Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2021

--- Bài mới hơn ---

  • Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua
  • Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019
  • Lạm Phát 2011 Đến Nay: Con Số Và Dự Báo
  • Luận Văn Đề Tài Lạm Phát 2011
  • CÁC NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG NĂM

    2012 VÀ TRUNG HẠN ĐẾN NĂM 2021

    PGS. TS Nguyễn Văn Trình

    Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG chúng tôi

    ThS Lê Trương Hải Hiếu

    1. Đặt vấn đề:

    Trong những năm vừa qua kinh tế Việt Nam thường xuyên phải chịu mức lạm

    phát cao làm cho những thành quả của tăng trưởng kinh tế không đến được với

    người lao động do mức tăng thu nhập danh nghĩa không theo kịp mức tăng của giá

    cả thị trường. Đặc biệt, năm 2008 lạm phát đã tăng rất cao lên đến trên 23% buộc

    Chính phủ phải đưa ra hệ thống 8 giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát và đã đạt

    được kết quả nhất định khi lạm phát năm 2009 và 2010 có xu hướng giảm xuống.

    Tuy nhiên, lạm phát như con ngựa bất kham đã tăng cao trở lại trong năm 2011 lên

    đến 18,23% mặc dù Chính phủ đã có nghị quyết 11 đưa ra một hệ thống giải pháp

    toàn diện để kiềm chế lạm phát ngay từ đầu năm 2011. Vì sao lạm phát trong năm

    2011 lại tăng cao? Các giải pháp nào cho năm 2012 và những năm tiếp theo để

    kiềm chế lạm phát xuống còn một con số như mong muốn của Chính phủ?

    2. Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát tăng cao trong năm 2011

    Theo lý thuyết kinh tế học, có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát là do cầu

    kéo và chi phí đẩy. Lý thuyết lạm phát do cầu kéo chỉ đúng khi nền kinh tế đạt mức sản

    lượng tiềm năng, khi nền kinh tế đã sử dụng hết hoặc gần hết nguồn lực sẵn có. Khi đó,

    nếu tổng cầu gia tăng thì sẽ làm giá cả gia tăng vì nền kinh tế không còn tiềm năng để

    tăng trưởng, nên tổng cầu tăng không làm tổng cung tăng, mà chỉ làm tăng giá cả. Tổng

    cầu bao gồm các thành phần: Cầu chi tiêu của cá nhân, cầu chi tiêu của chính phủ, cầu

    đầu tư của các doanh nghiệp và cầu chi tiêu của người nước ngoài (xuất khẩu). Tổng cầu

    của nền kinh tế nhìn chung đều phải thể hiện thông qua tổng cầu tiền mặt. Bởi vì, trong

    nền kinh tế thị trường muốn mua hoặc bán được hàng hóa phải có một lượng tiền tương

    ứng với giá cả hàng hóa (lượng tiền cần thiết cho lưu thông). Các nhà lý luận kinh tế gọi

    đây là lưu thông hàng hoá – tiền tệ. Vì vậy, khi tổng tiền mặt trong lưu thông tăng lên

    cũng thể hiện tổng cầu tăng lên. Như vậy, trong trường hợp Ngân hàng trung ương có

    chính sách làm cho khối tiền trong lưu thông tăng lên, điều đó đồng nghĩa với việc sẽ làm

    cho tổng cầu gia tăng. Nếu nền kinh tế còn dưới mức tiềm năng, tổng cầu tăng sẽ tác

    động làm tổng cung tăng, nền kinh tế tăng trưởng, lúc đó lạm phát đi kèm với tăng trưởng

    kinh tế, nền kinh tế sẽ chịu đựng được mức lạm phát này. Ngược lại, nếu nền kinh tế đã ở

    mức tiềm năng thì tổng cầu tăng sẽ làm giá tăng, mà sản lượng không tăng nổi, lạm phát

    sẽ tăng cao.

    Nguyên nhân lạm phát do chi phí đẩy được thể hiện khi trong nền kinh tế còn nằm

    dưới mức sản lượng tiềm năng. Lúc này lạm phát cao xảy ra do giá các yếu tố đầu vào

    của nền sản xuất tăng cao (nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu trong nền kinh tế như xăng

    dầu, lương thực thực phẩm…tăng cao) làm cho chi phí sản xuất hàng hóa tăng cao và đẩy

    giá cả hàng hóa trên thị trường tăng cao. Lạm phát cao xảy ra.

    Từ các nguyên nhân về mặt lý thuyết ở trên, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, có

    thể phân tích nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua có cả yếu tố cầu

    kéo và chi phí đẩy.

    Trước hết, nguyên nhân do cầu kéo. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam chưa đạt mức

    sản lượng tiềm năng, vẫn còn nhiều nguồn lực cho tăng trưởng: Nguồn nhân lực dồi dào

    và trẻ, nguồn vốn trong và ngoài nước phong phú, nguồn tự nhiên chưa khai thác hết,

    nhưng lạm phát trong những năm 2007 – 2011 vẫn có nguyên nhân từ phía cầu. Có thể

    trình bày những nguyên nhân từ phía cầu như sau:

    -Thu nhập quốc dân tăng lên do kết quả tăng trưởng kinh tế nhiều năm liền trước

    đó làm cho thu nhập của dân cư tăng lên (năm 2001: 6,89%, năm 2002: 7,08%, năm

    2003: 7,34%, năm 2004: 7,79%, năm 2005: 8,44%, năm 2006: 8,23%; năm 2007: 8,46%;

    năm 2008: 6,31%; năm 2009: 5,46%; năm 2010: 6,78% và năm 2011 tăng 5,34% ). Điều

    đó làm cho cầu tiêu dùng cá nhân gia tăng từ 2005 đến năm 2011, dẫn đến giá cả tăng

    liên tục nhiều năm liền.

    -Tốc độ tăng đầu tư trong toàn bộ nền kinh tế (bao gồm khu vực kinh tế trong

    nước và nước ngoài) cao trong nhiều năm liền (khoảng 25% – 35%/năm), nhất là đầu tư

    nước ngoài tăng cao trong các năm 2006 (vốn FDI đăng ký trên 12 tỷ USD); năm 2007 là

    21 tỷ USD và đặc biệt nhảy vọt trong năm 2008 (vốn FDI đăng ký trên 71 tỷ USD), trong

    những năm 2009, 2010 và 2011 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam khoảng 11 –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả
  • Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • 8 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Việt Nam Đang Đi Đúng Hướng Trong Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Nghị Quyết Chính Phủ Về 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2021
  • Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua
  • Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019
  • Lạm Phát 2011 Đến Nay: Con Số Và Dự Báo
  • Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong cả năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng tăng 11,75% so với tháng 12 năm 2009. Tuy nhiên, xét cụ thể giữa các tháng trong năm thì chỉ số CPI diễn biến khá bất thường nhưng có tính lặp lại giống một số năm gần đây, tháng 1-2010 tăng 1,36%, tháng 2-2010 tăng 1,96%, tháng 3 tăng 0,75%, tháng 4 tăng 0,14%, tháng 5 tăng 0,27%, tháng 6: 0,22%, tháng 7: 0,06%, tháng 8: 0,23%, tháng 9: 1,31%, tháng 10: 1,05%, tháng 11: 1,86% và tháng 12 tăng 1,98%.

    Đầu năm 2010, Chính phủ điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu thị trường trong nước, tăng giá bán than, điện, nước sạch và điều chỉnh tăng mức lương cơ bản. Bên cạnh đó Chính phủ cũng cho phép điều chỉnh mức thu học phí từ tháng 9 và tháng 10-2010. Những điều chỉnh đó tác động lớn tới mặt bằng giá nói chung và là nguyên nhân chính làm cho nhóm giáo dục tăng giá cao nhất trong rổ hàng hóa tính chỉ số CPI nói riêng.

    Lúa ở miền Bắc bị sâu bệnh đặc biệt là bệnh rầy. Tiếp đến là vụ Đông ở miền Bắc bị khô hạn nặng, rét đậm kéo dài. Miền Trung và Tây Nguyên bị bão lụt gây thiệt hại nặng nề nhất từ hàng chục năm qua, mùa màng vừa bị thiệt hại, thức ăn và vật tư nông nghiệp, máy móc thiết bị nông nghiệp bị mất hay hư hỏng. Giá điện, phân bón, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu, lãi suất vốn vay và chi phí vốn vay tăng, chi phí đầu vào tăng. Trong năm 2010, giá bán lẻ thức ăn chăn nuôi đã tăng tới 14 lần, riêng từ 15-9-2010 đến cuối tháng 12-2010 tăng tới 9 lần. Giá thức ăn chăn nuôi tháng 1-2010 còn ở mức 187.500 đồng/bao loại 25 kg, đến tháng 12-2010 đã tăng lên 264.000 đồng/kg. Giá đầu vào của thức ăn chăn nuôi tăng dẫn đến giá thành sản phẩm từ chăn nuôi tăng theo, thêm vào đó chăn nuôi bị dịch bệnh, bị thua lỗ, quy mô chăn nuôi bị thu hẹp, nguồn cung ra thị trường bị hạn chế…, càng làm cho giá tăng lên. Cũng do chi phí đầu vào tăng cao và hạn hán nặng, rét đậm kéo dài ở phía Bắc, nên nhiều vùng trồng rau màu ven các đô thị lớn thu hẹp diện tích gieo trồng, nguồn cung giảm.

    Giá nông sản, nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất khác phục vụ nông nghiệp và thuốc thú y… trên thị trường thế giới tăng khá cao. Riêng giá cà phê tăng lên cao nhất trong 16 năm gần đây. Giá bông tăng tới 60-70% so với cuối năm 2009. Giá cao su, hồ tiêu, điều, gạo, đường thô, tinh bột sắn, hạt điều, chè, mặt hàng thủy sản chế biến… cũng tăng mạnh. Riêng giá mủ cao su Trung Quốc mua của Việt Nam tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2009. Tháng 8 – 2010, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam bình quân khoảng 420 USD/tấn nhưng trong tháng 12-2010 tăng lên 495 – 500 USD/tấn.

    Thiên tai xảy ra nặng nề tại nhiều nước, nhất là trong khu vực như Trung Quốc, Pakistan, Thái Lan, Ấn Độ…, cộng với tình hình thời tiết khắc nghiệt tại nhiều quốc gia khác làm cho sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại nghiêm trọng, dẫn đến lượng cung cầu nhiều mặt hàng nông sản thực phẩm mất cân đối, cung giảm, cầu tăng. Giá thế giới tăng, giá xuất khẩu các mặt hàng tương ứng của Việt Nam tăng và giá thu mua trong thị trường nội địa cũng tăng. Trong quý IV-2010, hoạt động mua gom ngay từ đầu mối các mặt hàng: mủ cao su tự nhiên, lợn hơi, thủy, hải sản, đường… của thương nhân Trung Quốc với giá cao và khối lượng lớn tại nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hoá của Việt Nam, càng tác động đến cung cầu, đến tâm lý và tác động đến giá cả các mặt hàng đó. Cùng với diễn biến chung của giá cả thị trường thế giới thì tình trạng đầu cơ mặt hàng nông sản thực phẩm tại Trung Quốc cũng đã tác động đáng kể đến giá cả thị trường nước ta.

    Trong xu hướng đô thị hóa và phát triển cơ sở hạ tầng, diện tích đất đai tiếp tục bị thu hẹp. Các dự án nhà ở, khách sạn, du lịch sinh thái, sân golf, khu công nghiệp, đường giao thông… Việc thu hồi đất nông nghiệp, đặc biệt là đất canh tác màu mỡ của người dân ở ven các khu đô thị, làm cho diện tích đất trồng trọt giảm, mặt khác, người dân có tiền từ giải phóng mặt bằng, đền bù tài sản và hoa màu trên đất nên tăng tiêu dùng. Mặt khác, tình trạng đó làm hạn chế quy mô sản xuất nông nghiệp, giảm nguồn cung ứng nông sản ra thị trường. Xu hướng nói trên diễn ra trong nhiều năm qua, nhưng càng được đẩy mạnh và mở rộng trong năm 2010, nên tác động đáng kể đến giá cả.

    Cũng do quá trình đô thị hóa, giá thuê nhà trong năm 2010 bình quân tăng trên 20%, nhất là giá nhà cho người có thu nhập thấp và trung bình thuê, như sinh viên, người lao động… Giá nhà đất ở khu vực Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc tăng từ 30% – 60% tùy theo khu vực, dự án và vị trí.

    Nhu cầu xây dựng tăng, tác động đến giá cả mặt hàng vật liệu xây dựng, đặc biệt là các mặt hàng có tỷ lệ tăng khá cao là hàng nhập ngoại hay nguyên liệu nhập ngoại, như thép và phôi thép, sơn nhà, nhôm, kính cao cấp và các loại vật liệu khác….

    Trong năm 2010 tỷ giá trên thị trường tự do tăng trên 10% và tỷ giá giao dịch của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng tăng 5,9%. Tỷ giá chính thức từ cuối năm 2009 đến hết năm 2010 được ngân hàng nhà nước (NHNN) điều chỉnh tăng hai lần. Riêng đợt điều chỉnh ngày 18-8-2010, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa Đồng Việt Nam và Đô la Mỹ tăng 2,1%, từ 18.544 VND/USD, lên mức 18.932 VND/USD. Mục tiêu của việc điều chỉnh nhằm khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập siêu. Song bên cạnh đó tác động đến giá các mặt hàng nhập khẩu, giá thu mua các mặt hàng xuất khấu.

    Tỷ giá tăng làm cho chi phí đầu vào một loạt mặt hàng có nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng nhập ngoại tăng. Giá cho thuê văn phòng, khách sạn, mua bán căn hộ cao cấp,… tình theo USD quy đổi ra VND cũng tăng theo.

    Việc tỷ giá tăng tạo sức ép lên giá bán lẻ xăng dầu thị trường trong nước. Đặc biệt là giá bán lẻ các mặt hàng khác nhập khẩu từ nước ngoài hay có phụ tùng, nguyên vật liệu nhập khẩu, như: linh kiện máy tính, đồ điện tử, điện lạnh, hoá chất, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, dược phẩm, thuốc chữa bệnh và vật tư y tế, nguyên liệu hàng dệt may và giày da, vật liệu xây dựng cao cấp, ô tô và phụ tùng ô tô, xe gắn máy và phụ tùng xe gắn máy, thiết bị máy móc và phương tiện khác, thiết bị văn phòng, đồ dùng gia đình cao cấp…cũng tăng theo biến động tỷ giá. Trong đó rõ nét nhất là giá bán ô tô, xe gắn máy thị trường trong nước. Các mặt hàng nông sản thực phẩm khác Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu lớn cũng có biến động lớn.

    Trong 10 tháng đầu năm 2010, lãi suất cơ bản do NHNN công bố giữ ổn định ở mức 8%/năm, lãi suất huy động vốn nội tệ của các TCTD ở mức 12-13%/năm, lãi suất cho vay 14-15%/năm. Lãi suất cho vay của TCTD như vậy là rất cao so với mặt bằng chung lãi suất trong khu vực, so với tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp và chỉ số CPI đến thời điểm đó. Lãi suất cao tác đông đến chi phí đầu vào của vốn tỏng giá thành sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.

    Từ tháng 11-2010, lãi suất cơ bản do NHNN công bố tăng từ 8%/năm lên 9%/năm để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát. Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay nội tệ của các NHTM lại tăng lên mức cao hơn. Ngay từ đầu tháng 11-2010, lãi suất tiền gửi nội tệ phổ biến đã lên tới 14-15%/năm, thậm chí cá biệt vào một số thời điểm có NHTM tăng lên 16-17%/năm. Lãi suất cho vay vốn nội tệ của các NHTM cũng đã tăng lên phổ biến tới mức 16-20%/tháng.

    Mức lãi suất cho vay nói trên gây khó khăn rất lớn đến hoạt sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của người dân, tạo sức ép đẩy giá thành vật tư, hàng hóa và dịch vụ, tác động lên giá bán và tạo sức ép lên mặt bằng giá. Nhiều dự án triển khai dở dang nếu tiếp tục vay vốn thì thua lỗ vì lãi suất cao, nếu không vay vốn thì máy móc thiết bị bỏ không vẫn phải khấu hao, xuống cấp vì tác động của thiên nhiên, chi phí bảo vệ, trả lãi vốn vay đầu tư, chậm trả nợ gốc, người lao động thiếu việc làm, ảnh hưởng ngay đến chất lượng tín dụng vì nợ quá hạn có nguy cơ

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong năm 2010, thời điểm cao nhất, đầu tháng 11-2010, giá vàng thị trường trong nước tăng tới 36,72%, còn giá vàng cuối tháng 12-2010 tăng khoảng 30% so với cuối năm 2009. Giá vàng tăng và lên cơn sốt vào nhiều thời điểm, cộng với diễn biến thất thường của tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do, tác động lớn đến tâm lý của người dân về lạm phát, về sự mất giá của đồng tiền Việt Nam, góp phần tác động đến mặt bằng giá chung trên thị trường.

    Tiền tệ được đề cập trong bài viết bao gồm cả kênh ngân hàng và kênh ngân sách. Tiền tệ không phải là nguyên nhân chủ đạo, nhưng là nguyên nhân quan trọng tác động làm tăng giá nhóm mặt hàng nhà ở và vật liệu xây dựng.

    Về kênh ngân sách và có tính chất ngân sách: Các dự án xây dựng trụ sở, văn phòng, trường học, bệnh viện, các dự án xây dựng khác có nguồn gốc từ vốn ngân sách, vốn vay ODA nước ngoài… được giải ngân hay vay ngân hàng ứng trước cho thi công… góp phần đẩy giá mặt hàng nhà ở và vật liệu xây dựng, cũng như tác động lên các nhóm mặt hàng khác trên thị trường. Một nguyên nhân quan trọng khác là sự thất thoát vốn đầu tư ngân sách và quản lý chi tiêu, thu chi ngân sách cũng góp phần tác động lên giá nhà ở và vật liệu xây dựng…

    Về kênh tín dụng ngân hàng: Tiền vay khách hàng từ ngân hàng thương mại (NHTM) cho mua nhà, đất, mua căn hộ chung cư, xây nhà mới và sửa chữa nhà, xây khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, văn phòng cho thuê và chủ dự án giải ngân vốn vay cho đền bù giải phóng mặt bằng… cũng góp một phần tác động vào mặt bằng giá chung.

    Theo số liệu của NHNN, tính đến cuối tháng 12-2010, ước tính dư nợ cho vay để kinh doanh bất động sản khoảng 228.000 tỉ đồng, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2009. Tuy nhiên, đó là số liệu do các NHTM báo cáo lên, còn số vốn thực tế đầu tư vào bất động sản chắc chắn không dừng ở con số này. Bên cạnh đó là các khoản vay tiêu dùng của người dân mua nhà, mua căn hộ, sửa chữa và cải tạo nhà… chưa được thể hiện hay thể hiện chưa đầy đủ trong con số thống kê nói trên.

    Có thể nói kênh tiền tệ qua hệ thống ngân hàng không phải là nguyên nhân chủ yếu gây nên lạm phát cao trong năm 2010. Trước hết, qua phân tích các nguyên nhân ở phần đầu bài viết cùng với sự tác động lên các nhóm hàng hóa và dịch vụ. Thứ hai là mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đến hết năm 2010 so với nhiều năm gần đây không phải là cao, vẫn nằm trong tầm kiểm soát theo mục tiêu đề ra từ đầu năm.

    Theo số liệu của NHNN, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong toàn quốc tính đến hết tháng 12-2010 ước tăng 29,81% so với năm trước, trong đó dư nợ nội tệ tăng 25,3%, dư nợ ngoại tệ tăng 49,3%. Tổng phương tiện thanh toán cả năm ước tăng 25,3%; tổng nguồn vốn huy động tăng 27,2%. Tuy nhiên, nếu loại bỏ hư số do giá vàng và tỷ giá tăng thì trong năm 2010 tổng dư nợ tăng 27,6%, tổng phương tiện thanh toán tăng 23%, huy động vốn tăng 24,5%. Như vậy, riêng dư nợ cho vay năm 2010 vẫn thấp hơn tốc độ tăng của 2 năm gần đây. Hoặc nếu tính theo độ trễ của tác động chính sách, tức là chỉ số CPI tăng khá cao trong quý IV-2010, nhìn ngược lại trong 6 tháng đầu năm, dư nợ cho vay mới chỉ tăng khoảng 11%, chưa phải là cao. Đồng thời cũng xét theo nhu cầu của nền kinh tế, theo tốc độ tăng trưởng GDP thì tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ cho vay là phù hợp.

    II- Giải pháp kiềm chế lạm phát trong giai đoạn hiện nay

    Lãi suất là một công cụ truyền thống, có tính chất cổ điển trong thực hiện kiềm chế lạm phát. Song thực hiện công cụ này để kiềm chế lạm phát cần phải xem xét các diễn biến khác về kinh tế vĩ mô, phân tích thực trạng thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng chứ không thể áp dụng máy móc được. Trước thời điểm NHNN tăng lãi suất cơ bản lên 9%/năm, nền kinh tế đang có hiện tượng khan hiếm vốn chứ không phải là tình trạng thừa tiền trong lưu thông. Các NHTM đua nhau tăng lãi suất tiền gửi kèm theo nhiều hình thức khuyến mại hấp dẫn khác nhưng vẫn khó huy động được vốn. Bên cạnh đó, lãi suất cơ bản đang là 8%, lãi suất huy động vốn lên tới 12-13%/năm và lãi suất cho vay lên tới 15%/năm. Bản thân lãi suất đó đã quá cao so với mặt bằng lãi suất chung trong khu vực và cũng quá cao so với nền kinh tế. Lãi suất huy động vốn cao hơn nhiều so với tỷ lệ lạm phát và lãi suất cho vay gấp gần 2,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế: 6,78%. Do đó, cần có biện pháp hạ thấp lãi suất của các TCTD. Nếu duy trì mức lãi suất cao như hiện nay sẽ tiếp tục gây tiềm ẩn rủi ro cho nền kinh tế, cho hệ thống ngân hàng thương mại và tác động ngược lại mục tiêu kiềm chế lạm phát.

    Về tỷ giá, cần có các biện pháp cụ thể, linh hoạt và phù hợp với các quy định hiện hành về ngoại hối nhằm khắc phục hai hệ thống tỷ giá, hoặc thu hẹp bớt khoảng cách giữa hai hệ thống tỷ giá, ổn định tỷ giá, xử lý nghiêm các trường hợp niêm yết và bán hàng hóa, dịch vụ thu bằng ngoại tệ. Điều hành tỷ giá theo hướng linh hoạt và ổn định, tăng tính minh bạch cho thị trường này cũng là biện pháp cần thiết góp phần kiềm chế lạm phát.

    Về thị trường vàng, nên chủ động cho nhập khẩu vàng theo nhu cầu của thị trường chứ không nên bị động chạy theo thị trường, chạy theo các cơn sốt, tăng tính thông tin minh bạch về quản lý nhà nước đối với hoạt động này.

    Về tín dụng, NHNN dự kiến trong năm 2011 tăng trưởng tín dụng ở mức 23%, tổng phương tiện thanh toán giữ ở mức 21-23%. Song cần xác định đó chỉ là chỉ tiêu định hướng. Việc tăng trưởng tín dụng phải dựa trên nhu cầu vốn thực tế, hiệu quả của nền kinh tế.

    Hiện nay các NHTM đã có ý thức chủ động quản trị rủi ro tín dụng, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động cho vay nói chung và nợ xấu nói riêng. Song về lĩnh vực quản lý nhà nước, cần tăng cường thanh tra hoạt động cho vay đầu tư bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán và các khoản cho vay “lòng vòng”, mà thực chất là mua cổ phần tăng vốn điều lệ của các NHTM, cũng như đầu tư vào các doanh nghiệp khác. Cơ chế quản lý thị trường nội tệ liên ngân hàng cần linh hoạt để các NHTM cổ phần quy mô nhỏ tham gia tích cực, có hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu vốn của mình, góp phần minh bạch hóa lãi suất và ổn định lãi suất trên thị trường tiền gửi.

    Cần được xác định rằng, trên thị trường nói chung và thị trường liên ngân hàng nói riêng, bao giờ cũng tồn tại người buôn bán lớn và người buôn bán nhỏ, người bán buôn và người bán lẻ… Trên thị trường liên ngân hàng, tất yếu tồn tại các NHTM cổ phần quy mô nhỏ, thường có nhu cầu đi vay và các NHTM có quy mô lớn, chuyên cho vay.

    Cũng cần đánh giá khách quan hơn, trong điều kiện của thị trường tiền tệ hiện nay, một số NHTM có quy mô lớn, có điều kiện về tiếp cận các kênh vay vốn với lợi suất cạnh tranh, chính là người dẫn dắt thị trường, “tìm cách làm giá” về mặt lãi suất. Sự nghi ngờ này không phải là không có cơ sở vì khi thanh khoản khó khăn, ngân hàng đi vay thì nhiều, nhưng ngân hàng cho vay thì ít nên dễ dàng “làm cao”, gây sức ép lên những ngân hàng bí vốn.

    Đối với kênh ngân sách nhà nước, chống thất thu, rà soát các kẽ hỡ trong quản lý nguồn thu và phòng chống tiêu cực trong lĩnh vực này. Tương tự, nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư ngân sách và kiểm soát chặt chẽ các chi tiêu từ ngân sách, đều là những vấn đề không mới nhưng cũng cần nêu lên để có tính đồng bộ khi đề cập đến vấn đề kiềm chế lạm phát.

    Thực hiện hiệu quả, tránh thất thoát, tham nhũng, các tiêu cực khác và tránh ứ đọng các nguồn vốn ODA, vốn đầu tư ngân sách các cấp cũng có ý nghĩa rất lớn góp phần kiềm chế lạm phát, giảm thiểu việc phát sinh chi phí ngoài dự toán, vốn bị đội lên ngoài dự kiến ban đầu đưa nhanh các công trình đó vào sử dụng, phát huy hiệu quả đối với nền kinh tế.

    Bên cạnh đó, quản lý chặt chẽ hoạt động của các Tập đoàn nhà nước, Tổng công ty nhà nước để tạo sự minh bạch về tài chính, hiệu quả vốn đầu tư, tránh thất thoát vốn,… như trường hợp Vinashin,… cũng là một giải pháp cấp bách góp phần kiềm chế lạm phát.

    Để kiềm chế lạm phát, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nói chung, sản xuất nông sản thực phẩm nói riêng là hết sức quan trọng. Tăng sản lượng nông sản thực phẩm với chất lượng ngày càng cao không những đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn làm tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần giảm thâm hụt cán cân thương mại, ổn định tỷ giá.

    Việt Nam đã gia nhập WTO, nên chúng ta phải chấp nhận thực tế sự liên thông giá cả nông phẩm trong nước và thị trường thế giới. Sản xuất có lợi càng kích thích mở rộng sản suất, nâng cao chất lượng, tăng nguồn hàng cho xuất khẩu và thị trường trong nước, tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần bình ổn tỷ giá, tạo việc làm, góp phần ổn định xã hội và đảm bảo an sinh xã hội. Nước ta vốn là một nước sản xuất nông nghiệp, đến nay khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn chiếm khoảng 70% lực lượng lao động xã hội, cũng tương ứng khoảng 70% dân số sống ở nông thôn. Giá cả nông sản thực phẩm tăng, góp phần nâng cao thu nhập cho người sản xuất, khu vực vốn chịu nhiều rủi ro và lợi nhuận thấp. Giá cả nông phẩm được cải thiện cũng kích thích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn theo hướng hàng hoá, bám sát nhu cầu của thị trường. Để vừa bảo đảm lợi ích của cả người sản xuất khi gia nhập WTO, vừa bảo đảm an sinh xã hội, cần có chính sách điều tiết vĩ mô của nhà nước, chứ không thể chỉ sử dụng biện pháp hành chính, làm méo mó thị trường nông sản.

    Về lý thuyết cũng như thực tiễn, nguyên nhân gây ra lạm phát tại các nước trong khu vực là: chi phí đẩy, cầu kéo và tiền tệ, thì Việt Nam có thêm ba nguyên nhân riêng, đặc thù đó là tâm lý, lòng tin của người dân; tỷ giá và lãi suất. Đây cũng là sự lý giải vì sao các nước trong khu vực cũng bị thiên tai, cũng bị ảnh hưởng giá của thị trường thế giới nhưng lạm phát của họ không cao, còn Việt Nam thì quá cao. Tất nhiên, có thể còn một số nguyên nhân khác của sự khác biệt này, do đó dù tham khảo kinh nghiệm các nước trong khu vực hay thế giới, thì các giải pháp cũng cần phù hợp với thực tiễn Việt Nam mới đem lại hiệu quả./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • 8 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Việt Nam Đang Đi Đúng Hướng Trong Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Nghị Quyết Chính Phủ Về 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50