng tạo đạt ở mức độ yếu chứng tỏ rằng các giáo viên trong trường chỉ sử dụng đến phương pháp truyền thống như: Dùng lời gợi mở, hướng dẫn, thực hành ôn luyện, quan sát vật mẫu …mà ngại thay đổi.

    Mặt hạn chế: Giáo viên chưa phát huy hết khả năng của mình, ít học hỏi tìm tòi những phương pháp mới.

    – Thực trạng về cơ sở vật chất

    Cơ sở vật chất nhà trường diện tích chật hẹp, còn thiếu các phòng chức năng như: Phòng âm nhạc, phòng nghệ thuật, thiết bị dạy học đầu tư không đồng bộ, việc khai thác sử dụng đồ dùng, đồ chơi đạt hiệu quả chưa cao.

    Thực trạng nhận thức của trẻ về giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình

    Kết quả khảo sát 26 trẻ đầu năm học 2022 – 2022 thu được kết quả cụ thể như sau:

    TT

    Nội dung

    Số trẻ

    Số trẻ đạt

    Số trẻ chưa đạt

    Tốt

    Khá

    Trung bình

    Số trẻ

    Tỉ lệ%

    Số trẻ

    Tỉ lệ%

    Số trẻ

    Tỉ lệ%

    Số trẻ

    Tỉ lệ%

    1

    Hướng dẫn trẻ tạo ra các sản phẩm tạo hình (Tranh tô, vẽ, nặn, xé dán, xếp dán, trang trí đồ dùng đồ chơi tự tạo, thổi màu, in ấn…).

    26

    4

    15,4

    7

    26,9

    5

    19,2

    10

    38,5

    2

    Dạy trẻ cảm thụ cái đẹp thông qua hoạt động tạo hình.

    10

    38,5

    7

    26,9

    7

    26,9

    2

    7,7

    3

    Dạy trẻ sử dụng các kỹ năng tạo hình để tạo ra sản phẩm tạo hình

    5

    19,2

    8

    30,8

    5

    19,2

    8

    30,8

    4

    Giúp trẻ biết nhận xét, đánh giá các tác phẩm nghệ thuật tạo hình của mình và của bạn

    4

    15,4

    6

    23,0

    10

    38,5

    6

    23,1

    5

    Dạy trẻ yêu thích cảnh đẹp trong trường, lớp và trong cuộc sống.

    6

    23,1

    7

    26,9

    10

    38,5

    3

    11,5

    6

    Trẻ thể hiện sự sáng tạo.

    3

    11,5

    6

    23,0

    9

    34,7

    8

    30,8

    Trong các nội dung thì nội dung như hướng dẫn trẻ tạo ra các sản phẩm tạo hình (Tranh tô, vẽ, nặn, xé dán, xếp dán, đồ dùng tự tạo, thổi màu, in ấn…) có 10 cháu chưa đạt chiếm tỷ lệ 38 %, Dạy trẻ sử dụng các kỹ năng tạo hình để tạo ra sản phẩm tạo hình có 8 cháu chưa đạt chiếm tỷ lệ 30,8%, trẻ thể hiện sự sáng tạo còn 8 cháu chiếm tỷ lệ 30,8%.

    Qua việc khảo sát nhận thức của trẻ và thu được kết quả ở trên sử dụng phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình còn có một số hạn chế như sau.

    Việc sử dụng phương tiện thổi màu và in ấn thì rất kém do giáo viên ngại sử dụng phương tiện này để GDTM cho trẻ do sợ trẻ dây bẩn ra tay và ra quần áo mà chủ yếu quan tâm tới hoạt động vẽ, hoạt động nặn, Hoạt động làm đồ dùng, đồ chơi, Hoạt động xé, dán…

    Mặt khác giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc thay đổi hình thức tổ chức tiết học để tạo hứng thú cho trẻ tham gia vào giờ học đạt hiệu quả cao hơn.

    2.3. Các biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Điền Thượng huyện Bá Thước

    2.3.1. Biện pháp 1: Tăng cường tính khoa học trong thực hiện chương trình giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo qua hoạt động tạo hình

    Chương trình giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thông qua hoạt động tạo hình được quy định trong chương trình giáo dục. Tuy nhiên thực tế nội dung hoạt động tạo hình trong trường mầm non là một phương tiện phát triển thẩm mỹ cho trẻ rất hữu hiệu. Thông qua hoạt động tạo hình giúp trẻ phát triển các chức năng tâm lí như khả năng tri giác các sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó buộc trẻ phải tư duy và quá trình đó làm phát triển óc tưởng tượng sáng tạo, ham muốn tạo ra cái đẹp. Đây là yếu tố cần thiết góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách. Chính vì thế rất cần sự sáng tạo của giáo viên trong việc thực hiện chương trình giáo dục thẩm mỹ thông qua các hoạt động tạo hình để tăng cường các hoạt động giáo dục cho trẻ, tạo sự hứng thú, mới lạ cho trẻ. Có khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống, và trong tác phẩm nghệ thuật. Hình thành được khả năng sáng tạo và kỹ năng tạo hình. Đặc biệt thông qua nội dung chương trình tạo hình mới giúp trẻ yêu thích và hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật hơn.

    Nội dung

    Thực hiện các hoạt động giáo dục thẩm mỹ thông qua việc:

    – Thực hiện các hoạt động xé, dán, cắt, vẽ, nặn, tô thông qua việc tạo ra các ví dụ minh họa, tạo môi trường sinh động để trẻ dễ dàng hình thành được kỹ năng của mình.

    – Thực hiện các hoạt động giáo dục thẩm mỹ kết hợp với ngoại khóa cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi để trẻ được trải nghiệm và khám phá các hoạt động thực tế để phát triển tư duy thẩm mỹ và khả năng sáng tạo nghệ thuật.

    – Thực hiện các hoạt động tạo hình để trẻ tự thực hành và rèn luyện kỹ năng tạo hình của mình.

    Cách thức thực hiện

    Thứ nhất: Giáo viên tiến hành thực hiện nội dung chương trình giáo dục thẩm mỹ giáo viên cần căn cứ vào chương trình giáo dục trẻ mầm non và mẫu giáo đã được quy định theo khung cơ bản để tiến hành lập kế hoạch thực hiện xây dựng chương trình giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình về nội dung chương trình trên cơ sở số giờ, số tiết giáo dục thẩm mỹ của từng lớp học.

    Thứ hai: Giáo viên khi được chỉ đạo về thực hiện nội dung giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình cần phải tiến hành thực hiện. Đầu tiên cần phải căn cứ vào đặc điểm tâm lý của trẻ từng lứa tuổi để lấy đó làm căn cứ xây dựng nội dung giáo dục thẩm mỹ. Nội dung giáo dục thẩm mỹ trước đó thường được xây dựng theo hình thức hoạt động đơn giản, không sinh động và thu hút được sự chú ý của trẻ cho nên giáo viên cần phải chú ý và cân nhắc khi tiến hành thực hiện nội dung cho hoạt động giáo dục này. Giáo viên nhà trường phải chuẩn bị chi tiết về từng bài dạy thông qua những hoạt động gì để tiến hành lập kế hoạch bài giảng cho từng tiết học. Thông thường mỗi tuần đối với trẻ thường bao gồm cả hoạt động chơi, ăn và các hoạt động giáo dục về thể chất, giáo dục về sức khỏe và dinh dưỡng và giáo dục về tình cảm và thẩm mỹ. Chính vì thế giáo dục thẩm mỹ cần có những nội dung hết sức ngắn gọn nhưng lại phải giúp trẻ hình thành được những kỹ năng cơ bản về tạo hình đồng thời phát triển được tình cảm và tâm lý của mình. Chính vì thế muốn xây dựng được nội dung giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình, người giáo viên cần phải nắm vững về thời lượng và yêu cầu trong khi thực hiện giáo dục trẻ. Đồng thời người giáo viên phải tiến hành thu thập những hoạt động giáo dục mang tính thực tiễn cao.

    Thứ ba: Đánh giá về khả năng nhận biết của trẻ đối với các đồ vật, việc bắt chước hoạt động tạo hình và khả năng tư duy và sáng tạo qua hoạt động của trẻ. Thông qua việc đánh giá các hoạt động của trẻ sẽ là cơ sở đánh giá được khả năng giảng dạy của giáo viên.

    2.3.2. Biện pháp 2: Đổi mới phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình .

    Giáo dục thẩm mĩ là nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục ở các cấp học hiện nay, góp phần tích cực trong việc hình thành nhân cách, nâng cao năng khiếu thẩm mĩ cho con người. Ngoài ra giáo dục thẩm mĩ còn giúp mỗi cá nhân có khả năng nhận biết và đánh giá đúng về ý nghĩa của cái đẹp cũng như giá trị và quy luật của cái đẹp. Góp phần phát huy khả năng sáng tạo và gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

    Mục tiêu của giáo dục thẩm mĩ là phát triển đồng đều cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong con người. Thông qua các nội dung, giáo trình giáo dục thẩm mĩ nâng cao được nhận thức, thay đổi hành vi và hình thành kỹ năng sống cho giáo viên và học sinh. Chính vì thế phương pháp tổ chức giáo dục thẩm mỹ thông quan hoạt động tạo hình rất cần đến những phương pháp tổ chức sáng tạo, phát huy mục tiêu của giáo dục thẩm mỹ nói chung và đảm bảo được quá trình nhận thức của lứa tuổi là trẻ mầm non nói chung.

    Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình nhằm tránh sự nhàm chán, lặp đi lặp lại trong quá trình dạy học và giáo dục của giáo viên, tạo được sự hứng thú đối với trẻ, giúp trẻ phát triển được nhân cách toàn diện.

    Nội dung

    Trẻ mầm non bắt đầu tiếp xúc với hoạt động tạo hình từ năm 3 tuổi. Trẻ em đặc biệt thích thú với những hoạt động giáo dục mới lạ và có tính tượng hình cao. Chính vì thế đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cần phải chú ý vào đặc điểm của trẻ. Nội dung về đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình bao gồm:

    Đổi mới về hình thức tổ chức trên lớp học cho trẻ theo các tiêu chí sau:

    – Theo mục đích và nội dung giáo dục có tổ chức theo hoạt động của chủ định của giáo viên hay tổ chức theo sở thích của trẻ.

    – Theo không gian dạy học có tổ chức ở trong lớp học và tổ chức ngoài lớp học.

    – Theo số lượng trẻ có tổ chức theo cặp, theo nhóm nhỏ hay nhóm lớn.

    Đổi mới về mục tiêu giáo dục đối với trẻ đó là xác định phải cung cấp hiểu biết về cái đẹp, tạo cho trẻ có cảm xúc về cái đẹp thông qua việc tạo môi trường trong lớp học và ngoài lớp học.

    Chú trọng rèn luyện kỹ năng tạo hình cho trẻ ngay từ khi mới bắt đầu tiếp xúc với môn học tạo hình.

    Cách thức thực hiện:

    Thứ nhất: giáo viên phải xác định được nhu cầu đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình là một nhu cầu cần thiết và cần phải tiến hành để giúp trẻ trong nhà trường hình thành được các kỹ năng nhận biết và diễn đạt tình cảm của mình đối với mọi vật xung quanh. Các phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình trước đây không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường cần tiến hành thay đổi hoặc đổi mới hoàn toàn.

    Thứ hai: Xác định và nắm bắt được tâm lý của trẻ để hướng dẫn cho trẻ bắt nhịp với những phương thức tổ chức hoạt động tạo hình mới của giáo viên. Cần có sự phân loại trẻ trong quá trình đổi mới phương thức tạo hình. Đối với những trẻ có khả năng nhận thức và tiếp thu kém thì giáo viên cần phải biết rõ để ghép vào hoạt động với những trẻ có khả năng tiếp thu nhanh để các trẻ được phát triển đồng đều hơn. Đặc biệt cần xác định rằng nhu cầu về thẩm mỹ cũng như khả năng nhận biết của trẻ để định hướng cho các phương pháp tổ chức và nội dung giáo dục.

    Thứ ba: Tiến hành xác định các phương thức tổ chức tích cực, sáng tạo nhưng phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường. Các phương thức thức tổ chức đó là tổ chức theo nhóm học sinh, theo cặp học sinh, trong hoặc ngoài lớp học. Cụ thể đối với việc thay đổi môi trường lớp học tạo môi trường gần gũi cho trẻ cần:

    Trang trí tạo môi trường nghệ thuật để gây cảm xúc, gây ấn tượng cho trẻ về nghệ thuật tạo hình.

    ( Mảng tường gây sự chú ý của trẻ khi đến lớp)

    Với môi trường trong lớp: tôi luôn sắp xếp đồ dùng các nguyên vật liệu một cách hợp lí khoa học, mang tính thẫm mĩ, thu hút được sự chú ý của trẻ.

    ( Các con vật được làm từ các nguyên vật liệu phế thải)

    ( Vườn hoa do cô tự tạo gây hứng thú cho trẻ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ Tự Kỷ Học Hòa Nhập Lớp Mẫu Giáo 5 – 6 Tuổi Trường Mầm Non Thị Trấn Thường Xuân
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Viên Giáo Dục Học Sinh Khuyết Tật Hoà Nhập Lớp 5 Ở Trường Tiểu Học Bắc Lương
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt
  • Giáo Dục Giới Tính Cho Trẻ Em Như Thế Nào Là Hiệu Quả Nhất?
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Mẫu Giáo 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Hướng Xây Dựng Chương Trình Giáo Dục Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Skkn Một Số Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Các Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Cho Học Sinh Trường Tiểu Học Thị Trấn Cẩm Thủy
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Để Thực Hiện Tốt Tiết Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Khối 6
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Phẩm Chất Cho Học Sinh Lớp 5 Tại Trường Tiểu Học Quảng Tâm
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Quản Lý, Giáo Dục, Rèn Luyện Kỷ Luật Đối Với …
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO

    5 – 6 TUỔI HỌC TẬP LÀM THEO TẤM GƯƠNG

    ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

    Người thực hiện: Mai Thị Thu

    Chức vụ: Giáo viên

    Đơn vị công tác: Trường Mầm non Nga Văn

    SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

    THANH HOÁ NĂM 2022

    MỤC LỤC

    TT

    Đề mục

    Trang

    1

    1. MỞ ĐẦU

    1

    2

    1.1. Lí do chọn đề tài

    1

    3

    1.2. Mục đích nghiên cứu

    2

    4

    1.3. Đối tượng nghiên cứu

    2

    5

    1.4. Phương pháp nghiên cứu

    2

    6

    2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    7

    2.1. Cơ sở lí luận

    2

    8

    2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    3

    9

    2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

    4

    10

    4

    11

    2.3.2. Biện pháp 2. Giáo dục trẻ thông qua các hoạt động trong ngày

    5

    12

    2.3.3. Biện pháp 3: Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm để trẻ học tập và làm theo tấm gương của Bác tốt hơn.

    12

    13

    2.3.4. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh trong việc giáo dục trẻ học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    13

    14

    2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với

    hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

    14

    15

    3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    15

    16

    3.1. Kết luận

    15

    17

    3.2. Kiến nghị

    15

    18

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    19

    PHỤ LỤC

    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Lý do chọn đề tài

    Như chúng ta đã biết bậc học mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên trong ngành giáo dục và đào tạo. Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi đầu tiên trong đời mỗi con người và giáo dục đạo đức là một phần không thể thiếu trong giáo dục nhân cách con người. Vì vậy chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non mà tốt sẽ có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở các bậc học tiếp theo do vậy giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ, trí tuệ, là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt.

    Trong điều kiện kinh tế phát triển đang trên con đường hội nhập, đất nước chúng ta phải giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau. Làm thế nào để cho thế hệ trẻ của chúng ta “Hòa nhập mà không hòa tan” trong mỗi chúng ta vẫn giữ được những gì gọi là vốn văn hóa của dân tộc Việt trong thời đại mới thì việc giáo dục cho trẻ phát triển về trí tuệ thôi chưa đủ mà phải giáo dục trẻ biết giữ được truyền thống văn hóa vốn có của cha ông từ ngàn xưa là nhiệm vụ cần cập nhật nhất trong các mục tiêu phát triển con người toàn diện hiện nay. Chính vì vậy việc giáo dục đạo đức cho trẻ cần phải được thực hiện thường xuyên. Chúng ta đã từng nghe 2 câu thơ mà cha ông ta đã đúc kết thành kinh nghiệm trong việc nuôi dạy con cái.

    “Uốn cây từ thuở còn non

    Dạy con từ thuở con còn ngây thơ”. Vì vậy trường mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và bồi dưỡng cho các cháu trở thành người công dân có ích cho xã hội, năm học 2022 – 2022 là năm học “Tiếp tục thực hiện đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”, ngành giáo dục nói chung, bậc học giáo dục mầm non nói riêng vẫn đang tiếp tục thực hiện cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”. Lời Bác, tình Bác đã, đang và sẽ là hành trang cho bao thế hệ trẻ bước vào đời và đang vĩnh hằng cùng năm tháng

    2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    2.2.1. Thuận lợi

    – Là trường chuẩn quốc gia mức độ I và đang phấn đấu trở thành trường chuẩn quốc gia mức độ II trong năm học 2022 – 2022, được đoàn đánh giá ngoài xếp mức độ 3 năm học 2022 – 2022, ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm tạo điều kiện cho giáo viên học tập và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ một cách tốt nhất đặc biệt là việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua nhiều phong trào và hoạt động như: Phổ biến các câu nói hay của Bác cho giáo viên học tập. Động viên cho giáo viên sưu tầm thêm các bài hát, câu chuyện về Bác để dạy cho trẻ.

    – Với đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ, khỏe, nhiệt tình, có tinh thần học hỏi ở bạn bè, đồng nghiệp, có trình độ đạt chuẩn luôn quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong công việc.

    – Qua những năm đứng lớp 5 – 6 tuổi thực hiện công tác chủ nhiệm và chăm sóc các trẻ tôi nhận thấy trẻ ở lớp B5 do tôi chủ nhiệm rất thích được nghe tôi kể chuyện và tham gia hát múa về Bác Hồ các trẻ luôn dành những ánh mắt yêu thương, thái độ kính trọng khi được nghe cô nói về Bác và tôi có thể dựa vào điều kiện thuận lợi này để giáo dục cho trẻ học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

    2.2.2.Khó khăn

    – Do đặc thù của công việc nên việc sưu tầm các tư liệu để dạy cho trẻ học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn có sự hạn chế.

    – Trẻ ở tuổi mầm non còn nhỏ chưa hiểu nhiều những kiến thức về Bác Hồ.

    – Đa số các gia đình là thuần nông công việc nhiều hay đi làm ăn xa nên không có nhiều thời gian quan tâm đến trẻ.

    – Còn một số bộ phận phụ huynh chiều chuộng con, dượng con nên khó khăn trong việc phối kết hợp để giáo dục.

    Với những thuận lợi và khó khăn trên tôi luôn trăn trở về lời dạy của Bác: “Các thầy cô giáo phải tìm cách dạy, dạy cái gì, dạy như thế nào để trò hiều chóng nhớ lâu, tiến bộ nhanh. Thầy dạy tốt trò học tốt để thiết thực góp phần đào tạo những hiền tài cho quốc gia”. Do vậy tôi đã tiến hành khảo sát thực tế trên trẻ của lớp. Phụ lục 1 – Bảng 1 (Kết quả khảo sát trẻ đầu năm học tháng 9/2017)

    2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

    Người có nói: “Trẻ em như cái gương trong sáng, thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu, cho nên phải chú ý giáo dục tư tưởng chính trị trước, chính thầy giáo cô giáo cũng phải tiến bộ về tư tưởng. Người còn nhấn mạnh “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đứccho nên thầy (cô) giáo phải gương mẫu” . – Để lời nói đi đôi với việc làm tôi giáo dục trẻ biết yêu thương, giúp đỡ bạn yếu hơn mình hay khuyết tật , chậm nói học chung lớp. Đến trường gặp các cô phải chào hỏi lễ phép không chỉ chào có mình cô giáo của mình mà gặp các cô giáo hay nhân viên trong nhà trường cũng cần phải chào hỏi lễ phép thể hiện sự kính trọng đối với các cô hay khi có khách đến lớp biết chào hỏi lễ phép và giữ trật tự khi cô nói chuyện với khách. Biết chào ông, bà, bố, mẹ trước khi vào lớp hay chào cô giáo, tạm biệt các bạn trước khi ra về. Hàng ngày tôi cho trẻ lớp tôi thực hành tính kỷ luật bằng cách xếp hàng ra tập thể dục, khi đi vệ sinh trước khi ăn không chen lấn xô đẩy, không nói chuyện trong giờ học, giờ ăn ngồi nghiêm túc.

    Qua câu chuyện “Ba chiếc ba lô” tôi giáo dục trẻ học tập ở Bác đức tính biết quan tâm chia sẻ, phân công công việc cho nhau hay dạy trẻ tính trung thực biết nhận ra lỗi của mình qua câu chuyện “chia kẹo”…

    Phụ lục 3 – ảnh 2 (Bác Hồ ở trại trẻ mồ côi Kim Đồng – Thanh Hóa)

    Trong thư gửi các cháu nhi đồng năm 1946 có đoạn viết:

    “Nay Bác viết mấy chữ khuyên các cháu:

    1. Phải siêng học

    2. Phải giữ sạch

    3. Phải giữ kỷ luật

    4. Phải làm theo đời sống mới

    5. Phải yêu thương, giúp đỡ cha mẹ, anh em” . để mỗi ngày đều có sức khỏe tốt, cơ thể phát triển khỏe mạnh, hài hòa, cân đối.

    Phụ lục 4 – Ảnh 3 (Bác Hồ tập thể dục)

    Biết cách ăn mặc gọn gàng giản dị khi đến lớp. Đó cũng là học tập phong cách giản dị của Bác dù ở nhà hay đi đâu cũng vậy.

    Giáo dục trẻ không được xem nhẹ bộ phận nào trên cơ thể vì bộ phận nào cũng quan trọng và muốn chúng được khỏe mạnh thì chúng ta cần tập thể dục và giữ vệ sinh hàng ngày.

    Thể hiện bằng hành động: Mỗi buổi sáng tôi luôn dành15 phút tập thể dục sáng cho trẻ. Thực hiện các hoạt động phát triển vận động, chơi các trò chơi vận động. Dạy trẻ biết rửa tay trước khi ăn sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩnbiết cách ăn mặc gọn gàng giản dị.

    Phụ lục 5 – Ảnh 4 (Thể dục buổi sáng của các bé)

    Qua quá trình giáo dục tích hợp, trẻ lớp tôi đã rất hứng thú khi tham gia các hoạt động thể chất, hoạt động này đã trở thành thói quen đối với sinh hoạt hàng ngày của trẻ lớp tôi.

    Sinh thời Bác đã chăm lo dạy dỗ các cháu từ việc nhỏ tới việc lớn: “các cháu phải chăm ngoan, ở nhà nghe lời bố mẹ, đi học phải siêng năng, đối với thầy cô phải kính trọng lễ phép, đối với bạn bè phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau” [11]. Do đó tôi luôn nhắc nhở trẻ có thái độ lễ phép, kính trọng, yêu thương ông bà cha mẹ, người lớn tuổi, biết đi thưa về chào.

    Ví dụ:

    Có thể dạy trẻ một số câu ca dao tục ngữ, các bài thơ câu chuyện bài hát về tình cảm của ông bà cha mẹ và thông qua đó giáo dục trẻ phải biết yêu thương kính trọng ông bà cha mẹ vì đó chính là người đã sinh ra mình, chăm sóc mình khỏe mạnh như:

    “Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

    Hay:

    Đi khắp thế gian không ai khổ bằng mẹ

    Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha

    Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc

    Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không”

    Hoặc qua các bài thơ, câu chuyện: Ba cô gái, bông hoa cúc trắng,lấy tăm cho bà, làm anh, thăm nhà bà, thương ông

    Dạy trẻ thể hiện hành động yêu quý ông bà, cha mẹ của mình như: Đi thưa về dạ, nghe lời kính trọng ông bà, cha mẹ ngoan ngoãn lễ phép, dạy trẻ quan tâm đến mọi người như: Thăm hỏi khi thấy bố mẹ mệt mỏi, rót nước mời bố mẹ ông bà khi đi làm về

    Dạy trẻ có những hiểu biết, yêu quý tất cả các nghề trong xã hội, có thái độ quý trọng tất cả các nghề không phân biệt đối xử với nghề nào cả bởi nghề nào cũng mang lại lợi ích cho chúng ta và đều đáng trân trọng.

    Ví dụ: Khi cô dạy trẻ, đối với những nghề quen thuộc như bác sĩ, giáo viên, y tátrẻ dễ dàng nhận ra những nghề này mang lại lợi ích cho trẻ và trẻ có thái độ kính trọng những nghề đó còn đối với những nghề như công nhân quét rác, đổ rác mặc dù trẻ vẫn thường thấy hằng ngày nhưng trẻ vẫn không biết được những cô chú làm nghề này sẽ mang lại lợi ích gì cho trẻ và thậm chí trẻ có thái độ khinh rẻ đối với những nghề đó. Vì thế tôi nhận ra điều này và đã dạy cho trẻ biết về công việc của các cô chú công nhân vệ sinh môi trường, dạy cho trẻ học các bài thơ nói về những công việc thầm lặng nhưng rất đáng quý vì nhờ có các cô các chú mà đường phố sạch sẽ, chúng ta sẽ được hít thở không khí trong lành rất tốt cho sức khỏe. Hay các bác nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo cho chúng ta bát cơm dẻo thơm chúng ta phải biết quý t

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mẫu Giáo 3
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Giúp Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quảgiáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs
  • Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thpt: Việc Làm Cần Thiết
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống (Kns) Cho Học Sinh Lớp 2 Thôngqua Các Môn Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100