Một Số Giải Pháp Để Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Địa Lý Lớp 9

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Trường Th Đắk Dục: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh (Tiểu Học) Dân Tộc Thiểu Số
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Dân Tộc Tại Trường Tiểu Học Lê Hồng Phong
  • Giải Pháp Tòa Nhà Thông Minh
  • PHÒNG GD&ĐT HÒA BÌNH

    TRƯỜNG THCS VĨNH THỊNH

    TỔ: ĐỊA-HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỂ NÂNG CAO

    CHẤT LƯỢNG DẠY- HỌC ĐỊA LÝ LỚP 9

    Ở TRƯỜNG THCS VĨNH THỊNH

    GV: PHẠM NGỌC TRINH

    NĂM HỌC: 2013- 2014

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    DẠY- HỌC ĐỊA LÝ LỚP 9 A. PHẦN MỞ ĐẦU

    Như chúng ta đã biết giáo dục được coi là lĩnh vực quan trọng. Nó luôn đi

    trước sự phát triển của Đất nước, nên vấn đề chất lượng giáo dục hiện nay đã trở

    thành mối quan tâm hàng đầu của xã hội. Vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục đòi

    hỏi Giáo viên phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực sư phạm, có sự

    đổi mới trong phương pháp giảng dạy, có nh

    ư vậy thì sản phẩm của quá trình dạy học

    mới đạt kết quả cao.

    Trong thời qua, việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa đòi hỏi phải có

    sự đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học với sách giáo khoa mới, trong

    quá trình dạy học giáo viên phải biết lựa chọn các hình thức để tổ chức, hướng dẫn

    học sinh theo nội dung của từng bài, còn học sinh phải nổ lực tìm tòi ki

    ến thức dưới

    sự hướng dẫn của giáo viên trong quá trình học tập của mình.

    Với mục tiêu cần đạt được trong quá trình dạy học là hình thành cho học sinh

    phương pháp học tập để chiếm lĩnh tri thức và tạo cho bản thân một phương pháp học

    tập phù hợp để nắm vững kiến thức, xử lý những thông tin thu thập trong quá trình

    học tập. Muốn vậy, Giáo viên tích cực chủ động trong việ

    c đổi mới phương pháp và

    đa dạng hóa các hình thức dạy học để giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách

    hiệu quả nhất.

    Chính vì những yêu cầu quan trọng trên, trong quá trình thực hiện giảng dạy

    trên lớp bản thân tôi đã: ” Vận dụng một số giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và

    học môn Địa lý 9″, phần công việc mà tôi được đảm nhận trong nhiều năm học qua,

    bướ

    c đầu đã có những kết quả nhất định.

    B. PHẦN NỘI DUNG

    2.4. Tổ chức lông ghép nội dung thành trò chơi.

    * Xếp hình và ghép tên:

    Ví dụ: Bài 19: Thực hành: Đọc bản đồ, phân tích và đánh giá ảnh hưởng của tài

    nguyên khoáng sản đối với phát triển công nghiệp ở Trung du miền núi phía

    Bắc.

    Chuẩn bị: Lược đồ Trung du miền núi Bắc Bộ câm, mảnh giấy ghi dữ liệu,

    băng dính 2 mặt.

    Yêu cầu: Thi gắn các điểm mỏ khoáng sản của vùng, thời gian 5-7 phút.( bài

    tập 2, phần C)

    Bài 31: Vùng Đông Nam Bộ

    Chuẩn bị: Lược đồ vùng có gắn tên các tỉnh thành, nam châm.

    Yêu cầu: Gắn sai tên các tỉnh,thành của Đông Nam Bộ. Hãy sửa lại cho đúng

    các tỉnh thành, thời gian 5 phút.

    2.5. Sử dụng phương tiện dạy học:

    – Lựa chọn và sử dụng tốt các thiết bị dạy học trong quá trình lên lớp vì đây là

    những đồ dùng không thể thiếu trong quá trình dạy và học Địa lý nói chung, vì nó

    hình thành học sinh những biểu tượng và khái niệm Địa lý, giúp học sinh dễ dàng

    nhận thức về mối quan hệ không gian của các sự vật và hiện tượng địa lý.

    Việc sử dụng hợp lý các thi

    ết bị dạy học đặc biệt là bản đồ, lược đồ, sách giáo

    khoa giúp rèn luyện kĩ năng địa lý cho học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động cho

    học sinh trong học tập. Sử dụng tốt bản đồ giúp học sinh xác định vị trí, hình dạng

    lãnh thổ, biết được các sự vật và hiện tượng địa lý mà các em không có điều kiện

    quan sát trực tiếp. Bởi vì đây vừa là nguồn tri thức quan trọ

    ng, vừa bổ sung khắc sâu

    những kiến thức ở kênh chữ của sách giáo khoa, về đặc điểm đặc trưng của một môi

    trường, lãnh thổ, vì vậy việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ để lĩnh hội kiến thức

    là rất quan trọng bởi nó giúp học sinh ghi nhớ những kiến thức nhanh chóng và lâu

    bền. Nên nhất thiết trong giảng dạy địa lý không thể không dùng bản đồ trong việc

    hình thành kiến thức cho học sinh.

    Ví dụ:

    Khi dạy bài 17: Vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, giáo viên không sử

    dụng bản đồ thì học sinh không thể nắm được đặc điểm vị trí địa lí và giới hạn lãnh

    thổ của vùng, không biết hình dạng của lãnh thổ đó như thế nào, tiếp giáp với những

    quốc gia, khu vự

    c nào

    Khi dạy bài 23: Vùng Bắc Trung Bộ, giáo viên sử dụng bản đồ thì học sinh

    có thể nắm được đặc điểm vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ của vùng (phía bắc giáp

    Vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, Đồng bằng sông Hồng, phía nam giáp Duyên hải

    Nam Trung Bộ, phía tây giáp Lào, phía đông giáp Biển Đông), biết lãnh thổ kéo dài

    từ dãy Tam Điệp ở phía bắc tới dãy Bạch Mã ở phía Nam, lãnh thổ hẹp chiều ngang.

    Ngoài ra học sinh còn nắ

    m được địa hình của vùng từ Tây sang Đông đều có núi, gò

    đồi, đồng bằng, biển và hải đảo.

    -Tuy nhiên, chúng ta không nên sử dụng quá nhiều bản đố cho một tiết dạy,

    phải lựa chọn bản đồ nào phù hợp nhất, sử dụng trong những thời điểm thích hợp

    nhất mới đạt được hiệu quả cao.

    III. KẾT QUẢ:

    Qua thời gian áp dụng các giải pháp trên, bước đầu h

    ọc sinh thực sự quen với

    cách học mới, chủ động hơn trong việc tự mình khám phá, xây dựng và chiếm lĩnh tri

    thức và không còn coi môn Địa lý là môn học không cần trí tuệ như trước đây nữa.

    Bên cạnh việc ý thức, tự giác trong học tập, học sinh cũng đã tự trang bị cho

    mình nhiều phưong tiện học tập, đầu tư thời gian học tập thích hợp cho việc học Địa

    lý do v

    ậy chất lượng học tập bộ môn có bước chuyển biến rõ rệt.

    Năm học 2012-2013, bản thân tôi phụ trách dạy lớp 9A , cụ thể chất lượng

    đạt kết quả như sau:

    Loại Chất lượng

    HKI

    Chất lượng cuối

    năm

    Giỏi 23,3% 25,8%

    Khá 30,6% 36,3%

    Trung bình 37,1% 34,9%

    Yếu 9,0% 3,0%

    C. KẾT LUẬN

    Thực tế đã chứng minh, khi học sinh có nhận thức đúng về giá trị của việc

    học của môn Địa lí, thì các em mới có lòng ham mê học tập, có ý thức tìm tòi học hỏi

    thì năng lực tư duy của học sinh sẽ phát triển và nâng cao. Do vậy người giáo viên

    phải không ngừng học hỏi, tự bồi dưỡng để hoàn thiện mình, để không ngừng đổi

    mới phương pháp và hình thức dạy học, kế

    t hợp với bồi dưỡng phương pháp học cho

    học sinh giúp học sinh tham gia tích cực vào việc học, như vậy hiệu quả dạy và học

    sẽ không ngừng nâng cao.

    Sau một thời gian thực hiện một số giải pháp nâng cao chất lượng trong dạy

    học Địa lí, tôi đã thu được một vài kết quả tuy chưa được nhiều nhưng bước đầu đã

    có tính tích cực nhất định trong dạy học Địa lí. Tuy nhiên do năng lực và kinh

    nghiệm của bản thân còn hạn chế nên bài viết của tôi có thể chưa trở thành một sáng

    kiến kinh nghiệm hoàn thiện.Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân tình

    của các bạn đồng nghiệp.

    Tôi xin trân thành cảm ơn!

    Người viết

    Phạm Ngọc Trinh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn Skkn Nang Cao Chat Luong Dayhoc Mon Ngu Vanthcs Doc
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Tập Đọc Lớp 3
  • Một Vài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Tập Đọc Cho Học Sinh Người Địa Phương
  • Phương Pháp Dạy Học Địa Lí Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Địa Lí 9 Đã Thẩm Định (Phonghaluongnoi)
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Báo cáo tham luận tại Hội thảo về Nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý cấp THPT do Sở GD&ĐT Bến Tre tổ chức ngày 02/3/2010

    I. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỊA LÝ THPT:

    – Môn địa lý được chú trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, giảng dạy đầy đủ cho tất cả các khối lớp với số tiết phân phối chương trình từ 1- 1,5 tiết/ tuần/ lớp.

    – Thường xuyên mở các lớp tập huấn về chuyên môn: bồi dưỡng thường xuyên, thay sách, chuẩn kiến thức kỹ năng…

    – Được quan tâm trong các kỳ thi cấp cơ sở hay quốc gia: Olimpic 30- 4, học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, thi tốt nghiệp, thi đại học- cao đẳng…

    – Giáo viên đa số nhiệt tình trong giảng dạy, có đầu tư đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin khá tốt.

    – Học sinh cố gắng trong học tập, còn nhiều em thích bộ môn.

    2. Khó khăn:

    – Theo quan niệm của của xã hội, của cha mẹ học sinh và một số bộ môn khác thì đây là môn học phụ. Cho nên có sự thiên lệch trong nhận thức về tầm quan trọng của môn học, không khuyến khích học sinh học tốt môn địa lý.

    – Học sinh nhiều em học lệch, không quan tâm nhiều đến môn học (học đối phó) nhất là học sinh khối 12 ban khoa học tự nhiên.

    – Thực tế của môn địa lý chưa đáp ứng nhu cầu thực tế về việc lựa chọn ngành nghề trong tương lai hoặc lựa chọn được rất ít ngành nghề.

    – Tâm lý giáo viên giảng dạy bị hụt hẫng, dạy không nhiệt tình.

    3. Nguyên nhân:

    – Môn địa lý là môn học khó (vừa có kiến thức tự nhiên vừa có kiến thức xã hội ), khô khan, ít thực dụng.

    – Chương trình nặng, mang tính hàn lâm, thiếu thực tiễn.

    – Học sinh ngán học bài.

    – Hình thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp.

    II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY- HỌC MÔN ĐỊA LÝ CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG: 1. Về phía giáo viên: 1.1 Giáo viên bộ môn:

    – Phải trang bị cho mình một lượng kiến thức cơ bản để đáp ứng nhu cầu học của học sinh. Bởi vì, học sinh có tin tưởng thì mới yêu quý thầy cô và thích môn học.

    – Cần thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với các đối tượng học sinh, nên cập nhật hóa kiến thức thường xuyên, day phải chú ý lý thuyết đi đôi với thực hành, xác định đúng trọng tâm, tránh dàn trãi… thì mới gây hứng thú cho học sinh.

    – Biết ứng dụng công nghệ thông tin cho từng tiết dạy một cách phù hợp, khai thác hết các kiến thức cơ bản, phát huy tính tư duy của các em. Không nên lạm dụng việc chiếu chép thay đọc chép. Khi sử dụng hình ảnh, video clip…phải phù hợp với nội dung đang dạy. Hình ảnh, video clip phải rõ nét, đẹp và số lượng vừa đủ. Cần tạo điều kiện cho các em nắm bắt kiến thức cơ bản qua giờ dạy chớ không phải cho các em cưỡi ngựa xem hoa bằng việc trình diễn kỹ thuật với các hiệu ứng rườm rà, lóa mắt. Không phải tiết nào dạy giáo án điện tử hoặc trình chiếu điều mang lại kết qua tốt, nhất là các lớp sắp thi cử.

    – Thường xuyên chú ý đến việc học bài, làm bài đối với các em học trung bình, yếu, kịp thời nhắc nhỡ, động viên cho các em học tốt hơn.

    – Phát hiện, bồi dưỡng các học sinh có năng khiếu học môn địa lý. Khuyến khích các em nâng cao ý thức học tập, làm cán sự nòng cốt cho bộ môn, tham gia dội tuyển học sinh giỏi…

    – Khen thưởng, khuyến khích đúng lúc, đúng chỗ sẽ kích thích các em trong quá trình học tập.

    – Hàng tuần chịu khó truy bài trái buổi cho các học sinh chưa chịu khó học bài.

    1.2 Giáo viên chủ nhiệm:

    – Thường xuyên kết hợp với giáo viên bộ môn nhắc nhỡ, uốn nắn những học sinh lười biếng trong học tập.

    – Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh, ban đại diện cha mẹ học sinh nắm bắt tình hình học ở nhà, ở trường để theo dõi nhắc nhở các em sắp xếp thời gian học cho hợp lý, tránh tình trạng ham chơi bỏ học, không chịu làm bài học bài.

    – Cùng với giáo viên bộ môn hướng dẫn phương pháp học tập và truy bài trái buổi cho các học sinh yếu hoặc lười học.

    2. Ban giám hiệu:

    – Tăng tiết cho khối 12 từ ngay đầu năm học. Sử dụng các tiết này cho việc tăng cường ôn tập, củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ, phân tích số liệu, đọc Atlat…

    – Tự chọn môn địa lý cho một số lớp khi cần thiết.

    – Tăng cường tiết ôn tập hàng tuần cho tất cả các lớp 12 vào tiết 4 ngày thứ Bảy.

    – Coi trọng vai trò của bộ môn trong việc nâng cao chất lượng học tập đại trà, thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi bộ môn.

    – Tạo đầy đủ điều kiện giảng dạy và học cho thời khoá biểu chính khoá cũng như trái buổi: phòng ốc, phương tiện dạy học, đố vui học tập, thao giảng liên trường rút kinh nghiệm…

    3. Chất lượng học tập của môn địa lý hàng năm của trường:

    – Kết quả học tập bộ môn: tỉ lệ khá giỏi thường trên 45%, yếu kém dưới 5%.

    – Kết quả thi tốt nghiệp: thứ hạng từ hạng 1đến hạng 6 trong tỉnh.

    – Kết quả học sinh giỏi vòng tỉnh: mỗi năm đều có từ 1 đến 2 học sinh.

    III. ĐỀ XUẤT:

    – Đối vớiviệc kiểm tra, đánh giá ở lớp 12 nên cho đề kiểm tra theo hình thức tự luận để thuận lợi cho việc làm quen với cấu trúc đề thi cấp quốc gia (tốt nghiệp, đại học, cao đẳng… )

    – Nên tạo điều kiện cho giáo viên, học sinh đạt thành tích tốt trong môn địa lý được đi tham quan để nâng cao kiến thức thực tế. Qua đó, động viên, khích lệ kịp thời tinh thần giáo viên và học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.

    Trường THPT Lê Quý Đôn – Bến Tre

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Việt Khối Lớp 1 Ở Trường Tiểu Học 1 Sông Đốc
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán (Phần Giải Toán) Ở Tiểu Học
  • Thầy Cô Cần Làm Gì Để Thay Đổi Phương Pháp Dạy Học
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • I. MỞ ĐẦU:

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hội

    Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồn

    lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luôn

    được xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chất

    lượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiện

    nay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đã

    đề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thông

    minh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.

    Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng

    giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dục

    tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

    và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp

    tục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm

    một vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thông

    minh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành và

    phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò

    hết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,

    là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng

    hoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

    được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến

    thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập

    một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài

    tập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinh

    không đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh

    khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học

    sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà

    còn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.

    Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được

    nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.

    Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốt

    nhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp

    một nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môn

    toán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất

    lượng dạy – học môn toán lớp 1″.

    1

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ở

    trường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương pháp

    dạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1

    trong nhà trường.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểu

    học Đông Vệ 1.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

    – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

    – Phương pháp điều tra thống kê.

    – Phương pháp so sánh, đối chiếu.

    – Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

    2

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận :

    Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

    đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽ

    phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói

    quen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đã

    được nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểu

    học của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thức

    toán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫn

    như quan điểm và tư tưởng nhận thức.

    Nhiệm vụ của người giáo viên

    Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo

    dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản

    lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt

    động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.

    Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:

    Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)

    Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.

    Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình

    tam giác, hình tròn.

    Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.

    Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ

    cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn

    trước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:

    + Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết

    thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng và

    phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần

    lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn

    thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.

    + Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số

    trong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài các

    đoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,

    hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biết

    diễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài

    tập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoá

    trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.

    Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1

    3

    – Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưa

    thật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV còn

    máy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: que

    tính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinh

    nhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiến

    thức.

    – Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi học

    môn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt còn

    chưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏi

    để hỏi bạn, HS còn lúng túng.

    – Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức áp

    dụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dập

    khuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rung

    chuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    Ngay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đối

    tượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đình

    cũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quả

    điều tra cụ thể như sau:

    42

    Hoàn cảnh học sinh

    Con gia đình cán bộ

    Con gia đình lao động tự do

    Con gia đình công nhân

    SL

    %

    Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy được

    những thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:

    * Thuận lợi:

    Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làm

    quen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thành

    lập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thư

    viện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,

    xử lí tình huống trong nhóm.

    Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiều

    hình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

    5

    3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.

    – Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu

    bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,

    không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt

    động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

    thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt

    chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,

    tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như

    tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo

    thói quen cho học sinh.

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10

    que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính

    cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm

    kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng

    sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học

    yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có

    thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể

    cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng

    nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ

    nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh

    luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc

    sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì

    học sinh mới hiểu được.

    7

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong

    phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công

    thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9

    3+6=9

    1+8=9

    6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập

    thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học

    sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,

    hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    * Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng

    lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử

    dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt

    động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính

    toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.

    4. Nói ít, tránh nói nhiều.

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh

    hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà

    trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những

    hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát

    hiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan

    tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn

    khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    8

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực

    quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp

    dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ

    kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc

    HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được

    trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy

    nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích

    chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác

    tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui

    vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các

    em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực

    quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp

    học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò

    chơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt

    động nhóm …

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường

    học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ

    30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,

    hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển

    thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,

    tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất

    cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những

    thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội

    đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

    Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượng

    giờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi để

    được học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xây

    dựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắc

    kiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanh

    nhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sát

    được nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:

    9

    1C

    42

    THỜI ĐIỂM KIỂM TRA

    KẾT QUẢ

    Cuối kỳ I

    10

    Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2022

    Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

    viết, không sao chép nội dung của người khác.

    Người thực hiện

    Hồ Thị Mai

    11

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    I. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    2. Mục đích nghiên cứu

    3. Đối tượng nghiên cứu

    4. Phương pháp nghiên cứu

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận

    2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 1

    3.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.

    3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp

    dạy học.

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ

    dùng trực quan.

    3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt

    hơn.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    2. Kiến nghị

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý của trường THPT Lê Quý Đôn.doc

    Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý của trường THPT Lê Quý Đôn – Bến Tre Thứ năm, 04 Tháng 3 2010 16:57 Báo cáo tham luận tại Hội thảo về Nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý cấp THPT do Sở GD&ĐT Bến Tre tổ chức ngày 02/3/2010 I. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỊA LÝ THPT: 1.Thuận lợi: – Môn địa lý được chú trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, giảng dạy đầy đủ cho tất cả các khối lớp với số tiết phân phối chương trình từ 1- 1,5 tiết/ tuần/ lớp. – Thường xuyên mở các lớp tập huấn về chuyên môn: bồi dưỡng thường xuyên, thay sách, chuẩn kiến thức kỹ năng. – Được quan tâm trong các kỳ thi cấp cơ sở hay quốc gia: Olimpic 30- 4, học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, thi tốt nghiệp, thi đại học- cao đẳng. – Giáo viên đa số nhiệt tình trong giảng dạy, có đầu tư đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin khá tốt. – Học sinh cố gắng trong học tập, còn nhiều em thích bộ môn. 2. Khó khăn: – Theo quan niệm của của xã hội, của cha mẹ học sinh và một số bộ môn khác thì đây là môn học phụ. Cho nên có sự thiên lệch trong nhận thức về tầm quan trọng của môn học, không khuyến khích học sinh học tốt môn địa lý. – Học sinh nhiều em học lệch, không quan tâm nhiều đến môn học (học đối phó) nhất là học sinh khối 12 ban khoa học tự nhiên. – Thực tế của môn địa lý chưa đáp ứng nhu cầu thực tế về việc lựa chọn ngành nghề trong tương lai hoặc lựa chọn được rất ít ngành nghề. – Tâm lý giáo viên giảng dạy bị hụt hẫng, dạy không nhiệt tình. 3. Nguyên nhân: – Môn địa lý là môn học khó (vừa có kiến thức tự nhiên vừa có kiến thức xã hội ), khô khan, ít thực dụng. – Chương trình nặng, mang tính hàn lâm, thiếu thực tiễn. – Học sinh ngán học bài. – Hình thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp. II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY- HỌC MÔN ĐỊA LÝ CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG: 1. Về phía giáo viên: 1.1 Giáo viên bộ môn: – Phải trang bị cho mình một lượng kiến thức cơ bản để đáp ứng nhu cầu học của học sinh. Bởi vì, học sinh có tin tưởng thì mới yêu quý thầy cô và thích môn học. – Cần thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với các đối tượng học sinh, nên cập nhật hóa kiến thức thường xuyên, day phải chú ý lý thuyết đi đôi với thực hành, xác định đúng trọng tâm, tránh dàn trãi. thì mới gây hứng thú cho học sinh. – Biết ứng dụng công nghệ thông tin cho từng tiết dạy một cách phù hợp, khai thác hết các kiến thức cơ bản, phát huy tính tư duy của các em. Không nên lạm dụng việc chiếu chép thay đọc chép. Khi sử dụng hình ảnh, video clip.phải phù hợp với …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Việt Khối Lớp 1 Ở Trường Tiểu Học 1 Sông Đốc
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: “Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây.

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN I/ Mở đầu: Việc nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu không thề thiếu được trong công tác dạy học. Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: "Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây. II/ Nội dung: 1/ Hoạt động xây dựng chuyên môn: - Xây dựng ý thức trách nhiệm, tinh thần tự học tự rèn. - Chú trọng công tác dạy tốt, học tốt , nâng cao chất lượng đại trà. - Sinh hoạt tổ chuyên mônthống nhất chương trình dạy học trong tuần (1 lần/ tuần ). - Soạn kế hoạch bài học phải xác định trọng tâm bài dạy và chuẩn kiến thức cần truyền đạt. - Luôn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với các dạng bài. - Chuẩn bị đầy đủ tranh ảnh, đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy. - Tìm thêm các ví dụ, câu hỏi, nhiều cách giải hay gợi sự chú ý học tập của học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức nhanh hơn. 2/ Hoạt động trên lớp: a. Khi đứng lớp: - Tình bày bảng nên sử dụng phấn màu, ghi đủ nội dung kiến thức cần truyền đạt, dùng phấn gạch dưới kiến thức trọng tâm, đóng khung kiến thức công thức cần nhớ. - Quan sát theo dõi sự tiếp thu bài học của các em. - Tùy theo kiến thức cần truyền đạt, trình độ của học sinh mà vận dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Luôn tạo sự thoải mái khi các em học toán với nhiều trò chơi học tập như: Thi đua giải toán nhanh, sắp xếp nhanh các hình theo yêu cầu,tổ chức thi đua nhóm đôi, thi đua nhóm 4 học sinh, thi đua theo tổ. b. Giờ dạy lý thuyết: - Chú trọng hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức cần bài học. - Biết vận dụng lý thuyết vừa học vào một số các bài tập đơn giản. - Hướng dẫn học sinh học thuộc lý thuyết. c. Giờ dạy luyện tập: - Giúp học sinh vận dụng thành thạo lý thuyết vào bài học một cách hợp lí. -Qua việc giải bài tập đó học sinh rút ra được kinh nghiệm về phương pháp giải toán. d. Nếu là tiết kiểm tra: - Đề kiẻm tra vừa sức với trình độ học sinh, có câu phát triển dành cho học sinh khá giỏi. - Chấm, trả bài, chữa bài kịp thời. - Đánh giá chính xác chất lượng học tập của học sinh. - Quan tâm dến các học sinh làm bài quá kém ( Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học kém ) 3/ Hoạt động dạy ngoại khóa: a. Dạy học sinh năng khiếu: - Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh năng khiếu để xác định tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi. - Khuyến khích học sinh mượn sách ở thư viện tham khảo, học hỏi nhiều cách giải toán hay.. b. Dạy phụ đạo học sinh yếu: - Tách học sinh yếu ngồi học chung một nhóm ngay từ đầu ( Phân loại học sinh ). - Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu. - Vận động học sinh yếu phụ đạo vào các ngày thứ 7, hoặc dạy học sinh yếu chéo buổi. - Nên có thời gian kèm sát các học sinh học yếu. 4/ Hoạt động ngoại khóa: - Luôn dự giờ, thao giảng, dự chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên của bản thân. - Thường xuyên sưu tầm thêm các tư liệu, tự làm đồ dùng dạy học phục vụ cho công tác dạy học. IV/ Kết quả: Năm học Học kì 1 Học kì 2 2006-2007 2007-2008 2008-2009 V/ Bài học kinh nghiệm: - Soạn kế hoạch bài học theo hướng đổi mới. - Áp dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Tách học sinh yếu kém ngay từ đầu để phân các em thành một nhóm. - Cuối tuần có bài kiểm tra nhằm theo dõi trình độ học sinh. - Thường xuyên quan sát theo dõi học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường
  • Những Kinh Nghiệm Hay Về Giáo Dục Học Sinh Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường
  • Lào Cai: Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • 7 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hướng Tới Phát Triển Bền Vững Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • TRƯỜNG THCS THỔ CHÂU – KHỐI TIỂU HỌC

    CHUYÊN ĐỀ

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY HỌC VẦN LỚP 1

    A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

    1) Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học vần

    Học vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.

    2) Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học vần

    Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, bộ phận chuyên môn của trường đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phân môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng); đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Các em cũng viết đúng khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng. Tỷ lệ chất lượng của môn tiếng Việt hàng năm đều tăng.

    Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo; việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn,…còn hạn chế.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này, song yếu tố bất cập trong giảng dạy của giáo viên là vấn đề đáng quan tâm. Một trong những hạn chế nổi bật là kỹ năng vận dụng, phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên lớp. Nhiều giáo viên còn rất lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp, biện pháp dạy học trong từng hoạt động. Do đặc thù của đơn vị trường khối 1chỉ có 1 lớp nên hạn chế trong việc học hỏi lẫn nhau. Các giáo viên dạy lớp khác còn lúng túng khi được phân công dạy thay lớp 1.

    Xuất phát từ những bất cập nêu trên, bộ phận chuyên môn khối tiểu học tổ chức chuyên đề : “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Học vần lớp 1” nhằm thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2011-2012 và những năm tiếp theo.

    II. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN:

    1) Thuận lợi:

    a) Đối với giáo viên:

    + Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận chuyên môn khối Tiểu học, cụ thể:

    – Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng lớp 1. Thường xuyên tổ chức các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.

    – Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (hội thi giáo viên dạy giỏi) giúp giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.

    – Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…

    + Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.

    + Cơ sở vật chất từ phòng lớp, bàn ghế, các phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.

    + Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình.

    b) Đối với học sinh:

    + Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.

    + Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.

    2) Khó khăn:

    a) Đối với giáo viên:

    + Đôi lúc chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học. Đôi khi giáo viên có phần chủ quan trong dạy học vì kiến thức lớp 1 thường đơn giản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Công Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Sinh Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp Trong Dạy Học Môn Sinh Giúp Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở
  • Công nghệ là một môn học gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên có nhiều học sinh cho rằng đây là môn phụ nên chẳng mặn mà với môn học. Với bản thân tôi, một giáo viên với 7 năm kinh nghiệm dạy học môn Công nghệ, tôi thiết nghĩ: Mặc dù môn Công nghệ không xuất hiện trong các kì thi Học sinh giỏi, Tốt nghiệp hay Đại học nhưng nó lại rất có ích và thiết thực.

    Công nghệ là một môn học gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên có nhiều học sinh cho rằng đây là môn “phụ” nên chẳng mặn mà với môn học. Với bản thân tôi, một giáo viên với 7 năm kinh nghiệm dạy học môn Công nghệ, tôi thiết nghĩ: Mặc dù môn Công nghệ không xuất hiện trong các kì thi Học sinh giỏi, Tốt nghiệp hay Đại học nhưng nó lại rất có ích và thiết thực.Hơn thế nữa môn học này cũng đáp ứng được với mục tiêu giáo dục đào tạo đổi mới căn bản và toàn diện hiện nay. Các kiến thức trong môn học giúp các bạn giải quyết những bài toán thường gặp trong cuộc sống hàng ngày như: cách bảo quản và chế biến một số lương thực, thực phẩm tại gia đình; cách sửa chữa những hỏng hóc đơn giản của các thiết bị như quạt điện, nồi cơm, máy sấy…; cách tính toán doanh thu và lợi nhuận trong kinh doanh hộ gia đình… Đây đều là những vấn đề mà mỗi cá nhân hay gặp phải. Là một giáo viên dạy Công nghệ tôi luôn trăn trở để tìm ra những biện pháp giúp học sinh hứng thú hơn với môn học, từ đó có thể nâng cao chất lượng dạy học.

    Qua kinh nghiệm thực tế công tác tôi rút ra được một số biện pháp sau:

    – Tăng cường các buổi học thăm quan thực tế ở các nhà máy sản xuất, trang trại, công ty…nhằm gắn kiến thức bài học trên lớp của học sinh với tình hình thực tế ngoài xã hội. Ngoài ra, nó còn giúp học sinh có sự trải nghiệm để tự đúc rút các kinh nghiệm cần thiết.

    – Đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường dạy học dự án, nêu vấn đề, …

    – Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc soạn giảng, kiểm tra đánh giá.

    – Sưu tầm, bổ sung thêm các phương tiện dạy học trực quan, tranh ảnh…nhằm kích thích sự hứng thú của học sinh.

    – Thiết kế nhiều công cụ và hình thức kiểm tra đánh giá để việc kiểm tra, đánh giá không còn nhàm chán và “đáng sợ” với học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Khả Thi Nâng Cao Chất Lượng Môn Lịch Sử
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học Sang Kien Lanh Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Thể Dục Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Thiện Mỹ A
  • Một Vài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học môn địa lý lớp 8 ở trường THCS .................................... A - đặt vấn đề Để đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, kém phát triển, Đảng ta đã đề ra đường lối: "Tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá" phấn đấu đến năm 2022 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Và để đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam, nghị quyết 40 của Quốc hội khoá X, Bộ Giáo dục và đào tạo đã chủ trương đổi mới chương trình và sách giáo khoa ở các trường phổ thông. Chương trình mới dựa trên quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm "học sinh là chủ thể của giáo dục", giáo viên đóng vai trò hướng dẫn . Cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa đòi hỏi phải có sự đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học... với sách giáo khoa mới, trong quá trình dạy học thầy phải suy nghĩ để lựa chọn các hình thức tổ chức để hướng dẫn học sinh theo nội dung thích hợp của từng bài, còn học sinh phải nỗ lực tìm tòi kiến thức mới theo sự hướng dẫn của giáo viên trong quá trình học tập của mình.Việc đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học chính là con đường để đào tạo thế hệ trẻ có thói quen học tập suốt đời nhằm giúp các em thích ứng với thời đại khoa học kĩ thuật phát triễn như vũ bảo, thời đại của một: "xã hội học tập". Để thực hiện tốt yêu cầu trên người giáo viên nói chung và giáo viên dạy Địa lý nói riêng thì mục tiêu cần đạt được trong quá trình dạy học là hình thành cho học sinh phương pháp học tập để chiếm lĩnh tri thức và cái đích cần đạt của người học sinh là tạo cho bản thân một phương pháp học tập phù hợp để nắm vững kiến thức, xử lý những thông tin thu thập trong quá trình học tập. Chính vì những yêu cầu quan trọng trên, bản thân tôi đã chọn đề tài: "Một số giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lý 8". B- giải quyết vấn đề I- Cơ sở lý luận: Vì vậy việc nâng cao chất lượng trong việc dạy và học nói chung và môn địa lý nói riêng là một phần rất quan trọng đối với người giáo viên. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà toàn ngành đang ra sức thực hiện cuộc vận động "Hai không trong giáo dục", thì chúng ta phải không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học , nhưng đó phải là một chất lượng thực chất, đánh giá đúng năng lực, trình độ của giáo viên cũng như khả năng tiếp thu của học sinh. II- Cơ sở thực tiễn: 1. Thực trạng dạy học môn Địa lý ở trường THCS. * ưu điểm: - Đa số giáo viên nắm được phương pháp dạy học đặc trưng đối với môn Địa lý. Trong quá trình dạy đã biết lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung này, kết hợp tốt các phương pháp trong các hoạt động dạy học phân định rõ đâu là hoạt động của thầy, đâu là hoạt động của trò. - Hình thành được kiến thức chính xác, trọng tâm và đảm bảo tính hệ thống giúp học sinh dễ học và dễ hiểu. - Sử dụng và kết hợp các phương tiện, thiết bị dạy học phù hợp với nội dung từng bài. Một số giáo viên thực hiện khá linh hoạt các khâu lên lớp, chững chạc tự tin trong dạy học. - Tổ chức cho học sinh nhiều hình thức học tập thích hợp, điều khiển học sinh học tập tích cực chủ động, chiếm lĩnh tri thức. Chú trọng khâu củng cố, hướng dẫn bài tập về nhà, biết chú ý đến từng đối tượng học sinh, kèm cặp, giúp đỡ cho học sinh còn yếu kém tiếp thu bài còn chậm. - Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến công tác đổi mới PPDH của giáo viên, tạo điều kiện để tổ bộ môn thao giảng cho từng chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng dạy học. * Tồn tại: -Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm mà người giáo viên đạt được trong quá trình giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thì việc dạy học môn Địa lý vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục: - Thường thì các tiết thao giảng thường có sự chuẩn bị công phu, chu đáo cả về thời gian lẫn phương tiện dạy học nên đạt hiệu quả cao, các tiết dạy thường xuyên thì hiệu quả còn hạn chế. - Một số tiết chưa đổi mới phương pháp trong giảng dạy, vì vậy học sinh chóng chán, mệt mỏi, hiệu quả dạy và học thấp. - Một số giáo viên còn cho rằng, dạy học Địa lý không cần đầu tư thời gian như các môn học khác. - Một số tiết thực hành học sinh đôi khi còn chưa đạt kết quả tốt. Một số tiết Địa lý địa phương còn khó khăn trong dạy học. 2. Về thực trạng học của học sinh: * ưu điểm: - Nhiều học sinh đã có đổi mới trong việc nhìn nhận về bộ môn Địa lý nên đã dầu tư thời gian và tài liệu (sách giáo khoa, vở bài tập, tập bản đồ, átlát, câu hỏi trắc nghiệm...). Không còn cho rằng môn Địa lý là môn học phụ chỉ cần học thuộc là được. - Nhiều em có ý thức tìm tòi tài liệu tham khảo, đưa ra những ý kiến khắc phục khi chưa hiểu, chăm lo việc học bài và làm bài ở nhà. Một số em tự nguyện tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi, điều đó đã động viên tinh thần cho những giáo viên dạy môn Địa lý rất nhiều. * Nhược điểm: - Một số học sinh chưa có sự ham mê trong học tập, tư tưởng coi thường môn Địa lý. - Một số khác lười làm bài tập, kĩ năng đọc bản đồ, lược đồ, phân tích bảng biểu đặc biệt là kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ còn yếu. - Một số học sinh khi hoạt động nhóm và khi xây dựng bài không chịu khó suy nghĩ, thiếu chủ động còn phụ thuộc vào sách giáo khoa, phụ thuộc, ỷ lại vào nhóm trưởng, vì vậy chất lượng học tập còn thấp. Từ những thực trạng trên, bản thân tôi cùng với một số đồng nghiệp xin đưa ra một số giải pháp để khắc phục và hạn chế những tồn tại với mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lý đặc biệt là môn Địa lý 8 mà tôi trực tiếp giảng dạy. III- Những giải pháp thực hiện để nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lý lớp 8 ở trường THCS. 1. Đối với giáo viên a- Phải đổi mới cách soạn bài - Giáo án được xem là bản kế hoạch dạy học của giáo viên, được trình bày bằng những đề mục, câu chữ ngắn gọn, rõ ràng theo một trình tự hợp lí và hình thức đặc trưng của giáo án, bao gồm cả hoạt động của giáo viên và học sinh. Vì vậy trong giáo án phải chú trọng thiết kế các hoạt động học tập của học sinh, tăng cường tổ chức các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ, chuẩn bị phiếu học tập. Tăng cường giao tiếp giữa thầy và trò, huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng học sinh và các lớp để xây dựng bài soạn. - Lựa chọn nội dung thích hợp: Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa Địa lý phổ thông được chọn lọc từ khối lượng tri thức khổng lồ của khoa học địa lý, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương trình. Tuy nhiên, khối lượng tri thức phong phú nhưng thời gian lại có hạn (45 phút), nhưng yêu cầu đảm bảo tính khoa học, tính chính xác là cần thiết và phải đảm bảo tính vừa sức với học sinh. Vì vậy: - Phải đặt ra những câu hỏi có tính kích thích sự tò mò, ham hiểu biết, có nhiều ý nghĩa về thực tế, đặt ra vấn đề học tập dưới dạng mâu thuẩn, giữa các học sinh đã biết và học sinh chưa biết. *Ví dụ: Bài 14 "Đông Nam á - Đất liền và hải đảo" phần xác định vị trí địa lý của khu vực không cần đọc chi tiết các điểm cực mà nên cho học sinh nhận xét các điểm cực ấy thuộc lãnh thổ quốc gia nào? Yêu cầu học sinh phân tích ý nghĩa vị trí của địa lý đó đối với việc tạo nên khí hậu của đới nóng, kiểu nhiệt đới gió mùa của khu vực. Cần nêu câu hỏi kích thích sự tò mò của học sinh như: Vì sao gió mùa mùa hạ và gió mùa mùa đông lại trái ngược nhau? Vì sao cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm chiếm diện tích lớn ở Đông Nam á? Vì sao sông ngòi ở miền Trung thường ngắn và dốc. - Xác định nhiệm vụ nhận thức cần đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện các kĩ năng và tư duy phù hợp với nội dung bài học, làm thế nào để những học sinh có trình độ nhận thức và tư duy khác nhau đều được làm việc với sự nổ lực của bản thân. b- Lựa chọn và sử dụng tốt các thiết bị dạy học trong quá trình lên lớp vì đây là những đồ dùng không thể thiếu trong quá trình dạy và học Địa lý nói chung và Địa lý 8 nói riêng vì nó hình thành học sinh những biểu tượng và khái niệm Địa lý, giúp học sinh dễ dàng nhận thức về mối quan hệ không gian của các sự vật và hiện tượng địa lý. Việc sử dụng hợp lý các thiết bị dạy học đặc biệt là bản đồ, lược đồ, sách giáo khoa giúp rèn luyện kĩ năng địa lý cho học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động cho học sinh trong học tập. Sử dụng tốt bản đồ giúp học sinh xác định vị trí, hình dạng lãnh thổ, biết được các sự vật và hiện tượng địa lý mà các em không có điều kiện quan sát trực tiếp. Bởi vì đây vừa là nguồn tri thức quan trọng, vừa bổ sung khắc sâu những kiến thức ở kênh chủ của sách giáo khoa về những điểm đặc trưng của một môi trường, lãnh thổ, vì vậy việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ để lĩnh hộiu kiến thức là rất quan trọng bởi nó giúp học sinh ghi nhớ những kiến thức nhanh chóng và lâu bền, nên nhất thiết trong giảng dạy địa lý không thể không dùng bản đồ trong việc hình thành kiến thức cho học sinh. Ví dụ: Khi dạy một bài bất kỳ về "Vị trí, hình dạng của lãnh thổ" mà giáo viên không sử dụng bản đồ thì học sinh không thể nắm được các điểm cực Bắc, cực Nam, cực Tây, cực Đông của lãnh thổ đó và không biết hình dạng của lãnh thổ đó như thế nào, tiếp giáp với những quốc gia, khu vực nào... Tuy nhiên, chúng ta không nên sử dụng quá nhiều bản đồ cho một tiết dạy, phải lựa chọn bản đồ nào phù hợp nhất, sử dụng trong những thời điểm thích hợp nhất mới đạt được hiệu quả cao. c- Tạo nhu cầu hứng thú và động lực học tập Tạo nhu cầu hứng thú nhận thức không chỉ được thực hiện ngay lúc vào bài mà phải kéo dài trong suốt cả tiết học. Khi bắt đàu bài học, giáo viên cần có sự định hướng nội dung học tập cho học sinh. Việc định hướng sẽ có hiệu quả cao hơn nếu như tạo được hứng thú học tập của học sinh, việc này không chỉ sử dụng khi bắt đầu bài mới mà ở các mục kế tiếp nhau, giáo viên cần có sự chuyển ý một cách thích hợp, có như vậy mới tạo ra không khí thuận lợi trong việc lĩnh hội kiến thức cho học sinh. d-Xác định các hình thức tổ chức cho dạy học Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phù hợp với nội dung từng bài. Đối với những nội dung thích hợp, vừa sức, giáo viên cho học sinh làm việc cá nhân với sách giáo khoa lược đồ và bảng biểu. Đối với những nội dung dễ gây ra nhiều ý kiến khác nhau cần tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm Đối với những nội dung mà học sinh không có khả năng tự học (những nội dung phức tạp, khó...) và mất nhiều thời gian nên tổ chức cho học sinh học theo lớp. Các hình thức dạy học cần phải được phối hợp chặt chẽ với nhau trong một tiết lên lớp làm cho hình thức hoạt động nhận thức của học sinh đa dạng, các em vừa được học thầy, học bạn, vừa có sự nỗ lực bản thân. e- Vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Vấn đề này phải được nghiên cứu, thay đổi để phù hợp với việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Tất cả học sinh đều được tham gia vào việc tự đánh giá lẫn nhau, như vậy bắt buộc học sinh phải có sự chuẩn bị kiến thức và bài tập để đáh giá bạn được chính xác. Trong quá trình dạy cần thường xuyên tiến hành kiểm tra việc học tập của học sinh, công việc này được tiến hành trong mọi khâu của quá trình dạy học từ kiểm tra bài cũ, kiểm tra trong khi học bài mới... nhằm giúp học sinh có ý thức tự giác suy nghĩ trong học tập. Ngoài ra việc kiểm tra định kì cần bao quát nội dung đã học, cần quan tâm đến kĩ năng và khả năng tư duy học tập của học sinh để hạn chế kiểm tra các kiến thức kiểu ghi nhớ máy móc. Đặc biệt hiện nay chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa tới đối tượng học sinh yếu kém . Điều đó phải được thể hiện rõ trong từng bài soạn của giáo viên . Giáo viên phải nắm từng đối tượng của học sinh, đưa ra những câu hỏi dễ để các em yếu kém có thể trả lời được. Nhất là trong các hoạt động nhóm, giáo viên phải có sự hướng dẫn để những học sinh yếu kém có thể tham gia đóng góp ý kiến của mình đồng thời khen thưởng kịp thời khi học sinh trả lời chính xác động viên các em, giúp các em hứng thú hơn trong việc học. 2- Đối với học sinh. - Học sinh phải thực sự biết đổi mới phương pháo dạy học để phù hợp với cách dạy mới của giáo viên. Biết dùng lý luận và kiến thức lý thuyết để giải thích các hiện tượng xảy ra trong thực tế. Chủ động tích cực trong các hình thức học tập do giáo viên hướng dẫn, tự mình tìm ra kiến thức đúng. - Biết sử dụng sách giáo khoa để suy luận và tự khám phá, tìm tòi qua các câu hỏi đàm thoại gợi mở của giáo viên. - Tích cực làm bài tập do giáo viên hướng dẫn ở vở bài tập và tập bản đồ. Phải thực sự đầu tư thời gian hợp lý cho việc chuẩn bị bài cũ và bài mới mà giáo viên giao cho với hiệu quả cao. - Có thói quen quan sát, theo dõi thu thập các thông tin địa lý qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, tranh ảnh, truyền hình. - Phải rèn luyện các kĩ năng địa lý cơ bản: + Kĩ năng đọc, phân tích bản đồ, lược đồ. Xác định vị trí sự phân bố của các sự vật, hiện tượng địa lý trê bản đồ. Nhận xét được mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên, giữa tự nhiên với sự phát triễn kinh tế xã hội thông qua việc so sánh, đối chiếu các bản đồ với nhau + Đọc, phân tích và nhận xét các biểu đồ địa lý như biểu đồ nhiệt ẩm thể hiện các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa; biểu đồ sự phát triển dân số, biểu đồ thể hiện diện tích rừng... + Biết cách phân tích, nhận xét các lát cắt địa hình. Phân tích các số liệu thống kê, các tranh ảnh để khai thác kiến thức. + Kĩ năng vẽ các loại biểu đồ phổ biến như biểu đồ hình tròn, biểu đồ đường, biểu đồ hình cột... chính xác thẩm mĩ. Tự giác, trung thực trong làm bài kiểm tra, hình thành thói quen tự lực làm bài không phụ thuộc vào tài liệu quay cóp. IV- Kết quả : Việc đổi mới phương pháp dạy học đã làm cho phần lớn học sinh thực sự quen với cách học mới, chủ động hơn trong việc tự mình khám phá, xây dựng và chiếm lĩnh tri thức và không còn coi môn Địa lý là môn học không cần trí tuệ như trước đây nữa. Bên cạnh việc ý thức, tự giác trong học tập, học sinh cũng đã tự trang bị cho mình nhiều phương tiện học tập, đầu tư thời gian học tập thích hợp cho việc học Địa lý do vậy chất lượng học tập bộ môn có bước chuyển biến rõ rệt. V- Bài học kinh nghiệm : Qua thực tiễn dạy học trong thời gian qua và bằng việc áp dụng các giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lý nói chung và Địa lý lớp 8 nói riêng tôi đã rút ra được một số bài học cơ bản . - Mỗi giáo viên phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng , rèn luyện để không ngừng trau dồi về kiến thức, kĩ năng dạy học địa lý cơ bản . - Làm tốt việc điều tra, khảo sát tình hình để nắm chắc đối tượng học sinh để từ đó phân loại đối tượng để có kế hoạch dạy phù hợp . - Đã có sự đổi mới trong cách soạn bài, tăng cường hoạt động của học sinh để có sự giúp đỡ học sinh yếu kém tham gia đóng góp ý kiến . - Đa số học sinh đã có niềm tin đối với môn học , có sự đầu tư về sách vở , và thời gian nhờ đó nhiều em nắm được những kiến thức địa lý cơ bản trong chương trình của môn học. Điều đó góp phần cổ vũ , động viên cho các giáo viên động lực phát huy hết tinh thần trách nhiệm và khả năng của mình để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn . C- Phần kết luận Qua đây, bản thân tôi đã rút ra được những bài học bổ ích trong quá trình dạy học. Và thực tế đã chứng minh rằng dù là môn học nào những khi giáo viên và học sinh đã có nhận thức đúng về giá trị của việc học, giáo viên biết hướng cho học sinh ý thức say mê học tập lòng ham hiểu biết, tìm tòi thì năng lực tư duy của học sinh sẽ phát triển và nâng cao. Do vậy người giáo viên phải không ngừng học hỏi, tự bồi dưỡng để hoàn thiện mình, để không ngừng đổi mới phương pháp dạy học kết hợp với bồi dưỡng phương pháp học cho học sinh giúp học sinh tham gia tích cực vào việc học, như vậy hiệu quả dạy và học sẽ không ngừng nâng cao. Xác nhận của hội đồng thi đua trường : Hồng Châu, ngày 30 tháng 5 năm 2010 Người viết Vũ Ngọc Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Việt Khối Lớp 1 Ở Trường Tiểu Học 1 Sông Đốc
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán (Phần Giải Toán) Ở Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn?
  • Tổ Văn Trường Thpt Phú Điền Với Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn, Lịch Sử Ở Trường Thpt Như Thanh
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 6 Bằng Dụng Cụ Trực Quan
  • A. Phân loại học sinh

    Xã Đạo Đức là một xã nằm phía đông nam của huyện Bình Xuyên, tiếp giáp với thành phố Phúc Yên. Xã gồm 3 thôn chính: thôn Mộ Đạo, thôn Bảo Đức, thôn Yên Lỗ. Nghề nghiệp chủ yếu là làm nông và công nhân ở các khu công nghiệp. Kinh tế ổn định, đời sống đảm bảo an ninh trật tự, trình độ dân trí không đồng đều. Trong những năm gần đây, Đảng và chính quyền địa phương đã quan tâm chú ý đến đường lối phát triển kinh tế đồng thời đẩy mạnh công tác giáo dục vì vậy đời sống văn hoá, xã hội có những bước chuyển biến rõ nét. Vì vậy, 100% học sinh khi vào lớp 1 đã qua lớp mầm non, tuy nhiên trình độ tiếp thu rất khác nhau bên cạnh đó còn có một số học sinh có biểu hiện của tăng động, chậm phát triển gây khó khăn rất nhiều cho giáo viên trong quá trình giảng dạy và tìm phương pháp giảng dạy phù hợp cho lớp. Vào đầu mỗi năm học khoảng 1 tháng, tôi tiến hành khảo sát chất lượng và đánh giá trình độ tiếp thu của học sinh. Sau đó để tiện

    theo dõi và giảng dạy, tôi tạm phân học sinh theo các trình độ: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Trong đó, tôi quan tâm nhiều đến 3 đối tượng học sinh: trung bình, yếu và kém. Để đảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh đều có thể tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức, tôi chuẩn bị trước ở nhà các bài tập (dựa vào vở Bài tập Toán) có phân loại kiến thức từ dễ đến khó. Các bài tập khó dành cho học sinh khá, giỏi; các bài tập dễ dành cho học sinh trung bình trở xuống nhằm tạo hứng thú cho các em trong từng tiết học để các em chủ động tiếp thu kiến thức.

    B. Biện pháp cụ thể

    Trong cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm học để gặp gỡ, yêu cầu phụ huynh phải mua đầy đủ đồ dung học tập, sách giáo khoa để phục vụ cho việc học tập tất cả các môn học. Riêng môn Toán, ngoài các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết như sách giáo khoa, bộ đồ dung toán, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh chuẩn bị thêm cho mỗi em 1 cuốn vở ô li để học sinh làm lại các bài tập bị sai hoặc làm các bài tập ở tiết toán + (buổi chiều) bài tập do giáo viên biên soạn. Việc làm này sẽ giúp củng cố kiến thức cho học sinh và giúp các em nhớ lâu hơn đồng thời đây cũng là cách để rèn kỹ năng viết, kỹ năng tính toán cho học sinh.

    Đối với mỗi dạng toán khác nhau, ngoài tham khảo sách thiết kế dành cho giáo viên, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của các thầy cô đi trước, tôi lựa chọn cho mình những phương pháp riêng phù hợp với trình độ học sinh lớp mình. Cụ thể như sau:

    Ngay từ những bài đầu tiên của chương trình toán lớp 1, các em sẽ làm quen với các hình đơn giản: hình tròn, hình vuông, hình tam giác. Đối với bài học này giáo viên cần phải cho học sinh nhận dạng, nắm được tên các hình và đặc điểm cơ bản để nhận dạng hình, vẽ được hình đó.

    Ví dụ: Khi dạy bài hình vuông, hình tròn, sau khi cho học sinh nhận dạng được hình, tôi yêu cầu học sinh lấy trong Bộ đồ dùng môn toán các hình vuông, hình tròn rồi yêu cầu học sinh tìm các đồ vật xung quanh em có hình vuông, hình tròn dưới dạng trò chơi tạo hứng thú ban đầu cho các em khi học môn toán. Sau đó cho học sinh vẽ ra bảng con hình vuông, hình tròn để các em khắc sâu hơn về hình đã học.

    2. Dạy toán về nhiều hơn, ít hơn:

    Với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn học sinh phải nắm thật kỹ để các em chuyển sang học về dấu lớn hơn, bé hơn được dễ dàng. Đối với học sinh khá, giỏi, các em tiếp thu bài rất nhanh vì đó chỉ là những kiến thức đơn giản các em nhận biết trong giao tiếp hàng ngày với cha mẹ, với những người xung quanh. Tuy nhiên đối với những học sinh trung bình, yếu, kém các em gặp khó khăn rất nhiều trong quá trình xác định nhóm đồ vật có số lượng nhiều hơn, nhóm đồ vật có số lượng ít hơn.Vì vậy, khi dạy dạng toán này, tôi chú ý để các học sinh trung bình trở xuống được thực hành nhiều hơn.

    Để các em dễ nhận biết kiến thức, tôi áp dụng triệt để phương pháp trực quan. Từ việc cho các em quan sát cụ thể để các em phát hiện và ghi nhớ nội dung kiến thức.

    Ví dụ: Gọi hai nhóm học sinh đứng trước lớp, nhóm một có 4 học sinh nam, nhóm hai có 3 học sinh nữ.

    – Giáo viên yêu cầu cả lớp quan sát, sau đó gọi những học sinh thuộc nhóm đối tượng trung bình trở xuống trả lời câu hỏi: Nhóm nào nhiều bạn hơn? Nhóm nào ít bạn hơn? Tuy nhiên vẫn sẽ có những học sinh không trả lời được nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn. Đối với trường hợp này, tôi sẽ cho 2 nhóm bạn nam và nữ bắt tay nhau, mỗi học sinh nam sẽ bắt tay với 1 học sinh nữ, các em sẽ thấy thừa ra 1 học sinh nam từ đó thấy được nhóm học sinh nam nhiều hơn nhóm học sinh nữ.

    – Tôi tiếp tục thay đổi số học sinh của hai nhóm và nêu các câu hỏi tương tự để nhiều học sinh yếu kém có cơ hội trả lời câu hỏi nhằm phát hiện kiến thức. Ngoài ra, tôi sẽ làm nhiều phiếu bài tập có dạng bài tương tự để các em nắm vững về nhiều hơn, ít hơn. Quan trọng nhất sau mỗi 1 bài tập tôi thường cho các em trả lời cá nhân sau đó cho các em nhắc lại đồng thanh cả lớp để khắc sâu kiến thức.

    3. Dạy về số, các chữ số.

    Đối với dạng các số từ 0 đến 10, chúng ta phải hướng dẫn thật kĩ để cho học sinh biết đọc, viết các số, vì đây là tiền đề để các em năm được về vấn đề số học trong toàn bộ chương trình toán học ở tiểu học. Có những học sinh đã được cha, mẹ cho làm quen trước ở nhà nên việc nhớ cách viết, đọc các số rất đơn giản với các em. Tuy nhiên có một số ít trường hợp khó khăn trong việc nhớ cách viết, đọc các số này. Như đã nói ở trên, trong lớp tôi có một học sinh trong 3 tháng đầu tiên của năm học, em không thể nhớ nổi các số từ 0 đến 10( không thể đếm 0 đến 10, không nhớ cách viết số, không nêu được số lượng tương ứng trong các bức tranh, trong trường hợp cụ thể.

    Với những học sinh này, thầy cô giáo đặc biệt phải rất kiên trì và nhẫn nại với học sinh cũng như phải thường xuyên trao đổi với phụ huynh học sinh để có biện pháp kịp thời.

    Ở dạng toán nhận biết cách đọc, viết các số có 1 chữ số này, tôi thường cho học sinh nhận biết bằng đồ dung trực quan (que tính).

    – Ví dụ: Các số 1, 2, 3, 4, 5

    + Có mấy ngôi nhà? (có 4 ngôi nhà).

    + Giáo viên nêu: Có 4 ngôi nhà.

    + Giáo viên ghi bảng: 4 và đọc: Bốn

    + Giáo viên hướng dẫn học sinh viết bảng con số 4. Sau đó cho học sinh chỉ tay vào bảng con của mình đọc nối tiếp: Bốn.

    + Giáo viên cho học sinh thực hành lấy 4 que tính và nêu: Có 4 que tính.

    Ngoài ra, để củng cố cho các em về số tôi thường tổ chức cho các em chơi trò chơi ” Chim bay về tổ” để tạo hứng thú cho học sinh đồng thời giúp các em khắc sâu hơn về các số. Trò chơi như sau: Tôi gọi 1 nhóm học sinh tham gia chơi trò chơi, khi giáo viên hô: Chim bay về tổ, học sinh đáp: Về mấy về mấy? Giáo viên nêu số bất kì: 2, 3, 4…. Học sinh sẽ tự tạo nhóm tương ứng với số mà giáo viên đã nêu.

    Giáo viên cần cho học sinh nắm chắc thứ tự các số trong dãy số để khi làm các bài tập về điền dấu dễ dàng hơn. (có thể cho học đếm xuôi, đếm ngược hoặc cho học sinh điểm số tờ 1 đến 10 để tạo hứng thú học tập cho học sinh).

    b) Các số từ 11 đến 100

    Ở dạng toán này học sinh thường bị nhầm ở cách đọc số. Ví dụ: 22 các em thường đọc là: hai hai (đọc đúng là: hai mươi hai).

    Để học sinh nắm chắc cách đọc các số, thì khi dạy nhận biết số tôi hướng dẫn học sinh nắm chắc một số gồm mấy chục và mấy đơn vị. Khi học sinh nắm chắc được về chục và đơn vị học sinh sẽ biết cách đọc số. Ví dụ: đọc số: 67

    + 67 gồm mấy chục và mấy đơn vị? (67 gồm 6 chục và 7 đơn vị).

    + Đọc: sáu mươi bảy.

    Hoặc đối với học sinh trung bình, yếu tôi buộc phải cho học sinh nhớ máy móc bằng cách them chữ “mươi”. Ví dụ: Các em thường đọc: 67 là: sáu bảy. Khi cho them chữ “mươi” vào giữa 2 số sẽ là: sau mươi bảy.

    a) Hướng dẫn học sinh so sánh các số trong phạm vi 10:

    Đây là hai dấu bé, lớn chỉ sự quan hệ giữa các số mà học sinh rất dễ nhầm lẫn, không chỉ học sinh yếu, kém nhầm lẫn mà ngay cả học sinh khá, giỏi cũng có thể sai khi tính toán vội vàng. Để hạn chế điều này, tôi giúp học sinh phân biệt bằng cách co cánh tay của mình khi hướng dẫn các em điền dấu.

    -Với dấu bé hơn (<):

    – Để các em có thể liên hệ với dạng toán nhiều hơn ít hơn, tôi sẽ gắn các số với 1 nhóm đồ vật nhất định ví dụ: 2 quả táo và 4 quả táo.

    – Sau đó nêu câu hỏi: 2 quả táo như thế nào so với 4 quả táo?

    – Học sinh trả lời: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo.

    – Giáo viên nhắc lại: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo hay ta còn nói: 2 < 4

    – Giáo viên ghi dấu bé hơn vào chỗ chấm (2 < 4) và cho học sinh nhận xét: Dấu bé hơn, mũi nhọn quay về bên trái giống như tay trái đang co lại chống vào hông, hay mũi nhọn quay vào số bé hơn.

    – Cho học sinh lên bảng thực hành chống tay trái vào hông trước lớp cho các bạn cùng nhận xét xem có đúng như kết luận đã nêu không (học sinh đứng quay mặt vào bảng). Tiếp tục, tôi tiến hành tương tự với một vài ví dụ khác như: 1…5; 4…7;

    Tương tự ví dụ trên, giáo viên cũng nêu câu hỏi và rút ra nhận xét: Dấu lớn hơn giống như tay phải co lại chống vào hông. Sau đó, cho học sinh thực hành, nêu nhận xét.

    – Giáo viên chọn khoảng 8 học sinh trở lên, tùy theo thực tế học sinh và không gian lớp học, xếp các học sinh này thành một hàng ngang trên bục giảng theo hai nhóm, mỗi nhóm có số lượng học sinh không bằng nhau.

    – Giáo viên yêu cầu cả lớp nhận xét, tuyên dương sau mỗi học sinh.

    – Giáo viên liên tục thay đổi số lượng học sinh trong mỗi nhóm trên bảng để học sinh có thể so sánh được nhiều giá trị giữa 2 số và cũng là để nhiều học sinh cùng được tham gia vào trò chơi.

    b) Hướng dẫn học sinh so sánh các số có hai chữ số:

    Để hướng dẫn học sinh dễ dàng so sánh các số có hai chữ số, tôi cho học sinh tách các số thành từng hàng rồi cho học sinh so sánh các số trong cùng hàng; từ đó rút ra kết luận so sánh giá trị của hai số.

    – Tôi hướng dẫn từng bước cho học sinh nhận xét:

    + 55 và 59 giống nhau ở hàng nào? (giống ở hàng chục là 5).

    + 5 đơn vị như thế nào so với 9 đơn vị? (5 đơn vị bé hơn 9 đơn vị).

    + 55 như thế nào so với 59? (55 bé hơn 59).

    – Gợi ý học sinh rút ra kết luận: 55 và 59 có 5 chục bằng nhau, 5 bé hơn 9 nên 55 bé hơn 59.

    – Gọi học sinh lên bảng điền dấu vào chỗ chấm: 55 <59.

    – Tiến hành cho học sinh so sánh ngược lại: 59…55 tương tự như trên.

    Từ phương pháp và kết quả so sánh trên, giáo viên gợi ý học sinh rút ra kết luận chung: các số có hai chữ số có số chục bằng nhau, số nào có số đơn vị bé hơn thì số đó bé hơn, số nào có số đơn vị lớn hơn thì số đó lớn hơn.

    Đối với trường hợp các số khác nhau cả hàng chục và hàng đơn vị tôi tiến hành tương tự như trên để rút ra kết luận: các số có hai chữ số, số nào có hàng chục lớn hơn thì số đó lớn hơn.

      3…4

      Dạng bài này học sinh dễ dàng điền được dấu luôn tuy nhiên vẫn có số ít học sinh điền nhầm vì vậy giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát tranh có số lượng đồ vật tương ứng với các số sau đó hỏi tranh nào có số lượng nhiều hơn từ đó học sinh nhận ra được dấu mình phải điền.

      Ở dạng này giáo viên cần cho học sinh nắm chắc kiến thức để làm bài tập các dạng b, c dễ dàng hơn.

      – Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý:

      + Bài này có mấy phần? Gồm những phần nào? (Bài có hai phần, phần đứng trước dấu chấm và phần đứng sau dấu chấm).

      + Em có thể tính phần nào trước? (Tính 3 + 4 trước).

      + 3 + 4 bằng mấy? (3 + 4 = 7).

      + Em dùng bút chì ghi số 6 nhỏ xuống phía dưới phép tính 3 + 4.

      + 9 như thế nào so với 7? (9 lớn hơn 7).

    Ví dụ 3: Bài tập số 2; sách giáo khoa Toán lớp 1 trang 143.

    Bài 2: Khoanh tròn vào số lớn nhất:

    a) 72; 68; 80. b) 91; 87; 69.

    c) 97; 94; 92. d) 45; 40; 48.

    Các bài tập này rất khó đối với học sinh trung bình trở xuống, do đó tôi phải hướng dẫn kỹ từng mục của mỗi bài.

    – Mục a, b: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng chục để tìm được số lớn nhất (bé nhất).

    – Mục c, d: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng đơn vị để tìm số lớn nhất (bé nhất).

    Cuối bài so sánh các số có hai chữ số, tôi tổ chức trò chơi để củng cố như sau:

    – Làm các bông hoa có mang số ở nhụy hoa, ví dụ: 34; 61; 14; 67. Mặt sau bông hoa gắn keo dính 2 mặt.

    – Tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi thành hai đội dưới dạng thi ai nhanh hơn, số lượng học sinh của mỗi đội tương ứng với số hoa mà giáo viên đã làm cho mỗi đội.

    – Giáo viên phát lệnh, học sinh hai đội lần lượt đứng theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại (tùy theo yêu cầu của giáo viên, theo mục tiêu của từng bài học và thực tế học sinh ở mỗi lớp). Đội nào đứng nhanh hơn và đúng là thắng cuộc.

    6. Dạy các bài dạng “Tìm thành phần chưa biết của phép cộng, phép trừ”:

    Ví dụ: …+ 5= 7 …- 6 = 2.

    5 +… = 10 7 -…= 4.

    Đối với các lớp trên, dạng toán này có qui tắc cụ thể. Ở lớp Một, các em tự nhẩm rồi điền vào chỗ chấm. Vì vậy, muốn làm đúng dạng toán này, các em phải thuộc kỹ các phép cộng, trừ trong phạm vi 10. Do đó, khi dạy phép cộng và trừ từ 2 đến 10, tôi chú ý rèn cho học sinh kỹ năng thuộc và nhớ kỹ tất cả các phép tính. Đối với những học sinh yếu, kém, tôi sử dụng các hình thức dạy học trực quan, gợi mở, dạy học theo nhóm ở lớp, nhóm ở nhà và thường xuyên kiểm tra để các em có thể thuộc và nhớ được các phép tính theo yêu cầu đã nêu.

    7. Dạng điền số vào ô trống:

    Để tất cả học sinh có thể làm được và làm đúng dạng toán này, tôi phát huy tối đa ưu thế của phương pháp gợi mở, phân tích – tổng hợp. Cụ thể như sau:

    + Bài toán này có mấy phần? Đó là những phần nào? (Bài toán có hai phần, phần đứng trước dấu bằng và phần đứng sau dấu bằng).

    + Chúng ta có thể tính được phần nào trước? (Tính phần đứng trước dấu bằng).

    + Phần đứng trước dấu bằng có kết quả bằng mấy? (3 + 7 = 10).

    + Phần đứng sau dấu bằng đã có 6, vậy chúng ta cộng thêm mấy nữa để bằng 10? (Cộng thêm 4).

    + Vậy 3 + 7 = 6 + mấy? (3 + 7 = 6 + 4).

    Trong các tiết Toán tự soạn sau đó, tôi sẽ đưa thêm một số bài tập tự soạn ở dạng này vào bài để các em được luyện tập nhằm rèn luyện kỹ năng và củng cố, khắc sâu kiến thức.

    8. Dạy toán có lời văn:

    Khi học dạng toán này, rất nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc đặt câu lời giải, thậm chí ngay cả một số học sinh khá cũng lúng túng trong việc này. Các em thường đặt sai câu lời giải hoặc chép lại nguyên văn câu hỏi trong bài toán. Để khắc phục những khó khăn trên cho học sinh, tôi phải sử dụng những qui ước theo kiểu “luật bất thành văn”. Ngay từ những bài toán đầu tiên ở dạng này, tôi qui ước đối với học sinh những nội dung sau:

    – Viết câu trả lời chính là việc trả lời câu hỏi của bài toán.

    – Khi trả lời, không lặp lại từ “hỏi”.

    – Khi trả lời, thay các từ “mấy?”, “bao nhiêu?” trong các bài toán thành các từ “số”, thêm từ là vào cuối câu trả lời.

    Đối với học sinh khá, giỏi, tôi không yêu cầu các em làm theo qui ước mà để các em trả lời tự do theo ý hiểu của mình.

    Ví dụ: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?

    – Lời giải là câu trả lời của câu hỏi “Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?”.

    – Khi bỏ từ “hỏi” và thay từ “mấy” bằng từ số sẽ được câu trả lời: “Nhà An có còn lại số con gà là”.

    Trong một số tiết Toán + (buổi chiều), tôi đưa ra một số bài toán tự soạn như đã nêu ở phần đầu với yêu cầu chủ yếu đối với học sinh là luyện tập kỹ năng đặt câu lời giải.

    Ngoài ra các em còn nhầm lẫn trong khi viết phép tính (nhầm phép cộng thành phép trừ, ngược lại). Để hướng dẫn học sinh viết đúng phép tính tôi thường hướng dẫn như sau:

    Ví dụ: Bài 1 trang 148

    Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con bay đi. Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?

    + Cho học sinh đọc đề bài nhiều lần.

    + Bài toán cho biết gì? (Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con chim bay đi).

    + Bài toán hỏi gì? (Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?)

    + Muốn biết còn lại bao nhiêu con chim ta làm phép tính gì?( Ta làm phép tính trừ).

    + Nêu phép tính?( 8-2=6)

    + Nêu câu trả lời cho bài toán?( Trên cây còn lại số con chim là:)

    Với cách làm này, theo ghi nhận thực tế của tôi, 100% học sinh đã đặt được và đúng câu lời giải cho các bài giải toán có lời văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Lớp 6A2 Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Trong Trường Thpt
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán Của Tổ Toán Trường Thpt Số 2 Tư Nghĩa
  • Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Cam Kết Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Xác Nhận
  • Hiện Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Đất Ở Thành Phố Hcm
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Trong Trường Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Cần Tạo Động Lực Cho Người Học
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Công Nghệ Lớp 7.2 Trường Trung Học Cơ Sở Truông Mít Thông Qua Sử Dụng Video Clip, Hình Ảnh Bổ Sung Khi Dạy Phần Trồng Trọt
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Đối Với Trẻ Ở Trường Mầm Non
  • Ngày nay, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã có những tác động to lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trong mỗi Quốc gia và trên Thế giới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học và công nghệ thông tin, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hoá – hiện đại hoá, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng – thế giới nói chung.

    Nghị quyết Trung ương số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã chỉ rõ mục tiêu giáo dục: “… đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

    ( Luật giáo dục 2005 – trang 1)

    Trong đó, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

    Hiện nay ngoài việc học 9 môn bắt buộc, học sinh tiểu học còn được học các môn tự chọn (như Tiếng Anh, Tin học).

    Ta thấy rằng, mục tiêu dạy môn tự chọn ở tiểu học là nhằm hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực cá nhân, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Học sinh được học theo sở thích, năng lực của mình nên em nào cũng hồ hởi khi được học môn tin học.

    Xác định rõ tầm quan trọng của CNTT đối với yêu cầu phát triển đất nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa môn tin học vào trong nhà trường ngay từ bậc học tiểu học.

    Ở tiểu học, học sinh được tiếp xúc với môn tin học để làm quen dần với lĩnh vực công nghệ thông tin, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học những phần nâng cao trong các cấp học tiếp theo.

    Có hiểu biết ban đầu về tin học và ứng dụng tin học trong học tập và trong đời sống.

    Có khả năng sử dụng máy tính trong việc học những môn học khác, trong hoạt động vui chơi giải trí nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và thích ứng với đời sống xã hội hiện đại.

    Bước đầu học sinh được làm quen với cách giải quyết vấn đề có sử dụng công cụ tin học.

    Là giáo viên dạy môn Tin học ở tiểu học tôi thấy: Chương trình tin học của học sinh tiểu học gồm các nội dung chủ yếu như làm quen với việc sử dụng máy vi tính, sử dụng những thiết bị thông dụng, sử dụng phần mềm trò chơi mang tính giáo dục, sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản, sử dụng phần mềm đồ họa, bước đầu làm quen với Internet… Các em rất yêu thích môn học này nên tiếp thu bài rất nhanh. Do vậy, việc đưa tin học vào tiểu học ở môn tự chọn là đúng đắn. Đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay, ngành Giáo dục – Đào tạo đã có khả năng tự trang bị phòng máy vi tính cho các trường.

    Việc đưa tin học vào giảng dạy ở cấp tiểu học dù tự chọn hay chính khóa rất cần có sự đầu tư cơ sở vật chất nhất định, nhằm vào mục tiêu hỗ trợ giáo viên giảng dạy, hỗ trợ học sinh học tập.

    Môn tin học ở bậc tiểu học bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiến thức ban đầu về công nghệ thông tin như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ thường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính, … đồng thời hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động hiện đại như:

    + Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.

    + Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.

    + Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động xã hội hiện đại.

    + Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học.

    + Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập.

    + Có ý thức tìm hiểu công nghệ thông tin trong các hoạt động xã hội.

    Đặc biệt khi học sinh học các phần mềm sẽ được tích hợp nhiều nội dung kiến thức, phát triển nhiều kỹ năng cho bản thân như:

    + Phần mềm soạn thảo văn bản: học sinh ứng dụng từ các môn học Tiếng Việt để trình bày đoạn văn bản sao cho phù hợp, đúng cách. Ứng dụng soạn thảo văn bản để soạn thảo giải những bài toán đã học ở cấp tiểu học.

    + Phần mềm đồ họa (Paint): học sinh ứng dụng trong môn Mĩ thuật, học được từ môn Mĩ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà và có thẩm mĩ.

    + Phần mềm cùng học toán 3, cùng học toán 4, cùng học toán 5: Đã giúp các em luyện tập giải toán và các kĩ năng làm toán…

    + Ngoài ra còn một số phần mềm trò chơi rất bổ ích: Giúp các em luyện sử dụng chuột và giải trí.

    + Chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa các bài vừa học, vừa chơi. Điều đó sẽ rèn luyện cho học sinh óc tư duy sáng tạo trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho học sinh thư giãn sau những giờ học căng thẳng ở lớp.

    Từ các lí do trên tôi chọn viết và trao đổi với các đồng chí chuyên đề “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học trong các trường Tiểu học”. Qua các biện pháp trong chuyên đề sẽ giúp các em học tốt hơn, đồng thời giúp các em có một kĩ năng sử dụng tốt máy tính để hỗ trợ cho việc học tập của bản thân. Chuyên đề cũng nhằm cung cấp cho các đồng chí GV Tin một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Tin học ở trường mình khi áp dụng phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi trường.

    II. THỰC TRẠNG 1. Thuận lợi

    – Hàng năm phòng GD&ĐT đều có kế hoạch mua sắm trang thiết bị trong đó có bổ sung, trang bị máy tính cho các trường.

    – Về chương trình môn học: Năm học 2022-2018, Bộ GD&ĐT đã triển khai chương trình sách Hướng dẫn học tin học lớp 3-4-5 ngay từ đầu năm học. Sách hướng dẫn học Tin học mới có sự cải tiến nhiều hướng tới học sinh, giúp học sinh đến gần hơn với CNTT, tiếp xúc với các phần mềm mới và phù hợp với các em hơn.

    – Sách mới giúp việc tương tác và truyền tải nội dung giữa thầy và trò được thuận lợi hơn.

    – Giáo viên được đào tạo trình độ chuẩn, đáp ứng về kiến thức và phương pháp, đảm bảo yêu cầu dạy học môn Tin học ở bậc Tiểu học. Thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp huyện, cấp cụm đồng thời tự học tập trau dồi kiến thức chuyên môn, phương pháp dạy học mới để tiếp cận kịp thời với sự phát triển nhảy vọt của CNTT.

    – Về học sinh: Nội dung sách Hướng dẫn học Tin học mới được trình bày nhẹ nhàng, đẹp, chú trọng nhiều về phần thực hành rất phù hợp với lứa tuổi HS tiểu học.

    – HS từ khối 3 đến khối 5 được học môn Tin học. Mỗi lớp được học với thời lượng 2 tiết/ 1tuần.

    – Môn Tin học là một môn học Tự chọn nên HS tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, không bị gò ép, các em rất hứng thú với môn học.

    – HS đã nắm được các kiến thức cơ bản của bài học. Từ đó HS đã biết sử dụng và ứng dụng phần mềm vào việc học tập.

    2. Khó khăn

    Nhà trường đã có một phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng, mỗi ca thực hành có tới 3 –

    4 em ngồi cùng một máy nên các em không có nhiều thời gian để thực hành làm bài tập một cách đầy đủ. Hơn nữa nhiều máy cấu hình máy đã cũ, chất lượng không còn tốt nên hay hỏng hóc, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của học sinh.

    Đời sống kinh tế của một số địa phương còn gặp nhiều khó khăn, rất ít học sinh ở nhà có máy vi tính, nên ngoài giờ thực hành trên lớp học sinh không có điều kiện để luyện thêm ở nhà, nên việc rèn luyện kỹ năng và ứng dụng chưa nhiều.

    Tài liệu tham khảo dành riêng cho bộ môn Tin học còn quá ít. Nhất là những tài liệu nói về phương pháp dạy học đặc trưng của môn Tin học.

    Đây là môn học tự chọn nên một số HS chưa học nghiêm túc và phụ huynh chưa quan tâm.

    Sự cố về kỹ thuật: Nhiều máy bị hỏng. Dẫn đến không đủ máy cho HS thực hành.

    Năm học 2022-2018 áp dụng học sách Tin học mới do BGD&ĐT triển khai trong đó có một số chương trình phần mềm có yêu cầu cấu hình máy nhưng do nhiều máy đã cũ và cấu hình thấp nên không đáp ứng được cho việc cài đặt phần mềm học tập cho học sinh.

    Một số phần mềm không thể áp dụng được vào giảng dạy vì do trình độ Gv còn hạn chế và phòng máy không có tai nghe cho HS như phần mềm học tiếng Anh và phần mềm nhạc Encore, MuseScore.

    III. MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ 1. Đối với nhà trường

    + Từng bước nâng cao chất lượng bộ môn Tin học nói riêng và chất lượng chuyên môn của nhà trường, vì Tin học là một môn bổ trợ và tích hợp rất nhiều các nội dung kiến thức của các bộ môn khác.

    + Giúp lãnh đạo các nhà trường nâng cao chất lượng quản lí, đánh giá thực trạng và nhu cầu trang bị cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu tất yếu phục vụ cho việc dạy học môn tin học và ứng dụng CNTT trong việc quản lý nhà trường.

    2. Đối với Giáo viên

    + Giúp giáo viên bộ môn có thêm tư liệu giảng dạy và từng bước đổi mới phương pháp dạy môn Tin học ở Tiểu học

    + Chia sẻ, xây dựng nội dung kiến thức CNTT, kinh nghiệm trong giảng dạy môn Tin học để xây dựng phương pháp giảng dạy tối ưu.

    + Giúp các thầy giáo, cô giáo ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

    3. Đối với Học sinh

    + Giúp học sinh học tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng kiến thức vào thực tế.

    + Góp phần rèn luyện HS một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kỳ hiện đại hóa.

    + Giúp học sinh hiểu biết ban đầu về Tin học và ứng dụng của Tin học trong đời sống và học tập.

    + Trang bị cho HS kiến thức về CNTT, HS sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập.

    IV. BIỆN PHÁP 1. Tăng cường tự học để năng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học môn tin học

    Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là phủ nhận phương pháp dạy học truyền thống và sử dụng phương pháp dạy học hoàn toàn mới. Đổi mới phương pháp dạy học là sự vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học, các biện pháp, kỹ thuật dạy học truyền thống kết hợp với những phương pháp dạy học, phương tiện, công nghệ và các kỹ thuật dạy học hiện đại, sao cho phù hợp với đối tượng, nội dung chương trình, nhằm giúp người học tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng kiến thức vào thực tế.

    Bản chất của phương pháp dạy học là đổi mới quan niệm dạy học từ: dạy học thụ động sang dạy học tích cực; dạy học bằng thuyết trình hay giải thích sang dạy học bằng cách khám phá; dạy học độc thoại bằng dạy học đối thoại; dạy học tập trung vào cá nhân sang dạy học tập trung vào nhóm, dạy học hợp tác; dạy học tập trung vào nội dung tiến tới dạy học tập trung vào quá trình; dạy học tập trung vào việc dạy sang tập trung vào việc học; dạy kiến thức sang dạy cách học cho học sinh …..

    Làm như vậy, thể hiện sự tôn trọng học sinh, tôn trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có của các em. Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện vấn đề, tự thực hành các thao tác trên máy tính, giúp học sinh dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn, mạnh dạn tự tin hơn, phấn khởi hơn khi được tham gia thực hành. Tạo không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, thoải mái, không áp lực, mệt mỏi.

    Bước đầu vận dụng một số PPDH làm sao cho học sinh: được tham gia nhiều hơn, được trao đổi nhiều hơn và được làm, thực hành nhiều hơn.

    Đó chính là thay đổi nhận thức từ dạy học tập trung vào người dạy chuyển sang dạy học tập trung vào người học.

    So sánh 2 cách dạy học, tôi nhận thấy:

    1. Không chú ý kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh

    2. Tập trung vào việc dạy của thầy

    3. Thầy độc thoại, phát vấn

    4. Học sinh thụ động nghe

    5. Thầy cung cấp thông tin

    6. Thầy áp đặt kiến thức có sẵn

    7. Trò học thuộc

    8. Thầy độc quyền đánh giá

    1. Tôn trọng kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh

    2. Tập trung vào việc học của trò

    3. Đối thoại trò-trò, trò-thầy

    4. Học sinh tích cực, chủ động

    5. Thầy tổ chức, động viên, hướng dẫn/gợi ý

    6. Học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận

    7. Học cách học, cách giải quyết vấn đề

    8. Kết hợp thầy đánh giá với tự đánh giá của học sinh, của tập thể lớp

    Dựa vào các nội dung so sánh nêu trên và thực tiễn trong quá trình dạy học từ nhiều năm nay, tôi nhận thấy cách dạy học tập trung vào người học có hiệu quả rõ rệt giúp cho các em tự tin cố gắng vươn lên trong học tập.

    2. Sắp xếp nội dung, phương pháp học tập cho từng phần học phù hợp, hiệu quả

    Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình học Tin học, giáo viên phải xác định rõ cho học sinh nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho học sinh quan sát ngay trong giờ dạy lý thuyết.

    Xây dựng kế hoạch bài dạy này ta làm như sau:

    Tiết 1: Giới thiệu máy tính:

    Việc 1: Quan sát: Bộ máy tính để bàn

    Cho học sinh quan sát một bộ máy tính để bàn và nhận biết các bộ phận quan trọng của một máy tính bao gồm: Màn hình; phần thân máy; bàn phím; chuột.

    Màn hình của máy tính có cấu tạo và hình dạng như màn hình ti vi. Các dòng chữ, số và hình ảnh hiện trên màn hình cho thấy kết quả hoạt động của máy tính (giáo viên thao tác trực tiếp trên máy cho học sinh quan sát)

    Phần thân của máy tính là một hộp chứa nhiều chi tiết tinh vi, trong đó có bộ xử lý. Bộ xử lý là bộ não điều khiển mọi hoạt động của máy tính.

    Bàn phím của máy tính gồm nhiều phím. Khi gõ các phím, ta gửi tín hiệu vào máy tính.

    Chuột của máy tính giúp điều khiển máy tính nhanh chóng và thuận tiện. (Với sự giúp đỡ của máy tính các em có thể làm nhiều công việc như: học nhạc, học vẽ, học làm toán, liên lạc với bạn bè …)

    Việc 2: Thực hành

    a. Học sinh quan sát thầy, cô giáo gõ phím, điều khiển chuột máy tính và theo dõi sự thay đổi trên màn hình.

    b. Dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo, học sinh thử gõ một vài phím và quan sát sự thay đổi trên màn hình.

    Việc 1: Giới thiệu về cách bật/tắt máy tính đúng quy trình.

    Việc 2: Thực hành về cách bật/tắt máy tính đúng quy trình.

    Giáo viên biết kết hợp giữa dạy lí thuyết và thực hành sao cho phù hợp, dạy lí thuyết tốt thì học sinh thực hành tốt. Khi học sinh thực hành tốt thì sẽ hiểu sâu hơn về lý thuyết.

    Nội dung giảng dạy là chương trình SGK Cùng học Tin học quyển 1,2,3. Nội dung rất phù hợp, lôi cuốn HS. Để thực hiện dạy đạt hiệu quả, ngoài việc thực hiện đúng theo chương trình, tôi đã thực hiện như sau:

    Ở phần học này, ngay từ bài học đầu tiên, GV cần giúp cho HS xác định rõ và nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho HS quan sát ngay trong giờ giảng lý thuyết. Sau đó, vấn đề làm tôi quan tâm nhất là tạo cho các em có thao tác đúng và thành thạo khi sử dụng chuột, bàn phím,…

    Ví dụ: Ở bài Bàn phím máy tính: Để giúp các em làm quen với bàn phím, GV cho HS nêu tên tất cả các phím và cho chơi một số trò chơi có nội dung về bàn phím. Trong đó có trò chơi Piano. Nhưng theo tôi phần mềm này không đạt hiệu quả vì các máy tính của HS không có tai nghe hay loa nên HS dễ nhàm chán vì gõ mà không thấy có kết quả gì. Vì thế, theo tôi ngay từ bài học này GV có thể hướng dẫn HS làm quen luôn với phần mềm Mario. Như thế HS vừa nắm được tên của các phím, vừa gây được hứng thú học tập của các em. Còn phần mềm đó GV nên giới thiệu cho HS và khuyến khích các em chơi ở nhà.

    Ở lớp 4 và 5: Lúc này các em đã được hiểu biết nhiều hơn về máy tính nên GV sẽ có những yêu cầu cao hơn. HS phải nắm được cách sắp xếp thông tin theo hệ thống của máy tính. Biết cách sắp xếp và tìm kiếm thông tin.

    GV yêu cầu HS cần có thái độ nghiêm túc khi học và làm việc trên máy tính, không phân biệt phần mềm học tập hay phần mềm trò chơi. GV cần liên hệ thực tế để giúp HS nắm được từ việc học và chơi trên máy tính đến đời sống thường ngày.

    + Luyện tính kiên trì, trí thông minh, luyện sử dụng chuột qua trò chơi Dots, Stiks, ……

    + Yêu thích môn Toán qua trò chơi Cùng học toán.

    + Chơi thể thao, tìm hiểu thiên nhiên qua trò chơi Godl, Khám phá rừng nhiệt đới.

    Ở chương học này, thời gian thực hành khá dài, dễ gây nhàm chán. GV nên chủ động dạy dàn trải trong các tiết học.

    Đây cũng là phần trọng tâm của chương trình lớp 3. Phần này đòi hỏi phải có sự tập luyện thường xuyên thì mới đạt hiệu quả cao được. GV cần giúp HS hiểu được lợi ích của việc gõ phím bằng 10 ngón để từ đó HS có ý thức hơn trong việc rèn luyện. Không cần nhiều, ở mỗi tiết thực hành, nếu còn thời gian hãy khuyến khích HS luyện gõ trong 10 phút thôi sẽ mang lại hiệu quả rất tốt. Cần phải chú trọng và nghiêm túc rèn từ lớp 3 về cách đặt tay lên bàn phím, cách gõ phím…thì đến lớp 4-5 HS mới có thói quen gõ 10 ngón.

    Với phần học này, HS rất có hứng thú học tập. Ở phần học này GV cần chú trọng cho HS thực hành nhiều, giảm tiết lí thuyết hoặc có thể giảng lí thuyết ngay trong tiết thực hành. Như vậy học sinh mới có thao tác thành thạo được. Ngoài việc dạy những yêu cầu cơ bản trong SGK. Nếu có điều kiện GV có thể thiết kế các bài tập khác để phần học này thêm phong phú.

    Ở lớp 4-5, yêu cầu đã được nâng cao hơn. Ngoài những kiến thức cơ bản cần đạt được ra, GV cần quan tâm nhiều đến vấn đề ứng dụng của các kiến thức đó vào bài vẽ.

    Nội dung kiến thức chủ yếu là tạo cho HS những kiến thức cơ bản nhất để soạn thảo và trình bày một văn bản. Ở phần này GV cũng chú ý đến dạy thực hành hơn, dạy xong lý thuyết là cho HS thực hành ngay như vậy HS mới nắm được.

    Ở lớp 3 HS được làm quen với 2 cách gõ là kiểu VNI và kiểu Telex. GV cần cung cấp cả 2 cách gõ này và khuyến khích các em lựa chọn cách gõ phù hợp để việc soạn thảo dễ dàng hơn.

    Ở lớp 4 và 5 HS đã được học cách trình bày văn bản. GV hãy tạo điều kiện cho các em ứng dụng những kiến thức vừa học vào trình bày những văn bản thông thường.

    Ví dụ: Khi dạy bài Căn lề (lớp 4) GV đưa thêm một số bài thơ, bài ca dao tục ngữ hay một đoạn văn bản đã học trong SGK Tiếng Việt mà HS đã học ở trên lớp để các em thực hành.

    Logo là một ngôn ngữ lập trình, có đầy đủ các đặc điểm của một ngôn ngữ máy tính, xuất phát từ ngôn ngữ LISP, ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo. Logo là ngôn ngữ để học. Để hỗ trợ thực hiện quá trình học và suy nghĩ bằng cách khuyến khích HS tìm tòi khám phá. Logo có bảng kí tự, từ khóa riêng, cú pháp riêng và khá chặt chẽ.

    Ở lớp 4 và lớp 5 HS mới được làm quen với phần mềm này và đây cũng là lần đầu tiên HS được làm quen với ngôn ngữ lập trình. Do vậy, khi thực hành những câu lệnh của Logo GV cần lưu ý HS phải rất cẩn thận khi viết các câu lệnh, tránh để HS hiểu tùy tiện, áp dụng những ngôn ngữ thông thường dành cho câu lệnh.

    Đứng trước mỗi bài tập, bài thực hành, GV luôn luôn yêu cầu HS chia công việc được giao thành những nhiệm vụ nhỏ hơn và cuối cùng dùng những lệnh cơ bản của Logo để thực hiện. Sau khi chia nhỏ và phân tích bài toán, cần rèn luyện cho HS cách nhìn tổng hợp bài toán.

    Khuyến khích HS làm việc tập thể, làm việc theo nhóm.

    Viết chương trình một số thủ tục để tạo ra hình trang trí theo mẫu.

    Thủ tục 1: Vẽ hình vuông với câu lệnh Repeat 4

    Thủ tục 3: Vẽ ngôi nhà: dùng hai thủ tục 1 và 2 trong thân thủ tục 3.

    Thủ tục 4: Vẽ vành bánh xe (lặp 12 lần thủ tục 3)

    3. Hệ thống các bài tập thực hành

    Việc hệ thống các bài tập thực hành phải phù hợp với nội dung dạy lí thuyết, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của các e m.Các bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp. Liên kết kiến thức bài học trước với bài học sau để học sinh thực hành đạt hiệu quả cao.

    Ví dụ 4:Trong một tiết thực hành: Vẽ quang cảnh trường em

    (Tranh vẽ của HS lớp 5 Tiểu học Cao Đại trên máy tính)

    Ở bài vẽ trên, học sinh phải sử dụng công cụ vẽ đường thẳng, vẽ đường cong và công cụ tô màu để vẽ quang cảnh trường em. Từ bài này học sinh liên tưởng nhớ lại cách vẽ quang cảnh được học ở môn mĩ thuật (xác định mảng chính, mảng phụ, sử dụng luật xa gần, phối hợp màu nóng, màu lạnh) để từ đó vận dụng vẽ quang cảnh trường em sao cho đẹp.

    4. Trong giờ thực hành

    Giáo viên luôn động viên tạo sự thi đua giữa các nhóm bằng cách phân công các nhóm làm bài thực hành, sau đó các nhóm nhận xét, đánh giá, chấm điểm giữa các nhóm (dưới sự chỉ dẫn của giáo viên) để tạo sự hào hứng học tập và sự sáng tạo của học sinh trong quá trình thực hành.

    Phần thực hành: Thực hành giải toán trên phần mềm

    Chia nhóm đôi, các nhóm cùng thực hành bài toán về so sánh số thập phân.

    Chẳng hạn: 2,25 1,25 9163,6771 738849,4

    447,27 184,28 234642,15 3480,7905

    HS tự điền dấu thích hợp cho đúng.

    Nhóm nào nhanh, làm đúng, không làm sai thì nhóm đó được khen ngợi.

    5. Sử dụng Tài nguyên

    Sử dụng các chương trình có sẵn trong máy vi tính, hoặc truy cập mạng để tìm kiếm thông tin, tìm kiếm tài nguyên trên Internet phục vụ cho quá trình dạy và học, tăng cường sử dụng bài giảng điện tử tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào bài học.

    – Phần mềm KP Typing Tuto (giúp học sinh luyện gõ 10 ngón tay); trang Web chúng tôi (giúp học sinh giải toán qua mạng)…

    – Phần mềm soạn thảo văn bản Microsoft Word giúp học sinh tập soạn thảo.

    – Phần mềm đồ hoạ Paint giúp học sinh học vẽ

    – Trong bài: Khám phá rừng nhiệt đới (Tin học lớp 4 – quyển 2) bản thân tôi đã tìm kiếm thông tin trên Web về thế giới động vật, tôi đã hướng dẫn học sinh vào trang chúng tôi để tìm kiếm những hình ảnh và thông tin về động, thực vật trong rừng nhiệt đới.

    (Đây là những hình ảnh mà học sinh của tôi đã tra cứu trên mạng Internet)

    – Sử dụng bài giảng điện tử ( giúp học sinh tiếp thu bài tích cực, chủ động hơn)

    (Đây là một số bài dạy điện tử mà tôi đã trực tiếp thiết kế và giảng dạy) 6. Cải thiện chất lượng phòng máy

    – Với những sự cố bất ngờ trên, việc xác định nguyên nhân của nó sẽ giúp ta tìm ra cách giải quyết, xử lí vấn đề dễ dàng hơn:

    – Việc đầu tiên là cần phải kiểm tra tất cả các cáp (cáp nguồn, cáp dữ liệu…) để chắc chắn là mọi thứ đã được gắn chặt và đúng cách.

    a) Kiểm tra lại những phần mềm hay phần cứng được cài đặt gần đây: Nếu sự cố xảy ra ngay sau vừa cài đặt một phần cứng hay chương trình phần mềm, bạn hãy gỡ bỏ chúng ra và khởi động trở lại. Nếu máy tính vẫn hoạt động bình thường thì đó chính là nguyên nhân. Còn việc cài đặt lại sẽ do nhân viên bảo trì tiếp tục làm sau đó.

    b) Chạy các chương trình diệt vi rút hiệu quả: Để chương trình này chạy tốt bạn phải luôn cập nhập phiên bản mới nhất. Các chương trình được xem là tốt nhất hiện nay như: Norton Antivirus, AGV Antivirus…

    c) Kiểm tra nhiệt độ thùng máy: Sự quá nhiệt là một nguyên nhân khác, thường xảy ra do sự hoạt động kém của các quạt giải nhiệt, các loại bụi bẩn bám trong thùng máy. Nếu thấy bên trong thùng máy có nhiều bụi bẩn bám vào, bạn nên vệ sinh nhưng phải rất cẩn thận vì nó có nguồn điện thế cao, rất dễ gây nguy hiểm. Tốt hơn hết là nên báo lại cho nhân viên bảo trì.

    d) Kiểm tra lại bộ nhớ Ram: Đây là nguyên nhân chủ yếu mà tôi thường gặp mỗi khi máy không khởi động được hoặc bị lỗi bất thường khi đang hoạt động. Nếu phát hiện ra bộ nhớ có vấn đề, hãy tháo các thanh Ram ra, lau sạch chân thanh Ram và gắn lại thật chặt, hoặc lần lượt gắn từng thanh Ram ở các vị trí khác nhau để kiểm tra.

    e) Cài đặt máy tính với đầy đủ phần mềm học tập cho HS rồi tôi đóng băng ổ C lại bằng phần mềm Deep Freeze giúp giảm việc hỏng máy do virut hay những lỗi HS vô tình xóa dữ liệu trong ổ C.

    f) Đôi lúc máy chạy nhưng màn hình không lên hình. Hãy mượn màn hình đang sử dụng tốt khác để thử.

    h) Thường xuyên hướng dẫn HS vệ sinh phòng máy, phân công mỗi lớp một tuần phụ trách vệ sinh phòng máy dưới sự chỉ đạo của GV, giáo dục HS ý thức bảo vệ của công và ý thức giữ gìn máy tính trong phòng Tin học đồng thời giảm việc hỏng máy tính do bụi bẩn.

    7. Xây dựng câu lạc bộ Tin học

    Câu lạc bộ là tổ chức nhằm mở rộng tầm nhận thức, hiểu biết về văn hoá, khoa học kĩ thuật, giáo dục lòng yêu lao động, ý thức đạo đức, giúp phát triển toàn diện các khả năng sáng tạo và các năng khiếu của con người. Tổ chức câu lạc bộ tin học là điều kiện tốt để các cá nhân yêu thích tin học có môi trường phát huy khả năng của mình. Đối tượng của câu lạc bộ có thể là các cá nhân hoặc nhóm

    Thành lập câu lạc bộ Tin học khối Tiểu học của Huyện: Câu lạc bộ là nơi để cho các đồng chí giáo viên, nhân viên tin học của khối tiểu học trong toàn huyện sinh hoạt nhằm trao đổi những kinh nghiệm cũng như giúp nhau rút ra những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy để từ đó đưa ra phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp các em học sinh tiếp thu một cách gần nhất với môn học.

    Câu lạc bộ cũng giúp các thành viên chia sẻ các kiến thức về CNTT, hỗ trợ nhau trong việc sử lý các sự cố công nghệ trong quá trình giảng dạy.

    7.2. Câu lạc bộ Tin học nhà trường dành cho các em học sinh:

    a) Thành viên: là các em học sinh khối lớp 3-4-5

    b) Mục địch hoạt động : Là một CLB trực thuộc trường Tiểu học hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ nhà trường trong công tác giáo dục định hướng cách tự học của học sinh, xây dựng ý thức tự giác. Từ đó góp phần rèn luyện nâng cao kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học

    c) Nhiệm vụ : Tạo điều kiện cho những học sinh có sở trường, năng khiếu, yêu thích tin học có cơ hội phát huy năng lực của mình. Củng cố, mở rộng kiến thức tin học cho học sinh, trang bị những kĩ năng cần thiết góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh.Tạo môi trường làm việc giao lưu, hợp tác, giúp học sinh học hỏi, giao lưu, ứng xử.

    Câu lạc bộ là một trong những phương thức hoạt động sinh động, có hiệu quả cho môn tin học. Đồng thời là môi trường tiên tiến để mỗi thành viên tự điều chỉnh nhận thức, hành vi, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành. Qua các loại hình sinh hoạt khác nhau của câu lạc bộ, thành viên có dịp giúp nhau học tập, trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống, phát huy mặt tích cực, cải thiện uốn nắn các biểu hiện tiêu cực, lạc hậu, kích thích tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã hội, xây dựng nếp sống văn minh môi trường học đường lành mạnh.

    – Hướng dẫn HS sử dụng các phần mềm học tập hiệu quả.

    – Nâng cao kỹ năng soạn thảo văn bản Word.

    – Sử dụng chương trình trình chiếu Powerpoint.

    – Học vẽ tranh bằng các phần mềm có sẵn trong Win XP.

    – Được tìm hiểu thêm về lợi ích và tính năng của mạng Internet .

    – Phát triển vốn Anh văn chuyên ngành Tin học.

    Hoạt động của Câu lạc bộ được xây dựng dựa trên sự đóng góp nội dung hoạt động của các thành viên. Các nội dung hoạt động của Câu lạc bộ được chọn lựa dựa trên một số tiêu chí:

    • 1- Chất lượng của các hoạt động được đặt lên hàng đầu.
    • 2- Thu hút được đông đảo các thành viên tham gia.
    • 3- Thúc đẩy được phong trào học tập của học sinh trong trường.
    • 4- Nội dung hoạt động đa dạng, chứa đựng nhiều tri thức và những vấn đề thực tế
    • 5- Không có ảnh hưởng xấu tới thuần phong mĩ tục, đạo đức, tư tưởng và lối sống của học sinh, không vi phạm pháp luật.

    6- Khuyến khích các ý tưởng mới lạ của các thành viên về hình thức hoạt động.

    – Kinh phí hỗ trợ từ nhà trường

    – Đóng góp kinh phí sinh hoạt câu lạc bộ từ thành viên

    * Toàn bộ kinh phí này sẽ được chi vào các hoạt động sau:

    – Tiền điện và bảo trì, sửa chữa máy tính

    – Tổ chức các buổi giao lưu giữa các câu lạc bộ trong cụm, huyện

    IV. KẾT LUẬN

    – Phần thưởng cho các em đạt thành tích tốt trong các buổi giao lưu cấp trường, cụm, huyện.

    Để phát huy hiệu quả trong công tác dạy học, mỗi giáo viên nói chung và giáo viên dạy môn tin học nói riêng cần:

    – Tìm tòi sáng tạo cách dạy, cách học tạo sự hứng thú tiếp thu bài cho học sinh.

    – Yêu nghề, mến trẻ, tăng cường tự học tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ…

    – Tích cực dự giờ đồng nghiệp, tham gia hội thảo phương pháp giảng dạy các bộ môn khác.

    – Không ngừng học tập, tìm hiểu tích lũy kiến thức khoa học. Phải tìm hiểu các mảng kiến thức khác về mọi lĩnh vực như văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội để tự nâng cao nhận thức của bản thân.

    • Giáo viên phải biết phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.
    • GV cần phải có phương pháp dạy học linh hoạt sáng tạo, phải tìm mọi cách để cải tiến cách dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, bổ sung sáng tạo thêm nhiều thủ pháp sinh động, hấp dẫn, đa dạng hóa cách thức truyền đạt ở mỗi bài học.
    • Để đạt được những nội dung đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng nâng cao kiến thức, tạo cho mình một trình độ chuyên môn vững vàng, thường xuyên học hỏi rút kinh nghiệm từ các đồng nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Thảo Chuyên Đề “giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Luận Văn Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Tiểu Luận Một Số Biện Pháp Quản Lí Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Bạch Xa Huyện Hàm Yên
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100