Top 14 # Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Cnxh Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Cnxh Ở Việt Nam / 2023

1. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM

Kế thừa những quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng không ngừng và thời kỳ quá độ lên CNXH; xuất phát từ đặc điểm, điều kiện của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thời kỳ quá độ “là thời kỳ dân chủ mới”, tiến dần lên CNXH. Ở Việt Nam là hình thái quá độ gián tiếp với: “Đặc điểm to nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(1). Đặc điểm này chi phối tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm từng bước xóa bỏ triệt để các tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, đồng thời từng bước gây dựng các mầm mống cho CNXH phát triển, đó là một tất yếu.

Theo đó, quá độ lên CNXH là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài chứ “không thể một sớm một chiều”(2). Bởi vì, “chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ hàng ngàn năm… biến nước ta từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp”(3). Tuy nhiên, muốn “tiến lên chủ nghĩa xã hội” thì không phải “cứ ngồi mà chờ” là sẽ có được chủ nghĩa xã hội. Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn khởi thi đua xây dựng, thì thời kỳ quá độ có thể rút ngắn hơn.

Về nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Phải tạo ra những điều kiện cần và đủ về cơ sở vật chất; đồng thời, Đảng phải “lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(4). Trong đó, “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,… tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”(5).

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh là làm sao cho Đảng không mắc các bệnh quan liêu, xa dân, thoái hoá biến chất, làm mất lòng tin của dân, suy giảm năng lực lãnh đạo của Đảng. Đồng thời phải chú trọng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng trong sạch, vững mạnh và hoạt động hiệu quả, thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nội dung nhiệm vụ cụ thể trong thời kỳ quá độ lên CNXH rất toàn diện. Trên lĩnh vực kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề mấu chốt, tăng năng suất lao động trên cơ sở công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, cùng với thiết lập quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, ngành, vùng, lãnh thổ trong thời kỳ quá độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế. Theo Người, quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy để phát triển sản xuất.

Trên lĩnh vực chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng; quan tâm củng cố mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân – nông dân – trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp xây dựng CNXH.

Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng và mấu chốt của văn hóa là xây dựng con người có đạo đức cách mạng, con người mới xã hội chủ nghĩa với đức – tài gắn bó hữu cơ với nhau, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, trung thành với sự nghiệp cách mạng xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới. Về xã hội, thực hiện sự phân phối theo lao động, thi hành chính sách xã hội vì toàn dân, bình đẳng.

Mấu chốt của vấn đề xã hội là đảm bảo công bằng xã hội hướng vào phát triển con người, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, vừa là mục tiêu, vừa là động của sự phát triển xã hội.

Về bước đi, biện pháp trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Hồ Chí Minh đã xác định bước đi, cách làm phù hợp, Người khẳng định: Chúng ta cũng phải có phương pháp xây dựng CNXH của riêng mình, gắn với thực tiễn và lịch sử của Việt Nam. Bước đi trong xây dựng XHCN ở nước ta là “phải làm dần dần”, ai nói dễ là chủ quan và sẽ thất bại, phải thực hiện “đi bước nào vững chắc bước ấy”.

Hồ Chí Minh còn chỉ ra những biện pháp hết sức quan trọng để xây dựng CNXH, đó là: Cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựng, lấy xây dựng làm chính; kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ, đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng; xây dựng CNXH phải có kế hoạch, biện pháp và quyết tâm. Đặc biệt, Người xác định biện pháp cơ bản, lâu dài quyết định nhất trong xây dựng CNXH ở nước ta là phát huy sức mạnh toàn dân, đem của dân, tài dân, sức dân dưới sự lãnh đạo của Đảng để làm lợi cho dân.

2. GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG LUẬN ĐIỂM CẦN BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

Những nội dung tư tưởng về thời kỳ quá độ lên CNXH của Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, kế thừa những giá trị trong hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ, mà còn được bổ sung, phát triển trong điều kiện lịch sử mới; qua đó, tiếp tục khẳng định và làm sáng rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Có thể nói, thực tiễn hơn 30 năm đổi mới càng làm sáng tỏ lý luận về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Đó là những tiêu chí đánh giá đúng sự kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ của Đảng ta, đồng thời là những cơ sở, điều kiện đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng CNXH đi tới thành công.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ nhằm thực hiện 4 mục tiêu: Công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài, “Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế nước ta”(6).

Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu nêu ra các quan niệm về thời kỳ quá độ lên CNXH theo cách tiếp cận khác nhau, song đều có chung một cách hiểu là thời kỳ độc lập tương đối, một xã hội mà ở đó các lĩnh vực cơ bản chưa hoàn toàn là xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, trong xã hội của thời kỳ quá độ lên CNXH, cái cũ và cái mới còn tồn tại đan xen, vừa chi phối ảnh hưởng lẫn nhau, vừa đấu tranh với nhau để từng bước cho ra đời một thực thể xã hội mới, đúng nghĩa là xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo cách hiểu như vậy là đã có sự bổ sung, phát triển quan niệm về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và bổ sung trong tình hình hiện nay.

Thứ nhất, nhận thức sâu sắc hơn những khó khăn còn tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong thời kỳ quá độ, chúng ta dễ có những nhận thức không toàn diện, lệch lạc: Một là, xem nhẹ, không tính đến đầy đủ chiều hướng suy tàn, tiêu vong của hình thái kinh tế – xã hội cũ, từ đó không thấy hết tính chất khó khăn, phức tạp của sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ, lỗi thời, lạc hậu với những cái mới đang hình thành, có xu hướng tiến bộ và phải trải qua một quá trình lâu dài, cái mới tiến bộ khẳng định xu hướng phát triển hợp với điều kiện mới. Hai là, ngộ nhận về thắng lợi, chỉ có phát triển đi lên của những nhân tố mới, nhất là khi nó đang trong giai đoạn hình thành, đang phải trải qua những bước “quá độ”, không thấy những khó khăn, thoái trào, thậm chí có thể thụt lùi tạm thời để củng cố và phát triển các lĩnh vực đời sống xã hội.

Thứ hai, nhận thức đúng đắn, cụ thể hơn về “con người mới xã hội chủ nghĩa” trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, con người Việt Nam, dù ở địa vị nào cũng còn mang dấu vết của thời kỳ quá độ. Vì thế, không thể đưa ra yêu cầu quá cao đối với họ, nhưng những yếu tố vượt trước và với vai trò là chủ thể của lịch sử, thì cần phải tạo lập những yêu cầu, tiêu chí phù hợp với sự nghiệp đổi mới và thời đại. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người mới xã hội chủ nghĩa”.

Trên thực tế, với nhiều nước trên thế giới và cả ở khu vực Đông Nam Á, con người và lao động Việt Nam hiện tại còn thấp về nhiều chỉ số: thể chất, sức khỏe, tay nghề, trình độ đào tạo, khả năng hội nhập, ý thức pháp luật…. Nguồn nhân lực chất lượng cao nước ta hiện nay đang thiếu hụt về số lượng, hạn chế về chất lượng và bất cập về cơ cấu. Cơ cấu “dân số vàng” nếu không được sử dụng, phát huy tốt sẽ là gánh nặng cho kinh tế và xã hội. Vì thế, con người mới trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam cần phải được nhìn nhận một cách toàn diện, cụ thể hơn. Đó là những con người đang trong quá trình hoàn thiện từng bước, từng mặt, đáp ứng yêu cầu từng lĩnh vực, địa vị xã hội từng người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định: “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển(7). Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách về giáo dục đào tạo; chăm sóc sức khỏe; phát triển văn hóa; phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển khoa học công nghệ; xây dựng đội ngũ cán bộ… nhằm hướng tới mục tiêu: “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”(8).

Thứ ba, nhận thức bổ sung về thực hiện công bằng, bình đẳng trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là hai khái niệm có nội hàm quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không thể đồng nhất là một. Trong CNXH, nhất là thời kỳ quá độ, bình đẳng xã hội hoàn toàn là chưa thể thực hiện được; cái mà xã hội có thể đạt được là công bằng xã hội. Tuy nhiên, dù có diễn đạt cụm từ “công bằng” hay “bình đẳng” một cách độc lập, hoặc nối tiếp nhau, cũng đều thể hiện hàm ý, đó là sự ngang nhau giữa người và người trên các phương diện của xã hội XHCN, hoặc ngang nhau trong phân phối sản phẩm, đảm bảo sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, lao động và trả công, trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi. Hồ Chí Minh chỉ ra “CNXH là bình đẳng”, “CNXH là công bằng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm, không hưởng”. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ, những người thuộc nhóm xã hội yếu thế, người không còn khả năng lao động, hay bị bệnh tật bẩm sinh, tai nạn không thể lao động để nuôi sống bản thân, thì xã hội phải có trách nhiệm đảm bảo lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là CNXH. Vì thế, “bình đẳng” theo nghĩa “sự ngang nhau hoàn toàn” trên mọi phương diện trong thời kỳ quá độ là chưa thể thực hiện được.

Thứ tư, nhận thức bổ sung, phát triển luận điểm “dân chủ mới” trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Luận điểm “dân chủ mới” được Hồ Chí Minh sử dụng 120 lần trong các tác phẩm của mình. Trong đó, nhiều lần Người sử dụng các cụm từ: “thời kỳ dân chủ mới”, “tinh thần dân chủ mới”, “chế độ dân chủ mới”, “nền nếp dân chủ mới”, “chúng ta phải thực hiện dân chủ mới để chuẩn bị đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”(9)… Theo đó, cần nhận thức sâu sắc hơn về “Dân chủ mới” trong thời kỳ quá độ với tính cách là một chế độ chính trị – xã hội đang được xây dựng theo những nguyên tắc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa. “dân chủ mới” có sự ẩn chứa những thuộc tính xã hội chủ nghĩa đang được hình thành, khẳng định, trên cơ sở kế thừa những giá trị của “dân chủ cũ”, đồng thời từng bước bồi đắp những giá trị dân chủ mới ưu việt, tạo tiền đề để đi đến CNXH.

Hơn nữa, “dân chủ mới” cần được hiểu là dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện quá độ lên CNXH, để tránh nhầm lẫn hoặc đánh tráo sang những giá trị dân chủ mới của phương Tây, của chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa, học thuyết phi vô sản khác hiện nay.

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam đã thể hiện những nội dung đặc sắc, trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo những giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin vào đặc điểm, tình hình xã hội Việt Nam. Thực tiễn luôn vận động biến đổi và đang đặt ra nhiều vấn đề mới, những nội dung tư tưởng về thời kỳ quá độ của Người vẫn giữ nguyên giá trị, cần tiếp tục bổ sung, phát triển trong điều kiện mới./.

(2) (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.10, tr. 324, 329.

(4) (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.8, tr. 174, tr. 267.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.13, tr. 13.

(7) (8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 76, 70.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, H, 2011, t.6, tr. 13.

Đại tá, PGS. TS. Lê Xuân ThủyHọc viện Chính trị Bộ Quốc phòng

(Bài đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 8/2019)

Phân Tích Những Định Hướng Cơ Bản Của Việc Xây Dựng Gia Đình Mới Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay / 2023

Câu hỏi: Phân tích những định hướng cơ bản của việc xây dựng gia đình mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

Đáp án:

Những định hướng cơ bản của việc xây dựng gia đình mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cụ thể là:

Giữ gìn, phát huy văn hóa truyền thống, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, đồng thời tiếp thu văn hóa hiện đại có chọn lọc

Bên cạnh việc kế thừa những truyền thống, những giá trị tốt đẹp tình làng nghĩa xóm, tình yêu gia đình gắn chặt với tình yêu quê hương đất nước, dân tộc. Từng bước khắc phục, loại bỏ các giá trị không phù hợp như cục bộ theo họ tộc, cục bộ theo địa phương, những nghi lễ rườm rà, tốn kém trong ma chay, cưới hỏi. Sự bất bình đẳng về giới, và giữa các thế hệ. Trong điều kiện hiện nay, sự chuyển đổi hệ giá trị từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đang đòi hỏi phải tiếp thu và chọn lọc các giá trị văn hóa của nhân loại. Những giá trị văn hóa ấy chỉ có thể được chọn lọc, tiếp thu một khi các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống được bảo tồn, được phát huy những nội dung giá trị mới phù hợp với văn hóa và đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam.

Xây dựng gia đình xuất phát từ tình yêu chân chính:

+ Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính và nó nhất thiết phải trải qua thời kỳ quá độ từ tình bạn chuyển sang tình yêu, quá trình đó họ tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng sẵn sàng chia sẽ, cùng nhau xây dựng cuộc sống chung và họ cảm thấy không thể thiếu nhau.

+ Hôn nhân tự nguyện tiến bộ còn phải được pháp luật thừa nhận bằng tờ đăng ký kết hôn. Nhưng cũng không bác bỏ sự quan tâm, hướng dẫn của cha mẹ người thân trong gia đình.

+ Hôn nhân tự nguyện tiến bộ còn bao gồm tự do ly hôn khi tình yêu không còn nữa. Tuy nhiên, ly hôn dù bất cứ lý do nào thì hậu quả cũng hết sức nặng nề. Vì vậy, cần phải có sự hòa giải của các đoàn thể xã hội, của cộng đồng, làng xóm.

Xây dựng gia đình trên cơ sở các quan hệ bình đẳng, thương yêu:

Cùng nhau chia sẽ, gánh vác công việc gia đình và xã hội. Vợ chồng phải có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt. Bố mẹ không được phân biệt đối xử với các con, phải tôn trọng và hướng dẫn những nhu cầu chính đáng của các con. Các con phải biết ơn, kính trọng, nghe lời khuyên nhủ của bố mẹ và không ngừng học hỏi vươn lên giữ vững truyền thống tốt đẹp của gia đình. Quan hệ bố mẹ và các con trong gia đình thường có mâu thuẫn và sự khác biệt giữa các thế hệ là điều khó tránh khỏi. Do đó, phải tìm ra hướng giải quyết để những mâu thuẫn của sự khác biệt ấy không dẫn tới xung đột.

Trong gia đình, cần xây dựng những mối quan hệ tốt giữa anh chị em với nhau. Nếu là những gia đình có nhiều thế hệ, phải chú ý đến những mối quan hệ khác như ông bà và cháu chắt; bố mẹ chồng và con dâu; bố mẹ vợ và chàng rễ; chú bác, cô dì và các cháu… Các quan hệ này cũng được xây dựng trên tinh thần bình đẳng, tình thương và có trách nhiệm để cho gia đình êm ấm, trở thành tế bào lành mạnh của xã hội.

Xây dựng gia đình phải gắn liền với cộng đồng, với các thiết chế xã hội:

Đoàn kết, tương trợ thương yêu đùm bọc nhau là một giá trị văn hoá truyền thống lâu đời của người Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng gia đình mới cần phải biết giử gìn phát huy truyền thống ấy. Trên cơ sở đó mà xây dựng bổ sung thêm những quy ước, quy chế dân chủ trong mỗi làng xã, trong mỗi gia đình. Đó chính là một phương hướng quan trọng trong việc xây dựng gia đình mới ở nước ta,

Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình / 2023

Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Phân Tích Khi Xác Định Mục Tiêu Của Tổ Chức Cần Xác Định Rõ Mục Tiêu Chiến Lược Và Mục Tiêu Cụ Thể, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Tiểu Luận Về Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Luận Nâng Cao Kỹ Năng Viết Báo Cáo Văn Phòng, Tiểu Luận Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Tiểu Học, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Tiểu Luận Về Nguyên Lý Mối Liên Hệ Phổ Biến Của Phép Duy Vật Biện Chứng, Nội Dung Nghi Định Quy Định Chức Năng Nhiêm Vụ Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Bộ Công An, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Chức Năng Gia Đình, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Quy Dinh 1262 Chuc Nang Cua Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Kỹ Năng Hội Họp, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Tạo Lập Văn Bản, Tiều Luận Cơ Cấu Tổ Chức Bán Hàng, Bài Tiểu Luận Hành Vi Tổ Chức, Tiểu Luận Di Chúc Hợp Pháp, Tiểu Luận Quy Tắc ứng Xử Viên Chức Y Tế, Tiểu Luận Tổ Chức Sự Kiện, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1, Tiểu Luận Du Lịch Đà Nẵng, Tiểu Luận Triết Học Nâng Cao, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu, Tiểu Luận Nâng Cao Văn Hoá Công Sở, Bài Tiểu Luận Phát Triển Tổ Chức, Tiểu Luận Quản Lý Cán Bộ Công Chức ở Cơ Sở, Tiểu Luận Công Tác Tổ Chức Sự Kiện, Tiểu Luận 1 Tổ Chức Công Tác Kế Toán, Tiểu Luận Tổ Chức Lực Lượng Bán Hàng, Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương, Tiểu Luận Kỹ Năng Thuyết Trình, Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Kỹ Năng Lãnh Đạo Quản Lý, Tiểu Luạn Kĩ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Môn Chính Trị Học So Sánh Nâng Cao, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Tiểu Luận Về Năng Lượng Mặt Trời, Tiểu Luận Nâng Cao Sức Khỏe Ngành Y Tế, Tiểu Luận Thực Trạng Tổ Chức Sự Kiện, Quy Định 842-qĐ/qutw, Ngày 06-8-2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định 842-qĐ/qutw, Ngày 06-8-2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định Số 842-qĐ/qu Ngày 06/8/2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định Số 842-qĐ/qu Ngày 06/8/2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Tieu Luan Giai Phap Nang Cao Y Duc Cua Can Bo Nghanh Y Te, Tiểu Luận Rèn Kỹ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Hịc Sinh Lớp 4, Tiểu Luận Kỹ Năng Và Nghệ Thuật Lãnh Đạo, Luận Văn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiêu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm Trong Học Tập, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu Của Lãnh Đạo Cấp Phòng, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tiểu Luận Tốt Nghiệp Đề Tài: Vấn Đề Tổ Chức Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ ở Đơn Vị Cơ Sở Thuộc Bộ Y Tế, Tác Động Của Chức Năng Phương Tiện Cất Trữ Đến Biến Động Thị Trường Vàng Trong Giai Đoạn Thế Giới Ch, Tác Động Của Chức Năng Phương Tiện Cất Trữ Đến Biến Động Thị Trường Vàng Trong Giai Đoạn Thế Giới, Định Lý Biến Thiên Cơ Năng, Định Lý Biến Thiên Thế Năng, Bài Tiểu Luận Biến Đổi Khí Hậu, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiểu Luận Tình Huống Tuyển Dụng Công Chức, Kỹ Năng Xác Định Mục Tiêu, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Kĩ Năng Giao Tiếp Trong Doanh Nghiệp, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đầu Tư Công, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tiểu Luận Quản Lý Cấp Phòng Nâng Lương Trước Thời Hạn, Tiểu Luận Về âm Mưu Diễn Biến Hòa Bình, Bài Tiểu Luận ô Nhiễm Môi Trường Biển, Tiểu Luận Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo, Tiểu Luận Môi Trường Nhà Máy Chế Biến Thuỷ Sản, Bài Tiểu Luận Diễn Biến Hòa Bình, Tiểu Luận Quốc Phòng Về Biển Đảo, Tiểu Luận Nguyên Lý Về Mối Liên Hệ Phổ Biến, Tiểu Luận ô Nhiễm Môi Trường Biển, Định Luật Run Lên Sơ Cho Biết Điện Năng Biến Đổi Thành, Tiểu Luận Diễn Biến Hòa Bình Bạo Loạn Lật Đổ, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng, Mã Số, Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Biên Tập Viên, Phóng Viên, Tiểu Luận Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Tồn Tại Xã Hội Và ý Thức Xã Hội, Nghị Định Quy Định Tiêu Chuẩn Chức Danh Lãnh Đạo Quản Lý Trong Các Cơ Quan Hà, Khóa Luận Tốt Nghiệp: Một Số Biện Pháp Marketing Nâng Cao Hiệu Quả Xuất Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng Tại Địa Phương/Đơn Vị, Bài Thảo Luận Thứ 6 Quy Định Về Di Chúc, Bài Thảo Luận 6 Quy Định Về Di Chúc,

Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Phân Tích Khi Xác Định Mục Tiêu Của Tổ Chức Cần Xác Định Rõ Mục Tiêu Chiến Lược Và Mục Tiêu Cụ Thể, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Tiểu Luận Về Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Luận Nâng Cao Kỹ Năng Viết Báo Cáo Văn Phòng, Tiểu Luận Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Tiểu Học, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Tiểu Luận Về Nguyên Lý Mối Liên Hệ Phổ Biến Của Phép Duy Vật Biện Chứng, Nội Dung Nghi Định Quy Định Chức Năng Nhiêm Vụ Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Bộ Công An, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Chức Năng Gia Đình, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Quy Dinh 1262 Chuc Nang Cua Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Kỹ Năng Hội Họp, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Tạo Lập Văn Bản, Tiều Luận Cơ Cấu Tổ Chức Bán Hàng, Bài Tiểu Luận Hành Vi Tổ Chức, Tiểu Luận Di Chúc Hợp Pháp, Tiểu Luận Quy Tắc ứng Xử Viên Chức Y Tế, Tiểu Luận Tổ Chức Sự Kiện, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1, Tiểu Luận Du Lịch Đà Nẵng, Tiểu Luận Triết Học Nâng Cao, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu, Tiểu Luận Nâng Cao Văn Hoá Công Sở, Bài Tiểu Luận Phát Triển Tổ Chức, Tiểu Luận Quản Lý Cán Bộ Công Chức ở Cơ Sở, Tiểu Luận Công Tác Tổ Chức Sự Kiện, Tiểu Luận 1 Tổ Chức Công Tác Kế Toán, Tiểu Luận Tổ Chức Lực Lượng Bán Hàng, Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương, Tiểu Luận Kỹ Năng Thuyết Trình, Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Kỹ Năng Lãnh Đạo Quản Lý, Tiểu Luạn Kĩ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Môn Chính Trị Học So Sánh Nâng Cao, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm,

Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam / 2023

Thứ năm, 30 Tháng 7 2015 15:48

(LLCT) – Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Gia đình với tư cách là một thiết chế then chốt và cơ bản của xã hội cũng chịu những tác động sâu sắc từ những biến đổi về kinh tế, xã hội, trong đó chức năng kinh tế của gia đình đang có những biến đổi lớn.

1. Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình.

Cho đến nay, các nghiên cứu đều cho rằng, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình chuyển đổi từ đơn vị sản xuất sang đơn vị tiêu dùng. Các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay dường như không còn là đơn vị kinh tế tự sản xuất, tự tiêu thụ mà đã bắt đầu cung ứng ra thị trường. Hiện nay, gia đình vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình theo đuổi các mục đích khác nhau cùng với các hoạt động kinh tế khác nhau; trong đó, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống. Với cách hiểu này, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã khiến cho sự thay đổi mục đích và hoạt động sản xuất của các thành viên trong gia đình. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, chức năng kinh tế hộ gia đình trải qua hai bước chuyển đổi: chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hóa và chuyển kinh tế gia đình hàng hóa thành kinh tế gia đình thị trường hiện đại. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, gia đình không sử dụng những sản phẩm của mình làm ra mà sử dụng hàng hóa và dịch vụ xã hội.

Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình Việt Nam thể hiện khá rõ nét trong những năm gần đây. Theo điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cho thấy, số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản có xu hướng giảm và số hộ hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Năm 2006, có 71,06% số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 62,15%. Trong khi đó, tỷ lệ hộ nông thôn hoạt động công nghiệp tăng từ 10,18% năm 2006 lên 15,03% năm 2011; tỷ lệ ở hộ nông thôn hoạt động dịch vụ tăng từ 14,92% năm 2006 lên 18,41% năm 2011.

Ở đồng bằng sông Hồng, tình trạng chuyển đổi này cũng diễn ra khá nhanh. Kết quả thống kê cho thấy, nếu năm 2006 có 60,50% hộ gia đình hoạt động trong ngành nghề nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011 chỉ còn 47,44%; trong khi đó, tỷ lệ hộ công nghiệp và xây dựng ở nông thôn tăng từ 16,09% năm 2006 lên 23,48% năm 2011, tỷ lệ hộ dịch vụ tăng từ 16,94% năm 2006 lên 21,37% năm 2011. Kết quả này phản ánh sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn, hộ gia đình từ một đơn vị sản xuất tự cấp, tự túc đã chuyển sang đơn vị tiêu dùng. Xu hướng thay đổi ở đồng bằng sông Hồng diễn ra khá nhanh so với cả nước.

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã cho thấy sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã và đang hiện hữu ở nước ta nói chung, đồng bằng sông Hồng nói riêng. Chức năng kinh tế của một gia đình biến đổi khi có một hay nhiều thành viên lao động không tham gia vào các hoạt động sản xuất của gia đình hoặc tất cả thành viên lao động của gia đình đều có hoạt động sản xuất ở bên ngoài gia đình với tư cách cá nhân. Một gia đình còn duy trì chức năng kinh tế khi còn ít nhất hai lao động tham gia vào quá trình sản xuất của gia đình. Khi gia đình chỉ còn một lao động hoặc không có lao động thực hiện các hoạt động sản xuất của gia đình thì gia đình đó không còn có chức năng kinh tế. Điều này có thể hiểu rằng, quá trình biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình giảm dần và tiến tới chỗ không còn thực hiện chức năng kinh tế của nó với tư cách là một đơn vị sản xuất. Trong xã hội nông nghiệp truyền thống ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, trên 95% các gia đình đều có chức năng kinh tế như là một đơn vị sản xuất trong nông nghiệp, hoặc tiểu thủ công nghiệp.

2. Biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình

Qua kết quả điều tra do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện năm 2012 (các tỉnh) ở đồng bằng sông Hồng cho thấy, cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình hiện nay.

Về cơ cấu nghề của hộ gia đình theo địa bàn nghiên cứu.Các số liệu điều tra cho thấy, số hộ làm nghề nông nghiệp là 34,3%; tiểu thủ công nghiệp là 8,9%; buôn bán, dịch vụ là 8,5% và làm các nghề khác là 48,3%. Cơ cấu nghề của các hộ có những khác biệt nhất định ở 4 tỉnh:

Phân tích số liệu cơ cấu nghề của hộ gia đình theo giới tính chủ hộ cho thấy, các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ có xu hướng làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhiều hơn, các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ có xu hướng làm buôn bán, dịch vụ nhiều hơn (Xem bảng trên).

Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo độ tuổi của chủ hộ

Những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 20 – 39 ít có xu hướng làm nông nghiệp (dưới 10%) so với những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 40 trở lên. Hộ gia đình có chủ hộ tuổi 40 – 49 có tỷ lệ làm nông nghiệp gấp hơn 3 lần so với hai nhóm tuổi trẻ hơn; và hộ gia đình có chủ hộ tuổi 50 – 59 và trên 60 có tỷ lệ làm nông nghiệp gần gấp đôi so với nhóm tuổi trẻ hơn. Như vậy, có thể thấy sự biến đổi có tính bước ngoặt trong chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.

Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo trình độ học vấn của chủ hộ

Trình độ học vấn của chủ hộ và nghề nghiệp của các hộ gia đình có mối quan hệ khá rõ nét. Học vấn của chủ hộ gia đình càng thấp thì xác suất làm nghề nông nghiệp càng lớn hơn. Các chủ hộ gia đình có học vấn lớp 1 – 5 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 49,1%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 35,1% và các hộ gia đình, chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 27,1%.

Các số liệu cũng cho thấy mối quan hệ giữa học vấn của chủ hộ với xác suất làm các nghề buôn bán, dịch vụ của các hộ gia đình. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 1 – 5 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 5,3%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 7,7% và các hộ gia đình có chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm buôn bán, dịch vụ là 11,9%.

Quan hệ cơ cấu nghề của hộ gia đình và quy mô diện tích đất sản xuất

Phân tích mối quan hệ giữa bình quân diện tích đất sản xuất /đầu người và ngành nghề của hộ gia đình cho thấy kết quả như sau: các hộ nông nghiệp có bình quân diện tích đất sản xuất cao nhất với 630 m 2; các hộ buôn bán, dịch vụ là 551 m 2; các hộ làm tiểu thủ công nghiệp là 417 m 2 và các hộ làm nghề khác là 513m 2. So với các số liệu về bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp, các hộ buôn bán, dịch vụ có tăng thêm đáng kể diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp so với các loại hộ khác. Trong hoạt động thương mại, dịch vụ, mặt bằng sản xuất là đất đai cũng là một yếu tố rất quan trọng để mở rộng quy mô hoạt động buôn bán, kinh doanh. Các hộ thương mại, dịch vụ thường có diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp nhiều hơn các loại hình hộ sản xuất khác.

Có hai yếu tố ảnh hưởng mạnh tới quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các cá nhân đó là yếu tố thế hệ và trình độ học vấn. Những người lao động ở độ tuổi càng trẻ thì xác suất làm nông dân càng thấp và những người lao động có trình độ học vấn càng cao thì xác suất làm nông dân càng thấp hơn. Những lao động ở nông thôn thuộc các thế hệ trẻ (dưới 40 tuổi) và có trình độ học vấn lớp 10 trở lên có xu hướng thoát ly hộ gia đình nông nghiệp và làm các nghề phi nông nghiệp ngày càng tăng. Quá trình này làm giảm tỷ trọng các hộ nông nghiệp, và từ đó làm giảm tỷ trọng các hộ còn duy trì chức năng kinh tế của hộ gia đình nói chung.

Quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ nông dân sang các loại hình hộ kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ là một quá trình tất yếu khách quan ở nông thôn hiện nay. Trong những điều kiện đất đai canh tác ngày càng hạn chế, thu nhập lao động nông nghiệp thấp so với tất cả các ngành nghề khác trong xã hội và không thể đáp ứng được nhu cầu đời sống ngày càng cao, việc thoát ly sản xuất nông nghiệp là không thể tránh khỏi đối với một bộ phận lớn lao động nông thôn. Tuy nhiên, để có thể chuyển đổi nghề của một hộ gia đình sang các lĩnh vực kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ đều cần một lượng vốn nhất định. Do đó, chỉ có một bộ phận số hộ nông nghiệp có khả năng chuyển đổi nghề sang các lĩnh vực khác với tư cách là một đơn vị hộ kinh tế. Số hộ nông nghiệp còn lại sẽ không có khả năng tiếp tục thực hiện các chức năng kinh tế hộ khi các thành viên lao động thoát ly và làm các nghề khác. Số liệu khảo sát cho thấy, trong các hộ nông nghiệp, tỷ lệ hộ thuần nông nghiệp chiếm 35%. Do đó, số hộ kinh tế nông nghiệp sẽ ngày càng giảm.

Với quy mô đất canh tác giảm và thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hiện nay, ước tính để duy trì hoạt động của các hộ nông nghiệp như là một đơn vị kinh tế và bảo đảm thu nhập cho lao động nông nghiệp ở mức trung bình của xã hội, quy mô đất canh tác của hộ cần tăng 3 – 4 lần. Như vậy, tức là số hộ nông nghiệp sẽ giảm 3 – 4 lần. Tỷ trọng các hộ sản xuất nông nghiệp sẽ giảm từ hơn 30% như hiện nay xuống còn khoảng 10% trong vòng 10 năm tới.

Trong ba loại hình kinh tế hộ, các hộ kinh tế tiểu thủ công nghiệp và buôn bán dịch vụ có thể duy trì và tăng số lượng, nhưng sẽ khó tăng nhanh do những khó khăn về nguồn vốn và chất lượng lao động, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái hiện nay. Do đó, trong giai đoạn 10 – 20 năm tới, với đà giảm số lượng các hộ nông nghiệp, tỷ trọng các hộ gia đình có chức năng kinh tế sẽ tiếp tục giảm.

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2014

TS Đặng Ánh Tuyết

Viện Xã hội học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh