Giải Pháp Thực Hiện Tốt Các Chính Sách Dân Tộc Ở Tỉnh Đăk Nông

--- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Hỗ Trợ Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Phát Triển Kinh Tế Ở Tỉnh Sơn La
  • Quan Điểm Và Giải Pháp Đảm Bảo Quyền Của Các Dân Tộc Thiểu Số
  • Giải Pháp Nhân Sự Cho Doanh Nghiệp Hiện Nay Là Gì?
  • Giải Pháp Khi Thiếu Hụt Nhân Sự Chuyên Nghiệp
  • 4 Giải Pháp Giúp Doanh Nghiệp Chủ Động Đối Mặt Khủng Hoảng Thiếu Hụt Nhân Sự Sau Mùa Tết
  • Giải pháp thực hiện tốt các chính sách dân tộc ở tỉnh Đăk Nông

    Qua 10 năm thực hiện các chương trình, chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo các quyết định của Chính phủ, cùng với sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương, sự nỗ lực triển khai thực hiện của các cấp, các ngành và nhân dân các dân tộc, tỉnh Đắk Nông đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực. Các chương trình, chính sách dân tộc đã góp phần từng bước ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Các công trình hạ tầng thiết yếu đựơc xây dựng như: đường giao thông, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt, đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nhà văn hóa đã tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào các dân tộc trong việc giao thông đi lại, phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá làm thay đổi bộ mặt đời sống, kinh tế – xã hội địa phương, góp phần xoá đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Đắk Nông hàng năm giảm nhưng còn chậm và thiếu bền vững, cao hơn mức bình quân của cả nước (9,6%) và của khu vực Tây Nguyên (15%). Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân hàng năm là 6,47%.

    Cùng với việc phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục xây dựng và phát triển. Thiết chế văn hóa cơ sở và giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc được đầu tư, bảo tồn và phát triển, hệ thống bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân được mở rộng, công tác giáo dục và đào tạo đối với đồng bào dân tộc thiểu số hàng năm đều tăng về số lượng và chất lượng.

    Tỉnh đã đầu tư xây dựng 234 nhà văn hoá cộng đồng, hình thành 38 đội văn nghệ dân gian, 12 đội thông tin lưu động. Không gian cồng chiêng, và nhiều hoạt động văn hóa, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số được khôi phục, bảo tồn và phát huy.

    Thực hiện chính sách hỗ trợ kinh phí và nâng cao chất lượng giáo học sinh dân tộc thiểu số từ năm 2004 đến nay tỉnh đã bố trí ngân sách địa phương là 33,59 tỷ đồng. Từ năm 2004 đến nay đã cử tuyển, đào tạo nhân lực y tế được 568 học sinh vào học tạo các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, bố trí sử dụng được 169 sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Cùng với công tác cử tuyển đào tạo đến nay trên địa bàn toàn tỉnh có trên 750 sinh viên dân tộc thiểu số đang học tại các trường trường trung cấp, cao đẳng, đại học trong cả nước.

    Chương trình cấp thẻ khám chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vùng khó khăn đảm bảo, từ năm 2006 đến năm 2013 đã cấp được 1.152.203 thẻ khám chữa bệnh.

    Hệ thống chính trị cơ sở trong đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được kiện toàn tăng cường cả về số lượng và chất lượng, công tác đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ là người dân tộc thiểu số được coi trọng. Hiện nay toàn tỉnh có 1.290 cán bộ dân tộc thiểu số trên tổng số 15.193 cán bộ, công chức, viên chức, chiếm 8,4%. Trong đó, cán bộ, công chức hành chính: cấp tỉnh: 55/1.257 người, chiếm 4,37%; cấp huyện: 73/752 người, chiếm 9,7%; cấp xã (bao gồm chuyên trách và không chuyên trách): 423/2.450 người, chiếm 17,26%. Trong các đơn vị sự nghiệp có 793 người/10.734 người chiếm 8,88%. Tỉnh đã xây dựng đề án quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số. Cụ thể: cấp tỉnh: 49 đồng chí; cấp huyện: 156 đồng chí; cấp xã, phường, thị trấn: 113 đồng chí.

    Công tác an ninh, quốc phòng vùng đồng bào dân tộc tiếp tục được củng cố và giữ vững.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được như trên, việc triển khai thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế. Công tác tuyên truyền về ý nghĩa của các chủ trương, đường lối của Đảng, chương trình, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc chưa thực sự phát huy hiệu quả dẫn đến người dân chưa nắm bắt được yêu cầu, chưa hiểu rõ mục đích và nội dung chính sách, một bộ phận trong đồng bào vẫn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, chưa chủ động nâng cao ý thức tự lực, tự cường vươn lên trong cuộc sống.

    Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc các cấp còn yếu, nhất là cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Hơn nữa, còn thiếu cán bộ dân tộc thiểu số, nhất là dân tộc thiểu số tại chỗ trong các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ở cấp tỉnh, cũng như cấp huyện.

    Nguồn vốn của Trung ương và của tỉnh đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế và đầu tư dàn trải, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, vốn cho khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ còn quá ít, nên chưa đáp ứng được việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, các mô hình kinh tế ứng dụng công nghệ cao trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Số hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, số hộ thoát nghèo nhưng chưa bền vững. Các chính sách, chương trình, dự án triển khai còn chậm, bảo hiểm y tế chưa kịp thời, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển…

    Bởi vậy, để việc triển khai thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh ngày càng có chiều sâu và hiệu quả, trong thời gian tới các cấp, ngành chức năng, địa phương trong tỉnh cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, quán triệt các chủ trương, quan điểm, Nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc. Tập trung tuyên tuyền có trọng điểm, nhất là việc tuyên dương, nêu gương người tốt, việc tốt; các mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi là người dân tộc thiểu số, nhân các ngày lễ lớn của đất nước, ngày hội sum họp của đồng bào các dân tộc, phát huy dân chủ ở cơ sở. Phương pháp và nội dung tuyên truyền cần được đổi mới theo phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị; và thực hiện tốt phong cách: Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân.

    Tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc, xem việc thực hiện tốt các chính sách dân tộc của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của các cấp ủy Đảng, tổ chức Đảng. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc. Các sở, ban ngành và các cấp uỷ, chính quyền địa phương phải xây dựng qui hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số về trình độ học vấn, lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ; đồng thời có chính sách khuyến khích thu hút số trí thức trẻ mới ra trường về công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Thực hiện lồng ghép được nguồn vốn của các chương trình, chính sách trên cùng một địa bàn để đảm bảo các nguồn vốn thực hiện đầu tư mang lại hiệu quả để tập trung phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo điều kiện thuận lợi và có chính sách thu hút các thành phần kinh tế đầu tư các cơ sở chế biến nông, lâm nghiệp ở vùng đặc biệt khó khăn. Các dự án đầu tư trên địa bàn phải gắn với giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng dự án. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án; cùng với việc hỗ trợ của Trung ương, chủ động huy động các nguồn lực hợp pháp và tổ chức lồng ghép các nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội, các chương trình, dự án, chính sách trên địa bàn tỉnh để thực hiện đầu tư hiệu quả, nâng cao đời sống nhân dân.

    Ưu tiên đầu tư phát triển văn hóa – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực hiện các chính sách đã ban hành ở các lĩnh vực văn hóa, xã hội; đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới; xây dựng bon, buôn, gia đình văn hóa. Chú trọng việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lễ hội, hoa văn, cồng chiêng và nhạc cụ các dân tộc thiểu số tại chỗ; hỗ trợ xây dựng, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở vùng dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú. xây dựng các trường bán trú; phát triển giáo dục mầm non trong vùng dân tộc thiểu số; tổ chức dạy tiếng phổ thông ngay từ lớp mầm non và mẫu giáo. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, phát triển các dịch vụ y tế, tăng cường cán bộ y tế về công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; bố trí và sử dụng có hiệu quả đội ngũ Bác sỹ đã cử tuyển sau khi ra trường.

    Tập trung giải quyết cơ bản những điểm nóng phức tạp, bức xúc hiện nay; giải quyết các vụ tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, không để lây lan kéo dài thành điểm nóng. Có qui hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện. Phát huy đa dạng hoá các mô hình phát triển kinh tế – xã hội gắn với quốc phòng – an ninh…

    Có thể nói, quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng hiện nay có nhiều thuận lợi nhưng cũng đầy khó khăn, thách thức, do vậy sự vào cuộc và phối hợp đồng bộ chặt chẽ giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành chức năng trong tỉnh sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc, tạo sức bật cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số sớm tiếp cận với trình độ phát triển chung trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Làm tốt điều này sẽ phát triển các mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở tỉnh Đăk Nông trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kon Tum: Nỗ Lực Thực Hiện Mục Tiêu Giảm Tỷ Lệ Tăng Dân Số Tự Nhiên Xuống Dưới 15%o
  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số, Góp Phần Phát Triển Đất Nước Nhanh, Bền Vững
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Vùng Cao
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Tuyển Nhân Viên Hành Chính Nhân Sự Làm Việc Tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Doanh Nghiệp Toàn Cầu
  • Tiểu Luận Vấn Đề Dân Tộc Và Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc Ở Nước Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc, Công Tác Dân Tộc Ở Quảng Ninh: Đột Phá Từ Cách Làm Sáng Tạo
  • Thực Trạng Chính Sách Dân Tộc, Định Hướng Xây Dựng Chính Sách Giai Đoạn 2022
  • Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Ở Hà Nam
  • Cần Đẩy Mạnh Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở
  • Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Năm Học 2022
  • ỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, đưa miền núi phát triển toàn diện làm cho tất cả các dân tộc tiến bộ, cùng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, cùng làm chủ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. – Các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, VI đặt ra vấn đề đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc, được cụ thể hóa tại Nghị quyết 22/NQTW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị và Quyết định 72/HĐBT ngày 13/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng đề ra những chủ trương chính sách lớn về phát triển kinh tế – xã hội miền núi. – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, nêu lên chính sách dân tộc thời kỳ 1996 – 2000… ” Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công gnhiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Xây dựng Luật Dân tộc. Từ nay đến năm 2000 bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được 3 mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh”…(1) Như trên đã dẫn, từ cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta, qua các thời kỳ cách mạng và ngày nay xây dựng đất nước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nội dung chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là nhất quán dựa trên nguyên tắc cơ bản là: ” Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc”. Vậy chúng ta quán triệt tư tưởng chỉ đạo này của Đảng như thế nào? – Bình đẳng: Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực. Bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa. Bình đẳng là nguyên tắc, là động lực to lớn cho khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng bền vững. Bình đẳng về chính trị là sự bình đẳng về quyền làm chủ đất nước. Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, trước hết và cụ thể là quyền tham chính của các dân tộc. Bình đẳng về kinh tế, là sự phát triển về kinh tế đồng đều giữa các dân tộc và các vùng, có thể lấy mục tiêu về bình quân thu nhập tính theo đầu người làm chuẩn, hay nói cách khác, đó là mục tiêu là thước đo để phấn đáu cho sự bình đẳng về kinh tế. Bình đẳng về kinh tế là nội dung rất quan trọng vì nó có ý nghĩa quyết định cho sự bình đẳng về mọi mặt. Bình đẳng về văn hóa là, các dân tộc có sự phát triển hài hòa trong một nền văn hóa đa dân tộc, không những không làm mất đi bản sắc dân tộc, mà trái lại bản sắc văn hóa của các dân tộc còn được giữ vững và ngày càng phát triển, các dân tộc có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của mình, các dân tộc được hưởng thụ văn hóa, dân trí của các dân tộc đều được nâng cao. – Đoàn kết: Các dân tộc đều là những thành viên, hợp thành của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam là ở chỗ đoàn kết, như Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Kết quả của sự nghiệp cách mạng ở nước ta đã chứng minh rất rõ điều đó. – Giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển: Một đất nước có nhiều dân tộc, để tồn tại và phát triển cần có sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Dân tộc nào cũng có nhu cầu cần được giúp đỡ và ngược lại dân tộc nào cũng có trách nhiệm phải giúp đỡ. Giúp đỡ từ hai phía, các dân tộc thiếu số giúp đỡ lẫn nhau, các dân tộc thiểu số giúp đỡ dân tộc đa số và ngược lại, giúp đỡ là hai chiều; ví dụ: người đa số chủ yếu là ở đồng bằng làm ra được nhiều lương thực, nhưng cần có môi trường, cần có rừng và bờ cõi của đất nước được yên ổn, do có người bảo vệ tại chỗ, thì ở đó phần lớn là các dân tộc thiểu số; giúp đỡ nhau bằng hình thức trực tiếp hoặc thông qua việc làm tròn nghĩa vụ của mình và sự điều phối của Nhà nước. III. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Quá trình thực hiện nhất quán chính sách dân tộc của Đảng, đã phát huy được sức mạnh to lớn của đồng bào, góp phần vào thành tựu trong công cuộc đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc và trong công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước, nhất là trong những năm thực hiện đường lối đổi mới từ Đại hội VI, VII, và VIII tiếp theo là các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, cụ thể là Nghị quyết số 22 ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị và Quyết định 72/HĐBT ngày 13/3/1990 về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế – xã hội miền núi. Năm 1996, Nghị quyết Đại hội VIII đã khẳng định và cụ thể hóa chính sách dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vùng dân tộc miền núi đã có những bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau đều tăng hơn năm trước; đời sống đồng bào các dân tộc từng bước được cải thiện, bộ mặt nông thôn vùng dân tộc và miền núi đã có những biến đổi tiến bộ, an ninh chính trị được giữ vững, đoàn kết dân tộc được tăng cường. A. THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG KẾT QUẢ QUAN TRỌNG SAU ĐÂY: 1. Các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, từ chỗ đều bị áp bức bóc lột dưới sự đô hộ của thực dân đế quốc Pháp, Mỹ…, giữa các dân tộc với nhau có sự mặc cảm, miệt thị, bởi âm mưu chia để trị của thực dân phong kiến, đã trở thành những thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đoàn kết, bình đẳng, giúp nhau cùng làm chủ đất nước, quyền làm chủ và quyền bình đẳng dân tộc ngày càng được tôn trọng trên thực tế. Đại biểu đại diện của các dân tộc trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân địa phương là cơ quan quyền lực của Nhà nước, ngày càng phát huy vai trò tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội. Khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được tăng cường, tình hình chính trị ổn định, an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Quá trình thử thách và phát triển trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước và chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ quốc cũng như xây dựng đất nước đã chứng minh sức mạnh đoàn kết các dân tộc. 2. Cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống được xây dựng ngày càng nhiều ở vùng dân tộc và miền núi là điều kiện vật chất rất quan trọng đối với việc thực hiện chính sách dân tộc và sự phát triển đồng đều giữa các vùng: – Diện tích khai hoang tạo ra ruộng nước, ruộng bậc thang, ruộng cạn, chuyển dần từ du canh, du cư sang xây dựng đồng ruộng theo hướng thâm canh, định canh, được thể hiện rõ từ miền phía Bắc cho tới Tây Nguyên, Duyên Hải miền Trung và miền Đông Nam Bộ. – Hệ thống thủy lợi được phát triển mạnh. Diện tích phần lớn từ chỗ phải nhờ vào nước trời, hoặc những công trình nhỏ, tạm; nay đã hình thành mạng lưới tưới tiêu bằng công trình xây dựng kiên cố như: Việt Bắc 70-80%, Tây Bắc 60%, Tây Nguyên 90% diện tích ruộng có công trình thủy lợi tưới. – Mạng lưới giao thông đã phát triển khá, tất cả các huyện miền núi đều đã có đường ô tô đi tới. 100% số xã của các tỉnh Tây Nguyên, Duyên Hải miền Trung và các tỉnh Tuyên Quang, Lạng Sơn đã có đường ô tô đi đến các trung tâm xã vào mùa khô, nhiều xã ở Tây Nguyên đã có đường ô tô đến thôn bản; các vùng khác cũng đạt tới 80 đến 90% số xã. Rất nhiều vùng xa, hẻo lánh, nhiều người không hề nghĩ đến hoặc không dám ước mơ đến, nay cũng đã có đường ô tô tới. Thành tựu này có ý nghĩa rất lớn lao đến sự phát triển của các dân tộc, rút bớt khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc với nhau và giữa miền núi với miền xuôi. Nếu lấy thời gian đi lại làm thước đo khoảng cách thì ngày xưa đi từ Hà Nội đến Lai Châu là hơn 1 tháng, ngày nay chỉ còn là 1 ngày. Đồng Văn, Mèo Vạc chỉ nghe tên đã hình dung đó là một xứ sở rất cao và xa xôi, phải đi hàng tháng trời thì nay khoảng cách cũng chỉ là 1, 2 ngày mà thôi. – Mạng lưới thông tin, liên lạc phát triển rất nhanh như viễn thông, đường dây điện thoại, đàm thoại dễ dàng đến tất cả các tỉnh và các huyện miền núi và dân tộc, trừ một số huyện mới tách. Nhiều xã của các tỉnh Tây Nguyên và miền núi của miền Trung cũng đã có điện thoại, tất cả các xã của tỉnh Sơn La đã có điện thoại, Sơn la đã tiến kịp miền xuôi về lĩnh vực này, không lâu nữa hầu hết các xã đều có điện thoại, thành tựu này sẽ là một kỳ tích xóa đi một khó khăn lớn nhất của mỉền núi và vùng dân tộc thiểu số về thông tin liên lạc và chứng minh rằng miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc tiến lên có sự phát triển ngang nhau là điều hoàn toàn có thể thực hiện được. – Mạng lưới điện cũng đã phát triển, nhiều vùng của mọi miền đất nước đã nối vào mạng lưới điện quốc gia, những nơi xa và rất xa như Sín Mần, Đồng Văn (Hà Giang), Phong Thổ (Lai Châu) cũng đã có điện lưới quốc gia và nhiều địa phương còn phát triển thủy điện nhỏ rất mạnh như huyện Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái đã có hàng nghìn thủy điện nhỏ loại 1-3 kw. Với sự phát triển đó, nhân dân các dân tộc tin tưởng, điện khí hóa đối với vùng dân tộc thiểu số không phải là không thực hiện được. 3. Đã từng bước hình thành một số vùng sản xuất phát triển tương đối tập trung và theo hướng sản xuất hàng hóa. Như cà phê, cao su, chè ở các tỉnh Tây Nguyên; chè, hồi, quế, cây ăn quả… ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Một số vùng từ chỗ phá rừng làm rẫy đã chuyển sang bảo vệ, tu bổ rừng và trồng rừng có kết quả. 4. Đã vận động định canh, định cư, tương đối ổn định được 2 triệu trong số 3 triệu người còn du canh du cư. Trong đó 30% số hộ đã có đời sống tương đối ổn định, thu nhập vào loại khá, không còn thiếu đói, có nhà cửa khang trang, mua được radio, ti vi, xe máy, thậm chí một số hộ cũng mua được ô tô vận tải và nhiều loại máy cơ giới làm đất xay sát, tưới tiêu… Một số điểm nổi trội như đồng bào ở xã Chư Pơn (Đăk Lăk) cho biết đã xóa được: đói, khổ, uống nước suối, chày giã gạo, mù chữ…; xã Tâm Châu, huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng có 1.395 hộ thì loại giầu chiếm trên 20% thu nhập trên 500 triệu đồng/năm/hộ về trồng cà phê, có thêm cà phê, cả xã có 30 xe ô tô tải 306 máy kéo, 120 máy điện thoại, 717 xe gắn máy, bình quân 1,5 hộ có một ti vi, số hộ nghèo chỉ còn khoảng 5%, chúng tỏ vùng dân tộc vẫn có khả năng phát triển và giàu có. Vấn đề này đã xóa đi quan niệm cho rằng dân tộc là đồng nghĩa với nghèo khổ và lạc hậu. 5. Sự nghiệp giáo dục, văn hóa, bảo vệ sức khỏe và nâng cao dân trí trong các dân tộc thiểu số, có bước phát triển rất dài so với trước. Vùng thấp phát triển khá hơn. – Học sinh phổ thông chiếm từ 15 đến 20% so với dân số, khắp các xã trong tất cả các vùng dân tộc thiểu số đều đã có trường phổ thông cơ sở. Đã hình thành hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú trong tất cả các tỉnh, huyện miền núi và vùng dân tộc thiểu số. Ba trường dự bị đại học ở ba miền Bắc Trung Nam đào tạo cán bộ cho đồng bào các dân tộc, đặc biệt là đồng bào ở vùng cao và dân tộc ít người. Phần lớn đồng bào Tày, Nùng, Thái, Mường, Chăm, Khơme đã được phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ. Hầu hết các dân tộc đều có người tốt nghiệp trung học và đại học. Đã có chữ viết của một số dân tộc và tiếng phổ thông là ngôn ngữ quốc gia đã ngày càng phát triển trong các dân tộc. Ngày nay đi tới đâu cũng đã có người biết chữ và tiếng phổ thông. – Các hoạt động văn hóa, văn nghệ của các dân tộc được khuyến khích phát triển và hòa hợp trong một nền văn hóa đa dân tộc, đồng thời mỗi dân tộc vẫn bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp và bản sắc dân tộc riêng của mình. Hệ thống truyền thanh, truyền hình đã phát triển đến hầu hết các huyện của vùng dân tộc thiểu số, thông tin về những chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc ở tất cả mọi miền, kể cả nơi xa và hẻo lánh của đất nước. Thành tựu đó đã phá vỡ sự cách biệt trước đây, có nơi gần như biệt lập với xã hội bên ngoài ở miền núi xa xôi, với các hoạt động của đất nước. – Mạng lưới y tế, phòng bệnh và chữa bệnh đã phát triển rộng khắp đến huyện và cơ sở, khống chế được các bệnh xã hội không để phát triển thành ổ dịch, đặc biệt là bệnh sốt rét, trước đây đã gây biết bao đau khổ cho đồng bào các dân tộc, ngày nay đã hạn chế đến mức thấp nhất, không để xảy ra dịch. Bệnh phong là một bệnh mà đồng bào rất sợ hãi, có nơi số người mắc bệnh này chiếm đến 40% dân số, ngày nay đã không còn đáng sợ nữa. 6. Tổ chức Đảng, các Đoàn thể và chính quyền ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số, đã được xây dựng và củng cố. Tổ chức Đảng, Đoàn thể và chính quyền vững mạnh so với trước đều do những cán bộ của địa phương và dân tộc đảm đương, hầu hết các dân tộc đều đã có Đảng viên và cán bộ. Tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, tuy còn phải tiếp tục giáo dục, nhưng đã được giải quyết, không có cơ sở phát triển. Các dân tộc đều có người tham gia lực lượng vũ trang bao gồm cả bộ đội, công an và dân quân tự vệ. Hàng ngũ cán bộ sỹ quan của lực lượng vũ trang nhân dân từ hạ sỹ quan cho đến cấp tướng, trong đó đều là người dân tộc thiểu số. 7. Đã đào tạo và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số làm nòng cốt và lãnh đạo trong phong trào cách mạng của quần chúng. Đội ngũ cán bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ… là những cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện trong phong trào cách mạng giành độc lập tự do, có lòng yêu nươc, chí căm thù giặc, đầy nghị lực và kiên cường đã góp sức vào thắng lợi của sự nghiệp giải phòng dân tộc và thống nhất đất nước. Cán bộ người dân tộc được đào tạo có hệ thống, có kiến thức ngày một nhiều hơn, hình thành đội ngũ cán bộ bao gồm 126 người có trình độ trên đại học, 11.470 người có trình độ đại học và cao đẳng, 72.642 người có trình độ trung học. Trong số 450 đại biểu Quốc hội khoá X có 78 đại biểu là người dân tộc thiểu số và hơn 70% đại biểu ấy có trình độ đại học. Đội ngũ cán bộ này đang đảm nhiệm các cương vị lãnh đạo, quản lý, chuyên môn nghiệp vụ trên mọi lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương. Đặc biệt đội ngũ lãnh đạo người dân tộc thiểu số có bước trưởng thành rõ rệt như Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII có 15 đồng chí là người dân tộc thiểu số chiếm 8,82%, 19 đồng chí là Bí thư, Phó Bí thư tỉnh uỷ chiếm 11,87%. Kết quả về công tác cán bộ nêu trên là một thắng lợi rất to lớn về chính sách dân tộc của Đảng ta. B. NHỮNG TỒN TẠI CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Bên cạnh những thắng lợi nêu trên, cũng còn những tồn tại như sau: 1. Dân số tăng nhanh, rừng bị suy giảm, đất đai ngày càng bị bạc màu dẫn đến sản xuất ở một số nơi tăng chậm. Do đó tuy đã có sự tiến bộ như trên nhưng bình quân về lương thực và thu nhập vẫn còn rất thấp, đời sống chậm được cải thiện, đặc biệt có nơi chưa có gì thay đổi so với trước. Ví dụ như Cao Bằng, bình quân lương thực đầu người năm 1997 là 291,7kg, năm 1998 là 274kg hoặc Yên Bái nếu năm 1997 là 253,4kg thì năm 1998 là 240,2kg. Các tỉnh Tây Nguyên cũng có tình trạng giảm như vậy. – Sự chênh lệch giữa các dân tộc và các vùng còn khoảng cách lớn. Ví dụ: Theo kết quả giám sát của Hội đồng Dân tộc đầu năm 1999 cho thấy: Tính theo vùng: Tỷ lệ đói nghèo của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc hiện nay là 18,98% trong khi tỷ lệ đó ở khu vực đồng bằng sông Hồng chỉ còn 7,22%, tức là khoảng cách giữa hai vùng đã chênh lệch với nhau hơn 2,6 lần. Hoặc như tỉnh Đăk Lăk, năm 1998, mức thu nhập bình quân đầu người tại khu vực I (theo phân khu vực miền núi của Uỷ ban dân tộc) là 5.410.000đ trong khi thu nhập bình quân tại khu vực III chỉ được 1.430.000đ/người. Chênh nhau tới 3,78 lần Tính theo dân tộc Theo tài liệu điều tra phân loại giầu, nghèo ở một số điểm cho những chỉ số như sau: Tỉnh Dân tộc Điểm khảo sát Mức độ giầu nghèo Khá và giàu Trung bình Nghèo Lai Châu Kinh Si La Xã khu vực I Xã khu vực III 44,4% 0 51,21% 6,25% 4,5% 93,75% Hà Giang Dao Mông Xã khu vực I Xã khu vực III 14,1% 0 46,9% 39,20% 39,0% 51,66% Ninh Thuận Chăm Raglai Xã khu vực I Xã khu vực III 4,53% 1,4 khá 39,35% 20,70% 56,12% 77,90% ĐăkLắk Ê đê MNông Xã khu vực I Xã khu vực III 52,53% 7,30% khá 32,32% 25,60% 15,15% 67,10% Hưng yên Kinh Xã trung bình 53%,11% 32,39% 14,50% – Thực hiện cơ chế thị trường, đối với miền núi và vùng cao nảy sinh khó khăn mới như không có thị trường hoặc không cạnh tranh nổi trong điều kiện giao thông còn nhiều khó khăn, nhiều nơi làm ra sản phẩm, nhưng lại không có người mua. Do đó khoảng cách có nguy cơ chênh lệch xa hơn nữa. Chẳng hạn lấy thu nhập làm chuẩn, thu nhập chung của cả nước bình quân hơn 200 USD đầu người/năm thì miền núi và vùng dân tộc thiểu số như Hà Giang là 80 USD (1995), đến năm 2000 phấn đấu thu nhập gấp đôi, số này sẽ là 400 và 160 như vậy về tỷ lệ thì như nhau nhưng khoảng cách 160/400 lại rộng hơn so với 80/200. 2. Bộ phận đồng bào còn sống du canh, du cư là bộ phận dân cư nghèo khổ nhất, còn hơn 1 triệu người và xu hướng du cư lại tiếp tục tăng lên. Mấy năm gần đây rộ lên làn sóng chuyển cư từ phía Bắc vào phía Nam, không theo kế hoạch chúng ta gọi là di cư tự do đã gây không ít khó khăn cho địa phương nơi dân đi cũng như địa phương nơi dân đến. Tài nguyên rừng tiếp tục bị tàn phá, mấy năm qua rừng tự nhiên bị suy giảm về diện tích là 143.714 ha, bình quân mỗi năm thiệt hại hơn 23.952ha, nhiều địa phương cho rằng số rừng bị phá chắc chắn còn cao hơn số này tới 4 lần. Số rừng trồng mới không bù được số rừng bị tàn phá. Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích được che phủ bình quân cả nước chỉ còn 28,2%, có nơi còn thấp như Cao Bằng 12%… 3. Chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục, văn hoá, bảo vệ sức khoẻ của đồng bào dân tộc còn rất thấp so với yêu cầu và so với đồng bằng. – Phát triển giáo dục phổ thông ở vùng cao còn rất khó khăn. Học sinh lớn tuổi bỏ học nhiều, lớp 3 và lớp 4 rất ít hoc sinh; tỷ lệ mù chữ cao, có dân tộc, có vùng mù chữ và không biết tiếng phổ thông đến 80-90%. – Mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào ở vùng sâu vùng xa còn rất thấp, một số tệ nạn xã hội như nghiện hút, cúng bái, mê tín, theo “Vàng chứ” còn tồn tại và có nơi tăng lên. – Cơ sở y tế xã còn yếu, có nơi không có người làm việc hoặc có cán bộ y tế nhưng không có thuốc. Bệnh sốt rét vẫn còn là mối đe doạ đến tính mạng của đồng bào, bệnh bướu cổ còn phổ biến ở nhiều vùng. Số bệnh nhân phong và lao còn lớn, nhất là ở vùng Tây Nguyên, đặc biệt có xóm, làng 40% người mắc bệnh này. Đại bộ phận vùng dân tộc thiểu số thiếu nước sạch, đặc biệt một số vùng thiếu cả nguồn nước vì đã không còn nguồn sinh thuỷ là rừng như Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Lục Khu, Hà Quảng (Cao Bằng)… 4. Việc đào tạo bồi dưỡng sử dụng cán bộ dân tộc và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ công tác ở vùng dân tộc còn nhiều hạn chế và thiếu sót. – Trừ một số tỉnh có đội ngũ cán bộ dân tộc tương đối đồng đều về cơ cấu lãnh đạo, chuyên môn và quản lý kinh tế – xã hội, còn nói chung nhiều tỉnh miền núi mới chỉ có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc, cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý phần lớn là từ nơi khác đến. – Giáo viên và cán bộ y tế phần lớn là ở xuôi lên, ví dụ như huyện Tủa Chùa trên 80% dân số là người Mông nhưng mới có 4 giáo viên là người Mông trong tổng số hơn 300 giáo viên của huyện. – Một số địa phương do cơ cấu dân số thay đổi nên việc sử dụng cán bộ dân tộc đã không được chú ý như trước, dẫn đến sự băn khoăn của đồng bào đó là điều thực tế đã diễn ra ở một số nơi. – Tỷ lệ cán bộ được đào tạo có trình độ đại học và trên đại học không những đã quá thấp mà sự chênh lệch còn quá lớn như Tày là 1,8%, Nùng 0,7%, Thái 0,3%, Mường 0,7%, Dao 0,1%, Mông 0,06%… (so với dân số). Việc thực hiện một số chính sách còn bị lệch lạc và tiêu cực như cử tuyển, dân tộc nội trú và thi cử, nếu những tiêu cực không được khắc phục thì tác dụng sẽ ngược lại với mục đích tốt đẹp của những chủ trương chính sách đó. 5. Do những tồn tại trên, nên mặc cảm giữa các dân tộc chưa được xoá bỏ triệt để, từng nơi, từng lúc việc đoàn kết dân tộc lại phát sinh vấn đề mới, nếu không xử lý tốt dễ làm phức tạp vấn đề. Cơ cấu dân số ở miền núi đã và sẽ còn thay đổi như ở Tây Nguyên trước năm 1975, cư dân dân tộc thiểu số là chủ yếu thì ngay nay đã trở thành số ít, từ đó phản ánh vào sự cấu tạo trong bộ máy nhà nước như có nhiều địa phương đại biểu HĐND trước đây hầu hết là người dân tộc thiểu số, nay chỉ còn một vài người; cơ cấu cán bộ chủ chốt ở xã, huyện cũng có thay đổi tương tự, một vài nơi chưa nhận thức được vấn đề cốt lõi của chính sách dân tộc là tuy cơ cấu dân số có thay đổi nhưng vị trí của vấn đề dân tộc không hề thay đổi. Đó là những vấn đề lớn, cần có sự quan tâm thích đáng trong chính sách dân tộc vì nó không chỉ có ý nghĩa quốc gia mà nó còn có ý nghĩa quốc tế. 6. Hiện nay, miền núi và vùng dân tộc thiểu số, nổi lên một số vấn đề đáng chú ý là: – Tình hình di biến động dân cư tương đối lớn, hàng chục vạn người thuộc nhiều dân tộc di cư từ vùng cao xuống vùng thấp, từ phía Đông sang phía Tây, từ phía Bắc vào phía Nam. Dòng di cư này vẫn còn đang tiếp diễn. Việc di dân có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là vùng cao thiếu đất sản xuất và đất đai đã bạc màu, đời sống khó khăn, cần phải đi đến chỗ có điều kiện sinh sống tốt hơn. – Tranh chấp ruộng đất, mua bán ruộng đất xảy ra phổ biến ở các địa phương, phần lớn giải quyết về đất đai ở vùng này là theo luật tục chứ không theo luật pháp. Số đồng bào du canh, du cư không có đất đai ổn định để sản xuất, đồng bào Khơme Nam Bộ có đến 6% số hộ không có đất sản xuất (gọi là trắng tay) do nghèo đói đã cầm cố, sang nhượng hết. – Một vài năm gần đây tà đạo đã phát triển vào một số dân tộc như “Vàng Chứ” phát sinh ở một số vùng của đồng bào Mông và một số dân tộc khác, nếu không ngăn chặn sẽ có thể phá vỡ sự bền vững của văn hoá Mông. – Một số tệ nạn xã hội như, nghiện hút, uống nhiều rượu, cờ bạc… vẫn còn tồn tại và một số nơi có chiều hướng tăng lên. Diện tích trồng thuốc phiện tuy đã bị đẩy lùi đáng kể, từ 20.000 ha xuống còn khoảng 200 ha (1998), nhưng vấn đề này không đơn giản, nếu chủ quan sẽ rất có thể phát triển trở lại rất nhanh. IV. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1. Quan điểm: – Quán triệt chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc; phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là phát triển kinh tế để nâng mức sống của các dân tộc, có sự phát triển ngang nhau là vấn đề có ý nghĩa quyết định cho việc thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước, bảo đảm cho đất nước ổn định và phát triển. – Phát triển kinh tế – xã hội miền núi luôn gắn chặt với vấn đề dân tộc coi đây là một bộ phận hữu cơ trong chiến lược phát triển của nền kinh tế quốc dân. – Phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng dân tộc thiểu số là trách nhiệm chung của cả nước, trước hết là bản thân đảng bộ, chính quyền, nhân dân miền núi và dân tộc thiểu số phải vươn lên tự lực, tự cường, chống tư tưởng tự ty, ỷ lại. – Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế – văn hoá – xã hội và an ninh quốc phòng, gắn tăng trưởng kinh tế với việc giải quyết những nhu cầu bức xúc về mặt xã hội ở miền núi và vùng dân tộc. 2. Mục tiêu: a. Mục tiêu chiến lược (mục tiêu lâu dài): Về mục tiêu chiến lược cần phải quán triệt và bám sát theo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội do Đại hội lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra là: – “Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”(1) trong đó cốt lõi của vấn đề là phấn đấu cho sự bình đẳng thực sự giữa các dân tộc. Muốn vậy cần phát huy nội lực của mỗi dân tộc, nhà nước tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. – Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của mỗi dân tộc trên cơ sở ngày càng hoà nhập, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. b. Mục tiêu cụ thể (trước mắt) – Ổn định và phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện một bước đời sống nhân dân các dân tộc. Xoá được nạn đói, giảm số hộ nghèo xuống dưới mức 30%. Giảm bớt khoảng cách chênh lệch nghèo đói giữa các vùng và các dân tộc. Thu hẹp khoảng cách về thu nhập bình quân giữa các dân tộc và các vùng và sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế – văn hoá nói chung. – Về bảo vệ sức khoẻ, thực hiện được 100% số xã có trạm y tế, có đủ cán bộ và đủ thuốc chữa bệnh. Khống chế bệnh sốt rét không để xảy ra dịch, chống bướu cổ, loại bỏ tình trạng thiếu i ốt vào năm 2000. Tất cả các bệnh nhân phong được phát hiện và chữa trị. Cơ bản có đủ nước uống và nước sạch cho nhân dân. – Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, nâng cao thêm một bước trình độ văn hoá và đời sống tinh thần, bảo tồn và phát triển văn hoá, văn nghệ tốt đep, thanh toán nạn mù chữ, đưa thông tin bằng sóng phát thanh và truyền hình đến hầu hết các vùng của đất nước, góp phần vào nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc. – Cơ bản hoàn thành công tác định canh định cư. – Xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh, đáp ứng cơ bản nhu cầu cán bộ dân tộc, trước hết là đối với cấp cơ sở và huyện. – Trên cơ sở đó, củng cố và tăng thêm lòng tin của các

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Số 18, Hội Nghị Trung Ương 6 Khóa Xii Nhằm Giải Quyết Tốt Việc Đổi Mới Chính Trị Đồng Bộ Với Đổi Mới Kinh Tế
  • Những Giải Pháp Cơ Bản Nhằm Thực Hiện Hiệu Quả Tinh Giản Biên Chế Trong Các Cơ Quan Công Quyền Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 18
  • Hiệu Quả Từ Thực Hiện Nghị Quyết Số 18 Và 19 Về Tinh Gọn Bộ Máy Ở Đồng Nai
  • Sơ Kết 4 Năm Thực Hiện Chỉ Thị 05 Và Kỷ Niệm 130 Năm Ngày Sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Lạng Sơn: Nỗ Lực, Cố Gắng Trong Công Tác Dân Tộc Và Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Các Giải Pháp Đồng Bộ Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xi
  • Nghiên Cứu Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Quản Trị Doanh Nghiệp Xây Dựng Đáp Ứng Yêu Cầu Hội Nhập Quốc Tế
  • Các Biện Pháp Chữa Bệnh Béo Phì Hiệu Quả
  • Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Của Bệnh Béo Phì
  • Thực Trạng Thừa Cân, Béo Phì Và Hiệu Quả Của Một Số Giải Pháp Can Thiệp Ở Học Sinh Tiểu Học Tại Thành Phố Bắc Ninh
  • Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc; có 10 huyện, 01 thành phố loại II (có 03 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP); có 200 xã, phường, thị trấn (trong đó có 31 xã, phường, thị trấn khu vực I; 57 xã khu vực II; 112 xã khu vực III), 1.850 thôn, bản, tổ dân phố. Có 114 xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu, xã biên giới và 83 thôn đặc biệt khó khăn của 24 xã khu vực II thuộc diện đầu tư Chương trình 135. Dân số toàn tỉnh là 789.600 người; tổng số người dân tộc thiểu số (DTTS) là 655.896 người, chiếm 83,8% dân số toàn tỉnh. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 7,89%, trong đó số hộ nghèo DTTS là 20.137/21.336 hộ nghèo toàn tỉnh, chiếm 94,38%. Có 07 dân tộc chủ yếu là: Nùng 42,8%; Tày 35,4%; Kinh 16,11%; Dao 3,5%; Sán Chay 0,6%; Hoa 0,3%; Mông 0,17%; các dân tộc khác chiếm 0,12%. Với đặc điểm, tình hình như trên, trong năm 2022, tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong công tác dân tộc (CTDT) và thực hiện chính sách dân tộc (CSDT).

    1. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo

    Để triển khai thực hiện có hiệu quả CTDT trên địa bàn tỉnh, ngay từ đầu năm UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa các chủ trương, định hướng, quy định của Trung ương, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về CTDT, các CSDT thành các chương trình, kế hoạch cụ thể; chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch COVID-19, vừa phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, trong đó đặc biệt quan tâm thực hiện chính sách hỗ trợ đồng bào bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19; thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý nhà nước về CTDT cấp tỉnh, góp phần tinh giản bộ máy, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ CTDT trên địa bàn.

    Tiếp tục tập trung chỉ đạo tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; kiểm soát, ngăn chặn bệnh dịch tả lợn Châu Phi, dịch bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các chương trình, dự án theo các CSDT. Lãnh đạo tỉnh thường xuyên kiểm tra, làm việc với các cơ quan, đơn vị, UBND các huyện, thành phố để nắm bắt tình hình, kịp thời chỉ đạo xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Ngay từ đầu năm, lãnh đạo UBND tỉnh đã tổ chức kiểm tra tình hình triển khai kế hoạch phát triển KT – XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 tại các huyện, thành phố, trong đó có CTDT và việc thực hiện các CSDT.

    Chỉ đạo tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TU ngày 25/4/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện chiến lược CTDT đến năm 2022; Kết luận số 1364-KL/TU, ngày 07/7/2020 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 29-CT/TU, ngày 25/4/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy gắn với việc thực hiện Kết luận 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về CTDT.Chỉ đạo các sở, ban, ngành, UBND các huyện thực hiện rà soát, đề xuất báo cáo khả thi thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển KT – XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2022 – 2030.

    2. Việc thực hiện công tác dân tộc trên một số lĩnh vực

    Công tác giáo dục và đào tạo được quan tâm, cơ sở vật chất trường, lớp học đầu tư bổ sung, hoàn thiện; hệ thống mạng lưới trường, lớp tiếp tục được rà soát, sắp xếp lại theo hướng hợp lý và hiệu quả hơn. Thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ trên địa bàn tỉnh. Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và triển khai biên soạn tài liệu địa phương cho các cấp học phổ thông. Công tác tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2022 được triển khai nghiêm túc. Tiếp tục quan tâm hệ thống trường chuyên biệt trên địa bàn tỉnh. Phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) với 98 trường PTDTBT (gồm 957 lớp với 16.780 học sinh, tăng 1.280 học sinh so với năm học 2022 – 2022); 11 trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) (gồm 117 lớp với3.504 học sinh). 11/11 trường PTDTNT đạt trường chuẩn quốc gia, chất lượng giáo dục của các trường PTDTNT luôn cao hơn mặt bằng chung của tỉnh.

    Công tác khám chữa bệnh được triển khai thực hiện tốt, bảo đảm chăm sóc sức khoẻ Nhân dân; thực hiện tốt công tác phòng, chống các loại dịch bệnh trên địa bàn tỉnh, không có tử vong do mắc bệnh truyền nhiễm, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Công tác phòng, chống dịch COVID-19 được quan tâm chỉ đạo quyết liệt, thực hiện quyết liệt các biện pháp kiểm soát trên tuyến biên giới, cách ly y tế, giãn cách xã hội trong nội địa. Đã cấp 391.258 thẻ bảo hiểm y tế cho người DTTS sinh sống ở vùng có điều kiện KT – XH khó khăn. Đang triển khai đến cơ sở việc thực hiện bộ tiêu chí quốc gia y tế xã năm 2022. Tổng số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã là 161/200 trạm.

    Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được quan tâm, toàn tỉnh có 105/200 xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa, đạt 52,5%; có 1.817/1.850 thôn, tổ dân phố có nhà văn hóa, đạt  98,22%; có 161/200 xã, phường, thị trấn có sân tập thể thao, đạt 80,5%. Số gia đình văn hóa có 168.239/195.833 hộ, đạt 86%; 1.677/1.850 số thôn, bản, khối phố văn hóa, đạt 90%. Đang xây dựng Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Múa sư tử dân tộc Tày, Nùng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022 – 2030; Đề án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hệ thống di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn 2035.

    Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Đã đào tạo nghề cho 8.710 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 55%, tăng 2,5% so với năm 2022. Tổ chức 54 phiên giao dịch việc làm; giải quyết việc làm mới được 15.000 lao động, đạt 100% kế hoạch. Trong dịp tết Nguyên đán Canh Tý đã hỗ trợ cho 3.663 hộ, 12.638 nhân khẩu với tổng số 189,6 tấn gạo. Ngoài ra , thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 với tinh thần khẩn trương, đầy đủ, nghiêm túc; đã chi trả cho được 198.878 người, tổng kinh phí 163,89 tỷ đồng, đạt trên 99%. Việc chi trả kinh phí cơ bản kịp thời, đúng đối tượng.Các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế hộ nghèo, cận nghèo được mở rộng; việc nhân rộng các mô hình giảm nghèo từng bước được phát huy, đời sống của đồng bào các DTTS được cải thiện, góp phần tích cực giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 7,89%.

    Công tác phổ biến giáo dục pháp luật được tổ chức thực hiện thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Công tác trợ giúp pháp lý được thực hiện thông qua các hoạt động chủ yếu như truyền thông về trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng kiến nghị. Tổng số người DTTS được trợ giúp pháp lý là 309 người cư trú ở xã, thôn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, tăng 22% so với năm 2022. Tổ chức truyền thông về trợ giúp pháp lý 31 cuộc tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn với 926 lượt người tham dự.

    Các đại biểu tham dự Hội nghị tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật

    tại xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc (Ảnh:  Hứa Duyên – Ban Dân tộc tỉnh).

    Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đạt được nhiều kết quả tích cực; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tiếp tục được củng cố, duy trì và phát triển; tình hình an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS được giữ vững. Tăng cường công tác chỉ đạo, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý những thiếu sót, sơ hở, không để nảy sinh phức tạp; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu kích động đồng bào DTTS. Phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào DTTS để vận động, giải thích cho cộng đồng hiểu rõ chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, qua đó yên tâm lao động sản xuất, ổn định cuộc sống, không tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp. Công tác đấu tranh phòng ngừa, trấn áp các loại tội phạm được tiến hành thường xuyên, quyết liệt, không để hình thành tội phạm có tổ chức, do đó tội phạm về hình sự, tệ nạn xã hội tiếp tục được kiềm chế, tỷ lệ điều tra phá án duy trì ở mức cao, không nảy sinh tụ điểm phức tạp về hình sự, ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại và tệ nạn xã hội trong vùng đồng bào DTTS.

    3. Việc thực hiện các chính sách dân tộc

    Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn xây dựng nông thôn mới tiếp tục được tập trung thực hiện; kết quả sản xuất nông lâm nghiệp cơ bản đạt kế hoạch. Cơ cấu cây trồng có sự chuyển dịch đúng hướng, tăng diện tích các cây trồng có giá trị kinh tế và đáp ứng nhu cầu thị trường. Tổng sản lượng lương thực 305,6 nghìn tấn, đạt 101,9% kế hoạch. Đàn trâu, bò, gia cầm cơ bản ổn định; dịch tả lợn Châu Phi cơ bản đã được kiểm soát nhưng việc tái đàn lợn còn chậm. Trồng rừng mới ước khoảng 9.953,7 ha, đạt 110,6% kế hoạch, tương đương cùng kỳ; tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 63%. Đã đánh giá, phân hạng được 12 sản phẩm OCOP, trong đó: 04 sản phẩm 04 sao, 08 sản phẩm 03 sao. Đẩy mạnh triển khai thực hiện chính sách đặc thù khuyến khích đầu tư, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Chủ động triển khai các phương án phòng, chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai.

    Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022 – 2022luôn được các cấp, các ngành của tỉnh coi trọng và tập trung thực hiện nhằm mục tiêu giảm số hộ nghèo, hạn chế tái nghèo, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống người dân, tạo điều kiện cho hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là ở các địa bàn khó khăn.Trong thời gian qua, tỉnh đã triển khai đồng bộ các giải pháp giúp tạo sinh kế cho hộ nghèo vươn lên. Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của tỉnh được triển khai một cách đồng bộ, trong đó tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất gắn, xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung nâng cao giá trị gia tăng cho người dân. Huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư các chương trình, dự án để lồng ghép thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa; sắp xếp, ổn định dân cư; hỗ trợ trồng rừng sản xuất; hỗ trợ, tập huấn kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi; hỗ trợ hộ nghèo tín dụng ưu đãi… Với những giải pháp, chính sách cụ thể của tỉnh được triển khai đã tạo đà để các hộ nghèo vươn lên có cuộc sống ổn định hơn, nhiều hộ thoát nghèo.

    Hỗ trợ người dân bảo quản ngô hạt sau khi thu hoạch ở xã Mẫu Sơn,

    huyện Lộc Bình (Ảnh: Ngọc Hiếu – Báo Lạng Sơn)

    Ông Lâm Văn Viên – Phó Trưởng Ban dân tộc tỉnh cho biết: Năm 2022, CTDT và thực hiện CSDT tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, cùng với sự cố gắng nỗ lực vươn lên của đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã góp phần quan trọng vào thành tích chung về phát triển KT – XH, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. CTDT được thực hiện đồng bộ, kịp thời, việc giao chỉ tiêu kế hoạch được thực hiện sớm. Thực hiện các CSDT đạt nhiều kết quả tích cực, đảm bảo tiến độ, đúng mục đích, đúng đối tượng, dân chủ rộng rãi và thu hút được nhiều lực lượng xã hội tham gia. Công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát được tăng cường từ tỉnh đến cơ sở, qua đó phát hiện, chấn chỉnh những thiếu sót, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các CSDT.

    Bên cạnh những kết quả đạt được như trên,CTDT và thực hiện các CSDT trong năm qua còn có hạn chế, khó khăn, vướng mắc sau: Nhìn chung kinh tế vùng đồng bào DTTS phát triển chưa bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao. Kết cấu hạ tầng KT – XH chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, nhất là vùng đặc biệt khó khăn. Đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận đồng bào DTTS còn gặp nhiều khó khăn, một số bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc có nguy cơ dần bị mai một. Chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề còn hạn chế. Công tác chăm sóc sức khỏe đồng bào còn gặp khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo ở đồng bào DTTS còn chiếm tỷ lệ cao (94,38%), kết quả giảm nghèo chưa bền vững. Thực hiện một số CSDT còn chậm; nguồn lực đầu tư phát triển còn hạn chế, việc huy động nguồn lực từ cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn… Việc nhân rộng mô hình sản xuất mới gắn với tiêu thụ sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến việc sản phẩm làm ra có thị trường tiêu thụ hẹp, chưa ổn định. Công tác tuyên truyền về các CSDT có mặt còn hạn chế, chưa sâu rộng, hiệu quả chưa cao. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; tình trạng xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới diễn biến phức tạp.

                                                                           Nguyễn Văn Hiệp

                                                              Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Nhóm Nhiệm Vụ Chủ Yếu, 5 Nhóm Giải Pháp Cơ Bản Cho Năm Học 2022
  • Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Một Số Giải Pháp Ngăn Chặn Sự Suy Thoái Về Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống Của Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Bảo Vệ Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng Trong Tình Hình Mới
  • 9 Nhóm Nhiệm Vụ Chủ Yếu, 5 Giải Pháp Cơ Bản Năm Học 2022
  • Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc, Công Tác Dân Tộc Ở Quảng Ninh: Đột Phá Từ Cách Làm Sáng Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Chính Sách Dân Tộc, Định Hướng Xây Dựng Chính Sách Giai Đoạn 2022
  • Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Ở Hà Nam
  • Cần Đẩy Mạnh Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở
  • Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Năm Học 2022
  • Kết Quả Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Cơ Sở Năm 2022
  • Từ Nghị quyết 07, UBND tỉnh đã thể chế hóa chiến lược công tác dân tộc bằng các cơ chế, chính sách cụ thể để chỉ đạo thực hiện, xây dựng kế hoạch, trình HĐND tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách phát triển đối với vùng DTTS&MN và trong đồng bào DTTS trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, dân số, phát triển nhân lực DTTS, công tác giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, trong đó chú trọng địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn (ĐBKK).

    Điển hình là UBND tỉnh xây dựng đề án, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 50/2016/NQ-HĐND ngày 27/12/2016 về bố trí nguồn lực đưa các xã, thôn ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành Chương trình 135 giai đoạn 2022 – 2022. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 196/QĐ-UBND ngày 17/1/2017 (Đề án 196) phê duyệt nhiệm vụ và giải pháp đưa các xã, thôn ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành Chương trình 135 giai đoạn 2022 – 2022 trên địa bàn tỉnh. Đề án 196 khẳng định sự sáng tạo và cách làm riêng của Quảng Ninh trong thực hiện Chương trình 135, tạo cơ chế, nguồn lực cụ thể để thúc đẩy phát triển KT-XH, thực hiện mục tiêu giảm nghèo vùng ĐBKK.

    Đột phá công tác giảm nghèo

    Nghị quyết 07 có một cơ chế, hằng năm tỉnh dành 30% nguồn kinh phí từ Chương trình xây dựng Nông thôn mới, để đầu tư cho vùng ĐBKK.

    Từ nguồn lực này, cộng với sự vào cuộc điều hành chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị, vùng ĐBKK của Quảng Ninh thay đổi bứt phá rõ rệt về kết cấu hạ tầng, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS không ngừng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo vùng DTTS&MN, vùng ĐBKK giảm nhanh. Sau 3 năm (2016 – 2022), thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, đến hết năm 2022: Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giảm xuống còn 1,2% (4.248 hộ); tỷ lệ hộ cận nghèo giảm xuống còn 2,42% (8.532 hộ).

    Sau 5 năm (2014 – 2022), thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH, kết cấu hạ tầng KT-XH, đặc biệt là kết cấu hạ tầng vùng DTTS&MN bằng các nguồn lực đầu tư từ Chương trình 135, nông thôn mới và các nguồn lực khác cũng đã tạo chuyển biến rõ rệt…

    Hoàn thành Chương trình 135 trước 1 năm

    Quảng Ninh đã dành cơ chế, nguồn lực ưu tiên đặc biệt, riêng có của tỉnh để thực hiện một số chính sách dân tộc trên địa bàn, nhất là thông qua thực hiện Chương trình 135, Đề án 196, Chương trình xây dựng Nông thôn mới.

    Từ đó, kinh tế vùng DTTS&MN có sự chuyển biến tích cực; sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được duy trì và phát huy hiệu quả, chú trọng đầu tư phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá, bước đầu đáp ứng nhu cầu thị trường và có giá trị kinh tế cao. Công tác giao đất, giao rừng; Đề án hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cũng được thực hiện tốt, tạo điều kiện cho người dân các xã ĐBKK, đồng bào DTTS có quỹ đất để phát triển sản xuất. Nhiều mô hình phát triển sản xuất có hiệu quả được nhân rộng và thực hiện có hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống người dân vùng DTTS&MN.

    Công tác quy hoạch, đào tạo, quản lý, bố trí sử dụng cán bộ người DTTS được chú trọng; đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào DTTS được cải thiện; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng DTTS&MN được đảm bảo, chủ quyền an ninh biên giới được bảo vệ vững chắc.

    Tỷ lệ hộ nghèo năm 2022 tại các xã vùng DTTS&MN giảm 6,0% so với năm 2022. Thu nhập bình quân đầu người vùng DTTS&MN năm 2022 tăng 2 lần so với năm 2014. Có 18 xã vùng khó khăn đạt chuẩn nông thôn mới.

    Quảng Ninh phấn đấu hết năm 2022, cả 17/17 xã khu vực III (xã ĐBKK) của tỉnh đủ điều kiện ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành Chương trình 135 về sớm trước lộ trình 1 năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Vấn Đề Dân Tộc Và Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc Ở Nước Ta
  • Nghị Quyết Số 18, Hội Nghị Trung Ương 6 Khóa Xii Nhằm Giải Quyết Tốt Việc Đổi Mới Chính Trị Đồng Bộ Với Đổi Mới Kinh Tế
  • Những Giải Pháp Cơ Bản Nhằm Thực Hiện Hiệu Quả Tinh Giản Biên Chế Trong Các Cơ Quan Công Quyền Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 18
  • Hiệu Quả Từ Thực Hiện Nghị Quyết Số 18 Và 19 Về Tinh Gọn Bộ Máy Ở Đồng Nai
  • Phát Huy Dân Chủ Là Giải Pháp Để Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Tốt Quy Chế Dân Chủ Cơ Sở
  • Kết Quả Xây Dựng Và Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Năm 2022, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Thực Hiện Năm 2022
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Hà Nội: Thực Hiện Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • 8 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng phát biểu kết luận cuộc làm việc.

    Đó là đề nghị của đồng chí Ngô Thị Thanh Hằng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở thành phố Hà Nội khi dẫn đầu Đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo làm việc với lãnh đạo Huyện ủy Chương Mỹ và Đảng ủy xã Lam Điền vào ngày 21/5.

    Đồng chí Ngô Thị Thanh Hằng ghi nhận, biểu dương những kết quả đã đạt được của xã Lam Điền trong việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, qua đó góp phần quan trọng vào việc xây dựng nông thôn mới, giữ vững bình yên trên địa bàn, tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ xã, cũng là đại hội điểm của huyện Chương Mỹ. Lồng ghép được việc xây dựng và thực hiện quy chế với các phong trào thi đua, cuộc vận động và triển khai có hiệu quả các mô hình phát triển kinh tế tại địa phương.

    Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở thành phố Hà Nội đánh giá cao việc vận động các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, phát huy hiệu quả vai trò của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, nỗ lực hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giúp người dân yên tâm làm ăn, phát triển kinh tế, qua đó giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao…

    Tuy nhiên, đồng chí Ngô Thị Thanh Hằng chỉ rõ một số hạn chế còn tồn tại và đề nghị xã Lam Điền tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy trong xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tiếp tục triển khai có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Thành ủy trong lĩnh vực này, coi đây là nhiệm vụ, giải pháp, đồng thời huy động sự vào cuộc của nhân dân để tạo sự đồng thuận.

    Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Ngô Thị Thanh Hằng lưu ý huyện Chương Mỹ, xã Lam Điền tiếp tục gắn việc thực hiện Quy chế dân chủ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đặc biệt là sớm đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã vào cuộc sống và tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng…

    Đồng thời cần thường xuyên rà soát lại các quy chế, quy ước, hương ước trên tinh thần ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện và phù hợp với thực tiễn địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra Quy chế dân chủ trong các loại hình, thông qua đó xây dựng các giải pháp khắc phục những yếu kém, gắn việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với việc thực hiện thắng lợi mục tiêu kép: Vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương vừa phòng chống dịch COVID-19 hiệu quả trong điều kiện bình thường mới. Trước mắt, huyện và xã cần tập trung giám sát việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đối với những người bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 và có chính sách hỗ trợ, khuyến khích sản xuất nông nghiệp.

    Đặc biệt huyện, xã tiếp tục tăng cường đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân để kịp thời nắm bắt những kiến nghị, đề xuất, giải quyết tốt những vấn đề bức xúc từ cơ sở, không để phát sinh điểm nóng. Đặc biệt, trong dịp này, từng thôn, xã cần có những công trình, phần việc cụ thể, thiết thực để chào mừng Đại hội Đảng bộ huyện, tiến tới Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2022-2025, Đại hội XIII của Đảng.

    Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng trao quà cho các gia đình chính sách xã Lam Điền.

    Nhân dịp này, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng đã trao 20 suất quà cho 20 gia đình chính sách, hộ nghèo trên địa bàn xã Lam Điền, mỗi suất trị giá 1,5 triệu đồng.

    Trước đó, báo cáo với đoàn kiểm tra, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Lam Điền Nguyễn Thị Phòng cho biết: Lam Điền là xã thuần nông với 2.820 hộ dân, 12.013 nhân khẩu, phân bố tại 5 thôn và 1 xóm. Đảng bộ xã có 10 chi bộ với 295 đảng viên. Năm 2022, xã đã hoàn thành 19 chỉ tiêu và được UBND thành phố Hà Nội công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Năm 2022 và 5 tháng đầu năm 2022, việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại xã Lam Điền được triển khai gắn với thực hiện các đề án của Thành ủy về sắp xếp lại hệ thống chính trị tại địa bàn dân cư và sắp xếp bố trí kiêm nhiệm các chức danh người hoạt động không chuyên trách ở xã, thị trấn và thôn, tổ dân phố. Việc thực hiện Quy chế dân chủ đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm triển khai thực hiện; được đảng viên, nhân dân đồng tình nhất trí, đánh giá đây là một chủ trương lớn, đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và tình hình địa phương.

    Ở cấp xã đã bố trí 10 người người đảm nhiệm 18 chức danh theo quy định. Ở cấp thôn đã bố trí 7 người đảm nhiệm 13 chức danh. Xã cũng kiện toàn, sắp xếp đồng bộ hệ thống chính trị ở 5 thôn, mỗi thôn có 1 chi bộ (bí thư chi bộ kiêm trưởng ban công tác mặt trận) lãnh đạo 1 ban công tác mặt trận và chi hội đoàn thể. Sau sắp xếp, kiện toàn, Đảng ủy xã đã chỉ đạo các tổ chức xây dựng quy chế hoạt động, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm từng tập thể, cá nhân, tránh chồng chéo.

    Quy chế dân chủ cũng được triển khai phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng thiết thực của nhân dân, tạo sự tin tưởng, phấn khởi trong nhân dân. Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Lề lối làm việc và tác phong công tác của cán bộ có chuyển biến tích cực theo hướng gần dân, sát dân, có trách nhiệm với dân, theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”…

    * Trước khi vào buổi làm việc, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng đã cùng Đoàn kiểm tra tới thăm mô hình nuôi thỏ phục vụ nghiên cứu, sản xuất vắc xin của hộ gia đình chị Lâm Thị Hương và mô hình nuôi bò thịt xuất khẩu sang Nhật của hộ gia đình anh Đặng Đình Hậu tại xã Lam Điền./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Cơ Sở Năm 2022
  • Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Năm Học 2022
  • Cần Đẩy Mạnh Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở
  • Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Ở Hà Nam
  • Thực Trạng Chính Sách Dân Tộc, Định Hướng Xây Dựng Chính Sách Giai Đoạn 2022
  • Thực Hiện Chính Sách Giáo Dục Đối Với Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Ở Tây Nguyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Thảo Toàn Quốc Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Hội Thảo Toàn Quốc Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Phát Triển Toàn Diện
  • Kế Hoạch Tổ Chức Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc Năm 2022
  • Một Số Định Hướng Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số Miền Núi
  • Quy Trình Chỉ Tiết Thực Hiện Gói Thầu Mua Sắm Trực Tiếp
  • Tóm tắt: Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đầu tư nguồn lực lớn để phát triển kinh tế – xã hội gắn với chính sách dân tộc ở Tây Nguyên. Xác định “giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu”, nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục, đào tạo cho Tây Nguyên được Đảng, Nhà nước ta ban hành, tạo tiền đề, động lực cho sự phát triển bền vững của khu vực. Tuy nhiên, chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói riêng vẫn đang đối diện với nhiều thách thức, cần phải được tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.

    Từ khóa: chính sách giáo dục, giáo dục dân tộc, học sinh dân tộc thiểu số, Tây Nguyên

    Abstract: The Communist Party and State have used huge resources for socio-economic developments in association with the ethnic policy in the Central Highlands. It is defined “education and training as the top national policy”, and a series of specific guidelines and policies on ethnic minority education have been released to support and encourage the sustainable developments of Central Highlands. However, the ethnic education policy is still facing many challenges, still cannot solve all the local difficulties and it needs to be further reviewed and improved in coming time.

    Key words: Education policy; ethnic education; pupils of ethnic minorities; Central Highlands

    1. Chính sách phát triển giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

    Hệ thống chính sách về phát triển giáo dục, đào tạo của Nhà nước được ban hành và thực hiện đối với học sinh dân tộc thiểu số(DTTS) ở Tây Nguyên gồm 2 nhóm: chính sách quốc gia có phạm vi, hiệu lực trên toàn quốc (trong đó có các đối tượng điều chỉnh hoạt động trên địa bàn Tây Nguyên) và chính sách đặc thù được ban hành và có hiệu lực riêng đối với Tây Nguyên.

    Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành những chính sách về phát triển giáo dục, đào tạo dành riêng cho Tây Nguyên. Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 18/01/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001- 2010”; Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 01/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề các tỉnh Tây Nguyên và các huyện miền núi của các tỉnh giáp Tây Nguyên giai đoạn 2011 – 2022; Quyết định số 276/QĐ-TTg ngày 18/2/2014 của Thủ tướng về Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 12-KL/TW ngày 24/10/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-LK/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020; Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 09/6/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện các chính sách được quy định tại Quyết định số 1951/QĐ-TTg đến hết ngày 31/12/2020. Đó là những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước đối với giáo dục và đào tạo vùng Tây Nguyên.

    Bên cạnh các chính sách của trung ương, chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên còn ban hành các chính sách hỗ trợ riêng của mình (với nguồn tài chính từ ngân sách tỉnh). Điển hình là Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Kon Tum trong việc thực hiện Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg hỗ trợ tiền ăn cho học sinh trong các trường dân tộc bán trú; Quyết định số 143/QĐ-UB ngày 26/01/2010 của UBND tỉnh Đăk Nông về chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên người DTTS tỉnh Đăk Nông; Nghị quyết số 31/2016/NQ-HĐND ngày 06/9/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên DTTS thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Đăk Nông từ năm học 2022-2017 đến năm học 2022-2021; tỉnh Đăk Lăk triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ cho học sinh ở các trường phổ thông DTNT, bán trú, học sinh học tiếng Êđê, giáo viên dạy tiếng Êđê, thực hiện chính sách hỗ trợ sách giáo khoa cho học sinh nghèo …

    2. Kết quả thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên 2.1 Những kết quả đạt được

    Những chính sách trên đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục dân tộc ở Tây Nguyên nói riêng, thực hiện công bằng trong giáo dục, nâng cao mặt bằng dân trí, là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững Tây Nguyên.

    Nhìn chung, các chính sách phát triển giáo dục dân tộc đã được các địa phương tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, kịp thời; vì vậy thời gian qua mặc dù còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng sự nghiệp giáo dục Tây Nguyên đã thu được nhiều kết quả quan trọng.

    Trong vùng DTTS, nhận thức về giáo dục ngày càng chuyển biến rõ nét. Với phương châm có dân sinh là có trường lớp, đến nay phần lớn các thôn, buôn, làng, các xã ở các tỉnh Tây Nguyên đều có nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trung học cơ sở thu hút ngày càng đông các cháu trong độ tuổi đến trường. Phần lớn các trường học ở vùng đồng bào DTTS tại chỗ đều được xây dựng kiên cố, bán kiên cố, không còn tranh tre nứa lá, không còn tình trạng học 3 ca, mà số trường tiểu học tổ chức học 2 buổi/ngày ngày càng tăng lên. Riêng về hệ thống các trường phổ thông DTNT những năm gần đây được đặc biệt quan tâm. Hiện nay tất cả các huyện có từ 10.000 người DTTS trở lên đều có trường phổ thông DTNT. Năm học 2022 – 2022, Tây Nguyên có 59 trường phổ thông DTNT (tăng 15 trường so với năm học 2011 – 2012), trong đó 06 trường cấp tỉnh và 53 trường cấp huyện. Tổng số học sinh phổ thông DTNT Tây Nguyên năm học 2022 – 2022 là 14.454 học sinh (trong đó cấp tỉnh là 3.249 học sinh và cấp huyện là 11.205 học sinh). Tỷ lệ học sinh học trường phổ thông DTNT so với học sinh DTTS cấp trung học của vùng là 7,23% (tăng 0,57% so với năm học 2010 – 2011). Hệ thống trường phổ thông DTBT đã và đang làm thay đổi tích cực chất lượng giáo dục ở Tây Nguyên hiện nay. Sự phát triển ổn định về quy mô, số lượng và nâng cao chất lượng đã góp phần huy động tối đa học sinh trong độ tuổi tới trường, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; góp phần quan trọng vào việc cũng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS ở Tây Nguyên.

    Giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học cũng được phát triển mạnh. Đến nay, Tây Nguyên có 05 trường đại học, 04 phân hiệu/cơ sở của các trường đại học và 9 trường cao đẳng. Với quy mô sinh viên chính quy tại các trường trên địa bàn của vùng năm học 2022-2017 là 31.386 sinh viên, chiếm 1,77 tổng số sinh viên cả nước (trong đó sinh viên đại học là 19.980 và cao đẳng là 11.406), tỷ lệ sinh viên người DTTS đạt từ 18% -20% trở lên trong tổng số sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trong vùng. Tỷ lệ đi học mẫu giáo của các em DTTS thấp dẫn đến việc các cháu chưa được chuẩn bị tốt về kỹ năng nói tiếng Việt trước khi vào lớp 1, khiến các cháu gặp rất nhiều khó khăn khi đi học, làm hạn chế khả năng tiếp thu kiến thức và học tập hòa nhập, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ bỏ học cao và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng học tập của những năm học tiếp theo.

    Nguồn lực đầu tư cho giáo dục dân tộc nội trú chưa đáp ứng yêu cầu. Đa số các trường phổ thông DTNT cấp huyện được đầu tư xây dựng từ những năm 80, 90 của thế kỷ trước, nên hầu hết các hạng mục công trình đã xuống cấp trầm trọng; nhiều hạng mục phục vụ cho hoạt động giáo dục và nuôi dưỡng học sinh chưa được đầu tư như: phòng học bộ môn, thư viện, nhà tập đa năng, phòng y tế, công trình vệ sinh, nước sạch… Vì vậy, nhu cầu xây mới, bổ sung, nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất trường phổ thông DTNT của các tỉnh Tây Nguyên rất lớn, trong khi nguồn vốn chủ yếu bố trí từ Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục đào tạo hàng năm rất hạn hẹp. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng dạy học và các hoạt động giáo dục của nhà trường.

    Việc thực hiện một số chính sách đặc thù về giáo dục, đào tạo ở vùng đồng bào DTTS chưa tốt. Đặc biệt là các chính sách như: cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ mặc dù rất thiết thực nhưng triển khai kém, chất lượng đào tạo và sử dụng chưa cao … hầu hết các địa phương vùng DTTS tỷ lệ hộ nghèo cao, điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nên mặc dù đã được ưu tiên, nhưng do nguồn lực ngân sách có hạn nên chưa đáp ứng được nhu cầu kinh phí đầu tư thực hiện các mục tiêu giáo dục và đào tạo; vẫn còn thiếu cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển giáo dục dân tộc Tây Nguyên.

    Triển khai và nâng cao các hoạt động tuyên truyền, vận động đổi mới trong toàn xã hội về vai trò của giáo dục dân tộc đối với công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao tri thức, nâng cao chất lượng cuộc sống trong vùng đồng bào dân tộc, thúc đẩy sự phát triển bền vững Tây Nguyên. Theo đó, phát triển bền vững phải trên cơ sở nền giáo dục – đào tạo toàn diện, tiên tiến luôn luôn được đổi mới. Cần tăng cường phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí của trung ương và địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với phát triển giáo dục dân tộc để có được sự thống nhất từ nhận thức đến hành động của lãnh đạo các cấp và người dân quan tâm, nâng cao ý thức học tập, thúc đẩy sự phát triển giáo dục dân tộc.

    Tập trung đầu tư nguồn lực sớm kiên cố hóa, chuẩn hóa cơ sở vật chất trường lớp ở tất cả các cấp học đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Các địa phương trong vùng cần rà soát lại mạng lưới các cơ sở giáo dục. Trước mắt cần ưu tiên đầu tư xây dựng trường học mới cho các xã chưa có trường mầm non, khắc phục tình trạng trường học xuống cấp, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất các điểm trường lẻ để tăng quy mô huy động trẻ đến lớp, cần phát triển hệ thống trường lớp mầm non đến tận cụm điểm dân cư để tăng tỷ lệ các cháu được đi học mẫu giáo trước khi được vào học lớp 1; ưu tiên nguồn vốn để từng bước hoàn thiện mạng lưới các trường học phổ thông, bảo đảm đáp ứng nhu cầu đi học của học sinh trong độ tuổi. Quy hoạch giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học phải đảm bảo tính liên thông, gắn chặt với các chỉ số phân luồng giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh DTTS và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, nhà giáo phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Nâng dần đội ngũ, cán bộ, giáo viên là người DTTS ở các cấp quản lý giáo dục và trong các cơ sở giáo dục; làm tốt công tác cử tuyển; gắn đào tạo với sử dụng, đảm bảo đúng số lượng, cơ cấu, ngành nghề, trình độ, chức danh theo địa chỉ, đảm bảo yêu cầu công tác, xây dựng đội ngũ giáo viên là người DTTS đạt chuẩn. Ở cấp học mầm non, tiểu học có số lượng lớn học sinh DTTS theo học nên bố trí giáo viên đứng lớp là người DTTS, điều này là cần thiết và hợp lý khi nhiều học sinh dân tộc vào lớp Một còn chưa nói thạo hoặc thậm chí chưa biết nói tiếng Việt. Bố trí một phần kinh phí phù hợp từ nguồn ngân sách chi cho đào tạo, bồi dưỡng của địa phương để ưu tiên bồi dưỡng tiếng DTTS cho giáo viên bậc học mầm non và tiểu học công tác tại các vùng đồng bào DTTS. Thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách cho giáo viên và cán bộ quản lý, đặc biệt phải ưu tiên tối đa cho các nhà giáo đang công tác tại vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.

    Tập trung nghiên cứu cải tiến phương pháp, nội dung, chương trình học và các bộ sách giáo khoa phù hợp với học sinh DTTS. Cả chương trình học cũng như nội dung kiến thức trong sách giáo khoa cần được điều chỉnh theo hướng phù hợp với khả năng của học sinh DTTS, nhất là cấp tiểu học, tạo điều kiện cho các em được tiếp cận ngay với tiếng Việt từ cấp học mầm non và tiểu học nhằm nâng khả năng tiếp thu của các em, góp phần giải quyết tình trạng học sinh bỏ học và không nắm được kiến thức cơ bản. Từng bước đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học, tăng cường các hoạt động xã hội, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh DTTS.

    Trong thời gian tới, các tỉnh Tây Nguyên đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng chính sách về dân tộc, miền núi nói chung, Tây Nguyên nói riêng mang tính tập trung, có nhiều nội dung, giải quyết nhiều mục tiêu với nguồn lực đủ mạnh cho từng vùng. Nhất là ưu tiên giải quyết đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt, đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động; thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng DTTS quản lý để phát triển trồng, chăm sóc, bảo vệ và khai thác rừng hiệu quả; hỗ trợ phát triển sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, kết nối thị trường tiêu thụ; hỗ trợ đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới hồ chứa, công trình thủy lợi, hỗ trợ khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất… để góp phần nâng cao chất lượng đời sống đồng bào DTTS Tây Nguyên./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Quy Hoạch Xây Dựng Đà Nẵng Quyết Tâm Thực Hiện Tốt “5 Xây, 3 Chống”
  • Nâng Cao Đạo Đức Công Vụ Theo Tinh Thần
  • Đà Nẵng: Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Phải Thực Hiện
  • Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện 5 Xây 3 Chống
  • Tạp Chí Dân Vận Số 6/2015
  • Thực Hiện Chính Sách Đối Với Dân Tộc Thiểu Số Trên Địa Bàn Tỉnh: Những Khó Khăn, Bất Cập

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Cho Vấn Đề “Khát” Nhân Sự Chất Lượng Cao Tại Các Doanh Nghiệp Vùng Trọng Điểm Kinh Tế Phía Nam
  • Nhân Sự Ngành Dược: Thiếu Hụt Và Những Giải Pháp Cải Thiện
  • Quy Trình Hoạch Định Nguồn Nhân Lực
  • Các Bước Hoạch Định Nguồn Nhân Lực – Ced
  • Giải Pháp Phát Huy Nguồn Nhân Lực Dân Tộc Thiểu Số Nhằm Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Tại Vùng Tây Bắc Hiện Nay
  •  

    Qua giám sát chuyên đề của HĐND tỉnh cho thấy: Tính đến hết năm 2022, tổng dân số là người dân tộc thiểu số toàn tỉnh chiếm 81,6%, tỷ lệ hộ nghèo còn 46,28% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều. Giai đoạn từ năm 2014 – 2022, tổng nguồn vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và thực hiện các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn toàn tỉnh là 5.698 tỷ 583,06 triệu đồng; đã thực hiện các chương trình tín dụng chính sách là 2.686 tỷ 579 triệu đồng; 1.464.905 lượt thẻ BHYT được cấp cho người dân tộc thiểu số; đến hết năm 2022 có 18 xã đạt chuẩn nông thôn mới (trong đó có 05/29 xã biên giới), 04 xã cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 62,86% mục tiêu giai đoạn 2022 – 2022. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc thiểu số rất ít người ngày càng được nâng lên. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện vẫn còn bộc lộ những bất cập, hạn chế, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế và có những giải pháp chỉ đạo triển khai thực hiện đạt mục tiêu của các chính sách đề ra, đó là:

    Thứ nhát, Về việc ban hành chính sách: Trong 5 năm qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, HĐND, UBND tỉnh, các Sở, ngành đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội đối với vùng dân tộc thiểu và miền núi. Tuy nhiên, chính sách vẫn chưa thực sự đồng bộ, thiếu kết nối, có chính sách còn mang tính ngắn hạn, thiếu tính chiến lược, chưa có tính dự báo dài hạn và liên tục; có nội dung manh mún, vừa thừa, vừa thiếu, chồng chéo, trùng lặp về địa bàn và đối tượng thụ hưởng như: Trên cùng địa bàn, cùng đối tượng nhưng mức hỗ trợ một số chính sách khác nhau gây khó khăn trong thực hiện và đánh giá hiệu quả. Các chính sách thường hỗ trợ, cho không, mang tính giải quyết tình thế, chưa tập trung đầu tư phát triển để khai thác các thế mạnh vùng, chưa có chính sách khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo bền vững. Chưa có cơ chế đặc thù để phát huy nội lực người dân, người nghèo trong quá trình hội nhập; nguồn lực bố trí cho các chính sách dân tộc chưa thể hiện rõ được tính ưu tiên theo đúng mục tiêu đề ra, phải kéo dài thời gian thực hiện; việc phân công, phân cấp thẩm quyền về quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực phụ trách và địa bàn để thực hiện các chương trình, dự án khác nhau…. Đáng chú ý là có chính sách vừa ban hành đã hết thời hạn thực hiện, như quyết định số 33/2015/QĐ-TTg, ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015; có dự án chậm được bố trí vốn như Quyết định số 1672/QĐ-TTg ngày 26/9/2011, Quyết định số 1573/QĐ-TTg ngày 9/8/2016, Quyết định số 2085/QĐ-TTg, quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 nên không đảm bảo kế hoạch và mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện của một số Bộ, ngành trung ương còn chậm so với quy định và yêu cầu triển khai thực hiện. 

    Thứ hai, về tổ chức triển khai thực hiện: Công tác phối hợp giữa một số cơ quan, đơn vị trong tuyên truyền, hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện chính sách đôi khi chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Một số cấp ủy đảng, chính quyền cấp huyện, xã chưa chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc tuyên truyền và triển khai thực hiện các chính sách. Việc kiểm tra, theo dõi, nắm tình hình cơ sở có việc chưa sâu sát, chậm tham mưu đề xuất giải quyết những vấn đề vướng mắc, phát sinh, dẫn đến có sai phạm trong quản lý và triển khai thực hiện chính sách. Năng lực chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện của một số chủ đầu tư nhất là cấp xã còn hạn chế; việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách hằng năm còn chậm, trong công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới chưa có những giải pháp hữu hiệu; việc đầu tư, hỗ trợ có nơi chưa phù hợp, chưa gắn với nhu cầu của người dân. Hầu hết các huyện khi triển khai thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất chưa có kế hoạch gắn với thị trường bao tiêu sản phẩm. Một số sản phẩm chủ lực chưa xây dựng được chỉ dẫn địa lý, thị trường tiêu thụ hẹp; một số mô hình đạt hiệu quả nhưng chưa được duy trì và nhân rộng. Công tác điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm còn hạn chế, dẫn đến số liệu điều tra của một số đơn vị, địa phương chưa chính xác. Tiến độ giải ngân và thực hiện một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng chậm so với kế hoạch, đặc biệt là các dự án khởi công mới; nhiều hạng mục công trình đã được phê duyệt nhưng không triển khai kịp thời; chậm quyết toán các dự án đã hoàn thành. Chất lượng, hiệu quả một số hạng mục công trình còn thấp. Ban Chỉ đạo thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia các cấp đã được thành lập, nhưng hiệu quả hoạt động một số nơi chưa cao; chưa kịp thời sơ kết, tổng kết đánh giá việc thực hiện các chương trình, dự án, chính sách tại địa phương. Đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội (nhất là nhu cầu của Doanh nghiệp, khu công nghiệp ngoài tỉnh), chủ yếu tập huấn, bồi dưỡng kiến thức canh tác, sản xuất; đa số người học nghề là nông dân, khi học xong chưa đủ điều kiện để chuyển đổi sang ngành nghề khác. Kết quả giải quyết việc làm mới sau đào tạo tại các doanh nghiệp trong và ngoại tỉnh chưa cao; giải quyết việc làm mới thông qua xuất khẩu lao động đạt thấp. Chưa có giải pháp hữu hiệu quản lý xuất cảnh tự phát, bất hợp pháp sang Trung Quốc và các nước lân cận. Một số chương trình tín dụng triển khai chậm như: vay trồng rừng theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP, vốn vay theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg. Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.

     

    Vừ Thị Liên – Trưởng ban Dân tộc HĐND tỉnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đăng Ký Hộ Tịch Của Ủy Ban Nhân Dân Các Xã, Phường Trên Địa Bàn Thành Phố Kon Tum
  • Trao Giải Cuộc Thi ‘tìm Kiếm Sáng Kiến, Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Tỉnh Nghệ An Năm 2022’
  • Các Cơ Quan, Địa Phương Đẩy Mạnh Triển Khai Các Sáng Kiến, Giải Pháp Mới Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Cải Cách Hành Chính
  • Peepokid Gold – Giải Pháp Hoàn Hảo Cho Bé Biếng Ăn
  • Bé Lười Bú Phải Làm Sao? Đâu Là “Thủ Phạm”?
  • Bảo Đảm Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Quốc Hội Về Quyết Định Chính Sách Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Cấu Đại Biểu Và Vấn Đề Thực Hiện Các Chức Năng Của Quốc Hội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đại Biểu Quốc Hội, Đoàn Đại Biểu Quốc Hội
  • Thường Vụ Quốc Hội Không Đồng Ý Tách Vụ Dân Nguyện
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Dân Nguyện
  • Luật 57/2014/qh13 Tổ Chức Quốc Hội
  • Bảo đảm vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội về quyết định chính sách dân tộc

    Quang cảnh hội thảo

    Tham dự hội thảo có ông Đỗ Văn Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (UBDT); các đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc: Nguyễn Lâm Thành, Cao Thị Xuân; cùng một số lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương và các nhà khoa học.

    Theo quan điểm của Đảng ta, vấn đề dân tộc là vấn đề mang tính chiến lược, lâu dài của cách mạng Việt Nam và nhất quán nguyên tắc cơ bản xuyên suốt về chính sách dân tộc là: Xây dựng quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giữa các dân tộc. Hiến pháp năm 2013, tại Khoản 5, Điều 70 quy định “Quốc hội quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cụ thể hóa các chính sách dân tộc (CSDT) thành các nội dung quy định trong các đạo luật, pháp lệnh, nghị quyết; ban hành theo thẩm quyền. Trên cơ sở đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cụ thể hóa bằng các nghị định, nghị quyết, quyết định và văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, ngành, địa phương để triển khai thực hiện CSDT của Nhà nước.

    Thực tiễn trong các giai đoạn vừa qua, việc thể chế hóa đã được quan tâm nhưng chưa đầy đủ, nhất là việc cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng vào trong các luật, các chương trình, chính sách cụ thể cho vùng dân tộc và đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), cũng như cơ chế phối hợp, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực công tác dân tộc.

    Đảng ta luôn nhất quán chủ trương đẩy nhanh phát triển về mọi mặt đối với vùng DTTS và miền núi, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách phát triển so với mặt bằng chung của cả nước. Nhiệm vụ này càng trở lên cấp thiết hơn trong bối cảnh quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp 2013 cũng đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện và sâu sắc hơn nữa về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; các chính sách ưu tiên phát triển vùng DTTS; bảo đảm quyền con người và các quyền cơ bản của công dân, trong đó có đồng bào DTTS.

    Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ Văn Chiến phát biểu tại hội thảo

    Phát biểu ý kiến trao đổi tại hội thảo, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh: Việc xây dựng và triển khai Đề án là việc làm rất thiết thực để thực hiện theo Khoản 5, Điều 70, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội quyết định chính sách dân tộc”. Đề án sẽ là căn cứ pháp lý rất quan trọng, góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn về CSDT. Đề nghị cần làm rõ và sâu sắc thêm khái niệm CSDT, từ đó mới làm rõ được các nội dung Quốc hội cần triển khai về CSDT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Quyền Và Trách Nhiệm Của Công Đoàn Việt Nam
  • Chức Năng Của Tổ Chức Công Đoàn
  • Dư Thi Cong Đoan Congdoanhuyen Doc
  • Bài Thi Tìm Hiểu Công Đoàn 85 Năm Xây Dựng Và Phát Triển
  • Hình Thức Và Các Văn Bản Chức Năng. Các Chức Năng Chính Của Tài Liệu. Tài Liệu Chức Năng Pháp Lý
  • Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Và Thực Hiện Các Chính Sách Đối Với Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Trên Địa Bàn Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Vệ Sinh Trường Học – Giải Pháp Nào Tối Ưu Nhất?
  • Thiết Bị Phòng Họp Trực Tuyến Bao Gồm Những Gì? Bảng Giá
  • Phòng Họp Trực Tuyến Bao Gồm Những Thiết Bị Gì? Chi Phí Đầu Tư Phòng Họp Trực Tuyến
  • Tổng Hợp Các Giải Pháp, Phương Pháp Học Trực Tuyến Hiệu Quả
  • 7 Biện Pháp Hành Động Để Ngăn Chặn Vi Khuẩn Kháng Thuốc
  • Giảm nghèo bền vững ở vùng dân tộc thiểu số là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, các dân tộc, nhóm dân cư. Đây là những nội dung quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, bởi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vấn đề đói nghèo của quốc gia nói chung, đói nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra. Vì vậy, công tác giảm nghèo bền vững đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta là mục tiêu quan trọng trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới.

    Mô hình nuôi bò sinh sản của đồng bào dân tộc Rơ Măm, làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy

    Sau 29 năm được tái thành lập tỉnh và hòa chung với công cuộc đổi mới đất nước, với nhiều chương trình, dự án như: Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Nông thôn mới, Chương trình Mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững, trong đó có Chương trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ, … Đặc biệt, là thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về Công tác dân tộc đã đạt được những thành quả hết sức quan trọng  trên tất cả các lĩnh vực chính trị , kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh như: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 23,03% (28.990 hộ) năm 2022 xuống 13,62% (18.858 hộ) cuối năm 2022; trong đó tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm từ 41,39% (26.908 hộ) năm 2022 xuống còn 24,93% (17.649 hộ) cuối năm 2022. Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm từ 6,64% (8.359 hộ) năm 2022 xuống còn 6,36% (8.809 hộ) cuối năm 2022; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 32,16 triệu đồng năm 2022 lên 41,28 triệu đồng năm 2022. Kết quả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh trên địa bàn huyện, xã, thôn thuộc Chương trình phù hợp quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất, đảm bảo phục vụ có hiệu quả đời sống và phát triển sản xuất của người dân: Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đảm bảo tiêu chuẩn và cấp kỹ thuật theo quy định của Bộ Giao thông vận tải 86,3%. Tỷ lệ thôn, làng có đường trục giao thông được cứng hóa đảm bảo tiêu chuẩn và cấp kỹ thuật theo quy định của Bộ Giao thông vận tải đạt 48,7%. Tỷ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế đạt 61%; Tỷ lệ trạm y tế cấp xã có đủ điều kiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đạt 95,1%. Có 85,3% hộ gia đình được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; có 100% hộ dân thuộc địa bàn huyện nghèo, xã nghèo được tiếp cận, cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, kinh nghiệm sản xuất, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước thông qua các báo chí, các xuất bản phẩm và các sản phẩm truyền thông khác. Toàn tỉnh hiện có 27 xã được công nhận xã nông thôn mới, 04 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, 50 xã đạt từ 10-14 tiêu chí, 04 xã đạt từ 8 đến 9 tiêu chí (không có xã đạt chuẩn dưới 8 tiêu chí). 

    Phát triển Sâm Ngọc Linh dưới tán rừng tại xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông

    Tuy nhiên, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tuy đã được cải thiện song vẫn còn nhiều khó khăn. Hiện nay ở vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh vẫn là nơi khó khăn nhất, kinh tế- xã hội chậm phát triển nhất, đặc biệt là cơ sở hạ tầng kinh tế, tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng so với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế; chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa,tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất; nguồn nhân lực ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số so với mặt bằng chung của tỉnh vẫn còn ở mức thấp; thu nhập bình quân đầu người của đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp,  tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao hơn, chất lượng giảm nghèo chưa thật sự bền vững, hộ nghèo dần dần chỉ còn là hộ người dân tộc thiểu số … Bên cạnh đó, người dân tộc thiểu số chủ yếu lao động giản đơn trong sản xuất nông nghiệp, nên trực tiếp hay bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và diễn biến dịch bệnh xảy ra ngày càng phức tạp; vị trí địa lý đặc thù tạo ra thuận lợi, song cũng đặt ra những khó khăn giữa phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh; việc phát triển kinh tế khó khăn ở vùng  dân tộc thiểu số dễ bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động, gây mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc. Bởi vậy, việc thực hiện chính sách giảm nghèo vùng dân tộc của tỉnh gặp nhiều khó khăn, thách thức.

    Trong thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế thế giới và khu vực phục hồi đà tăng trưởng nhưng tốc độ còn chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kinh tế từng bước thoát khỏi tình trạng suy giảm, lấy lại đà tăng trưởng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Tỉnh Kon Tum nằm ở ngã ba Đông Dương, là trung tâm của vùng Tam giác phát triển; có lợi thế về kinh tế cửa khẩu; có tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên, cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc… nên có điều kiện cho phát triển kinh tế rừng, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, công nghiệp chế biến, thương mạidịch vụ và du lịch. Nhiều công trình, dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn được đầu tư, triển khai thực hiện, nhất là nhiều tuyến đường nối với các tỉnh duyên hải miền Trung và vùng Tam giác phát triển sẽ được đầu tư nâng cấp.

            Tình hình thế giới, khu vực, trong nước tạo ra cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều yêu cầu mới, phức tạp hơn đối với việc ổn định và phát triển của tỉnh và việc thực hiện các chủ trương, chính sách về giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh trong tình hình mới đòi hỏi phải có sự đổi mới mang tính đột phá, quyết liệt, hiệu quả. Để góp phần thực hiện tốt những vấn đề có tính nguyên tắc của chính sách dân tộc: Bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển. Một số giải pháp để thực hiện có hiệu quả giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, đó là:

    Một là, tiếp tục triển khai thực hiện các chính sách dân tộc đang còn hiệu lực thi hành như: Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững; Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc thiểu số  rất ít người giai đoạn 2022 – 2025 và các chính sách khác đang còn hiệu lực; đồng thời, đặc biệt quan tâm tới việc giải quyết các khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số rất ít người; bảo đảm mức sống của các dân tộc này tương đương với các dân tộc khác trong vùng theo mục tiêu Đề án đề ra đến năm 2025 .

    Hai là, chủ động phối hợp cùng với các sở, ngành, địa phương tham mưu Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai có hiệu quả Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2022-2030 theo nguyên tắc: “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”. Đổi mới tư duy tổ chức thực hiện triển khai chính sách dân tộc theo hướng phân cấp cho huyện, xã trực tiếp quản lý nguồn lực, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các dự án cụ thể; tăng vay giảm “cho không”, chuyển hướng đầu tư phát triển- tăng cho vay tín dụng ưu đãi, hỗ trợ có điều kiện, đầu tư cơ sở hạ tầng cho cộng đồng để phát triển kinh tế hộ gia đình; gắn giảm nghèo với các chính sách về dân số, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, giáo dục, y tế…  tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với nguồn lực, trực tiếp tham gia, giám sát , công khai, dân chủ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường và quyền làm chủ của đồng bào dân tộc thiểu số; khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại; chủ động tích cực vượt khó đi lên…; tổ chức phát động, triển khai cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số, làm cho đồng bào dân tộc thiểu số từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững”.

    Ba là, tập trung giải quyết  những vấn đề bức thiết về đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, như: tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; thực hiện các giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế như: Hỗ trợ trồng rừng, bảo vệ rừng; hỗ trợ phát triển sản xuất, xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi chủ lực để sản xuất hàng hóa tập trung, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao; kết nối tiêu thụ hàng hóa giữa vùng dân tộc thiểu số với thị trường trong nước và quốc tế để đồng bào ổn định cuộc sống; đồng thời, chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

    Bốn là, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, lãnh đạo các cấp, các ngành và đồng bào dân tộc thiểu số về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đổi mới hơn nữa nội dung thông tin, tuyên truyền, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, để đồng bào hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và tin tưởng thực hiện chính sách giảm nghèo; nhân rộng mô hình điển hình tiên tiến, đồng thời khơi dậy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo bền vững, làm giàu chính đáng. Phát huy vai trò tích cực của già làng, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng.

    Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các Chương trình Mục tiêu Quốc gia ở các cấp. Huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để cùng theo dõi, giám sát quá trình triển khai thực hiện để đảm bảo thực hiện thắng lợi các mục tiêu của các Chương trình đề ra.

    Thanh Phước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Phòng, Chống Hạn, Mặn Cho Cây Trồng Và Vật Nuôi Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • Giải Pháp Toàn Diện Xây Dựng, Bảo Vệ Vững Chắc Chủ Quyền An Ninh Biên Giới Quốc Gia
  • Tăng Cường Quản Lý, Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ, An Ninh Biên Giới Quốc Gia
  • Chung Tay Bảo Vệ Chủ Quyền Biên Giới Quốc Gia
  • Giữ Vững Chủ Quyền Biên Giới Quốc Gia
  • Thực Hiện Tốt Chính Sách Tôn Giáo Góp Phần Tăng Cường Sức Mạnh Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỷ Niệm 58 Năm Ngày Truyền Thống Ngành Qlnn Về Tôn Giáo (2
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Chính Sách Tôn Giáo Trên Địa Bàn Xã Tieu Luan Cnxh Kh Doc
  • Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Tuyên Truyền Luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo
  • Thực Hiện Chính Sách, Pháp Luật Về Tín Ngưỡng, Tôn Giáo Tại Tỉnh An Giang
  • Giải Pháp Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chính Sách, Pháp Luật Đối Với Người Có Công
  • Tôn giáo và dân tộc có mối quan hệ khăng khít. Trong lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định tôn giáo và công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược, có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

    Hiện nay, Việt Nam có 14 tôn giáo và 38 tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân, với hơn 25 triệu tín đồ (chiếm hơn 25% dân số); có 83.000 chức sắc, 250.000 chức việc tôn giáo; gần 25.000 cơ sở thờ tự của các tôn giáo ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Với chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, đông đảo chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc; đồng bào tôn giáo và không theo tôn giáo đoàn kết, tích cực tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự,… góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

    Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp các đại biểu của 17 tổ chức tôn giáo Việt Nam, nhân kỷ niệm 71 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. (Ảnh: TTXVN)

    Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hết sức chăm lo đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Tại Đại hội XII của Đảng, một lần nữa, vấn đề này được khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật” 1. Để thực hiện tốt chính sách tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp; trước hết, cần tập trung làm tốt những nội dung cơ bản sau:

    Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, nhất là đối với cấp uỷ, đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp về vai trò, nhiệm vụ công tác tôn giáo trong tình hình mới. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, nhằm giúp đồng bào các tôn giáo thực hiện tốt phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, “Nước vinh, đạo sáng”, “Sống phúc âm, phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc”, gắn bó với dân tộc, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Do vậy, trong thực hiện, các cấp cần phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý nhà nước của chính quyền; không ngừng phát huy vai trò vận động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể quần chúng trong việc động viên đồng bào có đạo tham gia thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước, đoàn kết, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Để đạt hiệu quả, các ngành, các cấp cần coi trọng việc tổ chức cho cán bộ, nhân dân nói chung, đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng học tập các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích, giác ngộ cho tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo hiểu được trách nhiệm của mình đối với dân tộc và đất nước, góp phần tăng cường sự đồng thuận giữa đồng bào tôn giáo và không theo tôn giáo cũng như giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau. Qua đó, để đồng bào nắm và thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước ta. Đây chính là cơ sở để nhân dân nhận rõ những hành vi lợi dụng tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Hai là, tập trung phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào tôn giáo. Giải pháp này vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, có ý nghĩa sâu sắc trong việc ổn định, đoàn kết đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng bào vùng sâu, vùng xa, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội kém phát triển nên đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp. Đây thực sự là mảnh đất thuận lợi để kẻ xấu lợi dụng truyền đạo trái phép, gieo rắc tà đạo, xây dựng cơ sở để chống phá cách mạng, chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Như vậy, chỉ có cải thiện, ổn định và nâng cao dần đời sống chính trị – tư tưởng cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng có đông tín đồ tôn giáo thì mới đưa được đường lối của Đảng, chính sách của Chính phủ đến với đồng bào, để đồng bào hiểu rõ bản chất, âm mưu thâm độc của kẻ thù. Do vậy, các ngành, các cấp cần rà soát, kịp thời bổ sung những chính sách đầu tư sát hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo; tổ chức thực hiện đồng bộ, chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, đảm bảo các loại vốn đầu tư thực sự có hiệu quả, tạo điều kiện để đồng bào phấn đấu vươn lên thoát nghèo một cách bền vững, hòa nhập với tiến trình đi lên của đất nước. Hiện nay, cần tập trung mọi nguồn lực để thực hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2022 – 2022 của Chính phủ. Trong thực hiện, cần phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội cùng các tổ chức xã hội tích cực vận động đồng bào các tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia phát triển kinh tế – xã hội, nhất là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Đồng thời, các đoàn thể tích cực phát triển đoàn viên, hội viên, tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt cho phong trào quần chúng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân ở địa phương. Qua đó, góp phần cùng nhân dân cả nước khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

    Bốn là, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật. Điều này thể hiện sự kế thừa và tầm nhìn mới của Đảng đối với các tổ chức tôn giáo hợp pháp. Tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt chính là tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển lành mạnh, tiền đề để chúng ta đoàn kết được họ vào trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là cách giải quyết rất khoa học, nhạy bén trong giai đoạn hiện nay, vừa đảm bảo tôn trọng tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa kiểm soát được sự phát triển lành mạnh theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, vừa đoàn kết được đồng bào tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người có tôn giáo bao giờ cũng có “bổn phận kép”: bổn phận với giáo hội và bổn phận với Nhà nước. Do đó, chúng ta phải kết hợp hài hòa “bổn phận kép” đó thì mới thuyết phục được đồng bào tôn giáo tích cực tham gia các hoạt động xã hội, cùng cộng đồng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chức sắc, chức việc tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với giáo dân; uy tín, tiếng nói của họ thường được đồng bào tôn giáo tin theo. Vì vậy, cùng với công tác vận động, cảm hóa, Đảng và Nhà nước ta cần có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cả về vật chất lẫn tinh thần với họ và có kế hoạch tạo nguồn phát triển lâu dài đội ngũ cốt cán tín đồ, chức sắc tôn giáo, nhất là ở những địa bàn trọng điểm. Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, pháp quy về tôn giáo.

    Năm là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và những hoạt động tôn giáo trái quy định của pháp luật. Điều này thể hiện thái độ kiên quyết, không khoan nhượng của Đảng và Nhà nước ta đối với những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại cách mạng Việt Nam. Bởi, chỉ có như vậy mới đảm bảo được quyền tự do chân chính của đồng bào có đạo hoạt động tôn giáo tự do, bình đẳng, đúng pháp luật; có bảo đảm quyền ấy mới làm cho đồng bào có đạo tự giác chống lại những thế lực lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện mưu đồ xấu. Đây là việc rất cấp thiết trong tình hình hiện nay, khi mà các tôn giáo và các hiện tượng tôn giáo mới phát triển rầm rộ, khó kiểm soát. Các địa phương cần phát hiện sớm và chủ động đấu tranh với những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trái pháp luật, đạo đức, thuần phong mỹ tục,…; đồng thời, hướng họ đi vào hoạt động lành mạnh, không vi phạm pháp luật. Để đạt hiệu quả, cấp ủy và chính quyền các cấp cần thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Đồng thời, làm tốt công tác vận động quần chúng, tranh thủ đội ngũ già làng, chức sắc, chức việc, đội ngũ cốt cán vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào theo đạo. Kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại về dân tộc, tôn giáo, giúp cho cộng đồng thế giới hiểu rõ chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và thực tế tình hình đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Làm tốt công tác này sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội và huy động sự đóng góp của đồng bào các tôn giáo trong củng cố, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Là một bộ phận quan trọng trong cộng đồng dân tộc, đồng bào các tôn giáo luôn gắn bó, đoàn kết, đồng hành với đồng bào cả nước, phấn đấu vì lợi ích chung của dân tộc, của cách mạng. Mong muốn của đại bộ phận tín đồ tôn giáo là xóa bỏ áp bức, bất công, xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Điều mong muốn của đồng bào có đạo cũng là mục tiêu, lý tưởng của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Vì thế, chúng ta cần nhận thức đúng và thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước để không ngừng tăng cường, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

    1 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2022, tr.165.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Thực Hiện Chương Trình Rèn Luyện Đoàn Viên Trong Tổng Công Ty Đsvn Giai Đoạn 2022
  • Hướng Dẫn Thực Hiện Chương Trình Rèn Luyện Đoàn Viên Trong Thời Kỳ Mới
  • Thực Hiện Chương Trình Rèn Luyện Đoàn Viên Giai Đoạn 2022
  • Hướng Dẫn Thực Hiện Chương Trình Rèn Luyện Đoàn Viên Giai Đoạn 2022
  • Hướng Dẫn Thực Hiện Chương Trình Rèn Luyện Đoàn Viên
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100