Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình

--- Bài mới hơn ---

  • Gia Đình Và Vai Trò, Chức Năng Của Gia Đình Trong Quá Trình Phát Triển Của Xã Hội
  • Soạn Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Các Loại Máy Hàn Điện Tử Đa Chức Năng
  • Máy Hàn Điện Tử, Hàn Inox, Co2, Hàn Tig, Hàn Mig
  • Máy Hàn 3 Chức Năng Que
  • Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Phân Tích Khi Xác Định Mục Tiêu Của Tổ Chức Cần Xác Định Rõ Mục Tiêu Chiến Lược Và Mục Tiêu Cụ Thể, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Tiểu Luận Về Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Luận Nâng Cao Kỹ Năng Viết Báo Cáo Văn Phòng, Tiểu Luận Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Tiểu Học, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Tiểu Luận Về Nguyên Lý Mối Liên Hệ Phổ Biến Của Phép Duy Vật Biện Chứng, Nội Dung Nghi Định Quy Định Chức Năng Nhiêm Vụ Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Bộ Công An, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Chức Năng Gia Đình, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Quy Dinh 1262 Chuc Nang Cua Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Kỹ Năng Hội Họp, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Tạo Lập Văn Bản, Tiều Luận Cơ Cấu Tổ Chức Bán Hàng, Bài Tiểu Luận Hành Vi Tổ Chức, Tiểu Luận Di Chúc Hợp Pháp, Tiểu Luận Quy Tắc ứng Xử Viên Chức Y Tế, Tiểu Luận Tổ Chức Sự Kiện, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1, Tiểu Luận Du Lịch Đà Nẵng, Tiểu Luận Triết Học Nâng Cao, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu, Tiểu Luận Nâng Cao Văn Hoá Công Sở, Bài Tiểu Luận Phát Triển Tổ Chức, Tiểu Luận Quản Lý Cán Bộ Công Chức ở Cơ Sở, Tiểu Luận Công Tác Tổ Chức Sự Kiện, Tiểu Luận 1 Tổ Chức Công Tác Kế Toán, Tiểu Luận Tổ Chức Lực Lượng Bán Hàng, Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương, Tiểu Luận Kỹ Năng Thuyết Trình, Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Kỹ Năng Lãnh Đạo Quản Lý, Tiểu Luạn Kĩ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Môn Chính Trị Học So Sánh Nâng Cao, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Tiểu Luận Về Năng Lượng Mặt Trời, Tiểu Luận Nâng Cao Sức Khỏe Ngành Y Tế, Tiểu Luận Thực Trạng Tổ Chức Sự Kiện, Quy Định 842-qĐ/qutw, Ngày 06-8-2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định 842-qĐ/qutw, Ngày 06-8-2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định Số 842-qĐ/qu Ngày 06/8/2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định Số 842-qĐ/qu Ngày 06/8/2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Tieu Luan Giai Phap Nang Cao Y Duc Cua Can Bo Nghanh Y Te, Tiểu Luận Rèn Kỹ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Hịc Sinh Lớp 4, Tiểu Luận Kỹ Năng Và Nghệ Thuật Lãnh Đạo, Luận Văn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiêu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm Trong Học Tập, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu Của Lãnh Đạo Cấp Phòng, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tiểu Luận Tốt Nghiệp Đề Tài: Vấn Đề Tổ Chức Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ ở Đơn Vị Cơ Sở Thuộc Bộ Y Tế, Tác Động Của Chức Năng Phương Tiện Cất Trữ Đến Biến Động Thị Trường Vàng Trong Giai Đoạn Thế Giới Ch, Tác Động Của Chức Năng Phương Tiện Cất Trữ Đến Biến Động Thị Trường Vàng Trong Giai Đoạn Thế Giới, Định Lý Biến Thiên Cơ Năng, Định Lý Biến Thiên Thế Năng, Bài Tiểu Luận Biến Đổi Khí Hậu, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiểu Luận Tình Huống Tuyển Dụng Công Chức, Kỹ Năng Xác Định Mục Tiêu, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Kĩ Năng Giao Tiếp Trong Doanh Nghiệp, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đầu Tư Công, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tiểu Luận Quản Lý Cấp Phòng Nâng Lương Trước Thời Hạn, Tiểu Luận Về âm Mưu Diễn Biến Hòa Bình, Bài Tiểu Luận ô Nhiễm Môi Trường Biển, Tiểu Luận Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo, Tiểu Luận Môi Trường Nhà Máy Chế Biến Thuỷ Sản, Bài Tiểu Luận Diễn Biến Hòa Bình, Tiểu Luận Quốc Phòng Về Biển Đảo, Tiểu Luận Nguyên Lý Về Mối Liên Hệ Phổ Biến, Tiểu Luận ô Nhiễm Môi Trường Biển, Định Luật Run Lên Sơ Cho Biết Điện Năng Biến Đổi Thành, Tiểu Luận Diễn Biến Hòa Bình Bạo Loạn Lật Đổ, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng, Mã Số, Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Biên Tập Viên, Phóng Viên, Tiểu Luận Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Tồn Tại Xã Hội Và ý Thức Xã Hội, Nghị Định Quy Định Tiêu Chuẩn Chức Danh Lãnh Đạo Quản Lý Trong Các Cơ Quan Hà, Khóa Luận Tốt Nghiệp: Một Số Biện Pháp Marketing Nâng Cao Hiệu Quả Xuất Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng Tại Địa Phương/Đơn Vị, Bài Thảo Luận Thứ 6 Quy Định Về Di Chúc, Bài Thảo Luận 6 Quy Định Về Di Chúc,

    Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Phân Tích Khi Xác Định Mục Tiêu Của Tổ Chức Cần Xác Định Rõ Mục Tiêu Chiến Lược Và Mục Tiêu Cụ Thể, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Tiểu Luận Về Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Luận Nâng Cao Kỹ Năng Viết Báo Cáo Văn Phòng, Tiểu Luận Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Tiểu Học, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Tiểu Luận Về Nguyên Lý Mối Liên Hệ Phổ Biến Của Phép Duy Vật Biện Chứng, Nội Dung Nghi Định Quy Định Chức Năng Nhiêm Vụ Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Bộ Công An, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Chức Năng Gia Đình, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Quy Dinh 1262 Chuc Nang Cua Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Kỹ Năng Hội Họp, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Tạo Lập Văn Bản, Tiều Luận Cơ Cấu Tổ Chức Bán Hàng, Bài Tiểu Luận Hành Vi Tổ Chức, Tiểu Luận Di Chúc Hợp Pháp, Tiểu Luận Quy Tắc ứng Xử Viên Chức Y Tế, Tiểu Luận Tổ Chức Sự Kiện, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1, Tiểu Luận Du Lịch Đà Nẵng, Tiểu Luận Triết Học Nâng Cao, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu, Tiểu Luận Nâng Cao Văn Hoá Công Sở, Bài Tiểu Luận Phát Triển Tổ Chức, Tiểu Luận Quản Lý Cán Bộ Công Chức ở Cơ Sở, Tiểu Luận Công Tác Tổ Chức Sự Kiện, Tiểu Luận 1 Tổ Chức Công Tác Kế Toán, Tiểu Luận Tổ Chức Lực Lượng Bán Hàng, Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương, Tiểu Luận Kỹ Năng Thuyết Trình, Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Kỹ Năng Lãnh Đạo Quản Lý, Tiểu Luạn Kĩ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Môn Chính Trị Học So Sánh Nâng Cao, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Bác Sĩ Gia Đình Trong Hệ Thống Cơ Sở Khám Chữa Bệnh
  • Nhiệm Vụ Cơ Bản Của Bác Sĩ Gia Đình
  • Sự Biến Đổi Chức Năng Của Gia Đình
  • Giới Thiệu Về Bác Sĩ Gia Đình
  • Bác Sĩ Gia Đình Là Ai
  • Sự Biến Đổi Chức Năng Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ Cơ Bản Của Bác Sĩ Gia Đình
  • Vai Trò Của Bác Sĩ Gia Đình Trong Hệ Thống Cơ Sở Khám Chữa Bệnh
  • Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình
  • Gia Đình Và Vai Trò, Chức Năng Của Gia Đình Trong Quá Trình Phát Triển Của Xã Hội
  • Soạn Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Giải phóng văn chương khỏi chính nó là con đường đầy tiềm năng của văn học – như là một khoa học. Chính vì thế, các nghiên cứu liên ngành đã phát huy tích cực khả năng đánh giá văn chương trong tư cách một dữ kiện văn hóa học, xã hội học, triết học, mĩ học, nhân chủng học, dân tộc học… Xem xét sự biến đổi của gia đình trên cơ sở dữ liệu là tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ XXI, dưới góc nhìn xã hội học là một trường hợp như thế.

    Từ quan điểm xã hội học, xét về bản chất, gia đình có bốn chức năng cơ bản: sinh sản, tình cảm, giáo dục, kinh tế. Do sự va chạm giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, sự chênh lệch giữa tốc độ biến đổi của cơ cấu xã hội và tốc độ biến đổi của gia đình, chức năng của gia đình Việt Nam có những biến đổi mạnh mẽ trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Vấn đề này được cảnh báo một cách khá gay gắt trong tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ XXI.

    Đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn cho rằng sinh con là một chức năng quan trọng của gia đình. Tuy nhiên, đã có một sự chuyển đổi nhận thức rất rõ về hôn nhân, tình dục, sinh sản và số con, nhất là trong các gia đình ở nông thôn Việt Nam. Truyền thống nông nghiệp lúa nước cùng những tình thế mưu sinh, đối mặt với các đe dọa từ thiên nhiên (thậm chí là từ các gia đình, dòng họ khác) đòi hỏi sự cố kết của cộng đồng cả về chất lượng và số lượng, trong đó có sức mạnh đến từ huyết thống. Quan niệm con đàn cháu đống, đông con nhiều cháu, ngoài ý nghĩa phúc hậu đức dày, còn thể hiện một cách sâu xa chiến lược sinh tồn của các gia đình nông thôn. Trên cơ sở đó, dường như việc dựng vợ gả chồng và quan hệ tình dục chủ yếu phục vụ chức năng duy trì nòi giống, tạo nguồn nhân lực. Thế nhưng, giờ đây tình dục không chỉ mang ý nghĩa là một phương cách của việc sinh sản mà còn là sự thể hiện của tình yêu (thế giới tinh thần) và nhu cầu sinh học của con người. Trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỉ XXI, ta bắt gặp rất nhiều mối quan hệ xung quanh chuyện thỏa mãn đời sống tình dục như là biểu hiện của những ẩn ức sinh ra từ sự kìm nén nhu cầu thân xác của con người. Nó phá vỡ những cương vực, giềng mối của gia đình truyền thống vốn định hình một cách bền bỉ sau lũy tre làng. Phải gặp những nhân vật như Loan, Nga, Vy, Cơ trong Gia phả của đất, Lưu cá ngựa, Hoa, Xoan, Duyên, lão Đàm, bà Hai Nhã trong Ngư phủ (Hoàng Minh Tường); Minh, Thao trong Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn); bà Mến và ông Quỹ Nhất, chị cả Thuần và ông Đồi trong Dòng sông Mía (Đào Thắng); những mối tình nhuốm màu sắc dục ở làng Tâm Đức của Trương Rô, cô Đào, Quản Mè, ông Sóng trong Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh)… chúng ta mới thực sự nhận ra những đổi thay từ âm ỉ đến bùng phát của đời sống nông thôn Việt Nam.

    Xã hội hiện đại đem đến cho con người nhận thức rằng, thỏa mãn nhu cầu tình dục đã trở thành nhân tố chính làm tăng mức độ thỏa mãn – hạnh phúc trong đời sống hôn nhân, gia đình. Tuy nhiên, trượt qua ngưỡng giao thoa của truyền thống và hiện đại, khi đời sống tình dục trong hôn nhân không được thỏa mãn, nhiều người sẵn sàng chạy theo nhu cầu bản năng bất chấp mọi rào cản, kể cả đạo lí luân thường trong truyền thống văn hóa của người Việt. Về mặt luân lí, dĩ nhiên có nhiều mối quan hệ đáng chê trách, tuy nhiên, đằng sau câu chuyện ấy lại là những diễn biến tinh thần, cảm xúc, nhu cầu của con người đã không thể giữ mình trong nề nếp xưa cũ. Trong tiểu thuyết Cổng làng, Nguyễn Thanh Cải đã cho thấy quan hệ vụng trộm của cô Chút với Hấn xuất phát từ việc làm ăn chung bán cát sỏi, vật liệu xây dựng. Hấn nôn nóng muốn chiếm đoạt Chút, còn Chút ngoại tình với Hấn bởi có những cảm giác mới lạ, khác nhiều so với ông chồng dân tộc đang sống cạnh cô. Vấn đề vốn dĩ nhạy cảm, trước kia văn chương thường ít chú ý (hoặc né tránh), nhất là văn chương viết về nông thôn, thì nay được các nhà văn phơi bày trên trang giấy một cách công khai như là nhu cầu bộc lộ bản năng nguyên thủy của con người. Bản năng của con người thuộc về bản thể tự nhiên nhất, nằm ngoài vùng che chắn của ý thức. Chạm đến bản năng tức là chạm đến phần sâu kín nhất của con người. Không chỉ tập trung khai thác con người mang ý thức xã hội, các ngòi bút tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỉ XXI đã có ý thức dùng lớp vỏ bản năng (như một kí hiệu) để lạ hóa cả phương diện nghệ thuật lẫn tư tưởng khi khai thác con người ở mặt bản thể tự nhiên không dễ gì đoán biết được. Cái bày ra trên trang giấy, cái ám ảnh người đọc đâu chỉ là những quằn quại, rên xiết. Đằng sau mớ ngổn ngang, hỗn tạp của gối chăn, áo quần… ấy, nói như Văn Thị Phương Trang khi bàn về Hình tượng con người bản năng trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, dường như là “những tâm hồn rất trống rỗng, quấn lấy nhau trong khối cô đơn không thể nào chia sẻ”.

    Chức năng giáo dục là chức năng được tăng cường hơn bao giờ hết và trở thành một trách nhiệm nặng nề mà gia đình phải gánh vác, tuy nhiên, trong quá trình xã hội biến đổi nhanh chóng, gia đình đang nảy sinh nhiều xáo trộn về chức năng dưỡng dục con cái (với thế nhìn từ bên trong) và xã hội hóa (như một hoạt lực bên ngoài). Thế hệ trẻ mới cho dù có nhận được sự bảo trợ, dạy dỗ của bố mẹ nhưng họ vẫn bộc lộ những bất đồng thế hệ. Những bất đồng ấy được đẩy lên thành xung đột đến mức gay gắt. Trong Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), xung đột này được đẩy đến đỉnh điểm khi thằng Giác lôi bát hương ra dọa đập vỡ. Bát hương là vật thiêng biểu thị lòng thành kính, sự biết ơn của người đời sau đối với người đời trước; đập vỡ bát hương trên ban thờ tổ tiên là một hành vi đại bất kính. Trong khi ông Cảnh hết mực coi trọng và gìn giữ nề nếp truyền thống, coi sóc gia tiên chu đáo thì thằng con lại lợi dụng chính tấm lòng của cha để thực hiện nhu cầu cá nhân. Sự xấc xược cũng như hành vi thất đức của thằng Giác là biểu hiện của lối sống lệch lạc, mất gốc. Đỗ Minh Tuấn đã cảnh báo về những vết nứt giáo dục gia đình nói riêng và sự băng hoại văn hóa truyền thống nói chung từ các nhân vật này. Gia đình Thao cũng vậy, ông bố và bà mẹ cui cút từ hai, ba giờ sáng nhặt hoa gạo, lá mít cho cậu con trai xưng thánh thực hiện hành động thiêng liêng, bí ẩn trong điện thờ. Thằng con dùng tất cả mánh khóe về tình dục, lợi dụng lòng tin mù quáng của người dân, sự “âm u, đui mù” tín ngưỡng để trục lợi. Nó trở nên vênh váo vì nghĩ rằng vợ chồng Thao được ăn theo danh thơm của thánh. Đã có lúc, Thao không chịu được sự huênh hoang của thằng Chấn, hét thẳng vào mặt nó: “Mày còn giở cái giọng mất dạy sỉ nhục tao lần nữa tao phá hết cái điện này cho mày ra chuồng xí mà xưng thánh” (Thần thánh và bươm bướm). Những xung đột thế hệ giữa các thành viên trong gia đình như một sự cảnh báo của nhà văn về sự đổ vỡ phần nào chức năng giáo dục của gia đình. Nó cũng cho thấy các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo và trước sau cũng phải đối diện với các nguy cơ bị hủy hoại. Chúng ta thấy rõ nhất các xung đột trong tương quan về thế hệ, các giá trị cổ truyền và hiện đại. Cuộc sống của xã hội hiện đại, lối sống mới len lỏi đến từng ngõ ngách của làng quê, thẩm nhập tận những mối giềng sâu kín tưởng như bền chặt vĩnh viễn, phá vỡ nề nếp gia phong, đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam. Nhịp sống hối hả với vòng quay của công việc khiến những bữa cơm gia đình hiếm khi đông đủ. Cuộc sống tiện nghi với những phương tiện công nghệ cao đã tạo nên những “ốc đảo” ngay trong mỗi gia đình, khiến cho cá nhân sống khép kín. Thêm vào đó, lối sống thực dụng ích kỉ, đề cao cuộc sống hưởng thụ, cổ súy cho tư tưởng tự do phát triển cá nhân… cũng là nguy cơ làm mai một, xói mòn nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình.

    Về chức năng kinh tế và tâm lí – tình cảm, đối với gia đình truyền thống Việt Nam, người đàn ông được xem là trụ cột kinh tế của gia đình theo quan niệm “đàn ông xây nhà đàn bà xây tổ ấm”. Tuy nhiên, dưới lực cuốn của bánh xe hiện đại, quan niệm này ít nhiều đã thay đổi. Giờ đây, người phụ nữ cũng có vai trò quan trọng trong việc quyết định thu nhập và mức sống của gia đình. Người phụ nữ không còn quanh quẩn ở không gian ruộng vườn, bếp núc nữa. Họ đã dịch chuyển ra không gian xã hội với nhiều điều khác lạ, mới mẻ hơn nhưng cũng nhiều cám dỗ hơn. Nga (Thần thánh và bươm bướm) thậm chí lấn lướt cả chồng. Người đàn bà ấy nhìn đâu cũng ra lợi nhuận, những món hời và biến chồng thành công cụ kiếm tiền, ngay cả việc lợi dụng những mối quan hệ hay hoàn cảnh éo le của người khác để chiếm đoạt. Mưa trong tiểu thuyết Ma làng (Trịnh Thanh Phong) tự chủ, một mình nuôi con và làm giàu trên chính mảnh đất đã gây ra khổ đau cho cuộc đời cô. Đó còn là những người đàn bà làng chài của vùng Hải Thủy (Ngư phủ) vẫn làm chủ cuộc sống gia đình khi chồng nằm lại vĩnh viễn nơi biển cả…

    Cuộc sống của xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường – bên cạnh những mặt tích cực – ở một góc độ nào đó đã phá vỡ nề nếp gia phong, đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam, nhất là về tâm lí – tình cảm, về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Hình thái cố kết dựa trên huyết thống hay tương trợ làng xã bị phá vỡ bởi chính những con người trong gia đình, làng xã. Họ đã hấp thụ một bầu dưỡng khí khác mang màu sắc cá nhân, mang hơi hướng hiện đại. Từ bầu khí quyển ấy mọc ra những cá tính khác, thách thức lại những giá trị gia đình, cộng đồng, các luật tục (hoặc hủ tục) vốn đang chế ngự văn hóa nông thôn. Trở lại với cuốn tiểu thuyết đã được nhắc đến ở trên, Thần thánh và bươm bướm, chúng ta nhận ra sự đổ vỡ của chức năng tình cảm – vốn là một thành tố gắn kết gia đình. Cha con cãi lộn, đánh nhau đến thành thương tật (cha con Thao – Chấn đánh nhau, khiến Chấn bị gãy xương) là biểu hiện của sự băng hoại nghiêm trọng trong cấu trúc gia đình nông thôn trước sự thay đổi của xã hội. Hay trong Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), sự cư xử giữa hai mẹ con Hiếu và vợ chồng Hiếu đã phơi bày mặt trái của cuộc sống hiện đại với những nhức nhối, xót xa từ trong giềng mối gia đình. Các cuộc đối thoại trong tác phẩm này đã cho thấy sự đảo lộn mọi tôn ti trật tự: vợ chồng không còn “phu thê tương kính”, mẹ con cũng không còn thứ bậc trên dưới. Người mẹ tần tảo một đời khổ đau đã phải dè dặt một cách rất khó khăn để mở lời “trình bày hoàn cảnh” với đứa con trai do mình sinh ra và nuôi nấng, trong khi thái độ và lời nói của anh ta đối với mẹ hết sức lạnh lùng, vô cảm. Cũng vì quyền lực và đồng tiền mà Hiếu đã táng tận lương tâm đẩy mẹ đến cái chết và làm mất hoàn toàn lòng tin ở thế hệ sau, nhất là con gái mình.

    Đô thị hóa một mặt mang lại cho nông thôn luồng gió mới đầy sức sống, làm thay đổi bộ mặt cũ kĩ, trì trệ của làng quê Việt Nam vốn ngàn năm nghèo nàn lạc hậu, nhưng mặt khác cũng tác động tiêu cực không nhỏ đến con người thôn quê vốn thật thà chất phác. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến khoảng cách, thậm chí xung đột trong gia đình. Nhiều chuẩn mực bị đảo lộn trực tiếp tác động đến cấu trúc văn hóa nông thôn Việt Nam. Gia đình không còn cấu trúc bền vững như xưa. Thiếu tình cảm, thiếu tôn trọng, đại nghịch, bất kính, li hôn, ngoại tình, mại dâm, quan niệm tình yêu, tình dục lệch lạc… trở nên phổ biến. Sự tiếp nhận quá nhanh và thiếu chọn lọc một số sắc thái văn hóa từ đô thị đã làm xói mòn, thậm chí là triệt phá nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hóa làng xã. Những lợi ích vật chất, thói vụ lợi làm tha hóa, “lưu manh hóa” một bộ phận cư dân nông thôn, làm vẩn đục môi trường văn hóa, xã hội, bào mòn và làm rạn nứt quan hệ gia đình nông thôn thuần phác. Cấu trúc xã hội, cấu trúc gia đình cùng những chức năng căn bản của nó đã bị thách thức, bị biến đổi. Trong nhịp điệu biến cải đó, có cái tốt lên, nhưng cũng nảy sinh nhiều điều nhức nhối, đó thực sự là lời cảnh báo đến lương tri của con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Về Bác Sĩ Gia Đình
  • Bác Sĩ Gia Đình Là Ai
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Khám Bác Sĩ Gia Đình Trong Hệ Thống Cơ Sở Khám Bệnh, Chữa Bệnh
  • Những Nhiệm Vụ Và Quyền Lợi Của Bác Sĩ Gia Đình Ở Việt Nam
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Khám Bác Sĩ Gia Đình
  • Một Số Vấn Đề Về Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức (Phần Cuối)

    --- Bài mới hơn ---

  • Diễn Đàn Giao Thông Đường Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Rèn Luyện Đạo Đức Cách Mạng Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Theo Di Chúc
  • Quảng Bình Nỗ Lực Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Bị Ảnh Hưởng Sự Cố Môi Trường Biển
  • Quảng Bình Quan Tâm Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Quảng Bình: Chú Trọng Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn
  • Một số vấn đề về đội ngũ cán bộ, công chức (Phần cuối)

    2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    2.1. Về ưu điểm

    Hội nghị Trung ương 7, khóa XII đánh giá khái quát: Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII về Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín…

    Trên cơ sở đánh giá của Đảng, có thể khái quát những ưu điểm chính về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có những ưu điểm sau:

    Thứ nhất, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được nâng lên, cơ cấu hợp lý hơn.

    Hội nghị Trung ương 4, khóa XI đánh giá đánh giá tổng quát: Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt. Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng.

    Hội nghị Trung ương 7, khóa XII đánh giá về cán bộ: Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII về Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ.

    Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế… Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.

    Trên thực tế, đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các bộ, ngành, cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân từng bước được nâng lên về trình độ chuyên môn, chất lượng và hiệu quả công tác. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện tốt theo kế hoạch hằng năm. Việc tổ chức các kỳ thi nâng ngạch cho đội ngũ công chức, viên chức được thực hiện thường xuyên hơn; qua đó số lượng chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính làm việc tại các bộ, ngành và cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã được tăng lên. Công tác tổ chức cán bộ, tuyển dụng, bổ nhiệm, quy hoạch, đề bạt, luân chuyển đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đào tạo và năng lực sở trường công tác được quan tâm, chú trọng gắn với đổi mới cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    Thứ hai, việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bộ máy hành chính nhà nước ngày càng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn

    Đại hội XII khẳng định: Tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn theo yêu cầu, nhiệm vụ mới. Chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh phù hợp hơn. Chỉ đạo việc thực hiện thí điểm một số mô hình đổi mới về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

    Hội nghị Trung ương 6, khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đánh giá: Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp và đạt được những kết quả quan trọng. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để tổ chức thực hiện. Các quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới được quan tâm, từng bước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ. Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương đạt được kết quả bước đầu. Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện có hiệu quả hơn; kỷ cương, kỷ luật được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

    Báo cáo tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2021 của Bộ Nội vụ cho biết hàng loạt các bộ ngành địa phương đã thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy, trong đó giảm hàng loạt cấp trưởng, cấp phó.

    Thứ ba, công tác quản lý cán bộ, công chức có nhiều đổi mới, tiến bộ

    Trong giai đoạn 2011 – 2021, việc quản lý biên chế công chức, viên chức được thực hiện thống nhất trên cả nước theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; Luật Tổ chức Chính phủ năm 2021 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2021, bảo đảm thống nhất, đồng bộ giữa quản lý biên chế công chức với tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; kết hợp giữa quản lý biên chế công chức với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm của công chức là cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Tổng biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện trong giai đoạn 2011 – 2021 có xu hướng giảm, đặc biệt là trong giai đoạn 2014 – 2021 với số lượng giảm trung bình mỗi năm khoảng hơn 4.000 biên chế và tiếp tục giảm trong năm 2021. Đa số các bộ, ngành, địa phương chấp hành tốt các quy định của pháp luật, thực hiện quản lý và sử dụng đúng, thậm chí ít hơn số biên chế được giao. Cụ thể: có 12/15 bộ, cơ quan ngang bộ sử dụng đúng hoặc không sử dụng hết biên chế được giao tại các tổng cục trực thuộc; 13/15 bộ, cơ quan ngang bộ dư biên chế tại các vụ, cục trực thuộc, trong đó có một số bộ, cơ quan ngang bộ còn dư biên chế với số lượng khá lớn. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, công chức vẫn còn tư tưởng làm việc theo kiểu bao cấp trước đây, không có tính cạnh tranh, thiếu động lực để làm việc, suy giảm đạo đức, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng, lãng phí.

    Hai là, cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ; tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối,  hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.  

    Đại hội XII xác định: cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu; thủ tục hành chính còn phức tạp, phiền hà, đang là rào cản lớn đối với việc tạo lập môi trường xã hội, môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, hiệu quả cho sự phát triển. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương chậm đổi mới; hiệu lực, hiệu quả ở nhiều nơi chưa cao. Trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền chưa được quy định rõ ràng. Việc triển khai một số nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm; vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Việc kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan, tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức kết quả còn thấp. Số lượng cán bộ, công chức không những không giảm mà lại tăng, nhất là ở các đơn vị sự nghiệp công lập và công chức, cán bộ chuyên trách, không chuyên trách xã, phường, thị trấn. Việc đổi mới công tác cán bộ chưa có đột phá lớn. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất qua nhiều nhiệm kỳ nhưng chưa có những tiêu chí cụ thể và giải pháp khoa học để khắc phục. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp,… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược chưa được tập trung xây dựng….

    Hội nghị Trung ương 6 khóa XII khẳng định: Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp… Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý, mạnh mẽ và đồng bộ; còn tình trạng bao biện, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đạt kết quả thấp; tỉ lệ người phục vụ cao, nhất là ở khối văn phòng; số lãnh đạo cấp phó nhiều; việc bổ nhiệm cấp “hàm” ở một số cơ quan Trung ương chưa hợp lý. Cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chưa cao; việc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế. Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính chuyển biến chậm, không đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu. Tuy đã quan tâm đầu tư nhiều cho kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quản lý nhưng hiệu quả tác động vào việc tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và tinh giản biên chế chưa tương xứng. Số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước rất lớn, nhất là ở các đơn vị sự nghiệp công lập, người hoạt động không chuyên trách cấp xã và ở thôn, tổ dân phố; chính sách tiền lương còn bất cập…

    Ba là, công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức.

     Trong công tác cán bộ, dánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến. Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín, chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không là người địa phương, trong đó có bí thư cấp uỷ các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hoá bằng các cơ chế, chính sách phù hợp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ; chính sách tiền lương, nhà ở và việc xem xét thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc….

    Việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế chưa đi vào thực chất, không theo đúng quy định và chưa đạt mục tiêu đề ra.

    Chủ trương tinh giản biên chế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được Chính phủ quan tâm chỉ đạo thực hiện thống nhất, đồng bộ trên cả nước, tạo cơ sở quan trọng cho việc xác định và quản lý biên chế. Tất cả các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai quán triệt nội dung tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW, Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, Quyết định số 2218/QĐ-TTg; đã tiến hành việc rà soát, đánh giá, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hiện có để xác định được số lượng người cần giữ lại làm việc lâu dài, ổn định và những người không đáp ứng được yêu cầu cần tinh giản, tuy nhiên mới chỉ đạt được những kết quả bước đầu, chưa thực chất và chưa đạt mục tiêu đề ra. Cụ thể, từ khi triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP đến hết năm 2021, đa số các bộ, ngành, địa phương vẫn chưa phê duyệt kế hoạch tinh giản biên chế của bộ, ngành, địa phương từ năm 2021 – 2021 và của từng năm, dẫn đến tình trạng đề xuất tinh giản biên chế không theo quy định (định kỳ 2 lần/năm)…

    Việc thực hiện quy định về quản lý biên chế ở một số bộ, ngành, địa phương chưa nghiêm.

    Việc xây dựng kế hoạch biên chế hằng năm ở các bộ, ngành, địa phương chưa được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Bên cạnh nhiều bộ, ngành, địa phương sử dụng đúng hoặc ít hơn số biên chế được giao thì vẫn còn có bộ, ngành, địa phương sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao. Theo Báo cáo của Chính phủ, tính đến hết năm 2021, vẫn còn có 3/15 bộ có tổng cục sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao và 2/15 bộ có sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao tại các vụ, cục trực thuộc. Ở các địa phương, việc sử dụng vượt quá số biên chế được giao vẫn còn xảy ra ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, ngành, địa phương tăng nhanh (năm 2021 là 2.093.313 người, tăng so với năm 2011 là 121.736 người (tăng 5,8%), mặc dù thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị nhưng số biên chế sự nghiệp vẫn tăng 5.401 người (tăng 0,24%), trong đó tăng mạnh ở các đơn vị sự nghiệp thuộc các bộ, ngành ở Trung ương. Tình trạng sử dụng lao động hợp đồng làm công việc chuyên môn không đúng quy định tại các bộ, ngành, địa phương vẫn diễn ra khá phổ biến. Theo số liệu tổng kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị, số lượng người làm việc theo hợp đồng lao động ký theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ở các bộ, ngành, địa phương vượt chỉ tiêu được giao đến 45.152 người (tăng 56,75% so với năm 2021).

    Việc quản lý cán bộ, công chức ở một số bộ ngành, địa phương thiếu thống nhất, thiếu tập trung.

    Việc xây dựng kế hoạch biên chế hằng năm ở các bộ, ngành, địa phương chưa được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Bên cạnh nhiều bộ, ngành, địa phương sử dụng đúng hoặc ít hơn số biên chế được giao thì vẫn còn có bộ, ngành, địa phương sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao. Theo Báo cáo của Chính phủ, tính đến hết năm 2021, vẫn còn có 3/15 bộ có tổng cục sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao và 2/15 bộ có sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao tại các vụ, cục trực thuộc. Ở các địa phương, việc sử dụng vượt quá số biên chế được giao vẫn còn xảy ra ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, ngành, địa phương tăng nhanh (năm 2021 là 2.093.313 người, tăng so với năm 2011 là 121.736 người (tăng 5,8%), mặc dù thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị nhưng số biên chế sự nghiệp vẫn tăng 5.401 người (tăng 0,24%), trong đó tăng mạnh ở các đơn vị sự nghiệp thuộc các bộ, ngành ở Trung ương. Tình trạng sử dụng lao động hợp đồng làm công việc chuyên môn không đúng quy định tại các bộ, ngành, địa phương vẫn diễn ra khá phổ biến. Theo số liệu tổng kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị, số lượng người làm việc theo hợp đồng lao động ký theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ở các bộ, ngành, địa phương vượt chỉ tiêu được giao đến 45.152 người (tăng 56,75% so với năm 2021) https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/2018-tinh-gon-hang-ngan-dau-moi-giam-mot-loat-lanh-dao

    Nguyên Thanh Giang, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/xay-dung-dang/2017/48009/Ve-quan-ly-cong-chuc-vien-chuc-va-tinh-gian-bien-che.aspx

     

    Chỉ tính trong hai năm gần đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra làm rõ nhiều sai phạm đặc biệt nghiêm trọng, quyết định kỷ luật và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật đối với 59 cán bộ diện Trung ương quản lý, 13 cán bộ là ủy viên Trung ương và nguyên ủy viên Trung ương; một ủy viên Bộ Chính trị khóa XII. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên vi phạm…

     

    Nguyên Thanh Giang, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/xay-dung-dang/2017/48009/Ve-quan-ly-cong-chuc-vien-chuc-va-tinh-gian-bien-che.aspx

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Loại Hình Vận Tải Đa Phương Thức Trong Ngành Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam – Asg Corp
  • Hội Lhpn Xã Thanh Tương: Tăng Cường Các Giải Pháp Thu Hút, Tập Hợp Hội Viên
  • Hội Nghị Chuyên Đề “Tìm Giải Pháp Thu Hút Phụ Nữ Trong Độ Tuổi Tham Gia Tổ Chức Hội” Tại Hội Lhpn Xã Long Hưng, Huyện Phú Riềng
  • Thực Hiện 5 Giải Pháp Tập Hợp Hội Viên Phụ Nữ
  • Thực Trạng Văn Hóa Học Đường Hiện Nay
  • Thỏa Thuận Thời Gian, Biện Pháp Tổ Chức Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Khi Thi Công Trong Phạm Vi Đất Dành Đường Bộ Đối Với Đường Tỉnh Đang Khai Thác

    --- Bài mới hơn ---

  • Indonesia Với Làn Sóng Bùng Nổ Dân Số Hậu Covid
  • Chống Bạo Hành Gia Đình: Cần Sự Chung Tay Của Toàn Xã Hội
  • Pháp: 5 Biện Pháp Mới Trong Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình
  • 10 Cách Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình Phụ Nữ Phải Ghi Nhớ
  • Đồ Án Đánh Giá Hiện Trạng Môi Trường Rừng Ngập Mặn Cần Giờ Và Đề Xuất Biện Pháp Quản Lý
  • Thông tin thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trong phạm vi đất dành đường bộ đối với đường tỉnh đang khai thác – An Giang

    Cách thực hiện thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trong phạm vi đất dành đường bộ đối với đường tỉnh đang khai thác – An Giang

    Trình tự thực hiện

    Bước 1:

    Ban Quản lý dự án hoặc nhà thầu thi công nộp trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả. Nếu nộp hồ sơ và nhận kết quả thực hiện thủ tục hành chính qua đường bưu điện thì người thực hiện thủ tục hành chính nộp phí, lệ phí thực thực hiện thủ tục hành chính thông qua Công ty cổ phần bưu chính Viettel

    Bước 2:

    Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả:

    Hướng dẫn thủ tục, tiếp nhận hồ sơ yêu cầu, ghi phiếu hẹn ngày trả kết quả

    Chuyển hồ sơ đến Phòng Quản lý Giao thông

    Bước 3:

    Phòng Quản lý Giao thông:

    Kiểm tra, nếu hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì thông báo rõ nội dung cần bổ sung, sửa đổi

    Hồ sơ đầy đủ theo quy định, trình Lãnh đạo Sở ký văn bản thoả thuận về thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông khi thi công.

    Chuyển kết quả giải quyết về Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả

    Bước 4:

    Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả trả kết quả giải quyết trực tiếp cho người thực hiện thủ tục hành chính hoặc gửi trả qua đường bưu điện. Người thực hiện thủ tục hành chính trả phí dịch vụ chuyển phát cho Công ty cổ phần bưu chính Viettel nếu có yêu cầu trả kết quả qua đường bưu điện

    Điều kiện thực hiện

    Nội dung Văn bản quy định

    Các dự án nâng cấp, cải tạo đường bộ đang khai thác do Sở Giao thông Vận tải là chủ đầu tư, không phải đề nghị cấp giấy phép thi công

    Thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trong phạm vi đất dành đường bộ đối với đường tỉnh đang khai thác – An Giang

    Quyết định phê duyệt dự án

    Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công được duyệt

    Phương án thi công, biện pháp tổ chức thi công bảo đảm an toàn giao thông

    Các biểu mẫu của thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trong phạm vi đất dành đường bộ đối với đường tỉnh đang khai thác – An Giang

    Phí và lệ phí của thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trong phạm vi đất dành đường bộ đối với đường tỉnh đang khai thác – An Giang

    Cơ sở pháp lý của thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trong phạm vi đất dành đường bộ đối với đường tỉnh đang khai thác – An Giang

    Văn bản căn cứ pháp lý

    Văn bản công bố thủ tục

    Lược đồ Thỏa thuận thời gian, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trong phạm vi đất dành đường bộ đối với đường tỉnh đang khai thác – An Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thỏa Thuận Thời Gian Thi Công, Biện Pháp Tổ Chức Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Thi Công Các Dự Án Cải Tạo, Nâng Cấp, Mở Rộng Đường Bộ Trên Đường Tỉnh Đang Khai Thác (Sở Giao Thông Vận Tải Làm Chủ Đầu Tư)
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Bảo Đảm Trật Tự Atgt Đường Bộ
  • Cần Thơ Triển Khai Các Giải Pháp Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Đường Thủy
  • Bình Ổn Giá Xăng Dầu: Dùng Tiền Của Dân, Nhưng Dân Không Được Hưởng
  • “không Có Căn Cứ” Để Lập Quỹ Bình Ổn Giá Xăng Dầu
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Gắn Với Tinh Giản Biên Chế

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Nghiên Cứu Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Công Chức Xã Nam Hòa, Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên
  • Trung Tam Nckh & Dt Chung Khoan
  • Cổng Điện Tử Đại Biểu Dân Cử Tỉnh Bắc Giang
  • Nghiên Cứu Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đánh Giá
  • 4 Giải Pháp In Tem Chống Hàng Giả Hiệu Quả
  • Ngày đăng: 01/07/2019 02:46

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

    Về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

    Quán triệt nghiêm túc các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, nhận thức được vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra và thực hiện quyết liệt, nghiêm túc chủ trương “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả, bứt phá”. Việc triển khai đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, lãnh đạo sâu sát, bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực.

    Tuy nhiên, ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương vẫn còn tình trạng buông lỏng quản lý; kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ chưa nghiêm; vẫn nảy sinh những hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà tới người dân, doanh nghiệp. Biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức xảy ra ở nhiều nơi, nhiều chỗ. Tình trạng vi phạm pháp luật, quy chế, quy định trong hoạt động công vụ, có nhiều trường hợp bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử, bao gồm cả cán bộ, công chức, viên chức từ cơ sở cho tới cán bộ cao cấp ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau.

    Nhằm nâng cao văn hóa công vụ, góp phần hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ; đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân, xã hội, ngày 27-12-2018 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1847/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ. Theo đó, Đề án tập trung thực hiện các nội dung về tinh thần, thái độ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức; về chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức; chuẩn mực về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức và về trang phục của cán bộ, công chức, viên chức khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

    Bên cạnh việc triển khai thực hiện các nội dung của Đề án văn hóa công vụ thì các cấp, các ngành, các cơ quan trong hệ thống chính trị cần triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

    Thứ nhất, rà soát, hệ thống hóa để sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thực hiện theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương.

    Thứ hai, tăng cường phân cấp, giao trách nhiệm cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm trong việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động công vụ. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra về công tác cán bộ; xác minh, xử lý công khai, minh bạch các thông tin được phương tiện thông tin đại chúng hoặc nhân dân cung cấp.

    Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ; tổ chức đoàn công tác của Thủ tướng Chính phủ kiểm tra hoạt động công vụ tại các bộ, ngành, địa phương, tập trung vào nội dung chấp hành các quy định của pháp luật, kỷ luật, kỷ cương hành chính. Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm quy định về văn hóa công vụ tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu hình thức kỷ luật theo quy định của pháp luật. Tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22-4-2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc trong toàn hệ thống chính trị và bộ máy công quyền hành chính. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, ngăn chặn tệ “tham nhũng vặt”, biểu hiện nhũng nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc đối với người dân và doanh nghiệp; xử lý nghiêm việc chậm trễ trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

    Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương công vụ của công chức, viên chức; chú trọng đến văn hóa ứng xử của đội ngũ trực tiếp tiếp xúc với người dân, doanh nghiệp. Tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của toàn xã hội, của hệ thống chính trị và bộ máy công quyền nhà nước; lên án các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, mê tín, dị đoan, chạy theo lối sống thực dụng, trục lợi, vi phạm pháp luật, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

    Thứ năm, công khai, minh bạch trình tự, thủ tục hành chính giải quyết các công việc tại trụ sở các cơ quan. Thực hiện đồng bộ các giải pháp cải cách thủ tục hành chính, trong đó đặc biệt tập trung vào ứng dụng công nghệ thông tin của các bộ, ngành, địa phương; vận hành trục liên thông văn bản quốc gia để giảm bớt thủ tục hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu suất công việc, giảm thời gian xử lý văn bản.

    Về tinh giản biên chế

    Thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, các Nghị quyết Trung ương 6, 7 (khóa XII), Nghị quyết số 39/NQ-TW và Kết luận số 17-KL/TW của Bộ Chính trị: Tinh giản biên chế trong cả hệ thống chính trị đến năm 2021 phải đạt 10%; đồng thời thực hiện cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong đó đối với viên chức phải đạt tối thiểu 65% làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp tinh giản biên chế và siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ.

    Tại khối Chính phủ quản lý, tính đến năm 2021, biên chế công chức đã giảm được 6,75% so với số giao năm 2021; biên chế viên chức giảm 3,87% so với năm 2021. Tổng số cán bộ, công chức, viên chức, hợp đồng 68 (chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP) đã thực hiện tinh giản theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP từ năm 2021 đến 31-12-2018 là 41.268 người (năm 2021 là 5.778 người; năm 2021 là 11.923 người; năm 2021 là 12.660 người; 10 tháng đầu năm 2021: 10.907 người). Tuy nhiên, thực tế mới thực hiện giảm số lượng đơn thuần (số lượng giảm hầu hết là nghỉ hưu trước tuổi), chưa gắn việc giảm số lượng với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Biên chế sự nghiệp y tế và giáo dục thừa, thiếu cục bộ.

    Trước những tồn tại như vậy, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện các giải pháp:

    Quán triệt nghiêm túc các nghị quyết Trung ương và kết luận của Bộ Chính trị, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ đã được phân công, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chủ trương tinh giản biên chế, chính sách tinh giản biên chế đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc quyền quản lý, trong đó chú trọng công tác hoàn thiện thể chế.

    Rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy; xây dựng đề án vị trí việc làm phù hợp; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; trước mắt, Chính phủ sẽ bổ sung biên chế sự nghiệp y tế, giáo dục cho một số địa phương tăng dân số cơ học để bảo đảm nguyên tắc có học sinh có giáo viên đứng lớp, có người bệnh có cán bộ y tế theo Kết luận của Bộ Chính trị.

    Có cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và tiến tới bỏ chế độ “biên chế suốt đời”. Kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu.

    Chú trọng công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức để bảo đảm thực chất; tăng cường tự thanh tra, kiểm tra công vụ, phát hiện và xử lý nghiêm sai phạm. Thực hiện nghiêm túc việc phân loại, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức hằng năm để đưa ra khỏi bộ máy những người không đủ phẩm chất, năng lực trong thực hiện nhiệm vụ công vụ, giảm số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    Theo: xaydungdang.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức
  • Lv: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Ủy Ban Nhân Dân Huyện
  • Tăng Cường Công Tác Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới
  • Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Logistics Hàng Không
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Vận Tải Hàng Hóa Hàng Không Cùa Fedex Express Tại Tp.hcm
  • Cấp Giấy Chứng Nhận Cơ Sở Đủ Điều Kiện An Toàn Thực Phẩm Đối Với Cơ Sở Sản Xuất, Kinh Doanh Nước Khoáng Thiên Nhiên, Nước Uống Đóng Chai, Bao Bì, Dụng Cụ Tiếp Xúc Trực Tiếp Với Thực Phẩm Thuộc Phạm Vi Quản Lý Của Ngành Y Tế; Cơ Sở Nhỏ Lẻ Sản Xuất Thực Phẩm Chức Năng, Thực Phẩm Tăng Cường Vi Chất Dinh Dưỡng, Phụ Gia Thực Phẩm, Chất Hỗ Trợ Chế Biến Thực Phẩm; Cơ Sở Nhỏ Lẻ Kinh Doanh Thực Phẩm Chức Năng, Thực Phẩm Tăng Cường Vi Chất Dinh Dưỡng, Phụ Gia Thực Phẩm, Chất Hỗ Trợ Chế Biến Thực Phẩm Có Yêu Cầu Bảo Quản Sản Phẩm Đặc Biệt

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Tây Nguyên: Nghiên Cứu Khoa Học Về Vệ Sinh, Dịch Tễ, Phòng Chống Dịch Bệnh
  • Bác Sỹ Y Học Cổ Truyền
  • Tuyển Dụng, Việc Làm Y Bác Sĩ Y Học Cổ Truyền Tháng 6/2020
  • Lớp Avant A+3 Tại Cộng Hòa Áo Đào Tạo Giảng Viên Nguồn
  • Y Sĩ Đa Khoa Là Gì ? Công Việc Và Cơ Hội
  • Thông tin thủ tục hành chính Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với Cơ sở sản xuất, kinh doanh nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế; Cơ sở nhỏ lẻ sản xuất thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Cơ sở nhỏ lẻ kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có yêu cầu bảo quản sản phẩm đặc biệt – Cà Mau

    Cách thực hiện thủ tục hành chính Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với Cơ sở sản xuất, kinh doanh nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế; Cơ sở nhỏ lẻ sản xuất thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Cơ sở nhỏ lẻ kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có yêu cầu bảo quản sản phẩm đặc biệt – Cà Mau

    Trình tự thực hiện

    Bước 1:

    Chuẩn bị hồ sơ:

    Tổ chức, cá nhân chuẩn bị hồ sơ theo mục 3 thủ tục này, hoặc liên hệ với Phòng Đăng ký và chứng nhận sản phẩm – Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Cà Mau (số 58 Phan Đình Phùng, phường 4, thành phố Cà Mau) để được hướng dẫn và chuẩn bị hồ sơ theo quy định của pháp luật vào giờ hành chính các ngày làm việc trong tuần (trừ ngày lễ) cụ thể như sau:

    – Buổi sáng: Từ 7 giờ 00 đến 11 giờ 00 phút.

    – Buổi chiều: Từ 13 giờ 00 đến 17 giờ 00 phút.

    Bước 2:

    Nộp hồ sơ:

    Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ tại Phòng Đăng ký và chứng nhận sản phẩm – Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Cà Mau vào thời gian cụ thể như trên. Chuyên viên thụ lý hồ sơ xem xét:

    – Nếu hồ sơ hợp lệ thì tiếp nhận, thu phí và ghi phiếu hẹn.

    – Nếu hồ sơ không hợp lệ thì hướng dẫn 01 lần để tổ chức, cá nhân bổ sung hoàn chỉnh thủ tục.

    Bước 3:

    Nhận kết quả

    Theo thời gian ghi trong phiếu hẹn, tổ chức, cá nhân mang phiếu hẹn đến Phòng Đăng ký và chứng nhận sản phẩm đóng lệ phí và nhận kết quả vào thời gian cụ thể như trên.

    Điều kiện thực hiện

    Nội dung Văn bản quy định

    – Cơ sở đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợp với từng loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo quy định tại Chương IV Luật An toàn thực phẩm số năm 2010 (tiết a, khoản 1, Điều 34, Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010)

    – Có đăng ký ngành, nghề kinh doanh thực phẩm trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (tiết b, khoản 1, Điều 34, Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010)

    Chưa có văn bản!

    Thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với Cơ sở sản xuất, kinh doanh nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế; Cơ sở nhỏ lẻ sản xuất thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Cơ sở nhỏ lẻ kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có yêu cầu bảo quản sản phẩm đặc biệt – Cà Mau

    Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (01 bản chính – mẫu 1 ban hành kèm theo Thông tư số 26/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 của Bộ Y tế)

    Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm (01 bản sao có xác nhận của cơ sở)

    Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm (01 bản chính có xác nhận của cơ sở), bao gồm:

    a) Bản vẽ sơ đồ thiết kế mặt bằng của cơ sở và khu vực xung quanh

    b) Sơ đồ quy trình sản xuất thực phẩm hoặc quy trình bảo quản, phân phối sản phẩm và bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ của cơ sở

    Giấy xác nhận tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm của chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm:

    a) Đối với cơ sở dưới 30 người: Nộp bản sao giấy xác nhận (01 bản chính có xác nhận của cơ sở)

    b) Đối với cơ sở từ 30 người trở lên: nộp danh sách đã được tập huấn (01 bản chính có xác nhận của cơ sở)

    Giấy xác nhận đủ sức khỏe chủ cơ sở và của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phiếu báo kết quả cấy phân âm tính mầm bệnh gây bệnh đường ruột (tả, lỵ trực khuẩn và thương hàn) của người trực tiếp sản xuất thực phẩm đối với những vùng có dịch bệnh tiêu chảy đang lưu hành theo công bố của Bộ Y tế:

    a) Đối với cơ sở dưới 30 người: nộp bản sao giấy xác nhận (01 bản chính có xác nhận của cơ sở)

    b) Đối với cơ sở từ 30 người trở lên: nộp danh sách kết quả khám sức khỏe, xét nghiệm phân của chủ cơ sở và của người tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm (01 bản chính có xác nhận của cơ sở)

    Các biểu mẫu của thủ tục hành chính Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với Cơ sở sản xuất, kinh doanh nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế; Cơ sở nhỏ lẻ sản xuất thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Cơ sở nhỏ lẻ kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có yêu cầu bảo quản sản phẩm đặc biệt – Cà Mau

    Phí và lệ phí của thủ tục hành chính Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với Cơ sở sản xuất, kinh doanh nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế; Cơ sở nhỏ lẻ sản xuất thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Cơ sở nhỏ lẻ kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có yêu cầu bảo quản sản phẩm đặc biệt – Cà Mau

    Cơ sở pháp lý của thủ tục hành chính Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với Cơ sở sản xuất, kinh doanh nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế; Cơ sở nhỏ lẻ sản xuất thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Cơ sở nhỏ lẻ kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có yêu cầu bảo quản sản phẩm đặc biệt – Cà Mau

    Văn bản căn cứ pháp lý

    1. Thông tư 149/2013/TT-BTC quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành

    2. Luật an toàn thực phẩm 2010

    3. Nghị định 38/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật an toàn thực phẩm

    4. Thông tư 26/2012/TT-BYT quy định cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế

    5. Thông tư 15/2012/TT-BYT quy định điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành

    6. Thông tư 16/2012/TT-BYT quy định điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế

    Văn bản công bố thủ tục

    1. Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận – Cà Mau

    2. Xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm đối với sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật bao gồm sản xuất trong nước là thực phẩm bao gói sẵn (trừ thực phẩm chức năng), vật liệu bao gói, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm – Cà Mau

    3. Cấp giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy đối với sản phẩm sản xuất trong nước là thực phẩm bao gói sẵn (trừ thực phẩm chức năng), vật liệu bao gói, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Trường hợp Công bố hợp quy dựa trên kết quả tự đánh giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm (bên thứ nhất) – Cà Mau

    6. Cấp lại giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy đối với sản phẩm sản xuất trong nước là thực phẩm bao gói sẵn (trừ thực phẩm chức năng), vật liệu bao gói, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm – Cà Mau

    7. Cấp giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm đối với tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc ngành y tế quản lý trên địa bàn tỉnh – Cà Mau

    Lược đồ Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với Cơ sở sản xuất, kinh doanh nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế; Cơ sở nhỏ lẻ sản xuất thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Cơ sở nhỏ lẻ kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có yêu cầu bảo quản sản phẩm đặc biệt – Cà Mau

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bs Võ Xuân Sơn: Tiêu Cực Của Ngành Y Không Phải Là Nguyên Nhân Chính Gây Ra Bạo Hành Y Tế
  • Trách Nhiệm Của Trường Học Trong Công Tác Y Tế Trường Học Được Quy Định Thế Nào?
  • Trung Tâm Y Tế Huyện Ea Kar
  • Các Trung Tâm Y Tế Cấp Huyện Triển Khai Nhiều Kỹ Thuật Mới Và Khó
  • Hướng Đi Nào Cho Trạm Y Tế Xã, Phường?
  • Nghiên Cứu Mối Liên Quan Giữa Biến Đổi Mức Lọc Cầu Thận Trước Và Sau Ghép Đo Bằng Xạ Hình Chức Năng Thận Với Một Số Yếu Tố, Chỉ Số Trước Ghép

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Số Creatinine 1.35 Có Phải Suy Thận Độ 3A? Điều Trị Thế Nào?
  • Độ Lọc Cầu Thận Ước Tính (Egfr) Là Gì?
  • Thăm Dò Chức Năng Thận
  • Xét Nghiệm Thăm Dò Chức Năng Thận
  • Các Nghiệm Pháp Thăm Dò Dòng Máu Thận
  • t¹p chÝ y – d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ghÐp t¹ng – 2021

    99m

    Tc-DTPA.

    Relation between Allograft Renal Function before and after Kidney

    Transplantation by 99mTc-DTPA SPECT with some Pretransplant Indices

    Summary

    Objectives: To assess the relation between allograft renal function before and after kidney

    99m

    transplant by

    Tc-DTPA SPECT with age, gender, relation, period of dialysis, HLA matching,

    donor allograft renal function Subjects and methods: 34 kidney recipients had been measured

    allograft renal function 3 months after kidney transplant and saved donor baseline allograft renal

    99m

    function before nephrectomy by

    Tc-DTPA SPECT. Reversed renal allograft function change

    was significantly higher in recipients with the HLA matching ≥ 3 allen, lower donor allograft renal

    function, lower allograft renal function of harvested kidney than the other recipients; was not

    significantly associated with age, gender, relation and period of dialysis.

    * Keywords: Kidney transplantation; Allograft renal function;

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Ghép thận được coi là biện pháp điều

    trị thay thế thận tối ưu vì sau ghép thận

    thành công, tất cả các chức năng của

    thận được phục hồi, chất lượng cuộc sống

    của bệnh nhân (BN) được cải thiện. Quá

    99m

    Tc-DTPA; HLA matching.

    trình hồi phục chức năng thận sau ghép

    chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố sinh

    bệnh học như yếu tố ngoại khoa, miễn dịch,

    ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của những

    yếu tố cơ bản gắn liền với từng cặp ghép

    như tuổi, giới, mức độ hòa hợp HLA,

    1. Bệnh viện Quân y 103

    Người phản hồi (Corresponding): Phạm Quốc Toản ([email protected])

    Ngày nhận bài: 20/08/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 27/09/2018

    Ngày bài báo được đăng: 05/10/2018

    58

    * Tiêu chuẩn loại trừ:

    – Nguồn thận ghép: từ người cho chết

    não.

    – BN có biến đổi bất thường chức năng

    thận, có nhiễm khuẩn tại thời điểm làm xạ

    hình chức năng thận.

    – BN có rối loạn về tâm thần và các

    bệnh lý thần kinh thực tổn khác.

    – BN không được theo dõi đầy đủ theo

    kế hoạch.

    – BN không đồng ý tham gia nghiên cứu.

    2. Phương pháp nghiên cứu.

    * Thiết kế nghiên cứu:

    Nghiên cứu tiến cứu kết hợp hồi cứu,

    mô tả cắt ngang, có so sánh trước sau.

    * Nội dung nghiên cứu:

    – Lập mẫu bệnh án nghiên cứu thống

    nhất.

    – Hồi cứu những dữ liệu về cặp ghép

    tại thời điểm ghép thận.

    – Chỉ định và làm xạ hình chức năng

    thận với 99mTc-DTPA.

    + Thiết bị: máy Gamma camera

    SPECT (Hãng GE), collimator năng lượng

    thấp, độ phân giải cao.

    + Thuốc phóng xạ:

    . Đơn vị phóng xạ: 99mTc có: T1/2 = 6 giờ;

    mức năng lượng Eγ = 140 keV.

    . Hợp chất đánh dấu: DTPA có thời

    gian bán thải sinh học < 2,5 giờ, 90% đào

    thải ra khỏi cơ thể sau 24 giờ.

    . Liều dùng: 0,3 mCi/kg cân nặng, liều

    tối thiểu 5 mCi; tối đa 15 mCi.

    + Các bước tiến hành:

    . Tách chiết 99mTc từ bình sinh xạ

    Mo/Tc, lấy dung dịch 99mTc pertechnetate

    bơm vào lọ kít DTPA, lắc nhẹ, ủ trong

    59

    t¹p chÝ y – d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ghÐp t¹ng – 2021

    15 phút ở nhiệt độ phòng. Liều 99mTc-DTPA

    cho mỗi BN 5 – 15 mCi trong thể tích

    < 0,5 – 1 ml.

    . Tư thế BN: nằm ngửa.

    . Tư thế ghi hình: mặt trước, vùng hố

    chậu hay vùng có thận ghép.

    . Tiêm bolus tĩnh mạch liều

    đã chuẩn bị.

    99m

    xuất (excrestion): 60 giây/hình x 20 – 30

    hình.

    – Biến đổi MLCT = (MLCT sau ghép MLCT trước ghép) x 100/MLCT trước ghép.

    * Xử lý số liệu và đạo đức y học trong

    nghiên cứu:

    Tc-DTPA

    – Số liệu được xử lý bằng phần mềm

    SPPP 16.0.

    . Ghi hình ngay khi tiêm: pha tưới máu

    (flow): 1 giây/hình x 60 hình; pha lọc – bài

    – Nội dung nghiên cứu không vi pham

    đạo đức y học.

    KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.

    Đặc điểm

    Nam/nữ

    Tuổi (năm)

    BN ghép thận

    Người hiến

    25/9

    22/12

    37,3 ± 8,8

    37,9 ± 10,8

    MLCT của thận hiến (ml/phút)

    122,9 ± 21,9

    MLCT của thận hiến (ml/phút)

    56,8 ± 11,1

    Lọc máu/chưa lọc máu

    Thời gian sau ghép (tháng)

    Số alen HLA hòa hợp

    – Đối tượng nghiên cứu cả BN và người hiến thận, nam chiếm đa số (74% và 65%

    so với nữ 26% và 35%).

    – Số cặp ghép có alen HLA hòa hợp là 3 chiếm tỷ lệ cao nhất (14 BN = 41,2%), các

    trường hợp khác chiếm tỷ lệ thấp hơn.

    Bảng 2: MLCT của BN sau ghép đo bằng xạ hình thận.

    MLCT (ml/phút)

    Số lượng (n = 34)

    Tỷ lệ (%)

    < 90

    16

    47,1

    90 – < 120

    12

    35,3

    ≥ 120

    6

    17,6

    34

    100

    98,7 ± 24,1 (67,9 – 159,8)

    t¹p chÝ y – d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ghÐp t¹ng – 2021

    Biểu đồ 1: MLCT của thận ghép trước và sau ghép đo bằng xạ hình thận.

    Tất cả BN sau khi ghép thận có MLCT sau ghép đều tăng so với MLCT của thận

    hiến trước ghép.

    Bảng 3: Biến đổi MLCT thận ghép của BN.

    Biến đổi MLCT (%)

    Số lượng (n = 34)

    Tỷ lệ (%)

    < 50

    9

    26,5

    50 – < 100

    13

    38,2

    ≥ 100

    12

    35,3

    98,9 ± 24,8

    Nữ

    98, 5 ± 23,7

    Nam

    102,2 ± 25,4

    Nữ

    89,1 ± 17,7

    Cùng

    101,4 ± 25,2

    Khác

    93,3 ± 23,4

    Thời gian

    < 36 tháng

    98,4 ± 24,6

    lọc máu trước ghép

    98,2 ± 25,2

    Giới tính người hiến

    Giới tính người nhận

    Huyết thống

    Biến đổi MLCT

    p

    78,8 ± 47,7

    85,8 ± 47,6

    60,1 ± 43,7

    82,2 ± 50,5

    76,9 ± 46,4

    61,5 ± 56,3

    83,7 ± 49,8

    t¹p chÝ y – d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ghÐp t¹ng – 2021

    Bảng 5: Tương quan giữa MLCT, mức biến đổi MLCT đo bằng xạ hình thận sau

    ghép với tuổi người hiến, tuổi người nhận.

    Chỉ số

    MLCT đo bằng xạ hình

    Biến đổi MLCT

    r

    p

    r

    p

    Tuổi người hiến

    – 0,33

    0,172

    Tuổi BN ghép

    – 0,229

    0,277

    Tổng số alen HLA phù hợp

    0,05

    -0,464

    < 0,05

    – MLCT của người hiến: MLCT của thận hiến tương quan không có ý nghĩa với

    MLCT trên xạ hình sau ghép, nhưng có tương quan nghịch có ý nghĩa với mức biến

    đổi MLCT sau ghép.

    – MLCT của thận hiến ở giới hạn thấp sẽ có mức biến đổi MLCT cao.

    62

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Chỉ Số Creatinin Bình Thường
  • Nguy Cơ Tái Phát Sỏi Thận Do Dùng Thuốc Bổ Sung Canxi
  • Thuốc Bổ Thận Kanka Japan (Nhật Bản) Có Tốt Không?
  • Những Thực Phẩm Bổ Thận Sinh Tinh Cải Thiện Chức Năng Thận
  • Top 14 Thức Ăn, Thực Phẩm Bổ Thận Tráng Dương Sinh Tinh
  • Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Thứ năm, 30 Tháng 7 2021 15:48

    (LLCT) – Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Gia đình với tư cách là một thiết chế then chốt và cơ bản của xã hội cũng chịu những tác động sâu sắc từ những biến đổi về kinh tế, xã hội, trong đó chức năng kinh tế của gia đình đang có những biến đổi lớn.

    1. Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình.

    Cho đến nay, các nghiên cứu đều cho rằng, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình chuyển đổi từ đơn vị sản xuất sang đơn vị tiêu dùng. Các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay dường như không còn là đơn vị kinh tế tự sản xuất, tự tiêu thụ mà đã bắt đầu cung ứng ra thị trường. Hiện nay, gia đình vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình theo đuổi các mục đích khác nhau cùng với các hoạt động kinh tế khác nhau; trong đó, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống. Với cách hiểu này, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã khiến cho sự thay đổi mục đích và hoạt động sản xuất của các thành viên trong gia đình. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, chức năng kinh tế hộ gia đình trải qua hai bước chuyển đổi: chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hóa và chuyển kinh tế gia đình hàng hóa thành kinh tế gia đình thị trường hiện đại. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, gia đình không sử dụng những sản phẩm của mình làm ra mà sử dụng hàng hóa và dịch vụ xã hội.

    Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình Việt Nam thể hiện khá rõ nét trong những năm gần đây. Theo điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cho thấy, số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản có xu hướng giảm và số hộ hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Năm 2006, có 71,06% số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 62,15%. Trong khi đó, tỷ lệ hộ nông thôn hoạt động công nghiệp tăng từ 10,18% năm 2006 lên 15,03% năm 2011; tỷ lệ ở hộ nông thôn hoạt động dịch vụ tăng từ 14,92% năm 2006 lên 18,41% năm 2011.

    Ở đồng bằng sông Hồng, tình trạng chuyển đổi này cũng diễn ra khá nhanh. Kết quả thống kê cho thấy, nếu năm 2006 có 60,50% hộ gia đình hoạt động trong ngành nghề nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011 chỉ còn 47,44%; trong khi đó, tỷ lệ hộ công nghiệp và xây dựng ở nông thôn tăng từ 16,09% năm 2006 lên 23,48% năm 2011, tỷ lệ hộ dịch vụ tăng từ 16,94% năm 2006 lên 21,37% năm 2011. Kết quả này phản ánh sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn, hộ gia đình từ một đơn vị sản xuất tự cấp, tự túc đã chuyển sang đơn vị tiêu dùng. Xu hướng thay đổi ở đồng bằng sông Hồng diễn ra khá nhanh so với cả nước.

    Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã cho thấy sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã và đang hiện hữu ở nước ta nói chung, đồng bằng sông Hồng nói riêng. Chức năng kinh tế của một gia đình biến đổi khi có một hay nhiều thành viên lao động không tham gia vào các hoạt động sản xuất của gia đình hoặc tất cả thành viên lao động của gia đình đều có hoạt động sản xuất ở bên ngoài gia đình với tư cách cá nhân. Một gia đình còn duy trì chức năng kinh tế khi còn ít nhất hai lao động tham gia vào quá trình sản xuất của gia đình. Khi gia đình chỉ còn một lao động hoặc không có lao động thực hiện các hoạt động sản xuất của gia đình thì gia đình đó không còn có chức năng kinh tế. Điều này có thể hiểu rằng, quá trình biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình giảm dần và tiến tới chỗ không còn thực hiện chức năng kinh tế của nó với tư cách là một đơn vị sản xuất. Trong xã hội nông nghiệp truyền thống ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, trên 95% các gia đình đều có chức năng kinh tế như là một đơn vị sản xuất trong nông nghiệp, hoặc tiểu thủ công nghiệp.

    2. Biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình

    Qua kết quả điều tra do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện năm 2012 (các tỉnh) ở đồng bằng sông Hồng cho thấy, cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình hiện nay.

    Về cơ cấu nghề của hộ gia đình theo địa bàn nghiên cứu.Các số liệu điều tra cho thấy, số hộ làm nghề nông nghiệp là 34,3%; tiểu thủ công nghiệp là 8,9%; buôn bán, dịch vụ là 8,5% và làm các nghề khác là 48,3%. Cơ cấu nghề của các hộ có những khác biệt nhất định ở 4 tỉnh:

    Phân tích số liệu cơ cấu nghề của hộ gia đình theo giới tính chủ hộ cho thấy, các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ có xu hướng làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhiều hơn, các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ có xu hướng làm buôn bán, dịch vụ nhiều hơn (Xem bảng trên).

    Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo độ tuổi của chủ hộ

    Những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 20 – 39 ít có xu hướng làm nông nghiệp (dưới 10%) so với những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 40 trở lên. Hộ gia đình có chủ hộ tuổi 40 – 49 có tỷ lệ làm nông nghiệp gấp hơn 3 lần so với hai nhóm tuổi trẻ hơn; và hộ gia đình có chủ hộ tuổi 50 – 59 và trên 60 có tỷ lệ làm nông nghiệp gần gấp đôi so với nhóm tuổi trẻ hơn. Như vậy, có thể thấy sự biến đổi có tính bước ngoặt trong chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.

    Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo trình độ học vấn của chủ hộ

    Trình độ học vấn của chủ hộ và nghề nghiệp của các hộ gia đình có mối quan hệ khá rõ nét. Học vấn của chủ hộ gia đình càng thấp thì xác suất làm nghề nông nghiệp càng lớn hơn. Các chủ hộ gia đình có học vấn lớp

    1 – 5 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 49,1%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 35,1% và các hộ gia đình, chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 27,1%.

    Các số liệu cũng cho thấy mối quan hệ giữa học vấn của chủ hộ với xác suất làm các nghề buôn bán, dịch vụ của các hộ gia đình. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 1 – 5 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 5,3%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 7,7% và các hộ gia đình có chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm buôn bán, dịch vụ là 11,9%.

    Quan hệ cơ cấu nghề của hộ gia đình và quy mô diện tích đất sản xuất

    Phân tích mối quan hệ giữa bình quân diện tích đất sản xuất /đầu người và ngành nghề của hộ gia đình cho thấy kết quả như sau: các hộ nông nghiệp có bình quân diện tích đất sản xuất cao nhất với 630 m 2; các hộ buôn bán, dịch vụ là 551 m 2; các hộ làm tiểu thủ công nghiệp là 417 m 2 và các hộ làm nghề khác là 513m 2. So với các số liệu về bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp, các hộ buôn bán, dịch vụ có tăng thêm đáng kể diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp so với các loại hộ khác. Trong hoạt động thương mại, dịch vụ, mặt bằng sản xuất là đất đai cũng là một yếu tố rất quan trọng để mở rộng quy mô hoạt động buôn bán, kinh doanh. Các hộ thương mại, dịch vụ thường có diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp nhiều hơn các loại hình hộ sản xuất khác.

    Có hai yếu tố ảnh hưởng mạnh tới quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các cá nhân đó là yếu tố thế hệ và trình độ học vấn. Những người lao động ở độ tuổi càng trẻ thì xác suất làm nông dân càng thấp và những người lao động có trình độ học vấn càng cao thì xác suất làm nông dân càng thấp hơn. Những lao động ở nông thôn thuộc các thế hệ trẻ (dưới 40 tuổi) và có trình độ học vấn lớp 10 trở lên có xu hướng thoát ly hộ gia đình nông nghiệp và làm các nghề phi nông nghiệp ngày càng tăng. Quá trình này làm giảm tỷ trọng các hộ nông nghiệp, và từ đó làm giảm tỷ trọng các hộ còn duy trì chức năng kinh tế của hộ gia đình nói chung.

    Quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ nông dân sang các loại hình hộ kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ là một quá trình tất yếu khách quan ở nông thôn hiện nay. Trong những điều kiện đất đai canh tác ngày càng hạn chế, thu nhập lao động nông nghiệp thấp so với tất cả các ngành nghề khác trong xã hội và không thể đáp ứng được nhu cầu đời sống ngày càng cao, việc thoát ly sản xuất nông nghiệp là không thể tránh khỏi đối với một bộ phận lớn lao động nông thôn. Tuy nhiên, để có thể chuyển đổi nghề của một hộ gia đình sang các lĩnh vực kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ đều cần một lượng vốn nhất định. Do đó, chỉ có một bộ phận số hộ nông nghiệp có khả năng chuyển đổi nghề sang các lĩnh vực khác với tư cách là một đơn vị hộ kinh tế. Số hộ nông nghiệp còn lại sẽ không có khả năng tiếp tục thực hiện các chức năng kinh tế hộ khi các thành viên lao động thoát ly và làm các nghề khác. Số liệu khảo sát cho thấy, trong các hộ nông nghiệp, tỷ lệ hộ thuần nông nghiệp chiếm 35%. Do đó, số hộ kinh tế nông nghiệp sẽ ngày càng giảm.

    Với quy mô đất canh tác giảm và thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hiện nay, ước tính để duy trì hoạt động của các hộ nông nghiệp như là một đơn vị kinh tế và bảo đảm thu nhập cho lao động nông nghiệp ở mức trung bình của xã hội, quy mô đất canh tác của hộ cần tăng 3 – 4 lần. Như vậy, tức là số hộ nông nghiệp sẽ giảm 3 – 4 lần. Tỷ trọng các hộ sản xuất nông nghiệp sẽ giảm từ hơn 30% như hiện nay xuống còn khoảng 10% trong vòng 10 năm tới.

    Trong ba loại hình kinh tế hộ, các hộ kinh tế tiểu thủ công nghiệp và buôn bán dịch vụ có thể duy trì và tăng số lượng, nhưng sẽ khó tăng nhanh do những khó khăn về nguồn vốn và chất lượng lao động, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái hiện nay. Do đó, trong giai đoạn 10 – 20 năm tới, với đà giảm số lượng các hộ nông nghiệp, tỷ trọng các hộ gia đình có chức năng kinh tế sẽ tiếp tục giảm.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2014

    TS Đặng Ánh Tuyết

    Viện Xã hội học,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công
  • Khảo Sát Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Tại Các Cơ Quan Hành Chính
  • Kiểm Soát Tham Nhũng Trong Khu Vực Công
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Công Quanlycong Ppt
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Công
  • Thực Hiện Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Đối Với Nữ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Giai Đoạn 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Thi Hành Biện Pháp Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Giáo Dục Và Đào Tạo
  • 5 Giải Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Từ Sửa Đổi Bộ Luật Lao Động
  • Tờ Trình Chính Phủ Nghị Định Qui Định Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới
  • Yêu Cầu Áp Dụng Biện Pháp Bảo Đảm Thi Hành Án Được Không?
  • Các Biện Pháp Bảo Đảm Thi Hành Án
  • Ngày đăng: 23/09/2017 02:09

    Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2021 – 2021 được ban hành nhằm mục tiêu giảm sự chênh lệch về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực giữa nữ cán bộ, công chức, viên chức so với nam cán bộ, công chức, viên chức trong quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng tại cơ quan, tổ chức của Nhà nước; đồng thời góp phần xây dựng và phát triển vững chắc đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với những nội dung cơ bản như sau:

    1. Những nội dung cơ bản của Đề án

    1.1 Đối tượng, phạm vi của Đề án

    1.2 Tình hình thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức thời gian qua

    Công tác cán bộ nữ đã được quan tâm chỉ đạo quyết liệt; từng bước lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức và trong bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân đã có nhiều tiến bộ trong các nhiệm kỳ vừa qua; tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý có xu hướng tăng lên. Công tác quy hoạch, tạo nguồn nữ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được thực hiện trên cơ sở bảo đảm bình đẳng giới. Việc bố trí, sắp xếp, sử dụng, giới thiệu nữ cán bộ, công chức, viên chức vào cấp ủy, bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp được căn cứ trên cơ sở quy hoạch cán bộ; đồng thời được tạo điều kiện tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ.

    Tuy nhiên, một số cấp ủy đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn chưa quan tâm đến công tác cán bộ nữ. Công tác quy hoạch, tạo nguồn đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức của nhiều bộ, ngành, địa phương thực hiện chưa tốt, chưa chủ động và chưa có chiến lược lâu dài. Tỷ lệ nữ đại biểu dân cử, nữ lãnh đạo, quản lý các cấp, tỷ lệ nữ được giới thiệu ứng cử vẫn còn thấp, chưa đạt chỉ tiêu, yêu cầu đề ra. Tỷ lệ nữ cán bộ, công chức, viên chức được tham gia đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp, chưa đạt tỷ lệ theo quy định.

    Những tồn tại, hạn chế nêu trên là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

    Quan điểm, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền ở một số địa phương, đơn vị về bình đẳng giới, về vai trò và năng lực của phụ nữ còn hạn chế. Chưa có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, cương quyết, thường xuyên của các cấp ủy đảng và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ban, ngành trong công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức.

    Chưa có chính sách mang tính đột phá trong công tác quy hoạch, tạo nguồn đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức. Công tác truyền thông, thông tin về công tác nữ, công tác cán bộ nữ chưa thường xuyên, còn hạn chế về nội dung và hình thức thể hiện. Sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác cán bộ nữ chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ tại các cấp, các ngành. Một bộ phận nữ cán bộ, công chức, viên chức còn tự ti, chưa mạnh dạn khẳng định vai trò, vị trí của mình trong xã hội; còn gặp khó khăn hơn so với nam giới do trách nhiệm đối với công việc nội trợ gia đình.

    1.3 Nhiệm vụ, giải pháp thực hiện

    Để thực hiện hiệu quả các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức trong giai đoạn tới, trọng tâm là giảm sự chênh lệch về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực giữa nữ cán bộ, công chức, viên chức so với nam cán bộ, công chức, viên chức, Quyết định số 515/QĐ-TTg đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

    – Nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ.

    Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ; đa dạng hóa các hình thức truyền thông, tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới và vị trí, vai trò của nữ cán bộ, công chức, viên chức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện công tác cán bộ nữ theo thẩm quyền, bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới.

    – Tăng cường công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ, công chức, viên chức nữ bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới.

    Xây dựng và phê duyệt quy hoạch nguồn nữ cán bộ, công chức, viên chức vào các chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp tại các cơ quan, tổ chức nhà nước bảo đảm tỷ lệ theo quy định; định kỳ hàng năm rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch. Triển khai thực hiện quy hoạch nguồn nữ cán bộ, công chức, viên chức gắn với bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng.

    Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, hàng năm cho đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là nữ trong diện quy hoạch để đảm bảo đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định.

    – Bảo đảm bình đẳng giới trong bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức.

    Người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm bố trí, phân công công tác đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đúng quy định, không phân biệt đối xử giữa nam và nữ ở cùng chức vụ, chức danh, vị trí việc làm, trừ những công việc quy định phụ nữ không được làm; thực hiện kiện toàn, sắp xếp, bổ nhiệm các chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp bảo đảm tỷ lệ nữ theo các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; ưu tiên lựa chọn nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định và trong quy hoạch chức vụ, chức danh đó; bố trí, tạo điều kiện, cơ hội để nữ cán bộ, công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức và yêu cầu, tiêu chuẩn của chức vụ, chức danh đảm nhiệm.

    – Nâng cao năng lực đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

    Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức của các bộ, ngành, địa phương đến năm 2021; lồng ghép nội dung về bình đẳng giới trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, trong đó chú trọng đối tượng làm công tác xây dựng và hoạch định chính sách trong các cơ quan, tổ chức. Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo, quản lý, nữ trong diện quy hoạch chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp, nữ đại biểu dân cử nhiệm kỳ 2021 – 2021.

    – Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới.

    Cơ quan quản lý các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát công tác quy hoạch, tạo nguồn, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý bảo đảm thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo quy định. Tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát chuyên ngành và liên ngành về thực hiện các quy định về công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới.

    1.4 Tổ chức thực hiện

    – Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn các cơ quan, tổ chức xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện; tiếp tục tham mưu, hoàn thiện thể chế, chính sách về quy hoạch, tạo nguồn, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về nữ cán bộ, công chức, viên chức; tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo, quản lý, nữ trong diện quy hoạch; kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    – Bộ Tài chính bố trí ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện Đề án theo quy định của pháp luật.

    – Các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai các nội dung của Đề án và kiểm tra, giám sát việc thực hiện; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Nội vụ; thực hiện công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền bảo đảm bình đẳng giới.

    2. Vấn đề cần lưu ý khi tổ chức thực hiện Đề án

    – Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2021 – 2021 được đề cao và đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện công tác cán bộ nữ tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình quản lý.

    – Việc triển khai thực hiện Đề án tại các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện trên cơ sở các mục tiêu, chỉ tiêu về công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới mà Đảng và Nhà nước đã đề ra và cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia thực hiện như Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs), Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) đến năm 2030 của Liên hợp quốc.

    – Việc thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2021 – 2021 tập trung vào các nội dung quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị. Cần đặc biệt quan tâm thực hiện công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn để quy hoạch, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định.

    – Các bộ, ngành, địa phương chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hàng năm và đến năm 2021 về đào tạo, bồi dưỡng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức của bộ, ngành, địa phương mình, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức và yêu cầu, tiêu chuẩn của chức vụ, chức danh đảm nhiệm./.

    Thanh Thị Hạnh – Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Bộ Nội vụ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Chính Sách, Pháp Luật Hiện Nay
  • Các Hình Thức Của Bảo Đảm Tiền Vay
  • Khái Niệm Chung Về Bảo Đảm Tiền Vay
  • Bảo Đảm Tiền Vay Của Tổ Chức Tín Dụng
  • Bảo Đảm Tiền Vay Là Gì ? Khái Niệm Bảo Đảm Tiền Vay ?
  • ★ Tìm Hiểu Lịch Uống Sữa Cho Bé Sơ Sinh Khoa Học, Đúng Cách

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 5 Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Tốt Nhất Trên Thị Trường Hiện Nay
  • Ủ Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Là Gì?
  • Sữa Similac Cho Trẻ Sơ Sinh 400G Giá Bao Nhiêu Trên Thị Trường Hiện Nay?
  • Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Dạng Gói Là Gì?
  • Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Mát Người Và Tránh Táo Bón
  • Nuôi dạy con thế nào cho đúng cách và khoa học luôn là nỗi băn khoăn của rất nhiều bà mẹ trẻ hiện nay. Nuôi con khoa học thể hiện ở rất nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có lịch uống sữa cho bé sơ sinh. Sữa đóng vai trò vô cũng quan trọng đối với sự phát triển của trẻ nhỏ, do đó, các bà mẹ cũng nên hết sức lưu tâm trong việc ho con uống sữa.

    Uống sữa theo lịch là phương pháo giúp con xây dựng được thời gian ăn uống hợp lý, đúng lượng sữa. Tránh tình trạng không kiểm soát được hôm nay con đã uống sữa chưa và uống bao nhiêu lần. Vậy bạn đã biết làm thế nào để cho con uống sữa theo lịch đúng cách.

    Lịch uống sữa cho bé sơ sinh được thể hiện như thế nào

    Vẫn biết rằng sữa mẹ là thức ăn tốt nhất dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhưng để có thể mang lại sự phát triển toàn diện nhất cho con, kết hợp sữa mẹ với sữa ngoài cũng là phương pháp tối ưu mà các gia đình nên chọn lựa. Tuy nhiên, cho dù là uống sữa ngoài hay cho ti sữa mẹ thì bạn cũng nên vạch ra lịch uống sữa cho bé sơ sinh đúng cách, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất có thể.

    Lịch sẽ được bắt đầu ngay từ buổi sáng, khi con vừa trải qua 1 đêm ngủ, các chất dinh dưỡng đã được tiêu thụ gần như là hết. Chính vì thế, ngay từ sáng sớm khi con vừa tỉnh giấc, mẹ nên cho con uống một lượng sữa nhất định, để con nạp một lượng calo vừa đủ chuẩn bị cho một ngày dài vui chơi khỏe mạnh. Sau đó, cứ cách nhau 2 giờ đồng hồ, mẹ nên cho con ti một lần. Quan sát các dấu hiệu ở trẻ nhỏ, nếu lượng sữa mà bạn cung cấp cho bé đã đủ, con sẽ chơi ngoan và không quấy khóc và ngược lại.

    Lịch uống sữa cho bé sơ sinh đảm bảo con vui chơi khỏe mạnh

    Để mang lại hiệu quả cao nhất có thể, các bà mẹ trong quá trình cho con dùng sữa nên lưu ý đến vấn đề an toàn vệ sinh. Nếu bất cảnh trong việc này, con rất dễ bị táo bón, mắc bệnh do thời tiết gây ra vì sự xâm nhập của vi khuẩn. Vậy nên, bạn phải khử trùng các dụng cụ pha sữa bằng nước nóng trước khi tiến hành pha sữa, rửa tay sạch sẽ trước khi mở nắp hộp…

    Để làm tròn thiên chức của một người mẹ, trong quá trình nuôi con, các mẹ nên hết sức cẩn thận không chỉ quan tâm xây dựng lịch uống sữa cho bé sơ sinh mà còn nên tìm hiểu từng chi tiết nhỏ để có thể bảo vệ con mộ cách tuyệt đối trước những tác động xấu.

    ~~~

    Tại sao lại cho trẻ sơ sinh ăn sữa ngoài?

    Có một câu nói mà hầu như ai cũng biết: sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Chính bởi sự cần thiết của sữa mẹ mà thông thường chẳng có ai cho con mình khi mới sinh ra đã phải tiếp xúc với sữa ngoài.

    Song vẫn có một số trường hợp bất đắc dĩ, bé sơ sinh bắt buộc phải sử dụng nguồn sữa này, cũng là lý do khiến các nhà dinh dưỡng không ngừng nghiên cứu cải thiện các nguồn dưỡng chất thành phần. Mục đích không gì khác là giúp cho trẻ sơ sinh ăn sữa ngoài vẫn có thể lớn lên khỏe mạnh, thông minh như tất cả các bạn đồng trang lứa.

    Lợi ích khi cho trẻ sơ sinh ăn sữa ngoài

    Cùng với sự phát triển của công nghệ, máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, rất nhiều công thức sữa đã được tìm ra và ứng dụng thành công vào các sản phẩm sữa dành cho trẻ. Trong những nghiên cứu mới công bố gần đây nhất, các nhà khoa học thậm chí đã đưa được một thành phần dinh dưỡng vô cùng quan trọng chỉ tìm được ở sữa mẹ vào các loại sữa bột công thức. Như vậy dù không được bú sữa mẹ, bé vẫn được cung cấp đầy đủ các chất cần thiết.

    Mặt khác, các mẹ đang chăm con còn có thể chủ động bổ sung chất dinh dưỡng cho con bằng cách cho trẻ sơ sinh ăn sữa ngoài có các thành phần như GOS, HMO,… Nhờ vậy giúp bé tiêu hóa tốt hơn, đi cùng nền tảng sức đề kháng thật mạnh mẽ, ngăn chặn tất cả các tác nhân xấu đến từ môi trường xung quanh.

    Tác hại khi cho trẻ sơ sinh ăn sữa ngoài

    Dù cho sữa ngoài có tốt đến mức nào thì cũng không thể nào thay thế hoàn toàn cho sữa mẹ. Sữa mẹ luôn là nguồn dinh dưỡng quan trọng bậc nhất trong việc hình thành các kháng thể phòng bệnh cho bé. Nếu không phải bất đắc dĩ, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là việc làm được ưu tiên hàng đầu, phải thực hiện liên tục cho đến khi nào bé đến thời điểm cai sữa mới thôi. Không nên lạm dụng cho trẻ sơ sinh ăn sữa ngoài, bé sẽ thiếu đi những dưỡng chất vi lượng đặc biệt khác có trong sữa tự nhiên.

    Nói tóm lại, cho trẻ sơ sinh ăn sữa ngoài không xấu nhưng không phải là biện pháp tối ưu cho quá trình nuôi con của các mẹ bỉm sữa. Thay vào đó, hãy kết hợp đồng đều cả hai loại sữa để cung cấp cho con nhiều dưỡng chất có thể. Việc chăm sóc con vì thế cũng sẽ trở nên đơn giản và nhẹ nhàng hơn cho các mẹ đấy!

    --- Bài cũ hơn ---