Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Công Tác Quản Lý Di Sản Văn Hóa Trên Địa Bàn Tỉnh Hưng Yên
  • Bảo Vệ Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Việt Nam
  • Đề Minh Họa Kì Thi Hsg Lớp 12
  • Trắc Nghiệm Địa Lí 12 Bài 15
  • Biện Pháp Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng: 3 Bước Cần Thiết Dành Cho Cha Mẹ
  • Di sản văn hóa là sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

    – Có 2 loại di sản văn hóa, đó là:

    Di sản văn hóa phi vật thể: là những sản phẩm tinh thần có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác.

    Di sản văn hóa vật thể:

    + Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật cổ vật, bảo vật quốc gia. có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

    + Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị Lịch sử thẩm mĩ, khoa học.

    2. Ý nghĩa:

    – Di sản văn hóa là cảnh đẹp của đất nước, là tài sản của dân tộc.

    – Di sản văn hóa thể hiện truyền thống, công sức, kinh nhgiệm sống của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    – Bảo vệ di sản văn hóa để làm cơ sở cho thế hệ sau phát huy và phát triển.

    – Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần làm phong phú kho tàng di sản văn hóa thế giới.

    3. Những qui định của pháp luật :

    – Cấm chiếm đoạt, làm sai lệch di sản văn hóa.

    – Cấm huỷ hoại hoặc gây nguy cơ huỷ hoại di sản.

    – Cấm xây dựng lấn chiếm, đào bới đất thuộc di sản văn hóa.

    – Cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái pháp các di vật, cổ vật.

    – Cấm lợi dụng di sản để làm những việc trái pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Gdcd Lớp 7 Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Kinh Tế, Chính Trị Và Lao Động
  • Don Xin Mai Am Cong Doan Bai Du Thi Binh Dang Gioi Phuong Doc
  • Dap An Bai Thi Ha Tinh Voi Binh Dang Gioi
  • Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Các Di Sản Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Trẻ Biếng Ăn Phải Làm Sao? Giải Pháp “Bỏ Túi” Cho Các Mẹ! Đọc Ngay
  • Trẻ Biếng Ăn Phải Làm Sao? Mách Mẹ 6 Cách Giúp Trẻ Hết Biếng Ăn
  • Giải Pháp Doanh Nghiệp Viettel
  • Giải Pháp Dlp: Phòng Chống Thất Thoát Dữ Liệu Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp
  • Giải Pháp Dạy Học Trực Tuyến
  • Thứ năm, 30/07/2020 – 18:35′

    (BLC) – Những năm qua, tỉnh Lai Châu đã triển khai nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trong đời sống cộng đồng; bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.  

    Lai Châu là tỉnh vùng cao biên giới với 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, chính yếu tố này đã tạo nên cho Lai Châu những di sản văn hóa phi vật thể vô cùng đặc sắc và đa dạng. Bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc được lưu truyền qua nhiều thế hệ, thể hiện qua trang phục, tiếng nói, kiến trúc nhà ở, phong tục tập quán, cách ứng xử trong gia đình, cộng đồng, làng bản, tri thức dân gian; đặc biệt là các loại hình nghệ thuật, dân ca, dân vũ, kỹ thuật chế tác và sử dụng nhạc cụ; nghề thủ công truyền thống… Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập và phát triển, các di sản văn hóa ấy đang đứng trước những nguy cơ bị mai một.

    Để giữ gìn, phát huy những giá trị di sản văn hóa, tỉnh Lai Châu đã cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; đồng thời, chỉ đạo các ngành, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho Nhân dân trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của dân tộc mình. Vận động người dân tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạt động văn hóa, các phong trào văn nghệ – thể thao quần chúng ở địa phương. Cùng với đó, bố trí ngân sách đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, các tổ chức hoạt động văn hóa có chất lượng.

    Đội văn nghệ bản Chang, xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn thường xuyên luyện tập văn nghệ nhằm bảo tồn điệu múa quạt của đồng bào dân tộc Thái.

    Ngành Văn hóa cũng phối hợp tổ chức 13 lớp truyền dạy văn hóa phi vật thể cho các dân tộc; sưu tầm, bảo tồn tri thức dân gian cho 2 dân tộc: Hà Nhì, Dao. Sưu tầm, bảo tồn 6 làn điệu dân ca, dân vũ các dân tộc: Thái, Si La, Lự, Mông, Hà Nhì. Đặc biệt đã tổ chức phục dựng 16 lễ hội tiêu biểu của các dân tộc: Thái, Mông, Si La, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Lự, Mảng, Dao, Lào; duy trì tổ chức thường niên 40 lễ, lễ hội.

    Đồng chí Tẩn Thị Quế – Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết: “Thời gian qua, tỉnh đã quan tâm đầu tư và bố trí kinh phí để triển khai thực hiện các dự án, đề án về sưu tầm hiện vật cũng như bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Qua đó, đã góp phần gìn giữ, lan tỏa những nét đẹp văn hóa truyền thống trong cộng đồng dân cư. Hiện, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tiếp tục nghiên cứu, tham mưu việc phân bổ kinh phí để các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục được bảo tồn, tôn vinh và phát huy giá trị”.

    Cùng với đó, ngành Văn hóa cũng chú trọng khai thác, phát triển vốn văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số thông qua các chương trình biểu diễn nghệ thuật; tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật quần chúng các cấp. Lựa chọn nét văn hóa đặc trưng các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, giới thiệu, quảng bá thông qua các hoạt động biểu diễn, trưng bày, triển lãm, trình diễn trang phục…; trong các chương trình, chuỗi sự kiện văn hóa lớn của tỉnh và tham gia các sự kiện, chương trình văn hóa khu vực, toàn quốc như: Ngày hội Văn hóa dân tộc: Thái, Mông, Dao toàn quốc; Ngày hội Văn hóa và Du lịch các dân tộc Tây Bắc…

    Với sự nỗ lực của ngành chức năng, bước đầu, các di sản văn hóa phi vật thể đã được khai thác, phát huy giá trị, trở thành nguồn lực, sản phẩm du lịch, phục vụ phát triển du lịch của địa phương. Đến  nay, một số bản văn hóa du lịch đã thu hút được khách tham quan, trải nghiệm như: bản Sin Suối Hồ, xã Sin Suối Hồ; bản Vàng Pheo, xã Mường So của huyện Phong Thổ; bản Sì Thâu Chải, xã Hồ Thầu, bản Lao Chải 1, xã Khun Há, Bản Hon, xã Bản Hon của huyện Tam Đường. Bản Gia Khâu, xã Nậm Loỏng, bản San Thàng, xã San Thàng của thành phố Lai Châu…

    Quan tâm, chú trọng, tăng cường tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ hướng về cơ sở nên các phong trào văn nghệ quần chúng ngày càng phát triển. Hiện toàn tỉnh có 13 nghệ nhân được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú; 1.102 đội văn nghệ, trong đó có 665 đội có quyết định thành lập, hoạt động thường xuyên. Các nghệ nhân ưu tú và các đội văn nghệ đã có nhiều nỗ lực cống hiến, góp phần tích cực trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh.

    Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hóa cũng được đầu tư, xây dựng, cùng với chủ trương xã hội hóa ngày càng thu hút sự quan tâm và hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân. Nhờ đó, đã tạo điều kiện cho người dân nâng cao mức hưởng thụ văn hóa. Tính đến nay toàn tỉnh có  789 nhà văn hóa (NVH), trong đó: có 1 NVH cấp tỉnh, cấp huyện 7 NVH, cấp xã 82 NVH, thôn, bản 699 NVH; 5 sân vận động; 105 nhà luyện tập thể dục thể thao; 158 phòng đọc sách xã và cơ sở (thôn, bản); 3 điểm vui chơi, giải trí cho trẻ em… Từng bước đáp ứng nhu cầu hội họp, sinh hoạt văn hóa của Nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cũng đạt được kết nhiều quả đáng khích lệ. Hết năm 2022, toàn tỉnh có 79,3% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa; 66,3% thôn, bản, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa; 94,2% cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa.

    Xây dựng và thực hiện tốt hương ước, quy ước đã góp phần đẩy lùi các hủ tục lạc hậu, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, văn minh. Đến nay, toàn tỉnh có 94,2% thôn, bản, tổ dân phố xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước; trên 90% gia đình thực hiện việc cưới, việc tang theo quy định, 100% lễ hội truyền thống đảm bảo thực hiện theo quy định về nếp sống văn minh trong lễ hội. Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa được quan tâm kiện toàn đảm bảo về số lượng với 529 cán bộ, công chức, viên chức làm công tác văn hóa (trong đó trình độ đại học, trên đại học trên 60%, cao đẳng 10%).

    Để phát huy giá trị di sản văn hóa, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng, tỉnh đặc biệt chú trọng quan tâm công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi, tôn tạo và chống xuống cấp di tích như: Di chỉ khảo cổ học Thẳm Đán Chể thuộc xã Mường Kim, huyện Than Uyên. Đồn Mường So, Hang kháng chiến Nà Củng (xã Mường So, huyện Phong Thổ). Khu di tích kiến trúc dinh thự Đèo văn Long, Bia Lê Lợi (xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn), Di tích Đồn Mường Tè (bản Nậm Củm, xã Mường Tè, huyện Mường Tè)… Những di tích trên đã và đang trở thành những sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh phục vụ đời sống văn hóa tâm linh, hấp dẫn du khách thập phương.

    Việc bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh có ý nghĩa quan trọng, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết các dân tộc, vì một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Hiện nay, nhiều địa phương trong tỉnh đã khơi dậy, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với du lịch nhằm tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giảm nghèo bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Tồn Và Phát Huy Các Giá Trị Di Sản
  • Tin Tức Bóng Đá Pháp
  • Bạo Lực Gia Đình Và Một Số Giải Pháp Phòng Tránh
  • An Toàn Cho Phụ Nữ Và Trẻ Em: Làm Gì Để Hiệu Quả?
  • 4 Giải Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ở Nhà Hàng
  • Bảo Vệ Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Minh Họa Kì Thi Hsg Lớp 12
  • Trắc Nghiệm Địa Lí 12 Bài 15
  • Biện Pháp Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng: 3 Bước Cần Thiết Dành Cho Cha Mẹ
  • Biện Pháp Phục Hồi Trẻ Suy Dinh Dưỡng
  • Một Số Nguyên Nhân Dẫn Tới Tình Trạng Trẻ Bị Suy Dinh Dưỡng Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Cùng dự Hội nghị về “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững” có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng; Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam; Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội Michael Croft cùng lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học.

    Thủ tướng nhấn mạnh cách xử lý di sản cần đặt trong tổng thể các mối quan hệ để bảo đảm rằng văn hoá và di sản sẽ gắn kết cộng đồng, tăng tình đoàn kết, mang lại thêm sức mạnh nội sinh cho dân tộc và tăng cường sức mạnh mềm của đất nước ta.

    Dễ bị ngủ yên…

    Phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng nêu rõ di sản là báu vật mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước ta hoặc là kết tinh lao động sáng tạo mà ông cha ta từ đời này qua đời khác đã dày công tạo dựng. Chúng ta phải quán triệt tinh thần là: “Cái gì cũng có thể xây được, sản xuất được, sáng tác được nhưng di sản thì không thể tạo ra được”.

    Thủ tướng nhắc lại câu chuyện năm 2022 trong buổi tiếp một tỷ phú, hoàng thân của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất, vị khách này đã nói với Thủ tướng rằng “chúng tôi có thể tạo ra bãi biển hay quả núi mới, thậm chí tạo ra người máy nhưng chúng tôi ghen tị vì Việt Nam may mắn có quá nhiều di sản thiên nhiên và văn hoá, vật thể và phi vật thể”. Vì vậy, “tuyệt đối không phá huỷ, làm hỏng hay hy sinh di sản vì bất kỳ lý do gì để phục vụ phát triển. Để mất di sản, dù là một phần, chính là bắn súng vào quá khứ, đánh mất bản sắc dân tộc”, Thủ tướng nhấn mạnh. Nói những điều này để thấy chúng ta rất tự hào và vinh dự được thừa hưởng những giá trị di sản của tổ tiên để lại và chúng ta các ngành và toàn xã hội phải có trách nhiệm rất lớn giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị bền vững các di sản đó.

    Thủ tướng nhấn mạnh di sản về bản chất là thuộc về quá khứ và dễ bị ngủ yên. Vì vậy phải luôn “sáng tạo, năng động” để di sản có giá trị trong cuộc sống của thế hệ hiện tại hoặc phải giáo dục về di sản để tạo nguồn cảm hứng nuôi dưỡng lòng tự hào và tự tôn dân tộc hoặc phải tìm các biện pháp phù hợp như cập nhật chính sách, luật pháp, phân cấp quản lý, đào tạo cán bộ, coi trọng chuyên gia để phát huy giá trị di sản tạo thương hiệu du lịch quốc gia, góp phần xoá đói giảm nghèo.

    “Di sản không phải là di sản chết mà phải đóng góp vào phát triển bền vững. Như vậy chúng ta có nhiệm vụ làm di sản luôn hồi sinh và tồn tại có ích. Để phát huy giá trị di sản phi vật thể cần tôn vinh các nghệ nhân và coi họ chính là báu vật sống của quốc gia. Giải quyết hài hoà lợi ích giữa bảo tồn và phát triển, gìn giữ di sản và phát triển du lịch”, Thủ tướng nói.

    Trong khuôn khổ hội nghị, các đại biểu thưởng thức nghệ nhân hát Then biểu diễn.

    Nhiệm vụ của tất cả chúng ta, trước hết là ngành văn hóa, là phải làm cho các di sản hồi sinh, sống động, thu hút, đặc biệt là phải đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng phục vụ yêu cầu này.

    Cho rằng nhiệm vụ này trong thời gian qua cũng đã đạt được một số kết quả tích cực, Thủ tướng bày tỏ ấn tượng về lượng khách du lịch quốc tế, trong nước tới tham quan các khu di sản ở Việt Nam tăng mạnh trong những năm gần đây. Đặc biệt là một số khu di sản như vịnh Hạ Long, quần thể di tích Cố đô Huế, quần thể danh thắng Tràng An, phố cổ Hội An, chùa Hương, Văn Miếu-Quốc Tử Giám, khu di tích và danh thắng Yên Tử, khu di tích và danh thắng Núi Sam, Địa đạo Củ Chi…

    Năm 2022, riêng 8 khu di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam đã đón trên 16 triệu lượt khách (trong đó có 7 triệu lượt khách quốc tế), với doanh thu từ vé tham quan và phí dịch vụ trực tiếp khoảng trên 2.500 tỷ đồng. Nhiều di sản văn hóa phi vật thể đã trở thành những điểm nhấn thu hút du khách, tạo nên thương hiệu riêng của các địa phương có di sản.

    Tuy nhiên, Thủ tướng cho rằng cần thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập trong công tác này như pháp luật đã có đủ nhưng thực thi chưa nghiêm. Công tác phối hợp của các cấp các ngành chưa tốt.

    Cho rằng chưa xử lý tốt quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, bảo đảm quyền lợi cho người dân nơi có di sản, Thủ tướng nhắc lại, trong buổi làm việc gần đây với tỉnh Yên Bái, Thủ tướng đã đề cập: Tại sao ruộng bậc thang Mù Cang Chải là danh thắng quốc gia, là hình ảnh gắn với vẻ đẹp Việt Nam nhưng người dân làm nên tác phẩm kỳ vĩ này lại nghèo?

    Theo Thủ tướng, việc tu bổ, tôn tạo, nâng cấp nhiều di sản theo kiểu “hiện đại hóa”, “hào nhoáng” đã làm mất đi nét chân thực, tính độc đáo vốn có của di sản. Chính sách hỗ trợ nghệ nhân triển khai còn chậm. Nguồn lực tài chính dành cho công tác này luôn hạn chế, trong khi chưa phát huy được tốt nhất nguồn lực trong dân, vai trò của nhân dân trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

    Bên cạnh đó còn những thách thức như cùng với thực hiện đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế, đầu tư nước ngoài, sức ép của toàn cầu hóa đối với văn hóa truyền thống ngày càng lớn; sức ép của quá trình đô thị hóa, của việc biến tướng trong khai thác di sản, tận thu mà không đầu tư cho giữ gìn, sự xuống cấp của di sản văn hóa và thiên nhiên do thời gian, tác động của thời tiết khắc nghiệt, biến đối khí hậu… là những nguy cơ hiện hữu với các di sản văn hóa và thiên nhiên; Những thách thức trên đặt ra vấn đề cấp thiết tăng cường bảo vệ, tu bổ, tôn tạo và phục hồi; xử lý hài hòa, thỏa đáng quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.

    Hãy trả lại cho cộng đồng cái gì thuộc về cộng đồng

    Từ các phân tích trên, Thủ tướng nhấn mạnh một số nguyên tắc và phương hướng cơ bản bảo tồn di sản và và phát triển bền vững.

    Đó là bảo tồn và phát huy giá trị di sản không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là sự nghiệp của quần chúng và cộng đồng. Nhà nước chỉ tạo khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách để nhân dân đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ, gìn giữ, lưu truyền và phát huy giá trị di sản. Xã hội hoá, cộng đồng hoá trong lĩnh vực này là xu hướng tất yếu và cần thiết. Hãy trả lại cho cộng đồng cái gì thuộc về cộng đồng. Di sản cần được bảo tồn phát huy từ gia đình, bản làng, trường học và xã hội. Xây dựng văn hoá coi trọng di sản cho các em học sinh ngay từ lúc ấu thơ để mỗi người chúng ta chủ động đóng góp vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Nhà nước hỗ trợ nhưng không bao cấp hay làm thay.

    Cần thiết đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế trong bảo tồn và quản lý di sản vì bản chất của di sản và văn hóa là giao lưu. Giao lưu để quảng bá và giao lưu để học hỏi kinh nghiệm nhằm bảo vệ di sản tốt hơn và qua đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam.

    Phải nghiêm túc thực hiện các cam kết với UNESCO và quốc tế. Phải đóng góp bản sắc của Việt Nam để làm phong phú hơn bức tranh toàn cầu về đa dạng bản sắc văn hoá các dân tộc trên thế giới và coi đó là nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế.

    Cách xử lý di sản cần đặt trong tổng thể các mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa trong và ngoài nước, giữa các địa phương, giữa các dân tộc, giữa văn hoá và kinh tế, giữa bảo tồn và phát triển để bảo đảm rằng văn hoá và di sản sẽ gắn kết cộng đồng, tăng tình đoàn kết, mang lại thêm sức mạnh nội sinh cho dân tộc và tăng cường sức mạnh mềm của Việt Nam.

    Trong thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu, cần rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thủ tục hành chính về di sản, trong đó tập trung nghiên cứu, đánh giá những vấn đề đặt ra sau hơn 10 năm thực hiện Luật Di sản văn hóa.

    Đẩy mạnh các hoạt động giám sát, tăng cường bảo vệ và bảo đảm an toàn cho các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh.

    Nghiên cứu đề xuất việc phân cấp quản lý di sản cụ thể, xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm. Phát huy vai trò giám sát của xã hội, của cộng đồng. Tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhân dân trực tiếp tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản, vừa được trực tiếp hưởng thụ thành quả do hoạt động này mang lại.

    Xử lý hài hòa quan hệ giữa phát triển du lịch với việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và bảo vệ môi trường. Kiện toàn bộ máy tổ chức và cán bộ của ngành di sản văn hóa từ Trung ương đến cơ sở. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trong bảo tồn, quản lý di sản; khẩn trương số hóa cơ sở dữ liệu về di sản để lưu trữ và khai thác.

    Trên cơ sở kết quả hội nghị này, Thủ tướng yêu cầu Bộ VHTT&DL chủ trì soạn thảo, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản vì sự phát triển bền vững.

    Nổi bật trong số đó là 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 12 di sản văn hóa phi vật thể và 7 di sản tư liệu được UNESCO công nhận.

    UNESCO công bố các di sản thế giới mới tại Hàn Quốc và Ấn Độ

    Ngày 30/6, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa 7 ngôi chùa cổ của Hàn Quốc cùng …

    Khai mạc Triễn lãm ảnh về Tín ngưỡng thờ Mẫu

    Nhân dịp kỷ niệm hai năm sự kiện “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO công nhận là di …

    ​Google giúp Hàn Quốc quảng bá di sản văn hóa, lịch sử qua nền tảng trực tuyến

    Hãng công nghệ Google (Mỹ) đã hợp tác với các cơ quan văn hóa và lịch sử Hàn Quốc hoàn thành xong dự án “Di …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Công Tác Quản Lý Di Sản Văn Hóa Trên Địa Bàn Tỉnh Hưng Yên
  • Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd Lớp 7 Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Kinh Tế, Chính Trị Và Lao Động
  • Don Xin Mai Am Cong Doan Bai Du Thi Binh Dang Gioi Phuong Doc
  • Lý Thuyết Gdcd Lớp 7 Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Công Tác Quản Lý Di Sản Văn Hóa Trên Địa Bàn Tỉnh Hưng Yên
  • Bảo Vệ Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Việt Nam
  • Đề Minh Họa Kì Thi Hsg Lớp 12
  • Trắc Nghiệm Địa Lí 12 Bài 15
  • Lý thuyết môn Giáo dục công dân 7

    Bài: Bảo vệ di sản văn hóa

    A. Lý thuyết bài 15 môn GDCD 7

    1. Khái niệm:

    – Di sản văn hóa là sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Có 2 loại di sản văn hóa, đó là:

    – Di sản văn hóa phi vật thể: là những sản phẩm tinh thần có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác.

    – Di sản văn hóa vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, các di vật cổ vật, bảo vật quốc gia.

    + Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật cổ vật, bảo vật quốc gia có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

    + Danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị Lịch sử thẩm mĩ, khoa học.

    2. Ý nghĩa:

    – Di sản văn hóa là cảnh đẹp của đất nước, là tài sản của dân tộc.

    – Di sản văn hóa thể hiện truyền thống, công sức, kinh nhgiệm sống của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    – Bảo vệ di sản văn hóa để làm cơ sở cho thế hệ sau phát huy và phát triển.

    – Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần làm phong phú kho tàng di sản văn hóa thế giới.

    3. Những qui định của pháp luật:

    – Cấm chiếm đoạt, làm sai lệch di sản văn hóa.

    – Cấm huỷ hoại hoặc gây nguy cơ huỷ hoại di sản.

    – Cấm xây dựng lấn chiếm, đào bới đất thuộc di sản văn hóa.

    – Cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái pháp các di vật, cổ vật.

    – Cấm lợi dụng di sản để làm những việc trái pháp luật.

    (1) Đập phá các di sản văn hóa

    (2) Di chuyển cổ vật, bảo vật quốc gia bất hợp pháp

    (3) Phát hiện, đem nộp cổ vật cho cơ quan có trách nhiệm

    (4) Lấy cắp cổ vật về nhà

    (5) Buôn bán cổ vật không có giấy phép

    (6) Vứt rác bừa bãi xung quanh di tích

    (7) Giữ gìn sạch đẹp di tích, danh lam thắng cảnh

    (8) Nhắc nhở mọi người giữ gìn, bảo vệ di sản văn hóa

    (9) Tổ chức tham quan, tìm hiểu di tích lịch sử

    (10) Cất giấu cổ vật cho bọn buôn lậu

    (11) Giúp cơ quan chuyên môn sưu tầm cổ vật

    (12) Giúp cơ quan có trách nhiệm ngăn chặn những người phá hoại di tích văn hóa

    (13) Lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đất cả các di tích đã được xếp hạng.

    Trả lời:

    Hành vi góp phần giữ gìn, bảo vệ di sản văn hóa: 3, 7, 8, 9, 11, 12

    Hành vi phá hoại di sản văn hóa: 1, 2, 4, 5, 6, 10, 13

    2. Trong một lần đi thăm quan thắng cảnh Vịnh Hạ Long, thấy trên vách các hang động có những chữ khắc hoặc viết chằng chịt tên, ngày tháng của những người đến thăm, bạn Dung bày tỏ thái độ phê phán, không hài lòng về những việc làm đó. Ngược lại, có một số bạn đồng tình, vì theo họ, việc khắc chữ trên vách đá là một kỉ niệm của du khách để cho hậu thế biết nơi đây đã có người đến thăm vào thời gian nào

    Em có đồng tình với quan điểm nào? Vì sao?

    Trả lời:

    Em đồng ý với ý kiến của bạn Dung vì: Hằng ngày có biết bao khách du lịch đến thăm quan, nếu người nào cũng khắc, cũng viết tên lên vách đá, làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên, thì việc khắc tên, kí tên lên vách đã không còn có ý nghĩa.

    Việc kí tên, khắc tên lên trên vách đá gây nguy cơ hủy hoại danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long

    3. Em có biết Luật di sản văn hóa Việt Nam ra đời ngày, tháng, năm nào không? Trả lời:

    Luật di sản văn hóa Việt Nam ra đời ngày 29/6/2001

    4. Em sẽ làm gì để góp phần giữ gìn, bảo vệ di sản văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh? Trả lời:

    – Giữ gìn sạch đẹp các di sản văn hóa ở địa phương

    – Đi tham quan, tìm hiểu các di tích lịch sử, di sản văn hóa

    – Không vứt rác bừa bãi

    – Tố giác kẻ gian ăn cắp cổ vật, di vật

    – Tham gia các lễ hội truyền thống

    – Tôn trọng, học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới để làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của dân tộc mình

    5. Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO xếp loại là di sản thế giới? Trả lời:

    Những di sản của Việt Nam được UNESCO xếp loại là di sản thế giới:

    – Di sản văn hóa vật thể: Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mĩ Sơn, Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ

    – Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ, Ca trù, Hội Gióng, Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh

    – Di sản thiên nhiên: Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Quần thể danh thắng Tràng An

    – Di sản tư liệu: Mộc bản triều Nguyễn, Bia tiến sĩ Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Văn bản Hán tự chùa Vĩnh Nghiêm

    6. Có ý kiến cho rằng, trong số các di sản văn hóa phi vật thể, chúng ta chỉ cần đầu tư công sức để bảo vệ các di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh, vì đây là những nơi có nhiều khách du lịch đến thăm quan, mang lại nguồn lợi kinh tế; còn các di vật, bảo vật, cổ vật quốc gia thì không cần phải quan tâm bảo vệ vì những thứ này chỉ để trưng bày, không mang lại lợi ích kinh tế

    Theo em, quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

    Trả lời:

    Ý kiến trên là sai. Bởi vì di sản văn hóa phi vật thể nói chung, cổ vật bảo vật quốc nói riêng cũng mang trong mình ý nghĩa lịch sử, văn hóa và khoa học hết sức lớn lao và góp phần thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc. Từ đó, các di sản văn hóa phi vật thể cũng cần được gìn giữ và lưu truyền một cách cẩn thận để các thế hệ sau được chiêm ngưỡng và tiếp tục làm giầu có thêm tài sản văn hóa tinh thần của dân tộc.

    B. Trắc nghiệm bài 15 môn GDCD 7

    Câu 1: Di sản văn hóa bao gồm?

    A. Di sản văn hóa vật thể và hữu hình.

    B. Di sản văn hóa phi vật thể và vô hình.

    C. Di sản văn hóa hữu hình và vô hình.

    D. Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.

    Câu 2: Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể hay còn được gọi là?

    A. Di sản văn hóa vật chất và tinh thần.

    B. Di sản văn hóa vô hình và hữu hình.

    C. Di sản văn hóa trừu tượng và phi trừu tượng.

    D. Di sản văn hóa đếm được và không đếm được.

    Câu 3: Những sản phẩm tinh thần có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác được gọi là?

    A. Di sản.

    B. Di sản văn hóa.

    C. Di sản văn hóa vật thể.

    D. Di sản văn hóa phi vật thể.

    Câu 4: Sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, các di vật cổ vật, bảo vật quốc gia được gọi là?

    A. Di sản.

    B. Di sản văn hóa.

    C. Di sản văn hóa vật thể.

    D. Di sản văn hóa phi vật thể.

    Câu 5: Di sản văn hóa vật thể bao gồm?

    A. Di tích lịch sử – văn hóa và tài nguyên thiên nhiên.

    B. Danh lam thắng cảnh và tài nguyên thiên nhiên.

    C. Tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

    D. Di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh.

    Câu 6: Hát xoan, hát quan họ thuộc loại di sản văn hóa nào?

    A. Di sản văn hóa vật thể.

    B. Di sản văn hóa phi vật thể.

    C. Di tích lịch sử.

    D. Danh lam thắng cảnh.

    Câu 7: Thành cổ Quảng Trị, ngã ba Đồng Lộc, hoàng thành Thăng Long thuộc loại di sản văn hóa nào?

    A. Di sản văn hóa vật thể.

    B. Di sản văn hóa phi vật thể.

    C. Di tích lịch sử.

    D. Danh lam thắng cảnh.

    Câu 8: Tính đến năm 2022, Việt Nam có bao nhiêu di sản văn hóa được UNESCO công nhận?

    A. 13. B. 14. C. 15. D. 16.

    Câu 9: Di sản tư liệu của Việt Nam được công nhận di sản tư liệu thế giới là?

    A. Mộc bản triều Nguyễn.

    B. Châu bản triều Nguyễn.

    C. Mộc bản kinh phật chùa Vĩnh Nghiêm.

    D. Cả A, B, C.

    Câu 10: Nếu phát hiện trong vườn nhà có vật cổ không rõ nguồn gốc từ đâu bạn sẽ làm gì?

    A. Báo cho chính quyền địa phương.

    B. Mang đi bán.

    C. Lờ đi coi như không biết.

    D. Giấu không cho ai biết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Kinh Tế, Chính Trị Và Lao Động
  • Don Xin Mai Am Cong Doan Bai Du Thi Binh Dang Gioi Phuong Doc
  • Dap An Bai Thi Ha Tinh Voi Binh Dang Gioi
  • Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Luận Văn: Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Bảo Tồn Các Giá Trị Di Sản Văn Hóa Tại Tphcm

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Tích, Danh Thắng Trên Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Bảo Tồn Phát Triển Văn Hóa Truyền Thống Của Người Hoa Ở Tp Hồ Chí Minh
  • Giải Pháp Hiệu Quả Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng
  • Giải Pháp Nào Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng, Thấp Còi?
  • Sữa Nutrinidrink_Giải Pháp Tối Ưu Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng
  • Vì vậy, cơ chế “chuyển quyền phát triển” có thể giải quyết vấn đề này dựa trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, xã hội và lợi ích riêng của cá nhân, tổ chức sở hữu di sản cảnh quan – kiến trúc.

    Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình, Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM, gợi ý giải pháp trên, tại Hội thảo quốc tế “Hội nhập quốc tế về bảo tồn – Cơ hội và thách thức cho các giá trị di sản văn hóa” diễn ra sáng 30/11.

    Hội thảo do Trường Đại học Văn hóa TPHCM, Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ và Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Bảo quản các tài sản văn hóa phối hợp tổ chức.

    PGS.TS Nguyễn Văn Trình chia sẻ tại Hội thảo

    Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình cho hay, cơ chế chuyển quyền phát triển (tên tiếng Anh Transfer of Development Right, gọi tắt là TDR), đã được áp dụng rộng rãi ở các đô thị khác nhau trên thế giới như New York – Mỹ, Sydney – Úc, HongKong, Đài Loan…

    Đơn cử, tại Mỹ, chính quyền New York không cho phép Penn Central xây dựng toà tháp 55 tầng bên trên Nhà ga Trung tâm để không ảnh hưởng đến không gian lịch sử của di sản kiến trúc này. Thay vào đó, Penn Central được chuyển quyền phát triển về khu đất kế cận.

    Tương tự trường hợp của Đài Loan, cơ chế TDR đã làm Khu phố cổ Dadaocheng thay đổi đáng kể trong hơn mười năm qua. Cơ chế này đã làm giảm thiểu áp lực ngân sách chi trực tiếp cho công tác bảo tồn, nhưng vẫn thúc đẩy công tác bảo tồn nhờ tạo ra được cuộc chơi “win – win” – đôi bên cùng có lợi, đặc biệt là đối với chủ sở hữu các di sản kiến trúc.

    Theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình nếu áp dụng chính sách này, chúng ta sẽ góp phần rất tốt trong việc bảo tồn di sản văn hóa kiến trúc cổ, nhất là các kiến trúc không nằm trong luật bảo tồn di sản văn hóa, không được hỗ trợ từ phía Nhà nước. Sẽ có nguồn lực của xã hội để duy tu duy trì cảnh quan, kiến trúc đó. Nói chung, chính sách này là huy động được nguồn lực xã hội vừa đảm bảo lợi ích của xã hội, lợi ích của người chủ di sản đó, lợi ích của cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hđnd Tp Hồ Chí Minh Bàn Giải Pháp Bảo Tồn Các Di Sản Văn Hóa
  • Nỗ Lực Xóa Bỏ ‘rào Cản’ Định Kiến Giới
  • Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Quản Lý Cán Bộ, Công Chức
  • Nâng Cao Năng Lực Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Và Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Lãnh Đạo, Quản Lý Thời Kỳ Cách Mạng 4.0
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Hđnd Tp Hồ Chí Minh Bàn Giải Pháp Bảo Tồn Các Di Sản Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Xuất Các Giải Pháp Bảo Tồn Các Giá Trị Di Sản Văn Hóa Tại Tphcm
  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Tích, Danh Thắng Trên Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Bảo Tồn Phát Triển Văn Hóa Truyền Thống Của Người Hoa Ở Tp Hồ Chí Minh
  • Giải Pháp Hiệu Quả Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng
  • Giải Pháp Nào Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng, Thấp Còi?
  • Theo các đại biểu HĐND TP Hồ Chí Minh, di sản văn hóa ở TP Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc để phát triển du lịch; tuy nhiên công tác tu bổ, tôn tạo các di sản này còn chậm trong khi chúng đang trong tình trạng xuống cấp nhanh.

    Đại biểu Phan Nguyễn Như Khuê, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh, cho biết: “Các di sản văn hóa tại TP Hồ Chí Minh khá phong phú, tuy nhiên có giai đoạn chúng ta khá lúng túng trong công tác quản lý di sản, gần như buông xuôi khiến các công trình kiến trúc văn hoá, di tích lịch sử xuống cấp, thậm chí biến mất nhanh chóng. Trước thực trạng biến mất của nhiều di sản, Ban Tuyên giáo đã nhận được nhiều đơn kiến nghị lãnh đạo thành phố quan tâm đến công tác bảo tồn di sản văn hóa, đội ngũ làm công tác di sản văn hóa… để khôi phục và giữ gìn các di sản văn hóa hiện có”.

    Theo ông Khuê, di sản và kiến trúc đô thị chính là “phần hồn” của TP Hồ Chí Minh, nếu nhìn đó là sự lạc hậu cần phá dỡ thì đó là một sai lầm và sẽ có lỗi với các di tích lịch sử và thế hệ tương lai. Vì vậy, các nhà quản lý cần tăng cường quảng bá để mọi người dân hiểu được về giá trị của “phần hồn” thành phố, để cùng thành phố tham gia vào bảo tồn các di sản văn hóa.

    Đại biểu Đinh Thị Thanh Thủy cũng cho rằng, công tác bảo tồn di sản văn hóa hiện còn gặp nhiều khó khăn. Cụ thể, công tác kiểm kê các biệt thự cổ trước năm 1975 dù đã có chủ trương nhưng đến nay khâu triển khai còn chậm. Đặc biệt, đội ngũ nhân lực làm việc trong công tác bảo tồn di sản văn hóa vừa thiếu, vừa hạn chế về trình độ nên khó trong công tác bảo tồn. Vì vậy, ngành văn hóa và Thành phố cần quan tâm hơn, đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho việc bảo tồn di sản văn hóa.

    Ghi nhận ý kiến của các đại biểu, ông Huỳnh Thanh Nhân, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh, cũng cho biết TP Hồ Chí Minh đã và đang đối mặt với các vấn đề nan giải trong quá trình phát triển đô thị của một đô thị lớn, do đó vấn đề bảo tồn di sản và cảnh quan kiến trúc đô thị ngày càng nhiều khó khăn, phức tạp. Cụ thể, các di sản văn hóa, không gian kiến trúc đô thị có phần bị biến dạng, biến mất hoặc đang bị đe dọa trước áp lực về quá trình đô thị hóa, sức ép về tăng dân số, áp lực về quỹ đất để đầu tư xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế – xã hội thành phố. Hệ thống luật pháp, chính sách bảo tồn di sản văn hóa chưa được phổ biến rộng rãi; việc tuân thủ luật pháp của một bộ phận người dân, của nhà đầu tư chưa tốt; việc xây dựng các quy định về công tác bảo tồn di sản đô thị còn chậm so với quá trình phát triển kinh tế – xã hội.

    “Để bảo tồn các di sản văn hóa, Thành phố cần quy hoạch đô thị gắn với bảo tồn cảnh quan đô thị và phát triển du lịch, tiếp tục rà soát, đánh giá và xác định các khu vực phát triển đô thị, xác định rõ khu vực cảnh quan cần bảo tồn, tránh tình trạng di tích lịch sử vị xâm phạm. Đặc biệt, cần nâng cao trách nhiệm của các sở, ngành, quận, huyện trong công tác tham mưu, phối hợp thực hiện công tác bảo tồn di sản và cảnh quan kiến trúc đô thị trên địa bàn thành phố. Bởi chính quận, huyện là cơ quan nắm khá rõ về tình hình của các công trình di sản văn hóa trên địa bàn. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức của người dân trong công tác bảo tồn di sản văn hóa gắn với cảnh quan đô thị”, ông Nguyễn Thanh Nhã cho biết.

    Ông Nguyễn Văn Đạt, Phó Ban Văn hóa Xã hội – HĐND TP Hồ Chí Minh cho rằng, để bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa, UBND và HĐND TP Hồ Chí Minh sẽ kiến nghị tăng ngân sách cho công tác trùng tu, bảo tồn các di sản văn hóa. Bởi ngân sách dành cho công tác trùng tu, bảo tồn, mua hiện vật văn hóa thời gian qua khá ít. Theo đó, trong 10 năm qua (2009 – 2022), TP Hồ Chí Minh chi cho công tác bảo tồn di tích chỉ khoảng 500 tỷ đồng, như vậy trung bình một năm chỉ chi 50 tỷ đồng cho việc bảo tồn các di tích văn hóa trên địa bàn.

    Theo Báo Tin tức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nỗ Lực Xóa Bỏ ‘rào Cản’ Định Kiến Giới
  • Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Quản Lý Cán Bộ, Công Chức
  • Nâng Cao Năng Lực Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Và Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Lãnh Đạo, Quản Lý Thời Kỳ Cách Mạng 4.0
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Tác Quản Lý, Bảo Tồn Và Phát Huy Các Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Thiên Nhiên Thế Giới Quần Thể Danh Thắng Tràng An
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Vì Sự Phát Triển Bền Vững
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Góp Phần Bảo Tồn, Phát Huy Các Giá Trị Văn Hóa Đặc Sắc Của Các Dân Tộc Tỉnh Cao Bằng
  • Chia Sẻ Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Di Sản Văn Hóa
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Giải Pháp Ứng Phó Của Việt Nam
  • Cồng chiêng – linh hồn của đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ.

    Với ý nghĩa đó, ngày 24/2/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 36/2005/QĐ-TTg về việc lấy ngày 23/11 là “Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam” nhằm động viên các tầng lớp xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

    Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là tài sản vô cùng quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong suốt bề dày lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc.

    Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá đã được các địa phương rất quan tâm. Nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được bảo vệ và phát huy giá trị, nhiều di tích đã trở thành điểm tham quan thường xuyên của du khách, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần quảng bá hình ảnh của từng địa phương. Di sản văn hóa Việt Nam đã thực sự khẳng định được vị trí, vai trò trong đời sống xã hội, có sức lan tỏa mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng đang đối mặt với những thách thức to lớn, những tác động trực tiếp từ thiên nhiên, môi trường và con người. Chính vì thế, ngày 29/6/2001, Quốc hội khóa X đã ban hành Luật Di sản Văn hóa nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền và toàn dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Luật Di sản nêu rõ: Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ: Tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Thông báo kịp thời địa điểm phát hiện di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do mình tìm được cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi gần nhất; Ngăn chặn hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi phá hoại, chiếm đoạt, sử dụng trái phép di sản văn hóa.

    Xòe Thái Tây Bắc.

    Tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản (năm 2009), đáng chú ý Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích) được xếp hạng như sau:

    1. Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm:

    a) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;

    b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương;

    c) Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương;

    d) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương.

    2. Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:

    a) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

    b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam ;

    c) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ;

    d) Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù.

    3. Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:

    a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

    b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam ;

    c) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;

    d) Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới”.

    Trong những ngày này, kỷ niệm Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam, ngày 23/11, xin một lần nữa được nhắc lại những điểm then chốt để chúng ta cùng nhau gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản tổ tiên để lại. Nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc đều có tinh hoa riêng, bản sắc riêng cần phải được gìn giữ. Trong quá trình phát triển và hội nhập, những giá trị văn hóa ngàn đời đó đứng trước nhiều sức ép, nhiều thách thức vì vậy càng cần phải được cộng đồng chung tay gìn giữ. Không chỉ là với những di sản văn hóa đã được công nhận, mà còn là cả những tập tục đẹp trong cuộc sống hàng ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trách Nhiệm Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Các Di Sản Văn Hóa Gắn Liền Với Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Bảo Tồn, Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bảo Tồn Di Sản Ở Ninh Bình
  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam, Thành Tựu Và Thách Thức Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Giải Pháp Bảo Tồn Phát Huy Di Sản Văn Hóa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Cấp Bách Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Tại Tp Hcm
  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Văn Hóa Dân Tộc Mông
  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Văn Hóa Ký Ức Kho Mộc Bản Chùa Vĩnh Nghiêm
  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Xứ Đoài Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Luận Văn Các Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Bảo Tồn Và Phát Huy Di Sản Văn Hoá Đồng Bằng Bắc Bộ Thời Kỳ Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa
  • Di sản văn hóa là tài sản của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau theo hướng tích lũy trong môi trường văn hóa. Sự tích lũy, kinh nghiệm hoạt động của nhiều thế hệ đã góp phần tạo ra sự phong phú, chất lượng, mang giá trị nhân văn cao cả. Di sản văn hóa chứa đựng vốn kinh nghiệm, tri thức sống của con người, hội tụ những yếu tố phẩm chất tốt đẹp, có bề dày về thời gian, phong phú về loại hình. Đây là bộ phận quan trọng tạo nên môi trường văn hóa của các cộng đồng, yếu tố cơ bản tạo nên truyền thống văn hóa, cơ sở cho sự sáng tạo cái mới.

    Trong một nền văn hóa , nếu di sản bị xóa bỏ thì nền văn hóa ấy sẽ mất bản sắc, tự đánh mất mình. Bản sắc văn hóa được khẳng định, góp phần tạo nền tảng tinh thần xã hội phù hợp với đặc điểm của mỗi dân tộc.

    Trong quá trình đổi mới, chúng ta luôn quan tâm đến bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, quá trình bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa còn bộc lộ những hạn chế. Việc thể chế hóa các văn bản quản lý, cơ chế chính sách trong lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa còn nhiều bất cập; giải quyết giữa bảo tồn với khai thác, phát huy di sản văn hóa còn hạn chế, nặng về bảo tồn, phục cổ, coi nhẹ việc phát huy giá trị của di sản văn hóa. Tình trạng di tích bị vi phạm, cổ vật bị mất cắp vẫn diễn ra. Một số dự án kinh tế còn có hiện tượng xâm lấn di tích lịch sử, văn hóa. Hoạt động bảo tồn, nhất là bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể, việc tôn tạo, trùng tu các di tích lịch sử, văn hóa ở một số nơi thực hiện chưa kịp thời, thiếu nghiêm túc. Công tác quản lý di sản chưa thống nhất. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, nhà nghiên cứu khoa học ở một số cơ quan quản lý di sản còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Nhận thức, sự tham gia của cộng đồng vào quá trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản chưa thực sự đồng đều, vững chắc. Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn thiếu thốn.

    Để góp phần nâng cao công tác bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa dân tộc, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

    Thường xuyên quán triệt, thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng về bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa dân tộc.

    Tăng cường hợp tác giữa các cấp, các ngành ở trung ương, địa phương, trước hết là giữa ngành du lịch với Cục bảo tồn di sản văn hóa để tạo ra sự phát triển du lịch thực sự bền vững. Lồng ghép tốt giữa chương trình mục tiêu quốc gia về chống xuống cấp, tôn tạo di tích, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể với chương trình quốc gia về du lịch, môi trường, giáo dục, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tại các khu vực có di sản thế giới.

    Trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, song song với quá trình đào tạo các cán bộ chuyên môn, cần có kế hoạch tập huấn về chuyên môn, thái độ ứng xử đối với di sản, với khách tham quan cho cán bộ, nhân dân các địa phương có di sản thế giới, các đối tượng tham gia khai thác du lịch tại các di sản thế giới, không chỉ cán bộ du lịch mà cả đối với những người bán hàng, dân địa phương, hướng dẫn du lịch tự do…, để thực sự tạo ra những hoạt động du lịch bền vững tại các khu di sản thế giới. Tập trung đầu tư có trọng điểm cho việc bảo quản, tu bổ, phục hồi những điểm di tích vật thể, nghiên cứu, lập hồ sơ, tư liệu, phục hồi các di sản văn hóa phi vật thể quan trọng tại các khu di sản thế giới. Đầu tư chiều sâu cho việc duy trì một số ngành nghề thủ công, lễ hội, nghệ thuật trình diễn tiêu biểu độc đáo tại các khu di sản. Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cơ quan địa phương, đảm bảo cho môi trường di sản thế giới (môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội), tạo sự ổn định, bền vững cho di sản văn hóa.

    Giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa.

    Để có những biện pháp hiệu quả trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, cần căn cứ những quy định về di sản của UNESCO, hiến chương Liên hợp quốc.

    Với quan điểm di sản là cái đang có, cái không thể thay thế, nên vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích cộng đồng, thì cái mới, cái xây dựng sau cần phải hết sức tôn trọng di sản gốc. Từ thực tiễn, những bài học có tính phổ quát trên phạm vi toàn thế giới, UNESCO đã ban hành nhiều công ước, hiến chương trong đó có nêu những nguyên tắc cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn, phát triển như: Hiến chương về bảo vệ thành phố, đô thị lịch sử, trong đó chức năng mới, các mạng kết cấu hạ tầng của đời sống đương đại đòi hỏi phải thích hợp với đặc trưng của thành phố lịch sử, bảo vệ di sản không có nghĩa bảo vệ một cách bất di bất dịch. Hiến chương cũng nêu rõ: “Việc đưa các yếu tố đương đại vào mà hài hòa được với tổng thể khung cảnh là có thể chấp nhận, bởi vì các yếu tố mới đó có thể góp phần làm cho khu vực thêm phong phú”.

    Ngày nay, du lịch được coi là một trong những phương tiện hàng đầu để trao đổi văn hóa, là động lực tích cực cho việc bảo vệ di sản văn hóa, di sản thiên nhiên đã thành một phức hợp đóng vai trò chủ yếu trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, sinh thái, thẩm mỹ. Mối tương tác giữa du lịch, di sản văn hóa được nêu tại Công ước quốc tế về du lịch văn hóa, được thông qua tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ XII. Một số mục tiêu đáng chú ý của Công ước: tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích ngành kinh doanh du lịch đẩy mạnh, quản lý du lịch theo hướng tôn trọng, phát huy di sản cùng các hiện tượng văn hóa đang tồn tại; tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích đối thoại giữa những người chịu trách nhiệm về di sản với những người kinh doanh du lịch, nhằm làm họ hiểu rõ hơn tầm quan trọng, tính chất mỏng manh dễ hỏng của các tổng thể di sản, các sưu tập, các văn hóa đang tồn tại, kể cả sự cần thiết phải đảm bảo một tương lai bền vững cho những di sản đó. Công ước đã đưa ra 6 nguyên tắc về du lịch văn hóa là: tạo ra những cơ hội quản lý tốt, có trách nhiệm cho các thành viên của cộng đồng, chủ nhà, các khách tham quan để họ thấu hiểu di sản văn hóa của cộng đồng đó; mối quan hệ giữa các địa điểm di sản, du lịch là có tính động, có thể có giá trị xung đột nhau nên cần quản lý mối quan hệ đó một cách bền vững cho hôm nay vì các thế hệ mai sau; lên kế hoạch bảo vệ, phát triển du lịch cho các địa điểm di sản, phải bảo đảm thu hút du khách;các cộng đồng chủ nhà, dân chúng bản địa phải được tham gia vào việc lập kế hoạch bảo vệ du lịch; hoạt động du lịch, bảo vệ phải có lợi cho cộng đồng chủ nhà; các chương trình xúc tiến du lịch phải bảo vệ, phát huy các đặc trưng của di sản thiên nhiên, di sản văn hóa. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giới thiệu, tăng tính hấp dẫn của di tích nhằm thu hút nhiều hơn nữa khách tham quan; tổ chức các hoạt động văn hóa tại di tích, hướng tới mục tiêu phục vụ phát triển du lịch bền vững là hết sức cần thiết. Nguồn tài nguyên di tích cũng sẽ bị cạn kiệt như những nguồn tài nguyên dầu mỏ, than đá… nếu chỉ khai thác mà không bảo tồn. Bảo tồn, khai thác luôn là hai mặt của một vấn đề, nếu chỉ bảo tồn mà không chú ý tới khai thác sẽ gây lãng phí tài nguyên, hạn chế việc phát huy giá trị; nếu chỉ khai thác mà không bảo tồn thì sẽ gây hủy hoại di tích, hủy hoại môi trường, để lại hậu quả to lớn cho toàn xã hội. Vì thế, cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích; tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực cho bảo tồn, phát huy giá trị di tích, bao gồm đội ngũ quản lý, đội ngũ nghiên cứu về di tích, các kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng, kỹ thuật viên, thợ nghề, nghệ nhân, những người làm công tác bảo vệ di tích ở cơ sở.

    Di sản văn hóa có vai trò to lớn đối với sự phát triển lành mạnh, bền vững của cuộc sống đương đại. Bảo vệ, phát huy giá trị của di tích là nền tảng, là nguồn động lực cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước. Đây cũng là quyền lợi, trách nhiệm của mỗi người cũng như của cả cộng đồng.

    Nguồn : Tạp chí VHNT số 385, tháng 7-2016

    Tác giả : BÙI BẠCH ĐẰNG – HOÀNG VĂN VÂN

    Ý kiến bạn đọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nỗ Lực Xóa Bỏ Tình Trạng Bất Bình Đẳng Giới
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới: Cần Những Hành Động Cụ Thể
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới Từ Những Điều Nhỏ Nhất
  • Nâng Cao Nhận Thức Của Sinh Viên Về Bình Đẳng Giới
  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Chia Sẻ Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Di Sản Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Giải Pháp Ứng Phó Của Việt Nam
  • Đi Tìm Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Giải Pháp Cho Tình Trạng Trẻ Biếng Ăn
  • Giúp Mẹ Đi Tìm Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Quang cảnh hội thảo

    Năm 1945, triều Nguyễn chấm dứt, Huế trở thành Cố đô. Tiếp theo đó là 30 năm chiến tranh ác liệt (1945-1975), kho tàng di sản văn hóa của Cố đô Huế bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng. Điều đó đặt ra những thách thức vô cùng to lớn cho sự nghiệp bảo tồn. Tuy nhiên, với sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế, nhiều công trình di tích của Huế đã được tu bổ, đảm bảo các nguyên tắc khoa học về bảo tồn của quốc gia, thỏa mãn các điều luật của Hiến chương, Công ước quốc tế, được các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá cao.

    Các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao những nỗ lực của Thừa Thiên Huế đối với công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế trên nhiều lĩnh vực. Liên hệ về sự tương đồng giữa kiến trúc gỗ cung đình Huế và kiến trúc gỗ truyền thống Nhật Bản, ông Mitsuhiko Nakamura (Hiệp hội Kiến trúc sư và Kỹ sư toàn Nhật Bản) chia sẻ câu chuyện về công tác bảo tồn kiến trúc gỗ của thành phố Kurayoshi. Trong nỗ lực bảo tồn các kiến trúc gỗ tại thành phố này, chính phủ Nhật Bản dành rất nhiều ưu đãi về thuế, như: thuế tài sản cố định, thuế quy hoạch thành phố và có thêm nhiều hoạt động phối hợp hỗ trợ từ các tay thợ lành nghề, gồm: thợ mộc, thợ trát tường, kiến trúc sư, thợ gỗ, thợ xây… và các chuyên gia bảo tồn.

    Nhìn ra nhiều giá trị di sản đang tiềm ẩn khác của Huế, như: ẩm thực, ca Huế, các sản phẩm thủ công truyền thống, lễ hội cung đình… chúng tôi Trương Quốc Bình (Hội Di sản Văn hóa Việt Nam) đề nghị: Bên cạnh việc tiếp tục bảo vệ và phát huy có hiệu quả kho tàng di sản văn hóa cung đình, Huế cần tiếp tục lựa chọn, nghiên cứu lập hồ sơ khoa học để đề xuất công nhận là di sản văn hóa quốc gia và di sản văn hóa thế giới cho các di sản đặc sắc nói trên.

    PGS.TS Đặng Văn Bài trả lời phỏng vấn báo chí

    Bàn đến một trong những vấn đề đang được quan tâm nhiều hiện nay là phát triển dịch vụ tại các điểm di sản, chúng tôi Đặng Văn Bài (Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam), cho rằng: Trong xu hướng xã hội hóa việc bảo tồn và phát huy di sản thế giới, việc tạo ra sự đa dạng về các sản phẩm và dịch vụ du lịch cần thiết có cơ chế mở để thu hút nguồn lực ngoài công lập theo hướng hợp tác công/tư là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các nguồn đầu tư tạo ra sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch không nên triển khai trong các khu vực bảo vệ di sản; đặc biệt, khoán cho tư nhân làm dịch vụ và khai thác di sản qua hình thức bán vé, thu phí vào thăm di sản. Như thế, vô tình chúng ta lại hạn chế khả năng tự chủ, tự quản của các đơn vị quản lý di sản văn hóa thế giới. Quản lý Nhà nước về di sản là không làm thay cho cộng đồng nhưng đồng thời không thể khoán trắng cho cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Góp Phần Bảo Tồn, Phát Huy Các Giá Trị Văn Hóa Đặc Sắc Của Các Dân Tộc Tỉnh Cao Bằng
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Vì Sự Phát Triển Bền Vững
  • Công Tác Quản Lý, Bảo Tồn Và Phát Huy Các Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Thiên Nhiên Thế Giới Quần Thể Danh Thắng Tràng An
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Trách Nhiệm Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản
  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Tồn, Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bảo Tồn Di Sản Ở Ninh Bình
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Các Di Sản Văn Hóa Gắn Liền Với Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Trách Nhiệm Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Công Tác Quản Lý, Bảo Tồn Và Phát Huy Các Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Thiên Nhiên Thế Giới Quần Thể Danh Thắng Tràng An
  • – (VH&ĐS) Những huyền thoại, truyền thuyết, cổ tích về công cuộc dựng nước và giữ nước, những sự kiện, nhân vật, chiến công lịch sử oai hùng và bi tráng vẫn luôn sống mãi trong tâm thức của người tỉnh Thanh. Truyền thống đó được hun đúc, khơi dậy đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng, tiềm năng của vùng quê “địa linh nhân kiệt” trong công cuộc bảo vệ, dựng xây đất nước theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

    Kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa của quê hương những năm qua Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có nhiều quyết định, chỉ thị về bảo tồn và phát huy giá trị vốn văn hóa vật thể, phi vật thể trên địa bàn tỉnh. Thực hiện Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh” năm 1984, Luật Di sản văn hóa năm 2001, Nghị định của Chính phủ năm 2002 nhiều vốn văn hóa vật thể phi vật thể trên địa bàn tỉnh đã được bảo tồn, tu bổ, tôn tạo, phục hồi phát huy tác dụng trong quá trình hội nhập, phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

    Sau khi có Pháp lệnh số 14, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, đến nay tỉnh đã thống kê, phân loại được 1.535 di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, danh thắng trong đó có 145 di tích công nhận quốc gia và 658 di tích cấp tỉnh. Nhiều bản sắc phong, câu đối, bản dập văn bia, thần phả, gia phả được sưu tầm, biên dịch. Ngành văn hóa đã tích cực chủ động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cấp ủy, chính quyền các cấp, mọi tầng lớp nhân dân về giá trị của di sản văn hóa để mọi cấp, mọi ngành, mọi người biết trân trọng, gìn giữ. Công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho các phòng, trung tâm văn hóa, cán bộ văn hóa xã, phường về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa được duy trì hàng năm. Việc lập hồ sơ khoa học, khoanh vùng, xếp loại di tích bảo đảm qui trình, qui định của Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ, của tỉnh. Việc sưu tầm vốn dân ca, dân vũ, trò chơi, trò diễn của các tộc người luôn được chú trọng. Nhiều lễ hội lịch sử, văn hóa, dân gian được bảo lưu, khôi phục và tổ chức trang trọng theo qui chế lễ hội đã ngăn ngừa được các hành vi lợi dụng lễ hội để hoạt động mê tín dị đoan, buôn thần, bán thánh. Các lễ hội đáp ứng nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của nhân dân như lễ hội đền Quang Trung, đền Bà Triệu, đền Sòng, đền Lê Hoàn, cầu Ngư, đền Độc Cước, Lam Kinh… Các điểm di tích đều có ban quản lý, các lễ hội đều thành lập ban tổ chức nên mọi hoạt động đều đảm bảo qui củ, nền nếp.

    Việc tu bổ, tôn tạo di tích bảo đảm đầy đủ hồ sơ thiết kế kỹ thuật được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nên đã không làm méo mó, biến dạng di tích. Các di tích đền thờ Bà Triệu, Lê Hoàn, Đồng Cổ, Dương Đình Nghệ, Lam Kinh… được tu bổ khang trang ngày càng cuốn hút nhiều du khách ở các vùng miền trong và ngoài tỉnh tham quan nhất là dịp tổ chức lễ hội.

    Vốn di sản văn hóa vật thể, phi vật thể phong phú, đa dạng của tỉnh là tài sản quí báu khi tỉnh ta cùng với đất nước ngày càng hội nhập sâu vào khu vực và thế giới. Với 4 di tích quốc gia đặc biệt: Lam Kinh, đền Bà Triệu, hang Con Moong và Thành Nhà Hồ vừa là di sản thế giới, vừa là di tích quốc gia đặc biệt và hàng trăm di tích quốc gia, cấp tỉnh cùng với kho tàng văn hóa dân gian của các tộc người luôn là niềm tự hào của mỗi người dân tỉnh Thanh. Để vốn di sản văn hóa đó ngày càng phát huy giá trị, theo thiển nghĩ của chúng tôi thời gian tới tỉnh ta cần tiếp tục triển khai thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

    1.Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyên qua hệ thống thông tin đại chúng các cuộc liên hoan, hội diễn nghệ thuật, ghi âm bằng đĩa nhạc, quay dựng băng đĩa hình, giới thiệu trưng bày các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ truyền thống, xuất bản sách nhằm nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, người dân về giá trị di sản văn hóa để có ý thức trân trọng, giữ gìn, phát huy giá trị trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

    2-Chọn lựa, bố trí cán bộ được đào tạo cơ bản, có năng lực, đạo đức tốt, yêu nghề làm công tác bảo tồn di sản văn hóa. Tập trung nâng cao chất lượng bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa cho các phòng, trung tâm văn hóa, cán bộ văn hóa xã, phường để họ tham mưu trúng, đúng cho lãnh đạo địa phương theo văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp có thẩm quyền.

    3-Cần lập qui hoạch, đề án tổng thể về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, xây dựng kế hoạch 5 năm, 10 năm, kế hoạch cụ thể hàng năm về tu bổ, tôn tạo, phục hồi, phát huy để vốn quí đó không bị mai một.

    4-Đẩy mạnh xã hội hóa thu hút nguồn lực của nhiều cấp, nhiều ngành, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tầng lớp nhân dân cả trong và ngoài tỉnh trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa.

    5-Ngành văn hóa phải thực sự tích cực chủ động, sáng tạo trong công tác tham mưu, đề xuất với tỉnh, bộ chủ quản cũng như phối hợp với các ngành hữu quan trong thực hiện kế hoạch bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đúng trình tự qui định của Luật Di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành để không làm méo mó, biến dạng di sản văn hóa.

    6-Có hình thức động viên khen thưởng cho những người có công phát hiện, gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh.

    Chính vì xác định rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của di sản văn hóa là nguồn động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nên những năm qua vốn di sản văn hóa được tỉnh quan tâm đầu tư công sức, tiền của đúng mức. Chính mạch nguồn di sản văn hóa là sức mạnh nội sinh đã cổ vũ, động viên cán bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh vươn lên trong hội nhập, phát triển với khu vực và thế giới. Sức mạnh của di sản văn hóa đã góp phần phát huy tính tích cực, gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước, lao động sáng tạo, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực, tha hóa về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong nền kinh tế thị trường. Để hội nhập và phát triển, xứng đáng với truyền thống “địa linh nhân kiệt” nhiệm vụ đặt ra cho cán bộ, nhân dân Thanh Hóa là phải trân trọng và bảo lưu, phát huy giá trị vốn di sản văn hóa, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Di sản văn hóa là nguồn sức mạnh tiềm tàng đưa Thanh Hóa vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa trở thành tỉnh khá của cả nước vào năm 2022 và cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030.

    Phạm Minh Trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam, Thành Tựu Và Thách Thức Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới: Cần Thêm Giải Pháp, Cơ Hội Cho Phụ Nữ, Trẻ Em Gái
  • Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Trao Quyền Cho Phụ Nữ Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi Hiện Nay
  • 9 Giải Pháp Trọng Tâm Về Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100