Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm

--- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá
  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá Tài Liệu Học Tập
  • Soạn Bài: Nói Giảm Nói Tránh
  • Thao Giảng: Nói Giảm Nói Tránh Noi Giam Noi Tranh Ppt
  • Dạng Bài Tập Về Biện Pháp Tu Từ; Nghệ Thuật Dùng Từ, Đặt Câu
  • THỰC HÀNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM

    A. YÊU CẦU

    1. HS hiểu được một số biện pháp tu từ ngữ âm thường gặp

    2. Biết cách phát hiện, phân tích vận dụng một số phép tu từ ngữ âm quen thuộc.

    B. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

    I. TẠO NHỊP ĐIỆU VÀ ÂM HƯỞNG THÍCH HỢP

    1. Nhận xét về nhịp điệu, sự phối hợp âm thanh trong đoạn văn trích trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

    Gợi ý.

    Một dân tộc đã gan góc chống ách nỗ lệ của Pháp hơn 80 năm nay,/ một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay,/ dân tộc đó phải được tự do!/ Dân tộc đó phải được độc lập!/

    – Đoạn văn gồm 4 nhịp (2 nhịp dài trước, 2 nhịp ngắn sau) phối hợp với nhau để diễn tả nội dung của đoạn:

    + Hai nhịp dài thể hiện lòng kiên trì và ý nghĩa quyết tâm của dân tộc ta trong việc đấu tranh vì tự do (gan góc) với một thời gian dải (hơn 80 năm nay, mấy năm nay).

    + Hai nhịp ngắn khẳng định dứt khoát và đanh thép về quyền tự do và độc lập của dân tộc ta (phải được).

    Sự phối về nhịp phù hợp về mối quan hệ nhân quả trong đoạn văn.

    – Kết thúc ba nhịp đầu là các thanh bằng không dấu với ba âm tiết mở (nay, nay, do) tạo ra âm hưởng ngân vang, lan xa. Kết thúc nhịp thứ 4 là một thanh trắc với một âm tiết khép (lập) tạo ra sự lắng đọng trong lòng người đọc (người nghe).

    – Nhịp điệu và sự phối hợp âm thanh cùng với phép lặp cú pháp (một dân tộc đó…), lặp từ ngữ (dân tộc, đã gan góc, nay nay, phải được) đã tạo ra âm hưởng hùng hồn, đanh thép cho lời tuyên ngôn.

    2 – Phân tích tác dụng của âm thanh, nhịp điệu, có sự phối hợp với phép lặp từ ngữ và kết cấu cú pháp trong đoạn trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (chú ý vần, nhịp và tính chất đối xứng).

    – Đoạn văn có sự phối hợp vần bằng và vần trắc tạo sự hài hoà về thanh điệu cuối mỗi nhịp và sắc thái thiêng liêng, trang trọng cho lời văn.

    – Nhịp điệu phối hợp nhanh, chậm, ngắn, dài và còn do các từ phản nghĩa với nhau tạo nên (đàn ông, đàn bà, già – trẻ, súng gươm…) làm tăng sức thuyết phục cho lời văn.

    – Các cụm từ, các vế và các đoạn câu đối xứng nhau (đàn ông, đàn bà, người già – trẻ, ai có súng dùng súng- ai có gươm dùng gươm…) tạo nên sắc thái hùng hồn cho lời văn.

    3 – Nhịp điệu và âm hưởng trong đoạn trích Cây tre Việt Nam của Thép Mới (SGK).

    Gợi ý:

    – Nhịp điệu lời văn khi nhanh khi chậm thể hiện những tình cảm say sưa, tự hào của tác giả đối với cây tre, đối với đất nước thân thương tươi đẹp.

    – Nhiều nhịp ngắn, dứt khoát, mạnh mẽ

    – Phép nhân hoá về từ vựng và việc sử dụng nhiều động từ với nghĩa hoạt động (chống, xung phong, giữ, hi sinh, bảo vệ).

    – Hai câu cuối vừa lặp từ ngữ vừa lặp kết cấu ngữ pháp, ngắn gọn, không dùng động từ, ngắt nhịp sau từ “tre” đầu câu đă tạo ấn tượng rõ rệt về một lời tuyên dương công trạng với tre.

    II. ĐIỆP ÂM, ĐIỆP VẦN, ĐIỆP THANH

    1-Phân tích tác dụng tạo hình tượng của biện pháp điệp phụ âm đầu trong các câu thơ sau? (SGK)

    Gợi ý:

    a.

    “Dưới trăng nguyện đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông”

    Âm đầu / được lặp lại 4 lần, gợi ra những hình tượng bông hoa lựu đỏ trên cành như những đốm lửa lập loè..

    b. Làn ao lóng lánh ánh trăng loe

    Câu thơ cũng xuất hiện 4 lần phụ âm đầu l. Sự cộng hưởng của 4 lần lặp lại tạo nên hình tượng bóng trăng lấp lánh vả phát tán cả không gian rộng lớn trên mặt ao phản chiếu của mặt nước. Ngoài ra, vần ánh cũng được lặp lại (lánh, ánh) tạo ấn tượng về sự lóng lánh của ánh trăng (giả sử thay từ ánh bằng từ bóng, câu thơ sẽ mất tác dụng gợi tả đó).

    2- Đọc bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến và đoạn thơ trích trong Tiếng hát sang xuân của Tố Hữu (SGK), phân tích tác dụng tạo hình tượng và sắc thái cảm xúc của vần eo.

    Gợi ý:

    a. Trong bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, vần “eo” là vần chủ đạo (xuất hiện 5 lần trong 8 câu thơ). Điều đó góp phần khắc hoạ hình tượng mùa thu yên tĩnh, trong trẻo ở làng quê Bắc Bộ, đồng thời cũng bộc lộ một tâm hồn thanh khiết, đắm say với thiên nhiên của nhà thơ.

    b. Trong đoạn thơ của Tố Hữu, vần ang xuất hiện 7 lần. Đây là vàn chứa một nguyên âm rộng và âm tiết thuộc loại nửa mở (kết thúc bằng phụ âm mũi). Vần ang vì vậy gợi cảm giác rộng mờ và chuyển động, thích hợp với sắc thái miêu tả sự chuyển mùa, từ mùa đông sang mùa xuân.

    3- Đọc khổ thơ trích trong Tây Tiến của Quang Dũng (SGK) và phân tích các yếu tó từ ngữ, phép lặp cú pháp, nhịp điệu trong các dòng thơ…

    Gợi ý:

    – Các yếu tố từ ngữ: từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút), phép nhân hoá (súng ngửi trời), lặp từ ngữ (dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm); phối hợp lặp và đối (ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống).

    – Phép lặp cú pháp (câu 1 và cãu 2).

    – Ngắt nhịp: nhịp ngắn và đối xứng ở ba câu đầu.

    – Thanh điệu: 3 câu đầu dùng nhiều thanh trắc xen kẽ thanh bằng, câu cuối toàn thanh bằng. Câu cuối tạo ấn tượng về một viễn cảnh rộng mờ ra trước mắt khi đã trải qua nhiều hiểm trở, khó khăn và đạt đến đỉnh cao.

    – Tác dụng: Tất cả các yếu tố trên đã phối hợp tạo dựng được khung cảnh hiểm trờ của vùng rừng núi và tính chất khốc liệt của cuộc hành quân.

    III. TỔNG KẾT

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu và âm hưởng thường được dùng trong văn xuôi, nhất là văn chính luận.

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu, điệp thanh thường được dùng trong thơ ca.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Hsg Tỉnh Môn Ngữ Văn 9( Chuẩn) De Thi Hsgtinh Van 9 Co Dap An Doc
  • Sử Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Miêu Tả
  • Skkn Sử Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Miêu Tả
  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Hay Nhất
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • :chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng
  • – Ngữ Văn 12. Câu 3. Nhịp điệu và âm hưởng trong đoạn trích Cây tre Việt Nam của Thép Mới.

    Lời giải chi tiết I. TẠO NHỊP ĐIỆU VÀ ÂM HƯỞNG THÍCH HỢP 1. Nhận xét về nhịp điệu, sự phối hợp âm thanh (cùng với phép lặp cú pháp, lặp từ ngữ) trong đoạn văn trích trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh). Trả lời:

    – Sự phối hợp nhịp ngắn và dịp dài:

    + Một dân tộc – đã gan góc – chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay: 3 – 3 – 11.

    + Dân tộc đó – phải được tự do: 3 – 4

    + Dân tộc đó – phải được độc lập: 3 – 4

    Nhận xét:

    + Hai nhịp dài thể hiện lòng kiên trì và ý nghĩa quyết tâm của dân tộc ta trong việc đấu tranh vì tự do (gan góc) với một thời gian dài (hơn 80 năm nay, mấy năm nay).

    + Hai nhịp cuối khẳng định dứt khoát và đanh thép về quyền tự do và dân tộc của dân tộc ta (phải được).

    – Sự thay đổi thanh bằng, thanh trắc cuối mỗi nhịp:

    + tộc (T), góc (T) (hai bộ phận câu này đều giống nhau, đều cân xứng với nhau).

    + đó (T), do (B)

    + đó (T), lập (T)

    – Tính chất mở hay đóng của âm tiết kết thúc mỗi nhịp:

    + tộc, góc (đóng) ; nay (mở)

    + đó (đóng) ; do (mở)

    + đó (đóng) ; lập (mở)

    2. Phân tích tác dụng của âm thanh, nhịp điệu, có sự phối hợp với phép lặp từ ngữ và kết hợp cú pháp trong đoạn trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (chú ý vần, nhịp và tính chất đối xứng) Trả lời:

    Để tạo ra sắc thái hùng hồn, thiêng liêng của lời kêu gọi cứu nước, đoạn văn đã có sự phối hợp của nhiều yếu tố sau:

    – Đoạn văn có sự phối hợp vần bằng và vần trắc tạo sự hài hoà về thanh điệu cuối mỗi nhịp và sắc thái thiêng liêng, trang trọng cho lời văn.

    – Phép điệp phối hợp với phép đối. Không chỉ điệp (lặp) từ ngữ mà cả lặp kết cấu ngữ pháp và nhịp điệu. Ở câu đầu được lặp lại là: 4/2/4/2. Đối xứng về nhịp điệu và kết cấu ngữ pháp ( Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm. Nhịp 3/2, 3/2).

    – Sự phối hợp giữa những nhịp điệu ngắn ( đầu câu 1,2,3 ) với những nhịp dàn trải ( vế cuối câu 1,4 ) tạo nên âm hưởng khi khoan thai, khi dồn dập mạnh mẽ. Điều đó thích hợp với một lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng.

    3. Nhịp điệu và âm hưởng trong đoạn trích Cây tre Việt Nam của Thép Mới. “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre anh hùng lao động. Tre anh hùng chiến đấu”. Trả lời:

    – Nhịp điệu lời văn khi nhanh khi chậm thể hiện những tình cảm say sưa, tự hào của tác giả đối với cây tre, đối với đất nước thân thương, tươi đẹp.

    – Nhiều nhịp ngắn, dứt khoát, mạnh mẽ, đanh thép, phù hợp với không khí và tinh thần của nhân dân ta trong những năm kháng chiến.

    – Phép nhân hoá về từ vựng và việc sử dụng nhiều động từ với nghĩa hoạt động (chống, xung phong, giữ hi sinh, bảo vệ).

    – Hai câu cuối vừa lặp từ ngữ vừa lặp kết cấu ngữ pháp, ngắn gọn, không dùng động từ, ngắt nhịp sau từ “tre” đầu câu, đã tạo ấn tượng rõ rệt về một lời tuyên dương công trạng với tre: làm cho câu văn càng trở nên hùng hồn, mạnh mẽ.

    II. ĐIỆP ÂM, ĐIỆP VẦN, ĐIỆP THANH 1. Phân tích tác dụng tạo hình tượng của phép điệp phụ âm đầu trong các câu thơ sau: Trả lời:

    – “Dưới trăng quyệt đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông”.

    Phụ âm đầu “L” được lặp lại 4 lần, gợi ra những hình tượng bông hoa lựu đỏ trên cành như những đổm lửa lập loè lúc ẩn, lúc hiện.

    – “Làn ao lóng lánh ánh trăng loe”

    Câu thơ cũng xuất hiện 4 lần phụ âm “L”. Diễn tả được trạng thái của ánh trăng phản chiếu trên mặt nước ao: ánh trăng như phát tán rộng hơn, loang ra và choán lấy khắp bề mặt không gian trên mặt ao.

    2. Trong đoạn thơ sau, vần nào được lặp lại nhiều nhất? Nêu tác dụng biểu hiện sắc thái ý nghĩa của phép điệp vần đó. Trả lời:

    Trong đoạn thơ của Tố Hữu, vần “ang” xuất hiện 7 lần: Bàng, đàng, giang, mang, đang, ngang, sang.

    – Đây là vần một nguyên âm rộng và âm tiết thuộc loại nửa mở (kết thúc bằng phụ âm). Vần ang vì vậy gợi cảm giác rộng mở và chuyển động, thích hợp sắc thái miêu tả sự chuyển mùa, từ mùa đông sang mùa xuân, gợi không gian mênh mang, rộng mở của bầu trời, của lòng người khi mùa đông đến.

    3. Phân tích các yếu tố từ ngữ, phép lặp cú pháp, nhịp điệu trong các dòng thơ trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn may súng ngửi trời Ngàn lên thước cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Trả lời:

    – Các yếu tố từ ngữ: từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút), phép nhân hóa (súng ngửi trời), lặp từ ngữ (dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm thẳm) phối hợp biện pháp lặp và đối (ngàn thước lên cao/ngàn thước xuống).

    – Phép lặp cú pháp (câu 1 và câu 3).

    – Ngắt nhịp: 4 – 3 ở ba câu thơ đầu.

    – Thanh điệu: 3 câu đầu dùng nhiều thanh trắc xen kẽ thanh bằng, cuối toàn thanh bằng tạo ấn tượng về một viễn cảnh rộng mở ra mắt khi đã trải qua nhiều hiểm trở, khó khăn. Câu cuối khổ thơ toàn vần B gợi tả một không khí thoáng đãng, rộng lớn trải ra trước mắt khi đã vượt qua con đường gian lao vất vả.

    – Tác dụng: Tất cả các yếu tố trên đã phối hợp tạo dựng khung cảnh hiểm trở của vùng rừng núi và tính chất khốc liệt của cuộc hành quân.

    III. TỔNG KẾT

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu và âm hưởng thường được dùng trong văn nhất là văn chính luận.

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu, điệu thanh thường được dùng trong thơ ca.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • :chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • Soạn bài Thực hành một số biện pháp tu từ ngữ âm trang 129 SGK Ngữ Văn 12

    Phân tích tác dụng của âm thanh, nhịp điệu, có sự phối hợp với phép lặp từ ngữ và kết hợp cú pháp trong đoạn trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (chú ý vần, nhịp và tính chất đối xứng)

    I. TẠO NHỊP ĐIỆU VÀ ÂM HƯỞNG THÍCH HỢP 1. Nhận xét về nhịp điệu, sự phối hợp âm thanh (cùng với phép lặp cú pháp, lặp từ ngữ) trong đoạn văn trích trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh).

    “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp của 80 năm nay/ Một dân tộc đã gan góc đứng về phía phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay/ Dân tộc đó phải được tự do/ Dân tộc đó phải được độc lập”.

    – Đoạn văn gồm 4 nhịp (2 nhịp dài trước, 2 nhịp ngắn sau) phối hợp với nhau để diễn tả nội dung của đoạn:

    + Hai nhịp dài thể hiện lòng kiên trì và ý nghĩa quyết tâm của dân tộc ta trong việc đấu tranh vì tự do (gan góc) với một thời gian dài (hơn 80 năm nay, mấy năm nay).

    + Hai nhịp cuối khẳng định dứt khoát và đanh thép về quyền tự do và dân tộc của dân tộc ta (phải được).

    Sự phối hợp về nhịp về mối quan hệ nhân quả trong đoạn văn

    – Kết thúc ba nhịp đầu là các thanh bằng không dấu với ba âm tiết mở (nay, nay, do) do tạo ra âm hưởng ngân vang, lan xa. Kết thúc nhịp thứ tư là một thanh trắc với một âm tiết thép (lập) tạo ra sự lắng đọng trong lòng người đọc (người nghe).

    – Nhịp điệu và sự phối hợp âm thanh cùng với phép lặp cú pháp một dân tộc đó…), lặp từ ngữ (dân tộc, đã gan góc, phải được) đã tạo ra âm hưởng hùng hồn, đanh thép cho lời tuyên ngôn.

    2. Phân tích tác dụng của âm thanh, nhịp điệu, có sự phối hợp với phép lặp từ ngữ và kết hợp cú pháp trong đoạn trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (chú ý vần, nhịp và tính chất đối xứng)

    – Đoạn văn có sự phối hợp vần bằng và vần trắc tạo sự hài hoà về thanh điệu cuối mỗi nhịp và sắc thái thiêng liêng, trang trọng cho lời văn.

    – Nhịp điệu phối hợp nhanh, chậm, ngắn, dài và còn do các từ phản nghĩa với nhau tạo nên (đàn ông, đàn bà, già trẻ, súng, gươm…) làm tăng sức thuyết phục cho lời văn.

    – Các cụm từ, các vấn đề và các câu đối xứng nhau (đàn ông – đàn bà, người già – trẻ, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm…) tạo nên sắc thái hùng hồn cho lời văn.

    3. Nhịp điệu và âm hưởng trong đoạn trích Cây tre Việt Nam của Thép Mới. “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre anh hùng lao động. Tre anh hùng chiến đấu”.

    – Nhịp điệu lời văn khi nhanh khi chậm thể hiện những tình cảm say sưa, tự hào của tác giả đối với cây tre, đối với đất nước thân thương, tươi đẹp.

    – Nhiều nhịp ngắn, dứt khoát, mạnh mẽ, đanh thép, phù hợp với không khí và tinh thần của nhân dân ta trong những năm kháng chiến.

    – Phép nhân hoá về từ vựng và việc sử dụng nhiều động từ với nghĩa hoạt động (chống, xung phong, giữ hi sinh, bảo vệ).

    – Hai câu đối vừa lặp từ ngữ vừa lặp kết cấu ngữ pháp, ngắn gọn, không dùng động từ, ngắt nhịp sau từ “tre” đầu của câu đã ấn tượng rõ rệt về một lời tuyên dương công trạng với tre: làm cho câu văn càng trở nên hùng hồn, mạnh mẽ.

    II. ĐIỆP ÂM, ĐIỆP VẦN, ĐIỆP THANH 1. Phân tích tác dụng tạo hình tượng của phép điệp phụ âm đầu trong các câu thơ sau:

    “Dưới trăng quyệt đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông”.

    Phụ âm đầu “P” được lặp lại 4 lần, gợi ra những hình tượng bông hoa lựu đỏ trên cành như những đổm lửa lập loè….

    “Làn ao lóng lánh ánh trăng loe”

    Câu thơ cũng xuất hiện 4 lần phụ âm “l”. Sự cộng hưởng của 4 lần lại tạo nên hình tượng bóng trăng lấp lánh và phát tán cả không rộng lớn trên mặt ao phản chiếu của mặt nước. Ngoài ra, vần ánh được lặp lại (lánh, ánh) tạo ấn tượng về sự lóng lánh của ánh trăng sử thay từ ánh băng bóng, câu thơ sẽ mất tác dụng gợi tả đó).

    2. Đọc bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến và đoạn thơ trích trong Tiếng hát sang xuân của Tố Hữu (SGK), phân tích tác dụng hình tượng và sấc thái cảm xúc của vần “eo”.

    a. Trong bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, vần “eo” là vần chủ (xuất hiện 5 lần trong 8 câu thơ). Điều đó góp phần khắc hoạ hình tượng của mùa thu yên tĩnh, trong trẻo ở làng quê Bắc Bộ, đồng thời cũng lộ một tâm hồn thanh khiết đắm say với thiên nhiên của nhà thơ.

    b. Trong đoạn thơ của Tố Hữu, vần “ang” xuất hiện 7 lần. Đây là vần một nguyên âm rộng và âm tiết thuộc loại nửa mở (kết thúc bằng phụ âm). Vần ang vì vậy gợi cảm giác rộng mở và chuyển động, thích hợp sắc thái miêu tả sự chuyển mùa, từ mùa đông sang mùa xuân, gợi gian mênh mang, rộng mở của bầu trời, của lòng người khi mùa đến.

    3. Phân tích các yếu tố từ ngữ, phép lặp cú pháp, nhịp điệu trong các dòng thơ trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

    Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn may súng ngửi trời

    Ngàn lên thước cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    – Các yếu tố từ ngữ: từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút), phép hóa (súng ngửi trời), lặp từ ngữ (dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm tỉ phối hợp lặp và đối (ngàn thước lên cao/ngàn thước xuống).

    – Phép lặp cú pháp (câu 1 và câu 2).

    – Ngắt nhịp: nhịp ngắn và đối xứng ở ba câu đầu.

    – Thanh điệu: 3 câu đầu dùng nhiều thanh trắc xen kẽ thanh bằng, cuối toàn thanh bằng tạo ấn tượng về một viễn cảnh rộng mở ra mắt khi đã trải qua nhiều hiểm trở, khó khăn và đạt đến đỉnh cao.

    – Tác dụng: Tất cả các yếu tố trên đã phối hợp tạo dựng khung cảnh hiểm trở của vùng rừng núi và tính chất khốc liệt của cuộc hành quân.

    III. TỔNG KẾT

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu và âm hưởng thường được dùng trong văn nhất là văn chính luận.

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu, điệu thanh thường được dùng trong thơ ca.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Viết Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • 1. Nhận xét về nhịp điệu, sự phối hợp âm thanh (cùng với phép lặp cú pháp, lặp từ ngữ) trong đoạn văn trích trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh).

    “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp của 80 năm nay/ Một dân tộc đã gan góc đứng về phía phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay/ Dân tộc đó phải được tự do/ Dân tộc đó phải được độc lập”.

    – Đoạn văn gồm 4 nhịp (2 nhịp dài trước, 2 nhịp ngắn sau) phối hợp với nhau để diễn tả nội dung của đoạn:

    + Hai nhịp dài thể hiện lòng kiên trì và ý nghĩa quyết tâm của dân tộc ta trong việc đấu tranh vì tự do (gan góc) với một thời gian dài (hơn 80 năm nay, mấy năm nay).

    + Hai nhịp cuối khẳng định dứt khoát và đanh thép về quyền tự do và dân tộc của dân tộc ta (phải được).

    Sự phối hợp về nhịp về mối quan hệ nhân quả trong đoạn văn

    – Kết thúc ba nhịp đầu là các thanh bằng không dấu với ba âm tiết mở (nay, nay, do) do tạo ra âm hưởng ngân vang, lan xa. Kết thúc nhịp thứ tư là một thanh trắc với một âm tiết thép (lập) tạo ra sự lắng đọng trong lòng người đọc (người nghe).

    – Nhịp điệu và sự phối hợp âm thanh cùng với phép lặp cú pháp một dân tộc đó…), lặp từ ngữ (dân tộc, đã gan góc, phải được) đã tạo ra âm hưởng hùng hồn, đanh thép cho lời tuyên ngôn.

    2. Phân tích tác dụng của âm thanh, nhịp điệu, có sự phối hợp với phép lặp từ ngữ và kết hợp cú pháp trong đoạn trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (chú ý vần, nhịp và tính chất đối xứng)

    – Đoạn văn có sự phối hợp vần bằng và vần trắc tạo sự hài hoà về thanh điệu cuối mỗi nhịp và sắc thái thiêng liêng, trang trọng cho lời văn.

    – Nhịp điệu phối hợp nhanh, chậm, ngắn, dài và còn do các từ phản nghĩa với nhau tạo nên (đàn ông, đàn bà, già trẻ, súng, gươm…) làm tăng sức thuyết phục cho lời văn.

    – Các cụm từ, các vấn đề và các câu đối xứng nhau (đàn ông – đàn bà, người già – trẻ, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm…) tạo nên sắc thái hùng hồn cho lời văn.

    3. Nhịp điệu và âm hưởng trong đoạn trích Cây tre Việt Nam của Thép Mới. “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre anh hùng lao động. Tre anh hùng chiến đấu”.

    – Nhịp điệu lời văn khi nhanh khi chậm thể hiện những tình cảm say sưa, tự hào của tác giả đối với cây tre, đối với đất nước thân thương, tươi đẹp.

    – Nhiều nhịp ngắn, dứt khoát, mạnh mẽ, đanh thép, phù hợp với không khí và tinh thần của nhân dân ta trong những năm kháng chiến.

    – Phép nhân hoá về từ vựng và việc sử dụng nhiều động từ với nghĩa hoạt động (chống, xung phong, giữ hi sinh, bảo vệ).

    – Hai câu đối vừa lặp từ ngữ vừa lặp kết cấu ngữ pháp, ngắn gọn, không dùng động từ, ngắt nhịp sau từ “tre” đầu của câu đã ấn tượng rõ rệt về một lời tuyên dương công trạng với tre: làm cho câu văn càng trở nên hùng hồn, mạnh mẽ.

    II. ĐIỆP ÂM, ĐIỆP VẦN, ĐIỆP THANH 1. Phân tích tác dụng tạo hình tượng của phép điệp phụ âm đầu trong các câu thơ sau:

    “Dưới trăng quyệt đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông”.

    Phụ âm đầu “P” được lặp lại 4 lần, gợi ra những hình tượng bông hoa lựu đỏ trên cành như những đổm lửa lập loè….

    “Làn ao lóng lánh ánh trăng loe”

    Câu thơ cũng xuất hiện 4 lần phụ âm “l”. Sự cộng hưởng của 4 lần lại tạo nên hình tượng bóng trăng lấp lánh và phát tán cả không rộng lớn trên mặt ao phản chiếu của mặt nước. Ngoài ra, vần ánh được lặp lại (lánh, ánh) tạo ấn tượng về sự lóng lánh của ánh trăng sử thay từ ánh băng bóng, câu thơ sẽ mất tác dụng gợi tả đó).

    2. Đọc bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến và đoạn thơ trích trong Tiếng hát sang xuân của Tố Hữu (SGK), phân tích tác dụng hình tượng và sấc thái cảm xúc của vần “eo”.

    a. Trong bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, vần “eo” là vần chủ (xuất hiện 5 lần trong 8 câu thơ). Điều đó góp phần khắc hoạ hình tượng của mùa thu yên tĩnh, trong trẻo ở làng quê Bắc Bộ, đồng thời cũng lộ một tâm hồn thanh khiết đắm say với thiên nhiên của nhà thơ.

    b. Trong đoạn thơ của Tố Hữu, vần “ang” xuất hiện 7 lần. Đây là vần một nguyên âm rộng và âm tiết thuộc loại nửa mở (kết thúc bằng phụ âm). Vần ang vì vậy gợi cảm giác rộng mở và chuyển động, thích hợp sắc thái miêu tả sự chuyển mùa, từ mùa đông sang mùa xuân, gợi gian mênh mang, rộng mở của bầu trời, của lòng người khi mùa đến.

    3. Phân tích các yếu tố từ ngữ, phép lặp cú pháp, nhịp điệu trong các dòng thơ trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

    Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn may súng ngửi trời

    Ngàn lên thước cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    – Các yếu tố từ ngữ: từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút), phép hóa (súng ngửi trời), lặp từ ngữ (dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm tỉ phối hợp lặp và đối (ngàn thước lên cao/ngàn thước xuống).

    – Phép lặp cú pháp (câu 1 và câu 2).

    – Ngắt nhịp: nhịp ngắn và đối xứng ở ba câu đầu.

    – Thanh điệu: 3 câu đầu dùng nhiều thanh trắc xen kẽ thanh bằng, cuối toàn thanh bằng tạo ấn tượng về một viễn cảnh rộng mở ra mắt khi đã trải qua nhiều hiểm trở, khó khăn và đạt đến đỉnh cao.

    – Tác dụng: Tất cả các yếu tố trên đã phối hợp tạo dựng khung cảnh hiểm trở của vùng rừng núi và tính chất khốc liệt của cuộc hành quân.

    III. TỔNG KẾT

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu và âm hưởng thường được dùng trong văn nhất là văn chính luận.

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu, điệu thanh thường được dùng trong thơ ca.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Viết Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Viết Một Đoạn Văn Chủ Đề Quê Hương Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ
  • Bài Thơ: Từ Ấy (Tố Hữu
  • Soạn Văn Bài 23: Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Thương Vợ Của Tú Xương
  • Xác Định Phương Thức Biểu Đạt 4 Câu Hơ Đầu Của Bài Tự Tình 2. Xác Định Biện Pháp Tu Từ, Tác Dụng
  • Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 1 Của Hồ Xuân Hương
  • Kiến Thức Bài Đất Nước
  • Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm 9 Điểm
  • Trong một văn bản hay một đoạn văn, người viết thường có xu hướng sử dụng kết hợp với những biện pháp tu từ. Bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ thực hành viết đoạn văn có sử dụng biện pháp tu từ ngữ âm.

    I. TẠO NHỊP ĐIỆU VÀ ÂM HƯỞNG THÍCH HỢP

    Câu 1. Nhận xét về nhịp điệu, sự phối hợp âm thanh (cùng với phép lặp cú pháp, lặp từ ngữ) trong đoạn văn trích trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh).

    “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp của 80 năm nay/ Một dân tộc đã gan góc đứng về phía phe Đồng Minh chống phát xít mây năm nay/ Dân tộc đó phải được tự do/ Dân tộc đó phải được độc lập”.

    – Đoạn văn gồm 4 nhịp (2 nhịp dài trước, 2 nhịp ngắn sau) phối hợp với nhau để diễn tả nội dung của đoạn:

    + Hai nhịp dài thể hiện lòng kiên trì và ý nghĩa quyết tâm của dân tộc ta trong việc đấu tranh vì tự do (gan góc) với một thời gian dài (hơn 80 năm nay, mấy năm nay).

    + Hai nhịp cuối khẳng định dứt khoát và đanh thép về quyền tự do và dân tộc của dân tộc ta (phải được).

    Sự phối hợp về nhịp về mối quan hệ nhân quả trong đoạn văn

    – Kết thúc ba nhịp đầu là các thanh bằng không dấu với ba âm tiết mở (nay, nay, do) do tạo ra âm hưởng ngân vang, lan xa. Kết thúc nhịp thứ tư là một thanh trắc với một âm tiết thép (lập) tạo ra sự lắng đọng trong lòng người đọc (người nghe).

    – Nhịp điệu và sự phối hợp âm thanh cùng với phép lặp cú pháp một dân tộc đó…), lặp từ ngữ (dân tộc, đã gan góc, phải được) đã tạo ra âm hưởng hùng hồn, đanh thép cho lời tuyên ngôn.

    Câu 2. Phân tích tác dụng của âm thanh, nhịp điệu, có sự phối hợp với phép lặp từ ngữ và kết hợp cú pháp trong đoạn trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (chú ý vần, nhịp và tính chất đối xứng)

    – Đoạn văn có sự phối hợp vần bằng và vần trắc tạo sự hài hoà về thanh điệu cuối mỗi nhịp và sắc thái thiêng liêng, trang trọng cho lời văn.

    – Nhịp điệu phối hợp nhanh, chậm, ngắn, dài và còn do các từ phản nghĩa với nhau tạo nên (đàn ông, đàn bà, già trẻ, súng, gươm…) làm tăng sức thuyết phục cho lời văn.

    – Các cụm từ, các vấn đề và các câu đối xứng nhau (đàn ông – đàn bà, người già – trẻ, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm…) tạo nên sắc thái hùng hồn cho lời văn.

    Câu 3. Nhịp điệu và âm hưởng trong đoạn trích Cây tre Việt Nam của Thép Mới.

    Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre anh hùng lao động. Tre anh hùng chiến đấu”.

    – Nhịp điệu lời văn khi nhanh khi chậm thể hiện những tình cảm say sưa, tự hào của tác giả đối với cây tre, đối với đất nước thân thương, tươi đẹp.

    – Nhiều nhịp ngắn, dứt khoát, mạnh mẽ, đanh thép, phù hợp với không khí và tinh thần của nhân dân ta trong những năm kháng chiến.

    – Phép nhân hoá về từ vựng và việc sử dụng nhiều động từ với nghĩa hoạt động (chống, xung phong, giữ hi sinh, bảo vệ).

    – Hai câu đối vừa lặp từ ngữ vừa lặp kết cấu ngữ pháp, ngắn gọn, không dùng động từ, ngắt nhịp sau từ “tre” đầu của câu đã ấn tượng rõ rệt về một lời tuyên dương công trạng với tre: làm cho câu văn càng trở nên hùng hồn, mạnh mẽ.

    II. ĐIỆP ÂM, ĐIỆP VẦN, ĐIỆP THANH

    Câu 1. Phân tích tác dụng tạo hình tượng của phép điệp phụ âm đầu trong các câu thơ sau:

    “Dưới trăng quyệt đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông”.

    Phụ âm đầu “P” được lặp lại 4 lần, gợi ra những hình tượng bông hoa lựa đỏ trên cành như những đổm lửa lập loè….

    “Làn ao lóng lánh ánh trăng loe”

    Câu thơ cũng xuất hiện 4 lần phụ âm lần “1″. Sự cộng hưởng của 4 lần lại tạo nên hình tượng bóng trăng lấp lánh và phát tán cả không rộng lớn trên mặt ao phản chiếu của mặt nước. Ngoài ra, vần ánh được lặp lại (lánh, ánh) tạo ấn tượng về sự lóng lánh của ánh trăng sử thay từ ánh băng bóng, câu thơ sẽ mất tác dụng gợi tả đó).

    Câu 2. Đọc bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến và đoạn thơ trích trong Tiếng hát sang xuân của Tố Hữu (SGK), phân tích tác dụng hình tượng và sắc thái cảm xúc của vần “eo”.

    a. Trong bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, vần “eo” là vần chủ (xuất hiện 5 lần trong 8 câu thơ). Điều đó góp phần khắc hoạ hình tượng của mùa thu yên tĩnh, trong trẻo ở làng quê Bắc Bộ, đồng thời cũng lộ một tâm hồn thanh khiết đắm say với thiên nhiên của nhà thơ.

    b. Trong đoạn thơ của Tố Hữu, vần ang xuất hiện 7 lần. Đây là vần một nguyên âm rộng và âm tiết thuộc loại nửa mở (kết thúc bằng phụ âm). Vần ang vì vậy gợi cảm giác rộng mở và chuyển động, thích hợp sắc thái miêu tả sự chuyển mùa, từ mùa đông sang mùa xuân, gợi gian mênh mang, rộng mở của bầu trời, của lòng người khi mùa đến.

    Câu 3. Phân tích các yếu tố từ ngữ, phép lặp cú pháp, nhịp điệu trong các dòng thơ trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

    Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn may súng ngửi trời

    Ngàn lên thước cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    – Các yếu tố từ ngữ: từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút), phép hóa (súng ngửi trời), lặp từ ngữ (dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm tỉ phối hợp lặp và đối (ngàn thước lên cao/ngàn thước xuống).

    – Phép lặp cú pháp (câu 1 và câu 2).

    – Ngắt nhịp: nhịp ngắn và đối xứng ở ba câu đầu.

    – Thanh điệu: 3 câu đầu dùng nhiều thanh trắc xen kẽ thanh bằng, cuối toàn thanh bằng tạo ấn tượng về một viễn cảnh rộng mở ra mắt khi đã trải qua nhiều hiểm trở, khó khăn và đạt đến đỉnh cao.

    – Tác dụng: Tất cả các yếu tố trên đã phối hợp tạo dựng khung cảnh hiểm trở của vùng rừng núi và tính chất khốc liệt của cuộc hành quân.

    III. TỔNG KẾT

    – Phép tu từ tạo nhịp điệu và âm hưởng thường được dùng trong văn nhất là văn chính luận.

    Phép tu từ tạo nhịp điệu, điệu thanh thường được dùng trong thơ ca.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Giải Câu Hỏi Đọc Hiểu Về Bài Tây Tiến
  • Phân Tích Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Giá Trị Biểu Đạt Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Nhà Ai Mới Nhỉ, Tường Vôi Trắng…
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Con Gặp Lại Nhân Dân Như Nai Về Suối Cũ…
  • Viết 10 Ví Dụ Về 12 Biện Pháp Tu Từ Và Nêu Hiệu Quả Ví Dụ Của Từng Biện Pháp
  • Soạn Văn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Kiến Thức Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 12
  • Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm Trong Tiếng Việt Học Sinh Cần Lưu Ý
  • Bài Soạn Lớp 12: Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • ctvloga151 2 năm trước 533 lượt xem

    Hướng dẫn soạn văn bài: Thực hành một số biện pháp tu từ ngữ âm

    Điệp âm là biện pháp cố ý lặp lại một số yếu tố ngữ âm nào đó (phụ âm đầu, vần hoặc thanh) để tạo ra sự cộng hưởng ý nghĩa, có tác dụng tô đậm thêm hình tượng hoặc xúc cảm, gợi liên tưởng, đồng thời giúp cho lời văn, lời thơ thêm nhạc tính.

    2.5. Điệp phụ âm đầu: Đây là biện pháp tu từ ngữ âm lặp lại phụ âm đầu để tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng, tăng tính tạo hình và diễn cảm cho câu thơ. Tuỳ theo đặc điểm của phụ âm đầu được chọn làm phương tiện mà nó có thể gợi những liên tưởng tinh tế khác nhau.

    là biện pháp tu từ ngữ âm, trong đó người ta sử dụng lặp lại các thanh điệu cùng nhóm (bằng/trắc) để tạo ra sự cộng hưởng về ý nghĩa, tăng tính nhạc cho câu thơ.

    2.8. Biện pháp tạo nhịp điệu:Tạo nhịp điệu là biện pháp tu từ ngữ âm được dùng chủ yếu trong văn xuôi chính luận, trong ñó người ta cốt tạo nên một âm hưởng hấp dẫn bằng những hình thức cân đối, nhịp nhàng của lời văn, nhằm làm cho lí luận có sức thuyết phục mạnh mẽ.

    2.9. Biện pháp tạo âm hưởng:Biện pháp tạo âm hưởng là biện pháp tu từ ngữ âm được dùng chủ yếu trong văn xuôi nghệ thuật, trong ñó người ta phối hợp âm thanh, nhịp điệu của câu văn không phải chỉ cốt tạo ra một sự cân ñối, nhịp nhàng, uyển chuyển, êm ái, du dương, mà cao hơn thế, phải tạo ra một âm hưởng hoà quyện với nội dung hình tượng của câu văn.

    3. Một số lưu ý khi vận dụng và khai thác giá trị biểu đạt của âm thanh:

    Phân tích tác dụng tạo hình tượng của phép điệp phụ âm đầu trong các câu thơ sau:

    Trong đoạn thơ sau, vần nào được lặp lại nhiều nhất? Nêu tác dụng biểu hiện sắc thái ý nghĩa của phép điệp vần đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mạc Tử.
  • Cảm Nhận Của Anh/chị Về Hai Đoạn Thơ Sau: Gió Theo Lối Gió, Mây Đường
  • Bình Giảng Khổ Thơ Sau Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử: Gió Theo Lối Gió, Mây Đường Mây, Dòng Nước Buồn Thiu, Hoa Bắp Lay; Thuyền Ai Đậu Bến Sông Trăng Đó Có Chở Trăng Về Kịp Tối Nay?
  • Hãy Bình Giảng Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Để Thấy Rằng: Thơ Hàn Mạc Tử Là Thơ Trữ Tình Hướng Nội.
  • Đề Kiểm Tra Học Kỳ Ii Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hsg Mũi Nhọn
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Cho Học Sinh
  • Luận Văn Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Trường Thcs Cát Hiệp
  • n và có trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo giá cả hợp lý, ổn định. Thực phẩm hợp đồng với nhà trường phải tươi sống như: Rau, thịt được nhận vào mỗi buổi sáng và được kiểm tra đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng hàng ngày thì BGH và nhân viên mới ký nhận và chế biến. Nếu thực phẩm không đảm bảo chất lượng như ẩm mốc, hôi thiu, kém chất lượngSẽ cắt hợp đồng. Đối với thực phẩm nấu chín thường xuyên lưu mẫu thức ăn trong tủ lạnh 24 tiếng đồng hồ, trong quá trình sử dụng thực phẩm nếu chất lượng thực phẩm không đảm bảo thì có biện pháp xử lý kịp thời không để tình trạng dùng thực phẩm kém chất lượng trước khi chế biến cho trẻ. * Nhà trường thành lập ban chỉ đạo y tế học đường gồm: Đ/C Hiệu trưởng là trưởng ban 1 Đ/C Hiệu phó phụ trách phần nuôi dưỡng cho trẻ là phó ban Đ/C CTCĐ, Đ/C nhân viên y tế, 3 Đ/C TTCM Đại diện cha mẹ học sinh Ban chỉ đạo có trách nhiệm đẩy mạnh công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống các dịch bệnh trong nhà trường. Theo sự chỉ đạo của nhà trường ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng ngày, định kỳ cụ thể và đột xuất được phân công cụ thể đến các thành viên trong ban chỉ đạo. * Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trước hết cần phải chú ý đến: - Cách lựa chọn thực phẩm phải tươi, đảm bảo an toàn thực phẩm tức thức ăn không bị nhiễm các hóa chất độc hại. Để làm được điều đó nhà trường đã ký hợp đồng mua bán thực phẩm tươi sạch với từng nơi cung cấp. - Cách pha chế thực phẩm phải đảm bảo từ khâu chuẩn bị chế biến, ngâm rau sau đó mới rửa khi rửa rau phải rửa xong mới được thái. Chế biến theo quy trình một chiều từ sống đến chín, không được cho thức ăn sống lẫn với thức ăn đã được nấu chín. - Khi chia thức ăn phải được bỏ vào xoong có vung đậy để đảm bảo vệ sinh tránh bụi và ruồi, muỗi. ( Kiểm tra quá trình chia ăn cho trẻ) - Thức ăn hàng ngày phải được lưu mẫu vào tủ lạnh đúng quy trình24/24 giờ. Thực hiện biện pháp này tốt thì trẻ có khả năng chống đở bệnh tật cao, trẻ phát triển lành mạnh, hài hòa, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện về thể chất. * Nơi chế biến thực phẩm luôn thường xuyên giữ vệ sinh sạch sẽ có dụng cụ riêng cho thực phẩm sống và chín. - Vệ sinh khi chế biến thực phẩm: Thực phẩm được sơ chế trên bàn, sau khi sơ chế thì chế biến ngày, đun nấu kỹ đảm bảo chất lượng. Dụng cụ chế biến và phục vụ ăn uống cho trẻ đầy đủ, dùng cho chế biến sống và chín riêng, đảm bảo vệ sinh. - Bếp nấu ăn đảm bảo đủ ánh sáng và không khí. - Bếp thực hiện quy trình một chiều để đảm bảo vệ sinh. - Tổ chức bồi dưỡng kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường tham gia ngay vào đầu năm học. - Nhà bếp luôn luôn hợp vệ sinh, đảm bảo bếp không bị bụi, có đủ dụng cụ cho nhà bếp và đồ dùng ăn uống cho trẻ, có đủ nguồn nước sạch cho trẻ phục vụ ăn uống. Ngoài ra trong nhà bếp có bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi người cùng đọc và thực hiện. Phân công cụ thể ở các khâu: chế biến theo thực đơn, theo số lượng đã quy định của nhà trường, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệ sinh. * Vệ sinh nhân viên nhà bếp: + 100% nhân viên nhà bếp được trang bị đầy đủ quần áo, khẩu trang, tạp dề + 100% được khám sức khỏe theo định kỳ, có sức khỏe tốt, không mắc bệnh truyền nhiễm. + 100% giáo viên không được đeo nhẫn, vòng, đồng hồ trong khi chế biến thức ăn và rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn đúng quy định thường xuyên. - Đối với nhân viên nấu ăn phải thường xuyên kiểm tra sức khoẻ trước khi làm việc vào đầu năm học mới, và sau sáu tháng làm việc tiếp theo. Trong quá trình chế biến thức ăn cho trẻ đầu tóc gọn gàng, móng tay luôn cắt ngắn và sạch sẽ, tuyệt đối không được bốc thức ăn khi chia cho trẻ. - Nhà trường phối hợp cùng với công đoàn tổ chức xây dựng vườn rau cho bé tại ngay sân trường để góp phần cung cấp dinh dưỡng và cải thiện bữa ăn cho trẻ luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Bếp được trang bị sử dụng bếp ga, nồi cơm điện không gây độc hại cho nhân viên và khói bụi cho trẻ. - Cọ rửa vệ sinh các dụng cụ chế biến thực phẩm hàng ngày sau khi sử dụng.Thùng rác thải, nước gạo luôn được thoát và để đúng nơi quy định, các loại rác thải được chuyển ra ngoài hàng ngày kịp thời. - Nhân viên phải mặc trang phục trong khi nấu ăn: đeo tạp dề, đội mũ khi chế biến, đeo khẩu trang trước khi chia thức ăn và rửa tay bằng xà phòng tiệt trùng Hàng ngày trước khi bếp hoạt động, nhà trường đã có kế hoạch phân công cụ thể các nhân viên cấp dưỡng thay phiên nhau đến sớm làm công tác thông thoáng phòng cho không khí lưu thông và lau dọn sàn nhà, kệ bếp, kiểm tra hệ thống điện, ga trước khi hoạt động. Nếu có điều gì biểu hiện không an toàn thì nhân viên cấp dưỡng báo ngay với lãnh đạo nhà trường để biết và kịp thời xử lý. - Ngoài công tác vệ sinh hàng ngày, định kỳ, hàng tháng phải tổng vệ sinh xung quanh nhà bếp, vệ sinh nhà bếp - dụng cụ nhà bếp - dụng cụ ăn uống nơi sơ chế thực phẩm sống-khu chế biến thực phẩm-chia cơm-nơi để thức ăn chín - Khu nhà bếp chế biến thực phẩm được đảm bảo vệ sinh và tránh xa nhà vệ sinh, bãi rác, khu chăn nuôikhông có mùi hôi thối xảy ra khi chế biến thức ăn. - Dao thớt sau khi chế biến luôn được rửa sạch để ráo hàng ngày và được sử dụng đúng giữa thực phẩm sống và chín.Người không phận sự không được vào bếp. Biện pháp 7: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chế độ ăn và nuôi dưỡng- chăm sóc trẻ: Để đảm bảo tiêu chuẩn ăn uống cho trẻ, để cho các bậc phụ huynh học sinh yên tâm và chính quyền địa phương cũng như các đoàn thể tin cậy ban giám hiệu nhà trường cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đôn đốc, giám sát thường xuyên, chặt chẽ, giúp chị em làm tốt nhiệm vụ, tránh phạm sai lầm. Qua công tác kiểm tra giúp chúng tôi biết được biện pháp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng đã được thực hiện đến đâu, qua việc nắm bắt tình hình phát hiện những sai lệnh kịp thời để khắc phục. Ví dụ: Khi kiểm tra nhóm dinh dưỡng chúng tôi phát hiện thấy có một số loại thực phẩm không được tươi hoặc không đủ số lượng cân theo quy định ở trong thực đơn, nhà trường họp tổ rút kinh nghiệm ngay để các cô chấn chỉnh lại việc làm chưa tốt của mình. Tôi đã chỉ đạo nhà trường tiến hành kiểm tra như sau: - Kiểm tra các thao tắc chế biến món ăn, thực hiện quy chế ở các nhóm, có thể tiến hành kiểm tra đột xuất, không báo trước để tránh tư tưởng đối phó, kiểm tra các giờ kiểm tra bữa ăn, giờ ngũ của trẻ, vệ sinh phòng, nhóm lớp để biết giáo viên có thực hiện đúng và thường xuyên không. - Kiểm tra theo dõi chất lượng bữa ăn: cháu ăn có đúng thực đơn không? đủ số lượng cho cháu không? kiểm tra kỹ thuật chế biến món ăn có ngon, có hợp khẩu vị với trẻ không? trẻ ăn có hết suất của mình không ? - Kiểm tra sổ y tế: Theo dõi sức khỏe của cháu trên biểu đồ tăng trưởng , đối chiếu so sánh rút kinh nghiệm cho việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe cho trẻ. - Kiểm tra vệ sinh phòng nhóm lớp và vệ sinh nhà bếp (đồ dùng chế biến nấu ăn) - Phối hợp với phụ huynh học sinh cùng giám sát kiểm tra chất lượng ăn của trẻ thường xuyên trong năm học. Qua biện pháp trên tôi không chỉ đơn thuần là kiểm tra việc thực hiện biện pháp chăm sóc - dinh dưỡng cho trẻ đã đề ra mà còn giúp giáo viên trong trường chấn chỉnh lại việc làm của mình kịp thời và từ đó có ý thức làm việc cẩn thận, có trách nhiệm, không qua loa chiếu lệ Biện pháp 8: Chỉ đạo và giám sát việc xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn và quá trình thực hiện: Xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn cho trẻ là một việc làm mang tính chất khoa học, nhằm mục đích sử dụng tiền ăn với chất lượng cao. Khi tiền ăn được phân phối hợp lý sẽ tránh được những chi tiêu không hợp lý, giảm tối đa sự thâm, thừa tiền ăn trong ngày. Chỉ đạo, giám sát việc xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn là một biện biện pháp thể hiện tính hiệu quả và tiết kiệm trong quản lý. Vì vậy tôi đã chỉ đạo đ/c hiệu phó phụ trách bán trú, kế toán, các tổ chăm sóc và các nhóm lớp hỗ trợ cho việc xây dựng thực đơn và đảm bảo khẩu phần ăn của trẻ, sau khi xây dựng thực đơn xong bố trí cho giáo viên trực tiếp xuống nhà bếp, các lớp tham quan dự giờ ăn của trẻ.từ đó tìm ra những món ăn thích hợp và bổ dưỡng đối với trẻ để chỉnh sủa được thực đơn cho phù hợp, thực đơn đi chợ hàng ngày phải có đầy đủ 3 chữ ký của người lên thực đơn, người thực hiện đi chợ và người nhận hàng khi đi chợ về. Số giao nhân thực phẩm hàng ngày phải ghi rõ số lượng và chất lượng thực phẩm khi nhận. hiệu trưởng phải có mặt từ 2- 3 lần/ tuần để duy trì thực hiện quy chế, để nắm bắt giá cả thực phẩm, để biết cách ước lượng thực phẩm bằng mắt và nhất là để kiểm soát thực đơn của trẻ trong ngày tránh tình trạng thất thoát thực phẩm, thực phẩm mua không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng Hàng ngày kế toán vào sổ tính định lượng để cân đối tiền thu, tiền chi trong ngày của trẻ và biết được định lượng các chất và calo trẻ đạt được là bao nhiêu để kịp thời bổ xung vào ngày hôm sau. * Đánh giá khẩu phần ăn: - Hiện nay với cách tổ chức ăn uống ở trường mầm non Trung Mầu; lứa tuổi mẫu giáo được ăn hai bữa: một Chính, một bữa phụ theo yêu cầu của viện dinh dưỡng cần đạt 50% năng lượng trong ngày, phần còn lại trẻ được ăn tại gia đình. Khi đã có số lượng thức ăn của trẻ trong cả ngày ở trường mầm non và dựa vào nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng của trẻ để đánh giá khẩu phần . . Đánh giá khẩu phần ăn về các mặt: - Có đủ năng lượng so với yêu cầu không ? - Số gam Protein, Lipit, Gluxit và các vitamin, khoáng chất đặc biệt là Ca, P, Fe có đủ so với nhu cầu không ? - Tính cân đối của khẩu phần đã đạt chưa? Cụ thể là tỷ lệ động vật và protein thực vật có chiếm tỷ lệ bằng nhau theo yêu cầu, loại nào ít, loại nào nhiều? - Tỷ lệ Lipit động vật và Lipit thực vật? - Lượng vitamin A, D, E B1, C, B12 có đạt so với yêu cầu không? - Các chất khoáng như: Ca, P, Fe có đạt so với yêu cầu không? Qua số liệu trên có thể đánh giá khẩu phần ăn đó tốt hay chưa ? *Bổ xung. Dựa vào cách đánh giá trên ta sẽ có bổ xung cho khẩu phần ăn được hợp lý hơn. Ta có thể tính ra số lượng thức ăn mỗi loại khẩu phần ăn cần bổ xung. Qua điều tra khẩu phần ăn của trẻ ở trường cho thấy: khẩu phần ăn của trẻ ở trường có hôm còn thiếu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết. - Các chất dinh dưỡng chưa được cân đối. Ví dụ: Tỷ lệ Protein động vật còn thấp hơn nhiều so với nhu cầu. Tỷ lệ các chất khoáng và vitamin chưa hợp lý. Đánh giá: Một điều cần chú ý là khẩu phần của trẻ còn bị bỏ thừa có khi tới 1/4 khẩu phần. Do trẻ ốm, mệt mỏi, do thời tiết, không ăn quen món ăn đó hoặc có hôm kỹ thuật nấu ăn chưa tốt, trẻ không thích ăn. Vì vậy cần phải theo dõi số lượng thức ăn để tính toán cho chính xác. C. KẾT LUẬN. I. Kết quả nghiên cứu: Qua quá trình nghiên cứu và đưa ra các biện pháp trong quản lý chỉ đạo thực hiên hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ sức khoẻ cho trẻ trong trường mầm non, nhà trường chúng tôi đã thu được rất nhiều kết quả hết sức khích lệ cụ thể như: Số trẻ đến trường ngày càng đông, tỉ lệ bán trú ngày càng được nâng cao. Các cháu được đảm bảo an toàn 100% tại trường. Trẻ suy dinh dưỡng tỷ lệ giảm xuống còn 2%, Trẻ mắc các loại bệnh còn 4,06% kết quả được thể hiện như sau: 1.Chất lượng chăm sóc , nuôi dưỡng trẻ: Đầu năm: Độ tuổi Tổng số trẻ Kênh bình thường Kênh SDD/ TC Bệnh TMH Trẻ mắc bệnh Sâu răng 18 - 36 tháng 3-4 tuổi 4-5 tuổi 5-6 tuổi Cộng Tỷ lệ Cuối năm: Độ tuổi Tổng số trẻ Kênh bình thường Kênh suy dinh dưỡng Trẻ mắc bệnh sâu răng Bệnh TMH 18 - 36 tháng 3-4 tuổi 4-5 tuổi 5-6 tuổi Tổng cộng Tỷ lệ 2. Về đội ngũ giáo viên, nhân viên: 100% cán bộ, giáo viên đã được học tập chuyên đề về vệ sinh an toàn thực phẩm do trung tâm vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh tổ chức. Qua kiểm tra, dự các buổi chế biến món ăn và chăm sóc trẻ 100% các cô đều đạt khá và giỏi, đặc biệt không có vụ ngộ độc nào xảy ra. Hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường có ... đồng chí tham gia đều đạt kết quả tốt 3. Về cơ sở vật chất: Nhà trường đã cải tạo 01 nhà bếp đảm bảo quy trình một chiều, có đủ đồ dùng phục vụ chăm sóc, nấu ăn cho trẻ như: Bàn chia ăn, xoong, nồi cơm ga, máy xay thịt, tủ lạnh, tủ đựng bát, đựng dụng cụ chế biến V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Chúng ta biết rằng việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là một công việc khó khăn, vất vả, ảnh hưởng đến việc giáo dục phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ , đến lợi ích trước mắt và sau này cho thể hệ mầm non. Đó là đường lối của Đảng, là nguyện vọng chính đáng của các bậc phụ huynh. Vì vậy trong quá trình quản lý và chỉ đạo, Ban giám hiệu nhà trường phải xác định rõ được nhiệm vụ của mình trong việc chỉ đạo thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ như: Xác định tầm quan trọng của công tác nuôi dạy và chăm sóc trẻ ở trường Mầm non,để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của nhà trường. Thường xuyên tổ chức cho cán bộ , giáo viên, nhân viên học tập các chuyên đề, bổ sung kiến thức và nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo rõ ràng, cụ thể , luôn bám sát hoạt động bán trú, tăng cương công tác kiểm tra . Nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Hàng năm thực hiện tổ chức các hội thi về công tác chăm sóc dinh dưỡng để tuyên truyền với phụ huynh, nhằm làm cho họ hiểu nhiều , sâu hơn về tầm quan trọng của ngành học mầm non để từ đó họ nhiệt tình tham gia giúp đỡ nhà trường trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ. Ngoài ra Ban giám hiệu nhà trường luôn có kế hoạch tham mưu với các cấp lãnh đạo Đảng , chính quyền, các cơ quan đoàn thể phối hợp với các ngành đóng trên địa bàn hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, khắc phục khó khăn, tích cực xây dựng các điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất để thu hút được đông trẻ đến trường, làm tăng thu nhập cho giáo viên cả về vật chất cũng như tinh thần để giáo viên có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ngày một tốt hơn. Không ngừng học hỏi các bạn bè đồng nghiệp,tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn. Thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực sáng tạo trong quản lý trường mầm non. Sau một thời gian nghiên cứu bản thân tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm như sau: Một là: Người quản lý phải ý thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình không ngừng nghiên cứu, tìm hiều, học hỏi đồng nghiệp về kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, học hỏi kinh nghiệm chăm sóc nuôi dưỡng qua các phương tiện truyền hình, tài liệu, tạp chí, sách báo... để đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng và giáo dục trẻ. Hai là: Giáo viên phải nắm vững kiến thức, kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng, nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phải có tấm lòng người mẹ thứ hai để chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, không ngừng nâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ chăm sóc nuôi dưỡng. Đối với giái viên nuôi dưỡng luôn cập nhật hoá các phương pháp chế biến món ăn, vệ sinh an toàn thực phẩm, chế biến thực phẩm đảm bảo ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng, hợp khẩu vị, trẻ ăn hết khẩu phần của mình, giúp trẻ tăng cân đều hàng tháng, luôn thay đổi cách chế biến các món ăn theo mùa phù hợp với địa phương. Ba là: Làm tốt công tác tuyên truyền đến nhân dân, các bậc phụ huynh học sinh kiến thức nuôi con theo khoa học, làm cho mọi người nhận thức được về vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non là rất cần thiết. Mặt khác tạo niềm tin cho các cấp lãnh đạo địa phương, các bậc phụ huynh qua từng việc làm cụ thể trong nhà trường. Bốn là: Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành viên trong trường, tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội, các ban ngành đoàn thể để hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục. Đặc biệt là các bậc phụ huynh học sinh thống nhất yêu cầu, nội dung, biện pháp và phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng hình thành cho trẻ những thói quen văn minh trong ăn uống, giao tiếp ở trường cũng như ở gia đình và ngoài xã hội. Năm là: Ban giám hiệu có kế hoạch thường xuyên kiểm tra giám sát việc thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng như chế biến các món ăn, tổ chức bữa ăn, tổ chức giấc ngủ, hình thành nề nếp thói quen vệ sinh văn minh trong ăn uống, học tập, vui chơi đối với trẻ. Sáu là: Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên về mọi mặt phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, hội thảo sáng kiến kinh nghiệm, học hỏi kinh nghiệm của các trường điểm, cung cấp tài liệu, tạp chí, tập san về giáo dục mầm non cho giáo viên học tập nghiên cứu, đặc biệt là khâu nuôi dưỡng cách chọn mua thực phẩm đúng hợp đồng tươi ngon, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Bảy là: Nhà trường tổ chức làm rau sạch phục vụ cho ăn bán trú, động viên giáo viên, phụ huynh cung cấp lương thực, thực phẩm sạch cho nhà trường. Tám là: Nhà trường phối hợp với hội phụ huynh học sinh thành lập ban kiểm tra để thường xuyên theo dõi giám sát công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tai trường, có những phản ánh kịp thời cho ban giám hiệu để từ đó có những uốn nắn kịp thời. Chín là: Cân đo khám sức khoẻ cho trẻ theo định kỳ để báo cáo tình hình sức khoẻ của trẻ cho nhà trường và gia đình để có biện pháp chăm sóc giáo dục kịp thời. Với những kinh nghiệm trên tôi đã thực hiện trong quá trình chỉ đạo chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tại trường đạt được một số kết quả góp phấn nhỏ bé vào sự nghiệp giáo dục trẻ ở trường mầm non. VI: KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT: Mở các lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, giúp cán bộ quản lý làm giàu tri thức và kinh nghiệm chỉ đạo. Tăng cường mở các lớp bồi dưỡng những kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an thực phẩm, cách lựa chọn thực phẩm đến cách chế biến, bảo quản thực phẩm, thêm không chỉ cho cán bộ, giáo viên trong trường mầm non mà cả các bậc phụ huynh đều được năm bắt. Để phối kết với nhà trường và gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đạt hiệu quả cao. Những kết quả đạt được của nhà trường trong năm học 2021-2016,đó là bằng chứng thực tiễn đã chứng minh sự cần thiết mà tôi đã nghiên cứu đưa ra các biện pháp chỉ đạo thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là rất đúng đắn. Mặc dù đã cố gắng, với tâm huyết của mình nhưng do khả năng có hạn, nên sáng kiến kinh nghiệm của tôi không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế; rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của lãnh đạo ngành giáo dục, của bạn bè đồng nghiệp để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn. Phương Trung, ngày 25 tháng 4 năm 2021 Người viết Hoàng Thị Xuân PHẦN DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO: Trước khi viết sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã tham khảo các tài liệu như: - Chương trình CS-ND trẻ các độ tuổi - Cuốn sách hướng dẫn vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục mầm non ( NXB Giáo Dục). - Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam của Bộ y tế - Viện dinh dưỡng. (NXB Y học Hà Nội Năm 2004). - 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý của THS Cù Thị Thủy - Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở Giáo dục giai đoan 2006 - 2010. - Sổ tính khẩu phần ăn dùng trong các trường mầm non do Sở GD & ĐT Thái Nguyên cấp phát. - Tài liệu bồi dưỡng hè. Kế hoạch nhiệm vụ năm học. - Nghi quyết Trung ương II (khóa VIII) NXB CTQG Hà Nội/ 1997 - Tài liệu bồi dưỡng cán bộ QL,I, III, NXB HVQLGD Hà Nội/2007 - Tài liệu bồi dưỡng CBQL. MN năm học 2013- 2014 - Chiến lược phát triển GD 1998- 2021 của bộ GD -ĐT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Chiềng Mung
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Hoa Hồng Quận Hai Bà Trưng
  • Đảm Bảo Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện, Phòng Chống Bạo Lực Học Đường
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện; Phòng, Chống Bạo Lực Học Đường
  • Giải Pháp Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Chiềng Mung

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Trẻ Mầm Non
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hsg Mũi Nhọn
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Cho Học Sinh
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu trở thành người tốt”.

    Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong suốt cuộc đời phát triển của mỗi con người.

    Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, có lúc trong hoàn cảnh cực kỳ gian khó, tưởng như tan vỡ, nhưng giáo dục mầm non vẫn tồn tại, khôi phục và từng bước phát triển. Từ những cơ sở nuôi dạy trẻ lẻ tẻ, nhỏ bé, đến nay giáo dục mầm non đã có một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc với nhiều cơ sở khang trang, ở đó trẻ mầm non được chăm sóc, nuôi dạy theo khoa học trong tình thương yêu của những giáo viên mầm non – người mẹ hiền thứ hai của các cháu.

    Giáo dục mầm non vượt qua những thủ thách, khó khăn là nhờ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, có sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Song, điều chủ yếu và quan trọng nhất là nhờ các thế hệ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, bằng tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề đã tận tuỵ, kiên trì mở lớp, bám lớp, bám trường, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục mầm non.

    Đến nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục mầm non tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ tương lai của đất nước có đủ đức, đủ tài, đáp ứng được yêu cầu phát triển của toàn xã hội đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với ngành giáo dục đào tạo hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đòi hỏi giáo dục mầm non phải có đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, có ý thức tổ chức, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cao, hết lòng vì sự nghiệp chung của toàn ngành.

    Được thành lập từ tháng 8 năm 2004, với phương châm coi công tác chuyên môn là công tác trọng tâm, cơ bản của nhà trường. Ngay từ những ngày đầu thành lập, trường mầm non Chiềng Mung đã chú trọng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ, có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm. Đến nay, các hoạt động của nhà trường đã đi vào nề nếp, chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, do có sự điều động, luân chuyển giáo viên và đứng trước sự phát triển của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi người giáo viên mầm non cần phải đổi mới, nâng cao khả năng thích ứng với các yêu cầu của toàn xã hội, đặc biệt là việc đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy chính thức trong năm học 2009-2010.

    Đứng trước tình hình đó, là một phó hiệu trưởng nhà trường phụ trách công tác chuyên môn, tôi có nhiều băn khoăn trăn trở: Làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, đặc biệt là chất lượng giáo dục trẻ mầm non trong nhà trường? Mà muốn năng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì khâu then chốt chính là nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường mầm non Chiềng Mung”.

    I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu trở thành người tốt”. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong suốt cuộc đời phát triển của mỗi con người. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, có lúc trong hoàn cảnh cực kỳ gian khó, tưởng như tan vỡ, nhưng giáo dục mầm non vẫn tồn tại, khôi phục và từng bước phát triển. Từ những cơ sở nuôi dạy trẻ lẻ tẻ, nhỏ bé, đến nay giáo dục mầm non đã có một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc với nhiều cơ sở khang trang, ở đó trẻ mầm non được chăm sóc, nuôi dạy theo khoa học trong tình thương yêu của những giáo viên mầm non – người mẹ hiền thứ hai của các cháu. Giáo dục mầm non vượt qua những thủ thách, khó khăn là nhờ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, có sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Song, điều chủ yếu và quan trọng nhất là nhờ các thế hệ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, bằng tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề đã tận tuỵ, kiên trì mở lớp, bám lớp, bám trường, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục mầm non. Đến nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục mầm non tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ tương lai của đất nước có đủ đức, đủ tài, đáp ứng được yêu cầu phát triển của toàn xã hội đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với ngành giáo dục đào tạo hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đòi hỏi giáo dục mầm non phải có đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, có ý thức tổ chức, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cao, hết lòng vì sự nghiệp chung của toàn ngành. Được thành lập từ tháng 8 năm 2004, với phương châm coi công tác chuyên môn là công tác trọng tâm, cơ bản của nhà trường. Ngay từ những ngày đầu thành lập, trường mầm non Chiềng Mung đã chú trọng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ, có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm. Đến nay, các hoạt động của nhà trường đã đi vào nề nếp, chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, do có sự điều động, luân chuyển giáo viên và đứng trước sự phát triển của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi người giáo viên mầm non cần phải đổi mới, nâng cao khả năng thích ứng với các yêu cầu của toàn xã hội, đặc biệt là việc đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy chính thức trong năm học 2009-2010. Đứng trước tình hình đó, là một phó hiệu trưởng nhà trường phụ trách công tác chuyên môn, tôi có nhiều băn khoăn trăn trở: Làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, đặc biệt là chất lượng giáo dục trẻ mầm non trong nhà trường? Mà muốn năng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì khâu then chốt chính là nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường mầm non Chiềng Mung”. II.BIỆN PHÁP THỰC HIỆN. 1,Khảo sát thực trạng: a.Đặc điểm tình hình nhà trường. *Về thuận lợi: Nhà trường luôn được đón nhận sự quan tâm của huyện uỷ – HĐND – UBND huyên, phòng giáo dục và đào tạo Mai Sơn và của cấp uỷ chính quyền địa phương. Trường có đội ngũ giáo viên trẻ khoẻ, nhiệt tình, có tâm huyết với nghề, có tinh thấn trách nhiệm với công việc được giao, luôn có ý thức phấn đấu và rèn luyện học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chất lượng giáo dục tăng lên so với các năm học trước đây. *Về khó khăn: -Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, trang thiết bị của cô và trẻ chưa đáp ứng được việc dạy và học, đặc biệt là khi triển khai chương trình giáo dục mầm non mới. -Nhận thức của một bộ phận phụ huynh học sinh còn hạn chế, hiểu về ngành học chưa đầy đủ. -Nhà trường có nhiều điểm trường(8 điểm), các điểm nằm rải rác không tập trung, còn một số lớp không phân được độ tuổi, phải học ghép. -Học sinh là người dân tộc chiếm 2/3 số trẻ, khả năng nghe, hiểu và nói Tiếng Việt còn nhiều hạn chế nhất là trẻ 3 tuổi. -Giáo viên nhà trường 100% là nữ, đa số đang trong độ tuổi sinh đẻ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. b. Khảo sát chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường: Qua quá trình kiểm tra, dự giờ tham lớp, tìm hiểu thực trạng của nhà trường, tôi kết hợp điều tra đánh giá về phẩm chất chính trị, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn và hiệu quả giáo dục, kết quả như sau: * Đội ngũ giáo viên: Tổng số CBGV Nữ Dân tộc Đảng viên BGH Giáo viên Hành chính Phục vụ Kế toán Y tế 37 37 7 16 4 31 1 0 0 1 *Phẩm chất đạo đức: Tổng số CBGV Tốt Khá Trung bình Kém 37 37 0 0 0 *Trình độ đào tạo: Tổng số CBGV Đại học Cao đẳng Trung cấp Sơ cấp 37 2 3 32 0 *Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên: GVG cấp tỉnh GVG cấp huyện GVG cấp trường Xếp loại Giỏi Xếp loại khá Xếp loại đạt yêu cầu 4 12 15 15 13 3 *Số lượng học sinh đầu năm: Nhà trẻ Mẫu giáo Số lớp Số trẻ Số lớp Số học sinh 6 53 17 378 *Khảo sát chất lượng học sinh: -Chất lượng giáo dục: Mức độ Nhà trẻ Mẫu giáo Chung toàn trường Đạt chuẩn 85% 91,5% 89,75 Chưa đạt 15% 8,5% 10,25 -Chất lượng nuôi dưỡng: Khối Về cân nặng Về chiều cao Phát triển bình thường Suy dinh dưỡng Béo phì Cân đối Suy dinh dưỡng Nhà trẻ 94,8% 5,2% 0 98% 2% Mẫu giáo 906% 9,4% 0 93,4% 4,6% Chung toàn trường 93,2% 6,8% 0 96,6% 3,4% Qua kết quả điều tra tôi nhận thấy: -Nhà trường có đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, có nhiều giáo viên giỏi các cấp, đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. -Tập thể sư phạm luôn đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. -Nhà trường được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của cấp uỷ chính quyền địa phương và của phòng GD&ĐT Mai Sơn. Bên cạnh đó còn một số tồn tại, đó là: -Công tác xã hội hoá giáo dục mầm non chưa cao. -Chưa có đủ biên chế giáo viên theo yêu cầu. -Trình độ nghiệp vụ, tay nghề chưa đồng đều, vẫn còn một số giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới. Đa số giáo viên khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy còn yếu, chưa có khả năng sáng tạo, áp dụng lý luận vào thực tiễn cho phù hợp với thực tế địa phương. -Chất lượng giáo dục và chất lượng nuôi dưỡng còn thấp. c.Nguyên nhân: -Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, phòng học chưa đủ, các phòng chức năng không có, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi chưa đáp ứng được việc dạy và học. Đặc biệt, chưa trang bị được máy vi tính cho các lớp. -Nhận thức của một bộ phận phụ huynh về ngành học còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa có sự phối hợp với giáo viên trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. -Học sinh là người dân tộc chiếm 2/3 số trẻ, khả năng nghe, hiểu và nói Tiếng Việt còn nhiều hạn chế nhất là trẻ 3 tuổi. -Giáo viên nhà trường 100% là nữ, đa số đang trong độ tuổi sinh đẻ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. 2.Các biện pháp: Từ những lý luận và thực tiễn nhà trường, tôi mạnh dạn đề ra các biện pháp nhằm năng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay, đó là: Biện pháp 1. Có kế hoạch xây dựng bộ máy tổ chức và sắp xếp, sử dụng đội ngũ giáo viên. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, người cán bộ quản lý sắp xếp tốt bộ máy tổ chức thì công việc chỉ đạo sẽ có nhiều thuận lợi. Bộ máy này sẽ là cánh tay đắc lực giúp người quản lý điều hành công việc. Chính vì vậy, cùng với ban giám hiệu nhà trường tôi đã tìm hiểu, cân đối và bố trí công việc cho đội ngũ cán bộ giáo viên phù hợp với phẩm chất đạo đức, uy tín, trình độ và năng lực của mỗi người. Đồng thời cử đội ngũ cốt cán nhà trường làm tổ trưởng các tổ chuyên môn, thư ký chuyên môn. Việc sắp xếp bố trí giáo viên hợp lý, phù hợp với năng lực sở trường, vận dụng được thế mạnh của giáo viên đồng thời kích thích được ý chí phấn đấu vươn lên của mỗi cá nhân. Đồng thời cần phải dựa vào tình hình thực tế của từng điểm nhóm lớp để bố trí đội ngũ giáo viên sao cho mỗi điểm đều có giáo viên giỏi các cấp xen kẽ với các giáo viên còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ để chị em có thể kèm cặp giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Bên cạnh đó, tôi cũng bố trí để các điểm đều có sự cân bằng trong độ tuổi của cán bộ giáo viên. Những giáo viên trẻ có điều kiện và khả năng tiếp cận với kiến thức mới và với khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin sẽ là cầu nối để đưa các kiến thức, nội dung, phương pháp mới đến tất cả các giáo viên trong trường. Có sự chỉ đạo thống nhất từ chi uỷ chi bộ, Ban giám hiệu, Công đoàn, chi đoàn… trong việc sắp xếp bố trí công việc cho cán bộ giáo viên. Tham mưu với cấp trên bổ sung thêm biên chế cán bộ giáo viên cho nhà trường. *Bảng 1. Cách bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, giáo viên. Khối lớp Tổng số GV Trình độ đào tạo Năng lực chuyên môn Đại học Cao đẳng Trung cấp Giỏi Khá Trung bình Nhà trẻ 6 0 0 6 2 3 1 Mẫu giáo bé 7 1 0 6 4 2 1 Mẫu giáo nhỡ 8 0 1 7 4 3 1 Mẫu giáo lớn 10 1 1 8 5 5 0 Cộng: 31 2 2 27 15 13 3 Biện pháp 2. Nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất nhà giáo. Để có được một tập thể sư phạm vững vàng về tư tưởng chính trị, có phẩm chất đạo đức nhà giáo, tôi đã chủ động cùng với chi bộ, nhà trường và các đoàn thể quán triệt đầy đủ các văn bản, chỉ thị, Nghị quyết của các cấp để cán bộ giáo viên học tập. Đồng thời cụ thể hoá các chỉ thị Nghị quyết đó vào thực tế nhà trường cho phù hợp. Đặc biệt là đưa các cuộc vận động lớn của Đảng và của Ngành giáo dục và đào tạo như cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung; “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gươngđạo đức tự học và sáng tạo”… vào kế hoạch năm học và kế hoạch từng tháng cụ thể. Hướng dẫn cho cán bộ giáo viên đưa vào chương trình hành động của mỗi lớp, mỗi cá nhân. Mỗi cán bộ giáo viên phải là tấm gương cho học sinh noi theo. Cụ thể hoá tiêu chuẩn người giáo viên mầm non, thường xuyên học tập Điều lệ trường mầm non do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành. Cùng với đó, tôi cùng tập thể sư phạm nhà trường xây dựng quy chế của nhà trường và nghiêm túc thực hiện. Biện pháp 3.Nâng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề và khả năng vận dụng khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Để người giáo viên tự tin, chủ động trong việc thực hiện chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì phải nâng cao trình độ nghiệp vụ và khả năng sư phạm, kỹ năng cơ bản của người giáo viên phải thuần thục. Do đó, tôi cùng với nhà trường động viên, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên được đi học nâng cao trình độ. Trong năm học nhà trường có 12 cán bộ giáo viên đang theo học lớp Đại học Mầm non hệ vừa học vừa làm, tiếp tục tạo điều kiện để giáo viên được đi học trong hè nâng trình độ trên chuẩn. Để giáo viên có kỹ năng sư phạm thuần thục, tôi thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để chị em trực tiếp dạy mẫu, rút kinh nghiệm, thống nhất phương pháp. Đặc biệt, khi đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy, ngoài việc hướng dẫn giáo viên nghiên cứu tài liệu, tôi tiến hành xây dựng tiết mẫu ở từng lĩnh vực cho toàn trường thực hiện và đưa về các tổ chuyên môn. Tiến hành cho giáo viên đi tham quan, học tập các trường trong huyện và trong tỉnh.Từ đó, chị em hiểu rõ về chương trình, những điểm mới và cách thức thực hiện chương trình sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và tình hình thực tế địa phương. Đất nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhiệm vụ của giáo dục mầm non cũng phải thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin là việc làm rất cần thiết đối với các trường mầm non nói chung và với trường chúng tôi nói riêng. Vì vây, bản thân tôi luôn tìm tòi, học hỏi việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và giảng dạy. Qua đó, hướng dẫn chị em cùng học tập như việc soạn bài trên máy vi tính, làm các đồ dùng dạy học qua máy, học tập trên mạng internet, thiết kế các bài giảng điện tử từ các phần mềm trình chiếu như Power Point… Biện pháp 4. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cô và trẻ. Để giáo viên có điều kiện thực hiện tốt chương trình thì cơ sở vật chất trang thiết bị là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, tôi cùng với Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch, tham mưu với các cấp các ngành, phối hợp với phụ huynh học sinh đầu tư làm mới, tu sửa các phòng học,các công trình phụ trợ như nhà bếp, sân trường, tường rào, đồ chơi ngoài trời, các nhà vệ sinh riêng cho trẻ nam và nữ; mua sắm trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi, học liệu cho cô và trẻ. Chính vì vậy, nhà trường đã từng bước khắc phục khó khăn để thực hiện tốt nhiệm vụ đã được Đảng và nhân dân giao phó. III. KẾT QUẢ Từ việc áp dụng các biện pháp nêu trên, cuối năm học chất lược đội ngũ giáo viên cũng nhữ chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đã tăng lên rõ rệt. Cụ thể là: * Đội ngũ giáo viên: Tổng số CBGV Nữ Dân tộc Đảng viên BGH Giáo viên Hành chính Phục vụ Kế toán Y tế 38 38 7 16 4 31 1 1 0 1 *Năng lực chuyên môn của đội nggũ giáo viên: GVG cấp tỉnh GVG cấp huyện GVG cấp trường Xếp loại Giỏi Xếp loại khá Xếp loại đạt yêu cầu 4 12 15 15 13 3 *Kết quả dự giờ đột xuất và thao giảng trong năm học: Thời gian TSGV Dự giờ đột xuất Thao giảng Giỏi Khá Đạt KĐ Giỏi Khá Đạt KĐ Từ 21/9-30/10 19 2 14 3 0 Từ 02/11-17/11 32 9 22 1 0 Từ 30/11-5/2 10 1 6 3 0 Từ01/3-19/3 37 21 16 0 0 Từ 29/3-22/4 7 2 4 1 *Chất lượng giáo dục: Mức độ Nhà trẻ Mẫu giáo Chung toàn trường Đat chuẩn 92,3% 92,5% 92,4% Chưa đạt 7,7% 7,5% 7,6% *Chất lượng nuôi dưỡng: Khối Về cân nặng Về chiều cao PTBT SDD PTBT SDD SL % SL % SL % SL % Nhà trẻ 52 98,1 1 1,9 53 100 0 0 Mẫu giáo 358 94,7 20 5,3 372 98,4 6 1,6 Chung toàn trường 410 95,1 21 4,9 425 98,6 6 1,4 IV.BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Từ thực tế quản lý và chỉ đạo về “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên” tại trường mầm non Chiềng Mung, tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Trước hết, người cán bộ quản lý cần phải có năng lực, phẩm chất, có uy tín trước đội ngũ giáo viên, có khả năng quản lý chỉ đạo điều hành các hoạt động theo mảng được phân công phụ trách. Thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận và khoa học công nghệ. Phân công đúng người, đúng việc, làm cho mọi nười hiểu rõ chức trách nhiệm vụ của mình, biết phối hợp với nhau trong công tác. Xây dựng được kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về công tác chuyên môn dựa vào các văn bản chỉ đạo của các cấp và của Nhà trường, tình hình thực tế của địa phương và tổ chức triển khai có hiệu quả. Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặc biệt trong điều kiện hiện nay cần đẩy mạnh ứng dụng kiến thức khoa học mới vào chương trình cho phù hợp. Cần đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động trong ngày cho linh hoạt, phù hợp với tình thình thực tế của địa phương. Biết tạo ra kỷ cương trong nội bộ, đồng thời phải là trung tâm đoàn kết, quy tụ mọi người cùng chung tay xây dựng tập thể sư phạm nhà trường. Quan tâm tìm hiểu để nắm được tâm tư tình cảm, vướng mắc của cán bộ giáo viên để có hướng khắc phục. Tạo điểu kiện để giáo viên được học tâp ở mọi lúc, mọi nơi, nâng cao trình độ cho giáo viên. V.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN. 1. Kết luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ngày một vững vàng, chủ động, sáng tạo trong công tác, thường xuyên đổi mới đáp ứng được yêu cầu của toàn xã hội trong bất cứ thời kỳ nào là mục tiêu quan trọng trong công tác chỉ đạo công tác chuyên môn trong trường mầm non. Để đạt được mục tiêu này, người cán bộ quản lý phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường phải thực sự nâng cao tư tưởng chính trị, trình độ và năng lực chuyên môn và phát huy vai trò đầu tầu gương mẫu, là người đi trước về sau, nêu cao vai trò lãnh đạo trong công tác. Luôn đặt mình trong khối thống nhất chung của tập thể sư phạm nhà trường, nghiêm túc thực hiện nội quy tập thể. Có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác cho đội ngũ giáo viên để đội ngũ giáo viên thực sự có trình độ và năng lực công tác, biết áp dụng những kiến thức khoa học mới vào công việc hàng ngày của mình. 2. Đề xuất ý kiến: *Đối với nhà trường: -Nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên để thực hiện tốt mọi công việc được giao. -Tiếp tục có kế hoạch bổ sung, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho cô và trẻ. -Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục mầm non trên địa bàn. *Đối với phòng giáo dục và đào tạo huyện Mai Sơn: -Điều động, bổ sung thêm biên chế cán bộ, giáo viên đủ theo kế hoạch phát triển giáo dục của Nhà trường. -Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non đi tham quan học tập trong và ngoài tỉnh. -Bổ sung thêm tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các nhà trường. Chiềng Mung, ngày 20 tháng 5 năm 2010 NGƯỜI VIẾT Đặng Thị Thu XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. HIỆU TRƯỞNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Hoa Hồng Quận Hai Bà Trưng
  • Đảm Bảo Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện, Phòng Chống Bạo Lực Học Đường
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện; Phòng, Chống Bạo Lực Học Đường
  • Giải Pháp Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề “xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Hoa Hồng Quận Hai Bà Trưng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Chiềng Mung
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Trẻ Mầm Non
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hsg Mũi Nhọn
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • MỤC LỤC

    1.1. Căn cứ nghiên cứu……………………………………………………………………………………………. 4

    1.3. Ý nghĩa – tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu…………………………………………………… 6

    2.1. Giới thiệu khái quát về nhà trường……………………………………………………………………… 7

    2.2. Thực trạng việc tổ chức hoạt động góc tại trường MN Ngô Thì Nhậm …………………….. 8

    Biện pháp 1: Bồi dưỡng giáo viên thông qua dự giờ ……………………………………………………. 11

    Biện pháp 2: Bồi dưỡng giáo viên thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn…………………………… 11

    Biện pháp 3: Bồi dưỡng giáo viên thông qua tham quan, học tập kinh nghiệm………………… 12

    Biện pháp 4: Cử giáo viên đi học các lớp ngắn hạn, dài hạn…………………………………………. 12

    3.2. Phương hướng…………………………………………………………………………………………………. 13

    3.3. Kế hoạch thực hiện……………………………………………………………………..14

    1. Kết luận……………………………………………………………………………………………………………… 24

    2. Khuyến nghị ……………………………………………………………………………………………………… 24

    MỞ ĐẦU

    – Quản lý là một tổ chức sắp xếp, bố trí hợp lý, đồng thời theo dõi, giám sát, chăm sóc, trông coi, nhằm định hướng việc sử dụng các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, vận hành đúng mục đích.

    – Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra.

    – Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc có tính kỷ luật cao luôn hoàn thành các nhiệm vụ .

    – Quản lý là một thuộc tính của xã hội dù ở trình độ nào loài người ngay từ lúc sống thành bầy đàn cũng đã thể hiện tính tổ chức của mình thông qua vai trò của quản lý. Nhờ tính tổ chức cao mà xã hội không ngừng phát triển. Nếu xã hội ngừng nâng cao tính tổ chức thì xã hội đó sẽ ngừng phát triển. Chúng ta có thể nói, quản lý là thước đo sự tiến bộ xã hội, quản lý là đòn bẩy của sự tiến bộ xã hội. Nói một cách khác, sự tiến bộ xã hội có thể được đánh giá một phần thông qua công tác quản lý.

    Quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường, có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) đến giáo viên và học sinh đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động lực cho họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường, làm cho qui trình này vận động hướng tới việc hoàn thành những mục tiêu đã đề ra.

    Đối tượng của quản lý giáo dục là những người thực hiện các hoạt động giáo dục (học sinh, phụ huynh, xã hội).

    Tích chất của hoạt động giáo dục là phục vụ xã hội vì lợi ích văn minh, tiến bộ lâu dài của xã hội.

    Mục đích của giáo dục nhằm dạy các trí thức văn hóa, khoa học, rèn luyện thói quen, kỷ năng, kỷ xảo trong lao động, khả năng ứng xử xã hội.

    Trong nhà trường người cán bộ quản lý không phải là người làm giỏi hết tất cả mọi công việc mà phải là người biết cách tổ chức cho mọi người làm giỏi.

    Trong quản lý giáo dục, nhiệm vụ trọng tâm của chủ thể quản lý là tổ chức thực hiện kế hoạch năm học, tổ chức cuộc sống vật chất và tinh thần cho tập thể sư phạm, xây dựng bầu không khí thoải mái trong tập thể sư phạm, tổ chức kiểm tra đánh giá các mặt hoạt động của nhà trường theo những tiêu chí đưa ra trong các chỉ thị đầu năm học. Để tổ chức tốt hoạt động của trường.

    Xuất phát từ các khái niệm trên công tác quản lý giáo dục được thực hiện trong một phạm vi xác định, đó là nhà trường của bậc học Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân.

    Hoạt động trung tâm của nhà trường là hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Đây chính là quá trình hình thành những tri thức, kỹ năng, thái độ … theo yêu cầu mục tiêu của cấp học. Để làm tốt công việc của người cán bộ quản lý, bên cạnh những hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, người hiệu phó còn phải hiểu các mối quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc sống, phải nắm vững các vấn đề thuộc về lĩnh vực phương pháp giáo dục phải nắm vững bản chất của lao động sư phạm, của quá trình dạy học, quá trình phát triển về mặt sinh lý của trẻ là quá trình hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ .

    2. Cơ sở thực tiễn

    Trẻ ở tuổi mầm non ngoài sự chăm sóc dạy dỗ của ông bà, cha mẹ trẻ ở gia đình thì yếu tố quan trọng quyết định lớn về sự phát triển toàn diện của những trẻ đến trường mầm non là đội ngũ giáo viên mầm non.

    Từ nhận thức trên là một cán bộ quản lý tôi đã xác định việc xây dựng đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà mình không được phép sao nhãng, phải bằng mọi cách để xây dựng một đội ngũ có đủ trình độ năng lực, sức khỏe mẫu mực, có đủ khả năng chăm sóc giáo dục trẻ theo yêu cầu hiện nay

    Trên cơ sở thực trạng của trường Mầm non Hoa Hồng cùng với những kiến thức đã được học tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của trường Mầm non Hoa Hồng” làm tiểu luận tốt nghiệp khoá bồi dưỡng CBQLGD năm 2021.

    NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

    Như chúng ta đã biết Ngành học Mầm non là bậc học đầu tiên, là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Song việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên lại càng quan trọng hơn, quyết định hơn, làm đòn bảy để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Do đó việc xây dựng bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên với phương châm là yêu nghề mến trẻ và thực sự là người mẹ hiền thứ hai của trẻ. Để đạt được mục tiêu trên chúng ta phải xây dựng được một đội ngũ giáo viên vững mạnh một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của giáo dục hiện nay. Đó chính là tập thể sư phạm của nhà trường đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng “vừa hồng vừa chuyên”. Tập thể sư phạm bao gồm cán bộ quản lý và giáo viên, trong đó đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu trực tiếp tổ chức quá trình giáo dục.

    Việc xây dựng đội ngũ giáo viên vững mạnh là việc làm rất càn thiết, thường xuyên và liên tục. Vì đội ngũ giáo viên là người quyết định đến chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non

    1.1. Căn cứ nghiên cứu

    Nghị Quyết Trung ương 4 (Khóa VII), Nghị Quyết Trung ương 2 (Khóa VIII), Nghị Quyết Trung ương 6 (Khóa IX) đều khẳng định mục tiêu giáo dục cho đất nước: Phải đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ, đặc biệt là nguồn nhân lực để đáp ứng công cuộc “Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa của đất nước”

    Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 có nêu mục tiêu thực hiện chiến lược phát triển giáo dục: Xây dựng đội ngũ nhà giáo được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo. Để đạt được mục tiêu đó, “Chú trọng bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ nhà giáo…”

    Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 ban hành Điều lệ trường mầm non kèm theo thông tư 44/2010/TT-BGDĐT, Thông tư 05/2011/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ trường mầm non.

    1.2. Những khái niệm cơ bản về vấn đề nghiên cứu

    Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ.

    Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ.Những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ, bởi trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu học tập, não bộ đã được lập trình để tiếp nhận các thông tin cảm quan và sử dụng để hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới.

    Việc chăm sóc tốt cho trẻ từ lứa tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ. Giáo dục mầm nonsẽ chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng như tự lập, sự kiềm chế, khả năng diễn đạt rõ ràng, đồng thời hình thành hứng thú đối với việc đến trường ở bậc tiếp theo là giáo dục tiểu học, tăng khả năng sẵn sàng để bước vào giai đoạn giáo dục phổ thông.

    Để trẻ có bước đệm tốt nhất trước khi bước vào giáo dục tiểu học cần có 5 lĩnh vực phát triển là kỹ năng ngôn ngữ và nhận thức, kỹ năng giao tiếp và hiểu biết chung, sự trưởng thành tình cảm, năng lực xã hội, sức khỏe và thể chất.

    Qua khảo sát của tổ chức Hỗ trợ phát triển giáo dục cho thấy, trẻ được đi học mẫu giáo liên tục từ 3 – 5 tuổi có lợi nhiều hơn cho mức độ sẵn sàng đi học của trẻ và có tỷ lệ thiếu hụt thấp hơn trẻ không được đi học liên tục từ 3 – 5 tuổi, đặc biệt là ở lĩnh vực phát triển kỹ năng giao tiếp và hiểu biết chung. Vì vậy, những trẻ khi bắt đầu đi học giáo dục tiểu học nhưng chưa được chuẩn bị thường bị thiệt thòi và thường khó có thể bắt kịp bạn bè.

    Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non là nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục, tạo tiền đề cho trẻ 5 tuổi bước vào lớp 1. Để thực hiện được điều này giáo dục mầm non cần tập trung ưu tiên các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, nhân lực, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để trẻ có thể phát triển toàn diện.

    Giáo viên mầm non cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định việc học tập và phát triển của trẻ nhỏ. Giáo viên được đào tạo sư phạm mầm non tốt sẽ có nhiều tương tác với trẻ tích cực hơn, nhanh nhạy hơn, cung cấp những trải nhiệm về phát triển nhận thức ngôn ngữ phong phú hơn. Do vậy, cần phải xây dựng được các chương trình đào tạo giáo viên tốt và các chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non đang giảng dạy để giúp họ có những kiến thức mới về sự phát triển của trẻ.

    Giáo dục mầm non có vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ, giúp trẻ phát huy được các khả năng trong con người trẻ. Chính vì thế cần quan tâm chú trọng cấp học này hơn nữa.

    1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

    Đối với trẻ thì ngoài gia đình thì cô giáo dạy mầm non có thể xem như một “người mẹ thứ hai” để giúp trẻ có thêm tự tin , học hỏi được nhiều điều và giáo dục những kiến thức đầu tiên cho trẻ trong môi trường trường lớp, chính vì vậy mà người làm giáo viên mần non có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục ra một thế hệ “mầm non” tương lai cho đất nước

    Giáo viên phải là người có kinh nghiệm, phải có tính linh hoạt, tính tích cực tìm tòi, sáng tạo, học hỏi kinh nghiệm qua mạng, từ bạn bè đồng nghiệp.

    Giáo viên phải là người có kiến thức chuyên môn vững vàng. Có sáng tạo trong lời dẫn dắt bài dạy để gây hứng thú cho trẻ, thường xuyên nghiên cứu sưu tầm các bài thơ, câu truyện, trò chơi phù hợp để lồng ghép tích hợp vào bài dạy. Cần chuẩn bị đồ dùng đẹp, sinh động hấp dẫn. Cần nghiên cứu làm nhiều đồ dùng đẹp khoa học, dễ sử dụng để thu hút trẻ và nâng cao hiệu quả của giờ học.Trong khi dạy, nếu có đủ đồ dùng đẹp, nhất là đồ dùng đó do trẻ tự làm ra thì tiết học sẽ hấp dẫn hơn. Đó là một yếu tố giúp trẻ hào hứng trong học tập và giáo viên truyền thụ kiến thức cho trẻ có nhiều thuận lợi. Sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy một cách thành thạo và phù hợp. Giờ hoạt động phải biết sử dụng đồ dùng phù hợp, gây hứng thú cho trẻ. Biết chọn bài kết hợp phù hợp theo nội dung bài dạy và sắp xếp bài dạy hợp lý, biết chọn nội dung tích hợp, trình bày, hấp dẫn và phù hợp trẻ. Nắm vững đặc điểm nhận thức của từng cá nhân trẻ để có phương pháp dạy phù hợp. Phát triển khả năng nhận thức về toán cho trẻ và đảm bảo chất lượng giáo dục đồng bộ. Kết hợp trong giờ dạy khéo léo, sinh động hấp dẫn gây hứng thú cho trẻ.Trong quá trình dạy, giáo viên phải quan tâm đến kiến thức cá nhân để có biện pháp bồi dưỡng phù hợp.Phải tạo điều kiện dạy trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Các bài tập chuẩn bị cho giờ hoạt động chung cũng như dạy các kỹ năng về toán cho trẻ.Tạo môi trường, tâm thế thoải mái để trẻ hoạt động môn làm quen với toán. Giáo viên phải có sự tham mưu với nhà trường và phối hợp với các bậc phụ huynh để có đủ đồ dùng phục vụ cho trẻ hoạt động môn làm quen với toán.

    2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu tại cơ sở giáo dục

    2.1.Giới thiệu khái quát về đơn vị đang công tác:

    Trường MN Hoa Hồng nằm tại 63 Ngõ Quỳnh – Phường Thanh Nhàn Quận HBT , được thành lập vào tháng 10 năm 2013, tổng diện tích 1313 m 2. Đa số nhân dân trong phường làm nghề tự do không ổn định có nhiều biến động về con người. Tổng số cán bộ giáo viên hiện nay là 42 người, cụ thể số lượng của 4 năm gần đây

    Trường được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị . Bên cạnh đó, được sự quan tâm của lãnh đạo Phòng giáo dục, nhất là cán bộ phụ trách về chuyên môn phổ biến kịp thời về phương pháp đổi mới chăm sóc giáo dục trẻ.

    Hiện nay, trường gồm có:

    – Tổng số phòng học: 09 phòng

    – Trường có 9 lớp học với tổng số học sinh là 430

    Hiện tại, đội ngũ giáo viên của trường là lực lượng trẻ, tuổi đời từ 23 – 40 nhiều giáo viên trẻ mới ra trường.

    + BGH: 03 (03: Đại học)

    + Giáo viên: 26 (6 ĐH, 4 CĐ, 16 TC )

    + Kế toán: 01 ( ĐH)

    + Nhân viên y tế : 01

    + Bảo vệ lao công: 04

    2.2. Những điểm mạnh, điểm yếu

    – Trường luôn được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận, của Đảng ủy và UBND phường Thanh Nhàn.

    – Cơ sở vật chất được trang bị khang trang, rộng đẹp, đáp ứng được nhu cầu gửi con của phụ huynh.

    – Đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công việc.

    – 100% GV trẻ đều đi học lớp đại học sư phạm và 02 nhân viên nuôi dưỡng hoàn thành xong học lớp cao đẳng

    – Diện tích sân nhỏ hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà trường trong các hoạt động như: Tổ chức ngày hội, ngày lễ; Tổ chức các hoạt động của cô và trẻ như hoạt động ngoài trời.

    – Một số phụ huynh nghề nghiệp tự do, trình độ dân trí thấp nên cũng ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa PH và nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

    – Việc áp dụng CNTT của một số giáo viên mới vào công tác giảng dạy còn hạn chế sử dụng chưa thật hiệu quả.

    3. Những biện pháp thực hiện và phương hướng hoạt động 3.1 Những việc đã làm

    Trước thực trạng đội ngũ giáo viên của trường, trong những năm qua, với vai trò là Phó Hiệu trưởng, bản thân tôi đã cố gắng nỗ lực để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như sau:

    Vào đầu năm học, nhà trường tổ chức chuyên đề, hướng dẫn cho giáo viên của mình thống nhất về phương pháp lên lớp, hướng dẫn và thống nhất làm hồ sơ sổ sách, Xây dựng kế hoạch năm học, tháng tuần; trong đó có kế hoạch tuyên truyền, kế hoạch bảo đảm an toàn tuyệt đối cho trẻ…Xây dựng các tiết mẫu để giáo viên dự giờ rút kinh nghiệm, học tập. Hướng dẫn tổ chức công tác tuyên truyền các bậc cha mẹ nuôi dạy con theo khoa học. xây dựng kế hoạch chơi theo chủ điểm. Thống nhất việc trang trí lớp theo chủ điểm quy định.

    Đối với những giáo viên năng lực chuyên môn còn yếu, giáo viên mới ra trường, mỗi tuần tôi dự giờ một tiết/giáo viên, đưa ra những nhận xét, góp ý, khuyến khích giáo viên phát huy những mặt mạnh, kịp thời điều chỉnh những hạn chế, bên cạnh đó, truyền đạt lại những kinh nghiệm, những kỹ năng lên lớp để giáo viên tham khảo và sẽ dự giờ lại vào tuần sau để xem giáo viên có sự tiến bộ hay không.

    Bản thân tôi là một Phó Hiệu trưởng còn ít kinh nghiệm quản lý, tôi không ngừng học hỏi kinh nghiệm ,tìm tòi, sáng tạo trong làm đồ dùng dạy học.

    Ban Giám hiệu trường rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kỹ năng sư phạm cho giáo viên, áp dụng linh hoạt các biện pháp cũng như hình thức bồi dưỡng để từng bước nâng cao chất lượng cho giáo viên, luôn tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên tiếp cận kiến thức mới, phương pháp mới để tổ chức vận dụng thiết thực vào tổ chức hoạt động cho trẻ.

    Hiệu trưởng nhà trường có kinh nghiệm quản lý tốt, rất nhiệt tình với công việc, có tinh thần trách nhiệm và có thâm niên nghề nghiệp, đã qua lớp bồi dưỡng về công tác quản lý giáo dục, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín với tập thể trong và ngoài nhà trường, có tinh thần dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến tập thể.

    Để việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên có tay nghề chuyên môn vững, chất lượng cao để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục của trường mình, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của cán bộ giáo viên trong những năm qua, trường đưa ra kế hoạch thực hiện một số công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mầm non trong nhà trường qua những biện pháp sau:

    * Biện pháp 1: Bồi dưỡng giáo viên thông qua dự giờ

    Ban Giám hiệu lên kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên thông qua phương thức dự giờ trên lớp, kế hoạch này được công khai trên Hội đồng sư phạm nhà trường.

    Nhà trường sử dụng các hình thức: Kiểm tra định kỳ, kiểm tra toàn diện, kiểm tra chuyên đề…để đánh giá, xếp loại, rút kinh nghiệm, tư vấn cho giáo viên.

    Qua dự giờ các tiết dạy của giáo viên, Ban Giám hiệu xác định mục đích, nội dung dự giờ, thời gian dự giờ, nghiên cứu hồ sơ kiểm tra, đánh giá lần trước để cùng phân tích ưu điểm, nhựợc điểm cần khắc phục trong thời gian tới, đồng thời đề xuất những ý kiến mới, sáng tạo trong quá trình tổ chức các hoạt động để giáo viên có thêm kinh nghiệm thiết kế bài dạy tốt hơn. Thông qua việc phân tích tiết dạy, bồi dưỡng cách thức làm việc cho giáo viên, giáo viên mới ra trường ít kinh nghiệm, đẻ tránh tình trạng giáo viên trẻ thụ động.

    * Biện pháp 2: Bồi dưỡng giáo viên thông qua sinh hoạt Tổ chuyên môn

    Ban giám hiệu chỉ đạo và hướng dẫn các Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch năm học phải dựa trên kế hoạch năm của trường, từ đó cụ thể hóa thành kế hoạch tháng, tuần.

    Kế hoạch tổ chuyên môn phải được Ban Giám hiệu duyệt và trở thành văn bản pháp lý để chỉ đạo hoạt động của tổ, Kế hoạch tổ bao gồm: Chuyên đề trong năm, kiểm tra dự giờ, kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi,…

    Tổ chuyên môn có nhiệm vụ duyệt kế hoạch của giáo viên trước khi trình ban Giám hiệu duyệt

    Quy định thời gian họp tổ: 2lần/tháng:

    – Lần 2: Tổ chức thao giảng, triển khai nội dung các chuyên đề, làm đồ dùng đồ chơi, hướng dẫn lập kế hoạch trong tháng, tuần, ngày.

    * Biện pháp 3: Bồi dưỡng giáo viên thông qua tham quan, học tập kinh nghiệm

    Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm là một trong những biện pháp rất thú vị và thực tế, đem lại hiệu quả cao trong quá trình bồi dưỡng giáo viên. Do đó, hàng năm Hiệu trưởng nhà trường đều xây dựng kế hoạch tham quan học tập trường bạn, lớp đồng nghiệp ngay từ đầu năm.

    * Biện pháp 4: Cử giáo viên đi học các lớp đào tạo ngắn hạn, dài hạn

    Nhà trường khuyến khích và tạo điều kiện để các giáo viên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: hiện tại truờng có 10 giáo viên đang theo học lớp Đại học .

    Trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển, nhà trường đã tạo điều kiện để Cán bộ giáo viên được học vi tính, ngoại ngữ. Cụ thể: Về tin học: 20/24 Cán bộ giáo viên có trình độ B, Về ngoại ngữ: 15/24 trình độ A, Nhờ các biện pháp nêu trên, trong những năm qua đội ngũ giáo viên đã có nhiều chuyển biến tốt về nhận thức, có ý thức trách nhiệm cao, có tinh thần xây dựng tập thể. Đặc biệt là đội ngũ đã thực sự gắn bó với nghề, xem nhà trường, lớp học là tổ ấm đã đóng góp rất lớn trong việc xây dựng trường vững mạnh làm cho phong trào nhà trường ngày càng ổn định về số lượng và chất lượng ngày càng cao.

    – Về trình độ chính trị: Đã có 07 giáo viên được đứng trong hàng ngũ của Đảng, số đảng viên trong trường hiện nay là 10 đồng chí, trực thuộc Đảng Ủy phường Thanh Nhàn – Về trình độ văn hoá: 100% giáo viên có trình độ văn hoá 12/12

    – Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Giáo viên đạt trình độ chuẩn: 24/24, tỷ lệ 100%; trong đó trên chuẩn là 10/24.

    – Đội ngũ giáo viên đã có nhiều chuyển biến tốt trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng phong trào dạy giỏi qua các hội thi rất sôi nổi; 100% giáo viên tham gia hội giảng trường, mạnh dạn đăng ký phấn đấu giáo viên giỏi các cấp.

    – Hằng năm, vào các đợt thi đua như 20/11 ngày nhà giáo Việt nam, và 8/3 nhà trường phát động 100% giáo viên hưởng ứng làm đồ dùng dạy học, đến nay tổng số đồ dùng bền đẹp, phục vụ tốt cho các tiết dạy

    3.2 Phương hướng hoạt động

    Khi thực hiện công việc, yêu cầu người giáo viên phải nắm vững các văn bản, chỉ thị, yêu cầu của ngành, từ đó có hướng xây dựng kế hoạch cho phù hợp.

    Kế hoạch là một chức năng quan trọng của công tác quản lý trường mầm non. Chất lượng của kế hoạch và hiệu quả thực hiện kế hoạch quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình chăm sóc iáo dục trẻ. Trên cơ sở phương hướng nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của trường, Ban Giám hiệu hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch của Tổ chuyên môn và kế hoạch của nhóm, lớp, giúp họ biết xác định mục tiêu, nhiệm vụ đúng đắn, đề ra các biện pháp rõ ràng, hợp lý và các điều kiện để đạt được mục tiêu đề ra

    Chính vì thế, việc triển khai các văn bản, chỉ thị, yêu cầu của ngành đến giáo viên, và việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch đảm bảo chất lượng và có khả năng thực thi là một yêu cầu bắt buộc để góp phần nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên. Vì vậy, tôi dự kiến trong vòng một tháng tới sẽ thực hiện hai việc nêu trên. Cụ thể:

    – Triển khai các văn bản, chỉ thị, yêu cầu của ngành đến giáo viên

    – 100% giáo viên trường nắm rõ các văn bản, chỉ thị của ngành

    – Tổ chức cuộc họp triển khai và phát tài liệu để giáo viên nghiên cứu thêm

    – Giáo viên không có thời gian để nghiên cứu các văn bản, chỉ thị

    – Giao nhiệm vụ cho Tổ, khối triển khai thêm trong các cuộc họp tổ.

    – Hướng dẫn giáo viên, Tổ khối làm kế hoạch, giúp giáo viên nắm chắc nội dung phân phối chương trình

    – 100% giáo viên biết cách làm kế hoạch và nắm chắc được nội dung chương trình

    – Dựa trên cơ sở, phương hướng, nhiệm vụ năm học của ngành, Xây dựng kế hoạch mẫu, hướng dẫn cách thức thực hiện.

    – Một số giáo viên thực hiện kế hoạch sơ sài, chủ yếu là để đối phó, lập kế hoạch chứ không thực hiện theo kế hoạch

    – kiểm tra đột xuất giờ dạy của giáo viên, kiểm tra việc thực hiện chương trình, phát động thi đua để khuyến khích sự tích cực chủ động của giáo viên

    3.3. Kế hoạch thực hiện phương hướng trên từ nay đến cuối năm học 2021 -2017

    Để trở thành giáo viên giỏi, để có được bản lĩnh đứng lớp, nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân, thì khâu soạn bài, chuẩn bị bài truớc khi lên lớp là điều vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, việc thực hiện đầy đủ hồ sơ chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học cũng là những lĩnh vực quan trọng để đánh giá năng lực sư phạm của giáo viên. Để nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên nhằm đẩy mạnh hiệu quả trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, chỉ đạo thực hiện chương trình là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý chuyên môn của Ban Giám hiệu nhằm giúp giáo viên thực hiện có hiệu quả, sáng tạo trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường. Vì vậy, tôi dự kiến trong vòng 3 tháng tới sẽ thực hiện những công việc như sau:

    Hướng dẫn xây dựng các hồ sơ chuyên môn của giáo viên

    – Giáo viên có đầy đủ các loại hồ sơ chuyên môn, thực hiện đúng theo quy định, sử dụng có hiệu quả

    – Ban Giám hiệu và Khối trưởng

    – Dựa trên quy chế chuyên môn của ngành, hướng dẫn thực hiện các loại hồ sơ chuyên môn của Sở, phòng.

    – Một số giáo viên sao chép hồ sơ của đồng nghiệp, không quan tâm xây dựng hồ sơ đúng theo tình hình thực tế của trường, của lớp mình.

    – BGH thống nhất và quy định nội dung, cách xây dựng các loại hồ sơ, thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nội quy, quy chế chuyên môn của giáo viên.

    Các hoạt động dự kiến thực hiện trong vòng 1 năm sau tập huấn

    Qua học tập các chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý mầm non, bản thân tôi học được rất nhiều điều bổ ích làm hành trang cho mình trên con đường sự nghiệp giáo dục sau này. Tôi sẽ cố gắng làm thật tốt nhiệm vụ của người cán bộ quản lý trường mầm non và luôn suy nghĩ: làm thế nào để đơn vị mình phát triển hơn nữa, chất lượng giáo dục cao hơn nữa. Muốn thế trước hết phải có đội ngũ mạnh.

    Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trò quyết định trong việc chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm non vì vậy bất kỳ người quản lý nào không thể bỏ qua việc bồi dưỡng lực lượng cán bộ giáo viên. Mục tiêu của công tác bồi dưỡng là nhằm hoàn thiện quá trình đào tạo, khắc phục những thiếu sót lệch lạc trong công tác giảng dạy, về quan điểm, nội dung phương pháp giáo dục đồng thời theo kịp những yêu cầu của xã hội. Để phục vụ cho nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có phẩm chất, trình độ, năng lực đề cao lương tâm và nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái tận tuỵ thương yêu trẻ, thể hiện ở tinh thần tự học, tự bồi dưỡng cải tiến nội dung phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ.

    Từ những nhận thức nêu trên, tôi đề ra kế hoạch dự kiến thực hiện những công việc sau đây trong vòng một năm sau tập huấn:

    – Nâng cao nhận thức của giáo viên về nâng cao năng lực sư phạm .

    – Dựa vào các văn bản pháp quy của Đảng, ngành, trường

    – Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong nhà trường.

    – Tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất và tinh thần cho giáo viên trong các hoạt động.

    – Thực trạng đội ngũ giáo viên mới ra trường thiếu kinh nghiệm, khả năng sư phạm còn yếu.

    – Tiến hành quán triệt đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhà nước về công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Cung cấp các thông tin về đổi mới giáo dục mầm non

    – Xây dựng phong trào thi đua học tập trong nhà trường để động viên giáo viên quyết tâm học tập, tạo điều kiện khuyến khích tinh thần giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong học tập

    – Tạo điều kiện làm việc thoải mái cho giáo viên, giúp họ về vật chất và thời gian để yên tâm khi tham gia các lớp học.

    – Trao quyền và nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu cao tinh thần tôn trọng và học hỏi, tạo động lực làm việc

    1. Kết luận

    Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo. Việc nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên có ý nghĩa quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên. Giáo viên là nguồn lực chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường.

    Chính vì vậy công tác nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non luôn được quan tâm đúng mức để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay. Làm tốt công tác nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên, chắc chắn đội ngũ giáo viên sẽ có một trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, tự tin hơn trong công việc của mình.

    2. Khuyến nghị

    Quan tâm hơn nữa về cơ sở vật chất, đặc biệt là đồ dùng đồ chơi theo thông tư 02 của Bộ giáo dục, các thiết bị văn phòng, xây dựng nhà lớp học và các phòng chức năng.

    Tiếp tục phát triển, tạo điều kiện cho BGH và giáo viên ở các trường mầm non học tập, nâng cao trình độ quản lý và trình độ chuyên môn.

    Tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng cho BGH về việc quản lý hoạt động vui chơi theo chương trình đổi mới.

    Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về các biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo chương trình đổi mới hiện nay.

    Cần quan tâm phối hợp chặt chẽ với nhà trường, giáo viên để thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

    * Đối với giáo viên:

    Tiếp tục thực hiện tốt các chuyên đề giáo dục, trong giảng dạy thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, sáng tạo cho trẻ. Thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.Tích cực tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn.

    Xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2021 Nguyễn Thị Thu Hằng

    1. Trích: Nghị quyết Trung Ương 4 (Khóa VII)

    Nghị quyết trung ương 2 (Khóa VIII)

    Nghị quyết trung ương 6 (Khóa IX)

    2. Chỉ thị chúng tôi ngày 15 tháng 6 năm 2006

    3. Chuyên đề: “Quản lý nhân sự trong trường mần non”

    4. Chuyên đề: “Lập kế hoạch phát triển trường mầm non”

    5. Một số bài tiểu luận của anh chị khóa trước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đảm Bảo Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện, Phòng Chống Bạo Lực Học Đường
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện; Phòng, Chống Bạo Lực Học Đường
  • Giải Pháp Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề “xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện
  • Tìm Giải Pháp Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Trong Trường Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Vài Biện Pháp Giúp Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Cho Trẻ Hoạt Động Ở Trường Mầm Non Đông Hồ Thị Xã Hà Tiên
  • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Trong Và Ngoài Lớp Học
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ 24
  • Tìm Giải Pháp Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề “xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện
  • do các cô giáo tự tay trồng. Khu thể chất với những đồ dùng, đồ chơi như cầu trượt, đu quay, xích đu, ống chui...Ngoài những dụng cụ thể chất được cấp trên quan tâm đầu tư, các cô giáo còn tự thiết kế những đồ dùng thể chất từ những nguyên liệu cũ như đu quay bằng lớp xe, bò chui dưới lốp xe, và thang leo dây thừng, con đường trải nghiệm trên sỏi, trên cát, đảm bảo các cháu vui chơi được an toàn. Ảnh: Hoạt động chơi thể chất - Khu vui chơi với cát và nước: Các bé được thỏa sức sáng tạo: vẽ trên cát, đong cát, xúc cát ...Những vật nào chìm, vật nào nổi trong nước. Ảnh: Hoạt động chơi với cát và nước - Không gian sáng tạo: Không gian sáng tạo của bé, các bé được thỏa sức sáng tạo với những hộp bìa cát tông, những viên đá cuội, rồi làm thí nghiệm với nước và màu, rồi chơi với kính hiển vi... Ảnh: Cô và trò hoạt động trong không gian sáng tạo. - Trẻ mầm non "Học bằng chơi, chơi mà học", việc học và việc dạy không tự nó diễn ra mà giáo viên cần tạo ra các điều kiện để thực hiện. Môi trường giáo dục được thiết kế tốt là điều kiện hỗ trợ hiệu quả nhất cho giáo viên và trẻ thực hiện hoạt động dạy và hoạt động học ở trường mầm non, cho phép trẻ tham gia một cách tích cực. Với diện tích đất của trường rộng tôi đã tham mưu với ban giám hiệu và cùng với các chị em giáo viên, nhân viên tạo cho các bé có vườn hoa; vườn rau; Vườn cây ăn quả; Khu chăn nuôi các con vật. - Với khu vườn hoa của bé: Nhà trường quy hoạch vườn hoa với các loại hoa gần gũi. Với vườn hoa cô giáo có thể cùng trẻ trò chuyện, quan sát, trao đổi về đặc điểm của các loại hoa. Ảnh giờ hoạt động ngoài trời của các bé lớp nhà trẻ, các bé cùng cô giáo xay xưa quan sát và trò chuyện về những bông hoa đồng tiên nhiều màu sắc. Ảnh cô và các bé lớp 3 tuổi khám phá hoa ngũ sắc lung linh sắc màu. - Ở mỗi lớp học giáo viên cùng trẻ còn thiết kế góc thiên nhiên sinh động, ở đây trẻ được chăm sóc, tưới nước cho hoa, nhổ cỏ cho cây và đặc biệt không bao giờ bé bẻ cành hái hoa. Ảnh cô và trò góc thiên nhiên - Khu vườn rau của bé: Rau xanh không thể thiếu trong bữa ăn hàng của mỗi chúng ta, rau xanh cung cấp nhiều Vitamin và muối khoáng cho cơ thể bé nhanh lớn. Để đảm bảo cho bé có rau sạch trong bữa ăn hàng ngày tại trường, các cô, các bác trong nhà trường đã giành ra một quỹ đất để trồng một vườn rau. Ở vườn rau các bé còn được học tập, tìm hiểu và trải nghiệm cách trồng rau, chăm sóc rau và thu hoạch rau. Ảnh cô và trò quan sát vườn rau, trải nghiệm cách trồng rau và thu hoạch rau. - Vườn cây của bé: Đến với vườn cây của bé tại trường Mầm Non bé được quan sát, theo dõi sự phát triển của cây, theo dõi cây ra hoa, đậu quả, đến khi quả chín. Ảnh cô và trò quan sát vườn cây của bé - Khu chăn nuôi của bé: Tôi tận dụng một góc nhỏ của trường cùng các chị em giáo viên thiết kế khu chăn nuôi của bé với những con vật gần gũi rễ thương: như thỏ, mèo, gà tre, chim câu ... Các bé được cùng cô giáo quan sát, trao đổi về đặc điểm của từng con vật, và được trải nghiệm cho các con vật ăn . Ảnh cô và trò quan sát các con vật ở khu chăn nuôi. - Góc địa phương: Trường tôi các bé học tại trường chủ yếu là dân tộc kinh và dân tộc mường. Ba mẹ các bé chủ yếu làm nghề nông. Song do khoa học kỹ thuật phát triển nghề nông cày bừa thủ công được thay bằng cày máy, các dụng cụ lao động lao động cũng được thay thế. Những trang phục và nhạc cụ của người dân tộc cần được giữ gìn để duy trì bản sắc của dân tộc. Hiểu được điều đó tôi cùng các cô giáo đã tận dụng một không gian nhỏ để làm góc địa phương. Nơi đây các cô giáo sưu tầm những dụng cụ lao động, những sản phẩm của địa phương, trang phục và nhạc cụ của dân tộc. Các bé được tha hồ thăm quan, trải nghiệm. Các bạn dân tộc kinh được mặc trang phục của dân tộc mường, được cùng cô giáo đánh cồng, đánh chiêng, đó là nhạc cụ đặc trưng của dân tộc mường. Ảnh cô và trò hoạt động góc địa phương. 4.5: Biện pháp 5: Xây dựng môi trường xã hội: Đây là môi trường trường trong nhà trường, gia đình và xã hội - Cần quan tâm đến sự giao tiếp của cô với cô, cô với trẻ, trẻ với trẻ, cô với phụ huynh - Cần xây dựng môi trường giao tiếp chân tình, cở mở - Lắng nghe ý kiến của trẻ, tôn trọng trẻ. - Giáo viên, người lớn cần là tấm gương cho trẻ học tập và làm theo. - Môi trường giao tiếp cởi mở, thân thiện giữa cô với trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với môi trường xung quanh sẽ tạo cơ hội cho trẻ được chia sẻ, giãi bày tâm sự, nguyện vọng, mong ước của trẻ với cô, với bạn bè, nhờ vậy mà cô hiểu trẻ hơn, trẻ hiểu nhau hơn, hoạt động phối hợp nhịp nhàng hơn nên hiệu quả hoạt động cũng cao hơn, trẻ yêu trường, yêu lớp, yêu cô giáo và bạn bè hơn. 4.6: Biện pháp 6: Chỉ đạo lớp điểm về xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Bản thân tôi tham mưu với ban giám hiệu xây dựng 4 nhóm, lớp điểm: Điểm toàn diện về xây môi trường trong lớp và môi trường ngoài lớp học, điểm về môi trường xã hội. Các lớp điểm: Lớp Nhà trẻ 24 -36 tháng tuổi D1. Lớp mẫu giáo 3 tuổi C1. Lớp mẫu giáo 4 tuổi B3 và lớp mẫu giáo 5 tuổi A5. Mỗi độ tuổi chúng tôi chỉ đạo một lớp điểm. - Mỗi lớp xây dựng kế hoạch " Xây dựng môi trường lớp học Mần Non lấy trẻ làm trung tâm" phù hợp với điều kiện, tình hình trẻ của lớp mình theo các lĩnh vực hoạt động. Với sự chỉ đạo lớp điểm về xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, nhà trường đã tổ chức hop, rút kinh nghiệm khi xây dựng môi trường, thiết kế các hoạt động cho trẻ học tập, trải nghiệm. Nhà trường đã tổ chức thành công chuyên đề về xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tới 100% cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán các trường mầm non trong huyện dưới sự chỉ đạo của Phòng giáo dục đào tạo. Đó cũng là một thành công lớn về công tác chuyên môn, từ bốn nhóm lớp điểm nhà trường đã triển khai nhân rộng tới 100% các nhóm lớp trong toàn trường. Chỉ đạo lớp điểm là đòn bẩy của phong trào, là cơ sở để nâng cao năng lực chuyện môn và chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ. Qua chỉ đạo điểm, giáo viên đã học tập thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn. Chất lượng về xây dựng môi trường giáo dục trẻ được nâng lên. - Để phát huy tốt vai trò của lớp điểm mỗi tháng nhà trường tổ chức ít nhất một lần kiến tập, sinh hoạt chuyên môn tại lớp điểm về chuyên đề xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, sau đó lại được nhân rộng tới 100% các nhóm, lớp. Ảnh: Tổ chức các hoạt động tại các lớp điểm cuả trường 4.7. Biện pháp 7: Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá và tuyên dương khen thưởng kịp thời : Kiểm tra là một việc làm thường xuyên, kiểm tra bằng nhiều hình thức, kiểm tra toàn diện, chuyên đề, kiểm tra theo định kỳ, kiểm tra đột xuất. Kiểm tra toàn diện được100% giáo viên; Kiểm tra chuyên đề mỗi giáo viên kiểm tra 2 lần/năm. Việc kiểm tra đột xuất một số nội dung: Kiểm tra việc thực hiện chương trình, việc xây dựng môi trường học tập, kiểm tra hồ sơ, giáo án, kiểm tra thực hiện chế độ sinh hoạt, kiểm tra việc đánh giá chất lượng. Kiểm tra kỹ năng của trẻ qua các hoạt động giao tiếp trực tiếp với trẻ. Qua kiểm tra để đánh giá chất lượng chuyên môn, đánh giá mức độ nhận thức của trẻ, thông qua đó cũng là để đánh giá việc xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, để kịp thời giúp đỡ giáo viên trong công tác chuyên môn. Từ đó có biện pháp chỉ đạo cụ thể giúp cho giáo viên ôn luyện kiến thức, xây dựng kế hoạch bối dưỡng giúp chất lượng giáo dục trẻ tốt hơn. Song song với kiểm tra đánh giá là phát động các cuộc thi đua khuyến khích 100% giáo viên tham gia như: Phát động thi giảng chào mừng ngày nhà giáo Việt nam 20/11 là 100% giáo viên tham gia hưởng ứng, thi giáo viên dạy giỏi cấp trường và cấp huyện, kết quả có 14 đồng chí giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, có 3 đồng chí giáo viên tham gia hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện đạt 1 giải nhì và đạt 1 giải ba và 1 giải khuyến khích chuyên đề toán và khám phá khoa học thuộc lĩnh vực nhận thức. Đặc biệt phong trào tự làm đồ dùng dạy học, đồ chơi sáng tạo; Thi xây dựng môi trường học tập lấy trẻ làm trung tâm 100% các nhóm lớp tham gia, kết quả 16/16 lớp xếp loại A cấp trường; Nhà trường tham dự thi xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm đạt giải xuất sắc cấp huyện và đạt giải ba cấp Thành phố. Đối với trẻ, đồ chơi là công cụ quan trọng không thể thiếu được. Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ đối với việc "Học mà chơi, chơi mà học" giúp cho trẻ nắm được những kiến thức cơ bản, ôn luyện củng cố kiến thúc cho trẻ qua hoạt động vui chơi. Vì vậy, việc và phát động phong trào tự làm đồ dùng, đồ chơi, xây dựng môi trường lớp học là một việc làm thường xuyên và tổ chức thành hội thi để khích lệ cho giáo viên làm nhiều thêm những đồ dùng, đồ chơi sáng tạo. Do đó, số lượng đồ chơi, đồ dùng đã được tăng lên, môi trường lớp học phù hợp kích thích tính tò mò, khám phá của trẻ.. Ảnh: Chấm thi trang tri lớp và đồ dùng, đồ chơi tự tạo và môi trường lớp học 4.8.Biện pháp 8: Tăng cường xây dựng điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng, đồ chơi xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Để việc xây dựng môi trường giáo dục trẻ được tốt thì điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó là môi trường vật chất và là điều kiện trong việc xây dựng môi trường giáo dục trẻ. Đối với trường tôi là một trường mầm non được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang bị đồ dùng đồ chơi theo tiêu trí trường chuẩn quốc gia là khá đầy đủ. Song để đảm bảo cho việc xây dựng môi trường học tập tốt và tận dụng tối đa nguồn cơ sở vật chất hiện có. Ngay đầu năm học nhà trường đã xây dựng quy chế sử dụng cơ sở vật chất, tài sản, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học trong toàn trường. 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đều phải ký cam kết thực hiện quy chế. Chỉ đạo giáo viên sử dụng và xắp xếp đồ dùng, đồ chơi trang thiết bị hiện có làm sao cho đảm bảo thẩm mỹ, khoa học, đảm bảo cho cô và trẻ sử dụng an toàn, phát huy được tính tích cực của trẻ. Song song với đồ dùng, đồ chơi có sẵn, yêu cầu giáo viên tận dụng các nguyên vật liệu có sẵn tại địa phương hay những phế liệu bỏ để cô cùng trẻ làm đồ dùng, đồ chơi dạy học và trang trí môi trường lớp học. Quy hoạch các khu vực trong nhà trường theo hướng tận dụng các không gian để cho trẻ hoạt động phù hợp, linh hoạt, đa dạng, phong phú, các góc hoạt động trong lớp mang tính mở, tạo cơ hội cho trẻ được bộc lộ hết khả năng của riêng mình. Ảnh cơ sở vật chất, đồ dùng, đồ chơi của trường. 4.9. Biện pháp 9: Phối kết hợp với gia đình, cộng đồng trong việc xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Đối với cấp học nào cũng vậy phải có sự chung tay của gia đình, nhà trường và xã hội thì chất lượng giáo dục mới kết qủa toàn diện được. Đặc biệt với lứa tuổi trẻ mầm non là độ tuổi từ 0 - 6 tuổi cần được chăm sóc và giáo dục một cách toàn diện nhất, và cũng là quãng thời gian để phát triển và hoàn thiện nhân cách tốt nhất cho trẻ. Do đó việc xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ đòi hỏi có sự chung tay của cả xã hội. Nhận thức được vấn đề đó tôi chủ động tham mưu với ban giám hiệu nhà trường xây dựng các nội dung để tuyên truyền với gia đình trẻ, tuyên truyền với cộng đồng xã hôi. - Những nội dung tuyên truyền: + Tuyên truyền về xây dựng và bảo vệ cơ sở vật chất, môi trường trong lớp và ngoài lớp học. + Tuyên truyền phổ biến về mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết của việc thực hiện "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm" + Sự phát triển toàn diện của trẻ ở lứa tuổi mầm non. + Sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, sự an toàn cho trẻ mọi lúc, mọi nơi. - Sự hỗ trợ của các bậc cha mẹ về xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm - Hình thức tuyên truyền: . + Tuyên truyền qua những buổi họp phụ huynh của trường, của lớp , qua các phương tiện thông tin đại chúng; bảng tuyên truyền của trường, nhóm lớp; tuyên truyền qua các giờ đón và trả trẻ, qua các ngày lễ hội, hội thi trong năm học 100% các bậc phụ huynh đóng góp các khoản thu nộp theo thỏa thuận về mua xắm thêm đồ dùng bán trú, mua xắm đồ dùng, đồ chơi theo thông tư 02 Phụ huynh đã có nhận thức sâu sắc hơn về giáo dục mầm non và đặc biệt là việc xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Ảnh: Đơn vị bộ đội và chi đoàn thanh niên hỗ trợ trồng cây tại trường 5. Kết quả so sánh có đối chứng sau khi thực hiện đề tài. Sau một năm thực hiện đề tài và sơ kết 02 năm thực hiện chuyên đề xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, nhà trường đã đạt được thành tích: Thi xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm đạt giải ba cấp Thành phố. * Về môi trường giáo dục trong và ngoài lớp. Môi trường bên trong và bên ngoài nhóm lớp được đầu tư, bố trí, khai thác sử dụng có hiệu quả. Đặc biệt sự sáng tạo của cán bộ quản lý, GV mầm non trong việc thiết kế môi trường giáo dục từ các nguyên vật liệu sẵn có của địa phương. Trẻ có nhiều cơ hội học tập Số lớp học là 16 nhóm, lớp. STT Nội dung khảo sát Đầu năm Cuối năm Số lớp % Số lớp % 1 Môi trường trong lớp học trang trí tạo được góc mở cho trẻ hoạt động. 12/16 75% 16/16 100 2 Môi trường lớp học trang trí chưa tạo được góc mở cho trẻ hoạt động. 4/16 25% 0/16 0 3 Khai thác và tận dụng môi trường ngoài lớp học. 11/16 70% 16/16 100 * Víi trÎ: Trẻ hồn nhiên mạnh dạn trong mọi hoạt động, hứng thú, tham gia tích cực vào các hoạt động, phát huy được tính tích cực, mở rộng được sự hiểu biết trong các hoạt động chung, giờ hoạt động góc, trẻ biết thể hiện ý kiến, ý định của mình với cô giáo và các bạn trong từng hành động, lời nói, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, trí tưởng tượng trong từng sản phẩm Trẻ sẽ tích cực, chủ động tham gia các hoạt động, làm việc theo nhóm để được trải nghiệm, trao đổi, chia sẻ và trình bày ý kiến của mình; biết suy nghĩ và vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống, giải quyết các tình huống mà trẻ gặp phải Từ đó, trẻ mạnh dạn, tự tin, tích cực, chủ động, tư duy, sáng tạo, thích thú tìm tòi, khám phá trong quá trình tham gia các hoạt động giáo dục ở trường, ở lớp - KÕt qu¶ kh¶o s¸t cho thÊy: STT Trẻ có kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng hứng thú khi hoạt động trong môi trường giáo dục. Đầu năm Cuối năm Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % 1 Loại tốt 140/555 25,2 311/555 56 2 Loại khá 203/555 36,5 210/555 37,8 3 Loại TB 150/555 27 34/555 6,2 4 Loại yếu 66/555 11,8 0/555 0 * Đội ngũ giáo viên: Tổng số nhà trường có 37 giáo viên: Giáo viên có khả năng tự thiết kế môi trường giáo dục trẻ thao quan điểm xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Lập kế hoạch giảng dạy để dạy trẻ đạt kết quả tốt nhất. Căn cứ vào khả năng, nhu cầu học tập, kinh nghiệm sống của trẻ để xác định mục tiêu, nội dung cụ thể trong từng hoạt động và đảm bảo tốt mục tiêu giáo dục đề ra. - Nắm vững phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, tự tin khi thực hiện các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ, linh hoạt, sáng tạo trong xây dựng và thực hiện kế hoạch. STT Nội dung khảo sát Đầu năm Cuối năm Số giáo viên % Số giáo viên % 1 Giáo viên có kiến thức và kỹ năng xây dựng môi trường giáo dục tốt 12/37 32,4% 32/37 86,4% 2 Giáo viên có kiến thức và kỹ năng xây dựng môi trường giáo dục khá 15/37 40,5% 5/37 13,5% 3 Giáo viên có kiến thức và kỹ năng xây dựng môi trường giáo dục trung bình 10/37 27% 0/37 0% 4 Tổ chức và hướng dẫn trẻ khai thác và sử dụng môi trường giáo dục có hiệu quả. 15/37 40.5% 37/37 100% 5 Giáo viên biết tận dụng và xây dựng môi trường ngoài lớp học để trẻ tìm tòi, khám phá và trẻ nghiệm. 15/37 40.5% 37/37 100% * Đèi víi phô huynh. - Các bậc phụ huynh có nhận thức sâu sắc về chương trình giáo dục mầm non, nhân thức được việc xây dựng môi giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là vô cùng quan trọng, luôn có sự phối hợp với giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận: Việc xây dựng môi giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong trường Mầm Non là vô cùng quan trọng, tạo cơ hội cho trẻ được tự lựa chọn hoạt động phù hợp. - Khuyến khích trẻ tham gia tích cực tạo cơ hội cho trẻ bộc lộ khả năng, qua đó cung cấp kiến thức, kỹ năng cho trẻ. - Thúc đẩy sự phát triển nhận thức. - Thúc đẩy sự phát triển vận động. - Thúc đẩy sự phát triển tình cảm, xúc cảm. - Thúc đẩy sự phát triển giao tiếp xã hội. - Thúc đẩy sự phát triển tính tự lực. - Thúc đẩy sự hình thành thói quen, hành vi tốt, thông qua đó, nhân cách trẻ được hình thành và phát triển toàn diện. 2. Hiệu quả thiết thực của sáng kiến kinh nghiệm. Sau một năm nghiên cứu và ứng dụng bản sáng kiến: "Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm" đã mang lại hiệu quả rất lớn trong việc dạy và học: Trẻ tích cực hoạt động, tự khám phá bằng các giác quan, chú trọng đến giáo dục cá nhân, kết hợp giáo dục trong nhóm giữa hoạt động chung và hoạt động góc, tăng cường giao tiếp giữa cô và trẻ. Giáo viên linh hoạt, sáng tạo không bị gò bó khi xây dựng môi trường học tập cho trẻ, trường lớp khang trang, môi trường xanh- sạch- đẹp, giáo viên có thể sử dụng tối đa nguồn nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương, để làm phong phú các hoạt động của trẻ, trẻ ham học nghiên cứu tìm tòi khám phá giao tiếp ngôn ngữ tình cảm. Đối với giáo viên biết cách sắp xếp môi trường học tập phù hợp, chất lượng chuyên môn của giáo viên được nâng lên rõ rệt, môi trường lớp học phong phú phù hợp với trẻ, trẻ tích cực chủ động sáng tạo giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. 3. Khuyến nghị. * Với Phòng giáo dục: Tổ chức các tập huấn chuyên môn, buổi bồi dưỡng chuyên môn, hội thảo vÒ " Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm", Phương pháp giảng dạy: "Lấy trẻ làm trung tâm". Hay "Xây dựng trường mầm lấy trẻ làm trung tâm". * Đối với nhà trường: - Tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ để tạo điều kiện giúp giáo viên theo học các lớp đào tạo trình độ trên chuẩn. Cung cấp đầy đủ đồ dùng dụng cụ trong lớp học. * Với tổ chuyên môn: Giáo viên trong tổ thường xuyên trao đổi những kinh nghiệm về xây dựng môi trường lớp học, công tác chăm sóc, giáo dục trẻ để rút ra kinh nghiệm. Tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng sư phạm. Tích cực tham gia các phong trào thi đua của ngành của trường phát động Tôi xin chân thành cảm ơn! Tôi xin cam đoan sáng kiến trên do tôi tự làm không sao chép của ai. Người viết Đặng Thị Phượng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Tích Cực “xây Dựng Trường Học Thân Thiện
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Phong Trào Thi Đua “xây Dựng Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Số 1 Xã Mường Than
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực Tại Lớp 5 Tuổi A
  • Food Marketing: 6 Cách Thức Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả
  • Tin tức online tv