Top 4 # Quốc Hội Có Chức Năng Nhiệm Vụ Gì Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Quốc Hội Có Những Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Gì?

1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;

2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;

4. Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;

5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia;

8. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;

10. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

11. Quyết định đại xá;

12. Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

15. Quyết định trưng cầu ý dân.

Nguyên tắc và hiệu quả hoạt động của Quốc hội nước ta như thế nào?

Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.

Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và hiệu quả của sự phối hợp hoạt động với Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức khác.

QĐND Online

Quốc Hội Là Cơ Quan Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quốc Hội Việt Nam?

Quốc hội là cơ quan gì? Chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam?

1. Khái quát về sự ra đời và phát triển của Quốc hội nước ta

Quốc dân đại hội được triệu tập vào ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào gồm có 60 đại biểu của các tổ chức, đoàn thể cách mạng đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng, lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng trung ương (tức Chính phủ lâm thời).Vì vậy, Quốc dân đại hội được coi là tiền thân của Quốc hội nước ta. Thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do ngày 06 tháng 01 năm 1946, nhân dân cả nước đã bầu ra Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa – Quốc hội đầu tiên, Quốc hội khoá I của nước ta.

Tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta trong phiên họp ngày 9 tháng 11 năm 1946. Sau khi Hiến pháp được thông qua, lẽ ra Quốc hội phải giải tán và bầu ra Nghị viện nhân dân, bởi vì theo Sắc lệnh số 14 ngày 8 tháng 9 năm 1945 của Hồ Chủ Tịch chỉ là “Tổng tuyển cử bầu Quốc hội lập hiến” nhưng do tình hình khẩn cấp lúc bấy giờ nên Quốc hội chưa thể giải tán mà vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến năm 1960.

Để phù hợp với tình hình thay đổi của cách mạng, tại kỳ họp thứ 11 của Quốc hội ngày 31 tháng 12 năm 1959 bản Hiến pháp sửa đổi đã được thông qua – Hiến pháp năm 1959. Theo Hiến pháp năm 1959, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không gọi là Nghị viện nhân dân như trong Hiến pháp 1946, mà gọi là Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa.

Từ năm 1960 đến năm 1976 là nhiệm kỳ của Quốc hội các khoá tiếp theo (Quốc hội khóa II: 1960 – 1964; Quốc hội khóa III: 1964 – 1971; Quốc hội khóa IV: 1971 – 1975; Quốc hội khóa V: 1975 – 1976) . Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được độc lập thống nhất. Ngày 25 tháng 4 năm 1976 nhân dân cả nước đã tiến hành bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất, đó là Quốc hội khoá VI của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ bảy đã nhất trí thông qua Hiến pháp 1980 trong phiên họp ngày 18 tháng 12 năm 1980. Quốc hội khóa VII kéo dài từ năm 1981 đến năm 1987, hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1980, Quốc hội đã phát huy vai trò cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nhân dân trong việc củng cố và hoàn thiện chế độ làm chủ tập thể. Quốc hội khoá VIII (1987 – 1992 ) là Quốc hội của thời kỳ đổi mới. Tại kỳ họp lần thứ 11 của Quốc hội khoá VIII, bản Hiến pháp thứ tư của nước ta được thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng tư năm 1992. Sau khi Hiến pháp 1992 được ban hành, nhân dân ta đã bầu ra Quốc hội khoá IX (1992 – 1997), từ 1997 – 2002 là nhiệm kỳ của Quốc hội khoá X – đây là Quốc hội sẽ tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Quốc hội khoá XI (2002-2007) là Quốc hội có nhiều đổi mới, hướng đến sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thử thách đặt ra cho đất nước ta.

2. Vị trí, tính chất và chức năng của Quốc hội

Theo Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 2), nhưng nhân dân không thể trực tiếp, thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước được cho nên phải bầu ra các cơ quan đại diện để thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước. Vì vậy, các cơ quan này được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước.

Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 đều nêu rõ vị trí và tính chất của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Bởi vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra, bao gồm các đại biểu đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân và mọi vùng lãnh thổ. Quốc hội có chức năng và nhiệm vụ phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân, nói lên tiếng nói và thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân. Ở nước ta, chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, các vấn đề trọng đại của đất nước.

Với vị trí, tính chất như thế nên chức năng của Quốc hội bao gồm những phương diện lớn như sau:

– Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp

– Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

– Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, nhằm đảm bảo cho những qui định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để và thống nhất, bộ máy nhà nước hoạt động đồng bộ, có hiệu lực và hiệu quả.

Chức năng nói trên của Quốc hội được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội.

3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội

Quyền lực của nước ta được thực hiện theo chế độ tập quyền, theo nguyên tắc tập trung.

Quyền lực nhà nước tập trung chủ yếu vào Quốc hội; nhưng có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng.

Các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội trong Điều 84 của Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung và cụ thể hóa trong Luật tổ chức Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam 2001. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được phân thành các lĩnh vực sau:

3.1. Lập hiến và lập pháp

Quốc hội có quyền lập hiến và lập pháp nên Quốc hội cũng có quyền sửa đổi Hiến pháp và sửa đổi luật, các hoạt động này đều được qui định cụ thể và chặt chẽ.

Còn sáng kiến lập pháp, tức là quyền trình dự án luật trước Quốc hội được giao cho nhiều Cơ quan nhà nước như: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Đại biểu Quốc hội còn có quyền trình kiến nghị về luật ra trước Quốc hội. Cơ quan trình dự án luật phải chuẩn bị, xây dựng hoàn chỉnh và trình bày trước Quốc hội dự án đó để Quốc hội xem xét.

Quốc hội còn có quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đây là điểm mới mà Hiến pháp 1980 chưa quy định, Hiến pháp 1992 đã bổ sung quyền này nhằm đảm bảo cho hoạt động lập pháp của Quốc hội có hiệu quả hơn.

3.2. Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất nên Quốc hội có quyền quyết định những mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội; những vấn đề quốc kế dân sinh; những vấn đề đối nội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh quốc gia.

Trong lĩnh vực kinh tế, Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế.

Quốc hội quyết định những vấn đề hệ trọng đối với vận mệnh của đất nước như quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; qui định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo của Nhà nước; quyết định đại xá; quyết định trưng cầu ý dân.

Quốc hội còn có nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước.

4. Tổ chức bộ máy nhà nước

Quốc hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương.

Bộ máy nhà nước ta từ trung ương đến địa phương, từ các cơ quan quyền lực nhà nước đến các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát được tổ chức theo mô hình nào, nguyên tắc tổ chức hoạt động ra sao đều do Quốc hội xem xét lựa chọn, quyết định tại các kỳ họp và được thể hiện trong Hiến pháp và luật tổ chức các cơ quan này.

Ngoài việc qui định chung về tổ chức và hoạt động của các Cơ quan nhà nước, Quốc hội còn bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó chủ tịch Quốc hội và các uỷ viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng an ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Quốc hội còn qui định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước trong các lĩnh vực khác; qui định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước.

5. Giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật do nhiều Cơ quan nhà nước tiến hành như: Hội đồng nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Thanh tra nhà nước… Nhưng sự giám sát của Quốc hội là sự giám sát cao nhất. Nhiệm vụ giám sát của Quốc hội nhằm làm cho những qui định của Hiến pháp, pháp luật được thi hành triệt để và thống nhất. Quốc hội giám sát hoạt động của các Cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được qui định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, có hiệu lực, không chồng chéo, chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, cửa quyền.

Các hình thức giám sát tối cao của Quốc hội:

Xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

Xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội.

Thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định và xem xét báo cáo kết quả điều tra của Ủy ban.

Bên cạnh đó, một hoạt động mới của Quốc hội được ghi nhận tại Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003 là việc bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

6. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội

Tổ chức của Quốc hội là cơ cấu bên trong được lập ra để giúp Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Tổ chức của Quốc hội do Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội quy định. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội là một trong những yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

Các cơ quan của Quốc hội bao gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

6.1. Ủy ban thường vụ Quốc hội

Theo Hiến pháp 1959, trong tổ chức của Quốc hội có Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Nhưng theo qui định của Hiến pháp 1980, Ủy ban thường vụ Quốc hội được thay thế bằng Hội đồng Nhà nước. Hội đồng Nhà nước vừa là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam.

Để phân định rõ chức năng nguyên thủ quốc gia và chức năng thường trực Quốc hội, Hiến pháp 1992 đã qui định về Chủ tịch nước và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chủ tịch nước đảm nhận chức năng nguyên thủ quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm có:

Chủ tịch Quốc hội

Các Phó chủ tịch Quốc hội

Các uỷ viên

Số thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Để bảo đảm cho hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội được khách quan, Luật tổ chức Quốc hội 2001 qui định: Thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội là đại biểu chuyên trách và không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội được qui định trong Điều 91 của Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và cụ thể hoá tại Điều 7 Luật tổ chức Quốc hội 2001.

Ủy ban thường vụ Quốc hội công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; ban hành các pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao.

Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đình chỉ thi hành các văn bản của các cơ quan trên nếu các văn bản này trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội huỷ bỏ đồng thời có quyền huỷ bỏ các văn bản này nếu trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội có vai trò tích cực trong việc chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và giải tán Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân.

Trong trường hợp Quốc hội không họp được, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và báo cáo Quốc hội xem xét quyết định tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương; thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.

Do Quốc hội không hoạt động thường xuyên nên Hiến pháp còn quy định cho Ủy ban thường vụ Quốc hội được giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp và các uỷ viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách.

Chủ tịch Quốc hội

Trong tổ chức của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội có vị trí rất quan trọng. Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; bảo đảm thi hành qui chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, nội qui kỳ họp Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội; tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; tổ chức việc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội, lãnh đạo hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong liên minh Quốc hội thế giới.

Các Phó chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch Quốc hội làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch Quốc hội.

6.2. Hội đồng dân tộc

Vấn đề dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với nước ta, cho nên Hiến pháp năm 1980 đã nâng Ủy ban dân tộc của Quốc hội thành Hội đồng dân tộc cho xứng với tầm quan trọng của nó. Đến Hiến pháp năm 1992, vị trí, vai trò của Hội đồng dân tộc được đề cao, nhiệm vụ và quyền hạn được tăng cường.

Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và các uỷ viên do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội. Hội đồng dân tộc có một số thành viên hoạt động chuyên trách.

Ngay trong Quốc hội, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số cũng chiếm một tỉ lệ thích đáng, và có xu hướng mỗi ngày gia tăng- chính điều này đã thể hiện phần nào chính sách dân tộc của nhà nước ta.

6.3. Các Ủy ban của Quốc hội

Các Ủy ban của Quốc hội được thành lập ra để giúp Quốc hội thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đồng thời các Ủy ban của Quốc hội còn là hình thức thu hút các đại biểu vào việc thực hiện công tác chung của Quốc hội.

Quốc hội thành lập hai loại uỷ ban: Ủy ban thường trực và Ủy ban lâm thời.

6.3.1. Ủy ban thường trực

Ủy ban thường trực là những Ủy ban hoạt động thường xuyên. Nhiệm vụ của các Ủy ban này là nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban .

Theo Điều 22 – Luật tổ chức Quốc hội 2001 (2007), Quốc hội thành lập các Uỷ ban sau đây:

Uỷ ban pháp luật;

Uỷ ban tư pháp;

Uỷ ban kinh tế;

Uỷ ban tài chính, ngân sách;

Uỷ ban quốc phòng và an ninh;

Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng;

Uỷ ban về các vấn đề xã hội;

Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường;

Uỷ ban đối ngoại.

Mỗi Ủy ban đều phải có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

6.3.2. Ủy ban lâm thời

Ủy ban lâm thời là những Ủy ban được Quốc hội thành lập khi xét thấy cần thiết để nghiên cứu thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định như Ủy ban kiểm tra tư cách đại biểu Quốc hội hay Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.

Để đảm bảo tính khách quan trong việc giám sát hoạt động của cơ quan chấp hành của Quốc hội, các thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội phải là đại biểu Quốc hội và không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.

7. Kỳ họp Quốc hội

Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Quốc hội, do Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập, thường lệ mỗi năm họp hai kỳ. Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập Quốc hội họp bất thường.

Thành phần tham dự kỳ họp của Quốc hội bao gồm: các đại biểu Quốc hội; đại diện cho các Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế – chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang và người nước ngoài, các đại diện này tham gia với tư cách là người chứng kiến – có quyền phát biểu nhưng không có quyền biểu quyết. Với thành phần tham dự kỳ họp như thế đã thể hiện tính dân chủ, công khai của hoạt động Quốc hội.

Trước khi triệu tập kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội phải dự kiến chương trình làm việc của kỳ họp, dự kiến này phải được gửi đến các đại biểu Quốc hội chậm nhất là một tháng trước khi Quốc hội họp để các đại biểu nghiên cứu và góp ý kiến.

7.1. Kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội

Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là 60 ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu ra Chủ tịch Quốc hội khoá mới.

Tại kỳ họp này, Quốc hội tiến hành bầu cử các chức danh lãnh đạo cao cấp nhất của Nhà nước. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo công tác từ kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khoá trước đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới.

Ngoài ra, Quốc hội còn bầu Đoàn thư ký kỳ họp của mỗi khoá Quốc hội.

Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước.

7.2. Trình tự xem xét và thông qua các dự án tại kỳ họp Quốc hội

Tại kỳ họp, Quốc hội xem xét và thông qua các dự án kế hoạch Nhà nước, dự toán ngân sách Nhà nước, các báo cáo, dự án luật và các dự án khác theo trình tự sau đây:

Trình bày các dự án trước Quốc hội.

Thuyết trình việc thẩm tra các dự án.

Biểu quyết để thông qua dự án.

Vấn đề cần biểu quyết và cách biểu quyết do Quốc hội qui định. Các luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành, trừ các trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội và sửa đổi Hiến pháp thì phải được ít nhất là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

7.3. Vấn đề chất vấn và trả lời chất vấn

Chất vấn là một hoạt động thực hiện quyền giám sát của Quốc hội trong chương trình kỳ họp, Quốc hội dành thời gian thích đáng cho việc chất vấn và trả lời chất vấn.

Chất vấn là quyền của đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này trả lời.

Thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn được qui định tại điều 11 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003.

7.4. Hình thức họp Quốc hội

Quốc hội họp công khai, khi Quốc hội họp công khai công chúng có thể được đến dự theo giấy mời của văn phòng Quốc hội. Các cơ quan thông tấn, báo chí được tham dự các phiên họp công khai của Quốc hội để phản ảnh kịp thời, chính xác các hoạt động của Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội sẽ quyết định họp kín, việc công bố nội dung các phiên họp kín do Chủ tịch nước cùng với Chủ tịch Quốc hội quyết định.

7.5. Các luật, nghị quyết của Quốc hội

Các luật, nghị quyết của Quốc hội phải được Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực và Chủ tịch nước công bố, chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày thông qua.

8. Đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do. Đại biểu Quốc hội là người đại diện của nhân dân đồng thời là đại biểu cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đại biểu Quốc hội vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.

Đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lý đặc biệt, bao gồm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hình thức hoạt động được qui định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, qui chế hoạt động của đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khoá Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội sau.

Chức năng của đại biểu Quốc hội là hướng hoạt động chủ yếu nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu. Đại biểu Quốc hội có các chức năng cơ bản sau:

– Thu thập và phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

– Nâng ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành ý chí Nhà nước, thành các qui định của pháp luật.

– Đưa các qui định của pháp luật vào thực tế cuộc sống.

8.1. Nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành và tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp và pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia quản lý Nhà nước.

Tiếp dân là nhiệm vụ thường xuyên của đại biểu để nghe nhân dân góp ý xây dựng Nhà nước đồng thời giúp dân giải quyết những thắc mắc, kiến nghị, khiếu nại và tố cáo.

Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ giữ mối quan hệ và thông báo tình hình hoạt động của mình với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương và tham gia các hoạt động của đoàn đại biểu Quốc hội.

8.2. Quyền hạn của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.

Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu chấm dứt những việc làm trái pháp luật của các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang hoặc cá nhân mà gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của công dân.

Đại biểu Quốc hội có quyền tham gia bầu cử và có thể được bầu vào các Cơ quan nhà nước, các cơ quan lãnh đạo, các tổ chức của Quốc hội; các đại biểu Quốc hội đều bình đẳng trong bầu cử.

Đại biểu Quốc hội có quyền biểu quyết về các dự án luật, các nghị quyết, các dự án, các báo cáo… Đại biểu Quốc hội có quyền biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc bỏ quyền biểu quyết.

Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp nơi mình được bầu, có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết.

8.3. Những đảm bảo cho hoạt động của Đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội có quyền bất khả xâm phạm của đại biểu. Nếu không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội. Chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới có quyền đề nghị bắt giam hoặc truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội. Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định.

Đại biểu Quốc hội không thể bị cách chức, buộc thôi việc nếu không được Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng ý. Cơ quan, tổ chức nơi đại biểu Quốc hội làm việc phải tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội hoàn thành nhiệm vụ.

Đại biểu Quốc hội được cung cấp đầy đủ tài liệu và thông tin cần thiết để hoạt động, được đài thọ lương và phụ cấp trong thời gian tạm thời không làm công tác thường xuyên của mình mà để làm nhiệm vụ đại biểu, được ưu tiên khám, chữa bệnh theo tiêu chuẩn cán bộ trung cấp… và được hưởng một khoản hoạt động phí hàng năm do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

8.4. Việc bãi nhiệm, mất quyền đại biểu Quốc hội, việc đại biểu Quốc hội xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu

Đại biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ theo mức độ sai lầm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm.

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đại Biểu Quốc Hội, Đoàn Đại Biểu Quốc Hội

Theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, ĐBQH và Đoàn ĐBQH có các chức năng nhiệm vụ chủ yếu như sau : I- Đại biểu Quốc hội

1. Địa vị pháp lý : Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn địa diện cho nhân dân cả nước ; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội.

2. Tiêu chuẩn :

– Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá hiện dại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;

– Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu và chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật;

– Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ Đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước;

– Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;

– Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.

3. Nhiệm kỳ đại biểu Quốc hội :

– Nhiệm kỳ đại biểu mỗi khoá Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá sau.

– Nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội được bầu bổ sung đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá sau.

4. Nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu Quốc hội :

– Chịu trách nhiệm trước cử tri, đồng thời chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình;

– Liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của chử tri với Quốc hội và cơ quan nhà nước hữu quan; phải báo cáo trước cử tri mỗi năm ít nhất một lần về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình;

– Gương mẫu trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân;

– Có nhiệm vụ tuyên truyền , phổ biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia quản lý nhà nước;

– Có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo trình tự và thủ tục do Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định;

– Có quyền kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

– Có trách nhiệm tiếp công dân. Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, khiếu nại, tố cáo biết; đôn đốc và theo dõi việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu Quốc hội về kết quả giải quyết kiến nghị, khiếu nại tố cáo đó trong thời hạn theo quy định của pháp luật về khiếu nại tố cáo;

– Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo không thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại. Khi cần thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên của cơ quan đó giải quyết;

– Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của công dân, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo cho đại biểu Quốc hội biết việc giải quyết. Quá thời hạnh nói trên mà cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị không trả lời thì đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên, đồng thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định;

– Khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu, đại biểu Quốc hội có quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân. người đứng dầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tiếp và đáp ứng những yêu cầu của đại biểu Quốc hội;

– Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội. Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ phải lập tức báo cáo dể Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét và quyết định.

– Có quyền tham dự kỳ họp của Hội đồng nhân dân các cấp nơi mình được bầu, có quyền phát biểu ý kiến nhưng không biểu quyết;

II- Đoàn Đại biểu Quốc hội Các Đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội. Đoàn Đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn, có trụ sở, văn phòng giúp việc và có kinh phí hoạt động theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Đoàn Đại biểu Quốc hội có đại biểu hoạt động chuyên trách. Đại biểu Quốc hội trong Đoàn có nhiệm vụ thực hiện chương trình công tác và sự phân công của Đoàn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội

1. Nhiệm vụ :

– Phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc, Thường trực Hội Đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ở địa phương tổ chức để Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ;

– Phối hợp với Thường trực Hội đống nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban mặt trận Tổ Quốc ở địa phương tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác theo yêu cầu của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

– Tổ chức để đại biểu Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật, đấu tranh chống tham nhũng; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của địa phương ; khảo sát tình hình thực tế ở địa phương ; góp ý với địa phương về thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh ; khi cần thiết, kết quả giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội được công bố trên các thông tin đại chúng;

– Phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn công tác, Đoàn giám sát của Uỷ ban thường Vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội;

Tham gia ý kiến về việc giới thiệu đại biểu Quốc hội trong Đoàn ứng cử đại biểu Quốc hội khoá sau; phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát về việc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá sau, bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội ở địa phương;

– Mỗi năm hai lần, vào giữa năm và cuối năm, báo cáo với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, và đại biểu Quốc hội, đồng thời thông báo với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Nhiệm vụ của Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội :

– Tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ cảu đại biểu Quốc hội và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội;

– Giữ mối liên hệ với Chủ Tịch Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thường trực Hội đống nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam ở địa phương và Văn phòng Quốc hội.

Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc

Tin Tức TTXVN – Là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc (LHQ), Hội đồng Bảo an (HĐBA) được trao trách nhiệm chính là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Các quyết định, nghị quyết của HĐBA khi được thông qua đều mang tính chất ràng buộc, các thành viên của LHQ đều có trách nhiệm tôn trọng và thi hành. Từ 1/1/2020, Việt Nam sẽ chính thức đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ.

Là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc (LHQ), Hội đồng Bảo an (HĐBA) được trao trách nhiệm chính là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Các quyết định, nghị quyết của HĐBA khi được thông qua đều mang tính chất ràng buộc, các thành viên của LHQ đều có trách nhiệm tôn trọng và thi hành. Từ 1/1/2020, Việt Nam sẽ chính thức đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ.

TTXVN/Báo Tin tức

THS2018 thêm phần TRK/LHQ

Nhiệm vụ và chức năng của TTK/LHQ:

Chức danh này được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ năm năm. Các Tổng Thư ký thường phục vụ hai nhiệm kỳ liên tiếp, riêng Boutros Boutros-Ghali chỉ ngồi ở vị trí này trong một nhiệm kỳ. Tổng Thư ký được bổ nhiệm bởi Đại Hội đồng, dựa trên sự tiến cử của Hội đồng Bảo an. Do vậy, sự tuyển chọn phụ thuộc vào phiếu phủ quyết của các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Chức danh này không được bầu chọn theo cách phổ thông đầu phiếu.

Theo quy ước, chức vụ Tổng Thư ký được chọn tuần tự theo các khu vực địa lý, nhưng vì Boutros Boutros-Ghali từ Ai Cập chỉ phục vụ một nhiệm kỳ nên một người đến từ Phi châu, Kofi Annan, được chọn để kế nhiệm. Khi Annan hoàn tất nhiệm kỳ đầu tiên, các quốc gia thành viên, vì có ấn tượng tốt với thành tích của ông, đã quyết định dành cho ông nhiệm kỳ thứ hai mà không tính đến yếu tố nên chọn Tổng Thư ký kế nhiệm từ Á châu. Cho đến nay vẫn chưa có tổng thư ký nào đến từ Bắc Mỹ hoặc châu Đại Dương.

Hầu hết các Tổng Thư ký là những ứng viên thoả hiệp xuất thân là viên chức trung cấp và ít có tiếng tăm. Những chính trị gia có thanh danh thường được giới thiệu cho chức vụ này, nhưng hầu như luôn luôn bị gạt bỏ. Chẳng hạn như các nhân vật tiếng tăm như Charles de Gaulle, Dwight Eisenhower và Anthony Eden được xem xét cho chức Tổng Thư ký đầu tiên của LHQ nhưng cuối cùng đều bị khước từ và một người đến từ Na Uy, Trygve Lie, giành được sự đồng thuận để được bổ nhiệm vào chức vụ này. Phụ thuộc vào nền chính trị quốc tế và cơ chế vận hành của nền chính trị thỏa hiệp, vì vậy dễ dàng tìm thấy nhiều điểm tương đồng trong quy trình và tiêu chuẩn tuyển chọn chức vụ Tổng Thư ký với các vị trí lãnh đạo thuộc các tổ chức quốc tế khác, trong đó nên kể đến quy trình bầu chọn Giáo hoàng cho Giáo hội Công giáo La Mã.