Top 9 # Một Số Biện Pháp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Thông Qua Môn Sinh Học 6 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Thông Qua Môn Sinh Học Lớp 6. Thcs Bình Mỹ

Một số biện pháp giáo dục bảo vệ mơi trường thơng qua mơn sinh học 6 MỤC LỤC Nội dung Trang 1.Tóm tắt đề tài 2 2.Giới thiệu 33. Phương pháp 4 3.1. Khách thể nghiên cứu 4 3.2. Thiết kế nghiên cứu 4 chúng tôi trình nghiên cứu 5 3.4. Đo lường và thu thập dữ liệu 54.Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả 6 5.Kết luận và khuyến nghò 7 6.Tài liệu tham khảo 8 7. Phụ lục của đề tài 8 GDMT trong bài học55:Thực vật góp phần điều hòa khí hậu 8 GDMT trong bài học 59:Bảo vệ sự đa dạng của thực vật 9 Đề kiểm tra sau tác động 10 Đáp án bài kiểm tra sau tác động 11Bảng điểm lớp thực nghiệm 12Bảng điểm lớp đối chứng 13 Giáo viên: Trần Thị Hạnh – Trường THCS Bình Mỹ – Năm học 2013-2014

– 1 – Một số biện pháp giáo dục bảo vệ mơi trường thơng qua mơn sinh học 6 Tên đề tài : một số biện pháp giáo dục bảo vệ mơi trường thơng qua mơn sinh học 6Tên tác giả : Trần Thị Hạnh, trường THCS Bình Mỹ. 1.TĨM TẮT ĐỀ TÀIMơi trường là khơng gian sinh sống của con người và sinh vật.Đó không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng, phát triển mà còn là nơi lao động và nghỉ ngơi, hưởng thụ và trau dồi những nét văn hố, thẩm mĩ,…Trong nh÷ng n¨m gÇn ®©y, mçi ngêi chóng ta cµng c¶m thÊy những tác hại to lớn cđa sù ” nhiƠm m”i trêng đã gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đến sự sống. §ã chÝnh lµ hËu qu¶ cđa nh÷ng hµnh ®éng thiÕu hiĨu biÕt cđa mçi ngêi nãi riªng vµ cđa một số bộ phận trong céng ®ång nãi chung. H¬n lóc nµo hÕt, mçi ngêi ®Ịu nhËn thÊy cÇn ph¶i chÊn chØnh l¹i nh÷ng hµnh ®éng cđa chÝnh m×nh, cÇn quan t©m ch¨m sãc cho m”i trêng bao quanh ta, t¹o ®iỊu kiƯn cho sù tån t¹i vµ ph¸t triĨn cđa chÝnh m×nh vµ thÕ hƯ con ch¸u mai sau.Cïng chung mét mong mn v× mét m”i trêng xanh – s¹ch – ®Đp, Bé gi¸o dơc – §µo t¹o ®· tiÕn hµnh chØ ®¹o viƯc tÝch hỵp gi¸o dơc b¶o vƯ m”i trêng vµo mét sè m”n häc tõ n¨m häc 2008 – 2009. Trong ®ã, viƯc tÝch hỵp gi¸o dơc b¶o vƯ m”i trêng trong c¸c mơn học:lí, hố, sinh, văn, sử, địa, GDCD, cơng nghệ sÏ gióp c¸c em tiÕp thu mét c¸ch nhĐ nhµng, hiƯu qu¶ th”ng qua c¸c trß ch¬i, c¸c ho¹t ®éng tËp thĨ.Xt ph¸t tõ nh÷ng lý do trªn, t”i xin m¹nh d¹n chän ®Ị tµi: “Mét sè biƯn ph¸p gi¸o dơc b¶o vƯ m”i trêng cho häc sinh th”ng qua bộ mơn sinh học lớp 6″Giải pháp của tơi là sử dụng một số biện pháp để giáo dục mơi trường thơng qua bộ mơn sinh học 6 thay vì chỉ sử dụng các hình ảnh tĩnh trong SGK và coi đó là điều áp đặt đối với học sinh.Nghiên cứu được tiến hành nghiên cứu tại THCS Bình Mỹ và được áp dụng tại trường THCS Bình Mỹ trên hai nhóm tương đương: hai lớp 6 .Lớp 6A là lớp thực nghiệm. Lớp 6B là lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy các bài 55, 59( sinh học 6) Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh: lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng. Điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 7,75; điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng là 7,0. Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy p < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp Giáo viên: Trần Thị Hạnh – Trường THCS Bình Mỹ – Năm học 2013-2014 – 2 – Một số biện pháp giáo dục bảo vệ mơi trường thơng qua mơn sinh học 6 thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng minh rằng sử dụng các biện pháp giáo dục mơi trường trong dạy học làm nâng cao khả năng nhận thức của học sinh về việc bảo vệ mơi trường và ý thức tích cực tự giác được nhân lên rõ rệt.2.GIỚI THIỆUKể từ năm học 2008-2009 Bộ GD& ĐT xây dựng bộ tài liệu tích hợp giáo dục

ĐÁP ÁN BÀI KIỂM TRA SAU TÁC ĐỘNG I. Trắc nghiệm.A.Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng : (1 điểm/câu)1. a 2.b 3. d 4.cB. Điền khuyết:mỗi vò trí đúng 0,5 điểm(1)Hoạt động của con người(2) tự nhiênII. Tự luận1.(2,5đ)Bản thân em đã có những hành động để bảo vệ môi trường quanh khu vực trường học của em là:– Khôngvứt rác bừa bãi, đổ rác đúng nơi quy đònh– Không bẽ gãy, chặt phá cây xanh trong vườn trường-Tham gia đầy đủ các buổi lao động:trồng cây, chăm sóc bồn hoa, cây cảnh, -Tuyên truyền cho các bạn khác cùng hành động bảo vệ môi trường.– Lên án các hành vi sai trái của các bạn khác trong trường, 2.(2,5đ)Khi thấy một người vứt xác chết súc vật xuống sông, em sẽ xử lí như sau:Giải thích cho người đó biết làm như thế là không đúng và khuyên họ không bao giờ tái phạm nữa mà nên xử lí theo cách đào hố chôn sâu.Giải thích vì khi vứt xác chết súc vật xuống sông sẽ gây ô nhiễm nguồn nước, gây hôi thối ô nhiễm không khí xung quanh khu vực đo,đồng thời khó phân huỷ xác chết đó.

Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Thcs Bảo Vệ Môi Trường Qua Môn Lịch Sử

Sống trong xã hội hiện đại, con người được chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, kéo theo đó là sự phát triển của nền kinh tế thị trường và các lĩnh vực khác. Đời sống của con người ngày một nâng cao về mọi mặt, song hiện nay chúng ta lại đang phải đối mặt với một mối lo ngại được tạo ra bởi mặt trái của sự phát triển. Đó là tình trạng môi trường đang ô nhiễm trầm trọng, cuộc sống tốt đẹp của con người trên trái đất đang bị đe dọa. Đặc biệt là vào những thập niên cuối thế kỉ XX, ô nhiễm môi trường đã trở thành một vấn đề bức xúc, không còn là của riêng một quốc gia nào. Nó đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới. Hàng ngày, hàng giờ, chúng ta đang cảm nhận được sự thay đổi của trái đất như: Biến đổi khí hậu, sự nóng lên của trái đất khiến thiên tai, lũ lụt xảy ra thường xuyên, ô nhiễm nguồn nước, nguồn không khí, đất đai canh tác dần dần bị thu hẹp, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt…

Như vậy, nhiệm vụ của thầy cô giáo lúc này không chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức phổ thông, mà còn phải tích hợp giáo dục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, kĩ năng sống, ý thức trách nhiệm xã hội…, trong đó giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua các môn học và các hoạt động ngoại khóa là không thể bỏ qua.

Riêng bộ môn Lịch sử, một môn khoa học xã hội, với nhiệm vụ trọng tâm là giúp học sinh hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp về con người, về cuộc sống, về quê hương, đất nước, biết tự hào về những trang sử hào hùng của dân tộc mà ông cha ta đã làm nên trong quá khứ, về cội nguồn của dân tộc… để tiếp thêm niềm tin, sức mạnh cho các em trên con đường tiến đến tương lai. Ngoài ra, môn học này còn giúp học sinh có được những hiểu biết về văn hóa, xã hội, địa lí… đặc biệt tôi nhận thấy trong chương trình bộ môn Lịch sử THCS có rất nhiều bài học từ lớp 6 đến lớp 9, giáo viên có thể tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em. Điều này cũng phù hợp với mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học và nhiệm vụ giáo dục trong thời kì mới mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đặt ra… Đó là lí do tôi chọn đề tài này: ” Một số biện pháp giáo dục học sinh THCS bảo vệ môi trường qua bộ môn Lịch sử”.

Thứ nhất: Tái hiện quá trình Lịch sử như nó đã tồn tại trên cơ sở nắm vững các sự kiện Lịch sử chính xác, khách quan, khoa học, bằng cách sử dụng các cách miêu tả, tường thuật kết hợp với tư liệu và đồ dùng trực quan để khắc sâu kiến thức cho học sinh, đồng thời liên hệ với tình hình hiện nay để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.

Ví dụ: Ở bài mở đầu cho chương trình Lịch sử lớp 6 “Xã hội nguyên thủy”, chúng ta cho các em xem tranh ảnh về cuộc sống, sinh hoạt của người nguyên thủy kết hợp với việc miêu tả về các công cụ đá, cảnh săn bắn… để thấy được con người thời nguyên thủy đã dựa vào tự nhiên để tồn tại và phát triển như thế nào – Từ đó giáo dục học sinh, giúp các em hiểu thiên nhiên có vai trò vô cùng quan trọng để đảm bảo cuộc sống cho con người lúc bấy giờ. Nhưng giáo viên cũng cần nhấn mạnh rằng việc khai thác thiên nhiên thời kì đó chỉ ở mức độ nhỏ với những công cụ thô sơ ( công cụ đá…), không vì mục đích lợi nhuận và chưa gây ra những tác động xấu cho môi trường như hiện nay. Qua việc so sánh đó, chúng ta giáo dục các em phải biết sử dụng, cải tạo thiên nhiên hợp lí, có hiệu quả.

Thứ hai: Giáo viên cần giúp học sinh biết so sánh, đối chiếu kiến thức giữa các bài học, để rút ra nhận xét về vai trò của thiên nhiên với con người qua các thời kì lịch sử.

Ví dụ: Khi dạy Lịch sử 6, bài 4 và bài 5 “Lịch sử thế giới cổ đại với sự hình thành các quốc gia đầu tiên ở phương Đông và phương Tây” chúng ta có thể cho học sinh so sánh với bài 1 “Xã hội nguyên thủy” để học sinh hiểu rõ rằng, trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, con người đã bớt lệ thuộc vào tự nhiên như thời kì nguyên thuỷ, và biết lợi dụng, khai thác những điều kiện thuận lợi của tự nhiên để cải thiện đời sống và tiến bộ về nhiều mặt. Điển hình như nhà nước đã ra đời ở những vùng thuận lợi cho sản xuất, cho cuộc sống của con người nói chung. Vì vậy, các quốc gia cổ đại thường xuất hiện ở lưu vực các sông ( Sông Nin ở Ai Cập; vùng Lưỡng Hà ở Trung Đông; Sông Hằng ở Ấn Độ; Sông Hoàng Hà ở Trung Quốc) hay những vùng thuận lợi cho việc buôn bán, giao thông (vùng ven Địa Trung Hải). Đó là một bước tiến của xã hội loài người.

Ví dụ 1: Dạy bài 14 “Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông- Nguyên (Thế kỉ XIII)” (Lịch sử 7) có thể đặt câu hỏi: Bên cạnh những nguyên nhân thắng lợi mà các em đã được học, những yếu tố tự nhiên nào cũng góp phần mang đến thắng lợi cho những cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên ?

Gợi ý: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã biết dựa vào địa hình sông – núi hiểm trở, khai thác hiện tượng thiên nhiên, đó là sự lên-xuống của thủy triều, để đánh thắng giặc, làm nên chiến thắng vẻ vang trong trận Bạch Đằng năm 1288. (Có thể liên hệ thêm trận đánh của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938)

Ví dụ 2: Khi dạy xong bài “Lịch sử thế giới cận đại ( từ giữa thế kỉ thứ XVI đến năm 1917)” (Lịch sử 8), giáo viên có thể đặt câu hỏi để kiểm tra:

Từ bao giờ thì con người có những tác động mạnh vào môi trường khiến tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt và môi trường bị ô nhiễm? Con người cần phải làm gì để khắc phục tình trạng đó ?

Từ thời cận đại trở đi, sự lao động sáng tạo của con người đã tác động mạnh mẽ vào tự nhiên như chinh phục, cải tạo tự nhiên; khoa học- kĩ thuật phát triển, sản xuất tăng lên… đồng thời sự tàn phá của con người đối với tự nhiên ngày càng tăng, tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt. Đây là hiểm họa đối với con người, phải hứng chịu “sự trả thù của tự nhiên” do làm ô nhiễm, phá huỷ môi trường… và sau đó con người lại phải tốn kém không ít tiền của để tìm cách chế ngự, khắc phục những ảnh hưởng do chính mình gây ra, tuy vậy cũng không thể nào khôi phúc lại trạng thái ban đầu.

Ví dụ 3: Dạy bài 3, 4 “Chủ nghĩa Tư bản được xác lập trên phạm vi thế giới; Phong trào công nhân và sự ra đời của chủ nghĩa Mác” (Lịch sử 8) có thể đặt câu hỏi:

Hệ quả của cách mạng công nghiệp là gì? Ảnh hưởng của kiểu lao động mới đến sức khoẻ người lao động và môi trường sinh sống ?

Ví dụ 4: Dạy bài 12- Lịch sử 9 “Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của cách mạng khoa học- kĩ thuật” có thể đặt câu hỏi:

Bên cạnh những mặt tích cực, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã mang lại những hậu quả tiêu cực nào cho thiên nhiên, môi trường?

(Gợi ý: Khoa học- kĩ thuật phát triển khiến cho con người có thể chế tạo ra các loại vũ khí và các phương tiện quân sự có sức tàn phá và hủy diệt sự sống. Nạn ô nhiễm môi trường, ô nhiễm khí quyển, đại dương, sông hồ… và cả những “bãi rác” trong vũ trụ, việc nhiễm phóng xạ nguyên tử, những dịch bệnh mới nan y… đã đe dọa đến cuộc sống con người).

Khi dạy bài 12 “Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của cách mạng khoa học- kĩ thuật” (Lịch sử 9), để nhấn mạnh mặt trái của sự phát triển có thể cho học sinh xem một số bức tranh “biết nói” về tình hình môi trường hiện nay như:

Thứ 5: Khi tích hợp giáo dục môi trương giáo viên nên liên hệ tình hình thời sự nóng hổi hiện nay về vấn đề môi trường ở Việt Nam và thế giới như: Sóng thần ở các nước Đông Nam Á( Inđônêxia), hạn hán, cháy rừng, sạt lở đất ở các vùng núi… do biến đổi khí hậu. Ngoài ra giáo viên có thể kể thêm những câu chuyện thực tế về tình hình môi trường hiện nay ở nước ta: Hạn hán ở Tây Nguyên dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao, thiếu nước sinh hoạt, băng tuyết ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, ngập lụt ở thành phố Hồ Chí Minh…để tăng sức thuyết phục với học sinh.

* Những bài học có thể tích hợp giáo dục môi trường trong chương trình Lịch sử THCS:

Sau khi tiến hành dạy tiết Lịch sử có tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường ở Bài 12 ” NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG KHOA HỌC – KĨ THUẬT”, tôi nhận thấy học sinh rất hứng thú với giờ học, hăng say phát biểu bộc lộ những suy nghĩ, quan điểm riêng của mình về vấn đề bảo vệ môi trường. Khi bỏ phiếu thăm dò về giờ học ở cả 3 lớp 9 tôi giảng dạy, kết quả thu được cụ thể như sau:

Đây là kết quả rất đáng khích lệ, là động lực lớn cho giáo viên giảng dạy. Qua đây có thể thấy được việc đưa vấn đề giáo dục môi trường vào bài giảng Lịch sử là một trong những giải pháp tích cực để đổi mới phương pháp dạy học, thu hút sự quan tâm của học sinh với môn học này.

Bảo vệ môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu. Vì vậy là người thầy, người cô đứng trên bục giảng, chúng ta không thể không giáo dục học sinh của mình biết yêu quý, bảo vệ môi trường. Bởi bức tranh về môi trường thiên nhiên, cuộc sống trong tương lai của các em có tươi sáng hay không, là hoàn toàn phụ thuộc vào hành động ngày hôm nay. Nên ngay từ bây giờ, những người giáo viên chúng ta hãy cố gắng thực hiện nghiêm túc yêu cầu giáo dục lồng ghép tích hợp của Bộ giáo dục và Đào tạo đã đề ra cho các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng, với phương châm “Vì tương lai con em chúng ta”.

Một Số Biện Pháp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Tiểu Học

Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu họcPHẦN I: MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài: Năm học 2009 – 2010 là năm học thứ ba ngành giáo dục thực hiện cuộc vận động ” Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” trong đó có nội dung xây dựng cảnh quan sư phạm xanh, sạch, đẹp đã được đông đảo cán bộ giáo viên và học sinh hưởng ứng. Muốn thực hiện tốt công tác này trước hết phải giáo dục cho học sinh có ý thức bảo vệ môi trường. Việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay là một việc làm bức thiết. Trong những năm gần đây, càng ngày mỗi người chúng ta càng cảm thấy áp lực của sự ô nhiễm môi trường đang đè nặng lên chính mình. Đó là hậu quả của những hành động thiếu hiểu biết của mỗi người nói riêng và của từng bộ phận trong cộng đồng nói chung. Hơn lúc nào hết, mỗi người đều nhận thấy cần phải chấn chỉnh lại những hành động của chính mình, cần phải quan tâm chăm sóc cho môi trường xung quanh ta – “Ngôi nhà” điều kiện cho sự tồn tại, phát triển cho chính chúng ta và các thế hệ con cháu mai sau. Hãy cứu lấy “Ngôi nhà của chúng ta”. Tiếng chuông cảnh tỉnh ấy

đã và đang vang lên hàng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng (báo, đài, ti vi,…). Nếu như trước đây bộ môn giáo dục môi trường chỉ được giảng dạy ở khoa Sinh của các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học sư phạm thì nay đã có mặt ở nhiều trường đào tạo khác nhau và bắt buộc đưa vào trường Tiểu học từ năm… Vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường đã trở thành nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trường học nhất là các trường phổ thông. Do đó, tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Áp dụng chương trình giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học ở cấp Tiểu học”.2. Mục đích nghiên cứu: – Làm cho học sinh Tiểu học có chuyển biến về ý thức, thái độ, hành vi, đối với môi trường và việc bảo vệ môi trường. Trong quá trình đó, thông qua hệ thống chương trình, nội dung giảng dạy, từng bước trang bị cho các em học sinh những hiểu biết về môi trường, để từ đó giúp các em dần dần có ý thức, từ ý thức sẽ bộc lộ qua thái độ, hành vi trong cuộc sống. Khi con người có ý thức cao, những thái độ, hành vi của họ sẽ trở thành nếp sống hàng ngày. – Xây dựng một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường trên cơ sở điều tra thực trạng về công tác giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh trường Tiểu học Phấn Mễ 1. Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trường Tiểu học Phấn Mễ I.3. Phạm vi nghiên cứu: – Phạm vi về quy mô: Là vấn đề giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường thông qua các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp. – Phạm vi về không gian: Tại trường Tiểu học Phấn Mễ I. – Phạm vi về thời gian: Từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 5 năm 2010.4. Nhiệm vụ nghiên cứu: – Nghiên cứu lí luận của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học. – Nghiên cứu thực trạng của việc giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh trường tiểu học Phấn Mễ I. – Đề xuất mới: Trang bị cho học sinh Tiểu học những hiểu biết nhất định về môi trường, một số kĩ năng, biện pháp bảo vệ môi trường thông thường để các em vận dụng vào cuộc sống hàng ngày. – Trên cơ sở những hiểu biết đó, từng bước bồi dưỡng cho học sinh Tiểu học ý thức, thái độ, hành vi, đối với môi trường và bảo vệ môi trường.5. Phương pháp nghiên cứu:

I. Mục tiêu:Sau hoạt động học sinh có khả năng:– Biết đợc ích lợi của việc ăn uống sạch sẽ đối với sức khoẻ con ngời nói chung, đối với bản thân nói riêng. – Có thói quen ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh; ghét thói ăn uống bậy bạ, không hợp vệ sinh. – Biết ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh (ăn chín uống sôi, không ăn quả xanh, không uống nớc lã, ăn có giờ giấc, biết rửa tay trớc khi ăn).II. Thời gian: 30 – 40 phút.III. Nội dung và hình thức tổ chức:1. Nội dung: – Ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh có lợi gì? Nếu ăn uồng không sạch sẽ , mất vệ sinh thì sễ có hại gì cho sức khoẻ của mỗi ngời chúng ta? – Ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh là ăn sạch, uống sạch, không ăn những thức ăn ôi thiu hoặc quả xanh mà chỉ dùng đồ ăn đã đợc nấu chín, không uống nớc lã hoặc nớc từ nguồn không sạch có trong tự nhiên mà chỉ uống n-ớc đã đun sôi. Nếu biết ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh thì sức khoẻ sẽ đợc đảm bảo, hạn chế đợc bệnh tật. – Nếu môi trờng có nguồn nớc bị bẩn, rau xanh và hoa quả bị hỏng thì chúng ta không đợc dùng để ăn uống. 2. Hình thức tổ chức: Cho học sinh xem tranh rồi trả lời câu hỏi.VI. Chuẩn bị:1. Giáo viên: – Một số tranh vẽ về nguồn nớc bị ô nhiễm, về mâm cơm không đậy lồng bàn nên bị ruồi nhặng đậu vào, về một vài loại rau xanh thờng gặp hằng ngày. – Soạn một số câu hỏi về những điều nên và không nên từ những bức tranh ở trên về ăn sạch và uống sạch. 2. Học sinh: – Chuẩn bị ý kiến để trả lời các câu hỏi của giáo viên.V. Tổ chức hoạt động: 1. Hoạt động 1: Xem tranh.* Mục đích: Giúp học sinh nhận biết sự ô nhiễm môi trờng.* Cách tiến hành: – Giáo viên treo lên bảng vài bức tranh về nguồn nớc bẩn, về hình ảnh những con ruồi đậu mâm cơm, về một vài loại rau xanh hoặc hoa quả thờng gặp.– Sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời.– Học sinh cùng nhau suy nghĩ để trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra.* Kết luận: Không đơc uống nớc từ những nguồn nớc bẩn, không ăn các loại rau quả bị hỏng. Nếu chúng ta ăn uống không sach sẽ thì sẽ có hại cho sức khoẻ của bản thân mình. 2. Hoạt động 2: Phân biệt những điều nên và không nên.* Mục đích: Giúp học sinh nhận biết những điều nên và không nên trong việc ăn uống hằng ngày.* Cách tiến hành: – Phát cho học sinh phiếu bài tập có các câu hỏi về những điều nên và không nên trong việc ăn uống hợp vệ sinh. – Học sinh làm bài trong 10 phút, sau đó giáo viên gọi vài em lên trình bày kết quả của mình. – Có thể cho học sinh tự liên hệ thực tiễn hằng ngày trong việc ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh ở nhà cũng nh ở nơi công cộng. – Kết thúc hoạt động cho học sinh hát bài Thật đáng chê.* Kết luận: Chúng ta không đợc ăn những thức ăn ôi thiu hoặc quả xanh, không đợc uống nớc lã. Chỉ nên ăn chín uống sôi. nh thế sẽ làm cho ta khoẻ mạnh, không bị bệnh tật

Biện Pháp Thiết Thực Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường

Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay, nó đe dọa đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và nhiều hệ lụy khác mà con người phải gánh chịu. Giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường là một giải pháp bảo vệ môi trường cho tương lai.

Hiện nay, cuộc sống đang phát triển ngày càng hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, đối lập với nó, tình trạng ô nhiễm môi trường lại có những diễn biến phức tạp. Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề không chỉ của riêng một vùng nào, mà ở khắp nơi, cả nông thôn, thành thị, miền núi, miền biển, cả các nguồn nước và không khí…. Theo nghiên cứu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở nước ta, 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị ô nhiễm, hủy hoại về môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất trống, đồi núi trọc và sự suy thoái các nguồn gien động thực vật đang có chiều hướng gia tăng là hệ quả của việc hủy hoại môi trường. Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội.

Để khắc phục những hậu quả trên phải cần một thời gian dài, liên tục, ngay từ bây giờ và tốn kém nhiều công sức và tiền của. Do đó, bảo vệ môi trường nên bắt đầu bằng việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, nhất là cho học sinh .

Để công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường mang lại hiệu quả, khi giáo dục bảo vệ môi trường chưa thể là một môn học thì cần giáo dục cho học sinh bắt đầu từ những việc làm, hành động nhỏ nhất như trồng và chăm sóc cây xanh; vệ sinh trường lớp; tổ chức các diễn đàn về môi trường để học sinh tham gia một cách dân chủ; giáo dục học sinh có ý thức tiết kiệm năng lượng như điện và nước, khuyến khích học sinh có các ý tưởng sáng tạo tái chế rác… Cùng với việc lồng ghép kiến thức bảo vệ môi trường trong các bài giảng, giáo viên cần làm gương cho học sinh trong việc bảo vệ môi trường, khuyến khích học sinh tự giám sát việc bảo vệ môi trường của nhau, từ đó nhắc nhở, tuyên dương kịp thời các hành vi, hoạt động thân thiện với môi trường.

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường là một trong những biện pháp quan trọng, giúp học sinh biết yêu thiên nhiên, hiểu được tầm quan trọng của môi trường với cuộc sống và hơn nữa biết cách chăm sóc, giữ gìn hành tinh xanh.

Trong thực tế dạy học, nhiều biện pháp giáo dục và bảo vệ môi trường cho học sinh đã được giáo viên lớp 5 thực hiện có hiệu quả.

Bao gồm: Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua lồng ghép nội dung vào các môn học; qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể; trồng cây xanh tại lớp; vệ sinh lớp, công trình măng non.

Lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học:

Nội dung giáo dục môi trường được thể hiện ở tất cả các môn học : Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học, Địa lý, … và gắn vào từng bài cụ thể.

Chẳng hạn, chương trình môn Đạo đức ở lớp 5 đều phản ánh các chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của học sinh với gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên.

Chương trình môn khoa học; địa lý có thể giúp học sinh hiểu biết về môi trường tự nhiên và xã hội, các nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường.

Môn Tiếng Việt, có thể lồng ghép giáo dục môi trường qua các bài có nội dung về lòng yêu quê hương đất nước, ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp; ở môn Mĩ thuật có thể cho học sinh vẽ tranh về môi trường, vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường…

Thông qua các bài học được tiến hành với các hình thức tổ chức đa dạng, linh hoạt, giáo viên khối 5 đã đem lại cho học sinh các thông điệp phong phú về giữ gìn và bảo vệ môi trường, giúp các em lĩnh hội kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường một cách tự nhiên, sinh động và hiệu quả.

Giáo dục bảo vệ môi trường qua các hoạt động tập thể:

Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động tập thể, nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường cho học sinh hết sức đa dạng và hiệu quả.

Phong trào thi đua trang trí lớp học; làm sạch đẹp trường, lớp tại mỗi lớp đã đưa trường; lớp trở thành một môi trường xanh- sạch- đẹp.

Ngoài ra, thông qua các tiết sinh hoạt cuối giờ đầu tuần, các buổi sinh hoạt lớp, các hoạt động của Đội, các nội dung bài học giúp học sinh hiểu biết về giáo dục môi trường được các giáo viên tổ chức hết sức đa dạng với các nội dung và hình thức rất phong phú và phù hợp với các em học sinh.

Thông qua cuộc thi ” Tái chế sản phẩm” , các giáo viên cũng đã tổ chức cho các em học sinh thực hiện làm các sản phẩm tái chế từ hộp sữa đã uống, ống hút, thùng giấy… Qua đó đã giáo dục học sinh thấy được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường.

Từ đó, các em có thái độ và hành vi đúng đắn với việc bảo vệ môi trường, có suy nghĩ đúng đắn trước những sự việc xảy ra trong thực tế và thấy được trách nhiệm của chính mình, mặc dù đó có thể là những hành động chưa lớn nhưng cũng sẽ hình thành cho các em tinh thần trách nhiệm trước môi trường đang bị đe dọa.