3 Nhân Tố Đảm Bảo Chức Năng Hệ Tuần Hoàn

--- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thần Kinh Thực Vật Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng? – Trankinhan.com
  • Vai Trò Một Số Dưỡng Chất Đối Với Quá Trình Hoàn Thiện Hệ Thần Kinh Trẻ Em
  • Thăm Dò Hệ Thần Kinh
  • Khái Niệm Thần Kinh Học
  • Giới Thiệu Đơn Vị Thăm Dò Chức Năng
  • Hệ tuần hoàn có chức năng quan trọng, duy trì sự sống của cơ thể. Để đảm bảo chức năng hệ tuần hoàn được duy trì cần có 3 yếu tố quan trong bao gồm thể tích tuần hoàn, mạch máu và tim. Chỉ một sự thay đổi trong các yếu tố trên có thể ảnh hưởng tới chức năng hệ tuần hoàn.

    1. Chức năng hệ tuần hoàn là gì?

    Hệ tuần hoàn chứa các thành phần quan trọng của cơ thể, có các chức năng chính bao gồm:

    • Vận chuyển các chất dinh dưỡng và oxy cho tế bào.
    • Vận chuyển các chất là sản phẩm bài tiết ra khỏi tế bào.
    • Vai trò trong hệ miễn dịch giúp cơ thể chống lại các bệnh lý nhiễm khuẩn.
    • Vận chuyển hormon tới cơ quan đích.
    • Điều hòa thân nhiệt do nguồn máu nóng sưởi ấm các cơ quan và làm nhiệm vụ thải nhiệt cho cơ thể, ổn định độ PH và duy trì cân bằng nội mô.

    Hệ tuần hoàn gồm có hệ tuần hoàn lớn và hệ tuần hoàn nhỏ:

    • Vòng tuần hoàn phổi: Máu sau khi trao đổi oxy tại tế bào, đã bị khử oxy được đưa vào tâm nhĩ phải, từ đây máu được chuyển sang tâm thất phải và được bơm vào động mạch phổi để đi lên phổi. Ở phổi, máu giải thoát khí CO2 và hấp thụ oxy rồi quay trở lại tim qua tĩnh mạch phổi.
    • Vòng tuần hoàn hệ thống: Máu từ vòng tuần hoàn phổi qua tĩnh mạch phổi là máu giàu oxy vào tâm nhĩ trái, rồi từ nhĩ trái xuống tâm thất trái. Máu được tim co bóp đẩy từ tâm thất trái vào động mạch chủ để phân phối đi khắp cơ thể. Sau khi trao đổi chất với các tế bào tại các mô trong cơ thể, máu trở lại tâm nhĩ phải qua tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới kết thúc vòng đại tuần hoàn.

    Chức năng hệ tuần hoàn vô cùng quan trọng đối với cơ thể, duy trì sự sống cho cơ thể. Để đảm bảo các chức năng này thì cần có những yếu tố quan trọng, nhằm duy trì và đảm bảo vận hành hệ thống tuần hoàn tốt nhất.

    2. Yếu tố đảm bảo chức năng hệ tuần hoàn

    Để đảm sự hoạt động và đảm bảo được những chức năng của hệ tuần hoàn cần có sự hoàn chỉnh của 3 yếu tố gồm tim, hệ mạch và thể tích tuần hoàn.

    2.1 Thể tích tuần hoàn

    Thể tích tuần hoàn còn gọi là máu, dùng để vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng, khí O2 đến các tế bào, mang chất thải từ tế bào trở về và thoát ra ngoài bằng các cơ quan bài tiết như đường hô hấp, qua thận.

    Khi có một nguyên nhân nào đó dẫn tới giảm thể tích tuần hoàn sẽ gây ra tình trạng sốc giảm khối lượng tuần hoàn. Sốc giảm tuần hoàn là một tình trạng đe dọa tính mạng do suy tuần hoàn, khiến cho việc cung cấp oxy không đủ để đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của tế bào gây ra tình trạng thiếu oxy tế bào và mô.

    Thể tích tuần hoàn có thể giảm khi bị mất nước, mất máu, tiêu chảy, sốt…

    Nếu tình trạng mất dịch trong cơ thể diễn ra nhanh hoặc kéo dài thì sẽ dẫn tới sốc, cần được bù dịch khi mất bằng đường uống hoặc tiêm truyền để đảm bảo chức năng tuần hoàn.

    2.2 Tim

    Tim nằm trong lồng ngực, có trục lệch trái, là một khối cơ rỗng, trọng lượng tim khoảng 300gram, được chia thành 4 buồng gồm 2 tâm nhĩ và 2 tâm thất:

    • Nhĩ phải và nhĩ trái, thành mỏng, nhận máu tĩnh mạch, đưa xuống tâm thất.
    • Tâm thất phải và tâm thất trái, thành dày, bơm máu vào động mạch với áp lực cao. Thành tâm thất trái dày gấp hai lần so với thành thất phải, do áp lực đưa máu vào động mạch chủ lớn.
    • Hai tâm nhĩ ngăn cách nhau bởi vách liên nhĩ, hai tâm thất ngăn cách nhau bởi vách liên thất.
    • Giữa tâm thất và tâm nhĩ được ngăn cản bởi các van nhĩ thất. Bên trái có van hai lá ngăn cách tâm nhĩ trái và tâm thất trái, bên phải có van ba lá ngăn cách tâm thất phải và nhĩ phải. Nó giúp máu chảy theo một chiều từ nhĩ xuống thất.

    Chức năng chính của tim là khi tim co bóp thì tạo áp lực đẩy máu vào trong động mạch, từ đó đi nuôi dưỡng cơ thể. Tim được hoạt động theo cơ chế tự động, điều hòa nhờ hệ thống thần kinh thực vật và được nuôi dưỡng bởi hệ thống động mạch vành.

    2.3 Hệ mạch

    Hệ mạch máu có chức năng vận chuyển máu tới cơ quan và từ cơ quan về tim. Hệ mạch gồm có động mạch, tiểu động mạch, mao mạch, tĩnh mạch và tiểu tĩnh mạch.

    • Động mạch có chức năng đưa máu từ tim tới các cơ quan, chức năng vận chuyển máu dưới áp suất lớn, do đó cấu tạo thành động mạch gồm 3 lớp cơ rất chắc khỏe và có khả năng chun giãn để tạo áp lực co bóp đẩy máu lưu thông. Khi xa dần tim động mạch chia thành các nhánh nhỏ mang chất dinh dưỡng và oxy đi nuôi dưỡng mô cơ quan. Huyết áp động mạch là áp suất máu trong động mạch, máu chảy được trong động mạch là kết quả của hai lực đối lập, lực đẩy máu của tim và lực cản của thành động mạch. Huyết áp động mạch duy trì ổn định thì máu từ động mạch có thể đến nuôi dưỡng các cơ quan, ngược lại nếu huyết áp thấp dẫn tới máu không nuôi dưỡng được cơ quan có thể dẫn tới tử vong. Còn nếu huyết áp động mạch quá cao gây ra áp lực lớn lên thành mạch, có nguy cơ vỡ thành mạch, nếu vỡ thành mạch tại não gây xuất huyết não…
    • Tiểu động mạch: Là các nhánh nhỏ cuối cùng của hệ động mạch, hoạt động như các van điều hòa lượng máu tới mao mạch tùy theo nhu cầu máu của cơ quan đó. Thành mạch có thể đóng tịt dòng máu hoặc mở rộng để máu qua nhiều nhờ sức mạnh của thành tiểu động mạch.
    • Mao mạch: Mao mạch có đặc tính là thành mỏng và có thể thấm được các phân tử nhỏ. Tại mao mạch các chất dinh dưỡng, khi, chúng tôi đổi chất với mô.
    • Tiểu tĩnh mạch: Từ mao mạch, máu đổ vào những mạch máu với thành mỏng gọi là tiểu tĩnh mạch.
    • Tĩnh mạch: Tiểu tĩnh mạch tập trung thành những tĩnh mạch lớn. Thành tĩnh mạch có 3 lớp giống như động mạch nhưng mỏng và dễ giãn rộng hơn. Các lớp của thành tĩnh mạch gồm:
    • Lớp trong cùng là lớp tế bào nội mạc với từng đoạn nhô ra tạo thành những nếp gấp hình bán nguyệt đối diện nhau tạo thành van tĩnh mạch, mục đích để hướng cho máu chảy một chiều về tim. Các van tĩnh mạch thì có ở các tĩnh mạch chi và không có van ở các tĩnh mạch nhỏ, tĩnh mạch từ não hoặc tĩnh mạch từ các tạng.
    • Lớp giữa gồm những sợi liên kết và sợi cơ.
    • Lớp ngoài mỏng gồm những sợi liên kết chun giãn. Có khả năng chun giãn tốt.

    Như vậy để đảm bảo được chức năng tuần hoàn thì cần 3 yếu tố quan trọng là tim, hệ mạch và thể tích tuần hoàn. Một sự thay đổi bất thường ở một trong 3 yếu tố đều gây ra sự suy giảm chức năng của hệ tuần hoàn, có thể nguy hiểm tới tính mạng của người bệnh.

    Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại. Bệnh viện cung cấp dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp, không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    Bài viết tham khảo nguồn: Hội Tim học Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim Người
  • Ii Câu Hỏi Ôn Tập Sgk 1 Tro9 Phạm V…
  • Tuần Hoàn Máu Là Gì?
  • Tập Đoàn Kido › Kinh Đô Trên Đường Phát Triển
  • Trắc Nghiệm Quản Trị Học – Chương 8
  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Tạo Liên Kết Hyperlink Trong Văn Bản Word
  • Tạo Liên Kết Hyperlink Trong Word
  • Cách Chèn Link Liên Kết Vào File Word, Chèn Hyperlink Trong Văn Bản Wo
  • Tạo Các Liên Kết (Link) Trong Ms Word
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tạo Liên Kết Trong Word
  • -Chức năng của hệ tuần hoàn :

    +Vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng đến các cơ quan trong cơ thể

    +Mang các chất thải của quá trình trao đổi chất đến các cơ quan bài tiết

    +Có vai trò trong hệ miễn dịch chống lại sự nhiễm khuẩn

    +Vận chuyển hormone

    -Cấu tạo:

    +Dịch tuần hoàn: còn gọi là máu, dùng để vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng, khí O2 đến các tế bào cũng như mang chất thải từ tế bào trở về và thoát ra ngoài bằng các cơ quan bài tiết.

    +Tim: tạo sự chênh lệch về áp suất để làm cho máu lưu thông.

    +Mạch máu: dùng để vận chuyển máu.

    +Các van: đảm bảo dòng chảy của máu theo một hướng nhất định.

    3

    – Đưa nạn nhân ra khỏi chỗ đông người và tiến hành hô hấp nhân tạo bằng phương pháp hà hơi thổi ngạt.

    – Đặt nạn nhân nằm ngửa, đầu ngửa ra phía sau

    – Bịt mũi nạn nhân bằng 2 ngón tay

    – Tự hít 1 hơi đầy lồng ngực rồi ghé môi sát miệng nạn nhân và thổi hết sức vào phổi nạn nhân, không để không khí thoát ra ngoài chỗ tiếp xúc với miệng.

    – Ngừng thổi để hít vào rồi lại thổi tiếp

    – Thổi liên tục 12-20 lần/phút cho tới khi quá trình tự hô hấp của nạn nhân được ổn định bình thường.

    5

    -Ăn đúng cách là ăn phải đúng giờ, khoảng cách bữa ăn đều, không để quá đói, bữa ăn tối cách giờ đi ngủ khoảng 3 tiếng, không nên ăn quá no, ăn uống vệ sinh, ăn thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng: protid, lipid, glucid, vitamin gồm thịt, cá, trứng, sữa, rau xanh hoa quả không nên ăn thức ăn chua cay, khi ăn phải nhai kỹ và sau khi ăn phải nghỉ ít nhất là 30 phút. Trong khi ăn phải tập trung không nên căng thẳng, cáu gắt, không nên vừa ăn vừa đọc báo đọc sách và xem vô tuyến.

    -Trong khoang miệng của chúng ta có chứa nhiều vi khuẩn. Vi khuẩn lợi dụng chất đường trong thức ăn để tạo ra một loại đốm khuẩn nằm ở vị trí giữa khe răng và răng. Những đốm khuẩn này trở thành nơi trú ngụ của vi khuẩn. Chúng tồn tại trong các đốm khuẩn sinh sôi và nảy nở. Cứ thế, vi khuẩn tạo ra nhiều đốm khuẩn. Ngoài ra, thức ăn còn tạo ra một chất có tính axit. Đừng cho rằng răng của chúng ta là cứng. Răng là thứ sợ axit nhất. Bởi vì, axit sẽ bào mòn canxi của răng, khiến cho răng bị đi. Ban ngày, miệng của chúng ta hoạt động rất nhiều, có thể tiết ra lượng lớn dịch nước bọt khiến cho đường có thể hoà tan. Ngoài ra, sự ma sát khi mồm hoạt động còn có thể làm giảm cơ hội hình thành đốm khuẩn. Vì vậy, ban ngày những phần tử xấu không có cơ hội hoạt động. Nhưng, khi chúng ta ngủ, sự hoạt động của miệng ít đi, những phần tử xấu thừa cơ nổi loạn. Vì thế, trước khi đi ngủ không ăn vật đặc biệt là những đồ ăn có chứa nhiều đường như kẹo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Hồng Cầu
  • Chức Năng Của Hồng Cầu
  • Hoạch Định Là Gì Và Những Đặc Điểm Của Hoạch Định
  • Hướng Dẫn Cách Cài Đặt Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Iphone 6, Iphone 6 Plus
  • 5 Cách Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Iphone Đơn Giản Nhất
  • Câu 5: A. Trình Bày 5 Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Sinh 11A1
  • Ở Côn Trùng, Hệ Tuần Hoàn Hở Chỉ Thực Hiện Chức Năng Nào?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim Người (Phần 1)
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Màng Tim
  • Trong Hệ Tuần Hoàn Của Người, Cấu Trúc Nào Sau Đây Thuộc Hệ Dẫn Truyền Tim?
  • Câu 5: a. Trình bày 5 chức năng của hệ tuần hoàn.

    b.Hãy mô tả đường đi của máu trong cơ thể từ đầu tới tay phải.

    c. Trong cơ thê có những loại mạch máu nào? Phân tích đặc điểm cấu tạo phù hợp với chức năng từng loại mạch.

    Trả lời: a. 5 chức năng của hệ tuần hoàn:

    • Đảm bảo sự điều hòa hoạt động giữa các cơ quan, bộ phận trong cơ thể
    • Đảm bảo sự liên lạc giữa các cơ quantrong cơ thể và giữa cơ thể với môi trường bên ngoài bằng con đường thể dịch.
    • Vận chuyển các chất dinh dưỡng và oxi đến từng tế bào và mang đi các sản phẩm không cần thiết cho tế bào do quá trình sống của tế bào thải ra để đưa ra ngoài cơ thể.
    • Điều hòa nhiệt độ cơ thể.
    • Bảo vệ cơ thể.

    b. Máu từ đầu qua tĩnh mạch chủ trên đổ về tâm nhĩ phải, dồn xuống tâm thất phải qua động mạch phổi, đến mao mạch phổi. Tại đây xảy ra sự trao đổi khí, máu trở nên giàu oxi theo tĩnh mạch phổi đổ về tâm nhĩ trái, từ tâm nhĩ trái dồn xuống tâm thất trái theo động mạch chủ về tay phải.

    c. Trong cơ thể có 3 loại mạch máu: Động mạch, tĩnh mạch, mao mạch.

    – Động mạch: Có chức năng dẫn máu từ tim đến các cơ quan.

    Cấu tạo động mạch phù hợp vối chức năng: Thành động mạch khá dày, dai và đàn hồi, có 3 lớp tế bào: Ngoài là màng liên kết với các nhánh thần kinh, giữa là sợi đàn hồi và sợi cơ trơn, trong cùng là một lớp biểu bì. Thành cơ động mạch dày và có nhiều sợi đàn hồi có ý nghĩa tạo lực co khá mạnhđể hỗ trợ lực đẩy máu của tim đưa máu tuần hoàn, ngoài ra còn giúp động mạch có thể dãn ra dễ dàng, tránh tổn thương do áp lực máu.

      Tĩnh mạch: Có chức năng dẫn máu từ các cơ quan về tim.

    Cấu tạo tính mạch phù hợp chức năng: Thành tĩnh mạch có 3 lớp như động mạch nhưng mỏng hơn, ít sợi đàn hồi và nhiều sợi cơ trơn nên khi đứt thì miệng tĩnh mạch dẹp xuống làm cho máu đông lại. Các tĩnh mạch chân có van xếp hướng về tim để máu không chảy ngược trở lại do sức hút của trọng lực.

      Mao mạch: Là nơi xảy ra sự trao đổi khí giữa máu và tế bào.

    Đặc điểm cấu tạo phù hợp với chức năng: Thành mao mạch rất mỏng, chỉ có 1 lớp tế bào, bề mặt tiếp xúc lớn giúp thuận lợi cho việc khuếch tán các chất giữa máu và tế bào dễ dàng. Đường kính mao mạch rất nhỏ làm máu di chuyển trong mạch rất chậm, giúp máu và tế bào có đủ thời gian để trao đổi hết các chất.

    III/ Hướng dẫn về nhà:

    -Học bài cũ, ôn lại những kiến thức đã học trong buổi học

    ………………………………………………..o0o……………………………………………………..

    NS: 5/11/2015 Tiết 13,14 CHUYÊN ĐỀ HỆ HÔ HẤP

    I/ Mục tiêu:

    1. Kiến thức:

    + Giúp HS hiểu được cấu tạo của hệ hô hấp.

    Thấy được sự khác nhau trong hệ hô hấp của người và thỏ từ đó thấy được hệ hô hấp của người tiến hóa hơn thỏ ở những đặc điểm nào.

    + Hiểu được tác dụng của cơ hoành trong cử động hô hấp.

    + Nêu được các quá trình thông khí ở phổi.

    + Phân biệt sự khác nhau giữa TĐK ở phổi và TĐK ở tế bào.

    2. Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng so sánh, phân tích.

    3. Thái độ: Giáo dục ý thức bảo vệ cơ quan và hệ tiêu hoá cho bản thân.

    II/ Tiến trình dạy học:

    1. Kiểm tra bài cũ: Tiến hành trong tiết dạy.

    2. Bài mới:

    Câu 1: So sánh sự TĐK ở phổi và TĐK ở tế bào?

    TĐK ở phổi

    TĐK ở tế bào

    Giống nhau

    Các chất khí trao đổi theo cơ chế khuếch tán từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp.

    Khác nhau

    Là sự khuếch tán O 2 từ không khí ở phế nang vào máu và CO 2 từ máu vào phế nang

    Là sự khuếch tán của O 2 từ máu vào tế bào và CO 2 từ tế bào vào máu.

    – Sự TĐK ở phổi: Giúp cho O 2 trong phế nang khuếch tán vào máu và CO 2 theo chiều ngược lại làm cho máu ra khỏi phổi về tim mang nhiều O 2 và CO 2 ít hơn tạo điều kiện thuận lợi cho sự TĐK ở TB.

    – Sự TĐK ở TB: Giúp O 2 khuếch tán từ mao mạch máu vào nước mô rồi vào TB và CO 2 khuếch tán theo chiều ngược lại.

    Câu 3: Hút thuốc lá có hại như thế nào đối với hệ hô hấp của cơ thể?

    – CO: Chiếm chỗ của oxi trong hồng cầu làm cho cơ thể ở trạng thái thiếu oxi đặc biệt khi cơ thể hoạt động mạnh.

    – NO x: Gây viêm, sưng lớp niêm mạc cản trở trao đổi khí ó thể gây tử vong nếu bị tác động liều cao.

    – Nicotin: Làm tê liệt lớp lông rung trong phế quản, giảm hiệu quả lọc sạch không khí có thể gây ung thư phổi.

    Câu 4: So sánh sự hô hấp ở thỏ và người?

    * Giống nhau:

    – Gồm các giai đoạn thông khí ở phổi, trao đổi khí ở phổi, trao đổi khí ở tế bào.

    – Sự trao đổi khí ở tế bào cũng theo cơ chế khuếch tán từ nơi có nồng độ cao về nơi có nồng độ thấp.

    * Khác nhau:

    – Ở thỏ: Sự thông khí ơ phổi chủ yếu do hoạt động của cơ hoành và lồng ngực, do bị ép giữa 2 chi trước nên không dãn nở về phía 2 bên.

    – Ở người sự thông khí ở phổi do nhiều cơ phối hợp hơn, lồng ngực dãn nở về 2 bên.

    Câu 5: Nêu tác dụng của cơ hoành?

    Cơ hoành co dãn làm thay đổi lồng ngực. Khi cơ hoành co thể tích lồng ngực lớn, áp suất giảm, không khí tràn vào phổi( hít vào)

    Khi cơ hoành dãn, thể tích lồng ngực giảm, áp suất tăng, không khí từ phổi tràn ra ngoài.

    Câu 6: Hoạt động hô hấp ở người diễn ra như thế nào? Cần phải rèn luyện thế nào để có hệ hô hấp khỏe mạnh?

    * Hoạt động hô hấp ở người diễn ra như sau:

    – Sự thở: Nhờ hoạt động phối hợp của các cơ hô hấp làm thể tích lồng ngực thay đổi mà ta thực hiện được sự hít vào và thở ra, giúp cho không khí trong phổi thường xuyên được đổi mới, đảm bảo nồng độ O 2 và CO 2 trong không khí phế nang thích hợp cho sự trao đổi khí ở phổi.

    – Sự trao đổi khí ở phổi: Nhờ nồng độ O 2 trong không khí phế nang cao hơn trong máu nên O 2 đã khuếch tán từ phế nang vào máu và liên kết với Hb (Hê mô glô bin) trong hồng cầu. Ngược lại, nồng độ CO 2 trong máu cao hơn trong phế nang nên CO 2 đã khuếch tán từ máu ra phế nang.

    – Sự trao đổi khí ở tế bào: Máu giàu O 2 và nghèo CO 2 từ mao mạch phổi được trở về tim rồi đi tới tất cả các tế bào của cơ thể. Tại mao mạch máu quanh các tế bào, nhờ nồng độ O 2 trong máu cao hơn trong nước mô và trong tế bào (vì Tế bào đã sử dụng O 2 để Ôxi hóa các chất để tạo ra năng lượng) nên O 2 đã khuếch tán từ máu vào nước mô rồi vào tế bào. Ngược lại, CO 2 đã khuếch tán từ tế bào vào nước mô rồi vào máu.

    * Biện pháp rèn luyện để có hệ hô hấp khỏe mạnh:

    – Tích cực tập thể dục, thể thao, phối hợp tập thở sâu để giảm số nhịp thở.

    – Tập thường xuyên, đều đặn từ bé….

    Câu 7: Tại sao những người làm việc ở nơi không khí có nhiều khí cacbon ôxit ( khí CO) lại bị ngộ độc.

    TL:

    – Trong hồng cầu của người có Hêmôglôbin (Hb), Hb thực hiện chức năng kết hợp lỏng lẻo với ôxi để vận chuyển ôxi cho các tế bào; kết hợp lỏng lẻo với khí cacbonic (CO 2) để chuyển về phổi và thải ra ngoài.

    – Trong môi trường không khí có khí độc cacbon ôxit (CO), chất khí này (CO) kết hợp rất chặt chẽ với Hb nên việc giải phóng CO của Hb diễn ra rất chậm, làm cho hồng cầu mất tác dụng vận chuyển ôxi và thải khí CO 2. Do đó gây độc cho cơ thể: không cung cấp đủ ôxi cho não gây hoa mắt và ngất xỉu, không thoát hết lượng CO 2 ra khỏi cơ thể  ngộ độc.

    III/ Hướng dẫn về nhà:

    -Học bài cũ, nắm lại các kiến thức đã học trong buổi học.

    – Nghiên cứu tiếp nội dung hô hấp trong tài liệu để chuẩn bị cho tiết học sau

    ………………………………………………………….o0o…………………………………………………

    NS: 13/11/2015. Tiết 15,16 CHUYÊN ĐỀ HỆ HÔ HẤP( TT)

    I/ Mục tiêu:

    1.Kiến thức:- So sánh quá trình quang hợp và hô hấp ở thực vật

    – Nắm được các đặc điểm cấu tạo của hệ hô hấp thích nghi với chức năng trao đổi khí

    2. Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng so sánh

    3. Thái độ: Có thái độ nghiêm túc khi học tập.

    II/Tiến trình dạy học:

    Câu 8:Hô hấp và quang hợp có những điểm gì giống và khác nhau?

    * Giống nhau giữa hô hấp và quang hợp:

    – Đều là quá trình có ý nghĩa đối với đời sống của cây xanh.

    – Đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, không khí…

    * Khác nhau giữa hô hấp và quang hợp:

    Hô hấp

    Quang hợp

    – Xảy ra ở tất cả các bộ phận của cây

    – Phân giải chất hữu cơ

    – Xảy ra ở lá cây xanh

    – Hút khí cacbônic và nhả khí oxi

    – Chế tạo chất hữu cơ.

    Câu 9: Nêu những đặc điểm trong cấu tạo của các cơ quan trong đường dẫn khí có tác dụng tham gia bảo vệ phổi tránh khỏi các tác nhân có hại? Để có một hệ hô hấp khoẻ mạnh thì ta phải làm gì?

    TL:

    + Làm ẩm không khí là do lớp niêm mạc tiết chất nhầy lót trong đường dẫn khí.

    + Làm ấm không khí do lớp mao mạch dày đặc, căng máu và nóng ấm ở dưới lớp niêm mạc mũi, phế quản.

    + Tham gia bảo vệ phổi: lông mũi (giữ hạt bụi lớn); chất nhày do niêm mạc tiết ra giữ lại hạt bụi nhỏ; lớp lông rung (quét bụi ra khỏi khí quản); nắp thanh quản (sụn thanh thiệt) đậy kín đường hô hấp cho thức ăn khỏi lọt vào khi nuốt; tế bào limpho ở các hạch amiđan và tuyến V.A tiết kháng thể vô hiệu hoá tác nhân gây nhiễm.

    Biện pháp: HS tự trả lời

    Câu 10 :

    1. Bản chất của sự hụ hấp ngoài và hụ hấp trong là gỡ?

    2. Giải thích cơ sở sinh lý của tiếng khúc chào đời?

    1.

    – Hô hấp ngoài:

    – Hô hấp trong

    2. Cơ sở sinh lí của tiếng khóc chào đời.

    Câu 11

    a. Trình bày cơ chế thông khí ở phổi người trong hô hấp thường.

    b. Cơ chế khuếch tán thể hiện trong sự trao đổi khí ở phổi và tế bào như thế nào ?

    Câu 12: Theo dõi khả năng nhịn thở lúc bình thường với sau khi lặn xuống nước 1 phút? Trường hợp nào nhịn lặn hơi ? tại Sao ?

      Vì sao O xi từ ngoài không khí lại đến được tế bào ?

    a Lúc bình thường nhịn thở lâu hơn sau khi lặn 1 phút vì : Khi lặn cơ thể phải nín thở lặn dẫn đến hàm lượng CO 2 ở phế nang lớn, ô xi thấp , kích thích trong khi hoạt động để cung cấp o xi.

    b. Để đến được tế bào thì oxi phải đi qua phế nang vào máu và đi đến tế bào .

    Cụ thể : ở phổi do phân áp của oxi ở trong máu, oxi từ phế nang vào máu theo………… Vào máu kết hợp lỏng lẻo với hêmôglíin(HbO 2) để tế bào oxi đi tiếp nhỏ khuếch tán.

    Câu 13: Suy hô hấp là gì ? Nguyên nhân gây ra suy ho hấp? Bệnh nhân bị suy hô hấp các hệ cơ quan khác có bị ảnh hưởng như thế nào ?

    TL: Suy hô hấp suy giảm khả năng TĐC khi ở phổi dẫn đến thiếu oxi cho quá trình TĐC ở tế bào

    • Nguyên nhân : Do vi rút sống ký sinh ở niêm mạc đường hô hấp đặc biệt chủ yếu là ở các phế nang của phổi làm mất khả năng TĐK ở các phế nang
    • Hậu quả : Suy ho hấp, cơ thể thiếu oxi, trao đổi chấ giảm, cơ thể thiếu năng lượng, Tất cả các quá trình đều hoạt động yếu dần .

    Câu 14:

    1- Nêu đặc điểm cấu tạo phù hợp với chức năng của phổi.

    2- Khi con người hoạt động mạnh thì nhịp hô hấp thay đổi như thế nào ? Giải thích ?

    1- Nêu đặc điểm cấu tạo phù hợp với chức năng của phổi.

    – Phổi là bộ phận quan trọng nhất của hệ hô hấp nơi diễn ra sự trao đổi khí giữa cơ thể với môi trường bên ngoài.

    – Bao ngoài hai lá phổi có hai lớp màng, lớp màng ngoài dính với lồng ngực, lớp trong dính với phổi, giữa hai lớp có chất dịch giúp cho phổi phồng lên, xẹp xuống khi hít vào và thở ra.

    – Đơn vị cấu tạo của phổi là phế nang tập hợp thành từng cụm và được bao bởi màng mao mạch dày đặc tạo điều kiện cho sự trao đổi khí giữa phế nang và máu đến phổi được dễ dàng.

    – Số lượng phế nang lớn có tới 700 – 800 triệu phế nang làm tăng bề mặt trao đổi khí của phổi.

    2- Khi con người hoạt động mạnh thì nhịp hô hấp thay đổi như thế nào ? Giải thích ?

    – Khi con người hoạt động mạnh thì nhịp hô hấp tăng.

    – Giái thích: Khi con người hoạt động mạnh cơ thể cần nhiều năng lượng - Hô hấp tế bào tăng  Tế bào cần nhiều oxi và thải ra nhiều khí cacbonic  Nồng dộ cacbonic trong máu tăng đó kích thích trung khu hô hấp ở hành tủy điều khiển làm tăng nhịp hô hấp.

    III/ Hướng dẫn về nhà:

    • Học bài cũ và nắm lại các kiến thức trong buổi học
    • Chuẩn bị trước nội dung về trao đổi chất và năng lượng

    ………………………………………………………….o0o…………………………………………..

    NS: 20/11/2015. Tiết 17,18 CHUYÊN ĐỀ HỆ TIÊU HOÁ

    I/ Mục tiêu:

    – Kiến thức:

    + Trình bày vai trò cá cơ quan tiêu hoá trong sự biến đổi thức ăn về 2 mặt lí học và hoá học.

    + Trình bày sự biến đổi thức ăn trong ống tiêu hoá về mặt cơ học và sựu biến đổi hoá học nhờ các dịch tiêu hoá do tuyến tiêu hoá tiết ra đặc biệt là ở ruột.

    + Nêu đặc điểm cấu tạo của ruột phù hợp với chức năng hấp thụ, xác định con đường vận chuyển các chất dinh dưỡng đã được hấp thụ.

    + Kể một số bệnh về đường tiêu hoá thường gặp và cách phòng tránh.

    – Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích kết quả thí nghiệm về tính chất của ezim trong quá trình tiêu hoá thông qua thí nghiệm.

    – Thái độ: Giáo dục ý thức bảo vệ cơ quan và hệ tiêu hoá cho bản thân.

    II/ Đồ dùng dạy học:

    + Tranh vẽ cấu tạo hệ tiêu hoá.

    + Thí nhgiệm: ống nghiệm, tinh bột, iôt, nước bọt…

    III/ Tiến trình dạy học:

    2. Kiểm tra bài cũ:

    3. Bài mới:

    Câu 1: Thực chất biến đổi lí học trong khoang miệng là gì?

    Là sự cắt nhỏ, nghiền cho mềm nhuyễn, đảm trộn cho thức ăn thấm đẫm nước bọt.

    Câu 2: Khi ta ăn cháo hay uống sửa, loại thức ăn nào được biến đổi ở khoang miệng, loại thức ăn nào biến đổi ở dạ dày?

    – Với cháo: Thấm 1 ít nước bọt, một phần tinh bột trong cháo bị enzim amilaza trong nước bọt biến đổi, phân giải thành đường đơn.

    – Với sữa: Thấm 1 ít nước bọt, sự tiêu hoá hoá học không diễn ra ở khoang miệng do thành phần hoá học của sữa là prôtêin, đường đôi hoặc đường đơn. Sữa được phân giải và biến đổi chủ yếu ở dạ dày và ruột non.

    Câu 3: Một người bị triệu chứng thiếu axit trong dạ dày thì sự tiêu hoá ở ruột non như thế nào?

    Môn vị thiếu tín hiệu đóng nên thức ăn qua môn vị xuống ruột non liên tục và nhanh hơn, thức ăn không đủ thời gian thấm đều dịch vị và dịch tiêu hoá của ruột non nên hiệu quả tiêu hoá sẽ thấp.

    Câu 4: Khi nhai cơm lâu trong miệng có cảm giác ngọt là vì sao?

    Vì tinh bột trong cơm đã chịu tác động cưa enzim amilaza trong nước bọt biến đổi một phàn tinh bột thành đường mantozo nên cho ta cảm giác ngọt.

    Câu 5: Gan đảm nhiệm những vai trò gì trong quá trình tiêu hoá ở người?

    + Tiết dịch mật giúp tiêu hoá lipit thành glixerin và axit béo.

    + Khử các chất độc lọt vào mao mạch máu cùng với chất dinh dưỡng.

    + Điều hoà nồng độ các chất dinh dưỡng trong máu được ổn định.

    + Dự trữ nguồn đường cho cơ thể: glucozo thành glycogen và ngược lại.

    Câu 6: Bằng kiến thức đã học em hãy giải thích câu ca dao:

    Ăn no chớ có chạy đầu,

    Đói bụng chớ có tắm lâu mà phiền.

    *Giải thích ý nghĩa của câu ca dao:

    Ăn no chớ có chạy đầu,

    Chạy là hoạt động cần nhiều năng lượng, nhất lại là chạy thi, chạy vượt lên đầu. Trong lúc vừa ăn no xong thì cần tập trung năng lượng cho hoạt động của cơ quan tiêu hóa, cơ quan nào mà đang hoạt động thì máu phải rồn đến nhiều, mang O 2 và chất dinh dưỡng tới để Ôxi hóa tạo năng lượng cho cơ quan đó hoạt động. Đây là lời khuyên để đảm bảo cho sự tiêu hóa được tốt hợp vệ sinh, đảm bảo cho sự phân phối máu hợp lý cho các cơ quan đang hoạt động. Nếu ăn xong chạy ngay thì xẽ bị “đau xóc” nhất lại là chạy nhanh vượt lên đầu thì càng nguy hiểm, ăn vừa xong sẽ bị đầy khó tiêu vì máu đã rồn vào hoạt động chạy vì thế hạn chế hoạt động của cơ quan tiêu hóa, các tuyến tiêu hóa giảm tiết, các cơ ở thành ống tiêu hóa hạn chế co bóp để tiêu hóa thức ăn.

    Để phân phối máu hợp lý nhất phải là:

    Căng cơ bụng, trùng cơ mắt.

    (Nghĩa là sau khi ăn no, nên nghỉ và ngủ để đảm bảo máu dồn vào hệ tiêu hóa, giúp tiêu hóa tốt).

    Đói bụng chớ có tắm lâu mà phiền.

    Đây cũng là lời khuyên trong sử dụng năng lượng hợp lý. Khi tắm cơ thể sẽ mất nhiệt, vì vậy cơ thể phải tăng sinh nhiệt để bù lại phần nhiệt mất đi khi tắm, giữ cho thân nhiệt ổn định. Đây là hiện tượng mất thăng bằng trong thu chi năng lượng, có chi mà không có thu. Năng lượng mất đi không được bù lại, dị hóa vượt đồng hóa là sự bất thường trong hoạt động sinh lý của cơ thể dẫn tới cơ thể dễ bị cảm lạnh do hạ nhiệt, có thể đột quỵ, tử vong….

    Câu 7:

    Hãy nêu quá trình tiêu hoá thức ăn ở ruột non ?

    * Quá trình tiêu hoá ở ruột non:

    Gồm quá trình tiêu hóa cơ học và tiêu hóa học.

    + Quá trình tiêu hóa cơ học ở ruột non: Là do các tác động co thắt của cơ vòng và cơ dọc đẩy thức ăn xuống phần tiếp theo của ruột, giúp thức ăn thấm đều dịch tiêu hóa…: Các tác động cơ học

    • Co thắt từng phần của ruột non
    • Cử động qủa lắc của ruột non
    • Cử động nhu động của ruột non

    Cử động nhu động ngược của ruột non

    + Quá trình tiêu hoá hóa học ở ruột non:

    – Muối mật trong dịch mật cùng với các hệ Enzim trong dịch tụy và dịch ruột phối hợp hoạt động cắt nhỏ dần các đại phân tử thức ăn thành các phân tử chất dinh dưỡng cơ thể có thể hấp thu được.

    Tinh bột, đường đôiĐường đôi Đường đơn

    Prôtêin Peptít Axit amin

    Lipít các giọt lipít nhỏ Axit béo và Glixêrin

    Câu 8:

    a) Chất dinh dưỡng được hấp thụ từ dạ dày và ruột chuyển về nuôi các bộ phận tay phải của người phải đi qua những cơ quan nào?

    b) Ở lứa tuổi học sinh có nên uống rượu bia hay không? Vì sao người say rượu khi định bước đi một bước lại phải bước tiếp theo một bước nữa?

    bộ phận tay phải của người phải đi qua những cơ quan sau:

    Trả lời:

    a. Chất dd (Dạ dày, ruột) TM Gan Gan TM chủ dưới Tim ĐM phổi

    Phổi TM Phổi Tim ĐMC trên Tay phải.

    b. Học sinh không nên uống rượu bia vì sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, làm suy giảm trí nhớ, gây ra các biểu hiện không hay về hành động, lời nói… đặc biệt rượu sẽ làm giảm chức năng của hệ thần kinh sẽ gây ra các hậu quả đáng tiếc.

    Người say rượu thường bước một bước rồi lại bước thêm một bước nữa vì khi say rượu sẽ ảnh hưởng đến tiểu não làm cho khả năng giữ cân bằng cơ thể của coin người bị suy giảm nhiều do đó khi bước cơ thể không được cân bằng do đó phải bước thêm một bước nữa để 2 chân ngang bằng nhau mới giữ được cân bằng.

    Câu 9:

    a) Đặc điểm cấu tạo của ruột non thích nghi với vai trò hấp thụ các chất dinh dưỡng?

    b) Giải thích vì sao Protein trong thức ăn bị dịch vị phân huỷ nhưng Protein của lớp niêm mạc dạ dày lại được bảo vệ và không bị phân huỷ?

    TL:

    b. Protein của thức ăn tiếp xúc trực tiếp với enzim tiêu hoá của dịch vị dạ dày nên bị enzim phân huỷ còn protein của lớp niêm mạc dạ dày được bao phủ bởi một lớp chất nhầy, chính lớp chất nhầy này làm cho lớp protein này không tiếp xúc trực tiếp với enzim tiêu hoá của dịch vị dạ dày nên enzim dịch vị dạ dày không thể phân huỷ protein được.

    ……………………………………………………o0o…………………………………………………………

    NS: 3/12/2015. Tiết 19,20 CHUYÊN ĐỀ HỆ TIÊU HOÁ (tt)

    I/ Mục tiêu:

      Kiến thức: Nắm được các hoạt động tiêu hóa ở dạ dày, ruột non

    Trình bày được cấu tạo của dạ dày phù hợp với chức năng hấp thụ chất dinh dưỡng và biến đổi lí học như thế nào

    So sánh các hoạt động biến đổi thức ăn ở dạ dày và ruột non.

    Trình bày quá trình thải phân và giải thích một số hiện tượng thực tế

    • Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng so sánh, phân tích
    • Thái độ: Có thái độ nghiêm túc khi làm bài chăm chỉ học tập

    II/ Tiến trình dạy học:

    Поделитесь с Вашими друзьями:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 18. Tuần Hoàn Máu
  • 11 Sự Thật Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn
  • Câu 2 (4,0 Điểm): 1. Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Của Cơ Tim Thích Nghi Với Chức Năng Của Nó. 2. Trình Bày Năm Chức Năng Chính Của Hệ Tuần Hoàn. 3. Hãy Mô Tả Đườ
  • Giải Đáp Thắc Mắc: Hệ Tuần Hoàn Gồm Những Gì?
  • Lý Thuyết Tuần Hoàn Máu
  • Ở Côn Trùng, Hệ Tuần Hoàn Hở Chỉ Thực Hiện Chức Năng Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim Người (Phần 1)
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Màng Tim
  • Trong Hệ Tuần Hoàn Của Người, Cấu Trúc Nào Sau Đây Thuộc Hệ Dẫn Truyền Tim?
  • Bài 19. Tuần Hoàn Máu (Tiếp Theo)
  • Bài 18: Tuần Hoàn Máu (Tiêt1)
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Động vật nào có hệ tuần hoàn hở?
    • Chức năng của hệ tuần hoàn là
    • Tôm, cua, trai, sò, hến có hệ tuần hoàn
    • Cấu tạo hệ tuần hoàn kín gồm:
    • Đặc điểm của hệ tuần hoàn hở là
    • Thành phần của hệ mạch gồm:
    • Nhóm động vật nào sau đây có hệ tuần hoàn hở?
    • Các nhóm động vật nào sau đây có hệ tuần hoàn kín?
    • Cho các nhóm động vật:1. Đa số động vật thân mềm.
    • Nhóm động vật nào sau đây có hệ tuần hoàn kép?
    • Điểm khác nhau giữa hệ tuần hoàn ở người và hệ tuần hoàn ở cá là
    • Cấu tạo hệ tuần hoàn hở gồm:
    • Hệ tuần hoàn hở thích hợp với động vật có đặc điểm
    • Trong hệ tuần hoàn kép
    • Hệ tuần hoàn đơn có đặc điểm
    • Hệ tuần hoàn kép có đặc điểm
    • Cho các nhóm động vật:1. Có xương sống2. Mực ống, bạch tuộc, giun đốt3. Một số thân mềm và chân khớp4.
    • Sự lưu thông của máu trong hệ tuần hoàn kín như thế nào?
    • Nhóm động vật không có sự pha trộn giữa máu giàu O2 và máu giàu CO2 ở tim?
    • Ở nhóm động vật nào sau đây động mạch vận chuyển cả máu giàu O2 và giàu máu giàu CO2?
    • Ở nhóm động vật nào sau đây, động mạch vận chuyển cả máu giàu O2, máu giàu CO2 và máu pha?
    • Máu không có chức năng vận chuyển khí ở nhóm động vật nào sau đây?
    • Hệ tuần hoàn hở máu chứa sắc tố
    • Hệ tuần hoàn kín máu chứa sắc tố
    • Vì sao hệ tuần hoàn của thân mềm và chân khớp được gọi là hệ tuần hoàn hở
    • Ở côn trùng, hệ tuần hoàn hở chỉ thực hiện chức năng nào?
    • Hệ tuần hoàn của đa số động vật thân mềm không có đặc điểm nào?
    • Động lực vận chuyển máu trong hệ mạch là gì?
    • Đặc điểm của hệ tuần hoàn kín:1. Máu chảy trong động mạch dưới áp lực thấp.2.
    • Cho các đặc điểm sau:1. Máu chảy trong động mạch dưới áp lực cao.2.
    • Khả năng co giãn tự động theo chu kỳ của tim được gọi là gì?
    • Trong hệ dẫn truyền tim, xung điện phát và truyền theo trật tự:
    • Một chu kì hoạt động của tim bao gồm các pha theo thứ tự nào sau đây?
    • Thời gian hoạt động của mỗi pha trong một chu kỳ tim lần lượt là
    • Huyết áp là gì?
    • Nhịp tim của người bình thường là bao nhiêu?
    • Ở người bình thường có huyết áp tâm thu và tâm trương lần lượt là bao nhiêu ?
    • Trong hệ mạch huyết áp giảm dần từ
    • Huyết áp động mạch ở người thường được đo ở đâu?
    • Tăng huyết áp gây hậu quả gì?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Ôn Sinh 11A1
  • Câu 5: A. Trình Bày 5 Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn
  • Bài 18. Tuần Hoàn Máu
  • 11 Sự Thật Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn
  • Câu 2 (4,0 Điểm): 1. Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Của Cơ Tim Thích Nghi Với Chức Năng Của Nó. 2. Trình Bày Năm Chức Năng Chính Của Hệ Tuần Hoàn. 3. Hãy Mô Tả Đườ
  • 11 Sự Thật Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 18. Tuần Hoàn Máu
  • Câu 5: A. Trình Bày 5 Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn
  • Đề Cương Ôn Sinh 11A1
  • Ở Côn Trùng, Hệ Tuần Hoàn Hở Chỉ Thực Hiện Chức Năng Nào?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim Người (Phần 1)
  • Hệ tuần hoàn – gồm tim, các mạch máu và máu – là phần rất quan trọng giúp con người chống lại bệnh tật và duy trì trạng thái nội cân bằng (nhiệt độ thích hợp và cân bằng độ pH). Chức năng chính của hệ tuần hoàn là vận chuyển máu, chất dinh dưỡng, các khí và hormone đến và đi từ các tế bào trong toàn cơ thể.

    Nhịp đập của tim.

    Nếu có thể kéo thẳng tất cả các động mạch, mao mạch và tĩnh mạch trong cơ thể một người trưởng thành, chúng sẽ trải dài khoảng 100.000km. Thêm nữa, các mao mạch, vốn là phần nhỏ nhất trong các mạch máu, làm nên 80% độ dài này.

    Có thể so sánh để dễ hình dung: chu vi trái đất khoảng 40.000km. Điều đó có nghĩa, chiều dài các mạch máu của một người có thể bao cuốn vòng quanh trái đất tới 2,5 lần.

    Các tế bào hồng cầu phải “vặn mình” để “lọt” qua được mạch máu

    Các mao mạch rất nhỏ, đường kính trung bình chỉ khoảng 8 micron (1/3.000 inch), tức là khoảng 1/10 đường kính một sợi tóc. Trong khi đó, các tế bào hồng cầu cũng có kích thước gần bằng các mao mạch mà chúng phải di chuyển qua. Do đó, các tế bào này phải di chuyển theo từng hàng đơn một.

    Tuy nhiên, một số mao mạch có đường kính nhỏ hơn một chút so với tế bào máu, vì thế, để di chuyển qua, các tế bào này có lúc phải “vặn mình” sao cho “lọt”.

    Kích thước cơ thể càng to, tim đập càng chậm

    Trong thế giới động vật, nhịp tim có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với kích cỡ cơ thể: Nhìn chung, động vật càng lớn thì nhịp tim nghỉ càng chậm.

    Một người trưởng thành có nhịp tim nghỉ trung bình khoảng 75 lần một phút. Đây cũng là nhịp đập của tim một con cừu trưởng thành.

    Nhưng một con cá voi xanh có kích cỡ bằng chiếc xe hơi loại nhỏ, nhịp tim chỉ đập 5 lần/phút. Ngược lại, một con chuột chù lại có nhịp tim khoảng 1.000 lần/phút.

    Tim vẫn đập khi nằm ngoài cơ thể

    Trong cảnh phim ấn tượng năm 1984 của Indiana Jones and the Temple of Doom, một người đàn ông đã móc ra trái tim vẫn đang đập từ lồng ngực của một người đàn ông khác. Mặc dù việc dùng tay không dễ dàng móc tim người khác như thế chỉ là chuyện trong tiểu thuyết viễn tưởng, nhưng sự thực, đúng là tim vẫn có thể đập sau khi lấy ra khỏi cơ thể.

    Nhịp đập kỳ quái đó sở dĩ vì tim tự sản sinh các xung động điện, đây chính là yếu tố tạo ra nhịp đập của nó. Do vậy, chừng nào tim còn nhận được oxy, nó còn tiếp tục đập, ngay cả khi đã tách rời cơ thể.

    Tế bào hồng cầu.

    Loài người đã nghiên cứu hệ tuần hoàn hàng nghìn năm nay

    Những tài liệu bằng chữ viết được biết đến sớm nhất về hệ tuần hoàn xuất hiện trong sách giấy cói Ebers Papyrus, một tư liệu y khoa của người Ai Cập vào thế kỷ 16 trước công nguyên. Người ta tin rằng, loại sách cổ này đã mô tả mối liên hệ về mặt sinh lý học giữa tim và các động mạch. Theo đó, sau khi con người hít không khí vào phổi, không khí sẽ vào tim và sau đó chuyển tới các động mạch. Trong sách không đề cập tới vai trò của các tế bào hồng cầu.

    Điều thú vị là những người Ai Cập cổ đại coi trái tim là trung tâm của con người. Họ tin rằng, trái tim, chứ không phải bộ não, là nơi sản sinh cảm xúc, trí tuệ và ký tính cùng nhiều điều khác. Thực tế, trong quá trình ướp xác, người Ai Cập lấy ra, bảo quản rất cẩn thận phần tim cùng các nội tạng khác, nhưng lại rút phần não qua đường mũi và vứt bỏ nó.

    Các bác sĩ tin theo mô hình thiếu chính xác về hệ tuần hoàn trong suốt 1.500 năm

    Vào thế kỷ thứ 2, vị bác sĩ kiêm triết gia người Hy Lạp Galen ở thành Pergamon đã tìm ra mô hình miêu tả hệ tuần hoàn được xem là có thể tin cậy. Ông đã nhận thức rất đúng đắn rằng, hệ tuần hoàn gồm máu trong tĩnh mạch (màu đỏ sẫm) và máu trong động mạch (màu sáng tươi), và đó là hai loại chức năng khác nhau.

    Nhưng ông lại cho rằng, hệ tuần hoàn gồm 2 hệ thống phân phối máu một chiều (đáng ra phải là một hệ thống duy nhất), và gan là bộ phận sản sinh ra máu ở tĩnh mạch mà cơ thể tiêu thụ. Ông Galen cũng nghĩ, tim là bộ phận hút chứ không phải bộ phận có chức năng bơm đẩy máu đi nuôi cơ thể.

    Lý thuyết về hệ tuần hoàn của ông Galen thống trị trong giới y học châu Âu cho mãi tới những năm 1600, khi vị bác sĩ người Anh William Henry miêu tả được chính xác quá trình tuần hoàn máu.

    Các tế bào hồng cầu rất đặc biệt

    Không giống với hầu hết các tế bào khác trong cơ thể, tế bào hồng cầu không có nhân. Vì thiếu kết cấu rất lớn bên trong này mà mỗi tế bào hồng cầu có thêm không gian để chứa khí oxy cơ thể cần. Nhưng khi không có nhân, các tế bào không thể phân đôi hoặc tổng hợp các thành phần tế bào mới được.

    Sau khi tuần hoàn trong cơ thể khoảng 120 ngày, tế bào hồng cầu sẽ chết do lão hóa hoặc bị phá hủy. Nhưng bạn đừng lo lắng, tủy xương trong cơ thể chúng ta sẽ liên tục sản sinh các tế bào hồng cầu mới để thay thế cho số mất đi đó.

    Chấm dứt một mối quan hệ có thể làm “tan nát trái tim bạn”

    Đây là tình trạng có tên gọi là bệnh cơ tim do căng thẳng. Bệnh này gây trạng thái yếu đi tạm thời và đột xuất của cơ tim. Tình trạng này dẫn tới những triệu chứng gần giống với đau tim như đau ngực, khó thở và đau cánh tay.

    Trạng thái này còn được biết tới với tên gọi phổ biến là “hội chứng trái tim tan vỡ”. Vì nó thường là hệ quả của một sự kiện chấn động về cảm xúc như sự mất đi người thân hay ly hôn, chia tay với người yêu hoặc xa cách về địa lý với người thân yêu nào đó.

    Tự thí nghiệm dẫn tới những bước ngoặt trong điều trị hệ tuần hoàn

    Thông tim là liệu pháp y học được sử dụng phổ biến ngày nay. Thủ thuật này được thực hiện bằng cách đưa một ống thông dài và mảnh vào mạch máu người bệnh, sau đó luồn dẫn tới tim. Các bác sĩ sử dụng kỹ thuật này nhằm thực hiện một số xét nghiệm chẩn đoán về tim như đo lượng oxy trong các phần khác nhau của tim, hoặc kiểm tra máu chảy trong các động mạch vành.

    Bác sĩ người Đức Werner Forssmann đã phát minh ra kỹ thuật này vào năm 1929 sau khi ông thử nghiệm nó trên chính mình.

    Bác sĩ Werner thuyết phục người y tá giúp ông, nhưng cô này một mực đòi ông thử nghiệm trên cô trước. Ông vờ thuận tình và bảo cô nằm lên bàn phẫu thuật, rồi buộc chặt hai chân và hai tay cô lại. Sau đó, không để cô y tá biết, ông tự gây tê cánh tay trái của mình. Ông vờ như chuẩn bị dùng cánh tay của cô y tá trong thủ thuật, cho tới khi thuốc tê có tác dụng và ông đã có thể luồn ống thông vào cánh tay mình.

    Việc luồn ống thông hoàn thành (và cô y tá đã rất sợ hãi), cả hai cùng đi tới phòng chụp tia X ở tầng dưới. Tại đó, bác sĩ Forssmann dùng kính huỳnh quang để giúp chỉnh hướng cho ống thông dài 60cm (24 inch) đi vào tới tim mình.

    Máu người có nhiều màu khác nhau – nhưng không thể xanh

    Dòng máu giàu oxy chảy qua các động mạch và mao mạch của bạn luôn có màu đỏ tươi. Sau khi vận chuyển oxy tới các mô trong cơ thể, máu bạn sẽ chuyển sang đỏ sẫm khi nó trở lại tim qua các tĩnh mạch.

    Mặc dù đôi khi các tĩnh mạch có màu trông như xanh khi nhìn qua da, nhưng đó không phải vì máu bạn màu xanh. Sự sai lạc về màu sắc của tĩnh mạch do các bước sóng khác nhau của ánh sáng khi xuyên qua da đã được hấp thụ và phản chiếu lại mắt bạn. Vì vậy, chỉ ánh sáng có tần số cao (màu xanh) mới có thể xuyên qua tĩnh mạch và phản chiếu trở lại.

    Nhưng điều đó không có nghĩa máu không bao giờ có màu xanh. Máu của hầu hết động vật thân mềm và động vật chân đốt đều thiếu hemoglobin, sắc tố làm cho máu người có màu đỏ. Thay vào đó, máu của chúng chứa hemocyanin, loại protein chuyên chở ô-xy trong cơ thể của một số loài động vật không xương sống.

    Môi trường ngoài vũ trụ ảnh hưởng lớn tới hệ tuần hoàn

    Trên mặt đất, máu trong cơ thể người luôn dồn xuống hai chân vì sức hút của trọng lực. Do vậy, tĩnh mạch ở chân có các van giúp lưu thông máu từ hai chân chảy ngược về tim.

    Mọi chuyện sẽ khác hẳn khi ở môi trường ngoài vũ trụ. Máu không dồn xuống hai chân nữa mà dồn về ngực và đầu (hiện tượng này gọi là đổi dòng), làm các phi hành gia bị nghẹt mũi, đau đầu và phù nề ở mặt. Hiện tượng đổi dòng này cũng làm tim họ phải to hơn để có thể giải quyết được lượng máu tăng thêm ở khu vực bao quanh nó.

    Mặc dù cơ thể vẫn chứa lượng máu như trước, nhưng não và các hệ thống khác trong cơ thể vẫn coi sự đổi dòng như một sự tăng thêm đột biến trong lượng máu tổng thể. Và để phản ứng lại, cơ thể tự động sinh ra nhiều quá trình khác nhau để loại bỏ bớt lượng máu vượt quá. Điều này dẫn tới sự giảm bớt lượng máu tổng thể tuần hoàn trong cơ thể.

    DƯƠNG KIM THOA (Theo LiveScience)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 2 (4,0 Điểm): 1. Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Của Cơ Tim Thích Nghi Với Chức Năng Của Nó. 2. Trình Bày Năm Chức Năng Chính Của Hệ Tuần Hoàn. 3. Hãy Mô Tả Đườ
  • Giải Đáp Thắc Mắc: Hệ Tuần Hoàn Gồm Những Gì?
  • Lý Thuyết Tuần Hoàn Máu
  • Sinh Học 11 Bài 18: Tuần Hoàn Máu
  • Lý Thuyết Tuần Hoàn Máu Sinh 11
  • Vi Tuần Hoàn Và Hệ Thống Hạch Bạch Huyết

    --- Bài mới hơn ---

  • Đây Là Lí Do Tại Sao Bạn Nên Nằm Ngủ Nghiêng Về Bên Trái Ngay Tối Nay
  • Hệ Bạch Huyết Trên Mặt Và Cổ
  • Hệ Bạch Huyết Và Cơ Chế Thải Độc Của Làn Da
  • Giai Phau Sinh Ly Mau Bach Huyet
  • Bài 16. Tuần Hoàn Máu Và Lưu Thông Bạch Huyết
  • Thành của các mao mạch rất mỏng và được cấu tạo bởi một lớp tế bào nội mô có tính thấm cao. Vì vậy, nước, chất dinh dưỡng tế bào và sản phẩm bài tiết của tế bào có thể trao đổi một cách nhanh chóng và dễ dàng giữa các mô và máu lưu thông.

    Hệ tuần hoàn ngoại vi của cơ thể người có khoảng 10 tỷ mao mạch với tổng diện tích bề mặt ước tính là 500 đến 700 mét vuông (khoảng 1/8 diện tích bề mặt của một sân bóng đá). Như vậy bất kỳ tế bào hoạt động chức năng nào cũng có một mao mạch nuôi nó không cách xa quá 20-30 micromet.

    1.CẤU TRÚC VI TUẦN HOÀN VÀ HỆ MAO MẠCH

    Mỗi cơ quan có một hệ vi tuần hoàn đặc biệt để phù hợp với nhu cầu cụ thể. Nói chung, mỗi động mạch nuôi cơ quan chia nhánh từ 6-8 lần thành tiểu động mạch có đường kính chỉ 10-15 micromet. Sau đó, các tiểu động mạch tự chia nhánh 2-5 lần, đạt đường kính 5-9 micromet ở hai đầu, nơi chúng cấp máu cho các mao mạch.

    Các tiểu động mạch có lớp cơ khỏe có thể làm cho đường kính thay đổi nhiều lần. Các tiểu động mạch tận cùng không có một lớp áo cơ liên tục, nhưng có các sợi cơ trơn vòng quanh rải rác như thể hiện trong Hình 16-1.

    Các tiểu tĩnh mạch lớn hơn các tiểu động mạch và có một cái áo cơ yếu hơn nhiều. Nhưng áp lực trong các tiểu tĩnh mạch là ít hơn nhiều hơn so với ở các tiểu động mạch, tuy nhiên các tiểu tĩnh mạch vẫn có thể co nhỏ một cách đáng kể mặc dù cơ yếu. Sự sắp xếp điển hình này của giường mao mạch không được tìm thấy trong tất cả các cấu trúc của cơ thể, mặc dù có thể thấy một sự sắp xếp tương tự để phục vụ cho các mục đích riêng. Quan trọng nhất là để các tiểu động mạch và các cơ thắt tiếp xúc gần với các mô mà chúng cung cấp máu. Do đó, các điều kiện tại chỗ của các mô-nồng độ của các chất dinh dưỡng, sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa, các ion hydro,…vv có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới tĩnh mạch để kiểm soát lưu lượng máu cục bộ ở từng khu vực mô nhỏ.

    Cấu trúc của các thành mao mạch Hình 16-2 cho thấy cấu trúc vi thể của các tế bào nội mô điển hình trong thành mao mạch được tìm thấy trong hầu hết các cơ quan của cơ thể, đặc biệt là trong các mô cơ và mô liên kết. Lưu ý rằng thành mao mạch gồm một lớp tế bào nội mô và được bao quanh bởi một lớp màng đáy mỏng bên ngoài.

    “Lỗ mao mạch” Hình 16-2 chỉ ra hai lối nhỏ nối bên trong mao mạch với bên ngoài. Một trong những lối đó là một khe hẹp, cong giữa các tế bào nội mô tiếp giáp nhau.

    Đôi khi khe bị lấp do một mảnh protein gắn hai tế bào nội mô dính vào nhau, nhưng rồi mảnh đó lại đứt và dịch lại chảy qua khe. Khe hẹp chỉ chừng 60-70 angstrom, nhỏ hơn đường kính của một phân tử protein albumin.

    Vì khe gian bào chỉ nằm ở giữa các tế bào nội mô, chúng thường có diện tích không quá 1/1000 tổng diện tích bề mặt của thành mao mạch. Tuy nhiên, chuyển động nhiệt của các phân tử nước cũng như các ion hòa tan trong nước và chất hòa tan kích thước nhỏ có tốc độquá nhanh, do đó tất cả các chất khuếch tán dễ dàng giữa trong và ngoài mao thông qua các ‘ lỗ mao mạch’

    Các loại “Lỗ mao mạch” đặc biệt tồn tại trong các mao mạch của một số cơ quan trong cơ thể. Các “lỗ mao mạch” trong các mao mạch của một số cơ quan có tính chất đặc biệt để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của cơ quan đó. Chúng có một số các đặc điểm như sau:

    1. Trong não, các chỗ nối giữa các mao mạch của các tế bào nội mô rất “chặt chẽ”, chỉ cho phép các phân tử cực nhỏ như nước, oxy và carbon dioxide để đi vào hoặc ra khỏi các mô não.
    2. Trong gan, lại ngược lại. Khe giữa các tế bào nội mô mao mạch mở rộng để gần như tất cả các chất thải của huyết tương, bao gồm các protein huyết tương, có thể vượt qua khỏi máu vào các mô gan.
    3. Các lỗ mao mạch của màng mao mạch đường tiêu hóa: có kích thước thuộc đoạn giữa của cơ và gan
    4. Trong các mao mạch cầu thận của thận, nhiều cửa sổ hình bầu dục nhỏ gọi là lỗ thủng ở tất cả các khe giữa các tế bào nội mô để một lượng lớn các phân tử lớn, nhỏ và ion (nhưng không phải phân tử lớn của protein huyết tương) có thể lọc qua tiểu cầu thận mà không vượt qua khe của các tế bào nội mô.

    2.VẬN MẠCH-TRAO ĐỔI MÁU QUA THÀNH MAO MẠCH

    Máu thường không chảy liên tục trong các mao mạch mà ngắt quãng mỗi vài giây hay vài phút. Nguyên nhân do hiện tượng vận mạch, tức là sự đóng mở từng lúc của cơ thắt trước mao mạch và sự co giãn của tiểu động mạch tận cùng.

    Chức năng trung bình của hệ mao mạch. Mặc dù thực tế lưu lượng máu qua mao mạch bị gián đoạn, nhưng có rất nhiều mao mạch hiện diện trong các mô, vì vậy chức năng tổng thể của chúng trở nên cân bằng. Có một lưu lượng máu trung bình qua mỗi giường mao mạch, một áp suất trung bình thực và tốc độ trung bình của sự vận chuyển các chất qua thành mao mạch. Trong phần còn lại của chương này, chúng ta quan tâm tới những giá trị trung bình này, dù vậy nên nhớ rằng chúng là các giá trị chức năng trung bình.

    Trong thực tế, mỗi mao mạch hoạt động ngắt quãng nhưng chức năng của hàng tỷ của các mao mạch riêng biệt hoạt động liên tục để đáp ứng với điều kiện trong các mô của tổ chức.

    3.TRAO ĐỔI NƯỚC, CHẤT DINH DƯỠNG VÀ CHẤT KHÁC GIỮA MÁU VÀ DỊCH KẼ. KHUẾCH TÁN QUA MÀNG MAO MẠCH

    Cho đến nay khuếch tán là phương thức quan trọng nhất của trao đổi chất giữa huyết tương và dịch kẽ.

    Hình 16-3 minh họa quá trình này, cho thấy khi máu chảy dọc trong lòng mao mạch thì rất nhiều phân tử nước và các hạt hòa tan khuếch tán qua lại qua thành mao mạch, tạo nên một sự pha trộn liên tục giữa huyết tương và dịch kẽ. Hiện tượng khuếch tán các phân tử nước và chất tan có chuyển động nhiệt di chuyển ngẫu nhiên theo hướng này rồi lại đổi hướng khác.

    Khuếch tán chất hòa tan trong nước, các chất không hòa tan trong lipid qua các “Lỗ” trong màng tế bào nội mô. Nhiều chất cần thiết cho mô có thể hòa tan trong nước, nhưng không thể đi qua các màng lipid của tế bào nội mô; các chất này bao gồm các phân tử nước, các ion natri, ion clorua, và glucose. Mặc dù chỉ có 1/1000 diện tích bề mặt của các mao mạch là khe gian bào giữa các tế bào nội mô, vận tốc của chuyển động nhiệt của các phân tử ở khe lớn đến nỗi mà ngay cả diện tích nhỏ này là đủ để cho phép khuếch tán một lượng lớn nước và nước chất hòa tan trong nước qua các khe- lỗ này. Tốc độ khuếch tán như vậy nhanh gấp 80 lần vận tốc di chuyển tuyến tính của huyết tương dọc lòng mao mạch. Nói cách khác, trong thời gian một giọt máu đi hết qua một mao mạch thì nước trong huyết tương chứa giọt máu đó với nước trong dịch kẽ đã đủ thì giờ khuếch tán vào nhau, pha trộn nhau, trao đổi chất cho nhau được 80 lần rồi.

    Ảnh hưởng của kích thước phân tử đi qua các lỗ Lỗ ở mao mạch, tức là khe gian bào có chiều rộng từ 6-7 nanomet, gấp khoảng 20 lần đường kính phân tử nước là phân tử nhỏ nhất đi qua lỗ. Đường kính của các phân tử protein huyết tương lớn hơn chiều rộng của các lỗ. Các chất khác, như ion natri, ion clorua, glucose, và urê, có đường kính trung gian. Do đó, tính thấm của lỗ mao mạch với các chất khác nhau tùy theo đường kính phân tử của chúng.

    Cần biết rằng các mao mạch ở các mô khác nhau có tính thấm khác nhau. Ví dụ, lỗ mao mạch của các xoang mao mạch gan có tính thấm rất cao mà ngay cả protein huyết tương cũng vượt qua gần như dễ dàng như nước và các chất khác. Ngoài ra, tính thấm của màng cầu thận thận với nước và các chất điện giải cao gấp khoảng 500 lần so với tính thấm của mao mạch cơ, tuy nhiên màng này không để lọt protein huyết tương; các protein có tính thấm mao mạch là rất nhỏ, như trong các mô và các cơ quan khác.

    Khi chúng ta nghiên cứu sự khác nhau của các cơ quan trong sách này, sẽ dễ dàng hiểu lý do tại sao một số mô đòi hỏi tính thấm mao mạch hơn so với các mô khác. Ví dụ, mức độ cao hơn của tính thấm mao mạch được yêu cầu cho gan để vận chuyển một lượng lớn các chất dinh dưỡng giữa các tế bào máu và nhu mô gan và thận để cho phép lọc một số lượng lớn dịch cho việc tạo thành nước tiểu.

    Ảnh hưởng của hiệu nồng độ lên tốc độ khuếch tán chung qua màng tế bào nội mô. Thông qua các màng tế bào nội mô. Tốc độ khuếch tán thực của chất qua màng tế bào bất kỳ tỷ lệ thuận với hiệu nồng độ các chất giữa hai bên của màng tế bào. Đó là: hiệu nồng độ một chất càng lớn thì chất đó vận chuyển trực tiếp qua màng càng lớn. Ví dụ, nồng độ oxy trong máu mao mạch thường lớn hơn trong dịch kẽ. Do vậy, một lượng lớn oxy thường di chuyển từ máu vào các mô. Ngược lại, nồng độ carbon dioxide trong các mô hơn trong máu, tạo ra carbon dioxide dư thừa để di chuyển vào trong máu và được mang đi khỏi các mô.

    Tốc độ khuếch tán qua màng mao mạch của hầu hết các chất dinh dưỡng quan trọng nhất lớn đến nỗi chỉ hiệu nồng độ thấp cũng đủ để tạo ra nhiều sự vận chuyển hơn trong vận chuyển giữa huyết tương và dịch kẽ. Ví dụ, nồng độ oxy trong dịch kẽ ngay bên ngoài mao mạch là không nhiều hơn một vài phần trăm so với nồng độ của nó trong huyết tương của máu, nên chỉ cần sự chênh lệch nồng độ rất nhỏ cũng đủ oxy để cung cấp cho quá trình chuyển hóa các mô-thường nhiều như vài lít oxy mỗi phút trong trạng thái hoạt động nặng của cơ thể.

    4.KHOẢNG KẼ VÀ DỊCH KẼ

    Khoảng một phần sáu tổng thể tích của cơ thể là không gian giữa các tế bào, chúng được gọi là khoảng kẽ. Các chất lỏng trong các không gian này được gọi là dịch kẽ.

    “Chất keo” trong khoảng kẽ. Dịch trong khoảng kẽ được tạo thành bằng cách lọc và khuếch tán từ mao mạch. Nó gần như chứa các thành phần tương tự như huyết tương ngoại trừ nồng độ protein thấp hơn nhiều vì protein không dễ dàng vượt qua bên ngoài qua các lỗ mao mạch. Dịch kẽ được tạo ra chủ yếu trong không gian nhỏ giữa các sợi proteoglycan. Sự gắn kết của dịch kẽ và proteoglycan bên trong tạo nên những đặc điểm của một gel và do đó được gọi là mô gel.

    Do có rất nhiều sợi proteoglycan, thực sự là khó khăn đối với dịch để lưu thông dễ dàng qua các mô gel. Thay vào đó, dịch chủ yếu là khuếch tán qua gel; nghĩa là, nó chuyển động qua phân tử từ nơi này đến nơi khác bằng động năng, chuyển động nhiệt hơn số lượng lớn các phân tử chuyển động cùng nhau.

    Khoảng 95-99 phần trăm khuếch tán qua gel xảy ra nhanh như qua dịch tự do. Đối với khoảng cách ngắn giữa các mao mạch và các tế bào mô, khuếch tán này cho phép vận chuyển nhanh chóng thông qua khoảng kẽ không chỉ của các phân tử nước mà còn các chất điện giải, các chất dinh dưỡng trọng lượng phân tử nhỏ, oxy, carbon dioxide, …

    Dịch “tự do” trong khoảng kẽ. Mặc dù gần như tất cả các chất lỏng trong các kẽ thường bị kẹt trong mô gel, thỉnh thoảng có những dòng nhỏ dịch tự do và những túi dịch nhỏ cũng hiện diện, có nghĩa là chất lỏng đó không có các phân tử proteoglycan và do đó có thể chảy tự do. Khi một loại thuốc nhuộm được tiêm vào máu lưu thông, nó thường có thể được nhìn thấy chảy qua khoảng kẽ trong kẽ nhỏ, thường chảy dọc theo các bề mặt của các sợi collagen hoặc các bề mặt của các tế bào.

    Sự có mặt của dịch tự do trong các mô bình thường là ít, thường nhỏ hơn 1 phần trăm. Ngược lại, khi các mô bị phù nề, những túi nhỏ và dòng kẽ nhỏ của dịch tự do mở rộng rất nhiều cho đến khi một nửa hoặc nhiều hơn dịch phù chảy tự do không phụ thuộc vào sợi phân tử proteoglycan.

    5.DỊCH LỌC QUA MAO MẠCH ĐƯỢC XÁC ĐỊNH BỞI ÁP LỰC THỦY TĨNH VÀ ÁP LỰC KEO HUYẾT TƯƠNG VÀ HỆ SỐ LỌC MAO MẠCH

    Áp lực thủy tĩnh trong mao mạch có xu hướng để đẩy dịch và các chất hòa tan của nó thông qua các lỗ mao mạch vào khoảng kẽ. Ngược lại, áp lực thẩm thấu gây ra bởi các protein huyết tương (được gọi là áp suất thẩm thấu keo) có xu hướng gây ra chuyển động của dịch bằng cách thẩm thấu từ các khoảng kẽ vào máu. Áp suất thẩm thấu này được tạo ra bởi các protein huyết tương, thường ngăn chặn việc mất một lượng đáng kể dịch từ máu vào khoảng kẽ.

    Hệ thống bạch huyết cũng rất quan trọng trong việc trả về cho tuần hoàn một lượng nhỏ protein dư thừa và dịch rò rỉ từ máu vào khoảng kẽ.

    Áp lực thủy tĩnh và áp lực keo quyết định sự vận chuyển của dịch qua màng mao mạch:

    1. Áp suất mao mạch (Pc), có xu hướng đẩy chất lỏng ra ngoài qua màng mao mạch.
    2. Áp suất dịch kẽ (Pif), có xu hướng giữ chất lỏng bên trong các màng mao mạch khi Pif là dương, nhưng đẩy ra bên ngoài khi Pif là âm.
    3. Áp suất thẩm thấu (∏p) của huyết tương trong lòng mao mạch, có xu hướng gây thẩm thấu chất lỏng vào bên trong qua màng mao mạch.
    4. Áp suất thẩm thấu (∏if) của dịch kẽ, có xu hướng tạo ra áp lực thẩm thấu của chất lỏng ra bên ngoài qua màng mao mạch.

    Tính tổng của các lực, nếu áp lực lọc tổng hợp là dương, dịch lọc sẽ đi qua các mao mạch. Nếu tổng của các lực lượng Starling là âm, sẽ có một sự hấp thụ chất lỏng từ các khoảng kẽ vào các mao mạch. Áp lực lọc thực (NFP) được tính như sau:

    Do đó Kf là thước đo khả năng của màng mao mạch để lọc nước cho một NFP nhất định và thường được biểu diễn bằngml / phút cho mỗi mm Hg NFP.

    Do đó, tỷ lệ lọc chất lỏng trong mao mạch được xác định như sau:

    6.ÁP LỰC THỦY TĨNH MAO MẠCH

    Nhiều phương pháp đã được sử dụng để ước tính áp lực thủy tĩnh các mao mạch: (1) luồn pipet trực tiếp vào các mao mạch đo được kết quả trung bình khoảng 25 mmHg trong một số mô như cơ xương và ruột, và (2) đo gián tiếp áp lực mao dẫn, đưa ra một áp lực mao dẫn trung bình khoảng 17 mm Hg trong các mô.

    Phương pháp đo áp suất mao mạch bằng pipet vi thể. Để đo áp lực trong mao mạch bằng cannul, pipet kính hiển vi được đẩy trực tiếp vào các mao mạch, và áp lực được đo bằng một hệ thống vi áp kế (đơn vị đo gần bằng đơn vị nm). Đó là phương pháp đã dùng cho mao mạch của các mô đã mổ ra ở động vật và dùng cho quai mao mạch to ở gốc móng tay người. Kết quả là 30 đến 40 mmHg ở đầu mao động mạch, từ 10 đến 15 ở đầu mao tĩnh mạch và khoảng 25 mm Hg ở quãng giữa của đoạn mao mạch.

    Trong một số mao mạch, chẳng hạn như các mao mạch cầu thận của thận, áp lực đo bằng phương pháp pipet vi thể cao hơn nhiều, trung bình khoảng 60 mmHg. Ngược lại các cuộn mao mạch của thận, có áp lực thủy tĩnh trung bình chỉ khoảng 13 mm Hg. Như vậy, áp lực thủy tĩnh các mao mạch trong các mô khác nhau là rất khác nhau, tùy thuộc vào mô cụ thể và điều kiện sinh lý.

    Phương pháp đẳng trọng đo gián tiếp áp suất “chức năng” của mao mạch. Hình 16-6 chỉ ra phương pháp đẳng trọng gián tiếp ước tính áp lực mao mạch. Hình vẽ cho thấy một đoạn ruột được đặt lên bàn cân và máu được tiếp lưu qua mạch ruột. Khi áp lực động mạch bị giảm, dẫn đến áp lực mao mạch giảm đến một mức làm áp suất thẩm thấu của các protein huyết tương gây ra sự hấp thụ của chất lỏng ra khỏi thành ruột và làm cho trọng lượng của đoạn ruột giảm làm cán cân nghiêng. Để ngăn ngừa việc giảm trọng lượng này, áp lực tĩnh mạch được tăng lên một lượng đủ để khắc phục những ảnh hưởng của việc giảm áp lực động mạch. Nói cách khác, áp lực mao mạch được hằng định trong khi cùng lúc (1) giảm áp lực động mạch và (2) tăng áp lực tĩnh mạch.

    7.ÁP SUẤT THỦY TĨNH CỦA DỊCH KẼ

    Rõ ràng phương pháp đẳng trọng đã xác định áp suất mao mạch đo một cách chính xác bởi các lực có xu hướng kéo dịch ra hay đẩy dịch vào mao mạch, đưa ra một giá trị thấp hơn so với áp lực mao mạch đo trực tiếp bằng phương pháp pipet vi thể. Một lý do chính cho sự khác biệt này là áp lực lọc mao mạch không được cân chính xác với sự tái hấp thu dịch trong hầu hết các mô. Dịch đã được lọc vượt quá những gì được tái hấp thu trong hầu hết các mô được mang đi bởi mạch bạch huyết.Trong các mao mạch cầu thận, có một lượng rất lớn dịch, khoảng 125 ml/phút được lọc liên tục.

    Có nhiều phương pháp để đo áp suất thủy tĩnh dịch kẽ, mỗi trong số đó mang lại giá trị hơi khác nhau, tùy thuộc vào phương pháp được sử dụng và áp suất mô được đo. Trong mô lỏng lẻo dưới da, áp lực dịch kẽ đo bằng các phương pháp khác nhau là thường là một vài mmHg – nhỏ hơn áp suất khí quyển; do vậy, giá trị này được gọi là áp suất âm dịch kẽ. Trong các mô khác được bao quanh bởi nang, như thận, áp lực dịch kẽ thường dương (tức là lớn hơn áp suất khí quyển). Các phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất đã được sử dụng là: (1) đo áp lực với một pipette vi thể đưa vào các mô, (2) đo áp suất dịch kẽ tự do trong nang có lỗ đặt ở mô (3) đo áp suất dịch kẽ tự do bằng bấc bông.

    Những phương pháp khác nhau cung cấp các giá trị khác nhau cho áp lực thủy tĩnh dịch kẽ, ngay cả trong các mô tương tự nhau.

    Đo áp suất dịch kẽ sử dụng pipette vi thể.Cùng một loại pipette vi thể sử dụng để đo áp lực mao mạch cũng có thể được sử dụng trong một số mô để đo áp lực dịch kẽ. Đầu của pipette vi thể có đường kính khoảng 1 micromet, nhưng cũng lớn hơn so với kích thước của khoảng cách giữa các sợi proteoglycan trong dịch kẽ 20 lần hoặc hơn thế. Do đó, áp lực được đo có thể là áp lực trong một túi chất lỏng tự do.

    Áp lực đo bằng cách sử dụng phương pháp pipette vi thể dao động từ -2 đến 2 mmHg trong các mô lỏng lẻo, như da, nhưng trong nhiều trường hợp giá trị trung bình thấp hơn một chút so với áp suất khí quyển.

    Đo áp suất dịch kẽ tự do trong nang có lỗ đặt ở mô áp suất dịch tự do trong dịch kẽ đo được khi sử dụng nang có đường kính 2 cm ở mô dưới da lỏng bình thường khoảng -6 mm Hg, nhưng với viên nang nhỏ hơn, các giá trị không khác nhau nhiều hơn -2 mm Hg so với đo bằng pipette vi thể.

    Áp suất dịch kẽ ở mô có khung cứng bọc kín. Một số mô của cơ thể được bao quanh bởi khung cứng, chẳng hạn như sọ xung quanh não, bao xơ quanh thận, các màng xơ bọc xung quanh các cơ bắp, và củng mạc xung quanh mắt. Trong hầu hết các mô, không phụ thuộc vào phương pháp được sử dụng để đo lường, áp suất dịch kẽ là dương. Tuy nhiên, áp lực đó vẫn luôn ít hơn áp lực bên ngoài khung cứng. Ví dụ, áp suất dịch não tủy bao quanh não của một con vật trung bình khoảng 10 mmHg, trong khi áp suất dịch kẽ trung bình khoảng 4-6 mm Hg. Trong thận, áp suất xung quanh bao xơ thận trung bình là 13 mm Hg, trong khi áp lực dịch kẽ thận được ghi nhận trung bình khoảng 6 mmHg.

    Như vậy, nếu nhớ rằng áp suất bên ngoài da là áp suất khí quyển, được coi là không áp lực, có thể xây dựng một quy tắc chung là bình thường áp lực dịch kẽ thường âm vài milimet thủy ngân đối với áp lực xung quanh mỗi tế bào.

    Trong hầu hết các hốc tự nhiên của cơ thể, nơi có dịch tự do ở trạng thái cân bằng động với chất lỏng xung quanh, những áp lực đo được là âm. Một số các khoang và áp suất đo được như sau:

    • Khoang màng phổi: -8 mm Hg
    • Khoang trong khớp hoạt dịch: -4 đến -6 mm Hg
    • Khoang ngoài màng cứng: -4 đến -6 mm Hg

    Tóm tắt: áp suất dịch kẽ trong mô lỏng dưới da luôn thấp hơn áp suất khí quyển. Mặc dù các phương pháp khác nhau nói trên cho giá trị hơi khác nhau cho áp suất dịch kẽ, hầu hết các nhà sinh lý học tin rằng trong điều kiện bình thường áp suát dịch kẽ trong mô lỏng lẻo dưới da, thấp hơn áp suất khí quyển trung bình khoảng -3 mm Hg.

    Thuật ngữ áp lực thẩm thấu “keo” được bắt nguồn từ thực tế là một dung dịch protein giống như một chất keo mặc dù thực tế rằng nó thực sự đúng là một phân tử.

    Giá trị bình thường của áp suất thẩm thấu keo huyết tương. Áp suất thẩm thấu keo của huyết tương trung bình của con người bình thường khoảng 28 mmHg; 19 mm của áp suất này được gây ra bởi hiệu ứng phân tử của các protein hòa tan và 9 mm được gây ra bởi hiệu ứng Donnan -áp lực thẩm thấu được thêm vào gây ra bởi natri, kali, và các cation khác giữ trong huyết tương bởi protein.

    9.ÁP SUẤT THẨM THẤU KEO DỊCH KẼ

    Như vậy, khoảng 80 phần trăm tổng số áp lực thẩm thấu keo huyết tương chắc chắn từ albumin, 20 phần trăm từ các globulin, và gần như không có từ fibrinogen. Do đó, theo phương diện động học của dịch mô, albumin đóng vaitrò quan trọng.

    Mặc dù kích thước của lỗ mao mạch thông thường nhỏ hơn so với kích thước phân tử của protein huyết tương, điều này là không đúng với tất cả các lỗ. Do đó, một lượng nhỏ protein huyết tương rò rỉ vào khoảng kẽ thông qua lỗ mao mạch và vận chuyển trong các túi nhỏ.

    Tổng số lượng của protein trong toàn bộ 12 lít dịch kẽ của cơ thể lớn hơn tổng lượng protein trong huyết tương, nhưng vì thể tích dịch kẽ gấp bốn lần huyết tương, nồng độ protein trung bình của dịch kẽ của hầu hết các mô thường chỉ bằng 40 phần trăm so với huyết tương, tương đương khoảng 3 g/dl.

    10.TRAO ĐỔI DỊCH QUA MÀNG MAO MẠCH

    Về mặt định lượng, người ta thấy trung bình áp suất thẩm thấu keo dịch kẽ cho nồng nồng của protein là khoảng 8 mmHg.

    Áp lực mao mạch trung bình ở hai đầu mao động mạch là 15-25 mm Hg lớn hơn ở hai đầu mao tĩnh mạch. Bởi vì sự khác biệt này, chất lỏng “lọc” ra khỏi đầu mao động mạch của chúng, nhưng ở đầu mao tĩnh mạch dịch được tái hấp thu trở lại vào các mao mạch. Do đó, một lượng nhỏ chất lỏng thực sự “chảy” qua các mô từ các đầu mao mạch động mạch đến đầu mao tĩnh mạch. Động học của dòng chảy này được thể hiện như sau.

    Như vậy, tổng của các lực vào đầu mao động mạch cho thấy một áp lực lọc là 13 mmHg, xu hướng đẩy

    dịch ra ngoài qua các lỗ mao mạch.

    Áp lực lọc 13 mm Hg này, trung bình chiếm khoảng 1/200 dịch của huyết tương chảy để lọc ra khỏi đầu các mao động mạch vào các khoảng kẽ tế mỗi khi máu đi qua các mao mạch.

    Do đó, các lực lượng gây ra sự chuyểnđộng của dịch vào các mao mạch, 28 mmHg, lớn hơn so với đối hấp phụ 21 mm Hg. Sự khác biệt, 7 mm Hg, là áp lực tái hấp thu ròng ở hai đầu mao tĩnh mạch. Áp lực tái hấp thu này thấp hơn đáng kể so với áp suất lọc ở cuối mao mạch động mạch, nhưng hãy nhớ rằng số lượng các mao mạch tĩnh mạch nhiều hơn và tính thấm cao hơn các mao mạch động mạch, do đó áp suất tái hấp thu ít cần thiết để gây ra chuyển động của dịch vào bên trong.

    11.CÂN BẰNG STARLING CHO TRAO ĐỔI QUA THÀNH MAO MẠCH

    Áp lực tái hấp thu làm cho khoảng9/10 lượng dịch đã được lọc ra khỏi đầu mao động mạch được hấp thụ lại ở mao tĩnh mạch. Một phần mười còn lại chảy vào các mạch bạch huyết và trả về tuần hoàn chung.

    Cách đây hơn một thế kỷ, Ernest Starling đã chỉ ra trong điều kiện bình thường, màng mao mạch tồn tại một trạng thái gần như cân bằng. Có nghĩa là, lượng dịch lọc ra bên ngoài từ các đầu mao động mạch của mao mạch gần bằng lượng dịch lọc trở lại lưu thông bằng cách hấp thu. Chênh lệch một lượng dịch rất nhỏ đó về tim bằng con đường bạch huyết.

    Lực trung bình làm dịch di chuyển ra ngoài mmHg

    Bảng dướiđây cho thấy các nguyên lí của cân bằng Starling. Đối với bảng này, các áp suất trong các mao mạch động mạch và mao tĩnh mạch được tính trung bình để tính áp suất mao mạch chức năng trung bình cho toàn bộ chiều dài của các mao mạch. Áp suất mao mạch chức năng trung bình đã tính là 17,3 mm Hg.

    Áp suất trung bình mao mạch 17.3

    Áp suất âm của dịch tự do trong dịch kẽ 3.0

    Áp suất thẩm thấu keo của dịch kẽ 8.0

    Lực trung bình làm dịch di chuyển vào trong mmHg

    TỔNG LỰC ĐẨY RA NGOÀI 28.3

    Áp suất thẩm thấu keo huyết tương 28.0

    Tổng hợp trung bình các lực

    TỔNG LỰC ĐƯA VÀO TRONG 28.0

    Ra ngoài 28.3

    Vào trong 28.0

    LỰC ĐẨY RA NGOÀI THỰC SỰ 0.3

    12.HỆ SỐ LỌC Ở MAO MẠCH

    Do đó, với tổng tuần hoàn mao mạch, chúng ta tìm thấy một sự gần cân bằng giữa tổng các lực lượng bên ngoài, 28,3 mm Hg, và tổng lực vào trong, 28,0 mmHg. sự mất cân bằng này nhẹ của các lực, 0,3 mm Hg, gây ra dịch được lọc vào khoảng kẽ hơn là tái hấp thu. Lượng dịch lọc thừa này được gọi là lưu lượng lọc thực (net filtration), và nó là lượng dịch lọc phải được trả lại cho lưu thông qua hệ bạch huyết. Bình thường tốc độ của lưu lượng lọc thực trong toàn bộ cơ thể, không bao gồm thận, chỉ khoảng 2 ml/phút.

    Trong ví dụ trước, một sự mất cân bằng của các lực lọc tại các màng mao mạch 0,3 mmHg gây ra lưu lượng lọc thực trong toàn bộ cơ thể là 2 ml/phút. Nhấn mạnh lưu lượng lọc thực cho mỗi mmHg bị mất cân bằng, người ta thấy lưu lượng lọc thực là 6,67 ml/phút mỗi mmHg cho toàn bộ cơ thể. Giá trị này được gọi là hệ số lọc mao mạch toàn bộ cơ thể.

    Hệ số lọc cũng có thể được biểu diễn cho các bộ phận riêng biệt của cơ thể về lưu lượng lọc mỗi phút mỗi mmHg cho mỗi 100 gam mô cơ thể. Trên cơ sở đó, hệ số lọc mao mạch của mô trung bình là khoảng 0,01 ml/phút / mm Hg / 100 g mô. Tuy nhiên, vì sự khác biệt trong khả năng thấm của hệ thống mao mạch ở các mô khác nhau, hệ số lọc này thay đổi nhiều hơn 100 lần trong các mô khác nhau. Nó là rất nhỏ trong não và cơ bắp, khá lớn trong mô dưới da, lớn trong ruột, và cực kỳ lớn trong gan và tiểu cầu thận, nơi mà các lỗ mao mạch hoặc là nhiều hoặc là mở rộng. Tương tự như vậy, sự thẩm thấu của các protein qua màng mao mạch khác nhau rất nhiều cũng ảnh hưởng tới hệ số lọc. Nồng độ protein trong dịch kẽ của cơ bắp là khoảng 1,5 g/dl; trong mô dưới da, 2 g/dl; trong ruột, 4 g/dl; và trong gan 6g/dl.

    Ảnh hưởng của sự mất cân bằng của các lực tại các màng mao mạch. Nếu áp lực mao mạch trung bình tăng lên trên 17 mmHg, lực thực có xu hướng đẩy dịch lọc vào khoảng kẽ tăng lên. Do đó, gia tăng áp lực mao mạch trung bình 20mmHg, làm tăng áp lực lọc mao mạch thực 0,3 mm Hg- 20,3 mmHg, kết quả này cao gấp 68 lần lưu lượng lọc mao mạch thực của dịch vào khoảng kẽ ở điều kiện bình thường.

    Để ngăn chặn sự tích lũy của dịch dư thừa trong khoảng kẽ sẽ yêu cầu tốc độ dòng chảy bình thường của chất lỏng vào hệ thống bạch huyết tăng 68 lần, một lượng mà là 2-5 lần cũng là quá nhiều cho các mạch bạch huyết mang đi. Kết quả là, dịch sẽ bắt đầu tích tụ trong khoảng kẽ và kết quả là phù nề.

    CÁC KÊNH BẠCH HUYẾT CỦA CƠ THỂ

    Hệ thống bạch huyết đại diện cho một con đường phụ mà qua đó chất lỏng có thể chảy từ khoảng kẽ vào máu. Quan trọng nhất, các mạch bạch huyết có thể mang theo các protein và các phân tử lớn đi từ khoảng kẽ mà không thể được gỡ bỏ bằng cách hấp thụ trực tiếp vào các mao mạch máu. Sự hấp thu trở lại này của protein máu từ các khoảng kẽ là một chức năng quan trọng mà nếu không có, chúng ta sẽ chết trong vòng khoảng 24h.

    Hầu như tất cả các mô của cơ thể có kênh bạch huyết đặc biệt dẫn dịch dư thừa trực tiếp từ khoảng kẽ. Các trường hợp ngoại lệ bao gồm các phần của bề mặt da, hệ thống thần kinh trung ương, các màng của cơ bắp và xương. Tuy nhiên, ngay cả những mô có kênh dịch kẽ trong thời gian ngắn gọi là tiền bạch huyết qua đó dịch kẽ có thể chảy; cuối cùng dịch này đổ vào một trong hai mạch bạch huyết hoặc trong trường hợp của bộ não, vào dịch não tủy và sau đó trực tiếp trở lại máu.

    Bạch huyết từ phía bên trái của đầu, tay trái, và phần trái của ngực cũng đi vào ống ngực trước khi nó đổ vào tĩnh mạch.

    Bạch huyết từ phía bên phải của đầu và cổ, cánh tay phải, và các bộ phận của ngực phải đi vào ống dẫn bạch huyết bên phải (nhỏ hơn nhiều so với ống ngực), đổ vào hệ thống tĩnh mạch tại giao điểm của tĩnh mạch dưới đòn phải và tĩnh mạch cảnh trong phải.

    Tận cùng mạch bạch huyết và tính thấm của chúng. Hầu hết dịch lọc từ các mao động mạch chảy giữa các tế bào và cuối cùng đã được tái hấp thu trở lại vào mao tĩnh mạch, trung bình, khoảng một phần mười lượng dịch đi vào các mao mạch bạch huyết và trở về máu qua hệ bạch huyết chứ không thông qua các mao tĩnh mạch. Tổng lượng dịch bạch huyết này bình thường chỉ 2-3 lít mỗi ngày.

    Bạch huyết có nguồn gốc từ dịch kẽ chảy vào hệ bạch huyết. Vì vậy, đầu tiên bạch huyết đi vào hệ bạch huyết với thành phần tương tự dịch kẽ.

    Nồng độ protein trong dịch kẽ của hầu hết các mô trung bình khoảng 2 g/dl, và nồng độ protein của bạch huyết chảy từ các mô cũng gần giá trị này. Bạch huyết được hình thành trong gan có nồng độ protein thực sự cao tới 6 g/dl, và bạch huyết hình thành trong ruột có nồng độ protein cao khoảng 3-4g/dl. Vì khoảng hai phần ba các hạch bạch huyết thường có nguồn gốc từ gan và ruột, các bạch huyết ống ngực, là nơi trộn lẫn bạch huyết từ tất cả các vùng của cơ thể, thường có nồng độ protein khoảng 3-5 g/dl.

    Mỗi giờ, khoảng 100 ml bạch huyết chảy qua ống ngực ở một con người trong trạng thái nghỉ ngơi, và thêm khoảng 20 ml mỗi giờ chảy vào tuần hoàn thông qua các kênh khác, đưa tổng số ước tính dòng chảy bạch huyết của khoảng 120 ml / giờ hoặc 2-3 lít mỗi ngày.

    Sau đó, khi áp lực tăng lên tới 0mmHg (áp suất khí quyển) lưu lượng dòng chảy tăng lên hơn 20 lần. Do đó, bất kỳ yếu tố nào làm tăng áp lực dịch kẽ cũng làm tăng lưu lượng dòng chảy bạch huyết, nếu các mạch bạch huyết đang hoạt động bình thường. Những yếu tố này bao gồm:

    • Áp suất thủy tĩnh mao mạch cao
    • Áp suất thẩm thấu keo huyết tương giảm
    • Áp suất thẩm thấu keo dịch kẽ tăng
    • Tính thấm của các mao mạch tăng

    Tất cả những yếu tố này gây ra một cân bằng trao đổi dịch ở màng mao mạch để đẩy dịch vào khoảng kẽ, do đó tăng thể tích dịch kẽ, áp lực dịch kẽ, và dòng chảy bạch huyết ở cùng một lúc.

    Hình ảnh chuyển động của các mạch bạch huyết được chỉ ra ở động vật và ở người cho thấy rằng khi một mạch bạch huyết thu thập dịch, các cơ trơn trong thành mạch bạch huyết tự động co lại. Hơn nữa, mỗi phân đoạn của mạch bạch huyết giữa các van chức năng như một máy bơm tự động riêng biệt. Đầy nhẹ một đoạn làm cho nó nhỏ lại, và dịch được bơm qua van tiếp theo vào đoạn bạch huyết tiếp theo.

    Dịch này đổ đầy các đoạn sau trong một vài giây sau đó, quá trình tiếp tục dọc theo mạch bạch huyết cho đến khi dịch cuối cùng được đổ vào tuần hoàn chung. Trong một mạch bạch huyết rất lớn như ống ngực, bơm bạch huyết này có thể tạo ra áp lực lớn tới 50 đến 100 mm Hg .

    Bơm được tạo ra bởi sự co bóp ngắt quãng bên ngoài hệ bạch huyết. Ngoài việc bơm gây ra bởi sự co bóp ngắt quãng nội tại của thành mạch bạch huyết, bất kỳ yếu tố bên ngoài nào ép vào mạch bạch huyết không liên tục cũng có thể tạo ra bơm. Theo thứ tự quan trọng của chúng, các yếu tố như là như sau:

    • Sự co bóp của cơ xung quanh các xương
    • Sự chuyển động của các bộ phận của cơ thể
    • Nhịp đập của động mạch tiếp giáp với các mạch bạch huyết
    • Áp lực của các mô bên ngoài cơ thể.

    Các bơm bạch huyết hoạt động mạnh hơn khi lao động, thường gia tăng dòng chảy bạch huyết từ 10 đến 30 lần. Ngược lại, trong thời gian nghỉ ngơi, dòng chảy bạch huyết là rất chậm (gần như bằng không).

    Bơm mao mạch bạch huyết. Đầu tận cùng các mao mạch bạch huyết cũng có khả năng bơm bạch huyết, ngoài việc bơm bởi các mạch bạch huyết lớn hơn. Như đã giải thích ở chương trước, các thành của các mao mạch bạch huyết dính chặt vào các tế bào mô xung quanh bằng các phương tiện giữ chúng. Vì vậy, mỗi khi dịch dư thừa chảy vào các mô và làm cho các mô bị sưng lên, các sợi kéo trên thành của các mao mạch bạch huyết và dịch chảy vào các đầu mao mạch bạch huyết thông qua khe kẽ của các tế bào nội mô. Sau đó, khi mô bị nén, áp lực bên trong mao mạch tăng và gây ra sự chồng chéo của các tế bào nội mạc để đóng lại như van. Do đó, áp lực đẩy bạch huyết về phía trước vào bạch huyết thay vì quay ngược ra sau qua các khe giữa các tế bào nội mô.

    Các tế bào nội mô mao mạch bạch huyết cũng có một vài sợi co actomyosin.

    Tóm tắt các yếu tố tạo ra dòng chảy bạch huyết:

    Các tế bào nội mô mao mạch bạch huyết cũng có một vài sợi co actomyosin. Trong một số mô động vật (ví dụ, cánh của dơi), đã quan sát được nguyên nhân gây sự co bóp nhịp nhàng trên là do sự kết hợp của rất nhiều mao mạch nhỏ và các mạch bạch huyết lớn. Vì vậy, có lẽ phần thêm vào của bơm bạch huyết ít nhất là kết quả của sự kết hợp giữa các tế bào nội mô và các cơ lớn hơn của hệ bạch huyết.

    Rõ ràng chức năng của hệ thống bạch huyết như một “cơ chế tràn” để nhận lại protein dư thừa và lượng nước thừa trong khoảng kẽ vào tuần hoàn chung. Do đó, hệ thống bạch huyết cũng đóng một vai trò trung tâm trong việc kiểm soát (1) nồng độ protein trong dịch kẽ, (2) khối lượng của dịch kẽ, và (3) áp lực dịch kẽ. Hãy để chúng tôi giải thích làm thế nào những yếu tố này tương tác với nhau.

    Đầu tiên, hãy nhớ rằng một lượng nhỏ protein bị rò rỉ liên tục ra khỏi các mao mạch máu vào khoảng kẽ. Chỉ một lượng nhỏ, nếu có, các protein bị rò rỉ trở lại tuần hoàn bằng cách vào mao tĩnh mạch. Do đó, các protein này có xu hướng tích lũy trong dịch kẽ, vì vậy làm tăng áp lực thẩm thấu keo của dịch kẽ.

    Thứ hai, tăng áp lực thẩm thấu keo trong dịch kẽ làm dịch chuyển cân bằng lực ở các màng mao mạch máu trong việc đẩy dịch vào khoảng kẽ. Do đó, có hiệu lực, chất lỏng được vận chuyển ra bên ngoài thành mao mạch vào khoảng kẽ bởi áp lực thẩm thấu gây ra bởi các protein, do đó tăng cả thể tích và áp suất dịch kẽ.

    Thứ ba, việc tăng áp lực dịch kẽ làm tăng đáng kể tốc độ của dòng chảy bạch huyết, mang đi thể tích dịch kẽ dư thừa và protein dư thừa tích tụ trong khoảng kẽ. Vì vậy, một khi nồng độ protein dịch kẽ đạt đến một mức độ nhất định và gây ra tăng tương đương về thể tích dịch kẽ và áp lực, sự trở lại của protein và dịch bằng cách vào hệ của hệ bạch huyết trở nên đủ lớn để cân bằng tỷ lệ rò rỉ của chúng vào khoảng kẽ từ các mao mạch.

    Ý nghĩa của áp suất âm của dịch kẽ có ý nghĩa gắn kết các mô của cơ thể với nhau.

    Do đó, các giá trị định lượng của tất cả các yếu tố này đạt được một trạng thái ổn định, và chúng sẽ duy trì cân bằng ở mức ổn định cho đến khi một cái gì đó thay đổi tốc độ rò rỉ protein và dịch từ các mao mạch máu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Mao Mạch Và Những Chức Năng Của Nó
  • Mao Mạch: Hệ Vi Tuần Hoàn Quan Trọng Của Cơ Thể
  • Mao Mạch Có Chức Năng Gì?
  • Download Bai Giang Mo Phoi: He Bach Huyet
  • Bài 14: Hệ Bạch Huyết Và Sự Miễn Dịch.
  • Giải Đáp Thắc Mắc: Hệ Tuần Hoàn Gồm Những Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu 2 (4,0 Điểm): 1. Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Của Cơ Tim Thích Nghi Với Chức Năng Của Nó. 2. Trình Bày Năm Chức Năng Chính Của Hệ Tuần Hoàn. 3. Hãy Mô Tả Đườ
  • 11 Sự Thật Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn
  • Bài 18. Tuần Hoàn Máu
  • Câu 5: A. Trình Bày 5 Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn
  • Đề Cương Ôn Sinh 11A1
  • Tìm hiểu chung về hệ tuần hoàn

    Hệ tuần hoàn là một mạng lưới gồm máu, mạch máu và bạch huyết. Cơ quan này có khả năng vận chuyển oxy, hormon và dưỡng chất thiết yếu vào các tế bào trong cơ thể. Nhờ đó, các tế bào sẽ được nuôi dưỡng và hoạt động trong môi trường tốt.

    Trong hệ tuần hoàn mạch máu sẽ là những ống rỗng đem máu đi khắp cơ thể trong dòng chảy không bao giờ chấm dứt. Nếu nối tất cả các động mạch, mao mạch và tĩnh mạch của một người lớn, nó có thể kéo dài lên tới khoảng 100.000km. Trong cơ thể con người có 3 loại tuần hoàn chính xảy ra thường xuyên đó là:

    • Tuần hoàn phổi: Chu kỳ của tuần hoàn sẽ mang máu bị thiếu oxy ra khỏi tim, đến phổi, rồi trở lại tim.
    • Tuần hoàn hệ thống: Bộ phần này sẽ mang máu giàu oxy ra khỏi tim để truyền đến các bộ phận khác trong cơ thể.
    • Tuần hoàn mạch vành: Loại tuần hoàn này có chức năng cung cấp máu cho tim. Sau đó được oxy hóa để tim có thể hoạt động bình thường.

    Chức năng của hệ tuần hoàn

    Theo các nghiên cứu khoa học, chức năng chính của hệ tuần hoàn là vận chuyển các chất dinh dưỡng và khí đến từng tế bào và mô trên khắp cơ thể. Hai thành phần chính của hệ thống này là hệ thống tim mạch và bạch huyết. Trong đó, tim mạch sẽ bao gồm: tim, máu và mạch máu. Nhịp đập của tim có khả năng thúc đẩy chu kỳ bơm máu đến mọi cơ quan trong cơ thể.

    Còn hệ thống bạch huyết là mạng lưới mạch máu của các ống và ống dẫn. Nó sẽ thu thập, lọc và đưa bạch huyết trở lại lưu thông máu. Hệ thống này là thành phần quan trọng của hệ miễn dịch, nó có thể tạo ra và lưu thông các tế bào lympho. Cơ quan của bạch huyết gồm: mạch bạch huyết, hạch bạch huyết, tuyến ức, lá lách và amidan.

    Hệ tuần hoàn gồm những gì?

    Mặc dù hệ tuần hoàn là cơ quan đảm nhận những chức năng quan trọng để duy trì sự sống cho con người. Tuy nhiên nhiều người vẫn chưa hiểu rõ hệ tuần hoàn gồm những gì và nguyên lý hoạt động của nó ra sao.

    Theo các nhà nghiên cứu, hệ cơ quan này gồm có 4 thành phần chính như sau:

    • Tim: Là cơ quan nằm gần trung tâm của ngực với kích thước bằng hai bàn tay người lớn nắm chặt vào nhau. Nhờ lực bơm ổn định của tim, hệ thống tuần hoàn sẽ được hoạt động mọi lúc.
    • Động mạch: Đem lượng máu giàu oxi ra khỏi tim và đến các cơ quan khác.
    • Tĩnh mạch: Đưa máu khử oxy đến phổi nơi chúng nhận oxy.
    • Máu: Là phương tiện vận chuyển hormone, chất dinh dưỡng, oxy, kháng thể cùng những thứ cần thiết khác nhằm giữ cho cơ thể phát triển tốt và khỏe mạnh.

    Oxy sẽ đi vào máu thông qua các màng nhỏ bên trong phổi và hấp thụ oxy khi hít vào. Khi cơ thể con người sử dụng oxy và xử lý các chất dinh dưỡng, nó sẽ tạo nên carbon dioxide. Sau đó, phổi lại thải ra ngoài bằng đường thở.

    Quá trình này cũng diễn ra tương tự đối với hệ thống vận chuyển dinh dưỡng và các hormone trong hệ thống nội tiết. Những hormone này được lấy từ nơi sản xuất tới các cơ quan mà chúng ảnh hưởng với sự phân bố đồng đều nhất.

    Như vậy hệ thống tuần hoàn sẽ hoạt động nhờ quá trình áp lực liên tục từ tim và van trên khắp cơ thể. Áp lực này có thể đảm bảo cho các tĩnh mạch mang máu đến tim và các động mạch vận chuyển nó ra khỏi tim.

    Cách tăng hoàn máu cho cơ thể

    Máu không được lưu thông tốt đến các cơ quan trong cơ thể gây nên các triệu chứng làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Do đó, chúng ta có thể tăng tuần hoàn máu bằng cách tập thể dục hàng ngày một cách thường xuyên. Các bài luyện tập với cường độ nhẹ nhàng cũng khiến nhịp tim tăng lên.

    Bên cạnh đó, việc hít thở giúp tăng cường oxy vận chuyển trong máu. Người cao tuổi nên tập thở trong khoảng thời gian từ 5h-6h30 sáng. Hít thở bằng mũi, thở sâu lôi kéo vùng bụng tham gia để đẩy oxy xuống dưới phổi, giúp tăng cường tuần hoàn máu vô cùng hiệu quả.

    Ngoài ra, thực hiện chế độ ăn uống khoa học với các chất dinh dưỡng cần thiết mà đặc biệt là nhiều rau quả cũng rất tốt cho hệ tuần hoàn máu. Chúng ta nên thường xuyên bổ sung một số loại rau củ tốt cho mạch máu là quả mọng và rau có màu xanh đậm.

    Hy vọng những thông tin mà bài viết của chúng tôi chia sẻ có thể giúp các bạn hiểu rõ hệ tuần hoàn gồm những gì cũng như nguyên lý hoạt động của hệ thống này. Nhờ đó, mỗi người sẽ có thêm kinh nghiệm hữu ích để bảo vệ sức khỏe và tăng khả năng vận hành tốt cho các cơ quan trong cơ thể.

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    • Công Ty Cổ Phần NESFACO
    • Địa chỉ công ty: Tòa nhà GIC, Lầu 1, 228B Bạch Đằng, Phường 24, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh
    • Hotline: 093 878 6025 – 1900 633 004
    • Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Tuần Hoàn Máu
  • Sinh Học 11 Bài 18: Tuần Hoàn Máu
  • Lý Thuyết Tuần Hoàn Máu Sinh 11
  • Hồng Cầu Là Gì? Đặc Điểm, Vai Trò Và Biến Chứng Của Hồng Cầu
  • Vì Sao Bạn Nên Sử Dụng Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Sắt?
  • Bài 18. Vận Chuyển Máu Qua Hệ Mạch. Vệ Sinh Hệ Tuần Hoàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Không Khí Sạch Cho Lớp Học Mầm Non, Nhà Trẻ Và Trường Học
  • Hướng Dẫn Vệ Sinh Môi Trường Trong Lớp Học Mầm Non
  • Những Vấn Đề Vệ Sinh Trường Mầm Non Bạn Cần Biết
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ 5 6 Tuổi Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Mầm Non
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nâng Cao Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ 5
  • 1. Sự vận chuyển máu qua hệ mạch

    – Máu được vận chuyển qua hệ mạch là nhờ

    + Sức đẩy của tim khi tâm thất co tạo ra huyết áp và vận tốc máu

    · Huyết áp hao hụt dần trong suốt chiều dài hệ mạch do ma sát với thành mạch và giữa cá phân tử máu

    · Vận tốc máu trong mạch giảm dần từ động mạch cho đến mao mạch, sau đó lại tăng dần trong tĩnh mạch

    + Sự hỗ trợ của hệ mạch

    *Động mạch: nhờ sự co dãn của động mạch

    * Tĩnh mạch: nhờ sự co bóp của cơ bắp quanh thành mạch, sức hút của lồng ngực khi hít vào và của tâm nhĩ khi giãn ra, hoạt động của van 1 chiều

    a. Cần bảo vệ tim mạch tránh các tác nhân có hại

    – Có rất nhiều nguyên nhân làm cho tim phải tăng nhịp không mong muốn và có hại cho tim:

    + Khuyết tật hệ tuần hoàn: hở hay hẹp van tim, mạch máu bị xơ cứng

    + Vi khuẩn, vius: cúm, thương hàn, thấp khớp…

    + Cơ thể bị cú sốc nào đó: sốt cao, mất máu, sốc…

    + Sử dụng chất kíc thích: rượu, thuốc lá, heroin

    + Cảm xúc âm tính: giận dữ, đau buông, sợ hãi, hồi hộp….

    + Thức ăn nhiều mỡ động vật, quá mặn

    – Để có một trái tim và hệ mạch khỏe, chúng ta cần:

    + Hạn chế nhịp tim và huyết áp không mong muốn

    + Không sử dụng các chất thích

    + Băng bó kịp thời các vết thương, không để cơ thể mất nhiều máu

    + Có đời sống tinh thần thoải mái, vui vẻ, tránh xa các cảm xúc âm tính

    + Tiêm phòng các bệnh có hại cho tim mạch: cúm, thương hàn..

    + Hạn chế ăn các thức ăn có hại cho hệ tim mạch

    b. Cần rèn luyện hệ tim mạch

    Cần rèn luyện tim mạch thường xuyên, đều đặn, vừa sức bằng việc luyện tập thể thục thể thao hằng ngày, lao động vừa sức và xoa bóp

    II. Hướng dẫn trả lời câu hỏi SGK

    Câu 1: Lực đẩy chủ yếu giúp máu tuần hoàn liên tục và theo một chiều trong hệ mạch đã được tạo ra từ đâu và như thế nào?

    Lực đẩy chủ yếu giúp máu tuần hoàn liên tục và theo một chiều trong hệ mạch đã được tạo ra từ tâm thất co tạo một sức đẩy

    Câu 2 : Các vận động vien thể thao luyện tập lâu năm thường có chỉ số nhịp tim/phút thưa hơn người bình thường. Chỉ số này là bao nhiêu và điều đó có ý nghĩa gì? Có thể giải thích điều này thế nào khi số nhịp tim/phút ít đi mà nhu cầu oxi của cơ thể vẫn được đảm bảo?

    Chỉ số nhịp tim/phút của các vận động viên thể thao luyện tập lâu năm

    Giải thích :

    Các vận động viên thể thao luyện tập lâu năm thường có chỉ số nhịp tim/phút nhỏ hơn người bình thường. Chỉ số này là 40-60 lần/phút lúc nghỉ ngơi và 180-240 lần/phút lúc hoạt động gắng sức. Điều này do các vận động viên thể thao thường xuyên, đều đặn luyện tập, có ý thức cố gắng trong thời gian lâu dài đã nâng được hiệu suất làm việc của tim. Tim của họ đập chậm hơn mà vẫn cung cấp đủ nhu cầu oxi cho cơ thể vì mỗi lần đập tim bơm được nhiều máu hơn.

    Câu 3: Nêu các biện pháp bảo vệ cơ thể tránh các tác nhân có hại cho tim mạch ?

    Các biện pháp bảo vệ cơ thể tránh các tác nhân có hại cho tim mạch :

    – Khắc phục và hạn chế các nguyên nhân làm tăng nhịp tim và huyết áp không mong muốn

    – Không sử dụng các chất kích thích có hại như thuốc là, heroin, rượu,…

    – Tiêm phòng các bệnh có hại cho tim mạch như cúm, thương hàn, bạch hầu, thấp khớp

    – Hạn chế ăn các thức ăn có hại cho tim mạch như mỡ động vật,…

    Câu 4: Nêu các biện pháp rèn luyện hệ tim mạch?

    – Tránh các tác nhân gây hại

    – Tạo cuộc sống tinh thần thoải mái, vui vẻ

    – Lựa chọn hình thức rèn luyện thích hợp

    – Cần rèn luyện thường xuyên, đều đặn, vừa sức để nâng cao sức chịu đựng của tim mạch và cơ thể.

    III. Câu hỏi ôn tập

    Câu 1: Tại sao huyết áp trong tĩnh mạch rất nhỏ mà máu vẫn chuyển được qua tĩnh mạch về tim ?

    Câu 2: Huyết áp là gì ? Nguyên nhân nào làm cho máu chảy nhanh ở động mạch, chậm ở mao mạch ? Điều này có ý nghĩa gì ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp, Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Luận Triết Học Mác Lênin
  • Iphone Lock Sử Sụng Khác Iphone Quốc Tế Như Thế Nào? Và Cách Nhận Biết Iphone Lock? Iphone Lock Là Gì?
  • Phương Pháp Dạy Học Là Gì? Phân Biệt Với Thủ Pháp Dạy Học
  • Phân Biệt Sáng Chế Và Giải Pháp Hữu Ích Như Thế Nào?
  • Kiến Nghị Là Gì? Cách Viết Một Bản Kiến Nghị Như Thế Nào?
  • Mao Mạch: Hệ Vi Tuần Hoàn Quan Trọng Của Cơ Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Mao Mạch Và Những Chức Năng Của Nó
  • Vi Tuần Hoàn Và Hệ Thống Hạch Bạch Huyết
  • Đây Là Lí Do Tại Sao Bạn Nên Nằm Ngủ Nghiêng Về Bên Trái Ngay Tối Nay
  • Hệ Bạch Huyết Trên Mặt Và Cổ
  • Hệ Bạch Huyết Và Cơ Chế Thải Độc Của Làn Da
  • Mỗi cơ quan có một mạng lưới vi tuần hoàn đặc biệt, phù hợp với nhu cầu riêng của mình. Thường động mạch nuôi cơ quan chia nhánh từ 6 đến 8 lần thành tiểu động mạch. Các tiểu động mạch có đường kính trong dưới 20 µm.

    • Thành mạch không có cơ trơn. Đường kính vào khoảng 5 – 10 um. Kích thước đủ để một hồng cầu ép minh kéo dài ra để đi qua. Cấu trúc của nó cũng thay đổi tùy mô.
    • Đầu mạch có cơ vòng giúp mạch có thể co thắt, đóng mở mạch máu.
    • Thành có một lớp tế bào nội mô, bên ngoài là màng đáy.
    • Giữa các tế bào nội mô có những khe liên bào. Giúp thông giữa trong và ngoài mạch. Các khe chiếm khoảng 1/1.000 tổng diện tích của mao mạch. Hầu hết nước và điện giải có thể xuyên qua khe.

    Tại mao mạch, máu không qua liên tục mà từng đợt. Đó là do sự co thắt các cơ vòng tiền mao mạch và cơ trơn ở thành các mạch nối thẳng. Các cơ này co giãn với chu kỳ 5- 10 lần/phút. Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự đóng mở này là nồng độ oxy của mô. Nhu cầu sử dụng càng lớn, thì lượng máu đến mô càng lớn. Đó là hiện tượng tự điều chỉnh tại mao mạch.

    Ngoài ra, còn có các mạch nối thẳng từ tiểu động mạch sang tiểu tĩnh mạch mà không qua mạng lưới mao mạch.

    Ở một thời điểm nhất định, chỉ có 5% máu tuần hoàn là trong mao mạch. Nhưng 5% này là phần quan trọng nhất. Ví tại đó có sự trao đổi các chất : dinh dưỡng, oxy, CO, giữa máu và mô. Có khoảng 10 tỷ mao mạch. Tổng diện tích trao đổi vào khoảng 500 – 700 m2. Rất hiếm khi một tế bào có chức năng của cơ thể mà ở cách xa mao mạch. Bất kỳ tế bào hoạt động chức năng nào cũng có một mao mạch nuôi nó không cách xa quá 20 đến 30 µm

    Các mao mạch riêng lẻ là một phần của giường mao mạch. Đó là một mạng lưới đan xen các mạch máu cung cấp cho các mô và cơ quan. Mô càng hoạt động mạnh thì càng cần nhiều mao mạch. Chúng giúp cung cấp chất dinh dưỡng và mang đi các sản phẩm của quá trình trao đổi chất.

    Phân nhánh từ tiểu động mạch. Cung cấp sự trao đổi giữa mô và máu.

    Một loại mạch máu có lỗ thông được tìm thấy ở : gan, tủy xương, tuyến yên trước và các cơ quan não thất. . Chúng là những mạch ngắn nối trực tiếp các tiểu động mạch và tĩnh mạch ở hai đầu đối diện của giường. Chúng được tìm thấy chủ yếu trong vi tuần hoàn mạc treo.

    Có đường kính lớn hơn một chút so với mao mạch máu. Chúng có các đầu đóng (không giống như các mao mạch máu mở ở một đầu vào tiểu động mạch và mở ở đầu kia với các tiểu tĩnh mạch). Cấu trúc này cho phép chất lỏng kẽ chảy vào chúng nhưng không chảy ra ngoài. Các mạch này có áp suất bên trong lớn hơn mạch máu. Do nồng độ protein huyết tương trong bạch huyết lớn hơn.

    Có 3 loại mao mạch chính:

    Liên tục có nghĩa là: các tế bào nội mô ở lớp lót không bị gián đoạn. Chúng chỉ cho phép các phân tử nhỏ hơn đi qua. Chẳng hạn như: nước và ion, đi qua các khe gian bào của chúng. Các phân tử hòa tan trong lipid có thể khuếch tán thụ động qua màng tế bào nội mô,dọc theo gradient nồng độ. Dạng này có ở tất cả các tế bào ngoại trừ biểu mô và sụn. Tế bào nội mô ở dạng này đặc biệt trải khắp hệ thần kinh trung ương và tới tuyến ức thì hợp lại với nhau bằng một liên kết chặt chẽ. Những mạch máu này có đặc điểm bị hạn chế khả năng thẩm thấu.

    Dạng liên tục có thể được chia thành hai loại phụ:

    • Mao mạch có nhiều túi vận chuyển: được tìm thấy chủ yếu ở cơ xương, ngón tay, tuyến sinh dục và da.
    • Mao mạch có một vài túi vận chuyển: chủ yếu được tìm thấy trong hệ thần kinh trung ương. Chúng là thành phần cấu tạo nên hàng rào máu não.

    Các mạch máu biến tính có các lỗ được gọi là fenestrae (tiếng Latinh có nghĩa là “cửa sổ”) trong các tế bào nội mô. Chúng có đường kính 60-80 nm. Được kéo dài bởi một màng ngăn gồm các sợi hướng tâm. Điều này cho phép các phân tử nhỏ và một lượng protein hạn chế khuếch tán. Trong cầu thận có các tế bào không có màng ngăn. Các tế bào này có các lỗ khe với chức năng tương tự như cơ hoành của các mao mạch. Cả hai loại mạch máu này đều có lớp nền liên tục. Chúng chủ yếu nằm trong: các tuyến nội tiết, ruột, tuyến tụy và các cầu thận.

    Đây là một loại mạch máu có lỗ hở đặc biệt. Chúng có đường kính rộng hơn 30-40 μm; lỗ mở rộng hơn trong nội mô. Các mạch máu biến đổi có màng ngăn che lỗ. Trong khi đó mạch máu dạng xoang không có màng ngăn và chỉ có lỗ thông. Những loại mạch máu này cho phép các tế bào: hồng cầu, bạch cầu và các protein huyết thanh khác nhau đi qua. Máu di chuyển qua mao mạch kiểu xoang tương đối chậm. Điều này làm tăng thời gian cho sự trao đổi qua thành mạch.

    Các mao mạch này thiếu các túi tế bào hình ống. Do đó sử dụng các khoảng trống có trong các điểm nối tế bào để chuyển giao giữa các tế bào nội mô , giúp xuyên màng. Mạch máu dạng xoang chủ yếu được tìm thấy ở :gan, tủy xương, lá lách và các cơ quan quanh não thất.

    Mao mạch không hoạt động như một đơn vị riêng lẻ . Chúng giống như một mạng lưới liên kết với nhau gọi là mạng lưới mao mạch ; hoặc đám rối mao mạch. Một tiểu động mạch chung tạo nên hàng chục mao mạch đổ vào nhiều tiểu tĩnh mạch.

    Lối vào của mỗi mạch máu được bảo vệ bằng một đai cơ trơn . Gọi là cơ thắt bên của mao mạch. Sự co thắt của những tế bào cơ trơn làm thắt lại và thu hẹp đường kính của lối vào mạch máu. Do đó làm giảm dòng chảy của máu. Sự nới lỏng của của cơ thắt mở rộng lối vào, cho phép máu đi vào mạch nhanh hơn.

    Mạng lưới mao mạch có thể được cung cấp máu từ nhiều hơn một động mạch. Chúng đi vào vùng này và hợp lại trước khi tạo nên tiểu động mạch. Sự hợp lại của hai động mạch nhánh cung cấp cho mạng lưới mao mạch, là một ví dụ cho sự nối liền với nhau của động mạch. Sự liên kết giữa các động mạch trước và sau tâm thất của tim là sự nối liền của hai động mạch

    Nơi nối tiếp của động – tĩnh mạch : là mối quan hệ trực tiếp giữa tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch. Khi nơi nối tiếp của động – tĩnh mạch được mở rộng, máu sẽ bỏ qua mạng lưới mao mạch; chảy trực tiếp vào tuần hoàn tĩnh mạch.

    Mặc dù bình thường máu chảy từ tiểu động mạch đến tiểu tĩnh mạch với một tỷ lệ không thay đổi. Nhưng dòng chảy trong mỗi mao mạch thì hầu như thay đổi. Mỗi cơ thắt bên mao mạch lần lượt thay nhau co thắt và giãn ra, có thể mười hai lần mỗi phút.

    Tác dụng của mạng lưới là máu có thể đến tiểu tĩnh mạch bởi một đường truyền hiện tại và một đường truyền khác sau đó. Chu kỳ co thắt và giãn ra của cơ trơn làm thay đổi sự lưu thông của máu qua mạng lưới vi tuần hoàn được gọi là vận mạch.

    Sự vận mạch điều khiển cục bộ sự thay đổi của nồng độ hóa chất và chất khí hòa tan trong dịch kẽ.

    Khi bạn đang nghỉ ngơi, máu lưu thông qua khoảng 25 phần trăm mạch trong mạng lưới mao mạch của cơ thể. Hệ tim mạch không chứa đủ máu để duy trì dòng máu chảy tới tất cả mao mạch trong tất cả mạng lưới cùng một lúc.

    Chúng kết nối tiểu động mạch với tiểu tĩnh mạch. Nhờ đó cho phép trao đổi chất dinh dưỡng và chất thải giữa máu và tế bào mô, cùng với dịch kẽ. Sự trao đổi này xảy ra bằng cách khuếch tán thụ động và bằng quá trình ẩm bào. Ẩm bào được sử dụng cho protein và một số lipid. Quan trọng là các tế bào bạch cầu có thể di chuyển qua các điểm nối giữa các tế bào để sửa chữa tổn thương và chống lại nhiễm trùng. Con đường này cũng được sử dụng bởi các tế bào ung thư di căn.

    3 ba cơ chế hoạt động là : khuếch tán, ẩm bào và siêu lọc.

    Khuếch tán là phương thức quan trọng nhất của trao đổi chất giữa huyết tương và dịch kẽ. Khi máu chảy qua lòng mạch, một lượng nước và chất hòa tan khuếch tán qua thành mao mạch.

    Sự khuếch tán là do các chuyển động nhiệt của phân tử nước và chất hòa tan di chuyển theo hai chiều. Chủ yếu do áp suất đẩy ra khỏi mao mạch vào dịch kẽ và áp suất keo của protein huyết tương. Áp suất keo có tác dụng giữ nước và các chất hòa tan ở lại trong mao mạch.

    Các hình thức khuếch tán:

    • Khuếch tán qua màng tế bào nội mô: các chất tan trong mô sẽ khuếch tán trực tiếp qua màng tế bào. Không cần qua các khe hở. O2, CO2,.. di chuyển qua cơ chể này.
    • Khuếch tán qua khe: có nhiều chất cần cho mô, tan trong nước, nhưng khó qua màng lipit của tế bào nội mô như : Na’, CI’, glucoz, … sẽ khuếch tán qua khe.
    • Khuếch tán qua màng và khe: nước được khuếch tán nhanh theo hai chiều qua màng và các khe. Nhịp độ di chuyển nước qua màng gấp 80 lần nhịp độ huyết tương chảy dọc mao mạch.

    Sự khuếch tán qua màng mạch máu ngoài hai loại áp suất trên còn tùy thuộc:

    • Kích thước của vật chất
    • Tính thấm của thành mạch: khác nhau tùy loại mô
    • Bậc thang nồng độ
    • Nhịp độ khuếch tán chính qua màng mạch.

    Nhiều chất có trọng lượng phân tử lớn (lớn hơn 7 nm) như: phân tử lipoprotein, các phân tử polysaccharide lớn như dextran, proteoglycan…không thể qua các khe. Chúng thường có thể qua màng một ít bằng cơ chế ẩm bào.

    Động học của trao đổi chất qua thành mao mạch phụ thuộc bốn loại lực chi phối là: áp suất thủy tĩnh mao mạch, áp suất thủy tĩnh dịch kẽ, áp suất keo mao mạch, áp suất keo dịch kẽ.

    Mao mạch là các mạch máu/ mạch bạch huyết nhỏ, nhưng đóng vai trò quan trọng đối với hệ tuần hoàn. Các mạch máu này là nơi đảm bảo chức năng chính của hệ mạch. Đó là nơi xảy ra sự trao đổi nước, 02, C02, chất dinh dưỡng và các chất thải giữa máu và các mô xung quanh chúng. Hoạt động của mao mạch giúp hệ tuần hoàn được vận hành một cách hiệu quả và chính xác trong việc nuôi dưỡng và đào thải các chất của cơ thể.

    Bác sĩ Trương Mỹ Linh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mao Mạch Có Chức Năng Gì?
  • Download Bai Giang Mo Phoi: He Bach Huyet
  • Bài 14: Hệ Bạch Huyết Và Sự Miễn Dịch.
  • Hạch Bạch Huyết Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Chức Năng Của Hệ Bạch Huyết Bạn Đã Biết Chưa?
  • Lý Thuyết Tuần Hoàn Máu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Đáp Thắc Mắc: Hệ Tuần Hoàn Gồm Những Gì?
  • Câu 2 (4,0 Điểm): 1. Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Của Cơ Tim Thích Nghi Với Chức Năng Của Nó. 2. Trình Bày Năm Chức Năng Chính Của Hệ Tuần Hoàn. 3. Hãy Mô Tả Đườ
  • 11 Sự Thật Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn
  • Bài 18. Tuần Hoàn Máu
  • Câu 5: A. Trình Bày 5 Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn
  • Hệ tuần hoàn được cấu tạo chủ yếu bởi các bộ phận sau đây:

    – Dịch tuần hoàn: máu hoặc hỗn hợp máu – dịch mô

    – Tim: là một cái máy bơm hút và đẩy máu chảy trong mạch máu

    – Hệ thống mạch máu: gồm hệ thống động mạch, hệ thống mao mạch và hệ thống tĩnh mạch.

    Hệ tuần hoàn có chức năng vận chuyển các chất từ bộ phận này đến bộ phận khác để đáp ứng cho các hoạt động sống của cơ thể.

    II. CÁC DẠNG HỆ TUẦN HOÀN Ở ĐỘNG VẬT

    – Động vật đơn bào và động vật đa bào có cơ thể nhỏ, dẹp không có hệ tuần hoàn, các chất được trao đổi qua bề mặt cơ thể.

    – Ở động vật đa bào có kích thước cơ thể lớn, do trao đổi chất qua bề mặt cơ thể không đáp ứng được nhu cầu của cơ thể dẫn đến các động vật đó có hệ tuần hoàn.

    – Hệ tuần hoàn ở động vật có các dạng sau:

    1. Hệ tuần hoàn hở

    – Hệ tuần hoàn hở có ở đa số động vật thân mềm (ốc sên, trai,…) và chân khớp (côn trùng, tôm…)

    Hệ tuần hoàn hở có đặc điểm:

    – Máu được tim bơm vào động mạch và sau đó tràn vào khoang cơ thể. Ở đây máu trộn lẫn với dịch mô tạo thành hỗn hợp máu – dịch mô (gọi chung là máu). Máu tiếp xúc và trao đổi chất trực tiếp với các tế bào, sau đó trở về tim.

    – Máu chảy trong động mạch dưới áp lực thấp, tốc độ máu chảy chậm.

    2. Hệ tuần hoàn kín

    – Hệ tuần hoàn kín có ở mực ống, bạch tuộc, giun đốt và động vật có xương sống

    – Hệ tuần hoàn kín có đặc điểm:

    + Máu được tim bơm đi lưu thông liên tục trong mạch kín, từ động mạch qua mao mạch, tĩnh mạch và sau đó về tim. Máu trao đổi chất với tế bào qua thành mao mạch.

    – Máu chảy trong động mạch dưới áp lực cao hoặc trung bình, tốc độ máu chảy nhanh.

    – Hệ tuần hoàn kín của động vật có xương sống là hệ tuần hoàn đơn hoặc hệ tuần hoàn kép. Hệ tuần hoàn đơn có ở cá. Hệ tuần hoàn kép có ở nhóm động vật có phổi như lưỡng cư, bò sát, chim và thú.

    Bảng. So sánh hệ tuần hoàn đơn và hệ tuần hoàn kép

    Đặc điểm so sánh Hệ tuần hoàn đơn Hệ tuần hoàn kép

    Đại diện

    Lớp Cá

    Lớp Lưỡng cư, Bò sát, Chim, Thú

    Cấu tạo của tim

    Tim 2 ngăn

    Tim 3 ngăn hoặc 4 ngăn

    Số vòng tuần hoàn

    Chỉ có 1 vòng tuần hoàn

    Có 2 vòng tuần hoàn

    Máu đi nuôi cơ thể

    Đỏ thẫm

    Máu pha hoặc máu đỏ tươi

    Tốc độ của máu trong động mạch

    Máu chảy với áp lực tế bào

    Máu chảy với áp lực cao

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sinh Học 11 Bài 18: Tuần Hoàn Máu
  • Lý Thuyết Tuần Hoàn Máu Sinh 11
  • Hồng Cầu Là Gì? Đặc Điểm, Vai Trò Và Biến Chứng Của Hồng Cầu
  • Vì Sao Bạn Nên Sử Dụng Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Sắt?
  • Top 10 Thực Phẩm Chức Năng Cho Người Thiếu Máu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100