Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Ở Lớp 9A3, Trường Thcs Lạc Hòa

--- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Giảm Ô Nhiễm Tiếng Ồn
  • Luận Văn: Nạn Nhân Của Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Tại Tphcm
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Biện Pháp, Kéo Giảm Phạm Pháp Hình Sự
  • 4 Cách Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • 7 Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả Nhất Hiện Nay Ở Việt Nam
  • 2.5, Phát huy vai trò của BCS lớp 14

    2.6, Phương pháp giáo dục cá biệt và phương pháp tác động tập thể 17

    KẾT THÚC VẤN ĐỀ

    1. Kết quả 20

    1.1, Duy trì sĩ số: 20

    1. 2, Chất lượng hai mặt giáo dục ở HK I 20

    1.3, Thi đua hàng tuần giữa các lớp trong trường: 21

    1.4, Tham gia phong trào: 21

    2. Bài học kinh nghiệm 22

    3. Kiến nghị 22

    4. Lời kết 23

    Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Dũng Trang 1

    Trường THCS Lạc Hòa Sáng kiến kinh nghiệm

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình

    giáo dục học sinh. Chính vì vậy, muốn làm tốt công tác chủ nhiệm, trước hết

    người GVCN cần nắm vững chức năng, nhiệm vụ và nội dung của công tác

    chủ nhiệm.

    1, Nhiệm vụ, chức năng và nội dung của người giáo viên chủ

    nhiệm.

    a, Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp.

    Giáo viên chủ nhiệm lớp trước hết phải quản lí toàn diện lớp học và cần

    nắm vững: hoàn cảnh và những thay đổi, những tác động của gia đình đến học

    sinh của lớp chủ nhiệm; quản lí toàn diện đặc điểm học sinh của lớp. Nắm

    vững mục tiêu đào tạo cả về mặt nhân cách và kết quả học tập của học sinh, …

    để kết hợp giáo dục.

    Giáo viên chủ nhiệm lớp phải thực hiện tốt nhiệm vụ của một thầy cô giáo

    nói chung, mẫu mục về đạo đức, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật

    và những quy định của nhà nước; nắm vững đường lối, quan điểm giáo dục và

    vận dụng sáng tạo vào thực tiễn dạy học. Người giáo viên pải tham gia các

    hoạt động chính trị – xã hội với tư cách là lực lượng tri thức trong công cuộc

    đổi mới, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Giáo viên chủ nhiệm còn có trách nhiệm nắm vững tình hình học sinh của

    lớp về mọi mặt, báo cáo cho hiệu trưởng và BGH kịp thời các vấn đề của lớp

    chủ nhiệm để giải quyết. Kịp thời kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan

    quá trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của học sinh.

    Có kế hoạch tổ chức hoạt động của tập thể học sinh thực hiện nhiệm vụ

    chung của nhà trường cùng với các tập thể lớp khác làm chủ lớp chủ nhiệm trở

    thành thành viên tích cực của cộng đồng trường học. Thông qua tổ chức hoạt

    Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Dũng Trang 2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Ở Lớp 9A3
  • Một Số Kinh Nghiệm Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 2
  • Những Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Trong Hoạt Động Kinh Doanh Thẻ Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Luận Văn Rủi Ro Lãi Suất Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng
  • Hãy Nêu Một Số Biện Pháp Phòng Chống Thiên Tai Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Biện Pháp Giúp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Ở Lớp 9A3

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Ở Lớp 9A3, Trường Thcs Lạc Hòa
  • Biện Pháp Giảm Ô Nhiễm Tiếng Ồn
  • Luận Văn: Nạn Nhân Của Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Tại Tphcm
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Biện Pháp, Kéo Giảm Phạm Pháp Hình Sự
  • 4 Cách Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • ĐẶT VẤN ĐỀ

    1, Chức năng, nhiệm vụ và nội dung của người giáo viên chủ nhiệm……….. 2

    a, Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp.

    b, Nội dung công tác của người giáo viên chủ nhiệm.

    2, Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………….. 4

    3, Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………………………. 4

    GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    1, Đặc điểm tình hình lớp 9A3……………………………………………………………… 5

    1.1, Thuận lợi.

    2.2, Khó khăn.

    1.3, Kết quả chất lượng hai mặt giáo dục ở năm học 2007 – 2008:

    2, Biện pháp thực hiện – cách làm mới: ………………………………………………… 6

    2.1, Nhận lớp chủ nhiệm……………………………………………………………………. 6

    2.2, Bầu ban cán sự (BCS) lớp – chia tổ………………………………………………. 7

    a, Cơ sở chọn BCS lớp – chia tổ.

    b, Tiến hành bầu BCS lớp.

    c, Phân công nhiệm vụ cho BCS lớp.

    2.3, Lập sơ đồ lớp học……………………………………………………………… 10

    2.4, Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp loại học lực học sinh……………………. 12

    2.5, Phát huy vai trò của BCS lớp……………………………………………… 14

    2.6, Phương pháp giáo dục cá biệt và phương pháp tác động tập thể……… 17

    KẾT THÚC VẤN ĐỀ

    1. Kết quả ………………………………………………………………………………………… 20

    1.1, Duy trì sĩ số:……………………………………………………………………………… 20

    1. 2, Chất lượng hai mặt giáo dục ở HK I……………………………………………. 20

    1.3, Thi đua hàng tuần giữa các lớp trong trường: ……………………………….. 21

    1.4, Tham gia phong trào:………………………………………………………………….. 21

    2. Bài học kinh nghiệm ……………………………………………………………………… 22

    3. Kiến nghị……………………………………………………………………………………… 22

    4. Lời kết …………………………………………………………………………………………. 23

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục học sinh. Chính vì vậy, muốn làm tốt công tác chủ nhiệm, trước hết người GVCN cần nắm vững chức năng, nhiệm vụ và nội dung của công tác chủ nhiệm.

    1, Nhiệm vụ, chức năng và nội dung của người giáo viên chủ nhiệm.

    a, Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp.

    Giáo viên chủ nhiệm lớp trước hết phải quản lí toàn diện lớp học và cần nắm vững: hoàn cảnh và những thay đổi, những tác động của gia đình đến học sinh của lớp chủ nhiệm; quản lí toàn diện đặc điểm học sinh của lớp. Nắm vững mục tiêu đào tạo cả về mặt nhân cách và kết quả học tập của học sinh, để kết hợp giáo dục.

    Giáo viên chủ nhiệm lớp phải thực hiện tốt nhiệm vụ của một thầy cô giáo nói chung, mẫu mục về đạo đức, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật và những quy định của nhà nước; nắm vững đường lối, quan điểm giáo dục và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn dạy học. Người giáo viên pải tham gia các hoạt động chính trị – xã hội với tư cách là lực lượng tri thức trong công cuộc đổi mới, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Giáo viên chủ nhiệm còn có trách nhiệm nắm vững tình hình học sinh của lớp về mọi mặt, báo cáo cho hiệu trưởng và BGH kịp thời các vấn đề của lớp chủ nhiệm để giải quyết. Kịp thời kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan quá trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của học sinh.

    Có kế hoạch tổ chức hoạt động của tập thể học sinh thực hiện nhiệm vụ chung của nhà trường cùng với các tập thể lớp khác làm chủ lớp chủ nhiệm trở thành thành viên tích cực của cộng đồng trường học. Thông qua tổ chức hoạt động tự quản của tập thể mà rèn luyện nhân cách, khả năng ứng xử, năng lực sáng tạo, khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn cuộc sống.

    Giáo viên chủ nhiệm cùng giáo viên bộ môn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể khác tổ chức cho học sinh có điều kiện tham gia vào các hoạt động của nhà trường, xã hội,

    Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa BGH, các tổ chức trong trường, các giáo viên bộ môn với tập thể học sinh lớp chủ nhiệm. Nói cách khác, giáo viên chủ nhiệm là người đại diện cho hai phía, một mặt đại diện cho các lực lượng giáo dục của nhà trường, mặt khác đại diện cho tập thể học sinh . Với tư cách là người đại diện cho lớp chủ nhiệm, GVCN có trách nhiệm bảo vệ, bênh vực những quyền lợi chính đáng cho học sinh của lớp.

    GVCN là cố vấn tổ chức hoạt động tự quản của tập thể học sinh

    Học sinh lớp 9 là những em ở lứa tuổi cuối thiếu niên, đầu thanh niên – lứa tuổi giàu ước mơ, đang muốn khẳng định mình, năng động, giám nghĩ giám làm nhưng còn thiếu kinh nghiệm, khi có thành công thì dễ tự tin quá mức, gặp thất bại lại dễ mất niềm tin, Vì vậy, việc định hướng, giúp đỡ học sinh kịp thời là rất cần thiết. Chức năng cố vấn có ý nghĩa quan trọng nhất đối với giáo viên chủ nhiệm vì chức năng này, về bản chất là sự điều chỉnh, vai trò định hướng, điều khiển quá trình tự giáo dục của từng học sinh và tập thể học sinh, phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong giáo dục.

    Cố vấn còn là quá trình giáo dục, định hướng của giáo viên chủ nhiệm lớp đối với hoạt động tự quản của tập thể học sinh lớp chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm không trực tiếp tham gia điều khiển công việc của lớp, không làm thay cho các em mọi hoạt động.

    Chức năng cố vấn đối với học sinh phải quán triệt được toàn bộ nội dung giáo dục, kế hoạch hoạt động của cá nhân và tập thể lớp chủ nhiệm bao gồm từ học tập, rèn luyện đạo đức, thể dục thể thao, diễn ra trong nhà trường và ngoài xã hội. GiVCN cần tư vấn cho học sinh trong quan hệ ứng xử xã hội, gia đình, cộng đồng và trong bạn bè, định hướng nghề nghiệp , cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 9 – lớp học cuối cấp.

    b, Nội dung công tác của người giáo viên chủ nhiệm.

    Người giáo viên chủ nhiệm cần nắm vững đường lối, quan điểm, lí luận giáo dục để vận dụng vào công tác chủ nhiệm lớp Đặc biệt cần nắm vững phương pháp, nghệ thuật sư phạm.

    Ví dụ: Nắm vững các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách, vai trò của giáo dục, hoạt động; mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh; các phương pháp tác động song song, tác động tay đôi, bùng nổ sư phạm, đó là những lí luận mà người giáo viên chủ nhiệm cần nắm vững.

    Giáo viên chủ nhiệm có kế hoạch nghiên cứu đặc điểm gia đình và đặc điểm tâm sinh lí của từng học sinh. Điều đặc biệt quan trọng đối với giáo viên chủ nhiệm là bằng các phương pháp, phân tích cho được nguyên nhân của các hiện tượng, đặc điểm của từng học sinh.

    Lập kế hoạch chủ nhiệm cho từng tháng, cho năm học để đảm bảo tính hệ thống phát triển nhân cách học sinh. Kế hoạch chủ nhiệm lớp cần thể hiện một số nội dung sau:

    Khái quát chung về đặc điểm lớp chủ nhiệm.

    Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh khá – giỏi, phụ đạo học sinh yếu – kém.

    Giáo viên chủ nhiệm phải dạy tốt môn học được phân công dạy ở lớp chủ nhiệm và các lớp khác.

    Giáo viên chủ nhiệm phải không ngừng tự hoàn thiện bản thân về mọi mặt, là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

    2, Lý do chọn đề tài.

    Trong thời gian qua, Việt Nam đã hội nhập mạnh mẽ với thế giới bên ngoài. Những thành quả gặt hái được trong quá trình đó thì không bất cứ ai có thể chối cãi được. Nhưng cũng có một thực tế rõ rang, cùng với những giá trị tốt đẹp thì hàng loạt giá trị thấp kém cũng theo gót vào Việt Nam. Chính điều đó đã làm băng hoại, xói mòn nhiều giá trị tốt đẹp của dân tộc.

    Ta thường nói rằng: tâm hồn học sinh là một tờ giấy trắng mà ai cũng có thể vẽ lên đó những nét bút cho dù là nét đẹp hay xấu. Nói cách khác, học sinh là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi các luồng văn hóa từ ngoài vào. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin thì điều đó lại càng dễ dàng.

    Thực tế cho thấy có rất nhiều học sinh tốt, có ý thức, chịu học, nhưng số học sinh chưa tốt cũng không ít. Bất cứ lớp học nào cũng có học sinh chưa tốt, học sinh hư, học sinh “lạc đường” trong nhận thức vấn đề. Lớp học do tôi chủ nhiệm cũng không là ngoại lệ.

    Bên cạnh đó, trong quá trình làm công tác chủ nhiệm, ở những năm trước tôi chưa đi sâu vào vấn đề chủ nhiệm mà chỉ ở mức hoàn thành nhiệm vụ, chủ yếu tôi tập trung vào công tác chuyên môn. Chính vì vậy, ở những năm trước số học sinh trong lớp tôi chủ nhiệm có tiến bộ về mặt đạo đức chưa nhiều, tôi chưa phát huy được vai trò trung tâm, khả năng tự quản của các em; có một số học sinh chưa có ý thức tổ chức kỉ luật; chưa giúp Ban cán sự lớp hoạt động hiệu quả, vì vậy không tạo được một điểm nào nổi bật ở lớp chủ nhiệm.

    Những vấn đề trên đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Khi nhìn lại quá trình làm công tác chủ nhiệm tôi thấy mình còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Điều đó làm cho tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi để nâng cao khả năng công tác của mình. Nhiều biện pháp đã được tôi nghĩ đến và thử nghiệm. Và đến nay tôi đã tạo được bước đột phá trong công tác chủ nhiệm.

    Tất cả những gì tôi tìm tòi và áp dụng thành công sẽ được tôi trình bày trong “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở LỚP 9A3, TRƯỜNG THCS LẠC HÒA”.

    Những biện pháp này được tôi áp dụng từ học kì II, năm học 2007 – 2008 và hoàn thiện ở năm học 2008 – 2009.

    3, Phạm vi nghiên cứu.

    Trong quá trình nghiên cứu và tìm tòi, tôi không tập trung vào tất cả các vấn đề mà tập trung nhiều vào các vấn đề sau:

    Ý thức chấp hành nội quy của học sinh.

    Ý thức học tập.

    Khả năng tự quản.

    Xây dựng đội ngũ BCS lớp.

    Vận dụng tâm lý và dựa vào tính cách, thái độ của học sinh để xử lý tình huống

    GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Giáo dục là một quá trình lâu dài, trong đó người làm giáo dục phải áp dụng nhiều biện pháp, từ khâu tổ chức, giáo dục, đến tác động vào từng cá nhân và tập thể. Quá trình đó cũng không phải chỉ diễn ra trong một hay hai ngày mà là quá trình tác động lâu dài, như dân gian thường nói “mưa dầm thấm lâu” .

    1, Đặc điểm tình hình lớp 9A3.

    Năm học 2008 – 2009, lớp 9A3 chính là lớp 8A3 và một số học sinh của cá lớp 9A2 – 9A5 của năm học 2007 – 2008 chuyển lên. Lớp có 30 học sinh, trong đó có:

    13 học sinh nữ.

    06 học sinh dân tộc Kinh.

    19 học sinh dân tộc Hoa.

    05 học sinh dân tộc Khmer.

    01 học sinh nữ dân tộc Khmer.

    Đầu năm học lớp có một số thuận lợi và khó khăn như sau:

    1.1, Thuận lợi.

    – Được sự quan tâm của BGH, Đoàn – Đội và các tổ chức trong nhà trường.

    – Có một số học sinh có ý thức học tập tốt, nhiệt tình, năng động,

    – Ban cán sự (BCS) lớp có năng lực, tinh thần trách nhiệm cao.

    – Lớp có tinh thần đoàn kết, không chia phe – nhóm.

    – Trong lớp có một số học sinh nhà gần trường

    2.2, Khó khăn.

    – Đa số học sinh nhà ở xa trường. Đặc biệt có 2 học sinh nhà ở “điền” (em Triệu Hải và em Lâm Văn Bé), rất khó khăn trong việc đi lại.

    – Lớp có 2 học sinh mồ côi cha (mẹ), 1 học sinh có mẹ bỏ đi, 1 học sinh có cha mẹ bất hòa đã lâu năm.

    – Nhiều học sinh ý thức học tập chưa cao, còn ham chơi, thậm chí tham gia tệ nạn xã hội (đá gà).

    – Nhiều cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học của con em.

    – Môi trường xã hội xung quanh trường học tương đối phức tạp, làm ảnh hưởng không tốt đến học sinh.

    1.3, Kết quả chất lượng hai mặt giáo dục ở năm học 2007 – 2008:

    Hạnh kiểm

    Học lực

    Tốt

    22

    Giỏi

    1

    Khá

    7

    Khá

    5

    TB

    1

    TB

    21

    Yếu

    /

    Yếu

    3 (thi lại)

    2, Biện pháp thực hiện – cách làm mới:

    2.1, Nhận lớp chủ nhiệm.

    Trước ngày khai giảng, GVCN nhận sự phân công của BGH nhà trường nhận lớp chủ nhiệm. Sau khi có danh sách học sinh, GVCN cố gắng nhớ hết tên học sinh trong lớp. Đây là điều rất quan trọng. Bởi con người, ai cũng muốn mình là người quan trọng đối với người khác, là người được người khác tôn trọng. Việc giáo viên gọi tên các em học sinh ngay khi mới gặp nhau là biểu hiện của điều đó. Học sinh sẽ rất vui, bất ngờ vì việc này. Chính việc này sẽ giúp người giáo viên chủ nhiệm nhanh chóng để lại ấn tượng của mình trong các em. Điều quan trọng là các em cảm nhận được sự tôn trọng của GVCN đối với mỗi học sinh.

    Ví dụ: Khi BGH trao cho tôi danh sách lớp 9A3, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần để nhớ tên của học sinh lớp mình và tôi cố gắng biết mặt của 1/3 số học sinh trong lớp trước ngày tôi gặp lớp. Khi vào lớp tôi gọi tên những học sinh mà tôi biết mặt để hỏi thăm tình hình trong dịp nghỉ hè. Trước việc làm đó học sinh đã rất bất ngờ vì không biết tại sao thầy chủ nhiệm lại biết tên trong lúc chưa tiếp xúc lần nào. Thực sự các em rất thích thú về điều đó.

    Tiếp theo GVCN sẽ gặp những giáo viên chủ nhiệm cũ kết hợp với buổi học nội quy, buổi lao động đầu năm của các em để nắm bắt tình hình chung, tình hình của một số học sinh trong lớp (như học sinh giỏi, học sinh cá biệt, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, ). Cũng qua đó GVCN sẽ định hình được đội ngũ BCS lớp sau này cũng như đưa ra được biện pháp giáo dục học sinh phù hợp.

    Ví dụ: Sau khi nhận lớp, tôi đã gặp các GVCN cũ là thầy Phan Thanh Quân, cô Liêu Thị Sà Dem và thầy Lý Thanh Quyền. Qua đó tôi nắm được một số thông tin quan trọng về một số học sinh do tôi chủ nhiệm như sau:

    Học sinh trong lớp cư trú ở nhiều địa bàn khác nhau, có những học sinh nhà rất xa trường; trong lớp có 2 học sinh mồ côi cha(mẹ), 1 học sinh nhà rất nghèo, 1 học sinh có cha mẹ đang trong tình trạng bất ổn về hôn nhân,

    Trên cơ sở những thông tin này, trước các hành vi ứng xư của học sinh, GVCN sẽ đưa ra được biện pháp xử lý phù hợp, có thái độ, lời nói đúng mực. Tránh được việc đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm của các em cũng như có thể động viên các em kịp thời.

    Khi mới nhận lớp GVCN không nên áp đặt ngay những quy định của lớp, buộc các em vào khuôn khổ ngay lập tức. Vì điều này tạo cho các em sự gò bó, mất tự do mà tự do là điều mà đa số các em đang muốn có.

    2.2, Bầu ban cán sự (BCS) lớp – chia tổ.

    a, Cơ sở chọn BCS lớp – chia tổ.

    Để bầu BCS lớp đạt hiệu quả – hoạt động tốt, GVCN tham khảo ý kiến của GVCN cũ bởi họ là người nắm rõ khả năng của các em học sinh.

    Một cán bộ lớp tốt phải là người năng động, nhiệt tình, biết sống vì tập thể, không ích kỉ, cho nên khi chọn BCS lớp giáo viên cần chú ý đến tính cách của người học sinh mà mình chọn.

    Ngoài ý thức trách nhiệm các thành viên trong BCS còn phải có năng lực tốt. Muốn biết điều này cần phải dựa vào học bạ.

    Khi chọn BCS lớp, cố gắng bảo đảm ở mỗi địa bàn cư trú có một thành viên của BCS lớp. Làm được như vậy thì trong quá trình hoạt động giáo viên có thể để nắm tình hình các thành viên trong lớp thông qua các em.

    Ví dụ: Ở lớp 9A3 có lớp trưởng ở Vĩnh Thạnh A (Vĩnh Hải), lớp phó học tập ở Hòa Nam (Lạc Hòa), tổ trưởng tổ 1 ở Ca Lạc (Lạc Hòa),

    Vai trò của GVCN trong việc chọn BCS lớp rất quan trọng nhưng các thành viên trong lớp cũng có vai trò không kém. Vì vậy khi lựa chọn giáo viên cần căn cứ vào sự tín nhiệm của tập thể, điều này thể hiện qua việc bình bầu dân chủ đầu năm.

    Khi tiến hành chia tổ, GVCN cần tạo sự đồng đều trong tổ. Có nghĩa là mỗi tổ sẽ có các đối tượng học sinh có học lực, ý thức chấp hành nội quy khác nhau.Nói cách khác, mỗi tổ phải bảo đảm nhiều đối tượng: có học sinh yếu, học sinh giỏi, học sinh ở địa bàn xa – gần, có học sinh ngoan, học sinh cá biệt, Làm được như vậy thì trong quá trình học tập các em có thể hỗ trợ nhau, nhắc nhở nhau trong học tập, trong lao động.

    Ví dụ: Lớp 9A3 đầu năm có 30 học sinh, tôi chia làm ba tổ:

    Tổ 1 gồm 10 thành viên, có một số học sinh có học lực nổi bật như Ong Kiều Tiên, Võ T Nhân ái, Trịnh Tú Miệm, một số học sinh có ý thức chưa tốt như Thái Tếch Hển, Trần Văn Tuấn, La Văn Thành,

    Tổ 2 gồm 10 học sinh, có 2 học sinh nổi bật về học lực là em Lâm Hồng Nguyên và Huỳnh Thiếu Lâm; một số học sinh ý thức chưa tốt như Trịnh Thuận Kiệt, Võ Hoàng Mến, Trịnh Thị Bé Hương,

    Tổ 3 gồm 10 thành viên trong đó có những học sinh nổi bật về học lực như Võ Hoàng Bửu, Trương Văn Nền, những học sinh có ý thức chưa tốt như Lâm Văn Bé, Đền Đươl,

    Trong quá trình chia tổ, tôi đưa học sinh mà mình dự định cho làm tổ trưởng vào tổ đó.

    b, Tiến hành bầu BCS lớp.

    Trước khi tiến hành bầu, giáo viên chủ nhiện nêu ý kiến: “BCS lớp do thầy chọn hay các em chọn?” Khi học sinh quyết định do các em chọn thì giáo viên chủ nhiệm thỏa thuận: “Thầy đồng ý cho các em chọn nhưng khi chọn xong các em phải tôn trọng, hoạt động theo sự điều hành của các bạn trong BCS lớp”.

    Việc bầu chọn BCS lớp được tiến hành trong tiết SHCN của tuần thứ nhất hoặc tuần thứ hai đầu năm học.

    Trước khi bầu, GVCN thông qua tiêu chuẩn của các chức danh được bầu.

    Ví dụ: tiêu chuẩn của lớp trưởng: Học lực từ khá trở lên, hạnh kiểm tốt, năng động, nhiệt tình, có khả năng tổ chức, có uy tín với bạn trong lớp

    Tiêu chuẩn của lớp phó học tập: học lực giỏi, nhiệt tình giúp đỡ bạn, tính tình hòa đồng,

    Ở các chức danh khác giáo viên cũng đưa ra tiêu chuẩn tương tự.

    Sau khi thông qua tiêu chuẩn các chức danh, GVCN đề cử luôn chức danh lớp trưởng và các lớp phó.

    Ví dụ: Chức danh lớp trưởng: Huỳnh Tuấn Bửu, Trịnh Tú Miên.

    Lớp phó học tập: Ong Kiều Tiên, Huỳnh Tuấn Bửu.

    Lớp phó lao động: Phùng Như Trường, Thạch Vương

    Qua việc nêu tiêu chuẩn và đề cử thì các em học sinh đã định hình được những người mà mình sẽ chọn. Bây giờ cho các em tiến hành ứng cử, đề cử và tiến hành biểu quyết chọn BCS lớp.

    Chọn xong lớp trưởng và các lớp phó, GVCN cho các tổ tự bầu tổ trưởng trên cơ sở tiêu chuẩn đã đưa ra. Khi bầu tổ trưởng giáo viên cũng nên định hướng cho các em.

    Kết quả bầu chọn BCS lớp ở lớp 9A3 như sau:

    Lớp trưởng: Huỳnh Tuấn Bửu

    Lớp phó học tập: Ong Kiều Tiên

    Lớp phó lao động: Mai Hữu Thành

    Lớp phó văn – thể: Lâm Hồng Nguyên

    Thủ quỹ: Lâm Hồng Nguyên

    Tổ trưởng tổ 1: Võ Thị Nhân Ái

    Tổ trưởng tổ 2: Huỳnh Thiếu Lâm

    Tổ trưởng tổ 3: Mai Hữu Thành

    Là một trường học ở vùng khó khăn nên các vấn đề của lớp không nhiều nên tôi chỉ chọn tổ trưởng mà không chọn tổ phó. Thiết nghĩ đó cũng là điều hợp lí.

    Qua quá trình hoạt động của lớp, tôi thấy rằng BCS làm việc hiệu quả, được các thành viên trong lớp tôn trọng. Chính điều này là nhân tố tích cực giúp lớp tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ và luôn nằm trong tốp 5 lớp dẫn đầu về thi đua giữa các lớp.

    c, Phân công nhiệm vụ cho BCS lớp.

    BCS lớp là đại diện cho lớp, chịu trách nhiệm trước GVCN về toàn bộ hoạt động học tập, rèn luyện của lớp trong thời gian học. BCS lớp do tập thể lớp bầu ra, được GVCN quyết định công nhận. Nhiệm kì của BCS lớp là một năm.

    — Cơ cấu của BCS lớp gồm: 1 lớp trưởng

    3 lớp phó

    1 thủ quỹ

    3 tổ trưởng

    Ngoài ra còn có 2 cờ đỏ (1 cờ đỏ nội, 1 cờ đỏ ngoại), có BCH liên đội gồm: 1 chi đội trưởng, 1 chi đội phó và 1 ủy viên.

    — Nhiệm vụ của lớp trưởng:

    Là người chịu sự điều hành, quản lí trực tiếp của GVCN. Lớp trưởng là người điều hành, quản lí toàn bộ các hoạt động của lớp và từng thành viên trong lớp. Theo dõi, đôn đốc lớp chấp hành đầy đủ và nghiêm chỉnh nội quy của trường, quy định của lớp. Thực hiện nề nếp tự quản trong lớp.

    Lớp trưởng là người thay mặt GVCN quản lí lớp, kịp thời nắm bắt thông tin của lớp, báo cáo cho giáo viên chủ nhiệm.

    Cuối tuần, trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm, lớp trưởng tổng kết, đưa ra đánh giá, nhận xét về quá trình hoạt động của lớp. Trên cơ sở báo cáo của tổ trưởng, lớp trưởng xếp loại hạnh kiểm c

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 2
  • Những Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Trong Hoạt Động Kinh Doanh Thẻ Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Luận Văn Rủi Ro Lãi Suất Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng
  • Hãy Nêu Một Số Biện Pháp Phòng Chống Thiên Tai Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Biện Pháp Thi Công Ốp Lát Nền
  • Skkn Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Các Biện Pháp Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Biện Pháp Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp Ở Trường Tiểu Học
  • Tỉ Lệ Tội Phạm Tại Mỹ Và Một Số Nước Giảm Nhờ Covid
  • Những Phương Hướng Và Biện Pháp Để Mở Rộng Thị Trường Tiêu Thụ
  • Trong nhà trường phổ thông nói chung và Tiểu học nói riêng, các em còn rất nhỏ, vốn hiểu biết chưa nhiều, các em như “Tờ giấy trắng” viết như thế nào thì nó in đậm, in sâu khó xóa mờ. Các em rất thơ ngây, hiếu động, dễ bị dụ dỗ, nghe theo. Mặt khác trong học tập có một số em còn ham chơi, ít chú ý, học hay quên, ý thức tự giác chưa cao. Người giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giáo dục ở nhà trường. Là người tổ chức và điều khiển quá trình hình thành nhân cách trẻ em, là người chịu trách nhiệm về công tác giáo dục trẻ em trước nhà trường, Nhà nước và nhân dân. Đặc biệt, người giáo viên tiểu học hầu như chịu trách nhiệm hoàn toàn về lớp mình phụ trách.

    Người giáo viên tiểu học có nhiệm vụ xây dựng tập thể trẻ em, tổ chức các hoạt động khác của học sinh để mở rộng tri thức, rèn luyện kĩ năng, giáo dục ý thức và ứng xử, thoả mãn nhu cầu và hứng thú, phát triển năng lực của học sinh. Giáo viên tiểu học là người hướng dẫn, người đưa các em vào thế giới tri thức, khoa học, văn hoá, nghệ thuật. Học sinh tiểu học còn chưa biết hành động độc lập, giáo viên phải là người tổ chức hoạt động, làm sao cho từng em học sinh có được công việc thích hợp và bộc lộ khả năng của mình. Giáo viên tiểu học là một trong những “thần tượng” của học sinh, là tấm gương của các em. Trong những giờ tới trường, giáo viên tiểu học hầu như lúc nào cũng ở cạnh các em nhỏ, rất sát học sinh, kiểm tra theo dõi được từng hành vi của các em. Bằng tấm gương của mình kết hợp với việc truyền thụ những giá trị chuẩn mực thể hiện trong nội dung các môn học, giáo viên tiểu học còn góp phần to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của các em qua công tác chủ nhiệm lớp.

    1. MỞ ĐẦU 1.1. Lí do chọn đề tài. Trong nhà trường phổ thông nói chung và Tiểu học nói riêng, các em còn rất nhỏ, vốn hiểu biết chưa nhiều, các em như "Tờ giấy trắng" viết như thế nào thì nó in đậm, in sâu khó xóa mờ. Các em rất thơ ngây, hiếu động, dễ bị dụ dỗ, nghe theo. Mặt khác trong học tập có một số em còn ham chơi, ít chú ý, học hay quên, ý thức tự giác chưa cao. Người giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giáo dục ở nhà trường. Là người tổ chức và điều khiển quá trình hình thành nhân cách trẻ em, là người chịu trách nhiệm về công tác giáo dục trẻ em trước nhà trường, Nhà nước và nhân dân. Đặc biệt, người giáo viên tiểu học hầu như chịu trách nhiệm hoàn toàn về lớp mình phụ trách. Người giáo viên tiểu học có nhiệm vụ xây dựng tập thể trẻ em, tổ chức các hoạt động khác của học sinh để mở rộng tri thức, rèn luyện kĩ năng, giáo dục ý thức và ứng xử, thoả mãn nhu cầu và hứng thú, phát triển năng lực của học sinh. Giáo viên tiểu học là người hướng dẫn, người đưa các em vào thế giới tri thức, khoa học, văn hoá, nghệ thuật. Học sinh tiểu học còn chưa biết hành động độc lập, giáo viên phải là người tổ chức hoạt động, làm sao cho từng em học sinh có được công việc thích hợp và bộc lộ khả năng của mình. Giáo viên tiểu học là một trong những "thần tượng" của học sinh, là tấm gương của các em. Trong những giờ tới trường, giáo viên tiểu học hầu như lúc nào cũng ở cạnh các em nhỏ, rất sát học sinh, kiểm tra theo dõi được từng hành vi của các em. Bằng tấm gương của mình kết hợp với việc truyền thụ những giá trị chuẩn mực thể hiện trong nội dung các môn học, giáo viên tiểu học còn góp phần to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của các em qua công tác chủ nhiệm lớp. Ngoài công việc phụ trách toàn diện trước học sinh, công tác chủ nhiệm lớp cũng có một ý nghĩa quan trọng. Giáo viên chủ nhiệm lớp là linh hồn của lớp, là người tổ chức, cổ vũ tư tưởng cho học sinh.Người cùng với phụ huynh học sinh tiến hành giáo dục các em. Nhưng công tác chủ nhiệm lớp không phải là công việc đơn giản. Nó luôn là vấn đề trăn trở đối với hầu hết các giáo viên tiểu học. Từ những vấn đề trăn trở nêu trên, khi thực hiện tôi phải rút kinh nghiệm qua từng năm, xoay chuyển mọi cách, suy nghĩ tìm tòi, học hỏi những đồng nghiệp có uy tín, có năng lực để công tác chủ nhiệm của mình đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ những lí do đó nên bản thân đã suy nghĩ tìm ra một số biện pháp nhỏ để góp phần làm tốt công tác chủ nhiệm. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: "Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp". 1.2. Mục đích nghiên cứu. Tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mong muốn : - Ghi lại những biện pháp mình đã làm để suy ngẫm, để chọn lọc và đúc kết thành kinh nghiệm của bản thân. - Được chia sẻ với đồng nghiệp những việc đã làm và đã thành công trong công tác chủ nhiệm lớp. - Nhận được những lời góp‎ ‎‎ý, nhận xét từ cán bộ quản lí nhà trường, từ Hội đồng SKKN và từ các bạn đồng nghiệp, để tôi phát huy những mặt mạnh, điều chỉnh, khắc phục những thiếu sót cho hoàn thiện hơn. - Rèn luyện tinh thần năng động; giữ lửa lòng say mê, sáng tạo; cố gắng học tập, tự cải tạo mình để theo kịp sự tiến bộ của thời đại. 1.3. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu đề tài này là một số biện pháp, mức độ hạn chế của học sinh về các nề nếp trong khi đi học, việc thực hiện nhiệm vụ của người học sinh, phẩm chất đạo đức chuẩn mực và các kĩ năng sống của từng đối tượng học sinh trong tập thể lớp 5C của Trường TH Lê Văn Tám năm học 2021 - 2021 1.4. Phương pháp nghiên cứu. 1. Phương pháp thu thập thông tin: Dùng để thu thập các thông tin của từng học sinh. 2. Phương pháp trò chuyện: Dùng để hỏi chuyện các đồng nghiệp có kinh nghiệm; hỏi chuyện với học sinh; hỏi chuyện với phụ huynh 3. Phương pháp giao nhiệm vụ: Dùng để giao nhiệm vụ cho học sinh. 4. Phương pháp trải nghiệm: Thông qua thực tế tình hình trên lớp để tìm ra cái tốt, cái hạn chế và biện pháp khắc phục. 1.5. Những điểm mới của SKKN Đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi hướng vào công tác chủ nhiệm lớp với các nội dung cơ bản sau đây: Các biện pháp giáo dục học sinh, mối quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh, xây dựng lớp học có nề nếp hiệu quả. Mối quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh. II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm. Giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò thay mặt Hiệu Trưởng quản lý và giúp lớp tổ chức học tập, rèn luyện đạt mục tiêu đào tạo, quản lý hành chính Nhà nước, là người thầy giáo, người đại diện cho quyền lợi của tập thể lớp. Bồi dưỡng cán bộ lớp để các em tổ chức thực hiện tốt mọi hoạt động của lớp, là chuyên gia trong việc tổ chức thực hiện các mặt hoạt động của lớp, tổng hợp tình hình, đề xuất các giải pháp để tham mưu cho nhà trường về công tác giáo dục học sinh. Luôn nắm chắc tư tưởng, tinh thần thái độvà kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, phối hợp với gia đình và đoàn thể để giúp đỡ, cảm hoá học sinh trở thành người tốt cho xã hội. Giáo viên chủ nhiệm có nhiệm vụ dựa vào tình hình thực tế, vạch kế hoạch giúp lớp tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trong từng tháng, học kỳ và năm học. Cùng cán bộ lớp theo dõi, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của lớp chủ nhiệm theo từng tháng, học kỳ và năm học; đồng thời báo cáo kết quả đó với Ban Giám Hiệu và liên hệ với gia đình học sinh để phối hợp giáo dục. Qua nhiều năm làm giáo viên chủ nhiệm lớp, phần nào đã có chút ít kinh nghiệm nhưng tôi vẫn thấy công việc của một giáo viên chủ nhiệm lớp ở tiểu học là rất nặng nhọc, rất phức tạp. Mỗi giáo viên muốn làm tốt công tác chủ nhiệm thì phải vừa là một giáo viên giỏi về chuyên môn, vừa phải là một nhà tâm lí giỏi để hiểu học sinh, để xử lí các tình huống rắc rối sao cho khéo léo, tế nhị và đạt hiệu quả giáo dục cao. Nếu giáo viên không tâm huyết với nghề, không có tinh thần trách nhiệm cao thì khó mà hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng học tập của học sinh, nhân cách, đạo đức, lối sốngcủa học sinh rồi sẽ ra sao? Chính vì hiểu rõ điều đó nên trong những năm học qua, song song với việc giảng dạy tốt các môn học theo qui định, tôi luôn cố gắng phấn đấu làm tốt vai trò, nhiệm vụ của một giáo viên chủ nhiệm lớp. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 2.2.1 Thuận lợi. Năm học 2021-2018 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5C. Với tổng số: 34; nữ: 13. Các em phần đông được gia đình quan tâm nên việc quản lý, giáo dục các em tương đối thuận lợi. - Lớp được học 2 buổi/ngày, hết giờ học có 30 phút cuối giáo viên chủ nhiệm có điều kiện quan tâm trao đổi với các em, kèm cặp thêm các em yếu. - Các em được trang bị tương đối đầy đủ về trang phục, đồ dùng học tập, sách giáo khoa,. - Mặt khác phòng học mới được xây dựng khang trang, thoáng mát, cơ sở vật chất đầy đủ. - Hầu hết các em đều cố gắng học tập, biết vâng lời, lễ phép với cô giáo. 2.2.2 Khó khăn Vào đầu năm, qua tìm hiểu, trao đổi, kiểm tra về tình hình chung của tất cả các em học sinh trong lớp. Tiến hành nghiên cứu tìm hiểu về quá trình tiếp thu bài, học bài và những hành vi ứng xử, giao tiếp, kĩ năng sống, sự hiểu biết,trong lớp học của 34 em học sinh lớp 5C, trường Tiểu học Lê Văn Tám. Tôi nhận thấy: - Lớp có một số em chưa tự giác học tập, trong giờ học còn lơ là, ít chú ý, tiếp thu chậm, tự ti, mặc cảm, trầm tính, không năng động,; Một số em còn mang tính là quậy phá, hay chọc bạn, đánh bạn; Một số em chưa thực sự ngoan, nói năng còn trống không, chưa lễ phép; Rất nhiều em viết chữ còn sai lỗi nhiều, chưa đẹp. - Một số em ham chơi, không chăm học, không tích cực, không biết, không hiểu là các em càng không chịu học, không để ý gì đến những lời giảng giải phân tích của cô. Khi cô giáo giảng xong, hỏi lại là không biết gì, chính vì vậy những em đó thường hay tự ti, mặc cảm, sợ sệt, nhút nhát, chưa biết thể hiện mình. - Một số em tâm trạng không được tốt, vốn giao tiếp không có, năng lực hạn chế, sức khỏe không đảm bảo, thể trạng gầy, nhỏ so với các bạn đồng trang lứa. - Với lứa tuổi lớp 5, các em đang chuẩn bước sang tuổi dậy thì, nên có sự thay đổi về thể chất lẫn tâm sinh lý, - Gia đình các em đa số đi làm về, là nghỉ ngơi một lúc rồi đi ngủ, không còn thời gian bảo ban các em xem ti vi, đọc báo, đọc sách,để mở rộng tầm hiểu biết, tầm nhìn. Đó là thực trạng mà bản thân tôi luôn lo lắng, băn khoăn khi làm công tác chủ nhiệm lớp 5C trong năm học này. 2.3. Các biện pháp thực hiên. 2.3.1 Biện pháp chung: Giáo viên chủ nhiệm lớp tiểu học có chức năng cơ bản là quản lý, giáo dục học sinh lớp mình phụ trách. Chức năng này được thể hiện như sau : - Làm tốt công tác chủ nhiệm lớp sẽ là động lực quan trọng tác động vào việc dạy học tốt. - Xây dựng, tổ chức tập thể lớp thành một đơn vị vững mạnh. - Tổ chức, điều khiển, lãnh đạo các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. - Thiết lập và phát triển quan hệ với lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục học sinh. Nói chung để làm cho công tác giáo dục được hoàn chỉnh và đạt chất lượng toàn diện thì người giáo viên phải coi trọng công tác chủ nhiệm lớp. 2.3.2 Những biện pháp cụ thể: Giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm chính về việc giáo dục đạo đức học sinh trong lớp. Muốn giáo dục hoàn thiện thì giáo viên chủ nhiệm phải thực hiện tốt những nhiệm vụ sau : 2.3.2.1. Tìm hiểu để phân loại đối tượng học sinh. Việc nắm các thông tin của học sinh đầu năm là rất cần thiết. Có được thông tin học sinh giúp cho giáo viên chủ nhiệm phục vụ cho việc ghi chép hồ sơ giáo viên, nắm được hoàn cảnh gia đình, lực học của năm trước, việc liên lạc với gia đình các em,Vì thế ngay từ đầu năm, tôi đã làm Phiếu ghi thông tin học sinh, phát cho từng em, hướng dẫn các em ghi đầy đủ, rõ ràng, sau đó thu lại để phục vụ cho công tác chủ nhiệm lớp của mình: - Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của học sinh, hoàn cảnh kinh tế, địa vị bố mẹ trong xã hội, nếp sống của gia đình, sự quan tâm của bố mẹ đến vấn đề giáo dục con cái để từ đó giáo viên có thể tìm ra những nguyên nhân về hiện tượng tâm lý của học sinh. - Tìm hiểu và nắm được đặc điểm của từng học sinh : tìm hiểu xem những học sinh nào bị khuyết tật (cận, nói lắp, điếc) để sắp xếp chỗ ngồi cho phù hợp, tìm hiểu trình độ nhận thức, năng lực hoạt động, mối quan hệ với tập thể, với những người xung quanh và năng lực trí tuệ của học sinh. Ví dụ: Trong lớp 5 tôi chủ nhiệm năm học 2021 - 2021 có nhiều em như: em Châu Anh, Nguyễn Phương Bảo Ngọc, Nhân Kỳ nhận thức rất nhanh nhưng sau đó lại quên ngay vì ghi nhớ của các em không bền. Từ đó giáo viên cho học sinh rèn luyện thường xuyên, lặp đi lặp lại kiến thức đã học nhiều lần để ghi nhớ bền vững phối hợp cùng giáo viên bộ môn để giúp đỡ các em học tập tốt hơn. - Tìm hiểu về xu hướng, hứng thú và động cơ của học sinh trong học tập và các hoạt động khác, từ đó giáo viên hiểu được nguyên nhân để hướng dẫn, giáo dục học sinh đạt kết quả tốt. Ví dụ: Trong thực tế, có một số em học yếu các bộ môn như Toán hoặc Tiếng Việt nhưng các môn năng khiếu như Âm nhạc, Mĩ thuật, Thì học rất tốt do các em có hứng thú và say mê các môn học này. Từ đó, giáo viên tạo điều kiện giúp các em có hứng thú với môn Toán, Tiếng Việt. Tóm lại: Muốn thực hiện những điều nói trên yêu cầu người giáo viên phải: - Nghiên cứu hồ sơ học sinh (học bạ, lý lịch của học sinh ở lớp dưới). - Quan sát hằng ngày các hoạt động và mối quan hệ của học sinh - Thăm gia đình học sinh và trò chuyện trao đổi với phụ huynh học sinh. - Sắp xếp chỗ ngồi hợp lý cho học sinh. 2.3.2.2. Xây dựng nề nếp lớp học. Việc bầu chọn và xây dựng đội ngũ Ban Cán sự lớp là một công việc rất quan trọng mà người giáo viên chủ nhiệm nào cũng cần phải làm ngay sau khi nhận lớp mới. Những năm học trước, Ban Cán sự lớp có thể là do giáo viên chọn lựa và chỉ định học sinh làm. Nhưng lên lớp 5, các em đã lớn, tôi muốn tạo dựng và rèn luyện cho các em thể hiện tinh thần dân chủ và ý thức trách nhiệm đối với tập thể, nên tôi tổ chức cho các em ứng cử và bầu cử để chọn lựa ban cán sự của lớp. Tiến trình bầu chọn Ban Cán sự lớp được diễn ra như sau: - Trước hết, tôi phân tích để các em hiểu rõ về vai trò và trách nhiệm của người lớp trưởng, lớp phó. Kết quả và trình độ tự quản lý của lớp, uy tín và năng lực của đội ngũ cán sự. + Tự quản các giờ học trên lớp: Giữ trật tự và tham gia phát biểu xây dựng bài. Lớp trưởng, lớp phó kịp thời nhắc nhở các bạn vi phạm, thông qua đó chấm điểm thi đua các tổ và cá nhân... + Tự quản giờ trống giáo viên: Vì một lý do nào đó mà giáo viên bộ môn vắng mặt, lớp vẫn phải giữ gìn kỉ luật trật tự để không làm ảnh hưởng đến các lớp khác và không được ra khỏi lớp. Lớp trưởng hội ý với cán sự lớp sử dụng giờ trống để chữa bài tập khó cho lớp. + Tự quản tiết sinh hoạt tập thể: Đây là tiết sinh hoạt hoàn toàn do lớp tự quản. giáo viên chủ nhiệm chỉ giữ vai trò cố vấn và chỉ xuất hiện khi thật cần thiết để học sinh giải quyết tình huống phức tạp mà các em lúng túng. + Tự quản trong hoạt động lao động, vui chơi, thể thao và các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Trong các loại hình hoạt động này đều có thể khai thác được những tiềm năng, khả năng tự quản và hình thành các kĩ năng thuần thục cho các em. - Tôi khuyến khích các em xung phong ứng cử. Sau đó chọn 5 học sinh tiêu biểu để cả lớp bầu chọn. - Tổ chức cho học sinh bỏ phiếu: Lớp trưởng cũ phát cho mỗi học sinh 1 phiếu trống (phiếu chỉ có chữ kí của tôi). Tôi hướng dẫn học sinh cách bầu chọn: ghi tên 3 bạn mình chọn vào phiếu. - 3 học sinh đạt số phiếu cao nhất sẽ được bốc thăm để nhận "chức vụ" của mình (lớp trưởng, lớp phó học tập, và lớp phó lao động). Lần đầu tiên các em được bỏ phiếu, được thể hiện quyền "dân chủ' của mình, tôi thấy các em rất vui, rất hào hứng, và 3 em được bầu chọn cũng cảm thấy tự hào. 2.3.2.3. Phân công nhiệm vụ Ban cán sự lớp. Sau khi đã bầu chọn được Ban Cán sự của lớp, tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng em như sau: Nhiệm vụ của lớp trưởng: - Theo dõi, kiểm tra mọi hoạt động của lớp. - Điểm danh và ghi sĩ số của lớp vào góc trên (bên phải bảng) ngay sau khi xếp hàng vào lớp. - Điều khiển các bạn xếp hàng vào lớp, xếp hàng chào cờ đầu tuần, xếp hàng tập thể dục. - Giữ trật tự lớp khi giáo viên chữa bài, khi giáo viên có việc phải ra khỏi lớp và khi lớp dự lễ chào cờ đầu tuần. - Đề nghị giáo viên tuyên dương, phê bình cá nhân hoặc các Ban có thành tích tốt. Nhiệm vụ của lớp phó học tập (Phụ trách học tập; đối ngoại): - Tổ chức lớp truy bài 15 phút đầu giờ; giúp đỡ các bạn học yếu học bài, làm bài. - Theo dõi việc học tập của lớp. - Làm mọi việc của lớp trưởng khi lớp trưởng vắng mặt hoặc nghỉ học. Nhiệm vụ của lớp phó văn thể (Phụ trách văn nghệ, lao động, thể dục thể thao): - Phân công, theo dõi và kiểm tra các tổ trực nhật và chịu trách nhiệm tắt đèn, quạt khi ra về. - Theo dõi, kiểm tra các bạn khi tham gia các buổi lao động do trường, lớp tổ chức. Sau khi phân công nhiệm vụ ban Cán sự lớp. Giáo viên chủ nhiệm không trực tiếp làm thay cho ban sự, vì như vậy các em sẽ có tư tưởng ỷ lại và cảm thấy mình không thực tốt vai trò, từ đó sẽ trông chờ, không còn động lực thể hiện bản lĩnh của mình trước các nhiệm vụ được tin tưởng giao phó.Các em được nhận nhiệm vụ được giao các thành viên trong Ban cán sự hứng thú tham gia các hoạt động của trường, của lớp, gương mẫu trong học tập xứng đáng là đầu tàu của lớp. Các em học sinh khác tuân thủ theo sự chỉ đạo của Ban cán sự vì đó là những người do chính các em bầu ra. Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên quan tâm đến tình hình thực hiện nhiệm vụ của ban cán sự lớp, không chỉ thông qua thành viên ban cán sự mà còn thông qua các thành viên còn lại. Như vậy các em còn lại sẽ cảm thấy mình cũng có trách nhiệm với công việc của lớp, sự thành công tốt đẹp trong các hoạt động của lớp có một phần đóng góp của mình. Thông qua ban cán sự lớp, giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu rõ hơn đặc điểm của các học sinh nổi bật khác, thế mạnh của từng bạn, học sinh có cá tính, cá biệt, cũng như hoàn cảnh có những biện pháp phù hợp nhất đối với từng thành viên, từ đó sẽ phát huy được thế mạnh riêng của từng thành viên trong các mảng hoạt động, học tập của lớp. 2.3.2.4. Xây dựng mối quan hệ thầy- trò và bạn bè trong lớp. Cô - trò trao đổi đặc điểm tuổi dậy thì Mối quan hệ giữa thầy-trò: Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy và học, quan hệ thầy - trò đã trở thành thân thiện, gần gũi như là những người bạn thực sự, người thầy chỉ là người tổ chức, hướng dẫn cho các em trong quá trình dạy học, thế nên việc xây dựng mối quan hệ thầy trò quả không khó đối với bản thân tôi. Cụ thể là tôi luôn tạo cho các em mối quan hệ mật thiết, gần gũi, nói năng nhỏ nhẹ, dịu dàng, không để các em phải sợ sệt khi đứng trước mặt giáo viên, tôi luôn chủ động chỉ bảo, tôi thường nói: "Các em muốn có ý kiến gì thì cứ mạnh dạn trao đổi với cô, cô sẽ luôn giúp đỡ, hỗ trợ các em trong học tập cũng như trong cuộc sống". Trong lớp có vấn đề xảy ra giữa các em, tôi luôn từ từ giải quyết công bằng, hợp tình, hợp lý. Khen, thưởng những em có thành tích cũng như răn đe rõ ràng đối với những phạm lỗi, nhưng trong quá trình răn đe, giáo dục, tôi vẫn động viên, khuyến khích tìm những điểm tốt của các em để nêu gương, sau đó mới đưa ra những lỗi phạm và yêu cầu các em không được vi phạm nữa. Đối với những em học sinh khuyết tật và cá biệt, tôi luôn giáo dục nhẹ nhàng, chỉ bày tỉ mỉ, thể hiện sự cảm thông, chia sẻ, sự nhân ái, bao dung sẵn sàng tha thứ, bỏ qua những lỗi lầm mà các em đã phạm. Chính vì thế mà tôi luôn được các em kính trọng, yêu quý và vâng lời, từ đó các em rất tự tin, phấn khởi, kích thích sự ham học, thích thú khi đến lớp. Mối quan hệ bạn bè trong và ngoài lớp: Tình bạn là tình cảm quý nhất của mỗi con người chúng ta, ở nhà chúng ta có tình cảm của ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng, đến lớp chúng ta không thể không có tình bạn. Có nhiều bạn tốt thì chúng ta luôn tự hào và là điều kiện giúp chúng ta vươn lên trong cuộc sống, người ta thường nói: "Học thầy không tày học bạn", bạn bè cần phải giúp đỡ lẫn nhau, vui buồn có nhau, phải biết thương yêu, đoàn kết, chia sẻ, cùng nhau phấn đấu trong học tập, trong cuộc sống, sao cho có kết quả cao nhất. Để xây dựng tốt mối quan hệ bạn bè trong và ngoài lớp của học sinh lớp tôi chủ nhiệm, tôi đã giáo dục các em những điều sau: - Trong học tập, các em phải biết giúp đỡ, hợp tác với nhau, bạn học giỏi chỉ bài cho bạn học yếu, bạn học chưa giỏi nên hỏi, trao đổi với bạn biết hơn mình. Các em không được ích kỉ, hẹp hòi. - Trong giao tiếp các em phải nói năng lịch sự, dễ nghe, nói từ tốn, nói lời hay ý đẹp, không được xúc phạm bạn, có điều gì không hài lòng hay bạn phạm lỗi với mình thì nói cho bạn hiểu để bạn sửa sai, hoặc nữa là trình với cô để cùng nhau giải quyết. - Trong cuộc sống các em cần phải biết đoàn kết, chia sẻ giúp đỡ những bạn còn khó khăn hơn mình, chia sẻ nỗi buồn, niềm vui cùng bạn,thương yêu nhau như anh, chị em cùng một nhà. - Tuyệt đối không được chọc bạn, đánh nhau với bạn, xúc phạm bạn, không nói tục, chửi thề. Không được nói xấu về bạn, không chia rẽ, chia bè phái hoặc không chơi với bạn này, bạn kia, 2.3.2.5. Tổ chức, tham gia các hoạt động tập thể: Hoạt động tập thể là một sân chơi trí tuệ, giúp học sinh phát huy trí tuệ, tài năng của mình tham gia các cuộc thi để rèn các kĩ năng sống và trải nghiệm thực tế, từ đó có cách giải quyết các tình huống trong đời sống hàng ngày tạo cho các em lòng tự tin, mạnh dạn khi tham gia sân chơi trí tuệ. Nó không những góp phần rèn luyện sức khỏe, kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm mà còn giúp học sinh rèn khả năng ứng xử văn hóa, có hứng thú trong học tập, không sa vào những games trực tuyến bạo lực vô bổ đang tràn lan và các tệ nạn xã hội. - Tham gia các hoạt động tập thể giúp cho các em rất nhiều về kĩ năng sống, các em có cơ hội thể hiện mình trước đám đông, thể hiện những tài năng, năng lực và kĩ năng giao tiếp của mìn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Skkn Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Hướng Dẫn Những Phương Pháp Tự Cách Âm Đơn Giản Tại Nhà Hiệu Quả
  • Cách Âm Phòng Ngủ Đơn Giản Với Vật Liệu Ak
  • Cửa Phòng Ngủ Và Các Biện Pháp Cách Âm Cho Phòng Ngủ Hiệu Quả
  • Ô Nhiễm Môi Trường Và Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường
  • Tài Liệu Skkn Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Kinh Nghiệm Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Các Biện Pháp Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Biện Pháp Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp Ở Trường Tiểu Học
  • Tỉ Lệ Tội Phạm Tại Mỹ Và Một Số Nước Giảm Nhờ Covid
  • “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 Tên đề tài:” Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp” A. PHẦN MỞ ĐẦU I. BỐI CẢNH ĐỀ TÀI Trường học là nơi đào tạo thế hệ trẻ thành con người có trình độ văn hoá và cũng là nơi có trách nhiệm luyện cho các em có ý thức học tập, từ đó các em thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ của người học sinh. Trong quá trình giáo dục học sinh theo hướng đổi mới “Lấy học sinh làm trung tâm” giáo viên là người thiết kế dạy học. Là giáo viên chủ nhiệm, bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ, vạch ra con đường thuận lợi, dễ đi và tạo sự hứng thú cho học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện đạo đức. Môi trường giáo dục rất cần thiết để giúp con người nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức. Đặc biệt đối với học sinh tiểu học, phải chú trọng giáo dục ngay từ đầu cấp, đó là trách nhiệm của giáo viên phụ trách lớp, vì thế công tác chủ nhiệm lớp góp phần quan trọng trong việc thực hiện nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; tiến tới hoàn thành tốt kế hoạch, mục tiêu và nhiệm vụ năm học. II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Để đạt được mục tiêu giáo dục nói chung, người giáo viên không những truyền thụ kiến thức, mà còn giúp các em tự trau dồi, rèn luyện, phấn đấu, phát huy vai trò làm chủ bản thân, làm chủ tập thể, khẳng định ý chí, niềm tin ngay từ lúc còn nhỏ. Hai nhiệm vụ không tách rời nhau mà chúng hỗ trợ lẫn nhau thông qua công tác chủ nhiệm của giáo viên. Trong giáo dục, công tác chủ nhiệm lớp là một công việc rất quan trọng đối với giáo viên. Nó có tác dụng nhiều mặt đối với học sinh và góp phần đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục toàn diện. Vì vậy, công tác chủ nhiệm tốt sẽ là điều kiện thuận lợi, là động lực hỗ trợ tích cực cho việc giảng dạy của Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 1 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 người thầy đạt kết quả tốt. Từ nhận thức trên, tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp” III. PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU – Phạm vi nghiên cứu: tìm hiểu thực trạng công tác chủ nhiệm lớp một Trường Tiểu học Hướng Phùng, Hướng Hóa, Quảng Trị. – Đối tượng nghiên cứu: Giáo viên và học sinh lớp một IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU – Giúp giáo viên nêu cao tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy và chủ nhiệm lớp. – Tìm ra những nguyên nhân chưa đạt trong công tác chủ nhiệm, từ đó đề xuất một số biện pháp giúp giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm lớp nhằm góp phần phát triển giáo dục toàn diện cho học sinh. V. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: * Về phía giáo viên: – Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp, đó là một trong những yếu tố nhằm thúc đẩy chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. – Thấy được những thiếu sót, những ưu, khuyết điểm trong công tác chủ nhiệm lớp để khắc phục và hoàn thiện cho tốt hơn. * Về phía học sinh: – Hiểu được “Học là nhiệm vụ và quyền lợi của học sinh”. Từ đó các em hăng say và sức tích cực học tập. B. PHẦN NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN – Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, vì giáo dục là nền tảng để xây dựng con người trở nên hoàn thiện và hữu dụng cho Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 2 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 đất nước. Để có được con người ấy, ngay từ đầu chúng ta cần phải truyền đạt cả tri thức lẫn nhân cách, đạo đức cho học sinh (đặc biệt là học sinh đầu cấp tiểu học) phát triển một cách toàn diện thông qua công tác chủ nhiệm. Thực hiện công tác này chỉ là người giáo viên chủ nhiệm lớp, công tác chủ nhiệm lớp hết sức quan trọng, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, tận tâm, phải yêu nghề, mến trẻ, phải có sự nhiệt tình, chu đáo. Đó là yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công của giáo viên trong công tác giáo dục toàn diện cho học sinh. – Nắm chắc được những thuận lợi, khó khăn, hiểu rõ thực tế trường lớp mình, khéo léo tìm cách bỏ đi mọi rào cản trong mối quan hệ với phụ huynh, đề ra những biện pháp hữu hiệu, tiếp cận gần với các em nhất, tôi tin rằng bất cứ giáo viên nào cũng sẽ sớm trở thành những người bạn của trẻ. Luôn gần gũi, bên cạnh, quan tâm tới hoàn cảnh sống của học sinh (nhất là học sinh có hoàn cảnh đặc biệt) để động viên, nhắc nhở kịp thời là tiêu chí đầu tiên tôi đặt ra trong công tác chủ nhiệm của mình. – Nhận lớp mới, mỗi giáo viên cần nắm vững đặc điểm của lớp cũ để đề ra mục tiêu phấn đấu sao cho không quá cao, xa vời thực tế mà cũng không quá thấp (làm cho học sinh không có sự kích thích để cố gắng vươn lên), mục tiêu phải phù hợp, vừa sức để học sinh cùng thi đua. Với những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, học yếu, khó bảo giáo viên chủ nhiệm lại có cách giáo dục riêng; Bên cạnh đó, liên hệ chặt chẽ với phụ huynh, ban phụ huynh của trường, của lớp, vận động cha mẹ có những hành động thiết thực hỗ trợ học tập sẽ giúp cho hoạt động của lớp có hiệu quả hơn. – Cùng với hoạt động học là hoạt động chủ đạo, để giúp học sinh hoàn thiện nhân cách của mình thì người giáo viên cần phải thu hút học sinh vào các hoạt động tập thể do trường, lớp tổ chức như tham gia văn nghệ kỷ niệm các ngày lễ lớn, tham gia các cuộc thi sáng tạo, thi giữ vở sạch viết chữ đẹp, tham quan… Để tạo sự tự tin trong học sinh, giáo viên cần phải tăng hiệu quả giao tiếp của chính mình, phải tôn trọng nhân cách học sinh, thể hiện tình cảm chân thành, tạo không khí vui tươi, phải biết lắng nghe học sinh, tránh tình trạng sốt Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 3 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 ruột, tức giận khi học sinh giao tiếp với mình. Phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu về nghệ thuật (vẽ, hát, múa, dẫn chương trình,…) sẽ tăng thêm sự tự tin vào khả năng của chính bản thân mỗi học sinh. Một trong những nguyên tắc giáo dục là: giáo dục bằng tập thể, trong tập thể, vì tập thể; giáo dục được tiến hành trong khi học tập, trong lúc vui chơi nên nhất thiết người giáo viên phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ lớp làm nòng cốt, là “cánh tay phải” của mình. – Muốn vậy cần phải có một sự chọn lựa dựa trên cơ sở định hướng của giáo viên và khả năng tín nhiệm của các bạn. Thường xuyên trao đổi công việc với các em, để các em tin tưởng và tâm sự với thầy cô những suy nghĩ của mình; đồng thời cần nhắc nhở các em không nên tự cao, tự đại, lạm dụng quyền hành trong cách cư xử với bạn, động viên, khen ngợi kịp thời. Để giúp cho các em hoạt động có hiệu quả, tích cực, chính xác, người giáo viên cần thiết kế hệ thống sổ sách theo dõi phù hợp và thường xuyên kiểm tra, đánh giá để có cách điều chỉnh thích hợp qua” Nhật kí Giáo viên chủ nhiệm”. Quan tâm tới sự phát triển nhân cách của trẻ bằng cách cư xử lịch sự, lễ phép khi giao tiếp là điều không thể thiếu. – Đối với lứa tuổi học sinh lớp Một, sự nhận thức tư duy nói chung, đều còn rất non trẻ. Ta cần hướng dẫn, giáo dục các em có thói quen nề nếp, ý thức trong học tập, trong cuộc sống để các em dần trở thành người có ích cho xã hội, đạt được mục tiêu trên chính là trách nhiệm của “người giáo viên chủ nhiệm lớp”. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ a) Thuận lợi: – Nhà trường luôn quan tâm, tạo điều kiện cho công tác giảng dạy thuận lợi: phòng học thoáng mát, đủ ánh sáng, cơ sở vật chất khá đầy đủ. – Được sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Phòng GD&ĐT và Ban giám hiệu Nhà trường. Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 4 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 – Được sự hợp tác hỗ trợ của Hội cha mẹ học sinh, của các tổ chức Đoàn thể trong và ngoài nhà trường – Học sinh có đủ sách vở và đồ dùng học tập chỉ 5 em/25 em b) Khó khăn: – Bên cạnh những thuận lợi, vẫn còn gặp nhiều khó khăn: + Điều kiện kinh tế từng hộ gia đình còn khó khăn, gia đình hộ nghèo còn rất đông. + Trình độ học sinh không đồng đều, việc tiếp thu kiến thức rất khó khăn. + Trình độ văn hóa của phụ huynh còn hạn chế nên sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục con em tại nhà chưa đạt kết quả. + Những lí do đó có ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng dạy và học của lớp. + Có những em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không có bàn tay chăm sóc của mẹ như: em Hồ Thị Pơ Rả, em Hồ thị Xuân, Em Hồ Văn Bằng + Đặc biệt học sinh trong lớp ở xa, đường đi lại khó khăn. Từ những thực trạng trên tôi đã tìm ra một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt công tác chủ nhiệm lớp. c. Số liệu thực tế: – Tổng số học sinh lớp gồm có: 25 em + Dân tộc Vân Kiều 25 em – Trong đó: + Nữ: 12 em + Nam: 13 em – Về độ tuổi: 6 tuổi: 7 em 7 tuổi: 7 em Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 5 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 8 tuổi: 11 em – Về địa bàn học sinh ở: + Thôn Cheng: 05 em + Thôn Ma Lai: 20 em III. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH – Để hoàn thành tốt công tác chủ nhiệm, trước hết giáo viên phải nắm vững tình hình chung ngay sau khi nhận lớp thông qua điều tra cơ bản. Giáo viên nắm rõ hoàn cảnh kinh tế của từng đối tượng học sinh trong lớp, từ đó lập ra kế hoạch cụ thể theo tuần, tháng, năm để thực hiện cho phù hợp. – Đặc biệt, cần chú trọng giáo dục học sinh có nề nếp trong mọi sinh hoạt; giáo dục các em có hành vi đạo đức tốt, biết vâng lời ông bà cha mẹ, kính trọng thầy cô, lễ phép với người lớn, luôn hòa nhã giúp đỡ bạn bè, khắc phục nói tục, chửi thề – Giáo dục học sinh có tinh thần lao động, yêu lao động, biết quý trọng thành quả lao động, hăng hái tham gia lao động tập thể. Giữ gìn vệ sinh môi trường, tạo cảnh quan trường học “xanh – sạch – đẹp” – Giáo dục học sinh thường xuyên luyện tập thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe, nhắc nhở các em tham gia tốt thể dục giữa giờ, thực hiện tốt giờ học thể dục. Qua đó giúp học sinh nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo; biết vận dụng tối vào trong chương trình học tập, tạo cơ sở cho việc rèn luyện thể chất cho học sinh. Giáo dục cho học sinh biết phòng chống bệnh tật và có ý thức phòng chống tệ nạn xã hội, hiểu biết luật giao thông và giữ đúng luật đi đường. – Trong giảng dạy, giáo viên luôn tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho học sinh, giúp các em thấy được “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Giáo viên phải tôn trọng học sinh, trò kính thầy; thầy quý trò. Và trong kiểm tra đánh giá học sinh, giáo viên phải nghiêm túc, sáng suốt và công bằng. Giáo viên Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 6 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 tổ chức các phong trào thi đua ngay tại lớp, có biểu điểm thi đua cụ thể. Thành lập tổ, nhóm, đôi bạn cùng tiến. Từ đó, học sinh có ý thức trong học tập. – Phân công học sinh khá, giỏi, giúp đỡ học sinh yếu, kém. Hằng ngày, học sinh đến lớp sớm 15 phút để ôn bài đầu giờ. Lớp trưởng và lớp phó học tập hướng dẫn bạn làm bài tập, viết bài…ôn lại những bài mà giáo viên đã dạy vừa qua. Phát động các phong trào: thi đua “Giữ vở sạch, viết chữ đẹp”, thi đua “Đôi bạn cùng tiến”,…Giáo viên thường xuyên theo dõi, động viên, khuyến khích, uốn nắn kịp thời. Cuối mỗi tuần, mỗi tháng tổng kết thi đua vào giờ sinh hoạt lớp. Tuyên dương trước lớp những học sinh đạt thành tích tốt, nhắc nhở, động viên những em chưa tốt. – Để công tác chủ nhiệm đạt kết quả tốt cần phải kết hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: Nhà trường, gia đình và xã hội. Giáo viên tổ chức họp Hội cha mẹ học sinh, thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp. Giáo viên tham mưu tốt với Chi hội phụ huynh lớp, để kết hợp vận động học sinh có nguy cơ bỏ học đến lớp thường xuyên. Trường hợp, học sinh nghỉ học 1 ngày không có lý do, thì giáo viên trực tiếp đến nhà hoặc liên lạc qua điện thoại phụ huynh học sinh để tìm hiểu nguyên nhân và có biện pháp khắc phục. – Đối với học sinh chậm tiến, giáo viên gặp và trao đổi với phụ huynh đưa ra kế hoạch giáo dục cụ thể giúp học sinh học tốt hơn, nâng dần chất lượng học tập của lớp. – Giáo viên thường xuyên kiểm tra sách vở của học sinh, mỗi tháng đều kiểm tra, xếp loại vở sạch-chữ đẹp của từng học sinh và công bố kết quả trước lớp. Cuối tháng, giáo viên báo kết quả học tập của học sinh cho phụ huynh rõ thông qua sổ liên lạc, hoặc thông báo trực tiếp (nếu cần). Giáo viên luôn quan tâm đến từng đối tượng học sinh, sớm phát hiện những chuyển biến của học sinh để có kế hoạch phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh khá, giỏi. Đặc biệt chú ý đến việc rèn luyện chữ viết: đúng, sạch, đẹp cho học sinh. IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 7 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 Từ năm học 1997-1998 đến nay. Bản thân tôi trực tiếp giảng dạy và chủ nhiệm các lớp học sinh, tôi đã áp dụng những biện pháp được nêu trên vào quá trình giảng dạy và tổ chức các hoạt động cho học sinh đều mang lại kết quả 15 năm liền tập thể lớp Tiên tiến. 5 năm liền lớp tôi chủ nhiệm đều có học sinh đạt danh hiệu cấp huyện và cấp tỉnh giữ vở sạch viết chữ đẹp cấp huyện. Năm học 2021-2016 được sự phân công của nhà trường, tôi giảng dạy lớp 1C. Trong thời gian dạy học vừa qua, bản thân tôi cũng như các tập thể học sinh do tôi trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy đã được nhà trường, Đội – Sao và các bạn đồng nghiệp cùng học sinh trong trường Tiểu học Hướng Phùng đánh giá rất cao trong mọi hoạt động giáo dục của lớp và là tập thể có nhiều thành tích về công tác tạo ra môi trường học tập thân thiện và học sinh tích cực. Từ những kết quả đạt được đó đã được các em học sinh hưởng ứng mạnh mẽ. – Bằng những kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm mà bản thân đã thực hiện qua nhiều năm, cùng với sự quyết tâm áp dụng một số kinh nghiệm nói trên đã làm lớp thay đổi một cách có hiệu quả, cụ thể như sau: – Ý thức tự quản lớp tốt, đội ngủ cán bộ lớp năng động nên giáo viên đỡ mất nhiều thời gian kiểm tra. – Sĩ số khá đảm bảo – Tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội qua các cuộc họp phụ huynh, công tác xã hội hóa giáo dục: Phụ huynh luôn hợp tác, sẵn sàng tham gia các hoạt động nhân đạo, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể cho học sinh. – Phong trào thi đua học tập và rèn luyện đạo đức tốt, nâng cao được hiệu quả giáo dục, cụ thể kết quả hai mặt giáo dục như sau: – Năm học 2021-2016 GVCN Lớp 1C đạt được chất lượng tiến bộ rỏ rệt như chất lượng Kiểm tra và đánh giá cuối học kỳ I: Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 8 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 Hoàn thành tốt nội dung các môn học và hoạt động giáo dục: 07 em phụ đạo nâng cao chất lượng so với đầu năm là 20 em đã biết đọc và biết viết( danh sách học sinh cần phụ đạo 20em đầu năm, bây giờ còn lại 5em) C. PHẦN KẾT LUẬN I. BÀI HỌC RÚT RA TỪ THỰC HIỆN VÀ KẾT QUẢ. Học sinh phần đa là học sinh còn nhút nhát, thiếu tự tin. Giáo viên là người mẫu mực, giàu lòng vị tha, nhân ái, nhưng cần cương quyết và năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động. Cần theo dõi, uốn nắn, giúp đỡ giáo dục thường xuyên, kịp thời và tôn trọng ý kiến học sinh, tạo điều kiện để các em hoạt động là chính. Còn giáo viên chỉ là người vạch ra kế hoạch, hướng dẫn, đánh giá và tổng kết các hoạt động. – Người giáo viên làm công tác chủ nhiệm phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt tình với nghề nghiệp. Không ngừng tự học, tự rèn để nâng cao năng lực, hưởng ứng cuộc vận động: “Dân chủ-Kĩ cương-Tình thươngTrách nhiệm”. – Giáo viên phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo và sẵn sàng phục vụ: “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Phấn đấu nâng cao hiệu quả giáo dục, duy trì thành quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, duy trì sĩ số lớp, chống lưu ban, bỏ học. Hưởng ứng tốt các phong trào thi đua của trường, của ngành. II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM – Giúp giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm nhằm phát triển giáo dục toàn diện. – Giúp thầy và trò Dạy tốt – Học tốt nâng dần hiệu quả giáo dục của nhà trường. III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 9 “MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TÔT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” 2021- 2021 – Nếu có điều kiện tôi sẽ đưa những kinh nghiệm của mình chia sẽ cùng với các đồng nghiệp ở trường để cùng nhau đưa chất lượng dạy và học ngày càng cao hơn. IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT – Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp ở trường tiểu học nhằm đáp ứng những yêu cầu của ngành, tôi xin có một số ý kiến sau: – Các cấp lãnh đạo ngành nên tổ chức các lớp bồi dưỡng công tác chủ nhiệm, hoặc nêu gương những giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm để học hỏi lẫn nhau. – Khi có những sáng kiến đạt hiệu quả, Phòng Giáo dụcvà Đào tạo nên có những khích lệ và đưa ra trước đội ngũ giáo viên cùng chia sẻ. Xác nhận của hiệu trưởng Quảng Trị, ngày 28/3/2016 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình tôi viết.(Tuyệt đối không sao chép của ai khác.) Người thực hiện Nguyễn Thị Nga Giáo viên: Nguyễn Thị Nga -Trường Tiểu học Hướng Phùng Trang 10

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Những Phương Pháp Tự Cách Âm Đơn Giản Tại Nhà Hiệu Quả
  • Cách Âm Phòng Ngủ Đơn Giản Với Vật Liệu Ak
  • Cửa Phòng Ngủ Và Các Biện Pháp Cách Âm Cho Phòng Ngủ Hiệu Quả
  • Ô Nhiễm Môi Trường Và Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường
  • Nguyên Nhân, Biện Pháp Khắc Phục Vấn Đề Ô Nhiễm Môi Trường
  • Skkn Van Thư Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Lưu Trữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Hành Chính Văn Phòng
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Tham Mưu Tổng Hợp Của Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân Cấp Tỉnh
  • Đổi Mới Sâu Sắc, Toàn Diện, Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Tham Mưu Trong Cand
  • Skkn Một Số Giải Pháp Tham Mưu Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Xây Dựng Csvc Trong Trường Mầm Non
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tham Mưu Cand Trong Tình Hình Mới
  • Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Một số biện pháp

    nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Phần mở đầu

    I. Đặt vấn đề:

    Lý do chọn đề tài:

    Qua thời gian thực hiện nhiệm vụ công tác văn thư lưu trữ trong nhà

    trường, tôi nhận thấy: khi soạn thảo văn bản, việc tìm hiểu các thông tin, các

    tài liệu đã xử lý trước đó là rất quan trọng để hình thành nên văn bản. Các tài

    liệu được lưu trữ tốt sẽ là nguồn cung cấp những thông tin có giá trị pháp lý,

    chính xác và kịp thời nhất cho người soạn thảo văn bản. Trên thực tế, nhà trường

    không thể rút ngắn thời gian ban hành các quyết định, giải quyết kịp thời, đúng

    đắn các yêu cầu của cấp trên và cán bộ giáo viên nếu không có đầy đủ, kịp thời

    thông tin từ tài liệu lưu trữ. Công việc nhà trường đ ư ợ c tiến hành nhanh hay

    chậm, thiết thực hay quan liêu là do công văn, giấy tờ có làm tốt hay không,

    do việc giữ gìn hồ sơ, tài liệu có được cẩn thận hay không. Như vậy, thực hiện

    tốt công tác lưu trữ sẽ góp phần thúc đẩy thực hiện tốt công tác văn thư. Ngược

    lại, thực hiện tốt công tác văn thư cũng sẽ góp phần thực hiện tốt công tác lưu

    trữ. Cụ thể là việc quản lý văn bản và lập hồ sơ hiện hành có ảnh hưởng quan

    trọng đến việc thực hiện tốt công tác lưu trữ. Có thể xem công tác lập hồ sơ như

    1

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    là cầu nối giữa công tác văn thư với công tác lưu trữ. Nếu hồ sơ được lập khoa

    học sẽ tiết kiệm thời gian, công sức và tạo điều kiện thuận lợi để công tác lưu trữ

    phát triển, từ đó từng bước phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ.

    Vai trò của công tác văn thư và lưu trữ đối với hoạt động của nhà trường là

    rất quan trọng, thể hiện ở 4 điểm sau:

    +Góp phần quan trọng đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý; cung cấp

    những tài liệu, tư liệu, số liệu đáng tin cậy phục vụ các nhiệm vụ chính trị của

    nhà trường. Đồng thời cung cấp những thông tin quá khứ, những căn cứ,

    những bằng chứng phục vụ cho hoạt động quản lý của nhà trường.

    +Giúp cho cán bộ, công chức trong nhà trường nâng cao hiệu suất công

    việc, giải quyết xử lý nhanh chóng và đáp ứng được các yêu cầu của tổ chức, cá

    nhân. Hồ sơ tài liệu trở thành phương tiện theo dõi, kiểm tra công việc một

    cách có hệ thống, qua đó cán bộ, công chức có thể kiểm tra, rút kinh nghiệm

    góp phần thực hiện tốt các mục tiêu quản lý: năng suất, chất lượng, hiệu quả và

    đây cũng là những mục tiêu, yêu cầu của cải cách nền hành chính nhà nước ở

    nước ta hiện nay.

    +Tạo công cụ để kiểm soát việc thực thi quyền lực của các bộ phận, tổ chức

    đoàn thể, cá nhân trong nhà trường. Góp phần giữ gìn những căn cứ, bằng chứng

    về hoạt động của cơ quan, phục vụ việc kiểm tra, thanh tra, giám sát.

    2

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    3

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Công tác văn thư: là hoạt động đảm bảo thông tin bằng văn bản phục vụ

    cho việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành công việc của cơ quan đơn vị.

    Công tác văn thư bao gồm những nội dung: Soạn thảo và ban hành văn bản,

    quản lý văn bản và các tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của

    cơ quan, đơn vị, quản lý và sử dụng con dấu. Trong quá trình thực hiện các nội

    dung công việc công tác văn thư ở các cơ quan phải đảm bảo các yêu cầu:

    Nhanh chóng, chính xác, bí mật, hiện đại.

    Công tác lưu trữ: Là quá trình hoạt động nghiệp vụ nhằm thu thập, bảo

    quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ. Công tác lưu trữ bao gồm

    những nội dung: Phân loại tài liệu lưu trữ, đánh giá tài liệu lưu trữ, chỉnh lý tài

    liệu lưu trữ, thu thập bổ sung tài liệu lưu trữ, bảo quản bảo vệ tài liệu lưu trữ, tổ

    chức sử dụng tài liệu lưu trữ. Trong quá trình thực hiện các nội dung công việc

    công tác lưu trữ ở các cơ quan phải đảm bảo: Tính khoa học, tính cơ mật.

    b) Nội dung:

    Bất kì một đơn vị hành chính sự nghiệp, dù ở lĩnh vực nào thì cũng

    phải cần có một bộ phận văn thư lưu trữ. Thực tế công tác văn thư – lưu trữ ở

    nhiều năm trước đây chưa được quan tâm đúng mức mà chỉ coi đây là công

    việc sự vụ đơn thuần. Người ta chưa thấy được vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng

    của công tác văn thư – lưu trữ trong văn phòng các cơ quan đơn vị. Cán bộ

    4

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    công chức văn phòng chưa được đào tạo đến nơi đến chốn do đó kiến thức

    chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đổi

    mới công tác văn thư – lưu trữ.

    Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi trường tiểu học An Bình 1, thông qua đề

    tài góp phần giúp nhân viên văn phòng nói chung, nhân viên văn thư trong các trường

    học hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

    Để có một văn bản mang tính chính xác cao, đòi hỏi người phụ trách

    công tác văn thư phải có những kỷ năng về xây dựng văn bản, cần nắm được

    các phương pháp soạn thảo văn bản vừa đầy đủ nội dung, vừa đúng thể thức

    của mỗi loại văn bản cụ thể do Nhà nước quy định.

    Để phục vụ tốt công tác nghiên cứu, quản lý, giảng dạy và học tập thì

    việc tìm kiếm văn bản đã lưu trữ đòi hỏi cần phải nhanh chóng, chính xác.

    Mục đích của đề tài nhằm giúp nhân viên văn thư tháo gỡ những khó

    khăn vướng mắc nêu trên.

    c) Ý nghĩa nguyên tắc:

    Đề tài dễ áp dụng, dễ thực hiện, đối với mọi đối tượng, mọi nơi không

    đòi hỏi nhân viên văn thư phải có trình độ tin học cao. Khai thác tốt năng lực

    của nhân viên văn phòng trong quản lý, khai thác sử dụng văn bản đạt hiệu quả

    cao.

    5

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Nâng cao được nhận thức và trách nhiệm của nhân viên văn phòng về

    công tác văn thư lưu trữ.

    Người làm công tác văn thư lưu trữ tìm kiếm được văn bản đã lưu một

    cách thật nhanh chóng, soạn thảo văn bản đúng yêu cầu, chính xác, đầy đủ nội

    dung để trình ký.

    Người làm công tác văn thư nếu có kế hoạch làm việc khoa học, dành

    thời gian đầu tư nghiên cứu, ứng dụng tốt công nghệ thông tin sẽ hoàn thành tốt

    nhiệm vụ văn thư lưu trữ.

    2. Thực trạng vấn đề:

    Trong những năm trước đây, công tác văn thư lưu trữ chưa được các

    trường học quan tâm, phần lớn chưa bố trí nhân viên làm công tác này mà chỉ

    phân công kiêm nhiệm. Trong những năm gần đây do cải cách thủ tục hành

    chính Nhà nước, công tác văn thư lưu trữ trong trường học cũng được Ban

    lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường quan tâm chỉ

    đạo sâu sát và triển khai thực hiện đúng theo các văn bản hướng dẫn: Thông tư

    Liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội

    Vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn

    bản; Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ

    về công tác văn thư, Công văn số 425/VTLTNN-NVTW ngày 18 tháng 7 năm

    6

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    2005 của cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước về việc hướng dẫn quản lý văn bản

    đi, văn bản đến. Qua thời gian làm công tác văn thư ở Trường tiểu học An Bình

    1 đã gặp những thuận lợi và khó khăn như sau:

    – Thuận lợi:

    Công tác văn thư lưu trữ có đầy đủ hệ thống văn bản mang tính pháp lý.

    Các văn bản đến đều được chuyển trực tiếp vào hộp thư điện tử của Trường.

    Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Phòng Giáo dực và Đào tạo quận Ninh

    Kiều và Ban giám hiệu nhà trường.

    Đảng, Chính quyền, ban ngành, đoàn thể và nhân dân rất quan tâm đến

    giáo dục, có tinh thần đoàn kết và hợp tác với nhà trường. Đội ngũ thầy cô giáo

    năng động, nhiệt tình, có năng lực chuyên môn tốt, có ý thức vươn lên hoàn

    thành nhiệm vụ của mình với tinh thần trách nhiệm cao.

    Cơ sở vật chất đáp ứng khá đầy đủ và kịp thời cho công tác quản lý, dạy

    học và các hoạt động khác.

    – Khó khăn:

    Thời gian làm việc ngắn, kinh nghiệm chưa cao, thời gian đầu còn phải

    tiếp cận làm quen với công việc nên cũng gặp một ít khó khăn trong công tác

    và trong xử lý vấn đề.

    Tủ lưu trữ hồ sơ phục vụ cho công tác văn phòng của trường còn thiếu.

    7

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Mặc dù vậy tôi đã cố gắng khắc phục, học hỏi, rút kinh nghiệm để vượt

    qua hoàn thành nhiệm vụ được giao.

    Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề nan giải và gây bức xúc cho người làm

    công tác văn thư lưu trữ là soạn thảo một văn bản đúng yêu cầu, đầy đủ nội

    dung, chính xác để trình ký; Số lượng văn bản đến rất nhiều để tìm một văn bản

    đã lưu một cách nhanh chóng nhất là một vấn đề không dễ dàng. Chính những

    vấn đề bức xúc trên thúc đẩy tôi tìm giải pháp thực hiện một cách nhanh chóng,

    hiệu quả để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    3. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề:

    * Biện pháp 1: Các biện pháp soạn thảo một văn bản đúng yêu cầu,

    đầy đủ nội dung, chính xác cao để trình ký:

    Người làm công tác văn thư lưu trữ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ được

    giao nói chung, soạn thảo một văn bản đúng yêu cầu, đầy đủ nội dung, chính

    xác để trình ký nói riêng cần phải thực hiện tốt một số nội dung sau:

    – Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc

    biệt là cập nhật thông tin, kiến thức qua mạng Internet. Tìm kiếm đầy đủ, kịp

    thời các văn bản mới nhất phục vụ chuyên môn nghiệp vụ lĩnh vực mình công

    tác. Hiện nay công tác văn thư lưu trữ thực hiện theo: Nghị định số

    09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ

    8

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm

    2004 của Chính phủ về công tác văn thư; Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày

    19 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội Vụ về việc Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật

    trình bày văn bản hành chính.

    – Tìm hiểu, nắm rõ đầy đủ thông tin về mọi hoạt động của nhà trường,

    nhất là lĩnh vực mà mình phụ trách để thuận lợi trong soạn thảo văn bản.

    – Phối hợp tốt với tổ chức đoàn thể, tổ chuyên môn, bộ phận chuyên

    trách trong mọi hoạt động của nhà trường.

    – Phải thật sự nhạy bén, năng động, sáng tạo trong công việc, mạnh dạn,

    thẳng thắn trong công tác tham mưu, thỉnh thị với cấp trên.

    – Điều đặc biệt là phải nắm vững quy trình, bố cục của một văn bản mà

    mình muốn soạn thảo.

    * Phương pháp soạn thảo một văn bản thường dùng:

    a. Tờ trình: Là loại văn bản dùng để đề xuất với cấp trên (hoặc cơ quan

    chức năng) một vấn đề mới hoặc đã có trong kế hoạch xin phê duyệt.

    – Phần mở đầu:

    + Những căn cứ có tính pháp lý.

    + Nhận định tình hình, nêu lý do đưa ra nội dung trình duyệt, phân tích

    những căn cứ thực tế làm nổi bật các nhu cầu bức thiết của vấn đề cần trình

    9

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    duyệt.

    – Phần nội dung:

    + Nêu tóm tắt nội dung của đề nghị mới, các phương án khả thi một cách

    cụ thể, rõ ràng, với các luận cứ kèm theo có thông tin trung thực, độ tin cậy

    cao.

    + Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh quanh đề nghị mới nếu được áp

    dụng.

    + Những thuận lợi khó khăn khi triển khai thực hiện. Những biệ pháp

    cần khắc phục phải được trình bày khách quan, tránh nhận xét chủ quan thiên

    vị.

    + Nêu ý nghĩa, tác dụng của đề nghị mới đối với hoạt động của đơn vị.

    – Phần kết thúc:

    + Những kiến nghị để cấp trên xem xét, chấp thuận để sớm triển khai,

    thực hiện đề xuất mới. Có thể nêu phương án dự phòng nếu cần thiết.

    * Mẫu của một loại Tờ trình:

    PHÒNG GD&ĐT QUẬN

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

    NINH KIỀU

    TRƯỜNG TIỂU HỌC AN

    NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    10

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    /TTR-THAB1

    An Bình, ngày ……. Tháng ……

    năm 20…

    TỜ TRÌNH

    ……………………………………….

    Căn

    cứ

    ………………………………………………………………………..

    Căn

    cứ

    …………………………………………………………………………

    Nêu lý do, những căn cứ thực tế làm nổi bậc các nhu cầu bức thiết của

    vấn đề cần trình duyệt.

    Nêu tóm tắt nội dung của đề nghị với các luận cứ kèm theo có thông tin

    trung thực, độ tin cậy cao.

    Nêu ý nghĩa, tác dụng của đề nghị đối với hoạt động của đơn vị.

    Những kiến nghị để cấp trên xem xét, chấp thuận để sớm triển khai, thực

    hiện đề xuất.

    Trân trọng kính chào!

    11

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Nơi nhận:

    THỦ TRUƯỞNG ĐƠN

    VỊ

    – Tên đơn vị nhận văn bản;

    – Lưu VT.

    Họ và tên`

    b. Báo cáo: Là văn bản phản ánh toàn bộ hoạt động và những kiến nghị của

    cơ quan, đơn vị hoặc tường trình về một vấn đề, một công việc cụ thể nào đó

    hoặc xin ý kiến chỉ đạo.

    – Phần mở đầu:

    + Những căn cứ có tính pháp lý.

    + Nêu những điểm chính về nhiệm vụ, chức năng của tổ chức, về chủ

    trương công tác do cấp trên hướng dẫn hoặc việc thực hiện công tác của đơn vị.

    Đồng thời nếu những điều kiện, hoàn cảnh có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện

    chủ trương công tác nêu trên.

    – Phần nội dung:

    + Kiểm điểm những việc đã làm, những việc chưa hoàn thành.

    + Những ưu, khuyết điểm trong quá trình thực hiện.

    12

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    + Xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan.

    + Đánh giá kết quả, rút ra bài học kinh nghiệm.

    – Phần kết thúc:

    + Phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới.

    + Các giải pháp chính để khắc phục các khuyết, nhược điểm.

    + Những kiến nghị với cấp trên.

    + Nhận định những triển vọng.

    * Mẫu của một loại báo cáo:

    PHÒNG GD&ĐT QUẬN

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

    NINH KIỀU

    TRƯỜNG TIỂU HỌC AN

    NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    /BC-THAB1

    An Bình, ngày ……. Tháng ……

    năm 20…

    BÁO CÁO

    ……………………………………..

    Căn

    …………………………………………………………………………..

    13

    cứ:

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Căn

    cứ:

    …………………………………………………………………………….

    I. Đặc điểm tình hình:

    1. Nhận xét về khái quát tình hình cơ quan, đơn vị về:

    – Tổ chức về bộ máy, nhân sự.

    – Trình độ văn hóa, kỹ thuật của đội ngũ cán bộ công nhân viên chức.

    – Tình hình nhiệm vụ, chức năng của tổ chức, về chủ trương công tác.

    2. Khó khăn và thuận lợi:

    – Thuận lợi

    – Khó khăn

    * Lưu ý:

    Chỉ nêu những khó khăn, thuận lợi của đời sống kinh tế xã hội … trực tiếp

    ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, đơn vị.

    II. Kết quả đạt được:

    Có thể trình bày nội dung của báo cáo theo các mặt hoạt động hay theo kết quả

    đạt được của cơ quan, đơn vị. (Có thể đối chiếu, so sánh số liệu cùng kỳ).

    Xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan.

    Đánh giá kết quả, rút ra bài học kinh nghiệm.

    III. Kết luận:

    14

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Đánh giá khái quát về toàn bộ các mặt hoạt động của cơ quan, đơn vị đã báo

    cáo phần trên, từ đó tự xếp loại kết quả đạt được.

    Các giải pháp chính để khắc phục các khuyết, nhược điểm.

    Phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới.

    Những kiến nghị với cấp trên.

    Nơi nhận:

    THỦ TRƯỞNG ĐƠN

    VỊ

    – Tên đơn vị nhận văn bản;

    – …………………………

    – Lưu VT.

    Họ và tên

    * Biện pháp 2: Các biện pháp tìm kiếm một văn bản đã lưu trữ

    nhanh chóng nhất:

    Hầu hết trong các trường học hiện nay, công tác lưu trữ được thực hiện

    một cách ngăn nắp, khoa học đúng theo các văn bản hướng dẫn hiện hành.

    Nhưng phương pháp lưu trữ truyền thống bằng giấy, với số lượng rất lớn văn

    bản như hiện nay thì tìm kiếm lại một văn bản đã lưu phải tốn nhiều công sức

    và thời gian (dò tìm trong sổ văn bản đến để tìm số văn bản đến, sau đó lựa

    chọn trong hồ sơ lưu).

    15

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Do đặc thù hiện nay, hầu như tất cả văn bản đến đều hành, chỉ đạo của

    cấp trên, nhất là Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ninh Kiều đều được gửi qua

    hộp thư điện tử có kèm theo file văn bản.

    Vì vậy muốn quản lý, lưu trữ văn bản để dễ tìm kiếm và nhanh chóng tôi

    sử dụng phương pháp đơn giản:

    – Tạo thư mục để chức các văn bản đã nhận (tải xuống từ hộp thư điện tử).

    – Tạo một file bằng Excel có nội dung giống như sổ văn bản đến. (Sổ văn

    bản đến 2013.xls)

    16

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    Liên kết trích yếu nội dung với file văn bản tương ứng trong thư mục

    chức văn bản đã nhận.

    – Đồng thời tạo bộ lọc cho file này là những mũi tên sổ xuống. ví dụ ta

    muốn tìm văn bản của Phòng, Sở, hoặc nơi nào khác… ta vào cột nơi phát hành

    bấm vào mũi tên sổ xuống chọn Phòng, Sở …. thì file sẽ lọc ra những văn bản

    chỉ của Phòng, hoặc chỉ của Sở, hay của bất cứ nơi nào…

    – Sau đó muốn tìm văn bản, ta mở file “Sổ văn bản đến 2013”, vào Edit,

    chọn (Find)

    Gõ từ cần tìm vào khung Find what, nhấp chuột vào Find Next, từ tìm

    được

    sẽ được nhấp chọn vào. Sau đó vào liên kết để mở file cần tìm.

    17

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    18

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    tốt các chủ trường đường lối của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước, sự

    quản lý, điều hành, chỉ đạo của cấp trên, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức

    cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, công tác báo cáo, thống kê của nhà trường

    được thực hiện đầy đủ, kịp thời, chính xác đáp ứng tốt theo yêu cầu của cấp

    trên.

    Phần kết luận

    III. Kết luận, kiến nghị:

    1. Kết luận:

    Thực hiện tốt các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu

    trữ sẽ góp phần quan trọng đảm bảo thông tin thông suốt cho mọi hoạt động

    quản lý, sự điều hành, chỉ đạo của Ban giám hiệu đạt hiệu quả cao.

    Giúp cho cán bộ, công chức nâng cao hiệu suất công việc; giải quyết, xử

    lý công việc nhanh chóng, đầy đủ cơ sở pháp lý, đáp ứng được yêu cầu đổi mới

    giáo dục hiện nay.

    Tạo công cụ để kiểm soát việc thực thi quyền lực của các bộ phận, tổ

    chức đoàn thể, cá nhân trong nhà trường. Góp phần giữ gìn những căn cứ, bằng

    chứng về hoạt động của cơ quan, phục vụ kiểm tra, thanh tra, giám sát.

    Rèn luyện tính cẩn thận, ngăn nắp, khoa học; nâng cao tinh thần trách

    19

    Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ

    An Bình, ngày ….

    tháng …. năm

    2013

    Hội đồng chấm

    Người viết

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Tại Trường Thpt Lê Hồng Phong
  • Đề Tài Công Tác Quản Trị Văn Phòng Với Việc Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Tỉnh Quảng Bình
  • Nâng Cao Chất Lượng Quản Trị Văn Phòng Thời Công Nghiệp 4.0
  • Văn Phòng Tỉnh Ủy Nâng Cao Vai Trò, Trách Nhiệm Tham Mưu Phục Vụ Lãnh Đạo Tỉnh Ủy
  • Làm Tốt Công Tác Tham Mưu, Phục Vụ Cấp Ủy Trong Tình Hình Mới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Đối Với Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại Khách Sạn Sao Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại Khách Sạn Sao Biển, Hay
  • Đề Tài: Thực Trạng Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại City View Hotel, 9 Điểm!
  • Công An Tp Hà Nội: Tăng Cường Quản Lý Một Số Ngành Nghề Đầu Tư, Kinh Doanh Có Điều Kiện
  • Tăng Cường Quản Lý Các Cơ Sở Kinh Doanh Có Điều Kiện Về An Ninh Trật Tự
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Các Ngành, Nghề Đầu Tư Kinh Doanh Có Điều Kiện Về An Ninh Trật Tự Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình
  • MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Trong những năm gần đây, du lịch nước ta đã có những bước phát

    triển mạnh, đóng góp một phần đáng kể vào GDP của cả nước. Để có được

    kết quả như vậy là nhờ một trong những đóng góp không nhỏ của ngành

    kinh doanh khách sạn.

    Tuy nhiên quá trình hội nhập cũng đang đặt ngành du lịch đứng

    trước những thách thức to lớn với những sức ép lớn về thị trường, với

    những cuộc cạnh tranh gay gắt. Muốn tồn tại ngành du lịch nói chung, hoạt

    động kinh doanh của các khách sạn nói riêng phải tìm ra những giải pháp

    tích cực để tìm được chỗ đứng cũng như tạo doanh thu, thương hiệu của

    mình. Do đặc thù của khách sạn là kinh doanh các dịch vụ nên lao động của

    ngành này cũng đặc biệt hơn so với các ngành khác cả ở tính chất cũng như

    nội dung công việc. Vì vậy muốn đạt được mục đích của mình các nhà kinh

    doanh phải có các chính sách để quản lý cũng như phát triển nguồn nhân

    lực một cách hiệu quả và khoa học nhất.

    Vậy phải làm như thế nào để đạt được hiệu quả cao trong công tác

    này? Đây là một vấn đề lớn mà bất cứ nhà quản lý nào cũng quan tâm bởi

    hoạt động này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các sản phẩm và dịch

    vụ mà khách sạn của mình cung cấp.

    Thực tế đã cho thấy rằng, hiện nay chất lượng các sản phẩm và dịch

    vụ mà khách sạn cung cấp cho khách hàng còn chưa tốt, còn thiếu tính

    chuyên nghiệp mà một trong những nguyên nhân là do các khách sạn chưa

    thực sự làm tốt công tác quản trị nhân lực.

    Ở Hải Phòng hiện nay, ngành du lịch nói chung và hoạt động kinh

    doanh khách sạn nói riêng đang có một thị trường khá sôi động, nhiều

    khách sạn hiện đại, đạt tiêu chuẩn chất lượng 4 sao hoặc tương đương được

    đầu tư xây dựng. Bên cạnh những khách sạn có lịch sử phát triển khá sớm

    và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của du lịch thành phố không thể

    1

    không kể đến những khách sạn mới như Princess, Pearl River, Hoàng Long

    Classical,… trong đó có khách sạn Sao Biển (Sea star). Tuy nhiên hiện nay,

    một trong những vấn đề mà các khách sạn đang gặp phải là công tác quản

    trị nhân lực chưa thực sự tốt, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu

    quả kinh doanh của các khách sạn.

    Xuất phát từ thực tế đó, sau quá trình nghiên cứu tìm hiểu, người viết

    đã quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp đối với công tác

    quản trị nhân lực tại khách sạn Sao Biển” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

    của mình.

    2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

    2.1. Mục đích

    Tìm hiểu công tác quản trị nhân lực trong khách sạn Sao Biển cũng

    như đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại

    khách sạn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của khách sạn.

    2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

    – Hệ thống cơ sở lí luận về kinh doanh khách sạn và quản trị nhân lực

    trong khách sạn.

    – Tìm hiểu thực trạng công tác quản trị nhân lực tại khách sạn Sao

    Biển- Hải Phòng.

    – Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực

    tại khách sạn Sao Biển.

    3. Đối tƣợng nghiên cứu

    Công tác quản trị trong hoạt động kinh doanh khách sạn.

    4. Phạm vi nghiên cứu

    Công tác quản trị nhân lực tại khách sạn.

    5. Phƣơng pháp nghiên cứu

    5.1. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

    2

    Trên cơ sở thu thập các thông tin, số liệu cần thiết từ đó dựa trên

    những số liệu này để người viết phân tích, so sánh và đưa ra những đánh

    giá cụ thể.

    5.2. Phương pháp khảo sát thực địa

    Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống. Thông qua tìm hiểu

    thực tế đưa ra được các ý kiến và nhận xét khách quan của người viết.

    5.2. Phương pháp xã hội học

    Lấy ý kiến cũng như thái độ của khách hàng về khách sạn từ đó có

    đưa ra được những mặt tích cực và hạn chế của khách sạn để đưa ra được

    giải pháp khắc phục.

    5.3. Phương pháp thống kê mô tả

    Thông qua các con số đã được thu thập và xử lý người viết lập ra các

    bảng số liệu và từ đó mô tả qua biểu đồ để người đọc dễ dàng nhận thấy ý

    đồ của người viết cũng như so sánh được vấn đề một cách trực quan nhất.

    5.4. Phương pháp đối chiếu, so sánh

    Thông qua các con số, người viết tập hợp các số liệu rồi tiến hành

    đối chiếu, so sánh các số liệu có được, qua thao tác này người viết sẽ có

    được một kết quả và có thể đánh giá dựa trên kết quả đã thu được.

    6. Bố cục của khóa luận

    Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần

    nội dung của khóa luận bao gồm 3 chương:

    Chương 1. Cơ sở lí luận về công tác quản trị nhân lực trong kinh

    doanh khách sạn.

    Chương 2. Thực trạng công tác quản trị nhân lực tại khách sạn Sao Biển.

    Chương 3. Một số biện pháp nhằm phát triển và hoàn thiện công tác

    quản trị nhân lực tại khách sạn Sao Biển.

    3

    Chƣơng 1

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

    TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN

    1.1. Khái niệm và đặc điểm của kinh doanh khách sạn

    1.1.1. Khái niệm khách sạn và kinh doanh khách sạn

    a) Khách sạn

    Có rất nhiều khái niệm về khách sạn:

    Theo cách định nghĩa của các nhà nghiên cứu về khách sạn của Pháp:

    Khách sạn là nơi lưu trú được xếp hạng, có các buồng phòng và căn hộ với

    các trang thiết bị tiện nghi nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của khách

    trong một khoảng thời gian dài (có thể hàng tuần hoặc hàng tháng nhưng

    không lấy đó là nơi cư trú thường xuyên), có thể có nhà hàng. Khách sạn

    có thể hoạt động quanh năm hoặc theo mùa.

    Theo thông tư số 01/20002/TT-TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng cục

    du lịch: Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy

    mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đẳm bảo về chất lượng cơ sở vật chất, trang

    thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch.

    Theo “Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn” của nhóm tác giả

    trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Khách sạn là cơ sở cung cấp các dịch

    vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi), dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí

    và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu lại qua đêm và thường xuyên

    được xây dựng tại các điểm du lịch”.

    Như vậy có thể hiểu rằng: Khách sạn là nơi cung cấp các dịch vụ lưu

    trú ăn uống và các dịch vụ bổ trợ khác như vui chơi giải trí, dịch vụ giặt là,

    điện thoại, lữ hành, thương mại,… cho khách hàng với điều kiện khách phải

    trả các khoản tiền dịch vụ trên (nếu sử dụng) theo quy định của khách sạn.

    4

    b) Kinh doanh khách sạn

    Khái niệm kinh doanh khách sạn lúc đầu dùng để chỉ hoạt động cung

    cấp chỗ ngủ cho khách trong khách sạn và quán trọ. Khi nhu cầu lưu trú và

    ăn uống với các mong muốn thỏa mãn khác nhau của khách ngày càng đa

    dạng, kinh doanh khách sạn đã mở rộng đối tượng và bao gồm cả khu cắm

    trại, làng du lịch, các khách sạn – căn hộ, motel v.v… Nhưng dù sao khách

    sạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn và là cơ sở chính với các đặc trưng cơ bản nhất

    của hoạt động kinh doanh phục vụ nhu cầu lưu trú cho khách, vì vậy loại

    hình kinh doanh này có tên là “kinh doanh khách sạn”.

    Vậy có thể hiểu rằng: “Kinh doanh khách sạn là một hoạt động kinh

    doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú , ăn uống và các dịch vụ bổ

    sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại

    các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi”.

    Kinh doanh khách sạn bao gồm các chức năng: chức năng sản xuất,

    chức năng lưu thông và chức năng tiêu thụ sản phẩm với mục tiêu là thu

    hút được nhiều khách du lịch, thỏa mãn được nhu cầu của khách ở mức độ

    cao đem lại lợi nhuận kinh tế cho ngành du lịch, đất nước và cho chính bản

    thân khách sạn.

    Ngành kinh doanh khách sạncó vị trí quan trọng, là một hoạt động

    không thể thiếu trong ngành du lịch. Khách sạn là nơi dừng chân của khách

    du lịch trong hành trình của họ, khách sạn cung cấp những nhu cầu thiết

    yếu (ăn, ngủ nghỉ…) và những nhu cầu vui chơi giải trí khác. Kinh doanh

    khách sạn tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần đưa ngành du lịch phát triển,

    tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo nguồn thu ngoại tệ cũng như

    là sợi dây liên kết với các ngành khác.

    1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn

    Hoạt động kinh doanh khách sạn mang những đặc điểm cơ bản sau:

    – Là ngành kinh doanh dịch vụ, sản phẩm tạo ra chủ yếu phải có sự

    tiếp xúc giữa con người với con người nên nó có những đặc điểm riêng biệt.

    5

    – Phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch.

    – Chỉ có thể được tiến hành thành công ở những nơi có tài nguyên du

    lịch, bởi lẽ tài nguyên du lịch là yếu tố thúc đẩy, thôi thúc con người đi du

    lịch. Nơi nào không có tài nguyên du lịch nơi đó không thể có khách du

    lịch tới. Vậy rõ ràng tài nguyên du lịch có ảnh hưởng rất mạnh đến kinh

    doanh của khách sạn. Mặt khác, khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch

    ở mỗi điểm du lịch sẽ quyết định đến quy mô của khách sạn trong vùng.

    Giá trị và sức hấp dẫn của tài nguyên du lich có tác dụng quyết định đến

    thứ hạng của khách sạn. Chính vì vậy, khi đầu tư vào kinh doanh khách

    sạn đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ các thông số của tài nguyên du lịch cũng

    như những nhóm khách hàng mục tiêu và khách hàng tiềm năng bị hấp dẫn

    tới điểm du lịch mà xác định các chỉ số kĩ thuật của một công trình khách

    sạn khi đầu tư xây dựng và thiết kế. Bên cạnh đó, đặc điểm về kiến trúc,

    quy hoạch và đặc điểm về cơ sở vật chất kĩ thuật của các khách sạn tại các

    điểm du lịch cũng có ảnh hưởng tới việc làm tăng hay giảm giá trị của tài

    nguyên du lịch tại các trung tâm du lịch.

    – Hoạt động kinh doanh khách sạn phần lớn được tạo ra do đội ngũ

    lao động trực tiếp tạo ra các dịch vụ cho nên hoạt động kinh doanh này cần

    một lực lượng nhân lực đông đảo.

    – Hoạt động kinh doanh khách sạn diễn ra liên tục 24/24 giờ và làm

    việc không kể ngày lễ tết, mặt khác công việc lại mang tính chuyên môn

    hóa cao vì vậy nên cần có một đội ngũ nhân lực để trao đổi, chuyển ca

    nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách về chất lượng cũng như đảm bảo

    về sức khỏe của người lao động. Đây là bài toán khó khăn đối với các nhà

    quản lý khách sạn bởi họ luôn phải đối mặt với những khó khăn về chi phí

    lao động trực tiếp tương đối cao, khó giảm thiểu chi phí này mà không làm

    ảnh hưởng xấu tới chất lượng dịch vụ của khách sạn. Khó khăn cả trong

    công tác tuyển mộ, lựa chọn và phân công bố trí nguồn nhân lực của mình.

    Trong các điều kiện kinh doanh theo thời vụ, các nhà quản lý khách sạn

    6

    thường coi việc giảm thiểu chi phí lao động một cách hợp lí là thách thức

    lớn đối với họ.

    – Kinh doanh khách sạn đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn. Đặc điểm này

    xuất phát từ nguyên nhân do yêu cầu về tính chất lượng cao của sản phẩm

    khách sạn: đòi hỏi các thành phần của cơ sở vật chất kĩ thuật của khách sạn

    cũng phải có chất lượng cao. Tức là cơ sở vật chất kĩ thuật của khách sạn

    tăng lên cùng với sự tăng lên của thứ hạng khách sạn. Sự sang trọng của

    các trang thiết bị được lắp đặt bên trong khách sạn chính là một nguyên

    nhân đẩy chi phí đầu tư ban đầu của công trình khách sạn lên cao.

    Ngoài ra đặc điểm này còn xuất phát từ một nguyên nhân khác như:

    chi phí ban đầu cơ sở hạ tầng khách sạn cao, chi phí đất đai cho một công

    trình khách sạn lớn.

    – Hoạt động kinh doanh khách sạn mang tính quy luật. Kinh doanh

    khách sạn chịu sự chi phối của một số nhân tố, mà lại hoạt động theo một

    số quy luật như: quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế xã hội, quy luật tâm lý

    của con người… Dù chịu sự chi phối của quy luật nào đi nữa thì điều đó

    cũng gây ra những tác động tiêu cực và tích cực đối với kinh doanh khách

    sạn. Vấn đề đặt ra cho khách sạn là phải nghiên cứu kỹ các quy luật và sự

    tác động của nó đến khách sạn để từ đó chủ động tìm kiếm những các biện

    pháp hữu hiệu để khắc phục những tác động bất lợi của chúng và phát huy

    những tác động có lợi nhằm phát triển hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

    1.2. Khái niệm và đặc điểm nguồn nhân lực trong khách sạn

    1.2.1. Khái niệm

    a) Nguồn nhân lực

    Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các

    cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu

    nhất định. Nguồn nhân lực khác với những nguồn lực khác của các doanh

    nghiệp do chính bản chất của con người.

    7

    b) Nguồn nhân lực trong khách sạn

    Nguồn nhân lực trong khách sạn là tập hợp đội ngũ cán bộ nhân viên

    đang làm việc tại khách sạn, góp sức lực và trí lực tạo ra sản phẩm đạt được

    những mục tiêu về doanh thu, lợi nhuận cho khách sạn.

    1.2.2. Đặc điểm nguồn nhân lực trong khách sạn

    a) Tính thời vụ

    Lao động trong khách sạn nói riêng, lao động trong ngành du lịch nói

    chung đều có tính biến đổi lớn trong thời vụ. Trong chính vụ, do lượng

    khách tập trung lớn nên đòi hỏi đội ngũ nhân viên phục vụ cũng phải cao

    và phải làm việc với cường độ lớn và ngược lại trong thi điểm ngoài vụ thì

    chỉ cần một lượng nhỏ nhân viênthuộc các bộ phận bảo vệ, quản lý.

    b) Lao động trong khách sạn có tính công nghiệp hóa cao, tính kỉ luật cao.

    Trong quá trình lao động, nhân viên cần có những thao tác nhanh

    nhạy, chính xác và đồng bộ. Lao động trong khách sạn không thể cơ khí tự

    động hóa cao được vì sản phẩm trong khách sạn chủ yếu là dịch vụ do vậy

    rất khó khăn trong việc thay thế lực lượng lao động trong khách sạn vì nếu

    thay thế rất dễ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.

    c) Đặc điểm về cơ cấu độ tuổi, giới tính

    * Theo độ tuổi

    Lao động trong khách sạn đòi hỏi một lực lượng trẻ, tuổi trung bình

    thường từ 20 – 40 tuổi. Độ tuổi này thay đổi theo từng bộ phận và từng

    khách sạn cụ thể, thông thường độ tuổi của lao động thuộc các bộ phận

    được phân bố như sau:

    – Bộ phận lễ tân: 20 – 25 tuổi.

    – Bộ phận bàn: 20 – 30 tuổi.

    – Bộ phận buồng: 25 – 40 tuổi.

    – Bộ phận quản lý: 40 – 50 tuổi.

    *Theo giới tính

    8

    Theo giới tính, lao động trong khách sạn chủ yếu là lao động nữ, vì

    họ rất phù hợp ở các phận buồng, bar, bàn, lễ tân. Còn lại nam giới chỉ làm

    việc ở các bộ phận quản lý, bảo vệ và bếp.

    d) Tính luân chuyển trong công việc

    Lao động trong khách sạn chịu sự chi phối của thời vụ, độ tuổi, giới

    tính nên có tính luân chuyển trong công việc. Tại một thời điểm nhất định,

    nhân lực có thể được điều động, luân chuyển giữa các bộ phận. Khi một bộ

    phận yêu cầu lực lượng lao động trẻ mà đội ngũ nhân viên hiện tại không

    đáp ứng được yêu cầu đó thì lại phải chuyển họ sang một bộ phận khác phù

    hợp. Đây cũng là một trong những vấn đề mà các nhà quản lý khách sạn

    cần quan tâm và giải quyết.

    1.3. Quản trị nhân lực trong kinh doanh khách sạn

    1.3.1. Khái niệm

    Quản trị nguồn nhân lực trong khách sạn là một trong những hoạt

    động quản trị quan trọng nhất của khách sạn. Có thể xem là một công việc

    khó khăn và gai góc về tỷ lệ thay đổi nhân công ở các vị trí là rất lớn so với

    các lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác. Mặt khác, sản phẩm của khách sạn

    chủ yếu là dịch vụ. Nhà quản lý khách sạn cầm phân biệt giữa 2 khái niệm

    quản trị nhân sự và quản trị nguồn nhân lực

    Theo từ điền Hán Việt: “Quản” nghĩa là trông nom, chăm sóc; “trị”

    nghĩa là sửa sang răn đe. “Quản trị” tức là phụ trách việc trông nom, sắp

    xếp việc nội bộ của một tổ chức. “Nhân” là người; “sự” là việc; “lực”

    nghĩa là sức; “nhân lực” nghĩa là sức lao động của con người. Như vậy có

    thể hiểu quản trị nhân sự là phụ trách sắp xếp con người sự việc hiện tại

    trong một tổ chức, còn quản trị nhân lực là phụ trách sắp xếp, vun đắp sức

    lao động của con người để duy trì và phát triển tổ chức. So với quản trị

    nhân sự, quản trị nguồn nhân lực mang tính chiến lược dài hạn, dựa vào các

    9

    – Kì vọng của người sử dụng

    – Kỳ vọng của người lao động

    – Kỳ vọng của đồng nghiệp

    – Kỳ vọng của xã hội

    – Kỳ vọng của khách hàng

    Sự chênh lệch của 5 kỳ vọng này càng tiến dần tới không bao nhiêu

    thì càng tốt bấy nhiêu.

    Sơ đồ phân tích nhiệm vụ dựa vào mối quan hệ giữa

    các thành phần

    Kỳ vọng người sử

    Kỳ vọng của người

    dụng lao động

    lao động

    Kỳ vọng của

    Kỳ vọng của xã hội

    Kỳ vọng của

    Khách hàng

    đồng nghiệp

    Phân tích công việc là một công cụ rất quan trọng trong quản trị nhân

    lực. Nó còn đặc biệt quan trọng hơn đối với các khách sạn mà trong đó sản

    phẩm chủ yếu là dịch vụ. Một trong những nguyên nhân dẫn tới năng suất

    lao động thấp, nhân viên dẫm chân lên nhau, tranh công đổ tội, không biết

    rõ trách nhiệm và quyền hạn của ai, việc đào tạo huấn luyện không có cơ

    sở, thiếu thực tế đó là các khách sạn chưa áp dụng một cách thường xuyên

    và hiệu quả công cụ này.

    11

    b) Mô tả công việc

    Thông thường việc phân tích nhiệm vụ và công việc được phê chuẩn

    và liệt kê từng nhiệm vụ cụ thể thì việc phân tích công việc trở thành bản

    mô tả công việc mà một chức danh nào đó phải thực hiện.

    Bản mô tả công việc là liệt kê cô đọng và chính xác những việc mà

    nhân viên đảm nhận chức danh đó phải thực hiện. Bản mô tả cho biết người

    mang chức danh đó phải làm gì? Bằng cách nào? Các kiến thức và kỹ năng

    cần thiết điều kiện thực hiện. Bản mô tả công việc như là cơ sở có tính chất

    pháp lý để quản lý người lao động, là một công cụ có thể sử dụng để đo

    lường việc thực hiện bổn phận của người lao động theo từng chức danh mà

    họ đảm nhận.

    Cấu trúc của bảng mô tả công việc gồm:

    * Chức danh

    * Bộ phận

    * Người lãnh đạo trực tiếp

    * Chức trách chính

    * Chức trách hỗ trợ

    * Khả năng, kỹ năng, kiến thức

    * Tiêu chuẩn đào tạo

    * Thời gian và điều kiện làm việc

    c) Tiêu chuẩn hóa định mức lao động

    Tiêu chuẩn hóa định mức có thể xây dựng cho từng chức danh: Cần

    bao nhiêu thời gian để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể. Năng suất lao động

    là số giờ lao động cần thiết của một nhân viên để cung cấp một dịch vụ nào

    đó cho khách. Việc tăng năng suất lao động xảy ra khi:

    – Cùng một số lượng nhân viên và cùng một chất lượng phục vụ

    được cung cấp cho khách nhiều hơn.

    12

    Trong đó:

    – Si là quỹ lương của kì phân tích

    – So Là quỹ lương của kì trước

    – Di Là doanh thu kì phân tích

    – D0 Là doanh thu của kì trước

    Nếu:

    15

    1.3.3. Những nguyên tắc cơ bản

    Để thực hiện được các chức năng của mình, quản trị nguồn nhân lực

    khách sạn cần phải tuân theo 5 nguyên tắc sau:

    – Nguyên tắc thang bậc trong quản lý

    – Nguyên tắc thống nhất trong quản lý và điều hành

    – Nguyên tắc ủy quyền

    – Nguyên tắc tạo cơ hội bình đẳng

    – Nguyên tắc tự đào thải

    1.3.4. Nhiệm vụ của bộ phận quản trị nguồn nhân lực

    Bộ phận này được xem là một trong những bộ phận quan trọng nhất

    của quản trị kinh doanh khách sạn và là bộ phận gián tiếp hoạt động kinh

    doanh. Nhiệm vụ cụ thể của nó là:

    – Xác định mô hình tổ chức bộ máy của khách sạn và định biên lao

    động ở các bộ phận trong khách sạn.

    – Lập kế hoạch và thực hiện việc tuyển dụng người lao động cho

    khách sạn

    – Phối hợp với các bộ phận khách sạn xây dựng chức trách cho

    từng chức danh, các quy định chuẩn hóa quy trình và thao tác kĩ

    thuật, các mối quan hệ cho từng bộ phận trong khách sạn.

    – Quy định chế độ và thực hiện đánh giá công việc của từng chức

    danh mà người lao động đảm nhiệm.

    – Đề ra và chấp hành chế độ quản lý người lao động.

    – Tham gia biên soạn và sửa chữa quy chế, điều lệ của khách sạn.

    – Thực hiện công tác lao động tiền lương, phúc lợi bảo hiểm, bảo

    hộ người lao động, quản lý công tác bồi dưỡng và đào tạo người

    lao động.

    – Thực hiện các công tác quản lý hành chính khác.

    17

    1.3.5. Ý nghĩa

    Như vậy bộ phận quản trị nhân lực khách sạn là bộ phận chức năng

    về quản lý và công tác đào tạo bồi dưỡng người lao động của khách sạn. Bộ

    phận này chịu trách nhiệm quan hệ phối hợp nhân lực trong nội bộ khách

    sạn, tạo điều kiện tốt cho mọi người làm việc theo đúng chức danh mà cá

    nhân đảm nhận, tăng cường sự đoàn kết gắn bó, xây dựng văn hóa truyền

    thống của khách sạn. Quản trị nguồn nhân lực là một trong những chức

    năng cơ bản của hoạt động quản trị, giải quyết tất cả các vấn đề có liên

    quan đến con người gắn với công việc của họ trong bất cứ một tổ chức nào.

    Tiểu kết chƣơng 1

    Chương 1 của khóa luận đã tập trung hệ thống cơ sở lý luận cơ bản

    về quản trị nguồn nhân lực trong khách sạn. Đây là những kiến thức và là

    cơ sở để người viết áp dụng vào thực tế, để nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt

    động quản trị nhân lực tại khách sạn Sao Biển. Từ đó đưa ra được những

    đánh giá về thực trạng và đề xuất các giải pháp đối với công tác quản trị

    nhân lực tại khách sạn sẽ được đề cập tới trong chương 2 và chương 3 của

    khóa luận.

    18

    Chƣơng 2

    THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

    TẠI KHÁCH SẠN SAO BIỂN

    2.1. Khái quát về khách sạn Sao Biển

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

    Khách sạn Sao Biển thuộc công ty cổ phần đầu tư phát triển du lịch

    Tân Hoàng Gia. Theo số giấy phép kinh doanh số 0203003425 được cấp

    ngày 02/06/2005 thì khách sạn Sao Biển được thành lập ngày 22/12/2007

    và chính thức đưa vào hoạt động từ tháng 1/2008. Theo quyết định số 268

    ngày 14/10/2008, khách sạn được Tổng Cục Du LịchViệt Nam công nhận

    đạt tiêu chuẩn 4 sao và hiện nay đã khẳng định vị thế của mình và đứng

    vững trên thị trường bên cạnh những khách sạn nổi tiếng khác tại Hải

    Phòng như Nam Cường (trước đây là TRAY Hotel), Haberview, Hữu Nghị.

    Một số thông tin chung về khahcs sạn Sao Biển:

    – Tên khách sạn: Khách sạn Sao Biển

    – Tên giao dịch: Seastars International Hotel

    – Cơ quan chủ quản: Công ty cổ phần đầu tư phát triển du lịch,

    thương mại Tân Hoàng Gia.

    – Xếp hạng: 

    – Tổng số phòng: 90

    – Địa chỉ: 1/3 Lê Hồng Phong – Quận Ngô Quyền – Hải Phòng

    – Điện thoại: 031.3556998

    – Fax: 031.3556888

    – Website: seastarshotel.com

    – Email: [email protected]

    Khách sạn Sao Biển được đặt ở vị trí hợp lý với 3 mặt tiền thoáng

    mát nằm trên trục đường chính khu đô thị mới gần trung tâm thành phố.

    Với diện tích 1.800 m2, khách sạn chỉ cách sân bay Cát Bi Hải Phòng và

    19

    cảng Đình Vũ chừng 4 km với 90 phòng nghỉ sang trọng, 2 nhà hàng Á –

    Âu có sức chứa đến 800 khách, phòng hội thảo và trung tâm tổ chức sự

    kiện, câu lạc bộ sẽ là điểm đến lí tưởng cho du khách khi đến Hải Phòng.

    2.1.2. Cơ cấu tổ chức

    Sơ đồ tổ chức của khách sạn

    Hội đồng quản trị

    Tổng giám đốc

    Phó tổng giám đốc

    Giám đốc điều hành

    Phó giám đốc điều hành

    Phòng Kế toán

    Phòng Kinh doanh

    Phòng Hành chính nhân sự

    Bộ phận

    Bộ phận

    Bộ phận

    Bộ phận

    Bộ phận

    Bộ phận

    nhà

    buồng,

    CLB

    lễ tân và

    kỹ thuật

    bảo vệ

    hàng và

    vệ sinh,

    sức

    thu ngân

    bếp

    giặt là

    khỏe

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Bán Hàng Bằng Hình Thức Thương Mại Điện Tử Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Và Tiêu Thụ Sản Phẩm
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Hàng Hoá, Dịch Vụ Ở Việt Nam
  • Chính Sách Tài Chính Đối Với Sự Phát Triển Của Nông Nghiệp, Nông Dân Và Nông Thôn Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Các Htx Nông Nghiệp Của Nước Ta Hiện Nay
  • Triển Khai Một Số Biện Pháp Thực Hiện Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Rượu, Bia Trong Cơ Quan Văn Phòng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Cơ Bản Của Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Rượu, Bia Và Giải Pháp Thực Hiện Trong Quân Đội
  • Đưa Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Rượu Bia Vào Cuộc Sống
  • Luật Phòng Chống Tác Hại Của Rượu Bia 2021 2021
  • Những Điểm Cần Lưu Ý Trong Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Rượu, Bia
  • Đẩy Mạnh Thực Hiện Phòng Chống Tác Hại Của Rượu Bia
  • Riêng đối với Quân đội, rượu, bia đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tác phong của người quân nhân cách mạng; dễ xảy ra các vụ việc gây gổ, đánh nhau, mất đoàn kết; làm giảm sức chiến đấu và kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; đặc biệt có thể để lộ bí mật quân sự, bí mật của nhà nước…

    Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia số 44/2019/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2019; Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Đảng ủy, chỉ huy Văn phòng cùng toàn thể cán bộ, nhân viên, hạ sỹ quan – chiến sỹ trong cơ quan thực hiện tốt một số nội dung sau:

    triển khai đồng bộ các biện pháp để thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (có hiệu lực từ ngày 01/01/2020); nhất là các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; chịu trách nhiệm về hành vi uống rượu, bia và quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

    nghiêm cấm không được uống rượu, bia trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập; đã uống rượu, bia không được lái xe (gồm: xe đạp, mô tô, xe máy và ô tô) theo quy định, nhất là đối với các đồng chí lái xe ô tô quân sự.

    trong giờ nghỉ, ngày nghỉ và ngày lễ, các đơn vị tổ chức liên hoan, thực hiện theo thực đơn ăn, uống khoa học, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Các trường hợp có sử dụng rượu, bia phải được sự đồng ý của chỉ huy Văn phòng (nghiêm cấm hạ sỹ quan – chiến sỹ sử dụng rượu, bia trong mọi trường hợp); rượu, bia phải được kiểm soát chặt chẽ chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, thương hiệu có uy tín, bảo đảm an toàn, không để xảy ra ngộ độc thức ăn do ăn uống, đặc biệt từ rượu, bia.

    đột phá trong thực hiện Chỉ thị 917/CT-QP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng để xây dựng điểm cơ quan Văn phòng vững mạnh toàn diện “tiêu biểu, mẫu mực” theo Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ học kỳ II năm học 2021 – 2021 của Đảng ủy Học viện gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 87 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; đồng thời, xây dựng Đội xe Chỉ huy “Chính quy, an toàn, hiệu quả” và thực hiện tốt văn hóa công vụ.

    chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền các nội dung thực hiện Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia và các quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân viên, hạ sỹ quan – chiến sỹ về tác hại của rượu, bia đối với sức khỏe con người, gia đình, cộng đồng, an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội; có những biện pháp, hành động cụ thể, ở mọi lúc, mọi nơi, giảm thiểu những tác hại của rượu, bia góp phần xây dựng Đảng bộ Văn phòng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, cơ quan vững mạnh toàn diện; đơn vị luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./.

    N.T.S

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Dân Số
  • Các Biện Pháp Thực Hiện Kế Hoạch Hóa Gia Đình Phổ Biến Hiện
  • Các Biện Pháp Kế Hoạch Hóa Gia Đình Mọi Cặp Vợ Chồng Nên Biết
  • Chuyển Biến Tích Cực Trong Triển Khai Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Và Thi Hành Kỷ Luật Đảng
  • Một Số Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Của Tổ Chức Đảng Trong Các Học Viện, Nhà Trường Quân Đội Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Về Công Tác Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Mầm Non Hòa Phú

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tham Luận Về Công Tác Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Nhà Trường
  • Giải Pháp Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Thực Hiện Chương Trình, Sgk Mới
  • Biện Pháp Đầu Tư Cơ Sở Vật Chất Trường Mầm Non
  • Tư Vấn Thiết Kế Hồ Bơi, Giải Pháp Xây Dựng Hồ Bơi Khách Sạn Giá Tốt
  • Xây Văn Phòng, Khách Sạn
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂY HÒA

    TRƯỜNG MẦM NON HÒA PHÚ

    BÁO CÁO KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG

    ĐỀ TÀI:

    MỐT SỐ BIỆN PHÁP VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG

    CƠ SỞ VẬT CHẤT TRƯỜNG MẦM NON HÒA PHÚ

    Người nghiên cứu: Lê Thị Diệu Huyền

    Đơn vị: Trường Mầm non Hòa Phú

    Năn học 2012 -2013

    MỤC LỤC

    (………………………..)

    Giải pháp thay thế:

    Để có được kết quả một cách chính xác về vấn đề nghiên cứu, chúng tôi chọn

    kiểu thiết kế 2 với mô hình sau:

    Bảng 1

    Nhóm (xã)

    Thăm dò

    Tác động

    trước tác động

    Thăm dò

    sau tác động

    N1

    O1

    X

    O3

    N2

    O2

    O4

    Trong đó: N1 là nhóm thực nghiệm (xã Hòa Phú)

    N2 là nhóm đối chứng (xã Sơn Giang)

    3.3. Quy trình nghiên cứu.

    Đầu tiên, chúng tôi dựa vào kết quả thăm dò thái độ lần thứ nhất vào tháng

    8/2012 đối với nhân dân 2 xã. Sau đó chúng tôi tác động giải pháp mới trong

    khoản thời gian 6 tháng. Đến cuối tháng 3/2013 chúng tôi thu thập thông tin qua

    phiếu thăm dò lần thứ hai.

    Bước 1:

    Xây dựng phiếu thang đo thái độ.

    Mức độ

    Rất đồng ý

    Đồng ý

    Tương đối

    Không

    đồng ý

    Vào đầu năm học, tôi lên kế hoạch xây dựng cụ thể về chương trình hoạt

    động chăm sóc giáo dục trẻ, các phong trào thi đua, nội dung tuyên truyền, hình

    thức tuyên truyền đến phổ biến rộng rãi trong hội đồng sư phạm và cho tất cả phụ

    huynh trong nhà trường và ngoài xã hội . Riêng giáo viên từng lớp tôi yêu cầu

    các nhóm lớp xây dựng kế họach và tổ chức tuyên truyền tới các bậc phụ huynh,

    đặc biệt tôi còn tranh thủ các buổi họp phụ huynh toàn trường hoặc các buổi họp

    ban đại diện phụ huynh học sinh để tuyên truyền những kiến thức chăm sóc và

    nuôi dạy con theo khoa học. Từ đó phụ huynh sẽ thấy rõ việc nuôi dưỡng phải

    gắn liền với việc xây dựng cơ sở vật chất , từ đó sẽ tạo điều kiện cho tôi kết hợp

    với hội phụ huynh học sinh vận động hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở vật chất một

    cách dễ dàng hơn và được sự đông tình cao của phụ huynh.

    + Giải pháp 6. Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục.

    Trong xây dựng cơ sở vật chất công tác xã hội hóa giáo dục vô cùng quan

    trọng nó đóng một vai trò then chốt, vì vậy để thành công ta cần phải tăng cường

    công tác vận động tuyên truyền về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ

    một cách có khoa học, để nâng cao chất lượng và đảm bảo được số lượng thì

    chúng ta mới có thể làm tốt được công tác xã hội giáo dục trong việc xây dựng cơ

    sở vật chất trong trường mầm non. Nhưng nếu chỉ trông chờ vào nguồn đóng

    góp của nhân dân không thì không thể xây dựng được mà cần phái có sự hổ trợ

    của toàn xã hội cho nên vào đầu năm học tôi đã tranh thủ viết thư ngõ đến các cơ

    quan, đơn vị đóng trên địa bàn xã Hòa Phú và các doanh nghiệp , nhà hảo tâm

    trong và ngoài tỉnh xin hổ trợ nguồn quĩ để xây dựng thêm phòng học và tạo

    cảnh quan môi trường xanh-sạch-đẹp, an toàn.

    + Giải pháp 7: Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp cho đội ngũ giáo

    Xin ý kiến chỉ đạo vận động nhân dân đóng góp quĩ để xây dựng CSVC mua

    sắm trang thiết bị . Đặc biệt là công tác bảo quản cơ sỏ vật chất cho nhà trường

    * Đối phòng giáo dục:

    Có kiến nghị, đề xuất cụ thể như hiện nay điểm trường Tân Mỹ, Lương

    Phước không có phòng học.mượn trường Tiểu học số 1 Hòa Phú. Đặc điểm các

    phòng học chung với các lớp trường Tiểu học thì phải chung bàn ghế , vì vậy rất

    khó khăn cho việc thực hiện các hoạt động chăm sóc giáo dục toàn diện cho trẻ,

    phần nào cũng ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ. Đề nghị Phòng giáo dục nhanh

    chóng có hưởng giải quyết

    + Giải pháp 4: Tranh thủ thời cơ khai thác và huy động các nguồn lực

    trong và ngoài xã hội.

    Tạo điều kiện tiếp cận với lãnh đạo địa phương, lãnh đạo PGD& ĐT huyện Tây

    Hòa khai thác các nguồn vốn hổ trợ từ địa phương, các nguồn vốn từ các chương

    trình dự án hổ trợ và các nhà hảo tâm.

    + Giải pháp 5: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nguồn quĩ phụ

    huynh học sinh..

    Vào đầu năm học, tôi lên kế hoạch xây dựng cụ thể về chương trình hoạt

    động chăm sóc giáo dục trẻ, các phong trào thi đua, nội dung tuyên truyền, hình

    thức tuyên truyền đến phổ biến rộng rãi trong hội đồng sư phạm và cho tất cả phụ

    huynh trong nhà trường và ngoài xã hội . Riêng giáo viên từng lớp tôi yêu cầu

    các nhóm lớp xây dựng kế họach và tổ chức tuyên truyền tới các bậc phụ huynh,

    đặc biệt tôi còn tranh thủ các buổi họp phụ huynh toàn trường hoặc các buổi họp

    ban đại diện phụ huynh học sinh để tuyên truyền những kiến thức chăm sóc và

    nuôi dạy con theo khoa học. Từ đó phụ huynh sẽ thấy rõ việc nuôi dưỡng phải

    gắn liền với việc xây dựng cơ sở vật chất , từ đó sẽ tạo điều kiện cho tôi kết hợp

    với hội phụ huynh học sinh vận động hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở vật chất một

    cách dễ dàng hơn và được sự đông tình cao của phụ huynh.

    + Giải pháp 6. Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục.

    dạy trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo hiện nay.Nếu như ở điều kiện cơ sở vật chất thiếu

    thốn thì việc phát triển toàn diện của trẻ tin chắc rằng sẽ không mang lại hiệu

    quả cao.Bỡi thế để làm được vấn đề này đòi hỏi người hiệu trưởng phải có được

    một tầm nhìn rộng và phải biết vận dụng thời cơ đúng lúc, đúng nơi và đúng

    thành phần.Vì vậy công tác tham mưu với lãnh đạo cũng là một điều kiện cần

    thiết và quan trọng.Bên cạnh ấy cần phải phối hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường

    gia đình , nhà trường và xã hội.Nhưng cũng không xem nhẹ việc bồi dưỡng, nâng

    cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và đặc biệt là công tác

    chăm sóc , giáo dục nuôi dạy trẻ theo từng độ tuổi. Đó chính là những yếu tố hội

    tụ mà sẽ tác động có hiệu quả trong công tác xây dựng cơ sở vật chất ở trường

    mầm non trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.

    3.4. Đo lường và thu thập dữ liệu.

    Chúng tôi đã dựa vào thu thập được từ 2 lần thăm dò thái độ để làm kết quả đo

    lường và thu thập dữ liệu. Để đảm bảo dữ liệu thu thập được mang tính khách

    quan, chúng tôi đã tiến hành chọn xác xuất ngẫu nhiên 10 phiếu/100 phiếu lần

    thứ nhất và cũng chọn xác xuất ngẫu nhiên 10 phiếu/100 phiếu lần thứ 2

    Dữ liệu thu thập qua 2 lần như sau:

    3.4.1. Dữ liệu thu thập lần thứ nhất – dữ liệu trước tác động:

    Bảng2

    Câu hỏi của phiếu

    Nhóm thực nghiệm N1

    Nhóm đối chứng N2

    thăm dò

    (Xã Hòa Phú)

    (Xã Sơn Giang)

    Câu 1

    85

    85

    2

    85

    70

    3

    85

    85

    4

    70

    85

    5

    70

    70

    6

    100

    100

    7

    70

    85

    8

    70

    50

    9

    70

    70

    10

    70

    70

    Câu hỏi của phiếu

    Nhóm thưc nghiệm N1

    Nhóm đối chứng N2

    thăm dò

    (Xã Hòa Phú)

    (Xã Sơn Giang)

    Câu 1

    100

    100

    2

    100

    85

    3

    100

    85

    4

    100

    85

    5

    85

    85

    6

    100

    100

    7

    100

    85

    8

    100

    70

    9

    100

    70

    10

    85

    70

    3.5. Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả.

    Bảng 4

    Câu hỏi

    thăm dò

    Nhóm thưc nghiệm N1

    Nhóm đối chứng N2

    (Xã Hòa Phú)

    (Xã Sơn Giang)

    Trước tác động

    Sau tác động Trước tác động

    Sau tác động

    Câu1

    85

    100

    85

    100

    2

    85

    100

    70

    85

    3

    85

    100

    85

    85

    4

    70

    100

    85

    85

    5

    70

    85

    70

    85

    6

    100

    100

    100

    100

    7

    70

    100

    85

    85

    8

    70

    100

    50

    70

    9

    70

    100

    70

    70

    10

    70

    85

    70

    70

    Giá trị trung bình

    N1

    N2

    87.25

    80.25

    13.12

    12.61

    =average(number1, number2…)

    Độ lệch chuẩn

    =stdev(number1, number2…)

    Giá trị p1 (ttest độc lập)

    =ttest(array1,arry2,tail,type)

    0.46

    Các thông số thống kê sau tác động

    Bảng 6

    Giá trị trung bình

    N1

    N2

    97

    80.25

    6.32

    12.61

    =average(number1, number2…)

    Độ lệch chuẩn

    =stdev(number1, number2…)

    Giá trị p2 (ttest phụ thuộc)

    0.008

    =ttest(array1,arry2,tail,type)

    Mức độ ảnh hưởng (độ chênh lệch giá

    trị trung bình chuẩn)

    1.22

    SMD = (averageN1 – averageN2)/stdevN2

    Theo bảng tiêu chí của Cohen

    Tiêu chí Cohen

    Mức độ ảnh hưởng Kết quả nghiên cứu

    của đề tài

    Rất lớn

    0.8 – 1.0

    Lớn

    0.5 – 0.79

    Trung bình

    0.2 – 0.4

    Nhỏ

    < 0.2

    Rất nhỏ

    SMD = 1.22

    Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD=1.22 cho thấy mức độ ảnh

    hưởng của việc thực nghiệm bằng đưa nhóm các giải pháp về xây dựng cơ sở vật

    chất của trường Mầm non Hòa Phú là rất lớn.

    Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu: Việc sử dụng nhóm các giải pháp về xây

    dựng cơ sở vật chất của trường Mầm non Hòa Phú đã được kiểm chứng và có

    hiệu quả thiết thực trong quản lí nhà trường Mầm non.

    IV BÀN LUẬN:

    Trong điều kiện CSVC trường học Mầm non còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt

    là trường Mầm non Hòa Phú. Vơi tinh thần trách nhiệm của người cán bộ quản lý

    giáo dục ở cơ sở, tôi đã chịu khó tìm tòi, nghiên cứu và mạnh dạng đưa ra các

    nhóm giải pháp có tính tích cực nhằm làm thay đổi từng bước bộ mặt của nhà

    trường và cũng là mục đích dần đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ mà nhân dân đặt

    ra ngày càng cao. Với kết quả nghiên cứu công phu, qua thu thập, đo lường và

    phân tích dữ liệu băng những thông số thống kê xác đáng cho chúng ta thấy đề tài

    đưa ra là có hiệu quả.

    Hạn chế:

    Nghiên cứu mà sử phương pháp vận động tuyên truyền là đem lại kết quả nhằm

    giúp cho trường có giải pháp để làm tốt công tác xây dựng cơ sở vật chất ở đơn vị

    trường. Nhưng để áp dụng có hiệu quả bản thân cần phải tìm hiểu rõ các thông tin

    về việc huy động phụ huynh đóng góp quĩ. Mạt khác cần phải phối hợp với các

    ban ngành đoàn thể trong nhà trường và chủ tịch hội phụ huynh một cách nhịp

    nhàng hơn.

    V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:

    1. Kết luận:

    Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển

    của xã hội. vậy việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng chính là việc đầu tư sự nghiệp

    giáo dục trẻ sau này, mà cái chính ở đây trong đề tài này là cần phải xây dựng cơ

    sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cho trẻ để trẻ có đủ điều kiện phát

    triển toàn diện về mọi mặt như nhận thức, thể chất, thẩm mỹ, tình cảm…

    Theo lời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói:

    Trẻ em như búp trên cành

    Biết ăn ngủ, biết học hành là ngon.

    Như vậy làm công tác xây dựng cơ sở vật chất trong nhà trường với nhiệm vụ

    một cán bộ làm công tác quản lý trường mầm non tôi luôn suy nghĩ rằng phải:

    Phải có ý thức trách nhiệm cao với ngành, với các phong trào, với nhân và phụ

    huynh, có lòng yêu nghề ,mếm trẻ.

    Phải xây dựng kế hoạch cụ thể đựa trên tình hình thực tế của địa phương, thực

    lực của nhà trường mang tính thuyết phục và tính khả thi cao.Đặc biệt là làm tốt

    công tác tham mưu với các cấp lãnh đạo, từ đó mới có thể.

    – Tạo cảnh quan môi trường sư phạm rộng, thoáng mát, xanh sạch đẹp an toàn;

    mới có thể nâng cao được số lượng và chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ.

    1. Khuyến nghị:

    – Đối các cấp lãnh đạo:

    Năm học 2013-2014 xây dựng bếp ăn một chiều, tuyển thêm giáo viên nhóm

    trẻ, nhân viên cấp dưỡng.

    Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho nhóm trẻ như: bàn ăn, tủ đựng thức ăn,

    bếp điện, nồi điện.

    – Đối với địa phương:

    Hổ trợ cho nhà trường về công tác xã hội hóa giáo dục, công tác vận động

    tuyên truyền bằng nhiều hình thức.

    VII. PHỤ LỤC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa Cơ Sở Huyện Mỹ Đức, Hà Nội
  • Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Cơ Quan Đạt Chuẩn Văn Hóa
  • Lđlđ Tp. Hà Tĩnh: Đẩy Mạnh Phong Trào Xây Dựng Cơ Quan, Đơn Vị, Doanh Nghiệp Đạt Chuẩn Văn Hóa
  • Xây Dựng Cơ Quan Đạt Chuẩn Văn Hóa
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Việc Xây Dựng Cơ Quan, Đơn Vị Đạt Chuẩn Văn Hóa
  • Các Biện Pháp Thi Công Hệ Thống Cấp Thoát Nước Trong Nhà Dân Dụng Cho Các Nhà Thầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Những Giải Pháp Thi Công Hệ Thống Cấp Thoát Nước Cho Nhà Phố Giúp Tránh Những Phát Sinh Không Mong Muốn
  • Giải Pháp Thi Công Hệ Thống Cấp Thoát Nước
  • Giải Pháp Ngăn Chặn Tình Trạng Chống Người Thi Hành Công Vụ
  • Tội Chống Người Thi Hành Công Vụ Bị Xử Phạt Như Thế Nào ?
  • Tìm Giải Pháp Đẩy Lùi Tình Trạng Chống Người Thi Hành Công Vụ
  • Biện Pháp thi công hệ thống cấp thoát nước trong xây dựng dân dụng

    Các thiết bị cấp nước như máy bơm, van, ống,… được sử dụng cho công trình phải phù hợp với yêu cầu của thiết kế cả về chủng loại, chất lượng và nguồn gốc. ống nước và thiết bị phải được lắp đặt đúng vị trí, đúng quy địng của thiết kế. các mối nối phải đảm bảo chắc chắn, kín khít và sau khi đã lắp đặt xong phải có biện pháp bảo vệ đường ống, thiết bị tránh không được làm bẹp, méo hay bị hư hỏng.

    • Thợ nước phải kết hợp với thợ nề, thợ cốp pha để bố trí ống thông, ống cấp thoát nước thông qua dầm, sàn tường theo bản vẽ thiết kế nước.
    • Đường ống phải được bảo quản kỹ tránh cát, đất,… vào trong ống trong suốt quá trình thi công.

    Trước khi nghỉ hay ngừng thi công, các đầu ống phải được bịt bằng nút bịt hoặc phải có biện pháp che chắn sao cho không bị bụi bẩn hay các chất khác chui vào trong đường ống gây bẩn hoặc hư hại.

    • Ren ống và nối ống phải đảm bảo độ kín tránh rò rỉ.
    • Đường ống nước ngầm phải lắp đặt trước khi thợ nề tô trát tường.

    Sau khi lắp đặt xong, nhà thầu sẽ tiến hành thử áp lực cho từng tuyến ống và theo từng yêu cầu sử dụng cụ thể của tuyến ống theo thiết kế. dụng cụ thử áp lực bao gồm bơm áp lực chạy bằng điện, đồng hồ đo áp lực có chỉ số đo từ 0 – 20 kg/cm2, van xả khí. Quá trình thử phải bơm đầy nước vào ống một cách từ từ và cẩn thận sao cho khí thoát hết ra ngoài, đường ống phải chứa đầy nước trong thời gian 24 giờ trước khi tiến hành thử áp lực. áp lực thử và thời gian thử phải theo đúng qui định của thiết kế và hướng dẫn của chủ đầu tư.

    Khi lắp đặt và thử áp lực xong toàn bộ hệ thống cấp nước, nhà thầu sẽ tiến hành xúc xả, thau rửa đường ống, ngâm nước khử trùng theo đúng yêu cầu của thiết kế.

    Hệ thống cấp thoát nước là bao gồm:

    hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước thải, thoát nước mưa và sau đó thu tất cả các loại nước sinh hoạt, nước thải (và cả nước mưa) từ các hệ thống đường ống phụ trong tòa để xử lý, điều hòa, phân phối rồi vận chuyển qua hệ thống mạng lưới thoát nước xuống bể tự hoại rồi thải ra ngoài.

    Hệ thống cấp nước:

    Dùng để dẫn nước từ bể chứa cung cấp nước sinh hoạt hằng ngày đến các thiết bị như chậu rửa, nhà vệ sinh, phòng tắm rồi từ đó nước chảy xuống qua hệ thống nước thải tới bể tự hoại qua quá trình xử lý rồi thải ra ngoài. Bạn phải cần chú ý: Phải đảm bảo áp lực nước đầu ra tốt, nước không bị yếu, đường ống đi ngắn nhất, phân loại đường ống nước nóng và đường ống nước lạnh một cách hợp lý tiết kiệm không gian, tiết kiệm ngắn nhất đường ống khi lắp đặt.

    Hệ thống thoát nước thải:

    • Thiết kế bể tự hoại.
    • Vị trí đặt bể tự hoại.
    • Cấu tạo bể tự hoại, đường ống dẫn nước và thoát nước trong bể.
    • Phễu thu sàn, cách đi đường ống đến bể tự hoại, kèm theo là độ dốc và độ lớn trong hệ thống thoát nước thải.

    Dùng để thu dẫn nước thải từ nhà nhà vệ sinh, các chậu rửa.phòng tắm nước được thu lại qua phểu thu sàn theo đường ống thoáy nước thải tới bể tự hoại rồi thải ra ngoài theo đường ống nước thoát.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Đánh Giá Thực Thi Công Vụ Của Công Chức Phường, Hot
  • Đề Tài: Năng Lực Thực Thi Công Vụ Của Công Chức Cơ Quan, Hot
  • Đánh Giá Hiệu Quả Của Cán Bộ Công Chức Trong Thực Thi Công Vụ Theo Phương Pháp Kpi
  • Đánh Giá Thực Thi Công Vụ Nhằm Đảm Bảo Hiệu Quả Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Chính Nhà Nước
  • Vấn Đề Đánh Giá Kết Quả Thực Thi Công Vụ Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Cơ Bản Để Đổi Mới Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Pháp Luật Thi Đua, Khen Thưởng
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thi Đua
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng: Phải Bắt Đầu Từ Công Tác Cán Bộ
  • Một Vài Kiến Nghị Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng Trong Tòa Án Nhân Dân
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Đánh Giá Thực Thi Công Vụ Của Đội Ngũ Công Chức Hiện Nay
  • Công tác thi đua – khen thưởng có vị trí, ý nghĩa, vai trò quan trọng góp phần tạo động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, là biện pháp để người quản lý sử dụng trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, chính trị của cơ quan, đơn vị mình nhằm khuyến khích, động viên các cá nhân hăng hái thi đua lập thành tích trong lao động và công tác .

    Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc nhằm động viên, khích lệ cán bộ, đảng viên trong lao động, phát triển kinh tế cũng như trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

    Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thi đua khen thưởng: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”, “công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua”, “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”. Trong thời gian tới, để đơn vị thật sự phát huy, làm tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, bên cạnh các giải pháp khác thì việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng để công tác này thật sự trở thành động lực, đòn bẩy, thúc đẩy việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng và việc nghiên cứu, áp dụng, thực hiện một cách linh hoạt, hợp lý, thiết thực, có hiệu quả các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng trong đơn vị đóng một vai trò rất quan trọng. Xác định rõ vai trò của công tác thi đua – khen thưởng, đ ể công tác thi đua, khen thưởng thực sự là “đòn bẩy”, kích thích cá nhân, tập thể hăng say hoạt động, phát huy hết tài năng của mình trong việc xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện thì cần phải thực hiện có hiệu quả một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:

    Một là, lãnh đạo đơn vị cần có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của công tác thi đua, khen thưởng trong xây dựng đơn vị .

    Bản chất của thi đua, khen thưởng không phải là sự cạnh tranh, ganh đua mà là hình thành động cơ thi đua trong sáng, lành mạnh, vì lợi ích của mọi người, của tập thể và lợi ích của đơn vị. Động cơ thi đua là lực thúc đẩy bên trong của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện phong trào thi đua, là tổng hòa những nhân tố tình cảm, ý chí, niềm tin với phong trào thi đua. Động cơ thi đua hình thành trên cơ sở giác ngộ sâu sắc về mục đích, ý nghĩa và vai trò của thi đua, thể hiện sâu sắc nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với sự lớn mạnh của đơn vị. Trên cơ sở xây dựng động cơ đúng mà xây dựng quyết tâm hoàn thành hoàn thành các chỉ tiêu, định mức của thi đua. Để làm được điều đó, ở đơn vị phải tập trung tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ, công chức nắm vững mục đích, ý nghĩa chính trị – xã hội của thi đua, những quan điểm của Đảng ta và của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về thi đua, làm tốt việc giáo dục ý thức tập thể, tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vì lợi ích chung, kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng ăn thua, ganh đua, cục bộ, chạy theo thành tích, vì lợi ích động cơ cá nhân và những biểu hiện thiếu trung thực trong thi đua. Lãnh đạo đơn vị cần chỉ đạo thường xuyên tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa tiêu cực trong công tác thi đua, khen thưởng, tránh tình trạng khen thưởng tràn lan, không thực chất, không trọng tâm, không đúng đối tượng. Mỗi chi bộ, đảng viên cần phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu và là hạt nhân trong các phong trào thi đua ở cơ sở, gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây được xem là giải pháp then chốt, quan trọng nhất và mang tính quyết định đến hiệu quả của công tác thi đua, khen thưởng mà đơn vị cần quán triệt và có biện pháp thực hiện hiệu quả.

    Hai là, cần tạo sự thống nhất về tư tưởng trong việc tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong toàn đơn vị.

    Việc thống nhất cao về tư tưởng trong lãnh đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ các mặt công tác nói chung và công tác thi đua, khen thưởng nói riêng đóng một vai trò quan trọng. Nó chính là “bộ não” có tác dụng điều khiển, tạo nên động lực phấn đấu đối với mỗi cán bộ, công chức của đơn vị, là tiền đề cơ bản, quan trọng nhất trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả, thành công công tác này. Không thể phát động phong trào thi đua, phát huy được tác động tích cực của việc khen thưởng, noi gương sáng điển hình tiên tiến, hay lấy thi đua, khen thưởng làm động lực, đòn bẩy để thúc đẩy các tập thể, cá nhân phấn đấu hoàn thành xuất sắc, xuất sắc hơn nữa nhiệm vụ chính trị được giao nếu tư tưởng không nhất quán, thông suốt, rõ ràng và đúng đắn.

    Vì vậy, để công tác thi đua, khen thưởng phát huy tính tác động tích cực, cần có sự thống nhất cao về mặt tư tưởng, các cấp ủy, chi bộ Đảng cần tăng cường sự lãnh đạo của mình đối với công tác thi đua khen thưởng; các tổ chức đoàn thể cần phối hợp vào cuộc một cách quyết liệt để công tác thi đua khen thưởng phát triển đồng bộ, sâu rộng, đạt kết quả và thường xuyên được duy trì; đơn vị cần xác định công tác thi đua khen thưởng là nhiệm vụ chính trị quan trọng; mỗi cán bộ, công chức cần xác định tư tưởng thi đua, phấn đấu hết mình trong từng nhiệm vụ công tác, trong các lĩnh vực của đời sống, nâng cao chất lượng công tác về mọi mặt, hoàn thiện bản thân, hướng tới đạt chuẩn của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức đã được ban hành.

    Ba là, công tác thi đua, khen thưởng phải gắn liền với nhiệm vụ, chính trị chuyên môn.

    Để công tác thi đua, khen thưởng thực sự trở thành động lực thúc đẩy việc hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị được giao, Lãnh đạo đơn vị phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên quán triệt và cụ thể hóa các nội dung thi đua gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được Thống đốc giao và tuyên truyền, phổ biến tới từng cán bộ công chức triển khai thực hiện chỉ thị 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Ngân h à ng” đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của mỗi cá nhân về công tác thi đua khen thưởng.

    Đơn vị đã triển khai và cụ thể hóa các nội dung thi đua gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị chuyên môn của đơn vị. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luất của Nhà nước về thi đua khen thưởng tới toàn thể cán bộ, công chức qua đó khơi dậy, cổ vũ tinh thần đoàn kết, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong lao động, tạo động lực cho việc hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn.

    Bốn là, nâng cao nhận thức, đề cao vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức đối với công tác thi đua, khen thưởng.

    Năm là, tích cực, chủ động phát hiện, bồi dưỡng và nhân điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua.

    Việc phát hiện, xây dựng, tôn vinh và nhân rộng nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, gương “Người tốt, việc tốt” phải được đặc biệt coi trọng; quan tâm lựa chọn các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu để biểu dương, tôn vinh, khen thưởng kịp thời nhằm tạo động lực và đòn bẩy phấn đấu cho các cán bộ, công chức, viên chức. Điển hình tiên tiến là những tấm gương sinh động để giáo dục, thu hút mọi người tích cực tham gia thi đua, là nghệ thuật lấy phong trào chỉ đạo phong trào phát triển thành cao trào mạnh mẽ. Thông qua cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến để rút ra những sáng kiến hay, kinh nghiệm tốt, bổ ích cho việc động viên, thúc đẩy phong trào thi đua. Phát hiện điển hình tiên tiến là việc làm hết sức công phu, đòi hỏi người lãnh đạo đơn vị phải đi sâu, đi sát với phong trào thi đua, tìm hiểu kỹ kinh nghiệm và thành tích của từng tập thể, cá nhân trong phong trào thi đua. Phải thông qua phong trào thi đua để phát hiện ra những điển hình tiên tiến. Khi điển hình tiên tiến xuất hiện, dù là còn mới, còn nhỏ phải nhanh chóng bồi dưỡng điển hình ngày một hoàn thiện, hoàn chỉnh, trở thành mẫu mực để toàn đơn vị học tập. Nội dung bồi dưỡng toàn diện trên tất cả các mặt, chú trọng bồi dưỡng về phẩm chất, năng lực, động cơ thi đua đúng đắn, ý thức trách nhiệm, biết giữ gìn và phát huy tác dụng trong mọi thời gian, có tinh thần tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, ý thức tổ chức kỷ luật trong thực hiện phong trào thi đua, khắc phục tư tưởng thỏa mãn, dừng lại, tự cao, tự đại. Bồi dưỡng các điển hình tiên tiến bằng nhiều biện pháp như giao nhiệm vụ kết hợp chặt chẽ với động viên, khích lệ, đặt ra yêu cầu cao để họ phấn đấu rèn luyện. Tránh hiện tượng áp đặt, chủ quan cố tạo ra điển hình, khắt khe trong xây dựng điển hình hoặc đề cao quá mức phản tác dụng.

    Cần lưu ý rằng việc khen thưởng không nhất thiết phải đến kỳ sơ kết, tổng kết phong trào mới đưa bình xét mà cần tiến hành thường xuyên, vì thực chất của việc khen thưởng có vai trò chủ yếu là động viên tinh thần, làm cho người được khen thưởng phấn khởi, khích lệ và do đó hiệu quả công việc đương nhiên sẽ tốt hơn.

    Sáu là, tổ chức sơ, tổng kết, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích trong phong trào thi đua.

    Đây là biện pháp rất quan trọng, không thể thiếu trong tổ chức thi đua nhằm đánh giá đúng thành tích, kết quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phong trào thi đua. Trong quá trình khen thưởng phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo đúng nguyên tắc và đạt được các yêu cầu: Chính xác, dân chủ, kịp thời, công khai, xây dựng được tinh thần đoàn kết phấn khời, nêu cao tính tự phê bình và phê bình, đánh giá đúng người, đúng việc, tránh chủ quan, đơn giản, tranh công, đổ lỗi. Vấn đề mấu chốt trong công tác sơ kết, tổng kết phong trào thi đua là đúc rút tìm ra được những kinh nghiệm hay, chọn được tập thể và cá nhân tiên tiến xuất sắc, đồng thời khen thưởng đúng mức để động viên mọi người phấn đấu thực hiện tích cực hơn nữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng Sở Nông Nghiệp &…
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thi Đua Khen Thưởng
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Thi Công Saki
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Thi Công Saki_Saki Corpration Tuyển Dụng 01
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Thi Công Saki_Saki Corpration Tuyển Dụng
  • Tin tức online tv