Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ

--- Bài mới hơn ---

  • Dốc Lên Khúc Khuỷu, … Nhà Ai Pha Luông Mưa Xa Khơi. Đây Là Một Khổ Thơ Tuyệt Bút Của Quang Dũng Trong Bài Tãy Tiến. Hãy Bình Giảng Để Làm Nổi Rõ
  • Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ
  • Đằng Sau Câu Thơ ‘em Là Ai? Cô Gái Hay Nàng Tiên?’ Là Một Tội Ác Tày Trời Không Phải Ai Cũng Biết
  • Đọc Đoạn Thơ Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Từ Câu 1 Đến Câu 4:
  • Tìm Hiểu Nội Dung Chính Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu
  • Số lượt đọc bài viết: 68.014

    Là việc lặp lại một cụm từ, mà theo đó các từ, cụm từ này cách quãng với nhau, không có sự liên tiếp

    Ví dụ: điệp từ “nhớ”

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

    Là việc lặp đi lặp lại một từ, cụm từ có sự nối tiếp nhau

    “Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu

    Những cô gái Thạch Kim, Thạch Nhọn.

    Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm

    Sách áo mở tung, trắng cả trời chiều”

    Điệp từ chuyển tiếp còn được gọi là điệp từ vòng

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

    Mục đích của điệp từ là gì?

    Điệp từ là gì? Mục đích của điệp từ là gì? Điệp từ hay còn gọi là điệp ngữ là biện pháp tu từ được sử dụng rất nhiều trong văn chương. Vậy mục đích của biện pháp biện pháp điệp từ là gì?

    Điệp từ “dốc” giúp gợi nên hình ảnh đồi núi trập trùng, hiểm trở

    Ví dụ: Một đoạn thơ trong bài “Nhớ sao”:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

    Ví dụ: Một đoạn thơ trong bài “Hạt gạo làng ta”

    “Hạt gạo làng ta

    Của sông Kinh Thầy

    Có hương sen thơm

    Trong hồ nước đầy

    Có lời mẹ hát

    Ngọt bùi đắng cay…”

    “Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng, bông trắng, lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

    Ngoài việc ghi nhớ về khái niệm và ý nghĩa của điệp từ là gì, bạn cũng cần nắm được những lưu ý khi sử dụng biện pháp tu từ này. Điệp từ là một biện pháp tu từ rất phổ biến, được sử dụng rất nhiều trong văn chương giúp khắc họa rõ nét hình ảnh, tình cảm mà tác giả gửi gắm vào tác phẩm.

    Khi sử dụng điệp từ phải xác định được mục đích sử dụng, chỉ sử dụng khi cần thiết và phải có lối diễn giải mạch lạc rõ ràng, tránh việc lạm dụng quá mức gây rườm rà cho bài văn.

    Ví dụ: “Trường em có mái ngói đỏ. Trường em có lá cờ đỏ tung bay phấp phới giữa sân trường. Trường em có hàng cây phượng tỏa bóng mát. Trường em có những thảm cỏ xanh xanh cho chúng em. Trường em đã xây dựng lâu, trông trường em rất cổ kính và khi nhìn trường em, em lại có cảm giác gần gũi và bình yên. Em rất yêu trường em.”

    Câu 2: (SGK Ngữ văn 7 tập 1 trang 153)

    Như vậy, trong một bài văn, có thể kết hợp nhiều biện pháp tu từ khác nhau như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ… Các bạn cần chọn lọc về việc sử dụng các biện pháp tu từ cần thiết, không kết hợp quá nhiều biện pháp tu từ trong một đoạn khi bạn không đủ “chắc tay” để tạo điểm nhấn.

    Mục đích: nhấn mạnh ý chí của dân tộc, sự quyết tâm giành lại tự do, độc lập và dân tộc ta xứng đáng được tự do, độc lập

    • Đi cấy: nhấn mạnh công việc đang làm
    • Trông: thể hiện sự cực nhọc, vất vả của người nông dân

    Tìm điệp ngữ trong câu:

    Câu 3: ( SGK Ngữ văn 7 tập 1 trang 153)

    Gợi ý:

    Xa nhau: điệp ngữ ngắt quãng

    Câu 4: Viết đoạn văn có sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ

    Một giấc mơ thôi: điệp ngữ nối tiếp

    1. a) Việc lặp đi lặp lại một số từ trong đoạn văn trên không mang lại một ý nghĩa nào cả, chỉ làm câu văn thêm rườm rà, khó hiểu.
    2. b) Có thể sửa lại như sau:

    Phía sau nhà em có một mảnh vườn. Em trồng rất nhiều hoa: hao thược dược, đồng tiên, hồng, cúc và cả lay ơn nữa. Ngày Quốc tế phụ nữ em hái những bông hoa sau vườn tặng mẹ, tặng chị

    Sau bao năm gặp lại, cậu ấy thay đổi khá nhiều. Mái tóc ngắn lởm chởm ngày ấy đã không còn mà thay vào đó mái tóc dài đen bóng mượt, đôi má bánh bao mất đi thay vào đó là khuôn mặt gầy gầy thanh tú, hàm răng sún ngày nào giờ đã đều như hạt bắp, duy chỉ có nụ cười là không thay đổi, nụ cười của cậu ấy vẫn bừng sáng một khung trời.

    Tôi không nghĩ gặp lại một người bạn cũ lại ngượng ngùng đến vậy, chúng tôi đã thay đổi rất nhiều nhưng tôi vẫn hy vọng chúng tôi có đủ thời gian để tìm kiếm lại tình bạn ngày nào – một tình bạn vô tư, một tình bạn đáng yêu, một tình bạc quý giá hơn cả bạc vàng…

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ
  • Chỉ Ra Phép Ẩn Dụ Trong Câu Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè…
  • Bài 1: Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Sau: 1. Trăm Năm Đành Lỗi Hẹn Hò Cây Đa Bến Cũ Con Đò Khác Đưa 2. Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè Đầu
  • Bật Mí Về Phương Pháp Học Văn Đạt Hiệu Quả Cao
  • Một Số Biên Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ Điệp Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Không Khí
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Không Khí
  • Ô Nhiễm Môi Trường Không Khí
  • Ô Nhiễm Môi Trường Đới Ôn Hòa : Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp
  • Nêu Nguyên Nhân, Biểu Hiện, Hậu Quả, Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Không Khí Ở Đới Ôn Hòa? Câu Hỏi 160419
  • Trong thơ ca, văn chương muốn làm nổi bật nội dung và nghệ thuật cần các biện pháp tu từ, trong đó điệp ngữ thường xuyên sử dụng. Vậy điệp ngữ là gì, tác dụng, cách sử dụng như thế nào, các dẫn chứng điệp ngữ trong một số ví dụ và các tác phẩm văn học. Tất cả kiến thức sẽ có trong bài viết ngày hôm nay.

    Điệp ngữ là một biện pháp nghệ thuật mà ở đó việc tác giả lặp đi lặp lại một từ, một cụm từ hay cả một câu với dụng ý cụ thể để tăng tính biểu cảm cho đoạn văn, đoạn thơ.

    Việc lặp một từ người ta hay gọi là điệp từ, lặp các cụm hay câu gọi là điệp ngữ. Người ta còn có cách lặp lại một dạng câu (câu hỏi, câu nghi vấn, câu cầu khiến, cảm thán…) nhiều lần trong cùng đoạn văn, đoạn thơ thì gọi là điệp cấu trúc câu (điệp cấu trúc cú pháp).

    Ví dụ:

    + ” Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa, như ùa vào buồng lái”

    (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)

    Trong khổ thơ trên tác giả điệp từ “nhìn thấy” 2 lần nhấn mạnh hành động nhắc tới trong câu.

    + “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

    (Bếp lửa – Bằng Việt)

    Cụm từ “Một ngọn lửa” được tác giả lặp lại 2 lần trong khổ thơ có tác dụng gợi nhắc về hình ảnh bếp lửa của bà.

    + “Ðế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Ðồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”

    (Hồ Chí Minh)

    Trong câu văn trên sử dụng biện pháp lặp cấu trúc câu vừa tạo tính nhạc cho câu vừa thể hiện sự quyết tâm của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ.

    Điệp nối tiếp là kiểu điệp mà các từ ngữ, cụm từ được lặp lại đứng nối tiếp nhau trong câu. Tác dụng thường là để tạo sự mới mẻ, tăng tiến, liền mạch.

    Ví dụ:

    “Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu

    Thương em, thương em, thương em biết mấy”

    (Phạm Tiến Duật)

    Hai câu thơ trên có phép điệp nối: “rất lâu” lặp 2 lần trong câu 1 và “thương em” lặp 3 lần liên tiếp trong câu 2. Với việc sử dụng phép lặp nối tạo sự da diết như tăng lên gấp bội, nỗi nhớ nhung tác giả đối với nhân vật “em”.

    Điệp ngắt quãng là các từ ngữ lặp giãn cách nhau, có thể là cách nhau trong một câu văn hoặc cách nhau trong hai, ba câu thơ của một khổ thơ.

    Ví dụ:

    + ” Ta làm con chim hót

    Ta làm một cành hoa

    Ta nhập vào hòa ca

    Một nốt trầm xao xuyến”.

    (Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)

    Trong khổ thơ trên điệp từ “ta” được lặp lại 3 lần ở đầu mỗi câu thơ cho thấy khát khao của nhân vật “ta” được hòa mình làm mọi điều trong cuộc sống.

    + ” Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!

    (Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

    Điệp từ “Tre” được lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi câu văn và “giữ” lặp lại 4 lần trong cùng một câu. Đây là phép điệp ngắt quãng có tác dụng nhấn mạnh vào chủ thể và hành động kiên cường, bất khuất của người anh hùng “tre”.

    Điệp vòng (điệp chuyển tiếp)

    Điệp vòng được hiểu là các từ ngữ, cụm từ ở cuối câu văn, câu thơ trước được lặp lại ở đầu câu văn. Câu thơ sau tạo sự chuyển tiếp, gây cảm xúc dạt dào cho người đọc, người nghe.

    Ví dụ:

    “Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương

    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

    (Chinh Phụ ngâm – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm)

    “Thấy” và “ngàn dâu” là hai từ ngữ được lặp lại ở đầu câu sau tạo sự chuyển tiếp, trùng trùng, điệp điệp như ngút ngàn không chỉ của màu xanh của dâu. Đây còn là sự trải dài nỗi nhớ chồng của người chinh phụ.

    Điệp ngữ được sử dụng câu thơ, văn thường có tác dụng nhấn mạnh vào một sự vật, sự việc nào đó hoặc việc lặp lại có chủ đích nhấn mạnh tâm tư, tình cảm, nỗi lòng của nhân vật được nhắc tới trong câu.

    Ví dụ:

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

    (Bếp lửa – Bằng Việt)

    Trong khổ thơ trên “Một bếp lửa” được lặp lại 2 lần ở đầu mỗi câu thơ có tác dụng nhấn mạnh hình ảnh bếp lửa trong trí nhớ của người cháu. Từ đó thể hiện tình cảm là nỗi nhớ nhung da diết về “bếp”, về bà dấu yêu.

    Điệp ngữ còn có tác dụng liệt kê các sự vật, sự việc được nói tới trong câu làm sáng tỏ ý nghĩa, tính chất của sự vật, sự việc.

    Ví dụ:

    “Hạt gạo làng ta

    vị phù sa

    Của sông Kinh Thầy

    hương sen thơm

    Trong hồ nước đầy

    lời mẹ hát….

    bão tháng bẩy

    mưa tháng ba”

    (Hạt gạo làng ta – Trần Đăng Khoa)

    Điệp từ “có” lặp lại 5 lần tạo sự liệt kê làm nổi bật tinh túy làm nên hạt gạo đó là vị phù sa, hương sen, lời mẹ hát, bão tháng bảy, mưa tháng ba. Từ đó cảm nhận vất vả, nhọc nhằn hậu phương khi làm ra lương thực cung cấp cho tiền tuyến.

    Các từ ngữ lặp lại tác dụng khẳng định điều tất yếu, niềm tin tác giả vào sự việc sẽ xảy ra.

    Ví dụ:

    “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.

    (Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh)

    “Dân tộc đó phải” được lặp lại 2 lần là sự khẳng định điều chắc chắn, tất yếu “phải được độc lập” của dân tộc kiên cường, bất khuất.

    Điệp ngữ trong thơ ca và phân tích

    + ” Không có kính không phải vì xe không có kính

    Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

    Ung dung buồng lái ta ngồi,

    (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)

    – Trong khổ thơ trên cụm từ “không có kính” lặp lại 2 lần trong cùng câu thơ thứ nhất có tác dụng nhấn mạnh vào sự thiếu thốn phương tiện vận chuyển – chiếc ô tô.

    Câu thơ cuối từ “nhìn” lặp 3 lần nhấn mạnh hành động chủ thể nhắc tới – người lái xe.

    Với việc sử dụng phép điệp trong hai câu thơ đầu và cuối tạo sự liền mạch, mở đầu và kết thúc cho khổ thơ.Phép điệp thứ nhất “không có kính” cuộc chiến tranh chống Mỹ ác liệt thiếu thốn, vất vả thì phép điệp thứ hai hành động “nhìn” lại cho thấy lạc quan, yêu đời như không có chuyện gì và rất thờ ơ với sự thiếu thốn đó.

    + “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,

    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

    – Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”

    (Nhớ rừng – Thế Lữ)

    – Khổ thơ điệp từ “đâu” và “ta” lặp lại 4 lần trong đầu mỗi cặp câu tạo thành kết cấu “nào – ta”.

    Việc sử dụng phép lặp này có tác dụng liệt kê các việc “hổ” đã làm tạo thành một thời oanh liệt của quá khứ. Dụng ý nhấn mạnh nỗi niềm hoài cổ dĩ vãng đã qua, thời vàng son chúa tể sơn lâm nay đã không còn.

    Điệp ngữ biện pháp tu từ đi sâu vào văn chương, thơ ca làm sống dậy tình cảm của chủ thể trữ tình. Hiểu được dụng ý nghệ thuật mà mỗi phép tu từ mang lại chúng ta mới hiểu hết được những cái hay và ý nghĩa tác giả gửi gắm.

    Qua bài viết này giúp hiểu được khái niệm điệp ngữ là gì, tác dụng, cách dùng hiệu quả. Đặc biệt là khi chúng ta vận dụng vào viết văn hay phân tích một tác phẩm nghệ thuật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Luyện Thi: Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Thường Gặp Trong Tiếng Việt
  • Ngày Ngày Mặt Trời Đi Qua Trên Lăng Thấy Một Mặt Trời Trong Lăng Rất Đỏ. Phân Tích Giá Trị Biểu Cảm Của Biện Pháp Tu Từ Đó.
  • Thi Công Xây Dựng Bể Xử Lý Nước Thải Nhanh Chóng, Giá Cả Siêu Hấp Dẫn
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Công Trình Xả Lũ Dự Án Hồ Chứa Nước Thượng Nguồn Sông Trí
  • Biện Pháp Phòng Trừ Tổng Hợp Ibm
  • Định Nghĩa Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ
  • Dốc Lên Khúc Khuỷu, … Nhà Ai Pha Luông Mưa Xa Khơi. Đây Là Một Khổ Thơ Tuyệt Bút Của Quang Dũng Trong Bài Tãy Tiến. Hãy Bình Giảng Để Làm Nổi Rõ
  • Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ
  • Đằng Sau Câu Thơ ‘em Là Ai? Cô Gái Hay Nàng Tiên?’ Là Một Tội Ác Tày Trời Không Phải Ai Cũng Biết
  • Đọc Đoạn Thơ Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Từ Câu 1 Đến Câu 4:
  • Thế nào là Điệp từ, điệp ngữ?

    Điệp từ (hay còn gọi là điệp ngữ) là một biện pháp tu từ trong văn học chỉ việc lặp đi, lặp lại một từ hoặc một cụm từ, nhằm nhấn mạnh, khẳng định, liệt kê, … để làm nổi bật vấn đề khi muốn nói đến.

    Các dạng của Điệp ngữ

    Điệp ngữ có các dạng: điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ chuyển tiếp (điệp ngữ vòng). Sự khác biệt giữa 3 hình thức điệp ngữ được thể hiện sau đây:

    Đây là hình thức lặp lại một cụm từ, mà trong đó, các từ, cụm từ này cách quãng với nhau, không có sự liên tiếp

    Ví dụ: Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

    Cụm từ “Nhớ sao” là điệp ngữ cách quãng.

    Đây là việc lặp đi lặp lại một từ, cụm từ có sự nối tiếp nhau

    Ví dụ: Những cô gái Thạch Kim, Thạch Nhọn. Sách áo mở tung, trắng cả trời chiều”

    Trong đoạn thơ trên, cụm từ “rất lâu”, “Khăn xanh” là điệp ngữ nối tiếp.

    Ví dụ: “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

    Trong ví dụ trên, “thấy” và “ngàn dâu” là điệp ngữ chuyển tiếp.

    Tác dụng của điệp từ, điệp ngữ

    Ví dụ: Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

    Trong đoạn thơ trên, từ “nhớ sao” được lặp lại tới 3 lần cho thấy tác dụng nhấn mạnh sự nhớ nhung của tác giả về những kỷ niệm xưa cũ.

    “Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

    Trong ví dụ trên, biện pháp lặp lại một cụm từ nhằm khẳng định vẻ đẹp thuần túy của bông sen.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Ra Phép Ẩn Dụ Trong Câu Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè…
  • Bài 1: Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Sau: 1. Trăm Năm Đành Lỗi Hẹn Hò Cây Đa Bến Cũ Con Đò Khác Đưa 2. Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè Đầu
  • Bật Mí Về Phương Pháp Học Văn Đạt Hiệu Quả Cao
  • Một Số Biên Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Phân Tích Cảm Hứng Về Đất Nước Qua Hai Đoạn Thơ Sau: “quân Đi Điệp Điệp Trùng Trùng Ánh Sao Đầu Súng Bạn Cùng Mũ Nan. Dân Công Đỏ Đuốc Từng Đoàn Bước Chân Nát
  • Điệp Ngữ Là Gì? Tất Tần Tật Các Tác Dụng Của Phép Điệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Cau 10 Bang Aich Luu Diểm) Câu 2I T…
  • Ô Nhiễm Môi Trường Đất – Công Ty Tnhh Môi Trường Vgreen Vietnam
  • Kỹ Thuật Xử Lý Thanh Long Ra Hoa Trái Vụ
  • Lũ Lụt Miền Trung – Các Giải Pháp Giảm Rủi Ro Và Tổn Thất
  • Phòng, Chống Ngập Lụt, Hạn Chế Thiệt Hại Do Mưa Lớn Gây Ra
  • Điệp ngữ là gì? Điệp từ là gì?

    Chắc hẳn ai cũng đã được học điệp ngữ ở lớp 7. Điệp ngữ hay điệp từ là một biện pháp tu từ lặp đi lặp lại một từ, một cụm từ hoặc hoặc cả câu để tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu hoặc cho đoạn văn. 

    Lặp lại một từ thì được gọi là điệp từ, còn nếu lặp các cụm hoặc câu thì gọi là điệp ngữ. 

    Ví dụ trong bài thơ: Tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật. 

    “Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa, như ùa vào buồng lái”

    Trong khổ thơ trên, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã điệp từ “nhìn thấy” 2 lần để nhấn mạnh hành động được nhắc tới trong câu.

    Phân loại điệp ngữ

    Trong văn lớp 7, điệp ngữ được phân loại thành: nối tiếp, chuyển tiếp, ngắt quãng. 

    Điệp ngữ nối tiếp

    Đây là kiểu điệp mà các từ các cụm từ được lặp lại sẽ đứng nối tiếp nhau trong câu. Điều này tạo sự mới mẻ, tăng tiến, liền mạch. 

    Ví dụ trong bài thơ: Gửi em, cô thanh niên xung phong của nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng có rất nhiều câu điệp ngữ nối tiếp:

    “Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều”

    “Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu”

    “Thương em, thương em, thương em biết mấy”

    Những câu thơ trên, tác giả đã lặp lại từ “rất lâu”, “ rất nhiều” 2 lần và từ “thương em” đã lặp 3 lần liên tiếp. Việc sử dụng phép lặp này khiến sự da diết như tăng lên gấp bội, gợi nỗi nhớ nhung của tác giả với nhân vật “em”.  

    Điệp ngữ chuyển tiếp (vòng)

    Điệp ngữ vòng được hiểu là các từ, cụm từ ở cuối câu văn, câu thơ trước sẽ được lặp lại ở đầu câu văn sau. Điều này giúp câu thơ sau tạo sự chuyển tiếp và gây cảm xúc dạt dào cho người nghe, người đọc. 

    Ví dụ trong bài thơ Chinh Phụ ngâm – Đặng Trần Côn, theo bản dịch của Đoàn Thị Điểm có đoạn. 

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

    Đoạn thơ trên, “thấy” và “ngàn dâu” là hai từ ngữ được tác giả lặp lại ở đầu câu sau tạo nên sự chuyển tiếp, trùng trùng, điệp điệp, ngút ngàn không chỉ của màu xanh của dâu mà còn là nỗi nhớ chồng của người chinh phụ.

    Điệp ngữ cách quãng

    Điệp ngữ ngắt quãng chính là các từ ngữ lặp giãn cách nhau, có thể cách nhau một câu văn hoặc cách nhau hai, ba câu thơ của một khổ thơ.

    Ví dụ trong bài: Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải

    “Ta làm con chim hót

    Ta làm một cành hoa

    Ta nhập vào hòa ca

    Một nốt trầm xao xuyến”.

    Trong khổ thơ trên điệp từ “ta” được nhà thơ lặp lại 3 lần ở đầu mỗi câu thơ cho ta thấy được khát khao của nhân vật “ta” mong muốn được hòa mình làm mọi điều trong cuộc sống.

    Tác dụng của điệp ngữ 

    Chắc hẳn khi soạn văn lớp 7 ở bài điệp ngữ, bạn sẽ gặp câu tác dụng của điệp ngữ là gì? Điệp ngữ có những tác dụng sau:  

    Gợi hình ảnh

    Ví dụ:  “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”

    (Tây Tiến, Quang Dũng)

    Điệp từ “dốc” được tác giả nhắc lại hai lần gợi nên hình ảnh đồi núi trập trùng, hiểm trở, khúc khuỷu.  

    Tạo sự nhấn mạnh vấn đề

    Phép điệp ngữ thường được sử dụng để nhấn mạnh vào một sự việc, sự vật nào đó hoặc việc lặp lại có chủ đích để nhấn mạnh twm tư, tình cảm cũng như nỗi lòng lòng của nhân vật được nhắc tới trong câu. 

    Ví dụ, trong bài Bếp lửa – Bằng Việt 

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

    Trong khổ thơ trên từ “một bếp lửa” được lặp lại 2 lần nhằm nhấn mạnh hình ảnh bếp lửa trong trí nhớ của người cháu. Qua đó thể hiện tình cảm là nỗi nhớ nhung da diết về bà và về “bếp”. 

    Tạo sự liệt kê

    Nó còn có tác dụng liệt kê các sự vật, sự việc được nói tới trong câu để làm sáng tỏ ý nghĩa, tính chất của các sự vật, sự việc.

    Ví dụ trong bài thơ Hạt gạo làng ta – Trần Đăng Khoa 

    “Hạt gạo làng ta

    Có vị phù sa

    Của sông Kinh Thầy

    Có hương sen thơm

    Trong hồ nước đầy

    Có lời mẹ hát

    Ngọt bùi đắng cay”

    Điệp từ “có” được nhà thơ lặp lại 5 lần tạo sự liệt kê, điều này đã làm nổi bật những tinh túy làm nên hạt gạo: vị phù sa, hương sen, lời mẹ hát,… Từ đó người đọc có thể cảm nhận được sự vất vả, nhọc nhằn khi làm ra được hạt gạo.  

    Giúp khẳng định

    Các từ ngữ lặp lại có tác dụng khẳng định điều tất yếu hoặc niềm tin của tác giả vào sự việc sẽ xảy ra.

    Ví dụ:

    “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.

    (Trích trong bài Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh)

    Cụm từ “dân tộc đó phải” được lặp lại 2 lần chính là sự khẳng định điều chắc chắn, tất yếu “phải được độc lập” của một dân tộc kiên cường, bất khuất.

    Chú ý về cách sử dụng điệp từ

    Điệp ngữ là một biện pháp tu từ phổ biến, được sử dụng rất nhiều trong văn chương giúp khắc họa hình ảnh, tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm vào tác phẩm.

    Tuy vậy, khi sử dụng điệp từ thì bạn phải xác định được mục đích sử dụng và chỉ sử dụng nó khi cần thiết và phải có lối diễn giải mạch lạc rõ ràng. Không nên lạm dụng điệp ngữ trên mức cho phép gây rườm rà cho bài văn. 

    Hoặc trong một bài văn bạn có thể kết hợp nhiều biện pháp tu từ khác nhau như: điệp ngữ, so sánh, hoán dụ, ẩn dụ,… Nhưng phải chọn lọc và sử dụng các biện pháp tu từ cần thiết, không nên kết hợp quá nhiều biện pháp tu từ trong một đoạn khi chúng ta chưa hiểu rõ. 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Xử Lý Nền Đập Chính Công Trình Đầu Mối Hồ Chứa Nước Cửa Đạt.
  • Dễ Dàng Phân Biệt Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Với Mẹo Hay
  • Nhiều Giải Pháp Tạo Việc Làm Sau Đại Dịch Covid
  • Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Nghị Định Số 111/2013/nđ
  • Đặt Câu Có Sử Dụng Biện Pháp Điệp Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Tu Từ Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Ngô Văn Phú
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ
  • Cách Viết Đoạn Văn Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ
    • Viết đoạn văn ngắn có sử dung câu đặc biệt, câu rút gọn,dấu chấm lửng,dấu chấm than, dấu gạch ngang và nêu công dụng cảu dấu câu, dấu câu sử dụng

    • Viết đoạn văn ngắn trong đó có sử dụng cậu mở rộng, câu đặc biệt và trạng ngữ (đề tại tự chọn)

    • Câu 1. Tìm cụm chủ vị mở rộng và cho biết chúng làm thành phần gì trong câu

      a)Ở trên lớp, học sinh chăm chỉ làm bài là một việc làm tốt

      b) Mùa hè, hoa phượng nở làm cho sân trường thêm rực rỡ.

      Câu 2. Tìm phép liệt kê và phân loại, nêu tác dụng

      a) Ngoài hò, ở ca Huế còn bắt gặp các điệu lý như : lý con sáo, lý hoài xuân, lý hoài nam

      b) Nhạc công dùng các ngón đàn trau chuốt như ngón nhấn, mổ, vỗ, vã….

      HELPP MEEE

    • Mọi người giúp mình mấy bài này với hí hí

      +Đoạn văn về tình cảm gia đình có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm bạn bè có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm anh em có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm quê hương có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      Mong mọi người giup đỡ tí mình phải nộp bài rồi

    • câu 2: kể tên các chuyện đã học trong chương trình lớp 7? em thích truyện nào? vì sao?

      câu 3: có mấy tiêu chí để phân loại phép liệt kê

      giúp vs

    • Xác định kiểu câu và gạch chân dưới những từ ngữ nhận biết.

      a, An hỏi: Bạn là ai ?

      b, Bạn định làm gì vào ngày mai ?

      c, Tại sao bạn không làm bài tập về nhà ?

      d, Em đừng khóc nữa.

      e, Em đi về đi.

      f, Tớ chỉ đùa thôi.

      g, Ôi ! Khổ quá.

      h, Chao ôi ! Bọn chúng thật ác.

      i, Tôi thương mẹ tôi biết bao.

      k, Tôi nói với Phương: Bạn cứ vào trong nhà mình chơi.

      l, Mẹ nói: Bố về rồi con đi dọn cơm cho bố.

    • Xác định chủ ngữ , vị ngữ , trạng ngữ ( nếu có ) .

      1. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội nhanh như sóc, thoăn thoắt leo lên bốn cây chuối bôi mỡ bóng nhẫy để lấy nén hương cắm ở trên ngọn.

      2. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi

    • Phân tích tác dụng của phép nhân hóa:

      Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

    • Tìm câu đặc biệt, trạng ngữ và câu rút gọn:

      Nhân dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. từ già đến trẻ, tất cả đều sẵn sàng hy sinh vì đất nước Việt Nam. Những cô gái trẻ độ tuôi đôi mươi, cũng chấp nhận từ bỏ lứa tuổi đẹp nhất của đời người để ra trận. Những người mẹ tần tảo đã đau khổ biết mấy khi để những người con mà họ hết lòng yêu thương ra trận. Những người phụ nữ, bất chấp tất cả, cũng cùng các thanh niên trang bị cho cuộc chiến tranh sắp đến… Tất cả những công dân Việt Nam,họ biết họ đang đối mặt với sự sống và cái chết… nhưng họ gạt bỏ tất cả nỗi sợ hãi bị tật nguyền, bị mất đi đôi chân hoặc cánh tay, tệ hơn nữa, họ sẽ chết chìm trong biển lửa tàn khốc của chiến tranh. Nhưng lý do gì đã không ngừng thôi thúc họ không được từ bỏ, rằng dù có bị tật nguyền cũng phải dũng cảm chiến đấu vì tương lai sau này? Đó là vì tinh thần yêu nước của nhân dân ta quá sâu đậm. Dường như trong dòng máu của mỗi công dân Việt Nam đều đã có sẵn tinh thần bất khuất ầy. Nó sẽ không bao giờ chịu khuất phục bởi chiến tranh, luôn sống mãi trong tim mỗi con người, mỗi công dân Việt Nam

    • Xác định từ láy và từ ghép trong các từ sau đây:

      +đầu đuôi +heo hút +tươi tốt

      +ngọn ngành +đông đủ +nảy nở

      +chậm chạp +ngọt ngào +xinh xẻo

      +mệt mỏi + chua chát + tươi tắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • (Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,phân Loại ,tác Dụng, Ví Dụ),so Sánh ,ẩn Dụ,nhân Hóa,hoán Dụ,nói Quá ,nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ
  • Tác Dụng Của 12 Biện Pháp Tu Từ Câu Hỏi 153226
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Đạt 9.5 Điểm
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Năm 2022 Môn Ngữ Văn Trường Ngô Sĩ Liên
  • Qua Dòng Hồi Tưởng Của Người Mẹ Trong Văn Bản “cổng Trường Mở Ra”. Tác Giả Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì? Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Thứ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Cảm Nhận Về Khổ 3 Bài Thơ Nhớ Rừng Lớp 8 Hay Nhất
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Sang Thu
  • Trong ngày đầu tiên khai trường, không chỉ người con mà người mẹ cũng có những lo âu, hồi hộp, tựa như mẹ là người cũng phải đến trường. Những lo âu ấy đã cho thấy sự hi sinh cao cả của người mẹ đối với con.

    Trước ngày khai trường, mẹ đã chuẩn bị cho con mọi hành trang để con bước vào thế giới mới. Đó là cái thế giới mà mẹ không thể bên con mãi như những ngày qua. Mẹ đã sắm cho con những thứ cần thiết để ngày mai con đến trường, từ quần áo, giày dép, nón đến cặp sách, tập vở: “Việc chuẩn bị quần áo mái, giày nón mới, cặp sách mới, tập vở mới, mọi thứ đâu đó đã sẵn sàng, khiến con cảm nhận được sự quan trọng của ngày khai trường”. Khi người con đãyên giấc ngủ thì người mẹ vẫn còn làm nốt những công việc trong ngày và không quên: “đắp mền cho con, buông mùng, ém góc cẩn thận”. Mọi hôm, khi con đã ngủ thì mẹ “lượm những chiếc xe thiết giáp dưới gầm ghế, cạnh chân bàn, những chú rô-bốt bằng nhựa đứng ngồi khắp nơi, và giữa nhà là đoàn quân thùdàn trận trong một cuộc chiến tranh Sư Tử – Khủng Long mà ngày nào con cũng bày ra”.

    Nhưng hôm nay là ngày đặc biệt, là cái ngày mà chỉ cồn một đêm nữa con sẽ trở thành “học sinh lớp Một rồi”. Do vậy, những công việc ấy con đã làm giúp mẹ, con làm với sự tự giác của người sắp trở thành học sinh lớp Một. Mẹ không biết làm gì nữa nhưng mẹ vẫn không ngủ, đơn giản vì mẹ không ngủ được. Cái cảm giác ngày mai đứa con mình đến trường lần đầu tiên khiến mẹ lo lắng, bồn chồn. Trong khi người mẹ còn thức đó để “nhìn con ngủ một lát, rồi mẹ đi xem lại những thứ đã chuẩn bị cho con”, thì con đã chìm trong giấc ngủ vì “trong lòng con không có mối bận tâm nào khác ngoài chuyện ngày mai thức dậy cho kịp giờ”.

    Tuy nhiên, mẹ không ngủ được không phải chỉ vì mẹ lo lắng cho việc ngày mai con đến trường mà chính ngày khai trường của con đã gợi lại cho mẹ những kỉ niệm không thể nào quên trong cái ngày đầu tiên đi học của chính mẹ. Đó là những kỉ niệm đã ăn sâu vào lòng mẹ và nó lại được gợi ra mỗi khi có những dịp như thế. “Cứ nhắm mắt lại là dường như vang lên bên tai tiếng đọc bài trầm bổng”. Những kỉ niệm của người mẹ giờ trở thành thực tế của con vào ngày hôm sau.

    Người mẹ như muốn nói với con, muôn khắc ghi những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến trong ngày khai trường vào lòng con: “Mẹ muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con. Để rồi bất cứ một ngày nào đó trong đời, khi nhớ lại, lòng con lại rạo rực những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến”. Cứ ngỡ những lời này mẹ nói với con, nhưng không phải, đó là lời mẹ nói với chính mình, mẹ đang tự ôn lại những kỉniệm của tuổi thơ mẹ. Những kỉ niệm ấy đã tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lòng người mẹ: “Ngày mẹ còn nhỏ, mùa hè nhà trường đóng cửa hoàn toàn, và ngày khai trường đúng là ngày đầu tiên học trò lớp Một đến trường gặp thầy mới, bạn. mới. Cho nên ấn tượng của mẹ về buổi khai trường đầu tiên ấy rất sâu đậm” và kỉ niệm ấy vẫn sống mãi trong lòng người mẹ đến bây giờ: “Mẹ còn nhớ sự nôn nao, bồi hồi khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi hốt hoảng khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng bên ngoài cánh cổng như đứng bên ngoài cái thế giới mà mẹ vừa bước vào”. Lời kể của mẹ như một sự luyến tiếc pha lẫn chút tự hào, đồng thời sâu xa trong lòng mẹ, mẹ muốn con mình hãy khắc sâu những kỉ niệm mà con sẽ trải qua và sẽ trở thành quá khứ.

    Lời diễn đạt của tác giả đã thể hiện được những điều thầm kín, sâu xa nhất trong tâm tư, tình cảm của người mẹ đối với con trong ngày đầu tiên con đến trường.

    Tâm trạng của người mẹ trong đêm trước ngày khai trường của con trong văn bản Cổng trường mở ra – mẫu 2

    Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo” Đoạn văn ấy cứ mãi khắc sâu trong tôi sau khi đọc xong văn bản ” Cổng trường mở ra” của Lí Lan cùng với bao tâm trạng vui mừng, buồn lo khó tả của người mẹ.

    Đây là một bài bút kí ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm trước ngày chuẩn bị khai giảng của con vào lớp một cùng với vai trò to lớn của nhà trường, nền

    giáo đục đối với mỗi chúng ta. Không có sự việc, không có cốt truyện theo một chuỗi nhất định nhưng bài văn này đã khá thu hút người đọc bởi mỗi câu văn dạt dào tình cảm với biết bao niềm tâm sự, hồi tưởng kỉ niệm của người mẹ thương yêu con bằng tấm lòng cao cả. Bài văn này đã đưa mỗi chúng ta đến với những rạo rực tinh thần, bâng khuâng khó tả của kí ức tuổi thơ.

    Đi sâu vào trong bài ta có thể cảm nhận được từng cảm xúc, câu từ mượt mà với hai luồng tâm trạng trái ngược. Hình ảnh của người con được miêu tả thật ngây thơ, đáng yêu. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo.

    Mai đã là ngày khai trường, một ngày trọng đại của tuổi thơ cũng như một kỉ niệm đáng nhớ trong cuộc đời, vẫn tâm trạng như trước một chuyến đi xa, người con chỉ háo hức, lo mỗi việc sáng mai sao dậy cho kịp giờ rồi lại chìm vào trong giấc ngủ dễ dàng như ăn một cái kẹo. Tâm trạng ưu tư đó chính là tâm hồn ngây thơ của người con. Tâm trạng ấy phải chăng một phần cũng do tình thương yêu, sự dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ.

    Trong khi người con đang mơ những giấc mơ đẹp thì người mẹ lại trằn trọc, suy nghĩ. Tâm trạng của mẹ như đang ở ngày đầu tiên khai trường của chính mình. Như ngày thường sau khi con đi ngủ, mẹ dọn dẹp nhà cửa, lượm lặt những đồ chơi mà con bày, dàn trận và làm vài việc riêng của mình. Nhưng hôm nay đã làm xong mọi việc mà mẹ vẫn chưa ngủ. Và thực sự mẹ không lo lắng đến mức không ngủ được.

    Bao nhiêu kí ức của tuổi thơ tràn về, thôi thúc trong mẹ. Mẹ liên tưởng cảm xúc của con với mình cách đây đã mấy chục năm. Mẹ hồi tưởng lại cái ngày mà bà ngoại cùng mẹ tiến tới ngôi trường với nỗi chơi vơi và sự hốt hoảng khi cánh cổng đóng lại. Bà đã dẫn mẹ qua cánh cổng của thế giới kì diệu, cánh cổng mang đậm nét tuổi thơ. Mẹ đã phần nào chập chững bước qua cánh cổng ấy một mình với với ý nghĩ tự lập và tâm trạng vui buồn đan xen. Mẹ cũng tin tưởng, hi vọng rằng con sẽ mạnh mẽ bước đi trên con đường học tập trước mắt và con đường đời đầy chông gai của chính con sau này. Những âm thanh cứ văng vẳng bên tai mẹ thật ngọt ngào thân thương: “Hằng năm cứ vào cuối thu, mẹ tôi lại âu yếm dẫn tôi trên con đường dài và hẹp”.

    Mẹ đã trải qua biết bao ngày khai giảng nhưng ngày khai giảng ngày mai là ngày khiến mẹ bận tâm nhất, bận tâm hơn cả ngày khai giảng đầu tiên của mình. Vì đó là cái ngày mà con bắt đầu phải làm quen, bắt đầu phải tiếp xúc với thế giới lạ lẫm, học cách ứng xử với thầy cô, bạn bè. Cái hay của bài văn là bộc lộ cảm xúc qua kí ức, hồi tưởng. Bên cạnh những từ ghép đằng lập thể hiện tâm trạng nhân vật, nhà văn còn dùng những từ ghép chính phụ để miêu tả sự vật và con người khá rõ nét. Những biện pháp nghệ thuật tu từ còn làm tăng sức gợi hình, gợi cảm để khiến cho người đọc như đang lạc vào thế giới của mẹ.

    Tất cả những cảm xúc đó mới chỉ là một phần trong ý nghĩa của văn bản. Vai trò to lớn của nhà trường, nền giáo dục đối với mỗi cá nhân là điều rất cần thiết. Trong bài, người mẹ đã cố gửi gắm, tạo cho con những cảm giác thoải mái khi bước vào cánh cổng trường học. Mẹ đã lo cho con đầy đủ hành trang trước ngày khai trường: từ cặp sách, đến quần áo, bút vở. Sau những hồi tưởng và mong ước, người mẹ ấy đã liên tưởng tới một nền văn minh của nước Nhật: “Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Tất cả mọi người đều nghỉ làm và đưa con tới trường học, không có ưu tiên nào lớn hơn nền giáo dục. Mỗi sai lầm trong giáo dục đều ảnh hưởng, làm chệch đi hàng dặm cả thế hệ sau này”.

    Toàn bộ bài văn là tiếng nói nội tâm của người mẹ. Mẹ không trực tiếp nói với con hay với ai, mà mẹ nói với chính mẹ, nói với kí ức, tâm hồn tuổi thơ và cả cảm nhận của mẹ. Đêm nay mẹ không ngủ được, mẹ ngắm nhìn con với những ưu tư, ôn lại những kỉ niệm đẹp đẽ. Cách viết này làm nổi bật được tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhân vật. Đó cũng như lời tâm sự nhỏ nhẹ của tác giả đối với bạn đọc một cách tinh tế, thấm thía, lay động, truyền cảm mạnh mẽ tới tư tưởng, suy nghĩ, lập trường của họ.

    Nói chung thông điệp của tác giả gửi tới mọi người là vai trò của trường học thông qua những kí ức, tâm sự của người mẹ. Mẹ đã được trải qua những năm tháng chập chững của ngày khai trường và cũng đặt niềm hi vọng của mình vào đứa con thơ. Thế giới kì diệu của người mẹ chính là định hướng cho con một con đường đúng đắn, đó chính là con đường học tập. Con đường này là mơ ước của mẹ cũng là mơ ước của biết bao nhiêu người đặt lên con cái mình. Học tập là nghĩa vụ cao cả của tuổi trẻ đối với gia đình, Tổ quốc, chính vì vậy mà chúng ta cần phải hiểu rằng “Bước qua cánh cổng trường học là một thế giới kì diệu sẽ mở ra. Thế giới ấy chính là chân trời của văn hoá, khoa học”.

    Ngoài tài liệu trên, mời các em tham khảo Ngữ văn lớp 7, Soạn văn lớp 7, Học tốt Ngữ Văn lớp 7, Soạn Văn lớp 7 (ngắn nhất), Tài liệu học tập lớp 7…. được cập nhật liên tục trên VnDoc để học tốt môn Ngữ văn hơn.

    • Giải bài tập Ngữ văn lớp 7 bài 1: Cổng trường mở ra
    • Soạn Văn 7: Cổng trường mở ra
    • Tóm tắt bài Cổng trường mở ra
      • Đã bảy năm bước qua cánh cổng trường hãy viết thư chia sẻ cùng mẹ về thế giới kì diệu của em
      • Nêu ý nghĩa của đoạn thơ và chứng minh sự cần thiết và tác dụng của tình yêu quê hương đối với tâm hồn của mỗi con người
      • Video: Phân tích người mẹ trong Cổng trường mở ra
      • Viết một bức thư nói chuyện với cậu con trai trong câu chuyện “Đôi mắt của mẹ”
      • Video: Cảm nhận về bài “Cổng trường mở ra”
      • Cảm nhận về tâm trạng của người mẹ trước ngày khai trường của con trong bài Cổng trường mở ra của tác giả Lí Lan
      • Ý nghĩa nhan đề Cổng trường mở ra (Lý Lan)
      • Video: Tóm tắt bài Cổng trường mở ra

      Trong ngày đầu tiên khai trường, không chỉ người con mà người mẹ cũng có những lo âu, hồi hộp, tựa như mẹ là người cũng phải đến trường. Những lo âu ấy đã cho thấy sự hi sinh cao cả của người mẹ đối với con.

      Trước ngày khai trường, mẹ đã chuẩn bị cho con mọi hành trang để con bước vào thế giới mới. Đó là cái thế giới mà mẹ không thể bên con mãi như những ngày qua. Mẹ đã sắm cho con những thứ cần thiết để ngày mai con đến trường, từ quần áo, giày dép, nón đến cặp sách, tập vở: “Việc chuẩn bị quần áo mái, giày nón mới, cặp sách mới, tập vở mới, mọi thứ đâu đó đã sẵn sàng, khiến con cảm nhận được sự quan trọng của ngày khai trường”. Khi người con đãyên giấc ngủ thì người mẹ vẫn còn làm nốt những công việc trong ngày và không quên: “đắp mền cho con, buông mùng, ém góc cẩn thận”. Mọi hôm, khi con đã ngủ thì mẹ “lượm những chiếc xe thiết giáp dưới gầm ghế, cạnh chân bàn, những chú rô-bốt bằng nhựa đứng ngồi khắp nơi, và giữa nhà là đoàn quân thùdàn trận trong một cuộc chiến tranh Sư Tử – Khủng Long mà ngày nào con cũng bày ra”.

      Nhưng hôm nay là ngày đặc biệt, là cái ngày mà chỉ cồn một đêm nữa con sẽ trở thành “học sinh lớp Một rồi”. Do vậy, những công việc ấy con đã làm giúp mẹ, con làm với sự tự giác của người sắp trở thành học sinh lớp Một. Mẹ không biết làm gì nữa nhưng mẹ vẫn không ngủ, đơn giản vì mẹ không ngủ được. Cái cảm giác ngày mai đứa con mình đến trường lần đầu tiên khiến mẹ lo lắng, bồn chồn. Trong khi người mẹ còn thức đó để “nhìn con ngủ một lát, rồi mẹ đi xem lại những thứ đã chuẩn bị cho con”, thì con đã chìm trong giấc ngủ vì “trong lòng con không có mối bận tâm nào khác ngoài chuyện ngày mai thức dậy cho kịp giờ”.

      Tuy nhiên, mẹ không ngủ được không phải chỉ vì mẹ lo lắng cho việc ngày mai con đến trường mà chính ngày khai trường của con đã gợi lại cho mẹ những kỉ niệm không thể nào quên trong cái ngày đầu tiên đi học của chính mẹ. Đó là những kỉ niệm đã ăn sâu vào lòng mẹ và nó lại được gợi ra mỗi khi có những dịp như thế. “Cứ nhắm mắt lại là dường như vang lên bên tai tiếng đọc bài trầm bổng”. Những kỉ niệm của người mẹ giờ trở thành thực tế của con vào ngày hôm sau.

      Người mẹ như muốn nói với con, muôn khắc ghi những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến trong ngày khai trường vào lòng con: “Mẹ muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con. Để rồi bất cứ một ngày nào đó trong đời, khi nhớ lại, lòng con lại rạo rực những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến”. Cứ ngỡ những lời này mẹ nói với con, nhưng không phải, đó là lời mẹ nói với chính mình, mẹ đang tự ôn lại những kỉniệm của tuổi thơ mẹ. Những kỉ niệm ấy đã tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lòng người mẹ: “Ngày mẹ còn nhỏ, mùa hè nhà trường đóng cửa hoàn toàn, và ngày khai trường đúng là ngày đầu tiên học trò lớp Một đến trường gặp thầy mới, bạn. mới. Cho nên ấn tượng của mẹ về buổi khai trường đầu tiên ấy rất sâu đậm” và kỉ niệm ấy vẫn sống mãi trong lòng người mẹ đến bây giờ: “Mẹ còn nhớ sự nôn nao, bồi hồi khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi hốt hoảng khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng bên ngoài cánh cổng như đứng bên ngoài cái thế giới mà mẹ vừa bước vào”. Lời kể của mẹ như một sự luyến tiếc pha lẫn chút tự hào, đồng thời sâu xa trong lòng mẹ, mẹ muốn con mình hãy khắc sâu những kỉ niệm mà con sẽ trải qua và sẽ trở thành quá khứ.

      Lời diễn đạt của tác giả đã thể hiện được những điều thầm kín, sâu xa nhất trong tâm tư, tình cảm của người mẹ đối với con trong ngày đầu tiên con đến trường.

      Tâm trạng của người mẹ trong đêm trước ngày khai trường của con trong văn bản Cổng trường mở ra – mẫu 2

      Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo” Đoạn văn ấy cứ mãi khắc sâu trong tôi sau khi đọc xong văn bản ” Cổng trường mở ra” của Lí Lan cùng với bao tâm trạng vui mừng, buồn lo khó tả của người mẹ.

      Đây là một bài bút kí ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm trước ngày chuẩn bị khai giảng của con vào lớp một cùng với vai trò to lớn của nhà trường, nền

      giáo đục đối với mỗi chúng ta. Không có sự việc, không có cốt truyện theo một chuỗi nhất định nhưng bài văn này đã khá thu hút người đọc bởi mỗi câu văn dạt dào tình cảm với biết bao niềm tâm sự, hồi tưởng kỉ niệm của người mẹ thương yêu con bằng tấm lòng cao cả. Bài văn này đã đưa mỗi chúng ta đến với những rạo rực tinh thần, bâng khuâng khó tả của kí ức tuổi thơ.

      Đi sâu vào trong bài ta có thể cảm nhận được từng cảm xúc, câu từ mượt mà với hai luồng tâm trạng trái ngược. Hình ảnh của người con được miêu tả thật ngây thơ, đáng yêu. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo.

      Mai đã là ngày khai trường, một ngày trọng đại của tuổi thơ cũng như một kỉ niệm đáng nhớ trong cuộc đời, vẫn tâm trạng như trước một chuyến đi xa, người con chỉ háo hức, lo mỗi việc sáng mai sao dậy cho kịp giờ rồi lại chìm vào trong giấc ngủ dễ dàng như ăn một cái kẹo. Tâm trạng ưu tư đó chính là tâm hồn ngây thơ của người con. Tâm trạng ấy phải chăng một phần cũng do tình thương yêu, sự dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ.

      Trong khi người con đang mơ những giấc mơ đẹp thì người mẹ lại trằn trọc, suy nghĩ. Tâm trạng của mẹ như đang ở ngày đầu tiên khai trường của chính mình. Như ngày thường sau khi con đi ngủ, mẹ dọn dẹp nhà cửa, lượm lặt những đồ chơi mà con bày, dàn trận và làm vài việc riêng của mình. Nhưng hôm nay đã làm xong mọi việc mà mẹ vẫn chưa ngủ. Và thực sự mẹ không lo lắng đến mức không ngủ được.

      Bao nhiêu kí ức của tuổi thơ tràn về, thôi thúc trong mẹ. Mẹ liên tưởng cảm xúc của con với mình cách đây đã mấy chục năm. Mẹ hồi tưởng lại cái ngày mà bà ngoại cùng mẹ tiến tới ngôi trường với nỗi chơi vơi và sự hốt hoảng khi cánh cổng đóng lại. Bà đã dẫn mẹ qua cánh cổng của thế giới kì diệu, cánh cổng mang đậm nét tuổi thơ. Mẹ đã phần nào chập chững bước qua cánh cổng ấy một mình với với ý nghĩ tự lập và tâm trạng vui buồn đan xen. Mẹ cũng tin tưởng, hi vọng rằng con sẽ mạnh mẽ bước đi trên con đường học tập trước mắt và con đường đời đầy chông gai của chính con sau này. Những âm thanh cứ văng vẳng bên tai mẹ thật ngọt ngào thân thương: “Hằng năm cứ vào cuối thu, mẹ tôi lại âu yếm dẫn tôi trên con đường dài và hẹp”.

      Mẹ đã trải qua biết bao ngày khai giảng nhưng ngày khai giảng ngày mai là ngày khiến mẹ bận tâm nhất, bận tâm hơn cả ngày khai giảng đầu tiên của mình. Vì đó là cái ngày mà con bắt đầu phải làm quen, bắt đầu phải tiếp xúc với thế giới lạ lẫm, học cách ứng xử với thầy cô, bạn bè. Cái hay của bài văn là bộc lộ cảm xúc qua kí ức, hồi tưởng. Bên cạnh những từ ghép đằng lập thể hiện tâm trạng nhân vật, nhà văn còn dùng những từ ghép chính phụ để miêu tả sự vật và con người khá rõ nét. Những biện pháp nghệ thuật tu từ còn làm tăng sức gợi hình, gợi cảm để khiến cho người đọc như đang lạc vào thế giới của mẹ.

      Tất cả những cảm xúc đó mới chỉ là một phần trong ý nghĩa của văn bản. Vai trò to lớn của nhà trường, nền giáo dục đối với mỗi cá nhân là điều rất cần thiết. Trong bài, người mẹ đã cố gửi gắm, tạo cho con những cảm giác thoải mái khi bước vào cánh cổng trường học. Mẹ đã lo cho con đầy đủ hành trang trước ngày khai trường: từ cặp sách, đến quần áo, bút vở. Sau những hồi tưởng và mong ước, người mẹ ấy đã liên tưởng tới một nền văn minh của nước Nhật: “Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Tất cả mọi người đều nghỉ làm và đưa con tới trường học, không có ưu tiên nào lớn hơn nền giáo dục. Mỗi sai lầm trong giáo dục đều ảnh hưởng, làm chệch đi hàng dặm cả thế hệ sau này”.

      Toàn bộ bài văn là tiếng nói nội tâm của người mẹ. Mẹ không trực tiếp nói với con hay với ai, mà mẹ nói với chính mẹ, nói với kí ức, tâm hồn tuổi thơ và cả cảm nhận của mẹ. Đêm nay mẹ không ngủ được, mẹ ngắm nhìn con với những ưu tư, ôn lại những kỉ niệm đẹp đẽ. Cách viết này làm nổi bật được tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhân vật. Đó cũng như lời tâm sự nhỏ nhẹ của tác giả đối với bạn đọc một cách tinh tế, thấm thía, lay động, truyền cảm mạnh mẽ tới tư tưởng, suy nghĩ, lập trường của họ.

      Nói chung thông điệp của tác giả gửi tới mọi người là vai trò của trường học thông qua những kí ức, tâm sự của người mẹ. Mẹ đã được trải qua những năm tháng chập chững của ngày khai trường và cũng đặt niềm hi vọng của mình vào đứa con thơ. Thế giới kì diệu của người mẹ chính là định hướng cho con một con đường đúng đắn, đó chính là con đường học tập. Con đường này là mơ ước của mẹ cũng là mơ ước của biết bao nhiêu người đặt lên con cái mình. Học tập là nghĩa vụ cao cả của tuổi trẻ đối với gia đình, Tổ quốc, chính vì vậy mà chúng ta cần phải hiểu rằng “Bước qua cánh cổng trường học là một thế giới kì diệu sẽ mở ra. Thế giới ấy chính là chân trời của văn hoá, khoa học”.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Hãy Nêu Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Bài Nhớ Rừng ,ông Đồ , Quê Hương ,khi Con Tu Hú , Tức Cảnh Pác Bó . Nhanh Nha Mk Đang Cần Gấp
    • Bài Thơ Nhớ Rừng (Thế Lữ)
    • Phân Tích 2 Chi Tiết Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Rừng Xà Nu
    • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu
    • Văn Mẫu Phân Tích Hình Tượng Cây Xà Nu Trong Rừng Xà Nu Hay, Đặc Sắc

    Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Thiếu Nhi (Cứ Liệu Lhảo Sát Sgk Tiếng Việt Tiểu Học Sau Năm 2000)

    --- Bài mới hơn ---

  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Của Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Và Làm Rõ Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Lớp 9 Môn Ngữ Văn Năm Học 2022
  • Bài Văn Phân Tích Yếu Tố Dân Gian Được Sử Dụng Trong Bài Thơ Bánh Trôi
  • Bài Văn Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 8 Câu Thơ Cuối Đoạn Trí
  • Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    MỞ ĐẦU

    1 . Lí do chọn đề tài

    Thơ, văn là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của

    chúng ta, là tiếng nói, là hơi thở của những con tim đang khao khát chinh

    phục những nẻo đường văn chương. Thơ, văn phản ánh cuộc sống bằng hình

    tượng và chất liệu để xây dựng hình tượng chính là ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ,

    tiếng thơ trở nên chân thực, gần gũi với đời sống hiện thực, thể hiện được trí

    tưởng tượng bay bổng, kì diệu và những tình cảm của con tim đang xúc động.

    Chiều sâu của sức suy nghĩ, tính chất mẫn cảm và tinh tế của sức sáng tạo,

    những trạng thái rung động của tâm hồn…, tất cả chỉ có thể đến với độc giả

    bằng nghệ thuật của ngôn từ. Tác giả Đinh Trọng Lạc nhận xét “Cái làm nên

    sự kì diệu của ngôn ngữ chính là các phương tiện, biện pháp tu từ”. Cho nên

    khi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu một tác phẩm nhất thiết phải tìm hiểu ngôn

    ngữ, lí giải các yếu tố ngôn ngữ đã được nhà văn lựa chọn, sử dụng để nắm

    bắt nội dung tác phẩm.

    Là một loại hình lấy nghệ thuật ngôn từ làm phương tiện thể hiện. Văn

    chương có khả năng tác động kì diệu đến đời sống tâm hồn của con người.

    Góp vào khả năng đó có hiệu quả của các biện pháp tu từ mà điệp ngữ là một

    biện pháp tiêu biểu. Một mặt điệp ngữ có khả năng khắc họa hình ảnh gây ấn

    tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động. Mặt khác điệp ngữ

    còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể, sinh động, diễn đạt được mọi

    sắc thái biểu cảm. Tu từ điệp ngữ còn là phương thức bộc lộ tâm tư tình cảm

    một cách chân thành và giản dị nhất. Điệp ngữ có tác dụng gợi mở, nhấn

    mạnh, tạo cảm xúc mạnh mẽ, độc đáo mà gần gũi với độc giả nhất là với thiếu

    nhi. Chính vì vậy tu từ điệp ngữ được sử dụng phổ biến trong thơ đặc biệt là

    thơ thiếu nhi. Tu từ điệp ngữ giúp các em hiểu và cảm nhận được những bài

    thơ, bài văn hay. Từ đó góp phần mở mang tri thức, làm phong phú tâm hồn,

    Hoàng Phương Thảo

    1

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    tạo cảm hứng khi viết văn, rèn luyện ý thức yêu quý tiếng Việt, ý thức giữ gìn

    sự trong sáng của tiếng Việt cho học sinh đặc biệt là học sinh Tiểu học.

    Những tri thức này sẽ là nền móng vững chắc để các em tiếp tục học lên các

    lớp trên.

    Biện pháp tu từ điệp ngữ là một biện pháp xuất hiện với tần số rất cao

    trong thơ viết cho thiếu nhi nói chung và thơ trong các bài thơ tuyển dạy trong

    sách Tiếng Việt Tiểu học nói riêng. Chính biện pháp tu từ này sẽ giúp các em

    học sinh thêm yêu thích hứng thú khi tiếp cận với thơ thiếu nhi, góp vào vốn

    tri thức của các em một biện pháp nghệ thuật độc đáo, giúp các em đến gần

    hơn với thơ. Nhờ nghệ thuật độc đáo này mà thơ trở nên gần gũi, thân quen dễ

    thuộc, dễ nhớ và trở thành những bài học nằm lòng của tuổi thơ.

    Hiệu quả tu từ của điệp ngữ trong thơ đã được nhiều tác giả đi sâu tìm

    hiểu. Song đây vẫn luôn là một đề tài mở cho những người yêu thích khám

    phá cái hay cái đẹp của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ trong thơ thiếu nhi. Đây

    cũng là một cơ hội để người làm khóa luận được trang bị thêm vốn kiến thức

    chuyên môn, năng lực tư duy, năng lực cảm thụ thơ thiếu nhi, đồng thời làm

    giàu vốn ngữ liệu để giảng dạy tốt hơn môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học

    trong tương lai.

    Từ những lí do trên thôi thúc chúng tôi lựa chọn, đi sâu tìm hiểu đề tài:

    “Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp điệp ngữ trong thơ thiếu nhi (Cứ

    liệu khảo sát: SGK “Tiếng Việt” Tiểu học sau năm 2000).

    2. Lịch sử vấn đề

    Vấn đề điệp ngữ đã được các nhà Phong cách học và Ngữ pháp văn bản

    quan tâm nghiên cứu từ lâu và đề cập đến trong nhiều giáo trình ngôn ngữ.

    Phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của từng chuyên ngành có khác

    nhau dẫn đến những quan điểm khác nhau trong vấn đề này. Có thể điểm qua

    Hoàng Phương Thảo

    2

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    lịch sử nghiên cứu vấn đề thông qua các công trình nghiên cứu của một số

    nhà Việt ngữ học như sau:

    2.1. Việc nghiên cứu biện pháp điệp ngữ dưới góc nhìn của một số nhà

    Ngữ pháp học văn bản

    Các nhà Ngữ pháp học văn bản khi nghiên cứu về vấn đề liên kết trong

    văn bản đã đưa ra những quan điểm về biện pháp điệp ngữ như sau:

    2.1.1. Tác giả Trần Ngọc Thêm (1985), trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản

    tiếng Việt”, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, cho rằng: “Dấu hiệu

    cho phép phân biệt văn bản với phi văn bản chính là sự liên kết về hình thức

    và nội dung của các câu trong văn bản”.

    Về mặt liên kết hình thức, tác giả Trần Ngọc Thêm chia các phương

    thức liên kết thành 3 nhóm:

    – Các phương thức liên kết chung dùng được cho cả ba loại phát ngôn.

    – Các phương thức liên kết hợp nghĩa.

    – Các phương thức liên kết trực thuộc.

    Trong đó, nhóm phương thức liên kết chung bao gồm năm phương thức

    liên kết cơ bản. Đó là: phép lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên

    tưởng, phép tuyến tính.

    Khi giới thiệu về các phương thức liên kết chung tác giả Trần Ngọc

    Thêm đã đưa phép lặp từ, ngữ vào phép lặp từ vựng – một loại nhỏ trong phép

    lặp. Ông cho rằng: “Phép lặp từ vựng là một dạng thức của phương thức lặp

    mà ở đó chủ tố và lặp tố là những yếu tố từ vựng (thực từ, cụm từ)”.

    2.1.2. Cũng đề cập đến các phương thức liên kết câu trong văn bản, tác giả

    Diệp Quang Ban, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, NXBGD, 2005, đã đưa

    ra 5 phép liên kết cơ bản sau:

    – Phép quy chiếu.

    – Phép thế.

    – Phép tỉnh lược.

    – Phép nối.

    – Phép liên kết từ vựng.

    Trong đó, phép liên kết từ vựng gồm ba phép nhỏ: lặp từ ngữ; dùng từ

    đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa; phối hợp từ ngữ.

    Điệp ngữ được đề cập đến trong phép lặp từ ngữ của phương thức liên

    kết từ vựng.

    Theo tác giả Diệp Quang Ban thì phép liên kết từ vựng là “Lựa chọn

    những từ ngữ có quan hệ như thế nào đó với những từ ngữ đã có trước, và

    trên cơ sở đó làm cho câu chứa từ ngữ có trước với câu chứa từ ngữ mới

    được chọn này liên kết với nhau”.

    Căn cứ về mặt nghĩa của từ, tác giả Diệp Quang Ban chỉ ra mối quan hệ

    giữa từ ngữ được lặp (vốn có trước) với từ, ngữ dùng để lặp (xuất hiện sau)

    theo hai hướng:

    – Đồng nhất trong quy chiếu (có cùng cơ sở quy chiếu).

    – Không đồng nhất trong quy chiếu (không cùng cơ sở quy chiếu).

    Như vậy, thông qua việc tóm lược lại các công trình nghiên cứu về điệp

    ngữ của các nhà Ngữ pháp học, có thể thấy: Quan điểm về điệp ngữ và cách

    phân loại điệp ngữ của các nhà nghiên cứu Ngữ pháp học chưa thật thống

    nhất. Điều này gây nên những khó khăn nhất định khi tìm hiểu hệ thống nhất

    định. Chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nêu khái niệm và liệt kê các cách phân

    loại để giới thiệu biện pháp tu từ này.

    2.2. Việc nghiên cứu biện pháp điệp ngữ dưới góc nhìn của các nhà

    Phong cách học tiếng Việt

    2.2.1. Từ nửa sau thế kỷ XX, khi lý thuyết ngôn ngữ học bắt đầu phát triển thì

    điệp ngữ đã được một số nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Điệp ngữ

    thu hút được sự chú ý là bởi hiệu quả biểu đạt của nó trong văn bản, đặc biệt

    là trong văn bản nhệ thuật. Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “Giáo trình Việt

    ngữ”, tập III (Tu từ học), đã phát hiện: trong giao tiếp “không phải do cẩu thả

    mà chính do một dụng ý, tác giả muốn nhấn mạnh vào những từ ngữ cần

    thiết, để cho tư tưởng, tình cảm biểu hiện trở nên mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu

    sắc với người đọc. Trong trường hợp này, chúng ta có điệp ngữ”.

    2.2.2. Năm 1982, NXBGD, đã cho ra đời cuốn “Phong cách học tiếng Việt”

    của nhóm tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa. Trong giáo trình

    này kế thừa và bổ sung thêm những phát hiện về biện pháp điệp ngữ, nhóm

    tác giả nghiên cứu đã đưa ra 4 kiểu điệp ngữ đó là:

    – Điệp nối tiếp.

    – Điệp cách quãng.

    – Điệp vòng tròn.

    – Điệp kiểu câu và điệp phô diễn.

    2.2.3. Tiếp tục đề cập đến vấn đề điệp ngữ trong văn bản, năm 1983, tác giả

    Cù Đình Tú, trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, NXB

    Đại học và trung học chuyên nghiệp đã đưa ra quan điểm của ông về vấn đề

    này thông qua việc phân chia các loại điệp ngữ như sau:

    – Điệp liên tiếp.

    – Điệp cách quãng.

    – Điệp đầu.

    – Điệp đầu – cuối.

    – Điệp cuối – đầu.

    Hoàng Phương Thảo

    6

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    – Điệp vòng tròn.

    – Điệp theo kiểu diễn đạt .

    Qua việc phân loại điệp ngữ như trên có thể thấy cách nhìn của tác giả Cù

    Đình Tú vừa có điểm gặp gỡ lại vừa có điểm không đồng nhất với nhóm tác giả cuốn

    “Phong cách học tiếng Việt”, (1982). Cách phân chia của tác giả Cù Đình Tú cụ thể

    hơn và có khả năng phân loại cao dựa vào vị trí và mục đích của yếu tố điệp.

    2.2.4. Năm 1997, trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt”, NXBGD tác

    giả Nguyễn Thái Hòa đã đưa ra cách quan niệm và nhìn nhận về điệp ngữ như

    sau: “Điệp ngữ là biện pháp lặp lại một hay nhiều lần những từ, ngữ… nhằm

    mục đích mở rộng ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc

    trong lòng người đọc, người nghe”. Theo đó cách phân chia điệp ngữ cũng có

    nhiều điểm khác biệt, theo những tiêu chí khác nhau:

    – Theo các yếu tố: điệp ttừ, điệp ngữ, điệp đoạn, điệp câu.

    – Theo vị trí: điệp đầu câu, điệp giữa câu, điệp cách quãng, điệp liên tiếp.

    – Theo tính chất: điệp đơn giản và điệp phức tạp.

    2.2.5. Tác giả Đinh Trọng Lạc, trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ

    tiếng Việt”, NXBGD, 1999, kế thừa quan điểm của mình trước đó và quan

    điểm của nhiều nhà Việt ngữ học ông đã đưa ra cách nhìn tương đối thống

    nhất về điệp ngữ. Ông cho rằng: “Điệp ngữ là một phương tiện tu từ cú pháp.

    Đó là sự lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh ý nghĩa,

    gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người

    nghe”. Theo đó khi phân chia điệp ngữ ông đã đưa điệp đầu câu, điệp cuối

    câu, điệp giữa câu vào một loại là “điệp cách quãng”. Có 3 loại điệp cơ bản:

    – Điệp ngữ nối tiếp.

    – Điệp ngữ cách quãng.

    – Điệp ngữ vòng tròn.

    Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, giá trị tu từ của điệp ngữ được thể hiện ở

    một số phương diện sau:

    1.3.1. Nhờ có điệp ngữ, câu văn tăng thêm tính cân đối, nhịp nhàng, hài hòa,

    có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa nào đó, làm nổi bật những từ

    quan trọng, khiến cho lời nói trở nên sâu sắc, thấm thía và có sức thuyết phục

    mạnh. Ví dụ:

    “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80

    năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy

    năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”.

    1.3.2. Chức năng tu từ học của điệp ngữ được phát hiện ra trong mối liên hệ

    qua lại với ngữ cảnh. Đó là việc gây ra một phản ứng trực tiếp có màu sắc

    biểu cảm – cảm xúc ở phía người nghe (người đọc): ngạc nhiên, vui mừng,

    bực bội, sỡ hãi… đối với điều mà người nói nói ra.

    Ví dụ:

    “Giôn – xơn !

    Tội ác bay chồng chất

    Nhân danh ai

    Hoàng Phương Thảo

    18

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Bay mang những B.52

    Những na pan, hơi độc

    Đến Việt Nam

    Để đốt những nhà thương, trường học

    Giết những con người chỉ biết yêu thương

    Giết những trẻ em chỉ biết đến trường

    Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá

    Và giết cả những dòng sông có thơ ca nhạc họa ?”

    (Ê- mi- li, con – Tố Hữu)

    Trong giới hạn một phát ngôn, điệp ngữ thường được dùng như một

    phương tiện tăng cường logic – cảm xúc nghĩa của phát ngôn.

    Trong văn nghệ, điệp ngữ mới phát huy được đầy đủ khả năng tu từ học

    của mình ở khả năng tạo hình, mô phỏng âm thanh, diễn tả nhiều sắc thái

    khác nhau của tình cảm: vui mừng, cảm động, thiết tha, trìu mến…

    Hoàng Phương Thảo

    19

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Chương 2: Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại biện pháp

    điệp ngữ trong thơ

    2.1. Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại biện pháp điệp ngữ

    Chúng tôi tiến hành khảo sát 150 bài thơ viết trong SGK Tiếng Việt lớp

    1, 2, 3, 4, 5 (sau năm 2000). Qua khảo sát chúng tôi thấy biện pháp tu từ điệp

    ngữ đã được sử dụng ở hầu hết các bài thơ. Trong quá trình khảo sát chúng tôi

    thống kê được 420 trường hợp sử dụng phép tu từ này. Căn cứ vào cơ sở phân

    loại đã trình bày ở chương 1, chúng tôi phân chia các trường hợp điệp thành

    các kiểu điệp sau:

    2.1.1. Điệp cách quãng

    Trong 420 trường hợp sử dụng điệp ngữ chúng tôi thống kê được 147

    trường hợp điệp cách quãng (chiếm 35%). Căn cứ vào cách thức sử dụng từ,

    ngữ chúng tôi chia điệp cách quãng thành 3 tiểu loại:

    a. Điệp các từ, ngữ ở các vị trí khác nhau trong dòng thơ

    Loại này thống kê được 132 phiếu (chiếm 90%)

    Ví dụ 1:

    “Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh”

    (Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

    Ví dụ 2:

    “Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng”

    (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)

    Ví dụ 3:

    “Trời trong đầy tiếng rì rào

    Đàn cò đánh nhịp bay vào, bay ra

    Đứng canh trời đất bao la

    Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi”

    (Cây dừa – Trần Đăng Khoa)

    Hoàng Phương Thảo

    20

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    b. Điệp các từ, ngữ ở các vị trí khác nhau trong đoạn thơ

    Chúng tôi thống kê được 13 phiếu (chiếm 8,8%).

    Ví dụ 1:

    “Đêm đêm cháu những bâng khuâng

    Giở xem ảnh Bác cất thầm bấy lâu.

    Nhìn mắt sáng, nhìn chòm râu

    Nhìn vầng trán rộng, nhìn đầu bạc phơ.

    Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ

    Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn.”

    (Cháu nhớ Bác Hồ – Thanh Hải)

    Ví dụ 2:

    “Ngôi sao ngủ với bầu trời

    Bé nằm ngủ với à ơi tiếng bà

    Gió còn ngủ tận thung xa

    Để con chim ngủ la đà ngọn cây

    Núi cao ngủ giữa chăn mây

    Quả sim béo mọng ngủ ngay vệ đường

    Bắp ngô vàng ngủ trên nương

    Mệt rồi tiếng sáo ngủ vườn trúc xanh.”

    (Dòng suối thức – Quang Huy)

    c. Điệp các từ, ngữ ở các vị trí khác nhau trong bài thơ

    Loại này chiếm tỉ lệ rất ít chỉ có 2 phiếu (chiếm 1,2%)

    Ví dụ:

    “Trời thu bận xanh

    Sông Hồng bận chảy

    Cái xe bận chạy

    Lịch bận tính ngày

    Hoàng Phương Thảo

    21

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Con chim bận bay

    Cái hoa bận đỏ

    Cờ bận vẫy gió

    Chữ bận thành thơ

    Hạt bận vào mùa

    Than bận làm lửa.

    Cô bận cấy lúa

    Chú bận đánh thù

    Mẹ bận hát ru

    Bà bận thổi nấu.

    Còn con bận bú

    Bận ngủ bận chơi

    Bận tập khóc cười

    Bận nhìn ánh sáng.

    Mọi người đều bận

    Nên đời rộn vui

    Con vừa ra đòi

    Biết chăng điều đó

    Mà đem vui nhỏ

    Góp vào đời chung.

    (Bận – Trinh Đường)

    2.1.2. Điệp đầu

    Điệp đầu được sử dụng trong 112 trường hợp (chiếm 26,7%), được chia

    thành các tiểu loại sau:

    Hoàng Phương Thảo

    22

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    a. Điệp các từ, ngữ đầu dòng thơ

    Chúng tôi thống kê được 93 phiếu (chiếm 77%). Từ được điệp có thể

    đứng ở đầu các câu thơ liên tiếp nhau hoặc không liên tiếp nhau. Trong loại

    này lại chia thành 2 tiểu loại nhỏ:

    – Điệp đầu là một từ: có 77 phiếu (chiếm 82,8%).

    Ví dụ 1:

    “Những cánh đồng thơm mát

    Những ngả đường bát ngát

    Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

    (Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

    Ví dụ 2:

    “Suối là tiếng hát của rừng

    Từ cơn mưa bụi ngập ngừng trong mây

    Từ giọt sương của lá cây

    Từ trong vách đá mạch đầy tràn ra.”

    (Suối – Vũ Duy Thông)

    Ví dụ 3:

    “Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình.

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

    (Nhớ Việt Bắc – Tố Hữu)

    – Điệp đầu là một ngữ: có 16 phiếu (chiếm 17,2%).

    Ví dụ:

    “Những chú ngựa xanh lại nằm trên cỏ

    Những chú ngựa hồng lại phi trong lửa”

    (Nếu trái đất thiếu trẻ con – Đỗ Trung Lai)

    Hoàng Phương Thảo

    23

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    b. Điệp các từ, ngữ đầu ở câu đầu khổ thơ

    Kiểu điệp này chúng tôi thống kê được 19 phiếu (chiếm 23%). Đây là

    kiểu điệp mà câu đầu của khổ thơ trên được điệp lại ở câu đầu của các khổ thơ

    tiếp theo. Các từ, ngữ trong câu thơ có thể được giữ nguyên hoặc có một số

    yếu tố được biến đổi cho phù hợp với vần điệu.

    Ví dụ 1:

    “- Ngày hôm qua ở lại

    Trên cành hoa trong vườn

    -Ngày hôm qua ở lại

    Trong hạt lúa mẹ trồng

    -Ngày hôm qua ở lại

    Trong vở hồng của con…”

    (Ngày hôm qua đâu rồi – Bế Kiến Quốc)

    Ví dụ 2:

    “Em yêu màu đỏ

    Như máu trong tim

    Em yêu màu xanh

    Đồng bằng, rừng núi

    Em yêu màu vàng

    Lúa đồng chín rộ

    Em yêu màu trắng

    Trang giấy tuổi thơ

    Hoàng Phương Thảo

    24

    K34B – GDTH

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Em yêu màu đen

    Hòn than óng ánh

    Em yêu màu tím

    Hoa cà, hoa sim

    Em yêu màu nâu

    Áo mẹ sờn bạc”

    (Sắc màu em yêu – Phạm Đình Ân)

    2.1.3. Điệp cuối

    Đây là kiểu điệp xuất hiện rất ít trong các loại điệp. Chúng tôi thống kê

    được 14 phiếu (chiếm 3,3%). Điệp cuối có thể điệp liền nhau hoặc không liền

    nhau. Căn cứ vào cách thức sử dụng chúng tôi chia điệp cuối thành các loại

    sau:

    a. Điệp cuối là một từ

    Kiểu điệp này có 8 phiếu (chiếm 57,1%).

    Ví dụ 1:

    “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

    (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận)

    Ví dụ 2:

    “Ai trồng cây

    Người đó có tiếng hát

    Trên vòm cây

    Chim hót lời mê say”

    (Ai trồng cây – Bế Kiến Quốc)

    Hoàng Phương Thảo

    25

    K34B – GDTH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ
  • Phân Tích Nội Dung, Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Quê Hương
  • Phân Tích 3 Khổ Cuối Mùa Xuân Nho Nhỏ (Phân Tích Nghệ Thuật Luôn)
  • Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nhỏ Nhỏ
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Phương Pháp Tránh Thai Nào Tốt Nhất Cho Bạn?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Hiệu Quả
  • Để viết một bài văn cho người đọc vào có cảm giác lôi cuốn và hấp dẫn bởi phần nội dung và hình thức trình bày, thì các bạn cần sử dụng kết hợp một cách khéo léo các biện pháp nghệ thuật trong bài viết của mình, một số biện pháp đó là: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…..

    Các biện pháp nghệ thuật trong văn bản:

    Trước tiên ta cần tìm hiểu lí thuyết về cụm từ “biện pháp nghệ thuật “, là những nguyên tắc thi pháp trong việc tổ chức một phát ngôn nghệ thuật ( nguyên tắc xây dựng cốt truyện, quy tắc phân chia thể loại, nguyên tắc phong cách, thể thức câu thơ…) việc đưa các biện pháp nghệ thuật là đã có sự dự tính sẵn của tác giả, khi đã xác định được những mục đích, do đó nếu lựa chọn được một biện pháp nghệ thuật thích hợp sẽ là tác phẩm trở nên đắc giá.

    Các loại chúng ta thường gặp:

    1. So sánh

    – Là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, đặc biệt là có nét tương đồng

    Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hóa

    – Là dùng những từ ngữ vốn miêu tả hành động bản chất của con người để gán vào sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    3. Ẩn dụ

    – Là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác, chúng có nét tương đồng với nhau

    Ví dụ: Mặt trời của Mẹ thì nằm trên lưng

    Cách nhận biết giữa so sánh và ẩn dụ:

    • So sánh: có dấu hiệu nhận biết qua các từ như sau: là, như, bao nhiêu…. bấy nhiêu.
    • Ẩn dụ: có dấu hiệu nhận biết qua các nét tương đồng của 2 sự vật hiện tượng.

    4. Hoán dụ

    – Là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vât, hiện tượng khác có nét tương đồng gần gũi

    Ví dụ: Áo chàm đưa buổi phân li / Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    Cách so sánh nhân hóa và hoán dụ:

    • Nhân hóa có sự nhận biết đó là có chứa các từ tên gọi, hoạt động của con người.
    • Hoán dụ có sự nhận biết là 2 sự vật có nét giống nhau

    5. Nói quá

    – Là biện pháp dùng để phóng đại qui mô,tính chất của sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Chân to giống cái cột đình

    6. Nói giảm nói tránh

    – Là biện pháp nhằm diễn đạt các ý văn thơ một cách tế nhị, uyển chuyển

    Ví dụ: Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    7. Điệp từ, điệp ngữ

    – Là biện pháp được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ hay một cụm từ

    Ví dụ: Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…

    8. Chơi chữ

    – Là biện pháp được sử dụng đặc sắc về âm sắc, về nghĩa của từ

    Ví dụ: Trời cho = Trò chơi

    – Đó là những biện pháp nghệ thuật thông dụng trong chương trình văn học các học sinh thường gặp mà chúng tôi tổng hợp. Chúng tôi hi vọng rằng bài viết này đã tóm tắt một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất để giúp các em trong quá trình học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Nêu Giá Trị Biểu Hiện Của Biện Pháp Điệp Ngữ Được Sử Dụng Trong Đoạn Văn Sau

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Để Bảo Vệ Môi Trường
  • 7 Bí Quyết Vàng Giúp Trẻ Mạnh Dạn Tự Tin Trong Giao Tiếp
  • Nếu Mẹ Muốn Con Tự Tin Trong Giao Tiếp, Sớm Tự Lập Thì Đừng Quên 13 Điều Cần Làm Mỗi Ngày Này Nhé
  • Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực Nhận Thức Của Học Sinh Lớp 4,5 Trong Dạy Học Luyện Từ Và Câu
  • Skkn Dạy Học Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Học Tập Của Học Sinh
  • c)

    Đối với mỗi người văn chương có những ý nghĩa, cảm nhận khác nhau. Nhưng ai cũng hiểu rằng văn chương là một thứ trừu tượng, ta không thể nhìn thấy hay chạm vào nó mà chỉ có thể lắng nghe và cảm nhận thôi. Văn chương là nơi kết tụ cái tinh hoa của cuộc sống. Văn chương còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng với đời sống con người. “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có” chính là công dụng của văn chương, Nghĩa là văn chương mở ra cho ta những “chân trời mới”, bồi đắp tình cảm tốt đẹp cho ta, làm giàu thêm cho thế giới tâm hồn ta. Và văn chương khai phá những tình cảm xưa nay ẩn sâu trong trái tim ta và bồi dưỡng những thứ tình cảm ấy thêm lớn hơn nữa. Vì sao trong tác phẩm “Ý nghĩa văn chương”, nhà văn Hoài Thanh lại nói “Văn chương luyện những tình cảm ta sẵn có”. Vì văn chương dạy, giúp ta hiểu thêm được ý nghĩa, giá trị của tình cảm gia đình là to lớn, là quan trọng thế nào. Giúp cho mỗi lứa học sinh chúng ta thấm thía hơn công lao dưỡng dục của cha mẹ; sự vất vả, những giọt mồ hôi phải rơi xuống của cha mẹ để nuôi chúng ta lớn lên từng ngày. Qua câu ca dao ông cha ta nói ngày xưa: ” Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, ta đã thấy được tình cảm của cha mẹ dành cho chúng ta là vô bến bờ, cha mẹ luôn luôn yêu thương ta, che chở ta mãi mãi. Và qua những dòng văn thơ, văn chương cũng cho chúng ta biết ông bà, những người tuy không sinh ra chúng ta nhưng ông bà đã cùng bố mẹ nuôi nấng, chăm sóc chúng ta nên người. Và nhờ ông bà thì mới có bố mẹ, để rồi có chúng ta ngày hôm nay. Từ đó mà ta nhận ra một điều rằng càng phải biết ơn, kính yêu ông bà hơn nữa. Và cũng từ câu ca dao xưa đã giúp ta hiểu được đạo lí ấy: “Ngó lên nuộc lạt mái nhà / Bao nhiêu nuộc lát nhớ ông bà bấy nhiêu”. Văn chương cho ta biết giá trị tình cảm gia đình, và văn chương còn cho ta biết ý nghĩa của tình bạn bè, bằng hữu. Văn chương ngày nay đã có bao nhiêu những tác phẩm nói lên tình bạn thực sự, đẹp đẽ, tri kỉ. Dưới ngòi bút tinh tế của nhà thơ Nguyễn Khuyến trong văn bản “Bạn đến chơi nhà”, tình bạn đã hiện lên thật giản dị mà cũng thật cao thượng. Tình bạn là 1 thứ tất yếu, tình bạn không cần của cải vật chất. Bạn bè luôn hiểu ta nhất, luôn bên ta, biết ta cần gì,…Qua bài thơ “Bạn đến chơi nhà” mà ta thêm trân trọng tình cảm bạn bè dành cho nhau, một thứ tình cảm tồn tại mãi mãi… Văn chương giúp ta thấm thía được tình cảm gia đình, thêm trân trọng tình bạn thiêng liêng và giờ văn chương đẩy mạnh tình yêu nước trong tim mỗi con người. Những lời văn sinh động, chất chứa đầy tình cảm thúc đẩy niểm tự hào của ta về quê hương đất nước: vẻ đẹp tiềm ẩn, cảnh sắc quê hương, truyền thống văn hóa đặc sắc, một lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng,… Qua những lời văn miêu tả tinh tế, chân thật trong văn bản “Sài Gòn tôi yêu” hay Mùa xuân của tôi”,… ai mà chẳng tự hào, ngượng mộ vẻ đẹp tự nhiên tiềm ẩn của quê hương Việt Nam ta. Còn qua hai tác phẩm ” Một thứ quà của lúa non: Cốm” và ” Ca Huế trên sông Hương”, một lần nữa ta lại thêm tự hào về nền văn hóa đặc sắc lâu đời của dân tộc ta. Đến khi đọc những tác phẩm “Lòng yêu nước của nhân ta”, “Nam quốc sơn hà”,… ta lại phải khâm phục sức kiên cường, không lùi bước chiến đấu của dân tộc ta, để lại một trang sử hào hùng. Qua những dẫn chứng trên, ta thấy văn chương đã tạo ra những phép màu cho cuộc sống, tạo ra tình cảm giữa con người với con người. Văn chương đã bồi dương tâm hồn ta, mở rộng cánh cửa nhân ái của lòng ta, giúp ta hiểu thêm tình đời tình người. Văn chương khơi dậy lòng trắc ẩn trong mỗi người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Các Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022
  • Các Quy Định Pháp Luật Về Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt
  • Quy Định Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt
  • Bài 21: Để Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt Phát Huy Tác Dụng Đấu Tranh Với Tội Phạm Tham Nhũng…
  • Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nghệ Thuật Nhân Hóa Bien Phap Tu Tu Nhan Hoa Doc
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Top 6 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nhỏ Nhỏ
  • Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng đẻ gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.

    Từ nhân hoá nghĩa là trở thành người. Khi gọi tả sự vật người ta thường gán cho sự vật đặc tính của con người. Cách làm như vậy được gọi là phép nhân hoá.

    VD:

    (Trần Đăng Khoa)

    Nhân hoá được chia thành các kiểu sau đây:

    + Gọi sự vật bằng những từ vốn gọi người

    VD:

    Dế Choắt ra cửa, hé mắt nhìn chị Cốc. Rồi hỏi tôi :

    – Chị Cốc béo xù đứng trước cửa nhà ta đấy hả ?

    (Tô Hoài)

    + Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động, tính chất sự vật.

    VD :

    Muôn nghìn cây mía

    Múa gươm

    Kiến

    Hành quân

    Đầy đường

    (Trần Đăng Khoa)

    + Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động tính chất của thiên nhiên

    VD :

    Ông trời

    Mặc áo giáp đen

    Ra trận

    (Trần Đăng Khoa)

    + Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người

    VD :

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất ?

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt trên vai

    (Ca dao)

    Em hỏi cây kơ nia

    Gió mày thổi về đâu

    Về phương mặt trời mọc…

    (Bóng cây kơ nia)

    Phép nhân hoá làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm ; làm cho thế giới đồ vật, cây cối, con vật được gần gũi với con người hơn.

    VD :

    Bác giun đào đất suốt ngày

    Hôm qua chết dưới bóng cây sau nhà.(Trần Đăng Khoa)

    Trong câu ca dao sau đây:

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta

    Cách trò chuyện với trâu trong bài ca dao trên cho em cảm nhận gì ?

    – Chú ý cách xưng hô của người đối với trâu. Cách xưng hô như vậy thể hiện thái độ tình cảm gì ? Tầm quan trọng của con trâu đối với nhà nông như thế nào ? Theo đó em sẽ trả lời được câu hỏi.

    Tìm phép nhân hoá và nêu tác dụng của chúng trong những câu thơ sau:

    Trong gió trong mưaChú ý cách dùng các từ vốn chỉ hoạt động của người như:

    Ngọn đèn đứng gác

    Cho thắng lợi, nối theo nhau

    Đang hành quân đi lên phía trước.

    – Đứng gác, nối theo nhau, hành quân, đi lên phía trước.

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.
  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100