Chức Năng Và Nội Dung Cơ Bản Của Văn Hóa Doanh Nghiệp

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Chi Tiết Môn Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Hướng Dẫn Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Từ A
  • Văn Hoá Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Phật Giáo Với Văn Hóa Dân Gian
  • Văn Hóa Dân Gian Ứng Dụng
  • Văn hóa doanh nghiệp là gì? Đó là vấn đề quan trọng cần thống nhất. Đã có khá nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp (VHDN). Có thể nêu một số khái niệm thường gặp như sau:

    Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia Pháp vè doanh nghiệp vừa và nhỏ: “VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Theo ILO, “VHDN là sự tổng hợp đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”

    Theo Edgar H.Schein, chuyên gia nghiên cứu các tổ chức, “VHDN (hay văn hoá công ty) là tổng hợp những quan niệm chung mà thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”.

    Theo các tài liệu nghiên cứu và giảng dạy ở nước ta, VHDN là trạng thái tinh thần và vật chất đặc sắc của một doanh nghiệp được tạo nên bởi hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một điều kiện lịch sử xã hội nhất định.

    Những khái niệm trên có sự khác nhau nhất định về cách diễn đạt và phạm vi biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp. Song, điểm chung nhất, các khái niệm đều khẳng định VHDN thuộc phạm trù tinh thần, thể hiện sự phát triển ở bậc cao hơn của doanh nghiệp.

    VHDN được hình thành trong một quá trình, do chủ doanh nghiệp chủ trì, do đó nó phát huy tác dụng đối với hoạt động của toàn bộ chúng tôi tự trở thành hệ thống quy phạm và giá trị tiêu chuẩn mà không cá nhân nào trong DN dám đi ngược lại. Đến lượt nó, khi đã hình thành, VHDN làm cho DN có hướng phát triển phù hợp với mục tiêu đã định…Chức năng chỉ đạo của VHDN được thể hiện ở chỗ, nó có tác dụng chỉ đạo đối với hành động và tư tưởng của từng cá nhân trong DN. Đồng thời, nó cũng có tác dụng chỉ đạo đối với giá trị và hoạt động của toàn bộ DN.

    VHDN tạo ra những ràng buộc mang tính tự giác trong tư tưởng, tâm lý và hành động của từng thành viên trong DN, nó không mang tính pháp lệnh như các quy định hành chính.

    Sau khi được cộng đồng trong DN tự giác chấp nhận, VHDN trở thành chất kết dính, tạo ra khối đoàn kết nhất trí trong DN. Nó trở thành động lực giúp từng cá nhân tham gia vào hoạt động của DN . . .

    Trọng tâm của VHDN là coi trọng người tài, coi công việc quản lý là trọng điểm. Điều đó, giúp cho nhân viên có tinh thần tự giác, chí tiến thủ; đáp ứng được nhiều nhu cầu và có khả năng điều chỉnh những nhu câu không hợp lý của nhân viên.

    Khi một DN đã hình thành một nền văn hoá của mình, nó sẽ có ảnh hưởng lớn tới mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài doanh nghiệp. Hơn nữa, thông qua phương tiện thông tin đại chúng và các quan hệ cá nhân, VHDN được truyền bá rộng rãi, là nhân tố quan trọng để xây dựng thương hiệu của DN.

    Những nội dung cơ bản

    VHDN không tự nó hình thành. Để có được VHDN, chủ doanh nghiệp và những người lao động trong doanh nghiệp phải kiên trì, bền bỉ trong một thời gian không ngắn. Thực tiễn ở các nước phát triển cho thấy, việc xây dựng VHDN bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

    Quan niệm giá trị của DN hiện đại là yếu tố quan trọng nhất để xây dựng VHDN. Nó lạo ra niềm tin và hướng dẫn hành động của DN.Niềm tin là tiêu chuẩn của giá trị. Sự hình thành quan niệm giá trị của DN bao gồm những yếu tố sau:

    a) Tính thời đại: Tính thời đại có tác động rất rõ tới sự hình thành quan niệm giá trị của DN. Chẳng hạn, trong giai đoạn sơ khai của kinh tế thị trường, giá trị DN, giá trị con người được đo bằng phương tiện duy nhất là tiền. Ngược lại, khi kinh tế thị trường đã phát triển ở trình độ cao, giá trị DN, giá trị con người = sự phát triển bền vững + uy tín + sự tôn vinh + đãi ngộ vật chất.

    b) Tính kinh tế: quan niệm giá trị của DN phải bao hàm tính kinh tế là vì DN là tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh. Không tạo ra lợi nhuận sẽ không thể xây dựng được VHDN. Tuy nhiên, tính kinh tế trong VHDN không thể hiện trực tiếp, thường ẩn sau những nội dung và hình thức khác.

    c) Trách nhiệm xã hội: Trách nhiệm xã hội của DN càng ngày càng trở thành tiêu chuẩn quan trọng để hình thành giá trị của DN. Bởi lẽ, DN là một thành viên trong xã hội và phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống; trách nhiệm hỗ trợ cộng đồng tôn trọng đạo đức kinh doanh . . .

    Tinh thần DN là niềm tin và sự theo đuổi được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh lâu dài; là tính chất, nhiệm vụ, tôn chỉ, yêu cầu thời đại và phương hướng phát triển cửa chúng tôi thần doanh nghiệp thường thể hiện qua Slogan, Long. . . và phải thỏa mãn những yêu cầu sau: Có đặc trưng riêng biệt của DN;Phù hợp với đặc điểm của thời đại và dân tộc;Thề hiện được quan niệm ve giá trị của DN;Có ý nghĩa sâu sắc Thuận tiện khi lưu truyền và lưu trữ

    Xây dựng phương thức và chế độ quản lý

    Phương thức và chế độ quản lý là nhân tố quan trọng để xây dựng VHDN. Với một DN hiện đại, khi xây dựng phương thức và chế độ quản lý cần chú trọng giải quyết hàng loạt vấn đề như: Mối quan hệ giữa những người đồng sở hữu, Chế độ lãnh đạo của DN, bao gồm: cơ cấu tổ chức lãnh đạo, hình thức lãnh đạo, phương thức lãnh đạo, các quan hệ ngang – dọc trong lãnh đạo . . . Xác định hợp lý cơ cấu DN, trong đó, đặc biệt quan trọng là phương thức lãnh đạo trong cơ cấu. Thông thường, với phương thức lãnh đạo tập trung, chuyên quyền sự hình thành VHDN bị hạn chế rất nhiều. Ngược lại, phương thức lãnh đạo phân quyền sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự hình thành VHDN. Chính sách quản lý của DN là những quy định trong hoạt động quản lý về nhân sự, sản xuất, kinh doanh, đầu tư cũng ảnh hưởng lớn tới sự hình thành VHDN. Bởi lẽ, tính chuẩn mực của Chính sách quản lý DN trong một thời gian dài sẽ tạo thành thói quen của nhân viên, tạo ra sự gắn kết giữa nhân viên và DN. Ví dụ: Chính sách làm việc trọn đời trong các DN Nhật Bản . . . .

    Sự thể hiện trong hành động của nhân viên.

    Văn hoá DN phải được thể hiện trong hành động của mọi nhân viên. Hành động của nhân viên có: hành động tập thể và hành động của cá thể. Để VHDN thể hiện trong hành động của từng nhân viên cần giải quyết 5 vấn đề.

    a) Làm thay đổi quan niệm giá trị của cá nhân. Quan niệm giá trị của cá nhân hình thành từ rất sớm và tương đối ổn định. Vì vậy, làm thay đổi quan niệm giá trị của cá nhân là nội dung rất quan trọng trong việc xây dựng VHDN. Làm thay đổi quan niệm giá trị của cá nhân phải qua từng bước, chi tiết cho từng cá nhân và có thời gian nhất định.

    b) Đáp ứng đến mức cao nhất và hợp lý các nhu cầu của cá nhân. Các cá nhân khác nhau luôn luôn có những nhu cầu khác nhau do đó đế xây dựng VHDN cần tìm hiểu kỹ nhu cầu cá nhân và đáp ứng trong phạm vi và mức độ hợp lý.

    c) Xây dựng chuẩn mực hành động: Hành động của các cá nhân luôn luôn có xu hướng tự do, tự phát. Vì vậy, để VHDN đi vào từng hành động của cá nhân, phải xây dựng các chuẩn mực của hành động. Các chuẩn mực là cưỡng bức trong giai đoạn đầu, sau đó sẽ trở thành ý thức tự giác của mọi người.

    d) Thực hiện những hoạt động khuyến khích phù hợp: Để các chuẩn mực hành động nhanh chóng trở thành ý thức tự giác của nhân viên, cần có những hoạt động khuyến khích phù hợp. Có thể bàng vật chất và tinh thần như: Khen thưởng, biểu dương . . .

    e) Nâng cao trình độ văn hoá của nhân viên: Mọi hành vi của cá nhân phụ thuộc vào trình độ văn hoá của cá nhân. Trình độ văn hoá không chỉ là học vấn mà bao gồm cả nhận thức xã hội. Vì vậy, để xây dựng VHDN phải chú ý nâng cao trình độ văn hoá của nhân viên ngay từ khi tuyển dụng và trong quá trình làm việc. Thực tiễn phát triển các DN trong lịch sử cho thấy, không thể xây dựng được VHDN trong một cộng đồng mà trình độ văn hóa của nhân viên quá thấp.

    Tạo lập giá trị văn hoá vật chất của DN

    Giá trị văn hoá vật chất của DN bao gồm: Giá trị văn hoá nằm trong các cơ sở vật chất của DN giá trị văn hoá nằm trong sản phẩm của DN và Hình tượng của DN.

    Giá trị văn hoá của cơ sở vật chất của DN bao gồm: loại hình kiến trúc trang trí màu sác; cấu trúc không gian của nhà, xưởng, độ sạch sẽ của môi trường, cách bài trí các đồ vật trong phòng làm việc, trang phục của nhân viên; cách bố trí các dây chuyền sản xuất; tổ chức ca sản xuất thiết bị bảo hiểm, bảo vệ, địa điểm vui chơi, giải trí, hoạt động thể thao, nhà ăn, thư viện, trường học dành cho nhân viên . . .

    Giá trị văn hoá trong sản phẩm của DN gồm: giá trị sử dụng của sản phẩm cao hay thấp, sự thừa nhận và đánh giá của người tiêu dùng đặc điểm bên ngoài của SP, chủ yếu là kiểu dáng, thương hiệu, nhãn mác, bao bì đóng gói và tầng mở rộng của SP chỉ sự vượt trội của SP so với những SP cùng loại bao gồm: phương thức bán hàng, dịch vụ sau bán hàng.

    Hình tượng doanh nghiệp bao gồm: Hình tượng hữu hình là những hình ảnh công chúng có thể cảm nhận trực quan về DN và hình tượng vô hình là danh tiếng của DN được tạo lập trên thị trường, bao gồm cả danh tiếng của chủ DN. Hình tượng doanh nghiệp có vai trò quan trọng nhằm tạo ra “hiệu ứng ban đầu để cảm nhận được VHDN”.

    Những thách thức

    Sau một thời kỳ không ngắn của quá trình đổi mới, đội ngũ doanh nhân và cộng đồng doanh nghiệp Việt đã hình thành. Bên cạnh rất nhiều lợi thế để phát triển, phải dũng cảm để thừa nhận rằng, các DN Việt hiện nay đông nhưng chưa mạnh. Đại bộ phận doanh nhân Việt Nam xuất thân từ nền “văn minh lúa nước” quản lý DN theo nguyên tắc gia đình, hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng kinh nghiệm…Một môi trường như vậy chưa cho phép việc xây dựng VHDN trở thành hiện thực. Bám sát những nội dung cơ bản của việc xây dựng VHDN đã trình bày trên, để xây dựng VHDN, các DN Việt hiện nay đứng trước những thách thức vô cùng lớn nhưng không thể không vượt qua. Trong số đó, phải kể đến những thách thức sau đây:

    – Sự thiếu minh bạch trong quản lý . Sự thiếu minh bạch trong các DN hiện nay là hiện tượng không thể phủ nhận. Nguyên nhân sâu xa của nó là sự thiếu minh bạch trong quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Mặc dù vậy, các DN cần thiết lập một cơ chế quản lý bảo đảm sự minh bạch cao nhất trong nội bộ DN mình. Đó là nhân tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định để hoạch định một chiến lược xây dựng VHDN.

    – Phương thức gia đình trị trong quản lý DN. Đây là phương thức quản lý tồn tại tất yếu trong giai đoạn đầu hình thành DN. Giữa phương thức gia đình trị với việc xây dựng VHDN có quan hệ như nước với lửa. Do đó, có thể khẳng định rằng, không thể bàn đến việc xây dựng VHDN với những nội dung khoa học của nó nếu phương thức gia đình trị vẫn còn tồn tại trong DN.

    – Sự yếu kém về năng lực quản trị của chủ DN. Đây cũng là hạn chế tất yếu của các DN Việt . Sự yếu kém về năng lực quản trị lại là nguyên nhân dân đến những hạn chế khác như đi tìm sự “bảo kê” cho hoạt động kinh doanh; sử dụng các “tiểu xảo” để “đánh quả”, “chụp giật” . . . . VHDN không thể tồn tại song song với những hành vi đó . . .

    Có thể nêu và phân tích nhiều thách thức khác nữa đối với các DN

    Việt trong việc xây dựng

    VHDN, song ba thách thức đã nêu là cơ bản và quan trọng nhất. Vượt qua được ba thách thức đó là điều kiện tiền đề quan trọng nhất để có thể bắt tay vào việc xây dựng VHDN – nhân tố quyết định đối với sự phát triền bền vững của DN.

    van.vn – chuyên trang đánh giá, tư vấn và tin tức về công nghệ, sản phẩm hàng đầu Việt Nam.

    Link gốc: http://doanhnhan.net/chuc-nang-va-noi-dung-co-ban-cua-van-hoa-doanh-nghiep-3404.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Trong Đổi Mới
  • Công Việc, Nhiệm Vụ, Mục Tiêu Của Một Trưởng Phòng Kinh Doanh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trưởng Phòng Kinh Doanh
  • Vùng Dưới Đồi Có Chức Năng Gì?
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Nghị Định Số 111/2013/nđ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn
  • Nhiều Giải Pháp Tạo Việc Làm Sau Đại Dịch Covid
  • Dễ Dàng Phân Biệt Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Với Mẹo Hay
  • Công Tác Xử Lý Nền Đập Chính Công Trình Đầu Mối Hồ Chứa Nước Cửa Đạt.
  • Điệp Ngữ Là Gì? Tất Tần Tật Các Tác Dụng Của Phép Điệp
  • Ngày 30/09/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số

    111/2013/NĐ-CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục

    tại xã, phường, thị trấn. Nghị định này gồm 5 chương, 48 Điều quy định việc xem

    xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị

    trấn; việc xem xét, quyết định chuyển sang áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi

    phạm hành chính quản lý tại gia đình đối với người chưa thành niên, gồm một số

    nội dung cơ bản sau:

    I. Nguyên tắc áp dụng

    1.

    Nhanh chóng, công khai, khách quan, công bằng; đúng thẩm quyền, đối tượng,

    trình tự, thủ tục quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số

    111/2013/NĐ-CP.

    2. Không xâm phạm đến sức

    khỏe, danh dự, nhân phẩm; tôn trọng và bảo vệ bí mật riêng tư của người bị áp

    dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và người chưa thành niên được

    áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình.

    Không

    công khai việc tổ chức, nội dung, kết quả cuộc họp tư vấn, hồ sơ và thi hành

    quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên.

    3. Người có thẩm quyền áp

    dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn có trách nhiệm chứng minh vi

    phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không

    thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    4. Bảo đảm sự tham gia của

    cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cộng đồng, nhà trường và gia đình trong việc

    giúp đỡ, giáo dục người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    5. Việc quyết định thời hạn

    áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải căn cứ vào tính chất,

    mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết

    tăng nặng.

    6. Chỉ áp dụng biện pháp

    giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên trong trường

    hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh

    và trở thành công dân có ích cho xã hội.

    Đối với người chưa thành

    niên thuộc đối tượng quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 4 của Nghị định số

    111/2013/NĐ-CP, chỉ quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị

    trấn khi không đủ điều kiện áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình. Việc áp

    dụng biện pháp quản lý tại gia đình không được coi là đã bị xử lý vi phạm hành

    chính.

    7. Trong quá trình xem xét

    quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người

    chưa thành niên, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi

    ích tốt nhất cho họ.

    II. Đối tượng, thời hiệu, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn

    1. Đối tượng áp dụng biện

    pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, gồm:

    – Người từ đủ 12 tuổi đến

    dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do

    cố ý quy định tại Bộ luật hình sự, thì thời hiệu là 01 năm, kể từ ngày thực

    hiện hành vi vi phạm;

    – Người từ đủ 14 tuổi đến

    dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố

    ý quy định tại Bộ luật hình sự, thì thời hiệu là 06 tháng, kể từ ngày thực hiện

    hành vi vi phạm;

    – Người từ đủ 14 tuổi đến

    dưới 18 tuổi, trong 06 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính

    về hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng, thì thời

    hiệu là 06 tháng, kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm

    hành chính nêu trên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định;

    – Người nghiện ma túy từ đủ

    18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày

    đối tượng có hành vi sử dụng ma túy bị phát hiện;

    – Người từ đủ 18 tuổi trở

    lên, trong 06 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi

    xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của

    công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội, thì thời hiệu

    là 06 tháng, kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm hành

    chính nêu trên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

    2. Không áp dụng biện pháp

    giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nước ngoài.

    3. Thời hạn áp dụng biện

    pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 03 tháng đến 06 tháng, tùy theo tính

    chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng

    nặng của người vi phạm.

    III. Điều kiện chuyển sang áp dụng biện pháp quản

    lý tại gia đình

    1. Đối tượng quy định tại

    Điểm c Khoản 2 Điều 4 của Nghị định 111/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ áp

    dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, nếu đáp ứng các điều kiện sau

    đây, thì được xem xét, quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình:

    a) Tự nguyện khai báo, thành

    thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình;

    b) Có môi trường sống thuận

    lợi cho việc thực hiện biện pháp này;

    c) Cha mẹ hoặc người giám hộ

    có nhân thân tốt, có điều kiện thuận lợi để quản lý, giáo dục người chưa thành

    niên và có bản cam kết theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 của Nghị định

    111/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn.

    2. Thời

    hạn áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình từ 03 tháng đến 06 tháng.

    IV. Thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã

    1. Thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị

    trấn và biện pháp quản lý tại gia đình

    – Người có thẩm quyền quyết

    định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn gồm:

    + Chủ tịch Ủy ban nhân dân

    cấp xã nơi người vi phạm cư trú;

    + Chủ

    tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em đã

    tiếp nhận người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định đóng trụ sở.

    – Người có thẩm quyền quyết

    định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

    nơi người chưa thành niên cư trú.

    2. Xử lý hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    từ nơi khác gửi đến

    Sau khi

    nhận được hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    được chuyển đến theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 13 của Nghị định số

    111/2013/NĐ-CP, Chủ tịch UBND cấp xã nơi đối tượng cư trú hoặc nơi cơ sở bảo

    trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em đóng trụ sở giao hồ sơ cho Trưởng Công an cấp

    xã cùng cấp kiểm tra, bổ sung các thông tin, tài liệu, lấy ý kiến các cơ quan,

    Thời hạn kiểm tra, bổ sung các thông tin, tài liệu, lấy ý kiến các cơ quan, tổ

    V. Xác định tuổi và nơi cư trú của đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục

    tại xã, phường, thị trấn

    1. Tuổi của đối tượng bị áp

    dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn căn cứ theo giấy khai sinh của

    đối tượng. Trường hợp không có giấy khai sinh hoặc không thể xác định chính xác

    ngày, tháng, năm sinh trong giấy khai sinh, thì căn cứ vào chứng minh nhân dân,

    hộ chiếu, sổ hộ khẩu hoặc các giấy tờ khác được cơ quan có thẩm quyền cấp có

    ghi rõ ngày, tháng, năm sinh.

    Trường hợp không có các giấy

    tờ trên để xác định tuổi, thì căn cứ vào sổ hộ tịch hoặc các giấy tờ, sổ sách,

    Trường hợp thông tin ngày,

    tháng, năm sinh ghi trong các giấy tờ trên không thống nhất, thì xác định theo

    ngày, tháng, năm sinh trong giấy tờ theo hướng có lợi nhất cho đối tượng.

    2. Nơi cư trú ổn định là nơi

    đối tượng thường trú hoặc tạm trú, nhưng phải là nơi người đó hiện đang thường

    xuyên sinh sống. Đối với đối tượng không có nơi cư trú ổn định tại địa phương

    nơi họ thực hiện hành vi vi phạm, thì  nơi đối tượng vi phạm cư trú để xem

    xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Trường hợp

    đối tượng không có nơi cư trú ổn định là người chưa thành niên, mà không xác

    minh được nơi cư trú, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng thực

    hiện hành vi vi phạm pháp luật, cơ quan Công an cấp huyện, cơ quan Công an cấp

    tỉnh chuyển đối tượng và bản sao hồ sơ đến cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ

    chuyển hồ sơ đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cơ sở bảo trợ xã hội hoặc

    cơ sở trợ giúp trẻ em đó đóng trụ sở để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp

    giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    VI. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại

    xã, phường, thị trấn, gồm:

    1. Bản tóm tắt lý lịch của

    người vi phạm;

    2. Văn bản đề nghị lập hồ sơ

    quy định tại Điều 9 của Nghị định 111/2013/NĐ-CP;

    3. Các văn bản, tài liệu

    được thu thập theo quy định tại Điều 11 của Nghị định 111/2013/NĐ-CP;

    4. Bệnh án (nếu có);

    5. Bản tường trình của người

    vi phạm;

    6. Các tài liệu khác có liên

    quan.

    Trong thời hạn 15 ngày, kể

    từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị

    trấn theo quy định Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức và chủ trì cuộc họp tư vấn để

    xem xét quyết định áp dụng biện pháp.

    Trong

    thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an cấp xã,

    Chủ tịch UBND cấp xã xem xét quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình.

    Trong trường hợp Chủ tịch UBND cấp xã không đồng ý với đề nghị của Trưởng Công

    an cùng cấp trong giai đoạn lập hồ hơ theo quy định thì chuyển lại để lập hồ sơ

    đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    VII. Thẩm quyền của Trưởng Công an cấp xã

    1. Đề

    nghị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    -

    Trưởng Công an cấp xã tự lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn đối với các đối tượng quy định tại các Điểm c, d và đ Khoản 2

    Điều 4 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP hoặc trên cơ sở đề nghị của những người

    sau:

    + Chủ

    tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã; đại diện các tổ chức chính trị – xã hội ở

    cơ sở;

    + Đại

    diện cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người vi phạm đang làm việc hoặc học tập ở cơ

    sở;

    + Đại

    diện đơn vị dân cư ở cơ sở gồm: Tổ trưởng Tổ dân phố, Trưởng thôn, ấp, bản,

    buôn, làng, phum, sóc và các đơn vị tương đương.

    -

    Trưởng Công an cấp xã được nhận văn bản đề nghị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện

    pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Người đề nghị phải chịu trách nhiệm về

    nội dung thông tin trong văn bản đề nghị quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định

    số 111/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành

    chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    -

    Trưởng Công an cấp xã không chấp nhận đề nghị lập hồ sơ nếu thấy văn bản đề

    nghị không đúng đối tượng quy định tại các Điểm c, d và đ Khoản 2 Điều 4 của

    Nghị định số 111/2013/NĐ-CP hoặc sự việc đang trong quá trình hoà giải hoặc đã

    hoà giải thành theo quy định của pháp luật về hoà giải ở cơ sở; nếu người đề

    nghị không đồng ý, thì báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã.

    Sau khi

    chấp nhận đề nghị lập hồ sơ, Trưởng Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị theo quy

    định tại các Điều 11, 12, 13 và 14 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP về chế độ áp

    dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    -

    Trường hợp người vi phạm là người chưa thành niên, nếu xét thấy đủ điều kiện áp

    dụng biện pháp quản lý tại gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 5 của Nghị định

    số 111/2013/NĐ-CP về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn, Trưởng Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND cùng

    cấp xem xét, quyết định theo quy định tại Điều 20 và Điều 21 của Nghị định này.

    2. Thẩm

    quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    -

    Trưởng Công an cấp xã nơi đối tượng quy định tại các Điểm c, d và đ Khoản 2

    Điều 4 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP cư trú lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND

    cùng cấp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị

    trấn.

    -

    Trưởng Công an cấp xã nơi đối tượng quy định tại các Điểm c, d và đ Khoản 2

    Điều 4 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lập

    hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, sau đó đề

    nghị Chủ tịch UBND cùng cấp chuyển hồ sơ theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3

    của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP.

    -

    Trưởng Công an cấp xã được tham gia cuộc họp tư vấn xem xét, quyết định áp dụng

    biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    VIII. Trách nhiệm của Trưởng Công an cấp xã

    1.

    Trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    – Trong

    thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị lập hồ sơ đề nghị áp

    dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Trưởng Công an cấp xã có

    trách nhiệm kiểm tra các thông tin về hành vi vi phạm và nhân thân người vi

    phạm; trường hợp người bị đề nghị là người chưa thành niên, thì tham khảo ý

    kiến của công chức văn hoá – xã hội phụ trách công tác trẻ em hoặc cộng tác

    viên công tác xã hội, cộng tác viên công tác trẻ em (nếu có) về đặc điểm và

    hoàn cảnh gia đình của người chưa thành niên.

    -

    Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người đề nghị

    về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp

    giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    -

    Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm thu thập thông tin, tài liệu để lập hồ sơ

    đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Việc thu thập

    thông tin, tài liệu để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn được thực hiện theo Điều 11 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP.

    -

    Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm xác minh nơi cư trú ổn định của đối tượng

    bị áp dụng biện áp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Nơi cư trú ổn định là nơi

    đối tượng thường trú hoặc tạm trú, nhưng phải là nơi người đó hiện đang thường

    xuyên sinh sống. (Trường hợp xác minh được nơi cư trú của đối tượng bị áp dụng

    biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn không thuộc địa bàn quản lý của

    mình thì Trường Công an cấp xã đã lập hồ sơ đối với đối tượng đó đề nghị Chủ

    tịch UBND cùng cấp chuyển hồ sơ đến Chủ tịch UBND cấp xã nơi đối tượng cư trú

    để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn).

    – Gửi

    hồ sơ và thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn.

    + Sau

    khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị hoặc sau khi kiểm tra, bổ sung hồ sơ quy

    định tại Điều 15 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP, Trưởng Công an cấp xã phải

    gửi hồ sơ đến Chủ tịch UBND cùng cấp, đồng thời thông báo bằng văn bản về việc

    lập hồ sơ cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp hoặc cha mẹ hoặc người giám hộ

    của người chưa thành niên.

    – Hoàn

    thiện hồ sơ trình Chủ tịch UBND cấp xã.

    Ngay

    sau khi kết thúc cuộc họp tư vấn, căn cứ vào biên bản cuộc họp, Trưởng Công an

    cấp xã có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ để trình Chủ tịch UBND cùng cấp.

    – Giúp

    Chủ tịch UBND cùng cấp theo dõi việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn.

    – Thực

    hiện việc quản lý hồ sơ của người được giáo dục theo chế độ quản lý hồ sơ của

    Bộ Công an.

    2.

    Trường hợp đề nghị áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình

    -

    Trưởng Công an cấp xã yêu cầu cha mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành

    niên làm bản cam kết gồm các nội dung được quy định tại các Điểm a, b, c, d và

    đ Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP.

    -

    Trưởng Công an cấp xã trình Chủ tịch UBND cùng cấp hồ sơ đề nghị áp dụng biện

    pháp quản lý tại gia đình. Hồ sơ gồm các loại giấy tờ quy định tại Điểm a, b, c,

    d và đ khoản 3 Điều 20 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP.

    – Phân

    công cán bộ, chiến sỹ hoặc Công an viên phối hợp với tổ chức được Chủ tịch UBND

    cấp xã phân công quản lý, giáo dục người được giáo dục trong việc quản lý, giáo

    dục, giúp đỡ người được giáo dục.

    IX. Trách nhiệm của Cơ quan, tổ chức

    1. Bộ

    Công an có trách nhiệm

    – Hướng

    dẫn Công an cấp xã, công chức văn hoá – xã hội, các cơ quan tổ chức chính trị -

    xã hội cùng cấp giúp UBND cấp xã trong việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề

    nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

    – Báo

    cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền việc áp dụng biện pháp

    giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định;

    – Xây

    dựng tài liệu hướng dẫn áp dụng pháp luật về thi hành biện pháp giáo dục tại

    xã, phường, thị trấn;

    – Hướng

    dẫn nghiệp vụ áp dụng pháp luật về thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường,

    thị trấn.

    2. Cơ

    quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm

    – Cơ

    quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh đang thụ lý vụ việc theo quy định

    tại Khoản 2 Điều 97 Luật Xử lý vi phạm hành chính lập hồ sơ đề nghị áp dụng

    biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với đối tượng quy định tại

    Khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP, sau đó chuyển hồ sơ đến Chủ

    tịch UBND cấp xã theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 13 của Nghị định số

    111/2013/NĐ-CP.

    -

    Trường hợp đối tượng không có nơi cư trú ổn định là người chưa thành niên, mà

    không xác minh được nơi cư trú, thì Chủ tịch UBND cấp xã nơi đối tượng thực

    hiện hành vi vi phạm pháp luật, cơ quan Công an cấp huyện, cơ quan Công an cấp

    tỉnh chuyển đối tượng và bản sao hồ sơ đến cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ

    Chủ tịch UBND cấp xã, nơi cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em đó

    đóng trụ sở để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường,

    thị trấn.

    -

    Trường hợp cần thiết có thể được mời tham gia cuộc họp tư vấn xem xét, quyết

    định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong trường hợp là cơ

    quan đã chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị

    trấn.

    3. UBND

    các cấp có trách nhiệm

    – UBND

    các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

    + Báo

    cáo về công tác thi hành pháp luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn và biện pháp quản lý tại gia đình;

    + Chỉ

    đạo, hướng dẫn, xây dựng dự toán kinh phí cho việc triển khai thực hiện biện

    pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp quản lý tại gia đình;

    + Chỉ

    đạo, tổ chức thực hiện thi hành các quyết định giáo dục tại xã, phường, thị

    trấn và quản lý tại gia đình;

    + Chỉ

    đạo các cơ quan, tổ chức xã hội tại địa phương phối hợp thực hiện các hoạt động

    tư vấn, hỗ trợ, quản lý, giáo dục người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

    phường, thị trấn và biện pháp quản lý tại gia đình nhằm giúp các đối tượng hoà

    nhập cộng đồng;

    + Kiểm

    tra, thanh tra việc thi hành các quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    và quản lý tại gia đình ở địa phương.

    – UBND

    cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm:

    + Trình

    dự toán kinh phí hàng năm, xây dựng mức hỗ trợ người trực tiếp giúp đỡ người

    được giáo dục để trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định;

    + Rà

    soát xây dựng cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em trên địa bàn để bảo

    đảm thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa

    thành niên không có nơi cư trú ổn định;

    + Quyết

    chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định bị áp dụng biện pháp giáo dục tại

    xã, phường, thị trấn.

    – UBND

    cấp xã trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm:

    + Tổ

    chức triển khai thực hiện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    trên địa bàn;

    + Huy

    động những người có điều kiện, năng lực và kinh nghiệm tham gia quản lý, giáo

    dục, giúp đỡ người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phù

    hợp với tình hình thực tiễn của địa phương;

    + Chỉ

    đạo tổ chức các chương trình học nghề, tìm việc làm, vay vốn, sản xuất, kinh

    doanh, chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống, các dịch vụ y tế, xã

    hội, phòng, chống tái nghiện ma tuý trên địa bàn để tạo điều kiện cho người bị

    áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp quản lý tại gia

    đình được tham gia; lập dự toán kinh phí cho việc thực hiện biện pháp giáo dục

    tại xã, phường, thị trấn để trình cấp có thẩm quyền quyết định;

    + Kiểm

    tra việc thi hành các quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn và quản lý

    tại gia đình ở địa phương.

    X. Tổ chức thực hiện

    1. Nghị định 111/2013/NĐ-CP

    có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2013 và thay thế Nghị định số

    163/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành biện

    pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Bãi bỏ Điểm a Khoản 2 Điều 16 Nghị định

    số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/9/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma

    túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2

    Điều 5 Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều

    kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội

    như sau:

    “Điều 5. Đối tượng được tiếp

    nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội gồm:

    Các đối

    tượng xã hội cần sự bảo vệ khẩn cấp: Trẻ em bị bỏ rơi, nạn nhân của bạo lực gia

    đình, nạn nhân bị xâm hại tình dục, nạn nhân bị buôn bán, nạn nhân bị cưỡng bức

    lao động; người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định đang trong thời

    gian lập hồ sơ, thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.” .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Thực Hiện Tốt Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Minh Cho Trẻ 5 – 6 Tuổi
  • Thực Trạng Văn Hóa Học Đường Của Sinh Viên Khoa Sư Phạm Mầm Non Trường Đại Học Hạ Long – Trường Đại Học Hạ Long
  • Thực Trạng Văn Hóa Học Đường
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Sinh Viên Tại Trường Đại Học Công Nghiệp Dệt May Hà Nội
  • Nội Dung Cơ Bản Của Bảo Hiểm Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Hiểm Y Tế Là Gì? Đối Tượng Và Mức Đóng Bảo Hiểm Y Tế
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tổ Chức Bộ Phận Y Tế Trong Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • Trách Nhiệm Của Người Làm Công Tác Y Tế Tại Cơ Sở Sản Xuất Kinh Doanh
  • Thành Lập Bộ Phận Y Tế Tại Công Ty Sản Xuất
  • Thủ Tục Thành Lập Bộ Phận Y Tế Trong Doanh Nghiệp Năm 2022
  • Đối tượng tham gia BHYT.

    Đối tượng của BHYT là sức khoẻ của con người, bất kỳ ai có sức khoẻ và có nhu cầu bảo vệ sức khoẻ cho mình đều có quyền tham gia BHYT. Như vậy đối tượng tham gia BHYT là tất cả mọi người dân có nhu cầu BHYT cho sức khoẻ của mình hoặc một người đại diện cho một tập thể, một cơ quan …đứng ra ký kết hợp đồng BHYT cho tập thể, cơ quan ấy.

    Trong thời kỳ đầu mới triển khai BHYT , thông thường các nước đều có hai nhóm đối tượng tham gia BHYT là bắt buộc và tự nguyện. Hình thức bắt buộc áp dụng đối với công nhân viên chức nhà nước và một số đối tượng như người về hưu có hưởng lương hưu,những người thuộc diện chính sách xã hội theo qui định của pháp luật … hình thức tự nguyện áp dụng cho mọi thành viên khác trong xã hội có nhu cầu và thường giới hạn trong độ tuổi nhất định tuỳ theo từng quốc gia.

    Phạm vi BHYT.

    Mọi đối tượng tham gia BHYT khi không may gặp rủi ro về ốm đau, bệnh tật đi KCB đều được cơ quan BHYT xem xét chi trả bồi thường nhưng không phải mọi trường hợp đều được chi trả và chi trả hoàn toàn chi phí KCB, BHYT chỉ chi trả trong một phạm vi nhất định tuỳ điều kiện từng nước.

    BHYT là hoạt động thu phí bảo hiẻm và đảm bảo thanh toán chi phí y tế cho người tham gia bảo hiểm. Mặc dù mọi người dân trong xã hội đều có quyền tham gia BHYT nhưng thực tế BHYT không chấp nhận bảo hiểm thông thường cho người mắc bệnh nan y nếu không có thoả thuận gì thêm.

    Những người đã tham gia BHYT khi gặp rủi ro về sức khoẻ đều được thanh toán chi phí KCB với nhiều mức độ khác nhau tại các cơ sở y tế. Tuy nhiên nếu KCB trong các trường hợp cố tình tự huỷ hoại bản thân trong tình trạng không kiểm soát được hành động của bản thân, vi phạm pháp luật … thì không được cơ quan BHYT chịu trách nhiệm.

    Ngoài ra, mỗi quốc gia đều có những chương trình sức khoẻ quốc gia khác nhau. Cơ quan BHYT cũng không có trách nhiệm chi trả đối với người được BHYT nếu họ KCB thuộc chương trình này.

    Phương thức BHYT.

    Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí KCB cho người có thẻ BHYT thì BHYT có nhiều phương thức thanh toán khác nhau, cụ thể là:

    – BHYT trọn gói là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT.

    – BHYT trọn gói trừ các đại phẫu thuật là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT , trừ các chi phí y tế cho các cuộc đại phẫu ( theo quy định của cơ quan y tế).

    – BHYT thông thường là phương thức BHYT trong đó trách nhiệm của cơ quan BHYT được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của người được BHYT.

    Đối với các nước phát triển có mức sống dân cư cao , hoạt động BHYT đã có từ lâu và phát triển có thể thực hiện BHYT theo cả ba phương thức trên. Đối với các nước đang phát triển, mới triển khai hoạt động BHYT thường áp dụng phương thức BHYT thông thường.

    Đối với phương thức BHYT thông thường thì BHYT được tổ chức dưới hai hình thức đó là BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện. BHYT bắt buộc được thực hiện với một số đối tượng nhất định được qui định trong các văn bản pháp luật về BHYT. Dù muốn hay không những người thuộc đối tượng này đều phải tham gia BHYT, số còn lại không thuộc đối tượng bắt buộc tuỳ theo nhu cầu và khả năng kinh tế có thể tham gia BHYT tự nguyện.

    Phí BHYT

    Phí BHYT là số tiền mà người tham gia BHYT phải đóng góp để hình thành quỹ BHYT.

    Phí BHYT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: xác suất mắc bệnh, chi phí y tế, độ tuổi tham gia BHYT …ngoài ra có thể có nhiều mức phí khác nhau cho những người có khả năng tài chính khác nhau trong việc nộp phí lựa chọn…Trong đó chi phí y tế là yếu tố quan trọng nhất và nó phụ thuộc vào các yếu tố sau: tổng số lượt người KCB , số ngày bình quân của một đợt điều trị, chi phí bình quân cho một lần KCB, tần suất xuất hiện các loại bệnh…

    Phí BHYT thường được tính trên cơ sở các số liệu thống kê về chi phí y tế và số người tham gia BHYT thực tế trong thời gian liền ngay trước đó. Phí

    BHYT bao gồm cả chi phí quản lý cho cơ quan, tổ chức đứng ra thực hiện và thường tính cho một năm. Việc tính phí không hề đơn giản vì nó vừa phải đảm bảo chi trả đủ chi phí KCB của người tham vừa phải đảm bảo quyền lợi tối thiểu với mức phí tương ứng.

    Quỹ BHYT.

    Tất cả những người tham gia BHYT đều phải đóng phí và Quỹ BHYT được hình thành từ phần đóng góp này.

    Quỹ BHYT là một Quỹ tài chính tập trung có quy mô phụ thuộc vào số lượng thành viên đóng góp và mức độ đóng góp vào quỹ của các thành viên đó. Thông thường, với mục đích nhân đạo, không đặt mục đích kinh doanh lên hàng đầu, Quỹ BHYT được hình thành chủ yếu từ hai nguồn chính là do người sử dụng lao động và người lao động đóng góp, hoặc chỉ do sự đóng góp của người tham gia BHYT.

    Sau khi hình thành quỹ, quỹ BHYT được sử dụng như sau:

    – Chi thanh toán chi phí y tế cho người được BHYT

    – Chi dự trữ, dự phòng dao động lớn

    – Chi đề phòng hạn chế tổn thất

    – Chi quản lý

    Tỷ lệ và quy mô các khoản chi này thường được qui định trước bởi cơ quan BHYT và có thể thay đổi theo từng điều kiện cụ thể.

    Ở Việt Nam, BHYT được tổ chức thực hiện từ năm 1992 theo Nghị định 299/HĐBT ( nay là Chính phủ) ngày 15/8/1992 ban hành Điều lệ BHYT. Sau một thời gian thực hiện đã sửa đổi, bổ sung theo Nghị đinh 58/CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ ban hành về Điều lệ BHYT, BHYT Việt Nam về cơ bản cũng thống nhất với các nước.

    Đối tượng tham gia.

    Theo Nghị đinh 58 thì BHYT Việt Nam cũng được thực hiện dưới hai hình thức là bắt buộc và tự nguyện.

    * Đối tượng tham gia bắt buộc gồm:

    – người lao động Việt Nam làm việc trong:

    + các doanh nghiệp nhà nước, kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.

    + các tổ chức kinh tế thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị – xã hội.

    + các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có qui định khác

    + các đơn vị, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên.

    – cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, người làm việc trong các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ xã, phường, thị trấn hưởng sinh hoạt phí hàng tháng theo qui định tại Nghị định số 09/1998/NĐ – CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ, người làm việc tịa các cơ quan dân cử từ Trung ương đến cấp xã, phường.

    – người đang hưởng chế độ hưu trí, hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng do suy giảm khả năng lao động.

    – người có công với các mạng theo qui định của pháp luật

    – các đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước cấp kinh phí thông qua

    bảo hiểm xã hội.

    * Đối tượng tham gia BHYT tự nguyện gồm:

    tất cả mọi đối tượng trong xã hội, kể cả người nước ngoài đến làm việc, học tập, du lịch tại Việt Nam.

    Chính phủ khuyến khích việc mở rộng và đa dạng hoá các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện, đồng thời khuyến khích Hội chữ thập đỏ, các Hội từ thiện, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế của Nhà nước và tư nhân đóng góp để mua thẻ BHYT cho người nghèo. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân địa phương được tham gia BHYT tự nguyện.

    Phạm vi BHYT

    Người có thẻ BHYT bắt buộc được hưởng chế độ BHYT khi KCB ngoại trú và nội trú gồm:

    – khám bệnh, chẩn đoán và điều trị

    – xét nghiệm,chiếu chụp X – quang, thăm dò chức năng

    – máu, dịch truyền

    – các thủ thuật, phẫu thuật

    – sử dụng vật tư, thiết bị y tế và giường bệnh

    Người có thẻ BHYT tự nguyện được quỹ BHYT chi trả các chi phí KCB phù hợp với mức đóng và loại hình BHYT tự nguyện đã lựa chọn. Nếu mức đóng BHYT tự nguyện tương đương mức đóng BHYT bắt buộc bình quân trong khu vực thì người có thẻ BHYT tự nguyện sẽ được hưởng chế độ BHYT như người có thẻ BHYT bắt buộc.

    Trong trường hợp bệnh vượt quá khả năng chuyên môn của cơ sở KCB người có thẻ BHYT được quyền chuyển viện lên tuyến trên. Tuy nhiên Quỹ BHYT không thanh toán trong các trường hợp sau:

    – điều trị bệnh phong, sử dụng thuôc điều trị các bệnh lao, sốt rét, tâm thần phân liệt, động kinh, dịch vụ kế hoạch hoá gia đình ( vì đây là chương trình sức khoẻ quốc gia được ngân sách Nhà nước đài thọ)

    – phòng và chữa bệnh dại, phòng bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV – AIDS, lậu, giang mai

    – tiêm chủng phòng bệnh, điều dưỡng, an dưỡng, khám sức khoẻ điều trị vô sinh

    – chỉnh hình và tạo hình thẩm mỹ, làm chân tay giả, mắt giả, răng giả, kính mắt, máy trợ thính, thuỷ tinh thể nhân tạo, ổ khớp nhân tạo, van tim nhân tạo

    – các bệnh bẩm sinh và dị tật bẩm sinh

    – bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạ chiến tranh và thiên tai

    – tự tử, cố ý gây thương tích, nghiện chất ma tuý, vi phạm pháp luật

    Phương thức BHYT

    BHYT ở Việt Nam được thực hiện theo phương thức BHYT thông thường, chi phí KCB cho người có thẻ BHYT bắt buộc được thanh toán theo mức: 80% chi phí KCB sẽ do Quỹ BHYT chi trả còn 20% người bệnh tự trả cho cơ sở KCB.

    Đối tượng thuộc diện ưu đãi xã hội qui định tại Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương bệnh binh …được quỹ BHYT chi trả 100% chi phí KCB

    Nếu số tiền mà người bệnh tự trả 20% chi phí KCB trong năm đã vượt quá 6 tháng lương tối thiểu thì các chi phí KCB tiếp theo trong năm sẽ được quỹ BHYT thanh toán toàn bộ.

    Đối với người tham gia BHYT tự nguyện thì mức hưởng sẽ do Liên Bộ Y tế – Tài chính qui định áp dụng cho từng địa phương sau khi có sự thoả

    thuận của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Phí BHYT .

    Người có tham gia BHYT bắt buộc có mức đóng bằng 3% lương làm căn cứ đóng qui định cho từng trường hợp cụ thể trong đó cá nhân tham gia đóng 1% còn người sử dụng lao động, cơ quan sử dụng công chức, viên chức, cơ quan cấp sinh hoạt phí đóng 2%.

    Đối với người hưởng sinh hoạt phí là đại biểu Hội đồng nhân dân đương nhiệm các cấp không thuộc biên chế Nhà nước mức đóng là 3% mức lương tối thiểu hiện hành do cơ quan cấp sinh hoạt phí đóng.

    Đối với người có công với cách mạng, đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội thì mức đóng bằng 3% mức lương tối thiểu hiện hành do cơ quan trực tiếp quản lý kinh phí của đối tượng đóng.

    Người đang hưởng trợ cấp hưu, hưởng các chế độ BHXH thì mức đóng bằng 3% tiền lương hưu, tiền trợ cấp BHXH hàng tháng và do cơ quan BHXH trực tiếp đóng.

    Người tham gia BHYT tự nguyện có mức đóng do Liên Bộ Y tế – Tài chính qui định áp dụng cho từng địa phương.

    Quản lý và sử dụng quỹ BHYT

    Nguồn hình thành quỹ BHYT .

    Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất trong toàn bộ hệ thống BHYT Việt Nam, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước và được Nhà nước bảo hộ.

    Quỹ BHYT được hình thành từ các nguồn sau:

    – thu từ các đối tượng tham gia BHYT theo qui định.

    – các khoản viện trợ từ các tổ chức Quốc tế

    – các khoản viện trợ từ các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước.

    – ngân sách Nhà nước cấp

    – lãi do hoạt động đầu tư

    – các khoản thu khác ( nếu có )

    Quỹ BHYT tự nguyện được hạch toán và quản lý độc lập với Quỹ BHYT bắt buộc nhằm phục vụ cho công tác triển khai BHYT tự nguyện.

    Quản lý và sử dụng quỹ BHYT.

    Hàng năm quỹ BHYT bắt buộc dành 91,5% cho quỹ KCB trong đó dành 5% để lập quỹ dự phòng KCB.

    Quỹ KCB trong năm không sử dụng hết được kết chuyển vào quỹ dự phòng. Nếu trường hợp chi phí KCB trong năm vượt quá khả năng thanh toán của quỹ KCB thì được bổ sung từ quỹ dự phòng.

    Dành 8,5% cho chi quản lý thường xuyên của hệ thống BHYT Việt Nam theo dự toán hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chế độ chi tiêu của Nhà nước qui định.

    Tiền tạm thời nhàn rỗi ( nếu có ) của quỹ BHYT được mua tín phiếu, trái phiếu do Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại quốc doanh phát hành và được thực hiện các biện pháp khác nhằm bảo tồn và tăng trưởng quỹ nhưng phải đảm bảo nguồn chi trả khi cần thiết.

    Nguồn thu BHYT tự nguyện được hạch toán riêng và sử dụng để chi cho các nội dung sau:

    – chi trả chi phí KCB cho người có thẻ BHYT tự nguyện theo qui định

    – chi cho các đại lý thu, phát hành thẻ BHYT tự nguỵên

    – chi quản lý thường xuyên của cơ quan BHYT

    BHYT Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý thống nhất quỹ BHYT tự nguyện. Liên Bộ Y tế – Tài chính qui định chi tiết và hướng dẫn sử dụng quỹ BHYT tự nguyện.

    Liên Bộ Y tế – Tài chính ban hành quy chế quản lý tài chính đối với BHYT Việt Nam.

    Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHYT

    Đối với người tham gia BHYT

    a. Quyền lợi

    Khi tham gia BHYT người có thẻ BHYT được bảo đảm các quỳên lợi sau:

    – đựơc KCB theo chế độ BHYT qui định

    – chọn một trong các cơ sở KCB ban đầu thuận lợi tại nơi cư trú hoặc nơi công tác theo hướng dân của cơ quan BHYT để quản lý, chăm sóc sức khoẻ và KCB

    – được thay đổi nơi đăng ký KCB ban đầu vào cuối mỗi quý.

    – được thanh toán viện phí theo chế độ BHYT khi sinh con thứ nhất và thứ hai

    – yêu cầu cơ quan BHYT bảo đảm quyền lợi theo qui định của Điều lệ BHYT

    – khiếu nại với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động, cơ quan BHYT , các cơ sở KCB vi phạm Điều lệ BHYT dẫn đến việc quyền lợi của họ không được đảm bảo.

    b. Trách nhiệm

    Khi tham gia BHYT người tham gia cũng phải có các trách nhiệm sau:

    – đóng BHYT đầy đủ và đúng thời hạn

    – xuất trình thẻ BHYT khi đến KCB

    – bảo quản và không cho người khác mượn thẻ BHYT

    Đối với cơ quan, đơn vị và người sử dụng lao động

    a. Quyền lợi

    – từ chối thực hiện những yêu cầu của cơ quan BHYT và các cơ sở KCB không đúng với quy định của Điều lệ BHYT.

    – khiếu nại với các cơ quan Nhà nước có thẩm quỳên khi cơ quan BHYT và các cơ sở KCB vi phạm Điều lệ BHYT. Trong thời gian khiếu nại vẫn phải thực hiện trách nhiệm đóng BHYT theo qui định của Điều lệ BHYT.

    b. Trách nhiệm.

    – đóng BHYT theo đúng qui định của Điều lệ BHYT .

    – chấp hành sự kiểm tra, thanh tra về thực hiện chế độ BHYT của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    Đối với cơ quan BHYT.

    a. Quyền lợi.

    – tổ chức các đại lý phát hành thẻ.

    – ký hợp đồng với các cơ sở KCB hợp pháp để KCB cho người được BHYT.

    – từ chối thanh toán chi phí KCB không đúng qui định của Điều lệ BHYT hoặc không đúng với các điều khoản ghi trong hợp đồng đã được ký giữa cơ quan BHYT với cơ sở KCB.

    – thu giữ các chứng từ và thẻ BHYT giả mạo để chuyển cho các cơ quan điều tra xử lý theo qui định của phápt luật.

    – kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xử lý các đơn vị, cá nhân vi phạm Điều lệ BHYT.

    b.Trách nhiệm.

    – thu tiền BHYT, cấp thẻ và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng thẻ BHYT

    – cung cấp thông tin về các cơ sở KCB và hướng dẫn người tham gia BHYT lựa chọn để đăng ký.

    – quản lý quỹ, thanh toán chi phí BHYT đúng qui định và kịp thời.

    – kiểm tra, giám định việc thực hiện chế độ BHYT.

    – tổ chức thông tin, tuyên truyền về BHYT.

    – giải quyết các khiếu nại về thực hiện chế độ BHYT thuộc thẩm quyền.

    Đối với cơ sở KCB

    a.Quyền lợi.

    – yêu cầu cơ quan BHYT tạm ứng kinh phí và thanh toán chi phí KCB theo qui định của Điều lệ BHYT và theo hợp đồng KCB đã được ký kết.

    – KCB và cung cấp dịch vụ y tế theo đúng nguyên tắc chuyên môn.

    – yêu cầu cơ quan BHYT cung cấp những số liệu về thẻ BHYT đăng ký tại cơ sở KCB.

    – từ chối thực hiện các yêu cầu ngoài qui định của Điều lệ BHYT và hợp đồng đã ký với cơ quan BHYT.

    – khiếu kiện với các cơ quan có thẩm quyền khi cơ quan BHYT vi phạm hợp đồng KCB BHYT.

    b.Trách nhiệm.

    – thực hiện đúng hợp đồng KCB BHYT.

    – chỉ định sử dụng thuốc, vật phẩm sinh học, thủ thuật, phẫu thuật, xét nghiệm và các dịch vụ y tế an toàn, hợp lý theo qui định về chuyên môn kỹ thuật của Bộ Y tế.

    – kiểm tra thẻ BHYT, phát hiện và thông báo cho Bảo hiểm y tế Việt Nam những trường hợp vi phạm và lạm dụng chế độ BHYT.

    Tổ chức, quản lý BHYT.

    Trước năm 2002, Bảo hiểm y tế Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống cơ quan BHYT từ Trung ương đến địa phương BHYT ngành để quản lý và thực hiện chính sách BHYT. Tuy nhiên để phù hợp với thực tế và thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ngày 24/01/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ- TTg chuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Vì vậy, hiện nay Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan tổ chức và quản lý BHYT. Mọi Điều lệ về cơ bản vẫn được thực hiện theo Nghị định 58 và có văn bản sửa đổi hướng dẫn cụ thể kèm theo từng phần cho phù hợp.

    Ở Trung ương: Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan sự nghiệp trực thuộc Chính phủ.

    Ở cấp tỉnh: Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

    Ở cấp huyện, quận, thành phố, thị xã thuộc tỉnh tổ chức chi nhánh bảo hiểm y tế trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan sự nghiệp có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý về đối tượng tham gia BHXH, BHYT cấp sổ BHXH, cấp thẻ BHYT, quản lý hồ sơ hưởng chế độ BHXH đối với từng chế độ và thực hiện chế độ BHXH, quản lý đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng, quản lý quỹ BHXH, quỹ BHYT tự nguyện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Hiểm Y Tế Là Gì? Quyền Lợi Bhyt? Tại Sao Nên Mua Bhyt?
  • Khẳng Định Vai Trò Của Y Tế Thôn Bản Trong Chăm Sóc Sức Khỏe Cộng Đồng
  • Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Y Tế Thôn, Bản Làm Công Tác Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu
  • Tiêu Chuẩn, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Y Tế Thôn, Bản
  • Phòng Y Tế Tuyến Huyện: Vì Sao Hoạt Động Chưa Hiệu Quả?
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Bảo Hiểm Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Cơ Bản Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Đồng Bộ Hóa Dữ Liệu Là Gì? Vì Sao Cần Phải Làm Vậy?
  • Hướng Dẫn Trong 60 Giây: Đồng Bộ Cài Đặt Ảnh Trong Adobe Photoshop Lightroom
  • Bảo Tàng Và Hoạt Động Giáo Dục Bảo Tàng (Phần 1)
  • Công Tác Nghiên Cứu Giáo Dục Lịch Sử Của Bảo Tàng Tỉnh
  • BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

    Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. Tuy BHXH ra đời sớm như vậy nhưng một số khái niệm cơ bản của chúng như: đối tượng tham gia, đối tượng được bảo hiểm, đối tượng thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm đôi khi còn có sự nhầm lẫn và có nhiều quan điểm chưa thống nhất. Có nhiều lúc còn lẫn lộn giữa đối tượng BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như chúng ta đã biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân như: ốm đau, tai nạn, già yếu…Chính vì vậy, đối tượng bảo hiểm xã hội chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm .

    Người lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tượng tham gia, vừa là đối tượng được bảo hiểm và họ cũng là đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH (chiếm phần lớn trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm BHXH).

    Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn có người sử dụng lao động và Nhà nước. Sở dĩ người sử dụng lao động tham gia vào BHXH là vì phần họ thấy được lợi ích thiết thực khi tham gia BHXH, một phần là do sự ép buộc của Nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với Nhà nước thì khác, họ tham gia BHXH với tư cách là: chủ sở hữu lao động đối với tất cả công nhân viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách. Nhà nước là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể là bảo hộ giá trị của quỹ BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ nhằm tạo sự ổn định cho quỹ và sự phát triển xã hội.

    Đối tượng được bảo hiểm xã hội trong quan hệ BHXH ngoài người lao động còn có người sử dụng lao động. Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này có nghĩa là họ phải bỏ ra một khoản chi phí cho ngưòi lao động, nhưng thực tế chi phí này nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại.

    Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là ngưòi lao động trong trường hợp họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí. Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như: bố, mẹ, con, vợ ( chồng).

    Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của tổ chức lao động quốc tế ILO phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:

    – Chăm sóc y tế

    – Trợ cấp ốm đau

    – Trợ cấp thất nghiệp

    – Trợ cấp tuổi già

    – Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

    – Trợ cấp gia đình

    – Trợ cấp thai sản

    – Trợ cấp khi tàn phế

    – Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)

    Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện kiến nghị đó ở mức độ kác nhau.

    ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất .

    Khái niệm quỹ BHXH

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

    Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm: người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước nhằm mục đích chi trả cho các chế độ BHXH và đảm bảo hoạt động của hệ thống BHXH.

    Đặc điểm

    – Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính quốc gia. Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa ngân sách nhà nướcvới các tổ chức tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tài chính dân cư.

    – Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàn trả. Tính không hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng đối với người đã tham gia BHXH trong suốt quá trình lao động nhưng không ốm đau, tai nạn lao động, sinh con.

    – Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHXH gắn liền với chức năng vốn có của nhà nước là vì quyền lợi của người lao động chứ không vì mục đích kiếm lời, đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều kiện lịch sử trong từng thời kì của từng quốc gia. Khi nền kinh tế càng phát triển thì càng có nhiều chế độBHXHđược thực hiện, và bản thân từng chế độ cùng được áp dụng rộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càng được nâg caovà họ càng có khả năng tham gia vào nhiều chế độ bảo hiểm xã hội.

    – Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng được thể hiện thông qua mục tiêu, mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHXH. Nhưng mặt khác nó lại mang tính dự trữ vì thông thường, khi người lao động đóng góp vào quỹ BHXH thì họ không được quỹ này chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự bị.

    – Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết kiệm bắt buộc của xã hội và người lao động dành cho ốm đau, hưu trí. Đó cũng là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng.

    Nguồn hình thành quỹ BHXH

    Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    – Người sử dụng lao động góp.

    – Người lao động góp.

    – Nhà nước góp và hỗ trợ thêm.

    ­Trong đó : Q T­­ BH ­ : Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm.

    Đ ­LĐ ­ : Đóng góp của người lao động

    Đ­ ­SDLĐ ­ ­: Đóng góp của chủ sở hữu lao động

    ­Đ ­NN ­ : Đóng góp và hỗ trợ của nhà nước

    ĐT ­ : Thu từ hoạt động đầu tư

    T TT : Thu từ viện trợ

    K ­ : Thu khác

    Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao độngmà mình thuê mướn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ- thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình,vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.

    Mối quan hệ chủ – thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Trước hết các luật lệ của Nhà nước về BHXH là những chuẩn mực pháp lí mà cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn trở thành chỗ dựa để đảm báo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định.

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên.

    Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau.

    Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sủ dụng lao động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lương cá nhânvà quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc để xác định mức đóng góp.

    Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí Quản lí BHXHv..v…

    Nước ta, từ năm 1962 đến năm 19987, quỹ BHXH chỉ được hình thành từ hai nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lương của xí nghiệp, phần còn lại do ngân sách Nhà nước đài thọ. Thực chất là không tồn tại quỹ BHXH độc lập. Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15% quỹ lương của đơn vị. Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, Chính phủ đã ban hành rộng rãi Nghị định 43/CP ngày 22/ 06/ 1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12 /CP ngày 26/ 01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:

    – Người sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ồm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp .

    – Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí và tử tuất.

    – Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động.

    – Các nguồn khác.

    Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải được tính toán một cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau:

    – Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có cơ sở xác định mức phí đóng.

    – Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng.

    – Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.

    Phí BHXH được xác định theo công thức:

    P = f1+f2+f3

    Trong đó : P : Phí BHXH

    f1: phí thuần túy trợ cấp BHXH

    f2 :phí dự phòng

    f3: phí quản lí

    Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời gian ngắn ( thường là một năm ) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ… Vì vậy, số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với chế độ BHXH dài hạn như : hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v..v…quá trình đóng và quá trình hưởng BHXH tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong cả thời kì dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn.

    Mục đích sử dụng quỹ BHXH

    Quỹ BHXH bao gồm 3 bộ phận: phí thuần, phí quản lí và phí dự trữ. Như vậy quỹ BHXH được sử dụng cho 3 mục đích: chi trả, cho các chế độ BHXH cho việc quản lí hệ thống BHXH và chi trích lập quỹ dự phòng cho những trường hợp tổn thất lớn.

    Trong đó:

    C ­TC : chi cho bộ máy quản lí

    C ­DP­ ­ : chi lập quỹ dự phòng

    C ­ĐT : chi đầu tư

    K ­: chi khác

    Khoản chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lí nghiệp vụ BHXH. Đây là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi bảo hiểm xã hội nhưng nó cũng là một khoản chi ngày càng tăng. Bởi vì các chế độ BHXH ngày càng được mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động, do đó đội ngũ cán bộ phục vụ BHXH ngày càng nhiều dẫn đến chi lương cán bộ ngày càng lớn. Mặt khác, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày càng tăng. Vì vậy, chi phí cho việc xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, trang thiết bị văn phòng ngày càng tăng lên.

    Mục đích thứ ba của quỹ BHXH là chi dự trữ. Thực chất đây là quá trình tích luỹ trong quá trình sử dụng bảo hiểm xã hội. Định kì hàng tháng (quý, năm) cơ quan bảo hiểm xã hội tiến hành giữ lại một phần quỹ của mình để thành lập nên quỹ dự trữ BHXH. Quỹ này chỉ được sử dụng trong trường hợp nhu cầu chi trả lớn dẫn đến thâm hụt quỹ bảo hiểm xã hội hoặc lúc đồng tiền mất giá.

    Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế thì quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH như sau:

    a. Người sử dụng lao động.

    * Trách nhiệm:

    – Đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định.

    – Trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH đúng quy định.

    * Quyền hạn:

    – Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ của BHXH .

    – Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.

    b. Người lao động

    * Trách nhiệm:

    – Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.

    – Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH.

    – Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH theo đúng quy định.

    * Quyền hạn:

    – Được nhận sổ bảo hiểm xã hội.

    – Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ điều kiện hưởng BHXH theo quy định tại Điều lệ BHXH.

    – Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động hoặc tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.

    c. Cơ quan bảo hiểm xã hội

    * Trách nhiệm:

    – Tổ chức thu, quản lí, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định.

    – Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại Điều lệ BHXH.

    – Tổ chức việc trả lương hưu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.

    – Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về bảo hiểm xã hội.

    – Thông báo định kì hàng năm về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động và sử dụng lao động.

    * Quyền hạn:

    – Trình Thủ Tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định để quản lí việc thu, chi BHXH và để xác nhận đối tượng được hưởng các chế độ BHXH quy định tại Điều lệ bảo hiểm xã hội.

    -Tổ chức phương thức quản lí quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội có hiệu quả.

    – Tuyên truyền, vận động để mọi người tham gia thực hiện BHXH.

    -Từ chối việc chi trả chế độ BHXH cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành vi man trá làm giả hồ sơ tài liệu.

    Mô hình cơ cấu tổ chức BHXH việt nam.

    Hội đồng quản lí BHXH Việt Nam là cơ quan quản lí cao nhất của BHXH Việt Nam.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến địa phương, gồm có:

    ở Trương ương : Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

    Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương( gọi chung là tỉnh) là BHXH tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam.

    Ở các quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh( gọi chung là huyện) là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Tổng giám đốc quản lí và điều hành thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

    – Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc thu bảo hiểm xã hội theo quy định của Bộ luật lao động, Điều lệ BHXH và các quy định của Chính phủ.

    – Quản lí quỹ BHXH và tổ chức việc chi trả BHXH cho người tham gia BHXH được đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn.

    – Được quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, đồng thời ra văn bản thông báo việc từ chối chi trả đó cho đương sự, cơ quan sử dụng lao động và cơ quan pháp luật.

    – Bồi thường mọi khoản thu chi sai các quy định của Nhà nước về BHXH cho các đối tượng tham gia BHXH và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

    – Xây dựng và tổ chức thực hiện dự án và biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng cường quỹ BHXH theo quy định của Chính phủ.

    – Lưu giữ hồ sơ, cấp và quản lí sổ BHXH.

    – Tổ chức thực hiện công tác thống kê, hạch toán, kế toán; hướng dẫn nghiệp vụ, thu, chi bảo hiểm xã hội và kiểm tra việc thực hiện; tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, giải thích các chế độ, chính sách về BHXH.

    – Kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu, chi BHXH.

    – Giải quyết kịp thời các khiếu nại của người tham gia BHXH về việc thực hiện các chế độ, chính sách BHXH.

    – Thực hiện việc hợp tác quốc tế về sự nghiệp BHXH theo quy định của Chính phủ.

    – Quản lí tổ chức, viên chức, tài chính, cơ sở vật chất của BHXH Việt Nam theo quy định của Nhà nước.

    – Thực hiện việc báo cáo định kì về thu, chi và các hoạt động về BHXH cho Bộ lao động – thương binh và xã hội và Bộ tài chính.

    – Thực hiện các nhiệm vụ khác được Thủ Tướng Chính phủ giao cho.

    Cơ cấu tổ chức bộ máy giúp Tổng giám đốc BHXH Việt Nam như sau:

    – Ban quản lí chế độ chính sách BHXH

    – Ban quản lí thu BHXH.

    – Ban quản lí chi BHXH.

    – Ban kiểm tra – pháp chế.

    – Ban kế hoạch-tài chính.

    – Ban tổ chức cán bộ.

    – Văn phòng.

    – Trung tâm thông tin- khoa học.

    Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của các đơn vị nói trên do Tổng giám đốc quy định.

    Việc bổ nhiệm, miễm nhiệm chức vụ lãnh đạo của các tổ chức nói trên do Tổng giám đốc quyết định.

    Bảo hiểm xã hội tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về BHXH trên địa bàn tỉnh theo quy định của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội tỉnh do một giám đốc quản lí và điều hành. Giúp việc giám đốc có 1 – 2 phó giám đốc. Giám đốc, phó giám đốc BHXH tỉnh do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam bổ nhiệm và miễm nhiệm.

    Nhiệm vụ, quyền hạn, biên chế các phòng chuyên môn nghiệp vụ nói trên do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quyết định.

    Bảo hiểm xã hội huyện có nhiệm vụ tiếp nhận đăng ký hưởng chế độ bảo hiểm xã hội do BHXH tỉnh chuyển đến; thực hiện việc đôn đốc, theo dõi nộp BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động trên địa bàn; tổ chức mạng lưới hoặc trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho người được hưởng trên địa bàn huyện.

    Bảo hiểm xã hội huyện do một giám đốc quản lí và điều hành. Các huyện có khối lượng công việc nhiều có thể có phó giám đốc giúp việc do giám đốc BHXH huyện bổ nhiệm và miễn nhiệm theo phân cấp của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam.

    Bảo hiểm xã hội huyện không có cơ cấu tổ chức phòng. Biên chế của BHXH huyện do giám đốc BHXH tỉnh quyết định trong phạm vi tổng biên chế của BHXH tỉnh được Tổng giám đốc phân bổ.

    Giám đốc BHXH huyện quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng viên chức thuộc quyền quản lí.

    Việc thành lập BHXH huyện do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quy định căn cứ vào khối lượng công việc, số lượng người và đơn vị tham gia BHXH trên địa bàn. Tại những nơi chưa có đủ điều kiện thành lập BHXH huyện thì giám đốc BHXH Tỉnh cử người đại diện tại huyện để thực hiện việc chi trả và đôn đốc theo dõi việc thu chi, nộp BHXH trên địa bàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng, Chức Năng Và Tính Chất Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Bao Bì (Packaging) Là Gì? Chức Năng Của Bao Bì
  • Tìm Hiểu Chức Năng Của Bao Bì Sản Phẩm
  • Bao Bì Là Gì? Tác Dụng, Chức Năng Và Phân Loại Bao Bì Công Nghiệp
  • Lý Thuyết Tin Học 12 Bài 13: Bảo Mật Trong Các Hệ Cơ Sở Dữ Liệu (Hay, Chi Tiết).
  • Chức Năng Quản Trị (Administrative Function) Là Gì? Phân Loại Và Các Nội Dung Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Bản Chất Và Vai Trò Của Quyết Định Trong Quản Trị
  • Tài Liệu Trắc Nghiệm Quản Trị Học
  • Các Cấp Bậc Quản Trị Và Nhiệm Vụ Chủ Yếu Của Mỗi Cấp Quản Trị
  • Khái Niệm Và Các Chức Năng Của Quản Trị Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp
  • Nhà Quản Trị Thực Hiện Những Vai Trò Gì?
  • Định nghĩa

    Chức năng quản trị trong tiếng Anh là Administrative function. Chức năng quản trị là những hoạt động riêng biệt của quản trị, thể hiện những phương thức tác động của quản trị gia đến các lĩnh vực quản trị trong doanh nghiệp.

    Phân loại chức năng quản trị

    Cách phân loại của Henry Faylor

    H. Faylor là một nhà khoa học quản trị của Pháp, có thể coi ông như người thành công nhất về nghiên cứu quản trị đầu thế kỉ XX. Đặc biệt, việc phân loại chức năng quản trị của công cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị khoa học.

    Trong cuốn sách Quản trị công nghiệp và tổng quát viết năm 1916, Fayor chia quá trình quản trị của doanh nghiệp thành 5 chức năng với cách giải thích như sau:

    – Dự kiến: “Doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi nó được hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động, một kế hoạch nhất định nhằm xác định rõ: Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Bán cho ai? Với nguồn tài chính nào?”.

    – Tổ chức: “Tổ chức một doanh nghiệp tức là trang bị tất cả những gì cần cho hoạt động của nó: vốn, máy móc, nhân viên, vật liệu…”

    – Phối hợp: “Phối hợp là làm cho đồng điệu giữa tất cả những hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo dễ dàng và có hiệu quả”.

    – Chỉ huy: “Có thể xã hội đã được xây dựng xong, giờ chúng ta chỉ việc làm cho nó hoạt động, đó chính là nhiệm vụ của người chỉ huy”.

    – Kiểm soát: “Kiểm tra thực chất là quá trình xem lại tất cả việc đã được tiến hành phù hợp với chương trình đã định với những mệnh lệnh đã ban bố và những nguyên lí đã thừa nhận”.

    P: Planning – Hoạch định

    O: Organizing – Tổ chức

    S: Staffing – Nhân sự

    D: Directing – Chỉ huy

    CO: Coordinating – Phối hợp

    R: Reporting – Báo cáo

    B: Budgeting – Ngân sách

    Cách phân loại của H. Koontz và C. O’Donnell

    – Xác định triết lí, giáo lí và chính sách kinh doanh

    – Kế hoạch kinh doanh và kiểm tra

    – Tổ chức và chỉ huy

    – Phát triển nhà quản trị

    Nội dung cơ bản của từng chức năng quản trị

    Là chức năng đầu tiên trong quản trị bao gồm các công việc: Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược tổng thể, thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động.

    Bao gồm việc xác định những việc phải làm, những ai tham gia làm việc đó, các công việc sẽ được phối hợp lại với nhau như thế nào? Những bộ phận nào cần phải được thành lập? Quan hệ phân công và trách nhiệm giữa các bộ phận đó, hệ thống quyền hành trong doanh nghiệp.

    Công việc trong doanh nghiệp cần phải có người thực hiện. Để có người làm việc, nhà quản trị cần phải tuyển chọn, thu hút người làm việc, bố trí, bồi dưỡng, động viên và khích lệ nhân viên.

    Việc thiết lập quyền hành và sử dụng quyền hành đó để giao việc cho nhân viên, đưa ra các nội qui, qui định làm việc và ủy quyền cho người khác… là nội dung của chức năng chỉ huy.

    Chức năng này bao gồm: Phối hợp theo chiều dọc, nghĩa là phối hợp giữa các cấp quản trị và phối hợp theo chiều ngang nghĩa là phối hợp giữa các chức năng, các lĩnh vực quản trị.

    Công tác kiểm tra bao gồm việc xác định thu thập thông tin về thành quả thực tế, so sánh với thành quả kì vọng và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch nhằm đảm bảo tổ chức đang đi đúng hướng giúp hoàn thành mục tiêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lĩnh Vực Quản Trị (Administration Sector) Là Gì? Đặc Trưng Và Mối Liên Hệ Với Chức Năng Quản Trị
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Của Kế Toán Quản Trị?
  • Vai Trò Và Mối Quan Hệ Của Quản Trị Sản Xuất/tác Nghiệp Với Các Chức Năng Quản Trị Khác
  • Cài Đặt Global Tracker Watch Quản Lý Thiết Bị Định Vị Gps09
  • Kích Hoạt, Tắt Tài Khoản Quản Trị Ẩn Trên Windows 7, 8, 8.1, 10.
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Tài Xử Lý ? , Hãng Luật Anh Bằng
  • Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vấn Đề Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3 Qua Môn Đạo Đức Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Về Việc Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 4
  •  

    Về chính sách của Nhà nước thì Luật quy định cụ thể như sau: Ưu tiên bảo vệ an ninh mạng trong quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ và đối ngoại; Xây dựng không gian mạng lành mạnh, không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Ưu tiên nguồn lực xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng; nâng cao năng lực cho lực lượng bảo vệ an ninh mạng và tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng; ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ để bảo vệ an ninh mạng; Khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng; nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng; phối hợp với cơ quan chức năng trong bảo vệ an ninh mạng; Tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh mạng.

    Về các nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng gồm bảy nguyên tắc như sau:Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng; Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng; Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, làm thất bại mọi hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; sẵn sàng ngăn chặn các nguy cơ đe dọa an ninh mạng; Triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia. Áp dụng các biện pháp bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được thẩm định, chứng nhận đủ điều kiện về an ninh mạng trước khi đưa vào vận hành, sử dụng; thường xuyên giám sát, kiểm tra về an ninh mạng trong quá trình sử dụng và kịp thời ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng; Mọi hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh.

    Về  các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Nhóm hành vi thứ nhất là: Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật (Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này; Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;  Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác; Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng; Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội);

    Nhóm hành vi thứ hai là: Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

    Nhóm hành vi thứ ba là: Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.

    Nhóm hành vi thứ tư là:Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

    Nhóm hành vi thứ năm là: Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

    Nhóm hành vi thứ sáu là: Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.

    Theo đó, Luật quy định: Người nào có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy    cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Nói tóm lại: Sự ban hành Luật An ninh mạng là rất cần thiết, nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về an ninh mạng theo hướng áp dụng các quy định pháp luật đồng bộ, khả thi; phát huy các nguồn lực của đất nước để phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng –an ninh, góp phần bảo vệ chủ quyền, lợi ích an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, xây dựng môi trường quốc gia mạng lành mạnh. Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019. Vì vậy, để góp phần nâng cao nhận thức cho Nhân dân về an ninh mạng, cần tập trung tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ và người dân bằng nhiều hình thức như: Thông qua các hội nghị; Thông qua phương tiện thông tin đại chúng; thông qua các loại tài liệu pháp luật phổ thông khác…để góp phần tích cực thực hiện có hiệu quả Luật này.

                                                                                  -Hoa Phượng-Sở Tư pháp

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Và Biện Pháp Bảo Vệ An Ninh Mạng
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Quân Khu 2 – Chấn Chỉnh Chấp Hành Quy Định Bảo Đảm An Toàn Giao Thông
  • Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Trong Trương Tiểu Học
  • Bản Chất, Nội Dung Và Chức Năng Của Marketing Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Hoạt Động Marketing 5 Nhóm Sản Phẩm Có Doanh Thu Lớn Nhất Của Công Ty Dược Phẩm Sanofi Aventis Tại Việt Nam Từ 2006 Đến 2009
  • Chức Năng Của Marketing Là Gì? Tìm Hiểu Thêm Về Chức Năng Của Marketing
  • Phân Tích 6 Chức Năng Của Marketing Hiện Đại
  • Quản Trị Marketing Khái Niệm Và Vai Trò
  • Quản Trị Marketing Là Gì? Vai Trò Của Quản Trị Marketing Trong Doanh Nghiệp
  • Trong bài viết sau đây, chúng tôi xin chia sẻ đến bạn bản chất, nội dung và chức năng của Marketing quốc tế.

    Trong nền kinh tế hiện đại thì vai trò của khách hàng và nhu cầu của họ có ý nghĩa quyết định đối với mọi hoạt động và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì vậy mà marketing được định nghĩa như là các hoạt động nhằm nắm bắt nhu cầu thị trường để xác lập các biện pháp thoả mãn tối đa các nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Như vậy, marketing quốc tế thực chất chỉ sự vận dụng những nguyên lý, nguyên tắc, các phương pháp và kỹ thuật tiến hành của marketing nói chung trong điều kiện của thị trường nước ngoài. Nó chủ trương rằng chìa khoá để đạt được sự thành công của doanh nghiệp và mục tiêu của doanh nghiệp là xác định nhu cầu và mong muốn của các thị trường trọng điểm, đồng thời phân phối sản phẩm, dịch vụ mà các thị trường đó chờ đợi một cách hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh.

    2. Nội dung hoạt động của Marketing quốc tế

    Phân tích môi trường marketing quốc tế

    Từ khái niệm, bản chất của marketing quốc tế đã trình bày ở trên, ta biết rằng đối với các doanh nghiệp, phân tích môi trường marketing quốc tế là công việc đầu tiên và rất quan trọng bởi lẽ môi trường marketing có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.

    Đánh giá khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài của doanh nghiệp

    Sau khi đã phân tích môi trường marketing quốc tế một cách kỹ càng, bước tiếp theo phải làm trong mô hình hoạt động marketing quốc tế là đánh giá khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài của doanh nghiệp hay nói cách khác là tiến hành phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (phân tích SWOT). Các công việc này bao gồm việc cân nhắc lợi ích của việc thâm nhập vào thị trường, đánh giá rủi ro và khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường đó nhằm nêu bật lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ, tìm ra khả năng và triển vọng kinh doanh cũng như lợi nhuận thu được từ thị trường đó. Dựa trên những dữ liệu, những giả định và thông tin thu thập từ bước đầu tiên, việc đánh giá thường tập trung vào những khía cạnh:

    • Công nghệ đang áp dụng của doanh nghiệp
    • Kiểu dáng, mẫu mã và nhãn hiệu sản phẩm
    • Chất lượng sản phẩm, quản lý chất lượng và vòng đời sản phẩm
    • Sự hoàn thiện của ngành hàng
    • Dịch vụ phục vụ khách hàng
    • Khả năng cung cấp nguyên vật liệu
    • Giá, giá thành và cơ cấu phân phối

    Điểm mạnh (Strengths) xuất phát từ yếu tố bên trong, mang tính chủ quan có thể được thể hiện ở uy tín doanh nghiệp, sự trung thành khách hàng, văn hoá doanh nghiệp, vị thế trên trường kinh doanh, tài chính, các hình thức, phương pháp hỗ trợ xuất khẩu hữu hiệu…

    Cũng xuất phát từ yếu tố bên trong doanh nghiệp, điểm yếu (Weaknesses) mà một doanh nghiệp có thể gặp phải là sự yếu kém của ngành hàng, sản phẩm quá khác lạ, quá mới khách hàng chưa quen dùng, công tác hoạch định chưa tốt do sự yếu kém của đội ngũ làm kinh doanh quốc tế, chi phí phân bổ quá cao dẫn đến tốn kém…

    Cơ hội (Opportunities) xuất phát từ yếu tố bên ngoài, mang tính khách quan. Đó là những yếu tố môi trường bên ngoài thuận lợi, sự phát triển nhanh chóng của những đoạn thị trường chủ yếu, đối thủ cạnh tranh chưa đủ mạnh, thời cơ kinh doanh đến đúng lúc… đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng nắm bắt và chớp lấy thời cơ rồi tận dụng và phát huy để giành lợi thế so với đối thủ cạnh tranh.

    Tuy vậy, nếu không nhận biết được cơ hội thì rất có thể nó sẽ biến thành thách thức của doanh nghiệp khi cơ hội đó rơi vào tay doanh nghiệp khác. Thách thức (Threats) có thể là sự kém phát triển của nền kinh tế quốc tế, rào cản pháp lý, xung đột chính trị, thay đổi bất lợi về thị hiếu khách hàng…

    Xây dựng chiến lược marketing quốc tế

      Lựa chọn thị trường mục tiêu

    Thông qua tất cả các yếu tố này, các công ty sẽ tiến hành lựa chọn thị trường tiềm năng mà công ty đó cảm thấy có ưu thế nhất và có khả năng thành công nhất.

      Quyết định hình thức thâm nhập vào thị trường

    Đây là một công việc rất quan trọng và là một khâu không thể thiếu trong mô hình hoạt động marketing quốc tế, bởi vì nó chỉ ra hình thức thâm nhập nào hiệu quả nhất mà các công ty có thể sử dụng. Có thể lựa chọn một trong các hình thức sau:

    – Xuất khẩu

    – Liên kết kinh doanh

    – Đầu tư trực tiếp

      Xác định mục tiêu và lập kế hoạch marketing quốc tế

    Có nghĩa là đưa ra các mục tiêu marketing và đề ra chương trình marketing quốc tế như nội dung nghiên cứu thị trường, định vị sản phẩm, xác lập các yếu tố Marketing – mix.

    Xác định mục tiêu marketing quốc tế: Dựa vào bước 1 và 2, công ty sẽ xây dựng mục tiêu dài, trung và ngắn hạn cho từng ngành hàng, từng mặt hàng, từng thị trường khác nhau. Tuỳ thuộc vào từng thời điểm mà có sự điều chỉnh linh hoạt những mục tiêu này, không nhất thiết phải thực hiện một cách quá cứng nhắc vì nhiều khi cơ hội ở các thị trường nước ngoài không luôn đi song song với những mục tiêu đã đặt ra.

    Lập kế hoạch marketing quốc tế: Giống như Marketing – mix nội địa, Marketing – mix trong marketing quốc tế cũng có 4 yếu tố cần xác lập là: sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến bán trong đó tất cả các yếu tố này đều phục vụ và hỗ trợ cho các hoạt động khác trong marketing quốc tế hay nói cách khác là 4 yếu tố này đã được xác lập đều để gắn với thị trường nước ngoài.

      Tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch marketing quốc tế.

    Đây là bước cuối cùng và cũng là một bước rất quan trọng trong mô hình hoạt động marketing quốc tế.

    Tổ chức thực hiện: là quá trình thực hiện trả lời câu hỏi “cho ai?”, “ở đâu?”, “khi nào?” và “bằng cách nào?”.

    Thông thường, các công ty tiến hành hoạt động marketing quốc tế theo ít nhất 3 phương thức: thành lập phòng kinh doanh xuất khẩu, chi nhánh quốc tế và trở thành tổ chức toàn cầu.

    Phòng kinh doanh xuất khẩu chịu trách nhiệm tổ chức và tiến hành xuất khẩu sản phẩm hàng hoá của công ty ra nước ngoài. Sau đó, phòng xuất khẩu có thể mở rộng thêm những dịch vụ marketing hỗ trợ xuất khẩu.

    Chi nhánh quốc tế xử lý các hoạt động ở nước ngoài của công ty. Nhân viên ở các chi nhánh này là các chuyên gia về marketing, sản xuất nghiên cứu, tài chính, kế hoạch và nhân sự.

    Tổ chức toàn cầu: các công ty vượt ra khỏi phạm vi quốc gia để thực sự trở thành công ty xuyên quốc gia. Lúc này, các công ty xuyên quốc gia lập những kế hoạch marketing quốc tế, cơ sở sản xuất trên khắp thế giới, nhiều nguồn tài chính và hệ thống phân phối rộng khắp. Họ thành lập các tổ chức hoạt động toàn cầu, báo cáo trực tiếp cho tổng giám đốc hoặc giám đốc điều hành công ty. Công ty có thể thuê những người quản lý từ nhiều quốc gia, mua nguồn nguyên vật liệu và linh kiện rẻ nhất và đầu tư vào nơi thu được lợi nhuận cao nhất.

    Kiểm tra và đánh giá: Để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch marketing quốc tế được tốt, có thể áp dụng theo 3 kiểu sau:

    o Kiểm tra kế hoạch năm

    o Kiểm tra khả năng sinh lời

    o Kiểm tra chất lượng

    Nội dung kiểm tra có thể là việc thực hiện kế hoạch sản phẩm, khả năng đạt lợi nhuận, tính hiệu quả của hoạt động Marketing – mix trong năm đầu và làm cơ sở cho việc lập kế hoạch marketing quốc tế trong những năm tiếp theo. Cơ sở kiểm tra có thể dựa trên kết quả bán hàng, phân tích thị phần trên các thị trường, phân tích chi phí, phân tích tài chính và phản ứng của khách hàng.

    Đó là tất cả các công đoạn cần được tiến hành trong mô hình hoạt động marketing quốc tế. Bất kỳ một công ty kinh doanh nào hoạt động trong môi trường cạnh tranh cần nhận biết một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành công hay thất bại của mình, đó là chiến lược marketing và để thực hiện tốt được chiến lược marketing này thì việc xây dựng mô hình hoạt động marketing quốc tế càng chi tiết bao nhiêu công ty càng có khả năng kinh doanh thành công và cạnh tranh thắng lợi trên thị trường bấy nhiêu.

    3. Chức năng của Marketing quốc tế

    Marketing quốc tế có các chức năng cơ bản sau:

    – Nghiên cứu các thị trường tiêu thụ

    – Xác lập khả năng thích ứng và khả năng phản ứng nhanh với các điều kiện của môi trường kinh doanh, xây dựng phương án kinh doanh và giám sát hiệu quả hoạt động, lượng hoá trước những khó khăn phát sinh trong quản lý doanh nghiệp.

    – Đề ra những biện pháp hiệu quả trong việc thu thập thông tin và thực thi hoạt động kinh doanh trên từng thị trường.

    Đây là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh doanh quốc tế lâu dài và đạt được hiệu quả cao cho doanh nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuong 1 Bản Chất Của Marketing
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Các Kênh Marketing
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Bản Chất Của Marketing
  • Tìm Hiểu Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Marketing
  • Vai Trò Của Marketing Trong Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Nội Dung Cơ Bản Của Hoạt Động Kinh Doanh Thương Mại

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chi Cục Qlcl Nông, Lâm Sản Và Thủy Sản
  • Thiết Kế Web Lâm Sản Để Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Quảng Bá Thương Hiệu
  • Cơ Bản Dập Tắt Vụ Cháy Xưởng Gỗ Gần Ga Giáp Bát
  • Ẩn Họa Khó Lường Từ Những Khẩu Súng Tự Chế
  • Một Số Vấn Đề Về Tội Phạm Ẩn Trong Tội Phạm Học Và Trên Thực Tế
  • NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI.

    Nội dung chủ yếu của hoạt động kinh doanh thương mại bao gồm một loạt các hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh doanh như nghiên cứu nhu cầu thị trường, tổ chức các hoạt động nghiệp vụ, huy động nguồn lực phục vụ cho kinh doanh và quản lý các yếu tố về vốn, chi phí.

    Nghiên cứu thị trường.

    Nền kinh tế thị trường không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo của doanh nghiệp mà còn tăng khả năng thích ứng trước sự thay đổi của thị trường, nếu như trước kia các doanh nghiệp kinh doanh theo kế hoạch của nhà nước thì bây giờ mọi hoạt động kinh doanh đều xuất phát từ thị trường, thị trường đầy bí ẩn và không ngừng thay đổi. Do vậy để kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp phải nghiên cưú thị trường.

    Nghiên cứu thị trường là quá trình tìm kiếm khách quan và có hệ thống cùng với sự phân tích thu tạp thông tin cần thiết để giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh doanh. Bởi vậy nghiên cứu thị trường giúp nhà kiinh doanh có thể đạt được hiệu quả cao và thực hiện được các mục đích của mình, đó cũng là khâu mở đầu cho hoạt động kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.

    Cơ chế thị trường làm cho hàng hoá phong phú, cung luôn có xu hướng lớn hơn cầu, bán hàng ngày càng khó khăn, mức độ rủi ro cao, các doanh nghiệp muốn thành công thì phải thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, mọi hoạt động kinh doanh đều hướng vào khách hàng.

    Nghiên cứu nhu cầu thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm được thông tin về loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh, dung lượng, yêu cầu về quy cách, chất lượng, mẫu mã… hiểu rõ thị hiếu, phong tục tập quán tiêu dùng ở mỗi nhóm và mỗi khu vực, tìm hiểu thông tin về đối thủ cạnh tranh, thể hiện :

    – Thứ hạng phẩm cấp chất lượng nào phù hợp với nhu cầu thị trường của doanh nghiệp.

    – Đâu là mục tiêu của doanh nghiệp, sản phẩm xương sống của doanh nghiệp, khách hàng nào? khu vực? nhu cầu hiện tại và tương lai của hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh và các mặt hàng khác doanh nghiệp đang quan tâm.

    – Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của hàng hoá doanh nghiệp kinh doanh, ưu và nhược điểm của đối thủ cạnh tranh.

    – Nguồn hàng nào thì phù hợp với nhu cầu của khách, phân phối như thế nào cho hợp lý và nên cạnh tranh bằng hình thức nào ?

    Đó là toàn bộ thông tin cơ bản và cần thiết mà một doanh nghiệp phải nghiên cứu để phục vụ cho quá trình ra quyết định đúng đắn, tối ưu nhất. Để nắm bắt được những thông tin đó doanh nghiệp phải coi công tác nghiên cứu thị trường là một hoạt động không kém phần quan trọng như hoạt động quản lý, nghiệp vụ bởi vì công tác nghiên cứu thị trường không trực tiếp tham gia vào các hoạt động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như mua, bán… nhưng kết quả của nó ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên đây chưa phải là một giải pháp có thể giải quyết được mọi vấn đề của doanh nghiệp nhưng nó vốn là một hoạt động không thể thiếu được đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào.

    Công tác nghiên cứu thị trường được tiến hành một cách khoa học sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được :

    – Lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và lựa chọn sản phẩm kinh doanh cũng như các chính sách duy trì, cải tiến hay phát triển sản phẩm.

    – Nhu cầu hiện tại, tương lai và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thị trường, xác định được mục tiêu của doanh nghiệp.

    – Tìm được nguồn hàng, các đối tác và bạn hàng kinh doanh, lựa chọn kênh phân phối và các biện pháp xúc tiến phù hợp.

    Trên cơ sở nghiên cứu thị trường và đánh giá khả năng tiềm lực của mình, doanh nghiệp lựa chọn hình thức kinh doanh, mặt hàng, thị trường và người cung cấp.

    Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn đưa vào kinh doanh.

    Kinh doanh tức là đầu tư tiền của, sức lực vào một lĩnh vực nào đó nhằm kiếm lời, yêu cầu đối với doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh là phải có các nguồn lực bao gồm nguồn lực về tài chính và con người.

    Nguồn vốn hữu hình bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Tài sản cố định bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh như văn phòng, cửa hàng, hệ thống kho, các trang thiết bị, phương tiện vận chuyển…nguồn này góp phần tạo nên sức mạnh, uy thế của doanh nghiệp và giúp cho hoạt động kinh doanh thuận lợi. Tài sản lưu động bao gồm vật liệu đóng gói, bao bì, nhiên liệu, dụng cụ và các khoản tiền mặt, ngân phiếu, tiền nhờ thu…

    Trong một doanh nghiệp kinh doanh, vốn là vấn đề quan trọng và được quan tâm nhiều nhất. Không có vốn hoặc quá ít vốn doanh nghiệp không thể kinh doanh có hiệu quả được. Vốn lớn giúp doanh nghiệp thanh toán cho người cung cấp đúng hẹn, tránh nợ đọng tràn lan, tạo dựng niềm tin và củng cố các quan hệ với đơn vị nguồn hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức trả tiền trước để có được nguồn hàng ổn định nhất là khi nhu cầu thị trường căng hoặc có thể áp dụng hình thức thanh toán chậm với khách hàng để duy trì thu hút thêm khách. Ngoài ra còn khắc phục hiện tượng dự trữ quá ít hoặc không có dự trữ, tránh tình trạng không đủ đáp ứng nhu cầu khách .

    Bên cạnh yếu tố vốn kinh doanh thì yếu tố con người cũng góp phần không nhỏ trong kinh doanh. Nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh là quý tuy nhiên nguồn vốn thì có hạn nhất là trong điều kiện huy động vốn khó khăn. Sử dụng và khai thác nguồn vốn này có hiệu quả phụ thuộc vào tài năng, kinh nghiệm và trình độ quản lý, bộ máy điều hành của doanh nghiệp hay nói tóm lại đó là nhờ vào yếu tố con người. Đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp là phần cơ bản quan trọng, nếu bộ phận này thực hiện tốt chức năng của mình doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được, ngược lại nó chỉ có tác dụng hình thức thì hoạt động của doanh nghiệp không thể có hiệu quả được.

    Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ.

    Các hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp thương mại bao gồm công tác tạo nguồn, dự trữ, phân phối, bán hàng và thực hiện các hoạt động dịch vụ.

    *Doanh nghiệp thương mại thực hiện nhiệm vụ cung ứng cho sản xuất, tiêu dùng những hàng hoá cần thiết, phù hợp nhu cầu. Để hoàn thành nhiệm vụ đó thì doanh nghiệp phải tổ chức công tác tạo nguồn.

    Công tác tạo nguồn là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra nguồn hàng có khối lượng và cơ cấu thích hợp với nhu cầu. Thông qua việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp xác định được nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ, xác định được các nguồn hàng, khả năng cung ứng của họ, tổ chức ký kết hợp đồng, đặt hàng, mua từ nguồn hàng trôi nổi trên thị trường, nguồn hàng do liên doanh liên kết với đơn vị sản xuất để khai thác, chế biến, nguồn hàng tự tổ chức sản xuất, nhận đại lý, ký gửi.

    Để nắm vững thị trương nguồn hàng, hạn chế bị động trong lựa chọn đối tác giao dịch, các doanh nghiệp phải nghiên cứu khả năng cung ứng của từng loại hàng hoá. Đó là xác định số lượng, nhà cung ứng trong và ngoài nước, khả năng cung ứng của các nhà cung cấp trong hiện tại và tương lai. Khi nghiên cứu về nhà cung cấp doanh nghiệp phải tìm hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh để thấy được khả năng cung cấp lâu dài, thường xuyên, liên kết kinh doanh và đặt mua, nghiên cứu về vốn, kỹ thuật, uy tín của nhà cung cấp. Đồng thời doanh nghiệp cũng phải tìm xem nguồn nào thoả mãn được các yêu cầu . Nguồn hàng đó phù hợp về mặt số lượng nghĩa là nó có thể đáp ứng đúng số lượng hàng hoá mà công ty cần theo yêu cầu, đáp ứng theo yêu cầu về chất lượng, kịp thời gian, đảm bảo hiệu quả cao. Ngoài ra nó còn phải thoả mãn các điều kiện khác của doanh nghiệp như phù hợp với điều kiện vận chuyển, giao nhận, thanh toán…

    Mục đích của công tác tạo nguồn mua hàng là để bán hàng ,mua là tiền đề cơ sở của hoạt động bán, để thực hiện mục tiêu kinh doanh đó là lợi nhuận vì vậy mua hàng có ý nghĩa rất lớn khi mua hàng doanh nghiệp cấn phải chú ý :

    -Phải hiểu rõ thị trường và thương mại, khi mua phải tuân thủ các quy luật của lưu thông :

    +Mua của người chán bán cho người cần .

    +Mua nơi giá thấp, bán nơi giá cao .

    +Mua tận gốc bán tận ngọn .

    -Khi mua hàng phải lập kế hoạch thu mua có cơ sở khoa học :

    +Mua phải bán được và có lợi nhuận .

    +Cơ cấu thu mua phải phù hợp với nhu cầu .

    +Phải xác định được khối lượng mặt hàng chủ lực .

    +Số lượng mua theo kế hoach phải lớn hơn hoặc bằng số lượng bán ra theo kế hoạch (Khối lượng lớn hoưn ở mức có giới hạn )

    -Doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin kịp thời ,lựa chọn cơ hội mua hàng tốt nhất

    * Hoạt động dự trữ : Doanh nghiệp thương mại làm nhiệm vụ lưu thông hàng hoá, trong quá trình vận động đưa hàng từ sản xuất đến tiêu dùng thường xuyên có một bộ phận hàng hoá đang trên đường vận chuyển, ở các kho của doanh nghiệp thương mại hoặc được giữ lại chờ tiêu dùng, bộ phận hàng hoá này gọi là dự trữ.

    Mục đích của dự trữ ở doanh nghiệp thương mại là để đảm bảo bán hàng diễn ra liên tục, đều đặn, sẵn sàng phục vụ khách hàng ngay khi có nhu cầu, tạo dựng niềm tin, uy tín với khách hàng, tạo điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh.

    Thông thường ở doanh nghiệp thương mại có 2 loại dự trữ là dự trữ thường xuyên và dự trữ bảo hiểm. Dự trữ thường xuyên là lượng dự trữ chủ yếu nhằm thoả mãn thường xuyên, đều đặn nhu cầu của khách hàng. Dự trữ bảo hiểm là bộ phận dự trữ đề phòng khi có trường hợp công tác thu mua tạo nguồn không theo đúng kế hoạch về thời gian, số lượng, chủng loại để đáp ứng nhu cầu.

    Ngoài ra với doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng có tính thời vụ về sản xuất, lưu thông, tiêu dùng thì có bộ phận dự trữ thời vụ.

    Dự trữ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dự trữ không đủ mức cần thiết có nguy cơ làm gián đoạn hoạt động kinh doanh, mặt khác dự trữ quá nhièu dẫn đén tình trạng ứ đọng hàng hoá, vốn chậm lưu chuyển. Vì vậy việc xác định đúng đắn mức dự trữ có ý nghĩa lớn, cho phép giảm các chi phí về bảo quản hàng hoá, giảm hao hụt, mất mát, bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động thường xuyên, liên tục, thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, tránh dự trữ quá nhiều. Khi tiến hành xác định mức dự trữ doanh nghiệp cần phải xác định được đại lượng tối đa, tối thiểu căn cứ trên cơ sở tính toán các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua, bán trong kỳ.

    Để đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách đều đặn , kịp thời , tránh tình trạng thiếu hàng ,không đáp ưngd được yêu cầu của khách hàng trong kinh doanh dự trữ phait tuân theo nguyên tắc :

    +Hàng hoá dự trữ cần phải kiểm tra dều đăn , định kỳ , kịp thời bổ sung hàng hoá khi dựu trữ ở mức giới hạn thấp nhất

    +Phải sắp xếp hàng hoá theo nguyên tắc dễ thấy dễ lấy dễ kiểm tra.

    +Phải sứp xếp hàng hoá theo nhóm khác nhau .

    +Quy định mức dự trữ thấp nhất và cao nhất

    * Tổ chức phân phối và bán hàng : Bán hàng là khâu quan trọng mấu chốt, là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản, trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân và thực hiện mục tieu kinh doanh củ doanh nghiệp đó là lợi nhuận. Đồng thời bán hàng là hoạt động nghiệp vụ quan trọng chi phối các hoạt động nghiệp vụ khác như tạo nguồn, dự trữ, dịch vụ…

    Bán hàng là sự chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ H- T nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị dụng nhất định. Đứng dưới giác độ nghệ thuật, người ta xem bán hàng là một quá trình tại đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo nhu cầu và đáp ứng ước muốn của họ trê cơ sở thoả mãn quyền và lợi ích của cả hai bên. Mở rộng hoạt động kinh doanh phụ thuộc lớn vào tốc độ bán hàng nhanh hay chậm, hàng hoá bán được đồng nghĩa với việc doanh nghiệp còn tồn tại và phát triển, ngược lại doanh nghiệp sẽ không thực hiện được mục tiêu của mình điều đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ mất dần vị thế trên thị trường.

    Đối với kinh doanh thương mại hoạt động bán hàng tổ chức tốt có thể làm tăng tiền bán ra và chỉ thông qua bán hàng cho người tiêu dùng giá trị của sản phẩm dịch vụ mới được thực hiện do đó mới có điều kiện thực hiện mục đích của doanh nghiệp.

    Bán hàng chỉ là một phương pháp giao tiếp trong kinh doanh cho phép các thượng vụ phù hợp với yêu cầu của khách trong quá trình mua bán. Người bán hàng có thể đáp ứng yêu cầu của người mua và quan sát phản ứng của họ, một nhân viên bán hàng thành cong phải là người có kinh nghiệm đánh giá khách hàng và có thê điều chỉnh nội dung thực hiện bán cho phù hợp với yêu cầu của người mua.

    Mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp thương mại bao gồm các cửa hàng và hệ thống đại lý được bố trí rộng và thuận tiện đề phục vụ khách hàng, tuy nhiên khi xây dựng mạng lưới kinh doanh doanh nghiệp cần phải bố trí phù hợp với quá trình vận động của hàng hoá từ nguồn hàng đến nơi tiêu dùng, mạng lưới cửa hàng phải được bố trí ở những nơi đông dân cư, những địa điểm thuận lợi cho mua bán, phải tính đến hiệu quả của từng điểm bán cũng như của toàn bộ doanh nghiệp, tránh sự diệt trừ lẫn nhau.

    Đối với hoạt động bán hàng doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc:

    + Khối lượng mặt hàng và chất lượng hàng hoá phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.

    + Tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ trong quá trình bán.

    + Áp dụng phương pháp bán và quy trình bán hoàn thiện đảm bảo năng suất lao động, chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng không ngừng nâng cao, vì vậy đối với nhân viên bán hàng phải chọn những người tinh thông về nghiệp vụ hàng hoá, có khả năng tuyên truyền giới thiệu, phải biết sử dụng các phương tiện, dụng cụ trong quá trình phục vụ khách tạo không khí vui vẻ thực sự có thể nắm bắt được tâm lý khách hàng và đáp ứng thoả đáng nhu cầu.

    Đối với doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt vì vậy phải tuân thủ nguyên tắc:

    + Kinh doanh những hàng hoá dịch vụ có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    + Phải lôi cuốn khách hàng rồi mới nghĩ đến cạnh tranh.

    + Khi làm lợi cho mình phải chú ý đến lợi ích của khách hàng.

    + Tìm kiếm và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường.

    + Nhận thức và nắm bắt cho được nhu cầu của thị trường để đáp ứng đầy đủ.

    Tuỳ thuộc vào quy mô kinh doanh, đặc điểm, tính chất, đièu kiện vận chuyển doanh nghiệp thương mại có thể tổ chức bán hàng thông qua các kênh khác nhau như tổ chức bán trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua mạng lưới bán lẻ, bán qua trung gian hay môi giới.

    Phân phối hàng hóa thực chất là quá trình chuyển hàng hoá vào các kênh bán hàng một cách hợp lý, góp phần giảm chi phí lưu thông, đáp ứng tối đa yêu cầu của thị trường đảm bảo lợi nhuận và uy tín với khách.

    Đối với hoạt động phân phối hàng hoá để đem lại kết quả cao doanh nghiệp cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

    + Nguyên tắc hiệu quả kinh tế thể hiện qua doanh thu và chi phí làm sao đạt được lợi nhuận cao nhất.

    + Nguyên tắc đồng bộ liên tục: Khi phân phối hàng hoá phải tính đến nhiều yếu tố như giá mua, chi phí vận chuyển, bảo quản…

    + Nguyên tắc ưu tiên: Trong trường hợp có sự mất cân đối cục bộ mà doanh nghiệp không thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm thì cần phải cân nhắc lựa chọn phương án tốt nhất.

    Quản trị vốn, chi phí, nhân sự trong kinh doanh.

    Quản trị doanh nghiệp thương mại phải chú ý đến quản trị vốn, chi phí và nhân sự, đây là yếu tố ảnh hưởng đén kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    – Vốn kinh doanh đóng vai trò quan trọng đối với sự ra đời, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua vốn kinh doanh cho phép biết được tièm lực của doanh nghiệp, vốn kinh doanh quyết định quy mô kinh doanh, mặt hàng kinh doanh.

    Vốn của doanh nghiệp thương mại là thể hiện bằng tiền của tì sản lưu động, tài sản cố định. Quản tri vốn kinh doanh thực chất là thực hiện sử dụng vốn tong kinh doanh và theo dõi được kết quả sử dụng vốn lãi hay lỗ qua đó đưa ra biện pháp khắc phục.

    Bất kỳ doanh nghiệp nào dù hoạt động trong phạm vi lớn hay nhỏ đều quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn . Vì vậy quản lý tốt vốn kinh doanh nhằm tăng vòng quay vốn nhanh tạo ra sự linh hoạt trong kinh doanh.

    Vốn kinh doanh có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp tuy nhiên nó chỉ phát huy tác dụng khi được bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh, sử dụng nó một cách đúng hướng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả vì vậy quản lý vốn là cần thiết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Yêu Cầu Và Đặc Điểm Của Công Tác Kế Toán
  • Những Chức Năng Cơ Bản Của Một Phần Mềm Kế Toán Tốt
  • Khái Niệm Kế Toán Quản Trị Là Gì? Vai Trò Và Các Nội Dung Cơ Bản
  • Vai Trò Của Kế Toán Quản Trị Với Chức Năng Quản Lý Trong Doanh Nghiệp
  • Chức Năng Bản Chất Của Kế Toán Quản Trị
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Và Biện Pháp Bảo Vệ An Ninh Mạng
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng
  • Chế Tài Xử Lý ? , Hãng Luật Anh Bằng
  • Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm
  • Thứ nhất, quy định các khái niệm cơ bản và chính sách của Nhà nước về an ninh mạng; nguyên tắc và biện pháp bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ không gian mạng quốc gia; hợp tác quốc tế về an ninh mạng; các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng; xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng. Đây là cơ sở để xác định phạm vi đấu tranh, biện pháp áp dụng, các hành vi vi phạm và cách thức phòng ngừa, xử lý các hành vi này cũng như triển khai công tác nghiên cứu, hoàn thiện lý luận về an ninh mạng.

    Thứ hai, quy định đầy đủ các hoạt động bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Với các quy định về thẩm định, kiểm tra, đánh giá điều kiện, ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng được quy định tại Chương II, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ chặt chẽ từ bên trong. Với các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, xử lý các hành vi tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt thông tin thuộc bí mật nhà nước, các hành vi chống, phá Nhà nước được quy định tại Chương I, Chương III, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ từ bên ngoài. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, thể hiện sự bảo vệ tương xứng với vai trò của hệ thống thông tin an ninh quốc gia.

    Thứ ba, đưa ra các quy định nhằm tạo nền tảng pháp lý trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức cá nhân trên không gian mạng, như soạn thảo, đăng tải thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng, làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; sử dụng không gian mạng để tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; tấn công mạng… Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm kết bạn, trao đổi, buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng.

    Thứ tư, tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Kết cấu hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ cùng sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ bị xử lý nghiêm minh; hành vi xâm phạm an ninh mạng sẽ được phát hiện, cảnh báo kịp thời. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết, là nền tảng pháp lý quan trọng triển khai công tác an ninh mạng hiện tại và tương lai.

    Thứ năm, tạo cơ sở pháp lý quan trọng thực thi chính sách của Nhà nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu quốc gia trên không gian mạng. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đấu tranh phòng, chống tội phạm trước các diễn biến phức tạp của hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, thương mại điện tử, kinh doanh tiền ảo, tiền điện tử thời gian qua.

    Thứ sáu, tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xây dựng và hình thành lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao. Chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân với mục tiêu tham gia không gian mạng an toàn, lành mạnh, hạn chế tối đa nguy cơ, tác động tiêu cực, phát huy tối đa hiệu quả.

    Thứ bảy, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động trên không gian mạng, tập trung vào việc xác định trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

     

    Phan Minh Thuận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quân Khu 2 – Chấn Chỉnh Chấp Hành Quy Định Bảo Đảm An Toàn Giao Thông
  • Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Trong Trương Tiểu Học
  • Phương Pháp Làm Việc Nhóm Hiệu Quả
  • Châu Phi Trong Vòng Luẩn Quẩn Đói Nghèo, Tội Phạm Và Nội Chiến
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật Phòng, Chống Tham Nhũng Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Khai, Minh Bạch Để Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Đấu Tranh Chống Suy Thoái Về Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống, Góp Phần Ngăn Ngừa Tham Nhũng
  • Tham Nhũng Và Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Ngày 20-11-2018, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIV đã thông qua Luật phòng, chống tham nhũng (PCTN) thay thế Luật PCTN số 55/2005/QH11 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13).

    Luật PCTN năm 2022 gồm 10 Chương, 96 Điều sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2019 với một số nội dung cơ bản sau:

    1. Về những quy định chung (Chương I)

    Về phạm vi điều chỉnh: Điều 1 Luật quy định ngắn gọn và khái quát: “Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN”. Như vậy so với Luật hiện hành, Luật PCTN năm 2022 đã thay cụm từ “xử lý người có hành vi tham nhũng” bằng cụm từ “xử lý tham nhũng” nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật bao gồm cả việc xử lý người có hành vi tham nhũng, xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN. Chương VII của Luật đã quy định việc áp dụng Luật PCTN đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Quy định này thể hiện tinh thần từng bước mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật đối với khu vực ngoài nhà nước.

    Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIV

    Về các hành vi tham nhũng: Luật đã quy định riêng về các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và các hành vi tham nhũng khu vực ngoài nhà nước.

    2. Phòng ngừa tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị (Chương II)

    Về công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (Mục 1): So với Luật hiện hành, Luật năm 2022 không quy định công khai, minh bạch trong các lĩnh vực mà chỉ quy định nguyên tắc về nội dung, hình thức, trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Mục này cũng quy định về trách nhiệm giải trình, báo cáo công tác PCTN và tiêu chí đánh giá về công tác PCTN…

    Về xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ (Mục 2): Kế thừa Luật hiện hành, Luật năm 2022 quy định mang tính nguyên tắc trong việc ban hành và thực hiện các quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ để không dẫn đến chồng chéo với quy định của pháp luật hiện hành.

    Về thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn (Mục 3): Luật tiếp tục quy định về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và việc tặng quà và nhận quà tặng với một số chỉnh lý so với Luật hiện hành và bổ sung quy định về kiểm soát xung đột lợi ích tại điều 23.

    Về chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức (Mục 4): Luật tiếp tục quy định nguyên tắc chuyển đổi vị trí công tác, vị trí công tác và thời hạn phải định kì chuyển đổi, kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác.

    – Cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý và thanh toán không dùng tiền mặt (Mục 5): Luật có quy định chi tiết hơn các nội dung về cải cách hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tại Điều 27 và Điều 28 và thanh toán không dùng tiền mặt tại Điều 29.

    Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị (Mục 6): Đây là một trong những nội dung mới và thay đổi căn bản so với Luật hiện hành. Tại Mục này, Luật đã quy định cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; kê khai tài sản, thu nhập, xác minh tài sản, thu nhập; cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập.

    Luật đã quy định cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng tăng cường một bước tính tập trung và phù hợp với thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay, bảo đảm tính khả thi; quy định mở rộng đối tượng có nghĩa vụ kê khai đến tất cả cán bộ, công chức và một số nhóm viên chức giữ chức vụ, chức danh quản lý để từng bước quản lý chặt chẽ về dữ liệu tài sản, thu nhập, qua đó theo dõi, xác minh phục vụ cho công tác PCTN; đồng thời, đổi mới căn bản phương thức kê khai để giảm bớt số đối tượng phải kê khai hằng năm và khắc phục tính hình thức trong thực hiện.

    Luật cũng bổ sung căn cứ xác minh theo kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hằng năm đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên; quy định cụ thể về thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị xác minh tài sản, thu nhập; nội dung xác minh tài sản, thu nhập; trình tự xác minh tài sản, thu nhập và xử lý hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc tài sả, thu nhập tăng thêm không trung thực.

    3. Phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị (Chương III)

    Kế thừa quy định của Luật hiện hành, Luật năm 2022 tiếp tục quy định về công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước; công tác tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị; có bổ sung quy định kiểm tra hoạt động chống tham nhũng trong cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân tại điều 57; bổ sung quy định thẩm quyền của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước trong thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng tại điều 61; xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán tại điều 62; xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán tại điều 64.

    4. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị (Chương IV)

    Luật năm 2022 đã quy định thành một chương riêng và sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hoá và đề cao vai trò của người đứng đầu. Theo đó, quy định nội dung trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng (Điều 70); quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với người có hành vi vi phạm (Điều 71); quy định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do cơ quan mình quản lý, phụ trách (Điều 72 và Điều 73).

    5. Phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước (Chương VI)

    So với Luật hiện hành, đây là chương mới, nội dung mới của Luật năm 2022, thể hiện sự nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước trong phòng, chống tham nhũng. Luật quy định trách nhiệm của tất cả doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nói chung trong việc xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh, quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa tham nhũng. Bên cạnh đó, Luật năm 2022 quy định việc áp dụng Luật PCTN đối với các công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của nhân dân hoạt động từ thiện. Điều 80 Luật quy định các doanh nghiệp, tổ chức này phải áp dụng các quy định về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động; kiểm soát xung đột lợi ích; chế độ trách nhiệm của người đưngs đầu. Đồng thời, Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết về việc áp dụng các biện pháp PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Luật cũng quy định về thanh tra việc thực hiện pháp luật về PCTN đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước tại Điều 81.

    6- Xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN (Chương IX)

    Đây là chương có nhiều nội dung mới được bổ sung, thể hiện sự nghiêm minh trong xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật về PCTN, tăng cường hiệu quả thực thi Luật PCTN và hiệu quả của công tác PCTN. Đối với xử lý tham nhũng, so với Luật hiện hành, Luật năm 2022 đã quy định rõ các nguyên tắc về việc xử lý tham nhũng (Điều 92, Điều 93). Đối với xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN, Luật năm 2022 đã bổ sung quy định tại mục 2 Chương IX. Theo đó, Điều 94 liệt kê các hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN và quy định mang tính nguyên tắc xử lý đối với các hành vi này. Điều 95 Luật năm 2022 quy định xử lý hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

    Hoài Bắc (Ban Nội chính Trung ương)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Phòng, Chống Tham Nhũng 2005
  • Cần Đề Cao Tinh Thần “thượng Tôn Pháp Luật”, Bảo Đảm Công Lý Được Thực Thi
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm, Tham Nhũng
  • Hội Thảo Khoa Học Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Nguyên Nhân Và Các Giải Pháp Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100