Top 3 # Những Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 3/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO,KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ,XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN,ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC LÀM NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA XÃ HỘI

I. PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO:1. Vị trí, vai trò và thực trạng của giáo dục và đào tạo: a/ Vị trí, vai trò:

Giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.Giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững. Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.b/ Thực trạng của Giáo dục và đào tạo:Thành tựu: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn, trình độ dân trí được nâng lên: +Về phổ cập giáo dục + Về qui mô giáo dục + Về đổi mới giáo dục + Về đầu tư cho giáo dục + Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng.

– Tuy nhiên giáo dục và đào tạo cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục:

Giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triểnChất lưọng giáo dục còn nhiều yếu kémChưa cân đối Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cậpXã hội hóa chậm, thiếu đồng bộ2/ Tư tưởng chủ đạo phát triển giáo dục và đào tạo:Giữ vững mục tiêu đào tạo ra lớp người vừa hồng vừa chuyênThực sự coi gíao dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dânGắn phát triển giáo dục và đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dụcĐa dạng hóa các loại hình giáo dục 3/ Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp:Đại hội X chủ trương: “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”.Mục tiêu cần đạt là: ” Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”.

Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp:Chuyển dần mô hình giáo dục sang giáo dục mở, mô hình xã hội học tậpĐổi mới mạnh mẽ gíao dục mầm non và giáo dục phổ thôngPhát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và trên đại họcĐảm bảo đủ số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên

Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục

Thực hiện xã hội hóa giáo dục

Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục.

Tăng cường hợp tác quốc tế

II . PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1/Vị trí vai trò của khoa học công nghệ: Khoa học là gì? Khoa học là tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy thể hiện bằng những phát minh, dưới dạng lý thuyết, định lý, định luật, nguyên tắc.

Khoa học trả lời câu hỏi tại sao?Công nghệ là gì? Công nghệ là phương tiện và hệ thống phương tiện dùng để thực hiện trong qúa trình sản xuất nhằm biến đổi nguyên vật liệu, tài nguyên thành các sản phẩm và dịch vụ mong muốn

Công nghệ trả lời câu hỏi: Làm như thế nào? Khoa học công nghệ chiếm địa vị quyết định trong sự gia tăng gía trị sản phẩm

– Những tiến bộ của Khoa học và Công nghệ sau 20 năm đổi mới: + Nhận thức của xã hội về vai trò của Khoa học, Công nghệ với phát triển kinh tế- xã hội được nâng lên + Đội ngũ cán bộ Khoa học, Công nghệ được phát triển cả về số lượng và chất lượng + Khoa học và Công nghệ đã có bước phát triển + Khoa học xã hội và nhân văn có tiến bộ trong điều tra nghiên cứu góp phần vào hoạch định những chủ trương chính sách phát triển kinh tế- xã hội

+ Khoa học tự nhiên đã tăng cường điều tra nghiên cứu đánh gía tiềm năng thiên nhiên, phòng tránh thiên tai.

+ Ngân sách Nhà nước giành cho Khoa học và Công nghệ được tăng dần– Những hạn chế trong thời gian qua: + Các hoạt động Khoa học, Công nghệ chưa thật sự gắn kết hữu cơ với nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế- xã hội + Thị trường Khoa học , Công nghệ chậm được hình thành, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém + Cơ chế quản lý hoạt động khoa học chậm đổi mới + Đội ngũ cán bộ Khoa học và Công nghệ còn thiếu về số lượng và hạn chế về trình độ.2/Quan điểm phát triển Khoa học và Công nghệ: – Cùng với giáo dục- đào tạo khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế- xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH – Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc phòng an ninh. – Phát triển khoa học, công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn dân. Phải dấy lên phong trào quần chúng tiến công mạnh mẽ vào khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào công nghiệp hóa- hiện đại hóa – Phát huy nội lực về khoa học, công nghệ kết hợp với tiếp thu những thành tựu về khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới – Phát triển khoa học và công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững3. Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ: a. Mục tiêu: Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công nghệ.

b. Nhiệm vụ: – Phát triển khoa học xã hội: + Tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH

+ Thường xuyên tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, dự báo tình hình về xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nuớc.Phát triển khoa học tự nhiên và công nghệ: + Tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng + Chọn lọc việc nhập công nghệ, mua sáng chế kết hợp với công nghệ nội sinh; phát triển công nghệ cao: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. + Phát triển hệ thống thôn tin quốc gia về nguồn nhân lực và công nghệ.Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và khoa học công nghệ:

+ nhà nước đầu tư xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm. Đa dạng hoá các nguồn đầu tư và huy động các thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoa học và công nghệ.

+ Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao.

+ Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

III. XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC LÀM NỀN TẢNG TINH THẦN CHO XÃ HỘI1/ Vị trí, vai trò của văn hóa:

– Khái niệm văn hoá?

Hội nghị trung ương 5 khóa VIII xác định: ” Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội”– Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội:

+ Kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội

+ Văn hóa có chức năng định hình các gía trị, chuẩn mực trong đời sống xã hội, chi phối các hành vi của con người. 2/ Quan điểm chỉ đạo xây dựng văn hóa: – Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. – Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc – Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong các dân tộc Việt Nam – Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

– Văn hóa là một măt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng 3/ Nhiệm vụ chủ yếu phát triển văn hóa trong thời gian tới: – Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội. – Xây dựng và hoàn thiện gía trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ CNH-HĐH. – Phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân trong đời sống văn hóa.

– Nhà nước tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. – Tạo điều kiện cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển, xây dựng cơ chế quản lý phù hợp, chủ động, khoa học

– Bảo đảm tự do, dân chủ cho mọi sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật đi đôi với phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sỹ. – Tăng cường quản lý của Nhà nước về văn hóa, xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định, phù hợp với yêu cầu phát triển văn hóa trong thời kỳ mới.

– Phát huy tính năng động, chủ động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân.

Kết thúc bàiCÂU HỎI THẢO LUẬN 1/ Phân tích vị trí, vai trò, những tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH- HĐH. 2/ Nhiệm vụ và các giải pháp phát triển khoa học và công nghệ trong thời gian tới. 3/ Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm tới.Chân thành cảm ơn các đồng chí đã lắng nghexin cảm ơn các đồng chí

Phương Hướng, Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Trong Những Năm Tới

Từ Đại hội X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương: “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” . Mục tiêu của chủ trương trên là nhằm “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.Kế thừa và phát triển quan điểm của Đại hội X, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X trình Đại hội XI xác định nhiệm vụ trong 5 năm 2011-2015 là “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” với các giải pháp cơ bản sau:

Một là, thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. – Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. – Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. – Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ. – Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục, đào tạo. Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế.

Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hoá đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề. – Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo. – Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt đối với người bị thu hồi đất; nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo. – Quan tâm hơn tới phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục; thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với người và gia đình có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh giỏi, học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn.

>>> Bài thu hoạch cảm tình Đảng giỏi 2015

Ba là, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo. – Thực hiện hợp lý cơ chế tự chủ đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với đổi mới cơ chế tài chính. – Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, quản lý mục tiêu, chất lượng giáo dục, đào tạo. Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo; tổ chức xếp hạng cơ sở giáo dục, đào tạo. Tăng cường công tác thanh tra; kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục, đào tạo. – Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hoá giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời. – Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo.

Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo: Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Toàn Diện

Một giờ học văn hóa tại Trường THPT Gia Viễn A

Kết quả sau gần 5 năm thực hiện, đối chiếu với các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra, ngành Giáo dục đã thực hiện tốt, đảm bảo đúng tiến độ. Một số chỉ tiêu đã về đích trước 2 năm kế hoạch đề ra như: Xây dựng trường chuẩn Quốc gia cấp Tiểu học, THCS; các trường mầm non, tiểu học THCS, THPT, TTGDNN-GDTX có phòng ứng dụng CNTT được kết nối Internet tốc độ cao…

Là một trong những cơ sở giáo dục THPT đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia muộn, nhưng Trường THPT Gia Viễn A lại là cơ sở giáo dục trung học đầu tiên của tỉnh thực hiện công tác tự đánh giá theo Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GDĐT ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học. Thầy giáo Lê Thành Dương, Hiệu trưởng Trường THPT Gia Viễn A cho biết: Việc kết hợp bộ tiêu chuẩn công nhận kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đã mang lại nhiều thuận lợi cho nhà trường. Với hơn 100 tiêu chí đánh giá, được thực hiện chặt chẽ, có lộ trình, cho thấy, công tác tự đánh giá là việc làm vô cùng cần thiết đối với các cơ sở giáo dục trong bối cảnh hiện nay, giúp nhà trường nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những việc đã làm, đang làm, những việc cần làm, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho nhà trường nói riêng, cho địa phương và ngành giáo dục tỉnh nói chung… Với sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ, chi tiết, công tác tự đánh giá của nhà trường đã được Đoàn công tác của Sở GD&ĐT công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 2 và được UBND tỉnh công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, thời hạn 5 năm vào cuối năm 2019.

Nhà giáo Đỗ Văn Thông, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Ninh Bình cho biết: 5 năm qua, Ngành Giáo dục đã duy trì tương đối ổn định quy mô trường, lớp các cấp học, tỷ lệ học sinh bỏ học ít. Số lượng trường, nhóm lớp mầm non tư thục tăng, đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của nhân dân, góp phần giảm bớt tình trạng quá tải trẻ/lớp, nhóm. Số trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ được huy động đến lớp đạt tỷ lệ 60,2% dân số độ tuổi, trẻ mẫu giáo đến lớp đạt 99,1% dân số độ tuổi (vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh). Huy động 99,9% trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và học sinh hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học vào lớp 6. Cùng với đó, 8/8 huyện, thành phố đều tiếp tục củng cố, duy trì tốt và đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở các mức độ cao nhất. Năm 2018, tỉnh Ninh Bình được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3, chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Đây là mức độ cao nhất trong tiêu chí về phổ cập giáo dục, Ninh Bình là tỉnh thứ 3 của cả nước dẫn đầu về công tác phổ cập giáo dục xóa mù chữ.

Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trường chuẩn Quốc gia ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, số trường học đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ phòng học kiên cố, phòng bộ môn, thư viện đạt chuẩn tăng; trang thiết bị giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn quá trình dạy và học. Trong 5 năm, toàn tỉnh đã đầu tư xây mới, sửa chữa 1.373 phòng học, 213 phòng hiệu bộ, 431 phòng chức năng, 512 nhà vệ sinh và 63.760 m2 sân, tường rào. Tính đến tháng 12/2019, tỷ lệ phòng học cao tầng kiên cố đạt 87,5%, dự kiến đến hết năm 2020, tỷ lệ phòng học cao tầng kiên cố 88%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI (tăng 3,7% so với năm 2015). Ngành cũng đã tích cực phối hợp với các địa phương chỉ đạo xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Đến nay, có 437/474 trường học đạt chuẩn quốc gia, chiếm 92,2%; 122/145 xã, phường, thị trấn; 4 huyện, thành phố (Hoa Lư, Yên Khánh, thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp) có 100% trường mầm non, tiểu học, THCS công lập đều đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ trường học chuẩn quốc gia đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI ở hai cấp học tiểu học và THCS (hoàn thành trước 2 năm). Kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia đã nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới ở các địa phương.

Chất lượng đội ngũ, công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng đạt được những kết quả toàn diện. Đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, THCS được kiện toàn, luân chuyển công tác đảm bảo đúng, đủ theo quy định, phát huy được năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ. Đến nay, toàn ngành có 3 tiến sỹ, trên 650 thạc sỹ; tỷ lệ nhà giáo có trình độ đạt chuẩn trở lên là 99,9%, trên chuẩn chiếm 82,06%. Bên cạnh đó, toàn ngành đã tích cực bồi dưỡng đội ngũ, chuẩn bị cho triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, tổ chức tốt các kỳ thi cấp tỉnh và cấp quốc gia, học sinh và giáo viên Ninh Bình tham dự các kỳ thi quốc gia, quốc tế đều đạt kết quả khá, tốt. Kết quả thi THPT quốc gia tỉnh Ninh Bình nhiều năm liền xếp trong tốp 5 tỉnh, thành phố có điểm trung bình tất cả các bài thi cao của cả nước.

Ngành Giáo dục cũng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, quản lý giáo dục. Năm 2018, Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình được UBND tỉnh xếp thứ Nhất về chỉ số cải cách hành chính trong số 17 sở, ban, ngành của tỉnh. Ngành cũng chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý hồ sơ chuyên môn, quản lý kết quả học tập và rèn luyện của học sinh. Đến nay, cấp học mầm non có 82/153 trường (chiếm 53,6%), 47/97 cơ sở giáo dục mầm non tư thục (chiếm 48,5%) lắp đặt camera phục vụ công tác quản lý và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Tính đến tháng 10/2019, 100% trường THPT và Trung tâm GDNN-GDTX có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao (đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI); 71% các trường mầm non, tiểu học, THCS có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao (vượt 11% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI)…

Thời gian tiếp theo, ngành Giáo dục Ninh Bình đề ra mục tiêu tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh theo hướng toàn diện và vững chắc; tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo; thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Phấn đấu đạt một số chỉ tiêu quan trọng, như xây dựng trường chuẩn Quốc gia: Đến hết năm 2025, trường học đạt chuẩn quốc gia bậc học mầm non 98%, tiểu học 94% (đạt chuẩn quốc gia mức độ 2), THCS 97%, THPT 80%. Đảm bảo có đủ thiết bị để dạy học môn Tin học trong các cơ sở giáo dục theo quy định của Bộ GD&ĐT. Tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt 90%; có 85% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn về đào tạo, trong đó cấp THPT là 30%… Đến năm 2025, Ninh Bình trở thành tỉnh có nền giáo dục – đào tạo chất lượng, uy tín trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ và cả nước.

nguồn: Mỹ Hạnh/baoninhbinh.org.vn

Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo

Kế hoạch đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu cần tập trung triển khai thực hiện đối với đội ngũ cán bộ quản lý, bởi đội ngũ này là một trong những lực lượng trực tiếp góp phần hoạch định, tổ chức triển khai các chủ trương, chính sách, đề án, chiến lược đổi mới GD&ĐT, là một nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của đổi mới căn bản GD&ĐT.

Toàn ngành tập trung triển khai thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp chính về đổi mới GD&ĐT theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI); Chương trình hành động số 235-CT/TU ngày 20-1-2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XII) về “Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT”.

Ngày 18-2-2016, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hành động số 492/KH-UBND về “Đổi mới công tác quản lý GD&ĐT” tạo sự đột phá để phát triển GD&ĐT trên địa bàn tỉnh năm 2016 và giai đoạn 2016-2020.

Nội dung tập trung 8 nhiệm vụ, giải pháp chính, gồm: Hoàn thiện thể chế quản lý; đẩy mạnh phân cấp quản lý; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở GD, ĐT và giáo dục nghề nghiệp; nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT; đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; đẩy mạnh công tác khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh, xử lý vi phạm; tranh thủ các nguồn lực đầu tư.

Trong điều kiện kinh tế của tỉnh xuất phát điểm còn thấp, đời sống xã hội của Nhân dân đang còn khó khăn, vì thế việc đầu tư cho giáo dục vẫn còn hạn chế, cơ sở vật chất, trường, lớp, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập còn khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; đội ngũ giáo viên còn thiếu, một số ít giáo viên có trình độ tay nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Năm học 2015-2016, toàn ngành GD&ĐT hiện có 324 cơ sở giáo dục với 131.278 học sinh ở cấp học mầm non, phổ thông; 2479 học viên giáo dục thường xuyên; 2681 sinh viên cao đẳng sư phạm, trung cấp chuyên nghiệp; trên 10.350 cán bộ quản lý, giáo viên, người lao động.

Tính đến tháng 3-2016, toàn tỉnh có 72 trường chuẩn quốc gia, đạt 30,6%; số xã đạt tiêu chí trong lĩnh vực giáo dục về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là 7/11 xã điểm, đạt 63,6%. Về công tác phổ cập giáo dục có 63/65 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 60/65 xã, phường, 5/7 huyện, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; học sinh học 2 buổi/ngày ở cấp Tiểu học đạt 50,1%, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Về công tác đào tạo bồi dưỡng, trong quý 1, có 136 CB, CC, VC được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng trong nước gồm: Nghiên cứu sinh: 3, Cao học: 37, Quản lý nhà nước: 62, Lý luận chính trị: 30, Quốc phòng-An ninh: 4.

Để bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục, bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ được giao, từ nay đến năm 2020, toàn ngành tiếp tục phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ về lĩnh vực GD&ĐT theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015-2020. Đảm bảo sự phát triển GD, ĐT một cách ổn định, bền vững, toàn diện cả về quy mô, chất lượng, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đẩy mạnh phân cấp, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở, tạo sự năng động, sáng tạo cho cơ sở. Tạo sự chuyển biến về chất lượng, hiệu quả GD&ĐT, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Giáo dục cho toàn thể CB, CC, VC và học sinh, sinh viên phát triển toàn diện, dạy tốt, học tốt và làm việc có hiệu quả; hoàn thành việc sắp xếp mạng lưới trường, lớp các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân ở địa phương; bổ sung, điều chỉnh quy hoạch phát triển GD&ĐT đến năm 2020; hoàn thiện việc sắp xếp hệ thống quản lý đảm bảo tính thống nhất, xuyên suốt, phù hợp chức năng, nhiệm vụ. Xác định rõ vị trí việc làm trong các cơ quan quản lý giáo dục các cấp và các cơ sở GD, ĐT, giáo dục nghề nghiệp.

Phấn đấu trong năm 2016, toàn tỉnh có 32-34% số trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia, 55% số học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày và đến năm 2020 có 20% trường mầm non và 50% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; huy động học sinh đến trường, ở cấp Tiểu học có trên 99% số học sinh trong độ tuổi và số trẻ em 6 tuổi vào học lớp 1; 80% HS học 2 buổi/ngày; 70% HS tốt nghiệp THCS vào lớp 10 và 30% học sinh học nghề; 100% huyện, thành phố có trung tâm thực hiện chức năng giáo dục thường xuyên; 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên là 98%; mỗi huyện, thành phố có ít nhất 1 trường chất lượng cao; tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn của Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn; hằng năm có trên 25% số học sinh tốt nghiệp THPT thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng; nâng cao hiệu quả hoạt động của Phân hiệu Đại học Nông Lâm và các trường trung cấp chuyên nghiệp, chuẩn bị cho việc xây dựng Trường Đại học Ninh Thuận theo lộ trình.

Đổi mới công tác quản lý giáo dục để tạo sự đột phá phát triển GD&ĐT ở tỉnh ta, phải khởi đầu từ đổi mới về quan điểm, nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục, Phòng, Sở GD&ĐT biết được mục đích của việc đổi mới, những vấn đề thay đổi trong mục tiêu, nội dung đổi mới… Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ quản lý nhận thức đầy đủ về trách nhiệm và có hành động, việc làm cụ thể, từng cơ sở giáo dục xây dựng nội dung, phương pháp, hình thức, kế hoạch triển khai thực hiện việc đổi mới công tác quản lý GD&ĐT góp phần đổi mới căn bản, toàn diện để tiến tới một nền GD&ĐT tiên tiến, tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.