Những Giải Pháp Bước Đầu Trong Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Con Người
  • Bí Quyết Lập Lịch Bảo Trì Và Giám Sát Thực Hiện Công Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian Làm Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian
  • Quản Lý Thời Gian Là Gì? Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Biểu diễn nghệ thuật tại Ngày hội Văn hóa các dân tộc Việt Nam năm 2014.

    Các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa đã đề xuất nhiều ý kiến thiết thực để thực hiện và đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, lối sống; về văn hóa chính trị – kinh tế, tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh và phát triển công nghiệp văn hóa, thực hiện hội nhập quốc tế.

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa XI (Nghị quyết T.Ư 9 khóa XI – Nghị quyết số 33 NQ/TW) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã được ban hành ngày 9-6-2014. Nghị quyết thể hiện tầm nhìn chiến lược và bước phát triển quan trọng trong tư duy, lý luận của Ðảng ta về văn hóa; về vị trí, vai trò của văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng cùng quá trình toàn cầu hóa với nhiều biến động về kinh tế – chính trị thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Trong phát biểu đề dẫn hội thảo, Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ Anh Tuấn đã nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng mang tính chiến lược của Nghị quyết T.Ư 9 khóa XI (Nghị quyết T.Ư 9); là sự tiếp nối, kế thừa Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc” thời kỳ đổi mới, nhưng ở tầm cao hơn, mang lại những nhận thức mới về văn hóa, thể hiện quyết tâm của Ðảng ta trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    Xây dựng hệ giá trị cốt lõi con người Việt Nam

    Mục tiêu của Nghị quyết T.Ư 9 là xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; đưa văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững. Trong đó, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là nhiệm vụ đầu tiên, được đặt ở vị trí quan trọng trong sáu nhiệm vụ của Nghị quyết nêu ra. Ðề cập về nhiệm vụ này, GS, TS Phùng Hữu Phú, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư khẳng định: Suy cho cùng, mọi hoạt động phát triển văn hóa cũng đều hướng đến xây dựng con người, bởi con người là chủ thể của sáng tạo, là tài nguyên, nguồn lực quan trọng nhất để phát triển quốc gia. Vì thế, cần tập trung xây dựng con người Việt Nam với việc cụ thể hóa những chuẩn mực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các chuẩn mực đó chính là “hệ giá trị con người”, là những giá trị cốt lõi mà con người cần hướng tới như Nghị quyết T.Ư 9 đã chỉ ra: có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật…, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo… Ðể làm được điều này, cần huy động được mọi nguồn lực từ gia đình, nhà trường và cộng đồng cũng như sự chung tay giúp sức của toàn xã hội. Từ góc nhìn mở rộng mang tính thực tiễn về xây dựng con người, chăm lo bồi dưỡng nhân cách thế hệ trẻ, GS, TS Ðinh Xuân Dũng, Ủy viên Hội đồng Lý luận T.Ư cho rằng, việc lập kế hoạch và lộ trình để xây dựng và hoàn thiện hệ thống các hệ giá trị mới của con người Việt Nam là đòi hỏi rất cao và mới đối với văn hóa giai đoạn tới, bởi những năm qua, cuộc vận động xây dựng con người mới, tuy có bề rộng, nhưng chưa sâu, chưa bền vững, hiệu quả còn hạn chế và hình ảnh con người Việt Nam hiện đại còn mờ nhạt trong sáng tạo văn hóa, văn học – nghệ thuật. Do đó, cần tập trung cho việc cụ thể hóa hệ giá trị đó thành những mẫu hình, chuẩn mực phù hợp với từng giới, từng ngành, địa phương, đơn vị, kết hợp sâu sắc giữa giá trị truyền thống tốt đẹp và giá trị mới. Ðấu tranh kiên quyết chống sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo sư cũng đề nghị cần triển khai chương trình giáo dục văn hóa, giáo dục thẩm mỹ, nâng cao chất lượng giáo dục khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục đạo đức, lối sống trong nhà trường, từ phổ thông đến đại học, bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, thiếu niên; nhấn mạnh tới bốn giá trị lớn mà văn hóa phải chăm lo nuôi dưỡng cho thanh niên là: lý tưởng sống, năng lực trí tuệ, vẻ đẹp đạo đức, bản lĩnh văn hóa. Ðể làm được điều này, cần phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ, những người hoạt động văn hóa. GS, TS Ðinh Xuân Dũng cũng thẳng thắn cảnh báo về tình trạng đường lối, chủ trương nghị quyết là đúng, nhưng tổ chức thực hiện kém, làm một cách hời hợt, hình thức, kết quả là chủ trương không đi vào được cuộc sống, vẫn nằm trên các trang giấy. Chính từ những lo ngại đó, GS, TS Ðinh Xuân Dũng đã đề nghị cần Thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Ðảng về văn hóa thành pháp luật, chính sách của Nhà nước, bảo đảm quá trình chăm lo bồi dưỡng nhân cách thế hệ trẻ, xây dựng con người phát triển một cách toàn diện.

    Bổ sung vào quan điểm nêu trên, PGS, TS Từ Thị Loan, quyền Viện trưởng Văn hóa – Nghệ thuật quốc gia Việt Nam lưu ý: Cần nhanh chóng xác lập và hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Theo đó, kế thừa tất cả những gì tinh hoa trong cội nguồn văn hóa dân tộc, đồng thời bổ sung những giá trị mới của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Hệ giá trị mới, định hướng giá trị của con người Việt Nam hiện nay cần được xây dựng và củng cố trong các mối quan hệ đa chiều: truyền thống và hiện đại, cá nhân và cộng đồng, lý tưởng và hiện thực, dân tộc và quốc tế, địa phương và nhân loại…, kiên quyết khắc phục các thói hư, tật xấu và những mặt hạn chế của con người Việt Nam, ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Có như vậy, việc hiện thực hóa hệ giá trị đó trong thực tiễn mới có tính khả thi, hiệu quả và có sức sống.

    Ðể tạo dựng các giá trị văn hóa tốt đẹp trong con người, cần xây dựng và củng cố một môi trường văn hóa lành mạnh. Theo TS Vũ Thị Phương Hậu, Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trong bối cảnh môi trường văn hóa Việt Nam còn nhiều tình trạng lai căng, ngoại lai, tệ nạn xã hội, tội phạm… có chiều hướng gia tăng, để làm trong sạch môi trường văn hóa, trước hết, cần tập trung xây dựng văn hóa gia đình và nâng cao nhận thức của xã hội, nhất là của lớp trẻ về gia đình, về văn hóa gia đình. Các lớp học tiền hôn nhân cần được tổ chức rộng khắp trên cả nước để trang bị những kiến thức cơ bản, cần thiết cho các bạn trẻ trước khi quyết định xây dựng tổ ấm cho mình. Bên cạnh đó, cần xây dựng và hình thành văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính Nhà nước, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi mà trong đó mọi thành viên đều có thể phát huy hết khả năng sáng tạo của mình, gánh vác nhiệm vụ do Nhà nước và nhân dân giao phó, đồng thời đáp ứng nhu cầu của nhân dân và phục vụ xã hội được tốt hơn. Một biện pháp quan trọng là kiện toàn hệ thống thiết chế văn hóa để các chính sách, giá trị văn hóa đi vào cuộc sống. Ðồng thời, phát triển và quản lý tốt thị trường văn hóa phẩm, vừa đáp ứng được mọi nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp trong xã hội, vừa tạo ra những định hướng, tác động tích cực đối với công chúng. Bàn về giải pháp thể chế hóa các chính sách về văn hóa, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai TS Trần Hữu Sơn nhấn mạnh, phải đặc biệt chú ý đến việc xây dựng cơ chế đặc thù để phát triển văn hóa cho từng vùng, miền. Ông đã nêu lên thực tiễn hoạt động và phát triển văn hóa ở khu vực miền núi phía bắc về cơ chế vận hành của đời sống văn hóa dân gian, người dân không chỉ có nhu cầu hưởng thụ mà còn trực tiếp tham gia sáng tạo, phân phối các sản phẩm văn hóa… Từ thực tế này, cần quan tâm nghiên cứu cơ chế vận hành dân gian để đề xuất các chính sách hỗ trợ, tổ chức các hoạt động văn hóa ở miền núi một cách phù hợp.

    Trong xây dựng con người và xây dựng môi trường văn hóa, không thể không chú trọng đến giải pháp giáo dục, đào tạo, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu con người PGS, TS Mai Quỳnh Nam khẳng định: Bản chất của xây dựng con người là đào tạo con người, và bản chất của đào tạo con người là đào tạo học vấn. Do đó, cần nâng cao chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục, bên cạnh đó, cũng cần có cái nhìn thẳng thắn vào những hạn chế trong tư tưởng, tính cách của người Việt Nam, xác định những rào cản trong vấn đề xây dựng con người để tìm giải pháp khắc phục, thay đổi. Theo TSKH Phạm Ðỗ Nhật Tiến, Bộ Giáo dục và Ðào tạo, việc xây dựng quan hệ đối tác giáo dục – văn hóa là lời giải cơ bản cho bài toán xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Quan hệ này cần được thiết lập dựa trên thế mạnh của từng đối tác, cùng chia sẻ trách nhiệm và nguồn lực, nhằm đem lại kết quả đầu ra mong muốn trong xây dựng con người Việt Nam. Trưởng Ban Tuyên truyền – lý luận Báo Nhân Dân, nhà báo Nguyễn Hòa đã nêu bật văn hóa khoa học và giáo dục là tiền đề quan trọng để phát triển bền vững. Ðể định hướng cho văn hóa giáo dục trong một tương lai dài, cần chấn chỉnh lại các đơn vị kiến thức giảng dạy trong trường học các cấp. Cần thiết phải nhấn mạnh nội dung giáo dục truyền thống, giáo dục công dân, không để tình trạng những môn học này thuần túy thi lấy điểm mà thiếu tác động tới sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ. Trong giáo dục, sự chệch hướng rất dễ nảy sinh từ các vấn đề nêu trên và hậu quả sẽ hết sức tai hại khi thế hệ tương lai không được đào tạo một cách đúng đắn.

    Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa

    Ðể văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển, nhất thiết phải xác định được vai trò của văn hóa trong tổ chức, hoạt động chính trị cũng như phát triển kinh tế – xã hội. GS, TS Hoàng Chí Bảo, Hội đồng Lý luận Trung ương nhấn mạnh: Xây dựng văn hóa trong chính trị là đòi hỏi tất yếu, làm cho chính trị vì con người, vì dân phải là chính trị có văn hóa, chính trị trở thành văn hóa chính trị và sự trưởng thành của mỗi con người chính trị, mỗi tổ chức chính trị, mỗi hoạt động, hành vi chấp chính cũng như tham chính đều được đo lường, đánh giá bằng thước đo văn hóa. Muốn xây dựng văn hóa trong chính trị, phải chú trọng xây dựng con người, hoàn thiện nhân cách trong hoạt động chính trị, từ những công dân của nhà nước pháp quyền đến cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ chức vụ, được giao trọng trách ở các cấp, các ngành. Theo ông, văn hóa trong chính trị, nhất là trong Ðảng, Nhà nước phải biểu hiện thành văn hóa trong Ðảng – văn hóa lãnh đạo, cầm quyền và trở thành văn hóa trong Nhà nước – văn hóa quản lý và quản trị. Ðội ngũ cán bộ, đảng viên của Ðảng, đội ngũ công chức của Nhà nước, của chính quyền các cấp trong hệ thống công quyền được giáo dục và thực hành văn hóa trong chính trị phải tỏ ra là những chủ thể của văn hóa chính trị, tận tụy, trách nhiệm, gương mẫu trong công việc, trong quan hệ, trong ứng xử với dân theo yêu cầu trọng dân và trọng pháp. Bàn về giải pháp xây dựng văn hóa trong Ðảng, GS, TS, NGND Trần Văn Bính, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Trong tình hình hiện nay, để xây dựng văn hóa trong Ðảng, phải tập trung chống chủ nghĩa cá nhân. Chỉ có quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì mới xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân…

    Xây dựng văn hóa trong Ðảng cũng là cách để nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Ðảng và cấp ủy các cấp đối với lĩnh vực văn hóa, mà giải pháp nòng cốt là tập trung xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa từ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý đến cán bộ làm công tác khoa học, đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ… Theo Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật T.Ư PGS, TS Ðào Duy Quát, để thực hiện giải pháp cơ bản và quan trọng này, cần chú ý đến bốn nội dung: Thứ nhất, tập trung xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa, trong đó coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; bố trí cán bộ làm công tác khoa học. Thứ hai, quan tâm xây dựng các trường văn hóa nghệ thuật, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng và quy mô đào tạo. Thứ ba, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Tiếp tục gửi sinh viên, cán bộ đi đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, thể thao ở các nước phát triển. Xây dựng đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ trong các dân tộc thiểu số, có chính sách khuyến khích họ trở về công tác tại địa phương. Chú trọng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy các chuyên ngành văn hóa. Thứ tư, có chính sách phát hiện, bồi dưỡng sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Ðiều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù.

    Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc hội nhập văn hóa và tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa thế giới là xu hướng tất yếu của phát triển văn hóa. PGS, TS Phạm Duy Ðức, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, một trong những giải pháp quan trọng để chủ động hội nhập văn hóa là cần xây dựng môi trường đối ngoại văn hóa lành mạnh, nhất là xây dựng một số trung tâm văn hóa ở trong nước và nước ngoài có chức năng “môi giới”, lựa chọn, phiên dịch, giới thiệu những thành tựu văn hóa của thế giới vào Việt Nam và Việt Nam ra nước ngoài. Ðặc biệt chú ý tới vai trò của thông tin văn hóa đối ngoại trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, các trường đại học, các viện nghiên cứu.

    Bàn về việc thúc đẩy thế chủ động trong hội nhập quốc tế về văn hóa, nhiều đại biểu tham dự Hội thảo đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của việc phát huy “sức mạnh mềm” của các giá trị văn hóa. TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện Nghiên cứu Trung Quốc (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã đưa ra khái niệm phổ biến và mang tính toàn vẹn mà thế giới đang công nhận như sau: “Sức mạnh mềm văn hóa là sức hấp dẫn, thu phục, khả năng ảnh hưởng, lôi cuốn của một quốc gia đối với các quốc gia khác bằng các giá trị văn hóa, tinh thần, hệ tư tưởng được thực hiện thông qua các phương thức mang tính phi cưỡng chế… nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của quốc gia đó trong quan hệ quốc tế. Sức mạnh mềm văn hóa còn là khả năng một quốc gia chủ động tiếp nhận, hấp thu, tiếp biến có chọn lọc những tinh hoa văn hóa từ bên ngoài, đồng thời có sức chống đỡ, hóa giải được những tác động nguy hại, gây xói mòn các giá trị nền tảng và làm suy yếu bản sắc văn hóa, gây tổn hại chủ quyền văn hóa quốc gia”. Với nội hàm đó, theo Viện trưởng Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh TS Nguyễn Toàn Thắng, để gia tăng sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước tiên cần tôn trọng luật pháp quốc tế, thực hiện đạo lý nhân loại, phát huy sức cảm hóa và sức hấp dẫn của CNXH. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát triển truyền thông đại chúng, quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam trên toàn cầu; tập trung xây dựng “sức mạnh mềm” văn hóa trong cộng đồng dân cư, thường xuyên giáo dục nâng cao dân trí cộng đồng trên cơ sở coi trọng và phát huy vai trò của triết học mác-xít, khoa học xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Phát Triển Lĩnh Vực Văn Hóa, Gia Đình Của Tỉnh Giai Đoạn 2022
  • Thực Trạng,giải Pháp Phát Triển Nền Văn Hóa Trong Thời Kỳ Mới
  • Câu 1. Cho Biết Đoạn Thơ Trên Thuộc Thể Thơ Nào? (0,25 Điểm)
  • Hội Thảo “các Giải Pháp Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Nhằm Phát Triển Văn Hóa Đọc”
  • Đẩy Mạnh Thực Hiện Các Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa Đọc Trong Cộng Đồng
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Để Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Thông Qua Đổi Mới Tổ Chức Hoạt Động Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
  • Một Vài Giải Pháp Giúp Nâng Cao Văn Hoá Đọc Của Sinh Viên Saigonact
  • Đề Thi Thử Thpt Lần 3 Môn Văn
  • Các đại biểu đều đánh giá cao những kết quả mà TP. Hồ Chí Minh đã đạt được trong thời gian qua, tuy nhiên, trong thời gian tới TP cần đẩy mạnh triển khai thực hiện NQ 33 hơn nữa để xứng tầm là một đô thị đặc biệt của cả nước

    Đó là ý kiến của Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng trong buổi làm việc giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy TP Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết33) sáng ngày 20/4, tại TP Hồ Chí Minh.

    Báo cáo tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Trần Vĩnh Tuyến cho biết, quán triệt quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, TP Hồ Chí Minh luôn xem trọng nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa, xác định rõ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.

    Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết 33, nhận thức về vai trò của văn hóa trong đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc về trách nhiệm xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân TP được nâng lên, thể hiện rõ trong nhận thức và hành động. Truyền thống yêu nước, cách mạng, năng động, sáng tạo của TP tiếp tục được bồi đắp, phát huy. Lòng nhân ái, tình yêu thương đồng bào, đồng chí được vun đắp và tiếp tục phát triển. Đức tính nghĩa tình từng bước trở thành nét văn hóa phổ biến, đặc trưng của người dân TP, thể hiện qua nhiều phong trào.

    Bên cạnh đó, công tác xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa đạt kết quả quan trọng, đời sống văn hóa ở cơ sở được cải thiện, nâng cao. Các phong trào thi đua yêu nước với sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân đem lại hiệu quả thiết thực. Xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương tiêu biểu về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, người tốt việc tốt, góp phần xây dựng lối sống văn hóa trong mỗi cá nhân, gia đình.

    Đồng chí Trần Lưu Quang, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh phát biểu tại buổi làm việc

    Hoạt động văn học – nghệ thuật phong phú, sôi động, có nhiều sáng tạo. Đội ngũ văn nghệ sĩ của TP không ngừng phát triển. Hệ thống thiết chế văn hóa từng bước được củng cố. Hoạt động của hệ thống bảo tàng, thư viện, di tích, di sản văn hóa, các đoàn nghệ thuật, các trung tâm, nhà văn hóa… đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, đáp ứng tốt nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân.

    Đồng chí Trần Vĩnh Tuyến nhấn mạnh, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 33 của TP cũng còn tồn tại một số hạn chế như: công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về văn hóa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa thường xuyên; nhận thức về xây dựng và phát triển văn hóa, con người của một số cấp ủy Đảng, chính quyền chưa thật sâu sắc. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có một số lãnh đạo TP đã tác động tiêu cực ảnh hưởng tới niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tác động của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và mặt trái của kinh tế thị trường dẫn tới nhiều hệ quả tiêu cực, lối sống thực dụng, văn hóa ngoại lai thiếu lành mạnh thâm nhập làm xói mòn, phai nhạt giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc.

    Đồng chí Trần Vĩnh Tuyến cũng thẳng thắn cho rằng, những thành tựu đạt được trong lĩnh vực văn hóa chưa ngang tầm với vị trí, vai trò, khả năng và yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển TP.

    Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, TP sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về văn hóa và đạo đức xã hội, góp phần kéo giảm phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo quản lý văn hóa đúng thực chất. Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa và phát triển con người.

    TP sẽ chú trọng xây dựng văn hóa trên tất cả các lĩnh vực, tiếp tục củng cố, hình thành và phát triển những giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của nhân dân TP mang tên Bác. Đẩy mạnh hơn nữa các phong trào thi đua yêu nước nhằm chăm lo nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; nâng chất lượng, chiều sâu của những phong trào có tính đặc trưng của TP và củng cố, phát triển đa dạng, sáng tạo mô hình mới.

    Phát biểu tại buổi làm việc, các đại biểu đánh giá cao những kết quả mà TP Hồ Chí Minh đã đạt được khi triển khai thực hiện Nghị quyết 33. Đồng tình với báo cáo của TP, các đại biểu cho rằng, TP Hồ Chí Minh là một địa phương có vị trí, vai trò đặc biệt do đó trong xu hướng phát triển đặc biệt là hội nhập quốc tế sâu rộng, TP cần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đáp ứng yêu cầu chính trị và nhu cầu của người dân. TP cũng cần quan tâm rút ngắn khoảng cách về mức hưởng thụ văn hóa giữa người dân khu vực thành thị và khu vực nông thôn; cần đẩy mạnh triển khai Nghị quyết 33 gắn chặt với các Nghị quyết của Đảng, của TP.

    Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang ghi nhận và tiếp thu ý kiến các đại biểu. Đồng chí Trần Lưu Quang cho rằng, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người luôn được TP quan tâm và đã đạt được nhiều kết quả nhất định. Tuy nhiên, các kết quả đạt được chưa như kỳ vọng và yêu cầu thực tế. Đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành ủy cũng chia sẻ về tình hình kinh tế – xã hội của TP hiện nay, trong đó có nhiều khó khăn mà TP đang phải đối mặt và đang xây dựng những giải pháp để giải quyết như ô nhiễm môi trường, quá tải bệnh viện, tệ nạn xã hội…Trong thời gian tới, cùng với nỗ lực của TP trong việc triển khai các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có việc tiếp tục đẩy mạnh triển khai Nghị quyết 33, TP mong muốn Trung ương tiếp tục quan tâm sâu sát hơn nữa, hỗ trợ TP trong quá trình triển khai các chương trình, nhiệm vụ.

    Ghi nhận những kết quả mà TP. Hồ Chí Minh đã đạt được, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng cho rằng TP cần nỗ lực hơn nữa để xứng tầm với vị trí, vai trò của mình

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng ghi nhận và đánh giá cao kết quả thực hiện Nghị quyết 33 tại TP. Hồ Chí Minh. Đồng chí Võ Văn Thưởng nhấn mạnh, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt coi trọng vấn đề xây dựng phát triển văn hóa, con người. Trong nhận thức của Đảng, đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế và chính trị. Từ Đại hội XII và các nghị quyết của Trung ương luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng phát triển văn hóa, con người. Gần đây nhất trong hội nghị tổng kết kinh tế – xã hội năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2022, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề ra yêu cầu phải cân bằng giữa vấn đề kinh tế – văn hóa, giữa văn hóa – con người và kinh tế, không chỉ tập trung cho kinh tế đồng thời nhấn mạnh rằng, kinh tế suy yếu một vài năm có thể sẽ phục hồi nhưng nếu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, văn hóa phải mất nhiều thời gian để phục hồi.

    Đối với TP Hồ Chí Minh là một đô thị đặc biệt, là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo, giao lưu và hội nhập quốc tế của vùng và cả nước, có vị trí chính trị quan trọng, có sự hội tụ và lan tỏa. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời gian vừa qua, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng phát triển văn hóa, con người. TP đã ban hành chương trình kế hoạch, có nhiều giải pháp cụ thể, thực hiện đạt kết quả quan trọng và toàn diện.

    Trong nhận thức, TP đã đặt văn hóa ngang bằng với kinh tế và chính trị, coi sự “văn minh, nghĩa tình” là những thành tố ngang bằng với phát triển kinh tế hiện đại, xây dựng TP “có chất lượng sống tốt”. TP có nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, đầu tư đáng kể cho văn hóa, nghệ thuật; Công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa của TP phát triển mạnh mẽ; giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, giao lưu quốc tế về văn hóa của TP bài bản và phong phú…

    Tuy nhiên, đồng chí Võ Văn Thưởng cũng nhấn mạnh, so với vị trí và tiềm lực quan trọng của TP, với kỳ vọng của vùng và cả nước đối với TP thì còn nhiều vấn đề cần phải nỗ lực, cố gắng hơn. Việc đầu tư cho văn hóa còn chưa xứng tầm. TP là đô thị đặc biệt như thế, nhưng chưa có một “thánh đường” nghệ thuật nào, hệ thống bảo tàng, thư viện cũng chưa có thiết chế nào xứng tầm. Tác phẩm văn học nghệ thuật chưa phản ảnh được nhịp sống sôi động, mới mẻ của TP, chưa có những tác phẩm văn học nghệ thuật xứng tầm…

    Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đặt vấn đề tại sao trước đây đời sống còn nhiều khó khăn, kinh tế chưa phát triển, chính sách còn gò bó nhưng vẫn có những tác phẩm văn học đột phá như thế, mà bây giờ lại thiếu?

    Đồng chí Võ Văn Thưởng lắng nghe những chia sẻ của lãnh đạo TP bên lề buổi làm việc

    TP luôn vì cả nước, mọi quyết sách, việc làm của TP luôn là tâm điểm của dư luận, thu hút sự quan tâm của cả nước, việc thực hiện tốt hay không tốt Nghị quyết 33 của TP nói riêng hay các nghị quyết của Đảng nói chung đều có ý nghĩa lớn, tác động đến việc thực hiện các nghị quyết của Đảng trên phạm vi cả nước. Do đó, đồng chí Võ Văn Thưởng đề nghị TP hệ thống lại cái gì đã làm tốt thì cần làm tốt hơn, chưa tốt thì làm cho tốt, cái gì đã nhận thức và có kế hoạch rồi thì cố gắng triển khai.

    “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người luôn đòi hỏi cả việc xây và chống, trong đó xây là cơ bản, còn chống phải quyết liệt. TP cần nỗ lực hơn nữa để đạt được những kết quả tốt hơn, tương xứng với tiềm lực của mình và yêu cầu phát triển bền vững. TP phải là nơi đóng góp để hoàn thiện đường lối của Đảng, kinh nghiệm về thực hiện các mô hình hay nhân rộng cho cả nước”, đồng chí Võ Văn Thưởng nhấn mạnh./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tọa Đàm Các Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam
  • Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Kon Tum: Giải Pháp Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội Trong Thời Gian Tới
  • Bộ Công An Đề Ra 6 Nhóm Giải Pháp Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Tham Nhũng “vặt”
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Các Đơn Vị, Địa Phương
  • Một Số Vấn Đề Mới Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Thảo “chất Lượng Công Tác Vệ Sinh Môi Trường Đô Thị: Thực Trạng Và Giải Pháp”
  • Vệ Sinh Môi Trường Đô Thị Khu Vực Kinh Thành Huế: Hiện Trạng Và Những Giải Pháp Cải Thiện
  • Làm Gì Để Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Vệ Sinh Môi Trường Đô Thị
  • Giáo Dục Trẻ Mầm Non Giữ Gìn Vệ Sinh Môi Trường
  • Giữ Gìn Vệ Sinh Môi Trường
  • Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

    Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

    Thiếu tướng, PGS, TS. Nguyễn Vĩnh Thắng

    TCCSĐT- Nhận thức rõ tầm quan trọng, vai trò to lớn của văn hóa, con người trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước gần 30 năm qua, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã đề ra nhiều quan điểm, chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng “con người xã hội chủ nghĩa”.

    Những thành quả to lớn của công cuộc xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. TrongTrong

    Trên cơ sở tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Sự ra đời của Nghị quyết đã đáp ứng đòi hỏi bức thiết của yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong thời kỳ mới, khi mà tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ có nhiều diễn biến mới. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu khí Hải Dương – 981 vào sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đang đe dọa nghiêm trọng đến độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội, bên cạnh kết quả, thành tựu đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, làm xuất hiện những vấn đề phức tạp mới ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

    Trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa, con người, thì sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đã, đang và sẽ tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống trong xã hội. Quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế với sự du nhập của những văn hóa phẩm độc hại đang len lỏi, tác động vào đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, làm suy giảm phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Sự chống phá của các thế lực thù địch bằng “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong đang hằng ngày, hằng giờ tác động làm xói mòn những giá trị, những quan hệ văn hóa, đạo đức, lối sống tốt đẹp trong xã hội.

    Trên cơ sở kế thừa những quan điểm, chủ trương, nội dung và giải pháp của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, tổng kết lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong những năm qua, nhất là từ việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người, Đảng ta đã có sự đổi mới trong tư duy về xây dựng và phát triển văn hóa, con người phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Những đổi mới tư duy lý luận, những vấn đề phát triển mới về xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI được thể hiện trên một số nội dung sau đây:

    Trong bối cảnh hiện nay, khi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trong điều kiện mới, cùng với những thời cơ, thuận lợi, là những khó khăn, thách thức mới, cho nên hơn lúc nào hết, vấn đề phát triển bền vững đất nước được đặt ra với yêu cầu cao hơn. Chỉ có phát triển bền vững mới bảo đảm cho dân tộc ta, đất nước ta giữ được độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, mới bảo đảm cho chúng ta đứng vững và tiếp tục phát triển. Vì vậy, không thể thiếu vai trò của văn hóa, của con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực tinh thần to lớn của sự phát triển bền vững. Thứ nhất, việc đặt tên của Nghị quyết “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam…” đã thể hiện sự phát triển mới về tư duy của Đảng ta khi khẳng định: Một mặt, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người đều phải được đặt ra, không chỉ có xây dựng, mà còn phải có phát triển, phát triển trên cơ sở đã xây dựng; ngược lại, không chỉ có phát triển, mà còn phải có cả xây dựng mới. Có nội dung phải bắt đầu xây dựng mới do yêu cầu mới của thực tiễn, mà trước đây chưa xây dựng được, có nội dung trước đây đã xây dựng nhưng trước sự đòi hỏi mới của thực tiễn phải có sự bổ sung, phát triển, hoàn thiện hơn. Mặt khác, xây dựng và phát triển văn hóa phải gắn chặt với vấn đề xây dựng và phát triển con người Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đặc biệt, Nghị quyết đã nhấn mạnh quan điểm phát triển con người, gắn phát triển văn hóa với sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa thì trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp. Ở đây xây dựng, phát triển văn hóa và con người luôn gắn kết chặt chẽ, tác động lẫn nhau, hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau nhằm đạt tới mục tiêu chung là văn hóa và con người đều được xây dựng, phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    Thứ hai, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật Đảng ta đã khẳng định sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng về tư duy, nhận thức, về đời sống văn hóa, về những giá trị chuẩn mực văn hóa, các sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật… cũng như về các phong trào, hoạt động văn hóa, công tác quản lý, đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém về xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng con người, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội; về đời sống văn hóa tinh thần, nhất là vùng sâu, vùng xa; về cơ chế, chính sách, về quản lý văn hóa; về hệ thống thiết chế văn hóa, cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác văn hóa. Nghị quyết cũng đã chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế, yếu kém, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến những nguyên nhân chủ quan từ nhận thức, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; công tác quản lý nhà nước về văn hóa, việc đầu tư cho lĩnh vực văn hóa, cũng như việc quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực…

    Thứ ba, quán triệt sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, nhất là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013, các Nghị quyết, Kết luận của các hội nghị Trung ương khóa XI, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang và sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.

    mục tiêu chung, Nghị quyết đã nhấn mạnh đến vấn đề “Xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. Tư tưởng xây dựng nền văn hóa và con người phải “thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”, coi đây là các đặc trưng của nền văn hóa mà chúng ta phải xây dựng và phát triển là một luận điểm mới. Đó là sự kế thừa tinh thần của Đề cương Văn hóa năm 1943 để bổ sung, phát triển, hoàn thiện, vừa đúng với quan điểm lý luận, vừa đáp ứng đúng yêu cầu mới của thực tiễn. Đồng thời, trong mục tiêu chung về xây dựng và phát triển văn hóa, Nghị quyết đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa, phải thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Sự phát triển bền vững của đất nước trong bối cảnh hiện nay không thể thiếu vai trò của văn hóa, thậm chí mất văn hóa là mất tất cả. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không thể thiếu sức mạnh của văn hóa nói chung, văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng. Trong điều kiện một nước đất không rộng lắm, người không đông lắm, kinh tế, khoa học chưa phát triển mạnh, vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự chưa thật nhiều và hiện đại lại phải đương đầu với những thế lực xâm lược có kinh tế, khoa học, quân sự phát triển thì sức mạnh của văn hóa, của văn hóa quân sự có vai trò cực kỳ quan trọng.

    các mục tiêu cụ thể, Nghị quyết đã giành vị trí và nội dung thỏa đáng cho vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa với những luận điểm mới về xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nhất là quan niệm “Xây dựng văn hóa trong chính trị, kinh tế và trong gia đình” và “Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa”. Đây là những vấn đề khá mới mẻ trong tư duy mới về xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng ta. Quán triệt quan điểm gắn xây dựng và phát triển văn hóa với xây dựng và phát triển con người, Nghị quyết đã giành vị trí và dung lượng thỏa đáng cho vấn đề xây dựng và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước với việc xác định “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”.

    Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là hoàn toàn phù hợp với những yêu cầu, giá trị, chuẩn mực của văn hóa Việt Nam, của con người Việt Nam trong thời kỳ mới, khi mà chúng ta đang xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, mà nét nổi bật là xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập quốc tế trong điều kiện khoa học và công nghệ đang có bước phát triển mới, các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá nước ta bằng “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, con người.

    Thứ tư, nhằm thực hiện mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết đã chỉ ra năm quan điểm chỉ đạo. Trong đó có những nội dung đã thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng văn hóa, con người như: “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Đây là một luận điểm mới thể hiện Đảng ta đã rất coi trọng vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa. Thực tiễn công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là trong những cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định vai trò to lớn của sức mạnh văn hóa Việt Nam. Đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội thể hiện rõ quan điểm sức mạnh tổng hợp của đất nước phải là sức mạnh của cả kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Theo đó, việc đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội không chỉ thể hiện trong nhận thức, quan điểm, tư tưởng, tình cảm… mà điều quan trọng hơn là phải được thể hiện trong tổ chức hoạt động thực tiễn xây dựng và phát triển bền vững đất nước.

    Trong điều kiện hiện nay, trước yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới thì vấn đề xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện được đặt ra với yêu cầu mới cao hơn. Đó phải là những con người tiêu biểu về tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội với những nét biểu hiện mới. Chẳng hạn, yêu nước ngày nay là phải trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, khẳng định vai trò và sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, kiên quyết đấu tranh phê phán những quan điểm hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Yêu nước ngày nay là phải quyết tâm xây dựng đất nước vững mạnh toàn diện, ngày càng phát triển bền vững, giữ vững độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài; đồng thời, phải góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, cả vùng đất, vùng trời, vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Thứ năm, Nghị quyết đã đặt nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách lên hàng đầu. Có thế giới quan khoa học, hướng tới chân – thiện – mỹ. Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường. Nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm con người. Nâng cao thể lực, tầm vóc, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống… Trong xác định nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế, Đảng ta cũng nhấn mạnh “trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân”.

    Việc xác định rõ và cụ thể nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là sự thể hiện tư duy mới của Đảng ta khi đặt vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới với những đặc điểm mới đã, đang và sẽ chi phối, tác động đến văn hóa, con người, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế tri thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo quan niệm mới về phát triển bền vững đất nước.

    Nghị quyết đã xác định rõ những giải pháp, biện pháp toàn diện, đồng bộ, cụ thể và có tính khả thi trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong điều kiện mới, từ những giải pháp, biện pháp về nhận thức, trách nhiệm của tổ chức, con người, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, xây dựng đội ngũ nòng cốt hoạt động trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa, con người, đến cơ chế, chính sách, đầu tư nguồn lực cả nhân lực, vật lực cho hoạt động xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước chỉ có thể đem lại những thành tựu to lớn khi chúng ta quan tâm sâu sắc, đầy đủ đến việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp cao cả xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Thứ sáu, để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết đã chỉ ra những giải pháp mới về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa; tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa. Có thể thấy, trong Nghị quyết lần này Đảng ta hết sức coi trọng vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa cho phù hợp với thời kỳ mới. Đặc biệt nhấn mạnh đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa và vai trò của chính những con người, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa. Việc ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay, thể hiện tư duy mới trong lãnh đạo văn hóa của Đảng ta, trên cơ sở kế thừa và phát triển tư duy về xây dựng và phát triển văn hóa, con người được thể hiện trong các kỳ Đại hội Đảng, trong các Nghị quyết Hội nghị Trung ương các khóa trước, nhất là từ Đề cương Văn hóa năm 1943 và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Việc tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc, đầy đủ, nhất là những vấn đề phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng và phát triển văn hóa, con ngườiViệt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, trên cơ sở đó tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết, nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống, nhất định chúng ta sẽ thổi được một luồng gió mới vào công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

    Thiếu tướng, PGS, TS. Nguyễn Vĩnh Thắng

    --- Bài cũ hơn ---

  • 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm
  • Nội Dung Và Giải Pháp Xây Dựng Trường Xanh Sạch Đẹp Mot So Noi Dung Va Giai Phap Xay Dung Xanh Sach Dep Doc
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Và Gợi Mở Hai Mô Hình Chính Sách
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững
  • Kết Luận Của Bộ Chính Trị Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Toàn Diện Con Người, Mục Tiêu Xuyên Suốt Của Đảng
  • Xây Dựng, Phát Triển Văn Hóa Con Người Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Giải Pháp Quản Lý Công Việc Nhóm Thông Minh
  • Giải Pháp Quản Lý Công Việc Ngành Thi Công Xây Dựng
  • Quy Trình Quản Lý Công Việc Hiệu Quả
  • Bộ Chính trị vừa kết luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33 của BCH TƯ Đảng khóa 11 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    1. Năm năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện Nghị quyết và đã đạt kết quả bước đầu. Nhận thức, ý thức trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam có chuyển biến tích cực.

    Trong kế hoạch, chiến lược phát triển của TƯ, địa phương đều đặt nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện ở vị trí trung tâm. Phát triển văn hóa ngày càng gắn bó hơn với xây dựng con người Việt Nam, từng bước trở thành một trong những nguồn lực quan trọng của sự nghiệp phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế. Vai trò của văn học, nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người được coi trọng phát huy hơn.

    Tầm vóc, thể lực con người Việt Nam có bước cải thiện. Chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa từng bước được nâng cao; xây dựng môi trường văn hóa đã được chú trọng, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của từng vùng, miền được kế thừa. Nhiều di sản văn hóa được bảo tồn, phát huy. Đời sống văn hóa của nhân dân không ngừng được cải thiện. Một số chính sách, pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho công tác xây dựng và phát triển văn hóa, con người được ban hành.

    Hệ thống thiết chế văn hóa được đầu tư và từng bước chuyển đổi cơ chế, đổi mới về phương thức hoạt động. Thị trường văn hóa bước đầu được hình thành. Hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại ngày càng chủ động hơn.

    Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế chưa đạt được mục tiêu đề ra.

    Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại. Môi trường văn hóa có những mặt chưa thực sự lành mạnh. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đạt hiệu quả chưa cao. Tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán, văn hóa đặc trưng của một số dân tộc thiểu số có nguy cơ mai một dần. Còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật.

    Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật chưa thực hiện tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với thực tiễn sáng tác. Một số chủ trương, quan điểm nêu trong Nghị quyết chậm được thể chế; chưa có những chiến lược, giải pháp đồng bộ để phát triển và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế về văn hóa. Chưa giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển trong quản lý văn hóa. Hệ thống thiết chế văn hóa chậm chuyển đổi sang phương thức tự chủ, xã hội hóa.

    Việc chỉ đạo phát triển công nghiệp văn hóa còn chậm. Các đặc trưng cơ bản của nền văn hóa là “dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học” cùng quan điểm xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp chưa được quán triệt thường xuyên; có dấu hiệu bị buông lỏng trong cả ba môi trường: Gia đình, nhà trường và xã hội.

    Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Một số cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội và một bộ phận nhân dân nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò quan trọng của việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người đối với phát triển bền vững đất nước.

    Vị trí, vai trò của văn hóa chưa thực sự được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chưa thực sự đổi mới, nhất là trong việc xây dựng, đào tạo, bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa. Việc thực hiện nêu gương của cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn hình thức, chưa tạo được sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ.

    Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa có mặt còn bất cập, chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn. Chưa phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp, sự gắn kết chặt chẽ, đồng bộ của các chủ thể văn hóa, khích lệ, động viên tính tích cực xã hội của nhân dân, nhất là đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức trong tổ chức thực hiện Nghị quyết. Công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để hình thành cơ sở lý luận, đúc kết hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam còn chậm, lúng túng, bị động.

    2. Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 33-NQ/TW, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp quyết tâm thực hiện có hiệu quả, tạo chuyển biến sâu sắc, toàn diện các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu trong Nghị quyết. Đồng thời, quan tâm những nội dung sau:

    2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xác định rõ xây dựng và phát triển văn hóa, con người là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị.

    Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng tính đặc thù của văn hóa, vừa bảo đảm để văn hóa, văn học, nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm tự do sáng tạo của cá nhân trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn.

    Khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo. Định kỳ kiểm tra, giám sát việc thể chế hóa chủ trương của Đảng đối với cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa.

    Tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, xác định rõ những chiến lược và giải pháp lãnh đạo, quản lý phù hợp với từng đối tượng, lĩnh vực và địa bàn cụ thể. Tăng cường các nguồn lực cho phát triển văn hóa, tương xứng với tăng trưởng kinh tế.

    Ưu tiên đầu tư một số cơ sở đào tạo trọng điểm, chất lượng cao và một số ngành công nghiệp văn hóa chủ đạo, có khả năng dẫn dắt các hoạt động văn hóa. Coi trọng hơn nữa công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người làm công tác văn hóa, nghệ thuật.

    2.3. Tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Khẩn trương hoàn thiện việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

    Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người Việt Nam có thế giới quan khoa học, có nhân cách, lối sống đẹp với các đặc tính cơ bản “yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”. Tăng cường giáo dục thẩm mỹ, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng xã hội cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên.

    Xây dựng lối sống tuân thủ pháp luật, tôn trọng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, “tương thân tương ái”. Khẳng định, tôn vinh, nhân rộng các giá trị tốt đẹp, nhân văn. Chấn chỉnh kịp thời việc lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để truyền bá tư tưởng duy tâm thần bí, thực hành mê tín dị đoan, gây mất an ninh trật tự.

    Đấu tranh loại trừ các sản phẩm văn hóa độc hại, các hành vi tiêu cực, cơ hội, vi phạm pháp luật, truyền bá tư tưởng sai trái, lối sống thực dụng, trái thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng xấu đến xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

    2.4. Đẩy mạnh xây dựng môi trường và đời sống văn hóa lành mạnh, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Có cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

    Đề cao vai trò, trách nhiệm và các giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình trong việc nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ thanh thiếu nhi, cùng với nhà trường giáo dục, hình thành nhân cách, đạo đức trong sáng và kỹ năng ứng xử xã hội văn minh. Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, gìn giữ, ứng xử đúng đắn với môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

    Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh. Huy động nguồn lực của mọi tầng lớp xã hội đầu tư và tổ chức đời sống văn hóa, góp phần thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, các tầng lớp trong xã hội.

    2.5. Tăng cường xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Tiếp tục chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Coi trọng xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước.

    Đẩy mạnh việc “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; thực hiện nghiêm các quy định về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ những người làm công tác giáo dục, văn nghệ sĩ và cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, lãnh đạo doanh nghiệp và những người có tầm ảnh hưởng quan trọng trong cộng đồng và xã hội.

    Chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm các biểu hiện suy thóai về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong hệ thống chính trị và xã hội. Chú trọng yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. Đẩy mạnh việc triển khai xây dựng văn hóa doanh nghiệp, tinh thần khởi nghiệp, xây dựng đội ngũ doanh nhân giỏi, kinh doanh đúng pháp luật, đóng góp có trách nhiệm cho cộng đồng và xã hội.

    2.6. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động văn hóa. Xử lý hài hoà giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững ở các địa phương, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.

    Chú trọng thực hiện các chương trình phục hồi, bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một; giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, các giá trị văn hóa trong tôn giáo, tín ngưỡng. Tạo điều kiện, khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật.

    Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật, nâng cao tính chuyên nghiệp; đồng thời phát triển sâu rộng văn học, nghệ thuật quần chúng. Đầu tư nhiều hơn cho hoạt động nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, từng bước hoàn thiện hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam. Tập trung thực hiện quy hoạch và quản lý báo chí toàn quốc. Phát huy vai trò của báo chí, nâng cao hiệu quả hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trên môi trường mạng Internet.

    2.7. Tăng cường bảo hộ quyền tác giả, phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa. Tạo nhận thức sâu sắc của toàn xã hội về vị trí, vai trò của các ngành công nghiệp văn hóa. Phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường; tăng cường và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư để phát triển công nghiệp văn hóa.

    2.8. Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và truyền bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Mở rộng giao lưu, hợp tác văn hóa với các nước; đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu.

    Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế đầu tư trí tuệ, nguồn lực, tham gia phát triển văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Tăng cường các chương trình dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam. Chọn lọc, tiếp thu kinh nghiệm tốt, phù hợp của các nước trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa.

    3. Tổ chức thực hiện

    Các tỉnh ủy, thành ủy và các đảng ủy trực thuộc TƯ tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung của Nghị quyết số 33-NQ/TW và Kết luận này.

    – Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc thể chế hóa nội dung của Nghị quyết số 33-NQ/TW; rà soát, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật về việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam; tăng cường hoạt động giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

    – Ban Cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW và Kết luận này. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các văn bản quản lý về hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Đầu tư nguồn lực thoả đáng cho sự nghiệp xây dựng văn hóa, giáo dục và con người trong thời kỳ mới. Kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác trong lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật có phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn phù hợp.

    – Đảng đoàn MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên Mặt trận tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, tư vấn, hỗ trợ, giám sát các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW và việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

    Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; giữa các ban, ngành, đoàn thể trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ cho thế hệ trẻ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, các phong trào thi đua yêu nước.

    – Ban Tuyên giáo TƯ chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị đổi mới phương thức tuyên truyền, vận động, tạo chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Kết luận này, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

    Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng vừa ký kết luận số 77 của Bộ Chính trị về chủ trương khắc phục tác động của đại dịch Covid-19 để phục hồi và phát triển nền kinh tế đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Vi Mô Phát Triển Thị Trường Lao Động Việt Nam
  • Giải Pháp Vi Mô Phát Triển Thị Trường Lao Động
  • 9 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bất Động Sản
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Du Lịch Trên Địa Bàn Tỉnh Bà Rịa
  • Phát Triển Công Nghiệp Văn Hóa Đi Đôi Với Xây Dựng, Hoàn Thiện Thị Trường Văn Hóa
  • Xây Dựng Con Người Việt Nam Phát Triển Toàn Diện

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Con Người Việt Nam Phát Triển Toàn Diện Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Một Số Vấn Đề Về Xây Dựng Con Người Việt Nam
  • Giải Pháp Đột Phá Xây Dựng Con Người Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Nhằm Phát Triển Con Người Việt Nam Phục Vụ Cho Sự Nghiệp Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Một Số Ý Kiến Về Định Hướng Chiến Lược Phát Triển Con Người Trong Giai Đoạn Mới (Phần 2)
  • Công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên đã được quan tâm nhưng vẫn còn những hạn chế, bất cập biểu hiện qua tình trạng còn một bộ phận học sinh vi phạm chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật. Do đó, các nhà trường cần coi việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên là việc làm quan trọng hàng đầu, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này, giúp hình thành một thế hệ trẻ phát triển toàn diện cả “đức, trí, thể, mỹ”.

    Chưa giáo dục đầy đủ về đạo đức, lối sống

    Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng: Học sinh, sinh viên hiện nay năng động, thực tế, tự chủ hơn, bộc lộ rõ cá tính. Quan niệm đạo đức của học sinh, sinh viên hiện nay cũng ít bị ràng buộc bởi dư luận. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên đang thực dụng trong quan niệm đạo đức và hành vi ứng xử, muốn thể hiện vai trò cá nhân, đề cao các giá trị vật chất hơn những giá trị tinh thần. Thậm chí, một số học sinh, sinh viên có thái độ thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội; xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc; sống buông thả, tự đặt mình ra khỏi những nguyên tắc. Đáng báo động, một bộ phận có lối hành xử bạo lực phi nhân tính, dính vào các tệ nạn xã hội… khiến gia đình, nhà trường và xã hội lo lắng.

    Đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến các sa sút về đạo đức, lối sống của giới trẻ hiện nay, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Phú phân tích: Trước hết, chính bản thân học sinh, sinh viên chưa được giáo dục đầy đủ, kém phát triển về phẩm chất đạo đức, nhân cách. Thứ hai là thiếu sự quan tâm của gia đình đối với con cái, thả lỏng, buông trôi việc giáo dục đạo đức cho con, phó mặc cho nhà trường. Bên cạnh đó, nhà trường chưa đủ sức trở thành tấm gương, nguồn sức mạnh giáo dục răn đe con trẻ. Nhiều thầy cô đã tạo nên những áp lực học tập quá mức, không cần thiết, thiếu minh bạch, công tâm, đôi lúc chưa thực sự gương mẫu trước các em. Trong giáo dục chưa coi trọng tình người, còn trù úm học sinh có những biểu hiện đạo đức yếu kém.

    Ngoài ra, hành vi đạo đức của một số em chịu tác động xúi bẩy của một số người hoặc nhóm bạn xấu trong lớp mà nhà trường, thầy cô giáo chưa biết cách ngăn chặn kịp thời. Tác động của một số sản phẩm văn hóa thiếu lành mạnh cũng là một trong những nguyên nhân gợi ý các em có những hành vi thiếu chuẩn mực. Về phía xã hội, phải nhìn nhận thẳng thắn là trong nhiều năm qua, chúng ta đã buông lỏng giáo dục đạo đức cho người dân nói chung và cho con trẻ nói riêng.

    Thầy Nguyễn Văn Hòa, Chủ tịch Hội đồng quản trị Trường Phổ thông liên cấp Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hà Nội) chia sẻ: Hiện nay, việc giáo dục đạo đức trong các nhà trường còn nhỏ lẻ, không chú tâm và bị xem nhẹ. Đa phần các trường lo lắng và tập trung nhất vào điểm số. Giáo dục cả nước bị cuốn theo dòng thành tích – thi cử. Do đó, việc giáo dục đạo đức không phải hoạt động thường xuyên mà chỉ làm lấy lệ, hình thức, không xuất phát từ mục tiêu giáo dục con người.

    Từ thực tế đó, thầy Nguyễn Văn Hòa nhấn mạnh: Việc giáo dục đạo đức không phải đưa ra các quy tắc bắt học sinh thực hiện mà cần xuất phát từ giá trị sống và kỹ năng sống. Nếu không coi trọng khoa học tâm lý, chúng ta đã đánh mất đi giá trị cơ bản nhất của giáo dục. Việc giáo dục phải đi đúng tâm lý con người theo cách làm họ tự giác thay đổi bản thân để trở thành con người văn hóa, văn minh.

    Phối hợp hiệu quả giữa gia đình – nhà trường – xã hội trong giáo dục học sinh

    Theo thầy Đào Đức Doãn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh phổ thông cần có sự tham gia của tất cả các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường, trong đó Giáo dục công dân là môn học cốt lõi vì đây là môn học giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục cho học sinh ý thức và hành vi của người công dân. Trong hoàn cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, cần quan tâm, xem xét lâu dài và nghiêm túc vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống, nhân cách con người Việt Nam từ trong các nhà trường.

    Thực tế, chương trình môn giáo dục công dân hiện hành vẫn chủ yếu coi trọng lý thuyết, coi nhẹ thực hành, chưa chú trọng đến rèn luyện kỹ năng cho học sinh, chưa hướng tới việc hình thành cho học sinh những phẩm chất năng lực cần thiết của người công dân. Nhiều nội dung dạy học chưa gắn với đời sống giới trẻ, chưa gắn với thay đổi của đất nước và thời đại, chưa sát đối tượng, tạo áp lực cho cả dạy và học. Kiến thức lồng ghép trong giáo dục đạo đức quá ôm đồm, thiếu tính hệ thống, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn…

    Vì vậy, thầy Đào Đức Doãn nhấn mạnh: Muốn đổi mới giáo dục đạo đức trong dạy học môn giáo dục công dân phải có những giải pháp đồng bộ về nhiều phương diện: chương trình, sách giáo khoa, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý…, trong đó, giáo viên đóng vai trò quyết định.

    Tiến sĩ Võ Thế Quân, Hiệu trưởng Trường Trung học Phổ thông Đông Đô, Hà Nội cho rằng: Thời đại ngày nay đã thay đổi, trẻ con không thích nghe giáo huấn mà thích nghe nhạc, chơi game, thể thao, các hoạt động tập thể hợp với tuổi trẻ… Nếu học sinh, sinh viên thích gì, mong muốn gì mà chúng ta không nắm bắt được, giáo dục đạo đức kiểu “giáo huấn” sẽ không thật sự đi vào suy nghĩ của tuổi trẻ được. Do vậy, cần phải đưa môn Kỹ năng sống vào chương trình dạy học chính thức cho các trường học để hình thành thói quen, ý thức cho học sinh. Giáo dục toàn diện đức – trí – thể – mỹ là nhiệm vụ thường xuyên của các trường phổ thông, trong đó giáo dục đạo đức có vị trí quan trọng hàng đầu.

    Đồng quan điểm trên, Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm, Chủ tịch Hội Tâm lý Giáo dục Hà Nội chia sẻ: Chúng ta nói nhiều rồi nhưng làm ít quá. Để việc giáo dục thay đổi, cần phải đi tìm những giải pháp thật cụ thể, phải hiểu lớp trẻ hiện tại, hiểu những yêu cầu cốt lõi trong vấn đề giáo dục, lối sống.

    Học sinh, sinh viên là chủ nhân tương lai của đất nước. Do vậy, việc đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức, giá trị sống, kỹ năng sống, lý tưởng sống cho học sinh, sinh viên là rất quan trọng và cấp thiết. Nó góp phần xây dựng thành công con người mới xã hội chủ nghĩa để phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

    Bài cuối: Phát triển thể chất đáp ứng yêu cầu mới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển
  • Đề Tài Vai Trò Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Vai Trò Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Vai Trò & Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Công Trình Xanh & Các Giải Pháp Kiến Trúc
  • Tọa Đàm Các Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Nghị Quyết Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Để Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Thông Qua Đổi Mới Tổ Chức Hoạt Động Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
  • Một Vài Giải Pháp Giúp Nâng Cao Văn Hoá Đọc Của Sinh Viên Saigonact
  • Tọa đàm các giải pháp phát triển văn hóa, con người Việt Nam

    (LV) – Ngày 22/1, Bộ VHTTDL đã tổ chức Tọa đàm về các giải pháp triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW và Nghị quyết số 102/NQ-CP về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ Anh Tuấn đã chủ trì buổi tọa đàm. Tại buổi tọa đàm, các đơn vị thuộc Bộ VHTTDL tham gia soạn thảo Nghị quyết và Chương trình hành động đã giới thiệu khái quát Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước với 05 mục tiêu cụ thể, 05 quan điểm, 06 nhiệm vụ và 04 nhóm giải pháp thực hiện.

    Với 5 mục tiêu cụ thể, 5 quan điểm, 6 nhóm nhiệm vụ và 4 nhóm giải pháp, nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, vừa tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc của văn hóa, con người, vừa định hướng xây dựng, phát triển văn hóa, con người đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    Vấn đề văn hóa, con người được đặt ra, giải quyết một cách tương tác và hệ thống trong Nghị quyết, được đúc rút từ thực tiễn sinh động, được soi rọi bởi lý luận, những quy luật khách quan trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nếu được triển khai đồng bộ từ khâu quán triệt, nhận thức, đến hành động, đặc biệt với sự đổi mới tư duy về văn hóa, con người, chúng ta tin tưởng Nghị quyết sẽ đi vào cuộc sống, là kim chỉ nam cho mọi mục tiêu, hành động vì văn hóa, con người, từ văn hóa, con người, để thực sự “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn cho biết, để Nghị quyết cũng như Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ VHTTDL đi vào đời sống, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng thì rất cần sự vào cuộc tích cực, nhiệt tình của các cơ quan báo chí. Thời gian tới Bộ VHTTDL sẽ có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các cơ quan truyền thông, thường xuyên tổ chức các buổi trao đổi chuyên môn nghiệp vụ, tạo sự đồng thuận để góp phần thực hiện thành công những mục tiêu mà ngành văn hóa đã đề ra.

    Sau khi Nghị quyết 33 ra đời, vào tháng 12/2014, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động với mục tiêu chung triển khai Nghị quyết, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Tiếp đó, ngày 14/1/2015, Bộ VHTTDL đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu, phân công cụ thể các nội dung, kế hoạch của ngành để triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Kon Tum: Giải Pháp Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội Trong Thời Gian Tới
  • Bộ Công An Đề Ra 6 Nhóm Giải Pháp Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Tham Nhũng “vặt”
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Các Đơn Vị, Địa Phương
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Con Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Lập Lịch Bảo Trì Và Giám Sát Thực Hiện Công Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian Làm Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian
  • Quản Lý Thời Gian Là Gì? Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Làm Sao Để Quản Lý Được Thời Gian Của Bản Thân
  • Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng có nhiều điểm mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn. Bài viết này đề cập đến một số điểm mới trong định hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa, con người được xác định trong Dự thảo.

    Về tiêu đề của định hướng

    Đại hội XI, Đảng xác định tiêu đề: Chăm lo phát triển văn hóa. Đến Đại hội XII, Đảng xác định tiêu đề: Xây dựng, phát triển văn hóa, con người. Như vậy, từ Đại hội XI đến Đại hội XII, đã có sự mở rộng nội hàm của định hướng này. Đây là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và con người 1. Bởi vì, nói đến văn hóa là nói đến con người, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, quan hệ giữa văn hóa và con người là mối quan hệ tất yếu không thể tách rời. Mặc dù, văn hóa không phải là bản thân con người, nhưng muốn xây dựng, phát triển văn hóa thì tất yếu phải xây dựng, phát triển con người, vì chính con người là chủ thể duy nhất sáng tạo ra văn hóa, đến lượt nó, văn hóa trở thành nhân tố nuôi dưỡng, hoàn thiện, phát triển nhân cách con người.

    Dự thảo xác định tiêu đề: “Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”. Về mặt hình thức, so với tiêu đề “xây dựng, phát triển văn hóa, con người” trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XII dường như có sự thu hẹp về nội dung; chỉ đề cập đến giá trị văn hóa và sức mạnh con người chứ không đề cập đến toàn bộ lĩnh vực văn hóa và con người. Nhưng thực ra xác định tiêu đề như Dự thảo là phù hợp. Bởi vì, thực chất nói đến văn hóa là nói đến giá trị, toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra đều bao hàm trong khái niệm văn hóa. Do đó, xây dựng, phát triển văn hóa về bản chất là xây dựng, phát huy các giá trị do con người sáng tạo ra, gọi là giá trị văn hóa. Và suy đến cùng thì giá trị văn hóa chính là tổng hòa các giá trị con người. Đó chính là sáng tạo và nhân văn theo tiêu chí Chân – Thiện – Mỹ.

    Mặt khác, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng như Kết luận số 76-KL/TW, ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã đánh giá, nhưng “Việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế chưa đạt mục tiêu đề ra” 2. Đặc biệt là các giá trị về đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại. Cho nên, xác định tiêu đề “Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” như Dự thảo là hoàn toàn khoa học, đầy đủ và chính xác.

    Về những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể được xác định trong định hướng phát triển văn hóa, con người, Dự thảo xác định nhiều vấn đề mới, nổi lên là:

    , “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”3. Đây là lần đầu tiên, Đảng ta nêu lên thuật ngữ “hệ giá trị quốc gia” trong văn kiện của Đảng. Nội hàm của nhiệm vụ, giải pháp này là tập trung hoàn thiện và triển khai xây dựng một hệ thống chuẩn mực giá trị văn hóa của quốc gia – dân tộc Việt Nam thời kỳ mới. Đó là yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, phát triển và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Hệ thống chuẩn mực giá trị văn hóa của quốc gia – dân tộc Việt Nam thời kỳ mới sẽ là sự hòa quyện hữu cơ giữa giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, thể hiện rõ bản sắc, ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam hướng đến mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hệ chuẩn mực giá trị này sẽ là cơ sở định hướng sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội một cách bền vững, đồng thời định hướng nhân cách con người Việt Nam hiện nay. Cùng với đó, cần xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đảm bảo cho họ phải có thế giới quan khoa học, nhân cách, lối sống cao đẹp, với những đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Đồng thời, xây dựng lối sống tuân thủ pháp luật, tôn trọng đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Tương thân tương ái”; khẳng định, tôn vinh nhân rộng những giá trị nhân ái, nhân văn.

    Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta: “…gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình” 4. Văn hóa gia đình Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử đã trở thành bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc ta. Giữ gìn, phát triển hệ giá trị văn hóa gia đình Việt Nam thời kỳ mới là vừa kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, vừa kết hợp với những giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại, phù hợp với sự vận động, phát triển của xã hội. Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, gia đình Việt Nam đang có những cơ hội lớn để giao lưu, hội nhập với các nền văn hóa tiên tiến, văn minh. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, đời sống văn hóa gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều thách thức. Sự tác động nhiều mặt của điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay, ở góc độ nào đó đã làm cho những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam bị phá vỡ, lệch chuẩn, nhất là những giá trị văn hóa về đạo đức gia đình, về văn hóa ứng xử trong gia đình, v.v. Do đó, gìn giữ, phát triển hệ giá trị văn hóa gia đình đã và đang là yêu cầu bức thiết hiện nay.

    , nếu như Đại hội XII xác định: “Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước…” thì Dự thảo xác định: “Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý”5 là phù hợp, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn. Để nâng tầm văn hóa trong chính trị, văn hóa trong Đảng, vấn đề cốt lõi nhất là xây dựng văn hóa lãnh đạo của Đảng, để Đảng ta “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” 6, và “là đạo đức, là văn minh” 7. Văn hóa lãnh đạo của Đảng được hình thành và phát triển trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng; được biểu hiện ở bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ trí tuệ của Đảng; ở phong cách, lề lối, kỹ năng lãnh đạo; ở phương pháp, tác phong công tác của cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa lãnh đạo là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, nâng tầm văn hóa của Đảng với tư cách là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đây là giải pháp quan trọng, hữu hiệu để không ngừng tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện hiện nay.

    Cùng với xây dựng văn hóa lãnh đạo của Đảng, cần phải xây dựng văn hóa công vụ trong các cơ quan nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “nước ta là nước dân chủ”, có nghĩa là “dân là chủ và dân làm chủ”. Xây dựng văn hóa quản lý của cơ quan nhà nước phải nhằm phát huy dân chủ, mọi chính sách của Nhà nước phải hướng đến nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của nhân dân. Phải quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng “Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động”. Các bộ, ngành, cơ quan nhà nước từ Trung ương tới địa phương phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân hành động quyết liệt, nói đi đôi với làm. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị, năng lực, uy tín, tính chuyên nghiệp cao, sức khỏe tốt, tận tụy phục vụ nhân dân. Kiên quyết chống tha hóa quyền lực dẫn tới cậy quyền, lạm quyền, chạy chức, chạy quyền, tham ô, tham nhũng, v.v. Đó là những biểu hiện phản văn hóa, phi văn hóa lãnh đạo, quản lý.

    , cùng với việc tiếp tục coi trọng xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa, Dự thảo khẳng định: “Không bố trí cán bộ làm công tác văn hóa kém năng lực, thiếu bản lĩnh”8. Đây là sự thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng về vai trò nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của văn hóa đối với sự phát triển đất nước. Đồng thời, khẳng định vai trò của cán bộ, công tác cán bộ trong lĩnh vực hoạt động văn hóa. Quá trình thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) những năm qua cho thấy, nguyên nhân chính của những hạn chế, bất cập là do nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các địa phương, cơ quan, đơn vị về xây dựng, phát triển văn hóa, con người còn nhiều yếu kém, “công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chưa thực sự đổi mới, nhất là trong việc xây dựng, đào tạo, bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa” 9. Trong bất kỳ lĩnh vực nào, cán bộ luôn là “cái gốc” của mọi công việc, đặc biệt là đối với công tác văn hóa, văn nghệ của Đảng, cán bộ làm công tác này cần đáp ứng những yêu cầu cao về phẩm chất, năng lực và bản lĩnh văn hóa. Nói cách khác, người làm công tác văn hóa cần phải thật sự văn hóa, từ nhận thức đến hành động, từ lời nói đến việc làm, phải trở thành tấm gương về văn hóa đối với quần chúng nhân dân. Trên thực tế, ở nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ làm công tác văn hóa lại thiếu hiểu biết về văn hóa, hạn chế về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ.

    Tựu trung, Dự thảo lần này, Đảng ta chỉ rõ việc coi trọng đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa và “không bố trí cán bộ làm công tác văn hóa kém năng lực, thiếu bản lĩnh” là khâu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay.

    1 – Không phải đến Đại hội XII, mà từ Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI), Đảng ta đã ban hành Nghị quyết chuyên đề số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    2 – Kết luận số 76-KL/TW, ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, tr.01.

    3 – ĐCSVN – Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (Tài liệu sử dụng tại đại hội đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương), H. 2022, tr.43.

    4 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 300.

    5 – ĐCSVN – Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (Tài liệu sử dụng tại đại hội đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương), H. 2022, tr. 43.

    6 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 612.

    7 – Sđd, Tập 12, tr. 403.

    8 – ĐCSVN – Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (Tài liệu sử dụng tại đại hội đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương), H. 2022, tr.45.

    9 – Kết luận số 76-KL/TW, ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, tr. 2.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Bước Đầu Trong Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam
  • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Phát Triển Lĩnh Vực Văn Hóa, Gia Đình Của Tỉnh Giai Đoạn 2022
  • Thực Trạng,giải Pháp Phát Triển Nền Văn Hóa Trong Thời Kỳ Mới
  • Câu 1. Cho Biết Đoạn Thơ Trên Thuộc Thể Thơ Nào? (0,25 Điểm)
  • Hội Thảo “các Giải Pháp Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Nhằm Phát Triển Văn Hóa Đọc”
  • Nghị Quyết Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Để Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Thông Qua Đổi Mới Tổ Chức Hoạt Động Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
  • Một Vài Giải Pháp Giúp Nâng Cao Văn Hoá Đọc Của Sinh Viên Saigonact
  • Đề Thi Thử Thpt Lần 3 Môn Văn
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Vì Sự Phát Triển Bền Vững Ở Lai Châu
  • A- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

    Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng. Tư duy lý luận về văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên. Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều phong trào, hoạt động văn hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết thực; phát huy được truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện. Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành; quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng. Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc.

    I- MỤC TIÊU

    Mục tiêu chung

    Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Tọa Đàm Các Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam
  • Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Kon Tum: Giải Pháp Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội Trong Thời Gian Tới
  • Bộ Công An Đề Ra 6 Nhóm Giải Pháp Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Tham Nhũng “vặt”
  • Tập Trung Xây Dựng Con Người Việt Nam Phát Triển Toàn Diện

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Góp Phần Quan Trọng Xây Dựng Con Người Việt Nam Phát Triển Toàn Diện
  • Điều Kiện Và Giải Pháp Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Nghệ An: Giải Pháp Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Giải Pháp Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Kế hoạch nhằm tiếp tục thực hiện các mục tiêu phát triển về văn hóa, gia đình, TDTT và du lịch đã được xác định tại Chương trình hành động của Bộ VH,TT&DL thực hiện Nghị quyết số 33 và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XII của Đảng.

    Xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu, phân công cụ thể các nội dung, kế hoạch của Bộ VH,TT&DL nhằmtriển khai thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 4/6/2020 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33- NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch.

    Tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện

    Về nhiệm vụ, giải pháp”Tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện”, Kế hoạch của Bộ VH,TT&DLnhấn mạnh: Xây dựng môi trường và đời sống văn hóa lành mạnh gắn với Phong trào TDĐKXDĐSVH; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp; tập trung hoàn thiện việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

    Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, văn hóa ứng xử trong cộng đồng, gia đình… Đấutranh loại trừ cácsản phẩm văn hóa độc hại, các hành vi tiêu cực, cơ hội, vi phạm pháp luật, truyền bá tư tưởng sai trái, lối sống thực dụng, trái thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng xấu đến xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

    Tăngcường giáo dục thẩm mỹ, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, lối sống, kỹ năng, ứng xử trong gia đình, cộng đồng; hình thành thói quen, kỹ năng, phương pháp đọc sách, tiếp cận và sử dụng thông tin, tri thức phục vụ học tập suốt đời của người dân, đặc biệt thanh niên, thiếu niên. Xây dựng lối sống lành mạnh, tuân thủ pháp luật, tôn trọng đạo lý Uống nước nhớ nguồn, Đền ơn đáp nghĩa, Tương thân tương ái…

    Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa

    Kế hoạchcũng tập trung nêu rõ những nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đi đôi với việc xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa. Theo đó, đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và địa phương về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn liền với sự phát triển kinh tế- xã hội. Tập trung rà soát, xây dựng, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; thu hút và hỗ trợ đầu tư, xây dựng các chính sách ưu đãi, đẩy mạnh tuyên truyền, xúc tiến đầu tư phát triển các ngành công nghiệp văn hóavới những lợi thế, tiềm năng sẵn có.

    Bên cạnh đó, xây dựng bộ chỉ tiêu thống kế cho các ngành công nghiệp văn hóa tiến tới luật hóa công tác điều tra thống kê quốc dân hàng năm. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy trao đổi kiến thức, nâng cao năng lực chuyên môn, đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho các ngành công nghiệp văn hóa.

    Tăng cường ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong sáng tạo, sản xuất, phổ biến, lưu trữ các sản phẩm văn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa.

    “Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”, Kế hoạch nhấn mạnh.

    Tăng cường xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế

    Về nhiệm vụ, giải pháp này, nội dung kế hoạch nêu: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục tư tưởng và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    Thựchiện nghiêm các quy định về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thốngchính trị, đội ngũ những người làm công tác giáo dục, văn nghệ sĩ và cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, lãnh đạo doanh nghiệp.

    Xây dựng văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp, đề cao yếu tố văn hóa và tri thức trong các sản phẩm và hoạt động kinh doanh.

    Tôn vinh các doanh nghiệp, doanh nhân kinh doanh của ngành đóng góp có trách nhiệm cho cộng đồng và xã hội.

    Cũng theo Kế hoạch, Bộ VH,TT&DL yêu cẩu các đơn vị thuộc Bộ, Sở VH,TT&DL, Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch, Sở VHTT, Sở Du lịch các tỉnh, thành trực thuộc TƯ… xây dựng kế hoạch, chương trình và giải pháp thích hợp, huy động các nguồn lực xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đặc biệt các nguồn lực địa phương, tại chỗ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Hình Và Con Đường Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Tiểu Luận Trình Bày Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đặc Trưng, Bản Chất, Bước Đi Và Biện Pháp Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Phát Triển Ở Việt Nam
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Về Phương Hướng Cơ Bản Của Quá Trình Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Trọng Trách Của Công Tác Tư Tưởng Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vai Trò, Trách Nhiệm Của Người Thầy Trong Sự Nghiệp Trồng Người
  • Văn Hóa Du Lịch
  • Một Góc Nhìn Lý Luận
  • Giáo Dục Tư Tưởng, Quan Điểm, Lối Sống Văn Hóa Cho Thanh Niên Trong Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Vai Trò Của Văn Hóa Công Sở Với Sự Phát Triển Nền Hành Chính Công Vụ Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Để văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc…hơn lúc nào hết Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá con người trong thời kỳ mới.

    Là hoạt động lãnh đạo quan trọng hàng đầu của Đảng Cộng sản, cho nên ngay sau khi ra đời, Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định thành lập Ban cổ động và tuyên truyền. Trong năm 1930, Ban cổ động và tuyên truyền Trung ương đã tiến hành triển khai nhiều hoạt động công tác tư tưởng rất có ý nghĩa như truyền bá sâu rộng “lời kêu gọi” của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, thay mặt quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản Việt Nam, truyền bá sâu rộng những văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng như Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng cộng sản Việt Nam… Đáng chú ý, có một văn kiện, một ấn phẩm của Ban cổ động và tuyên truyền TW Đảng mà Đảng ta lưu giữ được, đó là tài liệu: “Ngày quốc tế đỏ mồng 1 tháng tám” do Ban cổ động và tuyên truyền của Đảng Cộng sản ấn hành năm 1930. Đây là một hoạt động tư tưởng có ý nghĩa chính trị to lớn. Theo quyết định của Thường vụ Bộ Chính trị khoá VIII, ngày 1 tháng 8 hàng năm trở thành ngày truyền thống của ngành công tác tư tưởng của Đảng ta.

    Vào thời điểm này, cả nước đang tưng bừng kỷ niệm 90 năm ngày truyền thống ngành tư tưởng, văn hoá, khoa giáo.

    Lịch sử 90 năm qua của Đảng và của cách mạng Việt Nam mãi mãi còn ghi những đóng góp cực kỳ quan trọng của công tác tư tưởng, những cống hiến xuất sắc và những bước trưởng thành vượt bậc của những thế hệ cán bộ chiến sỹ trên mặt trận vẻ vang này. Lịch sử 90 năm hoạt động tư tưởng của Đảng ta đã ghi nhận những thành tựu rất quan trọng trong tư duy lý luận về văn hoá, con người, về vai trò của văn hoá con người, về kinh nghiệm xây dựng và phát triển nền văn hoá và con người Việt Nam qua các thời kỳ của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

    Tháng 2 năm 1943, sau Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta họp bàn các công tác khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, trên tinh thần nghị quyết của Hội nghị này, Tổng bí thư Trường Chinh đã soạn thảo Đề cương về văn hoá Việt Nam. Trên cơ sở phương pháp luận mác xít gắn chặt với phân tích sâu sắc thực tiễn, nhất là những xu hướng khác nhau trong lĩnh vực văn hoá Việt Nam, Đề cương đã trình bày những nội hàm chủ yếu của văn hoá bao gồm cả Tư tưởng, học thuật (khoa học), nghệ thuật (văn học nghệ thuật). Đề cương xác định văn hoá là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hoá) mà ở đó người cộng sản phải hoạt động, phải lãnh đạo cách mạng chính trị và cách mạng văn hoá. Đề cương đã nêu bật những quan điểm tư tưởng chỉ đạo cách mạng văn hoá ở Việt Nam đó là phải hoàn thành cách mạng văn hoá mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội; Cách mạng văn hoá muốn hoàn thành phải do Đảng cộng sản lãnh đạo. Cách mạng văn hoá có thể hoàn thành khi nào cách mạng chính trị thành công. Nền văn hoá mà cuộc cách mạng văn hoá ở Việt Nam phải thực hiện là văn hoá xã hội chủ nghĩa. Về mối quan hệ giữa cách mạng văn hoá và cách mạng giải phóng dân tộc, Đề cương khẳng định: Cách mạng văn hoá ở Việt Nam phải dựa vào cách mạng dân tộc giải phóng mới có điều kiện phát triển cách mạng dân tộc giải phóng Việt Nam, mới có thể đưa văn hoá Việt Nam tới trình độ dân chủ và có tính chất dân tộc hoàn toàn độc lập dựng nên một nền văn hoá mới; Phải tiến lên thực hiện cách mạng xã hội ở Việt Nam gây dựng một nền văn hoá xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đề cương cũng làm rõ mục tiêu trước mắt của cuộc vận động văn hoá ở Việt Nam là xây dựng nền văn hoá mới và xác định nền văn hoá mới của Việt Nam có hai tính chất dân tộc và dân chủ mới. Đề cương xác định 3 nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hoá ở Việt Nam thời kỳ này là:

    – Dân tộc hoá; chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho văn hoá Việt Nam phát triển độc lập.

    – Đại chúng hoá chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hoá phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng.

    - Khoa học hoá, chống lại tất cả những gì làm cho văn hoá trái khoa học, phản tiến bộ.

    Tuy còn một số hạn chế nhất định nhưng trong bối cảnh lịch sử đầu những năm 40 của thế kỷ XX, với việc trình bày hệ thống những quan niệm, phạm trù, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phương châm nguyên tắc chỉ đạo cuộc vận động văn hoá, Đề cương về văn hoá Việt Nam, thực sự là đỉnh cao trí tuệ, là sự nhận thức về tình hình, là những dự báo khoa học về mục tiêu tính chất, nguyên tắc, nhiệm vụ cuộc vận động văn hoá đương thời nhằm tạo nên sức mạnh tinh thần vĩ đại mà cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đang rất cần.

    Đề cương về văn hoá Việt Nam đầy sức thuyết phục và tính chiến đấu, đã trở thành ngọn cờ tập hợp, cổ vũ, động viên giới trí thức, khoa học, văn nghệ sỹ Việt Nam đương thời vào cuộc chiến đấu quyết liệt cho sự toàn thắng của cách mạng dân tộc, cho sự nghiệp phá tan xiềng xích của văn hoá phát xít, thực dân, bảo vệ truyền thống văn hoá dân tộc, xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam.

    Sau thắng lợi của cách mạng tháng 8 năm 1945, để thích hợp với tình hình mới, Hội văn hoá cứu quốc được mở rộng và đổi tên thành Hội văn hoá Việt Nam. Ngày 24-11-1946, Thực hiện mưu đồ cướp nước ta một lần nữa, Thực dân Pháp nổ sung tấn công Hải Phòng. Cùng ngày này, tại Thủ đô Hà Nội, khai mạc Đại hội văn hoá toàn quốc lần thứ nhất. Sự kiện quan trọng này diễn ra giữa lúc đất nước đang trong tình cảnh nước sôi, lửa bỏng đã khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặt vị trí của văn hoá quan trọng như thế nào trước sự tồn vong của đất nước. Trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định vị trí và nhiệm vụ của nền văn hoá mới đối với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Chúng ta cần biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc” ,“Số phận dân ta ở trong tay ta, văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”, Phải “Đem văn hoá lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ” (). Như vậy trong thư gửi Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật những quan điểm cơ bản sau: Văn hoá giữ vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc; mục tiêu là xây dựng một nền văn hoá kháng chiến kiến quốc của toàn dân; Nhiệm vụ của nền văn hoá kháng chiến kiến quốc là cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của dân và truyền bá thành tựu kháng chiến kiến quốc vĩ đại của Việt Nam ra thế giới. Lực lượng xây dựng nền văn hoá mới là toàn dân, trí thức và các nhà văn hoá giữ vai trò rất quan trọng. Do đó các nhà văn hoá cần được tổ chức chặt chẽ và đi sâu vào thực tiễn kháng chiến, kiến quốc của toàn dân để có những tác phẩm văn hoá xứng đáng với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vĩ đại.

    Tại Đại hội này Tổng bí thư Trường Chinh đã đọc báo cáo quan trọng: “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”. Báo cáo này đã cụ thể hoá và phát triển hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, phương châm của Đề cương văn hoá 1943 của Đảng. Đây là lần đầu tiên Đảng ta chính thức trình bày một cách hệ thống, toàn diện các quan điểm về văn hoá theo lập trường mác xít. Báo cáo này, có giá trị như cương lĩnh văn hoá của Đảng trong thời kỳ kháng chiến, kiến quốc. Trong bản báo cáo này, hệ thống các quan điểm nguyên tắc, phương châm về văn hoá được trình bày trên 7 phần:

    – Văn hoá và xã hội

    - Lập trường văn hoá mác xít

    – Văn hoá Việt Nam xưa và nay

    – Tính chất và nhiệm vụ văn hoá dân chủ mới Việt Nam

    – Mặt trận văn hoá thống nhất trong mặt trận dân tộc thống nhất

    - Văn hoá Việt Nam trong mặt trận văn hoá dân chủ thế giới

    – Mấy vấn đề cụ thể trong văn học.

    Sức mạnh tinh thần của nền văn hoá kháng chiến, kiến quốc là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam đề giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện.

    Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cả nước ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:

    Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đẩy mạnh cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thống nhất đất nước.

    Năm 1960, Đại hội III của Đảng đã quyết định đường lối thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược này. Về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đại hội khẳng định: “Cách mạng XHCN ở miền Bắc không những là một cuộc cách mạng triệt để về kinh tế, chính trị mà còn là một cuộc cách mạng triệt để về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật:(3) Con người là vốn quý nhất của chủ nghĩa xã hội muốn có CNXH trước hết phải có con người XHCN, xây dựng con người mới XHCN là trọng trách hàng đầu, nhiệm vụ trực tiếp của cuộc cách mạng tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật.

    Mục tiêu của cuộc cách mạng tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật là:

    - Xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, trên cơ sở đó xây dựng đạo đức mới.

    - Làm cho nhân dân đông đảo có trình độ văn hoá vững vàng, nắm được những hiểu biết cần thiết về khoa học và kỹ thuật.

    - Bảo vệ bồi dưỡng sức khoẻ con người là nghĩa vụ, mục tiêu cao quý của ngành y tế và thể dục thể thao.

    - Văn nghệ giữ vị trí quan trọng trong cách mạng tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật. Xây dựng một nền văn nghệ mới có tính chất dân tộc và nội dung XHCN phong phú. Văn nghệ phải góp phần tích cực vào công cuộc giáo dục tư tưởng, tình cảm và cải tạo con người theo chủ nghĩa xã hội; góp phần tích cực cổ vũ động viên nhân dân đem hết tinh thần và sức lực cho sự nghiệp xây dựng CNXH và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Tác phẩm văn nghệ phải trở thành vũ khí sắc bén trong việc xây dựng con người mới về tư tưởng và tình cảm.

    – Báo chí, thông tin, truyền thanh và xuất bản phải trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hoá.

    - Giáo dục con người mới phải thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất và phương châm lý luận gắn liền với thực tế, học đi đôi với hành, giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục xã hội. (4)

    - Đảng là lực lượng lãnh đạo và là lực lượng nòng cốt trong cách mạng XHCN về tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật, cho nên cần phải: Có đầy đủ năng lực để lãnh đạo, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật; Ra sức đào tạo hàng loạt trí thức mới, xây dựng đội ngũ trí thức XHCN đông đảo.(5)

    Dưới ánh sáng đường lối Đại hội III, nền văn hoá mang tính chất dân tộc và nội dung xã hội chủ nghĩa được xây dựng và phát triển sâu rộng, con người mới XHCN từng bước được hình thành và phát triển thông qua cuộc cách mạng tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực: Giáo dục chính trị, tư tưởng rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống, Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo, Phát triển mạnh mẽ văn học nghệ thuật và phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng. Báo chí cách mạng Việt Nam như báo in, báo ảnh, báo nói (phát thanh, truyền thanh) phát triển sâu rộng. Từ năm 1971 ra đời truyền hình Việt Nam, Báo chí Việt Nam thời kỳ này đã hoàn thành rất xuất sắc chức năng nhiệm vụ cao cả: Là người tuyên truyền; giáo dục tập thể, người hướng dẫn tổ chức, cổ vũ tập thể thực hiện đường lối nhiệm vụ chính trị, là người tuyên truyền, quảng bá, truyền bá các tác phẩm văn hoá, văn nghệ đến đông đảo mọi tầng lớp nhân dân cả hậu phương lớn miền Bắc và tiền tuyến lớn miền Nam.

    Ngành y tế và thể dục thể thao phát triển sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở, góp phần quyết định trong việc bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ cho các thế hệ người Việt Nam.

    Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, mà còn là thắng lợi của đường lối, chính sách văn hoá của Đảng ta. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu vào đông đảo quần chúng, thắng lợi của ý chí độc lập, tự do, của chủ nghĩa yêu nước truyền thống được phát huy mạnh mẽ hơn bất cứ thời đại nào trong lịch sử dân tộc; thắng lợi của nhân phẩm Việt Nam, của những giá trị tinh thần cao quý Việt Nam.

    Sau đại thắng mùa xuân 1975, cả nước ta bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong 45 năm qua tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng và phát triển văn hoá con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển rất sâu sắc và toàn diện.

    Năm 1976, Đại hội IV xác định: “Nền văn hoá mới là nền văn hoá có nội dung XHCN và tính chất dân tộc. Nền văn hoá được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng làm chủ tập thể XHCN. Nó vừa hấp thụ có chọn lọc những thành quả của nền văn minh loài người, những thành tựu văn hoá, khoa học hiện đại, vừa là sự kết tinh và nâng lên tầm cao mới những gì đẹp nhất trong truyền thống bốn nghìn năm của tâm hồn Việt Nam, của văn hoá Việt Nam. Đó là truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường và mưu trí trong đấu tranh cho độc lập và tự do, là tình thương yêu giữa những người lao động, là đức tính cần cù sáng tạo và tinh thần lạc quan yêu đời, đó là chủ nghĩa quốc tế vô sản. Nền văn hoá có phong cách riêng của các dân tộc anhem trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.(6)Con người mới xã hội chủ nghĩa là con người Việt Nam mới mà những đặc trưng nổi bật là: Làm chủ tập thể, lao động, yêu nước XHCN và tinh thần quốc tế vô sản. Đó cũng là sự kết tinh và phát triển những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn và cốt cách Việt Nam hun đúc qua bốn nghìn năm lịch sử. Con người mới là con người có tư tưởng đúng và tình cảm đẹp có trí thức và năng lực để làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên và làm chủ bản thân. Con người mới tất yếu phải là con người lao động, biết phát huy truyền thống lao động cần cù và đấu tranh anh dũng của dân tộc. Lao động với tinh thần tự nguyện, tự giác cao, với đầy đủ nhiệt tình tận tụy, sẵn sàng cống hiến mọi trí tuệ và sức lực cho sự nghiệp xây dựng CNXH. Là con người có tinh thần cách mạng tiến công, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào, coi lao động là vinh dự, hạnh phúc là lẽ sống. Là con người lao động thật thà, kiên quyết đoạn tuyệt với thái độ chây lười, thích sống ăn bám, coi thường kỷ luật lao động, nói dối, làm dối; là con người biết quý trọng và bảo vệ của công, lao động một cách có kỷ luật, có kỹ thuật, có sáng tạo và đạt năng suất cao; con người mới là con người có lòng yêu nước XHCN nồng nàn, kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng. Con người mới là con người có tình thương yêu sâu sắc đối với nhân dân lao động, biết đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động chiến đấu và xây dựng cuộc sống mới. Lấy việc xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người làm lý tưởng cao đẹp, làm hạnh phúc lớn của mình. Con người mới là con người biết xây dựng gia đình hạnh phúc, trên cơ sở của một xã hội hạnh phúc, có trách nhiệm đầy đủ và tình yêu chân thực trong quan hệ vợ chồng có trách nhiệm cao đối với việc xây dựng con cái thành những con người mới.”(7)

    Ảnh: Thế Dương/CPV 

    Đại hội Đảng lần thứ IV, đã xác định quan điểm chỉ đạo để xây dựng nền văn hoá mới và con người mới: “Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng tư tưởng, văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt. Quá trình thực hiện ba cuộc cách mạng ấy cũng là quá trình hình thành từng bước chế độ làm chủ tập thể XHCN, nền sản xuất lớn XHCN, nền văn hoá mới và con người mới XHCN”.(8) “Con người mới vừa là sản phẩm của xã hội mới vừa là chủ thể có ý thức xây dựng xã hội mới. Tiến hành ba cuộc cách mạng, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, là tạo ra những điều kiện xã hội hết sức quan trọng để có con người mới. Song, con người mới không thể hình thành một cách tự phát, mà phải trải qua quá trình xây dựng một cách tích cực và chủ động. Hơn nữa, hoàn cảnh nước ta đòi hỏi chúng ta và cho phép chúng ta xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới, không phải chờ đến sau khi có sự phát triển cao của nền sản xuất lớn XHCN. Làm như thế thì ba cuộc cách mạng sẽ được đẩy mạnh hơn, chế độ làm chủ tập thể, nền sản xuất lớn XHCN và nền văn hoá mới sẽ được xây dựng một cách nhanh chóng hơn”.(9)

    “Con người là sản phẩm của các quan hệ xã hội, phải bằng kết quả tổng hợp của cả ba cuộc cách mạng, phải thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua lao động và đấu tranh thì những thành viên trong xã hội mới cải tạo được mình và dần dần trở thành con người mới. Việc tiến hành ba cuộc cách mạng xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng con người mới, phải nhằm đảm bảo những điều kiện cần thiết để đẩy mạnh việc xây dựng con người mới. Phải xây dựng con người mới từ lúc mới lọt lòng và ở tất cả mọi lứa tuổi, trong tất cả các tổ chức quần chúng, các cơ sở kinh tế, văn hoá, các hoạt động xã hội ở mọi ngành, mọi cấp, trong từng khu phố, thôn xóm và gia đình. Xây dựng con người mới là một công việc rất công phu, phải được tiến hành một cách có tổ chức, có kế hoạch trên quy mô xã hội và đối với từng người. Phải có nhiều biện pháp về các mặt: Tư tưởng và tổ chức, giáo dục và hành chính, chính trị và văn hoá, pháp chế và kinh tế… Trong các biện pháp ấy, tiến hành cách mạng tư tưởng và văn hoá, áp dụng phổ biển phương pháp tự phê bình và phê bình, là biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt. Việc xây dựng con người mới phải được tiến hành thường xuyên liên tục, kiên trì, bền bỉ, đồng thời phải có những đợt vận động tập trung, phải qua nhiều phong trào, phong trào của từng đoàn thể, từng giới, từng lứa tuổi nói riêng nhất là phong trào lao động sản xuất”.(10)Dưới ánh sáng của đường lối của Đại hội IV và V, cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá đã được triển khai đồng thời với cuộc cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH và giành thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Những thành tự quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới và con người mới XHCN đã góp phần quan trọng trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược.Tuy nhiên trong thời kỳ này, do Đảng ta phạm nhiều khuyết điểm, sai lầm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối kinh tế nhất là trong bố trí cơ cấu kinh tế, cả cơ cấu các ngành kinh tế và cơ cấu sản xuất đầu tư; Những khuyết điểm sai lầm trong tiến hành cải tạo XHCN và củng cố quan hệ sản xuất mới, và duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp nhất là những sai lầm trong thực hiện chính sách giá, lương, tiền, cùng với những yếu kém trong công tác tư tưởng văn hoá cho nên từ đầu những năm 80, nền kinh tế nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng nghiêm trọng, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đối với con đường đi lên CNXH bị giảm sút.

    Năm 1986, tại Đại hội VI, Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, theo định hướng XHCN. Ngày 28 tháng 11 năm 1987, triển khai thực hiện đường lối văn hoá của Đại hội VI, Bộ chính trị ra nghị quyết 05-NQ/TW về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới. Tại nghị quyết chuyên đề này, Đảng ta xác định: “Văn hoá là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hoá, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người. Văn hoá Việt Nam kết tinh tâm hồn, trí tuệ tài năng và đạo lý làm người của nhân dân ta trong lịch sử hàng nghìn năm giữ nước và dựng nước. Hiện nay, văn hoá là bộ phận trọng yếu của cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá là một động lực mạnh mẽ đồng thời là một mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Văn hoá và văn học nghệ thuật có tác dụng to lớn trong việc góp phần thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng con người mới XHCN; có chức năng bồi dưỡng đạo đức tình cảm và năng lực thẩm mỹ cho con người, thỏa mãn nhu cầu văn hóa ngày càng tăng của nhân dân. Giai đoạn mới của cách mạng XHCN ở nước ta, đặc biệt là công cuộc đổi mới sâu sắc toàn diện hiện nay đòi hỏi văn hoá văn nghệ nước ta phải vươn lên đáp ứng tốt nhất yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới. Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra với duy mô và tốc độ chưa từng có trên thế giới và việc giao lưu giữa các nước và các nền văn hoá ngày càng mở rộng, văn hóa văn nghệ nước ta ngày càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm …

    Tinh thần chung của các chính sách biện pháp là phải bảo đảm những điều kiện để văn hóa văn nghệ làm tốt vai trò xã hội với chức năng cao cả của nó. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm cơ bản của Đảng là coi trọng con người, coi con người là động lực quan trọng nhất và là mục tiêu phục vụ và xây dựng cao nhất của mọi hoạt động kinh tế xã hội. Phải xem việc đầu tư cho sự nghiệp văn hóa để phục vụ con người, xây dựng con người mới XHCN.”(11)

    Tổng kết thực tiễn 12 năm đổi mới tư duy, đổi mới cách làm để thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng con người – một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng văn hóa trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Ngày 16 -7 -1998, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã ban hành nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết quan trọng này được coi là cương lĩnh văn hóa của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

    Tại nghị quyết này, Đảng ta xác định “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh trên thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc lên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Nhận thức nội hàm của văn hóa với 9 lĩnh vực sau:

    - Tư tưởng đạo đức và lối sống, mà cốt lõi của các giá trị văn hóa là hệ tư tưởng. Đây là lĩnh vực then chốt của văn hóa.

    - Khoa học kỹ thuật

    - Giáo dục đào tạo

    - Văn hóa nghệ thuật

    - Thông tin đại chúng

    -  Giao lưu văn hóa với nước ngoài

    - Di sản văn hóa (Di sản vật thể và phi vật thể)

    – Văn hóa tôn giáo

    - Thể chế văn hóa

    Nghị quyết xác định phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là: Phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự do tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội vào từng người,  từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH-HĐH, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh tiến bước vững chắc lên CNXH. Nghị quyết xác định 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản :

    - Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội .

    - Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

    - Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    - Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp toàn dân, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

    - Văn hóa là một mặt trận, xây dựng, phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng, và sự kiên trì, thận trọng.

    Qua thực tiễn 15 năm thực hiện nghị quyết TW5, tại nghị quyết 33- NQ/TW khóa XI,về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã bổ sung, phát triển hoàn thiện mục tiêu chung xây dựng nền văn hóa con người Việt Nam là phát triển toàn diện, hướng tới Chân – Thiện –Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xác định 5 quan điểm chỉ đạo :

    – Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.

    - Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

    – Phát triển văn hóa vì sự  hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống đẹp với các đặc tính cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

    - Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, cần chú ý đầy đủ yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.

    – Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Nghị quyết TW33 có một nhận định rất quan trọng: “15 năm thực hiện nghị quyết TW5, khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng. Nhưng thành tựu trên lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng với thành tựu trên các lĩnh vực khác, nhất là chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Đời sống văn hóa và tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu, khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng”.(12) Đáng chú ý là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi phức tạp hơn, Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng tập trung vào số Đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty. Nhiều tổ chức Đảng và Đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh ngăn chặn “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hoá”.(13)

    Công tác tư tưởng có phần trách nhiệm đối với những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trên. Trách nhiệm đó là, từ những hạn chế yếu kém trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức học tập, nghiên cứu quán triệt, hướng dẫn hành động thực hiện nghị quyết, hoạt động kiểm tra phát hiện nhân tố mới để cổ vũ, động viên, nhân rộng, chỉ đạo, hướng dẫn đấu tranh khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm. Cho nên như Nghị quyết 04-NQ/TW Khoá XI đã nhận định: “Nhiều cấp uỷ, chính quyền chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này, lãnh đạo chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hoá, thể chế hoá nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và trong một số trường hợp thiếu khả thi. Công tác quản lý nhà nước về văn hoá chậm được đổi mới có lúc có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng kỷ luật, kỷ cương không nghiêm. Đầu tư cho lĩnh vực văn hoá chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hoá để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản các cấp”(14)

    Ngày nay nhân dân ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện và đồng bộ, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “vì dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân ta, đồng thời là một quá trình cải biến xã hội sâu sắc đòi hỏi phát huy khả năng và trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam. Ngày nay trong điều kiện bùng nổ của cách mạng khoa học hiện đại; yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng. Do đó để trở thành giàu mạnh không chỉ phụ thuộc vào nhiều hay ít lao động vốn kỹ thuật công nghệ, tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu là khả năng phát huy đến mức cao nhất tài năng sáng tạo của nguồn lực con người. Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hoá. Và văn hoá có khả năng khơi dậy, nhân lên mọi tiềm năng, sức sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển bền vững của đất nước. Để văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, hơn lúc nào hết Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá con người trong thời kỳ mới. Đội ngũ cán bộ tư tưởng văn hoá khoa giáo được nhận trọng trách là chiến sỹ tiên phong trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến Chân – Thiện – Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc nhân văn, dân chủ và khoa học, hơn lúc nào hết:

    – Đội ngũ cán bộ tư tưởng phải đi đầu trong tiếp tục đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, đổi mới cách làm. Từng đồng chí trực tiếp đọc, nghiên cứu để thấu triệt nghị quyết Trung ương 33 – Khoá XI, biến nhận thức hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng phát triển nền văn hoá con người Việt Nam trong thời kỳ mới thành tư tưởng, tình cảm, thành trách nhiệm tự giác gương mẫu thực hiện của bản thân mình.

    – Phải đổi mới cách làm công tác tuyên truyền giáo dục để thực sự nâng cao nhận thức trong Đảng, trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá con người Việt Nam. Phải có chương trình tuyên truyền giáo dục cho từng đối tượng, rất coi trọng đối tượng là các cấp uỷ, các cấp chính quyền, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các lĩnh vực của văn hoá (tư tưởng, đạo đức lối sống, giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật, Báo chí xuất bản truyền thông, Di sản văn hoá, Giao lưu văn hoá, văn hoá tôn giáo, thể chế thiết chế văn hoá) và đội ngũ trí thức văn nghệ sỹ. Giao trách nhiệm tuyên tuyền giáo dục này cho từng binh chủng của công tác tư tưởng đó là: các cơ quan nghiên cứu lý luận, Hệ thống các trường chính trị, Hệ thống giáo dục quốc dân, Hệ thống báo chí tuyên truyền, Hệ thống tuyên truyền miệng.

    - Hướng dẫn và kiểm tra các cấp các ngành các cơ quan đơn vị trong hệ thống chính trị việc bổ sung, hoàn thiện chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 33 – Khoá XI.

    – Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá con người Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra với tốc độ và qui mô chưa từng thấy, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, mặt trái của cơ chế thị trường, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ, thúc đẩy hình thành các yếu tố để tạo ra “cuộc cách mạng màu” ở Việt Nam. Để có thể vượt qua các khó khăn thách thức này và nhất là để khắc phục cho được nguyên nhân chủ quan của những yếu kém trên, Ban bí thư trung ương cần thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về xây dựng và phát triển nền văn hóa con người Việt Nam do đồng chí Uỷ viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương làm trưởng ban, Phó thủ tướng phụ trách văn xã làm phó trưởng ban, các thành viên ban chỉ đạo: Bộ trưởng Bộ văn hóa thể thao du lịch, Thứ trưởng Bộ thông tin, Thứ trưởng Bộ giáo dục, Thứ trưởng Bộ khoa học công nghệ, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư, Thứ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch liên hợp các hội Văn học nghệ thuật, Bí thư thường trực Trung ương đoàn, Phó Chủ tịch tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Phó Chủ tịch hội nông dân Việt Nam, Phó Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam, Chủ tịch hiệp hội văn hóa doanh nghiệp Việt Nam. Phó trưởng ban thường trực Ban tuyên giáo TW làm Ủy viên thường trực. Ban chỉ đạo TW được Ban Bí thư ủy quyền phối hợp chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết Trung ương: “Xây dựng và phát hiện nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Ban chỉ đạo TW tập trung chỉ đạo:

    + Hoàn thành thể chế hóa nghị quyết TW33 thành luật, pháp lệnh, các văn bản pháp quy các cơ chế chính sách. Các chương trình mục tiêu quan trọng như: Chương trình phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với hoàn thiện thị trường văn hóa, chương trình xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh: môi trường văn hóa tại các cơ quan, đơn vị, các doanh nghiệp, trường học, bệnh viện…, chương trình hội nhập quốc tế về văn hóa và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chương trình bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa dân tộc. Chương trình phát hiện, tôn vinh, bồi dưỡng các tài năng văn hóa, văn học nghệ thuật. Chương trình đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa; Chương trình xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động hệ thống thiết chế văn hóa ở các đơn vị xã, phường, thị trấn, đơn vị quân đội, công an, bệnh viện, trường học; Chương trình xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể quần chúng để văn hóa thực sự là nhân tố quan trọng xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

    + Chỉ đạo tập trung nghiên cứu xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam hiện đại để làm cơ sở định hướng cho hệ thống chính trị và các tổ chức cơ quan đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa thực hiện trong tiến trình đào tạo con người từ khi lọt lòng.

    (1)Trường Chinh – Nhà văn hoá lớn của Việt Nam. Báo Nam Định, ngày 21/11/2019.

    (2) Hồ Chí Minh toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Tập 5 – Trang 677.

    (3),(4),(5)Văn kiện Đại hội Đảng toàn tập – Tập 21 – Trang 549, 550, 556, 557.

    (6) Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Tập 37 – Trang 500

    (7) Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Tập 37 – Trang 501-503.

    (8) Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Tập 37 – Trang 491.

    (9) Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Tập 37 – Trang 501.

    (10). Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Tập 37 – Trang 503-504.

    (11). Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2011 – Tập 48 – Trang 842-846

    (12). Nghị quyết số 33- NQ/TW Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành TW Đảng ( Khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    (13). Nghị quyết số 04/NQ-TW Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng (Khoá XII) về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng…

    (14). Nghị quyết số 33/TQ-TW Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành TW Đảng (Khoá XI) về xây dựng, phát triển văn hoá con người…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Điện Tử Của Đảng Ủy Khối Doanh Nghiệp Trung Ương
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ban Văn Hóa – Xã Hội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
  • Phòng Văn Hóa Thông Tin
  • Văn Hóa Văn Nghệ Dân Gian Với Vấn Đề Phát Triển Bền Vững
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100