Những Biện Pháp Giảm Bớt Tác Động Của Thay Đổi Khí Hậu

--- Bài mới hơn ---

  • Năm 2021: Việt Nam Thực Hiện Đồng Bộ Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Các Biện Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Của Ngành Nông Nghiệp Lâm Đồng
  • Cà Mau Đẩy Mạnh Thực Hiện Các Biện Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Việt Nam Đặc Biệt Quan Tâm Các Biện Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • ThienNhien.Net – Tháng 2/2007, Liên Hợp Quốc (LHQ) và Hiệp hội Nghiên cứu khoa học Sigma Xi đã công bố bản báo cáo về vấn đề biến đổi khí hậu, chuẩn bị cho cuộc họp của uỷ ban LHQ về phát triển bền vững (CSD). Cuộc họp này nhằm đưa ra kế hoạch ngăn chặn tình trạng biến đổi khí hậu thiếu kiểm soát và thích nghi với sự thay đổi đang diễn ra từng ngày.

    Bản báo cáo với tiêu đề ” Đối mặt với biến đổi khí hậu: ngăn chặn những gì không thể kiểm soát và kiểm soát những gì không thể ngăn chặn ” do một nhóm các nhà khoa học nổi tiếng đến từ nhiều nước trên thế giới thực hiện trong vòng 2 năm. Nội dung báo cáo đem lại một cái nhìn khoa học tổng quát về thay đổi khí hậu, tầm quan trọng của việc chống lại các rủi ro cũng như những biện pháp nhằm giảm nhẹ và thích nghi với nó.

    Đặc biệt, bản báo cáo nhấn mạnh tính nghiêm trọng và cấp thiết của những nỗ lực toàn cầu nhằm phản ứng lại trước thách thức to lớn mà biến đổi khí hậu gây ra. “Tương lai sẽ có hai xu hướng khác nhau rõ rệt. Xu hướng thứ nhất làm gia tăng ảnh hưởng nghiêm trọng do thay đổi khí hậu. Xu hướng thứ 2 sẽ hướng đến giảm chất thải nguy hại, tạo ra những cơ hội phát triển kinh tế, giảm nghèo đói trên toàn cầu, ngăn chặn sự xuống cấp của hệ sinh thái, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững. Muốn thay đổi, nhân loại phải nhanh chóng phối hợp hành động ở tất cả mọi cấp độ khác nhau trong xã hội. Không còn thời gian trì hoãn”.

    Không giống với những bản báo cáo khác trước đây, các nhà nghiên cứu còn đưa ra những đề xuất cụ thể mà cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia cần phải làm để giảm nhẹ, thích nghi với biến đổi khí hậu. Theo ông Peter H.Raven – cựu chủ tịch Sigma Xi, chuyên gia nổi tiếng về đa dạng sinh học – những bước đi này sẽ góp phần giúp chúng ta đạt được các mục tiêu phát triển thiên nhiên kỉ đã đề ra, và ngược lại, nếu thất bại, có thể chúng ta sẽ không đạt được những mục tiêu này.

    Các nhà khoa học dự đoán, trong những thập kỉ tới, hạn hán, lũ lụt và mực nước biển dâng cao sẽ ngày càng gia tăng. Đó sẽ là nguyên nhân gây ra vô số những thiệt hại cho con người và nền kinh tế, trong đó người nghèo là tầng lớp dễ bị tổn thương nhất. Các biện pháp nhằm thích nghi với tình trạng khí hậu thay đổi bao gồm: quản lí nguồn nước tốt hơn, dự báo và chống lại các thảm hoạ, tăng cường kiểm soát các bệnh dịch nguy hiểm, xây dựng các thành phố có khả năng thích nghi và phục hồi nhanh chóng, di chuyển dân cư vùng bị ảnh hưởng và chuẩn bị cuộc sống cho những người dân tị nạn môi trường, tạo ra những vụ mùa chịu hạn tốt hơn, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lí hơn, nâng cao năng lực của địa phương để đối mặt với một loạt những thay đổi được báo trước…

    Nội dung cơ bản của báo cáo:

    – Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng vượt mức 2-2,50C so với năm 1750, thời kỳ tiền công nghiệp, sẽ làm tăng nguy cơ gây tác động quá mức. Để ngăn chặn điều này, cần phải ổn định mật độ khí CO 2 quy đổi ở mức thấp hơn 450-500 ppm (so với khoảng 380 ppm CO 2 tương đương hiện nay). Như vậy, thời điểm CO 2 tăng cao nhất nằm trong giai đoạn 2021 – 2021, sau đó giảm dần và xuống còn 1/3 vào năm 2100.

    – Công nghệ mở ra những cơ hội lớn để giảm bớt khí thải độc hại và mang lại những lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường khác, kể cả việc đạt những mục tiêu phát triển thiên niên kỉ do LHQ đề ra. Để làm vậy, các nhà hoạch định chính sách phải có những bước đi khẩn trương và cụ thể:

    * Cải thiện hệ thống giao thông vận tải bằng các biện pháp như: sử dụng các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng phương tiện giao thông, thuế nhiên liệu, ưu đãi phí đăng kí đối với các phương tiết kiệm nhiên liệu hoặc sử dụng nhiên liệu mới.

    * Tăng cường sử dụng nhiên liệu sinh học bằng cách khuyến khích nhà sản xuất và nguời tiêu dùng, chuẩn hoá các nguồn vốn đầu tư cho năng lượng.

    * Khẩn trương thiết kế và triển khai những nhà máy nhiệt điện có khả năng lắp đặt thêm thiết bị để tách riêng nguồn ô nhiễm CO 2.

    – Thay đổi khí hậu và những ảnh hưởng của nó đã, đang diễn ra và sẽ còn gia tăng ngay cả khi các nỗ lực nhằm ngăn chặn nó có hiệu quả. Cộng đồng quốc tế phải nỗ lực hơn nữa để thích nghi với những thay đổi khó ngăn chặn và còn tiếp diễn trong hệ thống khí hậu toàn cầu, bằng cách:

    * Thúc đẩy chiến lược dự báo/đối phó và quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên để đối mặt với điều kiện khí hậu trong tương lai được dự báo là sẽ khác xa với những gì đã diễn ra trong vòng 100 năm qua.

    * Đặc biệt chú trọng đến khả năng thích ứng của người nghèo và những quốc gia dễ bị tổn thương nhất khi bị ảnh hưởng của thay đổi khí hậu tấn công.

    * Quy hoạch và xây dựng những thành phố có thể thích nghi và phục hồi nhanh chóng sau thảm họa.

    – Cộng đồng quốc tế thông qua LHQ và các tổ chức đa phương có thể đóng vai trò quan trong việc thúc đẩy hành động để ngăn chặn những gì không thể kiểm soát và kiểm soát những gì không thể ngăn chặn bằng việc:

    * Giúp đỡ các nước đang phát triển và các nước trong thời kì chuyển đổi nền kinh tế đầu tư phát triển công nghệ năng lượng mới và sử dụng năng lượng hiệu quả.

    * Thúc đẩy đàm phán để xây dựng một khung chương trình quốc tế mới quan tâm đến các vấn đề thay đổi khí hậu và phát triển bền vững.

    * Tuyên truyền, giáo dục về các cơ hội, lợi ích khi thực hiện các biện pháp ngăn chặn biến đổi khí hậu và các phương pháp thích nghi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Điều Chúng Ta Có Thể Làm Để Giảm Bớt Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu: Cần Giáo Dục Học Sinh Chống Khủng Hoảng
  • Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Việt Nam Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ 5
  • Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Âm Nhạc Ở Các Trường Trung Học Cơ Sở Tại Thành Phố Hà Tĩnh
  • Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Và Những Giải Pháp Ứng Phó

    --- Bài mới hơn ---

  • Đồng Bằng Sông Cửu Long Trước Thách Thức Của Biến Đổi Khí Hậu
  • Các Biện Pháp Chống Xói Mòn Trên Đất Dốc
  • +5 Biện Pháp Chống Xói Mòn Đất, Đất Dốc Đơn Giản Và Hiệu Quả
  • Giải Pháp Chống Xói Mòn Đất Hiệu Quả Trong Canh Tác Nông Nghiệp
  • Giải Pháp Cho Bé Biếng Ăn Chậm Tăng Cân
  • Nguyên nhân của biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất bao gồm cả tự nhiên và nhân tạo. Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra.

    1. Biến đổi khí hậu trái đất

    Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại khu vực nào đó theo chuỗi số liệu dài khoảng 30 năm và là kết quả của sự tương tác giữa các quá trình vật lý, hoá học và sinh học dưới tác động của năng lượng mặt trời. Sự tương tác này là một quá trình phức tạp, vì vậy, chế độ khí hậu không cố định mà luôn có tính biến động. Nhiều biểu hiện của biến đổi khí hậu và trái đất; tan băng và mực nước biển dâng cao do băng tan, ngập úng các vùng đất thấp và các đảo nhỏ trên biển; sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất, đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người; sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác; sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển; sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.

    Nguyên nhân của biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất bao gồm cả tự nhiên và nhân tạo. Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra.

    BĐKH không chỉ đơn thuần tác động tới tự nhiên mà còn là thách thức về kinh tế, xã hội của nhân loại.

    Việc bỏ tiền ra chi phí cho việc khôi phục thiệt hại sau những thiên tai đã làm thâm hụt vào ngân sách các quốc gia. Theo Nicolas Stem – nguyên chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới, thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 – 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP.

    2. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam

    a. Tác động tới yếu tố tự nhiên và môi trường

    Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta nóng lên, kết hợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn hơn. Năm 2010, nhiệt độ có khả năng tăng khoảng 0,3 – 0,50C và mực nước biển tăng thêm 9cm; tương tự, từ 1,1 – 1,80 C và 45cm vào năm 2100. Những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 – 0,30C/thập niên. So với hiện nay, vào năm 2070, dòng chảy sông/năm biến đổi trong khoảng từ +5,8 đến -19% đối với sông Hồng và từ +4,2 đến -14,5% đối với sông Mê Kông; dòng chảy kiệt biến đổi trong khoảng từ -10,3 đến -14,5% đối với sông Hồng và từ -2,0 đến -24, 0% đối với sông Mê Kông; dòng chảy lũ biến đổi trong khoảng từ +12,0 đến 0,5% đối với sông Hồng và từ +15,0 đến 7,0% đối với sông Mê Kông. Xâm nhập mặn nước sông có thể lấn sâu nội địa tới 50 – 70km, tiêu diệt và phá huỷ nhiều loài sinh vật nước ngọt, 36 khu bảo tồn; trong đó, có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong diện tích bị ngập. Hệ thống sinh thái cũng bị tác động tiêu cực; tại 2 vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, các hệ sinh thái rừng và đất ven biển sẽ chịu nhiều thiệt hại.

    b. Tác động tới phát triển kinh tế

    BĐKH tác động đến hầu hết các ngành kinh tế, trong đó ngành nông – lâm nghiệp ảnh hưởng nhiều nhất.

    Có thể nêu ra hai khía cạnh bị tác động lớn nhất.

    Tần suất xuất hiện ngày càng nhiều các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt, mưa lũ tăng tạo nguy cơ ngập lụt đối với các vùng đất thấp, điển hình như đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng nhiễm mặn, nhiễm phèn trên diện rộng làm thiệt hại đến mùa màng; hạn hán thường xảy ra vào mùa khô, nắng nóng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng, có thể dẫn tới làm chết cây trồng hàng loạt. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy, trong mùa khô, độ ẩm của đất ở các vùng không có cây che phủ chỉ bằng 1/3 so với độ ẩm của đất ở những nơi có rừng che phủ, nhiệt độ trên bề mặt đất có thể tăng cao tới 50-60oC vào buổi trưa hè. Những đặc điểm cơ lý của đất như độ tơi xốp, độ liên kết, độ thấm, hàm lượng các chất dinh dưỡng và hàm lượng vi sinh bị giảm đi đáng kể, đất trở nên khô, cứng, bị nén chặt, không thích hợp với trồng trọt. Hàng triệu héc ta đất trống, đồi trọc mất rừng lâu năm, đất mặn bị biến đổi cấu tạo và lý hoá tính, trở nên dễ bị xói lở, rửa trôi mạnh, tích tụ sắt nhôm gây nên hiện tượng kết vón và đá ong hoá, đất loại này hoàn toàn mất sức sản xuất nông, lâm nghiệp. Chỉ tính riêng đợt rét kéo dài 33 ngày đầu năm 2008, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã có 33.000 con trâu, bò, 34.000 ha lúa đã cấy, hàng chục ngàn ha mạ non, nhiều đầm nuôi tôm ở tất cả các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ đã chết và ước tính thiệt hại lên tới hàng ngàn tỉ đồng. Hệ sinh thái rừng bị ản hưởng theo các chiều hướng khác nhau, nước biển dâng làm giảm diện tích rừng ngập mặn, tác động xấu đến rừng tràm, rừng trồng trên đất nhiễm phèn ở các tỉnh Nam Bộ. Ranh giới rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể dịch chuyển, nguy cơ diệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực vật quan trọng như trầm hương, hoàng đà, pơ mu, gỗ đỏ, lát hoa, gụ mật… có thể bị suy kiệt. Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh… Qũy đất canh tác nông nghiệp nói chung, đất trồng lúa nói riêng bị thu hẹp đáng kể vì phần lớn đất trồng lúa nằm ở vùng đất thấp tại đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất lương thực; mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sinh nước ngọt, cùng với nguy cơ nguồn nước sông bị suy giảm về lưu lượng, dẫn đến việc giảm năng lực nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. BĐKH cũng gây nhiều tác động tiêu cực tới trữ lượng các bãi cá và nghề đánh bắt trên các vùng biển nước ta. Cường độ mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian ngắn dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là loài nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò…) bị chết hàng loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi. Các loại cá nhiệt đới kém giá trị kinh tế tăng, ngược lại các loại cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm hoặc mất hẳn. Thay đổi nhiệt độ còn là dịch bệnh xảy ra cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, cùng với môi trường nước xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinh vật gây hại.

    c. Tác động đối với đời sống – xã hội

    Ở nước ta trong những năm gần đây, số lượng người mất nhà cửa và kinh tế lâm vào khó khăn sau mỗi trận bão, lũ lụt… là rất lớn. Điển hình là cơn bão số 4 năm 2008 đã làm 162 người chết, làm sập, hỏng 11.500 căn nhà, trường học, gây ngập úng 27.200 ha lúa và hoa màu, làm sạt trôi và bồi lấp 2,3 triệu khối đất đá trên các công trình giao thông, thủy lợi và các khu nuôi trồng thủy sản, làm chết 28.000 gia súc, gia cầm, thiệt hại lên tới 1.900 tỉ đồng. Hậu quả của thiên tai không chỉ dừng lại ở đó, ảnh hưởng của chúng còn tồn tại sau một thời gian dài, chất lượng sống con người ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu ăn, thiếu nhà ở, y tế và giáo dục không đảm bảo.

    Mới đây, theo báo cáo của Uỷ ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng định, BĐKH gây tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóng nhiệt/nóng, bão, lũ lụt, hạn hán… nhiều bệnh, dịch gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh sống, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian, như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, các bệnh đường ruột và các bệnh khác… Những bệnh này, đặc biệt phát tán nhanh ở các vùng kém phát triển, đông dân cư và có tỉ lệ đói, nghèo cao thuộc các nước đang phát triển. Nước ta, trong thời gian qua cũng đã xuất hiện một số bệnh mới ở người và động vật (cúm gia cầm, bệnh lợn tai xanh…), nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra nhiều thiệt hại đáng kể.

    Về giao thông vận tải, thông tin liên lạc bị gián đoạn, các cơ sở hạ tầng, mạng thông tin bị hư hại nghiêm trọng sau những trận thiên tai. Việc củng cố, khắc phục sau các sự cố do BĐKH gây ra hết sức khó khăn, tốn kém nhiều thời gian và kinh phí.

    3. Các giải pháp ứng phó với thiên tai do tác động của biến đổi khí hậu

    a. Để ứng phó với bão, lũ lụt trên toàn lãnh thổ và nước dâng do bão ở các vùng ven biển cần thực thi một số giải pháp:

    – Thực hiện đầy đủ và có hiệu quả phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ).

    – Tăng cường công tác dự báo thời tiết trên cơ sở hiện đại hoá ngành khí tượng thủy văn (cả về con người và cơ sở vật chất).

    – Tăng cường công tác thông tin thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là hệ thống phát thanh để đến được các vùng sâu, vùng xa, ngư trường, hải đảo…

    – Tăng cường cơ sở vật chất và mạng lưới cứu hộ thiên tai bão, lũ, đặc biệt là vùng núi, ven biển, hải đảo và các ngư trường biển.

    – Nhà nước quy hoạch, xây dựng các khu vực tránh bão, tránh lũ, vận động người dân (có điều kiện kinh tế) xây nhà kiên cố, nhà cao tầng nhằm hạn chế tối đa tổn thất về người và của. Từng địa phương, vùng có phương án, tổ chức diễn tập theo phương án và tổ chức tốt cho người dân di chuyển đến nơi cao và an toàn trước các trận bão và lũ lụt, nước dâng có cường độ lớn.

    – Nhà nước có kế hoạch từng bước nâng cấp hệ thống đê biển, đê sông, trồng cây chắn sóng, trồng rừng ngập mặn ngoài đê để hạn chế tác động của bão, lũ và nước dâng.

    – Tăng cường tuyên truyền, giáo dục vận đồng người dân nâng cao nhận thức và áp dụng các kĩ thuật giảm nhẹ, thích ứng với tình huống.

    – Thực hiện huy động kinh phí của xã hội và các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho các khu dân cư xây dựng các biện pháp phòng ngừa và khắc phục hậu quả.

    – Tiến hành các giải pháp giảm thiểu tác động của xói lởi như điều tra hiện trạng, xây dựng giải pháp kĩ thuật phòng chống xói lở, đầu tư kiên cố hoá một số đoạn đê xung yếu, quy hoạch các điểm dân cư, các dự án kinh tế – xã hội vùng có nguy cơ xói lở, tổ chức và huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ, duy tu đê điều hàng năm; đối với khu vực không có đê, cần tổ chức di dân ra khỏi vùng có nguy cơ sạt lở trong mùa mưa bão.

    b. Các giải pháp ứng phó với nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn, có thể áp dụng giải pháp trực tiếp và giải pháp hỗ trợ:

    – Về nhóm giải pháp trực tiếp bao gồm:

    + Xây dựng các hệ thống đê bao và bờ ngăn chống lũ và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, kiên cố hoá và nâng cao đê biển, đê chắn lũ ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng Trung Bộ.

    + Thúc đẩy ngư nghiệp thông qua ươm, nuôi, đa dạng hoá các mô hình thực tiễn nuôi các loài thủy sản có khả năng chịu mặn ở các vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và các vùng khác.

    + Mở rộng diện tích rừng ngập mặn ở vùng ven biển, ven sông có sự tham gia của cộng đồng địa

    + Xây dựng các trạm khai thác nước sạch và cung cấp nước sạch cho các cộng đồng vùng ven biển với

    các phương án công nghệ: khai thác nước ngầm tầng sâu ở vùng đồng bằng ven biển; xây dựng các hồ chứa nước ngọt ở vùng cao liền kề; lọc nước mặn bằng công nghệ thẩm thấu ngược.

    – Về nhóm các giải pháp hỗ trợ gồm:

    + Giảm thiểu hiện tượng nhiễm mặn đồng bằng thông qua chính sách quản lý và bảo vệ lưu vực sông.

    Trong đó, đặc biệt quan tâm đến hợp tác quốc tế trong quản lý lưu vực sông Mê Kông, sông Hồng.

    + Đối với các sông miền Bắc và miền Trung cần xây dựng quy trình vận hành điều phối các hồ chứa thủy lợi, thuỷ điện đầu nguồn.

    + Thúc đẩy nghiên cứu các giống cây trồng có khả năng chống, chịu mặn, ngập úng nhằm chuẩn bị để thích ứng với những biến đổi trong tương lai. Đồng thời, tìm kiếm, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm (đặc biệt là các kiến thức bản địa) về thích ứng với khả năng BĐKH và thích nghi với nhiễm mặn, nhiễm phèn…

    c. Hợp tác quốc tế ứng phó với BĐKH trái đất

    – Việt Nam cần thoả thuận kí kết các hiệp định đa phương, song phương về hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ mới, thân thiện với môi trường và phối hợp, xây dựng, thực hiện các dự án CDM nhằm phục vụ phát triển bền vững và giảm phát thải khí nhà kính.

    – Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, nâng cao năng lực thông qua đầu tư trực tiếp, tư vấn và xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm.

    – Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế về BĐKH để nghiên cứu, xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH.

    TS. Trần Thanh Lâm – T/c Quản lý Nhà nước, số 7, 2010, tr.15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Đối Với Nước Ta: Thực Trạng, Những Vấn Đề Mới Đặt Ra Và Giải Pháp.
  • Đối Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Giải Pháp Nào Cho Nông Nghiệp Việt Nam?
  • Giải Pháp “gây Tranh Cãi” Cho Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu
  • Ipcc Cảnh Báo 7 Vấn Đề Về Đất Đai Và Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Ai Và Giải Pháp Cho Các Vấn Đề Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Đối Với Nước Ta: Thực Trạng, Những Vấn Đề Mới Đặt Ra Và Giải Pháp.

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Và Những Giải Pháp Ứng Phó
  • Đồng Bằng Sông Cửu Long Trước Thách Thức Của Biến Đổi Khí Hậu
  • Các Biện Pháp Chống Xói Mòn Trên Đất Dốc
  • +5 Biện Pháp Chống Xói Mòn Đất, Đất Dốc Đơn Giản Và Hiệu Quả
  • Giải Pháp Chống Xói Mòn Đất Hiệu Quả Trong Canh Tác Nông Nghiệp
  • Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với nước ta: Thực trạng, những vấn đề mới đặt ra và giải pháp.

    1. Đặt vấn đề.

    Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu (BĐKH), tác động của biến đổi khí hậu thậm chí còn diễn biến nhanh hơn so với dự kiến, chính vì vậy cần phải có những đánh giá hiện trạng, dự báo chính xác để từ đó có những giải pháp phù hợp cho ứng phó với biến đổi khí hậu thích hợp, tránh được những tác động tiêu cực giảm những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra. BĐKH là vấn đề có tính toàn cấu, Việt Nam đã cam kết với thế giới cùng nỗ lực giảm thiểu khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính, tận dụng cơ hội này để chúng ta cùng phối hợp giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH, biến thách thức thành cơ hội do BĐKH gây ra.

    Hình 1. Dự báo tác động của dâng mực nước biển 1 m đến GDP (tỷ lệ thiệt hại GDP)

    Bảng 1. Dự báo tác động của việc dâng mực nước biển 1 m ở Việt Nam Nguồn: Đỗ Nam Thắng trích từ nghiên cứu của Dasgupta et al. 2007.

    Trong những năm gần đây, nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng đã chỉ ra nhiều vấn đề cần phải lưu tâm, chẳng hạn năm 2021 là năm có số lượng các cơn bão ảnh hưởng tới nước ta nhiều bất thường (16 cơn bão), theo tính toán của Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống thiên tai và tổng cục thống kê thiệt hại khoảng 38,7 nghìn tỷ đồng tương đương 2,7 tỷ USD.

    Ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động sản xuất thấy rõ nhất là đối với ngành nông nghiệp. Ở Việt Nam với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á, trong sản xuất nông nghiệp, lúa là loại cây trồng chủ lực, ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất lúa hàng năm chiếm tỷ trọng lớn nhất, theo tính toán của tổng cục thống kê năm 2021 trung bình cho giai đoạn 2011-2016 khoảng 66,1% . Riêng năm 2021 hạn hán và xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 527,7 nghàn ha lúa bị thiệt hại, trong đó khoảng 44% diện tích bị thiệt hại hoàn toàn. Đối với các loại cây trồng khác như hoa màu, các loại cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày cũng bị ảnh hưởng, năng suất cây trồng giảm khoảng 50% do tác động của BĐKH. Ảnh hưởng của BĐKH còn tác động đến chăn nuôi, lâm nghiệp, đa dạng sinh học, cháy rừng, các hệ sinh thái đất ngập nước, nuôi trồng thủy sản…, như vậy đối với sản xuất nông nghiệp cần phải có một cách nhìn nhận mới và toàn diện hơn đặt trong bối cảnh hoàn động sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của BĐKH

    Biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng tới hoạt động giao thông vận tải, theo nghiên cứu của kịch bản BĐKH nếu mực nước biển dâng cao 1m có khoảng 9% hệ thống đường quốc lộ, 12% hệ thống đường tỉnh lộ, 4% hệ thống đường sắt sẽ bị ảnh hưởng, trong đó tập trung nhiều nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu long chiếm 28% đường quốc lộ và 27% đường tỉnh lộ của cả nước, tiếp đến là các tỉnh ven biển miền Trung và đống bằng sông Hồng.

    Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến phát triển đô thị, các khu công nghiệp và nhà ở, mức độ ảnh hưởng tùy thuộc vào từng vùng, từng địa phương và từng vị trí theo địa hình phân bố. Nghiên cứu tổng thể cho thấy khu vực ven biển chịu tác động chính của bão, vùng miền núi chịu tác động của lũ quét, lốc xoáy, sạt lở, vùng trung du và đồng bằng chủ yếu là ngập lụt, lốc xoáy, mưa đá.

    Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến du lịch, thương mại, năng lượng…và nhiều hoạt động kinh tế khác trực tiếp hay gián tiếp. Những ảnh hưởng này trong những năm vừa qua đã biểu hiện khá rõ nét, mỗi ngành, lĩnh vực đều có thể cảm nhận và đánh giá được ảnh hưởng của BĐKH.

    Đối với công nghiệp, ảnh hưởng của BĐKH khí hậu sẽ tác động đến ngành công nghiệp chế biến, nhất là chế biến những sản phẩm nông nghiệp. Trong trường hợp nhiệt độ tăng sẽ làm tăng tiêu thụ năng lượng kéo theo nhiều hoạt động khác tăng theo như tăng công suất nhà máy phát điện, tăng sử dụng các thiết bị làm mát, ảnh hướng tới an ninh năng lượng quốc gia. Những nghiên cứu theo kịch bản nước biển dâng cho thấy, nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ làm cho hầu hết các khu công nghiệp ven biển bị ngập,mức thấp nhất trên 10% diện tích, mức cao nhất khoảng 67% diện tích.

    Đối với bình đẳng giới, những nghiên cứu gần đây cho thấy BĐKH ảnh hưởng tới công việc của phụ nữ, nữ giới là nhóm dễ bị tổn thương do BĐKH, ảnh hưởng tới sức khỏe, kinh tế hộ gia đình và vấn đề di cư. Thực trạng này đã và đang thể hiện ngày càng rõ ở những vùng chịu nhiều tác động của BĐKH như vùng ĐBSCL và khu vực ven biển, khu vực nông thôn.

    Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH, chúng ta cũng phải nhìn nhận toàn diện hơn đối với những ảnh hưởng có tính tích cực, chẳng hạn trong sản xuất nông nghiệp đối với lượng mưa, bên cạnh những tác động tiêu cực, cũng sẽ có những vùng có tác động tích cực. Trong sản xuất nông nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ do BĐKH cần phải được phân tích kỹ lưỡng để thầy được những mặt tích cực và tiêu cực lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí cơ bản để đánh giá.

    b) Biến đổi khí hậu ảnh hưởng theo lãnh thổ.

    Do đặc điểm địa lý, mỗi khu vực có vị trí Địa lý và địa hình khác nhau, mức độ chịu ảnh hưởng của BĐKH đối với mỗi vùng cũng khác nhau, dựa trên tiêu chí cơ bản về nước biển dâng, đặc trưng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có thể chia thành ba địa bàn lãnh thổ gồm đồng bằng, ven biển và miền núi.

    • Đối với vùng đồng bằng, nước ta có hai vùng đồng bằng lớn đó là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đối với ĐBSCL là vùng chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH, theo tính toán kịch bản BĐKH, đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ tăng khoảng 3,4 độ C, mực nước biển tăng thêm 1m sẽ có khoảng 40% diện tích đất bị ngập vĩnh viến, khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp do mất đất, thêm vào đó BĐKH diễn ra ở ĐBSCL kéo theo hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở và nhiều hệ lụy đi kèm như đã từng diễn ra những năm gần đây.

      Đối với ĐBSH, với kịch bản nước biển dâng cao 1m vào cuối thế kỷ 21, ĐBSH sẽ có 240.000 ha đất sản xuất nông nghiệp của vùng bị ảnh hưởng, dự báo năng suất lúa giảm 8%-15% vào năm 2030 và lên tới 30% vào năm 2050. Nếu tính tỷ lệ diện tích đất bị ngập nước khi nước biển dâng cao 1m vào cuối thế kỷ 21 có khoảng 3% diện tích bị ngập, trong đó 1,4% diện tích trồng lúa, 0,6% khu dân cư bị ảnh hưởng. Những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Thái Bình, diện tích đất bị mất khoảng 31,2%, Nam Định 24% và thành phố Hải phòng 17,4%. So với ĐBSCL, ĐBSH ngập lụt ít hơn và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn thấp hơn, tuy nhiên tính chất cực đoan và tính dị thường của BĐKH và rủi ro cao hơn, nhất là gió bão sẽ tác động mạnh hơn so với ĐBSCL.

    • Đối với vùng ven biển, nhất là khu vực ven biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, ảnh hưởng của BĐKH lớn nhất là bão, áp thấp nhiệt đới. Đối với khu vực ven biển miền Trung hank hán, lũ lụt, sạt lở đất, thoái hóa đất diễn ra mạnh mẽ hơn. Những vùng ven biểu còn chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn. Theo tính toán nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m, một số khu vực trũng đồng bằng ven biển miền trung sẽ bị ngập như ở Thanh Hóa.
    • Đối với khu vực miền núi, đặc điểm khu vực miền núi của nước ta phân bố nhiều dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, do vậy ảnh hưởng của BĐKH diễn ra khả năng chống đỡ hạn chế. Ảnh hưởng chính của BĐKH khu vực này là tính dị thường của BĐKH, trong nền chung nhiệt độ tăng sẽ càng trầm trọng hơn thiếu nước về mùa khô, nhất là Tây Nguyên và Tây Bắc, suy giảm đa dạng sinh học, sự thay đổi hệ sinh thái. Nhiệt độ giảm sâu tác động tới chăn nuôi gia súc, gia cầm nhất là đối với trâu bò, thực tiễn những năm vừa qua cho thấy, khi nhiệt độ giảm sâu một lượng lớn trâu bò ở miền núi phía Bắc chết nhiều. Ảnh hưởng của BĐKH gây ra lũ quét, sạt lở đất, lốc xoáy, mưa đá là những hiện tượng khá phổ biến. Khu vực miền núi Bắc Trung Bộ với nền nhiệt tăng, cùng với khô hạn dễ dẫn đến cháy rừng, suy giảm đa dạng sinh học tác động tới đời sống nhân dân.

    Ảnh hưởng BĐKH tùy thuộc vào mỗi địa bàn lãnh thổ như đã nêu không giống nhau, do vậy phải có những giải pháp phù hợp theo vùng, nhất là trong bối cảnh mới tình hình diễn biến phức tạp, tính rủi ro của BĐKH ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó cũng có những vùng, do ảnh hưởng của BĐKH bên cạnh những tác động tiêu cực cũng có những tác động tích cực, chẳng hạn nhiệt độ tăng, giờ nắng nhiều là cơ hội cho phát triển năng lượng mặt trời, có những vùng bị tác động tiêu cực, nhưng cũng có nơi tác động tích cực. Như vậy đòi hỏi phải có một nhìn nhận có tính toàn diện ảnh hưởng của BĐKH theo vùng, phân bố theo không gian lãnh thổ.

    3. Những giải pháp cần có đối với ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu.

    Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực và tận dụng những mặt tích cực của BĐKH dựa trên cơ sở đánh giá khách quan và những dự báo có tính dài hạn để từ đó có những giải pháp phù hợp.

    Thứ nhất, tăng cường phổ biến, truyền thông, nâng cao nhận thức về ảnh hưởng của BĐKH cho mọi tầng lớp nhân dân, các cấp, các ngành nhất là những diễn biến trong bối cảnh mới. Sau đại dịch Covid-19, cần có cách thức mới để người dân thấy được BĐKH cũng là nguyên nhân tác động tới sức khỏe và ảnh hưởng tới hệ sinh thái, con người gắn bó với hệ sinh thái và phải chống chịu, thích ứng.

    Thứ hai, BĐKH đã được khẳng định là một nhân tố ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống, kinh tế-xã hội, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, do vậy về quan điểm chúng ta chấp nhận những ảnh hưởng này để có những giải pháp phù hợp, trong đó có những ảnh hưởng tiêu cực nhưng đồng thời cũng có những ảnh hưởng có tính tích cực, biến những thách thức của BĐKH thành những cơ hội để chủ động giảm thiểu và thích ứng dựa trên nguyên tắc giải quyết hài hòa, tính hiệu quả, phù hợp với diễn thế của thiên nhiên được đặt lên hàng đầu.

    Thứ tư, cần phải căn cứ vào kịch bản đưa ra do BĐKH, nhất là kịch bản nước biển dâng thêm 1m từ nay đến cuối thế kỷ 21 để có những tính toán đầy đủ và phương án qui hoạch phù hợp đối với hoạt động sản xuất các ngành, lĩnh vực, phân bố dân cư và chuyển đổi phát triển kinh tế theo cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ phù hợp.

    Thứ năm, trong qui hoạch và xây dựng chính sách cần phải lồng ghép yếu tố BĐKH để có biện pháp chủ động ứng phó phù hợp với những ảnh hưởng của BĐKH đối với từng ngành, lĩnh vực và từng vùng phù hợp với thực tiễn đang và sẽ diễn ra.

    Thứ sáu, cần có những giải pháp cho từng ngành, lĩnh vực và từng vùng đối với ảnh hưởng của BĐKH xét trong bối cảnh mới. Trước hết chú trọng tới ngành nông nghiệp trong việc cơ cấu lại cây trồng, vật nuôi do những ảnh hưởng của BĐKH không chỉ chống chịu mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Đối với từng vùng, ưu tiên hàng đầu là vùng ĐBSCL, triển khai và thực hiện tốt Nghị quyết 120 của Chính phủ để phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH. Những vùng khác phụ thuộc vào đặc trưng của mỗi vùng để có những giải pháp phù hợp, đối với vùng ven biển, ưu tiên hàng đầu là ứng phó với bão, áp thấp nhiệt đới, đối với vùng miền núi là lũ lụt, lũ quét, hạn hán, lốc xoáy và thoái hóa đất.

    Thứ bảy, tăng cường khả năng chống chịu trước ảnh hưởng của BĐKH, phát triển các mô hình kinh tế dựa vào hệ sinh thái (EbA), dựa vào cộng đồng (CbA) và dựa vào tự nhiên (NbS), cho mỗi địa phương, lấy kiến thức bản địa kết hợp với khoa học công nghệ mới đầu tư phát triển, đặt sinh kế và sự an toàn của người dân lên hàng đầu. Từ những kết quả đạt được, nhân rộng mô hình cho từng địa phương, cho từng vùng.

    Thứ tám, biến đổi khí hậu là vấn đề có tính toàn cầu, chỉ một mình Việt Nam sẽ không giải quyết được, chính vì vậy cần có sự phối hợp với các tổ chức, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, hơn nữa chúng ta đã cam kết cùng nỗ lực toàn cầu để giảm thiểu phát thải khí nhà kính, chính vì vậy cần tăng cường hơn nữa hợp tác quốc tế, nắm bắt cơ hội để có những chuyển giao về khoa học công nghệ thế hệ mới, đầu tư tài chính và kinh nghiệm quốc tế trong ứng phó với BĐKH.

    4. Kết luận.

    Ảnh hưởng của BĐKH đối với Việt Nam những năm vừa qua nhanh hơn so với dự kiến. So với kịch bản biến đổi khí hậu, nhất là dự kiến mực nước biển dâng cao 1m vào cuối thế kỷ 21 khi mà đến 40% diện tích ĐBSCL bị ngập, cùng với đó là một số khu vực đồng bằng ven biển và ĐBSH. Những ảnh hưởng của BĐKH đối với các ngành, lĩnh vực, nhất là sản xuất nông nghiệp đang báo hiệu một thách thức lớn cho Việt Nam. Trước thực trạng của ảnh hưởng BĐKH xét trong bối cảnh mới cần có những giải pháp phù hợp từ thể chế đến các ngành, lĩnh vực, từng địa phương và từng vùng. Dự báo những ảnh hưởng của BĐKH, nhất là xây dựng kịch bản cho những năm tới đến cuối thế kỷ 21 có ý nghĩa hết sức quan trọng, để đảm bảo tính hiệu quả, chính xác cần mở rộng quan hệ quốc tế và tận dụng nguồn lực bên ngoài, nhất là KHCN thế hệ mới, con người và tài chính./.

    PGS.TS.Nguyễn Thế Chinh.

    Viện Chiến lược Chính sách tài nguyên và môi trường.

    Ủy viên Hội đồng lý luận trung ương.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Anthony E.Boardman, David H.Greenberg, Aidan R.Vining, David L.Weimer. Cost-Benefit Analysis, concepts and Practice. Third Edition.2006.
    2. Ban Chấp Hành Trung ương Đảng. Nghị quyết số 24NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 “về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.
    3. Ban chấp hành trung ương. Kết luận của Bộ Chính trị: Số 56-KL/TW ngày 23 tháng 8 năm 2021 ” về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI, về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.
    4. Dasgupta, S., Laplante, B., Meisner, C., Wheeler, D. and Yan, J., 2007: The impact of Sea Level Rise on Developing Countries: a comparative analysis, World Bank Policy Research Working Papar 4136, February 2007.
    5. Đỗ Nam Thắng: Phân tích kinh tế về tác động của biến đổi khí hậu: các trường phái học thuật và định hướng nghiên cứu ở Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Giải Pháp Nào Cho Nông Nghiệp Việt Nam?
  • Giải Pháp “gây Tranh Cãi” Cho Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu
  • Ipcc Cảnh Báo 7 Vấn Đề Về Đất Đai Và Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Ai Và Giải Pháp Cho Các Vấn Đề Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Bao Quang Tri : Đẩy Mạnh Công Tác Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Các Di Tích Lịch Sử Cách Mạng Cấp Tỉnh
  • Hải Sản Hải Phòng – Chất Lượng Đảm Bảo – Giá Luôn Tốt

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Vang 9999 Tai Bao Loc
  • Xem Cách Làm Sữa Chua Ngon
  • Hải Sản Online Siêu Cao Cấp – Giá Tốt – Giao Hàng Cực Nhanh
  • Hải Sản Rạch Giá Tươi Ngon Không Thể Tưởng
  • Hải Sản Bình Thạnh – Ngồi Tại Nhà Mua Sắm Thuận Tiện Như Ở Cảng Biển
  • Nhắc đến Hải Phòng thì bạn nghĩ ngay đến thứ gì? Ngoài những danh lam thắng cảnh ra thì hải sản Hải Phòng là một trong những điều được người dân quan tâm hàng đầu. Khi đến với Hải Phòng nhất định bạn phải ăn qua những món ăn hải sản đến từ Hải Phòng nhưng nếu bạn không có đủ điều kiện để đến nơi đây thì bạn phải làm sao để có thể thưởng thức hải sản tại đây? Bài viết hôm nay sẽ giúp bạn giải đáp được thắc mắc đó nhé!

    Hải sản Hải Phòng – chất lượng dinh dưỡng số một:

    Hải sản là một trong những món ăn yêu thích của rất nhiều người tiêu dùng, không chỉ đối với người lớn mà ngay cả đến trẻ con cũng thích sử dụng những món hải sản để làm bữa ăn chính cho gia đình mình. Hải sản thì có mùi đặc trưng tương đối là tanh so với những loại thức ăn khác nên khi chế biến để nấu thì bạn cần phải sơ chế qua một cách kỹ lưỡng tránh làm còn mùi trong thức ăn.

    Trong hải sản chứa rất nhiều protein cung cấp nhiều dưỡng chất tốt cho cơ thể mà bạn không ngờ tới. Nó giúp cho bạn có nhiều chất đề kháng tránh được nhiều bệnh tật không mong muốn xảy ra. Hải sản còn chứa nhiều chất omega, đây là một trong những loại dinh dưỡng tốt nhất có trong hải sản, nó giúp cho mắt ta được tốt hơn, tránh các bệnh liên quan đến mắt và làm cho mắt sáng hơn.

    Ngoài ra nó còn chứa nhiều chất đạm, giúp cho bà mẹ đang mang thai cùng thai nhi của mình phát triển một cách khỏe mạnh và tốt nhất. Nhất là những người mẹ đang mang thai ở những tháng cuối cùng trước khi sinh, khi ăn hải sản nhiều sẽ giúp cho sức khỏe của mẹ tốt hơn cùng với thai nhi hấp thụ chất dinh dưỡng một cách tốt nhất và phát triển mạnh khỏe trong bụng mẹ.

    Không chỉ có ở hải sản Hải Phòng mà còn với bất cứ loại hải sản ở nơi đâu nó cũng đều có những chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể chúng ta một cách tốt nhất mà chúng ta không ngờ tới.

    Những cách chế biến hải sản Hải Phòng đúng chuẩn:

    Bài viết hôm nay sẽ giới thiệu cho bạn biết được những cách chế biến hải sản Hải Phòng một cách đúng chuẩn nhất nhằm giúp bạn trong việc chế biến món ăn cho gia đình của mình một cách nhanh nhất có thể.

    • Nướng vỉ: phương pháp này thích hợp nhất cho những cuộc dã ngoại ở biển hoặc ngoài trời ngay tại nhà bạn. Vô cùng dễ làm, bạn chỉ cần mua những loại hải sản về sau đó chế biến sạch sẽ và bỏ vào vỉ nướng lên. Nhớ để lửa nhỏ sẽ làm cho hải sản chín từ từ và có độ thơm ngon nhất. Bạn có thể tưởng tượng mùi thơm của hải sản hòa quyện với không khí trong lành của bữa tiệc sẽ làm cho bữa tiệc của bạn thêm ý nghĩa hơn đôi phần.
    • Nấu lẩu hải sản: đây có thể được xem là món ăn phổ biến nhất trong mọi bữa tiệc tùng. Là một món ăn dễ ăn cùng với những loại hải sản tươi ngon, một nồi lẩu hải sản nóng hổi, hương thơm bay ngào ngạt sẽ làm tăng tính thú vị cùng với sự ngon miệng trong bữa ăn của bạn.
    • Hải sản hấp: đây có vẻ là món ăn khá dễ làm, bạn chỉ cần làm sạch hải sản sau đó bỏ vào nồi hấp cách thủy tầm 30 phút, thêm một tí gia vị vào sẽ làm hải sản được thơm ngon hơn. Hầu như trong mọi quán ăn đều có món hải sản hấp này và cũng đều rất đắc khách lựa chọn.

    Không cần đến Hải Phòng bạn mới có thể thưởng thức được món hải sản Hải Phòng, bạn có thể đặt hàng qua công ty Ông Giàu, đây là một trong những công ty đi đầu về dịch vụ cung cấp hải sản tươi sống các loại với chất lượng đảm bảo và giá cả hợp lý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hải Sản Khô – Mồi Nhậu Phong Phú Và Tuyệt Vời Dành Cho Mọi Người
  • Hải Sản Ông Giàu – Nơi Cung Cấp Hải Sản Ngon – Chất Lượng Đảm Bảo
  • ★ Điểm Danh 5 Loại Hải Sản Ngon Không Thể Chối Từ Ngay Khi Nghe Tên
  • Đồ Dùng Spa – Thiết Bị Cần Thiết Và Quan Trọng Không Thể Thiếu
  • Máy Hút Mụn Spa – Sản Phẩm Không Thể Thiếu Cho Mọi Spa
  • ★ Sữa Similac Cho Trẻ 1 Tuổi Bị Nhiễm Độc Có Đúng Hay Không ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Liệu Sữa Similac Có Chất Biến Đổi Gen?
  • Cho Trẻ Dưới 1 Tuổi Uống Sữa Abbott Có Bị Táo Bón Không?
  • Tại Sao Khi Bé Uống Sữa Similac Bị Táo Bón?
  • Cho Trẻ Uống Sữa Similac Có Tốt Không?
  • Liệu Sữa Similac 2 Có Gây Táo Bón Không?
  • Tôi xin khẳng định rằng thông tin Abbott – hãng sữa cho trẻ em hàng đầu của Mỹ thu hồi 11 lô sữa Similac Gain ở Việt Nam là có thật, tuy nhiên lí do đằng sau đó thì không phải như các mẹ nghĩ đâu nhé.  Thông tin “sữa similac cho trẻ 1 tuổi bị nhiễm độc” là có nhưng sự thật là gì thì các mẹ hãy tìm hiểu qua bài viết này nhé.

    Thực hư tin tức sữa Similac cho trẻ 1 tuổi bị nhiễm độc

    Về việc tại sao lại thu hồi 11 lô sữa Similac GainPlus của Công ty Abbott, Công ty này cũng đã nhấn mạnh rằng việc thu hồi chỉ là với mục đích phòng ngừa nhằm bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. Và từ trước đó cũng chưa có ghi nhận nào về sự ảnh hưởng của sản phẩm này đối với người tiêu dùng ở Việt Nam. Nhưng dư luận Việt Nam suốt một thời gian dài vẫn băn khoăn sữa similac cho trẻ 1 tuổi bị nhiễm độc thật không, vì đây là sản phẩm rất được ưa chuộng và phổ biến đối với các mẹ bỉm sữa

    Giải đáp thắc mắc sữa Similac cho trẻ 1 tuổi bị nhiễm độc

    Để gỡ nút thắt này của các bậc làm cha làm mẹ có con em đang sử dụng sản phẩm sữa này, thì Bộ Công Nghiệp Cơ Bản New Zealand đã chính thức minh oan cho sản phẩm này khi công bố sữa Similac Gainplus cho trẻ 1 tuổi hoàn toàn không bị nhiễm độc mà chỉ là hai loại vi khuẩn Clostridium botulinum và Clostridium sporogenes khá giống nhau nên đã có sự nhầm lẫn trong khâu kiểm định. Trước đó, chính bộ này đã yêu cầu Abbott thu hồi sản phẩm sữa này vì nghi ngờ trong sữa này có chứa Clostridium botulinum là một vi khuẩn có tác động xấu đến trẻ. Nhưng sau khi thẩm định kĩ, vi khuẩn có trong sữa này lại là Clostridium sporogenes – một loại vi khuẩn lành tính, không gây nguy hại tới người tiêu dùng.

    Ông Jullian Caillet, Tổng giám đốc, Abbott Việt Nam cho biết “Ưu tiên số một  của Abbott luôn luôn là người tiêu dùng. Trách nhiệm của chúng tôi là cung cấp những sản phẩm chất lượng cao và an toàn. Dựa vào những thông tin chúng tôi nhận được trước đây, chúng tôi đã thể hiện trách nhiệm trong việc nhanh chóng tiến hành thu về các sản phẩm bị nghi ngờ trên thị trường. Chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp thích hợp để người tiêu dùng tin tưởng về sự an toàn của các sản phẩm của Abbott”

    Vậy là các mẹ đã được giải đáp thắc mắc sữa similac cho trẻ một tuổi bị nhiễm độc là có đúng hay không. Các mẹ vẫn cứ là yên tâm khi chọn Similac cho bé nhà mình nhé.

    ~~~

    Liệu sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn không?

    Sữa Similac là một loại sữa nổi tiếng đến từ thương hiệu Abbott của Hoa Kỳ, với dạng bột sữa mềm mịn, thơm hơn so với các loại sữa khác, Similac đã chiếm trọn cảm tình của các mẹ cũng như được rất nhiều trẻ ưa thích. Tuy nhiên trong thị trường sữa thật giả lẫn lộn như hiện nay rất khó để các phụ huynh phân biệt được các loại sữa phù hợp cho trẻ.

    Bên cạnh đó cũng có không ít những trường hợp các cơ sở kém chất lượng làm giả thương hiệu hãng sữa nổi tiếng khiến trong sữa nhiễm khuẩn rồi mang bán ra thị trường. Vì vậy các mẹ hiện nay đang rất hoang mang khi đứng trước sự lựa chọn đến từ các hãng sữa. Để góp một phần nào đó vào sự đảm bảo cho trẻ, bài viết này chúng ta hãy cùng nhau đi xem xem liệu sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn không?

    Tại sao sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn không lại khiến các mẹ lo lắng?

    Câu hỏi sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn không được rất nhiều mẹ đưa ra bởi hiện nay sữa similac là một trong những sản phẩm sữa được tin tưởng và ưa chuộng nhất trên thị trường. Vì vậy khi nghe thông tin sữa bị nhiễm khuẩn có mặt trên thị trường, có cả những hãng sữa lớn khiến phụ huynh cảm thấy lo lắng, phân vân không biết liệu sữa của con mình đang dùng có bị nhiễm khuẩn không. Nên những ai đang dùng sữa similac cho trẻ xin hãy yên tâm vì chất lượng sữa của similac không hề bị nhiễm khuẩn.

    Tại sao lại có sự chắc chắn như vậy? Vì để sản xuất ra một loại sữa phải trải qua nhiều giai đoạn. Không chỉ phụ thuộc vào công thức chất dinh dưỡng trong sữa mà còn phải có kỹ thuật tiên tiến cũng như khâu kiểm duyệt kỹ lưỡng để đảm bảo tính an toàn cho sản phẩm. Với Abbott – tập đoàn sữa lớn đến từ Hoa Kì thì các mẹ hoàn toàn yên tâm với dây chuyền sản xuất chuyên nghiệp, an toàn với các thiết bị hiện đại khử trùng các vi khuẩn, cho bé có một nguồn sữa tốt nhất.

    Kết luận về vấn đề sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn hay không

    Sữa similac số 2 dành cho trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi với đầy đủ các dưỡng chất thiết yếu không chỉ đảm bảo cho trẻ có một hệ tiêu hóa tốt, tăng cường hệ miễn dịch mà còn giúp phát triển não bộ, trí thông minh, thị giác; thậm chí trong sữa còn giàu Canxi giúp trẻ xây dựng một hệ xương chắc khỏe,… Với những lợi ích mà sữa mang lại, chắc chắn nhiều bà mẹ sẽ quan tâm tới câu trả lời của vấn đề “ Liệu sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn hay không?” Một lần nữa khẳng định với các mẹ đó là sữa similac số 2 không hề bị nhiễm khuẩn. Vì vậy phụ huynh hãy cứ thoải mái lựa chọn cho con sử dụng dòng sữa similac nhé!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Mát Người Và Tránh Táo Bón
  • Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Dạng Gói Là Gì?
  • Sữa Similac Cho Trẻ Sơ Sinh 400G Giá Bao Nhiêu Trên Thị Trường Hiện Nay?
  • Ủ Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Là Gì?
  • Top 5 Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Tốt Nhất Trên Thị Trường Hiện Nay
  • Tin tức online tv