Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử 7

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • MỤC LỤC

                                                           Trang

    A. PHẦN MỞ ĐẦU.

    I. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………………….

    2

    II. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………………..

    3

    III. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………………..

    3

    IV. Đối tượng khảo sát…………………………………………………………………….

    3

    V. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu………………………………………………….

    3

    VI. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………

    4

    B. PHẦN NỘI DUNG.

     

    I. Cơ sở lí luận……………………………………………………………………………….

    4

    II. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………………………………….

    5

    III. Thực trạng vấn đề nghiên cứu…………………………………………………….

    5

    IV. Nội dung nghiên cứu………………………………………………………………..

    7

    V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……………………………………………

    26

    VI. Những bài học kinh nghiệm……………………………………………………….

    27

    C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.

     

    I. Kết luận……………………………………………………………………………………..

    28

    II. Những khuyến nghị……………………………………………………………………

    29

    D. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………

    30

     

     

     

     

     

    ĐỀ TÀI:

                     MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG

         CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN LỊCH SỬ 7

    I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.                                                                                       

        Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông nói chung ở lớp 7 nói riêng có chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Không chỉ ở nước ta mà ở các nước tiên tiến trên thế giới cũng chú trọng việc dạy môn lịch sử vì nó đào tạo con người có bản sắc dân tộc.

    Bộ giáo dục coi trọng việc dạy và học bộ môn lịch sử. Đúng như Hồ Chí Minh đã khẳng định trong hai câu thơ mở đầu trong cuốn lịch sử nước ta:

    “Dân ta phải biết sử ta                                                                                                       Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

    Nhưng trong thực tế cũng không ít người cho rằng, môn lịch sử là bộ môn học thuộc nặng về ghi nhớ những sự kiện năm tháng dài lê thê và xếp vào môn phụ, vì vậy ảnh hưởng không tốt vào mục tiêu đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ.

    Trong quá trình giảng dạy và kết quả học tập của học sinh, tôi đã xác định lịch sử là một bộ môn khoa học có ưu thế hình thành nhân sinh quan cho học sinh, rèn tư duy sáng tạo cho các em, đặc biệt giúp cho học sinh từ hiểu biết lịch sử mà rút ra kinh nghiệm quý giá để xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

     Để đạt được kết quả trên thì việc áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy vào tiết học lịch sử là rất quan trọng. Trong quá trình giảng dạy, ngoài các phương pháp thường dùng tôi chú trọng vào việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, kể chuyện lịch sử, sử dụng kênh hình, phương pháp hoạt động nhóm, liên hệ với thực tế để giáo dục tư tưởng cho học sinh.

               Các câu chuyện lịch sử, tranh ảnh, hoạt động nhóm… không chỉ có tác dụng làm nổi bật nội dung, mà còn là nguồn tri thức không thể thiếu được trong bài học. Nếu những câu chuyện lịch sử, tranh ảnh và hoạt động nhóm được sử dụng tốt, sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu với nhau:  tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát huy đựơc năng lực chú ý quan sát, hứng thú của học sinh. Với tính ưu việt đó, vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” để nghiên cứu và cùng chia sẻ.

    Với việc nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn sẽ góp phần nhỏ giúp giáo viên tiến hành một giờ dạy học lịch sử đạt hiệu quả hơn, học sinh tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức của bài học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong nhà trường. Đó là lý do tôi chọn đề tài này. 

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    1. Đối với giáo viên.

    Sáng tạo về phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, phát triển tư duy, tính tích cực, tự giác, tự học tập của học sinh.   

    Chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tế cuộc sống.

    Thiết kế tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động của bài học lịch sử lớp 7 với hình thức đa dạng, phong phú, có sự hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường.

    2. Đối với học sinh.

              Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập, tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.

    Thông qua nội dung bài học, lên hệ thực tế tạo cho học sinh biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày và có cuộc sống bình thường trong một xã hội hiện đại.

    III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

              Áp dụng “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” vào tổ chức dạy và học làm tăng hứng thú học môn lịch sử của học sinh, từ đó tạo cho học sinh ý thức muốn lĩnh hội cả về kiến thức, kĩ năng lẫn thái độ.

    IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT.

    Học sinh lớp 7A, 7B trung học cơ sở.

    V. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.

    1. Phạm vi nghiên cứu.

              Để nâng cao quá trình tiếp thu và tạo hứng thú của các em trong quá trình học lịch sử, tôi tiến hành nghiên cứu “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7”. Đề tài tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về việc áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực như kể chuyện lịch sử, sử dụng tranh ảnh và tiến hành hoạt động nhóm trong việc tổ chức dạy và học.

    Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu toàn bộ bộ môn lịch sử 7 và có thể áp dụng cho tất cả các khối 6,8,9 học lịch sử và có một số điểm áp dụng cho môn Văn, Giáo dục công dân…

    2. Kế hoạch nghiên cứu.

    VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    – Tìm hiểu thực tế.

    – Nghiên cứu thực nghiệm.

    – Tổng hợp tư liệu, tài liệu.

    B. PHẦN NỘI DUNG.

    I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.

     Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công lớn trong học tập của các em ”, trước khi người ra đi trong di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn:

    “ Phải giáo dục thế hệ trẻ để cho họ trở thành người vừa hồng vừa chuyên”

    Trong điều kiện khoa học kỉ thuật phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn, một nhiệm vụ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi là chiến lược của dân tộc mình.

    Vì thế đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam trong nghị quyết ghi rõ “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó. Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống vừa mang tính giáo dục,vừa mang tính giáo dưỡng cao hơn là giáo dưỡng hướng đến nguồn gốc cội nguồn của tổ tiên và trân trọng nó.

    Trong những năm gần đây, chương trình SGK mới của bộ GD-ĐT đã có rất nhiều những thay đổi về nội dung của bài học, về số lượng câu hỏi, bài tập, bài thực hành, sơ đồ, lược đồ…Những sự thay đổi đó nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục ở đối tượng học sinh, mà chất lượng của học sinh phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp dạy học của giáo viên.

    Nếu như trước đây việc truyền thụ kiến thức là nhiệm vụ quan trọng và đòi hỏi người dạy phải đóng vai trò chủ đạo tận dụng hết mọi năng lực của mình để giúp học sinh vấn đề bằng phương pháp thuyết giảng cho học sinh tiếp thu là chính. Thì nay phương pháp này không hợp lý trong chương trình sách giáo khoa mới từng bộ phận. Chương trình học ở các bậc học để áp dụng phương pháp dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm, học sinh đóng vai trò chủ đạo trong tiết học thì người thầy, người giáo viên soạn giảng phải có những phương pháp dạy học mới.

    II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.

    Dạy học là một quá trình d­ưới sự hoạt động tổ chức, điều khiển của ng­ười giáo viên, còn ngư­ời học tự giác, tích cực, chủ động biết tự tổ chức điều khiển hoạt động  học tập của mình.

    Đặc thù học tập môn lịch sử của bậc trung học cơ sở là các em phải tiếp cận với nhiều sự kiện lịch sử, với những vị anh hùng, những danh nhân lịch sử vĩ đại không chỉ của dân tộc mà cả của thế giới từ cổ đến trung, từ cận đại đến hiện đại . Khi học lịch sử thì yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học một cách chính xác, đầy đủ. Vì thế bộ môn Lịch sử khó gây đ­ược hứng thú học tập ở các em.

    III. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

    Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, rất nhiều câu chuyện lịch sử đã được khám phá, tranh ảnh được đăng tải vì vậy giáo viên có thể dễ dàng tìm được những câu chuyện, tranh ảnh lịch sử hay, phù hợp và hỗ trợ nhiều cho nội dung mà bài học không đề cập hết.

    Giáo viên đã được đào tạo và tập huấn thường xuyên về đổi mới phương pháp dạy học.

    2. Khó khăn.   

    * Học sinh:  

    Chất lượng dạy học môn Lịch sử hiện nay đặt ra vấn đề cần suy nghĩ. Số lượng học sinh say mê yêu thích môn Lịch sử là rất ít.        

    Quan niệm của học sinh đối với môn lịch sử còn lệch lạc nên các em không đầu tư, không chú ý, xem thường hoặc học cho xong.

              Vì bộ môn Lịch sử lớp 7 với nhiệm vụ cung cấp một khối lượng kiến thức tương đối phong phú về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc cần đặt ra yêu cầu cao mới thực hiện được nhiệm vụ đó, mặt khác do đặc trưng của bộ môn Lịch sử nó gây ra nhiều khó khăn cho quá trình nhận thức của các em. Vì đối tượng của lịch sử là quá khứ đã diễn ra, không thể tái hiện, không thể “ trực quan sinh động”, cũng không thể trực tiếp quan sát được.

    * Phụ huynh:

    Gia đình là môi trường đầu tiên giúp học sinh có ý thức học tập đối với môn Lịch sử, nhưng hiện nay không có nhiều gia đình, các bậc cha mẹ khuyến khích con em yêu thích lịch sử và tạo điều kiện cho con em học tốt, học giỏi môn này, vì một tâm lý “thực dụng”.

    * Giáo viên:

    Giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường một phần nào đó chưa gây được sự hứng thú, tìm tòi và khám phá cho học sinh trong việc học bộ môn, cho nên nhiều học sinh chán ghét bộ môn và học chỉ để đối phó dẫn đến chất lượng kiểm tra một số em ở một số lớp còn thấp.

    Tôi đã tiến hành khảo sát trước khi vận dụng dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 và thu được kết quả như sau:

    Năm học 2021 – 2021

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS (Trung bình)

    HS ( Yếu )

    62

    16

    9

    30

    7

    Tỷ lệ

    26 %

    15 %

    48 %

    11 %

     

    IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

              Qua thực tế, chúng ta (những người trực tiếp đứng lớp, những nhà quản lý giáo dục) đều hiểu rằng: Hiện đang có tình trạng học sinh không yêu môn lịch sử, một trong những lí do là bởi phương pháp dạy còn nhàm chán. Để học sinh yêu và có hứng thú hơn với môn lịch sử, tôi xin đưa ra một số phương pháp nhằm nâmg cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 nói riêng và lịch sử trung học cơ sở nói chung.

    1. Phương pháp kể chuyện lịch sử.

    1.1. Khái niệm về phương pháp kể chuyện lịch sử.

    1.2. Nguyên tắc kể chuyện lịch sử.

    Có thể nói rằng, bất cứ nơi nào, ở đâu những câu chuyện kể luôn luôn mang lại hiệu quả. Đặc biệt là tính giáo dục của các câu chuyện, môn lịch sử cũng không là ngoại lệ. Điếu quan trọng là ta phải biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ để nó phát huy giá trị và không làm mất thời gian của tiết học.

    Khi sử dụng giáo viên phải biết chắt lọc, kể ngắn gọn và sau mỗi câu chuyện phải biết đặt những câu hỏi hoặc gợi ý cho học sinh nêu lên suy nghĩ của mình, từ đó học sinh tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.

    1.3. Ứng dụng cụ thể phương pháp kể chuyện lịch sử trong giờ dạy.

    Ví dụ 1: Khi dạy bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê, ở mục I­2­   giáo viên có thể kể về thái hậu Dương Vân Nga:

               ( Theo: Các triều đại Việt Nam)

    Kể chuyện này giáo viên chú ý bỏ qua những đoạn đánh giá nhận xét mà tập trung vào đoạn Dương Vân Nga lấy áo bào khoác lên người Lê Hoàn, cách đối xử của mọi người đối với bà. Từ đó đặt câu hỏi để học sinh thể hiện ý kiến của mình đối với thái hậu Dương Vân Nga, qua đó giáo dục tư tưởng cho học sinh.

    Ví dụ 2. Khi dạy bài 14 – Ba lần kháng chiến chống quan xâm lược Mông – Nguyên, ở mục IV – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử,  có thể kể về Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, …

    HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

    Hơn bảy trăm năm trước, cả Á – Âu đang trong cơn kinh hoàng, khiếp đảm về cái hoạ Tác – ta (giặc Mông ), khi chúng lướt trên vó ngựa viễn chinh tàn phá hết nước này sang nước khác. Từ Thái Bình Dương sang tận bên bờ  Địa Trung Hải, khắp Á – Âu chưa có một danh tướng nào ngăn cản được. Giáo hoàng La Mã sợ hãi đến nỗi “… tuỷ khô, thân gầy, sức kiệt”. Người Đức hàng ngày cầu nguyện: “ Xin chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ Tác – ta !”, vó ngựa của chúng đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó. Vậy mà ở miền Đông Nam châu Á, lũ giặc Tác – ta phải kinh hồn, lạc phách trước ý chí chiến đấu và tài nghệ quân sự tuyệt vời của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy thiên tài của Quốc Công Tiết chế, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.

            Công lao to lớn của Người, ba lần tổng chỉ huy quân dân Đại Việt cả phá quân Nguyên – Mông hung bạo, đánh cho chúng thất điên bát đảo, Trấn Nam Vương Thoát Hoan chui vào ống đồng có người kéo qua biên ải mới thoát chết.

    Với tài thao lược, trí dũng song toàn, luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, Trần Hưng Đạo không chỉ sống mãi trong lòng mọi người dân đất Việt mà còn vang danh khắp năm châu bốn biển. Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300) là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc ta đồng thời là danh nhân quân sự cổ kim của thế giới.

    Người sinh ngày 10-12-1228 (Mậu tý), là con của An sinh vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông – Trần Cảnh).

    Người dung mạo hùng vĩ, thông minh hơn người, đủ tài văn võ, chuyên tâm nghiên cứu lục tam thao lược của người xưa và dành cả tâm huyết, hiểu biết của mình để viết: Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ  để dạy các tướng cầm quân đánh giặc, khích lệ lòng yêu nước của quân dân Đại Việt.

    Trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần hai, thấy rõ nếu để ngành trưởng và ngành thứ xích mích, nghi kị lẫn nhau thì chỉ có lợi cho kẻ thù. Người đã chủ động giao lưu hoà hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự đoàn kết nhất trí trong Vương triều, bảo đám đánh thắng quân thù .

              Chuyện kể rằng: Một hôm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ở bến Bình Than sai người mời Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ rồi sai người nấu nước thơm tự mình tắm rửa với Trần Quang Khải, từ đó vĩnh viễn xoá bỏ hiềm khích giữa hai chi họ (Quốc Tuấn là con của Trần Liễu ngành trưởng , Quang Khải con  của Trần Cảnh ngành thứ ). Lần khác, Quốc Tuấn đem việc xích mích hỏi các con, Trần Quốc Tảng  có ý khích ông nến cướp ngôi của chi thứ.

    Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. May nhờ các con và những người tâm phúc van xin, ông mới bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng:

    Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn thằng nghịch tử, phản thầy này nữa.

    Trong kháng chiến ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt .dư luận xì xào sợ ông giết vua. Ong liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yêu lòng dân quân.

    Ba lần chống giặc Nguyên – Mông, các vua Trần đều giao cho ông chức Tiết chế(tổng tư lệnh quân đội ), vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính vì vậy tướng sĩ hết lòng thương yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đạo quân bách chiến bách thắng.

    Trần Quốc Tuấn là vị tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược Vạn Khiếp tổng bí truỵền thư để răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc.khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, ông viết “ Hịch tướng sĩ”, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng bại, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn chương của một bậc đại bút.

    Trần Quốc Tuấn là một bậc đại tướng gồm đủ đức và tài. Là tướng nhân oâng thương dân như quân, chỉ cho họ con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều nghĩa. Là tướng trí, ông xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh giặc, tạo nên những trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời. Là tướng tín, ông bày tỏ trước quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông sẽ gặp hoạ. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọg trách điều sát binh mã và đều la[65 được công lớn.

    Hai tháng trước khi mất, vua Anh tông đến thăm và hỏi:

    – Nếu chẳng may khanh mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao ?

    Ông đã trăng trối những lới tâm huyết ,sâu sắc, đúng cho mọi thời đại:

    – Thời bình phải khoan thứ sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.

    Mùa thu tháng tám, ngày 20 năm Canh tý (1300) “Bình Bắc đại nguyên soái” Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời. Theo lới ông dặn, thi hài ông được hoả tảng thu vào bình đồngvà chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng , trồng cây như cũ. Vua gia phong cho ông chức Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông lúc sinh thời.

    ( Theo: Các triều đại Việt Nam )         

              Lúc kể những câu chuyện lịch sử chính là lúc HS tập trung chú ý lắng nghe, đó là cơ hội tốt để giáo dục tư tưởng cho HS, làm cho HS càng thêm yêu dân tộc mình, biết thêm những điều mà trong SGK chưa cung cấp nhưng lại rất cần thiết trong cuộc sống, trong quá trình học tập của mỗi con người.

    Có một điều chắc chắn rằng HS sẽ nhớ nội dung của mỗi bài nhiều hơn nhờ những câu chuyện này. Đặc biệt HS sẽ biết nhiều hơn về mỗi triều đại, biết nhiều nhân vật lịch sử hơn. Từ đó môn lịch sử có giá trị cao hơn trong lòng các em. Điều này có thể được chứng thực ở lớp 7A­,7B.

    Nguyên tắc khi kể chuyện trong giờ học lịch sử là không kể tràn lan và phải thông qua câu chuyện để làm nổi bật nội dung bài, giáo dục tư tưởng cho học sinh.

    2. Phương pháp khai thác kênh hình.

    2.1. Phân loại kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử.

    Tranh, ảnh lịch sử: Là kênh hình có khả năng khôi phục lại hình ảnh của những con người, đồ vật, sự kiện lịch sử, biến cố một cách cụ thể sinh động và khá xác thực.

    Lược đồ lịch sử: Là kênh hình nhằm xác định địa điểm của những sự kiện trong thời gian và không gian nhất định. Đồng thời giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiện tượng Lịch sử về mối quan hệ liên hệ nhân quả, có tính quy luật và trình độ phát triển của quá trình Lịch sử, giúp các em học sinh ghi nhớ những kiến thức đã học.

     Biểu đồ: Là kênh hình dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện Lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học. Biểu đồ thường được biểu diễn trên trục hoành ( Ghi thời gian) và trục tung ( Ghi sự kiện).

    2.2. Kỹ năng khai thác kênh hình.

    Để khai thác tốt kênh hình phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn lịch sử, cần đảm bảo một số kĩ năng cơ bản sau:

    Phải biết và hiểu được kiến thức cơ bản của kênh hình. Xác định mục đích cần hướng đến khi khai thác kênh hình. Thiết kế câu hỏi hợp lý, trọng tâm.

    2.3. Nguyên tắc khai thác kênh hình.

    Giáo viên đứng lớp cần phải có sự chuẩn bị chu đáo cẩn thận, nghiên cứu kỹ trước nội dung các kênh hình trước khi lên lớp. Chuẩn bị lời nói ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và gây hứng thú cho học sinh. Chính yêu cầu đó sẽ giúp người giáo viên nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong các giờ lên lớp.

    Bên cạnh đó học sinh học sinh phải tự giác tìm hiểu kênh hình dưới sự hướng dẫn gợi mở của giáo viên, tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.

    Để nâng cao hiệu qủa sử dụng kênh hình cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

    Một là: Sử dụng đúng mục đích.

    Hai là: Sử dụng đúng lúc.

    Ba là: Sử dụng đúng mức độ, cường độ.

    Bốn là: Kết hợp sử dụng kênh hình sách giáo khoa với các đồ dùng được trang bị.

    Năm là: Nội dung thuyết minh kênh hình phải sinh động, hấp dẫn.

    Sáu là: Hướng dẫn học sinh quan sát (từ tổng thể đến chi tiết), kết hợp

    miêu tả, phân tích, đàm thoại thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo viên để học sinh tự rút ra được ý nghĩa của kênh hình đó. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm, cá nhân hoặc toàn lớp.

    2.4. Ứng dụng cụ thể phương pháp sử dụng kênh hình trong giờ dạy.

    Ví dụ 1: Khi dạy bài 10 – Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, ở mục 1 – Sự thành lập nhà Lý, có thể sử dụng hình ảnh:

    Hình 1: Tượng Lý Thái Tổ ở Hà Nội

    Khi HS đọc xong mục 1 giáo viên có thể cho HS xem hình và đặt câu hỏi để HS xác định tượng trong hình là ai. Khi xác định được giáo viên lại hỏi về thân thế của họ. Từ đó giáo viên dựa vào hình để tổng kết, nêu lên công lao của Lý Công Uẩn.

              Ví dụ 2. khi dạy bài 12 – Đời sống kinh tế, văn hóa, ở mục II2  giáo viên có thể sử dụng hình chùa Một Cột trong SGK trang 48 hoặc hình sau (mặt sau của chùa):

    Kết quả hình ảnh cho chụp Chùa Một Cột ở thủ đô Hà Nội

    Hình 2: Chùa Một Cột ở thủ đô Hà Nội

    Ngoài chùa Một Cột, thời Lý còn có nhiều ngôi chùa nổi tiếng khác có thể dùng để làm nổi bật kiến trúc thời Lý như: chùa Keo, chùa Phật Tích( Bắc Ninh), chúa Thầy(Hà Tây)

    Ví dụ 3. Ngoài ra giáo viên có thể sử dụng một số hình ảnh sau đề làm cho mục II 2 được rõ hơn (Những ngôi chùa được xây dựng hoặc đại tu dưới thời Lý):

     

    Hình 3: Bố cục của Văn miếu Quốc tử giám

    Hình 4: Tượng A –di – đà (chùa Phật Tích – Bắc Ninh

    Hình 5: Chùa Trấn Quốc (được trùng tu dưới thời Lý)

    2.5. Cung cấp tư liệu cho học sinh.

              Sách giáo khoa thường cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản. Đó là một việc làm hết sức cần thiết, không cần phải bàn cải. Nhưng bây giờ thử hỏi, học xong lịch sử lớp 7 mà HS không biết nhà Lý có những vị vua nào, nhà Trần có những vị vua nào? Lý Thường Kiệt là ai? Chu Văn An là ai? Thì đã thực sự hợp lý hay chưa. Vì vậy để HS của mình có cái nhìn khái quát hơn, cụ thể hơn thì giáo viên nên cung cấp cho HS những tư liêu cần thiết.

              Tư liệu cung cấp cho HS phải phục vụ cho việc học của HS, tư liệu đó HS có thể sử dụng lâu dài trong cuộc sống.

              Khi cung cấp tư liệu giáo viên không được bắt ép HS phải có nó mà phải để cho HS hoàn toàn tự nguyện sử dụng. Giáo viên chỉ cố gắng động viên cho HS có được nó và sử dụng.

              Ví dụ: Khi dạy bài 8 – Nước ta buổi đầu độc lập, giáo viên có thể hỏi: từ trước đến nay nước ta có những tên gọi nào?

              HS sẽ trả lời nhưng chắc chắn không đầy đủ. Từ đó giáo viên cho HS thấy sự cần thiết phải biết các quốc hiệu của nước mình (như đặt ra trường hợp một người nước ngoài hỏi chẳng hạn, nếu không trả lời được thì sẽ như thế nào). Bây giờ giáo viên có thể cung cấp cho HS tư liệu về Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kì:

    Quốc hiệu Việt Nam

    1. Văn Lang.

    Văn Lang là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.

    2. Âu Lạc.

    Năm 257 TCN, nước Âu Lạc được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán – An Dương Vương. Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm lãnh thổ của Văn Lang trước đây và một phần đông nam Quảng Tây.

    Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCN hoặc 179 TCN), Triệu Đà (quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị diệt vong.

    3. Vạn Xuân.

    Vạn Xuân là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi. Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt.

    4. Đại Cồ Việt.

    Đại Cồ Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968. Quốc hiệu này tồn tại 86 năm đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông đổi sang quốc hiệu khác.

    5. Đại Việt

    Đại Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từ năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi. Quốc hiệu này tồn tại không liên tục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 743 năm.

    6. Đại Ngu.

    Đại Ngu (nghĩa là Niềm vui lớn) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.

    7. Việt Nam.

    Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long sử dụng từ năm 1804.

     

    8. Đại Nam.

    Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.

    9. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945 đến  đến 1976. Nhà nước được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày quốc khánh của Việt Nam ta ngày nay).

    10. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hiệu này được sử dụng từ đó đến nay.

              Các tư liệu, trong quá trình dạy học giáo viên cần cho HS vận dụng để các em thấy kiến thức đó là bổ ích. Có như vậy thì HS mới chịu đọc, còn không dù có các em cũng bỏ đó mà không dùng tới.

              Ví dụ: Khi gọi HS lên bảng ngoài các câu hỏi trong chương trình giáo viên có thể sử dụng câu hỏi phụ để hỏi HS về những kiến thức bổ sung như: Hãy kể tên các vua thời Lý. Làm như vậy HS sẽ tích cực đọc để biết thêm, từ đó rèn văn hóa đọc cho học sinh.

    Mang tính tích cực, tự lực, tự giác rất cao và có tính chất chủ thể.

    Đòi hỏi người học phải có kiến thức, kinh nghiệm, có đủ tài liệu tham khảo.

    Người học tìm ra kiến thức mới, nhìn vấn đề nhiều góc cạnh khác nhau.

    Về mặt giáo dục: Phát triển tính dân chủ, hợp tác ở học sinh.

    3.3. Mục đích sư phạm của phương pháp.

    Tạo cho học sinh có cơ hội lập luận bảo vệ ý kiến của mình.

    Tạo cho học sinh có cơ hội lắng nghe ý kiến của bạn và điều chỉnh quan điểm của mình.

    Đưa ra một ý kiến quyết định chung của một nhóm hoặc một tập thể từ nhiều ý kiến kinh nghiệm khác nhau.

    3.5. Ưu điểm và hạn chế.

    a. Ưu điểm:

    Tăng khả năng giao tiếp học sinh và giáo viên hoặc học sinh và học sinh.

    Nhiều người trình bày được nhiều ý kiến dưới góc nhìn khác nhau.Với thái độ hiểu biết và chấp nhận.

    Có khả năng xử lý thông tin,nhạy bén với các quyết định.

    Phát huy tính tự giác tích cực,tự lực của học sinh.

    Tăng tinh thần hợp tác,tổ chức của học sinh.

    b. Hạn chế:

    Tốn nhiều thời gian chuẩn bị,tiến hành, đúc kết.

    Người tham gia phải có kinh nghiệm và đủ tài liệu tham khảo.

    Người học khó chịu vì phải suy nghĩ,chú ý nhiều,góp ý kiến nhiều.

    Một số người còn chủ quan,thành kiến dẫn đến bảo thủ,ngụy biện lạc đề.

    a. Chuẩn bị:

    Tùy theo số lượng học sinh trong lớp, nội dung học tập mà giáo viên chia thành bao nhiêu nhóm ,số lương thành viên trong nhóm. Tùy theo mục tiêu và yêu cầu vấn đề học tập mà mà các nhóm được phân ngẫu nhiên hoặc mặc định, được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng hoạt động của tiết học. Các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc khác nhiệm vụ.

     Để chia theo chủ định, giáo viên nên chú ý đặc điểm của học sinh (trình độ, thái độ, tính cách, giới tính…) để cơ cấu nhóm cho phù hợp.

    * Các hình thức nhóm cụ thể:

              Nhóm ghép đội: dùng để nghiên cứu , phân tích , trao đổi vê một số vấn đề phức tạp đòi hỏi có sự cộng tác cao.

    * Các bước tiến hành:  

    Bước 3: Học sinh cử đại diện báo cáo kết quả của nhóm, góp ý và bổ sung cho nhau.

    Bước 4: Giáo viên đánh giá, nhận xét, bổ sung, kết luận.

    Từ đó HS ý thức được yêu cầu nội dung của đề tài, các nguồn tài liệu chính, kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ của tập thể cũng như của từng cá nhân…

    GV tổng kết những ý kiến phát biểu, nêu lên một cách súc tích và có hệ thống những ý kiến thống nhất và chưa thống nhất.

    GV cần đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét tinh thần thái độ làm việc chung của tập thể, của nhóm và cá nhân HS.

    Giao nhiệm vụ phải rõ ràng, cụ thể, đảm bảo mỗi học sinh đều hiểu nhiệm vụ.

    Trong quá trình học sinh làm việc, giáo viên phải theo dõi từng nhóm, có sự giúp đỡ, hướng dẫn kịp thời, đảm bảo tất cả học sinh đều làm việc.

    Trong mỗi nhóm cần có sự phân công ràng nhiệm vụ cụ thể trong đó đề cao vai trò hợp tác.

    Cần tao không khí thi đua giưa các nhóm để khuyến khích học tập.

     

    3.7. Các phương pháp, biện pháp tiến hành thực nghiệm.

    a. Về chuẩn bị dụng cụ để hoạt động nhóm:

    Theo tôi đặc thù các lớp 7 ở trường Trung học cơ sở thì mỗi lớp có 16 bàn nên chia thành 4 nhóm (để tránh di chuyển nhiều tốn thời gian và ồn ào mất trật tự, chỉ 2 bàn quay mặt lại là được).

    Mỗi nhóm phải có 2 bảng phụ, kích thước không nhỏ và cũng không quá to, quy định cỡ 50cm x 70cm là vừa + bút lông xóa được, 1 cây màu đỏ và 1 cây màu xanh hoặc đen. Nếu vùng khó khăn giáo viên có thể làm bảng phụ bằng giấy A4 và bút chì màu.

    Giáo viên phân nhóm và có nhóm trưởng, nhóm phó,thư kí (phòng khi nhóm trưởng vắng) để điều hành chung và chuẩn bị dụng cụ cho tốt.

    b. Về phương pháp cách thức hoạt động.

    * Về phía giáo viên:

    Chọn nội dung hoạt động nhóm thường là nội dung có nhiều ý, nội dung trọng tâm, có tính tư duy học sinh trung bình và yếu khó giải quyết.

    Xây dựng trong giáo án hệ thống câu hỏi, tình huống vấn đề phải cụ thể rõ ràng có dàn ý hệ thống chi tiết, giúp HS dễ biết cách thức nhanh chóng và có hệ thống (vì thời gian có hạn).

    * Về phía học sinh:

    Phải chuẩn bị nội dung trước ở nhà.

    Nhóm trưởng phải tôn trọng tất cả các ý kiến của các thành viên trong nhóm, phải làm sao ( giảng giải, phân tích…) cho các học sinh trung bình, yếu trong  nhóm hiểu được vấn đề và có thể thay mặt nhóm lên trình bày trước lớp.

     

    * Ví dụ 1:

    Bài 4: Trung Quốc thời phong kiến

    1. Sự hình thành xã hội phong kiến ở Trung Quốc.

    – Câu 1 ( Nhóm 1, 2): Những điều kiện nào đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Trung Quốc thời cổ đại?

    – Câu 2( Nhóm 3, 4): Xã hội Trung Quốc đã bị phân hoá như thế nào?

    * Đáp án:

    – Những điều kiện đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Trung Quốc thời cổ đại:

    + Những tiến bộ trong sản xuất đã tác động đến xã hội, làm cho xã hội có sự biến đổi.

     - Xã hội Trung Quốc đã bị phân hoá như thế nào?

      + Giai cấp địa chủ xuất hiện    

    (Hoặc giáo viên có thể khái quát trên sơ đồ)

    2. Xã hội Trung Quốc thời Tần- Hán.

    Câu 1( Nhóm 1, 2): Em trình bày tổ chức bộ máy nhà nước thời Tần?

    Câu 2 ( Nhóm 3, 4): Các chính sách của ông đã gây ra hậu quả gì?

     

     

     

    3. Sự thịnh vượng của Trung Quốc dưới thời Đường.

     

     *  Ví dụ 2:

    Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân Tống ( 1075- 1077)

      I. Giai đoạn thứ nhất.

       1. Nhà Tống âm mưu xâm lược nước ta.

       2. Nhà Lý chủ động tiến công để phòng vệ.

     - Câu 1(nhóm 1, 2): Cuộc tấn công vào đất Tống của nhà Lý có phải là hành động xâm lược không? Vì sao?

     - Câu 2(nhóm 3, 4): Việc nhà Lý chủ động tấn công vào đất Tống có ý nghĩa như thế nào?

     * Đáp án:

     Câu 1: Cuộc tấn công vào đất Tống của nhà Lý không phải là hành động xâm lược, vì nhà Lý chỉ tấn công các căn cứ quân sự, kho lương thảo, đó là những nơi quân Tống tập trung lực lượng, vũ khí để chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Hơn nữa, khi hoàn thành được mục đích thì nhà Lý đã cho rút quân ngay.

    Câu 2: Việc chủ động tấn công quân Tống có ý nghĩa:

             – Tiêu diệt lực lượng mà quân Tống chuẩn bị để xâm lược nước ta.

             – Làm quân Tống hoang mang, bị động, thêm khó khăn cho việc xâm lược nước ta.

             – Buộc quân Tống phải có thời gian để củng cố lực lượng và quân ta cũng có thời gian để chuẩn bị tốt cho cuộc kháng chiến chống Tống mà biết trước không thể tránh khỏi.

      * Ví dụ 3:

    Bài 13: Nước Đại Việt thế kỉ XVIII

     I. Nhà Trần thành lập.

      1. Nhà Lý sụp đổ.

      2. Nhà Trần củng cố chế độ phong kiến tập quyền.

    Sau khi giáo viên cho học sinh tìm hiểu tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần có thể cho các em hoạt động nhóm bằng sơ đồ tư duy  theo hai yêu cầu sau:

    Câu 1( nhóm 1, 2): Hãy vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước cấp trung ương thời nhà Trần?

    Câu 2( nhóm 3, 4): Hãy vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước cấp trung gian và cấp cơ sở thời nhà Trần?

              Sau khi học sinh trình bày, nhận xét, giáo viên đưa ra sơ đồ đã chuẩn bị:

     - Học sinh quan sát, rút kinh nghiệm.

    *  Ví dụ 4:

    Bài 20: Nước Đại Việt thời Lê sơ ( 1428- 1527)

    II. Tình hình kinh tế- xã hội.

    1. Kinh tế.

    ? Để nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế, nhà nước Lê sơ đã thực hiện những biện pháp gì? Nhận xét về những biện pháp đó?

              Sau phần báo cáo và nhận xét của học sinh, giáo viên đưa ra nội dung đáp án của câu hỏi đã chuẩn bị:

    – Về nông nghiệp:

      + Xóm làng điêu tàn, ruộng đồng bỏ hoang đời sống nhân dân khổ                             cực.

             + Cho lính về quê làm rộng.

             + Kêu gọi dân phiêu tán về quê làm ruộng..

             + Đặt các chức quan chuyên lo sản xuất nông nghiệp.

             + Thực hiện chính sách quân điền.

             + Cấm giết trâu bò.

    – Về thủ công nghiệp:  

               + Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời.

               + Thăng Long là nơi tập trung nhiều nghành nghề thủ công nhất.

               + Quản lý, đẩy mạnh các xưởng thủ công nhà nước.

    – Về thương nghiệp:  

    + Khuyến khích lập chợ mới và họp chợ.

              + Đúc tiền đồng.

              + Buôn bán với nước ngoài phát triển.

    ( trò chơi ô chữ, ai nhanh hơn ai cho nhóm 2 học sinh, trò chơi ngôi sao may mắn, theo dòng lịch sử cho nhóm 4- 6 học sinh . . .), nhất là ở các bài dạy có áp dụng công nghệ thông tin. Trong phạm vi hạn hẹp của một đề tài nên tôi không thể đưa hết tất cả các ví dụ minh hoạ được.

    – Phân nhóm và quy định nội dung cho từng nhóm hoạt động.

    – Lắng nghe và gợi ý cho học sinh.

    – Động viên, khích lệ các nhóm còn yếu, chưa mạnh dạn.

    – Tất cả các đối tượng học sinh đều tham gia bàn bạc và đóng góp ý kiến.

             + Thư kí  nhóm ghi nội dung đã thống nhất vào bảng phụ.

              + Các đối tượng còn lại trong nhóm ghi nội dung đã thống nhất vào phiếu học tập( hoặc vở ghi).

    – Giáo viên cho các nhóm khác góp ý bổ sung nội dung của nhóm vừa trình bày cho đầy đủ.

    – Giáo viên nhận xét và cho học sinh chỉnh sửa những nội dung còn thiếu sót.

    V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

              Qua khảo sát, tôi nhận thấy học sinh rất yêu thích, say mê môn sử. Mặc dù những tiết học đầu còn bỡ ngỡ, chưa quen, nhưng với nỗ lực, sự say mê học hỏi, phần lớn học sinh đều bày tỏ thái độ đồng tình, hợp tác với giáo viên.

                Phân tích từ góc độ quan sát thực tế thì các phương pháp mà tác giả thực nghiệm là phù hợp với năng lực của học sinh, cần thiết trong quá trình giảng dạy môn lịch sử, tạo sự hứng thú, tìm tòi, kích thích khả năng sáng tạo, khơi dậy nguồn cảm hứng học môn lịch sử ở mỗi học sinh, giúp học sinh có cơ hội được trải nghiệm, được thực hành trong quá trình tiếp thu những kiến thức và kỹ năng mới.

               Thực tế sau khi áp dụng “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” đã thúc đẩy phát triển một số năng lực cần phải có cho HS như năng lực xã hội gồm: năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất; Năng lực quan hệ xã hội gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác; Năng lực công cụ: năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông.

    VI. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

    1. Đối với giáo viên:

    Trong quá trình vận dụng những biện pháp trên vào bài giảng tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

    Đối với phương pháp kể chuyện, sử dụng kênh hình:

              Người giáo viên phải biết kết hợp hài hòa mục tiêu cần đạt với nội dung cách làm mới. Có như vậy tiết dạy mới bảo đảm nội dung.

              Khi vận dụng người giáo viên phải sếp xếp thời gian hợp lí, nếu không sẽ không đủ thời gian cho mỗi tiết dạy.

              Giáo viên phải tìm mọi cách cho HS tự nêu lên thắc mắc của mình khi nghe câu chuyện hay nhìn vào một kênh hình, có như vậy mới để lại ấn tượng sâu sắc trong trí nhớ của các em.

              Một số học sinh chưa có ý thức cao vẫn còn lơ là làm ảnh hưởng đến các học sinh khác và một số em khác còn nhút nhát, chưa mạnh dạn nên mặc dù có ý kiến và nắm được vấn đề nhưng không tự tin phát biểu... Nên việc quản lí, lôi cuốn các em vào hoạt động tập thể là vấn đề quan trọng mà giáo viên cần phải làm được để hoạt động nhóm thành công.

    2. Đối với phụ huynh:

    Điều cần làm trước hết là người lớn phải là tấm gương sáng, nhìn nhận đối xử công bằng môn sử so với các bộ môn khác.Việc học môn sử của học sinh phải luôn được người lớn khuyến khích, chia sẻ.

     

    C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.

    I. KẾT LUẬN.

    Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc giúp giáo viên và học sinh trường chúng tôi nói riêng, các đồng nghiệp và học sinh trường bạn nói chung thực hiện việc dạy và học môn lịch sử tốt hơn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong chương trình đổi mới của Bộ giáo dục. Về phía bản thân, tôi xin hứa sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của việc thực hiện đề tài. Trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục tìm tòi, học hỏi để đưa ra những phương pháp mới nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục.

    Sau khi áp dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 tôi đã thu được kết quả khả quan, cụ thể như sau:

    Bản tổng hợp số liệu kết quả khảo sát trước khi vận dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7.

                                            Năm học 2021 - 2021

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS (Trung bình)

    HS ( Yếu )

    62

    16

    9

    30

    7

    Tỷ lệ

    26 %

    15 %

    48 %

    11 %

     

     

     

    Bản tổng hợp số liệu kết quả khảo sát sau khi vận dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7.

    Học kì I năm học 2021 - 2021

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS ( Trung bình )

    HS ( Yếu )

    62

    50

    9

    3

    0

    Tỷ lệ

    80.5 %

    14.5 %

    5 %

    0%

     

    Kết quả xếp loại trung bình môn lịch sử 7

    năm học 2021- 2021 và học kì I năm học 2021- 2021

     

    III. NHỮNG KHUYẾN NGHỊ.

              Với kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy, tôi xin được đưa ra sáng kiến “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” để các đồng chí tham khảo, đóng góp ý kiến bổ sung để cùng nhau đưa chất lượng giáo dục môn lịch sử 7 nói riêng và các môn lịch sử lớp 6,8,9 nói chung đạt kết quả cao hơn.

              Đề nghị phòng Giáo dục, hằng năm các sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại cần được biên soạn lại và phổ biến về các cơ sở trường học để giáo viên tham khảo và vận dụng nhằm tăng tính khả thi của các đề tài nghiên cứu.

    Hàng năm phòng Giáo dục cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, chuyên đề để giáo viên được học hỏi kinh nghiệm.

     Một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, công nghệ thông tin. Vì vậy nhà trường cần thu hút các nguồn đầu tư xây dựng, cung cấp phương tiện, công nghệ và có biện pháp sử dụng hợp lí để góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

     

     

    Xin chân thành cm ơn!

     

     

    D. TÀI LIỆU THAM KHẢO.

     

    1. Các triều đại Việt Nam (Nhà xuất bản giáo dục)
    2. Giáo trình Đại cương lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản giáo dục)

    3.Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử - Phan Ngọc Liên, Trịnh

    Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường ( Nhà xuất bản đại học Quốc Gia Hà Nội)

    4.  Phương pháp dạy học lịch sử, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2003

    5.  Tư duy học sinh tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội

    6.  Những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội 1999

    7.  Sách giáo viên, sách hướng dẫn lịch sử 7 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 5 Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tập Làm Văn Lớp 3
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy – Học Môn Toán Lớp 3 Theo Các Dạng Cơ Bản Nhằm Giúp Học Sinh Tích Cực Hóa Hoạt Động Học Tập
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Lớp 8
  • Sáng Kiến Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Tin Học
  • Một Số Biện Pháp Hiệu Quả Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Trong Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Anh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Văn
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Nào Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên Mầm Non?
  • Hội thảo khoa học “Giảng dạy Lịch sử, Văn hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”, do Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng tổ chức ngày 17/5. Hội thảo nhằm rà soát, đánh giá, tổng kết lại quá trình dạy học, những kết quả đạt được và chưa đạt được, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp nâng cao hiệu quả, chất lượng giảng dạy Lịch sử, Văn hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

    Chất lượng dạy và học Lịch sử thấp

    Đây là vấn đề được các nhà giáo, giảng viên các trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Đại học Sư phạm Huế và nhiều giáo viên tại các trường THPT tại Đà Nẵng quan tâm, chia sẻ tại Hội thảo.

    Đặc biệt, với tham luận “Nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở trường THPT”, thầy giáo Nguyễn Ngọc Đoàn, giáo viên dạy môn Lịch sử tại Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn (TP.Đà Nẵng) đã khẳng định: Chất lượng dạy và học Lịch sử hiện nay khá thấp, cần có giải pháp căn cơ để tháo gỡ. Theo thầy Đoàn, kết quả điểm thi môn Lịch sử tại các Kỳ thi THPT quốc gia 3 năm liên tiếp, từ 2021- 2021 cho thấy việc dạy và học Lịch sử ở các trường THPT “đang có vấn đề”. Trong đó, số lượng học sinh bị điểm liệt (dưới 1.0 điểm) hoặc đạt từ 1.0 điểm trở xuống của môn Lịch sử thuộc top đầu trong các môn thi.

    Cụ thể, năm 2021 có 1.083 học sinh bị điểm liệt (dưới 1.0 điểm) chỉ đứng sau môn Toán với 12.000 học sinh. Con số tương ứng các môn là Vật lý 260, Hóa học 300, Sinh học 300, Địa lý 550, Ngoại ngữ 175.

    Năm 2021, số học sinh môn Lịch sử bị điểm liệt vẫn đứng thứ 2 với 1.439 học sinh chỉ sau môn Toán (11.159 học sinh); các môn Ngoại ngữ 933, Vật lý 67, Hóa học 91, Địa lý 511, Ngoại ngữ 144.

    Năm 2021, lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Kỳ thi THPT bằng hình thức trắc nghiệm đối với môn Lịch sử. Số học sinh có điểm từ 1.0 trở xuống của Bộ môn này là 869, xếp sau môn Toán: 1.584, Ngoại ngữ 1.061, Hóa học 886. Cũng trong năm này, tỷ lệ học sinh dưới 5.0 điểm của môn Lịch sử cao thứ 2 với 61,9%, sau môn Tiếng Anh với 68,38%.

    Ở nhóm trên, điểm môn Lịch sử cũng không khá hơn. Ở phổ điểm 9-10, môn Lịch sử tỷ lệ cũng thấp: Năm 2021 là 1.450 (chiếm 1,74%), năm 2021 là 4.326 (chiếm 8,47%).

    Đối với học sinh tại Đà Nẵng, theo thầy Nguyễn Ngọc Đoàn, trong Kỳ thi THPT quốc gia năm 2021, tổng số học sinh dự thi môn Lịch sử là 5.341 học sinh. Trong đó, số học sinh có điểm từ 1.0 trở xuống là 10 học sinh; số học sinh đạt trên 5.0 điểm là 1234 em (chiếm 23,48%), thấp hơn tỷ lệ chung của cả nước là 38,1%; số học sinh đạt điểm từ 7.0 đến dưới 10 điểm chỉ có 158 em; không có học sinh đạt điểm 10.

    Với những số liệu dẫn ra từ Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia 3 năm liên tiếp (từ 2021-2017) mà thầy Đoàn nêu ra ở trên, nhiều ý kiến tại Hội thảo đã đồng tình với nhận định của thầy giáo này. Trong đó, TS.Nguyễn Duy Phương, Trưởng Khoa Lịch sử Đại học Sư phạm Đà Nẵng cho rằng, đây là thông tin phản ánh chân thực thực trạng dạy và học môn Lịch sử tại các trường THPT hiện nay và cần có những giải pháp tháo gỡ để việc dạy và học môn Lịch sử trong các trường THPT hiện nay thực sự mang lại hiệu quả, trước mắt phải bắt đầu từ sự hứng thú với môn học của người học cũng như sự tìm tòi, sáng tạo trong phương pháp truyền đạt của người dạy.

    Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên

    Cùng với những trao đổi nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử tại các trường THPT hiện nay, tại Hội thảo, các ý kiến cũng dành nhiều quan tâm đến việc rèn luyện, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sư phạm cho sinh viên (SV) học Lịch sử.

    Theo TS.Trương Anh Thuận (Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Đà Nẵng), Khoa Lịch sử Đại học Sư phạm Đà Nẵng là đơn vị có bề dày đào tạo ngành Sư phạm Lịch sử với hơn 40 năm. Tuy nhiên, không phải vậy mà vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành sư phạm Lịch sử được đơn vị chủ quan, sao nhãng; trái lại lãnh đạo Khoa và nhà trường luôn đặt ra yêu cầu phải không ngừng nâng cao chất lượng rèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên các ngành sư phạm, trong đó có Sư phạm Lịch sử.

    TS.Trương Anh Thuận cho biết thêm: Trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Lịch sử hiện nay, ngoài các học phần kiến thức chuyên ngành, SV còn được trang bị một hệ thống các học phần về khoa học giáo dục, đặc biệt là phương pháp giảng dạy bộ môn Lịch sử. Tuy nhiên nếu như việc truyền thụ các kỹ năng sư phạm cho SV chỉ dừng lại ở đây thì tính thực tiễn và ứng dụng của nó sẽ thực sự chưa cao. “Tại Đại học Sư phạm Đà Nẵng, với phương châm đào tạo lý thuyết đi đôi với thực hành, cán bộ giảng dạy tập trung giúp SV biến những kiến thức lý luận phương pháp giảng dạy được trang bị qua các học phần đó thành kỹ năng nghề nghiệp, thậm chí “cầm tay chỉ việc” cho SV từ những kỹ năng thực hành trên lớp như cách trình bày vấn đề, viết, vẽ bảng, diễn giải, gợi mở vấn đề bằng hệ thống câu hỏi, xử lý tình huống sư phạm đến một số kỹ năng nâng cao như: Làm việc với sách giáo khoa, kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học, kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng gắn nghiên cứu khóa học với đào tạo…. Đây là các khâu quan trọng nhất để hiện thực hóa nhằm tăng cường kỹ năng nghề nghiệp cho SV sư phạm tại đơn vị.

    Đồng tình và chia sẻ với các vấn đề này, chúng tôi Nguyễn Thành Nhân, Phó Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Huế cho biết, tại Đại học Sư phạm Huế, SV trong quá trình thực tập được các giảng viên hỗ trợ, giúp đỡ sát sao. Thông qua đó sẽ giúp SV kịp thời cập nhật, bổ sung các kiến thức thực hành gắn với yêu cầu thực tiễn và lý luận chung về phương pháp giảng dạy bộ môn Lịch sử.

    Ngoài ra, chúng tôi Nguyễn Thành Nhân cũng chia sẻ thêm, không chỉ là lúc SV đang theo học mà ngay cả trong giai đoạn này đến khi ra trường, tại Đại học Sư phạm Huế, nhà trường vẫn giữ mối liên hệ, cử giảng viên thường xuyên về cơ sở dự giờ, bổ sung thêm những vấn đề mới về phương pháp để giáo viên dạy Lịch sử khi ra trường về giảng dạy ở các trường phổ thông vẫn có thể cập nhật thêm kiến thức mới.

    Các đại biểu trao đổi tại Hội thảo

    Cũng chia sẻ về những vấn đề này, lấy thực tiễn kinh nghiệm và tổng kết sau nhiều năm giảng dạy môn Lịch sử của mình tại Đại học Kinh tế Đà Nẵng, chúng tôi Ngô Văn Hà cho rằng, năng lực sư phạm và phương pháp giảng dạy nói chung của một giáo viên dạy Lịch sử luôn là vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên trên thực tế, không ít giáo viên dạy Lịch sử chưa biết làm “mới vấn đề”, thậm chí cứ lặp đi lặp lại bài giảng theo kiểu khô cứng với các sự kiện lần lượt theo tiến trình thời gian. Đây chính là lý do khiến người học than vãn “Khổ quá, biết rồi, nói mãi”… từ đó dẫn đến sự nhàm chán cho người học.

    Trước thực tế đó, nhiều ý kiến trao đổi tại Hội thảo đã thẳng thắn nêu ra những kinh nghiệm và các đề xuất, kiến nghị để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho SV. TS.Nguyễn Duy Phương, Trưởng Khoa Lịch sử (Đại học Sư phạm Đà Nẵng), nhận định: Giáo viên phải là lực lượng xung kích trên mặt trận đổi mới, là người đi đầu, quyết định tới chất lượng giáo dục. Trong khi đó, với dự thảo chương trình giáo dục phổ thông được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố vào cuối năm 2021, môn Lịch sử là một trong số những môn có sự thay đổi toàn diện cả về nội dung lẫn phương pháp giảng dạy. Do đó vấn đề đổi mới giáo dục được đặt lên hàng đầu đối với người giáo viên. Trong đó, bên cạnh đổi mới, điều chỉnh chương trình đào tạo ngành sư phạm theo mục tiêu phát triển năng lực nghề, hiện Khoa Lịch sử (Đại học Sư phạm Đà Nẵng) đang tập trung đổi mới thực tập sư phạm, đồng thời chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp SV ngành sư phạm có phương pháp dạy theo hướng tiếp cận năng lực, qua đó để SV sau khi ra trường có thể giảng dạy thành công chương trình giáo dục phổ thông mới.

    Ngoài những vấn đề trên, tại Hội thảo nhiều ý kiến cũng cho rằng, vấn đề phát triển năng lực cho SV sư phạm nói chung và sư phạm Lịch sử nói riêng thông qua phương pháp giảng dạy tích cực phải được các trường đại học quan tâm gắn với đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay mà Bộ yêu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử?
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ
  • Tổ Chức Thi Online Môn Tin Học Cấp Thcs
  • Báo Cáo Đổi Mới Ppdh Môn Hóa Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Hóa Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Cấp Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học Cac Giai Phap Nang Cao Chat Luong Day Hoc Doc
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Nội Dung Pháp Luật Trong Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9 Ở Trường
  • Hướng Dẫn Cách Giúp Học Sinh Hứng Thú Với Môn Giáo Dục Công Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Ngoại Khóa Môn Gdcd Ở Thcs
  • 2 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Anh Vùng Khó
  • Hiện tượng “thầy chán dạy, trò chán học” trong môn Lịch sử đang được “mổ xẻ” dưới nhiều góc độ, mong muốn Lịch sử trở thành môn học yêu thích là nguyện vọng chính đáng của cả giáo viên và học sinh, bài viết này của tôi là một cô giáo dạy sử nói lên phần nào điều đó, nhưng làm thế nào để cả giáo viên và học sinh đều có hứng thú trong giờ học Lịch sử? Làm sao để mỗi giờ học Lịch sử không phải là một gánh nặng mà sẽ là một món quà với cả thầy và trò?

    – Đổi mới phương phương pháp dạy học lịch sử cần được tiến hành qua những biện pháp sư phạm chủ yếu sau:

    Thứ hai : ở trên lớp, giáo viên không trình bày đầy đủ, chi tiết nội dung các mục trong bài, mà chỉ nhấn mạnh, mở rộng nội dung sách giáo khoa để học sinh tự học. Bởi vì SGK là tài liệu cơ bản để học sinh học tập.

    trong giờ dạy ở trên lớp, giáo viên xác định rõ mục tiêu bài học- những điểm cần phải đạt được sau khi học tập về các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ….Tiếp đó, giới thiệu từng mục để học sinh hoạt động tiếp thu kiến thức.

    – Thông báo thông tin cho học sinh làm việc với SGK, tư liệu lịch sử tranh ản, bản đồ xem băng. Tuy nhiên phải có định hướng của giáo viên.

    – Kết quả xử lí và kết luận: Học sinh thông báo kết quả xử lí thông tin do giáo viên tổ chức, hướng dẫn. Giáo viên đưa ra kết luận đúng, sai, sửa chữa, bổ sung.

    – Trong từng hoạt động tìm hiểu nội dung bài học, giáo viên chú ý đến việc phát triển các hoạt động nhận thức độc lập nhất là tư duy độc lập và sáng tạo của HS. Vì hoạt động nhận thức độc lập của HS là một trong những điều kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy giáo dục và phát triển nhân cách của học sinh, hoạt động độc lập nhận thức của học sinh sẽ đảm bảo sẽ đảm bảo cho các em học sinh lĩnh hội sâu sắc nhớ lâu được kiên thức lịch sử.

    Thứ tư : để phát triển các hoạt động nhận thức độc lập của học sinh, giáo viên sử dụng một cách đa dạng, có hiệu quả, biết kết hợp nhuần nhuyễn hợp lí các phương pháp, cách dạy học trong một bài lịch sử như :

    – Phương pháp trao đổi đàm thoại

    – Sử dụng đồ dùng trực quan.

    + Trong đổi mới phương pháp dạy học, đồ dùng dạy học trực quan tranh ảnh, bản đồ , lược đồ, sơ đồ, mô hình, hiện vật…… không phải chỉ là phương tiện minh họa mà nó chính là nguồn tri thức. Từ đồ dùng phương tiện dạy học trực quan học sinh giúp học sinh nhớ kĩ , hiểu sâu những hình ảnh, kiến thức lịch sử mà các em thu nhận được.

    + Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác tranh ảnh, lược đồ có hiệu quả phát huy tính tích cực của HS giúp tự tìm hiểu nội dung của tranh,ảnh….

    – Và nhiều phương pháp khác

    Thứ năm: Giáo viên nên vận dụng tốt dạy học nêu vấn đề: giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và tổ chức, thúc đẩy hoạt động tìm tòi sáng tạo của Hs giải quyết vấn đề. Để thực hiện tốt khi chuẩn bị giáo án, giáo viên nêu rõ nhiệm vụ của HS trong giờ học dưới dạng các câu hỏi nêu vấn đề, các câu hỏi nêu vấn đề đưa vào đầu giờ học nhằm động viên sự chú ý, huy động các năng lực nhận thức của HS vào việc theo dõi bài giảng để tìm câu trả lời, những câu hỏi này là những vấn đề cơ bản của bài học mà học sinh cần nắm.

    Thứ sáu: không ngừng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy lịch sử. Giảng dạy bằng giáo án điện tử sẽ tạo hứng thú giữa thầy và trò trong tiết học. khai thác kiến thức thông qua hình ảnh, phim tư liệu sinh động hấp dẫn, giáo viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng, hiệu quả bài học cao.

    Thứ bảy: sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử có hiệu quả: hướng dẫn HS Tự Vẽ bản đồ tư duy giúp hs dễ hiểu, khắc sâu, khái quát hóa kiến thức bài học, từ đó dễ nhớ, đễ học sự kiện lịch sử cơ bản.

    Thứ tám: giáo viên có thể tổ chức trò chơi trong quá trình dạy học lịch sử, có thể áp dụng là một hình thức thay thế các tiết ngoại khóa tham quan, vì điều kiện kinh phí cũng như di tích lịch sử để tham quan, dã ngoại ít, không có kinh phí. Hình thức tổ chức trò chơi như “Theo dòng Lịch sử”, sân khấu hóa….

    – Việc kiểm tra đánh giá phải nhằm giải quyết nhưng yêu cầu của bài học. Các nội dung kiểm tra luôn bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng phù hợp tất cả các đối tượng học sinh.

    – Tiến hành kiểm tra, đánh giá một cách phong phú, đa dạng trong phầ học tập trên lớp. Ngoài việc kiểm tra bài cũ còn kiểm tra khi trình bày bài mới như đặt câu hỏi cho hs phát hiện, so sánh, đánh giá, nhận xét hoặc yêu cầu các em dựa vào nội dung SGK để hoàn thành bài tập do giáo viên đề ra , có thể làm cá nhân hay cặp đôi, theo bàn theo tổ…tùy nội dung và mức độ của bài tập, sau đó giáo viên nhận xét, đánh giá ghi điểm để khích lệ động viên học sinh.

    – Với đặc điểm tình hình học sinh ở địa bàn trường THCS huyện Lệ Thủy giáo viên ra đề theo 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, cao.

    – Hình thức ra đề kiểm tra Tự luận 100%, sử dụng những câu hỏi mở, vận dụng, giải thích, phân tích để tạo tính sáng tạo cho học sinh trong việc học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Ôn Thi Thptqg Môn Lịch Sử
  • Chống Nóng Tường Hướng Tây Cho Nhà Với 14 Cách Hiệu Quả 2021
  • Giải Pháp Chống Nóng Hiệu Quả Cho Nhà Xây Hướng Tây
  • Giải Pháp Thiết Kế Cho Nhà Phố Có Hướng Tây Nam
  • Giải Pháp Chống Nóng Cho Nhà Hướng Tây Hiệu Quả
  • Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử
  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Tin Học
  • Một Số Biện Pháp Hiệu Quả Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Trong Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Anh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Văn
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Tiểu Học
  • Tọa đàm tìm giải pháp nâng cao chất lượng môn Lịch sử trong trường phổ thông do Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ chủ trì đã được tổ chức tại Bộ GD&ĐT trong bối cảnh môn Lịch sử tại Kỳ thi THPT Quốc gia chỉ có điểm trung bình 4,3.

    Mở đầu cuộc tọa đàm, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ khẳng định, cuộc tọa đàm được tổ chức ngay sau khi công bố kết quả thi nhằm phân tích và tìm ra giải pháp cho một vấn đề không mới nhưng bức thiết, đó là chất lượng và vị trí của môn Lịch sử trong trường phổ thông. “Đổi mới dạy và học môn Lịch sử là tất yếu nhưng đổi mới thế nào để môn học trở nên gần gũi với cả người dạy lẫn người học, thầy tâm huyết, trò hứng thú” – Bộ trưởng nêu vấn đề.

    Nặng nề tâm lý “môn phụ”

    Mang đến tọa đàm tâm trạng buồn vì kết quả điểm trung bình Lịch sử lại thấp nhất trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2021, cô giáo Lê Thu Huyền, Trường THPT Sơn Tây (Hà Nội) cho biết, khi đọc đề thi Lịch sử năm nay cô và các đồng nghiệp đều thống nhất nhận định đề thi chất lượng tốt, không có vấn đề gây tranh cãi, rất tường minh, “nhưng cuối cùng phổ điểm trung bình của môn Lịch sử vẫn thấp nhất” – Cô Huyền chia sẻ tâm trạng khi đón nhận phổ điểm môn Lịch sử.

    Lí giải vì sao dù giáo viên đã nỗ lực, có tâm huyết nhưng kết quả dạy và học môn Lịch sử vẫn chưa cao, cô Huyền cho rằng, có sự chênh lệch, không đồng đều giữa chất lượng giáo viên các vùng miền; sự quan tâm dành cho môn Lịch sử trong mỗi nhà trường cũng chưa thỏa đáng đúng như sứ mệnh, trách nhiệm của môn học.

    “Tôi lấy ví dụ, các trường có thể bỏ kinh phí đầu tư phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm hay phần mềm hỗ trợ giảng dạy cho một số môn học rất dễ dàng, nhưng khi nói đến đầu tư cho môn Lịch sử là có sự cân nhắc”.

    Chung quan điểm về việc môn Lịch sử chưa được coi trọng đúng mức nhưng cô Hoàng Thị Lan Hương, Tổ trưởng môn Lịch sử, Trường THPT Chu Văn An lại lí giải từ khía cạnh sự hứng thú của học sinh với môn học này.

    Cô Hương cho biết, ở Trường THPT Chu Văn An môn Lịch sử vẫn được coi trọng nhưng học sinh không còn hứng thú với môn học này nữa, các em lựa chọn hướng khác. Sự lựa chọn này phần nhiều đến từ sự định hướng của gia đình, mong muốn các em theo đuổi 3 môn chính là Toán – Ngữ Văn – Ngoại ngữ.

    “Nhiều phụ huynh cách kỳ thi tốt nghiệp THPT 2-3 tháng đến gặp chúng tôi để nhờ phụ đạo cho con môn Lịch sử, để mong cháu đủ điểm qua tốt nghiệp. Thời gian trước đó các em dành cho các môn xét tuyển đại học, chủ yếu là khối thi 3 môn Toán – Ngữ Văn – Ngoại ngữ” – Cô Hương chia sẻ.

    Đồng cảm với những khó khăn của giáo viên dạy bộ môn Lịch sử, song Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ yêu cầu, không thể để tâm lý “môn phụ” – “môn chính” tiếp tục tồn tại trong các nhà trường phổ thông. Bộ trưởng khẳng định, Lịch sử là môn học có vị trí quan trọng ở bậc phổ thông, tỷ lệ học sinh lựa chọn Lịch sử để dự thi THPT quốc gia ngày càng tăng trong những năm qua đã cho thấy sự quan tâm của học sinh với môn học này.

    “Vấn đề là làm sao để đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, phương thức kiểm tra đánh giá cho phù hợp, thiết thực và hiệu quả. Đội ngũ giáo viên các cấp cũng cần được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu. Khi thầy cô chuyển động môn Sử sẽ chuyển động. Phải làm sao để học sử phải trở thành nhu cầu tự thân của mỗi học sinh” – Bộ trưởng nói.

    Phải làm cho học sinh thích Sử

    Là nhà nghiên cứu Lịch sử nổi tiếng, chúng tôi Vũ Minh Giang nhận định, bản thân môn Sử rất có sức hấp dẫn nhưng trong một thời gian dài nền giáo dục của chúng ta tiếp cận nội dung nên dạy cụ thể, diễn biến, ngày tháng…nên học sinh rất sợ, khó nhớ. “Chúng ta dạy Sử theo lối không đối xử với nó như một môn khoa học nên cứng nhắc, giáo điều, mất tính khách quan, học thuộc lòng quá nhiều. Cách dạy của chúng ta tương đối nghèo nàn, khô cứng, trong khi môn học này rất cần bổ trợ bằng nhiều hình thức sinh động” – GS Giang nhìn nhận.

    Cho rằng, đổi mới là cần thiết nhưng GS Vũ Minh Giang cũng thừa nhận, đổi mới dạy và học không thể nhanh được, nhất là đối với môn Sử, “nó có độ trễ, sự “đông cứng” trong chính các thầy cô giáo, chúng ta phải kiên quyết bỏ lối tư duy “không sự kiện làm sao thành Sử”, chương trình giáo dục phổ thông mới tới đây phải làm được điều này, phải làm cho học sinh thích Sử”.

    Theo GS Vũ Minh Giang, cách học và cách thi môn Lịch sử hiện nay có độ chênh đáng kể. Ông lí giải, kết quả cao hay thấp từ một kỳ thi chưa chắc đã do trình độ học sinh mà còn do đề thi. Việc ra đề thi Lịch sử mấy năm qua đã tiếp thu rất nhanh, chạy rất nhanh đổi mới nhưng người học có độ trễ vì vẫn học theo cách cũ nên chưa thích ứng ngay được với đề thi này. Cần phải có lộ trình từng bước một.

    Để nâng cao vị trí của môn Lịch sử, GS Vũ Minh Giang cho rằng, đã đến lúc phải tính lại để làm sao kiến thức Lịch sử cần cho tất cả mọi người, nhất là với cán bộ lãnh đạo, trở thành một tiêu chí lựa chọn cán bộ lãnh đạo. Ngoài ra, tính hấp dẫn phải có, đổi mới sách giáo khoa phải làm điều này, chữ nghĩa ít thôi, không trói buộc học sinh phải nhớ mà là để học sinh tự tìm tòi.

    GS.TS Phạm Hồng Tung, Tổng chủ biên môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông mới gợi mở, nên có sự thay đổi các môn trong tổ hợp tuyển sinh, môn Lịch sử cần được đưa vào trong nhiều tổ hợp xét tuyển hơn so với hiện nay. Ví dụ những ngành như du lịch, khách sạn, lữ hành… cần được xét tuyển bằng môn Lịch sử. Khi Lịch sử là một quan trọng trong lựa chọn nghề nghiệp, ví trí của môn học sẽ nâng cao hơn.

    Đưa ra ví dụ ở Canada khi muốn nhập quốc tịch cần phải biết lịch sử của nước họ, chúng tôi Vũ Quang Hiển, Giảng viên khoa Lịch sử, trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội đặt câu hỏi, bên cạnh đổi mới chương trình, phương thức đánh giá, có cách nào đổi mới vị thế đặc thù môn Lịch sử được không?

    Xóa bỏ tâm lý “môn chính – môn phụ”!

    Có nhiều năm phụ trách bộ môn Lịch sử cấp THCS và THPT, ông Xuân Trường, chuyên viên Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GD&ĐT cho rằng, cần có một cuộc “cách mạng” trong nhận thức từ cán bộ quản lý, sở, phòng, hiệu trưởng, tổ bộ môn để chỉ đạo sát sao hơn với môn Lịch sử trong nhà trường, tạo động lực cho giáo viên. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào thiết kế bài giảng, tăng tính hấp dẫn cho bài giảng; đổi mới mới phương pháp dạy học với định hướng nghề nghiệp của học sinh.

    Trung tâm Truyền thông Giáo dục (Bộ GD&ĐT)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ
  • Tổ Chức Thi Online Môn Tin Học Cấp Thcs
  • Báo Cáo Đổi Mới Ppdh Môn Hóa Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Hóa Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phụ Đạo Học Sinh Yếu, Kém Về Môn Toán Lớp 4
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Ôn Thi Thptqg Môn Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Cấp Thcs
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học Cac Giai Phap Nang Cao Chat Luong Day Hoc Doc
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Nội Dung Pháp Luật Trong Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9 Ở Trường
  • Hướng Dẫn Cách Giúp Học Sinh Hứng Thú Với Môn Giáo Dục Công Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Ngoại Khóa Môn Gdcd Ở Thcs
  • GD&TĐ – Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng việc tổ chức hoạt động dạy và học, chất lượng dạy học môn Lịch sử THPT hiện nay, Sở GD&ĐT Bến Tre đã đưa ra những định hướng để cán bộ quản lý, giáo viên bộ môn Lịch sử nghiên cứu triển khai phù hợp với theo điều kiện của nhà trương trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng dạy học, ôn thi THPTQG môn Lịch sử.

    Xây dựng chương trình môn học

    Tổ/nhóm chuyên môn tiếp tục nghiên cứu chương trình để thực hiện tốt việc rà soát, tinh giản nội dung dạy học phù hợp chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của chương trình môn học, nhưng phải có sự linh hoạt và sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động dạy học bộ môn.

    Khai thác hiệu quả trang “Trường học kết nối” để tiến hành các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong năm học theo hướng dẫn và định hướng bồi dưỡng giáo viên trong đổi mới chương trình, sách giáo khoa sắp tới.

    Tổ trưởng chuyên môn cần tăng cường tổ chức, gợi ý các nội dung cần trao đổi trong sinh hoạt tổ/nhóm; đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn liên trường nhằm tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy.

    Đổi mới phương pháp, hình thức dạy học

    Đẩy mạnh việc vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học tích cực; tổ chức các hoạt động trải nghiệm môn học; tăng cường hướng dẫn học sinh tự học.

    Quan tâm phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi. Tích hợp, lồng ghép những nội dung về lịch sử, địa lý, chính trị, xã hội của đất nước, địa phương bằng nhiều hình thức, phù hợp với điều kiện của nhà trường. Thực hiện dạy học tốt chương trình Lịch sử địa phương.

    Đổi mới kiểm tra, đánh giá

    Thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá đúng quy chế, đảm bảo thực chất, công bằng, đúng năng lực học sinh. Kết hợp đánh giá thường xuyên – đánh giá quá trình học tập; đánh giá bằng cho điểm và nhận xét. Chú ý hướng dẫn học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.

    Khi đánh giá bài kiểm tra viết, giáo viên phải thực hiện tốt phần nhận xét trên bài làm của học sinh.

    Tổ chuyên môn cần tiếp tục xây dựng “Nguồn học liệu mở” gồm: ngân hàng đề kiểm tra, đề thi, kế hoạch bài dạy, … đăng tải trên website của đơn vị để làm tư liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong qúa trình giảng dạy và học tập.

    Tổ chức ôn tập thi THPT quốc gia

    Trong việc tổ chức ôn tập cần lưu ý: Thực hiện nội dung ôn tập theo chương trình THPT, chủ yếu là chương trình lớp 12.

    Tổ chức nghiên cứu bộ đề thi tham khảo do Bộ GD&ĐT công bố để hướng dẫn học sinh làm quen với định dạng của các đề thi trong quá trình dạy học và ôn tập phục vụ cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2021.

    Kết hợp hướng dẫn học sinh tự học, tự ôn tập với ôn tập theo nhóm, theo lớp nhằm đảm bảo kiến thức cho học sinh; đối với học sinh yếu kém, cần giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức nhằm giúp các em nắm được nội dung cốt lõi nhất của bài học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chống Nóng Tường Hướng Tây Cho Nhà Với 14 Cách Hiệu Quả 2021
  • Giải Pháp Chống Nóng Hiệu Quả Cho Nhà Xây Hướng Tây
  • Giải Pháp Thiết Kế Cho Nhà Phố Có Hướng Tây Nam
  • Giải Pháp Chống Nóng Cho Nhà Hướng Tây Hiệu Quả
  • Hệ Thống Mạng Không Dây Tốt Nhất Tại Hà Nội Hiện Nay
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • Huấn Luyện An Toàn Khi Làm Việc Trên Cao
  • Trong bài “Nên học sử ta” ghi trên báo “Việt Nam Độc lập” Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết:

    “Dân ta phải biết sử ta

    Cho tường gốc tích nước nhà việt Nam”

    Đất nước ta, nhân dân Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước với nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng. Là một người dân Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta phải yêu và hiểu biết về lịch sử của đất nước, của dân tộc mình. Chính vì vậy mà trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục học sinh (HS) tình yêu quê hương đất nước, tự hào về truyền thống của dân tộc. Lịch sử là chiếc nôi để các em hiểu biết và hướng về cội nguồn lịch sử dân tộc. Dạy học lịch sử không chỉ khơi dậy các nhân vật, sự kiện lịch sử mà làm tái hiện lại một cách sống động lịch sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử không thể tái hiện lại trước mắt học sinh ở trong phòng thí nghiệm hoặc trong thực tiễn mà thông qua việc tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra những biểu tượng về con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

    Dạy Lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết, nắm vững kiến thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam và thêm yêu mến tự hào về lịch sử dân tộc. Do vậy, việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi, tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ và mục đích của người giáo viên (GV) trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

    Môn Lịch sử nói chung, phân môn Lịch sử lớp 4 bậc Tiểu học nói riêng đều nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước (khoảng năm 700 trước công nguyên) đến năm 1858. Về nội dung chương trình môn lịch sử lớp 4. Với dòng thời gian kéo dài từ buổi đầu dựng nước (700 năm trước Công Nguyên đến đầu thời Nguyễn giữa thế kỉ XIX) được chia làm 8 giai đoạn, 26 sự kiện lớn, 22 mốc thời gian cụ thể, rất nhiều đời vua, nhiều tên nước và nhiều kinh đô khác nhau.

    1. MỞ ĐẦU: 1.1. Lí do chọn đề tài Trong bài "Nên học sử ta" ghi trên báo "Việt Nam Độc lập" Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: "Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà việt Nam" Đất nước ta, nhân dân Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước với nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng. Là một người dân Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta phải yêu và hiểu biết về lịch sử của đất nước, của dân tộc mình. Chính vì vậy mà trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục học sinh (HS) tình yêu quê hương đất nước, tự hào về truyền thống của dân tộc. Lịch sử là chiếc nôi để các em hiểu biết và hướng về cội nguồn lịch sử dân tộc. Dạy học lịch sử không chỉ khơi dậy các nhân vật, sự kiện lịch sử mà làm tái hiện lại một cách sống động lịch sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử không thể tái hiện lại trước mắt học sinh ở trong phòng thí nghiệm hoặc trong thực tiễn mà thông qua việc tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra những biểu tượng về con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Dạy Lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết, nắm vững kiến thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam và thêm yêu mến tự hào về lịch sử dân tộc. Do vậy, việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi, tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ và mục đích của người giáo viên (GV) trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Môn Lịch sử nói chung, phân môn Lịch sử lớp 4 bậc Tiểu học nói riêng đều nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước (khoảng năm 700 trước công nguyên) đến năm 1858. Về nội dung chương trình môn lịch sử lớp 4. Với dòng thời gian kéo dài từ buổi đầu dựng nước (700 năm trước Công Nguyên đến đầu thời Nguyễn giữa thế kỉ XIX) được chia làm 8 giai đoạn, 26 sự kiện lớn, 22 mốc thời gian cụ thể, rất nhiều đời vua, nhiều tên nước và nhiều kinh đô khác nhau. Với thời lượng 1tiết/tuần của phân môn lịch sử. Nếu giáo viên chỉ đơn thuần dựa vào sách hướng dẫn học mà không nghiên cứu sâu về phương pháp giảng dạy thì học sinh khó có thể ghi nhớ được lượng kiến thức lớn như đã nêu. Mặt khác, thực tế hiện nay, học sinh ở các bậc học nói chung đều không yêu thích học môn Lịch sử mà thường dành nhiều thời gian cho việc học Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh. Nhiều năm gần đây, tình hình HS học và tiếp thu, ghi nhận những kiến thức Lịch sử của dân tộc, của đất nước khá hạn chế. Đặc biệt là kết quả thi của bậc học THPT còn quá thấp làm cho dư luận không khỏi băn khoăn suy nghĩ và đặt ra câu hỏi tại sao các em lại ngại, lại không thích học hay thờ ơ với Lịch sử dân tộc, thờ ơ với Lịch sử đất nước như vậy? Đây là nỗi đau, sự trăn trở của người thầy, cô trước vấn đề này. Trước thực trạng đó tôi đã rất trăn trở trong việc đổi mới phương pháp dạy học, làm thế nào để các em hứng thú trong học tập và nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử. Đó cũng chính là lí do thúc đẩy tôi chọn đề tài "Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4 theo mô hình dạy học mới VNEN" làm đề tài nghiên cứu. 1.2. Mục đích nghiên cứu: - Với đề tài này, tôi mong muốn được nâng cao nhận thức của bản thân về việc dạy học Lịch sử cho học sinh, tìm ra các biện pháp khắc phục tồn tại, khó khăn, giúp giáo viên soạn giảng linh hoạt, trên cơ sở đó giúp học sinh hình thành kỹ năng học Lịch sử hiệu quả. - Cung cấp những tri thức thực tiễn về tổ chức dạy học Lịch sử cho học sinh lớp 4. - Đề xuất một số biện pháp thực hiện dạy học Lịch sử cho học sinh lớp 4 theo hướng tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy môn Lịch sử lớp 4. 1.3. Phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 4. Phương pháp dạy, học môn Lịch sử ở lớp 4. 1.4 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp phân tích tổng hợp Phương pháp điều tra, quan sát Phương pháp trải nghiệm Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu Phương pháp nghiên cứu sản phẩm + Phương pháp đàm thoại - gợi mở. Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm 2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận. 2.1.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy học Lịch sử. Để có giờ dạy Lịch sử thành công, chúng ta cần hiểu rõ về đặc điểm nhận thức và quá trình tư duy của học sinh. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh là cơ sở nền móng của việc xây dựng các phương pháp dạy học lịch sử ở Tiểu học. Lịch sử vốn là một môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ. Chính vì thế, nhiệm vụ dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai. Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học còn non yếu, chưa đầy đủ, sâu sắc và chưa đạt đến trình độ tư duy khái quát cao nên việc trình bày và giảng dạy kiến thức phải hết sức đơn giản, nhẹ nhàng, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ. Đặc biệt, tư duy của các em luôn dựa trên các hình ảnh lịch sử cụ thể nên khi trình bày phải hết sức coi trọng việc tạo biểu tượng cụ thể. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thành năng lực học lịch sử cho học sinh Tiểu học. 2.1.2. Cơ sở sử học của việc dạy học Lịch sử trong trường Tiểu học. Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được thực hiện ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước. Đây là con đường giúp HS tiếp cận với tri thức mới, nhằm thay đổi cách dạy học truyền thống "thầy giảng - trò nghe, thầy đọc - trò chép". Theo quan điểm dạy học mới, dạy học là quá trình HS tự khám phá, tự tìm ra chân lí. Phương pháp dạy môn Lịch sử cũng không nằm ngoài định hướng đó. Đặc trưng nổi bật của nhận thức Lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ. Vì vậy nhiệm vụ tất yếu của dạy Lịch sử là phải tái hiện lại bức tranh Lịch sử, cho HS tiếp cận những thông tin từ sử liệu, các sự kiện, hiện tượng, nhân vật tiêu biểu - người thật, việc thật trong lịch sử, những chứng cứ, những dấu vết của quá khứ. Tạo ra ở HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các nhân vật, sự kiện Lịch sử mà vẫn phải đảm bảo tính chính xác, khoa học; tính tư tưởng chính trị; tính vừa sức; tính thực tiễn - học đi đôi với hành. Lịch sử không chỉ là môn học có tác dụng quan trọng trong việc phát triển trí tuệ mà còn giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho thế hệ trẻ. Nghị quyết Hội nghị TƯ 5 (khóa VIII) chỉ rõ: "Để nền giáo dục phát triển bền vững, xây dựng lớp thế hệ trẻ có đủ đức, tài thì bên cạnh các môn khoa học tự nhiên, cần coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý và Văn hóa Việt Nam". Nhưng trong thực tế, một bộ phận GV và cả HS vẫn còn những nhận thức chưa đúng về môn Lịch sử, xem nhẹ vai trò của Lịch sử, thờ ơ với môn học này dẫn đến chất lượng dạy và học không cao. Như vậy, muốn đào tạo con người phát triển toàn diện thì vấn đề cấp thiết là thay đổi cách dạy, cách học môn Lịch sử. 2.2. Thực trạng dạy - học Lịch sử ở trường Tiểu học. * Thuận lợi: Chương trình Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới Việt Nam gọi tắt là VNEN được phân chia theo từng giai đoạn hay gắn với từng triều đại lịch sử. Các đề mục trong sách giáo khoa đã được biên soạn sắp xếp thành một hệ thống khoa học, kênh hình, kênh chữ rõ ràng, màu sắc đẹp. Hình thức học thể hiện rất rõ nét, HS có thể tự điều hành lẫn nhau để tìm hiểu nội dung kiến thức. Sau mỗi bài đều có các bài tập vận dụng và có cả Hoạt động ứng dụng (Tìm kiếm sự hỗ trợ của người thân ) để củng cố, mở rộng kiến thức đã học Giáo viên được thực hiện mô hình dạy học mới VNEN nên đã quen dần với việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học của học sinh. Học sinh đã có ý thức hơn trong học tập, việc tổ chức các hoạt động học,chủ động tìm hiểu kiến thức thông qua logo hướng dẫn học, bước đầu có ý thức học hỏi, tìm tòi, khám phá về Lịch sử. * Khó khăn Về nội dung chương trình Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN cũng giống như chương trình trước đây nhưng cách chia nội dung bài theo sách VNEN thì mỗi bài học là được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thời lượng dành cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Sự liên kết về mặt thời gian của các triều đại trong từng giai đoạn còn chưa rõ ràng . Nội dung bài khá dài và dàn trải. Thiết bị dạy học phục vụ cho việc dạy học môn Lịch sử trong nhà trường còn nhiều hạn chế, thiếu tranh ảnh, mô hình, sa bàn, tư liệu Nhận thức, quan niệm của một bộ phận GV đặc biệt là phụ huynh còn xem nhẹ môn Lịch sử mà chỉ chú trọng vào các môn Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh. Vì vậy nên chưa đầu tư, quan tâm đúng mức vào chất lương dạy và học cho môn Lịch sử. Tình trạng GV khi dạy thường cắt xén thời gian, nội dung, chương trình còn HS học Lịch sử chỉ để đối phó vẫn còn xảy ra. Với HS lớp 4, môn Lịch sử là môn học hoàn toàn mới mẻ đối với chính các em,Trong khi muốn cho HS yêu thích, hứng thú với môn học lại phụ thuộc rất lớn vào GV, việc dạy môn Lịch sử không hấp dẫn, khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, tưởng tượng, khái quát hóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm mà các nhân vật, mốc lịch sử, sự kiện lịch sử lại nhiều nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách máy móc (nhanh nhớ nhưng lại mau quên). Kĩ năng đọc, kể, tường thuật của các em chưa lưu loát, do đó ảnh hưởng đến thời gian và tiến trình chung của môn học. Tinh thần hợp tác chưa cao, nhiều em chưa tự tin khi hợp tác trong nhóm, một số em còn thụ động, các em chưa biết cách theo dõi kênh chữ kết hợp kênh hình để tìm hiểu nội dung bài. Vì vậy, sau thời gian tiếp cận với môn học, tôi đã khảo sát HS và thu được kết quả như sau : Thời gian Kết quả đạt được Hoàn thành Tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Đầu năm học: 2021- 2021 Tổng số HS 4A(30 em) 3 10 19 63,6 8 26.4 Có thể thấy rằng, số HS thích học, tìm hiểu về Lịch sử đạt ở mức hoàn thành tốt kết quả chưa cao. Vẫn còn nhiều HS ở mức chưa hoàn thành. Vì vậy, việc hình thành kiến thức lịch sử để tiến tới bồi dưỡng lòng yêu nước, lòng tự tôn, tự cường dân tộc cho mỗi học sinh chính là cái đích của dạy lịch sử mà mỗi giáo viên mong muốn. Giáo viên cần phải có những biện pháp phù hợp để dạy Lịch sử cho học sinh. Đó cũng là lí do để tôi đưa ra các biện pháp áp dụng vào dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử 4. 2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4. 2.3.1. Biện pháp 1: Góp phần nâng cao nhận thức và quan điểm về môn học Lịch sử. Trên thực tế giảng dạy, tôi thấy môn Lịch sử chưa tìm được chỗ đứng xứng đáng trong nhà trường, số tiết vào loại ít nhất (1tiết/ tuần). Nội dung kiến thức dài và có phần cứng nhắc, HS ngại học.Vì vậy, phải có sự thay đổi mang tính cách mạng về quan niệm đối với môn Lịch sử. Phải xây dựng và hình thành quan niệm đúng đắn về vị trí và tầm quan trọng của môn Lịch sử từ các cấp quản lí giáo dục đến cha mẹ học sinh và toàn xã hội. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: "Thế hệ trẻ lớn lên qua nền giáo dục phổ thông mà không yêu mến lịch sử dân tộc, không có một vốn hiểu biết cần thiết về lịch sử và văn hóa dân tộc và nhân loại, không có một niềm tự tin dân tộc, thì làm sao có thể hoàn chỉnh được phẩm chất của người công dân Việt Nam. Từ đặc điểm đó, vấn đề được đặt ra là: * Đối với giáo viên: Phải luôn xác định rằng muốn các em học tốt môn Lịch sử thì giáo viên phải là người yêu thích Lịch sử, phải tự trang bị cho mình kho tàng kiến thức về lịch sử. Việc bồi đắp kho tàng này không bao giờ là đủ mà phải được thực hiện liên tục, thường xuyên suốt cuộc đời. Bởi vậy, tôi luôn tìm đọc những cuốn sách về lịch sử, những câu chuyện, bộ phim lịch sử, các tài liệu trên mạng internet để hiểu hơn về lịch sử dân tộc cũng như thế giới. Giáo viên có yêu lịch sử thì mới có thể truyền được tình yêu đó đến học sinh của mình bởi vì ở cấp tiểu học các em xem giáo viên như thần tượng, như một chuẩn mực để các em hướng đến, các em bắt chước, làm theo. Với mô hình trường học mới VNEN phương pháp dạy và học đã có sự thay đổi, học sinh được chủ động học tập, chủ động tìm hiểu kiến thức song các em chỉ máy móc làm theo câu lệnh của sách chứ thực ra cũng không hiểu hoặc không nắm được cách học, cách ghi nhớ. Do đó, giáo viên vẫn là người đóng vai trò rất quan trọng. Lời giảng,lời kể của giáo viên rõ ràng, truyền cảm sẽ gây được sự chú ý của học sinh. Giáo viên phải nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, tài liệu, nắm vững các kiến thức cơ bản cần truyền đạt, đảm bảo hệ thống kiến thức chính xác, từ đó có phương pháp giảng dạy thích hợp. Ví dụ: Nếu giải quyết chung một đề tài khó thì cần có sự đan xen về trình độ học sinh trong cùng một nhóm để các em hỗ trợ cho nhau. Nhưng cũng có lúc, tôi tạo điều kiện cho các em học sinh còn chậm, còn nhiều hạn chế cùng làm việc với nhau theo nhóm và dành riêng cho các em một đề tài dễ hơn . Đây cũng là lúc tôi phát huy vai trò của mình " Dạy học phân hóa đối tượng học sinh." Trong quá trình giảng dạy, tôi hướng dẫn học sinh khai thác nội dung bài học qua từng hoạt động học tập. Phân chia thời gian hợp lý. Có hình thức khen thưởng, khuyến khích học sinh tích cực phát biểu ý kiến, tham gia xây dựng bài, tránh tối đa hình thức xử phạt, la mắng làm học sinh tự ti mà thu mình lại . * Đối với học sinh: Phải thay đổi suy nghĩ về môn Lịch sử bởi đây chính là môn học giúp HS tìm về cội nguồn dân tộc. Đây cũng là môn học bổ trợ kiến thức cho các môn học khác. * Đối với phụ huynh: Thay đổi quan điểm, nhận thức Lịch sử chỉ là môn phụ nên không cần dành nhiều thời gian mà chỉ tập trung vào những môn cần thiết. Phụ huyngh phải thấy được trách nhiệm, vai trò của mình trong việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc từ đó giúp HS hiểu và có trách nhiệm với môn học, với chính bản thân mình. Ở tiểu học, phụ huynh có thể đọc sách cùng con, cùng tìm hiểu về các sự kiện, các trận đánh hay nhân vật, triều đại Lịch sử trên cơ sở định hướng, khắc sâu kiến thức và khơi gợi cho con ham thích tìm hiểu về Lịch sử nước nhà, từ đó sẽ yêu thích môn học hơn. 2.3.2.Biện pháp 2: Trên sơ sở nắm vững chương trình, nội dung dạy học Lịch sử lớp 4. Phân loại dạng bài và xác định những phương pháp dạy học phù hợp Các bài học Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN thì mỗi bài học là được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thời lượng dành cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Vì vậy, ở mỗi bài sẽ có sự vận dụng phương pháp dạy học cho từng tiết khác nhau. Do đó, GV cần xác định linh hoạt phương pháp dạy học cho từng nội dung kiến thức phù hợp. . a) Dạng bài có nội dung về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, tình hình kinh tế - chính trị, văn hóa- xã hội. Gồm các bài dạy: Bài 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng năm 700 TCN đến năm 179 TCN) - Tiết1: Nhà nước Văn Lang; Nhà nước Âu Lạc; Bài 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập - Tiết1: Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc; Bài 4: Nước Đại Việt thời Lý (Từ năm 1009 đến năm 1226) - (Tiết 1&2); Bài 5: Nước Đại Việt thời Trần. Bài 6: Nhà Hồ. Bài 8: Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê. Bài 9: Trịnh - Nguyễn phân tranh; Công cuộc khẩn hoang và sự phát triển của thành thị. Sau mỗi bài học HS nắm được: - Hoàn cảnh, địa phận, thời gian ra đời và tồn tại của nhà nước; tên vua, tên nước, nơi đóng đô, - Hiểu một cách đơn giản về tổ chức bộ máy nhà nước. - Biết được những nét chính về đời sống kinh tế, vật chất; văn hóa tinh thần của con người trong xã hội. - Vẽ hoặc mô tả đơn giản bộ máy chính quyền nhà nước. - So sánh ở mức độ thấp tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của các triều đại hoặc các giai đoạn lịch sử khác nhau. Học sinh có thái độ: Có ý thức tìm hiểu lịch sử dân tộc qua các triều đại thông qua phim ảnh, các câu chuyện lịch sử, Vấn đề cần lưu ý: Phải mô tả được tình hình nước ta như thế nào, tình cảnh đất nước, quan lại, chính quyền, cuộc sống nhân dân. Trong tình cảnh đó, chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào và kết quả của những việc làm đó. b) Dạng bài thứ 2: Dạng bài về các nhân vật Lịch sử gắn liền cuộc khởi nghĩa, các trận đánh. Gồm các tiết dạy: Bài 1: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành độc lập(Khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 (Tiết 2); Chiến thăng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo năm 938 (Tiết 3). Bài 3: Buổi đầu độc lập (Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất do Lê Hoàn chỉ huy). Bài 4: Nước Đại Việt thời Lý (cuộc kháng chiến chống quân Tống lần 2 (Lý Thường Kiệt). Bài 5: Nước Đại Việt thời Trần (cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên. Bài 7: Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời kì Hậu Lê (trận Chi Lăng). Bài 10: Phong trào Tây Sơn và vương triều Tây Sơn (Quang Trung đại phá quân Thanh). Vấn đề

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Khả Thi Nâng Cao Chất Lượng Môn Lịch Sử
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Công Nghệ
  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Sinh Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp Trong Dạy Học Môn Sinh Giúp Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh
  • Khi học sinh mới bước vào cấp II còn lạ lẫm với thầy cô mới, phương pháp học tập mới . Các em không còn được học tất cả bộ môn bởi một thầy cô mà thay vào đó là mỗi thầy cô phụ trách một bộ môn nhất định . Mỗi thầy cô có cách giảng dạy riêng, mỗi bộ môn có đặc thù riêng . Vì vậy các em chưa thích ứng ngay được, để giúp các em có thể nhanh chóng hòa nhập, phát huy tốt nhất khả năng của các em đối với môn lịch sử tôi đã hướng dẫn các em tìm các tài liệu như :

    • Tài liệu thành văn
    • Tài liệu tranh, ảnh
    • Tài liệu văn học dân gian
    • Các thuật ngữ, khái niệm lịch sử trong chương trình lớp 6 Ví dụ: “bộ lạc”, “di chỉ”….Một số thuật ngữ trong sách giáo khoa lớp 6 đã có giải thích nhưng cũng có một số thuật ngữ trong sách giáo khoa không có các em phải tự tìm hiểu ở các tài liệu khác .
    • Tài liệu nhân vật hay đồ phục chế . Như trống đồng, công cụ đồ đá.
    • Tài liệu trực quan quy ước gồm các loại bản đồ, đồ thị .

    Tôi đã thông báo cho các em chuẩn bị đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập và sách tham khảo . Để khơi dậy lòng ham học, ham hiểu biết của học sinh . Để học sinh có tài liệu tham khảo, tôi đã hướng dẫn cho các em tìm hiểu sách, báo hướng dẫn các em đến thư viện của nhà trường để mượn tài liệu ( trường THCS Trần Hưng Đạo đã có thư viện riêng và sách vở, tài liệu tham khảo cũng tương đối đầy đủ ) và có một phương tiện rất tiện dụng là mạng In tơ nét . Các em đã được tiếp xúc với môn tin học và các em có khả năng tự lên mạng để tìm hiểu thông tin .

    Để khắc phục tình trạng tự học không có kết quả, giáo viên phải hiểu tâm lí học sinh, vì các em vừa chuyển qua phương pháp học mới như mỗi môn một cô dạy riêng . Vì vậy giáo viên phải làm sao gây hứng thú cho học sinh học tập, tạo ra mục đích, động cơ học tập tiến bộ. Giáo viên, trước hết phải là người gợi mở, dẫn dắt và phải tạo được sự hứng thú trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Với một cô giáo nổi tiếng nghiêm khắc, hay la mắng các em khi các em không đạt yêu cầu thì đương nhiên khó có thể tạo hứng thú học tập cho các em, mà thay vào đó chỉ là tâm lý sợ sai mà các em luôn phải duy trì trong suốt giờ học. Một số giáo viên vì nhiều lí do khác nhau mà giảng dạy mãi một giáo án cũ đã sử dụng đi sử dụng lại qua nhiều năm học không dành thời gian đầu tư cho giáo án khiến tiết dạy hết sức nhàm chán . Vậy thì thay vì giảng dạy theo tuần tự bình thường, giáo viên có thể biến tiết học thành một vở kịch, một trò chơi với những hình ảnh, tình huống sống động, khiến học sinh quên cả giờ ra chơi .

    Các em cần nắm được những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa. Kiến thức cơ bản là yếu tố tối ưu cần thiết cho sự hiểu biết của học sinh về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc. Những kiến thức cơ bản đủ phác họa nên bức tranh quá khứ một cách chân thật. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tự học, tự nắm bắt kiến thức, phân biệt được lịch sử cụ thể từng thời kì, phản ánh được quy luật phát triển của xã hội .

    Khi học các em phải thật tập trung để nhớ bài học, không tập trung quá nhiều thời gian cho một môn học. Khi học bài nhớ theo trình tự “logic” .

    Ví dụ: Khi trình bày cuộc khởi nghĩa : Phải trình bày hoàn cảnh, nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm. Nhắc nhở các em khi học phải lưu ý các mốc thời gian ví như khi học khởi nghĩa Hai Bà Trưng : Thời gian dựng cờ khởi nghĩa là năm 40, thì thời gian kết thúc khởi nghĩa phải là từ năm 40 trở về sau, chứ không phải là thời gian trước đó.

    Đọc những mẫu chuyện về tấm gương anh hùng liệt sĩ trong công cuộc dựng nước và giữ nước, kể cho em hoặc bạn bè, người thân nghe về chuyện lịch sử để nhớ kiến thức như: Sơn Tinh, Thủy Tinh; Thánh Gióng; Tô Vĩnh Diện; Phan Đình Giót ; An Dương Vương với truyền thuyết nỏ thần…Đọc lịch sử Việt Nam bằng tranh.

    Làm bài tập về nhà: Mỗi học sinh chuẩn bị một sách bài tập lịch sử 6, không làm đáp án lên sách bài tập ngay mà làm vào giấy nháp: Ví dụ bài tập trắc nghiệm chọn đáp án A, nhưng thấy chưa chắc chắn thì ghi vào vở nháp, khi làm bài chỗ nào chưa nhớ, không rõ thì xem lại sách giáo khoa, biết chắc chắn đúng mới ghi đáp án vào sách bài tập, còn nếu là câu hỏi so sánh thì so sánh nháp sau đó mới ghi vào vở bài tập. Đồng thời rèn luyện cho mình trí nhớ để khi làm bài thi tự tin hơn.

    Mỗi học sinh cần chuẩn bị một cuốn sổ tay cá nhân để viết những sự kiện đáng nhớ vào sổ, tiện cho việc nhớ sự kiện.

    Ví như : Học đến bài 3 : Xã hội nguyên thủy . Học sinh có thể ghi một số mốc quan trọng như : Người tối cổ – Cách ngày nay khoảng 3-4 triệu năm .

    Người tinh khôn – Cách đây khoảng 4 vạn năm .

    Học đến phần Nước Văn Lang – Âu lạc . Học sinh có thể ghi lại một số kiến thức đáng nhớ: Hùng Vương lên ngôi vua đặt tên nước là Văn Lang đóng đô ở Bạch Hạc ( Việt Trì – Phú Thọ ) . Tướng văn là Lạc Hầu – Tướng võ là Lạc Tướng ( đứng đầu bộ ), Bồ chính đứng đầu Chiềng chạ .

    Thục Phán lên ngôi vua xưng là An Dương Vương đóng đô ở Phong khê ( nay là vùng Đông Anh – Hà Nội ) . An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa ở đây, thành Cổ Loa còn được coi là “quân thành” . …Đây là những kiến thức cơ bản đáng nhớ với cách ghi chép vắn tắt như vậy học sinh có thể ghi nhớ những kiến thức cơ bản quan trọng , khi cần thiết có thể lấy ra xem lại hoặc khi gặp các câu hỏi như : “Nêu những điểm giống nhau và khác nhau của nhà nước Văn Lang và nhà nước Âu Lạc ?” thì học sinh dễ hệ thống hóa kiến thức để trả lời .

    Khi các em thắc mắc về sự kiện, hiện tượng lịch sử cần giải quyết gấp thì điện thoại 1080 để được hỗ trợ, hoặc các em có thể vào truy cập ở trên mạng Internet…

    Đối với học sinh trung học cơ sở , không có nhiều điều kiện để các em có thể đi thực tế, bảo tàng…Do đó, việc sử dụng Internet để phục vụ cho việc học tập nói chung và việc học tập lịch sử nói riêng là rất cần thiết. Ngày nay công nghệ thông tin đã rất phổ biến học sinh ở cấp trung học cơ sở cũng đã có thể tự tìm hiểu được thông tin trên mạng.

    Nhưng muốn khai thác tốt thông tin trên mạng thì đòi hỏi giáo viên phải có sự định hướng và từng bước rèn luyện cho các em kĩ năng khai thác tài liệu từ phương tiện hiện đại này.

    Khác với giáo viên Tin học, giáo viên Lịch sử không thể trực tiếp chỉ dạy các em những thao tác trên máy mà thông qua việc dạy học bộ môn để rèn luyện kĩ năng cho học sinh để các em tự hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của chính mình. Muốn vậy, giáo viên có thể hướng dẫn các em khai thác thông tin trên mạng để từng bước rèn luyện kĩ năng cho học sinh.

    Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự học qua việc khai thác tài liệu trên mạng internet được hiệu quả, đỡ mất thời gian tìm kiếm, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những địa chỉ như sau:

    http://www. chúng tôi (trang công cụ tìm kiếm phổ biến nhất)

    http://www. chúng tôi (trang công cụ tìm kiếm Bách khoa toàn thư)

    http://www.edu.net.vn (trang web của BGD-ĐT)

    http://www. chúng tôi (trang công cụ tìm kiếm video clip)

    Bên cạnh đó để định hướng cho học sinh khai thác những thông tin đáng tin cậy, độ xác thực cao, không bị xuyên tạc, giáo viên phải hướng dẫn nên truy cập vào những trang web có kí hiệu đuôi: edu, org, vn, gov….

    Ngoài ra giáo viên có thể tổ chức và hướng dẫn học sinh giải các bài tập, câu hỏi trong sách giáo khoa . Đây là một hình thức làm bài tập chủ yếu trong tự học ở nhà của học sinh. Bởi các bài tập, câu hỏi trong sách giáo khoa chính là sự định hướng cho học sinh những kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm trong mỗi mục, mỗi bài hay mỗi chương . Hơn nữa, trong sách giáo khoa hiện nay, các bài tập không chỉ đơn thuần là các câu hỏi mang tính chất kiểm tra kiến thức mà chủ yếu là các bài tập đòi hỏi tính tư duy, sáng tạo của học sinh . Hoàn thành được các bài tập trong sách giáo khoa có nghĩa là các em đã lĩnh hội được những kiến thức cơ bản mà yêu cầu bài học đặt ra . Tuy nhiên, cái quan trọng là giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh để các em có thể tự làm bài tập ở nhà một cách có chất lượng . Cụ thể : giáo viên có thể tổ chức và hướng dẫn học sinh làm bài tập trong sách giáo khoa lịch sử khi tự học ở nhà theo trình tự sau :

    – Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc và nắm được nội dung cốt yếu của bài học trong sách giáo khoa .

    – Đọc và giải thích các tranh ảnh , sơ đồ , hình vẽ , bản đồ …trong sách giáo khoa .

    – Đối chiếu nội dung trong sách giáo khoa với nội dung bài giảng của giáo viên.

    – Sau đó mới trả lời các câu hỏi , bài tập .

    Học sinh trong quá trình tự học, thực hiện được các công việc trên sẽ khắc phục được tình trạng chỉ học thuộc hay chép lại sách giáo khoa và bài giảng của thầy cũng như tính thụ động, mất tự tin, thiếu sáng tạo trong học tập .

    Tổ chức và hướng dẫn học sinh làm một số bài tập do giáo viên đưa ra .

    Sau mỗi giờ lên lớp, nhằm giúp học sinh nắm vững được hệ thống kiến thức trong một bài hay trong một số bài hoặc một chương và rèn luyện kĩ năng tự học, tùy theo nội dung cũng như điều kiện học tập cụ thể , giáo viên có thể ra thêm một số câu hỏi và bài tập để học sinh tự làm ở nhà ( số lượng bài tập, nội dung phải phù hợp với yêu cầu và trình độ của việc học tập ) . Bài tập ra về nhà chủ yếu là các loại bài tập nhận thức hoặc bài tập rèn kĩ năng thực hành :

    Những câu hỏi, bài tập về nhà mà giáo viên ra thêm sau mỗi tiết học phải đảm bảo tính cơ bản về kiến thức, vừa sức và đặc biệt là phải chứa tính hấp dẫn, thu hút sự tích cực tìm hiểu, khám phá của học sinh. Bài tập đó phải tạo ra được sự nỗ lực trong bản thân các em . Và chủ yếu bài tập ra về nhà là những bài tập có tính phức tạp, đòi hỏi các em tư duy cao, do đó giáo viên phải hướng dẫn, và nếu được giáo viên hướng dẫn học sinh sẽ suy nghĩ và hoàn thành tốt, từ đó trình độ nhận thức của các em được nâng cao .

    Giáo viên không chỉ thường xuyên ra bài tập về nhà để nâng cao khả năng tự học của học sinh mà còn phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả làm bài tập ở nhà cho học sinh . Vì vậy giáo viên cần yêu cầu học sinh phải có vở bài tập, kiểm tra xem các em có làm bài hay không , kết quả đạt được ra sao và nhận xét đánh giá, cho điểm nhằm khuyến khích động viên kịp thời .

    Với các loại bài tập như vậy yêu cầu học sinh phải động não, tư duy, suy nghĩ, tự tìm tòi thêm các tài liệu khác để hoàn thành yêu cầu như vậy có tác dụng rất to lớn trong việc hướng dẫn các em tự học ở nhà .

    Với hình thức này học sinh được lôi cuốn vào hoạt động học tập, tiếp thu kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên. Học sinh tự học theo nhóm sẽ phát huy tính tích cực của học sinh mà tinh thần cơ bản là tập trung vào học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn, tạo cơ hội để các em tham gia tích cực, chủ động trong quá trình học tập.

    Ví như : Thay vì gọi nhóm trưởng lên trình bày ý kiến thì ai dơ tay nhanh nhất trong nhóm sẽ được trả lời trước ai trả lời nhanh nhất, đúng nhất sẽ được ghi điểm cao nhất rồi ai nhanh thứ hai , đúng thứ hai sẽ được điểm cao thứ nhì …

    Giáo viên có thể sử dụng một số phương pháp làm việc nhóm tích cực phù hợp với học sinh vùng khó như vùng của chúng ta , đó là sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để làm việc nhóm …

    Giáo viên nêu vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh nhằm tự lực giải quyết những vấn đề học tập, việc này đòi hỏi học sinh phải tập trung lắng nghe, theo dõi vấn đề mà giáo viên đưa ra để tiến hành hoạt động trí tuệ, tự lĩnh hội kiến thức nhờ vậy mà đảm bảo tính vững chắc của tri thức, học sinh tự suy nghĩ sáng tạo, có những kiến thức không có sẵn trong sách giáo khoa đòi hỏi học sinh phải liên tưởng, suy luận.

    Ví dụ: Để giải thích câu hỏi : Tại sao thì học sinh cần động não và trả lời: Khi dạy phần “Đời sống vật chất của cư dân Văn Lang”(Bài 13 – lịch sử 6), có thể tạo tình huống có vấn đề bằng cách nêu câu hỏi : ” Trong cuộc sống hàng ngày, cư dân Văn Lang ăn mặc và đi lại như thế nào? Hãy suy nghĩ xem cuộc sống đó có gì độc đáo?”. Phần này không có sẵn đáp án trong sách giáo khoa mà học sinh tự tìm tòi, suy nghĩ, sáng tạo để trả lời.

    Hoặc giáo viên có thể yêu cầu học sinh đặt mình vào một nhân vật lịch sử nào đó và yêu cầu học sinh nếu em là nhân vật thì em sẽ làm gì ?

    Ví dụ : Khi dạy xong bài Nước Âu Lạc giáo viên có thể hỏi học sinh ” Khi Triệu Đà xin hòa gả Trọng Thủy cho Mị Châu , Trọng Thủy đến Âu Lạc ở rể…”

    Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào kiến thức lịch sử và truyền thuyết hỏi học sinh trước tình hình như vậy ” Nếu em là An Dương Vương em sẽ làm gì …?”

    Với cách đặt vấn đề như vậy học sinh vừa được đặt mình vào nhân vật lịch sử, vừa tự đưa ra cách giải quyết riêng và vừa tự rút ra cho mình bài học kinh nghiệm lịch sử. Với cách làm việc như vậy giáo viên không cần làm việc nhiều , học sinh làm việc là chính không những vậy còn tạo hứng thú cho học sinh rất nhiều .

    Khi tổ chức cho học sinh giáo viên cần dẫn dắt để học sinh có thể hiểu rõ vấn đề. Phương pháp tự học bằng cách giải quyết vấn đề là phương pháp học sinh phải tiến hành hoạt động trí tuệ, tự lĩnh hội tri thức mới bằng cách giải quyết vấn đề học tập dưới sự giúp đỡ của giáo viên, góp phần phát triển tư duy cho học sinh.

    Ngày nay có một phương tiện dạy học hiện đại có tác dụng lớn trong việc tạo hứng thú cho các em trong dạy học đó là sử dụng giáo án trình chiếu được thiết kế trên các phần mềm như powerpoint, Violet, LectureMaker… , đối với môn Lịch sử giáo viên khéo léo sử dụng giáo án trình chiếu sẽ giúp các em tự học tốt hơn rất nhiều.

    Ví như dạy bài 21 khởi nghĩa Lí Bí . Nước Vạn Xuân (542- 602) giáo viên có thể lồng ghép đoạn phim hoạt hình nói về khởi nghĩa Lí Bí là đoạn phim “Vạn Xuân Chiến Quốc” sẽ tạo hứng thú cho học sinh rất nhiều và xem phim học sinh có thể khắc sâu kiến thức không chỉ những kiến thức có trong sách giáo khoa mà còn có thể bổ sung thêm kiến thức bên ngoài . Những đoạn phim hoạt hình này trên mạng in tơ nét rất dễ tìm kiếm. Hay dạy bài 27 Ngô Quyền và Chiến Thắng Bạch Đằng năm 938 giáo viên có thể đưa đoạn phim hoạt hình ” Đại chiến Bạch Đằng” hay dạy bài 17- 18 Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giáo viên có thể đưa đoạn phim hoạt hình “Trưng Nữ Vương” ( Tôi có cóp các đoạn phim hoạt hình ra đìa CD kèm theo trong sáng kiến kinh nghiệm). Với những đoạn phim hoạt hình này phù hợp với lứa tuổi của các em, kích thích các giác quan. Không chỉ giúp các em nắm kiến thức vững hơn còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm yêu quê hương, đất nước, căm thù quân xâm lược . Cần lưu ý giáo viên không nên đưa những đoạn phim quá dài sẽ chiếm nhiều thời gian của tiết dạy. Giáo viên cũng có thể cắt bớt những phần không cần thiết trước khi đưa vào giáo án trình chiếu . Để làm tốt việc này mỗi giáo viên chúng ta phải trau dồi thêm kiến thức tin học để phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy của mình .

    Hay khi dạy về Triệu Quang Phục và đầm Dạ Trạch giáo viên có thể trích một đoạn phóng sự giới thiệu về Đầm Dạ Trạch ngày nay. Như phóng sự “Câu chuyện đầm Dạ Trạch” qua phóng sự học sinh có thể quan sát được về khung cảnh đầm Dạ Trạch mặc dù chỉ là khung cảnh của ngày nay nhưng phần nào học sinh cũng sẽ nhận thấy được ưu thế của đầm mà sử dụng tranh thì không đem lại tác dụng tối ưu. Không những vậy học sinh còn tự nắm được về truyền thuyết của đầm không chỉ gằn liền với tên tuổi của Triệu Quang Phục mà còn gắn với truyền thuyết Tiên Dung – Chử Đồng Tử mà nếu chỉ sử dụng lời giảng của giáo viên dễ đem đến sự nhàm chán .

    Hay khi dạy bài 18 “Trưng vương và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán” giáo viên chiếu lược đồ : Kháng chiến chống quân xâm lược Hán . Với những kí hiệu, mũi tên quân ta, quân Hán có màu sắc đối lập rõ ràng dễ phân biệt, hiệu ứng sinh động rất hấp dẫn học sinh khi theo dõi diễn biến .

    Trước khi tường thuật diễn biến giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi lược đồ , giáo viên giới thiệu phần chú thích, sau đó chiếu đến đâu tường thuật diễn biến đến đó, trong quá trình tường thuật diễn biến kết hợp ra câu hỏi cho học sinh .

    Tháng 4 năm 42 quân Hán tấn công Hợp Phố . Quân ta ở Hợp Phố anh dũng chống trả rồi rút lui . Giáo viên chiếu vị trí Hợp Phố sử dụng kí hiệu để học sinh dễ nhận biết vùng hợp phố . Sau đó giáo viên hỏi học sinh : ” Sau khi quân Mã Viện chiếm được Hợp Phố chúng đã tiến vào nước ta như thế nào ?”. Sau khi học sinh trả lời giáo viên tiếp tục tường thuật : Mã viện chia quân làm 2 đạo thủy – bộ tiến vào Giao chỉ . Đạo quân bộ men theo bờ biển , qua Quỷ Môn Quan ( Tiên Yên – Quảng Ninh ), rồi xuống Lục Đầu . Đạo quân thủy từ Hợp Phố vượt biển vào sông Bạch Đằng , rồi ngược lên vùng Lục Đầu , hai cánh quân thủy – bộ hợp nhau tại Lãng Bạc . Giảng đến đâu giáo viên chiếu trên lược đồ đến đó để học sinh dễ theo dõi . Sau đó giáo viên lại hỏi : ” Lúc này quân ta đã làm gì?”- Học sinh trả lời giáo viên giảng tiếp : Hai Bà Trưng kéo quân từ Mê Linh đến vùng Lãng Bạc để nghênh chiến . Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt . Giáo viên có thể khắc sâu cho học sinh bằng một số câu hỏi: “Lãng Bạc là vùng đất như thế nào? Tại sao Mã Viện lại nhớ về vùng đất này như vậy ? Có phải vì thời tiết ở đây quá khắc nghiệt hay không?” Sau khi học sinh trả lời xong giáo viên giảng tiếp kết hợp trình chiếu trên lược đồ : Thế giặc mạnh ta phải lui về giữ Cổ Loa và Mê Linh Mã Viện đuổi theo ráo riết, ta phải lui về Cấm khê, quân ta kiên quyết chống trả . Tháng 3 năm 43 Hai bà Trưng hi sinh ở Cấm Khê . Sau bài dạy giáo viên có thể củng cố lại bằng cách cho học sinh trình bày lại diễn biến trên lược đồ trình chiếu .

    Như vậy với việc giáo viên vừa trình bày diễn biến vừa ra câu hỏi cho học sinh kết hợp với sử dụng lược đồ trên máy chiếu sẽ kích thích các giác quan của học sinh vừa nghe – nhìn – suy nghĩ tránh lối truyền thụ một chiều, gây hứng thú cho học sinh, nâng cao khả năng tự học.

    Lịch sử với tư cách là một môn khoa học có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh không chỉ lòng yêu nước, lòng biết ơn, mà còn giáo dục học sinh tình cảm yêu ghét, yêu cái đẹp, yêu lao động, căm thù quân xâm lược . Những câu chuyện lịch sử phù hợp với cách tổ chức dạy học phù hợp có tác dụng rất to lớn trong việc giáo dục đạo đức học sinh không những vậy còn tạo ra một động lực mạnh mẽ để các em phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo, trong quá trình học tập nhằm vươn tới nắm bắt kiến thức, biến kiến thức trong sách vở, kiến thức của thầy cô thành kiến thức của mình .

    Những câu chuyện lịch sử nhìn chung thường có nội dung về những sự kiện, hiện tượng lịch sử, những nhân vật lịch sử … Thông qua những câu chuyện ấy bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp trong tâm hồn ngây thơ, trong trắng của các em, những mẩu chuyện hay sẽ tạo được ấn tượng mạnh mẽ , sâu sắc, khó quên giúp các em có thể nhớ rất lâu về một sự kiện lịch sử nổi bật, về một nhân vật anh hùng …

    Giáo viên có thể tổ chức cho các em thi bằng cách chia lớp làm 4 đội, giáo viên tự đặt tên cho mỗi đội, phân cho mỗi đội kể chuyện về một nhân vật lịch sử hoặc một thời kì lịch sử.

    – Giáo viên hướng dẫn các em sưu tầm tài liệu để học sinh có thể kể tốt hơn. Hoặc giáo viên có thể chuẩn bị sẵn nội dung và yêu cầu học sinh kể chuyện.

    – Giáo viên yêu cầu tất cả học sinh của tổ mình phải sưu tầm tài liệu và khi kể chuyện gọi bất kì học sinh nào lên kể. Sau tiết học giáo viên có thể ra thêm câu hỏi thu hoạch cho học sinh

    – Hình thức thi: Mỗi đội sẽ kể 1 đến 2 câu chuyện về nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.

    – Cách chấm điểm dựa vào nội dung, giọng kể, điệu bộ, cử chỉ. Nếu tốt sẽ đạt điểm tối đa là 10 điểm.

    – Đội nào thắng nhất : được thưởng 4 gói kẹo, nhì: 3 gói, ba: 2 gói, tư : 1 gói.

    Làm như vậy học sinh sẽ lĩnh hội được kiến thức, tạo lòng ham học cho học sinh.

    Giáo viên có thể căn cứ vào chương trình lịch sử lớp 6 các em đã học cung cấp một số nội dung câu chuyện phù hợp chương trình học, có tính giáo dục cao, lượng kiến thức lịch sử trong các câu chuyện phù hợp với nội dung học tập của các em . Rồi giao cho các đội về nhà tìm hiểu nội dung để sau khi kể xong giáo viên ra câu hỏi thu hoạch cho các đội để kiểm tra lại sự hiểu biết của các em, xem qua các câu chuyện đó các em nắm được những gì . Như một số câu chuyện sau :

    Thục An Dương Vương bãi chức tướng quân Cao Lỗ .

    Một lần Thục An Dương Vương hỏi tướng quân Cao Lỗ, người thiết kế và chỉ huy công trình xây thành Cổ Loa :

    – Mấy năm nay nhà Triệu với Âu Lạc giao hảo thuận hòa . Nay con trai họ là Trọng Thủy muốn cầu hôn với Mị Châu, ông nghĩ thế nào ? Riêng ta muốn chấp nhận lời cầu hôn cốt để hòa hiếu , tránh nạn binh đao?

    Cao Lỗ suy nghĩ hồi lâu rồi tâu :

    – Việc này hệ trọng lắm , xin Vương Thượng cho nghĩ ba ngày .

    Về nhà , Cao Lỗ suy nghĩ băn khoăn lắm . Ý vua An Dương Vương đã rõ, nếu không chấp thuận, có thể bị bãi chức . Nếu đồng tình thì vận nước có cơ nguy .

    Mấy hôm sau vào chầu vua . Cao Lỗ tâu :

    – Xưa nay chưa thấy kẻ bại trận lại xin cho con trai ở gửi rể . Chẳng qua họ muốn biết cách bố phòng của Loa Thành mà thôi . Việc ngàn lần không nên .

    Thục An Dương Vương bỗng nổi giận :

    – Nhà Triệu đánh mãi Âu Lạc không thắng , muốn mượn câu chuyện cầu hôn để xí xóa hiềm khích, ta lẽ nào không thuận ? Ông già rồi, ta cho ông về nghỉ .

    Cao Lỗ không ngạc nhiên . Vốn điềm đạm, ông chỉ nói :

    – Việc đúng sai còn có vầng nhật nguyệt soi sáng , thần không ân hận khi nói điều phải .

    Vì không nghe lời can của Cao Lỗ , An Dương Vương đã mắc mưu giặc khiến cho vận nước tan tành .

    Lấy được Âu Lạc, nhà Triệu sát nhập quận Nam Hải với Âu Lạc thành nước Nam Việt .

    Vốn là người quỷ quyệt, lại rút được nhiều kinh nghiệm trong việc thống trị người nam Việt, cho nên Triệu Đà đã dùng chính sách hiểm độc gọi là ” Dĩ di công di”, tức là chính sách dùng người Việt trị người Việt . Triệu Đà vẫn giữ nguyên quyền vị cho các Lạc Tướng , dùng họ để cai trị nhân dân Âu Lạc . Triệu Đà chỉ đặt một số ít quan lại và một số quân đồn thú để kiềm chế các lạc tướng và đốc thúc họ nộp phú cống , mục tiêu chủ yếu của cuộc xâm lược lúc đó .

    Theo sách Các triều đại Việt nam .

    Tại sao An Dương Vương thất bại trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà? Qua câu chuyện em có suy nghĩ gì về Cao Lỗ? …

    Năm Nhâm Tuất (722) đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu nổ ra cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan . Mai Thúc Loan quê ở Mai Phụ, Thạch Hà, Hà Tĩnh . Thủa nhỏ, nhà ông nghèo lắm, ông có nước da đen sạm xấu xí . Nhưng ông đã sớm bộc lộ thiên tư thông minh, sáng ý kì lạ và có sức khỏe tuyệt vời .

    Châu Hoan ngày ấy chịu ách thống trị tàn bạo của nhà Đường, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ . Đặc biệt là nạn cống nộp “quả lệ chi” ( quả vải) , thời đó vua Dường có một nàng ái phi nhan sắc tuyệt vời mà tính tình cũng thất thường . Dương quý phi thích ăn quả lệ chi xinh xắn, chỉ ở An Nam mới có . Nên vua Đường bắt dân An Nam phải cống Vải .

    Mùa vải năm Nhâm Tuất (722), Mai Thúc Loan cùng đoàn phu phải gánh vải đi cống nộp. Đoàn người gánh vải đầm đìa mồ hôi mà vẫn phải lê từng bước trên đường . Gần trưa , mọi người nghỉ chân ở bên rừng . Cái khát cháy cổ hành hạ đoàn phu . Một dân phu có tuổi bứt lấy một quả ăn cho đỡ khát . Quả Vải chưa kịp đưa lên miệng đã bị một tên lính Đường đi áp tải xông tới, vung cán mã tấu đánh vào đầu . Khi tên lính Đường lần nữa định đánh ông già , thì hắn đã bị đánh chết tươi . Sự việc xảy ra nhanh như chớp . Bọn giặc cậy có vũ khí hò hét vung đao , kiếm xông vào Mai Thúc Loan . Nhưng những người dân phu theo lệnh Mai Thúc Loan , đã rút đòn gánh chống lại . Lũ giặc không địch nổi đoàn dân phu đều phải đền tội . Đánh tan lũ giặc Đường trong một cơn phẫn nộ . Mai Thúc Loan thổi bùng lên khí thế chống giặc .

    Vị thủ lĩnh trẻ được tôn thành vị anh hùng, đã hiệu triệu trăm họ hưởng ứng nghĩa lớn và chọn Rú Đụn ( Hùng Sơn ) làm căn cứ .

    Mai Thúc Loan phát hịch kể tội giặc Đường và kêu gọi người Việt đứng lên giữ gìn non sông . Từ căn cứ Hùng Sơn , Mai Thúc Loan mở rộng địa bàn , xây thành Vạn An với quy mô của một kinh thành . Từ đây Mai Thúc Loan tìm cách liên kết với các thủ lĩnh, nhân dân miền núi, với Chăm Pa để có thêm lực lượng chống quân Đường . Mai Thúc Loan được nhân dân tôn làm Hoàng đế lấy hiệu là mai Hắc Đế ( Vua đen họ Mai). Sau đó, Mai Thúc Loan đã chiếm được phủ thành Tống Bình ( Hà Nội ) , đuổi tên trùm đô hộ Quang Sở Khách phải tháo chạy . Đất nước được giải phóng .

    Nhưng lúc này nhà Đường còn mạnh . Vua Đường huy động 10 vạn quân sang đàn áp . Mai Hắc Đế phải rút vào rừng , sau bị ốm rồi mất . Quân Đường tàn sát nhân dân ta vô cùng dã man . Tội ác của giặc chỉ làm tăng thêm lòng căm thù quân xâm lược .

    Nhân dân nhớ ơn Mai Hắc Đế, lập đền thờ, đề thơ ca ca tụng ông :

    Hùng cứ Hoan Châu đất một vùng .

    Vạn An thành lũy khói hương xông .

    Bốn phương Mai Đế lừng uy đức

    Trăm trận Lí Đường phục vò công

    Đường đi cống vải từ đây đứt

    Dân nước đời đời hưởng phúc chung .

    (Theo sách Các triều đại Việt Nam )

    Vì sao Mai Thúc Loan kêu gọi mọi người khởi nghĩa? Cuộc khởi nghĩadiễn ra như thế nào? Câu chuyện để lại cho em suy nghĩ gì? …

    Giáo viên cũng chia lớp thành 4 nhóm, giao nhiệm vụ về nhà tìm hiểu về một thời kì lịch sử nào đó như thời Văn Lang – Âu Lạc, các em có nhiệm vụ tìm hiểu về trang phục của thời kì này, mỗi nhóm các em tự thiết kế trang phục của thời kì này và mỗi nhóm tự đóng một vở kịch ngắn về thời kì này các em có thể tự sáng tạo ra vở kịch dựa vào kiến thức lịch sử hoặc lấy nội dung các câu chuyện truyền thuyết để làm vở kịch của nhóm mình như Sơn Tinh – Thủy Tinh, Thánh Gióng, Mị Châu – Trọng Thủy….Trang phục các em thiết kế sao cho phù hợp với vở kịch của mình .

    Yêu cầu về trang phục không cần phải làm bằng những chất liệu đắt tiền, không cần phải đặt may, các em có thể tự làm trên những chất liệu sẵn có, dễ làm như: Làm bằng giấy tô ki, bìa cát tông hay các loại bao Li lông … các em tự thiết kế , cắt dán …

    Với cách làm này học sinh tự tìm hiểu kiến thức, tự lĩnh hội kiến thức, rèn năng lực độc lập làm việc, khả năng sáng tạo được phát huy, giúp củng cố kĩ năng làm việc nhóm , tạo sự đoàn kết, gắn bó . Tổ chức dạ hội có tác dụng củng cố, làm sâu sắc, phong phú thêm nhiều tri thức khoa học và nghệ thuật, khơi dậy những cảm xúc làm cơ sở để giáo dục tình cảm, bồi dưỡng óc thẩm mĩ, gây hứng thú học tập bộ môn.

    Thông thường giáo viên không xem trọng vấn đề này, trong quá trình đi dự giờ, tôi thấy đa số giáo viên đi lướt qua phần củng cố này. Củng cố bài thường là câu hỏi đã có sẵn ở mục bài, học sinh sẽ đọc y nguyên nội dung trong mục đó. Nên hiệu quả học không cao.

    Giáo viên cần hướng dẫn học sinh củng cố bài bằng cách làm bài tập trắc nghiệm, hoặc giải ô chữ, bài tập ghép đôi, chơi trò chơi, sử dụng sơ đồ tư duy …

    Giáo viên gọi bất kì học sinh nào lên làm bài tập, hoặc gỡ ô chữ, ghép đôi mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn, học sinh khác nhận xét, giáo viên chốt lại. Như vậy học sinh sẽ rèn luyện được ý thức tự học.

    Ví dụ sau khi dạy xong bài 6 Văn hóa cổ đại giáo viên có thể đưa ra một sơ đồ tư duy sau yêu cầu học sinh hoàn thành. Giáo viên sẽ đưa ra sơ đồ chỉ có những nhánh chính, còn những nhánh nhỏ bỏ trống ở sơ đồ này có 2 nhánh lớn , mỗi nhánh lớn có 4 nhánh chính để định hướng cho học sinh, sau đó giáo viên gợi ý bằng những câu hỏi .

    Ví như: Người phương Đông cổ đại đã đạt được những thành tựu gì về thiên văn ?

    Hay người Hi Lạp , Rô ma cổ đại đã đạt những thành tựu gì về thiên văn ?

    Học sinh trả lời , giáo viên đưa ra những nhánh tiếp theo để học sinh theo dõi . Nếu giáo viên dạy không có giáo án trình chiếu giáo viên nên che lại những nhánh nhỏ, sau khi học sinh trả lời mới mở ra , còn nếu dạy giáo án điện tử thì thuận tiện hơn, giáo viên nên dùng hiệu ứng cho thích hợp .

    Tương tự như vậy đối với các thành tựu khác : Chữ viết , kiến trúc …Giáo viên dùng các câu hỏi gợi mở để học sinh tìm hiểu .

    Với cách củng cố bài như vậy học sinh sẽ nắm bài một cách tổng quát, tự lĩnh hội kiến thức, khi về nhà học bài cũ tránh được tình trạng học vẹt ở các em .

    Ví như : Khi học bài Nước Văn Lang dạy về phần tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang giáo viên chỉ cần yêu cầu học sinh vẽ lại sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang và tự nắm kiến thức theo sơ đồ. Và có thể dựa vào sơ đồ này để học sinh vẽ được sơ đồ nhà nước thời An Dương Vương . Từ đây học sinh có thể nêu nhận xét so sánh về tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang Và Âu Lạc . Để hướng dẫn học sinh nắm kiến thức theo sơ đồ giáo viên có thể hỏi một số câu hỏi gợi ý như : “Đứng đầu nhà nước là ai ?” “Giúp việc cho vua là ai?” “Dưới cấp trung ương là cấp nào? Ai đứng đầu?”…

    Kênh hình phong phú đa dạng như vậy đòi hỏi giáo viên phải sử dụng linh hoạt, sáng tạo, hướng dẫn học sinh về nhà tìm hiểu những nội dung đó để các em có biểu tượng ban đầu về sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử…Thể hiện trong kênh hình. Tuy nhiên đây là việc khó khăn với học sinh. Nên giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh quan sát.

    Thông thường kênh hình nói chung và hình vẽ tranh ảnh nói riêng được trình bày với tư cách là nguồn cung cấp thông tin, kiến thức được kèm theo câu hỏi để học sinh tự làm việc với sách giáo khoa dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Nhằm rút ra những kiến thức lịch sử nhất định.

    Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát từ tổng thể đến chi tiết, kết hợp mô tả, phân tích, đàm thoại qua hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh tự rút ra những kết luận. Giáo viên có thể tổ chức cho các em làm việc cá nhân, theo nhóm hoặc cả lớp.

    Ví dụ : Khi xem bức tranh Kim tự tháp Ai Cập giáo viên giảng một số ý : “Kim tự tháp là một khối đá hình tháp, hàng ngàn người đã được huy động mang những tảng đá lớn từ dãy A – ráp tới sông Nil, hàng triệu tảng đá được ghè đẽo, mài nhẵn, chồng xếp lên nhau không có một loại vật liệu kết dính nào”. Sau đó giáo viên có thể hỏi :

    “Em có suy nghĩ gì qua công trình kiến trúc này?” học sinh sẽ nhận thức được đây là một công trình kiến trúc vĩ đại, thể hiện tài năng, năng lực của con người thời kì bấy giờ, và các em sẽ thêm thán phục và biết quý trọng những người đã làm ra nó .

    Ví như : Khi quan sát bức tranh hình 8 SGK sử 6 sách giáo khoa có câu hỏi ” Em hãy miêu tả cảnh làm ruộng của người Ai Cập ?”. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát : ” Hàng dười từ trái sang phải người nông dân đang làm gì ? Hàng trên từ phải sang trái người nông dân đang làm những việc gì ?” học sinh sẽ tự miêu tả nhận xét được cảnh làm ruộng của người Ai cập cổ đại dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh sẽ tự làm việc với sách giáo khoa .

    Bên cạnh kênh hình có sẵn trong Sách giáo khoa giáo viên có thể bổ sung thêm một số hình ảnh từ phòng thiết bị của nhà trường hoặc nếu dạy máy chiếu thì rất thuận tiện.

    Ví như : Khi dạy bài 24 : Nước Chăm Pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X, Sách giáo khoa có yêu cầu học sinh ” Quan sát hình 53, nhận xét về nghệ thuật kiến trúc của người Chăm ?” . Hình ảnh 53 SGK được chụp rất xa và mờ chỉ có 2 màu đen – trắng nếu yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét thì rất khó khăn cho học sinh . Vì vậy giáo viên có thể bổ sung thêm cho học sinh một số hình ảnh khác từ phòng thiết bị của nhà trường hoặc dùng máy chiếu như một số hình sau :

    Như vậy chúng ta thấy các hình trên vừa rõ nét vừa có màu sắc học sinh sẽ thấy rõ được đường nét điêu khắc, kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc độc đáo, tài tình thể hiện được bàn tay khối óc và tâm hồn của người Chăm . Bên cạnh việc học sinh quan sát hình cùng với sự hướng dẫn của giáo viên chắc chắn học sinh sẽ lĩnh hội tri thức tốt hơn.

    – Giáo viên nên chia lớp làm 4 tổ

    – Chia bảng làm 4 phần bằng nhau

    – Hình thức thi : Giáo viên gọi bất kì học sinh trong tổ lên bảng, sau đó giáo viên ra câu hỏi, giám sát kĩ, không cho các tổ nhìn nhau, tổ nào nhắc bài sẽ trừ điểm. Đại diện 4 tổ lần lượt lên bảng. Mỗi lần lên bảng là mỗi tổ một em, trả lời cùng một câu hỏi.

    – Giáo viên ra câu hỏi nhanh , mỗi tổ trả lời nhanh, đúng sẽ ghi được một điểm cho tổ đó. Nếu các thành viên của tổ lên trả lời sai thì những thành viên ở dưới ai dơ tay phát biểu nhanh sẽ dành được quyền trả lời, nếu đúng sẽ ghi điểm cho tổ đó.

    – Giáo viên lần lượt ra câu hỏi và gọi từng thành viên lên trả lời.

    – Cách ghi điểm: Mỗi tổ trả lời đúng 1 câu sẽ ghi được một điểm, khi gần kết thúc giờ học giáo viên tổng hợp điểm và cho tổ thắng phạt tổ thua : Có thể là hát một bài hát mà tổ thắng cuộc yêu cầu, có thể là múa một điệu phụ họa cho bài hát mà tổ thắng hát. Các thành viên ở dưới cổ vũ, động viên tinh thần trả lời cho đại diện tổ mình.

    Việc tổ chức cho học sinh thi giữa các tổ như vậy sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh, các em sẽ hứng thú học và rất thích được thể hiện mình, kết quả mỗi tiết làm bài tập như vậy học sinh sẽ nhớ kiến thức được lâu hơn.

    Qua hướng dẫn học sinh tiết làm bài tập, học sinh sẽ hiểu và nhớ lâu vấn đề, sự kiện.

    Bên cạnh đó cách ra đề kiểm tra cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh. Đề kiểm tra không nên rườm rà , khó hiểu, mà phải rõ ràng, để học sinh không sa đề. Nhất là đề trắc nghiệm, vì thời gian làm bài của các em có hạn.

    Ở lớp, không phải giáo viên nói gì là các em ghi hết vào, hoặc chép lại ý chính trong sách giáo khoa . Mà học sinh cần học theo ý hiểu của mình, tiếp thu có chọn lọc, không rập khuôn theo thầy dạy, biến kiến thức của thầy thành kiến thức của trò, có kết hợp hài hoà việc tự học ở lớp và ở nhà thì kết quả sẽ cao hơn .

    Trẻ em muốn phát triển tốt cần có sự kết hợp của 3 yếu tố ” Gia đình – Nhà trường- xã hội”, trong đó yếu tố gia đình là quan trọng nhất “gia đình là tế bào của xã hội” mỗi gia đình tốt sẽ tạo tâm lí tốt cho đứa trẻ khi đến trường , khi ra ngoài xã hội . Vì vậy muốn học sinh học tập tốt trước hết giáo viên cần lưu ý phối hợp tốt giữa giáo dục nhà trường và gia đình để việc tự học của các em có kết quả, cần kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm, kịp thời thông báo việc học tập của học sinh cho phụ huynh nắm để phụ huynh theo dõi, uốn nắn, phụ huynh chuẩn bị đầy đủ sách vở, tài liệu học tập, tạo thời gian cho các em học tập. Giáo viên cần nắm được tâm tư nguyện vọng của học sinh cũng như gia đình các em . Cần tìm hiểu kĩ càng hoàn cảnh gia đình của mỗi học sinh, để từ đó có biện pháp tốt nhất trong giáo dục các em . Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình đặc biệt giáo viên cần quan tâm nhiều hơn, động viên nhắc nhở kịp thời , thường xuyên liên lạc với phụ huynh để kịp thời uốn nắn các em khi có biểu hiện lơ là, ham chơi, chểnh mảng việc học hành . Có kết hợp như vậy thì việc học của học sinh mới cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học Sang Kien Lanh Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Thể Dục Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Thiện Mỹ A
  • Một Vài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Bài Tham Luận Môn Thể Dục Cấp Thcs
  • Một Số Biện Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 8
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • I. MỞ ĐẦU:

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hội

    Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồn

    lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luôn

    được xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chất

    lượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiện

    nay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đã

    đề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thông

    minh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.

    Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng

    giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dục

    tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

    và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp

    tục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm

    một vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thông

    minh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành và

    phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò

    hết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,

    là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng

    hoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

    được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến

    thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập

    một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài

    tập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinh

    không đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh

    khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học

    sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà

    còn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.

    Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được

    nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.

    Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốt

    nhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp

    một nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môn

    toán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất

    lượng dạy – học môn toán lớp 1″.

    1

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ở

    trường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương pháp

    dạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1

    trong nhà trường.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểu

    học Đông Vệ 1.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

    – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

    – Phương pháp điều tra thống kê.

    – Phương pháp so sánh, đối chiếu.

    – Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

    2

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận :

    Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

    đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽ

    phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói

    quen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đã

    được nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểu

    học của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thức

    toán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫn

    như quan điểm và tư tưởng nhận thức.

    Nhiệm vụ của người giáo viên

    Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo

    dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản

    lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt

    động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.

    Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:

    Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)

    Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.

    Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình

    tam giác, hình tròn.

    Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.

    Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ

    cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn

    trước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:

    + Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết

    thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng và

    phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần

    lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn

    thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.

    + Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số

    trong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài các

    đoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,

    hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biết

    diễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài

    tập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoá

    trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.

    Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1

    3

    – Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưa

    thật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV còn

    máy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: que

    tính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinh

    nhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiến

    thức.

    – Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi học

    môn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt còn

    chưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏi

    để hỏi bạn, HS còn lúng túng.

    – Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức áp

    dụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dập

    khuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rung

    chuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    Ngay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đối

    tượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đình

    cũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quả

    điều tra cụ thể như sau:

    42

    Hoàn cảnh học sinh

    Con gia đình cán bộ

    Con gia đình lao động tự do

    Con gia đình công nhân

    SL

    %

    Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy được

    những thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:

    * Thuận lợi:

    Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làm

    quen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thành

    lập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thư

    viện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,

    xử lí tình huống trong nhóm.

    Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiều

    hình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

    5

    3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.

    – Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu

    bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,

    không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt

    động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

    thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt

    chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,

    tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như

    tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo

    thói quen cho học sinh.

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10

    que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính

    cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm

    kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng

    sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học

    yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có

    thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể

    cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng

    nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ

    nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh

    luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc

    sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì

    học sinh mới hiểu được.

    7

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong

    phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công

    thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9

    3+6=9

    1+8=9

    6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập

    thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học

    sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,

    hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    * Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng

    lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử

    dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt

    động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính

    toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.

    4. Nói ít, tránh nói nhiều.

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh

    hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà

    trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những

    hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát

    hiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan

    tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn

    khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    8

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực

    quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp

    dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ

    kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc

    HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được

    trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy

    nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích

    chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác

    tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui

    vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các

    em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực

    quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp

    học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò

    chơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt

    động nhóm …

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường

    học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ

    30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,

    hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển

    thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,

    tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất

    cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những

    thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội

    đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

    Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượng

    giờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi để

    được học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xây

    dựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắc

    kiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanh

    nhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sát

    được nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:

    9

    1C

    42

    THỜI ĐIỂM KIỂM TRA

    KẾT QUẢ

    Cuối kỳ I

    10

    Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2021

    Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

    viết, không sao chép nội dung của người khác.

    Người thực hiện

    Hồ Thị Mai

    11

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    I. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    2. Mục đích nghiên cứu

    3. Đối tượng nghiên cứu

    4. Phương pháp nghiên cứu

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận

    2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 1

    3.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.

    3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp

    dạy học.

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ

    dùng trực quan.

    3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt

    hơn.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    2. Kiến nghị

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: “Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây.

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN I/ Mở đầu: Việc nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu không thề thiếu được trong công tác dạy học. Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: "Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây. II/ Nội dung: 1/ Hoạt động xây dựng chuyên môn: - Xây dựng ý thức trách nhiệm, tinh thần tự học tự rèn. - Chú trọng công tác dạy tốt, học tốt , nâng cao chất lượng đại trà. - Sinh hoạt tổ chuyên mônthống nhất chương trình dạy học trong tuần (1 lần/ tuần ). - Soạn kế hoạch bài học phải xác định trọng tâm bài dạy và chuẩn kiến thức cần truyền đạt. - Luôn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với các dạng bài. - Chuẩn bị đầy đủ tranh ảnh, đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy. - Tìm thêm các ví dụ, câu hỏi, nhiều cách giải hay gợi sự chú ý học tập của học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức nhanh hơn. 2/ Hoạt động trên lớp: a. Khi đứng lớp: - Tình bày bảng nên sử dụng phấn màu, ghi đủ nội dung kiến thức cần truyền đạt, dùng phấn gạch dưới kiến thức trọng tâm, đóng khung kiến thức công thức cần nhớ. - Quan sát theo dõi sự tiếp thu bài học của các em. - Tùy theo kiến thức cần truyền đạt, trình độ của học sinh mà vận dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Luôn tạo sự thoải mái khi các em học toán với nhiều trò chơi học tập như: Thi đua giải toán nhanh, sắp xếp nhanh các hình theo yêu cầu,tổ chức thi đua nhóm đôi, thi đua nhóm 4 học sinh, thi đua theo tổ. b. Giờ dạy lý thuyết: - Chú trọng hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức cần bài học. - Biết vận dụng lý thuyết vừa học vào một số các bài tập đơn giản. - Hướng dẫn học sinh học thuộc lý thuyết. c. Giờ dạy luyện tập: - Giúp học sinh vận dụng thành thạo lý thuyết vào bài học một cách hợp lí. -Qua việc giải bài tập đó học sinh rút ra được kinh nghiệm về phương pháp giải toán. d. Nếu là tiết kiểm tra: - Đề kiẻm tra vừa sức với trình độ học sinh, có câu phát triển dành cho học sinh khá giỏi. - Chấm, trả bài, chữa bài kịp thời. - Đánh giá chính xác chất lượng học tập của học sinh. - Quan tâm dến các học sinh làm bài quá kém ( Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học kém ) 3/ Hoạt động dạy ngoại khóa: a. Dạy học sinh năng khiếu: - Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh năng khiếu để xác định tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi. - Khuyến khích học sinh mượn sách ở thư viện tham khảo, học hỏi nhiều cách giải toán hay.. b. Dạy phụ đạo học sinh yếu: - Tách học sinh yếu ngồi học chung một nhóm ngay từ đầu ( Phân loại học sinh ). - Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu. - Vận động học sinh yếu phụ đạo vào các ngày thứ 7, hoặc dạy học sinh yếu chéo buổi. - Nên có thời gian kèm sát các học sinh học yếu. 4/ Hoạt động ngoại khóa: - Luôn dự giờ, thao giảng, dự chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên của bản thân. - Thường xuyên sưu tầm thêm các tư liệu, tự làm đồ dùng dạy học phục vụ cho công tác dạy học. IV/ Kết quả: Năm học Học kì 1 Học kì 2 2006-2007 2007-2008 2008-2009 V/ Bài học kinh nghiệm: - Soạn kế hoạch bài học theo hướng đổi mới. - Áp dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Tách học sinh yếu kém ngay từ đầu để phân các em thành một nhóm. - Cuối tuần có bài kiểm tra nhằm theo dõi trình độ học sinh. - Thường xuyên quan sát theo dõi học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường
  • Những Kinh Nghiệm Hay Về Giáo Dục Học Sinh Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường
  • Lào Cai: Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • 7 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hướng Tới Phát Triển Bền Vững Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • TRƯỜNG THCS THỔ CHÂU – KHỐI TIỂU HỌC

    CHUYÊN ĐỀ

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY HỌC VẦN LỚP 1

    A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

    1) Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học vần

    Học vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.

    2) Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học vần

    Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, bộ phận chuyên môn của trường đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phân môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng); đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Các em cũng viết đúng khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng. Tỷ lệ chất lượng của môn tiếng Việt hàng năm đều tăng.

    Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo; việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn,…còn hạn chế.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này, song yếu tố bất cập trong giảng dạy của giáo viên là vấn đề đáng quan tâm. Một trong những hạn chế nổi bật là kỹ năng vận dụng, phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên lớp. Nhiều giáo viên còn rất lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp, biện pháp dạy học trong từng hoạt động. Do đặc thù của đơn vị trường khối 1chỉ có 1 lớp nên hạn chế trong việc học hỏi lẫn nhau. Các giáo viên dạy lớp khác còn lúng túng khi được phân công dạy thay lớp 1.

    Xuất phát từ những bất cập nêu trên, bộ phận chuyên môn khối tiểu học tổ chức chuyên đề : “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Học vần lớp 1” nhằm thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2011-2012 và những năm tiếp theo.

    II. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN:

    1) Thuận lợi:

    a) Đối với giáo viên:

    + Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận chuyên môn khối Tiểu học, cụ thể:

    – Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng lớp 1. Thường xuyên tổ chức các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.

    – Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (hội thi giáo viên dạy giỏi) giúp giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.

    – Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…

    + Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.

    + Cơ sở vật chất từ phòng lớp, bàn ghế, các phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.

    + Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình.

    b) Đối với học sinh:

    + Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.

    + Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.

    2) Khó khăn:

    a) Đối với giáo viên:

    + Đôi lúc chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học. Đôi khi giáo viên có phần chủ quan trong dạy học vì kiến thức lớp 1 thường đơn giản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100