Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả

--- Bài mới hơn ---

  • Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022
  • Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua
  • Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019
  • Lạm Phát 2011 Đến Nay: Con Số Và Dự Báo
  • Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong cả năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng tăng 11,75% so với tháng 12 năm 2009. Tuy nhiên, xét cụ thể giữa các tháng trong năm thì chỉ số CPI diễn biến khá bất thường nhưng có tính lặp lại giống một số năm gần đây, tháng 1-2010 tăng 1,36%, tháng 2-2010 tăng 1,96%, tháng 3 tăng 0,75%, tháng 4 tăng 0,14%, tháng 5 tăng 0,27%, tháng 6: 0,22%, tháng 7: 0,06%, tháng 8: 0,23%, tháng 9: 1,31%, tháng 10: 1,05%, tháng 11: 1,86% và tháng 12 tăng 1,98%.

    Đầu năm 2010, Chính phủ điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu thị trường trong nước, tăng giá bán than, điện, nước sạch và điều chỉnh tăng mức lương cơ bản. Bên cạnh đó Chính phủ cũng cho phép điều chỉnh mức thu học phí từ tháng 9 và tháng 10-2010. Những điều chỉnh đó tác động lớn tới mặt bằng giá nói chung và là nguyên nhân chính làm cho nhóm giáo dục tăng giá cao nhất trong rổ hàng hóa tính chỉ số CPI nói riêng.

    Lúa ở miền Bắc bị sâu bệnh đặc biệt là bệnh rầy. Tiếp đến là vụ Đông ở miền Bắc bị khô hạn nặng, rét đậm kéo dài. Miền Trung và Tây Nguyên bị bão lụt gây thiệt hại nặng nề nhất từ hàng chục năm qua, mùa màng vừa bị thiệt hại, thức ăn và vật tư nông nghiệp, máy móc thiết bị nông nghiệp bị mất hay hư hỏng. Giá điện, phân bón, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu, lãi suất vốn vay và chi phí vốn vay tăng, chi phí đầu vào tăng. Trong năm 2010, giá bán lẻ thức ăn chăn nuôi đã tăng tới 14 lần, riêng từ 15-9-2010 đến cuối tháng 12-2010 tăng tới 9 lần. Giá thức ăn chăn nuôi tháng 1-2010 còn ở mức 187.500 đồng/bao loại 25 kg, đến tháng 12-2010 đã tăng lên 264.000 đồng/kg. Giá đầu vào của thức ăn chăn nuôi tăng dẫn đến giá thành sản phẩm từ chăn nuôi tăng theo, thêm vào đó chăn nuôi bị dịch bệnh, bị thua lỗ, quy mô chăn nuôi bị thu hẹp, nguồn cung ra thị trường bị hạn chế…, càng làm cho giá tăng lên. Cũng do chi phí đầu vào tăng cao và hạn hán nặng, rét đậm kéo dài ở phía Bắc, nên nhiều vùng trồng rau màu ven các đô thị lớn thu hẹp diện tích gieo trồng, nguồn cung giảm.

    Giá nông sản, nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất khác phục vụ nông nghiệp và thuốc thú y… trên thị trường thế giới tăng khá cao. Riêng giá cà phê tăng lên cao nhất trong 16 năm gần đây. Giá bông tăng tới 60-70% so với cuối năm 2009. Giá cao su, hồ tiêu, điều, gạo, đường thô, tinh bột sắn, hạt điều, chè, mặt hàng thủy sản chế biến… cũng tăng mạnh. Riêng giá mủ cao su Trung Quốc mua của Việt Nam tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2009. Tháng 8 – 2010, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam bình quân khoảng 420 USD/tấn nhưng trong tháng 12-2010 tăng lên 495 – 500 USD/tấn.

    Thiên tai xảy ra nặng nề tại nhiều nước, nhất là trong khu vực như Trung Quốc, Pakistan, Thái Lan, Ấn Độ…, cộng với tình hình thời tiết khắc nghiệt tại nhiều quốc gia khác làm cho sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại nghiêm trọng, dẫn đến lượng cung cầu nhiều mặt hàng nông sản thực phẩm mất cân đối, cung giảm, cầu tăng. Giá thế giới tăng, giá xuất khẩu các mặt hàng tương ứng của Việt Nam tăng và giá thu mua trong thị trường nội địa cũng tăng. Trong quý IV-2010, hoạt động mua gom ngay từ đầu mối các mặt hàng: mủ cao su tự nhiên, lợn hơi, thủy, hải sản, đường… của thương nhân Trung Quốc với giá cao và khối lượng lớn tại nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hoá của Việt Nam, càng tác động đến cung cầu, đến tâm lý và tác động đến giá cả các mặt hàng đó. Cùng với diễn biến chung của giá cả thị trường thế giới thì tình trạng đầu cơ mặt hàng nông sản thực phẩm tại Trung Quốc cũng đã tác động đáng kể đến giá cả thị trường nước ta.

    Trong xu hướng đô thị hóa và phát triển cơ sở hạ tầng, diện tích đất đai tiếp tục bị thu hẹp. Các dự án nhà ở, khách sạn, du lịch sinh thái, sân golf, khu công nghiệp, đường giao thông… Việc thu hồi đất nông nghiệp, đặc biệt là đất canh tác màu mỡ của người dân ở ven các khu đô thị, làm cho diện tích đất trồng trọt giảm, mặt khác, người dân có tiền từ giải phóng mặt bằng, đền bù tài sản và hoa màu trên đất nên tăng tiêu dùng. Mặt khác, tình trạng đó làm hạn chế quy mô sản xuất nông nghiệp, giảm nguồn cung ứng nông sản ra thị trường. Xu hướng nói trên diễn ra trong nhiều năm qua, nhưng càng được đẩy mạnh và mở rộng trong năm 2010, nên tác động đáng kể đến giá cả.

    Cũng do quá trình đô thị hóa, giá thuê nhà trong năm 2010 bình quân tăng trên 20%, nhất là giá nhà cho người có thu nhập thấp và trung bình thuê, như sinh viên, người lao động… Giá nhà đất ở khu vực Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc tăng từ 30% – 60% tùy theo khu vực, dự án và vị trí.

    Nhu cầu xây dựng tăng, tác động đến giá cả mặt hàng vật liệu xây dựng, đặc biệt là các mặt hàng có tỷ lệ tăng khá cao là hàng nhập ngoại hay nguyên liệu nhập ngoại, như thép và phôi thép, sơn nhà, nhôm, kính cao cấp và các loại vật liệu khác….

    Trong năm 2010 tỷ giá trên thị trường tự do tăng trên 10% và tỷ giá giao dịch của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng tăng 5,9%. Tỷ giá chính thức từ cuối năm 2009 đến hết năm 2010 được ngân hàng nhà nước (NHNN) điều chỉnh tăng hai lần. Riêng đợt điều chỉnh ngày 18-8-2010, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa Đồng Việt Nam và Đô la Mỹ tăng 2,1%, từ 18.544 VND/USD, lên mức 18.932 VND/USD. Mục tiêu của việc điều chỉnh nhằm khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập siêu. Song bên cạnh đó tác động đến giá các mặt hàng nhập khẩu, giá thu mua các mặt hàng xuất khấu.

    Tỷ giá tăng làm cho chi phí đầu vào một loạt mặt hàng có nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng nhập ngoại tăng. Giá cho thuê văn phòng, khách sạn, mua bán căn hộ cao cấp,… tình theo USD quy đổi ra VND cũng tăng theo.

    Việc tỷ giá tăng tạo sức ép lên giá bán lẻ xăng dầu thị trường trong nước. Đặc biệt là giá bán lẻ các mặt hàng khác nhập khẩu từ nước ngoài hay có phụ tùng, nguyên vật liệu nhập khẩu, như: linh kiện máy tính, đồ điện tử, điện lạnh, hoá chất, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, dược phẩm, thuốc chữa bệnh và vật tư y tế, nguyên liệu hàng dệt may và giày da, vật liệu xây dựng cao cấp, ô tô và phụ tùng ô tô, xe gắn máy và phụ tùng xe gắn máy, thiết bị máy móc và phương tiện khác, thiết bị văn phòng, đồ dùng gia đình cao cấp…cũng tăng theo biến động tỷ giá. Trong đó rõ nét nhất là giá bán ô tô, xe gắn máy thị trường trong nước. Các mặt hàng nông sản thực phẩm khác Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu lớn cũng có biến động lớn.

    Trong 10 tháng đầu năm 2010, lãi suất cơ bản do NHNN công bố giữ ổn định ở mức 8%/năm, lãi suất huy động vốn nội tệ của các TCTD ở mức 12-13%/năm, lãi suất cho vay 14-15%/năm. Lãi suất cho vay của TCTD như vậy là rất cao so với mặt bằng chung lãi suất trong khu vực, so với tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp và chỉ số CPI đến thời điểm đó. Lãi suất cao tác đông đến chi phí đầu vào của vốn tỏng giá thành sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.

    Từ tháng 11-2010, lãi suất cơ bản do NHNN công bố tăng từ 8%/năm lên 9%/năm để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát. Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay nội tệ của các NHTM lại tăng lên mức cao hơn. Ngay từ đầu tháng 11-2010, lãi suất tiền gửi nội tệ phổ biến đã lên tới 14-15%/năm, thậm chí cá biệt vào một số thời điểm có NHTM tăng lên 16-17%/năm. Lãi suất cho vay vốn nội tệ của các NHTM cũng đã tăng lên phổ biến tới mức 16-20%/tháng.

    Mức lãi suất cho vay nói trên gây khó khăn rất lớn đến hoạt sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của người dân, tạo sức ép đẩy giá thành vật tư, hàng hóa và dịch vụ, tác động lên giá bán và tạo sức ép lên mặt bằng giá. Nhiều dự án triển khai dở dang nếu tiếp tục vay vốn thì thua lỗ vì lãi suất cao, nếu không vay vốn thì máy móc thiết bị bỏ không vẫn phải khấu hao, xuống cấp vì tác động của thiên nhiên, chi phí bảo vệ, trả lãi vốn vay đầu tư, chậm trả nợ gốc, người lao động thiếu việc làm, ảnh hưởng ngay đến chất lượng tín dụng vì nợ quá hạn có nguy cơ

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong năm 2010, thời điểm cao nhất, đầu tháng 11-2010, giá vàng thị trường trong nước tăng tới 36,72%, còn giá vàng cuối tháng 12-2010 tăng khoảng 30% so với cuối năm 2009. Giá vàng tăng và lên cơn sốt vào nhiều thời điểm, cộng với diễn biến thất thường của tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do, tác động lớn đến tâm lý của người dân về lạm phát, về sự mất giá của đồng tiền Việt Nam, góp phần tác động đến mặt bằng giá chung trên thị trường.

    Tiền tệ được đề cập trong bài viết bao gồm cả kênh ngân hàng và kênh ngân sách. Tiền tệ không phải là nguyên nhân chủ đạo, nhưng là nguyên nhân quan trọng tác động làm tăng giá nhóm mặt hàng nhà ở và vật liệu xây dựng.

    Về kênh ngân sách và có tính chất ngân sách: Các dự án xây dựng trụ sở, văn phòng, trường học, bệnh viện, các dự án xây dựng khác có nguồn gốc từ vốn ngân sách, vốn vay ODA nước ngoài… được giải ngân hay vay ngân hàng ứng trước cho thi công… góp phần đẩy giá mặt hàng nhà ở và vật liệu xây dựng, cũng như tác động lên các nhóm mặt hàng khác trên thị trường. Một nguyên nhân quan trọng khác là sự thất thoát vốn đầu tư ngân sách và quản lý chi tiêu, thu chi ngân sách cũng góp phần tác động lên giá nhà ở và vật liệu xây dựng…

    Về kênh tín dụng ngân hàng: Tiền vay khách hàng từ ngân hàng thương mại (NHTM) cho mua nhà, đất, mua căn hộ chung cư, xây nhà mới và sửa chữa nhà, xây khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, văn phòng cho thuê và chủ dự án giải ngân vốn vay cho đền bù giải phóng mặt bằng… cũng góp một phần tác động vào mặt bằng giá chung.

    Theo số liệu của NHNN, tính đến cuối tháng 12-2010, ước tính dư nợ cho vay để kinh doanh bất động sản khoảng 228.000 tỉ đồng, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2009. Tuy nhiên, đó là số liệu do các NHTM báo cáo lên, còn số vốn thực tế đầu tư vào bất động sản chắc chắn không dừng ở con số này. Bên cạnh đó là các khoản vay tiêu dùng của người dân mua nhà, mua căn hộ, sửa chữa và cải tạo nhà… chưa được thể hiện hay thể hiện chưa đầy đủ trong con số thống kê nói trên.

    Có thể nói kênh tiền tệ qua hệ thống ngân hàng không phải là nguyên nhân chủ yếu gây nên lạm phát cao trong năm 2010. Trước hết, qua phân tích các nguyên nhân ở phần đầu bài viết cùng với sự tác động lên các nhóm hàng hóa và dịch vụ. Thứ hai là mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đến hết năm 2010 so với nhiều năm gần đây không phải là cao, vẫn nằm trong tầm kiểm soát theo mục tiêu đề ra từ đầu năm.

    Theo số liệu của NHNN, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong toàn quốc tính đến hết tháng 12-2010 ước tăng 29,81% so với năm trước, trong đó dư nợ nội tệ tăng 25,3%, dư nợ ngoại tệ tăng 49,3%. Tổng phương tiện thanh toán cả năm ước tăng 25,3%; tổng nguồn vốn huy động tăng 27,2%. Tuy nhiên, nếu loại bỏ hư số do giá vàng và tỷ giá tăng thì trong năm 2010 tổng dư nợ tăng 27,6%, tổng phương tiện thanh toán tăng 23%, huy động vốn tăng 24,5%. Như vậy, riêng dư nợ cho vay năm 2010 vẫn thấp hơn tốc độ tăng của 2 năm gần đây. Hoặc nếu tính theo độ trễ của tác động chính sách, tức là chỉ số CPI tăng khá cao trong quý IV-2010, nhìn ngược lại trong 6 tháng đầu năm, dư nợ cho vay mới chỉ tăng khoảng 11%, chưa phải là cao. Đồng thời cũng xét theo nhu cầu của nền kinh tế, theo tốc độ tăng trưởng GDP thì tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ cho vay là phù hợp.

    II- Giải pháp kiềm chế lạm phát trong giai đoạn hiện nay

    Lãi suất là một công cụ truyền thống, có tính chất cổ điển trong thực hiện kiềm chế lạm phát. Song thực hiện công cụ này để kiềm chế lạm phát cần phải xem xét các diễn biến khác về kinh tế vĩ mô, phân tích thực trạng thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng chứ không thể áp dụng máy móc được. Trước thời điểm NHNN tăng lãi suất cơ bản lên 9%/năm, nền kinh tế đang có hiện tượng khan hiếm vốn chứ không phải là tình trạng thừa tiền trong lưu thông. Các NHTM đua nhau tăng lãi suất tiền gửi kèm theo nhiều hình thức khuyến mại hấp dẫn khác nhưng vẫn khó huy động được vốn. Bên cạnh đó, lãi suất cơ bản đang là 8%, lãi suất huy động vốn lên tới 12-13%/năm và lãi suất cho vay lên tới 15%/năm. Bản thân lãi suất đó đã quá cao so với mặt bằng lãi suất chung trong khu vực và cũng quá cao so với nền kinh tế. Lãi suất huy động vốn cao hơn nhiều so với tỷ lệ lạm phát và lãi suất cho vay gấp gần 2,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế: 6,78%. Do đó, cần có biện pháp hạ thấp lãi suất của các TCTD. Nếu duy trì mức lãi suất cao như hiện nay sẽ tiếp tục gây tiềm ẩn rủi ro cho nền kinh tế, cho hệ thống ngân hàng thương mại và tác động ngược lại mục tiêu kiềm chế lạm phát.

    Về tỷ giá, cần có các biện pháp cụ thể, linh hoạt và phù hợp với các quy định hiện hành về ngoại hối nhằm khắc phục hai hệ thống tỷ giá, hoặc thu hẹp bớt khoảng cách giữa hai hệ thống tỷ giá, ổn định tỷ giá, xử lý nghiêm các trường hợp niêm yết và bán hàng hóa, dịch vụ thu bằng ngoại tệ. Điều hành tỷ giá theo hướng linh hoạt và ổn định, tăng tính minh bạch cho thị trường này cũng là biện pháp cần thiết góp phần kiềm chế lạm phát.

    Về thị trường vàng, nên chủ động cho nhập khẩu vàng theo nhu cầu của thị trường chứ không nên bị động chạy theo thị trường, chạy theo các cơn sốt, tăng tính thông tin minh bạch về quản lý nhà nước đối với hoạt động này.

    Về tín dụng, NHNN dự kiến trong năm 2011 tăng trưởng tín dụng ở mức 23%, tổng phương tiện thanh toán giữ ở mức 21-23%. Song cần xác định đó chỉ là chỉ tiêu định hướng. Việc tăng trưởng tín dụng phải dựa trên nhu cầu vốn thực tế, hiệu quả của nền kinh tế.

    Hiện nay các NHTM đã có ý thức chủ động quản trị rủi ro tín dụng, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động cho vay nói chung và nợ xấu nói riêng. Song về lĩnh vực quản lý nhà nước, cần tăng cường thanh tra hoạt động cho vay đầu tư bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán và các khoản cho vay “lòng vòng”, mà thực chất là mua cổ phần tăng vốn điều lệ của các NHTM, cũng như đầu tư vào các doanh nghiệp khác. Cơ chế quản lý thị trường nội tệ liên ngân hàng cần linh hoạt để các NHTM cổ phần quy mô nhỏ tham gia tích cực, có hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu vốn của mình, góp phần minh bạch hóa lãi suất và ổn định lãi suất trên thị trường tiền gửi.

    Cần được xác định rằng, trên thị trường nói chung và thị trường liên ngân hàng nói riêng, bao giờ cũng tồn tại người buôn bán lớn và người buôn bán nhỏ, người bán buôn và người bán lẻ… Trên thị trường liên ngân hàng, tất yếu tồn tại các NHTM cổ phần quy mô nhỏ, thường có nhu cầu đi vay và các NHTM có quy mô lớn, chuyên cho vay.

    Cũng cần đánh giá khách quan hơn, trong điều kiện của thị trường tiền tệ hiện nay, một số NHTM có quy mô lớn, có điều kiện về tiếp cận các kênh vay vốn với lợi suất cạnh tranh, chính là người dẫn dắt thị trường, “tìm cách làm giá” về mặt lãi suất. Sự nghi ngờ này không phải là không có cơ sở vì khi thanh khoản khó khăn, ngân hàng đi vay thì nhiều, nhưng ngân hàng cho vay thì ít nên dễ dàng “làm cao”, gây sức ép lên những ngân hàng bí vốn.

    Đối với kênh ngân sách nhà nước, chống thất thu, rà soát các kẽ hỡ trong quản lý nguồn thu và phòng chống tiêu cực trong lĩnh vực này. Tương tự, nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư ngân sách và kiểm soát chặt chẽ các chi tiêu từ ngân sách, đều là những vấn đề không mới nhưng cũng cần nêu lên để có tính đồng bộ khi đề cập đến vấn đề kiềm chế lạm phát.

    Thực hiện hiệu quả, tránh thất thoát, tham nhũng, các tiêu cực khác và tránh ứ đọng các nguồn vốn ODA, vốn đầu tư ngân sách các cấp cũng có ý nghĩa rất lớn góp phần kiềm chế lạm phát, giảm thiểu việc phát sinh chi phí ngoài dự toán, vốn bị đội lên ngoài dự kiến ban đầu đưa nhanh các công trình đó vào sử dụng, phát huy hiệu quả đối với nền kinh tế.

    Bên cạnh đó, quản lý chặt chẽ hoạt động của các Tập đoàn nhà nước, Tổng công ty nhà nước để tạo sự minh bạch về tài chính, hiệu quả vốn đầu tư, tránh thất thoát vốn,… như trường hợp Vinashin,… cũng là một giải pháp cấp bách góp phần kiềm chế lạm phát.

    Để kiềm chế lạm phát, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nói chung, sản xuất nông sản thực phẩm nói riêng là hết sức quan trọng. Tăng sản lượng nông sản thực phẩm với chất lượng ngày càng cao không những đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn làm tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần giảm thâm hụt cán cân thương mại, ổn định tỷ giá.

    Việt Nam đã gia nhập WTO, nên chúng ta phải chấp nhận thực tế sự liên thông giá cả nông phẩm trong nước và thị trường thế giới. Sản xuất có lợi càng kích thích mở rộng sản suất, nâng cao chất lượng, tăng nguồn hàng cho xuất khẩu và thị trường trong nước, tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần bình ổn tỷ giá, tạo việc làm, góp phần ổn định xã hội và đảm bảo an sinh xã hội. Nước ta vốn là một nước sản xuất nông nghiệp, đến nay khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn chiếm khoảng 70% lực lượng lao động xã hội, cũng tương ứng khoảng 70% dân số sống ở nông thôn. Giá cả nông sản thực phẩm tăng, góp phần nâng cao thu nhập cho người sản xuất, khu vực vốn chịu nhiều rủi ro và lợi nhuận thấp. Giá cả nông phẩm được cải thiện cũng kích thích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn theo hướng hàng hoá, bám sát nhu cầu của thị trường. Để vừa bảo đảm lợi ích của cả người sản xuất khi gia nhập WTO, vừa bảo đảm an sinh xã hội, cần có chính sách điều tiết vĩ mô của nhà nước, chứ không thể chỉ sử dụng biện pháp hành chính, làm méo mó thị trường nông sản.

    Về lý thuyết cũng như thực tiễn, nguyên nhân gây ra lạm phát tại các nước trong khu vực là: chi phí đẩy, cầu kéo và tiền tệ, thì Việt Nam có thêm ba nguyên nhân riêng, đặc thù đó là tâm lý, lòng tin của người dân; tỷ giá và lãi suất. Đây cũng là sự lý giải vì sao các nước trong khu vực cũng bị thiên tai, cũng bị ảnh hưởng giá của thị trường thế giới nhưng lạm phát của họ không cao, còn Việt Nam thì quá cao. Tất nhiên, có thể còn một số nguyên nhân khác của sự khác biệt này, do đó dù tham khảo kinh nghiệm các nước trong khu vực hay thế giới, thì các giải pháp cũng cần phù hợp với thực tiễn Việt Nam mới đem lại hiệu quả./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • 8 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Việt Nam Đang Đi Đúng Hướng Trong Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Nghị Quyết Chính Phủ Về 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • 6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Xã Hội Cho Tình Trạng Ly Hôn Ngày Càng Tăng
  • Chung Tay Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn
  • Nguyên Nhân, Thực Trạng Ly Hôn Hiện Nay Và Đưa Ra Giải Pháp Hạn Chế Thực Trạng Này.
  • Giải Pháp Nào Hạn Chế Ly Hôn?
  • Theo yêu cầu của Chính phủ, vừa qua Bộ KH-ĐT đã có báo cáo về tình hình, nguyên nhân lạm phát và những giải pháp chủ yếu cần thực hiện trong thời gian tới. Với báo cáo này, lạm phát tại Việt Nam đã được nhận diện một cách “tỏ tường”.

    Cung tiền tăng

    Theo báo cáo này, trong gần 5 năm qua, chỉ trừ năm 2009, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 so với tháng 12 năm trước tăng 6,5%, còn các năm khác đều tăng trên 10%/năm. So sánh với các nước, lạm phát của nước ta cao hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

    Báo cáo này cũng đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến CPI cao ngất ngưởng trong những năm qua, trong đó, nguyên nhân về tiền tệ, tín dụng được “chỉ mặt điểm tên” đầu tiên. Cụ thể, Bộ KH-ĐT cho rằng, cung tiền trong những năm vừa qua có sự nới lỏng quá mức là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao ở nước ta. Nếu như năm 2000, tỷ lệ cung tiền trên GDP của Việt Nam chỉ ở mức dưới 60% thì đến cuối năm 2010 đã lên đến trên 130% GDP (tổng dư nợ tín dụng trên 110% GDP). Cung tiền của Việt Nam khá nhanh so với các nước trong khu vực. Tốc độ tăng cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế trong thời gian dài. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ là 43,7%, tín dụng là 53,9% vào năm 2007, mức tăng kỷ lục này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức nêu trên lại lặp lại dẫn đến lạm phát năm 2010 và 2011 lại bị đẩy lên cao.

    Ngoài nguyên nhân chính nêu trên, báo cáo của Bộ KH-ĐT cũng chỉ ra hàng loạt các nguyên nhân khác gây lạm phát cao, trong đó có chi phí sản xuất tăng, tài khóa…

    Cơ cấu kinh tế, cơ cấu và hiệu quả đầu tư cũng đẩy lạm phát lên cao. Báo cáo Bộ KH-ĐT nhận định, đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất ổn định các cân đối vĩ mô và đẩy lạm phát tăng cao trong thời gian vừa qua. Những yếu kém trong nội tại nền kinh tế đó là: cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư bất hợp lý và kém hiệu quả kéo dài, tích tụ trong nhiều thời kỳ, chưa được đổi mới. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và dựa nhiều vào tăng vốn đầu tư; công nghệ lạc hậu, năng suất thấp. Cơ cấu nền kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chậm được chuyển đổi; sản xuất trong nước chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng gia công kéo dài quá lâu, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu dựa vào nguyên vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài…

    Ngoài ra, hệ thống doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, hệ thống ngân hàng phát triển nhanh nhưng chưa bền vững, tài chính không minh bạch, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

    6 giải pháp

    Từ thực trạng này, Chính phủ thống nhất cao các giải pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới. Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ. Thứ hai, tăng cường công tác quản lý giá cả phù hợp với cơ chế thị trường. Thực hiện quản lý nhà nước về giá đối với một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền phù hợp với cơ chế thị trường và nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế bằng các biện pháp giám sát thị trường, kiểm soát chi phí, áp thuế. Thứ ba, tái cơ cấu nền kinh tế gắn bó chặt chẽ với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thứ tư, tạo động lực từ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Thứ năm, thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước. Thứ sáu, tăng cường công tác phân tích, dự báo tình hình thế giới, khắc phục triệt để nguyên nhân lạm phát do yếu tố tâm lý.

    Mục tiêu của Chính phủ trong năm 2011 là kiềm chế bằng được lạm phát ở mức 18% và kéo xuống dưới 10% trong các năm tiếp theo để đến năm 2022 kiềm chế lạm phát ở mức khoảng 5%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiềm Chế Lạm Phát Và Những Biện Pháp
  • Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ
  • 6 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Kiềm Chế Lạm Phát
  • Giải Pháp Âm Thanh Thanh Công Cộng Cho Doanh Nghiệp Vpa Của Aex
  • Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiềm Chế Lạm Phát Và Những Biện Pháp
  • 6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Xã Hội Cho Tình Trạng Ly Hôn Ngày Càng Tăng
  • Chung Tay Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn
  • Những tác động của lạm phát đối với việc phân phối lại thu nhập, sản lượng, sự phân bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế thường xảy ra đối với loại lạm phát cao và không dự đoán trước được. học kế toán tổng hợp ở đâu tốt

    Mặc dù những ảnh hưởng của loại lạm phát này là hiển nhiên, các nhà hoạch định chính sách vẫn phải đặt câu hỏi: nên làm cho nền kinh tế thích ứng với lạm phát hay cố gắng thủ tiêu lạm phát bằng các biện pháp cứng rắn.

    Câu trả lời thực sự không dễ dàng, nó tuỳ vào thực trạng của nền kinh tế, mức độ lạm phát và sự nhạy cảm của các biến số kinh tế vĩ mô đối với sự thay đổi của 1% lạm phát.

    Về mặt ngắn hạn, theo quy luật Okun được rút ra từ sự khảo sát nền kinh tế Mỹ vào thập kỷ 70, cứ 1% giảm lạm phát sẽ kéo theo 2% tăng lên của tỷ lệ thất nghiệp so với tỷ lệ tự nhiên và 4% giảm đi của GDP thực tế so với GDP tiềm năng. Tỷ lệ “hy sinh” này khác nhau tuỳ vào thực trạng kinh tế của từng nước

    Về mặt dài hạn, việc kiềm chế lạm phát, giữ giá trị tiền tệ ổn định sẽ tạo điều kiện tăng sản lượng thực tế và giảm thất nghiệp. Vì thế duy trì sự ổn định tiền tệ là mục tiêu dài hạn của bất kỳ nền kinh tế nào. Nhưng trong từng thời kỳ việc lựa chọn các giải pháp kiềm chế lạm phát cũng như liều lượng tác động của nó phải phù hợp với yêu cầu tăng trưởng và các áp lực xã hội mà nền kinh tế phải gánh chịu. Chính phủ các nước có thể chọn chiến lược giảm lạm phát từ từ, ít gây biến động cho nền kinh tế hoặc chiến lược giảm tỷ lệ lạm phát nhanh chóng tạo nên sự giảm mạnh về sản lượng trong quá trình điều chỉnh.

    Việc đưa ra các giải pháp chống lạm phát thường xuất phát từ sự phân tích đúng đắn nguyên nhân gây nên lạm phát bao gồm những nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. học kế toán ở đâu tốt nhất

    Nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc làm tăng chi phí sản xuất khiến tổng cung giảm. Tuy nhiên nguồn gốc phát sinh các lý do làm dịch chuyển đường tổng cầu và đường tổng cung lại rất khác nhau ở các cuộc lạm phát khác nhau: có thể là do cơ chế quản lý kinh tế không phù hợp, nền kinh tế thiếu tính cạnh tranh và do đó không hiệu quả, cơ cấu kinh tế mất cân đối, các năng lực sản xuất không được khai thác, trình độ lao động và công nghệ lạc hậu…

    Để giải quyết những nguyên nhân sâu xa này cần phải có thời gian và đi kèm với các cuộc cải cách lớn. Thông thường để tác động vào các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát và kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mong muốn, chính phủ các nước sử dụng một hệ thống các giải pháp nhằm làm giảm sự gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia tăng chi phí.

    2.1. Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu

    Các giải pháp này nhằm hạn chế sự gia tăng quá mức của tổng cầu.

    Trước hết là thực hiện một CSTT thắt chặt do nguyên nhân cơ bản của lạm phát cầu kéo là sự gia tăng của khối lượng tiền cung ứng. Sự hạn chế cung ứng tiền sẽ có hiệu quả ngay đến sự giảm sút của nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội. nên học kế toán ở đâu tốt tại hà nội

    Một CSTT thắt chặt được bắt đầu bằng việc kiểm soát và hạn chế cung ứng tiền cơ sở (MB), từ đó mà hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng trung gian. Lãi suất ngân hàng và lãi suất thị trường tăng lên sau đó sẽ làm hạn chế nhu cầu tiêu dùng và đầu tư, làm giảm áp lực đối với hàng hoá và dịch vụ cung ứng. Cùng với việc thực thi CSTT thắt chặt là sự kiểm soát gắt gao chất lượng tín dụng cung ứng nhằm hạn chế khối lượng tín dụng, đồng thời đảm bảo hiệu quả của kênh cung ứng tiền cũng như chất lượng của việc sử dụng tiền tệ.

    Kiểm soát chi tiêu của ngân sách nhà nước từ trung ương đến địa phương nhằm đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả trong chi tiêu ngân sách: rà soát lại cơ cấu chi tiêu, cắt giảm các khoản đầu tư không có tính khả thi và các khoản chi phúc lợi vượt quá khả năng của nền kinh tế, cải tiến lại bộ máy quản lý nhà nước vốn cồng kềnh, không hiệu quả, gây lãng phí ngân sách. Khai thác các nguồn thu, đặc biệt là thu thuế nhằm giảm mức bội chi, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước … Và cuối cùng là hạn chế phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách.

    Thực hiện chính sách khuyến khích tiết kiệm, giảm tiêu dùng. Lãi suất danh nghĩa được đưa lên cao hơn tỷ lệ lạm phát để hấp dẫn người gửi tiền. Biện pháp này thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao và có tác động tức thời. Tuy nhiên, trong thời gian áp dụng chính sách lãi suất cao, cần có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với mức độ biến động của lạm phát và hạn chế hậu quả tiềm tàng cho các tổ chức nhận tiền gửi.

    Trong điều kiện nền kinh tế mở, sự can thiệp vào tỷ giá nhằm điều chỉnh tỷ giá tăng dần dần (chứ không để tăng lên ngay) theo mức độ lạm phát cũng được sử dụng như một giải pháp nhằm giảm cầu do tỷ giá tăng khiến giá hàng xuất khẩu rẻ đi làm tăng nhu cầu xuất khẩu dẫn đến tăng tổng cầu và do đó là tăng sức ép lên giá. Mặt khác, việc điều chỉnh tỷ giá từ từ cũng sẽ làm cho giá nội địa của hàng nhập khẩu không tăng nhanh quá, giảm bớt áp lực tăng mặt bằng giá trong nước.

    Đối với những nước phụ thuộc vào hàng nhập khẩu, điều này đặc biệt có ý nghĩa. Tuy nhiên, hành động can thiệp này có thể làm cạn kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ vì phải bán ra để kìm hãm tỷ giá tăng. Chính vì thế việc sử dụng giải pháp này cũng cần cân nhắc đến khả năng dự trữ ngoại hối cũng như khả năng phục hồi nguồn dự trữ của quốc gia.

    Các giải pháp tác động vào chi phí ngoài lương nhằm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả như: Xây dựng định mức tiêu hao nguyên liệu và kỷ luật lao động nhằm tôn trọng định mức đó; Hợp lý hoá nguồn khai thác, vận chuyển và sử dụng nguyên liệu; Hạn chế tối đa các chi phí trung gian làm tăng giá nguyên liệu.

    2.3. Nhóm giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng hàng hoá

    Giải pháp tình thế và tác động tức thời đến cân đối tiền hàng là nhập khẩu hàng hoá, nhất là các hàng hoá đang khan hiếm, góp phần làm giảm áp lực đối với giá cả. Tuy nhiên giải pháp này chứa đựng những nguy cơ tiềm tàng: làm cạn kiệt nguồn dự trữ quốc tế, tạo thói quen dùng hàng ngoại và đặc biệt làm suy giảm sức sản xuất trong nước. nên học kế toán thực hành ở đâu

    Tăng khả năng sản xuất hàng hoá trong nước được coi là giải pháp chiến lược cơ bản nhất, tạo cơ sở ổn định tiền tệ một cách vững chắc. Thực chất đây là giải pháp nhằm tăng mức sản lượng tiềm năng của xã hội. Đây là chiến lược dài hạn tập trung vào việc khai thác triệt để năng lực sản xuất của xã hội, nâng cao trình độ của lực lượng lao động, đổi mới thiết bị, hiện đại hoá dây truyền sản xuất và quan trọng nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khuyến khích cạnh tranh và hiệu quả

    tự học nghiệp vụ xuất nhập khẩu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ
  • 6 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Kiềm Chế Lạm Phát
  • Giải Pháp Âm Thanh Thanh Công Cộng Cho Doanh Nghiệp Vpa Của Aex
  • Mic Thu Âm Samson Concert 77 Không Dây
  • Giải Pháp Hệ Thống Âm Thanh Hội Thảo Không Dây Ts
  • Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua
  • Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019
  • Lạm Phát 2011 Đến Nay: Con Số Và Dự Báo
  • Luận Văn Đề Tài Lạm Phát 2011
  • CÁC NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG NĂM

    2012 VÀ TRUNG HẠN ĐẾN NĂM 2022

    PGS. TS Nguyễn Văn Trình

    Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG chúng tôi

    ThS Lê Trương Hải Hiếu

    1. Đặt vấn đề:

    Trong những năm vừa qua kinh tế Việt Nam thường xuyên phải chịu mức lạm

    phát cao làm cho những thành quả của tăng trưởng kinh tế không đến được với

    người lao động do mức tăng thu nhập danh nghĩa không theo kịp mức tăng của giá

    cả thị trường. Đặc biệt, năm 2008 lạm phát đã tăng rất cao lên đến trên 23% buộc

    Chính phủ phải đưa ra hệ thống 8 giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát và đã đạt

    được kết quả nhất định khi lạm phát năm 2009 và 2010 có xu hướng giảm xuống.

    Tuy nhiên, lạm phát như con ngựa bất kham đã tăng cao trở lại trong năm 2011 lên

    đến 18,23% mặc dù Chính phủ đã có nghị quyết 11 đưa ra một hệ thống giải pháp

    toàn diện để kiềm chế lạm phát ngay từ đầu năm 2011. Vì sao lạm phát trong năm

    2011 lại tăng cao? Các giải pháp nào cho năm 2012 và những năm tiếp theo để

    kiềm chế lạm phát xuống còn một con số như mong muốn của Chính phủ?

    2. Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát tăng cao trong năm 2011

    Theo lý thuyết kinh tế học, có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát là do cầu

    kéo và chi phí đẩy. Lý thuyết lạm phát do cầu kéo chỉ đúng khi nền kinh tế đạt mức sản

    lượng tiềm năng, khi nền kinh tế đã sử dụng hết hoặc gần hết nguồn lực sẵn có. Khi đó,

    nếu tổng cầu gia tăng thì sẽ làm giá cả gia tăng vì nền kinh tế không còn tiềm năng để

    tăng trưởng, nên tổng cầu tăng không làm tổng cung tăng, mà chỉ làm tăng giá cả. Tổng

    cầu bao gồm các thành phần: Cầu chi tiêu của cá nhân, cầu chi tiêu của chính phủ, cầu

    đầu tư của các doanh nghiệp và cầu chi tiêu của người nước ngoài (xuất khẩu). Tổng cầu

    của nền kinh tế nhìn chung đều phải thể hiện thông qua tổng cầu tiền mặt. Bởi vì, trong

    nền kinh tế thị trường muốn mua hoặc bán được hàng hóa phải có một lượng tiền tương

    ứng với giá cả hàng hóa (lượng tiền cần thiết cho lưu thông). Các nhà lý luận kinh tế gọi

    đây là lưu thông hàng hoá – tiền tệ. Vì vậy, khi tổng tiền mặt trong lưu thông tăng lên

    cũng thể hiện tổng cầu tăng lên. Như vậy, trong trường hợp Ngân hàng trung ương có

    chính sách làm cho khối tiền trong lưu thông tăng lên, điều đó đồng nghĩa với việc sẽ làm

    cho tổng cầu gia tăng. Nếu nền kinh tế còn dưới mức tiềm năng, tổng cầu tăng sẽ tác

    động làm tổng cung tăng, nền kinh tế tăng trưởng, lúc đó lạm phát đi kèm với tăng trưởng

    kinh tế, nền kinh tế sẽ chịu đựng được mức lạm phát này. Ngược lại, nếu nền kinh tế đã ở

    mức tiềm năng thì tổng cầu tăng sẽ làm giá tăng, mà sản lượng không tăng nổi, lạm phát

    sẽ tăng cao.

    Nguyên nhân lạm phát do chi phí đẩy được thể hiện khi trong nền kinh tế còn nằm

    dưới mức sản lượng tiềm năng. Lúc này lạm phát cao xảy ra do giá các yếu tố đầu vào

    của nền sản xuất tăng cao (nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu trong nền kinh tế như xăng

    dầu, lương thực thực phẩm…tăng cao) làm cho chi phí sản xuất hàng hóa tăng cao và đẩy

    giá cả hàng hóa trên thị trường tăng cao. Lạm phát cao xảy ra.

    Từ các nguyên nhân về mặt lý thuyết ở trên, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, có

    thể phân tích nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua có cả yếu tố cầu

    kéo và chi phí đẩy.

    Trước hết, nguyên nhân do cầu kéo. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam chưa đạt mức

    sản lượng tiềm năng, vẫn còn nhiều nguồn lực cho tăng trưởng: Nguồn nhân lực dồi dào

    và trẻ, nguồn vốn trong và ngoài nước phong phú, nguồn tự nhiên chưa khai thác hết,

    nhưng lạm phát trong những năm 2007 – 2011 vẫn có nguyên nhân từ phía cầu. Có thể

    trình bày những nguyên nhân từ phía cầu như sau:

    -Thu nhập quốc dân tăng lên do kết quả tăng trưởng kinh tế nhiều năm liền trước

    đó làm cho thu nhập của dân cư tăng lên (năm 2001: 6,89%, năm 2002: 7,08%, năm

    2003: 7,34%, năm 2004: 7,79%, năm 2005: 8,44%, năm 2006: 8,23%; năm 2007: 8,46%;

    năm 2008: 6,31%; năm 2009: 5,46%; năm 2010: 6,78% và năm 2011 tăng 5,34% ). Điều

    đó làm cho cầu tiêu dùng cá nhân gia tăng từ 2005 đến năm 2011, dẫn đến giá cả tăng

    liên tục nhiều năm liền.

    -Tốc độ tăng đầu tư trong toàn bộ nền kinh tế (bao gồm khu vực kinh tế trong

    nước và nước ngoài) cao trong nhiều năm liền (khoảng 25% – 35%/năm), nhất là đầu tư

    nước ngoài tăng cao trong các năm 2006 (vốn FDI đăng ký trên 12 tỷ USD); năm 2007 là

    21 tỷ USD và đặc biệt nhảy vọt trong năm 2008 (vốn FDI đăng ký trên 71 tỷ USD), trong

    những năm 2009, 2010 và 2011 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam khoảng 11 –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả
  • Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • 8 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Việt Nam Đang Đi Đúng Hướng Trong Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Nghị Quyết Chính Phủ Về 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Kiềm Chế Lạm Phát Và Những Biện Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Xã Hội Cho Tình Trạng Ly Hôn Ngày Càng Tăng
  • Chung Tay Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn
  • Nguyên Nhân, Thực Trạng Ly Hôn Hiện Nay Và Đưa Ra Giải Pháp Hạn Chế Thực Trạng Này.
  • + Đối với chính sách tiền tệ: Để giảm bớt lượng tiền vào lưu thông thì chính sách tiền tệ cần đưa gia một số giải pháp sau:

    · Ngừng phát hành tiền vào trong lưu thông nhằm giảm lượng tiền đưa vào lưu thông trong xã hội

    · Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Đây là biện pháp nhằm giảm lượng cung tiền vào thị trường. Biện pháp này tác động đến tất cả các ngân hàng và bình đằng giữa các ngân hàng với nhau.

    · Nâng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tiền gửi: Biện pháp này sẽ làm hạn chế các ngân hàng thương mại mang các giấy tờ có giá đến ngân hàng nhà nước để chiết khấu. Ngoài ra việc nâng lãi suất tiền gửi sẽ hút khiến người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn.

    · Ngân hàng trung ướng áp dụng nghiệp vụ thị trường mở nhằm bán các chứng từ có giá cho các ngân hàng thương mại.

    · Ngân hàng trung ương bán vàng và ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại.

    + Đối với chính sách tài khóa: Để giảm bớt lượng tiền trong lưu thông thì bộ tài chính cần đưa ra một số giải pháp sau:

    · Giảm chi ngân sách: Đó là giảm chi tiêu thường xuyên và cắt giảm đầu tư công.

    · Tăng tiền thuế tiêu dùng nhằm giảm bớt nhu cầu chi tiêu cá nhân trong xã hội

    *Mục tiêu gia tăng hàng hóa dịch vụ cung cấp trong xã hội.

    + Đối với chính sách tiền tệ: Để thúc đẩy sản xuất và dịch vụ trong xã hội thì chính sách tiền tệ cần đưa ra một số giải pháp sau:

    · Đưa ra chính sách ưu đãi tín dụng thông qua ưu đãi lãi suất đối với các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. Việc ưu đãi về lãi suất sẽ làm giảm chi phí sản xuất đầu vào vì vậy tăng năng suất lao động.

    + Đối với chính sách tài khóa: Để thúc đẩy sản xuất và dịch vụ trong xã hội thì bộ tài chính cấn đưa ra một số giải pháp sau:

    · Bộ tài chính chỉ đạo tổng cục thuế giảm thuế đầu tư, thuế nhập khẩu nguyên vật liệu và máy móc thiết bị và thuế thu nhập doanh nghiệp. Từ đó làm giảm bớt chi phí đầu vào lên làm tăng năng suất lao động.

    *Một số giải pháp kiềm chế lạm phát của nước ta hiện tại trọng nghị quyết 11 . Trong thời gian tới chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ và chính sách tài khóa thận trọng và thắt chặt cụ thể như sau:

    + Đối với chính sách tiền tệ:

    · Quy định tốc độ tăng trưởng tín dụng phải giữ ở mức dưới 20%

    · Trong tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15 -16% và ưu tiên cho việc phát triển nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và khối doanh nghiệp nhỏ và vừa.

    · Thắt chặt tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất đặc biệt là bất động sản và chứng khoán. Ngoài ra còn giảm tỷ lệ dư nợ đối với lĩnh vực này

    · Đưa ra chính sách bình ổn thị trườn ngoại tệ và vàng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối. Hiện nay chính phủ đang cầm giao dịch mua bán ngoại tệ tại thị trường tự do và cấm các cửa hàng vàng cá nhân giao dịch mua bán vàng miếng.

    + Đối với chính sách tài khóa:

    · Phấn đấu tăng thu ngân sách khoảng 7 – 8% so với dự toán đã được quốc hội thông qua.

    · Sắp xếp lại chi thường xuyên nhằm tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên trong 9 tháng còn lại

    · Cắt giảm bội chi ngân sách xuống dưới 5% GDP

    · Giám sát chặt chẽ và rà soát lại nợ chính phủ, quốc gia và không mở rộng đối tượng được chính phủ bảo lãnh.

    · Đối với đầu tư công: Chính phủ quyết định cắt giảm tối thiểu 10% lượng vốn theo kế hoạch tín dụng đầu tư từ ngân sách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ
  • 6 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Kiềm Chế Lạm Phát
  • Giải Pháp Âm Thanh Thanh Công Cộng Cho Doanh Nghiệp Vpa Của Aex
  • Mic Thu Âm Samson Concert 77 Không Dây
  • 6 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Kiềm Chế Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ
  • Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Kiềm Chế Lạm Phát Và Những Biện Pháp
  • 6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Hiện Nay
  • Read this on chúng tôi Kiềm chế lạm phát, lo an sinh xã hộiGiá xăng tăng 2.900 đồng/lít

    Phóng to

    Theo chỉ đạo của Chính phủ, các địa phương phải tập trung quản lý không để đầu cơ đẩy giá, nhất là lương thực thực phẩm, sữa… – Ảnh: N.C.T.

    * Thứ nhất, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng. Theo đó Chính phủ sẽ điều hành thắt chặt lại, kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng tối đa là 20%, nếu cần thiết thì có thể là 17-19%; tổng phương tiện thanh toán khoảng 15-16%. Giảm tốc độ và tỉ trọng cho vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán. Chính phủ sẽ tăng cường quản lý ngoại hối. Trong quý 2-2011, trình nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do…

    * Thứ hai, thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước xuống dưới 5% GDP.

    Tạm dừng trang bị mới ôtô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng, giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu… Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp.

    Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước.

    * Thứ ba, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu (không quá 16%), sử dụng năng lượng tiết kiệm.

    Trong quý 2-2011, ban hành và thực hiện quy định về điều tiết cân đối cung – cầu đối với từng mặt hàng thiết yếu. Xem xét miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên liệu như dệt may, da giày, thủy sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm…; tiếp tục thực hiện tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011.

    Ngân hàng Nhà nước bảo đảm ngoại tệ nhập khẩu hàng hóa thiết yếu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng.

    * Thứ tư, điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo.

    * Thứ năm, tăng cường bảo đảm an sinh xã hội. Tập trung chỉ đạo hỗ trợ giảm nghèo tại các địa phương, nhất là các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; hỗ trợ hộ nghèo, địa phương nghèo xuất khẩu lao động; cho vay học sinh, sinh viên…

    * Thứ sáu, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Âm Thanh Thanh Công Cộng Cho Doanh Nghiệp Vpa Của Aex
  • Mic Thu Âm Samson Concert 77 Không Dây
  • Giải Pháp Hệ Thống Âm Thanh Hội Thảo Không Dây Ts
  • Giải Pháp Kết Nối Không Dây Cho Dàn Âm Thanh Cũ Với Usb Bluetooth Receiver
  • Giải Pháp Âm Thanh Đa Phòng Không Dây Tốt Nhất Của Denon Hiện Nay
  • Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả
  • Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022
  • Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua
  • Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019
  • Thành công trong việc chặn đứng lạm phát phi mã năm 1989 nhờ áp dụng công cụ lãi suất ngân hàng (đưa lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm lên cao vượt tốc độ lạm phát), đã cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô nhằm đạt các mục tiêu ngắn hạn ổn định thị trường. Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta luôn thường trực nguy cơ tái lạm phát cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như chính sách tiền tệ được tận dụng trước tiên vơí hiệu suất cao cũng là điều tất yếu. Tuy nhiên gần đây ở Việt nam có dấu hiệu của sự lạm dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Điều này thể hiện sự yếu kém trong việc quản lý và sử dụng chính sách tiền tệ của chúng tới . Vì vậy đứng trước nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát, việc nghiên cứu chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát là vô cùng cần thiết. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU0 NỘI DUNG1 I. LẠM PHÁT1 1. Những quan điểm khác nhau về lạm phát1 2. Tác động của lạm phát3 II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KIỀM CHẾ LẠM PHÁT NHỮNG NĂM QUA Ở NƯỚC TA4 1. Dự trữ bắt buộc4 2. Chiết khấu5 3. Hoạt động thị trường mở6 4. Lãi suất7 5. Hạn mức tín dụng9 III. GIẢI PHÁP10 1. Các nguy cơ dẫn tới việc tái lạm phát10 2. Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát11 2.1. Dự trữ bắt buộc11 2.2. Tái chiết khấu12 2.3. Hoạt động thị trường mở12 2.4. Lãi suất13 2.5. Hạn mức tín dụng14 KẾT LUẬN16 MỤC LỤC16

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Việt Nam Đang Đi Đúng Hướng Trong Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Nghị Quyết Chính Phủ Về 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Tt Chính Phủ: Tập Trung Toàn Lực Kiềm Chế Lạm Phát
  • Chủ Động Kiềm Chế Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Cách Âm Và Hạn Chế Tiếng Ồn Cho Chung Cư Và Nhà Liền Kề
  • Xử Lý Rác Thải Sinh Hoạt Hiệu Quả Nhất
  • Biện Pháp Thi Công Cấp Nước Lạnh Tòa Nhà
  • Qui Trình Quản Lý Thi Công Ốp Lát
  • Một Vài Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 3 Ở Trường Th Nguyễn Viết Xuân
  • Thực tế cho thấy, giá cả hầu hết các nhóm hàng đều chỉ tăng nhẹ hoặc giảm. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung dồi dào, liên tục nên người tiêu dùng có nhiều lựa chọn cũng như an tâm về khả năng chi trả của cá nhân/gia đình. Trong đó, phần lớn các loại thực phẩm, rau quả, hàng công nghệ phẩm… đều ổn định, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thị trường. Chị Nguyễn Thị Na, ở số nhà 23 Bà Triệu xác nhận, tình hình giá cả diễn ra ổn định, hàng hóa nhiều và thuận lợi cho người tiêu dùng…

    Đặc biệt, giá xăng dầu vẫn duy trì xu hướng giảm trong thời gian gần đây, là “trợ thủ” đắc lực cho việc kiềm chế lạm phát. Cụ thể, giá các loại xăng vừa giảm nhẹ trong đợt điều chỉnh ngày 16-9 và đây là lần thứ 4 giá nhiên liệu giảm kể từ tháng 7. Trên thực tế, xăng dầu là đầu vào của nhóm giao thông trong khi nhóm này là yếu tố quan trọng, tác động lớn đến diễn biến CPI. Từ đó, việc “hạ nhiệt” giá xăng dầu luôn kéo chỉ số nhóm giao thông xuống và mang lại hiệu ứng tích cực góp phần kìm hãm đà tăng giá tiêu dùng.

    Theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, dự báo mức lạm phát năm 2022 có thể thấp hơn mục tiêu đề ra, tuy vẫn cần theo dõi sát sao nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cũng như tránh gây áp lực cho vấn đề kiểm soát lạm phát của năm sau. Chia sẻ quan điểm này, bà Đỗ Thị Ngọc, Vụ trưởng Vụ Thống kê giá (Tổng cục Thống kê) cho rằng, tình hình hiện tại cho thấy CPI vẫn nằm trong khả năng, tầm kiểm soát cũng như kịch bản ứng phó của Chính phủ; không có gì đáng lo ngại.

    Tình hình từ nay đến cuối năm cũng đặt ra một vài vấn đề cần quan tâm, chủ động đối phó. Trong đó, do sự thiếu hụt nguồn cung nên thịt lợn vẫn trong tình trạng cung không đủ cầu. Về vấn đề này, các doanh nghiệp đang thực hiện vận chuyển lợn từ phía Nam ra Bắc nhằm bình ổn thị trường. Hoạt động này là hợp lý và kịp thời, sẽ mang lại hiệu ứng tích cực trong việc chặn đà tăng giá của mặt hàng này.

    Đáng lưu ý, diễn biến thị trường nhiên liệu quốc tế tiếp tục là một ẩn số và rất khó đoán định. Cụ thể, tình hình cung ứng dầu thô đang trở nên phức tạp bởi sự cố tại hai nhà máy lọc dầu của Arab Saudi vừa qua cũng như nguy cơ có thể bùng nổ xung đột tại khu vực sản xuất, cung ứng dầu thô quan trọng hàng đầu của thế giới. Nếu xảy ra tình huống xấu thì nguồn cung nhiên liệu thế giới sẽ thiếu hụt và lập tức đẩy giá nhiên liệu lên cao. Điều này đồng nghĩa với việc sẽ tăng giá xăng dầu trong nước, làm cho chỉ số giá nhóm giao thông tăng lên – ảnh hưởng đến CPI…

    Từ góc độ quản lý, các cơ quan chức năng đang theo dõi tình hình khi giá dầu Brent đã tăng lên gần 65 USD/thùng. Tình hình vẫn sẽ là khó dự đoán mặc dù việc giá dầu thô trên thị trường quốc tế thường xuyên được theo dõi và đặt trong tính toán từ đầu năm của Chính phủ, Ban chỉ đạo điều hành giá. Song, vấn đề đặt ra là cần có sự chủ động trong công tác dự báo, đánh giá tình hình để khống chế CPI trong thời gian từ nay đến cuối năm.

    Ngoài ra, cần lưu ý đến khả năng chi tiêu đối với các mặt hàng thiết yếu của người tiêu dùng. Đặc biệt, nên quan tâm thỏa đáng đến tập quán gia tăng nhu cầu mua sắm, nhất là thực phẩm, hàng gia dụng vào dịp cuối năm.

    Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ vừa chỉ đạo, các cơ quan chức năng cần tập trung theo dõi, rà soát tình hình, tìm dư địa cho việc giảm giá hàng hóa và dứt khoát giảm giá đối với trường hợp có thể giảm. Vì thế, cơ quan quản lý, các địa phương cần nắm bắt thực tế, tạo điều kiện tốt nhất để bảo đảm cân đối cung – cầu trên địa bàn. Tất cả nhằm bảo đảm kiềm chế mức lạm phát dưới 4% như chỉ tiêu đề ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tuyên Truyền Phòng Chống Tác Hại Thuốc Lá
  • Bài 6 Hiệu Ứng Nhà Kinh Là Hiện Tượ…
  • Tổng Hợp Cách Chữa Bệnh Stress Không Cần Dùng Thuốc
  • Kiểm Soát Ô Nhiễm Môi Trường Đất
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức
  • Thực Trạng Lạm Phát Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Vừa Qua

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Của Chính Phủ Về Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam
  • Kiên Trì Giải Pháp Vận Động Giảm Sinh Con Thứ 3
  • Nhiều Giải Pháp Hạn Chế Tình Trạng Sinh Con Thứ 3
  • Một Số Giải Pháp Hạn Chế Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba:một Số Giải Pháp Hạn Chế Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Giảm Tỷ Lệ Trẻ Suy Dinh Dưỡng Ở Trường Mẫu Giáo.
  • ng leo thang. Hiện tượng lạm phát là một hiện tượng có nguyên nhân là sự tác động tổng hợp của các yếu tố cung, cầu và xu hướng tâm lí của các thành phần kinh tế. Để khắc phục được hiện tượng này, ta cần tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc để rút ra được các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp của nó, lấy đó làm cơ sở để đưa ra các chính sách quản lí vĩ mô thích hợp và tiến hành thực hiện dựa trên tình hình khách quan cụ thể. Lạm phát của Việt Nam tăng cao còn do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Bởi vì hiện nay việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu trong xu hướng toàn cầu hoá, vì vậy khi các nền kinh tế lớn gặp trục trặc thì ảnh hưởng nhiều đến kinh tế Việt Nam. Trước xu hướng lạm phát gia tăng – vấn đề nổi bật ở Việt Nam trong năm 2008, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Lạm phát và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam thời gian vừa qua”. Tiểu luận được chia làm 3 phần như sau: Phần 1: Lý thuyết chung về lạm phát Phần 2: Thực trạng lạm phát và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam thời gian vừa qua. Phần 3: Một số đề xuất, kiến nghị về các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam PHẦN I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LẠM PHÁT 1. Khái niệm và Phân loại lạm phát. 1.1. Khái niệm: – Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung. – Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô và sự biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng của lạm phát. Đó chính là tốc độ tăng mức giá chung của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước đó. Πt=(Pt-Pt-1)*100/Pt-1Πt : Tỷ lệ lạm phát Pt: Chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu Pt-1: Chỉ số giá cả của thời kỳ trước đó 1.2. Phân loại lạm phát. Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số, tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế Lạm phát phi mã: Xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm. Lạm phát này gây ảnh hưởng nghiêm trọng với nền kinh tế. Siêu lạm phát: là lạm phát rất cao, thường là từ 50% một tháng trở lên. Với mức lạm phát này, sau một năm giá cả hàng hoá tăng gấp khoảng 130 lần. Trên thực tế, siêu lạm phát thường xuất hiện khi chính phủ cần một số lượng lớn tiền để trang trải thâm hụt ngân sách. Siêu lạm phát thường là biểu hiện của mất cân đối ngân sách chính phủ chứ không phải là vấn đề tiền tệ. Trong một thế giới như vậy, những cải cách về ngân sách là cần thiết để đưa ngân sách chính phủ trở về thế cân bằng, tránh dựa dẫm quá nhiều vào thuế đúc tiền, và như vậy, sẽ khôi phục được niềm tin của dân cư vào chính phủ. 2. Một số lý thuyết và quan điểm lý giải những nguyên nhân gây ra, duy trì và thúc đẩy lạm phát. 2.1. Lạm phát cầu kéo: Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hoá. 2.2. Lạm phát chi phí đẩy: Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi giá cả các yếu tố đầu vào (tiền lương, nguyên liệu…) tăng lên và đường tổng cung dịch chuyển sang trái. Lạm phát cao đi liền với sản xuất đình trệ và thất nghiệp gia tăng, nên còn được gọi là lạm phát đình trệ. Các cơn sốt của thị trường đầu vào, đặc biệt là giá cả của xăng dầu, điện… là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đẩy đường tổng cung dịch chuyển sang trái. Tuy tổng cầu không thay đổi nhưng giá cả đã tăng lên và sản lượng giảm xuống. 2.3. Lạm phát ỳ: Trong nền kinh tế thị trường, trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, với lạm phát vừa phải, giá cả tăng với một tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ, vì mọi người đã có thể dự tính trước mức độ của nó nên còn gọi là lạm phát dự kiến. Mọi hoạt động kinh tế đã được tính toán điều chỉnh (điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, các khoản chi tiêu ngân sách…). Lạm phát dự kiến xảy ra khi đường AS và đường AD dịch chuyển lên trên với cùng một tốc độ, vì lạm phát đã được dự kiến nên chi phí sản xuất cũng như nhu cầu chi tiêu đều được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ lạm phát nên sản lượng vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả đã tăng lên theo dự kiến. 2.4. Lạm phát và tiền tệ: Tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào các nhân tố ngoại sinh như tăng dân số và tiến bộ công nghệ. Do đó, tỷ lệ lạm phát phụ thuộc vào tốc độ tăng của cung tiền. Nếu ngân hàng trung ương giữ cung tiền ổn định, giá cả cũng sẽ ổn định. Nói cách khác, nếu muốn tỷ lệ lạm phát bằng không, ngân hàng trung ương chỉ cần tăng cung tiền với tỷ lệ đúng bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong trường hợp đó, mỗi năm sẽ có thêm một lượng tiền vừa đủ để đáp ứng yêu cầu tiền tăng do có thêm giao dịch. 2.5. Lạm phát và lãi suất: – Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất chưa được loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. – Lãi suất thực tế: là lãi suất đã được loại trừ ảnh hưởng của lạm phát Công thức điều chỉnh lãi suất danh nghĩa theo lạm phát là: r= i- π Hiệu ứng Fisher: Lưu ý rằng chúng ta rút ra hai hệ quả khi tiền tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn. Thứ nhất, theo lý thuyết số lượng, tăng tỷ lệ tăng cung tiền 1% thì tỷ lệ lạm phát cũng tăng 1%. Thứ hai điều này cũng hàm ý rằng lãi suất danh nghĩa cũng cần tăng 1%. Mối tương quan một- một giữa tỷ lệ lạm phát với lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệu ứng Fisher. Phân tích ở trên thực ra không hoàn toàn thoả đáng. Khi mọi người ra quyết định cho tương lai, họ không biết chính xác tỷ lệ lạm phát sẽ là bao nhiêu. Điều này hàm ý rằng chúng ta phải sử dụng tỷ lệ lạm phát dự kiến chứ không phải là tỷ lệ lạm phát thực tế. Do vậy, lãi suất thích hợp đề điều chỉnh hành vi của các nhà tiết kiệm và đầu tư là lãi suất thực tế dự kiến được tính như sau: re= i- πe Còn chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát thực tế được gọi là lãi suất thực tế thực hiện. Phân tích ở trên cho thấy tiền đóng vai trò là phương tiện cất trã giá trị. Trong thời gian có lạm phát, chức năng này ít phát huy tác dụng. Nếu giá cả tăng, một đồng mua được ngày càng ít hàng hoá hơn. Lạm phát làm giảm giá trị của tiền gợi ra rằng nếu tỷ lệ lạm phát cao, dân cư sẽ ít giữ của cải dưới hình thái tiền tệ. Lợi thế của tiền là nó rất tiện lợi trong giao dịch. Tuy nhiên, nó cũng có những bất lợi đi kèm: nếu một cá nhân giữa của cải dưới hình thái tiền tệ, ảnh ta bỏ quên tiền lãi mà anh ta có thể nhận được nếu như giữ trái phiếu mà không giữ tiền. Tiền lãi mà lẽ ra anh ta có thể nhận được gọi là chi phí cơ hội của việc giữ tiền. 2.6. Chi phí của lạm phát: Mọi người thường cho rằng lạm phát là một vấn đề kinh tế nghiêm trọng vì khi giá cả tăng, họ không thể mua được lượng hàng hoá và dịch vụ như cũ với mức thu nhập hiện tại của mình. Do vậy, họ tin rằng lạm phát trực tiếp làm giảm mức sống. Tuy nhiên, quan điểm này không đúng vì mọi người kiếm được thu nhập nhờ việc bán các dịch vụ, chẳng hạn lao động. Thu nhập danh nghĩa thường tăng cùng giá cả. Bởi vậy, nhìn chung lạm phát không ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập thực tế của mọi người. Tuy nhiên, lạm phát có thể gây ra một số tác hại mà chúng ta không dễ phát hiện: – Chi phí mòn giày: Lạm phát cao hơn làm tăng lãi suất danh nghĩa mà hệ quả là mọi người sẽ giảm số tiền nắm giữ. Nếu mọi người giữ số dư tiền thực tế ít hơn, thì họ phải đến ngân hàng thường xuyên hơn để rút tiền. Điều này không hề thuận tiện và nó dẫn đến chi phí mòn giày. – Chi phí thực đơn: Lạm phát cao hơn làm cho các doanh nghiệp thay đổi giá cả thường xuyên hơn. Việc làm này là tốn kèm nếu họ phải in lại biểu giá và cataloge – Giá cả tương đối biến động mạnh hơn: Nếu các doanh nghiệp thay đổi giá cả không thường xuyên thì lạm phát sẽ làm cho giá cả tương đối biến động nhiều hơn. Do nền kinh tế thị trường dựa vào giá cả tương đối để phân bổ nguồn, lạm phát dẫn đến tính phi hiệu quả xét từ góc độ kinh tế vi mô. – Thay đổi gánh nặng thuế: nhiều luật thuế không tính đến tác động của lạm phát. Do đó, lạm phát có thể làm thay đổi gánh nặng thuế của các cá nhân và doanh nghiệp, ngoài dự kiến ban đầu của các nhà làm luật. Lạm phát ảnh hưởng đến hai loại thuế đánh vào tiết kiệm: + Lãi vốn là những khoản thu nhập có được từ việc bán một tài sản với giá cao hơn giá mua vào. Lãi vốn danh nghĩa là đối tượng chịu thuế. Giả sử bạn mua vào một cổ phiếu giá 20 đồng và bán cổ phiếu với giá 50 đồng. Nếu mức giá tăng gấp đôi trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó, thì bạn chỉ thu được một khoản lãi thực tế trên vốn là 10 đồng nhưng bạn phải đóng thuế trên khoản thu nhập danh nghĩa là 30 đồng, vì luật thuế không tính đến lạm phát. + Tiền lãi danh nghĩa cũng bị đánh thuế, cho dù một phần tiền lãi danh nghĩa là để bù đắp lạm phát. Khi chính phủ đánh thuế theo một tỷ lệ phần trăm cố định của tiền lãi danh nghĩa, thì tiền lãi thực tế sau thuế giảm khi lạm phát tăng. Nguyên nhân ở đây là lãi suất danh nghĩa tăng theo tỷ lệ một- một với lạm phát và thuế tăng cùng với lãi suất danh nghĩa, làm cho lãi suất thực tế trước thuế không bị tác động bởi lạm phát. Kết quả là lãi suất thực tế sau thuế giảm Do thuế đánh trên lãi về vốn danh nghĩa và tiền lãi danh nghĩa cho nên lạm phát làm giảm lợi tức thực tế sau thuế từ tiết kiệm. Vì vậy, lạm phát làm cản trở tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế. Vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách áp dụng chỉ số trượt giá trong hệ thống thuế sao cho thuế chỉ còn đánh vào thu nhập thực tế. – Sự nhầm lẫn và bất tiện: Với tư cách đơn vị hạch toán, tiền là một thước đo mà chúng ta sử dụng để đo lường và tính toán các giao dịch kinh tế. Khi ngân hàng trung ương tăng mức cung tiền và gây ra lạm phát, giá trị của tiền giảm và thước đo kinh tế này bị co lại. Điều này làm cho việc hạch toán lợi nhuận của các doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn và việc lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn. Nó cũng làm cho các giao dịch hàng ngày trở nên dế nhầm lẫn hơn. – Tác hại đặc biệt của lạm phát không được dự tính trước- tái phân phối của cải một cách tuỳ tiện: Những tác hại của lạm phát mô tả ở trên tồn tại ngay cả khi lạm phát ổn định và được dự báo trước. Tuy nhiên, khi xảy ra bất ngờ, tức là nằm ngoài dự kiến của mọi người, lạm phát có thể gây ra một tác hại nữa đối với nền kinh tế bởi vì nó tái phân phối của cải một cách tuỳ tiền. Ví dụ, các điều kiện cho vay nói chung được tính theo các giá trị danh nghĩa dựa trên một tỷ lệ lạm phát dự kiến nhất định. Song nếu lạm phát cao hơn so với dự kiến, người đi vay hoàn trả tiền vay bằng những đồng tiền có sức mua thấp hơn dự kiến. Người đi vay được lợi, còn người cho vay bị thiệt. Ngược lại, nếu lạm phát thấp hơn dự kiến, người cho vay được lợi, còn người đi vay bị thiệt, vì người đi vay phải trả tiền vay bằng những đồng tiền có sức mua cao hơn dự kiến. Nếu lạm phát được dự kiến một cách chính xác, thì hiện tượng tái phân phối thu nhập như vậy không xảy ra, cho dù quy mô lạm phát là bao nhiêu. Lạm phát thấp bao giờ cũng tốt hơn, bởi vì nó ổn định hơn và có thể được dự kiến chính xác hơn. PHẦN 2. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỜI GIAN VỪA QUA 1. NGUYÊN NHÂN GÂY LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 1.1. Thứ nhất là do giảm nguồn cung của một số mặt hàng thực phẩm thiết yếu, cụ thể: là dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh trong nhưng năm 2007 và vẫn còn đang tái phát trong 2008 gần đây nhất là đợt rét đậm, rét hại làm chết 8.328 con trâu bò ở Tây Bắc Bộ 1.2. Thứ hai là lạm phát do cơ cấu: đó là tăng lương cơ bản 20% vào 1/1/2008. Áp lực này vừa là kết quả của lạm phát thời gian qua, lại vừa là một phần nguyên nhân quan trọng cho lạm phát trong thời gian tới. Có thể nói quyết định tăng lương đã hoàn thành chu trình tạo ra lạm phát hiện nay, báo hiệu nguy cơ tự tái tạo của hiện tượng này. Do đó, nếu Chính phủ không tiếp tục chống lạm phát một cách cứng rắn, đạt được mục tiêu trên có thể trở thành một nhiệm vụ khó khăn. 1.3. Thứ ba là do chi phí đẩy: lạm phát của Việt Nam tăng cao còn do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới.Tình hình giá cả nguyên liệu thế giới đang nóng lên với việc giá xăng dầu tăng với tốc độ chóng mặt,gây ra rất nhiều khó khăn cho kinh tế Việt Nam. Nhất là trong tình hình lãng phí nhiên liệu trong sản xuất ở Việt Nam còn rất cao, phụ thuộc mạnh vào nhiên liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ, chưa có các nguồn nhiên liệu thay thế như năng lượng mặt trời, sức gió, năng lượng thuỷ triều, năng lượng hạt nhân,… thì việc giá dầu tăng nhanh sẽ bắt đầu cho cơn bão giá cả, tạo điều kiện cho lạm phát theo quán tính. Về lâu dài có thể triệt tiêu khả năng tăng trưởng kinh tế. Giá dầu thế giới đã tăng cao trong năm 2007, và đầu năm 2008 đạt là 128USD/thùng vào 16/05/2008, mức mà chưa có dự báo nào trong năm 2007 đưa ra. Không riêng giá dầu, giá sắt thép tăng 21,4 (riêng phôi thép tăng 42,4%), đã làm tăng 259 triệu USD; giá phân bón tăng 71,3%, đã làm tăng 88 triệu USD; giá chất dẻo tăng 12,6%, đã làm tăng 54 triệu USD; giá sợi dệt tăng 14,2%, đã làm tăng 16 triệu USD; giá lúa mì tăng 55,5%, đã làm tăng 12 triệu USD; giá bông tăng 16,4%, đã làm tăng 10 triệu USD; giá giấy tăng 5,2%, đã làm tăng 6 triệu USD. Chỉ với những mặt hàng trên, do giá tăng đã làm kim ngạch nhập khẩu tăng gần 1 tỉ USD trong 2 tháng, chiếm gần một phần tư tổng kim ngạch nhập khẩu của các mặt hàng này. Trong khi đó, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam lại mang tính gia công rất cao, như dệt may, giày dép… có đến 80% nguyên liệu phải nhập khẩu. 1.4. Thứ tư là lạm phát do cầu kéo: Thực tiễn của nền kinh tế thị trường thế giới xác nhận rằng, lạm phát thường có mối liên hệ mật thiết với TTCK và thị trường bất động sản.Tình trạng này đã tác động quyết định đối với lạm phát xét trên các điểm chủ yếu sau đây: – Một là, tạo nên sự phân hoá hai cực, một cực là tình trạng bội thực vốn trong giới đầu cơ do thu được những khoản lợi nhuận rất lớn từ đầu cơ chứng khoán và bất động sản, hệ quả một mặt là tiền tiếp tục đổ vào thị trường bất động sản làm cho giá cả tăng vọt. Mặt khác là chuyển vào các kênh dự trữ như vàng, ngoại tệ mạnh hay chuyển ra nước ngoài do giá cổ phiếu giảm mạnh, gây thiếu hụt cung tiền làm tăng lãi suất; cực còn lại chủ yếu là các DN dân doanh, khu vực chủ yếu tạo ra tăng trưởng, thiếu vốn nghiêm trọng cho dù đã chấp nhận vay với lãi suất cao. Tình trạng này đương nhiên làm nảy sinh một hậu quả kép, một mặt, làm chệch hướng phân bổ đầu tư hiệu quả, do vậy làm giảm tăng trưởng. Mặt khác, gây nên tình trạng thiếu hụt tiền có thể coi là giả tạo trong lưu thông, khoảng cách cung và cầu tiền bị kéo doãng quá mức, vừa làm tăng giá hàng hoá vừa làm tăng chi phí đầu tư, do vậy lạm phát tăng. – Hai là, do siêu lợi nhuận có được từ đầu cơ trên cả hai TTCK và bất động sản đã làm nảy sinh phương thức tiêu dùng mà đặc trưng của nó, mua vét với khối lượng lớn trong một thời gian rất ngắn nhiều loại hàng hoá như đất đai, vàng, ngoại tệ… Mặt khác, tạo nên một kênh lưu chuyển riêng biệt về hàng hoá và tiền với khối lượng rất lớn trong giới đầu cơ, vừa làm biến dạng lưu thông tiền tệ, vừa tạo nên sự kích hoạt làm tăng giá đồng loạt nhiều loại hàng hoá một cách đột biến. Thêm vào đó, sự kích hoạt này được sự bổ trợ của hàng loạt tác nhân mà đáng kể nhất là tăng lương, tăng giá xăng dầu, giá nguyên liệu của nhiều loại hàng hoá nhập khẩu… sự chênh lệch giữa mặt bằng giá nội địa thấp và mặt bằng giá cao trên thị trường thế giới đã được khai thông theo nguyên lý bình thông nhau do độ mở của nền kinh tế, kết quả là mặt bằng giá của thị trường nội địa đã bị đẩy lên cao mang tính hệ thống để xích lại gần với giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới. Chưa hết, chính sách kiềm chế tăng giá của chính phủ trong một thời gian dài bất ngờ bị hụt hơi. Giá của nhiều loại hàng hoá rơi vào trạng thái gần như tăng tự do. Kết cục, giá cả tăng mạnh, lạm phát nhất thiết tăng cao. – Ba là, giá cổ phiếu giảm mạnh vốn là bài toán không xa lạ đối với các nhà đầu cơ. Họ chờ thời điểm chạm đáy và không vội vàng mua vào, một mặt do sự liên kết giữa họ. Mặt khác, họ kỳ vọng các phản ứng của Chính phủ, chẳng hạn như đổ tiền vào TTCK tạo nên sự kích hoạt tăng giá. Hậu quả đương nhiên là lạm phát gia tăng. – Bốn là, tạo nên tình trạng khó có khả năng kiểm soát. Sự tồn tại lâu dài của đầu cơ và lũng đoạn trên TTCK và thị trường bất động sản đã bao hàm trong nó cơ sở của tình trạng phân bổ vốn đầu tư vào lĩnh vực có nhiều rủi ro mà rất khó kiểm soát đương nhiên tự nó sẽ sản sinh ra lạm phát. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng: sự yếu kém của hệ thống này thể hiện trên hai điểm chủ yếu: Nếu như trước đây hệ thống này có chức năng chủ yếu là cho các xí ngiệp quốc doanh vay tiền, nghiã là nguồn vốn chủ yếu của quốc gia được tập trung đầu tư vào lĩnh vực không có, hoặc ít có khả năng sinh lời, thì từ khi đổi mới đến nay, nó đã thực hiện một bước chuyển theo chiều ngược lại, chủ yếu tập trung cho vay ở lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao nhất của nền kinh tế, cụ thể là tập trung cho vay mua cổ phiếu và bất động sản. Vì rằng mua cổ phiếu và bất động sản chủ yếu là nhằm mục tiêu đầu cơ, thành thử trên thực tế, hệ thống ngân hàng trở thành một bộ phận hay chỗ dựa của các hoạt động đầu cơ và lũng đoạn thị trường. Điều này hàm ý rằng, trong trường hợp giá cổ phiếu sụt giảm mạnh như hiện nay và thị trường bất động sản khó tránh khỏi khủng hoảng trong thời gian tới, ngân hàng đã và sẽ mất khả năng thanh toán, tạo ra tình trạng hoảng loạn, người gửi ồ ạt rút tiền để chuyển sang các hình thức dự trũ khác ít rủi ro hơn, như vàng hay những hàng hoá có khả năng đảm bảo khác làm cho thị trường tài chính rối loạn. Bên cạnh đó, tình trạng hàng loạt công ty đua nhau lập ngân hàng chủ yếu nhằm kinh doanh chứng khoán và bất động sản, từng dòng người chen chúc nhau mua vét vàng ở các hiệu vàng tư nhân không thể không làm suy yếu hệ thống ngân hàng và gia tăng thêm tình trạng hỗn loạn của thị trường tài chính. Vì rằng chính sách tài chính tiền tệ chỉ có thể phát huy tác dụng trong điều kiện hệ thống ngân hàng đủ mạnh, nên trong bối cảnh nêu trên, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia hoặc là sẽ bị tê liệt, hoặc là không có thậm chí phản tác dụng, lạm phát như là kết quả tất nhiên không thể tránh khỏi. Mặt khác, việc tổ chức hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập với các nguyên tắc của kinh tế thị trường. Quan sát vẻ bề ngoài thì dường như sự phân cấp của hệ thống ngân hàng hiện nay là tương thích với hệ thống ngân hàng của các nước có nền kinh tế thị trường. Thế nhưng trên thực tế, ngân hàng trung ương nước ta cũng chỉ giống như một bộ ngành thực hiện chức năng quản lý hành chính chứ không phải làm nhiệm vụ quản lý hệ thống ngân hàng chuyên doanh mà nhiệm vụ quan trọng nhất là định hướng các ngân hàng này chuyển tiền vào các lĩnh vực đầu tư có hiệu quả chứ không phải chủ yếu chuyển vào các cuộc chơi đầy may rủi như hiện nay. Thực tế của nền kinh tế thị trường xác nhận rằng, quy định lãi suất, mức dự trữ bắt buộc hay lớn hơn là quyết định mức cung tiền vẫn đơn thuần là các nghiệp vụ hành chính chừng nào không có khả năng định hướng các ngân hàng chuyên doanh nhằm vào mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Xét trên giác độ này, ngân hàng trung ương đã không thực hiện được chức năng định hướng các ngân hàng chuyên doanh hoạt động hiệu quả. Thực tế là, ngân hàng trung ương có rất ít mối quan hệ với các ngân hàng chuyên doanh. Mối quan hệ tương tác xét trên bình diện quản lý kinh tế thực sự là chưa được xác lập. Bằng chứng là, các hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng chuyên doanh, về cơ bản không có mối liên hệ nào với ngân hàng trung ương. Rõ ràng là các hoạt động tín dụng của ngân hàng vì mục tiêu đầu cơ trong TTCK và thị trường bất động sản đã tồn tại trong một thời gian dài, trong khi ngân hàng trung uơng thực ra chỉ tồn tại bên cạnh nó như một cơ quan quản lý hành chính bất lực trước các hoạt động đầu cơ của các ngân hàng chuyên doanh. Với một hệ thống ngân hàng như vậy, lạm phát chỉ là vấn đề thời gian ngay cả trong trường hợp giá nguyên liệu thế giới cũng như giá lương thực thực phẩm không tăng. Nói khác đi, lạm phát nhất định sẽ xảy ra mà không phụ thuộc vào tăng giá lương thực, thực phẩm cũng như tăng giá nguyên liệu trên thị trường thế giới ở mức độ nào. 1.5. Thứ năm là Lạm phát do chính sách tiền tệ: Lạm phát có được bước nhảy vọt ngoặt mục như thế phần lớn từ chính sách thiếu đồng bộ giữa ngân hàng và bộ tài chính. Vấn đề nhảy vọt có nguyên nhân khá rõ ràng. Ngân hàng (NH) phải mua vào số lượng lớn ngoại tệ (đầu tư trực tiếp và đặc biệt là đầu tư vào TTCK.Thời báo Kinh tế Sàigòn (số 10/2008) đã đưa thông tin rất quan trọng cho biết, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nửa đầu năm 2007 đã tung ra 105 ngàn tỉ đồng để mua vào 6,5 tỉ USD làm dự trữ ngoại tệ, sau đó lại tung thêm 40 ngàn tỉ đồng để mua thêm 2,5 tỉ USD . Như vậy tổng số tiền tung ra mua 9 tỉ USD ngoại tệ là 145 ngàn tỉ đồng. Muốn tăng trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi phải thúc đẩy đầu tư mạnh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều, như vậy lượng tiền đưa vào lưu thông cũng phải tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, khi chênh lệch giữa mức tăng cung tiền và tăng tổng sản phẩm quốc gia (GDP) trở nên quá lớn thì áp lực lạm phát tiền tệ cũng sẽ nảy sinh. Như đã được đề cập, cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh trong năm 2007 là do vốn nước ngoài chảy vào tăng đột biến (gồm cả đầu tư và kiều hối), từ đó buộc Ngân hàng nhà nước phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng. Việc mua đó đồng nghĩa với tung thêm tiền đồng Viêt Nam vào lưu thông, nhưng không thể không mua được vì một mặt để tăng thêm dự trữ ngoại tệ cho nhập khẩu, mặt khác là để thu hút luồng vốn từ bên ngoài vào phát triển kinh tế. Nhưng theo các nhà kinh tế, không mua USD vào còn tồi tệ hơn, làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư trong nước. Bởi vậy, hoạt động nghiệp vụ tiền tệ thu gom hơn 90 000 tỉ đồng trong năm 2007 là giải pháp đúng của Ngân hàng nhà nước. Nhưng lạm phát bùng lên trong năm 2007 và hai tháng đầu năm 2008 là do nhiều nguyên nhân, thậm chí có cả nguyên nhân tích tụ từ lâu do đầu tư kém hiệu quả (hệ số ICOR tăng), cuối cùng thể hiện ở chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng cung tiền của Việt Nam đã ngày một dãn rộng trong vòng 3 năm qua. Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi, tính từ đầu năm 2005 cho đến cuối tháng 6-2007, GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng đã tăng lên đến 110%. Trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50%. Chênh lệch giữa tăng GDP và tăng cung tiền của Thái Lan là hầu như không đáng kể. 1.6. Thứ sáu là Lạm phát do tỉ giá hối đoái VND: Neo tỷ giá cứng nhắc với USD dẫn đến cung tiền tăng mạnh Kinh tế Việt Nam trẻ, được đánh giá có nhiều tiềm năng và triển vọng về cơ hội đầu tư do vậy sau khi gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng đột biến (chỉ tính riêng năm 2007 đã tới 20 tỉ USD). Về nguyên tắc khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng, Việt Nam Đồng (VNĐ) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng. Tuy nhiên, với chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VNĐ mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VNĐ với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ VNĐ yếu có thể coi là một hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu và phát huy ở trong những điều kiện kinh tế thế giới nhất định. Tuy nhiên, mặt trái thứ nhất của chính sách này là do phải tung VNĐ ra mua lại lượng ngoại tệ chảy vào, lượng cung tiền của Việt Nam từ năm 2005 đến nay tăng tổng cộng 135%. Đây là mức tăng rất lớn mặc dù NHNN đã có nỗ lực hút lại một phần cung tiền. Neo tỷ giá với USD đang mất giá mạnh trên toàn cầu khiến chi phí cho sản xuất trong nước tăng Tuy nhiên tỷ giá của VND trong thời gian này hầu như không biến đổi so với USD (tính đến cuối tháng 2/2008 chỉ tăng 0.24% so với 2006). Do đó qua việc neo tỉ giá, VNĐ cũng giảm trung bình 15% so với các ngoại tệ mạnh khác. Chính sách VNĐ yếu mặc dù có thể thúc đẩy xuất khẩu nhưng đồng thời lại góp phần “nhập khẩu lạm phát “vào Viet Nam. Lí do là sản xuất tại Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất lớn vào các nguyên vật liệu nhập khẩu như xăng dầu, xi măng, sắt thép, máy móc…Sự mất giá của USD hay nói cách khác là sự tăng giá thành của các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu cho sản xuất tính bằng VNĐ dưới chế độ tỷ giá neo là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chi phí sản xuất trong nước tăng, kéo theo giá cả hàng hóa tăng theo. Chi phí cho sản xuất tăng cao, lượng cung tiền lớn do vậy lạm phát phi mã là không tránh khỏi. 1.7. Thứ bảy Lạm phát do bội chi ngân sách: Theo đánh giá của IMF thì bội chi ngân sách của Việt Nam là 6,6%GDP lớn hơn mức độ bội chi tối đa cho phép là 5%. Chính phủ có thể hồi phục sự ổn định tương đối nhanh chóng bằng kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của doanh nghiệp nhà nước. Vào đầu những năm 90, lo lắng vì hoạt động kém hiệu quả của các công ty nhà nước khiến chính phủ quyết định thành lập các tổng công ty và tập đoàn kinh tế, theo hình mẫu keiretsu của Nhật và chaebol của Hàn Quốc. Ý định ban đầu là quy mô lớn sẽ giúp các công ty cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các NHTM đang phải huy động vốn trong dân với lãi suất từ 10-11%/năm. Trong khi bị bắt buộc mua tín phiếu của NHNN với lãi suất 7,8%. Điều này đồng nghĩa với việc chi phí sản xuất sẽ tăng cao, có nghĩa là giá thành sản phẩm sẽ không thể nào giảm được. Giá cả vì thế lại tiếp tục leo thang. Như vậy, nếu tình trạng này kéo dài, cuộc chiến chống lạm phát do NHNN khởi xướng với những công cụ tưởng như rất kịp thời và đúng tiêu chuẩn quốc tế nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô, giảm thiểu gánh nặng lạm phát cho doanh nghiệp và nâng cao đời sống người dân về bản chất đang trở thành cuộc đùn đẩy trách nhiệm và chi phí chống lạm phát sang cho chính họ (doanh nghiệp và người dân). Chống lạm phát như thế có thể được ngay hiệu quả trước mắt nhưng về lâu dài sẽ để lại hậu quả thật khó lường. Sản xuất đóng băng, tăng trưởng suy giảm, nền kinh tế rất dễ sa vào suy thoái, thất nghiệp gia tăng và đời sống người dân ngày càng chật vật. 2.THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Vấn đề lạm phát của nền kinh tế nước ta đã được đưa ra nhiều từ giữa năm 2007. Có thể thấy, liên tục từ 1998 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP năm sau đều cao hơn năm trước và năm 2007 đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm. Tuy nhiên, cũng đã có sự cảnh báo về sự tăng trưởng nóng, về sự bền vững của tăng trưởng. Trước tình hình và diễn biến của nền kinh tế – xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên số hàng đầu. Giá cả leo thang làm cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp điêu đứng. Không chỉ giá lương thực thực phẩm leo lên vùn vụt, mà giá than, giá vật liệu xây dựng và giá một số dịch vụ cũng tăng lên. Hiện tượng mức giá chung tăng đều đặn được gọi là lạm phát. Người ta dùng nhiều chỉ số để đo lạm phát và chỉ số quen thuộc nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Chỉ số này được tính trên cơ sở theo dõi biến động giá theo thời gian của các mặt hàng nhất định (từ 2005 rổ hàng hoá này gồm gần 500 hàng hoá và dịch vụ). Chỉ số CPI đã liên tục tăng suốt 4 năm qua: Bắt đầu là 9,5% năm 2004; 8,4 % năm 2005; 6,6% năm 2006; 12,6% năm 2007 và trong 4 tháng đầu năm 2008 đã tăng 11%. Chỉ số CPI từ 2000 đến quí 1/2008 ( Nguồn: Tổng cục thống kê) Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Quý1/2008 CPI -0.6 8 4 3 9.5 8.4 6.6 12.6 11 Thông qua bảng dữ liệu trên có thể rút ra nhận xét : Thứ nhất, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu. Bằng chứng, cùng chịu chung áp lực biến động giá trên thị trường thế giới, nhưng 2 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng ở các nước trong khu vực tăng không đáng kể: Thái Lan – 1,7%, Malaysia – 2,2%, Indonesia – 1,8%, Trung Quốc – 2,9%, trong khi con số này ở ta là – 6,19%.1 Dễ nhận thấy nhất là ở hiệu quả sản xuất. Trong khi những yếu tố lợi thế như lao động rẻ hay giá năng lượng thấp vẫn chưa được khai thác triệt để thì các chi phí khác lại quá cao. Nhiều chi phí cao đến mức phi lý như: chi phí thuê đất, chi phí vận tải, đặc biệt là các chi phí “bôi trơn”; công nghệ sản xuất thì lạc hậu (đi sau so các nước trong khu vực khoảng chừng 20-30 năm); cơ sở hạ tầng còn yếu, nền công nghiệp lệ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu… cộng thêm với năng lực quản lý còn yếu, quan liêu, tham nhũng (đặc biệt ở các DNNN). Tất cả đã đẩy giá thành các sản phẩm trong nước lên tới mức trần, có nghĩa là không còn khoảng trống an toàn để dự phòng về giá. Chính vì vậy, khi một yếu tố sản xuất nào đó thay đổi, ngay lập tức tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam kém năng động bởi vì khi nhìn vào phản ứng của các chủ thể kinh tế cơ bản sẽ thấy Ngân hàng Nhà nước, cơ quan chịu trách nhiệm chính trong kiểm soát lạm phát, trước lượng tiền đầu tư nước ngoài tăng hơn dự kiến (7 tỷ USD trong 6 tháng) đã tỏ ra bối rối. Khi một quốc gia được các nhà đầu tư “ưu ái” bơm tiền – đó là cơ hội lớn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm thế nào để hấp thụ lượng tiền này, biến nó thành sản phẩm, thành giá trị gia tăng thúc đẩy kinh tế phát triển. Các doanh nghiệp cũng vậy, trước áp lực lạm phát, vẫn giữ một chiêu duy nhất – tăng giá bán, khá hơn một chút là thực hành tiết kiệm Tình hình kinh tế – xã hội những tháng đầu năm 2008 đã và đang có những diễn biến bất lợi. Tăng trưởng kinh tế vẫn cao, nhưng không đạt mục tiêu đề ra, tăng trưởng của công nghiệp – xây dựng thấp. Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có biểu hiện xấu.Giá tiêu dùng liên tiếp tăng và tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đã là 9,19%, nêu tính cả tháng 4 đã là trên 11%, ảnh hưởng rất bất lợi đến sản xuất kinh doanh, đến đầu tư phát triển và tác động xấu đến đời sống nhân dân. Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán có nhiều biến động bất thường, nhập siêu tăng cao, cán cân thương mại và cán cân thanh toán thiếu vững chắc,mới đây nhất là việc giá dầu tăng cao kỉ lục 128 USD/thùng .Nhóm hàng lương thực đã tăng 15,02%,nhóm hàng thực phẩm tăng 10,06% ,nhà ở và xây dựng tăng 11,01%… và chỉ có riêng nh._.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Chuyên Đề Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán Và Các Giải Pháp Khắc Phục
  • Lạm Phát Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát
  • Dự Báo Lạm Phát Và Giải Pháp Quản Lý, Điều Hành Giá Năm 2022
  • Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát
  • Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tập Trung Kiềm Chế Lạm Phát Cuối Năm

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Gì Để Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022?
  • Lạm Phát Sẽ Giảm Hoặc Ổn Định Hơn Trong Năm 2022
  • Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022: Dưới 4% Có Khả Thi?
  • Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022 Như Thế Nào?
  • Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Và Những Giải Pháp
  • (HNM) – Chỉ còn hơn một tháng nữa là kết thúc năm 2022 với dự báo kinh tế nước ta sẽ hoàn thành hoặc vượt tất cả các chỉ tiêu vĩ mô. Đóng góp vào thành công đó có một chỉ tiêu quan trọng hàng đầu là kiềm chế lạm phát. Tại thời điểm này, có thể nói, chỉ tiêu kiềm chế lạm phát vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Với sự nỗ lực của Chính phủ và các ngành, các cấp trong thời gian cuối năm, chúng ta có thể tin tưởng sẽ hoàn thành tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát. Kết quả đáng ghi nhận

    Theo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10-2019 tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 2,24% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung, CPI bình quân 10 tháng năm 2022 tăng 2,48% so với bình quân cùng kỳ năm 2022 và đây là mức tăng bình quân 10 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây. Phân tích cụ thể diễn biến giá các nhóm hàng cho thấy, trong tháng 10 vừa qua, có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất 1,04%. Theo phân tích của Tổng cục Thống kê, do ảnh hưởng của bệnh Dịch tả lợn châu Phi làm giảm nguồn cung dẫn đến giá thịt lợn tăng đã khiến cho nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống – nhóm có sức ảnh hưởng lớn đến CPI, tăng cao nhất.

    Đối với người tiêu dùng, nhìn chung các hộ gia đình đều xác nhận sự ổn định về giá cả trên thị trường. Chị Đinh Thúy Lan, ngụ tại ngõ 86, phường Ngọc Thụy (quận Long Biên, Hà Nội) cho rằng, hầu hết giá các mặt hàng phục vụ sinh hoạt hằng ngày ổn định, nếu có tăng hay giảm thì cũng không đáng kể. Riêng thịt lợn có sự tăng giá rõ rệt…

    Diễn biến CPI bình quân của 10 tháng (tăng 2,48%) so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2022 (tăng không quá 4%) cho thấy, có thể an tâm về tình hình và khả năng kiềm chế lạm phát của cả năm. Vụ trưởng Vụ Thống kê giá (Tổng cục Thống kê) Đỗ Thị Ngọc khẳng định, kết quả đáng ghi nhận nói trên là do quá trình điều hành đồng bộ, liên tục, quyết liệt của Chính phủ, hệ thống cơ quan chức năng. Trong đó, Chính phủ thường xuyên chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, nhất là các bộ: Tài chính, Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư… bám sát tình hình, theo dõi sát sao diễn biến CPI, kịp thời đưa ra những đánh giá và tìm biện pháp chặn đà tăng giá.

    Nhiều giải pháp giữ vững thành quả

    Để giữ chỉ số CPI đạt được và bảo đảm mục tiêu đã đề ra, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá nhấn mạnh, cần chủ động trong công tác kiểm soát giá, quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu đã đề ra; cố gắng kiểm soát lạm phát bình quân năm 2022 trong mức 3,3-3,5%.

    Từ nay đến cuối năm, các cơ quan hữu quan sẽ tập trung vào công tác bình ổn giá, nâng cao hiệu quả quản lý. Cụ thể, theo Tổng Cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường Trần Hữu Linh, lực lượng quản lý thị trường đang bắt đầu mở đợt tổng kiểm tra, kiểm soát thị trường dịp cuối năm 2022, trong đó yêu cầu các cục quản lý thị trường tập trung rà soát, nắm bắt tình hình các mặt hàng thiết yếu gồm giày dép, quần áo, thực phẩm, bánh kẹo, rượu bia… tránh tình trạng găm hàng, đầu cơ và tăng giá bất hợp lý. Ngoài ra, lực lượng tăng cường kiểm tra, phát hiện vi phạm để xử lý tại một số địa bàn trọng điểm, dễ có nguy cơ tuồn hàng lậu, hàng không rõ nguồn gốc vào nội địa như: Quảng Trị, Lạng Sơn, Lào Cai, Tây Ninh, An Giang…

    Các bộ, ngành hữu quan như Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Công an, Hải quan, chính quyền các địa phương đều có kế hoạch phối hợp, chủ động vào cuộc để nắm bắt tình hình nhằm bảo đảm hiệu quả công tác quản lý thị trường. Cùng với đó, các địa phương đang tập trung chuẩn bị nguồn hàng, làm tốt công tác bảo quản cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phân phối lưu thông hàng hóa, hướng tới sự bình ổn giá trên thị trường.

    Tại Hà Nội, Phó Giám đốc Sở Công Thương Trần Thị Phương Lan cho biết, Sở đang tập trung các giải pháp tạo điều kiện để khơi thông nguồn hàng, đưa hàng hóa từ các tỉnh về Hà Nội và ngược lại nhằm đáp ứng đủ nhu cầu người dân. Bên cạnh đó, Sở tăng cường phối hợp kiểm tra, kiểm soát để xử lý hiện tượng gian lận thương mại, nạn hàng giả, hàng cấm, không rõ xuất xứ…

    Về phía doanh nghiệp, hiện nhiều đơn vị đang tập trung bước vào chặng nước rút, bảo đảm kế hoạch cũng như sẵn sàng tham gia thị trường; nhất là đối với những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực phân phối, bán buôn, bán lẻ. Đơn cử, Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) vừa thông báo việc dành 768 tỷ đồng để chuẩn bị hàng hóa phục vụ dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán sắp tới. Tổng cộng sẽ có 19 mặt hàng gồm thủy hải sản, bánh mứt kẹo, hàng khô, thịt gà… sẵn sàng cung cấp ra thị trường. Đặc biệt, đơn vị này cũng chủ động tham gia chương trình bình ổn thị trường của thành phố Hà Nội thông qua 16 điểm bán hàng. Đây là hoạt động có tính thường xuyên qua các năm nhằm bảo đảm nguồn cung, chất lượng hàng hóa và nhất là phòng tránh sự cố khan hàng, tăng giá bất hợp lý…

    Với những kết quả từ đầu năm đến nay cùng sự nỗ lực của Chính phủ, các ngành, các cấp và doanh nghiệp, tin tưởng rằng, mục tiêu kiềm chế lạm phát năm nay sẽ hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch, góp phần ổn định nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Năm 2022: Mục Tiêu Kiềm Chế Lạm Phát Sẽ Đạt Được
  • Hà Nội Triển Khai Các Giải Pháp Kéo Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Kéo Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Kéo Giảm Tai Nạn Giao Thông 6 Tháng Cuối Năm 2022
  • Tphcm Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Kéo Giảm Tai Nạn Giao Thông Bền Vững
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×