Top 3 # Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3

ĐỀ TÀI KINH NGHIỆM: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3” I. Phần mở đầu (đặt vấn đề) 1/ Bối cảnh của đề tài: Môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng trong tất cả các phân môn ở trường, nó hình thành khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ tiếp thu các môn học khác. Môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học gồm nhiều phân môn. Mỗi môn đều có một chức năng riêng. Tập đọc là môn học mang tính chất tổng hợp vì ngoài nhiệm vụ dạy học nó còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức Tiếng Việt cho học sinh (về phát âm, từ ngữ, câu văn…) kiến thức bước đầu về văn học, đời sống và giáo dục tình cảm thẩm mỹ. Môn tập đọc ở tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng đặt ra một nhiệm vụ quan trọng. Trong các giờ tập đọc học thuộc lòng học sinh biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ đã tạo cho các em sự say mê, hứng thú và để lại một vốn văn học đáng kể cho trẻ em. Cũng thông qua các bài văn các em hiểu thêm về các vùng miền của đất nước, hiểu được công sức của tầng lớp nhân dân đang ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hiểu được các truyền thống quý báu của dân tộc. 2/ Lý do chọn đề tài: Trong quá trình giảng dạy các lớp ở bậc tiểu học trong đó có lớp 3. Bản thân nhận thấy rằng: “Môn Tiếng việt là rất quan trọng đối với học sinh cấp bậc tiểu học nói chung, ở lớp tôi nói riêng”. Nếu học tốt bộ môn tập đọc nó sẽ giúp các em học tốt hơn các phân môn của bộ môn Tiếng Việt như: Nó sẽ giúp thêm cho môn Tập làm văn, về câu sẽ chau chuốt hơn, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng mạch lạc, biết sàng lọc để đưa hình ảnh hay vào trong bài. Nó còn giúp cho bộ môn chính tả như viết đúng, ít lỗi hơn.Trong bộ môn kể chuyện, các em sẽ biết cách kể hay, hấp dẫn người nghe hơn… Ngoài ra có tác dụng mạnh mẻ trong giáo dục mỹ cảm, học sinh yêu cái đẹp, rung cảm trước cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong xã hội, cái đẹp trong văn chương. Môn này có thể rèn cho các em tư duy trừu tượng và cả tư

tuệ phức tạp mà cơ sở là tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác. Đọc bao gồm những yếu tố như : Tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của cơ quan phát âm , các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đọc được. Nhiệm vụ của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc đó là điểm phân biệt giữa người mới biết đọc và người đọc thành thạo . Về cơ sở sinh lí của việc dạy đọc ta thấy đồng thời mắt nhìn , miệng đọc , tai nghe văn bản được đọc. Ngay khi đọc thầm , dù không pháp âm nhưng cơ quan tri thức , tư tưởng tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản. Phương pháp dạy tập đọc mới bắt nguồn từ nhu cầu của công cuộc đổi mới đang diễn ra trên đất nước ta . Phương pháp dạy học mới quan niệm rõ ràng về mục tiêu cần đạt , cách kiểm soát , đánh giá kết quả học tập của học sinh . 2/ Thực trạng vấn đề: Qua những năm giảng dạy ở lớp 3 cũng như quá trình quan sát, dự giờ việc dạy học của giáo viên. Qua việc khảo sát học sinh ngay từ đầu năm tôi thấy số lượng học sinh đã biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ rất ít. Trước hiện trạng đó, tôi đã suy nghĩ và qua quá trình nghiên cứu tôi tìm ra những biện pháp khác nhau nhằm nâng cao chất lượng đọc cho học sinh. Mỗi giai đoạn tôi đều lấy kết quả đã đạt được để đối chứng với kết quả giai đoạn trước và năm trước và cuối cùng đi tổng hợp số liệu và rút ra bài học kinh nghiệm. Trong giảng dạy môn tập đọc, qua nhiều năm gần đây, tôi đã tích cực nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy, cách truyền thụ kiến thức, đặc biệt là luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh. Muốn rèn cho học sinh đọc diễn cảm tốt, trước hết trong mọi giờ tập đọc, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh cách phát âm chuẩn, đọc đúng, có ý thức, trôi chảy, sau đó mới yêu cầu học sinh đọc diễn cảm. Đọc diễn cảm thể hiện kĩ năng dùng ngữ điệu, biết nghỉ hơi ở dấu chấm, ngắt hơi ở dấu phẩy, hoặc chỗ cần tách ý, biết đọc liền các tiếng trong từ ghép, từ láy hoặc cụm từ. Ngoài ra cần biết đọc đúng giọng câu kể, câu hỏi, câu cảm, phân biết lời người dẫn chuyện với lời các nhân vật có tính cách khác

nhau. Đọc diễn cảm là biểu hiện cao của đọc có ý thức và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và nhanh. Tuy ở lớp 3 chưa đề cao việc đọc diễn cảm nhưng đây là nền móng cho việc luyện đọc diễn cảm ở lớp 4 được tốt hơn. Để đạt được những yêu cầu trên, tôi đã tiến hành phương pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh như sau: 3/ Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: Sau khi nhận lớp, tôi đã cho lớp ổn định chung về cách tổ chức lớp. Qua tìm hiểu điều tra để nắm chắc đối tượng học sinh về lựa chọn, đặc biệt về kĩ năng đọc và phân loại học sinh theo 3 đối tượng: Đối tượng 1: Học sinh biết đọc diễn cảm. Đối tượng 2: Học sinh mới chỉ biết đọc to, rõ, lưu loát. Đối tượng 3: Học sinh đọc nhỏ, ấp úng. Dựa vào đó, tôi sắp xếp chỗ ngồi học sinh những em đọc yếu ngồi cạnh những em đọc khá, đọc tốt để em đọc tốt giúp đỡ và kèm cặp những em đọc yếu. – Đối với đối tượng 1 thì tôi hay mời nhưng em này đọc mẫu. – Đối tượng còn lại tôi thường xuyên nhắc nhở, theo dõi để uốn nắn kịp thời khi các em đọc chưa đạt yêu cầu. Nếu đọc sai chỗ nào thì tôi yêu câu đọc đi đọc lại khi nào đúng thì mới đọc tiếp. Nếu 3 lần đều sai thì tôi đọc mẫu lại. – Hướng dẫn mỗi em đóng một quyển sổ ghi những câu, những đoạn, bài văn, bài thơ hay có giá trị về nội dung và nghệ thuật. Sau khi tiến hành như vậy, tôi giảng dạy theo các bước sau: – Trước khi học bài tập đọc nào đó, tôi dặn học sinh đọc nhiều lần ở nhà cho trôi chảy và chuẩn bị trước phần câu hỏi sau bài đọc, tìm hiểu nội dung bài trong sách giáo khoa. – Để đọc diễn cảm bài thì trước hết tôi hướng dẫn học sinh phải hiểu được nội dung của bài; giúp học sinh thấy được cái hay trong cách dùng từ, đặt câu văn (có hình ảnh) và giúp học sinh thấy được các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa mà tác giả đã sử dụng trong bài văn, bài thơ.

* Đối với những bài văn xuôi tôi hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi và nhấn giọng hợp lí trong từng câu. *Ví dụ 1: Khi dạy bài: Nhớ lại buổi đầu đi học – Tiếng việt 3 tập 1. Đoạn 1: Hằng năm,/ cứ vào cuối thu,/ lá ngoài đường rụng nhiều,/ lòng tôi lại nao nức / những kĩ niệm mơn man của buổi tựu trường.// Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy / nảy nở trong lòng tôi / như mấy cánh hoa tươi / mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.// * Câu hỏi gợi mở: – Điều gì khiến tác giả nhớ những kĩ niệm của buổi tựu trường? – Vì sao tác giả không thể nào quên được những cảm giác trong sáng trong buổi tựu trường? Đoạn 3: Cũng như tôi, / mấy học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân,/ chỉ dám đi từng bước nhẹ.// Họ như con chim nhìn quảng trời rộng muốn bay nhưng / còn ngập ngừng e sợ.// Họ thèm vụng / và ước ao thầm / được như những người học trò cũ,/ biết lớp,/ biết thầy / để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.// * Câu hỏi gợi mở: – Tìm những hình ảnh nói lên sự bỡ ngỡ, rụt rè của đám học trò mới trong buổi tựu trường. – Vì sao những cậu học trò mới lại ước ao được như những người học trò cũ? Hướng dẫn học sinh đọc với giọng hồi tưởng nhẹ nhàng, đầy cảm xúc, nhấn giọng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm đã in đậm. *Ví dụ 2: Khi dạy bài: Chiếc áo len (Tiếng Việt 3 tập 1). “Nằm cuộn tròn / trong chiếc chăn bông ấm áp, /Lan ân hận quá// Em muốn ngồi dậy / xin lỗi mẹ và anh,/ nhưng lại xấu hổ / vì mình đã vờ ngủ// áp mặt xuống gối,/ em mong trời mau sáng / để nói với mẹ: “Con không thích chiếc áo ấy nữa.// Mẹ hãy để tiền / mua áo ấm cho cả hai anh em”//. * Câu hỏi gợi mở: – Vì sao Lan ân hận?

– Vì sao Lan không giám ngồi dậy xin lỗi mẹ và anh? – Lan mong trời mau sáng để làm gì? Cần đọc với giọng nhẹ nhàng, ngắt đúng, nhấn giọng ở từ in đậm. Đặc biệt câu nói của Lan khi đọc học sinh thể hiện dưới sự ân hận có như vậy mới biểu đạt được cảm xúc của tác giả. * Đối với các bài thơ tùy theo từng thể loại thơ mà tôi hướng dẫn học sinh cách đọc cho đúng nhịp thơ. Ví dụ:1 Trích 1 đoạn trong bài thơ: Về quê ngoại. Tiếng Việt 3 tập 1. Em về quê ngoại / nghỉ hè/ Gặp đầm sen nở / mà mê hương trời.// Gặp bà / tuổi đã tám mươi / Quên quên nhớ nhớ / những lời ngày xưa.// Em ăn hạt gạo / lâu rồi / Hôm nay mới gặp / những người làm ra.// Những người chân đất / thật thà / Em thương như thể thương bà ngoại em.// * Câu hỏi gợi mở: – Bạn nhỏ ở đâu về thăm quê? Câu nào cho em biết điều đó? – Quê bạn nhỏ ở đâu? – Bạn nhỏ thấy ở quê có những gì lạ? – Bạn nhỏ nghĩ gì về những người làm ra hạt gạo? – Chuyến về thăm quê ngoại đã làm bạn nhỏ có gì thay đổi? Hướng dẫn học sinh đọc bài thơ với giọng nhệ nhàng, ngắt nghỉ hơi đúng, tự nhiên giữa các dòng, các câu thơ. Ví dụ 2: Bài Cảnh đẹp non sông Tiếng Việt 3 tập 1. Câu 1:

Đồng Đăng / có phố Kì Lừa,/ Có nàng Tô Thị,/ có chùa Tam Thanh.//

Câu 3:

Đường vô xứ Nghệ / quanh quanh,/ Non xanh nước biếc / như tranh họa đồ.//

Câu 6:

Đồng Tháp Mười / cò bay thẳng cánh/ Nước Tháp Mười / lóng lánh cá tôm.//

* Câu hỏi gợi mở: – Mỗi câu ca dao nói lên một vùng quê, đó là những vùng nào? – Mỗi vùng có cảnh đẹp gì? – Tác giả đã dùng những từ ngữ nào để diễn tả cảnh đẹp đó? – Em đã được đến thăm những cảnh đẹp này chưa? – Theo em, ai đã giữ gìn, tô điểm cho non sông ta ngày càng đẹp thêm? Hướng dẫn đọc bài thơ với giọng nhẹ nhàng, tha thiết, bộc lộ niềm tự hào với cảnh đẹp non sông, nhấn giọng ở các từ gợi tả. Thường thì các bài thơ được sáng tác theo thể thơ lục bát mang một âm điệu mượt mà. Tuy vậy cũng phải dựa vào các dòng cụ thể để ngắt giọng cho đúng. Chỉ có ngắt nhịp đúng câu thơ thì ý nghĩa đoạn thơ mới được bộc lộ. *Trong chương trình mới có rất nhiều bài thơ thuộc thể thơ 4 chữ nên việc luyện đọc thể thơ này cũng rất cần thiết. Ví dụ 1: Trích 1 số câu thơ trong bài: Quạt cho bà ngủ . (Tiếng Việt 3 tập 1). Ơi / chích chòe ơi!// Chim đừng hót nữa,/ Bà em ốm rồi,/ Lặng / cho bà ngủ.// Hoa cam, / hoa khế/ Chín lặng trong vườn,/ Bà mơ tay cháu/ Quạt / đầy hương thơm.// * Câu hỏi gợi mở: – Bạn nhỏ trong bài thơ đang làm gì? – Cảnh vật trong nhà, ngoài vườn như thế nào? – Bà mơ thấy gì? Vì sao có thể đoán bà mơ như vậy?

Hướng dẫn học sinh đọc bài thơ với giọng dịu dàng, tình cảm. Ví dụ 2: Trích 1 số câu thơ trong: Bận. (Tiếng Việt 3 tập 1). Trời thu / bận xanh/ Sông Hồng / bận chảy/ Cái xe / bận chạy/ Lịch bận tính ngày/ Còn con / bận bú/ Bận ngủ / bận chơi/ Bận / tập khóc cười/ Bận / nhìn ánh sáng.// * Câu hỏi gợi mở: – Mọi người, mọi vật xung quanh bé bận những việc gì? – Bé bận những việc gì? – Em có bận rộn không? Em thường bận rộn với những công việc gì? Em có thấy bận mà vui không? Hướng dẫn học sinh đọc bài thơ với giọng vui, khẩn trương. Chú ý ngắt nhịp đúng và nhấn giọng từ bận. * Đối với thể thơ 5 chữ. Ví dụ: Trích 2 khổ thơ trong bài thơ: Cùng vui chơi. (Tiếng Việt 3, tập 2). Ngày đẹp lắm / bạn ơi/ Nắng vàng trải khắp nơi/ Chim ca trong bóng lá/ Ra sân / ta cùng chơi.// Quả cầu giấy xanh xanh/ Qua chân tôi,/ chân anh/ Bay lên / rồi lộn xuống/ Đi từng vòng quanh quanh.// * Câu hỏi gợi mở:

– Bài thơ tả hoạt động gì của học sinh? – Học sinh chơi đá cầu vui và khéo léo như thế nào? Hướng dẫn học sinh đọc bài thơ với giọng nhẹ nhàng, thoải mái, vui tươi. Chú ý ngắt nhịp đúng và nhấn giọng từ bận. Theo tôi để học sinh luyện đọc diễn cảm có hiệu quả thì khi học sinh luyện đọc giáo viên phải tạo được không khí trong lớp thoải mái để học sinh dễ trực cảm với bài văn, có tâm trạng chờ đợi và chú ý nghe giáo viên đọc và cũng từ đó các em có thể học tập và bắt chước thầy. Trong khi rèn đọc diễn cảm tôi thường xuyên chú ý đến: Những học sinh rụt rè, nhút nhát, tôi thường xuyên khuyến khích, không gắt gỏng để các em mất bình tỉnh. Đối với học sinh nghịch ngợm, không chú ý đến tiết học tôi thường chú ý thỉnh thoảng chỉ định các em đọc tiếp. Đối với học sinh đọc yếu, ngoài việc hướng dẫn đọc dứt khoát từng từ, cụm từ, với câu dài cho học sinh ngắt hơi đúng và ra yêu cầu rèn đọc ở nhà, kiểm tra lại những yêu cầu đề ra đối với học sinh, việc này phải được tiến hành thường xuyên không được ngắt quảng. Tóm lại sau mỗi giờ tập đọc, tôi thường kiểm tra chất lượng đọc của học sinh thông qua đọc thành tiếng (cả 3 đối tượng giỏi + khá + TB ) xem các em đã đọc tốt chưa. 4/ Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: Qua những năm giảng dạy ở lớp 3 cũng như quá trình quan sát, dự giờ việc dạy học của giáo viên. Qua việc khảo sát học sinh ngay từ đầu năm tôi thấy số lượng học sinh đã biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ rất ít. Số liệu đầu năm khảo sát như sau: Tổng số học sinh 29

Đọc nhỏ, ấp úng 13

Số liệu khảo sát cuối năm như sau:

Đọc to, rõ, lưu loát 12

Đọc diễn cảm 4

Tổng số học sinh 29

Đọc nhỏ, ấp úng 3

Đọc to, rõ, lưu loát 11

Đọc diễn cảm 15

III. Phần Kết luận 1/ Những bài học kinh nghiệm: Thông qua việc giảng dạy hàng ngày trên lớp, tôi đi đến kết luận: Muốn rèn tốt cho học sinh đọc diễn cảm tốt thì vai trò của người giáo viên rất quan trọng bởi giáo viên luôn là tấm gương sáng, mẫu mực trong cách đọc diễn cảm để học sinh bắt chước. Trong mỗi giờ tập đọc người thầy phải hướng dẫn cách đọc cho học sinh thật tỉ mỉ từng từ ngữ, từng câu văn, từng đoạn văn, phải kiên trì uốn nắn, sửa chữ kịp thời tùy theo từng đối tượng học sinh thật tận tình, chu đáo. Vì vậy mỗi giáo viên phải thật sự yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình, gương mẫu trong công tác soạn giảng, luôn trau dồi nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp. 2/ Ý nghĩa: D¹y tËp ®äc lµ viÖc cña ch¬ng tr×nh tiÕng ViÖt ë TiÓu häc, n¾m v÷ng c¸ch ®äc c¸c em cã kh¶ n¨ng diÔn ®¹t c¸c vÊn ®Ò trong ®êi sèng hµng ngµy , t¨ng hiÖu qu¶ giao tiÕp , gióp c¸c em v÷ng vµng tù tin trong cuéc sèng . giúp ban giám hiệu trường giám sát được sự tiến bộ của từng học sinh trong khối lớp, từ đó định hướng được những kế hoạch quản lý của mình một cách chính sát và có hệ thống. 3/ Khả năng ứng dụng: Đề tài áp dụng giảng dạy môn tập đọc khối lớp 3 và cũng có thể giảng dạy tập đọc cho học sinh khối 4 và 5.

4/ Kiến nghị * Đối với học sinh:

NGƯỜI VIẾT

Nguyễn Thị Lan

Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 2

hải kiên trì. Khi học sinh đọc lẫn các tiếng có phụ âm đầu là l, giáo viên dừng lại sửa cho các em bằng cách: hướng dẫn các em đọc đầu lưỡi hơi cong, luồng hơi đi ra bị cản Ví dụ những tiếng có phụ âm đầu n đọc đầu lưỡi thẳng, môi trề, bụng hơi hóp lại. Những tiếng có âm quặt lưỡi như s - x; r - d- gi; tr- ch thì hướng dẫn các em nói tự nhiên cho hay, (không cố gắng đọc nhấn). Nhưng trong Tiếng Việt có phụ âm đầu là r (là phụ âm quặt lưỡi) thì chúng ta đọc không rung. Ví dụ: Như từ: ra vào, rang lạc, rực rỡ, rung rinh. Giáo viên đọc rung những tiếng là tiếng nước ngoài ,ví dụ: Ra đi ô, Ngoài việc sửa chữa trong mỗi tiết Tập đọc và các môn học khác, thì cuối mỗi buổi học tôi còn giao những bài tập đọc nhỏ để học sinh tự luyện đọc ở nhà và về nhà đọc trước bài của ngày hôm sau. Hàng ngày kiểm tra về cách đọc của học sinh và nhận xét. Qúa trình này tôi thực hiện thường xuyên và luôn khuyến khích các em. * Một số mẹo sửa lỗi phát âm l/n * Phát hiện lỗi phát âm: Lỗi thay thế phụ âm đầu /l/-/n/ xảy ra ở ba trường hợp: - Trường hợp 1: Thay thế âm cố định /l/ thành /n/ (ví dụ: "lạnh lẽo" thành 'nạnh nẽo"). - Trường hợp 2: Thay thế âm cố định /n/ thành /l/ (ví dụ: "núi non" thành "lúi lon"). - Trường hợp 3: Thay thế âm bất định, nghĩa là khi đúng khi sai, lẫn lộn không thể phân biệt, ví dụ: "lúa nếp làng" phát âm thành "núa lếp làng". * Cách chữa lỗi phát âm: Bàn về việc trị liệu, sửa chữa và luyện tập để phát âm chuẩn hai âm này, có nhiều cách phân biệt l-n khi nói và viết tiếng Việt. Trong bài viết này, xin giới thiệu một số kĩ thuật (thường được gọi là "mẹo") của một số nhà ngôn ngữ tiếng Việt đã gợi ý trong nhiều tài liệu ngôn ngữ tiếng Việt khác nhau. Ngoài ra, với chuyên môn về trị liệu âm ngữ, sẽ đề cập đến những cách phân biệt l-n trong khi nói và viết tiếng Việt dưới góc độ âm ngữ trị liệu tiếng Việt ở một bài viết khác. + Mẹo phân biệt viết con chữ l-n: Để cho dễ phân biệt về con chữ khi viết, mẹo "l cao, n thấp" được sử dụng để mô tả chiều cao của hai con chữ thể hiện hai âm này. Nhưng nhiều người đã biến tấu thành mẹo "n thấp, n cao" hoặc "l thấp, l cao" dựa vào cách phát âm của chính mình. Thực chất, mẹo này chỉ phần nào giúp phân biệt khi viết con chữ hơn là khi nói. Ngược lại, khi bị biến tấu, mẹo này lại làm cho người nói càng lẫn hơn khi phát ngôn + Mẹo phân biệt l-n khi nói và viết theo quy tắc cấu tạo âm tiết tiếng Việt Mẹo thứ nhất: Trong âm tiết, /l/ chỉ đứng trước âm đệm nhưng /n/ thì không (trừ trường hợp đặc biệt "noãn bào"). Ví dụ, những từ sau phải phát âm là l: cái loa, chói lòa, loan phượng, vết dầu loang, nói lưu loát, luẩn quẩn, loắt choắt, loanh quanh, luật pháp, luyến tiếc, Mẹo thứ hai: Khi không xác định được là /l/ hay /n/ trong một từ láy vần mà phụ âm này xuất hiện ở tiếng thứ nhất thì đó chắc chắn là phụ âm /l/. Có thể liệt kê ra các từ láy vần bắt đầu bằng phụ âm /l/ như sau: lệt bệt, lò cò, lộp độp,lúi húi, lai dai, lơ mơ, lã chã, lăng xăng, lon ton, lai rai, lởn vởn, lênh khênh, lăng nhăng, luẩn quẩn, lằng nhằng, loằng ngoằng, Theo danh sách đầy đủ thì kiểu láy vần bắt đầu bằng /l/ như trên có khoảng hơn 300 từ. Mẹo thứ ba: Khi không xác định được là /l/ hay /n/ trong một từ láy vần mà phụ âm đầu của tiếng thứ nhất là /z/ (gi,d) và phụ âm này xuất hiện ở tiếng thứ hai thì đó chắc chắn là phụ âm /n/, ví dụ: gian nan, gieo neo, Mẹo thứ tư: Khi không xác định được là /l/ hay /n/ trong một từ láy vần mà phụ âm này xuất hiện ở tiếng thứ hai và phụ âm đầu của âm tiết thứ nhất không phải là /z/ (gi, d) thì đó là phụ âm /l/ (trừ trường hợp: khúm núm, khệ nệ,), ví dụ: cheo leo, khoác lác, Mẹo thứ năm: Khi không xác định được là /l/ hay /n/ trong từ láy vần mà tiếng thứ nhất khuyết phụ âm đầu thì phụ âm đầu của tiếng thứ hai là /n/, ví dụ: ăn năn, ảo não, áy náy, Mẹo thứ sáu: Những từ không phân biệt được là /l/ hay /n/ nhưng đồng nghĩa với một từ khác viết với /nh/ thì viết là /l/, ví dụ: lăm le- nhăm nhe; lố lăng-nhố nhăng; lỡ làng - nhỡ nhàng;lài-nhài; lời-nhời; lầm-nhầm, Mẹo thứ bẩy: Trong từ láy phụ âm đầu thì cả hai tiếng trong từ láy đó phải cùng là một phụ âm. Do vậy, chỉ cần biết một tiếng bắt đầu bằng /l/ hay /n/ mà suy ra tiếng kia: Ví dụ: đều là l: lung linh, long lanh, lạnh lùng, Đều là n: no nê, nõn nà, núng nính, Mẹo liệt kê hệ thống từ vựng có phụ âm đầu /l/ và /n/ theo bẩy mẹo kể trên đã hệ thống hóa được một lượng từ vựng nhất định để người sử dụng không nhầm lẫn khi nói và viết. Đây còn là một nguồn tư liệu rất tiện ích cho các nhà trị liệu ngôn ngữ-lời nói, giáo viên và những người lớn khác sử dụng trong chương trình luyện tập phát âm hoặc chương trình phát triển ngôn ngữ cho cả trẻ em và người lớn. 2. Luyện đọc ngắt giọng Qua điều tra thực tế tôi thấy ở học sinh lớp 2 nói chung chưa biết cách đọc ngắt giọng. Để học sinh biết ngắt giọng trong khi đọc, trước hết phải hướng dẫn các em đọc đúng. Từ việc đọc đúng đó sẽ hướng dẫn các em đọc đúng cách ngắt giọng. Muốn đạt được điều đó cần phải dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc tuyệt đối không được tách từ ra làm hai, không tách từ chỉ loại với danh từ nó đi kèm theo. Không tách giới từ với danh từ đi sau nó, không tách quan hệ từ là với danh từ đi sau nó. Ví dụ: Không được đọc ngắt giọng: Tự xa/ xưa thủa nào Trong rừng/ xanh sâu thẳm (Gọi bạn - Tiếng Việt 2 tập 1 trang 28) Hay: Con ve cũng/ mệt vì hè nắng oi Mẹ là/ ngọn gió của con suốt đời. (Mẹ - Tiếng Việt 2 tập 1 trang 101) Mà phải đọc: Tự xa xưa / thủa nào Trong rừng xanh / sâu thẳm Con ve cũng mệt / vì hè nắng oi Mẹ là ngọn gió / của con suốt đời. Khi đọc các bài văn xuôi cũng vậy, việc ngắt giọng phải phù hợp với dấu câu. Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, trùng hợp với danh giới ngữ đoạn.Trên thực tế học sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu văn dài có cấu trúc phức tạp hoặc mắc lỗi ngay ở câu ngắn. Nhưng các em chưa nắm được quan hệ ngữ pháp giữa các từ. Ví dụ: Ông già bẻ bó đũa một/ cách dễ dàng Dê trắng thương/ bạn quá Bàn tay mẹ/ quạt mẹ đưa gió về Vì vậy trước khi giảng một bài cụ thể giáo viên cần dự tính những chỗ học sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng. Ví dụ: Bài: Dậy sớm Tinh mơ / em thức dậy Rửa mặt / rồi đến trường Núi giăng hàng / trước mặt Phải lưu ý về cách ngắt nhịp vì theo dự tính học sinh sẽ ngắt Tinh mơ em / thức dậy Rửa mặt rồi / đến trường Núi giăng / hàng trước mặt Trong khi đó xét về mặt ý nghĩa và lí thuyết trọng âm hai câu đầu ngắt nhịp 2/3 và câu sau ngắt nhịp 3/2. Bên cạnh dạy học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp còn cần phải dạy ngắt giọng biểu cảm, nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, nhằm tập trung sự chú ý của người nghe vào những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa. Ví dụ: Đó là chỗ ngừng lâu hơn trong các câu thơ cuối bài: Mẹ / là ngọn gió của con suốt đời. 3. Luyện đọc nhấn giọng Qua việc giảng dạy và thực tế trên lớp, để giúp học sinh đọc diễn cảm, đọc nhấn giọng người giáo viên cần phải thực hiện các nội dung sau: Chuẩn bị kĩ cho việc dạy nhấn giọng. Tìm hiểu kĩ nội dung bài dạy để hiểu rõ và cảm thụ sâu sắc bài, giúp học sinh đọc có hiệu quả hơn. Bài đọc trong sách giáo khoa của giáo viên cần nghi vắn tắt cách đọc, cách ngắt nhịp, cách nhấn giọng, sắc thái tình cảm đọc. Ví dụ : Bài: "Quà của Bố" ( Tiếng Việt 2- tập 1 trang 106) Đọc chậm rãi diễn tả hình ảnh về người bố, nhấn giọng ở các từ tả về món quà của người bố. Bài: Thương ông (Tiếng Việt 2- tập 1 trang 83) Ở bài này giáo viên hướng dẫn học sinh đều đọc ở nhịp 2/2, các câu thơ đọc giọng vui, cần ghi rõ từ nhấn mạnh (hoặc gạch chân) những đoạn câu cần ghi trọng âm, kí hiệu ngắt ( / ), nghỉ ( Trong từng bài giáo viên sẽ dự tính những lỗi học sinh sẽ mắc, giọng đọc cả bài, đoạn cần nhấn mạnh, tốc độ đọc. Giáo viên cần chuẩn bị đồ dùng dạyhọc. Phương tiện trực quan chủ yếu trong giờ Tập đọc là bài đọc và ngôn ngữ của giáo viên. Vì vậy, giáo viên cần sử dụng triệt để sách giáo khoa để học phân môn Tập đọc đạt kết quả tốt. Đồ dùng dạy học thông thường trong tiết Tập đọc là tranh mẫu và một số vật thực mô hình để giảng từ và ý. Ngoài ra giáo viên cần chuẩn bị bảng phụ để ghi nội dung bài, ý, câu thơ cần luyện đọc. Tuy nhiên khi lên lớp còn có nhiều tình huống mới mẻ cần xử lý. Song theo tôi sự chuẩn bị của giáo viên càng chu đáo thì lên lớp sẽ chủ động và sáng tạo hơn rất nhiều, giờ dạy sẽ đạt kết quả hơn mong đợi. Hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học, đọc và cảm thụ là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau . Cảm thụ tốt giúp cho việc đọc của học sinh tốt hơn. Tuy nhiên , đối với học sinh lớp 2 đọc đúng, đọc diễn cảm chưa cao nên việc đọc đúng của học sinh cần chú trọng hơn. Ở đây viêc đọc ngắt giọng, nhấn giọng được chú ý vào những học sinh đã đọc tốt và yêu cầu đọc ở cuối kì I. Khi học sinh đã đọc chuẩn, nhanh thì trong mỗi tiết học tôi không cảm thụ thay học sinh, mà khêu gợi vốn hiểu biết sẵn có của học sinh phát huy tư tưởng của các em để tái hiện được bức tranh mà tác giả vẽ lên bằng ngôn ngữ sinh động. Ví dụ: Bài: Sáng kiến của bé Hà ( Tiếng Việt 2 tập 1 trang 78) Theo em bé Hà có những sáng kiến gì? Hà đã tặng ông món quà gì? Bé Hà trong truyện là một cô như thế nào? Với những câu hỏi trên cùng với những câu hỏi gợi ý nội dung bài học sinh sẽ tìm ra cách đọc thích hợp để diễn tả được cái không khí tưng bừng của cả gia đình bé Hà. Bên cạnh đó một trong những biện pháp để bồi dưỡng học sinh cảm thụ văn học là làm bài tập có hiệu quả. Để hướng tới đọc diễn cảm có sáng tạo, khi giảng bài trên lớp giáo viên cần hướng dẫn luyện đọc diễn cảm. Tuy nhiên chính nội dung này đã quy định ngữ điệu của nó, nên không thể áp đặt sẵn giọng đọc của bài. Ngược lại điều này phải kết hợp luôn tự nhiên của học sinh đưa ra sau khi hiểu sâu sắc và biết diễn đạt dưới sự hướng dẫn của cô giáo. Để hình thành kĩ năng đọc diễn cảm học sinh cần phải: + Biết thở sâu chỗ ngừng nghỉ để lấy hơi đọc. + Rèn cường độ giọng đọc ( luyện đọc to) + Luyện đọc đúng + Đọc diễn cảm đúng. Trong khâu luyện đọc, tôi tiến hành theo hai bước: Ví dụ: Dùng một gạch xiên ( / ) đánh dấu ngắt; hai gạch xiên ( Ví dụ: Ngày xưa ở làng kia, có hai em bé ở với bà. Ba bà cháu rau cháo nuôi nhau tuy vất vả nhưng cảnh nhà lúc nào cũng đầm ấm. (Bà cháu- Tiếng Việt 2- tập 1 trang 86) Với những câu có nhiều cách đọc, giáo viên nêu vấn đề cho nhiều em nêu ra cách đọc và giúp các em nhận ra cách đọc đúng, đọc diễn cảm (đọc ngắt giọng, đọc nhấn giọng) Đọc toàn bài - đây là bước thực hiện sau khi học sinh đã đọc theo từng đoạn. Đọc toàn bài giúp học sinh cảm thụ một cách tổng thể sắc thái của nội dung tác phẩm. Ở bước này giáo viên cần động viên khuyến khích cách đọc biểu lộ tình cảm riêng, tích cực trong đổi mới phương pháp giáo dục dạy học. Ngoài những biện pháp trên người giáo viên có thể kết hợp nội dung luyện đọc lồng ghép với trò chơi như: Thả thơ, truyền điện, chạy tiếp sức 4. Luyện đọc diễn cảm Muốn rèn cho các em đọc diễn cảm thì trước hết phải rèn cho các em đọc đúng, đọc ngắt giọng và nhấn giọng đã. Đọc diễn cảm là đọc văn bản sao cho giọng điệu phù hợp với tình huống miêu tả trong văn bản, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội dung miêu tả trong văn bản. Đọc diễn cảm có nhiều mức độ: - Biết nhấn mạnh các từ quan trọng trong câu. Ví dụ: Trong bài Cây dừa - Tiếng Việt 2 tập 2 trang 88 có câu Cây dừa xanh toả nhiều tàu Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng. Khi đọc giáo viên phải lưu ý học sinh đọc nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm như: toả, dang tay, gật đầu. - Biết thể hiện ngữ điệu (Sự thay đổi cao độ, trường độ của giọng đọc) phù hợp với từng loại câu (câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến). - Biết đọc giọng phân biệt lời kể của tác giả và lời nhân vật. - Biết đọc phân biệt lời của của các nhân vật. Ví dụ : Trong bài Tập đọc " Một trí khôn hơn trăm trí khôn" - Tiếng Việt 2 tập 2 trang 31- Khi đọc giọng Chồn lúc hợm hĩnh, lúc thất vọng, cuối truyện lại rát chân thành. Còn giọng Gà Rừng lúc khiêm tốn, lúc bình tĩnh, tự tin. Biết thể hiện ngữ điệu phù hợp với tình huống miêu tả trong đoạn văn hoặc văn bản . Chương 3: Kiểm chứng Vận dụng các biện pháp đã nêu trên tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm như sau: Lớp tôi nghiên cứu chính là lớp tôi đang chư nhiệm. Đó là đối tượng lớp 2B Trường Tiểu học Nguyễn Lượng Thái..Bài thực nghiệm: Tôi đã chọn bài: Voi nhà. - Sở dĩ tôi mạnh dạn chọn bài này vì đây là bài văn xuôi, học sinh sẽ đọc hay sai cả phát âm , ngắt giọng và nhấn giọng. Song đây lại là bài văn rất hay bởi nội dung thật gần gũi với học sinh. - Trong quá trình dạy học tôi luôn áp dụng những biện pháp trên vào giảng dạy. Sau đó tôi dã tiến hành khảo sát học sinh như sau: Kiểm tra miệng: Em hãy đọc đúng các từ sau: Rú ga, vục, khựng lại, thu lu, lừng lững, lúc lắc, quặp chặt vòi, huơ vòi, lững thững Em hãy đọc đúng đoạn văn sau: Nhưng kìa, con voi quặp chặt vòi vào đầu xe và co mình lôi mạnh chiếc xe qua vũng lầy. Lôi xong, nó huơ vòi về phía lùm cây rồi lững thững đi theo hướng bản Tun. Đáp án bài 2: Nhưng kìa, /con voi quặp chặt vòi vào đầu xe /và co mình lôi mạnh chiếc xe qua vũng lầy. 2.Kết quả Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh theo nội dung trên và thấy rằng kết quả đọc đúng, đọc ngắt giọng và nhấn giọng dẫn đến dọc diễn cảm của học sinh được nâng cao nhiều so với kết quả đầu năm, số lỗi mà học sinh mắc phải đã giảm đi nhiều nhất là sai về phụ âm đầu l/ n; vần ưng Chất lượng của giờ dạy sau thực nghiệm như sau: Lớp Sĩ số Luyện phát âm Ngắt giọng Nhấn giọng Đọc diễn cảm Đúng Chưa đúng Đúng Chưa đúng Đúng Chưa đúng Đúng Chưa đúng SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % 2A1 38 30 78,9 8 21,1 28 73,7 10 26,3 28 73,7 10 26,3 20 52,6 18 47,4 Qua tiết dạy Tập đọc bài Voi nhà nhằm rèn kĩ năng đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng và đọc diễn cảm cho học sinh lớp 2, tôi thu được một số kết quả sau: - Nâng cao được trình độ của giáo viên: Giáo viên phải dành nhiều thời gian nghiên cứu, tham khảo các tài liệu hướng dẫn, sách giáo khoa để dạy phù hợp với trình độ của học sinh. Đặc biệt trong khi dạy phân môn Tập đọc nói chung với các phân môn khác trong trường Tiểu học nói chung, người giáo viên cần phải có tính kiên trì, tỉ mỉ, có cách giảng truyền cảm để hướng dẫn các em cặn kẽ từng bài, từng phân môn, thu hút sự hứng thú học tập của học sinh. Qua đó giáo viên được tư duy khoa học, tạo niềm say mê đối với nghề nghiệp của người giáo viên. Phần III. KẾT LUẬN I. Đánh giá chung: - Trong giao tiếp, trong học tập, trong công tác hàng ngày, con người luôn phải học hỏi, tiếp thu nền văn minh của xã hội loài người. Vậy mà trong những kinh nghiệm cuộc sống, những thành tựu về văn hóa, khoa học, xã hội những tư tưởng tình cảm của các thế hệ đi trước và của xã hội đương thời thì phần lớn đơn vị ghi lại bằng chữ viết. Do vậy nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của nhân loại, không có niềm vui, hạnh phúc với đúng nghĩa của nó trong xã hội hiện tại. Chính vì vậy dạy học là một việc làm vô cùng quan trọng ở Tiểu học, trong các giờ học của các môn học nói chung và ở phân môn Tập đọc nói riêng việc đọc đúng, hay cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Bởi có đọc được thì học sinh mới có thể học các môn khác. - Để học sinh có khả năng đọc đúng, hay, diễn cảm thì người giáo viên phải dạy cho học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm ngay từ những lớp đầu cấp. Nhưng không phải bằng cách tăng thời gian luyện đọc mà coi trọng chất lượng đọc, mà phải xác định nội dung đọc, hiểu như nhau. Xác định được ngữ liệu nội dung từng đoạn của bài để xác định các yếu tố nghệ thuật và giá trị của chúng trong diễn đạt nội dung. Giáo viên phải là người đọc mẫu chuẩn, hay. Dạy phải tỉ mỉ, kiên trì, nhẹ nhàng. Việc đưa ra hệ thống phiếu bài tập phải đảm bảo các yêu cầu, phải thực hiện được mục đích, học sinh phải chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và trong học tập. Khi giảng dạy cần chú ý đến nội dung bài tập đọc. Những bài có yếu tố văn cần có những bài tập giúp học sinh phát hiện ra những giá trị tác dụng của chúng trong tác phẩm. II. Hiệu quả. Đề tài " Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2"giúp học sinh pháp âm đúng, chuẩn, đọc đúng ngữ liệu, ngắt giọng đúng và hay. Khi dạy giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và có đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên và phải chuẩn bị cả về đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy đó thì tiết học mới có hiêụ quả cao. Mặc dù còn khó khăn trong trong quá trình thực hiện phương pháp nhưng nếu khắc phục được tôi nghĩ đây là một việc làm rất thiết thực trong quá trình nâng cao chất lượng đọc cho học sinh, góp phần lớn vào mục tiêu giáo dục Tiểu học. III.Ý kiến đề xuất. Trước thực tế giảng dạy trong năm học qua nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học cũng như việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 trong phân môn tập đọc. Tôi xin đưa ra một vài kiến nghị sau: - Khi trẻ bắt đầu đến trường, giáo viên cùng với gia đình, nhà trường, xã hội phải giáo dục và rèn kỹ năng đọc cho các em một cách hiệu quả nhất. - Mỗi giáo viên , cần dành nhiều thời gian hơn vào việc nghiên cứu, vận dụng các phương pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh sao cho tốt hơn, hiệu quả hơn. - Cần tổ chức, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy trong và ngoài trường theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học. Với đề tài " Một số biên pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2" tôi hi vọng rằng giúp các em nâng cao khả năng đọc của mình .Từ đó rèn cho các em biết: Đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm. Thực hiện đề tài này do hạn chế về trình độ nên tôi chỉ đưa ra một số vấn đề nho nhỏ.Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu nhà trường, cũng như của các bạn đồng nghiệp để đề tài thêm hoàn chỉnh và chất lượng hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! An Bình, ngày 15 tháng 01 năm 2019 Người thực hiện Ninh Thị Thúy PHẦN IV: PHỤ LỤC Hướng dẫn dạy tập đọc trong trường Tiểu học. Tạp chí Giáo dục và Thời đại. Sách Tiếng Việt các lớp 1, 2

Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 3

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3

Năm học 2014 – 2015

1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3”. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng việt- Lớp 3. 3. Tác giả: – Họ và tên: Dương Thị Hằng.

Nạm (Nữ ): Nữ

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN

(Kí, ghi rõ họ tên)

ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Dương Thị Hằng TÓM TẮT SÁNG KIẾN 2

Phân môn Tập đọc có một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng. Để học sinh học tốt được phân môn Tập đọc thì nhiệm vụ quan trọng nhất là rèn đọc cho học sinh. Học sinh đọc tốt sẽ là phương tiện để học sinh chiếm lĩnh kiến thức. Học sinh đọc tốt không những giúp các em giao tiếp tốt mà còn giúp các em học tốt tất cả các môn học. Học môn nào, học bài nào cũng phải sử dụng đến hoạt động đọc. Rèn học sinh đọc tốt cũng chính là giúp các em hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Tôi thấy thực tế dạy học hàng ngày, kĩ năng đọc của học sinh còn rất nhiều hạn chế. Một phần là do bản thân học sinh nhận thức mặt chữ chậm, chưa có kĩ năng đọc, chưa cố gắng. Một phần là phương pháp giảng dạy của một số giáo viên còn hạn chế. Giáo viên mới chỉ dừng ở mức cho học sinh đọc chứ chưa đi sâu vào rèn các kĩ năng. Năm học 2014 – 2015, tôi mạnh dạn nghiên cứu và viết sáng kiến về một số biện pháp rèn đọc cho HS lớp 3 nhằm giúp tất cả các em có kĩ năng đọc tốt hơn. Sáng kiến của tôi đã được đúc rút từ việc giảng dạy các tiết hàng ngày trên lớp qua nhiều năm, đúc rút qua việc phụ đạo những em nhận thức chậm. Sáng kiến của tôi dựa vào các cơ sở khoa học, dựa vào các nguyên tắc giáo dục, dựa vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh. Để thực hiện sáng kiến, tôi đã đưa ra một kế hoạch và thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch đó. Tôi tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến học sinh đọc sai, nghiên cứu kĩ nội dung chương trình, các tài liệu tham khảo. Khi đã nắm chắc chương trình, nội dung kiến thức kĩ năng cần đạt, những lỗi mà học sinh hay mắc phải, tôi tiến hành phân loại học sinh theo từng nhóm đối tượng riêng để tiến hành tìm biện pháp rèn cặp cho phù hợp. Trên lớp, ngoài việc tiến hành biện pháp rèn đọc với từng nhóm đối tượng học sinh, tôi luôn phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, khuyến khích học sinh phát huy hết năng lực đọc của mình, thực hiện các giờ dạy trên lớp một cách hiệu quả nhất. Tôi có sổ nhật kí về từng lỗi sai của học sinh để theo dõi sự tiến bộ của học sinh. Bên cạnh việc truyền đạt kiến thức, tôi thực hiện nghiêm túc việc theo dõi đánh giá học sinh theo thông tư 30/ 2014, làm tốt công tác chủ nhiệm, áp dụng mô hình trường học mới luôn động viên khuyến khích học sinh. Với lòng nhiệt tình tâm huyết nghề nghiệp, tôi đã áp dụng biện pháp rèn đọc cho học sinh và biện pháp hoàn 3

toàn đem lại hiệu quả. Kĩ năng đọc của học sinh tiến bộ rõ rệt. Học sinh cả lớp đều đạt yêu cầu cơ bản. Nhiều em đọc tốt hơn nhiều so với trước. Trong lớp không còn học sinh đọc ê a ngắc ngứ. Các em đọc đúng đọc hay và các môn học khác cũng rất tiến bộ, diễn đạt lưu loát, giao tiếp tốt hơn. Đầu năm các em rất nhút nhát, sợ thầy sợ cô nhưng đến nay rất tự tin. Trong lớp, các em hăng hái phát biểu, thích đọc, thích học. Các em hăng hái tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hăng hái tham gia công tác tự quản, giờ sinh hoạt rất sôi nổi và vui vẻ. Lớp học luôn dẫn dầu trong việc thực hiện các nề nếp và các phong trào. Sáng kiến của tôi đã đưa ra được biện pháp tích cực, là cơ sở giúp giáo viên tham khảo xây dựng được một số biện pháp khác như giúp học sinh nhận thức chậm vươn lên đạt chuẩn; Nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh, Nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt… Sáng kiến của tôi đưa ra được biện pháp rèn đọc hữu hiệu, dễ thực hiện, không tốn kinh phí, áp dụng được tất cả với mọi giáo viên ở các khối lớp và đặc biệt là khối lớp 3 đạt hiệu quả. Để sáng kiến áp dụng đạt hiệu quả, tôi kính mong các lực lượng tham gia giáo dục tâm huyết, nhiệt tình, tất cả vì thế hệ trẻ, tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất cũng như đồ dùng phương tiện để giúp học sinh phát triển toàn diện đủ đức đủ tài xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp.

MÔ TẢ SÁNG KIẾN 4

1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến 1.1. Lý do chọn sáng kiến. Hiện nay đất nước ta đứng trước sự phát triển của thế giới cũng đang từng ngày từng giờ đổi mới. Trước sự phát phiển của nền kinh tế và đặc biệt là sự phát triển của khoa học – công nghệ thông tin, cần phải có những con người có đủ năng lực, đủ trí tuệ gánh vác. Đó là trọng trách lớn lao của ngành giáo dục với sự nghiệp trồng người. Đứng trước sự phát triển của đất nước nếu con người không biết đọc thì không thể tiếp thu được nền văn minh của loài người, không thể đáp ứng được sự phát triển của xã hội. Mặt khác ta còn thấy, đọc tốt không phải ai cũng có và dễ dàng đạt được. Đọc tốt là phải kết hợp được rất nhiều yếu tố như: chất giọng tốt, phát âm đúng, đọc lưu loát, biết thể hiện truyền cảm tới người nghe… Nếu một trong các yếu tố trên không đạt thì chất lượng đọc không thể tốt được. Ví dụ như một người phát thanh viên có giọng đọc hay nhưng ngọng l/n thì người nghe cảm thấy giảm giá trị đọc đi nhiều lần. Là người giáo viên làm công tác giảng dạy đào tạo ra những nhân tài cho đất nước, tôi nhận thấy rèn học sinh đọc tốt là việc làm vô cùng quan trọng giữ vai trò then chốt giúp học sinh phát triển toàn diện. Kĩ năng đọc tốt sẽ là phương tiện để học sinh chiếm lĩnh kiến thức. Bất cứ môn học nào, bài học nào cũng phải sử dụng đến hoạt động đọc. Các em đọc được văn bản thì các em mới hiểu được nội dung ý nghĩa giáo dục, mới cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn bản. Các em đọc được đề bài toán thì mới hiểu và giải được bài. Các em có đọc được chữ thì mới hát được bài hát, đọc được bài học, ghi nhớ bài học. Các em đọc tốt thì các em sẽ học tốt được tất cả các môn. Từ việc nắm được kiến thức các em mới có nhiều vốn từ, phát triển được năng khiếu diễn đạt, năng khiếu giáo tiếp hàng ngày. Chính vì vậy mà việc rèn học sinh đọc tốt và vô cùng quan trọng, cần thiết trong việc dạy học, giúp các em phát triển toàn diện đáp ứng được mục tiêu giáo dục hiện nay. Từ thực tế ta thấy học sinh đọc yếu còn rất nhiều. Các em phát âm sai, đọc đánh vần tốc độ chậm, đọc ngọng, đọc sai tiếng từ, đọc không hiểu nội dung. Từ đó các em viết chậm, sai nhiều lỗi, viết mãi không xong tên bài học. Đến giờ Tập đọc các em rất thờ ơ, ngại đọc, không 5

hứng thú. Khi diễn đạt các em rất bí từ, diễn đạt không lưu loát, ngại giao tiếp với cô và các bạn. Trong giờ học, các em không chịu cố gắng, thiếu tự tin, thụ động. Từ việc đọc kém nên dẫn đến các em học chậm các môn học khác. Các em không hoàn thành bài ỷ lại vào sự giục giã của thày cô. Các em đến lớp luôn bị cô giáo nhắc nhở, về nhà bị bố mẹ phàn nàn. Các em dẫn đến chán học rồi bỏ học. Từ đó sẽ các em hay sa vào các trò chơi điện tử… và mắc vào các tệ nạn xã hội đáng tiếc. Do đó các em đã trở thành một gánh nặng cho lớp, cho nhà trường, cho gia đình và xã hội. Từ những vấn đề trên, qua nhiều năm giảng dạy tôi đã mạnh dạn viết sáng kiến về “Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3″ theo hướng tích cực nhằm mong muốn nâng cao chất lượng đọc cho học sinh nói riêng cũng như môn Tiếng Việt và các môn học khác, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ ngành giáo dục của chúng ta hiện nay. 1.2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3. – Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3 1.3. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng được biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3 nhằm nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh cũng như chất lượng môn Tiếng Việt và các môn học khác. 1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu Điều tra thực tế tình hình học sinh đặc biệt là kĩ năng đọc, dự giờ thăm lớp nắm tình hình giảng dạy của giáo viên, thống kê những ưu nhược điểm, đúc rút kinh nghiệm đưa ra biện pháp rèn đọc cho học sinh có hiệu quả. Đem sáng kiến này áp dụng vào công tác giảng dạy, nâng cao chất lượng học sinh. 1.5. Các phương pháp nghiên cứu Tiến hành sáng kiến này tôi đã dùng các phương pháp sau: + Phương pháp điều tra giáo dục: Điều tra thực trạng học sinh, những tồn tại của giáo viên để từ đó có kế hoạch tiến hành. + Phương pháp quan sát: Quan sát học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đặc biệt là kĩ năng đọc để nắm được thực trạng của từng em. 6

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Rút kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy. Rút kinh nghiệm cả về mặt ưu điểm và cả mặt nhược điểm. Toạ đàm trao đổi với đồng chí, đồng nghiệp, với học sinh, dự giờ thăm lớp, các phương pháp rèn đọc ở các loại sách tham khảo, tạp chí giáo dục… + Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu xem xét kết quả học tập của từng học sinh, của tập thể lớp. + Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm ở lớp để nắm được kết quả việc áp dụng kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh. 1.6. Điểm mới nghiên cứu – Đưa ra các việc làm, các giải pháp rèn đọc cách cụ thể dễ hiểu, dễ thực hiện, áp dụng được tất cả với mọi giáo viên lớp 3 nói riêng, các khối lớp khác nói chung đạt hiệu quả. 2. Cơ sở lí luận của vấn đề Mục tiêu giáo dục của bậc giáo dục Tiểu học hiện nay là: Giúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản khác để học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở hoặc đi vào cuộc sống lao động. Học xong Tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về Tự nhiên Xã hội và con người, có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về nghệ thuật. Để đạt được mục tiêu của bậc học và để đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước đòi hỏi phải có sự đổi mới tích cực của phương pháp dạy học, đòi hỏi sự sáng tạo của mỗi thày cô làm sao để đạt được chất lượng học sinh, đào tạo được những con người đủ đức, đủ tài kế tục sự nghiệp. Đối với việc rèn đọc cho học sinh là cả một quá trình lâu dài. Đối với học sinh, nếu học sinh đọc kém sẽ hạn chế tất cả các nguồn thông tin. Từ việc đọc kém không nhận nhanh được mặt chữ nên dẫn đến viết kém, tiếp thu mọi thông tin của thày cô kém. Từ việc không nắm chắc kiến thức nên học không có chiều sâu tư duy. Khả năng tập trung vào bài học của các em không bền vững. Học sinh dễ mất tập trung nên việc đạt được kiến thức theo 7

chuẩn kiến thức kĩ năng là rất khó khăn. Vì vậy mỗi giáo viên phải nhận thức được vấn đề, xây dựng được phương pháp rèn đọc cho học sinh. Từ việc rèn học sinh phát âm đúng, đọc to rõ ràng lưu loát đến việc các em biết làm chủ tốc độ đọc, hiểu được nội dung văn bản chuyển tải cho người nghe cảm thụ được cái hay cái đẹp của văn bản là cả một quá trình lâu dài. Mỗi giáo viên phải không ngừng đổi mới, không ngừng sáng tạo để đạt kết quả. Mỗi thày cô phải bỏ nhiều công sức, lòng tâm huyết nhiệt tình thì mới đạt được chất lượng học sinh. 3. Thực trạng của vấn đề 3.1. Về học sinh: Từ thực tế ta thấy học sinh đọc yếu còn rất nhiều. Có em khi đọc còn phải đánh vần. Có em phát âm sai, nhầm lẫn giữa các cặp phụ âm đầu, không biết ngắt nghỉ ở dấu chấm dấu phẩy. Ngoài ra cũng có em đọc nhanh nhưng không nắm được cách đọc nên cứ đọc oang oang, đọc bô bô, đọc như cuốc kêu, đọc như con vẹt mà không hiểu nội dung. Có em đọc thầm thì bỏ dở giữa chừng. Tiết tập đọc, các em thờ ơ không say mê đọc. 3.2. Về phụ huynh: Có những phụ huynh thì rất quan tâm đến con em mình nhưng cũng có nhiều phụ huynh chưa quan tâm, trình độ hạn chế, không có phương pháp hướng dẫn. Có những phụ huynh nhận thức không đầy đủ cho rằng học sau này cũng chẳng xin đi đâu được nên thờ ơ trước lời nhận xét của giáo viên, không hỗ trợ giáo viên trong việc rèn cặp con cái, mải đi làm kiếm tiền mặc cho con em mình được đến đâu thì được. 3.3. Về giáo viên: Đa phần giáo viên rất tâm huyết nhiệt tình với nghề nghiệp, song việc đổi mới phương pháp, cách thức rèn đọc của một số giáo viên còn hạn chế. Tiết Tập đọc có khi chỉ dừng ở mức cho học sinh đọc chứ chưa chú ý đến việc rèn các kĩ năng. Khi học sinh đọc được ở “mức này” giáo viên chưa chỉ ra chỗ chưa được để các em đạt ở mức cao hơn. Sau mỗi bài đọc, giáo viên chỉ nhận xét chung chung chưa cụ thể rạch ròi để học sinh có hướng phấn đấu. Học sinh 8

Kĩ năng đọc Đọc đúng tiếng, từ; đúng tốc độ, ngắt nghỉ hơi đúng, hiểu 9

nội dung; ngữ điệu đọc tốt. Đọc đúng tiếng, từ; đúng tốc độ, ngắt nghỉ hơi đúng, hiểu nội dung; bước đầu biết thể hiện ngữ điệu. Đọc đúng tiếng, từ; đúng tốc độ, hiểu nội dung; ngắt nghỉ hơi đôi chỗ chưa phù hợp. Đọc không đảm bảo tốc độ, sai tiếng, từ; không biết ngắt

10

31,3

14

43,7

5 15,6 nghỉ hơi, không hiểu nội dung bài. Nhìn vào chất lượng khảo sát tôi thấy kĩ năng đọc của học sinh rất kém. Các em đọc tốc độ rất chậm, sai nhiều tiếng từ, bỏ sót từ, đọc nhỏ, đọc ngọng sai phụ âm đầu. Một số em không hiểu nội dung không trả lời được câu hỏi. Cá biệt có em lại đọc nhanh quá không biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, không biết đọc đúng ngữ điệu của bài. Sau khi điều tra thực trạng học sinh, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh đọc sai, đọc kém. Các nguyên nhân đó là: – Hàng ngày các em tiếp xúc với những đối tượng nói sai, nói ngọng ở địa phương thành thói quen, nhất là tỉnh ta hay nhầm l/n … dẫn đến học sinh đọc sai. Ví dụ: ” lập lòe” các em đọc thành “nập nòe” “rừng cây” Các em đọc thành: “dừng cây”… – Học sinh học đuối từ lớp dưới, chưa nhận nhanh được mặt chữ nên khi đọc nhiều chỗ phải dừng lại đánh vần. Do đó dẫn đến tình trạng học sinh đọc chậm không đảm bảo tốc độ ê a ngắc ngứ không lưu loát. – Các em không hiểu nghĩa của từ nên khi đọc các em đọc bừa. – Một số em do bộ máy phát âm còn có điểm khiếm khuyết nên cũng dẫn đến các em đọc sai, các chữ khó không đọc được. – Ngoài ra một số em không hiểu nội dung, không hiểu văn cảnh, không hiểu ý nghĩa tình cảm của tác giả muốn gửi gắm ở trong bài đọc nên cứ đọc oang oang, đọc như cuốc kêu mà không biết đọc giọng phù hợp … 4.3 Phân loại học sinh theo từng lỗi kĩ thuật đọc. Trong các tiết dạy trên lớp, tôi theo dõi kĩ năng đọc các học sinh, phát hiện ra các lỗi sai về kĩ thuật đọc. Tôi tổng hợp các lỗi sai thành các nhóm để từ 10

đó có biện pháp rèn đọc phù hợp với từng đối tượng. Tôi đã tổng hợp và phân loại được các nhóm cơ bản sau: + Nhóm đọc sai lỗi phát âm: l/n; s/x; ch/tr; r/d/gi. + Nhóm đọc chậm ê a, ngắc ngứ. + Nhóm đọc quá chậm. + Nhóm học sinh đọc quá nhanh. + Nhóm đọc nhỏ quá. + Nhóm học sinh đọc to quá. + Đọc liến thoắng không biết ngắt nghỉ phù hợp. + Nhóm đọc không hiểu nội dung Từ thực tế của học sinh trong lớp, có những em vừa sai l/n; ch/tr; s/x; r/d/gi lại đọc ê a, ngắc ngứ, đọc quá chậm lại không hiểu nội dung. Các em biết đọc hay đọc đúng ngữ điệu rất ít. Tôi đã lập danh sách và có sổ nhật kí riêng theo dõi việc đọc của các em. 4.4. Xây đựng các biện pháp rèn đọc Mục đích của tôi rèn đọc cho học sinh là rèn đọc đúng âm vị, đúng ngắt nhịp, đúng cường độ, đảm bảo tốc độ và hiểu nội dung. Ngoài ra tôi còn hướng dẫn học sinh đọc đúng ngữ điệu của bài. Căn cứ vào tình hình thực tế của học sinh trong lớp. Qua phần điều tra lỗi kĩ thuật đọc. Tôi đề ra biện pháp để luyện như sau: + Đối với nhóm đối tượng đọc sai lỗi phát âm: l/n; s/x; ch/tr; r/d/gi, khi hướng dẫn học sinh giáo viên phân tích cho các em sự khác biệt giữa các phụ âm. Giáo viên phân tích cho các em hiểu được hệ thống môi, răng, lưỡi phải kết hợp như thế nào, khi nào thì tròn môi, khi nào thì mở rộng miệng hơi thoát ra. Ví dụ: hướng dẫn cách phát âm của âm L: Đầu lưỡi đặt lên lợi của hàm răng trên, hơi bật từ trong cổ họng đi ra ngoài. Giáo viên làm mẫu rồi hướng dẫn học sinh thực hiện. Giáo viên luyện cho các em đọc đúng âm rồi đến đúng tiếng vì có đọc âm đúng thì tiếng mới đúng được. Giáo viên phân biệt cho các em hiểu nghĩa của từ để các em hiểu và đọc đúng. Ví dụ: “sâu” và “xâu” 11

Ở mức độ nhận thức của các em học sinh lớp 3, giáo viên giải nghĩa từ ở mức độ đơn giản sao cho các em dễ hiểu và phân biệt được: “sâu” là khoảng cách từ miệng hoặc bề mặt đến đáy như ao sâu, giếng sâu…; hay chỉ loại côn trùng phá hoại nông nghiệp như con sâu, sâu bọ … hoặc chỉ trạng thái bị hư hỏng như sâu răng, mía sâu … “xâu”: xuyên qua vật bằng sợi dây hoặc que như: xâu cá, xâu cua, xâu kim hay chỉ sự tranh giành như xâu xé… Khi các em đã được luyện tập nhiều lần, giáo viên huấn luyện cho các em tự nhận xét và nhận xét lẫn nhau và chỉ cho các em những chỗ chưa được. Cứ như vậy nhiều lần, các em hiểu và tiến bộ rõ rệt. + Đối với những em đọc ê a, ngắc ngứ. Ở đây lỗi của các em là chưa nhận rõ mặt chữ nên ê a để nghĩ xem chữ đó đọc như thế nào? Có em phải dừng lại để đánh vần. Đối với nhóm này, giáo viên dành một thời gian thích hợp cho việc luyện đọc. Giáo viên hướng dẫn các em đọc to rõ ràng từng tiếng tuyệt đối không kéo dài từ tiếng này sang tiếng khác. Đọc dứt khoát từng từ, cụm từ, từng câu. Giáo viên luyện cho học sinh một cách thường xuyên và phải tạo thành một thói quen. Nếu cần thiết cho các em dừng lại nhận rõ chữ rồi mới đọc liền mạch. Đối với các em không đọc nổi các tiếng khó ngay tại lớp, giáo viên yêu cầu các em đánh dấu các tiếng khó bằng bút chì vào sách giáo khoa để luyện đọc vào thời gian khác. Đến cuối mỗi buổi giáo viên lại kiểm tra hướng dẫn bổ sung. + Đối với những em đọc chậm, giáo viên rèn đọc cho học sinh bằng cách sau: Đơn vị đọc là cụm từ, câu, đoạn, bài. Giáo viên đo tốc độ bằng cách chọn sẵn bài có số lượng tiếng cho trước và dự tính đọc trong bao nhiếu phút. Dựa theo chuẩn kiến thức kĩ năng, tùy theo mức độ khó của từng bài mà giáo viên đề ra yêu cầu với quỹ thời gian nhất định. Ví dụ bài: Ông ngoại (sách Tiếng Việt lớp 3- tập 1 – trang 34) đọc trong vòng 3 phút là đạt yêu cầu.

12

+ Đối với những em đọc nhanh quá, đọc liến thoắng, giáo viên hướng dẫn các em làm chủ tốc độ đọc: đọc nhẹ nhàng, rõ ràng thoải mái làm sao đủ để người nghe cảm nhận được. Nếu cần thiết giáo viên hướng dẫn các em làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu để các em đọc theo tốc độ đã định. + Đối với những em đọc nhỏ, giáo viên yêu cầu các em đọc sao cho bạn ngồi xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Những em đọc to quá giáo viên hướng dẫn các em giảm cường độ đọc. Đọc vừa phải, nhẹ nhàng. + Đối với những em đọc liến thoắng, không biết ngắt nghỉ hơi hợp lí, giáo viên phải chỉ cho cần phải ngắt nghỉ hơi ở những vị trí nào cho phù hợp, sau đó cho học sinh thực hành và nếu cần thiết giáo viên phải đọc mẫu thật tốt để các em làm theo. Đối với các câu dài, giáo viên hướng dẫn các em biết cách lấy hơi, giữ hơi để khỏi bị ngắt quãng giữa các âm tiết. + Đối với những em đọc như cuốc kêu, đọc mà không hiểu nội dung, khi học sinh đọc bài giáo viên luôn đưa ra trước các câu hỏi. Ví dụ: Bài Hũ bạc của người cha (sách Tiếng Việt lớp 3- tập 1- trang 121), tôi đưa ra câu hỏi: Đoạn này nói lên điều gì? Câu nào nói lên ý chính của bài? … Ngoài việc rèn học sinh khắc phục với từng đối tương như trên, Ở lớp 3 không yêu cầu bắt buộc học sinh đọc diễn cảm nhưng tôi vẫn hướng dẫn các em đọc thể hiện đúng ngữ điệu, nội dung bài. Ở phần này, khi học sinh đã thông hiểu nội dung của bài, của từng đoạn, từng câu, hiểu tâm tư tình cảm của tác giả trong bài, giáo viên rèn cho học sinh cách lấy hơi, ngắt nghỉ các loại dấu câu như dấu chấm cảm, chấm hỏi… Khi đã rèn được các kĩ năng cơ bản, giáo viên khuyến khích học sinh tìm ra cách đọc của bài. Ví dụ: Bài Cậu bé thông minh (sách tiếng việt lớp 3- tập 1 – trang 4). + Giọng người dẫn chuyện chậm rãi ở những dòng mở đầu giới thiệu câu chuyện, thể hiện sự lo lắng trước yêu cầu oái oăm của nhà vua. Đoạn “Được lệnh vua đến phần cuối giọng khoan thai thoải mái sau mỗi lần cậu bé tài trí qua được thử thách của nhà vua. + Giọng cậu bé lễ phép, bình tĩnh, tự tin. 13

đọc của bạn rồi sau đó tôi mới sửa sai. Khi sửa, tôi sửa chung cả lớp vì có nhiều em đọc sai lỗi giống nhau, sau đó mới sửa riêng cho từng cá nhân. tôi kiểm tra xem học sinh đọc được chưa và sửa để các em đọc đúng. Trong tiết dạy tôi cố gắng phát huy hết năng lực đọc của học sinh. Khi học sinh đạt được ở “mức này” tôi chỉ ra chỗ hạn chế để học sinh đạt được ở mức cao hơn. Áp dụng theo thông tư 30/ 2014, sau mỗi em đọc, giáo viên cần có lời nhận xét cụ thể sát đối tượng để các em phấn khởi phát huy hết năng lực đọc của mình. Học sinh lớp 3 còn nhỏ nên giáo viên cũng cần thường xuyên thay đổi hình thức dạy học để tránh sự nhàm chán đối với học sinh. Giáo viên tổ chức trò chơi ngay cả phần tìm hiểu nội dung bài hay phần luyện đọc lại. Ví dụ phần luyện đọc lại. Giáo viên cho học sinh thi đua đọc, phát huy năng lực đọc bằng nhiều cách như lựa chọn những em có năng lực đọc ngang nhau để thi đọc. Gọi hai em cùng màu áo, cùng ngồi đầu bàn hay cùng tên họ… để thi đọc. Trong khi lên lớp giáo viên cũng cần lưu ý những em nặng tai, mắt kém ưu tiên cho các em ngồi lên trên hoặc luôn đi đến gần để các em được nghe rõ những lời cô giáo muốn truyền đạt. Trong tiết dạy, lời lẽ của giáo viên phải đơn giản, gần gũi, dễ hiểu đối với học sinh. Một điều quan trọng nữa là giáo viên luôn phải tạo cho học sinh một tâm thế khi đọc. Đó là phải thật thoải mái bình tĩnh, tự tin không sợ sệt thể hiện hết khả năng của mình. Trong lớp luôn tạo ra không khí vui vẻ thi đua sôi nổi. Học sinh đua nhau học tốt. 4.6. Giọng đọc của giáo viên phải chuẩn xác Để rèn học sinh đọc tốt thì giọng đọc của giáo viên phải chuẩn xác. Giáo viên phải phát âm đúng, đọc đúng, có kĩ năng đọc thật chuẩn để làm cái mẫu hướng cho học sinh đọc như cô. Muốn vậy, giáo viên phải không ngừng học hỏi tích lũy kinh nghiệm tạo thành bề dày về kĩ năng đọc để rèn học sinh đọc đúng. 4.7. Phát động thi đua “nhóm đọc tốt” Trong lớp, giáo viên phát động phong trào “nhóm đọc tốt” nhằm mục đích nâng cao chất lượng đọc của học sinh. 15

Giáo viên gợi ý cho những em đọc tốt và những em đọc chưa đạt thành một nhóm, tạo điều kiện cho các em học tập kèm cặp lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng tiến bộ. Mỗi giờ truy bài hoặc cuối buổi cho các em kèm cặp lẫn nhau. Giáo viên chủ động giành thời gian theo dõi, kiểm tra từng nhóm để hướng dẫn và bổ sung thêm. Ngoài ra, tôi áp dụng mô hình trường học mới, sử dụng góc Thư viện của lớp học, khuyến khích học sinh các nhóm đọc truyện để nâng cao thêm kĩ năng đọc cho học sinh. Giáo viên cho thi đua giữa các nhóm để cuối tuần, mỗi tháng có đánh giá tổng kết, bình chọn bao nhiêu nhóm đạt nhóm đọc tốt, có động viên khuyến khích kịp thời. 4.8.Khen thưởng động viên kịp thời Đây là công việc quan trọng để khích lệ học sinh, song phải đúng mức, kịp thời. Qua mỗi sự tiến bộ dù nhỏ của học sinh, giáo viên cũng phải có lời động viên. Có như vậy,các em mới phấn khởi biết mình tiến bộ từng bước như thế nào và luôn có hướng phấn đấu vươn lên. 4.9.Kết hợp với phụ huynh để cùng luyện đọc cho học sinh Giáo viên kết hợp với phụ huynh, tư vấn cho phụ huynh về phương pháp dạy học qua điện thoại hoặc qua các buổi họp để cùng phụ huynh kết họp phụ đạo kèm cặp học sinh. Phụ huynh cũng là tấm gương về đọc đúng, phát âm chuẩn để cho con em mình học tập. 5. Kết quả đạt được Qua nghiên cứu và không ngừng học hỏi tích lũy kinh nghiệm của bản thân, tôi đã đem biện pháp rèn đọc áp dụng vào lớp tôi chủ nhiệm. Tới thời điểm này là tuần 24 năm học 2014 – 2015, tôi tiến hành khảo sát học sinh trong lớp, chất lượng đọc của học sinh đạt kết quả như sau: Kĩ năng đọc Đọc đúng tiếng, từ; đúng tốc độ, ngắt nghỉ hơi 16

Trước thực

Sau thực

đúng, hiểu nội dung; ngữ điệu đọc tốt. Đọc đúng tiếng, từ; đúng tốc độ, ngắt nghỉ hơi đúng, hiểu nội dung; bước đầu biết thể hiện ngữ điệu. Đọc đúng tiếng, từ; đúng tốc độ, hiểu nội dung; ngắt nghỉ hơi đôi chỗ chưa phù hợp. Đọc không đảm bảo tốc độ, sai tiếng, từ; không biết ngắt nghỉ hơi, không hiểu nội dung bài.

10

31,3

13

40,6

14

43,7

9

28,1

5

15,6

0

0,0

Qua việc áp dụng biện pháp rèn đọc, tôi thấy so với trước khi chưa áp dụng biện pháp thì kĩ năng đọc của học sinh hiện nay nâng lên rõ rệt. Các em phát âm chuẩn xác. Những tiếng khó câu dài các em đọc lưu loát trôi chảy. Năng lực đọc của các em tiến bộ nhanh. Nhiều em trước đây đọc chậm, đọc sai đến nay đã đọc rất tốt. Các em biết ngắt nghỉ hơi đúng, làm chủ tốc độ, làm chủ bài đọc. Tỉ lệ học sinh đọc tốt chiếm già nửa lớp. 100% học sinh đều đạt trở lên. Ngoài phân môn Tập đọc các phân môn khác và các môn học khác cũng rất tiến bộ. Các em viết nhanh hơn, đúng hơn, kể chuyện lưu loát rõ ràng hơn. Các em làm văn cũng rất tiến bộ: Các em giàu vốn từ viết câu đủ ý sáng tạo diễn đạt rõ ràng. Câu văn có hình ảnh lời lẽ cô đọng. Đối với môn Toán các em cũng làm nhanh hơn, trình bày bài khoa học sạch sẽ hơn. *Tóm lại: Phương pháp rèn đọc của tôi đã có hiệu quả thiết thực. Các em đầu năm đọc chậm, rất nhút nhát, sợ thày sợ cô nhưng đến nay rất tự tin. Trong lớp, các em hăng hái phát biểu, thích học, thích làm bài. Giờ học luôn diễn ra trong không khí sôi nổi. Các môn học và các hoạt động giáo dục đều tiến bộ. Các em hăng hái tham gia các phong trào. Giờ sinh hoạt các em hoạt động rất tốt. 6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng Để sáng kiến được nhân rộng áp dụng có hiệu quả, mỗi giáo viên cần phải làm tốt các công việc sau: – Nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của người giáo viên trong bối cảnh hiện nay. Nhận thức tốt về việc “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” không 17

để học sinh “ngồi nhầm lớp”, không để chất lượng “ảo” xảy ra. Giáo viên phải không ngừng học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, có kiến thức vững chắc, nâng cao năng lực đọc là tấm gương cho học sinh nhìn vài cô học theo cô. Giáo viên phải tâm huyết với nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao, phải kiên trì, nhẫn nại, hướng dẫn HS luyện đọc cặn kẽ, cụ thể, không được nóng vội muốn có ngay kết quả hoặc yêu cầu các em phải tiến bộ nhanh. – Xây dựng được biện pháp rèn đọc phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp. Giáo viên vận dụng linh hoạt sáng tạo các phương pháp đảm bảo đặc trưng của phân môn. Thường xuyên quan tâm tới HS để uốn nắn kịp thời. – Nghiên cứu kỹ chương trình và sách giáo khoa. Trong giảng dạy phải bám sát chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng, điều chỉnh nội dung dạy học. Thực hiện tốt theo thông tư 30/2014; đảm bảo tính vừa sức của HS; tạo cho HS tính tự giác, tích cực, chủ động phát huy hết năng lực đọc của mình, Thực hiện từng bài dạy trên lớp đạt hiệu quả. – Có biện pháp động viên, khuyến khích kịp thời để khích lệ các em hăng say học tập. Giáo viên cần tìm ra những khả năng tiềm tàng ở các em (dù là rất ít) để động viên các em, tạo cho các em niềm tin vào bản thân. Từ đó, học sinh có sự cố gắng vươn lên. Giáo viên phải làm tốt công tác chủ nhiệm, áp dụng mô hình trường học VNEN, phát huy hội đồng tự quản, xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa thày – trò; trò – trò để tiết học nhẹ nhàng thoải mái, không gây áp lực đối với học sinh. Giáo viên phải biết khéo léo kết hợp các môi trường giáo dục để cùng rèn cặp cho học sinh. – Cơ sở vật chất phải đảm bảo như phòng học bàn ghế, ánh sáng… có đủ trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh.

hướng dẫn, các tài liệu tham khảo về các phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, điều chỉnh nội dung dạy học. Học sinh của lớp tôi lúc đầu kĩ năng đọc còn rất kém. Các em đọc sai tiếng sai từ, tốc độ chậm không hiểu nội dung… Tôi đã áp dụng biện pháp rèn đọc phù hợp với từng đối tượng khắc phục từng lỗi sai cộng với sự kiên trì, lòng nhiệt tình tất cả vì học sinh, vì sự nghiệp giáo dục. Học sinh lớp tôi hiện nay kĩ năng đọc đã được nâng lên vượt bậc. Các em không những đọc chuẩn xác không sai tiếng sai từ, đảm bảo tốc độ mà các em đọc đúng đọc hay. Một số em giọng đọc truyền cảm. Khi đọc cả những văn bản mới lạ, các em cũng thể hiện rất tốt. Từ việc tiến bộ về kĩ năng đọc, các em viết đúng viết nhanh ít sai lỗi và học tốt cả các môn học khác nữa. Sáng kiến này có thể áp dụng trong phạm vi rộng ở tất cả các khối lớp và chắc chắn có kết quả tốt trong công tác giảng dạy của mỗi người giáo viên. 2. Khuyến nghị 2.1. Về phía học sinh: – Có ý thức tự giác học bài, ý chí quyết tâm vượt khó. – Có đủ đồ dùng học tập. – Có sự quan tâm đúng mức của gia đình. 2.2. Về phía giáo viên: – Thường xuyên nghiên cứu, tham khảo, tích cực học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tìm mọi biện pháp rèn đọc để nâng cao chất lượng học sinh. – Luôn nêu cao ý thức tự giác vai trò của người giáo viên trong bối cảnh hiện nay. Không mắc bệnh thành tích, không để chất lượng “ảo” xảy ra. 2.3. Về phía nhà trường: – Duy trì tốt việc tổ chức các chuyên đề để mỗi giáo viên có dịp được học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. – Đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất bàn ghế và các trang thiết bị phục vụ tốt cho việc dạy và học. 2.4. Về phía các cấp quản lý giáo dục: 19

– Tăng cường bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ thông qua các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên để từng bước tháo gỡ khó khăn, nâng cao chất lượng giờ dạy. – Đầu tư cơ sở vật chất và các phương tiện dạy học từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất trong nhà trường. * Tài liệu, tư liệu tham khảo – Tiếng Việt – sách giáo viên (từ lớp 1đến lớp 5) – Chuyên san tạp chí Giáo dục Tiểu học. – Đổi mới phương pháp giáo dục ở Tiểu học.

MỤC LỤC THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN TÓM TẮT SÁNG KIẾN MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến 1.1. Lý do chọn sáng kiến 1.2. Phạm vi nghiên cứu 20

Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Trong Phân Môn Tập Đọc Cho Học Sinh Lớp 4

Tên đề tài: “Biện pháp rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng”. Họ và tên tác giả: Trần Thị Thanh Thúy Đơn vị: Trường Tiểu học Trâm Vàng – Thanh Phước – Gò Dầu – Tây Ninh. 1/ Lí do chọn đề tài: – Xuất phát từ tầm quan trọng của môn học. – Học sinh còn đọc sai từ, đọc chưa trôi chảy, chưa đúng, chưa hay, ngắt nghỉ tùy tiện,… – Đa số các em chưa đọc diễn cảm được bài văn, chưa hiểu nghĩa từ, vốn từ chưa phong phú. – Rèn cho học sinh kỹ năng đọc diễn cảm tốt, hiểu được nội dung tác phẩm nhằm giúp các em nhận thức được cái hay, cái đẹp trong Tiếng Việt. – Giúp học sinh học tốt và hứng thú trong học tập nhằm đạt được mục tiêu của môn học đề ra. 2/ Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: – Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng. – Khảo sát chất lượng học sinh lớp 4C. 3/ Đề tài đưa ra giải pháp mới: – Hướng dẫn học sinh thực hiện thành thạo các thao tác nghe, nói đọc viết trong Tiếng Việt. – Để tạo niềm say mê trong học tập, giáo viên rèn cho học sinh tình yêu quê hương, đất nước qua các tác phẩm văn học. – Sử dụng các phương pháp nhẹ nhàng, thoải mái, linh hoạt nhằm giúp học sinh tiếp thu bài một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao hơn. 4/ Hiệu quả áp dụng: Áp dụng có hiệu quả trong việc giảng dạy môn Tập đọc ở Lớp 4C. 5/ Phạm vi áp dụng: Học sinh Lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng. Trâm Vàng, ngày 28 tháng 02 năm 2014 Người thực hiện Trần Thị Thanh Thúy A. MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Tiếng Việt là một trong những môn học ở bậc Tiểu học góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người. Môn Tiếng Việt còn giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp của cuộc sống xung quanh, bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính trong sáng như: Tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước, yêu con ngườiMuốn học sinh học tốt môn Tiếng Việt để sau này các em biết sử dụng Tiếng Việt thành thạo và có khả năng giao tiếp tốt hơn thì học sinh phải học tốt phân môn Tập đọc. Trong phân môn Tập đọc, đọc là khâu quan trọng nhất. Đọc là hoạt động ngôn ngữ làm cho con người mở rộng khả năng tiếp nhận thông tin và thông báo thông tin. Do đó đọc là một trong những kĩ năng chính của học sinh Tiểu học. Trong quá trình giảng dạy, tôi thấy kĩ năng đọc của các em chưa đáp ứng yêu cầu mà giáo viên mong muốn. Các em còn đọc chậm, đọc nhỏ, ngắt nghỉ hơi tùy tiện, chưa biết đọc diễn cảm nên các em chưa cảm nhận được tâm tư, tình cảm của tác giả muốn gửi gắm trong từng tác phẩm. Chính vì những vấn đề trên tôi nhận thấy việc rèn cho các em có kĩ năng đọc là rất cần thiết và quan trọng. Vậy làm thế nào để giúp các em đọc tốt, cảm thụ tốt các tác phẩm? Chúng ta cần thực hiện quy trình giảng dạy bài Tập đọc ở Lớp 4 như thế nào để giúp các em đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm được tác phẩm. Đồng thời đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh? Chính vì vậy, tôi chọn giải pháp “Rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng”. 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU – Nội dung và phương pháp dạy phân môn Tập đọc lớp 4. – Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi học sinh Lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng, huyện Gò Dầu năm học 2013 – 2014. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để hoàn thành đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau: a/ Phương pháp đọc tài liệu: b/ Phương pháp quan sát: Quan sát cách học của học sinh và thường xuyên dự giờ hữu nghị các tiết Tập đọc của giáo viên trong đơn vị để rút kinh nghiệm. c/ Phương pháp đàm thoại: Tôi luôn trao đổi với bạn bè đồng nghiệp để học hỏi cách giảng dạy, thường xuyên trò chuyện với học sinh để thấy được những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy và học. d/ Phương pháp thực hành: Học sinh cần được thực hành nhiều thì mới rèn kĩ năng đạt hiệu quả cao. e/ Phương pháp phân tích tổng hợp: So sánh, đối chiếu đánh giá thực trạng và thực tế áp dụng. f/ Giả thiết khoa học: Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập đọc nói riêng đều mang nhiệm vụ chung là hình thành và phát triển ngôn ngữ cho học sinh, rèn kĩ năng giao tiếp, làm giàu vốn từ, trau dồi về ngữ pháp Tiếng Việt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy (nhận xét, so sánh, đối chiếu, liên tưởng, ghi nhớ,..) Vì thế, nếu chúng ta tìm được biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc, học tốt môn Tiếng Việt là chúng ta đã góp phần thực hiện được một trong những mục tiêu giáo dục của bậc Tiểu học, giúp các em tự tin hơn khi giao tiếp, đồng thời học tốt các môn học khác trong chương trình. B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là: – Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học môn Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy của học sinh. – Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa của Việt Nam và nước ngoài. – Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phân môn Tập đọc lớp 4 giúp học sinh củng cố và phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở lớp dưới. Đồng thời tăng cường tốc độ đọc, khả năng đọc lướt để chọn thông tin nhanh và bồi dưỡng thêm khả năng đọc diễn cảm cho học sinh. Phân môn Tập đọc còn xây dựng cho học sinh thói quen tìm đọc sách ở thư viện, sử dụng sách công cụ (từ điển, sổ tay từ ngữ ngữ pháp) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc. Chức năng của phân môn Tập đọc là luyện đọc: rèn cho học sinh đọc đúng, đọc trôi chảy, tiến tới đọc diễn cảm để học sinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm văn học. Đồng thời giúp học sinh nhận ra được những tin hoa văn hóa của dân tộc trong mỗi bài tập đọc. Mỗi một bài tập đọc là một văn bản, là một bức tranh thu nhỏ về hiện thực cảnh đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người, xã hộilà một lời dạy sâu sắc đối với học sinh. II. CƠ SỞ THỰC TIỂN: 1/ Thực tiễn vấn đề nghiên cứu: Lớp 4C của Trường Tiểu học Trâm Vàng với tổng số học sinh là 32/22 em nữ có những thuận lợi và khó khăn như sau: 1.1. Thuận lợi: – Được sự quan tâm hỗ trợ của Ban giám hiệu nhà trường và sự giúp đỡ nhiệt tình của Tổ chuyên môn. – Giáo viên được trang bị đầy đủ kiến thức về đổi mới phương pháp dạy học, được cung cấp đủ tài liệu, sách giáo khoa phục vụ tốt việc giảng dạy. – Học sinh đi học đều có động cơ học tập đúng đắn. 1.2. Hạn chế về phía học sinh: – Học sinh còn đọc chưa trôi chảy, chưa đúng, chưa hay, ngắt nhịp còn tùy tiện. – Đa số các em chưa biết cách đọc diễn cảm, chưa hiểu nghĩa từ, vốn từ chưa phong phú. – Trình độ học sinh chưa đồng đều. – Các em còn phát âm sai các phụ âm đầu d/v/gi, s/x,chưa phân biệt thanh hỏi/ thanh ngã. 1.3. Hạn chế về phía giáo viên: – Việc rèn đọc cho học sinh trong giờ Tập đọc còn ít, do đó giáo viên không có thời gian rèn đọc cho học sinh nhiều khi các em phát âm sai, ngắt nghỉ chưa đúng. – Việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh còn mang tính hình thức, giáo viên còn chú trọng nhiều đến việc tìm hiểu nội dung bài. – Số lượng học sinh đọc bài còn ít. 2/ Sự cần thiết của đề tài: Nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong phân môn Tập đọc. Rèn cho học sinh từ chỗ đọc đúng, đọc hay, biết ngắt nghỉ, biết đọc diễn cảm, hiểu được nội dung tác phẩm giáo viên cần khắc phục những hạn chế trên để giúp học sinh phát triển khả năng đọc của mình. III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ: 1. Vấn đề đặt ra: Trong quá trình giảng dạy từ đầu năm tôi nhận thấy việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học phân môn Tập đọc là tạo điều kiện để giáo viên đạt được mục tiêu dạy học của mình và thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học trong đó giáo viên đóng vai trò người tổ chức hoạt động. 1.1 Khảo sát chất lượng đọc của học sinh ở các tiết Tập đọc đầu năm học: TSHS Phát âm sai Ngắt nghỉ sai Đọc đúng Đọc diễn cảm SL TL SL TL SL TL SL TL 32/22 7/5 21.9% 9/4 28.1% 12/9 37.5% 4/4 12.5% 1.2 Nguyên nhân: a/ Về phía học sinh: Học sinh yếu thì lười học, không chú ý trong giờ học, không nghe bạn và giáo viên đọc để sửa chữa cho bạn điều chỉnh cho mình. Các em chưa chuẩn bị bài kĩ ở nhà, không luyện đọc trước ở nhà. Những học sinh đọc đúng thì chưa rèn đọc diễn cảm. b/ Về phía giáo viên: Trong giờ Tập đọc giáo viên chưa chú ý nhiều đến học sinh đọc sai. Nặng nề về nội dung bài đọc. Giáo viên thường gọi các em đọc đúng, đọc hay vì vậy các em đọc tốt sẽ càng tốt hơn. Khi rèn đọc diễn cảm cho học sinh giáo viên chưa quan tâm nhiều chỉ gọi 2 – 3 em đọc cho cả lớp nghe. Ít cho học sinh nhận xét cách đọc của bạn, học sinh còn nhận xét chung chung là bạn đọc hay hoặc chưa hay mà giáo viên chưa nhấn mạnh và chỉnh sửa cụ thể hay ở chỗ nào? chưa hay ở chỗ nào ? 2. Giải pháp thực hiện: 3.1 Để tiết Tập đọc đạt kết quả, đạt mục tiêu cần đạt giáo viên và học sinh cần chuẩn bị một số công việc sau: * Đối với giáo viên: – Tham khảo kĩ nội dung sách hướng dẫn giảng dạy để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với học sinh lớp mình. – Chuẩn bị đồ dùng dạy học phong phú gây hứng thú học tập cho học sinh. – Chú ý rèn đọc nhiều cho học sinh; quan tâm nhiều hơn đến học sinh đọc yếu; sửa dứt điểm, nhanh chóng, kịp thời việc phát âm sai, đọc không đúng tiếng hoặc ngắt nghỉ chưa đúng của học sinh. * Đối với học sinh: – Học sinh cần chuẩn bị bài kĩ ở nhà, đọc bài trước nhiều lần. – Có thói quen đọc sách thường xuyên, rèn đọc đúng ở bất kì văn bản nào. 3.2 Để thực hiện tốt mục đích yêu cầu của việc “Rèn kĩ năng đọc cho học sinh” trong giờ Tập đọc tôi chú ý các vấn đề sau: 3.2.1 Giải pháp 1: Rèn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh. * Đọc đúng các âm dễ lẫn: Đọc đúng là phát … hau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,như gọi thấp xuống những vì sao sớm. Bước 2: Hướng dẫn giọng đọc và một số từ ngữ cần được nhấn giọng (đọc với giọng vui, tha thiết, nhấn giọng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, thể hiện vẻ đẹp của cánh diều) Bước 3: Giáo viên đọc mẫu. Bước 4: Tổ chức cho học sinh đọc diễn cảm theo nhóm và thi đua trình bày. Bước 5: Nhận xét – Biểu dương các nhóm đọc tốt, thể hiện đúng giọng đọc. * Khi dạy các bài thơ, bài văn có câu hỏi, câu cảm giáo viên cần hướng dẫn các em đọc đúng giọng của từng loại câu để thể hiện cảm xúc của nhân vật và của tác giả. Ví dụ: Bài Chị em tôi – Liên Hương (Tiếng Việt 4, tâp 1) Mày tập văn nghệ ở rạp chiếu bóng à? Ủa, chị cũng ở đó sao? Hồi nãy chị bảo đi học nhóm mà! Tôi sẽ hướng dẫn học sinh đọc cao giọng ở cuối câu hỏi nhấn giọng ở những từ để hỏi. Hay câu: “ Hồi nãy chị bảo đi học nhóm mà! ” đọc với giọng tinh nghịch, giả bộ ngây thơ. * Đối với văn bản phi nghệ thuật: Chúng ta cần hướng dẫn học sinh xác định giọng đọc sao cho phù hợp nội dung cần thông báo, làm rõ thông tin giúp người đọc tiếp nhận được vấn đề trong văn bản. Ví dụ: Bài Vẽ về cuộc sống an toàn – Báo Đại Đoàn Kết (Tiếng Việt 4, tập 2) cần hướng dẫn học sinh đọc to, rõ ràng, rành mạch, dứt khoát giữa các câu, đoạn nhằm thể hiện đầy đủ nội dung của bản tin. Để tiết Tập đọc đạt hiệu quả tôi cần chú ý cho học sinh đọc nhiều lần, học sinh nào cũng được đọc. Trong giờ học nên tuân theo nguyên tắc học sinh là chủ thể, giáo viên là người hướng dẫn tổ chức. Giáo viên chúng ta nên chú ý quan tâm đến học sinh yếu nhiều hơn. Rèn cho học sinh đọc từ thấp đến cao, ban đầu là phát âm đúng, đọc đúng tiếng, đúng tốc độ, ngắt nghỉ hơi đúng và nâng cao hơn là đọc diễn cảm bài văn, bài thơ. Để rèn kĩ năng đọc cho học sinh chúng ta cần hướng dẫn các em thực hiện đạt các yêu cầu sau: – Đọc phát âm đúng. – Đọc ngắt nghỉ hơi theo dấu câu; ngắt nghỉ hơi đúng giữa các cụm từ ở những câu dài. – Đọc to rõ ràng, trôi chảy, lưu loát. – Biết đọc nhấn giọng, thay đổi sắc thái giọng đọc phù hợp với văn cảnh, lời nhân vật. Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy để tiết Tập đọc đạt yêu cầu chúng ta cần tạo không khí sôi động như tổ chức cho các em đọc thi đua theo nhiều hình thức: đọc cá nhân, đọc nhóm, đọc theo vai,; Có thể tổ chức đọc truyện cho các em nghe, cho các em nghe băng đĩa kể chuyện trong các tiết sinh hoạt ngoài giờ, sinh hoạt tập thể. 3. Hướng dẫn thực hiện: Để thực hiện rèn kĩ năng đọc cho học sinh tôi vận dụng các giải pháp trên vào một bài tập đọc cụ thể như sau: Bài Tuổi Ngựa – Xuân Quỳnh (Tiếng Việt 4, tập 1) Khi rèn phát âm cho học sinh tôi chú ý lắng nghe học sinh đọc bài và sửa chữa kịp thời những phát âm chưa đúng của các em về: – Âm: ngọn gió, vùng, giấy, viết, vẫn, xôn xao, sao, – Vần: đen hút, đại ngàn, ngạt ngào, triền núi, … – Thanh: chỗ, sẽ, dẫu, … Khi học sinh đã phát âm chuẩn tôi hướng dẫn cho học sinh về tốc độ, cường độ và giọng điệu của bài thơ: Đọc bài thơ với giọng nhẹ nhàng, hào hứng, nhanh hơn và trải dài ở khổ thơ (2, 3) miêu tả ước vọng lãng mạn của đứa con tuổi Ngựa; lắng lại đầy trìu mến ở hai dòng kết bài thơ – cậu bé đi đâu cũng nhớ mẹ, nhớ đường về với mẹ. Hướng dẫn cách ngắt nhịp của bài thơ: Đa số các câu thơ đều được ngắt theo nhịp 3/2. Tuy nhiên để miêu tả được ước vọng lãng mạng của đứa con. Lắng lại đầy trìu mến của tình cảm mẹ con, thể hiện rõ sự ngắt nhịp, nhấn giọng như: Mẹ ơi/con sẽ phi/ nhịp 2/3 Qua bao nhiêu/ngọn gió/ nhịp 3/2 Gió xanh/miền trung du/ nhịp 2/3 Gió hồng/vùng đất đỏ nhịp 2/3 Gió đen hút/đại ngàn/…. nhịp 3/2 Con/mang về/ cho mẹ/ nhịp 1/2/2 Ngọn gió của/ trăm miền.// nhịp 3/2 Tôi tổ chức cho các em luyện đọc theo nhóm để nắm vững những nội dung trên. Đồng thời kết hợp đọc thầm để giải nghĩa một số từ khó “tuổi Ngựa; đại ngàn; trung du”. Để giúp các em hiểu được nội dung bài thơ tôi tiếp tục rèn cho học khả năng đọc hiểu: – Học sinh đọc thành tiếng khổ thơ 1 (lời đối đáp giữa hai mẹ con cậu bé) và trả lời: Bạn nhỏ tuổi gì? Mẹ bảo tuổi ấy tính nết thế nào? – Học sinh đọc thầm từng khổ 2, 3 và trả lời hai câu hỏi tiếp theo trong sách giáo khoa: “Ngựa con” theo ngọn gió rong chơi những đâu? và Điều gì hấp dẫn “ngựa con” trên những cánh đồng hoa? – Tiếp theo, tôi yêu cầu học sinh đọc thầm lại bài thơ và nêu lên nội dung, ý nghĩa bài thơ. Sau khi đã hiểu được nội dung bài thơ, hiểu được tâm tư, tình cảm của tác giả. Tôi tiếp tục hướng dẫn các em đọc diễn cảm và học thuộc lòng bài thơ theo các bước: – Giáo viên nêu khổ thơ cần luyện đọc diễn cảm (khổ 2). – Giáo viên đọc mẫu và nêu lên giọng đọc, các từ ngữ cần nhấn giọng. – Tổ chức cho học sinh luyện đọc diễn cảm theo cặp. – Học sinh thi đua đọc diễn cảm trước lớp. – Nhận xét, tuyên dương học sinh đọc hay. – Tổ chức cho học sinh nhẩm học thuộc lòng từng khổ thơ và cả bài thơ. 4. Kết quả: Thực tế áp dụng “Biện pháp rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng” năm học 2013 – 2014, tôi đã đạt được kết quả như sau: TSHS/nữ Đọc phát âm sai Đọc ngắt nghỉ sai Đọc đúng Đọc diễn cảm SL TL SL TL SL TL SL TL 32/22 2/1 6.3% 3/1 9.4% 15/10 46.9% 12/10 37.4% C. KẾT LUẬN 1. Kết luận chung: Theo sự phát triển chung của nền giáo dục hiện đại, mỗi môn học khi được xây dựng đều phải nhằm mục đích phát triển tâm lí, nhân cách của học sinh nhằm chuyển thành tựu của nền văn minh hiện đại thế giới thành thành tựu cá nhân của học sinh. Muốn nâng cao hiệu quả của các tiết dạy Tập đọc để học sinh đọc đúng, đọc hay và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài học thì việc rèn đọc đúng có vai trò quan trọng, học sinh có đọc đúng thì các em mới hiểu đúng nội dung bài, mới diễn tả được cảm xúc của mình. Để đạt được những điều trên mỗi cá nhân chúng ta cần phải mẫu mực trong lời nói, việc làm, phải yêu nghề, luôn nghiên cứu tìm hiểu nội dung nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực bản thân, thường xuyên dự giờ ở đồng nghiệp để học hỏi thêm kinh nghiệm giảng dạy. Để giúp cho học sinh Lớp 4 có kĩ năng đọc tốt. Giúp các em nhận thức được cái hay, cái đẹp trong tiếng Việt… góp phần hình thành nhân cách con người. Thấm nhuần truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, ưa chuộng lối sống lành mạnh, ham thích làm việc, có khả năng tư duy cao và thích ứng với cuộc sống xã hội sau này. Mặt khác mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên xã hội, con người. Thông qua đọc diễn cảm giúp học sinh tiếp thu nội dung của bài dễ dàng hơn. Nắm được dàn ý sơ lược. Tóm tắt được nội dung chính của bài. Biết phát hiện giá trị nghệ thuật và nhận xét đánh giá bài. Từ đó các em có thể tự viết được các câu, đoạn, bài văn bằng chính sự hiểu biết của mình. Để học sinh đọc tốt, thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của bộ môn. Chúng ta cần nắm được: – Mục tiêu của bậc tiểu học – Mục tiêu của bộ môn Tiếng Việt – Mục tiêu của phân môn cần đạt. – Xác định đúng mục tiêu của bài. + Nắm vững nội dung chương trình tiếng Việt bậc học nhất là chương trình của Lớp 4, xem có hợp lý, vừa sức học sinh không. + Cần lựa chọn, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học của bộ môn, phân môn. Để gây hứng thú quá trình học tập của học sinh, huy động được mọi học sinh cùng tích cực học tập. + Thực hiện tốt tất cả các giải pháp mà tôi đã đưa ra trong sáng kiến kinh nghiệm này. Thực hiện tốt các giải pháp trên giúp học sinh đọc tốt, góp phần không nhỏ trong việc giúp học sinh Lớp 4 tiếp thu các bộ môn khoa học khác. Nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. 2. Bài học kinh nghiệm: Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu, điều tra thực tiễn lớp học trong việc thực hiện các kĩ năng đọc cho học sinh, tôi đã rút ra một số bài học sau: – Trong giờ Tập đọc giáo viên nên cho nhiều học sinh luyện đọc thì mới có hiệu quả. – Việc rèn đọc cho học sinh phải kiên trì và thường xuyên. – Cần khắc phục tình trạng học sinh đọc thầm một cách hình thức. – Khi học sinh đọc sai giáo viên cần có cách sửa sai phù hợp với từng đối tượng học sinh. – Giáo viên phải nắm chắc trình độ của từng học sinh. – Giáo viên phải phát âm chuẩn và đọc mẫu rõ ràng, chính xác mới có tác dụng để học sinh học theo. – Dạy Tập đọc nói riêng, Tiếng Việt nói chung giáo viên cần phải trang bị cho mình những kiến thức về văn học. – Trong giờ học cần tạo không khí vui tươi, thoải mái tránh các qui định máy móc tạo áp lực cho học sinh. 3. Hướng phổ biến áp dụng đề tài: Đề tài này được áp dụng có hiệu quả cho học sinh Lớp 4C và các lớp khác trong khối. Tôi nghĩ giải pháp này có thể vận dụng cho các trường khác trong huyện. 4. Hướng nghiên cứu tiếp: Năm học sau tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu về phân môn Chính tả để giúp các em có thể học tốt các mạch kiến thức trong chương trình Tiếng Việt lớp 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO – Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học. Phó Tiến sĩ Đỗ Đình Hoan – Phương pháp dạy học Tiếng Việt Bộ Giáo dục và Đào tạo – Đại học Huế – Trung tâm đào tạo từ xa. – Sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt 4. – Tạp chí thế giới trong ta. – Tập san giáo dục thời đại. – Hướng dẫn chung về điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp tiểu học. MỤC LỤC —-–&——- BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI: 1 A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: 2 2. Đối tượng nghiên cứu: 2 3. Phạm vi nghiên cứu: 2 4. Phương pháp nghiên cứu: 2 B. NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận: 4 II. Cơ sở thực tiễn: 4 1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:. 4 2. Sự cần thiết của đề tài: 5 III. Nội dung vấn đề: 5 1. Vấn đề đặt ra: 5 2. Giải pháp thực hiện: 6 3. Hướng dẫn thực hiện: 17 4. Kết quả: 18 C. KẾT LUẬN 1. Kết luận chung: 19 2. Bài học kinh nghiệm: 21 3. Hướng phổ biến áp dụng đề tài: 21 4. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài: 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO: 22 MỤC LỤC: 23 NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI 1/ Hội đồng khoa học nhà trường. – Nhận xét: – Xếp loại : 2/ Hội đồng khoa học Phòng Giáo dục và Đào tạo Gò Dầu – Nhận xét : – Xếp loại : 3/ Hội đồng khoa học ngành – Nhận xét : – Xếp loại :