Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 4

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 3
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Dân Tộc.
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 3
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 3 4 Tuổi
  • 1.Lý do chọn đề tài:

    Trẻ em là nguồn hạnh phúc, niềm tự hào lớn của mỗi gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước, là nền tảng vững chắc cho xã hội Việt Nam ” Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” . Để đạt được điều đó thì việc chăm sóc giáo dục trẻ phải có sự chung tay góp sức của nhà trường, gia đình và xã hội. Nhưng trước sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của nền kinh tế hiện nay thì rất nhiều các bậc phụ huynh có rất ít thời gian để quan tâm đến con cái, chính vì vậy trẻ hay thu mình và rất ít khi giao tiếp với thế giới bên ngoài. Điều này làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển nhận thức, tình cảm và sự phát triển toàn diện của trẻ, đặc biệt là hầu hết trẻ không có vốn kỹ năng sống.

    Vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết để giúp trẻ khám phá thế giới tâm hồn mình một cách có định hướng, khiến trẻ biết quý trọng bản thân, nuôi dưỡng những giá trị sống nền tảng và hình thành những kỹ năng sống tích cực trong trẻ, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trên bốn lĩnh vực : Thể trạng, tâm hồn, trí tuệ, tinh thần, từ đó xây dựng cho trẻ những kỹ năng sống hòa nhập với thế giới xung quanh. Ở mỗi lứa tuổi thì trẻ cần có những sự tác động khác nhau đến kỹ năng sống của trẻ. Chăm sóc và giáo dục trẻ từ lứa tuổi mầm non chính là cơ sở giúp trẻ phát triển toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần, là nền tảng giúp cho quá trình học tập lâu dài của trẻ sau này.

    Tr ong thực tế tại trường các trường mầm non nói chung, trường tôi nói riêng thì việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chưa được chú trọng tới kỹ năng tự phục vụ như kê bàn , lau miệng, tự mặc quần áo…. còn một số kỹ năng, ứng xử, giao tiếp, kỹ năng hợp tác , kỹ năng thích nghi, kỹ năng chia xẻ ….chưa được khắc sâu, nên trẻ lớp tôi hoàn toàn chưa có những kỹ năng cơ bản ấy. Là một gi

    áo viên trực tiếp đứng lớp tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để có một phương pháp truyền đạt đến trẻ những kỹ năng sống tốt nhất? và dạy dưới hình thức nào?

    2. Mục đích nghiên cứu

    N ghiên cứu thực trạng kỹ năng sống củ a trẻ 4-5 tuồi trong trường mầm non, trên c ơ sở đó đ ề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho trẻ mầm non,”giúp trẻ chuyển tải những gì mình biết( nhận thức), những gì mình cảm nhận( thái đ ộ), và những gì mình quan tâm( giá trị) thành những khả n ă ng thực thụ giúp trẻ biết phải làm gì và làm nh ư thế nào ( hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống hàng ngày. Giúp cho giáo viên trong trường có những biện pháp hữu hiệu để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ .

    3. Đối tượng nghiên cứu.

    4. Phạm vi nghiên cứu.

    I. Cơ sở lý luận:

    1. Cơ sở lý luận về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non.

    Là khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”(Theo định nghĩa Tổ chức Y tế Thế giới)

    1.2.Vai trò của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

    Giúp trẻ biết kiểm soát cảm xúc, thể hiện tình yêu thương, đồng cảm với mọi người xung quanh.

    Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, tôn trọng người khác, có khả năng giao tiếp tốt với mọi người.

    1.3.Những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non

    Nội dung dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non đã triển khai được một số năm học, tuy nhiên kết quả đạt trên trẻ chưa cao và chưa đồng đều giữa các trẻ. Nếu giáo viên thực hiện chuyên sâu và có phương pháp giáo dục phù hợp thì kết quả trên trẻ sẽ có bước tiến bộ nhanh chóng.

    Đối với giáo viên mầm non thường tập trung lo lắng cho những trẻ có những vấn đề về hành vi và khả năng tập trung trong những năm tháng đầu tiên trẻ đến trường. Đơn giản là vì những trẻ này thường không có khả năng chờ đến lượt, không biết chú ý lắng nghe và làm việc theo nhóm, điều này làm cho trẻ không thể tập trung lĩnh hội những điều cô giáo dạy. Vì vậy, giáo viên phải tốn rất nhiều thời gian vào đầu năm học để giúp trẻ có được những kỹ năng sống cơ bản ở trường mầm non.

    Trong năm học 201 6 -201 7 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công phụ trách lớp Mẫu giáo nhỡ ( trẻ 4-5 tuổi.). Đây là lứa tuổi trẻ bắt đầu nhận thức, phân bi ế t được những hành vi đúng sai, biết được những gì mình nên hay không nên, thậm chí bước đầu trẻ còn biết tự giải quyết được một số tình huống do cô tạo ra trong các hoạt động. Vì thế , tôi chọn đề tài ” Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi” để trao đổi cùng các bạn. Khi nghiên cứu đề tài ” Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi”, bản thân tôi đã gặp một số thuận lợi v à khó khăn như sau:

    Trường rất khang trang, rộng rãi, là môi trường lý tưởng cho mọi hoạt động của cô và trẻ.

    Ban giám hiệu vững về chuyên môn, luôn sát sao chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt chuyên môn.

    Đa số trẻ đều học qua lớp mẫu giáo bé nên trẻ lớp tôi tương đối ngoan, có nề nếp trong các hoạt động.

    Giáo viên còn phụ thuộc nhiều vào tài liệu chỉ chú trọng dạy các môn học mà chưa chú ý đến việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ hàng ngày . C òn ngại trong việc tổ chức các hoạt động tập thể, trò chơi nhằm hình thành rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ.

    2.2. Về phía phụ huynh.

    Một số gia đình còn nuông chiều con thái quá, luôn sẵn sàng phục vụ trẻ nên con có thái độ ngang bướng, ỷ lại, hay làm nũng bố mẹ.

    Một số phụ huynh cho rằng cứ lo cho con đầy đủ, chiều chuộng theo ý thích của con, còn việc dạy dỗ thì phó mặc cho giáo viên.

    Mặc dù rất quan tâm đến con nhưng đa số phụ huynh là công chức nhà nước nên ít có thời gian dành cho con, phần lớn đều nhờ cậy ông bà và người giúp việc, vì vậy việc thống nhất quan điểm, biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ giữa giáo viên và phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn.

    Qua điều tra thực tế về vốn kỹ năng sống của trẻ tôi nhận thấy kết quả khảo sát trước khi thực hiện như sau:

    Là một giáo viên được nhà trường phân công giảng dạy lớp 4-5 tuổi nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, tôi không ngừng tự học tự bồi dưỡng bản thân để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của mình. Đặc biệt tôi đi sâu vào nghiên cứu những kỹ năng sống cơ bản dạy trẻ 4 -5 tuổi ở trường mầm non, nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 4-5 tuổi bằng nhiều hình thức như tự học qua sách báo, chuyên san, tạp chí, học hỏi bạn bè đồng nghiệp, khai thác qua mạng…Thực tế cho thấy, việc xác định các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng nội dung trọng tâm để dạy trẻ . Để có thể thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục đã đề ra thì trước tiên mỗi giáo viên phải trang bị cho mình hệ thống kiến thức phong phú chính xác, và trải nghiệm các kỹ năng giáo dục thực tế.

    Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi có đặc thù tâm lý tính cách riêng nên để thấu hiểu và tiếp cận với trẻ tôi đã dành nhiều thời gian đọc các tài liệu về tâm lý học trẻ em, đặc biệt là tâm lý lứa tuổi của nhà xuất bản đại học sư phạm, và tìm hiểu nhiều nguồn tư liệu trên các kênh giáo dục khác, trên mạng enternet.

    Để thiết kế các bài dạy, hoạt động sinh động hiệu quả tôi đã đăng ký tham gia các lớp học về giá trị sống do viện nghiên cứu chiến lược trẻ em tổ chức và trực tiếp tham gia cộng tác giảng dạy tại các Trung tâm dạy kỹ năng sống cho trẻ em như: Trung tâm Eveil có địa chỉ tại phường Định Công, Trung tâm Smiles House địa chỉ tại số nhà 20 ngõ 12-Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

    Thông qua việc tự học tự bồi dưỡng tôi hiểu rằng:

    Lắng nghe trẻ, giúp chúng bày tỏ thái độ.

    Dạy trẻ cách giải quyết vấn đề.

    Tôn trọng đồ đạc của trẻ.

    Dạy trẻ ở mọi lúc mọi lúc mọi nơi, tận dụng mọi tình huống và hoạt động có thể tích hợp.

    3.2.1. Xác định nội dung, kỹ năng sống cơ bản;

    Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh, cho phép bạn đối mặt với những thách thức của cuộc sống hàng ngày.

    Mục đích của việc dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm.

    Từ đây, chúng ta xác định được những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi bao gồm:

    Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn.

    Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới.

    Nhận biết được các ưu điểm cũng như khuyết điểm của bản thân mình

    Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cách lắng nghe mọi người và đối đáp.

    Nhận biết được hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơi công cộng ( sân trường, công viên, siêu thị….)

    Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi.

    Kỹ năng hợp tác : Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn.

    Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu :

    Đây là một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này là sự khát khao được học. Giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước được.

    Giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực của trẻ, giáo viên cần phải biết khai thác phát huy năng khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi trẻ. Vì mỗi đứa trẻ là một nhân vật đặc biệt, phải giáo dục trẻ như thế nào để trẻ cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống.

    Giáo viên cần thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục chăm sóc giáo dục trẻ một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát triển đồng đều các lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ. Phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tim tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tinh huống khác nhau.

    * Cách thực hiện:

    Thông qua hoạt động học, trẻ có cơ hội chia sẻ với các bạn thông qua hoạt động nhóm. Mặt khác, trẻ cũng tự tin, mạnh dạn khi thể hiện khả năng của mình cũng như giới thiệu về bản thân, gia đình mình ….trước cô giáo và các bạn trong lớp.

    Ví dụ: Hoạt động khám phá: Các con vật sống trong rừng:

    Hoạt động khám phá: Gia đình của bé.

    Với tiết khám phá tôi cung cấp cho trẻ các kiến thức về an toàn giao thông, đồng thời tôi dạy trẻ các kĩ năng qua đường như:

    – Khi đi muốn qua đường con phải làm gì?

    – Nếu có nhiều xe cộ qua lại con sẽ làm như thế nào?

    – Khi nào thì con được qua đường?

    – Các bạn nhỏ khi qua đường phải có ai đi cùng?

    Sau đó tôi cho trẻ chơi đóng vai bé và mẹ qua đường.

    Thông qua giờ hoạt động chiều, trẻ được làm quen và nhận biết những hình ảnh cảnh báo, những biển báo nguy hiểm để từ đó trẻ biết cách phòng tránh, cách giữ an toàn cho bản thân mình.

    * Cách thực hiện:

    Qua các góc chơi khác như: xây dựng, tạo hình, sách truyện…..

    Cô giáo luôn là người bạn chơi cùng trẻ để hướng dẫn trẻ giao lưu với nhau trong từng góc, từng nhóm. Cô giáo gợi ý, hướng dẫn trẻ cách chơi, cách xưng hô khi chơi. Cô chơi với trẻ như người bạn thật sự của trẻ để cho trẻ học cách ứng xử với nhau khi chơi, biết đối đáp trong quá trình chơi. .( Ảnh 5)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Lớp Học Bằng Các Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực
  • Phương Pháp Quản Lý Lớp Học Bằng Các Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực.3
  • Kỹ Năng Sống Dành Cho Học Sinh Cấp 3
  • Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Phổ Thông
  • Luận Văn: Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thpt Ở Tphcm
  • Chuyên Đề Gd Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs Bien Phap Quan Ly Giao Duc Ky Nang Song Cho Hoc Sinh Trung Hoc Co So Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Bán Trú Thông Qua Các Hoạt Động Ngoại Khóa Tại Trường Ptdtbt Thcs Bản Hon
  • Skkn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Trường Thcs
  • Giải Pháp Cần Thiết Để Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường
  • Lưu ý (tiếp):

    KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân. KNS mang tính XH vì KNS phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc.

    Trong giáo dục ở nước ta những năm qua, KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ:

    Nhóm các KN nhận biết và sống với chính mình: tự nhận thức, xác định giá trị, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với căng thẳng,…

    Nhóm các KN nhận biết và sống với người khác: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,…

    Nhóm các KN ra quyết định một cách có hiệu quả: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề

    2) PHÂN LOẠI KNS

    II. Vì sao cần GD KNS cho HS THCS?

    KNS góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân

    KNS góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội.

    Đặc điểm lứa tuổi HS phổ thông

    Bối cảnh hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường

    Yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

    Giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới

    B) MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC, NỘI DUNG GIÁO DỤC KNS CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

    MỤC TIÊU GD KNS

    – Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.

    – Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.

    NGUYÊN TẮC GD KNS

    (Nguyên tắc 5 chữ T)

    Tương tác

    Trải nghiệm

    Tiến trình

    Thay đổi hành vi

    Thời gian- môi trường giáo dục

    NGUYÊN TẮC GD KNS

    Tương tác: KNS không thể được hình thành qua việc nghe giảng & tự đọc tài liệu. Cần tổ chức cho HS tham gia các HĐ, tương tác với GV và với nhau trong quá trình GD

    Trải nghiệm: Người học cần được đặt vào các tình huống để trải nghiệm & thực hành

    Tiến trình: GD KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình:

    nhận thứchình thành thái độ thay đổi HV

    Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của GD KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực.

    Thời gian: GD KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em.

    Nội dung GD KNS cho HS

    1- Tự nhận thức

    2- Xác định giá trị

    3- Kiểm soát cảm xúc

    4- Ứng phó với căng thẳng

    5- Tìm kiếm sự hỗ trợ

    6- Thể hiện sự tự tin

    7- Giao tiếp

    8- Lắng nghe tích cực

    9- Thể hiện sự cảm thông

    10-Thương lượng

    11- Giải quyết mâu thuẫn

    12- Hợp tác

    13- Tư duy phê phán

    14- Tư duy sáng tạo

    15- Ra quyết định

    16- Giải quyết vấn đề

    17- Kiên định

    18- Quản lí thời gian

    19- Đảm nhận trách nhiệm

    20- Đặt mục tiêu

    21-Tìm kiếm và xử lí thông tin

    C) PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KNS CHO HS TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

    Cách tiếp cận

    Việc giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông được thực hiện thông qua dạy học các môn học và tổ chức các hoạt động giáo dục nhưng không phải là lồng ghép, tích hợp thêm KNS vào nội dung các môn học và hoạt động giáo dục; mà theo một cách tiếp cận mới, đó là sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho HS được thực hành, trải nghiệm KNS trong quá trình học tập.

    KHÁI NIỆM PPDH

    Thuật ngữ phương pháp (PP) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là con đường để đạt mục dớch. Theo đó, PPDH là con đường để đạt mục dớch dạy học.

    PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và học sinh trong những điều kiện dạy học xỏc d?nh nhằm đạt mục dớch dạy học.

    MÔ HÌNH BA BÌNH DIỆN CỦA PPDH

    Quan điểm DH – PPDH – Kỹ thuật DH

    Bình diện vi mô

    Bình diện vĩ mô

    PP vĩ mô

    PP Cụ thể

    PP vi mô

    QUAN ĐIỂM DẠY HỌC

    Bình diện trung gian

    Khái quát về các quan điểm, PP và kĩ thuật dạy học

    Khái quát về các quan điểm, PP và kĩ thuật dạy học

    Khái quát về các quan điểm, PP và kĩ thuật dạy học

    Khỏi ni?m PPDH n?m trong m?i quan h? v?i r?t nhi?u thnh ph?n c?a quỏ trỡnh DH.

    Khỏi ni?m PPDH l khỏi ni?m ph?c h?p, cú nhi?u bỡnh di?n khỏc nhau. PPDH du?c hi?u theo nghia r?ng v nghia h?p.

    Khụng cú s? th?ng nh?t v? phõn lo?i cỏc PPDH.

    . Trong mụ hỡnh ny thu?ng khụng cú s? phõn bi?t gi?a PPDH v hỡnh th?c d?y h?c (HTDH). Cỏc hỡnh th?c t? ch?c hay hỡnh th?c xó h?i c?a d?y h?c (nhu d?y h?c theo nhúm, d?y h?c theo d? ỏn) cung du?c g?i l cỏc PPDH.

    KẾT LUẬN

    Một số phương pháp

    và kĩ thuật dạy học tích cực

    Dạy học nhóm

    – Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của DH, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn

    – Mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc.

    – Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.

    1. Các nhóm gồm những người tự nguyện, chung mối quan tâm

    2. Các nhóm ngẫu nhiên

    3. Nhóm ghép hình

    4. Các nhóm với những đặc điểm chung

    5. Các nhóm cố định trong một thời gian dài

    6. Nhóm có HS khá để hỗ trợ HS yếu

    7. Phân chia theo năng lực học tập khác nhau

    8. Phân chia theo các dạng học tập

    9. Nhóm với các bài tập khác nhau

    10. Phân chia HS nam và nữ

    VÍ DỤ VỀ TRƯỜNG HỢP

    “Tình yêu cá cược”

    Mô tả trường hợp:

    Hoa là một cô gái xinh đẹp. Đã có nhiều chàng trai theo đuổi nhưng cô vẫn chưa nhận lời yêu ai. Thấy vậy, Phong – một bạn trai cùng trường đánh cuộc với các bạn rằng mình sẽ chinh phục bằng được Hoa. Từ đấy, Phong ra sức săn đón, chăm sóc, chiều chuộng Hoa và nói với cô rằng anh ta không thể sống nếu thiếu cô. Cuối cùng, Hoa đã xiêu lòng…

    VÍ DỤ VỀ TRƯỜNG HỢP ( tiếp)

    “Tình yêu cá cược”

    Phương pháp dự án

    (hay dạy học theo dự án)

    VÍ DỤ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

    Gợi ý thực hiện dự án:

    Học sinh cần được tham gia quyết định trồng các loài hoa, cây gì trong vườn trường,

    Các nhóm tự lập kế hoạch, trồng, chăm bón và thu hoạch

    Áp dụng kiến thức khoa học vào sản xuất

    Tìm hiểu thị trường, hạch toán kinh tế.

    Trao đổi kinh nghiệm

    Một số kĩ thuật

    dạy học tích cực

    Kĩ thuật chia nhóm

    Có nhiều cách chia nhóm khác nhau:

    Theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…

    Theo biểu tượng

    Theo hình ghép

    Theo sở thích

    Theo tháng sinh

    Theo trình độ

    Theo giới tính

    Ngẫu nhiên

    Kĩ thuật giao nhiệm vụ

    a. Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

    + Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

    + Nhiệm vụ là gì?

    + Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

    + Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

    + Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

    + Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

    + Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?

    Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý.

    TRÂN TRỌNG CẢM ƠN!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Rèn Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ, Biên Giới Quốc Gia
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Để Hạn Chế Tai Nạn Giao Thông Dịp Tết Ất Mùi 2022
  • Hành Động Vì Một Thế Hệ Không Nạn Đói
  • Đề Tài : Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Học Sinh Trong Lớp Học
  • Phương Pháp Kỷ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh
  • Skkn Giải Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Để Thu Hút Học Sinh Và Đảm Bảo Duy Trì Sĩ Số Ở Trường Thcs Quang Trung
  • Ví dụ, với chủ điểm “Bản thân”. Trước đây, thông qua câu chuyện “Chú vịt xám” hoặc nội dung bài hát “Đàn Vịt con” chúng tôi chỉ dùng lời giáo dục trẻ: “Khi đi công viên hoặc đến những nơi công cộng thì phải đi với bố mẹ, không được chạy lung tung để khỏi bị lạc” chứ chưa dạy trẻ nếu chẳng may xảy ra sẽ phải xử lý như thế nào.

    Với cách giáo dục như vậy tôi thấy kết quả đạt trên trẻ chưa đạt hiệu quả. Trẻ ghi nhớ một cách thụ động, và thường chóng quên. Và điều cốt yếu trẻ không hiểu cốt lõi của vấn đề là tại sao không nên làm như vậy và nếu xảy ra thì phải làm thế nào. Do đó bây giờ ngoài việc giáo dục như vậy vào giờ hoạt động chiều, tôi đã đưa ra tình huống “Khi bé bị lạc mẹ trong siêu thị – bé sẽ làm gì ?

    + Với chủ điểm “Gia đình”, ngoài việc giáo dục trẻ nhận biết và tránh những đồ dùng nguy hiểm như bàn là , phích nước , bếp đang đun.

    ôm nay chủ nhật, mẹ đưa Hòa đến nhà bác Nguyệt làm cùng cơ quan mẹ chơi. Nhà bác Nguyệt thích thật, có cả ssan chơi và một khu vườn nhỏ trước sân nhà nữa. Khi mẹ và bác Nguyệt nói chuyện Hòa xin phép mẹ ra sân chơi.

    Bên cạnh đó tôi còn đưa ra những tình huống khác đối với trẻ như :

    – Không tự ý xả nước ở vòi vì dễ xảy ra bỏng khi sử dụng bình nóng lạnh .

    Ví dụ : Ở góc “Gia đình“, khi tôi đóng giả một người lạ đến gõ cửa khi trẻ ở nhà một mình, thì trẻ biết nhắc nhau “Đừng mở cửa , phải đợi bố mẹ về đã”.

    • Với nhóm “Nấu ăn“, tôi cũng lưu ý đến những thao tác mà trẻ mà trẻ thể hiện vai của mình :
    • Ví dụ : bắc nồi lên bêp ga đặt đã đúng giữa bếp chưa nếu không sẽ dễ đổ và xảy ra tai nạn, nấu xong phải nhớ tắt bếp, bắc nồi phải dùng cái lót tay để không bị bỏng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 3
  • Những Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ
  • Giáo Dục Giúp Trẻ Tự Kỷ Hòa Nhập Xã Hội
  • Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Tự Kỷ Tuổi Mầm Non Tại Thành Phố Thái Nguyên
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Qua Trò Chơi Cho Học Sinh Trường Thcs Luận Thành

    --- Bài mới hơn ---

  • 11 Cách Làm Giảm Hàng Tồn Kho Ảo
  • Cách Xử Lý Hàng Tồn Kho
  • Sang Kien Kinh Nghiem – Mầm Non Vĩnh Trị
  • Em Hãy Nêu Một Số Nhận Xét Về Tình …
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Với Chi Phí Cực Thấp
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG QUA TRÒ CHƠI CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS LUẬN THÀNH

    Người thực hiện: Nguyễn Thị Oanh

    Chức vụ: Giáo viên

    Đơn vị công tác: Trường THCS Luận Thành

    SKKN thuộc lĩnh vực: Giáo dục kỹ năng sống

    THANH HÓA NĂM 2022

    MỤC LỤC

    Mục

    Tên đề mục

    Trang

    1

    Mở đầu

    1

    1.1

    Lí do chọn đề tài

    1

    1.2

    Mục đích nghiên cứu

    2

    1.3

    Đối tượng nghiên cứu

    2

    1.4

    Phương pháp nghiên cứu

    2

    2

    Nội dung

    2

    2.1

    Cơ sở lí luận

    2-3

    2.2

    Thực trạng vấn đề

    3-4

    2.3

    Giải pháp thực hiện

    4-12

    2.4

    Hiệu quả của sáng kiến

    12-14

    3

    Kết luận, kiến nghị

    14

    3.1

    Kết luận

    14-15

    3.2

    Kiến nghị

    15

    16

    Tài liệu tham khảo

    16

    17

    Phụ lục

    1. Phần mở đầu

    1.1. Lí do chọn đề tài.

    Rèn luyện kỹ năng sống(KNS) cho học sinh là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của cà thế hệ trẻ. Chính vì vậy, học sinh, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THCS cần được trang bị kỹ năng sống để định hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất.

    Nội dung giáo dục KNS trong trường học lần đầu tiên được Bộ GD&ĐT 

    nhắc đến trong năm học 2008 – 2009 với chủ trương xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực”. Từ đó, việc giáo dục KNS đã được quan tâm sớm hơn một bước và đã trở thành một nội dung quan trọng trong các hoạt động giáo dục trong Nhà trường nhằm hướng đến giáo dục toàn diện cho học sinh, giúp các em rèn luyện KNS vững vàng trong cuộc sống. 

    Hiện nay xã hội càng ngày càng phát triển, kéo theo đó là nhiều tệ nạn xã hội, học sinh lại đang rất thiếu hụt kỹ năng sống, đặc biệt là trẻ em thuộc khu vực miền núi khó khăn như xã Luận Thành. Sự thiếu hụt này dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như tai nạn thương tích ở trẻ em (đuối nước, tai nạn giao thông, điện giật, bỏng, ngộ độc, động vật cắn…), bạo lực học đường, trẻ em nữ bị xâm hại tình dục Học sinh THCS đang non nớt, kinh nghiệm sống chưa có, suy nghĩ và hành động thường bột phát, bốc đồng, nếu không có kỹ năng sống thì khó có khả năng ứng phó và giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và học tập, từ đó dễ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.

    Xã Luận Thành là một xã nằm ở trung tâm phía Nam của huyện, có đường Hồ Chí Minh chạy qua nên đời sống kinh tế tương đối phát triển. Gia đình học sinh có quan tâm đến việc học của con em nhưng vì lo phát triển kinh tế nên không dành nhiều thời gian và điều kiện giáo dục, quản lý con cái, thậm chí phó mặc cho Nhà trường.

    Nhà trường THCS Luận Thành đã tổ chức một số hoạt động giáo dục KNS cho HS nhưng do nhiều hoạt động chuyên môn, số lượng học sinh đông, kinh phí eo hẹp không thể thường xuyên tổ chức được. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chỉ dựa chủ yếu vào việc lồng ghép vào hoạt động giáo dục và các tiết học trên lớp nhưng thời gian gò bó, các hình thức giáo dục chưa phong phú nên hiệu quả chưa cao.

    Trong những năm gần đây, nhận thấy một bộ phận không nhỏ học sinh kỹ năng giao tiếp kém, nhiều học sinh có ý định bỏ học, ham chơi đua đòi, không chú tâm vào việc học, hay vi phạm ATGT, dễ bị tai nạn rủi ro do thiếu hụt KNS và thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đinh. Trước tình hình đó, cần đưa ra các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh làm sao tiết kiệm được thời gian, kinh phí, thu hút được học sinh mà vẫn có thể linh hoạt sử dụng trong bất cứ hoạt động giáo dục nào. Và giáo dục KNS qua trò chơi là một lựa chọn tối ưu vì đây là hình thức giáo dục gây hứng thú mạnh mẽ cho học sinh. Các em vừa học, vừa chơi nhưng vẫn bổ ích, thiết thực. Từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THCS Luận Thành qua một số trò chơi” để thực hiện. Với đề tài này, tôi mong muốn tạo thêm sân chơi bổ ích cho học sinh, góp phần tăng cường giáo dục KNS cho các em, giúp ích cho các em trong quá trình học tập và sinh sống.

    1.2. Mục đích nghiên cứu:

    Từ tình hình thực tế việc giáo dục KNS tại đơn vị, tôi đưa ra một số giải pháp rèn luyện, giáo dục KNS cho học sinh, giúp các em biết vận dụng nó để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, trong học tập một cách hiệu quả, giúp các em phát triển một cách toàn diện

    Góp phần đa dạng hóa hình thức giáo dục KNS cho học sinh tại đơn vị, tiết kiệm thời gian, kinh phí, nâng cao hiệu quả giáo dục KNS nói riêng, giáo dục học sinh trong Nhà trường nói chung.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu

    Đề tài tập trung nghiên cứu về một số biện pháp rèn luyện KNS thông qua các trò chơi tập thể cho học sinh trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục của Nhà trường.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu

    Giáo dục KNS cho học sinh có rất nhiều phương pháp. Nhưng đề tài chỉ dừng lại ở việc rèn luyện KNS cho học sinh qua trò chơi tại đơn vị nên chỉ sử dụng một số phương pháp như:

    + Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu: Các văn bản của ngành về giáo dục KNS cho HS, các tài liệu về giáo dục KNS để làm căn cứ thực hiện đề tài.

    + Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu lí do học sinh thiếu KNS, số lượng và lí do học sinh hay vi phạm các nội quy, thiếu tự tin, chán học, hay chống đối, có hành động, suy nghĩ cực đoan

    + Phương pháp thống kê: Sử dụng PP này để nắm được tỉ lệ có KNS của học sinh khi thực hiện khảo sát thực tế trước và sau khi thực hiện đề tài.

    + Phương pháp thực hành: Sử dụng phương pháp này trong quá trình rèn luyện kĩ năng cho HS, qua việc khảo sát kết quả việc thực hiện đề tài.

    2. Nội dung

    2.1. Cơ sở lí luận

    Trong môi trường không ngừng biến động con người luôn đối diện với áp lực cuộc sống từ những yêu cầu ngày càng đa dạng, ngày càng cao trong quan hệ xã hội, trong công việc và cả trong quan hệ gia đình. Quá trình hội nhập với thế giới đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngoài kiến thức chuyên môn, yêu cầu về các kỹ năng sống ngày càng trở nên quan trọng. Thiếu kỹ năng sống con người dễ hành động tiêu cực, nông nổi. Giáo dục cần trang bị cho người học những kỹ năng thiết yếu như ý thức về bản thân, làm chủ bản thân, đồng cảm, tôn trọng người khác, biết cách hợp tác và giải quyết hợp lý các mâu thuẫn, xung đột. 

    Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục KNS với các hoạt động giáo dục vốn đã được lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật, sức khỏe sinh sản vị thành niên, tạo nhiều cơ hội và điều kiện để triển khai giáo dục KNS.

    2.2 Thực trạng vấn đề

    2.2.1. Thuận lợi

    Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng giáo dục đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục KNS cho học sinh phổ thông; hướng dẫn tích hợp giáo dục KNS vào các địa chỉ qua một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học phổ thông nên cán bộ quản lý và giáo viên trong trường đã nắm được cơ bản việc giáo dục KNS cho học sinh.

    Một số hoạt động giáo dục KNS đã được Nhà trường chú ý thực hiện trong khuôn khổ và yêu cầu của Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.

    Giáo dục KNS từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh học sinh.

    Hình thức tổ chức giáo dục KNS đã bước đầu được thực hiện trong một số môn học, thông qua hoạt động ngoại khoá và các hoạt động trải nghiệm.

    Việc giáo dục KNS cho HS trong Nhà trường được sự quan tâm và hỗ trợ của tổ chức “Tầm nhìn thế giới” nói chung và CT PTV Thường Xuân nói riêng.

    2.2.2. Khó khăn, hạn chế

    Khi thực hiện giáo dục KNS, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng (chưa có tài liệu cho giáo viên và học sinh, tiêu chí đánh giá chưa cụ thể,). Tổ chức giáo dục KNS có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,…) cho nên thiếu cơ sở vật chất, kinh phí để thực hiện.

    Một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh chưa được nhận thức một cách đúng mức trong ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục KNS, còn ngại suy nghĩ, đổi mới trong phương pháp giáo dục học sinh.

    Giáo viên quen với việc tập trung cung cấp kiến thức mà không hoặc ít quan tâm giáo dục KNS cho học sinh. Mặt khác thời lượng tiết học là 45 phút rất nhanh nên giáo viên không có đủ thời gian lồng ghép giáo dục cho học sinh.

    Nhiều gia đình học sinh chưa quan tâm đến giáo dục con em, còn phó mặc cho Nhà trường.

    Ngoài ra, việc rèn luyện kĩ năng mềm cần tiến hành thông qua những hoạt động tích cực thực tiễn, trong khi nhiều học sinh vẫn quen với lối học thụ động. Học sinh của trường đa số xuất thân từ nông thôn nên khả năng thích ứng với xã hội hiện đại của các em còn yếu, các hiểu biết về kĩ năng mềm ở các em hầu như là chưa có.

    Số lượng học sinh trong trường quá đông, gần 500 học sinh, mà giáo dục và rèn luyện KNS cần cho học sinh trải nghiệm nên việc giáo dục KNS cho toàn bộ học sinh là việc vô cùng khó và không có hiệu quả.

    Hình thức giáo dục KNS cho HS còn nghèo nàn, chưa thu hút và hấp dẫn được học sinh do không đủ thời gian và kinh phí tổ chức.

    Vì những khó khăn trên nên hiện nay việc triển khai các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh như thế nào cho hiệu quả là vấn đề trăn trở của nhà trường và các giáo viên đang trực tiếp làm công tác giảng dạy và giáo dục.

    2.3. Giải pháp thực hiện

    2.3.1. Một số vấn đề chung

    a. Sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông

    Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết về cuộc sống. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách, những áp lực tiêu cực.

    Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Một trong các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổ thông trong thời gian vừa qua chính là do các em thiếu những kĩ năng cần thiết như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ  năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp. Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho các em là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hoà và lành mạnh.

    b. Một số phương pháp giáo dục KNS cho học sinh phổ thông thường được sử dụng:

    – Phương pháp động não

    – Phương pháp sắm vai(trải nghiệm)

    – Phương pháp trò chơi

    – Phương pháp vẽ tranh

    Có nhiều phương pháp giáo dục KNS cho học sinh, mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm riêng. Trong các phương pháp trên thì phương pháp sắm vai và trò chơi là hai phương pháp học sinh rất yêu thích. Tuy nhiên phương pháp sắm vai để có hiệu quả thì phải xây dựng tình huống, có phục trang, đạo cụ phù hợp, số học sinh tham gia được ít nên việc sử dụng phương pháp trò chơi sẽ có hiệu quả hơn.

    c. Sử dụng phương pháp trò chơi trong giáo dục KNS cho học sinh

    * Mục đích:

    Phương pháp trò chơi giúp cho quá trình học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan nhàm chán nhằm lôi cuốn học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách tự nhiên, hứng thú, có tinh thần trách nhiệm, đồng thời xua tan sự căng thằng trong học tập.

    * Các bước thực hiện:

    – Lựa chọn trò chơi phù hợp

    – Chuẩn bị phương tiện(nếu cần)

    – Lựa chọn không gian phù hợp

    – Huy động sự tham gia của người chơi

    – Giới thiệu tên trò chơi, luật chơi

    – Hướng dẫn chơi

    – Chơi thử

    – Tổ chức chơi

    – Xử lý theo luật chơi

    – Rút ra ý nghĩa của trò chơi(qua sử dụng các câu hỏi vấn đáp, gợi mở để học sinh rút ra được kỹ năng sống qua trò chơi)

    * Những hoạt động giáo dục có thể sử dụng phương pháp trò chơi để giáo dục KNS

    – Qua tiết ngoại khóa trên lớp: Với tiết học ngoại khóa thời gian và không gian thuận lợi hơn nhưng chú ý không quá ồn và vận động mạnh làm ảnh hưởng đến lớp khác.

    – Qua các hoạt động ngoại khóa(sinh hoạt câu lạc bộ, các hoạt động tập thể), không gian và thời gian không bị hạn chế nên chọn các trò chơi vận động, có nhiều người tham gia để tạo không khí thoải mái cho học sinh.

    Tùy vào từng hoạt động mà giáo viên lựa chọn trò chơi phù hợp làm sao vừa khắc sâu nội dung hoạt động vừa kết hợp giáo dục KNS cho học sinh có hiệu quả.

    2.3.2. Phương pháp giáo dục KNS cho học sinh qua một số trò chơi

    Bất cứ trò chơi lành mạnh nào nếu vận dụng tốt đều có thể dùng để giáo dục KNS cho học sinh. Trong đây, tôi xin được giới thiệu một số trò chơi dễ thực hiện trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục ở trường phổ thông.

    a. Giáo dục “Kỹ năng hợp tác ” qua trò chơi “ Vượt biển”

    Mục đích của trò chơi này là giúp học sinh nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc hợp tác, từ đó giáo dục kỹ năng hợp tác cho các em.

    Chuẩn bị: Một số tờ giấy báo, không gian chơi đủ rộng

    Trò chơi tiến hành theo các bước sau:

    Bước 1: Giới thiệu luật chơi

    Giáo viên chia học sinh thành các nhóm(chia ngẫu nhiên qua trò chơi “Kết bạn”), chia cho mỗi nhóm một tờ báo cũ, quy định khoảng sân(lớp) là biển, tờ báo là thuyền để vượt biển.

    Khi trò chơi bắt đầu, giáo viên cho các học sinh xung quanh sân vừa đi vừa hát. Giáo viên hô “Bão biển” thì tất cả học sinh phải chạy về đứng gọn trên thuyền, ai không đứng gọn trên thuyền thì bị loại. Khi giáo viên hô “Bão tan”, mọi học sinh lại đi xung quanh sân, lúc này thuyền bị rách nên chỉ còn lại một nửa tờ báo, khi có hiệu lệnh “Bão biển” thì lại phải chạy ngay về thuyền. Trò chơi cứ tiếp tục như vậy càng về sau càng khó(thuyền càng ngày càng nhỏ). Nhóm nào bảo tồn được số người sau cùng sẽ thắng cuộc.

    Bước 2: Chơi thử: Giáo viên cho học sinh chơi thử 2-3 lượt cho học sinh nắm rõ luật chơi.

    Bước 3: Tổ chức chơi

    Giáo viên cho học sinh chơi khoảng 3-5 lượt, tìm ra đội chơi thua nhanh nhất để “thưởng” bằng một hình thức vui nào đó.

    Bước 4: Rút ra ý nghĩa của trò chơi(giáo dục KNS):

    – Sau khi kết thúc trò chơi giáo viên đưa ra một số câu hỏi để học sinh rút ra ý nghĩa trò chơi:

    ? Để giành được thắng lợi trong trò chơi vừa rồi thì mội thành viên trong nhóm cần phải làm gì?( cần nhanh chóng chạy về thuyền, bám chặt vào nhau, chung sức giữ cho nhau đứng vững trên thuyền)

    ? Nếu trong nhóm có 1 người không bám chắc hoặc đứng không vững thì nhóm có đứng vững được không? Nhóm sẽ làm gì để đứng vững trên thuyền?(nhóm không thể đứng vững nếu một thành viên không kết hợp tốt, những thành viên còn lại sẽ hỗ trợ giúp cho bạn bám chắc và đứng vững )

    ? Thuyền muốn đứng vững thì các em nên phân công nhiệm vụ như thế nào?(bạn to khỏe đứng giữa làm trụ, các bạn nhỏ, yếu đứng xung quanh, tất cả trong và ngoài đều giữ chặt lấy nhau thành một khối)

    Giáo viên kết luận:

    Kỹ năng hợp tác là một kỹ năng rất quan trọng với mội chúng ta, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.

    Kỹ năng hợp tác là cùng chung sức, giúp đỡ, hỗ trợ nhau để đạt đến một mục đích chung.

    Hợp tác giúp chúng ta có thêm sức mạnh, vượt qua khó khăn, có được nhiều thành công.

    Muốn hợp tác tốt mỗi người cần phải biết tôn trọng, chia sẻ, lắng nghe các thành viên khác trong nhóm, có tinh thần trách nhiệm, luôn hỗ trợ mọi người trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ chung.

    b. Giáo dục kỹ năng “Tự nhận thức” qua trò chơi “Soi gương”

    Mục đích của trò chơi này là học sinh nhận thức được rằng muốn thấy được vẻ bề ngoài của bản thân thì rất dễ bằng cách soi gương, nhưng để nhận biết được bên trong mỗi người thì cần có kỹ năng tự nhận thức bản thân.

    Trò chơi tiến hành theo các bước sau:

    Bước 1: Phổ biến luật chơi

    – GV cho học sinh đứng thành vòng tròn xung quanh mình. Cử ra hai người quan sát để phát hiện người làm không đúng(luân phiên)

    – Luật chơi: Người quản trò đứng giữa vòng tròn làm động tác nào thì những người xung quanh phải làm theo nhưng làm ngược chiều(giống hình ảnh trong gương). Nếu ai làm cùng chiều với người quản trò thì sẽ được “thưởng”

    Bước 2: Chơi thử: Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi thử để học sinh nắm rõ luật chơi

    Bước 3: Tổ chức trò chơi:

    Giáo viên thực hiện các động tác( ví dụ như chải đầu soi gương, đánh răng, trang điểm, dắt xe. ) khoảng 3-5 lượt để tìm ra những người chơi chưa đúng để “thưởng” bằng một hình thức vui nào đó.

    Bước 4: Rút ra ý nghĩa của trò chơi(giáo dục KNS):

    – Sau khi kết thúc trò chơi giáo viên đưa ra một số câu hỏi để học sinh rút ra ý nghĩa trò chơi:

    ? Để nhận ra vẻ bề ngoài của bản thân thì chúng ta phải làm gì?(soi gương)

    ? Việc soi gương có giúp chúng ta nhìn thấy đặc điểm bên tro

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Vững Chắc Chủ Quyền, An Ninh Biên Giới Quốc Gia
  • Biện Pháp Quản Lý, Bảo Vệ Biên Giới Quốc Gia
  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Âm Nhạc Ở Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Cho Nạn Đói Thế Giới
  • Skkn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Trường Thcs
  • Giải Pháp Cần Thiết Để Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường
  • Người Nước Ngoài Bày Cách ‘làm Khó’… Người Đi Xe Hơi
  • Biện Pháp Giảm Căng Thẳng Tâm Lý
  • MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài

    Trong xã hội phát triển mạnh mẽ đầy thách thức hiện nay, nếu thiếu kỹ năng sống

    sẽ thiếu khả năng phân tích xử lý các tình huống khó khăn, xuống cấp về đạo đức,

    nhận thức và ứng xử lệch lạc, có phản ứng tiêu cực, dễ rơi vào bế tắc, không tự mình

    kéo lên được,… Trong khi đó, chương trình giáo dục hiện nay còn nặng về kiến thức,

    chưa chú trọng đúng mức đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

    Năm học 2008 – 2009 với chủ trương xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh

    tích cực”, nội dung giáo dục KNS trong trường học lần đầu tiên được Bộ GD&ĐT

    nhắc đến. Đặc biệt, ở một số trường học ngoài công lập, trường học quốc tế, việc giáo

    dục KNS đã được quan tâm sớm hơn một bước và đã trở thành một bộ môn chính

    khóa. Do vậy, đề tài “Giáo dục KNS cho học sinh THCS” đã thực hiện, nhằm hướng

    đến giáo dục toàn diện cho HS, giúp các em rèn luyện KNS vững vàng trong cuộc

    sống.

    II. Đối tượng nghiên cứu.

    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

    THCS.

    III. Khách thể nghiên cứu.

    Khách thể nghiên cứu là học sinh THCS.

    IV. Đối tượng khảo sát.

    Đối tượng khảo sát là trường THCS Nguyễn Viết Xuân, Thị xã Thủ Dầu Một,

    Bình Dương.

    2. Phương pháp khảo sát, phỏng vấn qua bàng hỏi.

    Phương pháp được thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng giáo dục KNS

    cho học sinh THCS. Để đo mức độ hình thành KNS cho học sinh THCS.

    3. Phương pháp thống kê toán học.

    Phương pháp thống kê toán học dùng để xử lý các kết quả khảo sát bằng phiếu

    hỏi.

    4. Phương pháp xử lý thông tin.

    Phương pháp xử lý thông tin: để xây dựng các luận cứ, khái quát hoá để phục

    vụ cho việc chứng minh.

    5. Phương pháp nghiên cứu lý luận.

    Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về

    vấn đề giáo dục và giáo dục KNS cho học sinh THCS, phân tích, tổng hợp những tư

    liệu, tài liệu lý luận về giáo dục KNS.

    VI. Cơ sở lý luận

    Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những

    quan điểm cùa Nhà nước ta về giáo dục kỹ năng cho HS.

    VI. Bố cục đề tài

    Ngoài phần mở đầu, đề tài gồm 4 chương và phần kết luận, kiến nghị.

    Chương 1. Khái quát về kỹ năng sống.

    Chương 2. Thực trạng về kỹ năng sống của học sinh.

    Chương 3. Vai trò và tác động của KNS đối với học sinh THCS.

    Chương 4. Phương thức và phương pháp tiếp cận giáo dục KNS cho học sinh

    THCS.

    CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ KỸ NĂNG SỐNG

    1.1. KỸ NĂNG LÀ GÌ?

    Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều

    khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát

    sinh trong cuộc sống.

    1.2. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI KỸ NĂNG SỐNG.

    1.2.1. Khái niệm kỹ năng sống.

    Khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo tồ chức UNESCO

    định nghĩa ” kỹ năng sống” là: khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá

    nhân có đầy đủ khả năng đối phó có hiệu quả với nhu cầu và thách thức cùa cuộc sống

    hằng ngày. Nói một cách dễ hiểu, đó là khả năng nhận thức của bản thân (giúp mỗi

    người biết mình là ai, sinh ra để làm gì, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, mình có

    thể làm được làm gì?)

    1.2.2. Phân loại kỹ năng sống.

    Kỹ năng sống được chia làm hai loại: kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao.

     Kỹ năng cơ bản gồm: kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng,…

     Kỹ năng nâng cao là sự kế thừa và phát triển các kỹ năng cơ bản dưới một dạng thức

    mới hơn. Nó bao gồm: các khả năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân

    tích, tổng hợp,…

    Ở các lớp THCS, kỹ năng nâng cao được xem trọng nhiều, còn kỹ năng cơ bản

    được xem trọng ở các lớp đầu cấp tiểu học.

    KNS được học qua 3 môi trường cụ thể, đó là: học từ những người truyền thụ trực

    tiếp kiến thức cho mình, học từ sách báo, truyền hình và các phương tiện truyền thông

    đại chúng khác, học từ những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên xã hội. Hay nói cách

    khác, KNS có trong 3 môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội.

    1.3. Giáo dục kỹ năng sống và sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho

    học sinh.

    1.3.1. Giáo dục KNS là gì?

    Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động cụ thể nhằm tổ chức, điều

    khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức đã được biết và thái độ, giá trị ( HS

    suy nghĩ, cảm thấy tin tưởng được) thành hành động thực tế một cách tích cực và

    mang tính chất xây dựng. Giáo dục KNS cho HS không phải là đưa ra những lời giải

    đơn giản cho những câu hỏi đơn giản, mà giáo dục KNS là việc hướng đến làm thay

    đổi các hành vi. Có nghĩa là, GD cho các em có cách sống tích cực trog xã hội, là xây

    dựng và thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu phát

    triển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp HS có tri thức, giá trị, thái độ

    và kỹ năng phù hợp.

    Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THCS không dừng lại ở việc làm thay đổi

    nhận thức cho HS bằng cách cung cấp thông tin, tri thức mà tập trung vào mục tiêu

    xây dựng hoặc làm thay đổi hành vi của HS theo hướng tích cực, mang tính xây dựng

    đối với các vấn đề đặc ra trong cuộc sống.

    1.3.2. Sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh THCS.

    Cuộc sống luôn tạo ra những khó khăn, thử thách để con người vượt qua. Vì vậy, mỗi

    con người cần phải trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết để giải quyết các vấn đề

    gặp phải trong cuộc sống. Là một nhà giáo dục tương lai, một con người của xã hội,

    chúng ta cần phải thấy rõ vai trò của việc trang bị KNS cho HS. Học sinh THCS (1216 tuổi) là lứa tuổi có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất, sức khỏe và tâm sinh lý.

    Tuổi dậy thì các em dễ thay đổi tình cảm, hành vi, chóng vui chóng buồn.

    Mâu thuẫn giữa ý muốn thoát khỏi sự giám sát của bố mẹ, muốn khẳng định mình

    trong gia đình lẫn ngoài xã hội với ý thức “các em vẫn còn là trẻ con” trong suy nghĩ

    của các bậc cha mẹ, thầy cô đã nảy sinh những xung đột mà các em chưa được trang bị

    kỹ năng cần thiết để ứng phó và giải quyết.

    Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phạm pháp ở thanh

    thiếu niên, đặc biệt ở độ tuổi THCS, ngày càng gia tăng đến mức độ đáng báo động

    trong xã hội. Vì vậy, giáo dục KNS là con đường ngắn nhất, giúp các em định hướng

    về cách sống và hành động một cách tích cực. Nắm được KNS, các em sẽ dễ dàng áp

    dụng những kiến thức lý thuyết, những “cái mình biết”, “cái mình tin tưởng”,.. vào

    thực tiễn thành những hành động tích cực, giúp các em thích ứng nhanh nhẹn với

    những sự thay đổi ngày càng nhanh của xã hội, vững bước tương lai.

    * Nhóm kỹ năng sống cần thiết cho khối học sinh THCS

     Kỹ năng tự phục vụ bản thân

     Kỹ năng xác lập mục tiêu cuộc đời

     Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả

     Kỹ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc

    Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân

     Kỹ năng giao tiếp và ứng xử

     Kỹ năng hợp tác và chia sẻ

    Kỹ năng thể hiện tự tin trước đám đông

     Kỹ năng đối diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống

     Kỹ năng đánh giá người khác.

    CHƯƠNG 2.

    THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

    CHO HỌC SINH THCS VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN

    THỰC TRẠNG ĐÓ.

    2.1. THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

    TRUNG HỌC CƠ SỞ .

    Thời gian qua, báo chí đã phản ánh khá nhiều về thực trạng thanh thiếu niên thiếu

    hụt về kỹ năng xử lý, ứng phó với tình huống xảy ra trong cuộc sống nên đã rơi vào bế

    tắc, không thể tự kéo mình lên được, như: giết bạn vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, bỏ nhà đi

    bụi, bạo lực học đường, nữ sinh tham gia vào các đường dây mại dâm, hoặc tự vẫn chỉ

    vì thầy cô, cha mẹ trách mắng,…

    Thực trạng cho nền giáo dục ở nước ta hiện nay là quá chú trọng vào việc giảng

    dạy kiến thức, sách vở, quản lý GD bằng những quy tắc cứng nhắc mà xem nhẹ việc

    GD về KNS, đạo đức cho học sinh. Chính vì thế mà Việt Nam là một trong những

    nước đứng đầu về bạo lực học đường.

    Công tác giáo dục KNS cho HS chưa được đầu tư đúng mức về tài liệu, cơ sở vật

    chất giảng dạy. Nội dung, cách thức giáo dục KNS đơn điệu, sơ sài, chưa thu hút được

    sự quan tâm tham gia của các em HS. Bản thân giáo viên cũng còn thiếu KNS nên khó

    đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục KNS cho HS. Vì vậy, với không ít cơ sở GD, giáo dục

    KNS là nhiệm vụ bất đắc dĩ, và kết quả “được hay không thì tùy”.

    Về phía các đoàn thể xã hội khác, nhìn chung đều có tham gia vào công tác này,

    nhưng chưa thực sự quan tâm đúng mức. Đặc biệt, về phía gia đình, vì nhiều nguyên

    nhân mà hầu hết các bậc phụ huynh đều đẩy việc giáo dục KNS con em mình cho nhà

    trường, không quan tâm đến con em mình trong nhận thức về KNS. Trong khi đó, GD

    trong gia đình là nền tảng đầu tiên và quan trọng nhất.

    Hầu hết đề tài nghiên cứu trước đây đều có chung nhận định: học sinh thời nay

    năng động, tự tin, mạnh dạn bày tỏ chính kiến của mình và thường có mức yêu cầu cao

    đối với bản thân.

    Kết quả nghiên cứu cho thấy các em bước đầu hình thành những quan niệm cơ bản về

    kỹ năng sống, phần đông nhận thức được kỹ năng sống là hành vi con người thể hiện

    khi ứng phó với những tình huống diễn ra trong cuộc sống, dựa trên những phẩm chất

    tâm lý và kinh nghiệm cá nhân.

    Bên cạnh đó, các em cũng nhận định được nguyên nhân chính dẫn đến việc thiếu kỹ

    năng sống là do chưa có sự hòa hợp trong giao tiếp giữa các em với cha mẹ, thầy cô.

    Đồng thời cũng bị ảnh hưởng bởi lối sống, quan niệm sống từ bạn bè cùng lớp, cùng

    trường và từ các phương tiện thông tin đại chúng (mạng Internet, báo chí, diễn đàn…).

    Tuy nhiên, chỉ mới dừng ở việc nhận thức, đa số học sinh vẫn chưa tiếp cận được

    những biện pháp rèn luyện để hình thành kỹ năng sống. Điều này cần sự nỗ lực từ

    nhiều phía: gia đình, nhà trường và chính bản thân học sinh. Có nhiều HS học rất giỏi,

    nhưng ngoài điểm số cao, các em chỉ biết ăn, ngủ, học và vui chơi, trong khi đó khả

    năng giao tiếp rất kém.

    Qua khảo sát thực nghiệm đối với nhóm HS trường THCS Nguyễn Viết Xuân. Để có

    những nhận xét, đánh giá chính xác, nhóm thực hiện đề tài đã đưa ra một phiếu khảo

    sát nhằm tìm hiểu thực trạng và nhu cầu cần được giáo dục KNS cho học sinh THCS.

    Nội dung của phiếu như sau:

    Câu 5: Tôi có khuynh hướng làm những gì tôi nghĩ mình có thể làm được hơn những

    gì tô tin là đúng?

    a. Không bao giờ

    b. Hiếm khi

    c. Thỉnh thoảng

    d. Thường xuyên

    e. Luôn luôn

    Câu 6: Bạn kiểm soát những tình huống mới một cách khá thỏa mái và dễ dàng?

    a. Không bao giờ

    b. Hiếm khi

    c. Thỉnh thoảng

    d. Thường xuyên

    e. Luôn luôn

    Câu 7: Bân được rèn luyện kỹ năng sống ở đâu?

    a. Nhà trường

    b. Gia đình

    c. Bạn bè

    d. Tất cả

    Câu 8: Bạn thường rèn luyện kỹ năng sống của mình bằng cách nào?

    a. Trong hoạt động vui chơi với bạn bè

    b. Trong học tập ở nhà trường

    c. Trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình

    d. Trong công việc hàng ngày

    Câu 9: Bạn được trường tổ chức giáo dục kỹ năng sống bao lâu một lần?

    a. Thường xuyên (một tuần một lần)

    b. Thỉnh thoàng (một tháng một lần)

    c. Hiếm khi

    d. Không bao giờ

    Câu 10: Trong tiết học, giáo viên có kết hợp giữa việc dạy kiến thức trong bài học với

    việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hay không?

    a. Thường xuyên

    b. Thỉnh thoảng

    c. Hiếm khi

    d. Không bao giờ

    * Kết quả điều tra 100 học sinh trong trường:

    Đánh giá tổng hợp (10 câu hỏi cho 100 HS):

    Câu

    1

    2

    3

    8

    19,5

    13,8

    14,6

    52,0

    e

    Nhận xét về kết quả điều tra cho thấy: hầu hết các em biết được tầm quan trọng của

    KNS trong cuộc sống hiện nay, và có những nhận thức đúng đắn về việc tiếp xúc và

    giải quyết các tình huống. Nhưng, hầu hết các em chưa được tiếp cận một cách thường

    xuyên và giáo dục đúng đắn về các KNS. Vì vậy, các em cần phải được rèn luyện và

    giáo dục đúng đắn về KNS.

    2.2. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG ĐÓ.

     Về phía HS: chưa được trang bị các kỹ năng cần thiết để nhận thức về bản thân và đối

    phó với các tình huống đến từ các mối quan hệ xã hội và sự biến đổi tâm sinh lý của

    bản thân và sự biến đổi của môi trường.

     Về phía gia đình: chưa nhận thức được đầy đủ về nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho HS,

    còn lơ là, không quan tâm đến các em, chưa thật sự gương mẫu cho các em noi theo,

    phó mặc nhiệm vụ cho giáo viên và nhà trường.

     Về phía nhà trường: chưa quan tâm đầy đủ đến công tác giáo dục KNS cho học sinh,

    chưa đưa công tác này thành kế hoạch cụ thể, chưa có công tác tổ chức và hướng dẫn

    thực hiện cho GV. GV thì chưa được trang bị đầy đủ về KNS và tmầ quan trọng của

    công tác giáo dục KNS cho HS, chưa biết cách tổ chức giáo dục KNS phù hợp cho

    từng lứa tuổi.

     Về phía xã hội: ngày càng có nhiều tệ nạn xã hội nguy hiểm, các khu vui chơi giải trí

    lành mạnh hco HS ít được đầu tư phát triển, nhiều tụ điểm không lành mạnh mọc lên

    ngày càng nhiều,…

    Từ đó những nguyên nhân đó, nhóm nghiên cứu đề tài có một số đề nghị như sau:

     Đầu tiên là từ phía bản thân của các em cần phải có ý thức tự giác, tự ý thức được tầm

    quan trọng của việc rèn luyện KNS đối với bản thân, tích cực học tập, tìm hiều, từ đó

    đề ra cho mình các biện pháp và phương hướng rèn luyện có hiệu quả.

     Về phía gia đình cần phải quan tâm, theo dõi các em, luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho

    các em có thể phát triển một cách toàn diện những khả năng của bản thân, phát triển trí

    tuệ và thể chất, để các em có cơ hội học tập và rèn luyện KNS cho bản thân.

     Về phía nhà trường cần phải quan tâm, cú ý đến việc rèn luyện KNS cho các em. Chú

    ý kết hợp hài hòa giữa việc giáo dục kiến thức với giáo dục đạo đức, KNS cho HS.

    Nhà trường cẩn tổ chức các buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt ngoại khóa.

    Tham quan, du lịch,..để các em có điều kiện tiếp xúc với thực tế, gặp những hợp mà tự

    bản thân các em suy nghĩ và giải quyết,…Từ đó, giúp các em rèn luyện KNS tốt hơn.

     Xã hội cần phải quan tâm, tạo điều kiện cho các em vui chơi, giải trí, nhằm tăng cường

    việc rèn luyện KNS.

    CHƯƠNG 3.

    VAI TRÒ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KỸ NĂNG SỐNG ĐỐI VỚI

    HỌC SINH THCS

    3.1 Vai trò của kỹ năng sống

    Nhiều nghiên cứu đã cho phép đi đến kết luận là trong các yếu tố quyết định sự

    thành công của con người, kỹ năng sống đóng góp đến khoảng 85%. Theo UNESCO

    ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Hai

    yếu tố sau thuộc về kỹ năng sống, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân

    cách, bản lĩnh, tính chuyên nghiệp…

    Thành công chỉ thực sự đến với những người biết thích nghi để làm chủ hoàn cảnh

    và có khả năng chinh phục hoàn cảnh. Vì vậy, kỹ năng sống sẽ là hành trang không thể

    thiếu. Biết sống, làm việc, và thành đạt là ước mơ không quá xa vời, là khát khao

    chính đáng của những ai biết trang bị cho mình những KNS cần thiết và hữu ích.

    Kỹ năng sống tốt thúc đẩy thay đổi cách nhìn nhận bản thân và thế giới, tạo dựng

    niềm tin, lòng tự trọng, thái độ tích cực và động lực cho bản thân, tự mình quyết định

    số phận của mình.

    Kỹ năng sống giúp giải phóng và vận dụng năng lực tiềm tàng trong mỗi con người

    để hoàn thiện bản thân, tránh suy nghĩ theo lối mòn và hành động theo thói quen trên

    hành trình biến ước mơ thành hiện thực.

    Khối lượng kiến thức của chúng ta trở nên lỗi thời nhanh chóng trong thời đại mới.

    Trong môi trường không ngừng biến động con người luôn đối diện với áp lực cuộc

    sống từ những yêu cầu ngày càng đa dạng, ngày càng cao trong quan hệ xã hội, trong

    công việc và cả trong quan hệ gia đình. Quá trình hội nhập với thế giới đòi hỏi phải

    nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngoài kiến thức chuyên môn, yêu cầu về các kỹ

    năng sống ngày càng trở nên quan trọng. Thiếu kỹ năng sống con người dễ hành động

    tiêu cực, nông nổi. Giáo dục cần trang bị cho người học những kỹ năng thiết yếu như ý

    thức về bản thân, làm chủ bản thân, đồng cảm, tôn trọng người khác, biết cách hợp tác

    và giải quyết hợp lý các mâu thuẫn, xung đột.

    Cuộc đời là một hành trình mà bằng cấp chuyên môn giống như một bệ phóng, còn

    kỹ năng sống chính là động lực đẩy con người vươn lên tầm cao thành đạt.

    Cần lưu ý rèn luyện kỹ năng sống là một quá trình lâu dài, bền bỉ. Do đó, không

    phải vì kỹ năng sống có tầm quan trọng rất lớn mà cố đưa vào chương trình giảng dạy

    cho HS nhiều chuyên đề mang tính lý thuyết. Điều cần thiết là làm cho mọi người ý

    thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống và lồng nó vào các môn học. Những người

    đã đi làm thì cần bổ sung một vài chuyên đề cần thiết mà bản thân c

    3.2 Tác động của kỹ năng sống đối với học sinh trung hoc cơ sở

    * Nhận thức

    Giúp học sinh THCS có tri thức hiểu biết về các giá trị truyển thống của dân tộc,

    cũng như những giá trị tốt đẹp của nhân loại, củng cố và mở rộng thêm kiến thức đã

    học trên lớp, có ý thức chính trị, đạo đức, pháp luật và lối sống lành mạnh, ý thức về

    quyền và trách nhiệm đối với bản than, gia đình, nhà trường và xã hội, có ý thức định

    hướng nghề nghiệp cho tương lai,…

    * Kỹ năng

    Tiếp tục rèn luyện kỹ năng cơ bản đã được hình thành, trên cơ sở đó phát triển

    thành một số năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, khả năng thích ứng, kỹ

    năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng kiên định, năng lực hoạt động chính

    trị xã hội, nang9 lực tở chức, quản lý, năng lực hợp tác, chia sẻ, thương lượng, nhằm

    giúp cho học sinh sống một cách an toàn, khỏe mạnh, thích ứng với cuộc sống không

    ngừng biến đổi.

    * Thái độ

    Giúp cho HS có lý tưởng sống vì ngày mai lập nghiệp, có niềm tin vào tương lai,

    có ý thức và tinh thần tự hào dnâ tộc. Biết tỏ thái độ trước những vấn đề của cuộc

    sống, biết chịu trách nhiệm với những hành vi của bản thân, đấu tranh tích cực với

    những biểu hiện sai trái của bản thân và của người khác để tự hoàn thiện mình, biết

    cảm thông và tha thức hco những sai lầm của người khác. Bồi dưỡng cho các em tính

    tích cực, chủ động, sang tạo tham gia các hoạt động tập thể, giáo dục cho các em tinh

    thần đoàn kết hữu nghị,..

    dự án… ví dụ học về môi trường, trẻ có thể đi du khảo, tham gia làm sạch đường

    phố…học về trật tự an toàn giao thông, trẻ có thể bày những trò chơi về luật đi đường,

    quan sát tình hình giao thông rồi nhận xét.

    4.1. Phương pháp động não

    * Mô tả phương pháp

    Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắnnảy sinh

    được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương pháp có

    ít để (lôi ra) một danh sách các thông tin.

    * Cách tiến hành

    Có thể tiến hành theo các bước sau:

    – GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp

    hoặc trước nhóm.

    – Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.

    – Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ

    trường hợp trùng lặp.

    – Phân loại các ý kiến.

    – Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng.

    – Tổng hợp ý kiến học sinh, hỏi xem có thắc mắc hay bổ sung gì không.

    * Những yêu cầu sư phạm

    – Phương pháp động não có thể dùng để lý giải bất kỳ một vấn đề nào, song đặc biệt

    phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong cuộc sống thực tế của học sinh.

    – Phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và kết mở.

    4.5. Phương pháp nghiên cứu tình huống (hai nghiên cứu các trường hợp

    điền hình)

    * Mô tả phương pháp

    Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình

    huống ” thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình

    huống có thể được thực hiện trên video hay một băng cátset mà không phải trên dạng

    chữ viết. Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống

    thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác

    nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản

    * Các bước tiến hành

    Các bước nghiên cứu tình huống có nghĩa là :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Bán Trú Thông Qua Các Hoạt Động Ngoại Khóa Tại Trường Ptdtbt Thcs Bản Hon
  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs Bien Phap Quan Ly Giao Duc Ky Nang Song Cho Hoc Sinh Trung Hoc Co So Doc
  • Chuyên Đề Gd Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Skkn Rèn Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học Skkn Ky Nang Song Lieu Doc
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học Ren Kns Doc
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 3
  • SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỨC PHỔ

    TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 3 PHỔ THẠNH

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG

    SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

    Lĩnh vực: Lĩnh vực khác

    Tên tác giả: Trần Thị Thiểu

    Chức vụ: Giáo viên Tiểu học

    Năm học 2014 – 2022

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    NỘI DUNG

    PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

    PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

    3 -4

    1.1. KĨ NĂNG SỐNG LÀ GÌ?

    1.2. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ CỦA TRẺ

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

    THỰC TRẠNG

    NGUYÊN NHÂN

    CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    3.1. BÁM SÁT NỘI DUNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG

    9

    SỐNG CHO HỌC SINH

    3.2.THỰC HIỆN TỐT CÁC NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC

    10

    KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

    3.3. PHÁT HUY VAI TRÒ, TÁC DỤNG VÀ HIỆU QUẢ

    CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO

    HỌC SINH

    3.4. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC KĨ NĂNG

    SỐNG

    3.5 . VÍ DỤ MINH HỌA

    CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    3

    CHƯƠNG 5: TIỂU KẾT

    PHẦN 3: KẾT LUẬN

    21 – 22

    PHẦN I:

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, việc đào tạo

    thế hệ trẻ trở thành những người lao động có ích cho xã hội là việc làm cấp bách

    và cần thiết, đòi hỏi sự dày công của người giáo viên, bởi yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội. Bản thân là một giáo viên Tiểu học có nhiều năm công tác và giảng

    dạy khối lớp 5 tại trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh với nhiều bức xúc trước học

    sinh chưa có kinh nghiệm kỹ năng sống. Do đó, đòi hỏi người giáo viên phải có

    trình độ, có năng lực phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, yêu thương tận

    tụy với học sinh, bởi giáo viên đóng vai trò quan trọng vì mọi kiến thức, hành vi ,

    phẩm chất và năng lực được hình thành ở nhà trường, đặc biệt là cấp Tiểu học.

    Hơn nữa giáo viên Tiểu học là người trực tiếp giảng dạy và giáo dục các em học

    sinh, ngoài việc cung cấp kiến thức, văn hoá còn dạy các học sinh tự giải quyết

    được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống hằng ngày như: tự chăm sóc sức

    khỏe, bảo vệ môi trường và phòng chống các tệ nạn xã hội,…để các em chủ

    động, tự tin không phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệ

    mình.

    Chính vì vậy, người giáo viên ngoài việc trang bị cho học sinh vốn kiến

    thức cơ bản trong học tập, lao động còn phải giáo dục học sinh có kỹ năng sống

    đó là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng

    nhau chung sống.

    Năm học 2014-2015 là năm học tiếp tục thực hiện phong trào thi đua

    “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” việc giáo dục kỹ năng sống

    cho học sinh là một trong những nội dung của phong trào. Vì thế, nhà trường cần

    chú trọng hơn đến nội dung “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    Để thực hiện tốt giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, nhiệm vụ đầu tiên của

    giáo viên là nghiên cứu và nắm vững đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, xây

    dựng mục tiêu, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp vào hoàn

    cảnh, điều kiện dạy học cụ thể của lớp, của trường và vận dụng một cách linh

    hoạt sáng tạo với nhu cầu, trình độ của học sinh. Với những kinh nghiệm tôi rút

    ra từ thực tiễn sẽ góp phần xây dựng thế hệ học sinh năng động, thân thiện, phát

    triển toàn diện trong nhà trường.Vì vậy tôi đã chọn sáng kiến kinh nghiệm ” Một

    số biện pháp giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học”

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    PHẦN II:

    NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    CHƯƠNG 1

    CƠ SỞ LÝ LUẬN

    Phương pháp giáo dục Phổ thông đang đổi mới theo hướng phát huy tính

    tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, tăng

    cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào

    thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học

    sinh. Nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học và

    hoạt động giáo dục. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học còn thông

    qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo bảo vệ môi trường, giáo dục phòng

    chống HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống tai nạn

    thương tích. Đặc biệt, rèn kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong

    những nội dung cơ bản của phong trào thi đua ” Xây dựng trường học thân

    thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và đào tạo chỉ đạo.

    Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường là:

    – Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp,

    hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ

    những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và các

    hoạt động hằng ngày.

    – Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và

    phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    – Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống

    tích cực, xây dựng cho các em các hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục

    tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học.

    1.1. KỸ NĂNG SỐNG LÀ GÌ?

    Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống:

    – Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng để có hành vi

    thích ứng và tích cực , giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước nhu cầu và

    thác thức của cuộc sống hằng ngày.

    – Theo UNICEFF, Kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình

    thành hành vi mới. Các tiếp cận này có sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình

    thành thái độ và kĩ năng.

    – Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO),

    kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:

    Học để biết: gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng

    tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả của việc làm…;

    Học làm người: gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng,

    kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…;

    Học để chung sống: gồm các kỹ năng như giao tiếp, thương lượng, tự

    khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông

    Học để làm: gồm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như: kỹ năng

    đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm..;

    Tóm lại kỹ năng sống rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người

    để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.

    1.2. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA TRẺ

    – Trong thực tế cuộc sống cho thấy những trẻ có thể lực yếu thường hay ỷ lại,

    phụ thuộc nhiều vào những người thân trong gia đình những việc làm tự phục vụ

    mà lẽ ra chính trẻ phải tự làm như : rửa chân tay, mặc quần áo,…

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    – Hệ thần kinh của trẻ tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh, đến 9, 10

    tuổi hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và bộ óc của các em đang phát

    triển đi dần đến hoàn thiện nên các em dễ bị kích thích. Thầy cô giáo và cha mẹ,

    người thân của các em cần chú ý để giúp trẻ hình thành tính tự chủ, lòng kiên trì,

    sự kìm hãm của bản thân trước những kích thích của hoàn cảnh xung quanh, biết

    giữ gìn trật tự nơi công cộng và trong lớp học. Người lớn không được mắng, doạ

    dẫm, đe nạt các em, vì làm như thế không những bị tổn thương đến tình cảm mà

    còn gây tác hại đến sự phát triển thần kinh và bộ óc của các em.

    – Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học cũng được bắt đầu ngay

    từ những buổi đầu các em đến trường. Nếu không chuẩn bị chu đáo về mặt tâm lí

    cho trẻ trước khi đi học sẽ dẫn đến những tình huống như: đòi theo bố mẹ về nhà,

    không dám nói chuyện với bạn bè, không dám chào hỏi thầy cô, không dám xin

    phép cô khi ra vào lớp,…

    – Học sinh tiểu học thích bắt chước hành vi, cử chỉ, lời nói,… của các nhân

    vật trong phim, của các thầy cô giáo, của những người thân trong gia đình. tính

    bắt chước là con dao “hai lưỡi”, vì trẻ em bắt chước cái tốt cũng nhiều, cái xấu

    cũng nhiều. Chính vì vậy những tính cách hành vi của những người xung quanh

    là môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến tính cách, hành vi, ứng xử của trẻ.

    Các mối quan hệ của trẻ em là: Trẻ em – Gia đình; Trẻ em – Đồ vật; Trẻ em –

    Nhà trường; Trẻ em – Xã hội. Ở tiểu học, uy tín của người thầy giáo, cô giáo các

    quan điểm, niềm tin, toàn bộ những hành vi cử chỉ của thầy, cô thường là những

    mẫu mực cho hành vi của học sinh. Các em thường tin tưởng tuyệt đối ở nơi thầy,

    cô giáo nên chúng thường bắt chước những cử chỉ tác phong của thầy, cô giáo

    mình. Ở trường các em còn được tiếp xúc với bạn bè, với tập thể nhóm bạn, tổ,

    lớp; những hoạt động tập thể cũng ảnh hưởng không ít đến việc hình thành, phát

    triển nhân cách và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

    2.1. THỰC TRẠNG

    Thực trạng ở trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh, một số học sinh còn thiếu

    kỹ năng sống như: thiếu tính tự lập; chưa tự giác, thiếu tự tin trước tập thể, chưa

    biết cách ứng xử phù hợp. Kỹ năng giao tiếp hạn chế, nói trỗng với người lớn,

    thầy cô, gọi bạn bằng mày, tao chúng tôi Để giúp học sinh có kỹ năng sống tốt, tôi đã

    tiến hành khảo sát thực tế một số kỹ năng của các lớp như sau:

     Khảo sát HS lớp 1 A1 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014:

    Nội dung khảo sát: Tự mặc quần áo. Tự giác ngồi học bài

    Tự mặc quần áo

    TSHS

    24

    Tự giác ngồi học bài

    Tự mình mặc

    Cần người lớn

    Tự giác không

    Chưa tự giác,

    quần áo

    giúp mặc quần

    cần nhắc nhở

    bố mẹ phải

    áo

    nhắc nhở nhiều

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    14

    58,3

    10

    41,7

    41,7

    14

    58,3

    %

    10

     Khảo sát lớp 2A 2 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014:

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    TSHS

    SL

    %

    SL

    %

    25

    14

    56,0

    11

    44,0

    * Khảo sát lớp 5/3 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014:

    * Nội dung khảo sát: ứng xử với bạn khi chơi các trò chơi dân gian tập thể.

    Khảo sát qua quan sát thực tế, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và tổng phụ trách

    đội đánh giá HS:

    Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể

    Biết cách ứng xử hài hoà khá phù Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi

    hợp

    SL

    22

    Từ thực trạng trên, qua nhiều năm giảng dạy tại trường Tiểu học số 3 Phổ

    Thạnh tôi tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến các em học sinh chưa có kỹ năng

    sống tốt là:

    2.2. NGUYÊN NHÂN

    2.2.1.Về phía giáo viên:

    – Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống

    cho học sinh, mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở sách giáo khoa nên chưa

    chịu khó tìm tòi các hình thức và phương pháp tổ chức cho các hoạt động này

    nên làm mất sự hứng thú của học sinh.

    2.2.2. Về phía học sinh:

    – Học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy cô giáo,

    chưa có tính sáng tạo, tính tự giác chưa cao, lười hoạt động.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    – Học sinh chỉ có học kiến thức, khả năng ứng phó với các tình huống trong

    cuộc sống kém, thiếu sự tự tin trước đông người.

    – Kỹ năng giao tiếp hạn chế, nói trỗng với người lớn, thầy cô, gọi bạn bằng

    mày, tao,…

    2.2.3. Về phía phụ huynh:

    Đa số phụ huynh cho rằng con em mình chỉ cần học giỏi kiến thức, chỉ

    khuyến khích con em tìm kiến thức mà quên hướng dẫn cho con em mình làm

    tốt hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội và cách ứng xử trong gia đình.

    Một số gia đình phụ huynh giao tiếp trong gia đình còn nhiều hạn chế, xưng

    hô chưa chuẩn mực nên các em bắt chước và xưng hô thiếu thiện cảm.

    Ngoài ra do ảnh hưởng của môi trường sống, các em bắt chước nói tục,

    chưởi thề.

    2.2.4. Về phía nhà trường

    Trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh là một trường thuộc vùng ven biển, điều

    kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ dân trí của người dân chưa cao so với các

    xã ở thị trấn của huyện. Phần lớn người dân làm nghề đánh cá nên thường nói

    tục, chưởi thề do đó ảnh hưởng đến giáo dục của nhà trường. Vì thế trong hoạt

    động chuyên môn dạy và học, Nhà trường thường xuyên nghiên cứu, cải tiến

    nâng cao chất lượng giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh,

    không ngừng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với nội dung chương trình.

    Và đặc biệt chú trọng đến việc “Giáo dục kỹ năng sống” cho học sinh.

    CHƯƠNG 3

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    Giáo dục kỹ năng sống là điều cần thiết cho mọi người, mọi lứa tuổi. Đặc biệt

    là đối với lứa tuổi học sinh Tiểu học. Giáo dục kỹ năng sống là việc cần được

    tiến hành thường xuyên, liên tục, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, hoàn

    cảnh, hoạt động của từng loại đối tượng cụ thể. Để giáo dục kỹ năng sống cho

    học sinh Tiểu học tôi đã thực hiện các biện pháp sau:

    3.1. BÁM SÁT NỘI DUNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

    Nội dung giáo dục kỹ năng sống ở Tiểu học hết sức đơn giản, gần gũi với

    trẻ em, là những kiến thức tối thiểu để các em có thể tự lập… Và mục đích quan

    trọng nhất là giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống. Vì vậy khi tổ

    chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần:

    – Bám sát vào nội dung của giáo dục kỹ năng sống và vận dụng linh hoạt các

    nội dung của giáo dục kỹ năng sống tuỳ theo từng hoạt động giáo dục ngoài giờ

    lên lớp và điều kiện cụ thể của từng môn học.

    – Xác định rõ các nội dung giáo dục kỹ năng sống (xác định rõ các kỹ năng

    sống cần hình thành và phát triển cho học sinh) để tích hợp vào nội dung của hoạt

    động giáo dục.

    – Tạo ra động lực cho học sinh tham gia một cách tích cực vào quá trình hình

    thành kỹ năng sống nói chung và kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết

    định, kỹ năng tự nhận thức về bản thân, kỹ năng ứng phó với cảm xúc…

    3.2. THỰC HIỆN TỐT CÁC NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

    Kỹ năng sống là tất cả những điều cần thiết chúng ta phải biết để có được

    khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Vì thế

    GV cần nắm rõ 5 nguyên tắc về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. :

    3.2.1. Tương tác:

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    Kỹ năng sống được hình thành tốt trong quá trình học sinh tương tác với

    bạn bè và những người xung quanh. Tạo điều kiện để các em có dịp thể hiện ý

    kiến của mình và xem xét ý kiến của người khác… Do vậy, giáo viên cần tổ chức

    các hoạt động có tính chất tương tác trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên

    lớp để giáo dục kỹ năng sống cho các em.

    3.2.2. Trải nghiệm:

    Kỹ năng sống chỉ được hình thành khi người học trải nghiệm qua thực tế

    và nó có kĩ năng khi các em được làm việc đó. Vì thế giáo viên cần phải có thiết

    kế và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh được hoạt động

    thực, có cơ hội thể hiện ý tưởng, có cơ hội xử lí các tình huống.

    3.2.3. Tiến trình:

    Là một quá trình từ nhận thức – hình thành thái độ – thay đổi hành vi. Do

    vậy giáo dục kỹ năng sống không thể là ngày một ngày hai mà cả một quá trình.

    3.2.4. Thay đổi hành vi:

    Giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực. Giáo dục kỹ năng

    sống thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành

    động của mình.

    3.2.5. Thời gian – môi trường giáo dục:

    Giáo dục giáo dục kỹ năng sống được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi; giáo

    dục trong mọi môi trường như gia đình, nhà trường, xã hội; cần phải tạo điều

    kiện tối đa cho HS tham gia vào các tình huống thật trong cuốc sống.

    Do đó trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

    GV phải đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc của giáo dục.

    3.3. PHÁT HUY VAI TRÒ, TÁC DỤNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG

    GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

    Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là hoạt động được tổ chức theo mục tiêu,

    nội dung, chương trình dưới sự hướng dẫn của giáo viên, giúp học sinh thực hiện

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    một cách tự giác, tích cực tri thức thành niềm tin, kiến thức thành hành động,

    biến yêu cầu của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và của

    cá nhân học sinh, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm tri thức, thái độ, quan điểm

    và hành vi ứng xử của mình trong môi trường an toàn, thân thiện có định hướng

    giáo dục. Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi như :

    kỹ năng giao tiếp ứng xử có văn hoá; kỹ năng tổ chức quản lý và tham gia các

    hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của hoạt động; kỹ năng tự kiểm tra, đánh

    giá kết quả học tập, rèn luyện; củng cố, phát triển các hành vi, thói quen tốt trong

    học tập, lao động và công tác xã hội. Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia

    các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội; hình thành tình cảm chân thành, niềm

    tin trong sáng với cuộc sống, với quê hương đất nước; có thái độ đúng đắn đối

    với các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Vì vậy cần phát huy tối đa vai trò, tác dụng

    và hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

    3.4. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

    – Tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các môn học, vào các hoạt

    động giáo dục khác.

    – Thường xuyên tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi tập thể lành mạnh,

    chơi các trò chơi dân gian, tổ chức các hoạt động văn nghệ thể thao, qua các hoạt

    động rèn cho học sinh kĩ năng ứng xử với bạn bè, xây dựng tinh thần đoàn kết

    tốt, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hợp tác, kỹ năng quyết định, biết kiềm chế bản

    thân trong khi xử lí các tình huống với bạn bè.

    – Tổ chức các hoạt động lao động vừa sức với học sinh: vệ sinh sân trường,

    lớp học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường, ; học sinh

    được rèn một số kỹ năng như: cầm chổi quét, nhặt rác, tưới cây, tỉa lá,…; thông

    qua đó HS biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động.

    – Giáo dục học sinh có ý thức xây dựng trường lớp “Xanh – Sạch – Đẹp”

    thường xuyên chăm sóc cây xanh trong trường học.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    + Lễ phép, kính trọng ông bà, cha mẹ .

    + Vâng lời, giúp đỡ bố mẹ ; nhường nhịn em nhỏ .

    + Biết ứng xử với mọi người trong gia đình, biết nói ” cảm ơn “, ” xin lỗi “,

    ” vâng, ạ, dạ, thưa ” … với cả những người thân thiết trong gia đình, biết dùng từ

    ngữ phù hợp, đúng mực, phù hợp với hoàn cảnh đồng thời phải biết lắng nghe,

    tôn trọng ý kiến mọi người ngay cả khi bất đồng quan điểm, cả khi việc không

    theo ý mình .

    * VÍ DỤ MINH HỌA: Một học sinh không làm bài về nhà, giáo viên

    cần để học sinh nêu được :

    + Lí do vì sao em không làm bài về nhà ?

    Giáo viên cần phối hợp với phụ huynh, yêu cầu bố mẹ học sinh tìm hiểu lí

    do, khuyến khích rằng con có khả năng làm được việc đó hơn là la mắng, đánh

    đập, học sinh sẽ cảm thấy tự tin, có cơ hội được trình bày vấn đề của mình .

    Giáo viên cần định hướng cho học sinh trong giao tiếp hàng ngày:

    + Lời đề nghị khi yêu cầu, mong muốn được giúp đỡ .

    + Lời từ chối khi không đồng ý, không muốn hoặc không thể thực hiện

    đúng yêu cầu của người khác .

    + Lời xin lỗi khi làm phiền, khi mắc lỗi, khi không làm đúng, khi từ chối,

    – Để giao tiếp tế nhị, khéo léo; giáo viên cần định hướng cho học sinh

    biết cách xác định các nhân tố giao tiếp :

    Xác định nhân vật giao tiếp; xác định nội dung giao tiếp; xác định khả năng

    của em ; xác định ngữ cảnh; xác định phương tiện biểu đạt .

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    * VÍ DỤ MINH HỌA: Lời đề nghị yêu cầu muốn được giúp đỡ

    – GV đưa tình huống cụ thể : ” Nhờ một người cùng trang lứa đóng

    giúp cửa sổ khi ngồi học ”

    – Học sinh có thể nêu lên một số ý kiến cá nhân :

    + Bạn có thể đóng giúp tớ cửa sổ được không ?

    (*)

    CHƯƠNG 4

    KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA SÁNG KIẾN:

    TSHS

    24

    Tự giác ngồi học bài ở nhà

    Tự mình mặc

    Cần người lớn

    Tự giác không

    Chưa tự giác,

    quần áo

    giúp mặc quần

    cần nhắc nhở

    bố mẹ phải

    áo

    nhắc nhở nhiều

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    22

    91,7

    2

    8,3

    20

    83,3

    4

    16,7

    TSHS

    * Nội dung khảo sát: ứng xử với bạn khi chơi các trò chơi dân gian tập thể.

    Khảo sát qua quan sát thực tế, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và tổng phụ trách

    đội đánh giá HS:

    TSHS

    Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể

    Biết cách ứng xử hài hoà khá phù Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi

    hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đbscl Triển Khai Các Biện Pháp Phòng, Chống Xâm Nhập Mặn
  • Nguy Cơ Của Xâm Nhập Mặn
  • Bến Tre: Khẩn Trương Thực Hiện Các Biện Pháp Phòng Chống, Ứng Phó Xâm Nhập Mặn
  • Các Giải Pháp Chống Xâm Thực Trong Máy Bơm Nước Hiệu Quả
  • Tp Hồ Chí Minh: Nhiều Biện Pháp Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Một Vài Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mn

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Biện Pháp Hay Về Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mầm Non
  • 10 Cách Giáo Dục Con Cái Bằng Lời Nói
  • Bài 18: Giáo Dục Con Cái
  • Trình Bày Suy Nghĩ Những Biện Pháp Trong Giáo Dục Con Cái Của Bố Mẹ Để Có Gia Đình Hạnh Phúc
  • Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình
  • “MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON” I.ĐẶT VẤN ĐỀ:

    Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của dân tộc. Việc bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em là trách nhiệm của nhà nước, của xã hội và của mỗi gia đình: “Trẻ em hôm nay, Thế giới ngày mai”. Việc giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ sau này.Bác Hồ nói: “Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh tế văn hóa”.Sản phẩm của giáo dục là con người mà con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước trong tương lai đó chính là thế hệ trẻ.

    Như chúng ta đã biết, đất nước ta hiện nay nền kinh tế phát triển đang trên đường hội nhập Quốc tế, chúng ta phải giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới.

    Trẻ thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…Hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu thiếu kỹ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, và lối sống ích kĩ lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách .

    Vậy làm thế nào để thế hệ trẻ chúng ta nhận thức và giữ vững được nền văn hóa của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đến nay và trong thời đại mới là nhiệm vụ cần thiết nhất trong các mục tiêu xây dựng phát triển con người toàn diện trong thời đại hiện nay để sớm đào tạo cho xã hội những con người tài đức vẹn toàn .

    Là một giáo viên mầm non, sau nhiều năm thực tế trãi nghiệm tôi quyết định trình bày sáng kiến Kinh Nghiệm: “Một vài biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non” một vấn đề đang được quan tâm trong giáo dục Mầm non hiện nay .

    *Vấn đề được nghiên cứu :

    Trong quá trình phát triển nhân cách nếu trẻ được sớm hình thành và tôn vinh các giá trị đích thực của mình thì các em sẽ có một nhân cách phát triển toàn diện, bền vững, có khả năng thích ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội, biết tự khẳng định mình trong cuộc sống .

    Trẻ em là giai đoạn học, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị cuộc sống để phát triến nhân cách, do đó cần giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để trẻ nhận thức đúng và có hành vi ứng xử phù hợp ngay từ khi còn nhỏ .

    *Thực trạng vấn đề:

    Lâu nay, chúng ta thường quan niệm: rèn dạy kỹ năng sống chủ yếu chỉ dành cho người lớn. Nhưng đối với trẻ ở lứa tuổi tập nói, dạy lễ giáo đạo đức ban đầu cho các cháu ở trường mầm non là rất quan trọng trong việc hình thành thói quen và nhân cách của bé sau này .

    Thực tế từ các trường cho thấy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thường được thực hiện bằng cách cho trẻ xem tranh truyện, tổ chức hội thi:”Bé khỏe, bé ngoan”có giáo viên, cha mẹ và trẻ cùng tham gia thi hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống để khơi dậy lòng nhân ái trong trẻ, giúp trẻ có được những kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp ứng xử. Tuy nhiên do tác động ngoại cảnh hay trẻ được nuông chiều và đáp ứng mọi thứ theo yêu cầu nên có những biểu hiện không đúng trong lễ giáo với mọi người trong gia đình và bạn bè, trẻ không có được kỹ năng tự phục vụ bản thân, kỹ năng lãnh đạo…

    Theo nhận định của nhiều giáo viên, do lớp có số lượng trẻ quá đông, số giáo viên trong một lớp cũng chưa đủ theo qui định nên việc uốn nắn hành vi, cử chỉ cho từng trẻ cũng là vấn đề khó khăn. Điều kiện cơ sở vật chất để dạy trẻ thực hành hành vi lễ giáo, liên hệ thực tế cũng còn nhiều khuyết điểm nên việc giáo dục chỉ dừng lại ở cung cấp kiến thức.

    *Lí do chọn đề tài:

    Câu nói: “Hiền dữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do Giáo dục mà nên”.

    Thật vậy : Nếu trẻ được sống trong một môi trường giáo dục tốt thì trẻ sẽ có những đức tính tốt ngược lại trẻ sống trong một môi trường thiếu Giáo dục thì nhân cách của trẻ sẽ phát triển không tốt .

    Với những thực trạng mà tôi vừa nêu ở phần trên kết hợp với nhận định của bản thân kỳ vọng của tôi trong năm học này là đẩy mạnh giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ mầm non để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Giáo dục hiện nay

    *Giới hạn nghiên cứu:

    Hành trình giáo dục kỹ năng sống sẽ bắt đầu từ “động tác” cung cấp kiến thức và hình thành những cảm xúc, những hành vi lễ giáo của trẻ. Ví như với bản thân, trẻ biết tên mình, vị trí của mình ở trường, ở nhà, biết cách đi, đứng ngồi lịch sự, yêu thương quí mến những người thân. Rồi biết thưa gửi, vâng dạ, không nói trống không, không nói leo, biết xưng hô thân mật, biết đảm nhận trách nhiệm và biết lãnh đạo …Trẻ phải được tiếp cận những kỹ năng cơ bản của lứa tuổi như kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng học tập, kỹ năng tự phục vụ. Giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách xử lý các tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ .

    II.CƠ SỞ LÍ LUẬN :

    Câu thành ngữ : “Tiên học lễ, hậu học văn” của cha ông ta từ ngàn xưa đã để lại đến bây giờ vẫn không thể thiếu trong các trường học. Lễ phép là nét đẹp văn hóa được đặt lên hàng đầu khi đánh giá về một con người.

    Trong thời đại hiện nay, sự phát triển của kinh tế – xã hội đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với hệ thống giáo dục, đòi hỏi nền giáo dục

    phải đào tạo ra những con người “phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.Trong đó giáo dục kỹ năng sống là bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục, là một bộ phận có tính cốt lõi, nền tảng của công tác giáo dục trẻ.

    III.CƠ SỞ THỰC TIỄN :

    Khi tìm hiểu thực trạng của trường, giáo viên và gia đình đã giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, tôi nhận thấy yếu điểm xuất phát từ yếu tố kinh tế, xã hội, gia đình và nguyên nhân chủ yếu là do các bậc cha mẹ thiếu kinh nghiệm trong quản lí gia đình, ít gần gũi với con cái hoặc nuông chiều trẻ quá mức gây tác động đến kỹ năng ứng xử của trẻ như: Trẻ không biết chào hỏi khi khách đến nhà hoặc đi về nhà không thưa người lớn trong gia đình…

    Năm học này, tôi được phân công đứng lớp Lớn 2 Tam Hòa hầu hết các cháu là con nông dân nên việc quan tâm đến con em còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó còn có các cháu gia đình luôn nuông chiều thái quá. Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho con em ở lứa tuổi Mẫu giáo, nên thường khoán trắng cho giáo viên.

    Thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự do, ra vào lớp tự nhiên, hay nói leo, trả lời không trọn câu hay một số cháu rất ít nói và rụt rè trong giao tiếp …

    Môi trường sống của trẻ ở gia đình và môi trường sống, học tập vui chơi của trẻ ở trường là hai nơi mà trẻ luôn được tiếp cận.

    Với tình hình như vậy, là Giáo viên Mầm non trăn trở với những thực trạng trên tôi mạnh dạn đề xuất ra một số giải pháp thích hợp để từng trẻ lớp tôi có được những thói quen và hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội, nhằm góp phần hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ, để trường học thực sự văn minh, thanh lịch.

    IV.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

    Để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học của ngành, tôi quyết tâm lấy mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ của năm học này, để góp một phần nhỏ bé của mình vào quá trình hình thành nhân cách trẻ thơ trong thời đại mới.

    Như chúng ta đã biết, ở trường mầm non không có giờ dạy đạo đức riêng, mà thông qua sử dụng hình thức tích hợp với nội dung bài dạy của các lĩnh vực để hướng trẻ tới cảm xúc, tình cảm, hành vi lễ giáo.

    Lồng nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các môn học nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hóa.

    Ví dụ:

    * Giờ học phát triển thể chất

    Cô dạy trẻ biết các kỹ năng vận động, biết siêng năng rèn luyện để cơ thể khỏe mạnh, trẻ biết trong khi tập không chen lấn xô đẩy nhau…

    * Giờ học khám phá xã hội:

    Tôi dạy trẻ kỹ năng giao tiếp qua đề tài: Gia đình bạn, gia đình tôi

    – Trẻ biết chia sẻ thông tin về gia đình, kể về các thành viên trong gia đình, những việc mà trẻ thường làm ở nhà.

    Kỹ năng sống trẻ học được đó là: Giao tiếp cởi mở với bạn, lắng nghe bạn nói và chờ đến lượt mình nói. Biết nói rõ ràng để bạn hiểu và chơi cùng bạn.

    *Đối với giờ học tạo hình: “Vẽ ngôi nhà của bé”

    Cô giáo dục trẻ biết yêu quí ngôi nhà mình ở, biết quét dọn nhà cửa sạch sẽ, sắp xếp đồ dùng trong gia đình ngăn nắp gọn gàng…

    *Đối với giờ học làm quen văn học: Qua câu chuyện “Người bạn tốt”

    Cô đàm thoại cùng trẻ:

    Linh và Trang là đôi bạn như thế nào?

    Khi Linh gặp nạn thì Trang đã làm gì?

    Con học tập được đức tính gì ở hai bạn?

    Cô giáo dục trẻ tình đoàn kết, thương yêu giúp đỡ bạn bè, biết nói những lời cảm ơn chân tình khi được người khác giúp đỡ mình.

    *Đối với giờ học làm quen chữ cái: dạy trẻ phát âm đúng, nói rõ ràng, biết sắp xếp đồ dùng học tập gọn gàng, ngăn nắp.

    *Giờ học Giáo dục âm nhạc: Dạy bài hát ” Rửa mặt như mèo”

    Qua bài hát này đã giáo dục trẻ thói quen tự vệ sinh thân thể sạch sẽ.

    – Kỹ năng sống là phương pháp học mà chơi, chơi mà học.

    Dạy kỹ năng sống cho trẻ không phải gò ép trong những tiết học chính thức mà phải kết hợp qua các hoạt động vui chơi của trẻ:

    Trong hoạt động vui chơi trẻ được thực hành trãi nghiệm với nhiều vai chơi khác nhau phản ảnh trong cuộc sống của người lớn, tôi tiến hành lồng kỹ năng sống vào vui chơi. Qua đó trẻ được giao tiếp với nhau bằng những lời nói nhỏ nhẹ, ân cần, lễ phép, những lời cảm ơn, xin lỗi, trao nhận bằng hai tay …luôn được thể hiện .Tôi theo dõi lắng nghe để kịp thời uốn nắn trẻ khi có biểu hiện chưa chuẩn mực.Qua đó giúp trẻ hình thành thói quen hành vi văn minh trong giao tiếp.

    Người bán hàng chào hỏi khách hàng: Cô, chú mua gì ạ?

    Người đi mua hàng trật tự khi mua, nói tên hàng cần mua: Bán tôi một cân gạo, bao nhiêu vậy cô?

    +Trò chơi đóng vai Y tá – Bác sĩ:

    Bác sĩ biết hỏi thăm bệnh nhân ân cần, “Cháu đau chỗ nào? Cháu có mệt lắm không? …”

    Y tá phát thuốc dặn dò bệnh nhân uống thuốc.

    Bệnh nhân nhận thuốc bằng hai tay và nói lời cảm ơn với bác sĩ, y tá.

    Qua hoạt động vui chơi trẻ dần dần được rèn kỹ năng giao tiếp, ứng xử, chào hỏi mạnh dạn hơn đối với mọi người.

    Trong một thời gian rèn luyện trẻ lớp tôi kỹ năng chào hỏi lễ phép, giao tiếp lịch sự có phần chuyển biến rất tốt.

    Trong các hoạt động hằng ngày của trẻ ở trường, trẻ dễ được tiếp cận những gì mà cô giáo, người lớn, bạn bè đã làm. Giờ đón trẻ và trả trẻ tôi ân cần và chuẩn mực trong cách xưng hô với bố mẹ trẻ, tôi tập cho trẻ chào thưa lễ phép với cô và bố mẹ trẻ.

    Giờ hoạt động ngoài trời, dạo chơi tham quan…tôi đều quan tâm nhắc nhở trẻ luôn có những ý thức và hành động tốt như biết đoàn kết vui chơi cùng bạn, khi làm việc gì sai với bạn với cô thì phải biết xin lỗi, ai cho gì thì nhận bằng hai tay và cảm ơn, biết giữ vệ sinh môi trường, thân thể sạch sẽ …

    Biện pháp này đạt kết quả rất cao, tôi tiếp tục áp dụng.

    Việc tổ chức ngày hội, ngày lễ đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ mầm non.

    Thông qua các ngày hội, ngày lễ như: Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 20/11, Ngày Tết Trung Thu, … Tôi tổ chức các hoạt động văn nghệ, các trò chơi dân gian, đồng thời ôn lại truyền thống của dân tộc để giáo dục trẻ lòng tự hào dân tộc, biết nhớ ơn những người đã hy sinh cho lợi ích dân tộc, lợi ích trồng người. Thông qua đó trẻ có ý thức phấn đấu trong học tập để sau này trở thành người có ích cho xã hội.

    Với phương châm Trường học là nhà, nhà là trường học thì việc phối kết hợp với các bậc phụ huynh là một trong những biện pháp rất cần thiết để giáo dục trẻ. Gia đình giáo dục tốt, trẻ sẽ có điểm xuất phát tốt và nề nếp tốt. Ngược lại, trẻ sẽ không có gì khi không được gia đình quan tâm giáo dục. Như vậy, xuất phát điểm của trẻ là chưa công bằng.Giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường sẽ xóa đi rào cản đó.Vì vậy, Giáo viên và phụ huynh đều phải tiến hành giáo dục trẻ song song với nhau. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi mạnh dạn trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, để phụ huynh nhận thức rõ ý nghĩa vấn đề để cùng nhà trường giáo dục trẻ.

    Tôi luôn gặp gỡ trao đổi với phụ huynh hằng ngày trong giờ đón trả trẻ về sự tiến bộ hay những hạn chế của trẻ để phụ huynh nắm bắt kịp thời và tiếp tục rèn luyện cho trẻ ở nhà. Đối với những trẻ mà giáo viên cần lưu ý hơn đó là trẻ có thể lực yếu, suy dinh dưỡng, trẻ thụ động , trẻ hay nghịch thì tôi luôn tranh thủ đến tận nhà để trực tiếp gặp gia đình của cháu trao đổi về thực trạng của cháu và cùng với gia đình trẻ có biện pháp giúp đỡ cho trẻ tốt hơn.Những cử chỉ và việc làm tốt của trẻ ở trường và ở gia đình tôi thường nêu ra và tuyên dương trẻ đó trước lớp trong giờ nêu gương để trẻ khác cùng học tập.

    Cuối tháng, thông qua sổ liên lạc của trẻ tôi đều ghi rất cụ thể những kỹ năng của trẻ đã làm được để phụ huynh nắm bắt.Qua thời gian rèn luyện trẻ lớp tôi có nhiều tiến bộ rõ rệt như mạnh dạn, lịch sự trong giao tiếp, xưng hô lễ phép thân thiện.

    Ở trường cô giáo là người mẹ thứ hai đối với trẻ.Trẻ rất thích được cô yêu thương, gần gũi.Mọi hành động cử chỉ của cô trẻ rất lưu tâm và bắt chước theo.

    Vì vậy cô phải luôn luôn chuẩn mực trong mọi lĩnh vực: như cách giao tiếp với phụ huynh, với trẻ hay tác phong của cô, hành động cử chỉ của cô …Tôi luôn ân cần dịu dàng thương yêu trẻ, luôn tạo mối thân thiện giữa cô và trẻ.Cô là tấm gương cho trẻ thực hiện và noi theo.

    Ví dụ: Khi chúng ta dạy trẻ nói lời cám ơn khi nhận được sự giúp đỡ của người khác hoặc khi người khác làm một điều gì đó cho mình.Nhưng trong mối quan hệ giữa các cô giáo và giữa cô với trẻ, người lớn không nói cám ơn thì trẻ sẽ không hình thành ý thức của việc nên cám ơn người khác.

    Khi thấy trên sân trường có lá cây, cô giáo đi qua và bảo trẻ: Con hãy nhặt bỏ vào thùng rác đi. Khi ấy trẻ sẽ nhặt vì bị sai khiến.Cũng tình huống trên: Cô nhặt lá cây bỏ vào thùng rác và hỏi trẻ: Con biết tại sao cô bỏ lá cây vào thùng rác không? Giải thích cho trẻ hiểu: việc làm này nhằm giữ sân trường sạch đẹp cho các con học và chơi. Lần sau thấy rác trẻ sẽ tự động nhặt rác vì trẻ hiểu rằng: nhặt rác làm sạch sân trường.

    Thực hiện biện pháp trên hiệu quả đạt rất tốt: Khi cô giáo là mẹ hiền thì các cháu sẽ là con ngoan.

    Sau những biện pháp tôi nghiên cứu và thực hiện chất lượng giáo dục về kỹ năng sống cho trẻ được tăng lên rõ rệt. Trẻ ngoan hơn, lễ phép hơn, trẻ được hình thành những thói quen vệ sinh văn minh, giao tiếp mạnh dạn với mọi người, biết chào hỏi khi có khách đến, biết trao nhận bằng hai tay, biết quan tâm giúp đỡ bạn bè, cô giáo, ba mẹ…

    Các bậc phụ huynh có những chuyển biến rõ rệt về phong cách, về lời ăn tiếng nói và quan tâm đến con em mình ngày càng nhiều hơn .

    Bản thân tôi được trau dồi kiến thức và có thêm những kinh nghiệm trong việc giáo dục trẻ, được phụ huynh và các bạn đồng nghiệp thương yêu, quí mến hơn.

    *Kết quả đạt trên trẻ:

    – Kỹ năng giao tiếp: 90%

    – Kỹ năng chăm sóc bản thân: 95%

    – Kỹ năng quản lí cảm xúc: 90%

    – Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm: 95%

    – Kỹ năng lãnh đạo: 90%

    VI. KẾT LUẬN:

    Từ những biện pháp nêu trên tôi đã thực hiện với trẻ lớp tôi trong năm học này, đến nay tôi nhận thấy kết quả rất khả quan điều đó chứng tỏ việc áp dụng các biện pháp của đề tài đã có một hiệu quả nhất định.

    Tuy kinh nghiệm còn khiêm tốn nhưng được rút ra từ thực tiễn giảng dạy cùng với sự đóng góp một phần không nhỏ của Ban giám hiệu nhà trường và tập thể Hội đồng Sư phạm.

    *BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

    1. Giáo viên nắm vững phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non.

    2. Kỹ năng sống được lồng ghép thông qua các hoạt động có trong nhà trường và ở mọi lúc mọi nơi, các hoạt động chuyên môn, lễ hội…

    3.Công tác phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình, giữa giáo viên chủ nhiệm với trẻ với phụ huynh thông qua các giờ đón trả trẻ, các hoạt động giao lưu văn nghệ giữa giáo viên và phụ huynh, các hoạt động lễ hội…

    4.Cô giáo là trung tâm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, là một khuôn mẫu để trẻ tiếp cận và học tập.

    5.Trong quá trình áp dụng các biện pháp, cần chú ý kết hợp nhiều biện pháp với nhau để đạt hiệu quả cao.

    VII. ĐỀ NGHỊ:

    Kính mong được đón nhận những góp ý, bổ sung của Hội đồng khoa học Giáo dục để SKKN này phong phú và đạt hiệu quả hơn.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Đại Quang, ngày 25 tháng 03 năm 2013 Người viết Lê Thị Lệ Trang PHỤ LỤC Một số hình ảnh của bé về kỹ năng sống Bé hoạt động âm nhạc Bé tập làm nội trợ Bé ăn xế Bé trực nhật Bé rửa tay Bé bỏ rác đúng nơi qui định Bé không bẻ lá cành Bé tưới cây

    Bé tưới rau

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Tài liệu bồi dưỡng chuyên môn hè năm 2010-2011; 2011-2012

    – Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì III.

    ***************************************** MỤC LỤC *SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    I. Đặt vấn đề …………………………………………………. Trang 1-2

    *Vấn đề được nghiên cứu………………………………………..Trang 1

    *Thực trạng vấn đề……………………………………………….Trang 1-2

    *Lí do chọn đề tài……………………………………………… Trang 2

    *Giới hạn nghên cứu……………………………………………………………..Trang 2

    II. Cơ sở lí luận …………………………………………………. Trang 2

    III.Cơ sở thực tiễn ……………………………………………… Trang 2-3

    IV.Nội dung nghiên cứu ………………………………………. Trang 3-6

    1. Giáo dục kỹ năng sống thông qua tiết học …………………… Trang 3-4

    2. Giáo dục kỹ năng sống vào hoạt động vui chơi……………… Trang 4

    3. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi ……………Trang 4-5

    4. Giáo dục kỹ năng sống qua các ngày hội ,ngày lễ …………… Trang 5

    5. Phối hợp với các bậc phụ huynh ………………………………Trang 5

    6. Cô giáo gương mẫu chuẩn mực ……………………………….Trang 5-6

    V. Kết quả nghiên cứu ………………………………………… Trang 6

    VI. Kết luận . ……………………………………………………. Trang 6-7

    VII. Đề nghị …………………………………………………….. Trang 7

    * PHỤ LỤC……………………………………………………………………….. Trang 8-11

    *TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………… Trang 12

    *MỤC LỤC ……………………………………………………. Trang 13

    ******************************************

    PHÒNG GIÁO DỤC ĐẠI LỘC

    TRƯỜNG MẦM NON ĐẠI QUANG

    =====***=====

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON Giáo viên : Lê Thị Lệ Trang

    Năm học : 2012-2013

    Lê Thị Lệ Trang @ 14:52 15/05/2013

    Số lượt xem: 24757

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Rèn Luyện Thói Quen Vệ Sinh Thân Thể Cho Trẻ Mầm Non 4
  • Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chậm Tiến
  • Những Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Ở Việt Nam Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Mầm Non
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Tự Phục Vụ Bản Thân Cho Trẻ Lớp Mẫu Giáo 5
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Trẻ Mẫu Giáo Dân Tộc Thiểu Số
  • Skkn Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Lồng Ghép Tích Hợp Nội Dung Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Trẻ Ở Trường Mầm Non Họa Mi.
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Mầm Non
  • Những Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Ở Việt Nam Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Năm nay trường tôi tổ chức cho trẻ đi tham quan trang trại era house và lăng Bác. Khi tôi thông báo kế hoạch đi tham quan của nhà trường trẻ lớp tôi rất thích. Để không làm mất hứng của trẻ tôi khuyến khích trẻ hãy chia sẽ cảm xúc và sự vui thích của trẻ về chuyến tham quan sắp tới với các bạn. Và tôi đã ghi lại được nhũng cuộc đối thoại giữa các trẻ như sau:

    + Lần này chúng mình được đi ô tô đấy.

    + Cậu có say xe không?

    + Say xe thì phải uống thuốc vào. Mẹ tớ bảo thế.

    + Cậu được đến lăng Bác bao giờ chưa?

    + Vào lăng Bác là không được nói chuyện đâu.

    + Ở trang trại có gì không nhỉ?

    + Tớ không biết. Tớ chưa đến đấy bao giờ.

    Dạy kỹ năng sống cho trẻ không phải gò ép trong những tiết học chính thức mà phải kết hợp qua các hoạt động vui chơi của trẻ.

    2. Biện pháp 2: Tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm có tính giáo dục và tính tương tác cao.

    Phương pháp giáo dục trẻ mầm non phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu hứng thú của trẻ trong phương châm chơi mà học, học bằng chơi. Chú trọng đổi mới môi trường giáo dục nhằm kích thích tạo cơ hội cho trẻ khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ.

    Ngoài ra, ở trường mầm non giáo viên cần dạy trẻ văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rữa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa hoặc biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất. không làm ảnh hưởng đến người xung quanh.

    Ảnh giờ ăn trưa của trẻ.

    Ví dụ:

    Chủ đề ” Tết và mùa xuân” tôi cho trẻ đi tham quan của hàng bán hàng tết nhà bác Luyến, tổ chức cho trẻ được gói bánh chưng và lồng ghép câu chuyện “Sự tích bánh chưng, bánh giầy”, toi cho trẻ làm thiệp chúc mừng năm mới.

    Chủ đề ” Thế giới thực vật” tôi cho trẻ đi dạo tham quan vườn rau, cây cối xung quanh khuôn viên trường.

    Chủ đề ” Quê hương đất nước Bác Hồ” tôi cho trẻ đi tham quan lăng Bác.

    Ảnh cô hướng dẫn trẻ gói bánh chưng.

    Ảnh trẻ làm thiệp chúc mừng năm mới.

    Ngày tết Hàn thực tôi tổ chức cho trẻ trải nghiệm nặn bánh trôi tại lớp. Tôi đã cho trẻ nặn bánh trôi màu trắng, màu đỏ và màu xanh. Trước khi nặn tôi đã khơi gợi trí tò mò của trẻ bằng cách cho trẻ đoán xem làm cách nào để vỏ bánh có màu đỏ và màu xanh. Tôi hỏi trẻ làm thế nào để cho nhân vào bánh và làm sao để bánh có dạng hình tròn. Khi đó trẻ sẽ tò mò và đoán. Sau đó tôi cho trẻ tự làm bánh và cho trẻ thưởng thức luôn những viên bánh do mình làm ra.Được thưởng thức sản phẩm do chính tay mình tạo ra trẻ rất thích thú.

    Ảnh trẻ làm bánh trôi tại lớp.

    Hình ảnh trẻ đi tham quan trang trại era house.

    Hình ảnh trẻ đi tham quan lăng Bác.

    Trước ngày đi tham quan tôi kích thích sự tò mò, hứng thú tìm hiểu, khám phá của trẻ bằng cách hỏi trẻ:

    + Con đoán xem với địa điểm đi tham quan ngày mai con biết được những gì?

    + Theo con đi từ trường mình đến địa điểm đó mất bao lâu?

    + Các con cần chuẩn bị những gì cho buổi tham quan đó? (mũ, dép, trang phục phù hợp.)

    + Trên đường đi các con cần làm gì? (đi theo hàng, đi sát lề đường bên phải, chào hỏi mọi người,). Vì sao phải làm như vậy?

    + Tới địa điểm tham quan con định làm gì và nói những gì ở đó?

    Với việc chuẩn bị tâm lí và việc chuẩn bị kiến thức cho trẻ như vậy tôi đã khiến trẻ lớp tôi rất tò mò và háo hức về địa điểm tham quan ngày mai. Tối về trẻ háo hức kể cho bố mẹ nghe về kế hoạch của lớp và chia sẻ những điều mà trẻ muốn biết với bố mẹ. Qua đó bố mẹ có cơ hôi cung cấp thêm kiến thức cho con và tạo được một sợi dây gắn kết giữa nhà trường và gia đình, giữa bố mẹ và con cái.

    Tại địa điểm tham quan tôi luôn tận dụng tối đa các điều kiện giúp trẻ phát triển các kỹ năng sống cần thiết.

    Ví dụ : Chủ đề ” Nghề nghiệp” tôi cho trẻ tham quan cửa hàng gội đầu của mẹ bạn Ngọc Linh. Trẻ vừa được quan sát trò chuyện, đàm thoại về công việc, về các đồ dùng dụng cụ của nghề làm đầu vừa được chia nhóm thực hành một số thao tác như chải tóc, mô phỏng công việc gội đầu, cắt tóc, làm tóc xoăn và sấy tóc cho bạn.

    Ảnh trẻ đi sát lề đường bên phải.

    Năm nay trường tôi tổ chức cho trẻ đi tham quan trang trại era house và lăng Bác. Khi tôi thông báo kế hoạch đi tham quan của nhà trường trẻ lớp tôi rất thích. Để không làm mất hứng của trẻ tôi khuyến khích trẻ hãy chia sẽ cảm xúc và sự vui thích của trẻ về chuyến tham quan sắp tới với các bạn. Và tôi đã ghi lại được nhũng cuộc đối thoại giữa các trẻ như sau:

    + Lần này chúng mình được đi ô tô đấy.

    + Cậu có say xe không?

    + Say xe thì phải uống thuốc vào. Mẹ tớ bảo thế.

    + Cậu được đến lăng Bác bao giờ chưa?

    + Vào lăng Bác là không được nói chuyện đâu.

    + Ở trang trại có gì không nhỉ?

    + Tớ không biết. Tớ chưa đến đấy bao giờ.

    + Ở trường anh tớ đi tham quan rồi đấy. Tớ thấy anh tớ mang nước, bánh, sữa với bim bim để ăn.

    + Tối về tớ sẽ bảo mẹ tớ mua cho.

    + Nhớ mang mũ với đi dép quai hậu nữa. Mọi lần đi tham quan cô đều dặn nhu thế.

    + Đi ô tô cậu không được thò đầu, thò tay ra ngoài đâu, như thế nguy hiểm lắm đấy.

    + Hôm trước cô kể ” Một chuyến tham quan” tớ biết rồi

    Nghe câu chuyện trẻ kể với nhau tôi cảm thấy niềm vui và tự hào về những gì tôi đã làm và làm được cho trẻ. Buổi ngoại khoá nhà trường tổ chức là vào cuối năm. Sau một năm học tôi thực sự thấy trẻ lớp tôi đã “lớn” hơn rất nhiều cả về thể chất lẫn tinh thần. Trẻ biết trao đổi với nhau về một vấn đề, biết chia sẻ kinh nghiệm và hiểu biết với nhau, biết phải làm những gì để chuẩn bị cho chuyến đi và biết những quy tắc mà mình cần thực hiện cho phù hợp với chuyến đi đó. Sau nhiều lần được cô tổ chức cho đi tham quan dã ngoại, tới buổi ngoại khoá này trẻ thật sự đã rất tự tin với đầy đủ những kỹ năng mà cô đã cung cấp trong các buổi đi tham quan trước và qua tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ.

    Bác lái xe đã khen trẻ lớp tôi ngoan, khi đi xe không hò hét, đùa nghịch hay nói chuyện to làm ảnh hưởng đến bác, lên xe biết chào và xuống xe biết cảm ơn bác, điều mà không phải khi nào bác lái xe cũng nhận được.

    Khi được phát bánh mỳ và sữa tôi nhận thấy không một trẻ nào tùy tiện vứt rác lung tung cho đến khi cô đi thu rác.

    Để tránh lạc trẻ trong chuyến tham quan, tôi đánh máy cho mỗi trẻ một biển tên đeo trước ngực. Tôi hướng dẫn trẻ từng thông tin được đánh trên đó và cách sử dụng biển tên trong trường hợp cần thiết. Nhờ đó tôi đã cung cấp thêm cho trẻ kỹ năng bảo vệ an toàn cá nhân thông qua chuyến tham quan này.

    Ảnh trẻ giao lưu với lớp mẫu giáo nhỡ trong khu

    Hoặc khi tổ chức cho trẻ hoạt động lao động, tôi để trẻ chủ động nhận công việc của mình, tự thỏa thuận, phân công công việc trong nhóm, tự bàn bạc tìm cách giải quyết công việc của nhóm mình. Qua đó tôi có thể giúp trẻ hình thành sự tự tin, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý tình huống khi xảy ra vấn đề cần giải quyết

    Khi cho trẻ chơi tự do trong hoạt động ngoài trời, tôi vừa quan sát trẻ chơi, vừa hướng dẫn trẻ cách chơi an toàn như: Cách leo lên xuống thang, cách nắm thành cầu trượt để trượt cho an toàn, cách cầm dây thừng khi đi cà kheo, khi có bạn đang đi cà kheo thì không được đứng phía trước bạn vì sẽ gây nguy hiểm cho bạn, hướng dẫn trẻ cách kiên trì chờ đến lượt mình chơi, tuyệt đối không xô đẩy, tranh giành đồ chơi, chỗ chơi với bạn.

    Ảnh trẻ đi cà kheo ngoài sân.

    Ngoài ra tôi còn tổ chức các hoạt động nghệ thuật cho trẻ tham gia. Ngày tết tôi cho trẻ làm thiệp chúng mừng năm mới, ngày mùng 8 – 3 tôi cho trẻ làm thiệp chúc mừng bà, mẹ, cô và các bạn gái. Trẻ còn được giao lưu văn nghệ ở thôn, xã, giao lưu văn nghệ ở lớp với các bạn. Trẻ được tham gia các hoạt động tôi thấy trẻ khéo léo và tự tin hơn.

    Ảnh trẻ giao lưu văn nghệ tại thôn

    Thông qua biện pháp này khi trẻ được tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động nghệ thuật, giao lưu văn nghệ tôi thấy trẻ trưởng thành và tự tin khi đứng trước đám đông rất nhiều. Tôi thấy các hoạt động này rất cần thiết để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

    3.Sử dụng các tình huống cho trẻ giải quyết.

    Trong cuộc sống có vô vàn các tình huống xảy ra đòi hỏi con người phải giải quyết, ứng phó. Khả năng vận dụng các kỹ năng sống một cách linh hoạt sẽ cho phép trẻ xử lý tốt các tình huống xảy ra với trẻ trong cuộc sống hàng ngày.

    Một trong những kỹ năng cần hình thành cho trẻ, đó là giúp trẻ có khả năng xử lý tình huống có vấn đề. Con đường cho trẻ đi tham quan là một “con đường màu mỡ” về các tình huống thực tế xảy ra trong cuộc sống cần con người giải quyết. Đó là nơi trẻ được cọ xát với rất nhiều tình huống thực tế giúp trẻ bồi dưỡng kỹ năng xử lý tình huống rất hiệu quả.

    Ví dụ: Trên đường đi trẻ gặp một chú vứt rác ra đường. Trẻ nhắc chú đó nhặt rác khiến chú cảm thấy ngượng và xấu hổ về hành vi không đẹp của mình.

    Ngoài ra, tôi còn thiết kế một số tình huống để tập cho trẻ tự giải quyết vấn đề. Những tình huống này được sử dụng xuyên suốt trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.

    Ví dụ 2: Trong một giờ hoạt động của lớp tôi có 30 trẻ. Với buổi hoạt động lao động gồm các nội dung lau lá cây, tưới cây, nhặt lá rụng tôi dự kiến mỗi nội dung hoạt động có 10 trẻ một nhóm. Tôi chuẩn bị cho trẻ 10 khăn lau, 10 bình tưới, 10 giỏ. Tôi cho trẻ tự nhận công việc của mình. Điều đó có thể dẫn đến tình huống có nhóm nhiều hơn 10 trẻ và không đủ dụng cụ để lao động. Khi xảy ra tình huống đó tôi thấy các nhóm trẻ đã bàn bạc, thỏa thuận và đưa ra các cách giải quyết khác nhau:

    + Cách 1: Vận động nhau chuyển nhóm cho đủ số dụng cụ lao động

    + Cách 2: Tìm cô giáo và bày tỏ mong muốn được cô giúp đỡ bằng cách cung cấp thêm dụng cụ lao động.

    + Cách 3: Với nhóm nhặt rác, 2 bạn dùng chung một giỏ. Với nhóm tưới cây, 2 bạn dùng chung 1 bình, một bạn lấy nước, một bạn tưới.

    Ví dụ 3: Trên đường đi tham quan tôi sắp xếp 1 tình huống cho trẻ giải quyết. Các bạn đang đứng cùng nhau có 1 người lạ đến hỏi chuyện trẻ rồi rủ trẻ đi chơi. Khi xảy ra tình huống đó tôi thấy trẻ lớp tôi nhất quyết không đi cùng người lạ và các bạn biết gọi cô để cô giúp.

    Như vậy, qua hoạt động này, tôi thấy trẻ lớp tôi đã “trưởng thành” hơn hẳn. Trẻ độc lập, chủ động giải quyết các tình huống có vấn đề và hơn hết là biết giải quyết cùng nhau, biết bàn luận, mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình, lắng nghe ý kiến của bạn và lựa chọn giải pháp phù hợp. Biết bảo về an toàn cho bản thân mình.

    4. Biện pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống thông qua các trò chơi vận động.

    Biện pháp này giúp tôi tập hợp các trò chơi vận động, tạo nguồn tư liệu phong phú cho giáo viên để sử dụng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

    Tôi đã sưu tầm các trò chơi vận động, phân loại các trò chơi theo tác dụng của chúng đối với việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Sau đó tôi lưu lại để sau này sử dụng.

    Ví dụ:

    Nội dung “Kỹ năng hợp tác”

    Đây là một đức tính cần thiết đối với trẻ ở lứa tuổi này. Có những việc chúng ta không thể tự làm được, nếu được người khác giúp đỡ thì ta sẽ hoàn thành được việc ta muốn làm. Khi chúng ta kết hợp năng lực làm việc của mình với người khác theo cùng một mục đích chung, đó chính là sự hợp tác. Sự hợp tác giúp ta hoàn thành nhiệm vụ của mình nhanh chóng và dễ dàng hơn là tự mình làm lấy. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cùng làm, cùng chơi với bạn bè, biết cảm thông và chia sẻ với bạn.

    – Trò chơi: “Bắt cá trong chum”.

    + Cách chơi: Mỗi đội có 2 trẻ. Trẻ trong đội một tay quàng qua vai bạn của đội mình, tay kia khoắng trong chum phối hợp với nhau để cùng bắt được cá. Trong một khoảng thời gian nhất định, đội nào bắt được nhiều cá nhất đội đó giành chiến thắng.

    – Trò chơi: ” Khiêu vũ cùng bóng”

    + Cách chơi: Mỗi đội có 2 trẻ. Trẻ trong đội phải dùng chán giữ bóng và 2 tay đan vào nhau khi có tiếng nhạc thì hai bạn phải khiêu vũ theo tiếng nhạc, nhạc nhanh thì khiêu vũ nhanh, nhạc chậm thì khiêu vũ chậm, nhạc dừng thì phải dừng. Khi nhạc dừng đội nào vẫn giữ được bóng thì đội đó thắng cuộc.

    Ảnh trẻ chơi khiêu vũ cùng bóng.

    Nội dung “Sự tự tin”

    Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin trong trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về trong cá nhân và trong mối quan hệ với người khác. Không ai sinh ra đã có ngay sự tự tin. Đó là một đức tính chỉ có thể có được nhờ vào việc rèn luyện và học hỏi. Sự tự tin lớn dần lên nhờ vào cảm giác được yêu thương, tôn trọng và thấy mình có giá trị. Một trẻ tự tin sẽ “duy trì được khả năng học hỏi, khám phá trong học tập và luôn sẵn sàng đón nhận những thách thức mới, mong muốn được yêu quý và đón nhận chính là khởi đầu tuyệt vời để trẻ gần gũi hơn với mọi người.

    – Trò chơi: “Gánh hoa qua cầu”

    + Cách chơi: Cho trẻ đứng thành hai hàng ngang. Lần lượt từng trẻ gánh quang gánh có đựng hoa đi qua ghế thể dục. Ai ngã khỏi cầu, làm rơi hoa phải ra ngoài một lần chơi.

    Trẻ đứng ở 2 hàng cổ vũ cho bạn và đọc đồng dao do cô sáng tác:

    Gánh hoa qua cầu Như trên mặt đất

    Bạn trước tôi sau Lon ton, lật đật

    Gánh hoa cho mau Run rẩy ngã liền

    Mang hoa về nhà Tự tin, tự tin

    Tự tin vững bước Việc gì cũng dễ

    Chân bước khéo sao Gánh về, gánh về.

    Ảnh trẻ chơi trò chơi gánh hoa qua cầu.

    – Trò chơi: ” Bạn hãy làm giống tôi” ( Trò chơi này sử dụng đầu năm học và các buổi giao lưu với các bạn lớp khác).

    + Mục đích: Tạo cho trẻ nhớ tên nhau 1 cách tự nhiên, phát triển mạnh dạn tự tin của trẻ đến các hoạt động tập thể.

    + Cách chơi: Cô và trẻ ngồi thành vòng tròn. Trước tiên cô nói tên của mình sau đó ném bóng cho 1 trẻ bất kì. Trẻ nhận được bóng từ cô sẽ nói tên của mình. Cứ như vậy cho đến khi tất cả các trẻ nhớ tên nhau. Trẻ mạnh dạn đứng lên nói tên của mình.

    Qua các trò chơi vận động tôi thấy trẻ học được rất nhiều kỹ năng như sự tự tin, cách hợp tác với bạn để hoàn thành công việc, cách xử lí tình huống và tôi thấy trẻ lớp tôi tự tin, khéo léo hơn rất nhiều.

    5. Biện pháp 5: Sáng tác vè, đồng dao đưa vào trò chơi vận động, kích thích trẻ cải tiến – sáng tạo trong trò chơi nhằm gây hứng thú và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

    Biện pháp này giúp trẻ hứng thú hơn với trò chơi đồng thời tiếp thu các kỹ năng sống được cô giáo lồng ghép trong lời đồng dao một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc.

    Ví dụ: – Trò chơi “Nghe lời chỉ dẫn”:

    Kim kỉm kìm kim Tìm Nam tìm Bắc

    Tôi giấu cái ghim Nghe lời tôi nhắc

    Tôi giấu cái lá Bạn đang đến gần

    Tôi giấu hòn đá ( Bạn đi xa rồi)

    Đố bạn đi tìm Tìm mau tìm mau

    Tìm Đông tìm Tây Kẻo mà không thấy

    – Trò chơi: “Cẩn thận Cáo gian”

    Sáng ban mai Thỏ áo hường

    Trời trong mát Cầm điện thoại

    Vang tiếng hát Bấm số nào?

    Khắp rừng sâu Biết làm sao?

    Bầy Thỏ Nâu Ôi chẳng nhớ

    Đến nhà bạn Đành gõ cửa

    Nhưng các chú Đủ các nhà

    Chẳng nhớ nhà Có biết đâu

    Thỏ bàn nhau Gõ nhà Cáo

    Hay gọi điện Thỏ mếu máo

    Hỏi lại bạn Chạy vội vàng

    Cho rõ đường Ôi Cáo gian

    Nguy hiểm quá

    – Trò chơi: “Động đất”:

    Có cái gì rất lạ Vẫn đủ khí thở dùng

    Rung chuyển dưới chân tôi Nếu không có gầm bàn

    Mọi thứ đều nghiêng ngả Tìm cửa, góc phòng đứng

    Chòng chành như muốn trôi Tránh cửa kính đừng đứng

    Ôi đúng rồi động đất Kẻo kính vỡ khó lường

    Nguy hiểm quá đi thôi Nếu bạn ở ngoài đường

    Phải làm gì trước nhỉ Tránh xa tòa nhà nhé

    A! Tớ nhớ ra rồi Cả đường dây điện nữa

    Chui xuống gầm bàn lớn Chỗ trống mới an toàn

    Hoặc gầm giường là xong Nhớ những điều cơ bản

    Như thế khi nhà sập Ứng phó sẽ ổn thôi

    Ngoài ra việc kích thích trẻ cải tiến, sáng tạo trong trò chơi giúp trẻ tự tin vào bản thân, nhận ra giá trị của mình đồng thời phát triển trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác.

    6.Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh:

    Đây là hình thức thường làm nhưng lại đạt hiệu quả rất cao trong các hoạt động. Việc giáo viên tích cực giao lưu với phụ huynh vào giờ đón trả trẻ giúp giáo viên dễ dàng nắm bắt tình hình của trẻ, hiểu được tính cách, hoàn cảnh sống của trẻ từ đó đề ra các biện pháp phù hợp cũng như cách tác động, phối hợp với phụ huynh trong việc rèn luyện trẻ đúng phương pháp.

    Nhận thức được tầm quan trọng của biện pháp này, tôi thường trao đổi, tuyên truyền phụ huynh hiểu những việc nên và không nên đối với trẻ để giúp trẻ có kỹ năng sống tốt, trẻ có kỹ năng tự bảo vệ bản thân, tự tin trong cuộc sống. Trẻ luôn bắt chước người lớn và cha mẹ trẻ là những người lớn gần gũi trẻ nhất. Vì vậy các bậc làm cha làm mẹ đừng vô tình bỏ qua những cơ hội đơn giản và thuận lợi hàng ngày để hướng dẫn con những thói quen tốt để rồi sau đó lại bắt trẻ mất thời gian học lại những điều này ở một nơi khác với những người xa lạ. Cha mẹ trẻ hãy chú ý giúp trẻ hình thành những kỹ năng sống tốt như kỹ năng giao tiếp xã hội để tự khám phá, đánh giá bản thân mình và người khác.

    VD: Cha hãy mẹ cho phép trẻ vui chơi bày biện đồ chơi theo theo ý thích của trẻ, đừng bao giờ cấm đoán hay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Tâm Sinh Lý Giai Đoạn Tuổi Thiếu Niên ( 11
  • Đặc Điểm Tâm Lý Của Tuổi Thiếu Niên Phật Tử Và Biện Pháp Tác Động
  • Đối Tượng Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Nhỡ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Để Thu Hút Học Sinh Và Đảm Bảo Duy Trì Sĩ Số Ở Trường Thcs Quang Trung
  • Sự Cần Thiết Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Nhà Trẻ
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 3 Tại Lớp 3 Tuổi A Trường Mầm Non Minh Tiến” Xã Minh Tiến
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mầm Non 5
  • biết sử dụng linh hoạt kỹ năng này thì không đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả và có mối quan hệ tốt với mọi người. Kỹ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả năng giao tiếp, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách ứng xử phù hợp và biết tự cách giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập rất quan trong đối với trẻ. Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép dạy kỹ năng sống cho trẻ phù hợp với từng độ tuổi từ lứa tuổi mầm non vô cùng cần thiết và đó cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2022-2017. Kỹ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kỹ năng : Kỹ năng giao tiếp ứng xử , kỹ năng vệ sinh , kỹ năng thích nghi với môi trường sống , kỹ năng hợp tác chia sẻ, kĩ năng xử lý các tình huống trong trường hợp khẩn cấp... Dạy kỹ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống của người lớn. Nhằm giúp trẻ có những kỹ năng đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống cho phù hợp. Muốn vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thực hành. Nhưng trên thực tế, trong xã hội hiện nay các gia đình thường chú trọng đến việc học kiến thức của trẻ mà không chú ý đến phát triển các kỹ năng cho trẻ. Luôn bao bọc , nuông chiều, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan tâm đến người khác và các kỹ năng trong cuộc sống rất hạn chế. Khó khăn cho trẻ trong việc có tình huống bất ngờ xảy ra. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: "Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo nhỡ". B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: I- THUẬN LỢI KHÓ KHĂN: 1- Thuận lợi: - Được sự quan tâm của ban giám hiệu luôn chỉ đạo sát sao với công tác chuyên môn. Luôn có sự đầu tư và bồi dưỡng cho chuyên môn. - Trẻ đã học qua lớp nhà bé nên đã có kiến thức và kỹ năng nhất định. Trẻ mạnh dạn ham học hỏi và thích khám phá tìm hiểu thế giới xung quanh trẻ. - Giáo viên đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, nhiệt tình tâm huyết với nghề. 2- Khó khăn: -Thiết bị dạy học, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn - Nhiều phụ huynh còn chưa quan tâm đến con em mình, luôn muốn con mình được học chữ, học số, coi nhẹ việc giáo dục kĩ năng sống II- THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU: - Kỹ năng sống là gì? Là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh cho phép bạn đối mặt với những thách thức của cuộc sống hằng ngày. - Dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non là ta nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. - Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em phải hết sức đơn giản và gần gũi với trẻ. - Chúng ta dạy kỹ năng sống cho trẻ chính là chúng ta dạy trẻ biết sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. - Trẻ sẽ học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn. - Và điều quan trọng và chúng ta mong muốn là sẽ giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới qua việc phát triển các kỹ năng cho trẻ. Nếu chỉ suy ngẫm và trò chuyện thôi thì chưa đủ , cần có các kỹ năng ứng dụng vào thực tế. Ngày nay trẻ cần được trải nghiệm , hiểu kết quả của hành vi ứng xử và muốn chủ động đưa ra những quyết định có sức ảnh hưởng lớn . III- NHỮNG BIỆN PHÁP: * Giáo dục lồng ghép: Đối với trẻ mầm non, rèn kỹ năng sống cho trẻ là rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc sinh hoạt theo nhóm , rèn luyện sức khoẻ và ý thức bảo vệ bảo vệ sức khoẻ, kỹ năng phòng chống tai nạn , rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hoá . Một trong những kỹ năng đó là kỹ năng phòng chống tai nạn, biết tự bảo vệ mình vô cùng cần thiết . Ngay từ nhỏ, trẻ cần được giáo dục kỹ năng ứng biến khi gặp các tình huống khó khăn . Đó chính là những kỹ năng mà trẻ cần được trang bị để đề phòng bất trắc xảy ra. Với trẻ mẫu giáo bé, trẻ còn nhỏ tuổi , kinh nghiệm sống chưa có nên kỹ năng phòng chống tai nạn ở trẻ còn hạn chế . Trẻ chưa nhận thức được mối nguy hiểm xảy ra xung quanh trẻ và cách nhận biết, phòng tránh và xử lý cho phù hợp. Chính vì vậy, với nội dung này, ngay từ đầu năm học cùng với giáo viên trong lớp, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu đưa ra những nguy cơ cụ thể có thể xảy ra mất an toàn với trẻ và đưa vào dạy trẻ ở mọi thời điểm trong ngày. Khi đã đưa ra được những nội dung phù hợp với trẻ thì việc lựa chọn phương pháp, biện pháp để chuyển tải đến trẻ đạt hiệu quả tối ưu nhất cũng rất quan trọng. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non là tư duy trực quan hình tượng, những kiến thức giáo dục cho trẻ phải cụ thể, gần gũi dễ hiểu đối với trẻ. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn những phương pháp sau để dạy trẻ: * Thông qua việc tạo tình huống cụ thể : Trước đây, với những nội dung dạy trẻ nhận biết một số nguy cơ không an toàn và cách phòng tránh thì giáo viên thường giáo dục trẻ với những lời dặn dò nhắc nhở đơn giản thông qua nội dung các bài thơ ,câu chuyện, bài hát có nội dung giáo dục dạy trẻ. Song trên thực tế, trong chương trình có rất ít bài hát, bài thơ, câu chuyện có nội dung đó . Vì vậy, trong năm học này, tôi nghiên cứu lựa chọn những tình huống bất trắc thường xảy ra đưa ra những tình huống cụ thể để dạy trẻ có kỹ năng ứng biến khi gặp tình huống khó khăn, biết cách suy nghĩ và giải quyết . Ví dụ, Trước đây, thông qua câu chuyện "Thỏ con không vâng lời" hoặc nội dung bài hát "Đàn Vịt con" chúng tôi chỉ dùng lời giáo dục trẻ: "Khi đi công viên hoặc đến những nơi công cộng thì phải đi với bố mẹ, không được chạy lung tung để khỏi bị lạc" chứ chưa dạy trẻ nếu chẳng may xảy ra sẽ phải xử lý như thế nào. Với cách giáo dục như vậy tôi thấy kết quả đạt trên trẻ chưa đạt hiệu quả. Trẻ ghi nhớ một cách thụ động, và thường chóng quên. Và điều cốt yếu trẻ không hiểu cốt lõi của vấn đề là tại sao không nên làm như vậy và nếu xảy ra thì phải làm thế nào. Do đó tôi đã đưa ra những tình huống "Bé làm gì khi bị lạc" Tôi đã cho trẻ suy nghĩ, mỗi trẻ đưa ra một cách giải quyết của riêng trẻ. Lắng nghe ý kiến của trẻ, cho trẻ suy nghĩ và trả lời theo ý kiến của mình, gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi : - Cho trẻ xem video bạn nhỏ đi siêu thị, bạn chạy lung tung Phương án 1: Khóc nhè + Đố các con chuyện gì sẽ xảy ra? + Khi khóc nhè điều gì sẽ xảy ra? Khi bị lạc khóc nhè không giúp chúng ta tìm được mẹ mà sẽ tạo cơ hội cho người lạ, người xấu bắt cóc. Vậy nên các con phải thật bình tĩnh, không khóc nhè Phương án 2: Chạy đi tìm mẹ, nghe theo người lạ -Theo con chạy đi tìm mẹ trong siêu thị rộng lớn có giúp chúng mình tìm được mẹ không? ( Cho trẻ xem video chạy đi tìm mẹ ) - Bạn có tìm được mẹ không? - Ai đã đến giúp bạn? - Người lạ đã làm gì? Khi bị lạc mẹ các con phải thật bình tĩnh, không khóc nhè, không chạy lung tung. Không đi theo người lạ, người xấu sẽ dụ dỗ, bắt cóc rất nguy hiểm Phương án 3: Gọi to tên mẹ Nếu là cô cô sẽ đứng im một chỗ gọi to tên mẹ -Vì sao cô goi to tên mẹ? Vây khi bị lạc các con phải thật bình tĩnh, đứng im một chỗ, gọi to tên mẹ để mẹ nghe thấy đến đón chúng mình Phương án 4: Tìm người đáng tin như cô nhân viên, chú bảo vệ -Siêu thị là nơi rất đông người làm sao con biết đâu là cô nhân viên, chú bảo vệ? -Gặp cô nhân viên, chú bảo vệ con sẽ nói gì? - Con có nhớ số điện thoại của bố mẹ con không? - Đọc cho cô và các bạn cùng nghe? - Bạn có tìm được mẹ không? Khi bị lạc trong siêu thị cần tìm gặp cô nhân viên, chú bảo vệ. Nhớ địa chỉ nhà, tên bố mẹ, số điện thoại của bố mẹ để gọi cho bố mẹ. *Xử lý khi bị lạc trong bệnh viên -Khi bị lạc trong bệnh viện con sẽ làm gì? Khi bị lạc trong bệnh viện các con cần tìm gặp cô y tá, bác sĩ nhờ bác gọi điện thoại cho bố mẹ đến đón. *Xử lý khi bị lạc ở chợ - Nếu lạc ở chợ con phải làm gì? ( Mời trẻ đóng vai ) * Lạc trên đường phố Cho trẻ xem video -Khi bị lạc ở đường phố bạn nhỏ đã tìm gặp ai? Cho trẻ vận động bài "Lạc đường hỏi chú công an" Cho trẻ chơi trò chơi Cô đưa ra câu hỏi và các phương án trả lời. Trẻ chọn phương án đúng giơ lên. Ví dụ: Các con thường hay bị lạc nhất ở đâu? 1.Ở nhà 2.Ở siêu thị 3.Ở khu vui chơi Trò chơi bé làm gì khi bị lạc? Cho trẻ đi xe lắc lên chọn phương án đúng gắn lên bảng. Tôi đưa tình huống trẻ biết tránh những mối nguy hiểm khác như: " Nếu con đang ở nhà một mình , có người đến gọi mở cửa con sẽ làm gì ? Tuyệt đối không mở cửa, kể cả đó có thể là người quen của bố mẹ, người thu tiền điện, nước. Nếu có người lớn ở trên gác chưa biết thì gọi xuống, còn nếu không có ai ở nhà thì hẹn họ nhắn lại gì hoặc tối đến gặp bố mẹ. Trong thời gian gần đây, cháy nổ là hiểm hoạ luôn rình rập với tất cả mọi nhà. Chính vì vậy, với trẻ mẫu giáo tuy trẻ còn nhỏ tuổi song tôi nghĩ rằng cũng cần dạy cho trẻ một số kỹ năng ứng biến nếu chẳng may có điều đó xảy ra . Tôi đã đưa tình huống : " Nếu bé thấy có khói, hoặc cháy ở đâu đó bé sẽ phải làm thế nào?" Qua tình huống này tôi dạy trẻ : Khi thấy có khói hoặc cháy ở đâu, trước hết bé phải chạy xa chỗ cháy, Hãy hét to để báo với người nhà và những người xung quang có thể nghe thấy. Nếu không có người ở nhà thì chạy báo cho hàng xóm. *.Giáo dục kĩ năng sống thông qua các tiết học *Giờ học phát triển thể chất - Cô dạy trẻ biết các kĩ năng vận động, biết siêng năng rèn luyện để cơ thể khỏe mạnh, trẻ biết trong khi tập không chen lẫn, xô đẩy nhau. *Giờ học tạo hình "Vẽ ngôi nhà của bé" Cô giáo dục trẻ biết yêu quý ngôi nhà của mình, biết quét dọn nhà của sạch sẽ, sắp xếp đồ dùng trong gia đình ngăn nắp gọn gàng *Giờ làm quen văn học: Qua câu chuyện "Củ cải trắng" Cô đàm thoại cùng trẻ: + Khi nhìn thấy hai củ cải trắng thỏ đã nhớ đến ai? + Bạn Dê đã làm gì với củ cải trắng? + Khi nhìn thấy củ cải trắng mặc dù rất đói bụng nhưng Hươu đã làm gì? + Điều gì khiến bạn thỏ ngạc nhiên khi ngủ dậy? + Bạn thỏ nghĩ gì và đã làm gì? + Các con thấy bạn thỏ, dê, hươu là người như thế nào? + Thế các con thì sao? Khi chơi với các bạn các con sẽ như thế nào? Cô giáo dục trẻ phải biết yêu thương, quan tâm, chia sẻ với nhau khi gặp khó khăn *Giờ giáo dục âm nhạc qua bài "Đèn đỏ đèn xanh" Qua bài hát này giáo dục trẻ biết về các luật lệ giao thông như: đèn đỏ phải dừng lại, đèn xanh thì được đi, đèn vàng thì đi chậm lại Kĩ năng sống là phương pháp học mà chơi, chơi mà học Dạy trẻ kĩ năng sống không phải gò ép trong các tiết học chính thức mà phải kết hợp qua các hoạt động vui chơi của trẻ * Thông qua hoạt động vui chơi: Đối với trẻ mầm non, hoạt động vui chơi chiếm vai trò chủ đạo trong hoạt động của trẻ ở trường. Thông qua giờ chơi, trẻ được đóng các vai khác nhau trong xã hội, trẻ đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ nhìn thấy trong cuộc sống. Tất cả những kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống mà trẻ có sẽ được trẻ thể hiện qua họat động vui chơi. Chính vì vậy, tôi rất chú trọng đến việc tạo các tình huống khi trẻ đóng vai để trẻ tìm cách giải quyết, cũng như quan sát những điều trẻ thể hiện được những kiến thức mà trẻ đã có. Ví dụ : Ở góc "Gia đình", khi tôi đóng giả một người lạ đến gõ cửa khi trẻ ở nhà một mình, thì trẻ biết nhắc nhau "Đừng mở cửa , phải đợi bố mẹ về đã". Hoặc tôi cho trẻ ở nhóm gia đình cùng đi siêu thị và đưa ra tình huống : "Con bị lạc bố mẹ ở siêu thị" thì trẻ biết ra nhờ cô bán hàng gọi điện thoại cho bố mẹ, cháu đóng vai người bán hàng cũng nhắc trẻ: Cháu chờ ở đây với cô đợi bố mẹ đón. Tôi đóng một vai làm người đi đường và rủ bé : Đi cùng cô để cô dắt về với mẹ. Các trẻ trong nhóm đã nhắc nhau: "Đừng đi, nếu không sẽ bị bắt cóc đấy". Với nhóm " Nấu ăn" , tôi cũng lưu ý đến những thao tác mà trẻ mà trẻ thể hiện vai của mình : Ví dụ : bắc nồi lên bếp gas đặt đã đúng giữa bếp chưa nếu không sẽ dễ đổ và xảy ra tai nạn, nấu xong phải nhớ tắt bếp, bắc nồi phải dùng cái lót tay để không bị bỏng. * Phối hợp với phụ huynh : Bên cạnh việc dạy trẻ ở trường, tôi cũng chú trọng đến việc trao đổi với phụ huynh để cùng phối hợp dạy kỹ năng sống cho trẻ. Tuyên truyền cho phụ huynh hiểu không nên làm hộ con, phải dậy trẻ tính tự lập từ bé. Trẻ càng được hướng dẫn sớm về cách tự vệ , nhận biết những mối nguy hiểm từ xung quanh và cách xử lý thì sẽ vững vàng vượt qua những thử thách trong mọi tình huống. Điều đó được chứng minh rõ ràng từ thức tế. Chính vì vậy, cách bảo vệ trẻ tốt nhất chính là dạy trẻ biết cách tự bảo vệ bản thân. Việc dạy trẻ những kỹ năng đó phải là một quá trình . Nhiều phụ huynh cho rằng con mình còn quá bé để hiểu được những điều đó cũng như nghĩ rằng trẻ mẫu giáo vẫn được sống trong sự bao bọc , bảo vệ tuyệt đối của bố mẹ. Những trên thực tế, không phải lúc nào cha mẹ cũng ở bên con khi có tình huống xấu. Thời gian gần đây, có nhiều trẻ em bị lạm dụng, xâm hại thủ phạm lại chính là người thân quen như bạn bố mẹ, hàng xóm quen biết.. Chính vì vậy, người lớn phải khéo léo, tế nhị kể cho con nghe những tình huống xấu có thể gây hại cho bé và giúp con biết cần xử lý như thế nào. Cô giáo phối hợp cùng phụ huynh khéo léo dạy trẻ cách giữ gìn và bảo vệ các cơ quan, bộ phận trên cơ thể . Giúp trẻ chủ động, cảnh giác với tình huống khi có người quan tâm thái quá đến cơ thể của trẻ. Dạy trẻ một số cách phản kháng và bảo vệ bản thân. Trong cuộc sống hàng ngày, nên dạy trẻ cách xử lý những tình huống bất trắc mà trẻ có thể gặp phải dưới hình thức trò chuyện, tạo tình huống, gợi mở giúp trẻ tìm ra cách giải quyết. Không áp đặt , cấm đoán trẻ . Thay vì " Con không được làm thế này, thế kia " thì ta nên đưa ra các tình huống cụ thể thông qua thực tế giúp trẻ hiểu tại sao không được làm như thế, nếu xảy ra thì sẽ phải làm như thế nào ? Chính từ những suy nghĩ tìm cách xử lý ở các tình huống cụ thể đó giúp trẻ dần có kỹ năng suy đoán, biết áp dụng những kiến thức kinh nghiệm mình đã có để tìm cách giải quyết . Từ đó trẻ có thể vận dụng với những tình huống khác trong thực tế hàng ngày mà trẻ gặp. Dần hình thành cho trẻ những kinh nghiệm, những kỹ năng biết bảo vệ mình trong cuộc sống sau này. Tuyên truyền để các bậc phụ huynh hiểu rằng: Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau. Quyết định phải xuất phát từ trẻ. Nội dung giáo dục phải xuất phát từ chính nhu cầu và kinh nghiệm của trẻ. Trẻ cần có điều kiện để cọ sát các ý kiến khác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành và áp dụng. Bên cạnh đó, yêu cầu phụ huynh phối hợp cùng cô giáo trong việc thống nhất phương pháp giáo dục trẻ: - Tin tưởng vào trẻ và năng lực của trẻ. - Tôn trọng ý kiến của trẻ, không áp đặt ý kiến của mình . - Không nói dài và nói nhiều, không đưa lời giải đáp có sẵn mà hãy đưa câu hỏi để trẻ tự tìm tòi. - Không vội vàng phê phán đúng - sai mà kiên trì giúp trẻ biết tranh luận và có thể đưa ra kết luận của mình. C- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC LĨNH VỰC Năm học 2022-2016 Năm học 2022-2017 Phát triển về thể chất Số trẻ đạt : 87% Số trẻ đạt :93% Phát triển về ngôn ngữ Số trẻ đạt : 85% Số trẻ đạt : 91% Phát triển tình cảm XH Số trẻ đạt : 80% Số trẻ đạt :85% Phát triển nhận thức Số trẻ đạt: 83% Số trẻ đạt : 86 % Phát triển thẩm mỹ Số trẻ đạt : 78% Số trẻ đạt : 85% Qua trao đổi với phụ huynh, nhiều phụ huynh cũng nhận thấy rằng trẻ có rất nhiều điều con mình có thể làm được nhưng trước đó phụ huynh nghĩ con mình còn bé và luôn làm hộ trẻ cũng như nghĩ có những điều chưa thể đưa. Với hình thức này có thể áp dụng trên các lứa tuổi từ Mẫu giáo bé đến lớp mẫu giáo lớn. Đặc biệt với những tình huống đưa ra không chỉ giúp trẻ có kỹ năng ứng biến khi gặp tình huống tương tự mà còn giúp trẻ có kỹ năng biết cách suy luận, suy đoán tìm ra cách giải quyết ở các tình huống khác và hình thành cho trẻ kỹ năng sau này D- BÀI HỌC KINH NGHIỆM Qua kết quả đã đạt được ở trên tôi thấy rằng để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đạt kết quả tốt giáo viên cần : - Lắng nghe ý kiến của trẻ không gò bó áp đặt trẻ. Cô luôn là người chỉ dẫn, chuyền cho trẻ những kinh nghiệm sống đã được đúc kết từ lâu. - Cần tích cực đổi mới phương pháp dạy nhằm khuyến khích sự tích cực ở trẻ. Khai thác tiềm năng sáng tạo ở mỗi trẻ. Giáo dục trẻ như thế nào để trẻ cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống. Luôn tạo cho trẻ cơ hội để trẻ được thể hiện mình, được bộc lộ bản thân mình trước mọi người. - Cần thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo dục phát huy tính tích cực ở trẻ, giúp trẻ hứng thú chủ động khám phá, tìm tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tình huống khác nhau . - Để giáo dục trẻ kỹ năng, cô giáo cần đưa ra các tình huống cụ thể để trẻ trải nghiệm chứ không nên lý thuyết dập khuôn hoặc chỉ "cấm đoán" như : "Con không được làm như thế này" sẽ khiến trẻ mất đi khả năng tự phán đoán và tự đưa ra quyết định giải quyết . - Tuyên truyền với các bậc phụ huynh để cùng tham gia giáo dục trẻ . . PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN TÂY HỒ TRƯỜNG MẦM NON BÌNH MINH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé. -Tên tác giả : Nguyễn Minh Trang - Lứa tuổi: Mẫu giáo Bé NĂM HỌC 2011-2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ 4 5 Tuổi
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Môn Tiếng Việt
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Công Tác Chủ Nhiệm
  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5
  • Skkn Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Nhỡ
  • Giải Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Để Thu Hút Học Sinh Và Đảm Bảo Duy Trì Sĩ Số Ở Trường Thcs Quang Trung
  • Sự Cần Thiết Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Nhà Trẻ
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 3 Tại Lớp 3 Tuổi A Trường Mầm Non Minh Tiến” Xã Minh Tiến
  • Trường mầm non là nơi chăm sóc giáo dục các cháu từ những bước khởi đầu trong cuộc đời, vì thế tạo môi trường trong lành cho các cháu vui chơi, học tập là điều quan trọng, đó là điều kiện tốt để trẻ phát triển cả về thể chất và tinh thần, trong đó rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của các trẻ. Chính vì vậy ngay từ giai đoạn mầm non, trẻ cần được trang bị kỹ năng sống để định hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất.

    Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân cần có để tương tác với những người khác một cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày. Theo UNICEFF, kỹ năng sống là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Như vậy, kỹ năng sống hướng vào việc giúp con người thay đổi nhận thức thái độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng. Chính vì vậy mà ngay từ giai đoạn mầm non, trẻ cần được trang bị kỹ năng sống để định hướng phát triển một cách tốt nhất. Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã được học kỹ năng sống. Từ lúc biết nói, cha mẹ đã dạy cho trẻ ngôn ngữ giao tiếp như "chào ông, chào bà, ạ cô, ạ chú,". Đó chính là kỹ năng giao tiếp đầu đời mà các em được rèn luyện. Lớn lên khi trẻ đến trường đến lớp, mối quan hệ xã hội được mở rộng bởi ngoài gia đình các em còn được làm quen, tiếp xúc với bạn bè, thầy cô. Đây là giai đoạn mà trẻ cần được rèn luyện các kỹ năng cơ bản để đối phó với thực tế và môi trường xung quanh. Các em cần được trang bị các kỹ năng cần thiết khác như rèn luyện và phát triển thể chất, tự nhận thức bản thân, xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để hoàn thiện nhân cách, hay các kỹ năng xã hội khác như: giao tiếp, hợp tác, làm việc nhóm, Do đó, nếu không có sự trang bị tốt về kỹ năng sống cho trẻ hay có sự định hướng không đúng đắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các em. Rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập và khẳng định vị trí của mình trong tập thể, mà xa hơn là một cộng đồng, xã hội. Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết. Việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là yếu tố quyết định đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ. Khi xảy ra vấn đề nào đó, nếu không được trang bị kỹ năng sống, trẻ sẽ không đủ kiến thức để xử lý các tình huống bất ngờ. Vì thế, rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp trẻ sớm có ý thức làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội. Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ, tôi mạnh dạn chia sẻ này với các bạn đồng nghiệp qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm: "Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, Thiệu Hóa, Thanh Hóa." 1.2. Mục đích nghiên cứu: Để tài nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại truờng mầm non Thị trấn Vạn Hà, huyện Thiệu Hóa Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng: Trẻ lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi trường mầm non Thị trấn Vạn Hà huyện Thiệu Hóa Phạm vi: 35/35 Trẻ 5 - 6 tuổi ở lớp mẫu giáo lớn trường mầm non Thị trấn Vạn Hà huyện Thiệu Hóa 1.4. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp thống kê số liệu - Phương pháp thực hành trải nghiệm - Phương pháp trò chuyện - Phương pháp dùng trò chơi - Phương pháp logic học. - Nghiên cứu qua tài liệu, tập san, mạng intenet. 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm: Vấn đề bộc lộ kỹ năng sống ở mỗi đứa trẻ là khác nhau tùy theo hoàn cảnh và độ tuổi. Tuy nhiên, để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, khi ở độ tuổi quan trọng như mẫu giáo 5 - 6 tuổi, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị bước vào lớp 1, trẻ cần được trang bị kỹ năng sống. Gia đình và nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ để giáo dục kỹ năng sống cơ bản cho trẻ một cách khoa học và có chiến lược. Hiện nay, việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá luôn được các trường học quan tâm, chú trọng để rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Các buổi hoạt động ngoại khoá đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ, mang đến cho các em một môi trường học tập năng động, tích cực. Thông qua các hoạt động ngoại khoá trẻ em sẽ được phát triển trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo, đồng thời phát huy sự nhanh nhạy, khéo léo. Ngoài ra, hoạt động ngoại khoá còn giúp trẻ sống hoà đồng gắn bó, đồng thời phát triển tư duy một cách tích cực. Tham gia các hoạt động thực tế này, trẻ được tận mắt nhìn thấy và trải nghiệm thực tế, từ đó tạo nên vốn sống, là nền tảng cho sự phát triển nhân cách của trẻ.Trong thời buổi trẻ tiếp xúc với xã hội sớm như ngày nay giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thực sự rất cần thiết. Việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong chăm sóc - giáo dục trẻ không chỉ mang lại lợi ích về mặt sức khoẻ mà còn giúp trẻ sớm có ý thức để làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội, giúp các em phát triển một cách tốt nhất. 2.2. Thực trạng: Năm học 2022 - 2022 tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi với tổng số 35 trẻ trong đó: nam 20, nữ 15. Trong quá trình giảng dạy tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn như sau: * Thuận lợi: Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo, giám sát việc giáo viên tổ chức hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Nhà trường luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất, đầu tư mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động học tập và vui chơi của trẻ mang tính đồng bộ và hiện đại. Giáo viên được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên đề do Phòng Giáo dục và nhà trường tổ chức tiếp thu, bồi dưỡng nội dung kế hoạch chuyên đề một cách đầy đủ, sử dụng nguyên vật liệu sẵn có của địa phương,. Bản thân luôn nhiệt tình, tâm huyết với nghề, học hỏi nâng cao tình độ về chuyên môn nghiệp vụ. Đa số phụ huynh đều ý thức được tầm quan trọng của bậc học mầm non đối với sự phát triển của trẻ. Vì thế có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với phụ huynh chặt chẽ, thường xuyên. * Khó khăn: Nhiều phụ huynh chưa hiểu và quan tâm đến việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. Phụ huynh còn nuông chiều trẻ thường làm thay cho trẻ những công việc mà trẻ yêu cầu. Nhiều phụ huynh chưa có hành vi đúng đắn và lời nói mẫu mực. Không gian lớp còn chật hẹp chưa đảm bảo cho các hoạt động. Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử... Một số trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh. c. Khảo sát chất lượng đầu năm (tháng 9) Ngay từ đầu năm học, tôi tiến hành khảo sát phân loại kỹ năng sống của trẻ thể hiện qua số liệu sau: Mức độ nội dung khảo sát Đạt Chưa đạt Số Lượng Tỷ lệ % Số Lượng Tỷ lệ % 1. Kỹ năng giao tiếp, chào hỏi 16 45,7% 19 54,3% 2. Kỹ năng tự lập, tự phục vụ 20 57,2% 19 42,8% 3. Kỹ năng hợp tác, hoạt động cùng nhóm 19 54,3% 16 45,7% 4. Trẻ mạnh dạn tự tin 15 42,9% 20 57,1% 5. Kỹ năng nhận thức 15 42,9% 20 57,1% 6. Kỹ năng vận động 18 51,4% 17 48,6% 7. Kỹ năng thích nghi 14 40% 21 60% 8. Kỹ năng vệ sinh 16 45,7% 19 54,3% Từ kết quả điều tra cho thấy đa số trẻ chưa có kỹ năng sống, đối với thực trạng trên của lớp và được sự giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường và các đồng nghiệp, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau đây nhằm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ: 2.3. Các giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, huyện Thiệu Hóa. * Giải pháp 1: Giáo viên phải tự tìm tòi nghiên cứu và tham gia các lớp bồi dưỡng về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Xã hội ngày càng phát triển, giáo dục kỹ năng sống là việc hết sức quan trọng. Giáo dục kỹ năng sống cần bắt đầu ở tuổi mầm non. Ở lứa tuổi này đã hình thành những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách. Trước tiên, để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi giáo viên phải hiểu về tâm lý lứa tuổi của trẻ. Đây là vấn đề cốt lõi để giáo viên đưa ra phương pháp giáo dục phù hợp với độ tuổi. Tuy nhiên, trong thực tế bản thân giáo viên cũng không có đủ kỹ năng giảng dạy kỹ năng sống để thay đổi nhận thức, hành vi của trẻ theo hướng tích cực. Do đó, được trang bị kiến thức về kỹ năng sống là điều rất cần thiết đối với các giáo viên để giáo viên trực tiếp truyền tải đến trẻ nhằm giúp các em có những hành động tích cực thay vì giải quyết vấn đề trong cuộc sống hằng ngày. Bồi dưỡng, tự học, tìm hiểu để có kiến thức về kỹ năng sống nhằm giúp giáo viên phân tích được một số nội dung kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mầm non; giải thích được các nguyên tắc dạy học tích cực trong giảng dạy kỹ năng sống; bước đầu hình thành được các kỹ năng cơ bản để tiến hành giờ dạy kỹ năng sống cho trẻ như kỹ năng tổ chức trò chơi, kỹ năng tạo động lực, điều khiển nhóm, kỹ năng giao tiếp thuyết trình, kỹ năng đánh giá và khích lệ học sinh Người giáo viên cần có kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, kĩ năng hợp tác trong dạy học Việc bồi dưỡng được xem là một nhu cầu tự thân của mỗi giáo viên, được diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt cả quá trình công tác của mỗi người. Bản thân được tham gia các lớp chuyên đề hè hàng năm do Phòng giáo dục và đào tạo huyện Thiệu Hóa tổ chức, trong đó nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ luôn được ưu tiên hàng đầu. Sau khi tham gia khóa bồi dưỡng, giáo viên sẽ có những kiến thức cơ bản về nội dung giáo dục kỹ năng sống, các phương pháp giáo dục kỹ năng sống, phương tiện giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng thiết kế bài giảng và tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non. Ngoài ra, tôi còn nghiên cứu việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các tài liệu do Phòng cung cấp, tập báo giáo dục do nhà trường phát, các phương tiện thông tin đại chúng như mạng internet, học hỏi kinh nghiệm của chị em đồng nghiệp. Thông qua giải pháp này giúp tôi có thêm kiên thức để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 2: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm là một cách học thông qua thực hành, với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có. Như vậy thông qua các hoạt động trải nghiệm, trẻ được cung cấp các kiến thức, kĩ năng từ đó hình thành những năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm, góp phần hình thành cho trẻ không chỉ về kiến thức khoa học, kỹ năng thực hành mà còn tư duy bậc cao. Trong các hoạt động trải nghiệm, giáo viên mầm non có vai trò định hướng, hỗ trợ, đánh giá, uốn nắn, sửa sai cho trẻ. Hoạt động trải nghiệm đối với trẻ mầm non nói chung và lứa tuổi 5 - 6 tuổi nói riêng là một hoạt động mang nhiều ý nghĩa thiết thực, mỗi nhà trường tổ chức theo cách khác nhau nhưng đã tạo cho trẻ có 1 sân chơi vui vẻ, thoải mái, trẻ được hóa thân làm những công việc bắt chước người lớn, được rèn luyện và củng cố những kĩ năng, năng lực cần thiết khi bước vào trường Tiểu học, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện về các mặt Đức - Trí - Thể - Mĩ. Hoạt động trải nghiệm là một cách học thông qua thực hành, với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có. Như vậy, thông qua các hoạt động trải nghiệm, trẻ được cung cấp các kiến thức, kĩ năng từ đó hình thành những năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm, góp phần hình thành cho trẻ không chỉ về kiến thức khoa học, kỹ năng thực hành mà còn tư duy bậc cao. Trong các hoạt động trải nghiệm, giáo viên mầm non có vai trò định hướng, hỗ trợ, đánh giá, uốn nắn, sửa sai cho trẻ. Với Chủ đề "Tết nguyên đán " nhằm cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về phong tục, tập quán của cha ông về ngày tết cổ truyền của dân tộc, biết được mùa Xuân là mùa đẹp nhất trong năm, mùa của nhiều lễ hội lớn của quê hương, đất nước. Trường mầm Thị trấn Vạn Hà đã tổ chức cho trẻ thi hát, múa, hội chợ về Tết và mùa xuân. Ví dụ: Hoạt động tham gia tiệc buffet: Nhà trường tổ chức tiệc buffet: trước khi tham gia hoạt động này giáo viên phải cung cấp những kiến thức cơ bản và trẻ được trải nghiệm như: + Trẻ được ăn những món mình thích. + Có ý thức giữ trật tự, nhường và chờ đợi người đến trước lấy xong mới đến lượt mình. + Cầm đĩa thức ăn trên tay, di chuyển chậm và cẩn trọng, không va chạm vào người khác.. + Thử trước một ít với món lạ, nếu nếm thử thấy được thì hãy ăn thật, bởi nếu không hợp khẩu vị sẽ rất lãng phí. + Với mỗi món ăn ưa thích cũng không nên lấy nhiều, để ăn được nhiều món. Các hoạt động cho trẻ được trải nghiệm dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu của trẻ theo phương châm "chơi mà học, học bằng chơi" cũng được nhà trường tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau thông qua tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng tại địa phương. Qua hoạt động mà trẻ được trải nghiệm trẻ đã lĩnh hội được kĩ năng sống cần thiết trong cuộc sống như: Kĩ năng lao động, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác trong nhóm bạn bè..., trẻ vui tươi, sảng khoái, phấn khởi với sản phẩm do chính bàn tay mình tạo ra. * Giải pháp 3: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các giờ học. Hình thành thói quen là một trong những điều đầu tiên cần chú trọng trong việc rèn kỹ năng sống cho mẫu giáo 5 - 6 tuổi. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tập cho trẻ ý thức tự cất đồ dùng gọn gàng, ngăn nắp lúc vào lớp cũng như lúc ra về; phân công bạn nhóm trưởng kiểm tra xem bạn nào thực hiện chưa đạt để cuối ngày đánh giá, nêu gương, khích lệ động viên cá nhân có cố gắng. Có thể đưa ra hình thức khen thưởng như cắm cờ, tặng quà, để trẻ thực hiện tốt hơn. Từ đó việc cất đồ dùng không còn là hành động mà trở thành ý thức, trẻ tự thực hiện không cần phải đợi nhắc nhở hay kiểm tra. Thông qua các tiết học tôi đã lồng ghép việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ dưới hình thức này sẽ giúp trẻ hình thành những thói quen, hành vi có văn hoá là rất cần thiết. Ngoài ra trẻ vừa được cung cấp kiến thức vừa được giáo dục kỹ năng cần thiết. Ví dụ: * Hoạt động làm quen với toán: "Sắp xếp quy tắc theo quy tắc". Giáo viên dạy trẻ kỹ năng s¾p xÕp ®èi t­îng theo qui t¾c 1-2-1 và củng cố kỹ năng suy luận, phán đoán cho trẻ. Qua tiết học tạo cho trẻ sự hứng thú, tích cực mạnh dạn, tự tin trong giờ học. * Hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học: "Truyện Tích chu" Thông qua câu chuyện trẻ biết yêu thương, chăm sóc, bảo vệ người thân của mình và mọi người xung quanh. Hình thành ở trẻ những kỹ năng xử lý tình huống khi người thân bị ốm, hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hoá. * Hoạt động tạo hình: "Xé dán ngôi nhà của bé" Cô giáo dục trẻ biết yêu quý ngôi nhà của mình ở, biết quét dọn ngôi nhà của mình sạch sẽ, sắp xếp đồ dùng trong gia đình ngăn nắp. Với hoạt động này kỹ năng xé dán khéo léo sẽ được hình thành cho trẻ. * Hoạt động khám phá khoa học: Với hoạt động khám phá khoa học sẽ hình thành ở trẻ những kỹ năng quan trọng như: Tự bảo vệ bản thân, phán đoán, quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm dự đoán, giao tiếp * Hoạt động cho trẻ làm quen với chữ cái: Tôi dạy trẻ phát âm đúng, nói rõ ràng, biết sắp xếp đồ dùng học tập gọn gàng ngăn nắp. * Hoạt động giáo dục âm nhạc: Thông qua bài hát : " Thật đáng yêu" giáo dục trẻ thói quen đi ngủ và dạy đúng giờ, tự vệ sinh thân thể sạch sẽ như đánh răng để có hàm răng trắng và khỏe mạnh.[2] Bên cạnh đó, ở các giờ "Buổi diễn văn nghệ cuối tuần" tôi đã giáo dục cho trẻ kỹ năng mạnh dạn, tự tin thể hiện bản thân trước đám đông. Ngoài ra, trong giờ học này tôi còn cho động viên cho trẻ tập làm MC. Dưới hình thức này sẽ giúp trẻ hình thành kỹ năng thuyết trình. Như vậy, ta thấy trẻ đã biết cách hoạt động theo nhóm, có tinh thần hợp tác với nhau và cùng nhau biểu diễn bằng các dụng cụ âm nhạc, cùng nhau hát lại bài hát. Thông qua hoạt động này, ta thấy trong hoạt động giáo dục âm nhạc nhưng trẻ vừa được hoạt động nhóm, vừa có được sự mạnh dạn tự tin biểu diễn hát cùng nhau. Tóm lại: việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong việc lồng ghép ở các tiết học đòi hỏi mỗi một giáo viên phải suy nghĩ sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học theo chương trình giáo dục mầm non mới. Đặc biệt, chú trọng phát triển năng lực cá nhân của trẻ. Lấy trẻ và năng lực cá nhân của trẻ làm trung tâm. * Giải pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động vui chơi. Vui chơi là hoạt động tạo cho trẻ nhiều hứng thú và cũng cho trẻ cơ hội được vận dụng nhiều kiến thức kĩ năng khác nhau vào giải quyết nhiệm vụ chơi. Trẻ được thử nghiệm nhiều vai trò khác nhau qua các vai chơi; được phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo; học hỏi và hợp tác với các bạn cùng chơi... Thông qua xem phim, nghe kể truyện: Nội dung các bộ phim, câu chuyện phù hợp sẽ là gợi ý cho trẻ về cách cư xử đúng, cách giải quyết vấn đề hiệu quả. Thông qua hoạt động sáng tạo: Với trò chơi đóng vai, trẻ "nhập vai" và giải quyết tình huống giả định, giúp trẻ tập các kĩ năng sống một cách nhẹ nhàng, thú vị. Ví dụ: Đi siêu thị mà bị lạc thì trẻ làm gì?, làm hỏng đồ chơi của bạn trẻ sẽ làm thế nào?... Như vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực. Mỗi đứa trẻ có những yếu tố cá nhân khác nhau và sự ảnh hưởng của các quan hệ xã hội cũng như hoàn cảnh sống, môi trường trải nghiệm khác nhau nên nhà giáo dục cần có những hình thức, biện pháp linh hoạt hợp lý dựa trên quan điểm then chốt của giáo dục mầm non là "Lấy trẻ làm trung tâm" và tận dụng các điều kiện để tạo ra nhiều cơ hội cho đứa trẻ được tự trải nghiệm. Với kĩ năng sống phong phú trẻ sẽ biết cách khai thác kiến thức từ cuộc sống xung quanh, tạo lập các mối quan hệ với tự nhiên và con người để sống an toàn, hòa bình và phát triển. * Giải pháp 5: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng. Giáo dục mầm non giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ. Hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ 4 5 Tuổi
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Môn Tiếng Việt
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Công Tác Chủ Nhiệm
  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Môn Tiếng Việt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100