Top 9 # Nhiệm Vụ Giải Pháp Về Công Tác Cán Bộ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Giải Pháp Về Công Tác Cán Bộ

Những người làm công tác tổ chức là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của Đảng, có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền các cấp về công tác tổ chức, cán bộ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này là tiền đề nâng cao chất lượng hoạt động của cả hệ thống chính trị. Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chủ động hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, đáp ứng tốt những yêu cầu mới đặt ra. Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khoá VIII, nêu: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”(1) và một trong những nguyên nhân của những yếu kém, khuyết điểm là: “Cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ chậm đổi mới, chưa chú trọng nghiên cứu khoa học; trình độ lý luận và tổng kết thực tiễn, tham mưu đề xuất những vấn đề chiến lược về cán bộ còn hạn chế. Một số cán bộ làm công tác tổ chức chưa gương mẫu về đạo đức, phẩm chất, thiếu khách quan, yếu về năng lực”(2). Văn kiện Hội nghị Trung ương 9, khoá X, nhấn mạnh: “Nhìn chung, việc đổi mới công tác cán bộ chưa toàn diện và còn chậm so với đổi mới kinh tế-xã hội”(3). Để xây dựng được đội ngũ cán bộ tổ chức vững về chuyên môn, có đạo đức cách mạng trong sáng, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau: Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ đảng và lãnh đạo các cấp về xây dựng đội ngũ cán bộ tổ chức. Cần hiểu rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ tổ chức, từ đó có dự báo đúng tình hình, bám sát yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị tốt cho trước mắt và lâu dài. Việc quản lý cán bộ làm công tác tổ chức, trước hết là của cấp uỷ và lãnh đạo đơn vị. Những vấn đề chủ trương, chính sách về công tác cán bộ nhất thiết phải do cấp uỷ có thẩm quyền quyết định theo đa số. Thực tiễn cho thấy, ở đâu nhận thức đúng và coi trọng công tác tổ chức, cán bộ thì ở đó cán bộ tổ chức phát huy được năng lực, sở trường công tác, đóng góp có hiệu quả cho thành tích của đơn vị và nếu ngược lại, cán bộ tổ chức sẽ không phát huy được, mà còn làm cho đơn vị phát sinh tiêu cực, mất đoàn kết, nội bộ không ổn định. Hai là, xác định tiêu chuẩn của cán bộ tổ chức. Trong khi đảm bảo tiêu chuẩn cán bộ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khoá VIII, Hội nghị Trung ương 6, khóa IX cần xác định có các tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ tổ chức: Thứ nhất, đó là nắm chắc quan điểm, đường lối của Đảng trong xây dựng hệ thống chính trị, trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Thứ hai, phải công tâm. Có công tâm, tâm trong sáng mới giữ được công bằng, thi hành công việc một cách ngay thẳng, không thiên vị, biết đặt sự nghiệp chung, lợi ích chung của cách mạng lên trên hết. Thứ ba, phải có tầm. Tầm là yêu cầu về năng lực, chuyên môn, là tài năng của người cán bộ tổ chức, giúp nắm vững các biện pháp nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong việc đánh giá chính xác con người, đảm bảo chọn đúng người, xếp đúng việc. Thứ tư, có tình thương yêu đồng chí, đồng bào, đây là sự thể hiện đạo làm người cách mạng mà mỗi cán bộ tổ chức phải thấm nhuần và thực hành nhất quán trong công việc, trong đời tư v.v Cần quan tâm đến tính đặc thù của nghề tổ chức và những tiêu chuẩn riêng cần có đối với người làm công tác tổ chức, cán bộ là để đào tạo, huấn luyện những người có những tố chất phù hợp với nghề. Đặc biệt lưu ý đến năng lực, sự tinh thế, nhạy cảm trong nhìn nhận, đánh giá, phát hiện, đoán định được xu hướng phát triển của con người. Người làm công tác tổ chức không chỉ cần có

Thứ Hai 29/11/2010 12:20:16am Cán bộ Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tổ chức 10:23′ 11/12/2009 Những người làm công tác tổ chức là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của Đảng, có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền các cấp về công tác tổ chức, cán bộ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này là tiền đề nâng cao chất lượng hoạt động của cả hệ thống chính trị. Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chủ động hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, đáp ứng tốt những yêu cầu mới đặt ra. Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khoá VIII, nêu: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”(1) và một trong những nguyên nhân của những yếu kém, khuyết điểm là: “Cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ chậm đổi mới, chưa chú trọng nghiên cứu khoa học; trình độ lý luận và tổng kết thực tiễn, tham mưu đề xuất những vấn đề chiến lược về cán bộ còn hạn chế. Một số cán bộ làm công tác tổ chức chưa gương mẫu về đạo đức, phẩm chất, thiếu khách quan, yếu về năng lực”(2). Văn kiện Hội nghị Trung ương 9, khoá X, nhấn mạnh: “Nhìn chung, việc đổi mới công tác cán bộ chưa toàn diện và còn chậm so với đổi mới kinh tế-xã hội”(3). Để xây dựng được đội ngũ cán bộ tổ chức vững về chuyên môn, có đạo đức cách mạng trong sáng, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau: Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ đảng và lãnh đạo các cấp về xây dựng đội ngũ cán bộ tổ chức. Cần hiểu rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ tổ chức, từ đó có dự báo đúng tình hình, bám sát yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị tốt cho trước mắt và lâu dài. Việc quản lý cán bộ làm công tác tổ chức, trước hết là của cấp uỷ và lãnh đạo đơn vị. Những vấn đề chủ trương, chính sách về công tác cán bộ nhất thiết phải do cấp uỷ có thẩm quyền quyết định theo đa số. Thực tiễn cho thấy, ở đâu nhận thức đúng và coi trọng công tác tổ chức, cán bộ thì ở đó cán bộ tổ chức phát huy được năng lực, sở trường công tác, đóng góp có hiệu quả cho thành tích của đơn vị và nếu ngược lại, cán bộ tổ chức sẽ không phát huy được, mà còn làm cho đơn vị phát sinh tiêu cực, mất đoàn kết, nội bộ không ổn định. Hai là, xác định tiêu chuẩn của cán bộ tổ chức. Trong khi đảm bảo tiêu chuẩn cán bộ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khoá VIII, Hội nghị Trung ương 6, khóa IX cần xác định có các tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ tổ chức: Thứ nhất, đó là nắm chắc quan điểm, đường lối của Đảng trong xây dựng hệ thống chính trị, trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Thứ hai, phải công tâm. Có công tâm, tâm trong sáng mới giữ được công bằng, thi hành công việc một cách ngay thẳng, không thiên vị, biết đặt sự nghiệp chung, lợi ích chung của cách mạng lên trên hết. Thứ ba, phải có tầm. Tầm là yêu cầu về năng lực, chuyên môn, là tài năng của người cán bộ tổ chức, giúp nắm vững các biện pháp nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong việc đánh giá chính xác con người, đảm bảo chọn đúng người, xếp đúng việc. Thứ tư, có tình thương yêu đồng chí, đồng bào, đây là sự thể hiện đạo làm người cách mạng mà mỗi cán bộ tổ chức phải thấm nhuần và thực hành nhất quán trong công việc, trong đời tư v.v… Cần quan tâm đến tính đặc thù của nghề tổ chức và những tiêu chuẩn riêng cần có đối với người làm công tác tổ chức, cán bộ là để đào tạo, huấn luyện những người có những tố chất phù hợp với nghề. Đặc biệt lưu ý đến năng lực, sự tinh thế, nhạy cảm trong nhìn nhận, đánh giá, phát hiện, đoán định được xu hướng phát triển của con người. Người làm công tác tổ chức không chỉ cần có kiến thức về con người, về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy, mà còn cần am hiểu cơ chế hoạt động cùng những đặc điểm của từng lĩnh vực mà mỗi cán bộ đang hoạt động. Phải có kiến thức xã hội rộng, nhiều trải nghiệm mới có thể thấu hiểu, đánh giá xác đáng con người. Phải có các phẩm chất như kín đáo mà vẫn hoạt, sâu sắc mà vẫn cởi mở, linh hoạt mà vẫn chắc chắn; kiên định, dám chịu trách nhiệm, biết lắng nghe và thấu hiểu, có sức cảm hoá lòng người; biết giữ bí mật và nguyên tắc. Ba là, xây dựng quy chế, đổi mới công tác đánh giá, tuyển chọn cán bộ tổ chức. Xây dựng các quy chế bảo đảm cho công tác cán bộ, quản lý cán bộ đi vào nền nếp, là căn cứ cho đội ngũ cán bộ tổ chức làm tốt chức năng tham mưu cho cấp uỷ đảng theo đúng quan điểm, chủ trương của Đảng. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy chế đánh giá cán bộ sẽ giúp toàn bộ quy trình trong công tác cán bộ chính xác, hiệu quả không bỏ sót người tốt, chọn nhầm người xấu, tạo ra động lực tích cực cho cán bộ phấn đấu tiến bộ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Vì vậy, đối với cán bộ tổ chức, càng phải được nhận xét, đánh giá thường xuyên, nhất là trước khi đề bạt, bổ nhiệm. Tuyển chọn cán bộ tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn một cách dân chủ, công khai. Tuyển chọn cán bộ tổ chức, nên chọn những cán bộ đã được đào tạo, bồi dưỡng, có kinh nghiệm thực tiễn, theo hướng trẻ hoá, kết hợp tốt các độ tuổi, khắc phục tuyển cán bộ theo kiểu thân quen; kiên quyết điều chuyển hoặc giải quyết nghỉ chế độ đối với những cán bộ mà phẩm chất, năng lực, sức khoẻ không đáp ứng yêu cầu. Bốn là, đổi mới cơ chế, chính sách và điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ tổ chức. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ nhất là tiền lương, nhà ở, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, năng lực và bản lĩnh cho cán bộ; thực sự khuyến khích những cán bộ có tài, trân trọng những cán bộ có công; có biện pháp tích cực và chủ động trong việc bảo vệ cán bộ làm đúng, không để cán bộ bị mua chuộc, lôi kéo, khống chế hoặc bôi nhọ danh dự; xử lý nghiêm minh, kịp thời những cán bộ có sai phạm, thoái hoá biến chất, cơ hội chủ nghĩa. Đổi mới điều kiện làm việc cho cán bộ tổ chức là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng công tác. Vì vậy, các cấp uỷ đảng, lãnh đạo các ban tổ chức cần quan tâm đầu tư trang bị phương tiện kỹ thuật; đào tạo cán bộ để làm chủ được các phương tiện, thiết bị và biến thành những công cụ hữu hiệu phục vụ cho công tác tổ chức, cán bộ. Năm là, đổi mới và chỉnh đốn bộ máy ban tổ chức. Thực tiễn cho thấy, tổ chức mạnh khiến từng người mạnh và từng người mạnh giúp cho cả tổ chức mạnh. Xây dựng tổ chức phải đi đôi với xây dựng con người và xây dựng con người phải gắn với xây dựng tổ chức. Văn kiện Hội nghị Trung ương 9, khoá X, nhấn mạnh: “Các cấp uỷ, tổ chức đảng thường xuyên lãnh đạo chăm lo kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ”(4). Hiện nay, việc đổi mới, chỉnh đốn bộ máy và đội ngũ cán bộ tổ chức chưa thực sự theo kịp với yêu cầu mới, biểu hiện ở sự chồng chéo, phân công không rành mạch, sự phối kết hợp chưa ăn khớp. Công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và chất lượng nghiên cứu, tham mưu của đội ngũ cán bộ tổ chức còn hạn chế. Cho nên, cần tổ chức sắp xếp lại bộ máy hệ thống các ban tổ chức theo hướng tinh, gọn, chuyên sâu, hoạt động có chất lượng và hiệu quả, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tổ chức. Đồng thời với việc bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc đưa mọi hoạt động vào nền nếp, đổi mới phong cách, phương pháp công tác, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn. Sáu là, đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ tổ chức. Phải xây dựng và lấy tiêu chuẩn cán bộ tổ chức làm căn cứ quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng. Trong đó, cần quan tâm xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cho từng loại cán bộ. Phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức để đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ hiện có, dự kiến nhu cầu và khả năng phát triển của đội ngũ cán bộ để chủ động có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tổ chức các cấp phải toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực thực tiễn; chú ý bồi dưỡng các kiến thức như tâm lý xã hội, quản lý hành chính, quản lý kinh tế, ngoại ngữ, tin học; kết hợp bồi dưỡng tại trường lớp với rèn luyện trong thực tiễn. Sử dụng cán bộ tổ chức phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường. Thực hiện bổ nhiệm có thời hạn, chế độ từ chức, bãi nhiệm; kiên quyết đưa ra khỏi đội ngũ những cán bộ kém phẩm chất, năng lực; bố trí lại những cán bộ phân công không hợp lý. Bảy là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ làm công tác tổ chức. Thông qua đó, giúp cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan tổ chức phát hiện xử lý kịp thời những vấn đề nảy sinh, làm cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức hoạt động đúng nguyên tắc, quy định; nắm chắc tình hình, diễn biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ. Công tác tổ chức, cán bộ là một nghề, vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật cao về chọn người và dùng người. Công tác tổ chức, cán bộ là chìa khoá thành công của công cuộc đổi mới đất nước. Nhiệm vụ đặt ra hiện nay đòi hỏi người cán bộ tổ chức phải vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có “tâm”, đủ “tầm” để nhìn xa, trông rộng, biết đánh giá đúng và chọn đúng người. Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài trong công tác cán bộ của Đảng ta.

Thực Trạng Công Tác Cán Bộ Và Nhiệm Vụ, Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 và Kết luận số 37-KL/TW ngày 02/02/2009 của Ban Chấp hành Trung ương về thực hiện “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020” cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta đã có những bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đông nhưng chưa mạnh, cơ cấu chưa hợp lý, một bộ phận có biểu hiện thóai hóa, biến chất, tham nhũng… gây bức xúc trong nhân dân. Bài viết nêu lên thực trạng công tác cán bộ và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII.

Bác Hồ với các Anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam (1965)

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến nhiệm vụ cấp bách là giáo dục lại nhân dân, làm cho dân tộc Việt Nam trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Người đã đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (ngày 17/9/1945), Người viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng). Thậm chí dùng phép công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”(1). Tiếp đó, ngày 19/9/1945, Người viết bài “Chính phủ là công bộc của dân” với yêu cầu: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì phải làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh” (2).

Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ban hành Quy chế công chức Việt Nam. Trong Lời nói đầu của Quy chế công chức Việt Nam viết: “Công chức Việt Nam là những công dân Việt Nam giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân… Công chức Việt Nam phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc”. Điều 2 của Quy chế công chức Việt Nam quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Thống kê trong 15 tập của bộ “Hồ Chí Minh toàn tập” cho thấy, Chủ tịch Hồ Chủ tịch nhắc tới Đảng hơn 3.500 lần, nhưng gần 8.000 lần Người nhắc tới Dân, yêu cầu mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải “theo đúng đường lối nhân dân” với sáu điều:

“Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo”(3).

2. Thực trạng công tác cán bộ

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X đã tổng kết và ban hành Kết luận số 37-KL/TW ngày 02/02/2009 về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020”.

Tính đến tháng 3/2017, tổng số cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta là 2.726.917 người, trong đó: Cán bộ, công chức là 611.069 người; viên chức là 1.983.981 người; hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP là 131.867 người(4).

Trình độ lý luận chính trị(5), chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ,… và năng lực, kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có nhiều tiến bộ, cơ bản bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 Khóa VIII. Số cán bộ có trình độ sau đại học tăng lên rõ rệt, riêng trong 5 năm từ 2009 đến 2014, số người có trình độ đại học và trên đại học tăng gần 2 lần, từ 4,4% lên 7,3%(6). Số lượng cán bộ được quy hoạch khá dồi dào, bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ. Qua mỗi kỳ Đại hội Đảng, cấp ủy các cấp đổi mới khoảng 40%; Ban Chấp hành Trung ương đổi mới cao hơn (Khóa IX là 42%, Khóa X là 54,7%, Khóa XI 47%, Khóa XII là 48%).

Nhìn chung, đa số cán bộ, công chức, viên chức có lập trường tư tưởng vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức rèn luyện, phấn đấu, hòan thành tốt nhiệm vụ được giao, năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín, nhất là cán bộ cấp chiến lược(7) có tư duy đổi mới, có năng lực hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Hầu hết cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang được rèn luyện thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, có nhiều đóng góp tích cực cho đất nước(8). Một số lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước những năm qua(9).

Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đông nhưng chưa mạnh(10). Cơ cấu giữa các ngành nghề, lĩnh vực(11), vùng miền chưa thật sự hợp lý; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ còn xảy ra ở nhiều nơi; thiếu sự liên thông giữa các cấp, các ngành(12); tỷ lệ cán bộ trẻ(13), cán bộ nữ(14), cán bộ dân tộc thiểu số(15) chưa đạt mục tiêu đề ra. Độ tuổi bình quân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở một số ban, bộ, ngành, địa phương và trong lực lượng vũ trang còn cao(16). Số lượng sĩ quan, kể cả cấp tướng trong lực lượng vũ trang tăng nhanh(17). Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý, quản trị giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên một số lĩnh vực, tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học trên tổng dân số còn thấp(18), tình trạng chạy theo bằng cấp, học hàm, học vị còn nhiều; các công trình khoa học, dự án đóng góp vào sự phát triển đất nước chưa xứng với học hàm, học vị. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế; một bộ phận cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp, làm việc trong môi trường quốc tế còn yếu; chưa phát huy tốt tiềm năng cán bộ; năng suất lao động, hiệu quả làm việc thấp(19); không ít cán bộ trẻ còn thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, không ít cán bộ vi phạm kỷ luật Đảng(20) và bị xử lý theo pháp luật.

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí; thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thóai hóa, biến chất, không làm tròn bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thiếu tinh thần trách nhiệm, vô cảm trước những khó khăn của người dân, cục bộ địa phương.

Tình trạng cán bộ, đảng viên thóai hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực… còn diễn biến phức tạp, chậm được khắc phục; một số tính đảng kém, bộc lộ tham vọng cá nhân, kèn cựa địa vị, gia trưởng, độc đoán, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, chối bỏ trách nhiệm khi xảy ra sai phạm, không muốn từ chức khi không hòan thành nhiệm vụ được giao; tùy tiện, bất chấp nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; dao động, mất lòng tin, sa vào chủ nghĩa cá nhân, mê tín, dị đoan; có biểu hiện suy thóai về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu gương mẫu, gia trưởng, quan liêu, xa dân, chưa thật sự gắn bó máu thịt, mật thiết với nhân dân; tham nhũng, lãng phí(21), tiêu cực(22), lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước tính Đảng yếu, suy thóai, lợi dụng sơ hở, cố ý làm trái làm thất thóat vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng(23). Tình trạng chạy chức, chạy quyền(24), chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy tội… còn xảy ra khá phổ biến ở các cấp, các ngành, nhưng chậm được ngăn chặn và đẩy lùi(25), gây bức xúc trong dư luận xã hội(26).

Nạn ô dù, bao che, sự phân hóa giàu – nghèo bất hợp lý diễn ra ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; ở không ít nơi lợi ích cá nhân lấn át lợi ích tập thể, lợi ích cục bộ lấn át lợi ích toàn cục; tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu vén cá nhân(27); để vợ (chồng), con, người thân trục lợi. Một số vụ tham nhũng, buôn lậu, tiếp tay cho làm ăn phi pháp phát triển thành những “đường dây” có tổ chức. Cá biệt có trường hợp do bất mãn dẫn đến phản bội lý tưởng của Đảng và lợi ích của nhân dân. Số thóai hóa chính trị tuy ít nhưng hoạt động của họ gây hậu quả xấu.

Nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời gian tới

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Nghị quyết đã xác định rõ 5 quan điểm chỉ đạo:

Một là, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

Hai là, thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

Ba là, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài.

Bốn là, quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp ủy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân; phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

Nghị quyết xác định 7 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ ở nước ta thời gian tới, cụ thể: Một là, nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Hai là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ. Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Bốn là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Năm là, kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền. Sáu là, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Bảy là, nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ.

Nghị quyết cũng xác định hai trọng tâm để tập trung thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp nêu trên là: 1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; 2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

Nghị quyết cũng chỉ ra 5 đột phá để tập trung thực hiện: 1) Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; 2) Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền; 3) Thực hiện nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương ở những nơi đủ điều kiện; 4) Cải cách chính sách tiền lương và nhà ở để tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; có cơ chế, chính sách để tạo cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và thu hút, trọng dụng nhân tài; 5) Hòan thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

Quyết tâm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” chính là việc hiện thực hóa ý chí, quyết tâm và hành động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì một đất nước Việt Nam giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh./.

(1), (2) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.20, tr.21.

(3) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, Sđd, tr.177.

(4) Tính đến tháng 3/2017, tổng số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước là 3.958.400 người (chưa tính lực lượng vũ trang), trong đó: cán bộ, công chức 611.069 người; viên chức 1.983.981 người; hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP 131.867 người và 1.231.483 người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố và hợp đồng khác.

(5) Đội ngũ cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý ở các cơ quan Trung ương có trình độ lý luận cao cấp, cử nhân: năm 1997 là 97,64%; 2007 là 99,48% và 2017 là 100%.

(6) Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

(7) Cán bộ cấp chiến lược trong Đề án này có 585 đồng chí thuộc diện Trung ương quản lý.

(8) Công bố quốc tế của Việt Nam 15 năm qua tăng bình quân khoảng 17%/năm; hiện đứng thứ 4 trong khu vực (sau Singapore, Malaysia và Thái Lan), xếp hạng một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của Việt Nam: Toán học: đứng thứ hai trong khối ASEAN; vật lý lý thuyết: Đứng thứ ba trong khối ASEAN; toán tối ưu: Đứng thứ 19 thế giới và đứng đầu khu vực ASEAN (Sách Trắng Khoa học công nghệ 2015).

(9) Cán bộ cấp chiến lược: Chuyên ngành kinh tế, luật chiếm 60,49%; trong khi đó, ngành khoa học – công nghệ và hợp tác quốc tế là 16,56%; xây dựng đảng và chính quyền nhà nước là 8,36% (Biểu phụ lục số 2, số 9).

(10) Giữa cán bộ cấp xã với các cấp, giữa cán bộ Đảng, đoàn thể với cán bộ Nhà nước, giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước với khu vực hành chính nhà nước,…

(11) Tỷ lệ cán bộ cấp chiến lược dưới 45 tuổi chiếm 7,18%; tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh diện ban thường vụ quản lý dưới 40 tuổi là 1,81%, diện ban chấp hành quản lý là 7,85% (Biểu phụ lục số 10).

(12) Cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ từ cấp vụ trở lên ở Trung ương chiếm 17,54%; cấp tỉnh chiếm 12,28%, cấp huyện chiếm 9,98%, cấp xã chiếm 10,37% (Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị quy định là 25%).

(13) Cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số ở Trung ương khoảng 5%, cấp tỉnh là 14,7%; trong đó cán bộ lãnh đạo ở Trung ương chỉ có 1,42%, ở cấp tỉnh chỉ có 7,35%. Cán bộ người dân tộc diện Trung uơng quản lý công tác ở địa phương có xu hướng giảm (nhiệm kỳ 2010-2015: 33%; 2015-2020: 27%).

(14) Cán bộ diện Trung ương quản lý ở ban, bộ, ngành từ 56 tuổi trở lên chiếm 56,86%; diện Ban thường vụ cấp tỉnh quản lý từ 51-55 tuổi chiếm 44,54%, từ 56 tuổi trở lên chiếm 23,22%; cấp tổng cục từ 51-55 tuổi là 46,83%, từ 56 tuổi trở lên là 32,78%.

(15) Theo Tổng cục Thống kê, năm 2016, năng suất lao động của Việt Nam tính theo thu nhập đầu người chỉ bằng 7% của Singapore, 17,6% của Malaysia, 36,5% của Thái Lan, 42,3% của Indonesia, 56,7% của Phillipines, 87,4% của Lào.

(16) Việc đầu tư gần 70.000 tỷ đồng sau nhiều năm cho 13 “đại dự án” chưa thể đưa vào khai thác, gây lãng phí, thất thóat lớn tài sản của Nhà nước.

(17) Xảy ra ở một số ngành như ngân hàng, dầu khí, kiểm lâm, thuế, hải quan, công an… gây bức xúc trong dư luận.

(18) Từ 2007 đến 2017, trong các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc đã phát hiện 7.190 vụ vi phạm, trong đó: 280 vụ phải xử lý hình sự, 1.715 cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật Đảng, 181 người phải xử lý bằng pháp luật (Báo cáo của Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương).

(19) Điều tra dư luận năm 2017: 57% cho rằng hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy danh hiệu, chạy bằng cấp không giảm so với năm 2016.

(20) Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XI trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

(21) Theo báo cáo kết quả thăm dò dư luận xã hội năm 2017, tình trạng chạy chức, chạy quyền xếp thứ 2 trong 9 vấn nạn mà nhân dân bức xúc trong năm 2017 (sau nạn tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm).

(22) Theo Báo cáo điều tra dư luận xã hội của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội – Ban Tuyên giáo Trung ương (số 01-BCĐT/VNCDLXH, ngày 01/3/2018) cho thấy: 38% người được hỏi cho rằng có hiện tượng đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể, đặc quyền, đặc lợi, vun vén cá nhân.

Làm Tốt Công Tác Cán Bộ

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng phát biểu tại buổi làm việc. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Ngày 9-1-2020, Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính làm Trưởng đoàn tiến hành kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng tại thành phố Hải Phòng.

Tại buổi làm việc, Bí thư Thành ủy Hải Phòng Lê Văn Thành đã báo cáo tình hình công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn thành phố.

Đồng thời, thành phố đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chủ động phát hiện những sơ hở của cơ chế, chính sách, nhất là trong lĩnh vực tài chính, đất đai, xây dựng cơ bản; có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn ngay từ đầu thông qua việc ban hành nhiều văn bản phù hợp với tình hình của thành phố, mang tính thiết thực, do đó, đã hạn chế tham nhũng, tiêu cực xảy ra.

Bên cạnh đó, Thành ủy Hải Phòng chú trọng triển khai đồng bộ công tác kiểm tra, thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.

Kết quả phát hiện, thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử án tham nhũng, kinh tế trên địa bàn thành phố thời gian qua đã góp phần kiềm chế tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Trong công tác tổ chức cán bộ, Thành ủy Hải Phòng đã có nhiều cách làm mới như củng cố bộ máy tổ chức; lựa chọn giới thiệu cán bộ, quy trình thực hiện, đặc biệt là việc sắp xếp, luân chuyển cán bộ tại các vị trí quan trọng dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng vặt…

Bí thư Thành ủy Hải Phòng Lê Văn Thành khẳng định, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân thành phố luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của các cơ quan trung ương.

Đặc biệt, ngày 24-1-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 45 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết 45 cùng với sự quan tâm của Trung ương đã trở thành nguồn lực mới, động lực quan trọng, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của thành phố trong những năm vừa qua.

Phát biểu tại buổi làm việc, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính ghi nhận những nỗ lực trong công tác phòng, chống tham nhũng của thành phố Hải Phòng, đánh giá thành phố là một trong những địa phương đi đầu cả nước về thực hiện các chính sách an sinh xã hội; quốc phòng, an ninh được tăng cường, trật tự trị an xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân được cải thiện.

Những kết quả đạt được về công tác tổ chức xây dựng Đảng, phòng, chống tham nhũng đã tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện, vượt bậc về kinh tế – xã hội của Hải Phòng.

Sau 4 năm, Hải Phòng đã hoàn thành vượt mức các mục tiêu kinh tế – xã hội của kế hoạch 5 năm mà Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố đề ra, trong đó, nhiều chỉ tiêu hoàn thành trước từ 2 đến 3 năm.

Nổi bật là tỷ trọng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) thành phố đóng góp cho cả nước tăng mạnh từ 2,53% năm 2015 lên 4,1% vào năm 2019, dự kiến 2020 tỷ trọng GRDP của thành phố đạt 4,8% trong GDP cả nước. Nguồn lực của thành phố đã được tăng cường mạnh mẽ.

Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội trong nhiệm kỳ đạt mức kỷ lục, tăng gấp bốn lần so với nhiệm kỳ trước.

Dự kiến, năm 2020 thu ngân sách của thành phố sẽ tăng đột phá, đạt trên 100.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 33.000 tỷ đồng…

Những kết quả toàn diện đạt được trên các lĩnh vực đã củng cố niềm tin trong cán bộ, đảng viên, tạo không khí phấn khởi, tin tưởng trong nhân dân thành phố.

Tuy nhiên, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính cũng chỉ ra một số hạn chế trong công tác phòng, chống tham nhũng tại Hải Phòng.

Trong đó, công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh tại một số cấp ủy, tổ chức Đảng chưa thực sự được quan tâm đúng mức.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiệu quả chưa cao.

Việc tổ chức thực hiện giải pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực hiệu quả chưa đồng đều, nhất là tại các lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm.

Việc tự kiểm tra trong nội bộ, phát hiện tham nhũng vẫn là khâu yếu và tham nhũng vặt vẫn diễn ra ở một số nơi.

Để từng bước khắc phục những hạn chế trên, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đề nghị Thành ủy Hải Phòng tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị, nhất là phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trong phát triển kinh tế – xã hội; thực hiện tốt Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị; xây dựng chính quyền điện tử; quan tâm phát triển văn hóa; quan tâm đến đời sống của người yếu thế; tiếp tục quan hệ, hợp tác, liên kết với các tỉnh, thành, khẳng định vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế – xã hội của vùng.

Cùng với đó, Thành ủy Hải Phòng cần tăng cường công tác nhận thức về nguy cơ tham nhũng, tiêu cực, đe dọa tồn vong của chế độ, dân tộc, đất nước, đe dọa lòng tin của nhân dân; tuyệt đối không chủ quan, thỏa mãn, ngập ngừng, chần chừ, chờ đợi, mà phải tích cực, chủ động huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc phòng, chống tham nhũng; quán triệt tổ chức thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương III khóa X và Kết luận số 10 của Bộ Chính trị, nhất là chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về phòng, chống tham nhũng.

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương tặng quà một số gia đình thương binh, liệt sĩ, nạn nhân chất độc màu da cam và hộ nghèo trên địa bàn. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Trưởng ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh, việc giữ gìn đoàn kết trong nội bộ Đảng, trước hết là trong Thường trực Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy là yếu tố cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định tạo ra bước phát triển mạnh mẽ của thành phố.

Quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp phải bảo đảm tuân thủ tuyệt đối các hướng dẫn, quy định của Trung ương, lựa chọn cán bộ bên cạnh năng lực chuyên môn, phải có phẩm chất đạo đức và nhiệt huyết để hoàn thành nhiệm vụ.

Trong quá trình lựa chọn, đề bạt cán bộ, Thường trực Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy cần kiên quyết không để xảy ra tiêu cực, chạy chức, chạy quyền, tham nhũng… Làm tốt công tác cán bộ sẽ hạn chế tham nhũng, là yếu tố quyết định cho sự phát triển thành phố Hải Phòng.

Bên cạnh đó, Trưởng ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh rằng, Hải Phòng cần chuẩn bị tốt cho đại hội đảng bộ các cấp theo tinh thần Chỉ thị 35-CT/TƯ của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Những kiến nghị, đề xuất của Hải Phòng về công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phòng chống tham nhũng sẽ được đoàn công tác tổng hợp, trình Trung ương xem xét, giải quyết.

Cùng ngày, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính cùng đoàn công tác đã đến thăm, làm việc và trao 120 suất quà cho một số gia đình thương binh, liệt sĩ, nạn nhân chất độc màu da cam, hộ nghèo thuộc huyện Kiến Thụy; thăm tổ hợp Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast; thăm, làm việc tại Quân khu 3.

Công Tác Quản Lý Cán Bộ: Thực Trạng Và Giải Pháp

Quản lý cán bộ là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Thông qua công tác quản lý cán bộ, Đảng đề ra chủ trương, kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chính xác, thiết thực; bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc, đồng thời, hạn chế tối đa hiện tượng suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ. Thực trạng công tác quản lý cán bộ

Quản lý cán bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác cán bộ. Từ trước đến nay Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác quản lý cán bộ. Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và cả thời kỳ đổi mới, nhiều cán bộ được Đảng, Nhà nước quản lý tốt nên trưởng thành và có nhiều đóng góp cho đất nước. Do quản lý tốt cán bộ nên có nhiều tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nhiều cán bộ đảng viên nêu gương phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đặc biệt đã cổ vũ được sự phấn khởi, đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân, góp phần tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Sau Đại hội XII, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tăng cường công tác quản lý cán bộ nên tình hình có chuyển biến tốt hơn.

Tuy nhiên, công tác quản lý cán bộ vẫn còn nhiều hạn chế. Thời kỳ trước đây số cán bộ vi phạm pháp luật cũng có nhưng chưa nhiều, ảnh hưởng chưa nghiêm trọng. Hiện nay, hầu như không có ngành nào, địa phương nào là không có một bộ phận cán bộ làm việc thiếu trách nhiệm với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân. Đặc biệt tệ tham nhũng, lãng phí của không ít cán bộ đã trở thành vấn đề gây bức xúc nhất trong xã hội. Lĩnh vực quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý đất đai, khoáng sản, xây dựng cơ bản, quản lý tài sản công,… đã làm thất thoát, thiệt hại rất lớn đến ngân sách nhà nước. Công tác quản lý cán bộ trong một số ít cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử,… cũng chưa tốt nên đã để xảy ra một số vụ, việc đáng tiếc.

Thực trạng việc quản lý cán bộ nêu trên có nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, cụ thể là:

Trong cơ chế mới, người cán bộ bị chi phối, tác động của nhiều mối quan hệ, như quan hệ giữa quản lý với sử dụng, quản lý với lợi ích, quản lý với môi trường, điều kiện làm việc,… nhiều hơn, mạnh hơn trước đây. Một bộ phận cán bộ bộc lộ nhiều nhược điểm, như chưa quen quản lý sản xuất, kinh doanh, chưa có kinh nghiệm quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường sinh động, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh, chưa quen quản lý xã hội bằng pháp luật, bằng cơ chế, chính sách trong lúc trình độ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế nói chung còn hạn chế nên dễ bị sa ngã, vi phạm pháp luật.

Công tác quản lý cán bộ đang có sơ hở, yếu kém. Quản lý cán bộ còn nặng về quản lý lý lịch gia đình, quản lý trên hồ sơ bằng cấp, chứng chỉ,… mà chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chính trị hiện tại của mỗi cán bộ diễn biến hằng ngày theo nhịp sống của thực tiễn, chưa gắn quản lý cán bộ với đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ. Đảng, Nhà nước chưa có các văn bản pháp luật chặt chẽ để kiểm soát được quyền lực, còn có những kẽ hở để cán bộ lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm trong thực thi công vụ để tham ô, tham nhũng. Kỷ cương, kỷ luật của Đảng, Nhà nước có những lúc xử lý chưa nghiêm, chưa kịp thời. Chính sách tiền lương quá bất hợp lý lại để kéo dài. Phần đông cán bộ, công chức, viên chức không đủ sống từ lương. Một bộ phận lớn tổ chức cơ sở đảng chưa làm tốt trách nhiệm quản lý đảng viên, buông lỏng công tác tư tưởng, tình trạng nể nang, né tránh, ngại đấu tranh của đảng viên diễn ra phổ biến. Một bộ phận cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến đặc quyền, đặc lợi, thoái hóa biến chất, không nêu gương, nói không đi đôi với làm dẫn đến tham ô, tham nhũng, …

Các cơ quan dân cử, như Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội chưa thực hiện đầy đủ chức năng giám sát của mình theo quy định của pháp luật.

Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý cán bộ

Con người nói chung, cán bộ nói riêng chịu tác động tổng hòa của nhiều mối quan hệ xã hội, vì thế Đảng, Nhà nước phải có những giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả để quản lý cán bộ tốt hơn.

Thứ nhất, đổi mới tư duy nhận thức về quản lý cán bộ trong thời kỳ mới. Phải xem quản lý, bảo vệ cán bộ là cách làm tốt nhất để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cán bộ luôn kiên định tư tưởng, lập trường, phẩm chất chính trị, giữ gìn đạo đức cách mạng, lối sống tốt đẹp, có nhận thức và hành động đúng đắn. Nội dung quản lý cán bộ là quản lý phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn, bảo đảm cho cán bộ luôn trong sạch, trung thực, không sa ngã, thoái hóa, biến chất, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mọi hoàn cảnh. Cùng với quản lý lịch sử chính trị gia đình, phải đặc biệt coi trọng quản lý chính trị hiện tại, đặc biệt là diễn biến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gắn với các yếu tố phát sinh. Quản lý chính trị hiện tại không chỉ nhằm phòng ngừa kẻ địch cài cắm, mua chuộc, chia rẽ nội bộ, mà còn phòng ngừa, ngăn chặn các khả năng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ. Quản lý cán bộ phải gắn với đổi mới đánh giá cán bộ, xem xét chuyển biến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; sự gia tăng bất thường tài sản mà không giải trình được nguồn gốc tài sản; các mối quan hệ “lợi ích nhóm” phức tạp.

Thứ hai, thường xuyên phổ biến, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý cán bộ, kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ, trong đó chú trọng các yêu cầu, nội dung, giải pháp về công tác cán bộ, kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Chỉ thị số 26/CT-TTg, ngày 05-9-2016, của Thủ tướng Chính phủ “về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp”,…

Các cấp ủy đảng, cả hệ thống chính trị phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên, để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tính tiên phong, gương mẫu trước quần chúng, tự giác chấp hành pháp luật, chấp hành các quy định của Đảng. Đây là giải pháp rất quan trọng vì khi cán bộ không tốt thì dù văn bản pháp luật có chặt chẽ đến đâu, cơ quan quản lý cán bộ có trách nhiệm đến mấy cũng không ngăn cản được lòng tham, ham muốn không chính đáng của cán bộ. Thực hiện việc rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh nội quy, quy chế, quy trình làm việc của cơ quan, đơn vị mình, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác cụ thể trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao của cơ quan, tổ chức, đơn vị, đồng thời quán triệt, triển khai đối với cán bộ việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính, văn hóa công sở và sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc, bảo đảm cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cấp trên.

Thứ ba, Đảng bổ sung các quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên chặt chẽ, cụ thể hơn, như quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác quản lý cán bộ; các chức danh theo phân cấp quản lý, có cơ chế phát hiện, trọng dụng người có đức có tài, bổ nhiệm cán bộ đúng người, đúng việc, thực sự vì việc để chọn người. Đối với cấp ủy, người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm về lãnh đạo, chỉ đạo và công tác quản lý cán bộ của đơn vị mình. Thực hiện nghiêm túc, công khai, minh bạch các quy định về quản lý cán bộ trong tất cả các khâu: tuyển dụng, tiếp nhận, điều động, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, chuyển ngạch, nâng ngạch, đi nước ngoài và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, quy chế chi tiêu nội bộ, kiên quyết không để xảy ra sai phạm, tiêu cực. Ví dụ, như vấn đề nhận xét, đánh giá cán bộ cần có quy định, đánh giá thế nào cho đúng, dựa vào nhân dân, tổ chức, đảng viên đánh giá cán bộ như thế nào chứ không chỉ đưa ra tập thể cấp ủy và quyết định. Quy định đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ làm sao cho dân chủ và công bằng. Phải công bố cho đơn vị, tổ chức, địa phương đó biết đề bạt ai, đề bạt đúng quy trình như thế nào,…

Cần cụ thể hóa những quy định, quy chế của Đảng và Nhà nước thành quy chế, quy định thực hiện của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Một yêu cầu cấp thiết hiện nay là sớm cụ thể hóa các quy chế trong thực hiện Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.

Các cơ quan quản lý cán bộ cấp trên hằng năm, hằng nhiệm kỳ phải làm tốt việc đánh giá cán bộ và công khai việc đánh giá đến cán bộ, nhân dân nơi cán bộ công tác và cư trú. Trước khi nhận xét phải lấy được các kênh thông tin đánh giá hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ số hài lòng của cán bộ, người dân về cán bộ đó. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật gắn với mở rộng, phát huy dân chủ trong Đảng. Có giải pháp hiệu quả nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, để mỗi tổ chức cơ sở đảng đều vững mạnh, trong sạch, thực chất. Kiểm tra, làm tốt việc phát triển đảng viên có chất lượng đi đôi với tăng cường giáo dục, quản lý đảng viên, trên cơ sở đó thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ và đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Thứ tư, Nhà nước sớm bổ sung các văn bản pháp luật để kiểm soát tốt quyền lực. Quy định rất chặt chẽ, cụ thể quyền hạn, trách nhiệm các chức danh quản lý nhà nước, thực hiện tốt cải cách hành chính, khắc phục triệt để cơ chế “xin – cho”, tăng cường thanh tra nhà nước, kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đồng thời, từng bước tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm mạnh biên chế và sớm cải cách chế độ tiền lương. Có cơ chế kiểm soát được thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức của cả hệ thống chính trị, quản lý được việc kê khai minh bạch tài sản. Trên cơ sở đó làm cho cán bộ không muốn tham nhũng, không dám tham nhũng và không thể tham nhũng (như một số nước đã làm thành công).

Theo Tạp chí Cộng sản