【#1】Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Gãy Xương Đòn

Chủ nhật, 03 Tháng 4 2021 16:43
Biên tập viên
Số truy cập: 2653

KTV Trần Thị Lệ Trang – Khoa PHCN I. Định nghĩa:

Gãy xương đòn là sự mất toàn vẹn của xương do chấn thương trực tiếp hoặc giáp tiếp gây đau và hạn chế vận động khớp vai

II. Nguyên nhân gãy xương đòn

Gãy xương thường gặp là loại gãy trực tiếp hay gián tiếp do chấn thương;

– Gián tiếp: Ngã đập vai xuống nền cứng

– Trực tiếp: Trong trường hợp này gặp nhiều trong tai nạn lao động, tai nạn giao thông bệnh nhân ngã đập vai xuống đất, do va đập vào xương

III. Triệu chứng 1. Triệu chứng cơ năng

Nạn nhân đau chói tại nơi gãy, tay lành đở tay đau, đầu nghiêng về phía xương bị gãy

2. Triệu chứng thực thể

– Nhìn: Chỗ xương bị gãy gồ lên, vai hạ thấp xuống và kéo vào trong, đoạn cùng -vai -ức bị ngắn lại (so với bên lành).

– Sờ nắn: nếu nắn kỹ có dấu hiệu bập bềnh của xương .

– Mất động tác dạng khớp vai

3. Hình ảnh X quang

Cần chụp x quang để xác định vị trí gãy và di lệch của xương

IV. Tiến triển

Gãy xương đòn thường tiến triển tốt, xương chóp liền, bệnh nhân có thể khỏi sau 3-4 tuần

V. Biến chứng

Nói chung ít gặp, có thể gặp gãy xương hở gây nhiễm hoặc gây tổn thương màng phổi, đỉnh phổi, tổn thương mạch máu thần kinh cánh tay.

VI. Xử trí

Giảm đau: phong bế bằng novocain.

Kéo nắn và cố định bằng băng hình số 8, thời gian bất động 3-4 tuần.

1 .Giai đoạn bất động

B. Phương pháp

  • Ngay sau khi băng số 8 cố định cần vận động tập ngay.
  • Tập chủ động nhanh cử động gập duỗi ngón tay.
  • Tập chủ động gập duỗi cổ tay, khuỷu tay, cử động sấp ngữa cẳng tay .
  • Tập chủ động các cử động của cột sống cổ.
  • Co cơ tỉnh nhẹ nhàng ở vùng đau vai

– Tuần 3-4: Tập như tuần 1-2, tập thêm động tác dạng cánh tay có tác dụng tạo sức ép vào đầu xương làm liền xương nhanh.

  • Giảm co thắt cơ vùng đai vai.
  • Gia tăng sức mạnh cơ vùng đai vai .
  • Gia tăng tầm hoạt động khớp vai.
  • Phục chức năng sinh hoạt của khớp vai .

B .Phương pháp tập phục hồi chức năng

  • Nhiệt trị liệu: chờm ấm vào các cơ vùng cổ gáy hoặc có thể dùng hồng ngoại.
  • Tập xoa bóp các cơ bị co cứng ở ,vai
  • Tập mạnh các cơ vùng đai vai nhưng phải tùy theo lực cơ của người bệnh, có thể tập chủ động trợ giúp ,tự do đề kháng .
  • Tập chủ động trợ giúp hoặc trợ giúp giàn treo, ròng rọc, tay kỷ thuật viên để gia tăng tầm hoạt động khớp vai .
  • Hướng dẫn chương trình tập tại nhà: bò tường trong tư thế gập và dạng vai, dùng tay lành trợ giúp tay đau thực hiện cử động của khớp vai .
  • Hoạt động trị liệu, bệnh dây thừng, bắt bóng, ném bóng …

Tài liệu tham khảo

  1. Sách giáo khoa trường Đại học y dược Hà Nội
  2. Sách giáo khoa trường Đại học y dược Huế

【#2】Vật Lý Trị Liệu Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Gãy Xương

Trong cuộc sống hàng ngày có khá nhiều khả năng dẫn đến tình trạng gãy xương như chấn thương khi lao động, khi vận động chơi thể thao, gặp tai nạn giao thông, do bất cẩn trong việc sinh hoạt hàng ngày,… Hiện tượng cứng khớp, teo cơ và giảm chức năng sinh hoạt do các khớp xương sau gãy xương xảy ra khá nhiều do người bệnh phải trải qua một thời gian dài bất động bằng bột, dụng cụ chỉnh hình.

Vì vậy việc điều trị gãy xương bằng vật lý trị liệu phục hồi chức năng sau gãy xương có vai trò quan trọng giúp tăng tuần hoàn máu tăng chuyển hóa giãn cơ, giảm đau sớm hồi phục chức năng vận động.

Tùy thuộc vào lứa tuổi, bệnh lý kèm theo, vị trí xương gãy, loại gãy, phương pháp cố định và đặc điểm liền xương mà thời gian bất động và mức độ tập luyện tăng tiến khác nhau. Nếu cần phải tham khảo bác sĩ phẫu thuật, chụp x quang theo dõi tiến triển gãy xương.

1. Phương pháp vật lý trị liệu cho trường hợp cố định bằng bột

Giai đoạn bất động:

– Tăng cường độc lập sinh hoạt bằng dụng cụ trợ giúp (như khung đi, nạng…)

– Với phần cơ thể không bất động: duy trì tầm vận động và cơ lực. Tập sức bền tim phổi.

– Với phần cơ thể bị bất động: Gồng cơ tĩnh để phòng teo cơ

– Giảm đau: lạnh, điện trị liệu…

– Tư thế trị liệu: kê cao chi để giảm phù nề đảm bảo lưu thông máu

Giai đoạn sau bất động

– Lạnh trị liệu

– Nhiệt nóng trị liệu (nông)

– Thủy trị liệu

– xoa bóp trị liệu, di động mô sẹo

– Vận động chủ động nhằm tăng tầm vận động khớp

– Kéo dãn thụ động nhẹ, tăng tiến (đảm bảo can xương tốt)

– Tập tăng cường cơ lực: gồng cơ tĩnh co cơ động, tập với kháng trở

– Tăng cường chịu trọng lượng chi thể: từ không chịu trọng lượng đến chịu trọng lượng một phần, toàn bộ.

– Sử dụng các dụng cụ trợ giúp di chuyển, đi lại giảm dần.

– Tập dáng đi, hoạt động trị liệ

2. Phương pháp vật lý trị liệu cho trường hợp cố định bằng phẫu thuật

Thường cố định khá vững, các khớp không bị bất động, cho phép vận động sớm chịu trọng lượng sớm hơn, giảm biến chứng cơ xương đáng kể, phục hồi khả năng vận động sinh hoạt và nghề nghiệp sớm hơn.

Giai đoạn viêm/bảo vệ (2 tuần đầu):

– Bất động bằng nẹp, máng, … theo chỉ định. Không chịu trọng lượng chi gãy

– Chườm lạnh, băng ép, kê cao chi

– Vận động chủ động các khớp xung quanh hết tầm

– Tăng cường độc lập sinh hoạt bằng dụng cụ trợ giúp (như khung đi, nạng không chịu trọng lượng…)

Giai đoạn vận động có kiểm soát (2-8 tuần với chi trên hoặc lâu hơn với chi dưới): đang tạo can xương

– Chườm lạnh, băng ép, kê cao chi

– Chườm nóng trước tập luyện

– Kéo dãn nhẹ, tăng tiến, đảm bảo an toàn

– Tập gồng cơ, co cơ có kháng nhẹ tăng tiến (ví dụ bằng tay của KTV…)

– Chịu trọng lượng tăng tiến với dụng cụ trợ giúp (như nạng)

– Tập di chuyển, hoạt động trị liệu

Giai đoạn vận động tăng tiến (đến 6-12 tháng): tạo can xương vĩnh viễn/sẹo trưởng thành

– Nhiệt nóng trước tập

– Tăng tiến tầm vận động, chú ý cuối tầm bằng kéo dãn …

– Tập mạnh cơ bằng dụng cụ (tạ, dây đàn hồi, trọng lượng, xe đạp tập…)

– Tập thăng bằng, kiểm soát vận động tăng tiến

– Tăng cường tập luyện chức năng, hoạt động trị liệu, trở lại công việc, vui chơi giải trí

Để phục hồi chức năng cho bệnh nhân gãy xương được tốt cần nắm vững vị trí và mức độ gãy xương tình trạng bệnh nhân, loại can thiệp cố định, giai đoạn liền xương để đề ra các mục tiêu và phương pháp phù hợp cho các giai đoạn gãy xương.

【#3】Cách Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Sau Điều Trị Gãy Xương

Gãy xương là loại tổn thương ảnh hưởng tới sự toàn vẹn của xương. Nguyên nhân chủ yếu là do chấn thương, hoặc do bệnh lý (viêm xương, u xương…)

Giai đoạn bất động

– Cần đề phòng: Viên phổi do ứ đọng nhất là ở người già. Loét do đè ép, huyết khối.

– Để cao chi chống phù nề.

– Tập lên gân trong bột.

– Các khớp không phải bất động thì vận động hết tầm.

– Phải được luyện tập sớm.

– Tuỳ theo tổn thương mà có bài tập cho phù hợp.

Giai đoạn sau bất động

– Ngâm nước ấm.

– Xoa bóp.

-Vận động chủ động, vận động có đề kháng, luyện tập dáng đi.

Phục hồi chức năng một số loại gãy xương

Gãy đầu dưới xương quay

Trong thời gian bất động:

– Treo tay trong tuần lễ đầu và tuần thứ 2.

– Tập các khớp vai và khuỷu.

– Tập lên gân trong bột.

Sau thời kỳ bất động:

– Sau tháo bột ngâm tay vào nước ấm.

– Tập: Nắm, xòe bàn tay, gấp, duỗi cổ tay, sấp ngửa và đối chiếu các ngón.

Gãy 2 xương cẳng tay

Trong thời gian bất động:

– Treo tay ở tư thế cơ năng.

– Tập vận động các ngón tay.

– Lên gân trong bột .

Sau thời gian bất động:

– Chườm nóng vùng cơ bị co thắt.

– Xoa bóp vùng cẳng tay, bàn tay.

– Kéo giãn thụ động đối với khớp bị giới hạn.

– Tập cài cúc áo, chải đầu, vặn quả đấm cửa, ném bóng …

Gãy thân xương cánh tay

Trong thời gian bất động:

Cử động chủ động cổ tay, ngón tay

Sau thời gian bất động:

– Chườm nóng vùng: Vai, cánh tay, khuỷu.

– Xoa bóp cơ vùng đai vai – cánh tay, cơ nhị đầu.

– Trợ giúp tập khớp vai, khớp khuỷu.

– Kéo dây, ròng rọc để gia tăng hoạt động khớp vai.

– Tập ném bóng, bắt bóng, bơi, bò trườn.

Gãy thân xương đùi

Trong thời gian bó bột:

– Cử động bàn chân và cổ chân.

– Lên gân trong bột.

– Tập chi trên và các cơ còn lại bằng tạ, lò so, co bụng, co lưng.

– Ngồi dậy tại giường (sau 1 tuần).

Sau tháo bột:

– Chườm nước ấm.

– Xoa bóp từ ngon chi đến khớp hông. Nhất là vùng cơ bị co thắt.

– Giữ gìn để gia tăng tầm hoạt động của khớp gối.

– Tập đi nạng trong 4 tuần đầu không để chân gãy xuống đất. Từ tháng thứ 4 mới tập đi chống chân đau xuống đất.

Gãy 2 xương cẳng chân

Trong thời gian bó bột:

– Kê cao chân.

– Tập cử động các ngón.

– Tập dạng, khép khớp háng.

– Tập đi nạng.

Sau tháo bột:

– Chườm nóng.

– Xoa bóp.

– Tập khớp gối.

– Tập nhặt các vật bằng ngón chân.

– Tập đi trên đường thẳng.

– Tập đi bằng đầu ngón.

【#4】Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Bị Gãy Xương

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO BỆNH NHÂN BỊ GÃY XƯƠNG

Bệnh nhân gãy xương chia làm 2 nhóm chính.

Nhóm bệnh nhân điều trị bảo tồn.

Nhóm bệnh nhân cần phẫu thuật.

Tùy từng loại gãy xương, vị trí gãy, bác sỹ sẽ cho bệnh nhân đi chụp XQ để chẩn đoán sơ bộ. Nếu thấy cần thiết bác sỹ sẽ cho BN đi chụp thêm phim CT hoặc MRI để chẩn đoán chính xác hơn và đưa ra chỉ định phẫu thuật.

Phục hồi chức năng với nhóm bệnh nhân gãy xương điều trị bảo tồn :

Bệnh nhân cần thiết phải bó bột, nep cố định vị trí gãy xương. Trong thời gian 3 – 4 tuần hoặc lâu hơn nữa, tùy thuộc vào xương gãy, mức độ gãy và tùy thuộc vào tuổi của bệnh nhân. Với trẻ em thời gian tháo bột sớm hơn người già.

Trong quá trình đang mang bột: Để tránh teo cơ cứng khớp, bệnh nhân phải tập gồng cơ ( co cơ tĩnh) trong bột ngày khoảng 10 lần, 10 động tác / lần.

Tập vận động các khớp tự do lân cận gần với các khớp phải cố định.

Ví dụ : Bệnh nhân gãy đầu dưới xương quay, BN phải cố định bột ở cẳng bàn tay. Ngoài việc gồng cơ trong bột thì BN phải tập vận động các ngón tay, vận động khớp khuỷu và khớp vai.

Sau khi tháo bột : Bác sĩ đánh giá lại các khớp của bệnh nhân về tầm vận động và cơ lực của các nhóm cơ để đưa ra các bài tập thích hợp.

BN sẽ được hướng dẫn chườm ấm khớp bị cứng , tập vận động nhẹ nhàng các khớp đó với cường độ tăng dần: Các bài tập gấp, duỗi, dạng, khép hoặc xoay khớp ( tùy mức độ liền xương )

BN được tập thụ động khớp, sau đó bài tập chủ động có trợ giúp hoặc chủ động.

Khi cơ lực các nhóm cơ còn yếu, BN được tập các bài tập làm mạnh sức cơ bằng bài tập có sức cản.

Với bệnh nhân sau tháo bột, khớp cứng nhiều và phù nề hoặc có hội chứng Sudeck BN nên đến cơ sở để điều trị vật lý trị liệu kết hợp bằng các dòng sóng ngắn, hồng ngoại, điện phân, điện xung thuốc thì kết quả sẽ nhanh hơn.

BN có thể được uống thêm thuốc chống viêm giảm đau hoặc giảm phù nề trong quá trình tập luyện.

Nếu trong quá trình tập luyện khớp sưng nhiều hơn BN có thể ngừng tập chườm lạnh 10 – 15 phút/ lần cách 2 giờ. Khi khớp đỡ sưng lại tiến hành tập tiếp.

Tập đến khi khớp đó trở về hoạt động bình thường cả về tầm vận động, cơ lực và chức năng của khớp.

PHCN với nhóm bệnh nhân cần phẫu thuật :

Khi gãy xương tùy từng trường hợp cụ thể bác sỹ sẽ đưa ra chỉ định phẫu thuật bằng các phương tiện kết hợp xương ngoại vi, hoặc kết hợp xương bên trong bằng nẹp vis hoặc đinh nội tủy, đinh có chốt, găm kim cố định hoặc tiến hành thay khớp đó bằng khớp nhân tạo.

Tùy từng trường hợp cụ thể sau phẫu thuật, bệnh nhân được chụp phim lại, đánh giá kết quả phẫu thuật và đưa ra bài tập phù hợp cho từng bệnh nhân cụ thể.

Tuy nhiên ngay sau 24h sau phẫu thuật, bệnh nhân đã được bác sĩ PHCN đánh giá toàn trạng và đưa ra bài tập tại giường cho bệnh nhân.

Nếu phương tiện cố định xương vững : BN có thể tập ngay các khớp có phương tiện cố định hoặc các khớp ngay gần xương gãy.

Nếu phương tiện cố định chưa vững : BN sẽ được bó bột tăng cường, sau 3 -4 tuần sẽ tháo bột và tập luyện.

Các bài tập bao gồm : Tập co cơ tĩnh chi gãy và các khớp còn lại.

Vài ngày đầu tập vận động gấp duỗi dạng khép các khớp nhưng đặc biệt không được xoay xương từ bài tập thụ động có trợ giúp của KTV hoặc người nhà bệnh nhân.

Sau đó BN được tập vận động chủ động có trợ giúp và bài tập chủ động nếu cơ lực của bệnh nhân tốt. BN có thể tập vài lần trong ngày, mỗi lần từ 20 -30 phút. Nâng cao chi gãy để giảm phù nề.

BN được ngồi dậy trên giường bệnh từ ngày thứ 2, tập thở, tập các khớp còn lại.

Nếu gãy các xương chi dưới, tùy từng loại gãy, chờ liền xương BN mới được phép đứng và đi lại. Lúc đó BN được tập luyện dáng đi bình thường.

Nếu thay khớp nhân tạo chi dưới BN có thể đi lại sớm ngay từ ngày thứ 3 sau phẫu thuật.

Nếu gãy xương cột sống, khi nẹp vis vững tuỳ từng trường hợp cụ thể, BN được thay đổi tư thế ngay từ ngày thứ 2 sau phẫu thuật và được ngồi dậy, đi lại khi ổn định.

Rất nhiều BN do không được hướng dẫn tập luyện chu đáo sau phẫu thuật, BN sợ đau không chịu tập luyện và có người chờ cho xương liền ( thường sau 2 -3 tháng) mới chịu tập vận động, khi có các khớp gần vị trí gãy xương hoặc ngay tại các khớp bị gãy đã cứng lại, không thể tập vận động được nữa gây hiện tượng cứng khớp về sau. Lúc đó BN phải điều trị tập luyện với thời gian kéo dài, chiụ nhiều đau đớn. Khi tập luyện không có kết qủa BN phải phẫu thuật gỡ dính lại khớp đó và kết quả hoạt động của khớp đó về sau cũng không được như mong muốn.

Thường sau 03- 4 tuần phẫu thuật BN nên đến các cơ sở Vật Lý trị liệu PHCN để điều trị vật lý trị liệu kết hợp với tập luyện vận động và tập luyện trên các thiết bị tập luyện chuyên biệt. Ngoài thời gian tập ở bệnh viện các BS sẽ hướng dẫn BN tập thêm tại nhà với các dụng cụ tập đơn giản hơn.

Thạc sỹ, bác sỹ Đặng Thị Kim Hương

Trưởng khoa PHCN-BV Việt Đức

Bấm vào ảnh để tải App Bluecare

【#5】Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Gãy 2 Xương Cẳng Chân

Thứ sáu, 13 Tháng 5 2021 17:18
Biên tập viên
Số truy cập: 3105

KTV Trần Yến Duy – Khoa PHCN

Gãy thân xương cẳng chân là gãy xương chày từ dưới 2 lồi đến trên mắt cá trong, có hoặc không kèm gãy xương mác từ cổ tới trên mắc cá ngoài.

Tai nạn lưu thông có thể gây nên chấn thương trực tiếp: té xe đạp, cẳng chân đập xuống bờ hè khiến xương gãy ngang hoặc là bánh xe hơi cán cẳng chân, hai xương gãy nhiều mảnh. Xương chày ở dưới da cho nên chấn thương trực tiếp cho gãy hở. Ngoài tai nạn giao thông, tai nạn thể thao, tai nạn lao động, hỏa khí gây nên.

Cẳng chân đau sưng và biến dạng. Trường hợp gãy một xương chày thì đau vừa vừa vì xương mác còn nguyên tác dụng như một cái nẹp bất động phần nào hai khúc gãy. Biến dạng tùy thuộc vào xê dịch ngang, vì xương chày ở ngay dưới da nên xê dịch này dễ thấy.

Trường hợp gãy 2 xương thì đau nhức nhiều khiến người bệnh không dám động cựa chi gãy và di chuyển mà không bất động hay là bất động không đủ làm cho đau nhức tăng bội phần. Cẳng chân gập góc nơi gãy, ngắn hơn bên lành và bàn chân xoay ra ngoài.

Điều trị gãy 2 xương cẳng chân quy tụ vào điều trị gãy xương chày. Xương mác rất ít khi không lành và dẫu còn xê dịch thì lành cũng không sao vì khi đi đứng chỉ chống lên xương chày.

Kéo tạ và bó bột, phẩu thuật.

  • Gia tăng toàn hoàn và giảm sưng.
  • Giảm đau và giảm co thắt các cơ.
  • Gia tăng tầm vận động khớp gối và khớp cổ chân.
  • Gia tăng sức mạnh các cơ ở vùng gối, cổ chân và bàn chân.
  • Tập dáng đi đúng.

* Trong bột: chương trình tập tại nhà cho người bệnh.

  • Cử động các ngón chân để gia tăng tuần hoàn và dạy cho người bệnh khi nằm nâng cao chân để giảm sưng.
  • Gồng cơ 4 đầu, cơ ụ ngồi.
  • Tập chủ động có trợ giúp hay tự do các cử động gập duỗi, dang áp khớp hông.
  • Dạy người bệnh đi nạng với dáng đi đúng, không chịu sức nặng hay chịu sức nặng một phần tùy thuộc đường gãy và theo chỉ định của bác sĩ.
  • Điện xung, hồng ngoại.
  • Xoa bóp trong tư thế nâng cao chân để giảm sưng.
  • Tập chủ động tự do tại khớp gối. Nếu 2 đầu gối bị giới hạn tầm vận động áp dụng kỹ thuật đặc biệt, dây treo và ròng rọc.
  • Tập có lực kháng bằng tay của kỹ thuật viên hay bằng trọng lượng cho các cơ ở cẳng chân, đùi và bàn chân.
  • Đi trên đường thẳng.
  • Đi trên đầu ngón chân.
  • Dạy người bệnh đi với dáng đi đúng.
  • Hoạt động trị liệu được áp dụng: chơi những trò chơi nào sử dụng bằng 2 chân.
  • Hướng dẫn bài tập ở nhà
  1. Sách chuyên khảo dùng cho cán bộ ngành PHCN – nhà xuất bảng y học Hà Nội – 2010
  2. PHCN gãy 2 xương cẳng chân – Bs Lê Vinh BVĐK Hồng Ngọc

【#6】Phục Hồi Chức Năng Cho Người Bệnh Bị Gãy Xương

Người bệnh gãy xương chia làm 2 nhóm chính.

1. Nhóm người bệnh điều trị bảo tồn2. Nhóm người bệnh cần phẫu thuật. .

Tùy từng loại gãy xương, vị trí gãy, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân đi chụp xquang để chẩn đoán sơ bộ. Nếu thấy cần thiết bác sỹ sẽ cho người bệnh đi chụp thêm phim CT hoặc Cộng hưởng từ (MRI) để chẩn đoán chính xác hơn và đưa ra chỉ định phẫu thuật.

Phục hồi chức năng với nhóm người bệnh gãy xương điều trị bảo tồn:

Người bệnh cần thiết phải bó bột, nẹp cố định vị trí gãy xương. Trong thời gian 3 – 4 tuần hoặc lâu hơn nữa, tùy thuộc vào xương gãy, mức độ gãy và tùy thuộc vào tuổi của người bệnh. Với trẻ em thời gian tháo bột sớm hơn người già.

Trong quá trình đang mang bột: Để tránh teo cơ cứng khớp, người bệnh phải tập gồng cơ (co cơ tĩnh) trong bột ngày khoảng 10 lần, 10 động tác/lần.

Tập vận động các khớp tự do lân cận gần với các khớp phải cố định.

Ví dụ: Người bệnh gãy đầu dưới xương quay, người bệnh phải cố định bột ở cẳng bàn tay. Ngoài việc gồng cơ trong bột thì người bệnh phải tập vận động các ngón tay, vận động khớp khuỷu và khớp vai.

Sau khi tháo bột : Bác sĩ đánh giá lại các khớp của người bệnh về tầm vận động và cơ lực của các nhóm cơ để đưa ra các bài tập thích hợp.

Người bệnh sẽ được hướng dẫn chườm ấm khớp bị cứng, tập vận động nhẹ nhàng các khớp đó với cường độ tăng dần: Các bài tập gấp, duỗi, dạng, khép hoặc xoay khớp (tùy mức độ liền xương).

Người bệnh được tập thụ động khớp, sau đó bài tập chủ động có trợ giúp hoặc chủ động.

Khi cơ lực các nhóm cơ còn yếu, người bệnh được tập các bài tập làm mạnh sức cơ bằng bài tập có sức cản.

Với người bệnh sau tháo bột, khớp cứng nhiều và phù nề hoặc có hội chứng Sudeck người bệnh nên đến cơ sở để điều trị vật lý trị liệu kết hợp bằng các dòng sóng ngắn, hồng ngoại, điện phân, điện xung thuốc thì kết quả sẽ nhanh hơn.

Người bệnh có thể được uống thêm thuốc chống viêm giảm đau hoặc giảm phù nề trong quá trình tập luyện.

Nếu trong quá trình tập luyện khớp sưng nhiều hơn người bệnh có thể ngừng tập chườm lạnh 10 – 15 phút/lần cách 2 giờ. Khi khớp đỡ sưng lại tiến hành tập tiếp.

Phục hồi chức năng với nhóm người bệnh cần phẫu thuật:

Tập đến khi khớp đó trở về hoạt động bình thường cả về tầm vận động, cơ lực và chức năng của khớp.

Khi gãy xương tùy từng trường hợp cụ thể bác sĩ sẽ đưa ra chỉ định phẫu thuật bằng các phương tiện kết hợp xương ngoại vi, hoặc kết hợp xương bên trong bằng nẹp vis hoặc đinh nội tủy, đinh có chốt, găm kim cố định hoặc tiến hành thay khớp đó bằng khớp nhân tạo.

Tùy từng trường hợp cụ thể sau phẫu thuật, người bệnh được chụp phim lại, đánh giá kết quả phẫu thuật và đưa ra bài tập phù hợp cho từng người bệnh cụ thể.

Tuy nhiên ngay sau 24h sau phẫu thuật, người bệnh đã được bác sĩ phục hồi chức năng đánh giá toàn trạng và đưa ra bài tập tại giường cho người bệnh.

Nếu phương tiện cố định xương vững: người bệnh có thể tập ngay các khớp có phương tiện cố định hoặc các khớp ngay gần xương gãy.

Nếu phương tiện cố định chưa vững: người bệnh sẽ được bó bột tăng cường, sau 3-4 tuần sẽ tháo bột và tập luyện.

Các bài tập bao gồm: Tập co cơ tĩnh chi gãy và các khớp còn lại.

Vài ngày đầu tập vận động gấp duỗi dạng khép các khớp nhưng đặc biệt không được xoay xương từ bài tập thụ động có trợ giúp của kỹ thuật viên hoặc người nhà người bệnh.

Sau đó người bệnh được tập vận động chủ động có trợ giúp và bài tập chủ động nếu cơ lực của người bệnh tốt. người bệnh có thể tập vài lần trong ngày, mỗi lần từ 20-30 phút. Nâng cao chi gãy để giảm phù nề.

Người bệnh được ngồi dậy trên giường bệnh từ ngày thứ 2, tập thở, tập các khớp còn lại.

Nếu gãy các xương chi dưới, tùy từng loại gãy, chờ liền xương người bệnh mới được phép đứng và đi lại. Lúc đó người bệnh được tập luyện dáng đi bình thường.

Nếu thay khớp nhân tạo chi dưới người bệnh có thể đi lại sớm ngay từ ngày thứ 3 sau phẫu thuật.

Nếu gãy xương cột sống, khi nẹp vis vững tuỳ từng trường hợp cụ thể, người bệnh được thay đổi tư thế ngay từ ngày thứ 2 sau phẫu thuật và được ngồi dậy, đi lại khi ổn định.

Rất nhiều người bệnh do không được hướng dẫn tập luyện chu đáo sau phẫu thuật, người bệnh sợ đau không chịu tập luyện và có người chờ cho xương liền (thường sau 2-3 tháng) mới chịu tập vận động, khi có các khớp gần vị trí gãy xương hoặc ngay tại các khớp bị gãy đã cứng lại, không thể tập vận động được nữa gây hiện tượng cứng khớp về sau. Lúc đó người bệnh phải điều trị tập luyện với thời gian kéo dài, chịu nhiều đau đớn. Khi tập luyện không có kết quả người bệnh phải phẫu thuật gỡ dính lại khớp đó và kết quả hoạt động của khớp đó về sau cũng không được như mong muốn.

Phòng Công tác xã hội

Thường sau 03- 4 tuần phẫu thuật người bệnh nên đến các cơ sở Vật Lý trị liệu PHCN để điều trị vật lý trị liệu kết hợp với tập luyện vận động và tập luyện trên các thiết bị tập luyện chuyên biệt. Ngoài thời gian tập ở bệnh viện, các bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh tập thêm tại nhà với các dụng cụ tập đơn giản hơn.

【#7】Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Cứng Khớp Vai Sau Chấn Thương Cố Định Gãy Xương Đòn

Gãy xương đòn là sự mất toàn vẹn của xương đòn do chấn thương trực tiếp hoặc gián tiếp gây đau và hạn chế vận động

Phục hồi chức năng cho bệnh nhân cứng khớp vai có tác dụng: cải thiện tuần hoàn , duy trì lực cơ ở các khớp tự do chống teo cơ do bất động giảm đau, giảm co thắt cơ vùng đai vai, gia tăng sức mạnh, tầm vận động và chức năng sinh hoạt của khớp vai

Hàng năm tại khoa phục hồi chức năng, bệnh viện Đa Khoa Đức Giang có một lượng lớn bệnh nhân bị cứng khớp vai sai cố định gãy xương đòn đến điều trị và khoa phục hồi chức năng cũng thường điều trị kết hợp với khoa ngoại chấn thương chỉnh hình để điều trị sớm các trường hợp chấn thương xương đòn ngay sau khi gãy để phòng các biến chứng thứ cấp như : teo cơ, cứng khớp, rối loạn dinh dưỡng.

Tại khoa phục hồi chức năng- bệnh viện đa khoa Đức Giang những bệnh nhân bị cứng khớp vai sau cố định gãy xương đòn bằng dụng cụ kết hợp xương hoặc đeo vòng số 8 thường được điều trị bằng các kỹ thuật VLTL- PHCN như điều trị bằng parafin, điều trị bằng siêu âm dẫn thuốc, điều trị điện xung – điện di ion thuốc và các kỹ thuật viên phục hồi chức năng hướng dẫn các bài tập thụ động hoặc chủ động tăng theo giai đoạn của bệnh . Và đã đem lại kết quả tích cực cho người bệnh, góp phần làm cho người bệnh và gia đình người bệnh tin tưởng vào chuyên khoa PHCN nói riêng và bệnh viện Đức Giang nói chung.

Cụ thể khoa xin giới thiệu bệnh nhân Hoàng Thị Xê (1955) hiện đang là bệnh nhân nội trú của khoa vào viện ngày 23- 10- 2021 trong tình trạng cứng khớp vai trái, cứng khớp khuỷu trái sau cố định gãy xương đòn,khớp vai đau, sưng nề, hạn chế trong sinh hoạt và hoạt động cá nhân.

Tầm vận động khớp vai : gập/duỗi : 95/30 độ. Dang, áp : 60 độ

Sau 20 ngày điều trị tích cực bằng các phương pháp vật lý trị liệu (bó parafin, điện xung, giao thoa, siêu âm), bệnh nhân hết co cơ, tăng tầm vận động khớp vai và khớp khuỷu, hết đau, mọi sinh hoạt trở về bình thường, tự làm công việc nhà và vệ sinh cá nhân

Tầm vận động khớp vai : gập/duỗi : 135/53 . Dang/áp : 90/90