Qua Dòng Hồi Tưởng Của Người Mẹ Trong Văn Bản “cổng Trường Mở Ra”. Tác Giả Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì? Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó?

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Thứ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Cảm Nhận Về Khổ 3 Bài Thơ Nhớ Rừng Lớp 8 Hay Nhất
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Sang Thu
  • Trong ngày đầu tiên khai trường, không chỉ người con mà người mẹ cũng có những lo âu, hồi hộp, tựa như mẹ là người cũng phải đến trường. Những lo âu ấy đã cho thấy sự hi sinh cao cả của người mẹ đối với con.

    Trước ngày khai trường, mẹ đã chuẩn bị cho con mọi hành trang để con bước vào thế giới mới. Đó là cái thế giới mà mẹ không thể bên con mãi như những ngày qua. Mẹ đã sắm cho con những thứ cần thiết để ngày mai con đến trường, từ quần áo, giày dép, nón đến cặp sách, tập vở: “Việc chuẩn bị quần áo mái, giày nón mới, cặp sách mới, tập vở mới, mọi thứ đâu đó đã sẵn sàng, khiến con cảm nhận được sự quan trọng của ngày khai trường”. Khi người con đãyên giấc ngủ thì người mẹ vẫn còn làm nốt những công việc trong ngày và không quên: “đắp mền cho con, buông mùng, ém góc cẩn thận”. Mọi hôm, khi con đã ngủ thì mẹ “lượm những chiếc xe thiết giáp dưới gầm ghế, cạnh chân bàn, những chú rô-bốt bằng nhựa đứng ngồi khắp nơi, và giữa nhà là đoàn quân thùdàn trận trong một cuộc chiến tranh Sư Tử – Khủng Long mà ngày nào con cũng bày ra”.

    Nhưng hôm nay là ngày đặc biệt, là cái ngày mà chỉ cồn một đêm nữa con sẽ trở thành “học sinh lớp Một rồi”. Do vậy, những công việc ấy con đã làm giúp mẹ, con làm với sự tự giác của người sắp trở thành học sinh lớp Một. Mẹ không biết làm gì nữa nhưng mẹ vẫn không ngủ, đơn giản vì mẹ không ngủ được. Cái cảm giác ngày mai đứa con mình đến trường lần đầu tiên khiến mẹ lo lắng, bồn chồn. Trong khi người mẹ còn thức đó để “nhìn con ngủ một lát, rồi mẹ đi xem lại những thứ đã chuẩn bị cho con”, thì con đã chìm trong giấc ngủ vì “trong lòng con không có mối bận tâm nào khác ngoài chuyện ngày mai thức dậy cho kịp giờ”.

    Tuy nhiên, mẹ không ngủ được không phải chỉ vì mẹ lo lắng cho việc ngày mai con đến trường mà chính ngày khai trường của con đã gợi lại cho mẹ những kỉ niệm không thể nào quên trong cái ngày đầu tiên đi học của chính mẹ. Đó là những kỉ niệm đã ăn sâu vào lòng mẹ và nó lại được gợi ra mỗi khi có những dịp như thế. “Cứ nhắm mắt lại là dường như vang lên bên tai tiếng đọc bài trầm bổng”. Những kỉ niệm của người mẹ giờ trở thành thực tế của con vào ngày hôm sau.

    Người mẹ như muốn nói với con, muôn khắc ghi những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến trong ngày khai trường vào lòng con: “Mẹ muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con. Để rồi bất cứ một ngày nào đó trong đời, khi nhớ lại, lòng con lại rạo rực những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến”. Cứ ngỡ những lời này mẹ nói với con, nhưng không phải, đó là lời mẹ nói với chính mình, mẹ đang tự ôn lại những kỉniệm của tuổi thơ mẹ. Những kỉ niệm ấy đã tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lòng người mẹ: “Ngày mẹ còn nhỏ, mùa hè nhà trường đóng cửa hoàn toàn, và ngày khai trường đúng là ngày đầu tiên học trò lớp Một đến trường gặp thầy mới, bạn. mới. Cho nên ấn tượng của mẹ về buổi khai trường đầu tiên ấy rất sâu đậm” và kỉ niệm ấy vẫn sống mãi trong lòng người mẹ đến bây giờ: “Mẹ còn nhớ sự nôn nao, bồi hồi khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi hốt hoảng khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng bên ngoài cánh cổng như đứng bên ngoài cái thế giới mà mẹ vừa bước vào”. Lời kể của mẹ như một sự luyến tiếc pha lẫn chút tự hào, đồng thời sâu xa trong lòng mẹ, mẹ muốn con mình hãy khắc sâu những kỉ niệm mà con sẽ trải qua và sẽ trở thành quá khứ.

    Lời diễn đạt của tác giả đã thể hiện được những điều thầm kín, sâu xa nhất trong tâm tư, tình cảm của người mẹ đối với con trong ngày đầu tiên con đến trường.

    Tâm trạng của người mẹ trong đêm trước ngày khai trường của con trong văn bản Cổng trường mở ra – mẫu 2

    Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo” Đoạn văn ấy cứ mãi khắc sâu trong tôi sau khi đọc xong văn bản ” Cổng trường mở ra” của Lí Lan cùng với bao tâm trạng vui mừng, buồn lo khó tả của người mẹ.

    Đây là một bài bút kí ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm trước ngày chuẩn bị khai giảng của con vào lớp một cùng với vai trò to lớn của nhà trường, nền

    giáo đục đối với mỗi chúng ta. Không có sự việc, không có cốt truyện theo một chuỗi nhất định nhưng bài văn này đã khá thu hút người đọc bởi mỗi câu văn dạt dào tình cảm với biết bao niềm tâm sự, hồi tưởng kỉ niệm của người mẹ thương yêu con bằng tấm lòng cao cả. Bài văn này đã đưa mỗi chúng ta đến với những rạo rực tinh thần, bâng khuâng khó tả của kí ức tuổi thơ.

    Đi sâu vào trong bài ta có thể cảm nhận được từng cảm xúc, câu từ mượt mà với hai luồng tâm trạng trái ngược. Hình ảnh của người con được miêu tả thật ngây thơ, đáng yêu. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo.

    Mai đã là ngày khai trường, một ngày trọng đại của tuổi thơ cũng như một kỉ niệm đáng nhớ trong cuộc đời, vẫn tâm trạng như trước một chuyến đi xa, người con chỉ háo hức, lo mỗi việc sáng mai sao dậy cho kịp giờ rồi lại chìm vào trong giấc ngủ dễ dàng như ăn một cái kẹo. Tâm trạng ưu tư đó chính là tâm hồn ngây thơ của người con. Tâm trạng ấy phải chăng một phần cũng do tình thương yêu, sự dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ.

    Trong khi người con đang mơ những giấc mơ đẹp thì người mẹ lại trằn trọc, suy nghĩ. Tâm trạng của mẹ như đang ở ngày đầu tiên khai trường của chính mình. Như ngày thường sau khi con đi ngủ, mẹ dọn dẹp nhà cửa, lượm lặt những đồ chơi mà con bày, dàn trận và làm vài việc riêng của mình. Nhưng hôm nay đã làm xong mọi việc mà mẹ vẫn chưa ngủ. Và thực sự mẹ không lo lắng đến mức không ngủ được.

    Bao nhiêu kí ức của tuổi thơ tràn về, thôi thúc trong mẹ. Mẹ liên tưởng cảm xúc của con với mình cách đây đã mấy chục năm. Mẹ hồi tưởng lại cái ngày mà bà ngoại cùng mẹ tiến tới ngôi trường với nỗi chơi vơi và sự hốt hoảng khi cánh cổng đóng lại. Bà đã dẫn mẹ qua cánh cổng của thế giới kì diệu, cánh cổng mang đậm nét tuổi thơ. Mẹ đã phần nào chập chững bước qua cánh cổng ấy một mình với với ý nghĩ tự lập và tâm trạng vui buồn đan xen. Mẹ cũng tin tưởng, hi vọng rằng con sẽ mạnh mẽ bước đi trên con đường học tập trước mắt và con đường đời đầy chông gai của chính con sau này. Những âm thanh cứ văng vẳng bên tai mẹ thật ngọt ngào thân thương: “Hằng năm cứ vào cuối thu, mẹ tôi lại âu yếm dẫn tôi trên con đường dài và hẹp”.

    Mẹ đã trải qua biết bao ngày khai giảng nhưng ngày khai giảng ngày mai là ngày khiến mẹ bận tâm nhất, bận tâm hơn cả ngày khai giảng đầu tiên của mình. Vì đó là cái ngày mà con bắt đầu phải làm quen, bắt đầu phải tiếp xúc với thế giới lạ lẫm, học cách ứng xử với thầy cô, bạn bè. Cái hay của bài văn là bộc lộ cảm xúc qua kí ức, hồi tưởng. Bên cạnh những từ ghép đằng lập thể hiện tâm trạng nhân vật, nhà văn còn dùng những từ ghép chính phụ để miêu tả sự vật và con người khá rõ nét. Những biện pháp nghệ thuật tu từ còn làm tăng sức gợi hình, gợi cảm để khiến cho người đọc như đang lạc vào thế giới của mẹ.

    Tất cả những cảm xúc đó mới chỉ là một phần trong ý nghĩa của văn bản. Vai trò to lớn của nhà trường, nền giáo dục đối với mỗi cá nhân là điều rất cần thiết. Trong bài, người mẹ đã cố gửi gắm, tạo cho con những cảm giác thoải mái khi bước vào cánh cổng trường học. Mẹ đã lo cho con đầy đủ hành trang trước ngày khai trường: từ cặp sách, đến quần áo, bút vở. Sau những hồi tưởng và mong ước, người mẹ ấy đã liên tưởng tới một nền văn minh của nước Nhật: “Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Tất cả mọi người đều nghỉ làm và đưa con tới trường học, không có ưu tiên nào lớn hơn nền giáo dục. Mỗi sai lầm trong giáo dục đều ảnh hưởng, làm chệch đi hàng dặm cả thế hệ sau này”.

    Toàn bộ bài văn là tiếng nói nội tâm của người mẹ. Mẹ không trực tiếp nói với con hay với ai, mà mẹ nói với chính mẹ, nói với kí ức, tâm hồn tuổi thơ và cả cảm nhận của mẹ. Đêm nay mẹ không ngủ được, mẹ ngắm nhìn con với những ưu tư, ôn lại những kỉ niệm đẹp đẽ. Cách viết này làm nổi bật được tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhân vật. Đó cũng như lời tâm sự nhỏ nhẹ của tác giả đối với bạn đọc một cách tinh tế, thấm thía, lay động, truyền cảm mạnh mẽ tới tư tưởng, suy nghĩ, lập trường của họ.

    Nói chung thông điệp của tác giả gửi tới mọi người là vai trò của trường học thông qua những kí ức, tâm sự của người mẹ. Mẹ đã được trải qua những năm tháng chập chững của ngày khai trường và cũng đặt niềm hi vọng của mình vào đứa con thơ. Thế giới kì diệu của người mẹ chính là định hướng cho con một con đường đúng đắn, đó chính là con đường học tập. Con đường này là mơ ước của mẹ cũng là mơ ước của biết bao nhiêu người đặt lên con cái mình. Học tập là nghĩa vụ cao cả của tuổi trẻ đối với gia đình, Tổ quốc, chính vì vậy mà chúng ta cần phải hiểu rằng “Bước qua cánh cổng trường học là một thế giới kì diệu sẽ mở ra. Thế giới ấy chính là chân trời của văn hoá, khoa học”.

    Ngoài tài liệu trên, mời các em tham khảo Ngữ văn lớp 7, Soạn văn lớp 7, Học tốt Ngữ Văn lớp 7, Soạn Văn lớp 7 (ngắn nhất), Tài liệu học tập lớp 7…. được cập nhật liên tục trên VnDoc để học tốt môn Ngữ văn hơn.

    • Giải bài tập Ngữ văn lớp 7 bài 1: Cổng trường mở ra
    • Soạn Văn 7: Cổng trường mở ra
    • Tóm tắt bài Cổng trường mở ra
      • Đã bảy năm bước qua cánh cổng trường hãy viết thư chia sẻ cùng mẹ về thế giới kì diệu của em
      • Nêu ý nghĩa của đoạn thơ và chứng minh sự cần thiết và tác dụng của tình yêu quê hương đối với tâm hồn của mỗi con người
      • Video: Phân tích người mẹ trong Cổng trường mở ra
      • Viết một bức thư nói chuyện với cậu con trai trong câu chuyện “Đôi mắt của mẹ”
      • Video: Cảm nhận về bài “Cổng trường mở ra”
      • Cảm nhận về tâm trạng của người mẹ trước ngày khai trường của con trong bài Cổng trường mở ra của tác giả Lí Lan
      • Ý nghĩa nhan đề Cổng trường mở ra (Lý Lan)
      • Video: Tóm tắt bài Cổng trường mở ra

      Trong ngày đầu tiên khai trường, không chỉ người con mà người mẹ cũng có những lo âu, hồi hộp, tựa như mẹ là người cũng phải đến trường. Những lo âu ấy đã cho thấy sự hi sinh cao cả của người mẹ đối với con.

      Trước ngày khai trường, mẹ đã chuẩn bị cho con mọi hành trang để con bước vào thế giới mới. Đó là cái thế giới mà mẹ không thể bên con mãi như những ngày qua. Mẹ đã sắm cho con những thứ cần thiết để ngày mai con đến trường, từ quần áo, giày dép, nón đến cặp sách, tập vở: “Việc chuẩn bị quần áo mái, giày nón mới, cặp sách mới, tập vở mới, mọi thứ đâu đó đã sẵn sàng, khiến con cảm nhận được sự quan trọng của ngày khai trường”. Khi người con đãyên giấc ngủ thì người mẹ vẫn còn làm nốt những công việc trong ngày và không quên: “đắp mền cho con, buông mùng, ém góc cẩn thận”. Mọi hôm, khi con đã ngủ thì mẹ “lượm những chiếc xe thiết giáp dưới gầm ghế, cạnh chân bàn, những chú rô-bốt bằng nhựa đứng ngồi khắp nơi, và giữa nhà là đoàn quân thùdàn trận trong một cuộc chiến tranh Sư Tử – Khủng Long mà ngày nào con cũng bày ra”.

      Nhưng hôm nay là ngày đặc biệt, là cái ngày mà chỉ cồn một đêm nữa con sẽ trở thành “học sinh lớp Một rồi”. Do vậy, những công việc ấy con đã làm giúp mẹ, con làm với sự tự giác của người sắp trở thành học sinh lớp Một. Mẹ không biết làm gì nữa nhưng mẹ vẫn không ngủ, đơn giản vì mẹ không ngủ được. Cái cảm giác ngày mai đứa con mình đến trường lần đầu tiên khiến mẹ lo lắng, bồn chồn. Trong khi người mẹ còn thức đó để “nhìn con ngủ một lát, rồi mẹ đi xem lại những thứ đã chuẩn bị cho con”, thì con đã chìm trong giấc ngủ vì “trong lòng con không có mối bận tâm nào khác ngoài chuyện ngày mai thức dậy cho kịp giờ”.

      Tuy nhiên, mẹ không ngủ được không phải chỉ vì mẹ lo lắng cho việc ngày mai con đến trường mà chính ngày khai trường của con đã gợi lại cho mẹ những kỉ niệm không thể nào quên trong cái ngày đầu tiên đi học của chính mẹ. Đó là những kỉ niệm đã ăn sâu vào lòng mẹ và nó lại được gợi ra mỗi khi có những dịp như thế. “Cứ nhắm mắt lại là dường như vang lên bên tai tiếng đọc bài trầm bổng”. Những kỉ niệm của người mẹ giờ trở thành thực tế của con vào ngày hôm sau.

      Người mẹ như muốn nói với con, muôn khắc ghi những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến trong ngày khai trường vào lòng con: “Mẹ muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con. Để rồi bất cứ một ngày nào đó trong đời, khi nhớ lại, lòng con lại rạo rực những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến”. Cứ ngỡ những lời này mẹ nói với con, nhưng không phải, đó là lời mẹ nói với chính mình, mẹ đang tự ôn lại những kỉniệm của tuổi thơ mẹ. Những kỉ niệm ấy đã tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lòng người mẹ: “Ngày mẹ còn nhỏ, mùa hè nhà trường đóng cửa hoàn toàn, và ngày khai trường đúng là ngày đầu tiên học trò lớp Một đến trường gặp thầy mới, bạn. mới. Cho nên ấn tượng của mẹ về buổi khai trường đầu tiên ấy rất sâu đậm” và kỉ niệm ấy vẫn sống mãi trong lòng người mẹ đến bây giờ: “Mẹ còn nhớ sự nôn nao, bồi hồi khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi hốt hoảng khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng bên ngoài cánh cổng như đứng bên ngoài cái thế giới mà mẹ vừa bước vào”. Lời kể của mẹ như một sự luyến tiếc pha lẫn chút tự hào, đồng thời sâu xa trong lòng mẹ, mẹ muốn con mình hãy khắc sâu những kỉ niệm mà con sẽ trải qua và sẽ trở thành quá khứ.

      Lời diễn đạt của tác giả đã thể hiện được những điều thầm kín, sâu xa nhất trong tâm tư, tình cảm của người mẹ đối với con trong ngày đầu tiên con đến trường.

      Tâm trạng của người mẹ trong đêm trước ngày khai trường của con trong văn bản Cổng trường mở ra – mẫu 2

      Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo” Đoạn văn ấy cứ mãi khắc sâu trong tôi sau khi đọc xong văn bản ” Cổng trường mở ra” của Lí Lan cùng với bao tâm trạng vui mừng, buồn lo khó tả của người mẹ.

      Đây là một bài bút kí ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm trước ngày chuẩn bị khai giảng của con vào lớp một cùng với vai trò to lớn của nhà trường, nền

      giáo đục đối với mỗi chúng ta. Không có sự việc, không có cốt truyện theo một chuỗi nhất định nhưng bài văn này đã khá thu hút người đọc bởi mỗi câu văn dạt dào tình cảm với biết bao niềm tâm sự, hồi tưởng kỉ niệm của người mẹ thương yêu con bằng tấm lòng cao cả. Bài văn này đã đưa mỗi chúng ta đến với những rạo rực tinh thần, bâng khuâng khó tả của kí ức tuổi thơ.

      Đi sâu vào trong bài ta có thể cảm nhận được từng cảm xúc, câu từ mượt mà với hai luồng tâm trạng trái ngược. Hình ảnh của người con được miêu tả thật ngây thơ, đáng yêu. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo.

      Mai đã là ngày khai trường, một ngày trọng đại của tuổi thơ cũng như một kỉ niệm đáng nhớ trong cuộc đời, vẫn tâm trạng như trước một chuyến đi xa, người con chỉ háo hức, lo mỗi việc sáng mai sao dậy cho kịp giờ rồi lại chìm vào trong giấc ngủ dễ dàng như ăn một cái kẹo. Tâm trạng ưu tư đó chính là tâm hồn ngây thơ của người con. Tâm trạng ấy phải chăng một phần cũng do tình thương yêu, sự dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ.

      Trong khi người con đang mơ những giấc mơ đẹp thì người mẹ lại trằn trọc, suy nghĩ. Tâm trạng của mẹ như đang ở ngày đầu tiên khai trường của chính mình. Như ngày thường sau khi con đi ngủ, mẹ dọn dẹp nhà cửa, lượm lặt những đồ chơi mà con bày, dàn trận và làm vài việc riêng của mình. Nhưng hôm nay đã làm xong mọi việc mà mẹ vẫn chưa ngủ. Và thực sự mẹ không lo lắng đến mức không ngủ được.

      Bao nhiêu kí ức của tuổi thơ tràn về, thôi thúc trong mẹ. Mẹ liên tưởng cảm xúc của con với mình cách đây đã mấy chục năm. Mẹ hồi tưởng lại cái ngày mà bà ngoại cùng mẹ tiến tới ngôi trường với nỗi chơi vơi và sự hốt hoảng khi cánh cổng đóng lại. Bà đã dẫn mẹ qua cánh cổng của thế giới kì diệu, cánh cổng mang đậm nét tuổi thơ. Mẹ đã phần nào chập chững bước qua cánh cổng ấy một mình với với ý nghĩ tự lập và tâm trạng vui buồn đan xen. Mẹ cũng tin tưởng, hi vọng rằng con sẽ mạnh mẽ bước đi trên con đường học tập trước mắt và con đường đời đầy chông gai của chính con sau này. Những âm thanh cứ văng vẳng bên tai mẹ thật ngọt ngào thân thương: “Hằng năm cứ vào cuối thu, mẹ tôi lại âu yếm dẫn tôi trên con đường dài và hẹp”.

      Mẹ đã trải qua biết bao ngày khai giảng nhưng ngày khai giảng ngày mai là ngày khiến mẹ bận tâm nhất, bận tâm hơn cả ngày khai giảng đầu tiên của mình. Vì đó là cái ngày mà con bắt đầu phải làm quen, bắt đầu phải tiếp xúc với thế giới lạ lẫm, học cách ứng xử với thầy cô, bạn bè. Cái hay của bài văn là bộc lộ cảm xúc qua kí ức, hồi tưởng. Bên cạnh những từ ghép đằng lập thể hiện tâm trạng nhân vật, nhà văn còn dùng những từ ghép chính phụ để miêu tả sự vật và con người khá rõ nét. Những biện pháp nghệ thuật tu từ còn làm tăng sức gợi hình, gợi cảm để khiến cho người đọc như đang lạc vào thế giới của mẹ.

      Tất cả những cảm xúc đó mới chỉ là một phần trong ý nghĩa của văn bản. Vai trò to lớn của nhà trường, nền giáo dục đối với mỗi cá nhân là điều rất cần thiết. Trong bài, người mẹ đã cố gửi gắm, tạo cho con những cảm giác thoải mái khi bước vào cánh cổng trường học. Mẹ đã lo cho con đầy đủ hành trang trước ngày khai trường: từ cặp sách, đến quần áo, bút vở. Sau những hồi tưởng và mong ước, người mẹ ấy đã liên tưởng tới một nền văn minh của nước Nhật: “Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Tất cả mọi người đều nghỉ làm và đưa con tới trường học, không có ưu tiên nào lớn hơn nền giáo dục. Mỗi sai lầm trong giáo dục đều ảnh hưởng, làm chệch đi hàng dặm cả thế hệ sau này”.

      Toàn bộ bài văn là tiếng nói nội tâm của người mẹ. Mẹ không trực tiếp nói với con hay với ai, mà mẹ nói với chính mẹ, nói với kí ức, tâm hồn tuổi thơ và cả cảm nhận của mẹ. Đêm nay mẹ không ngủ được, mẹ ngắm nhìn con với những ưu tư, ôn lại những kỉ niệm đẹp đẽ. Cách viết này làm nổi bật được tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhân vật. Đó cũng như lời tâm sự nhỏ nhẹ của tác giả đối với bạn đọc một cách tinh tế, thấm thía, lay động, truyền cảm mạnh mẽ tới tư tưởng, suy nghĩ, lập trường của họ.

      Nói chung thông điệp của tác giả gửi tới mọi người là vai trò của trường học thông qua những kí ức, tâm sự của người mẹ. Mẹ đã được trải qua những năm tháng chập chững của ngày khai trường và cũng đặt niềm hi vọng của mình vào đứa con thơ. Thế giới kì diệu của người mẹ chính là định hướng cho con một con đường đúng đắn, đó chính là con đường học tập. Con đường này là mơ ước của mẹ cũng là mơ ước của biết bao nhiêu người đặt lên con cái mình. Học tập là nghĩa vụ cao cả của tuổi trẻ đối với gia đình, Tổ quốc, chính vì vậy mà chúng ta cần phải hiểu rằng “Bước qua cánh cổng trường học là một thế giới kì diệu sẽ mở ra. Thế giới ấy chính là chân trời của văn hoá, khoa học”.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Hãy Nêu Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Bài Nhớ Rừng ,ông Đồ , Quê Hương ,khi Con Tu Hú , Tức Cảnh Pác Bó . Nhanh Nha Mk Đang Cần Gấp
    • Bài Thơ Nhớ Rừng (Thế Lữ)
    • Phân Tích 2 Chi Tiết Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Rừng Xà Nu
    • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu
    • Văn Mẫu Phân Tích Hình Tượng Cây Xà Nu Trong Rừng Xà Nu Hay, Đặc Sắc

    Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…
  • Cảm Nhận Về Bài Ca Dao: Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen
  • Cảm Nhận Về Vẻ Đẹp Của Bài Ca Dao:”trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen….”
  • Nêu Những Nét Đặc Sắc Về Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Của Nhà Thơ Xuân Quỳnh
  • Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Khổ Thơ Cuối Bài Tiếng Gà Trưa
  • Có lẽ nếu có cuộc bình chọn loại hoa nào vừa dân dã, gần gũi với đời sống người dân nông thôn đồng bằng Việt Nam vừa toát lên vẻ cao quý, thanh khiết thì hoa sen ắt hẳn giành “vương miện”. Quả thật đồng bằng nước ta từ Bắc vào Nam đâu đâu cũng có hoa sen. Hoa sen được vẽ trang trí trên đồ gia dụng. Hoa sen cũng là mô típ tạo hình cho cả Thiền môn. Đức Phật từ bi toạ trên đoá sen. Chùa Một Cột tiêu biểu cho kiến trúc Việt Namlà hình ảnh cách điệu của đoá sen nổi trên hồ nước. Núi Dục Thuý, một vùng sơn thanh thuỷ tú lừng danh, cũng được thi hào Nguyễn Trãi ví với đoá sen. Những con người tài trí lỗi lạc cũng lấy sen để biểu lộ cho cốt cách tài năng của mình như trường hợp của Mạc Đĩnh Chi trong “Ngọc tỉnh liên phú”. Trong thời đại cách mạng, nhân dân Miền Nam đã tự hào:

    “Tháp Mười đẹp nhất hoa sen. Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.

    Thật thú vị, từ thời xa xưa nhân dân Việt Nam đã từng ấp iu bài ca dao nổi tiếng về loài hoa này:

    “Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng, bông trắng, lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

    Bài ca dao này, chúng tôi đã được học từ thời “vỡ lòng” và thật bất ngờ nó có một sức sống dai dẳng trong lòng tưởng chừng nhập tâm đến mức không ý thức được sự cần thiết phải cắt nghĩa xem nó hay, nó đẹp ở chỗ nào!

    Lời thơ lục bát ở đây tưởng bình lặng tuôn chảy qua bốn dòng thơ, nhiều hình ảnh được lặp lại tưởng chừng rất giản dị, dễ hiểu. Lời kết bài tưởng như cũng được lẩy ra một cách tự nhiên khẳng định cốt cách thanh cao của loài hoa quý nơi đồng nội để qua đó khẳng định phẩm chất thanh cao của người nông dân quanh năm lam lũ nơi “bùn lầy nước đọng”. Nhưng rồi đọc lại, ta vẫn thấy vỡ ra bao điều thú vị.

    Hai câu đầu tác giả dân gian sử dụng lối dẫn dắt, giới thiệu rất tự nhiên, chân mộc – Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng- nhưng mang một giá trị tạo hình thật đặc biệt: Khóm sen nổi trội lên giữa đầm nước mùa hạ trong xanh dưới ánh nắng trời. Sắc lá xanh tươi như những chiếc ô xinh xắn nhô lên mặt nước, mát mắt, ưa nhìn. Bông sen mở cánh trắng muốt sáng lên dưới nắng trời, toả hương ngào ngạt từ nhị hoa vàng, Cách miêu tả từ bao quát đến chi tiết bằng những màu sắc tươi tắn hài hoà như vậy quả chứa đựng tình yêu sen nhiều lắm! Tác giả dân gian đã truyền tình yêu ấy qua hàng trăm, hàng nghìn năm nay đến trái tim của hàng triệu người dân Việt. Và người ta có quyền háo hức muốn nghe “hướng dẫn viên” nói gì nữa về vẻ đẹp của sen:

    ‘Nhị vàng, bông trắng, lá xanh’

    Thì ra vẫn là các chi tiết cũ. Chính các chi tiết đã biết này khiến ta “mất cảnh giác”, dễ thiếu thận trọng đúng mức trong thưởng thức. Ngẫm ra chữ thứ sáu câu lục thứ ba này không hề hiệp vần với với chữ thứ tám câu bát bên trên. Như vậy bài thơ đã đổi vần đột ngột. Vần trong thơ khác nào hệ thống kinh mạch trong một cơ thể con người. Sự đổi thay đột ngột nào chẳng gây những chấn động . Nhà thơ Huy Cận đã so sánh việc đổi vần này “có khác nào như một dòng nước đang chảy xuôi, ta dựng lên một cái đập, hoặc buộc dòng nước đổi chiều, đổi vần để bắt chúng ta phải chú ý, chỗ dòng nước cuộn lên, buộc ta phải quan sát, phải chứng kiến một sự kiện gì đây…” ( Báo Văn nghệ số 327)

    Thì ra chỗ nhà thơ dân gian buộc chúng ta phải lưu ý là tuy vẫn nêu lại các chi tiết cũ nhưng đã có sự hoán đổi vị trí của chúng. Câu trên miêu tả theo trình tự từ ngoài vào trong: lá xanh, rồi bông trắng và nhấn mạnh “lại chen nhị vàng”. Dùng nhị vàng trong chức vụ bổ ngữ cho ngữ động từ “lại chen” càng nêu bật tính chất nhỏ nhoi, mong manh của nó. Do sự đăng đối trong cấu tạo, lá xanh, bông trắng, nhị vàng được hiểu như là những ngữ danh từ. Xanh, trắng vàng đóng vai trò định ngữ. Đến câu sau nhị vàng được nêu lên đầu tiên, rồi đến bông trắng và cuối cùng là lá xanh. Cũng do cấu trúc đăng đối nên có thể hiểu vàng, trắng, xanh ở đây đóng vai trò vị ngữ (Nhị thì vàng, bông thì trắng; lá thì xanh) làm tăng tính khẳng định, xác nhận những đặc điểm của sen. Chúng ta hình dung như được tác giả dân gian đang tỉ mỉ “lật từng lá sen xanh, chỉ từng bông sen trắng, đếm từng nhị sen vàng” để củng cố niềm tin của ta vào nhận xét “trong đầm gì đẹp bằng sen” (Huy Cận – Tài liệu đã dẫn) đã được nêu một cách tường minh ở câu thơ mở bài. Ừ, thì hoa sen đẹp thật , đẹp nhất trong đầm rồi!

    Nhưng tác giả dân gian đâu nỡ để ta dừng lâu ở cảm nhận hời hợt, bề mặt ấy. Câu cuối đến như một “giọt nước làm đầy cốc nước” nâng hẳn chất của câu ca dao lên. Người nghệ sĩ dân gian đâu chỉ phô diễn nghệ thuật tạo hình và đâu chỉ thuyết phục người ta về tài năng miêu tả mà còn là thuyết phục người ta về triết lí “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Thì ra từ vẻ đẹp của màu sắc, hương thơm của sen người nghệ sĩ bình dân xưa đã khéo léo đưa ra bài học về cách sống, về đạo lí làm người. Bài học đạo lí, lẽ sống ấy lại được rút ra một cách nhẹ nhàng từ thảo mộc quê hương. Nhẹ nhàng, hợp lí, thâm thuý và dễ tiếp nhận biết bao!

    Bài ca dao có sự hài hoà máu thịt giữa hình thức nghệ thuật (vần thơ, cách miêu tả, cách sử dụng từ ngữ) với tình cảm, ý tưởng, xứng đáng là một hòn ngọc quý trong kho tàng thơ ca dân gian dân tộc. Lời thơ giản dị, ý tưởng sâu xa thuyết phục người nghe, cả tình cảm lẫn lí trí. Phải chăng bài ca dao này là điểm xuất phát để kiến tạo nên những vần thơ bác học có hình ảnh hoa sen cao khiết, thanh thoát đã nói trên? Nhân dân Nam Bộ tự hào: “Thấy dừa thì nhớ Bến Tre. Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười” phải chăng cũng xuất phát từ một cội nguồn tương tự.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…
  • Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tràng Giang Của Huy Cận
  • Bài Thơ Tràng Giang (Huy Cận)
  • Dựa Vào Văn Bản Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hoà Bình Của G.mác
  • Tác Dụng Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Hát “một Đời Người Một Rừng Cây”

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Khảo Sát Chất Lượng Đầu Năm Môn Ngữ Văn Lớp 12 Trường Thpt Thuận Thành Số 1, Bắc Ninh Năm Học 2022
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm (Chi Tiết)
  • Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ (Nói Quá, Nói Giảm Nói Tránh)
  • Chủ Đề: Nói Quá, Nói Giảm, Nói Tránh
  • Soạn Bài: Nói Giảm, Nói Tránh
  • Sống hữu ích, sống vì mọi người luôn là lý tưởng của thế hệ thanh niên trong thời đại mới. Trong bài hát “Một đời người – một rừng cây”, nhạc sĩ Trần Long Ẩn từng viết: “Chân lí thuộc về mọi người. Không chịu sống đời nhỏ nhoi!”. Lời hát thiết tha đã để lại cho chúng ta biết bao suy nghĩ về trách nhiệm và bổn phận làm người trong cuộc đời này. Chân lí là gì? Khái niệm chân lý dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan; sự phù hợp đó đã được kiểm tra và chứng minh bởi thực tiễn. Nói một cách dễ hiểu: chân lý là một sự thật hiển nhiên của loài người luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian. Thực tế, chân lí là sự phù hợp giữa nhận thức và thực tiễn khách quan, là nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan trong đầu óc con người.

    Lý tưởng sống của con người trong thời đại mới: Dựa trên khái niệm chân lí, câu nói trên có nghĩa là: những điều đúng đắn nhất thuộc về nhận thức của mọi người, được mọi người chấp nhận. Con người ý thức được ý nghĩa sự tồn tại của mình phải biết sống cuộc đời lớn lao, rực rỡ và hữu ích cho mọi người. Câu nói đề cao một lẽ sống cao đẹp, thái độ sống có trách nhiệm, biết cống hiến cho đời. Lẽ sống cao đẹp là không chỉ làm tốt những việc trong phận sự của mình mà còn sẵn sàng gánh vác, lãnh nhận về mình những khó khăn, cống hiến cho đời bằng những việc làm thiết thực.

    * Bàn luận

    Mỗi người cần phải sống có trách nhiệm, biết cống hiến cho đời vì: Trách nhiệm, cống hiến là một trong những người tiêu chí đạo đức làm người, tạo nên lối sống vị tha. Trách nhiệm làm nên những nghĩa cử cao đẹp: dám hi sinh, dám dẫn thân, biết chia sẻ phần gian khổ với mọi người.

    Xã hội cũng quy định rát rõ trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi công dân nhằm hướng con người biết thực hiện bổn phận của mình đối với bản thân, gia đình và đất nước. Song, đó mới chỉ là quy định. Bản thân mỗi cá nhân phải biết tự nỗ lực vươn lên trong cuộc sống và đem lại những hành động ý nghĩa, những giá trị sâu sắc cho cuộc đời chung. Mỗi cá nhân sống mạnh mẽ và thành công thì xã hội sẽ tiến bộ, đất nước lớn mạnh, hạnh phúc lâu bền.

    Sống có trách nhiệm, biết cống hiến tạo nên hiệu quả công việc, tạo nên moi trường sống tốt đẹp, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa con người với nhau trong ra đình, tập thể, cộng đồng là một lối sống vững mạnh và tiến bộ, trở thành động lực phát triển xã hội:

    Nếu sống thiếu trách nhiệm, không biết cống hiến cho đời thì con người tự tách mình khỏi cộng đồng, trở nên lạc lõng, cô độc, tạo nên lối sống ích kỉ, cản trở công việc chung và sự phát triển của xã hội… Trong xã hội, có nhiều người chỉ vì lợi ích riêng mình mà sống thờ ơ, vô cảm tách biệt với cộng đồng. Họ chỉ lo cho bản thân, không quan tâm đến cộng đồng, không muốn thực hiện trách nhiệm nào đối với tập thể. Những người như thế thật đáng chê trách.

    Trách nhiệm là nhiệt tình, là sự cống hiến nhưng nếu nhiệt tình cống hiến một cách mù quáng thì tính trách nhiệm lại phản tác dụng. Sự nhiệt tình, cống hiến phải gắn liền với hiệu quả công việc, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật và khả năng, năng lực của bản thân. Phải gắn công việc với các chuẩn mực đạo đức vốn được xã hội thừa nhận, đảm bảo công việc mang lại hiệu quả thiết thực. Nhiệt tình nhưng nông nổi, thiếu suy nghĩ, cố chấp là sự nhiệt tình vô ích, thậm chí là trở thành kẻ phá hoại.

    Một người năng nổ, có trách nhiệm với công việc nhưng nếu nhận lấy một công việc vượt quá sự hiểu biết của mình, chấp nhận vừa làm, vừa học vừa rút kinh nghiệm có thể sẽ gây ra những tổn thất lớn cho tập thể. Tri thức luôn đóng vai trò quyết định thành công trong công việc, không nên chỉ dựa trên lòng nhiệt tình mà nhận lấy về mình những trách nhiệm quá lớn, vượt quá khả năng.

    Ý thức được sự cần thiết có lẽ sống cao đẹp, có tinh thần trách nhiệm, biết cống hiến hi sinh cần sống có trách nhiệm từ những việc nhỏ, trách nhiệm với bản thân, với những người xung quanh, với xã hội…

    Để cho lẽ sống đẹp đẽ trong bài ca được lan tỏa, nhiều phong trào của tuổi trẻ không chỉ là khẩu hiệu, mà phải biến khẩu hiệu thành hành động cụ thể:”tình nguyện vì cộng đồng”, “chung tay xây dựng nông thôn mới”, “thi đua học tập, sáng tạo, lập thân, lập nghiệp”, “xung kích bảo vệ Tổ quốc”.

    Hình thành nên một thế hệ trẻ “không chịu sống đời nhỏ nhoi” nối bước cha anh “sống vì mọi người” bằng các chương trình khởi nghiệp đang phát triển trên khắp đất nước, mang trong mình khát vọng lớn lao đưa đất nước mau chóng thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu; biết cống hiến và hy sinh, làm chủ vận mệnh dân tộc, đưa đất nước tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã từng nói: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Cho đi để giúp mọi người cùng vượt qua nghịch cảnh và được nhận lại những gì tương xứng. Tuy nhiên, cũng nên tỉnh táo nhận ra rằng mỗi người có một bổn phận, một sự nghiệp riêng. Không nên cao vong mong ước những thành công lớn lao vượt sức mình, chạy theo những ảo tưởng mà làm uổng phí cuộc đời. Nói như nhà thơ Nguyễn Sĩ đại:

    “Người vá trời lấp bể

    Kẻ đắp luỹ xây thành

    Ta chỉ là chiếc lá

    Việc của mình là xanh”.

    (Lá Xanh – Nguyễn Sĩ Đại)

    Sống bình thường chưa hẳn đã nhỏ bé mà sống chân thực với bản thân. Nhiều người có trí tuệ, có tiềm lực, theo đuổi những sự nghiệp lớn lao là điều hiển nhiên. Còn những ai không có đủ những điều kiện ấy thì hãy sống như cuộc sống vốn có của mình. Sống đẹp là sống hữu ích như chiếc lá kia dâng cho đời màu xanh, góp phần tạo nên sự sống tươi xinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Ra Và Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Những Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Sau: Khi Nghĩ Về Một Đời Người Tôi Thường Nhớ Về Một Rừng Cây. Khi Nghĩ Về Một Rừng Cây Tôi Thường Nhớ Về Nhiều Người
  • Bài 25. Các Thành Phần Chính Của Câu
  • Suy Nghĩ Về Câu Tục Ngữ: Một Cây Làm Chẳng Nên Non, Ba Cây Chụm Lại Nên Hòn Núi Cao
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Một Cây Làm Chẳng Nên Non…
  • Bài 10. Nói Giảm Nói Tránh
  • Biện Pháp Tương Phản, Đối Lập

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Biện Pháp Ngăn Chặn Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Ngăn Chặn ?
  • 6 Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Hacker Là Gì ? Biện Pháp Ngăn Chặn Được Hacker
  • Biện pháp tương phản, đối lập

    I. Biện pháp tương phản.

    Phép tương phản (cũng gọi là đối lập) trong nghệ thuật là việc tạo ra những cảnh tượng, hành đông, tính cách trái ngược nhau để làm nổi bật một ý tưởng hoặc tư tưởng của tác giả.

    Ví dụ như trong tác phẩm “Sống chết mặc bay”.

    • Sự tuyệt vọng khốn cùng của nhân dân trước sự thịnh nộ của thiên nhiên khi chống lại bão lũ.

    II. Phép đối

    Phép đối là cách sử dụng những từ ngữ, hình ảnh, các thành phần câu, vế câu song song, cân đối trong lời nói nhằm tạo hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh về ý , gợi liên tưởng, gợi hình ảnh sinh động, tạo nhịp điệu cho lời nói, biểu đạt cảm xúc tư tưởng…

    – Số lượng âm tiết của hai vế đối phải bằng nhau.

    VD:

    Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng

    (Ca dao)

    – Các từ ngữ đối nhau phải cùng từ loại với nhau (danh từ đối với danh từ, động từ – tính từ đối với động từ – tính từ).

    VD:

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    (Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm)

    – Các từ đối nhau hoặc phải trái nghĩa với nhau, hoặc phải cùng trường nghĩa với nhau, hoặc phải đồng nghĩa với nhau để gây hiệu quả bổ sung, hoàn chỉnh về nghĩa.

    VD:

    Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

    (Hồ Xuân Hương)

    Có hai loại đối:

    + Tiểu đối (tự đối): Các yếu tố đối xuất hiện trong nội bộ một câu, một dòng.

    VD:

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang (Nguyễn Du)

    + Trường đối (bình đối): dòng trên và dòng dưới, đoạn trên và đoạn dưới đối nhau

    VD:

    Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà

    (Bà huyện Thanh Quan)

    – Gợi sự phong phú về ý nghĩa (tương đồng và tương phản).

    Còn tiền, còn bạc, còn đệ tử

    Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi

    (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

    – Tạo ra sự hài hoà về thanh: ” Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù”

    (Trần Quốc Tuấn)

    → Phép đối tạo nên sự hài hòa về âm thanh, tạo nên sự dồn dập, thôi thúc, căm phẫn

    – Nhấn mạnh ý: ” Bán anh em xa mua láng giềng gần” (Ca dao)

    – Phép đối trong câu tục ngữ thường phục vụ cho sự so sánh, đối chiếu để khẳng định, nhân mạnh những kinh nghiệm, những bài học về cuộc sống xã hội hay hiện tượng tự nhiên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Trong Truyện Kiều
  • Ước Lệ Trong Nghệ Thuật
  • Thủ Pháp Ước Lệ Trong Nghệ Thuật Là Gì?
  • Thế Nào Là Bút Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Hãy Lấy Dẫn Chứng Minh Họa Làm Sáng Tỏ Nghệ Thuật Này Qua Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều Của Nguyê
  • Trách Nhiệm Pháp Lý Là Gì?
  • Nói Quá Là Gì? Tác Dụng Của Nghệ Thuật Nói Quá

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Tu Từ Dễ Không? Phân Biệt Câu Hỏi Tu Từ Và Biện Pháp Tu Từ
  • Biện Pháp Thi Công Chống Thấm Mạch Dừng, Mạch Ngừng Khi Đổ Bê Tông
  • Hướng Dẫn Thi Công Băng Cản Nước Pvc Waterstop Tại Tphcm
  • Thi Công Rọ Đá Thảm Đá Công Trình Nông Nghiệp Xây Dựng
  • Hướng Dẫn Thi Công Băng Cản Nước Chống Thấm
  • Nói quá là phép tu từ phóng đại quá mức, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    Nói quá còn được gọi là ngoa dụ, phóng đại, thậm xưng, khoa trương.

    Nói quá còn được gọi là ngoa ngữ (lòi nói ngoa, nói quá sự thật), phóng đại (phóng ra cho to), cường điệu (nói mạnh, nói hơn lên), thậm xưng (nói quá sự thật thưòng nhằm mục đích hài hước).

    Một ví dụ điển hình trong môi trường học đường:

    Bài toán khó quá ”nghĩ nổ não” mà không ra.

    Hay trong bài hát Duyên phận có câu hát:

    “Bước qua dòng sông hỏi từng con sóng

    Đời người con gái không muốn yêu ai được không?”

    Tác dụng của nghệ thuật nói quá

    Phóng đại, nói quá thường được sử dụng trong khẩu ngữ thường ngày. Trong văn học, phóng đại, nói quá đã trở thành một biện pháp tu từ được sử dụng với chức năng nhận thức, khắc sâu hơn bản chất đối tượng, tăng sức biểu cảm, nhấn mạnh, gây ấn tượng mạnh.

    Nói quá không phải là nói sai sự thật, nói dối mà chỉ tăng tính chất, sức biểu cảm và gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Đôi khi, chúng ta hoàn toàn có thể kết hợp những biện pháp tu từ khác như so sánh vào để câu văn, câu nói thêm sinh động.

    Không chỉ vậy phép tu từ nói quá còn dùng trong các tác phẩm văn học cụ thể như các bài ca dao, châm biếm, anh hùng ca.

    Trong câu thơ trên, biện pháp tu từ nói quá góp phần làm tăng tính chất anh hùng ca trong hành động của nhân vật Từ Hải.

    Nói quá còn có tác dụng tăng sức biểu cảm, nhấn mạnh, gây ấn tượng mạnh.

    Nói quá sự thật bởi: Đêm… chưa nằm đã sáng, Ngày… chưa cười đã tối, đêm gì mà chưa nằm đã sáng, ngày gì mà chưa cười đã tối. Đây là cách nói quá về tiết tròi mùa hè: ngày dài, đêm ngắn và mùa đông: ngày ngắn, đêm dài, tuân theo quy luật của tự nhiên

    Sự khác nhau giữa nói quá và nói khoác

    Cần phân biệt rõ ràng giữa nói quá và nói khoác tránh nhầm lẫn khi sử dụng trong đời sống cũng như khi diễn đạt trong các bài tập làm văn.

    Nói quá: nói đúng sự thật (tích cực), là biện pháp cường điệu tạo ấn tượng, tăng biểu cảm.

    Nói khoác: nói sai sự thật (tiêu cực), mục đích khoe khoang là chính. Không những không có giá trị biểu cảm mà còn khiến người khác có thể hiểu nhầm, sai ý nghĩa.

    “Nói quá” còn được gọi là “ngoa dụ”, “phóng đại”, “thậm xưng”, “khoa trương”, là “phép tu từ phóng đại” quá mức, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    Luyện tập sách giáo khoa ngữ văn

    Câu 1:

    a. Ý nghĩa: Lao động đã mang lại cho con người cuộc sống no ấm.

    b. không ngại khó khăn, gian khổ.

    c. Ý muốn nói quá về lời nói của con người có quyền hành

    .

    Câu 2:

    a. Ở nơi chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, đến cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

    b. Nhìn thấy tội ác của giặc ai ai cũng bầm gan tím ruột.

    c. Cô Nam tính tình xởi lợi ruột để ngoài da.

    d. nở từng khúc ruột.

    e. vắt chân lên cổ.

    Câu 3:

    – Kiều có vẻ đẹp nghiên nước nghiêng thành.

    – Việc xây dựng các nhà máy thủy điện, có khác gì chúng ta dời non lấp biển.

    – Đoàn kết là sức mạnh lấp biển vá trời để kiến tạo một cuộc sống tự do.

    – Bộ đội ta mình đồng da sắt.

    – Bài toán này tớ nghĩ đã nát óc mà chưa giải được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Tốt Nhất
  • Đây Chính Là Cách Tránh Thai Tự Nhiên, An Toàn Hiệu Quả Mà Không Cần Dùng Thuốc
  • Tránh Thai Tự Nhiên Bằng Cách Cho Con Bú
  • Sau Sinh, Biện Pháp Tránh Thai Nào Được Các Mẹ Ưa Dùng Nhất?
  • Chia Sẻ Những Phương Pháp Tránh Thai Hiệu Quả Nhất
  • Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…
  • Cảm Nhận Về Bài Ca Dao: Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen
  • Cảm Nhận Về Vẻ Đẹp Của Bài Ca Dao:”trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen….”
  • Nêu Những Nét Đặc Sắc Về Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Của Nhà Thơ Xuân Quỳnh
  • Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hồi tanh mùi bùn.

    Tuổi thơ của em đã trôi qua êm đềm trong tiếng mẹ ru, tiếng bà ngọt ngào thủ thỉ. Bao lời ru, bao bài hát đã trở thành một phần tâm hồn của em, nâng đỡ em trong cuộc sống. Bài ca dao Hoa sen cũng vậy, nó thâm nhập vào tim em với chất giọng dịu dàng, thanh thoát, nó giúp em suy nghĩ chính chắn về con người Việt Nam, khơi dậy trong em niềm xúc động chân thành nhất:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Ngày từ lúc còn ấu thơ, tuổi nhỏ chúng ta đã thấm đượm hương vị ngọt ngào, thơm ngát của hoa sen, lưu luyến một chút vị dịu dàng trên đầu lưỡi của tách trà ướp sen trong mát. Hoa sen đã in vào tâm trí chúng ta bởi những hình ảnh êm đẹp, nhẹ nhàng nhất. Và bài ca dao cũng đã mở đầu nhẹ nhàng êm đẹp như thế!

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Câu ca dao là lời khẳng định vẻ đẹp của hoa sen. Trong đầm đầy bùn đen đó, không có gì đẹp bằng hoa sen. Lời khẳng định thật tự nhiên nói lên một chân lí đều được mọi người biết đên. Thế hoa sen có gì mà đẹp? Bài ca dao trả lời:

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng 

    Chỉ có ba sắc màu xanh, trắng, vàng nhưng bức tranh được tạo nên thật hài hòa trang nhã. Nổi bật trên nền xanh mướt của lá, bông sen vươn cao, xòe cánh hoa trắng muốt như toát lên sự trinh nguyên trong trắng đến tuyệt vời. Và e dè, ẩn hiện dưới những cánh hoa là những cái nhị vàng xinh xinh đang nép vào nhau. Không rực rỡ kiêu sa, hoa sen dịu dàng giản dị, đơn sơ mà thanh khiết làm sao!

    Ta tiếp tục say mê, thích thú với sắc đẹp của hoa

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Nếu không có một khoảnh khắc tỉnh lại, có lẽ ta không nhận ra câu ca dao đã đổi ngược một cách đột ngột. Việc chuyển vần đổi nhịp ấy, ta có thể hình dung nó như dòng nước đang chảy xuôi, bỗng gặp cái đập chắn ngang buộc dòng nước phải đổi chiều. Chính vì vậy, ta thấy dường như câu thơ kéo ta lại để nhìn cho rõ, để kiểm nghiệm lại. Nét thú vị của bài ca dao chính là chỗ đó. Ta thử đọc lại câu thơ một lần nữa.

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Dưới lời thơ dồn dập ấy, tưởng có gì lạ, nào ngờ đó chỉ là sự đảo ngược trật tự các hình tượng của câu thơ trước và sau. Cũng vẫn là ba sắc màu thanh nhã ấy – ta có thể hình dung dường như có ai đó đang đếm từng lá sen xanh, lật từng cánh sen trắng, chỉ từng nhị sen vàng như để giảng giải, để chứng minh với mọi người hoa sen là thế đấy! Nó tinh khiết trắng trong không vướng chút bợn nhơ nào. Và phẩm chất của hoa sen bừng lên sáng đẹp một chân lí.Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

    Ta chợt vỡ lẽ, điều tác giả muốn nói đến là đây, ý tác giả cần nêu lên là đây. Bông hoa rạng rỡ, tỏa hương thơm ngát giữa đầm lầy u tối làm bừng sáng cả bài ca dao. Từng lời thơ, nhịp điệu đến câu chữ được kết hợp, hòa lẫn một cách nhuần nhuyễn như máu với thịt làm sáng rõ chân lí sáng ngời. Phẩm chất tốt đẹp của loài hoa đồng nội Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Ca dao là tiếng hát tâm tình của người dân lao động, làm dịu nỗi nhọc nhằn của họ trên ruộng đồng, nương rẫy. Giọng điệu bài ca dao nhẹ nhàng ấm áp, êm đềm, đơn giản chân chất như lời tâm sự của người dân lao động Việt Nam. Họ mượn bài ca để bộc bạch nỗi lòng trong trắng thanh cao của mình trong mọi hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống. Ta không thể quên được nỗi vất vả, gian truân mà họ phải trải qua. Ta thông cảm, hiểu rõ họ hơn bởi đã có bao nhiêu lão Hạc thà chết để giữ gìn danh dự, bao nhiêu chị Dậu lao đi trong đêm đen để bảo toàn chữ tiết trinh, trong trắng thủy chung, bao nhiêu con cò đã cất lời cầu xin chút ân huệ được chết trong để nâng niu tấm lòng trong trắng cho đến phút cuối cuộc đời.

    Nhưng xét cho cùng, qua hình ảnh độc đáo được chọn lọc khéo léo trong bài ca dao, hình như đây là lời phân trần của những nhà trí thức phong kiến xưa kia. Chính từ chỗ đảo ngược vị trí của câu ca dao, ta nghe lời thơ như nghẹn ngào uất ức, dâng lên nỗi xót xa của những người đang tự bộc bạch, minh oan về một điều mà trong xã hội ấy khó ai tin được. Sống giữa chế độ xấu xa thối nát, họ là những đóa sen ngát hương lặng lẽ, âm thầm vươn lên trong sáng. Ở đây câu ca dao có vẻ gì nặng nề, có gì đó chua xót, thật khác hẳn với câu thơ của Bảo Định Giang.

    Tháp Mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

    Tháp Mười đẹp vì có hoa sen, Việt Nam đẹp vì có Bác Hồ. Hình ảnh lời thơ kết hợp hài hòa mà thống nhất, nó mới nhẹ nhàng thanh thoát làm sao!

    Bài ca dao Hoa sen đã đi vào tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam. Nó trở thành một phần máu thịt của mỗi chúng ta. Nó hòa quyện vào tâm hồn chúng ta làm bừng sáng truyền thống cao đẹp vốn cổ từ xưa. Cho đến hôm nay và mãi mãi về sau, bài ca dao không bao giờ bị lãng quên mà luôn được bổ sung thêm để hình thành nhân cách, đạo đức của mỗi con người. Tất cả chỉ từ một lời ru: Trong đầm gì đẹp bằng sen…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tràng Giang Của Huy Cận
  • Bài Thơ Tràng Giang (Huy Cận)
  • Dựa Vào Văn Bản Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hoà Bình Của G.mác
  • Phân Tích Hình Tượng Người Lính Qua Đoạn Thơ Thứ 3 Tây Tiến Quang Dũng
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Tương Phản Có Tác Dụng Như Thế Náo Trong Sống Chết Mặc Bay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Nghệ Thuật Tương Phản? Nêu Cách Thể Hiện Thủ Pháp Nghệ Thuật Ấy Trong Truyện Sống Chết
  • Định Nghĩa Về Phép Tương Phản Và Tăng Tiến? Nêu Ra Những Câu Có Sử Dụng 2 Biện Pháp Nghệ Thuật Trên Trong Văn Bản ”sống Chết Mặc Bay” Và Tác Dụng Của Chúng
  • Phân Tích Hệ Thống Các Biện Pháp Nghệ Thuật Thể Hiện Nhân Vật Chí Phèo Trong Truyện Ngắn “chí Phèo”
  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm “chí Phèo” Hay Nhất (4 Mẫu)
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Chí Phèo
  • Nhân cách con người ảnh hưởng nhiều từ yếu tốt bên ngoài. Một trong những yếu tố quan trọng để hình thành nhân cách con người là môi trường sống. Mục đích muốn thế hệ con cháu sống đúng mực và có suy nghĩ đúng đắn để có cuộc sống tốt đẹp, cha ông ta đã có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Tuy nhiên, thế hệ trẻ ngày nay có một số bạn lại cho rằng: “Gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng”.

    Mặc dù môi trường sống là một yếu tốt quan trọng để hình thành nhân cách con người nhưng yếu tố con người còn quan trọng hơn cả môi trường sống. Bởi con người dù tốt hay xấu đều phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh của chính con người đó. Vì thế mà gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng.

    “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Quả đúng như vậy, với nghĩa đen của câu tục ngữ có ý nghĩa nếu thường xuyên sử dụng bút mực, bị mực giây ra tay, dính vào quần áo là điều khó tránh khỏi.Đồng nghĩa như vậy khi ngồi gần đèn, được đèn chiếu vào đương nhiên sẽ bản thân ta sẽ sáng sủa. Cũng như con người, nếu sống trong môi trường tốt sẽ dễ thành người tốt, còn sống trong môi trường xấu sẽ dễ xa ngã và trở thành kẻ xấu.

    “Gần mực thì đen”. Đó là hình ảnh Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, anh vốn là một anh nông dân hiền lành, chất phác bỗng nhiên vu oan cho là có tội và phải đi ở tù. Sau bao năm ngồi tù, sống cùng bọn xã hội đen…anh Chí ngày nào sau khi trở về quê cũ đã thay đổi hẳn. Hắn đã trở thành một con ma men ở làng Vũ Đại mà ai cũng muốn tránh xa. Bởi chính cái nhà tù của xã hội thực dân phong kiến đen tối, khắc nghiệt đã đày đọa cuộc sống con người, đã biến một người nông dân quanh năm chân lấm, tay bùn, chăm chỉ làm ăn bỗng chốc thay đổi con người và trở thành như thế. Ngược trở lại, “gần đèn thì rạng”, câu chuyện người mẹ hiền dạy con là minh chứng rõ nét nhất. Mạnh Tử từ khi còn bé được sống gần trường học nên rất lễ phép, biết chăm chỉ học hành. Nếu người mẹ của Mạnh Tử cho cậu bé sống gần chợ hay gần khu nghĩa địa thì chưa chắc sau này Mạnh Tử đã trở thành bậc đại hiền tài của lịch sử Trung Quốc.

    Nhưng cùng có lúc gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng,bởi lúc đó bản thân ta hiểu được ý nghĩa của “mực” nên tự dặn bản thân phải cẩn thận, không để mực giây dính quần áo, hoặc khi ta ngồi trước ngọn đèn nhưng lại cố tình ngồi khuất để ngọn đèn không rọi tới. Bởi vậy, phẩm chất, nhân cách của con người nằm ở chính bản lĩnh con người ấy. Nếu sống trong môi trường xấu mà biết giữ mình thì cũng như viên ngọc quý sáng ngời giữa đêm.Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ cứu nước, có biết bao chiến sĩ tình báo luôn hoạt động thầm lặng trong lòng địch. Chiến trường của họ không có tiếng bom rơi lửa đạn nhưng cũng thật cam go, khắc nghiệt, sống giữa sự xa hoa, những lời lẽ tán dương, những lôi kéo, dụ dỗ của quân địch, liệu họ có phản bội Tổ quốc? Làm thế nào để bên ngoài vỏ bọc lính ngụy kia bên trong họ vẫn giữ vững phẩm chất anh bộ đội Cụ Hồ? Không chỉ như vậy mà bản thân và gia đình các anh cũng phải sống quanh những lời xì xầm, bàn tán của dư luận xã hội, bị coi là Việt gian, liệu họ có dũng cảm tiếp tục công việc, nhiệm vụ ấy đòi hỏi người chiến sĩ không chỉ cần có một bộ óc nhanh nhạy mà còn cần có một bản lĩnh vững vàng đế tự chiến đấu với bản thân.

    Còn ngày nay, ví dụ như nhân vật anh công an “Hoàn” trong bộ phim “Bí mật tam giác vàng”, anh đóng giả là một anh công an biến chất để luồn lách vào sào huyệt của bọn tội phạm, chúng dùng đủ mọi thủ đoạn để lôi kéo, dụ dỗ anh theo con đường của chúng, nhưng luôn luôn vững niềm tin và hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, nhà nước và cơ quan giao phó, anh luôn giữ vững lập trường tư tưởng. Hình ảnh anh công an đó cũng mang đến cho ta một bài học khá lớn. Đó cũng là một trong những rất rất nhiều các chiến sĩ công an nhân dân ngày nay đang quên mình để hoàn thành nhiệm vụ và phá biết bao ổ, tụ điểm tệ nạn xã hội, vì bình yên của Tổ Quốc.

    Còn được sống, hưởng thụ một môi trường tốt đẹp mà thế hệ cha ông ta đã hi sinh, đổ máu để danh được cuộc sống hòa bình cho chúng ta ngày nay mà bản thân chúng ta không chịu thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, cố gắng chăm chỉ học tập thì cũng chỉ như những thanh thép, để lâu ngày không tôi luyện sẽ bị han gỉ, trở thành những vật vô dụng.

    Tóm lại, câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” đã giúp ta thấy rằng môi trường sống có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành nhân cách của mỗi con người. Còn quan điểm “Gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng”là do bản thân chúng ta đang sống chủ quan hoặc cố tình né tránh. Nhưng dù môi trường không tốt nếu có bản lĩnh thì ta vẫn như đóa sen thơm ngát: “Gần bùn mù chẳng hỏi tanh mùi bùn”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú)
  • Phân Tích Nhân Vật Khách Trong Bài Phú Sông Bạch Đằng
  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Trương Hán Siêu
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 10
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Quỳnh Anh
  • Sử Dụng Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Truyện Lão Hạc
  • Nghệ Thuật Văn Xuôi Của Truyện Ngắn “lão Hạc”
  • Phân Tích Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Thuyết Minh Về Con Mèo Có Sử Dụng Miêu Tả & Biện Pháp Nghệ Thuật
  • Thuyết Minh Về Con Trâu Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Và Yếu Tố Miêu Tả.
  • Sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn thuyết minh – làm văn lớp 9

    LUYỆN TẬP SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH Những điều cần lưu ý

    – Mục tiêu của các bài tập rèn luyện ở phần này yêu cầu học sinh phải biết vận dụng một số biện pháp nghệ thuật vào văn bản thuyết minh. Vì vậy, đối tượng để thuyết minh vẫn là các đồ vật, các hiện tượng quen thuộc (đã học ở lớp 8), nhưng ở đây lại nâng cao chất lượng bài văn .bằng cách vận dụng một số biện pháp nghệ thuật hợp lí.

    – Như đã nêu ra ở trên, người ta chỉ vận dụng biện pháp nghệ thuật trong văn thuyết minh có tính phổ cập kiến thức hoặc một số bài có tính chất văn học. Còn các biện pháp nghệ thuật thông thường vẫn dùng là :

    + Cho sự vật tự thuật về mình.

    + Sáng tạo ra một câu chuyện nào đó.

    + Phỏng vấn một sự vật, hiện tượng nào đó (bằng nghệ thuật nhân hoá).

    + Tổ chức đi thăm một nhà sưu tầm sự vật, đồ vật nào đó…

    – Trong lời tự thuật (thực chất là tự thuyết minh) một sự vật nào đó, vẫn phải sử dụng các phương pháp thuyết minh.

    Ví dụ : Thuyết minh về cái kéo, thì trước hết vẫn phải định nghĩa kéo là một dụng cụ như thế nào ? Sau đó mới nói về họ nhà kéo đông đúc và có nhiều loại không ? Mỗi loại có cấu tạo, công dụng thế nào ? Cách bảo quản ra sao ? Gặp người không biết bảo quả thì số phận kéo ra sao ? Trước kia, ngày nay, người ta sử dụng kéo có gì khác nhau ?…

    Bài thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn thuyết minh, vừa đòi hỏi người viết phải có kiến thức, vừa đòi hỏi người viết phải có sáng tạo : tìm cách thuyết minh với một hình thức độc đáo nào đó, sao cho văn bản vừa hợp lí, vừa sinh động, thu hút người nghe, người đọc.

    1. Ghi nhớ

    – Đề bài văn thuyết minh sinh động, hấp dẫn, bớt khô khan, người viết có thể sử dụng một số biện pháp nghệ thuật như nhân hoá, so sánh, cho đối tượng thuyết minh tự thuật, hoặc trò chuyện, hoặc tạo ra một câu chuyện… Song, dù chọn hình thức nghệ thuật nào, bài viết vẫn phải giữ được các tri thức khách quan, chính xác về đối tượng cần thuyết minh

    – Chỉ vận dụng các biện pháp nghệ thuật vào các bài thuyết minh có tính chất phổ cập kiến thức, hoặc các bài có tính chất văn học.

    – Kĩ năng rèn luyện khi làm bài thuyết minh kiểu này cần :

    + Xác định đối tượng cần thuyết minh

    + Xét xem có sử dụng biện pháp nghệ thuật vào bài viết được không ?

    + Chọn hình thức thể hiện

    + Lập dàn ý chi tiết

    + Tập viết từng phần ; viết cả bài.

    2. Bài tập

    Bài tập 6. Đọc văn bản Họ nhà Kim (SGK Ngữ văn 9, tập một)

    a) Tác giả Văn Hùng đã chọn để sử dụng các biện pháp nghệ thuật nào trong văn bản này ? Tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó ?

    b) Thực chất, văn bản trên là một văn bản thuyết minh. Hãy chứng minh rằng : Dù kết hợp các biện pháp nghệ thuật, văn bản trên vẫn giữ được nội dung khách quan và chính xác về một loại đồ dùng hằng ngày của con người – đó là cái kim.

    c) Đọc văn bản Họ nhà Kim em thú vị nhất câu nào, chi tiết nào, đoạn nào ? Vì sao?

    Bài tập 7. Đọc văn bản sau :

    “Mùa xuân về rồi, những cây Lúa Non nho nhỏ trong ruộng lúa mọc ra rất nhiều những lá non xanh, khiến ai cũng thấy yêu yêu. Nhưng đáng ghét là bọn Cỏ Dại nấp ở dưới đất cũng trồi lên, chen chúc bên cạnh những cây Lúa Non.

    Lúa Non bực lắm nói :

    – Ôi, các anh làm sao mà cứ chen đẩy chúng tôi như vậy ?

    Cỏ Dại ngang ngạnh đáp :

    – Sao ? ở đây chỉ để cho bọn mi trú ngụ, còn bọn ta thì không à ? Hừ, bọn ta muốn ở đâu thì ở, chẳng ai cấm được !

    Cỏ Dại không những chen chúc, xô đẩy lung tung, mà còn kết bạn với nhau, bao vây xung quanh các cây Lúa Non. Chúng thét lên với những câỵ Lúa Non :

    – Mau “giao nộp” những chất dinh dưỡng !

    Những cây Lúa Non vươn lên, nói :

    – Mọi người cần đến chúng tôi. Chúng tôi không thể giao chất dinh dưỡng cho các anh được !

    *

    Lũ Cỏ Dại đều là lũ vô lại, bèn đẩy tay, tóm chân tranh cướp đi không ít chất dinh dưỡng ở dưới những gốc cây Lúa Non. Dần dần, cỏ Dại mọc càng cao lên, còn những cây Lúa Non thì gầy, lùn, lá cây vàng ra, quăn lại !

    Một hôm, có một trận mưa nhỏ từ không trung bay tới.

    – Bạn là mưa gì mà sao mùi vị lại lạ thế ? – Những cây Lúa Non hỏi.

    Một âm thanh mạnh mẽ vang lên :

    – Tôi là Máy Phun Mù đây. Tôi tới khám bệnh, trị bệnh cho các bạn. Thứ hoá chất này không làm hại gì tới các bạn, xin các bạn cứ yên tâm !

    Trận mưa nhỏ cứ không ngừng rơi xuống ruộng làm lũ cỏ Dại chết sạch. Những cây Lúa Non mừng rỡ cười vang !”.

    (Theo báo Hoạ mi, số 14, 2005)

    a) Văn bản đã giới thiệu với chúng ta cái Máy Phun Mù để trừ cỏ dại trong nghề trồng lúa. Vậy đây là văn bản thuyết minh hay tự sự ?

    b) Văn bản trên đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì ? Nêu tác dụng của sự kết hợp nghệ thuật ấy?

    Bài tập 8. Đọc văn bản sau :

    “Rùa là loài bò sát lưỡng cư, có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc nên biểu thị cho sự trường tồn. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt, nên được coi là con vật thanh cao, thoát tục. Chính vì tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt mà hình ảnh con rùa đội bia đá, trên bia đá đã ghi lại những câu chuyện lịch sử, danh nhân… thể hiện sự “tín nhiệm” của ông cha ta khi giao cho rùa việc lưu giữ văn hoá sử sách để nó trường tồn với thời gian và dân tộc. Hạc là loài chim quý, đối với người Việt dùng để tượng trưng cho đạo giáo thần tiên, ở đâu có hạc là ở đó có tiên (ví dụ hoa văn trang trí cảnh tiên cưỡi hạc). Do đó, hạc là biểu hiện cho sự tinh tuý, thanh cao. Hình ảnh hạc trên lưng rùa là mô típ quen thuộc trong đình chùa… thể hiện cho sự hoà hợp giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương. Theo một câu chuyện truyền thuyết thì hạc và rùa là đôi bạn thân. Rùa tượng trưng cho con vật sống -dưới nước, biết bò. Hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, rùa đã giúp hạc vượt qua vùng nước ngập úng để đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa được hạc đưa về vùng có nước. Câu chuyện này nói lên lòng chung thuỷ, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn của những người bạn tốt. Chính vì những ý nghĩ đó mà rùa và hạc là hai trong số những con vật được người Việt đề cao, biểu thị cho khát vọng tốt đẹp, may mắn. Và chúng có một vị trí quan trọng trong nền văn hoá dân tộc, được sử dụng làm hình ảnh trang trí trong nhiều đền, chùa, miếu… ở Việt Nam”.

    a) Văn bản trên có thể tách làm nhiều phần. Hướng tách thế nào ? Nêu tiêu đề từng phần, sau khi đã tách ?

    b) Nêu nội dung mà Văn bản trên giới thiệu. Có thể khẳng định : đây là văn bản thuyết minh được không ? Vì sao ?

    c) Có người cho rằng văn bản trên đã được đan xèn các yếu tố tự sự và lập luận. Có đúng vậy không ? Vì sao ?

    d) Hãy đóng vai rùa (sau đó thử đóng vai hạc) tự kể lại nội dung văn bản trên.

    Bài tập 9. Đọc văn bản sau :

    “Mấy con Sóc Nhỏ rủ nhau tổ chức một cuộc thi tài. Chúng đem một miếng vải đỏ treo lên một cành cây thông cao nhất, cách mặt đất đến 100 mét. Ai đến lấy được mảnh vải đỏ trước thì sẽ thắng và được ăn hết tất cả quả thông đã hái để ở trong làn dưới gốc cây.

    – Bắt đầu !

    Khi mấy con Sóc Nhỏ đang định leo lên cây, thì bỗng có một bóng đen bay tới rồi vọt lên ngọn cây thông, lấy xuống miếng vải đỏ.

    – Anh là ai ? Làm sao lại quấy rối chúng tôi. – Lũ Sóc Nhỏ thét toáng lên.

    – Tôi ư ? Tôi là Sóc, nhưng hơi khác với các bạn là hai bẽn thân thể tôi có màng nên có thể bay lượn được. Tôi tới đây là muốn kết bạn. Tôi sẽ mang phân của tôi làm “lễ vật” tặng cho các bạn.

    Lũ Sóc Nhỏ nghe vậy tức lắm ! Lại có kẻ đem phân thải ra tặng người khác!

    Chúng vớ những quả thông ném tới tấp vào Sóc Biết Bay !

    – Các con làm gì thế ! – Khi đó Sóc Mẹ về kịp, hỏi rõ ngọn ngành xong, liền nghiêm khắc nói với lũ Sóc Nhỏ :

    – Các con chưa hiểu gì mà đã đánh bạn thế à ! Phân của Sóc Biết Bay là một loại đông dược quý giá, gọi là “ngũ linh”, tốt cho việc lưu thông máu, giảm đau, tiêu đờm… Sóc Biết Bay có lòng tốt muốn tặng thứ “lễ vật” quý giá ấy cho các con đấy”.

    (Theo báo Hoạ mi, số 18, 2005)

    A – Giải oan cho Sóc Biết Bay.

    B – Sự hiểu lầm giữa các bạn Sóc.

    C – “Ngũ linh” – một loại đông dược quý giá.

    D – Một kiến thức cần biết về loài Sóc Biết Bay.

    b) Vì ghi vội, nên bạn học sinh viết văn bản trên thành một mạch liên tục. Hãy giúp bạn ấy phân chia các phần một cách hợp lí. Nêu cơ sở của sự phân chia ấy. Đặt tiêu đề ngắn gọn cho từng phần.

    c) Văn bản trên là văn bản thuyết minh hay văn bản tự sự ? Hãy đưa ra các lí’lẽ để bảo vệ ý kiến của em.

    d) Chỉ ra biện pháp nghệ thuật đã được sử dụng trong văn bản. Nêu tác dụng.

    Bài tập 10. Hãy lắng nghe cuộc trò chuyện của hai bé :”Hạnh và Thi qua một đoạn văn sau :

    – Cậu làm gì đấy ? Cậu làm ướt quần mình rồi ! Hạnh kêu lên.

    Thi cười xoà :

    Rồi Thi chỉ tay vào chú giun đất đang cựa quậy giữa vũng nước. Hạnh nhăn mặt nói :

    – Giun đất mà cậu lại ném à ? Nó có ích đấy !

    – Có ích ư ? Tớ nghĩ giun gì thì cũng có hại cho con người.

    – Sai rồi, giun đất xới đất giúp đất tơi xốp đấy.

    – Thế à ! Vậy mà bấy lâu nay tớ lại nghĩ oan cho nó. Bây giờ tớ phải làm gì ?

    Hạnh bày cách :

    – Cậu tìm cái que gạt nó ra ngoài đất này, chờ một lúc cho đất ráo, chọc một cái lỗ, cho nó xuống.

    Thi làm theo lời Hạnh. Quả nhiên, sau đó con giun đất đã tự bò xuống cái lỗ. Hai bạn cùng rẻo lên thích thú… Suốt buổi chơi hôm ấy Thi cảm thấy như mình lớn hơn một chút…”.

    (Theo báo Hoạ mi, số 20, 2005)

    a) Đoạn văn trên đã giúp các bạn đọc nhỏ tuổi biết thêm kiến thức gì ? Vậy có thể khẳng định : đây là đoạn văn thuyết minh được không ? Chọn các câu văn thể hiện rõ kiến thức trên.

    b) Đoạn văn thuyết minh trên đã sử dụng biện pháp nghệ thuật :

    A – Nhân hoá.

    B – So sánh.

    C – Đối tượng thuyết minh tự thuật.

    D – Tạo một tình huống trò chuyện : bộc lộ kiến thức cần thuyết minh.

    E – Kể chuyện kết hợp tạo tình huống trò chuyện.

    c) Đoạn văn trên có thể dùng cho lứa tuổi nào ? Vì sao em biết ?

    Bài tập 11. Đọc văn bản sau :

    “Trời oi bức quá. Gấu Nhỏ vừa ngủ trưa dậy, tụt từ từ xuống khỏi cây, ra sông tắm. Nó nhảy ùm xuống nước. Bàn chân vừa chạm tới đáy sông thì toàn thân nó như bị điện giật.

    – Có quái vật ! – Gấu Nhỏ kinh hoàng bơi vào bờ, nhìn xuống mặt sông.

    – Ai làm cá của tôi sợ chạy hết rồi ! – Một con Cá Đầu To nhô lên mặt nước nói.

    – Ôi ! Xin lỗi ! Trời nóng quá, tôi muốn tắm cho mát thôi mà.

    Cá Đầu To thấy Gấu. Nhỏ nói lễ độ như vậy, khôn? nóng giận nữa, mà cười hì hì, nói :

    – Chó lo lắng, bạn tiếp tục tắm đi. Tôi vừa dùng điện để bắt cá đấy mà.

    Gấu Nhỏ ngạc nhiên hỏi :

    – Trên người anh có điện à ?

    Cá Đầu To tự hào nói :

    – Tôi được gọi là Cá Điện. Điện áp trên thân thể tôi rất mạnh. Khi tôi phóng điện, động vật xung quanh cách mấy mét đều bị thương, hoặc bị chết. Qua việc phóng điện, tôi có thể tự bảo vệ mình và cũng là một cách để thu được thức ăn đấy !

    Gấu Nhỏ lúc đó mới hiểu ra vì sao khi mình mới nhảy xuống nước, toàn thân lại bị tê tê ! Hoá ra là lúc ấy anh Cá Đầu To phóng điện ở trong nước”.

    (Theo báo Họa Mi, số 16, 2005)

    a) Chọn trong các đầu đề sau một đầu đề đúnơ mà hay. Giải thích sự lựa chọn đó.

    A – Giới thiệu loài Cá “phóng điện”.

    B – Sự vỡ lẽ trong hiểu biết của Gấu Nhỏ.

    C – Một cuộc gặp gỡ bất ngờ và kì lạ.

    D – Gấu Nhỏ và Cá “phóng điện”.

    b) Có thể khẳng định rằng : đây là văn bản thuyết minh có sử dụng biện pháp nghệ thuật không ?

    c) Một trong các biện pháp nghệ thuật đã được dùng trong văn bản trên là : kể chuyện. Vậy theo em, có thể xác định ngôi kể được không ?

    d) Hãy tạo một văn bản thuyết minh về Cá “phóng điện”, nhưng đóng vai Gấu Nhỏ kể lại câu chuyện trên.

    So sánh văn bản mới tạo được và văn bản đã cho.

    Bài tập 12. Hãy viết bài thuyết minh một trong các đồ dùng : cái quạt, cái bút, cái kéo, cái nón

    (Yêu cầu : Bài thuyết minh có sử dụng hợp lí một số biện pháp nghệ thuật để nâng cao chất lượng của bài thuyết minh).

    Gợi ý : * Nên làm theo các bước sau :

    1. – Tìm hiểu đề, xác định đối tượng cần thuyết minh.

    2. – Tìm tri thức về đối tượng cần thuyết minh.

    3. – Cân nhắc, chọn biện pháp nghệ thuật để vận dụng vào bài.

    4. – Lập dàn ý chi tiết.

    5. – Viết bài.

    * Giúp các em làm bước 2. Ví dụ : Tìm tri thức về cái quạt điện

    – Quạt điện gồm hai phần chính : động cơ điện và cánh quạt.

    – Cánh quạt được lắp với trục động cơ điện. Cánh quạt làm bằng nhựa hoặc kim loại, được tạo dáng để làm ra gió khi quay.

    – Ngoài ra, quạt còn có lưới bảo vệ, các bộ phận điều chỉnh tốc độ, thay đổi hướng gió và hẹn giờ.

    2. Nguyên lí làm việc

    – Quạt điện thực chất là động cơ điện cộng với cánh quạt.

    – Khi đóng điện vào quạt, động cơ điện quay, kéo cánh quạt quay theo, tạo ra gió làm mát.

    3 . Các loại quạt điện

    Quạt điện có nhiều loại : quạt trần, quạt bàn, quạt treo tường, quạt cây…

    Khi sử dụng quạt điện, ngoài những yêu cầu riêng về kiến thức động cơ điện, còn cần chú ý : cánh quạt quay nhẹ nhàng, không bị rung, không bị lắc, không bị vướng cánh,…

    Ví dụ tìm tri thức về cấu tạo chiếc nón : Tham khảo cuốn Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 8 của Cao Bích Xuân (NXB Giáo dục, 2004).

    Nồi Cơm điện

    1. Cấu tạo : Nồi cơm điện có ba bộ phận chính là vỏ nồi, xoong và dây đốt nóng.

    a) Vỏ nồi : Có hai lớp, giữa hai lớp có bông thuỷ tinh cách nhiệt.

    b) Xoong được làm bằng hợp kim nhôm, phía trong được phủ một lớp men đặc biệt (chống dính) để cơm không bị dính xoong.

    c) Dây đốt nóng được làm bằng hợp kim ni-ken – crôm, gồm dây đốt nóng chính và dây đốt nóng phụ.

    – Dây đốt nóng chính công suất lớn được đúc kín trong ống sắt hoặc mâm nhôm (có chất chịu nhiệt và cách điện bao quanh dây) đặt sát đáy nồi, dùng ở chế độ nấu cơm.

    – Dây đốt nóng phụ công suất nhỏ gắn vào thành nồi được dùng ở chế độ ủ cơm.

    Ngoài ra còn có đèn báo hiệu và mạch điện tự động để thực hiện các chế độ nấu, ủ, hẹn giờ… theo yêu cầu.

    2. Các số liệu kĩ thuật

    – Điện áp định mức : 127V ; 220V.

    – Công suất định mức : từ 400W đến 1000W.

    – Dung tích xoong : 0,75 lít; 1 lít; 1,5 lít; 1,8 lít; 2,5 lít.

    3. Sử dụng

    – Nồi cơm điện ngày càng được sử dụng nhiều, rất tiện lợi, từ loại đơn giản cho đến loại tự động nấu cơm theo chương trình và báo tín hiệu bằng màn hình.

    – Cần sử dụng đúng với điện áp định mức của nồi cơm điện và bảo quản nơi khô ráo.

    + Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh – Bài làm văn lớp 9

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Bồi Dưỡng Cảm Thụ Văn Học Cho Học Sinh Năng Khiếu Lớp 4
  • Một Số Biện Pháp Dạy Văn Miêu Tả Lớp 4
  • Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9 Hay Nhất
  • Top 10 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Cây Lúa Nước Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9 Chọn Lọc
  • Thuyết Minh Về Cây Lúa Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9 Đạt Điểm Cao
  • Nghệ Thuật Lập Luận Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 10
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Tây Tiến Đoạn 1 Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Đầu Của Bài Tây Tiến
  • Những Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp Lớp 11
  • Bài Văn Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tiếng Gà Trưa, Hay, Tuyển Ch
  • Đề bài

    Phân tích nghệ thuật lập luận trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi

    ****

    Phân tích đề

    – Yêu cầu đề bài: phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong tác phẩm Bình Ngôi đại cáo ở nhiều khía cạnh

    – Phương pháp làm bài: phân tích

    Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Đối tượng và mục đích sáng tác, bố cục, kết cấu của tác phẩm

    Luận điểm 2: Cách lập luận chặt chẽ, thuyết phục

    Luận điểm 3: Giọng điệu, ngôn ngữ và hình ảnh của tác phẩm

    Dàn ý chi tiết

    Xem dàn ý chi tiết: Dàn ý phân tích nghệ thuật lập luận trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi

    Bài văn mẫu 1

    Trên phương diện văn chương, Nguyễn Trãi được coi là một trong không nhiều các nhà văn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thời kì trung đại. Ông sáng tác trên nhiều thể loại, thể loại nào cũng có những sáng tác xuất sắc. Không chỉ là nhà thơ trữ tình sâu sắc, Nguyễn Trãi còn là nhà văn chính luận kiệt xuất. Ông để lại khối lượng khá lớn văn chính luận (Quân trung từ mệnh tập, chiếu biểu viết dưới triều Lê…) nhưng chỉ cần Bình Ngô đại cáo cũng đủ để chứng minh chứng cho nghệ thuật chính luận tài tình của ông.

    Có thể nói, Bình Ngô đại cáo đạt tới trình độ mẫu mực từ việc xác định đối tượng, mục đích để sử dụng bút pháp thích hợp đến kết cấu chặt chẽ và lập luận sắc bén.

    Đối tượng của văn bản chính luận này không chỉ là giặc Minh với những tội ác tày trời chúng ta đã gieo cho nhân dân, đất nước ta mà còn là nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân đất nước Đại Việt. Bình Ngô đại cáo là áng văn yêu nước lớn của thời đại, là bản tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc, bản cáo trạng tội ác kẻ thù, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đó cũng chính là mục đích mà Nguyễn Trãi hướng tới.

    Nghệ thuật chính luận của bài cáo được thể hiện trước hết ở nghệ thuật kết cấu Nguyễn Trãi đã kết cấu văn bản này một cách sáng tạo theo kết cấu chung của thể cáo. Bình Ngô đại cáo có kết cấu bốn đoạn rất chặt chẽ. Đoạn thứ nhất, Nguyễn Trãi nêu nguyên lí chính nghĩa làm căn cứ xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung Bình Ngô đại cáo:

    Trong nguyên lí chính nghĩa, Nguyễn Trãi trình bày hai nội dung chính là tư tưởng nhân nghĩa:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

    Và chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt:

    Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu…

    Sang đến đoạn thứ hai, bằng mười hai cặp tứ lục, tác giả đã hoàn thiện bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc Minh. Bản cáo trạng được trình bày theo một trình tự lôgic. Ban đầu, tác giả vạch trần âm mưu xâm lược:

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa, Bọn gian tà bán nước cầu vinh.

    Tiếp đó tác giả lên án chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh mẽ các hành động tội ác:

    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ nướng dưới hầm tai vạ…

    Đoạn văn thứ ba là đoạn văn dài nhất của bài cáo, có ý nghĩa như bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Tương ứng với hai giai đoạn của cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trãi đã khắc họa hình tượng chủ tướng Lê Lợi và bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa.

    Và cuối cùng, ở đoạn văn thứ tư, nhà văn đã kết thúc bài cáo bằng lời tuyên bố nền độc lập của dân tộc đã được lập lại và rút ra bài học lịch sử:

    Xã tắc từ đây vững bền, Giang sơn từ đây đổi mới…

    Sự điêu luyện của nghệ thuật chính luận Nguyễn Trãi không chỉ được thể hiện trong kết cấu chặt chẽ mà còn được thể hiện ở cách lập luận tài tình của nhà văn. Tư tưởng nhân nghĩa và độc lập dân tộc là cơ sở chân lí làm cơ sở để lập luận. Trước hết, tác giả nêu tiền đề có tính chất chân lí làm cơ sở để lập luận. Tiền ề đó được khai sáng vào thực tiễn, giúp tác giả chỉ đâu là phi nghĩa để tố cáo, lên án, đâu là chính nghĩa để khẳng định, ngợi ca cơ sở tiền đề và thực tiễn, kết luận được rút ra.

    Nghệ thuật chính luận còn được thể hiện qua sự gắn bó chặt chẽ giữa lí lẽ với thực tiễn. Như khi luận giải về chân lí khách quan sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước Đại Việt, tác giả đã đưa ra những cơ sở chắc chắn từ thực tiễn lịch sử trên mọi phương diện cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, văn hiến, lichj sử riêng, chế độ riêng:

    Như nước Đại Việt ta…

    Sự gắn bó giữa chính luận và thực tiễn cũng được thể hiện rất đậm nét ở các đoạn văn sau này.

    Một phương diện khác làm nên sự tài tình trong nghệ thuật chính luận của Nguyễn Trãi là bút pháp. Bình Ngô đại cáo có sự kết hợp giữa bút pháp tự sự, trữ tình và bút pháp anh hùng ca. Nhà văn không độc tôn một bút pháp nào mà luôn hài hòa chúng trong lời văn của mình. Ở đoạn thứ ba, khi phản ánh giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, khắc họa hình tượng Lê Lợi chủ yếu trên phương diện tâm lí, Nguyễn Trãi đã kết hợp bút pháp trữ tình với bút pháp tự sự:

    Trông người người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi, Tự ta ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối…

    Khi dựng lại bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh nhịp điệu, tất cả đều đậm chất anh hùng ca

    Gươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận, sạch không kình ngạc, Đánh hai trận, tan tác chim muông. Nổi gió to trút sạch lá khô, Thông tổ kiến phá toang đê vỡ…

    Như vậy từ kết cấu đến cách lập luận, đến bút pháp nghệ thuật, tất cả đều thể hiện Bình Ngô đại cáo là một áng văn chính luận xuất sắc. Với Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi xứng đáng là cây bút chính luận lỗi lạc của văn học trung đại Việt Nam.

    Bài văn mẫu 2

    Kì thực trong lịch sử văn học dân tộc, có không nhiều tác phẩm xuất sắc, đạt đến trình độ mẫu mực, đỉnh cao cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Muốn có được điều đó phải dựa trên rất nhiều yếu tố, trong đó chắc chắn phải dựa vào tài năng trác việt của tác giả. Nguyễn Trãi là nhà văn như vậy và Bình Ngô đại cáo là tác phẩm kiệt xuất của văn học dân tộc. Tài năng, tâm sức và nhiều khát vọng được ông dồn tụ vào áng văn chính luận bất hủ này. Và một trong những điểm sáng lớn nhất của bài cáo chính là ở nghệ thuật lập luận tài tình của nhà văn.

    Cáo vốn là một thể văn chính luận trung đại, thường dùng cho mục đích hành chính quan phương của vua chúa. Ít ai nghĩ rằng thể loại vốn khô khan, khó có “đất diễn” này có thể trở thành một tác phẩm văn chương đúng nghĩa. Nhưng Bình Ngô đại cáo lại khác, có nhiều yếu tố để Nguyễn Trãi đã biến nó trở thành một tác phẩm giàu chất văn chương, mà trước hết là ở nghệ thuật lập luận. Một tác phẩm văn chính luận (dù ở hình thức thể loại nào) đạt đến trình độ nghệ thuật đỉnh cao phải xác định được đối tượng, mục đích rõ ràng, có kết cấu chặt chẽ, cách lập luận sắc bén, giọng điệu hùng hồn, đanh thép, ngôn ngữ giàu tính luận chiến, có độ khái quát cao. Nếu xét ở tất cả các phương diện này, Bình Ngô đại cáo là một áng văn chính luận bất hủ, kiệt xuất.

    Nói tới đối tượng và mục đích sáng tác văn chương không phải là nói đến yếu tố nghệ thuật mà là nội dung. Nhưng đối với văn chính luận hai điều này lại vô cùng quan trọng chi phối đến kết cấu và cách thức lập luận của tác phẩm. Nếu xét ở bề nổi, đối tượng của Đại cáo bình Ngô chính là nhân dân bá tánh, mà vua Lê Lợi và Nguyễn Trãi muốn thông báo rộng rãi về nền hòa bình độc lập sau hơn hai mươi năm chịu ách đô hộ và kháng chiến chống giặc Minh. Nhưng tính chiến đấu của văn chính luận luôn ẩn chứa ngay từ đối tượng và mục đích mà văn bản đó được sáng tác. Việc tuyên bố độc lập, hòa bình với nhân dân đất nước sau khi kháng chiến thắng lợi là điều bình thường, nhưng nó cũng chính là đòn cuối cùng trên mặt trận ngoại giao để kẻ thù không còn có cớ nào quay trở lại xâm lược nữa. Vì vậy, bản đại cáo đã tạo nên những cơ sở lí luận và thực tiễn đầy xác đáng, chân thực như gọng kìm cuối cùng để khóa chặt mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù.

    Kết cấu của bản đại cáo rất chặt chẽ, bao gồm bốn phần rõ ràng và được tạo từ hai cơ sở rất quan trọng để đi đến việc có thể tuyên bố hòa bình. Mở đầu Nguyễn Trãi đã tạo một căn cứ pháp lí không gì có thể chối cãi được, đó chính là tư tưởng nhân nghĩa và những yếu tố để xác lập chân lý chủ quyền dân tộc. Trong đó tư tưởng nhân nghĩa đóng vai trò cốt lõi, xuyên suốt của tác phẩm.

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

    Chưa kể cách Nguyễn Trãi đề xuất đầy mới mẻ, nhân văn trong quan điểm nhân nghĩa này, mà nó còn giữ vai trò chủ đạo để thực thi, phán xét mọi hành động của kẻ thù và quân ta. Nhân nghĩa là yên dân, muốn cho dân được yên thì phải lo trừ bạo ngược, mà trước mắt là diệt trừ họa xâm lăng. Vì vậy bao đời nay, trên tinh thần nhân nghĩa dân ta đã và luôn là một quốc gia độc lập, bất khả xâm phạm tới chủ quyền. Bất cứ kẻ nào đem quân đi xâm lược nước ta là trái với nhân nghĩa, chà đạp lên quyền độc lập tự do của dân tộc mình đều bị trừng trị thích đáng.

    Nền móng vững trãi đó đã giúp ông soi chiếu vào lịch sử hơn hai mươi năm giặc Minh đô hộ và xâm lược nước ta. Những dẫn chứng thực tiễn đẫm máu và nước mắt trong những ngày tháng đó được bài cáo đưa ra một cách chân thực. Đó là những nhân chứng, vật chứng đanh thép mà nhà văn – vị “luật sư” thiên tài đệ ra trước “tòa án nhân nghĩa”. Hơn nữa, lãnh tụ Lê Lợi cùng tướng sĩ của mình đã vượt qua biết bao nhiêu khó khăn, đồng sức chung lòng để làm nên thắng lợi. Chiến thắng ấy là chiến thắng của tinh thần đại nghĩa – chí nhân. Kết cấu của bài cáo vì thế mà vô cùng chặt chẽ.

    Bản Đại cáo bình Ngô còn được coi là đỉnh cao của nghệ thuật văn chính luận phải kể đến cách lập luận đầy sắc bén của nhà văn Nguyễn Trãi. Ngay ở phần mở đầu khi đưa ra chân lý độc lập, tác giả không đơn thuần khẳng định một cách chung chung mà từ các lí lẽ đến dẫn chứng đều khiến mọi người tỏ ra tâm phục khẩu phục. Ông liệt kê, so sánh rất chính xác qua các yếu tố xác lập chủ quyền độc lập như nền văn hiến, lãnh thổ, phong tục, lịch sử, hào kiệt giữa hai quốc gia Đại Việt và Đại Hán. Vừa là thể hiện niềm tự hào về một quốc gia đã độc lập từ lâu đời, vừa là cách khẳng định vị thế ngang hàng với một đất nước lớn như Trung Quốc. Đó cũng chính là lời răn đe đối với mục đích, âm mưu xâm lược nước ta của kẻ thù. Chưa bao giờ trong lịch sử, tính tới thời điểm đó, vấn đề độc lập chủ quyền của nước ta lại được khẳng định một cách chắc chắn và vững trãi như vậy. Không những thế để chặt chẽ hơn ông còn đưa ra những dẫn chứng mà năm xưa quân xâm lược phương bắc đã làm và phải chịu thất bại như thế nào. Bởi vậy, mở đầu bài cáo một cơ sở pháp lí không còn gì thuyết phục hơn được đặt ra.

    Trong khi đó, đến cơ sở thực tiễn ông cũng luận tội kẻ thù bằng những dẫn chứng đanh thép. Cách luận tội vừa xác thực vừa chứa đựng nhiều cảm xúc đã phơi bày tất cả những gì đau thương nhất mà nhân dân phải trải qua:

    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

    Cách sử dụng hình ảnh tuy có tính chất ước lệ, khái quát nhưng vẫn lột tả được hết thảy tội ác man rợ của quân cuồng Minh. Điều đó càng chứng thực cho những gì thuộc về nhân nghĩa bọn chúng đều vi phạm hết. Bởi vậy lập luận tăng phần thuyết phục, cuộc phản công lại của quân khởi nghĩa Lam Sơn vì thế mà ở trong thế chính nghĩa. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa lí luận và thực tiễn đã tạo sức nặng rất lớn trong cách lập luận của Đại cáo bình Ngô.

    Song bên cạnh đó bút pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng cũng là một trong những yếu tố làm nên giá trị đỉnh cao của tác phẩm này. Ở bài cáo có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa các yếu tố hiện thực và trữ tình, tả thực và ước lệ tượng trưng. Trong đó, bút pháp tương phản, đối lập được vận dụng một cách tài tình và linh hoạt nhất. Ngay ở đoạn văn luận tội kẻ thù, Nguyễn Trãi đã phơi bày một bức tranh đen tối của dân tộc dưới ách đô hộ của bè lũ cướp nước. Nhân dân ta phải chịu cảnh đàn áp dã man, còn kẻ thù hiện lên chân dung của những kẻ khát máu, man rợ. Hay khi tái hiện lại quá trình phản công đầy gian khổ và tất thắng của quân dân ta cũng đầy sự trái ngược. Sự lớn mạnh và liên tiếp thắng lợi của tướng sĩ Lam Sơn lại hoàn toàn đối lập với chân dung biếm họa của bọn quân tướng giặc Minh khi thua cuộc. Có thể nhận thấy, tác giả không sử dụng một bút pháp nào độc tôn, mà linh hoạt, mới mẻ trong từng đoạn, từng phần. Bởi vậy đọc bài cáo người đọc mới không thấy sự nhàm chán, khô khan như một văn bản hành chính thông thường. Hơn thế bút pháp trong bài cáo còn được thăng hoa nhờ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa yếu tố tâm lý và chất anh hùng ca. Bài cáo vì thế như một lời tự sự từ tận trái tim nhưng là hơi thở của cả một thời đại hào hùng.

    Chưa dừng lại ở đó, việc sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ đến âm hưởng, giọng điệu cũng tạo nên giá trị nghệ thuật lớn lao cho bài cáo này. Chắc chắn ai đọc Đại cáo bình Ngô không thể quên được những hình ảnh vừa khái quát vừa chân thực như nướng dân đen, vùi con đỏ, đứa há miệng, thằng nhe răng, hay khí thế hừng hực của đội quân chính nghĩa:

    Đánh một trận sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông

    Ngôn ngữ giàu tính sáng tạo giữa việc sử dụng những điển cố văn chương với cách vận dụng ngôn ngữ cá nhân rất gần gũi, thân thuộc, khiến người đọc khó mà phân biệt được đâu là những ngôn từ sách vở, đâu là ngôn ngữ của chính nhà văn.

    Nhưng chất chính luận rất riêng của tác phẩm này còn phải kể đến âm hưởng, giọng điệu. Là một văn kiện lịch sử tuyên bố sự nghiệp quan trọng của nước nhà chắc chắn giọng điệu hào hùng, âm hưởng mạnh mẽ, khí thế là điều tất yếu. Nhưng Đại cáo bình Ngô còn mang đến nhiều cảm xúc hơn thế. Có sự đanh thép, cứng rắn trong việc luận bàn việc nhân nghĩa; có sự đau đớn, xót xa, uất nghẹn khi luận tội kẻ thù; có sự suy tư, cảm thông trong lời kể về chủ tướng Lê Lợi và những ngày đầu còn khốn khó của cuộc khởi nghĩa; nhưng đến khi hồi tưởng lại cuộc phản công oanh liệt của ta lại rất hùng hồn, quyết liệt. Và hồi kết thúc bài cáo, giọng điệu thư thái, nhẹ nhàng mà hảo sảng, sướng vui vang lên để tuyên bố độc lập. Cả bài cáo là sự hòa quyện của muôn vàn giọng điệu, chỉ có thể được tạo ra bởi một trí tuệ tài năng, một trái tim say mê, một thực tế đã từng trải. Vì thế nghệ thuật lập luận của bài cáo đạt đến mức độ đỉnh cao là điều dễ hiểu.

    Nguyễn Trãi, không ai có thể phủ nhận nhân cách, đức độ và tài năng của ông. Cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước là điều mà ai cũng thấy được ở bậc vĩ nhân này. Thế nhưng trong sáng tác văn chương Nguyễn Trãi cũng thể hiện sự đa tài hiếm có. Ở thể loại nào ông cũng thành công. Và một trong số những đặc điểm dễ nhận thấy là ông luôn có những tìm tòi, sáng tạo, phá vỡ tính quy phạm vốn có trong văn chương trung đại. Chưa kể đến những yếu tố về thời đại, về hoàn cảnh lịch sử chống quân Minh, về những bức thư đầy tính luận chiến trong Quân trung từ mệnh tập và ngay cả sự bạo ngược của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã đem đến một bài cáo rất đặc biệt trong cách lập luận mà trước nay chưa từng có. Vì thế ông xứng đáng là nhà văn chính luận kiệt xuất, Bình Ngô đại cáo trở thành áng văn chính luận mẫu mực, có giá trị cổ điển đưa Nguyễn Trãi trở thành cây bút bậc thầy ở thể loại này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Cảm Nhận Về Bình Ngô Đại Cáo Đoạn 1
  • Bài Thơ Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo)
  • Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, Bài Văn Mẫu Hay Nh
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Và Tác Dụng Trong Đoạn Thơ Tả Bức Tranh Xuân Trong “cảnh Ngày Xuân “

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bút Pháp Nghệ Thuật Của Nguyễn Du Qua Đoạn Trích “cảnh Ngày Xuân”
  • Nghệ Thuật Miêu Tả Trong Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân. Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du .
  • Bài Thơ Tôi Yêu Em
  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả, Tác Phẩm
  • ✅ Văn Mẫu: Tôi Yêu Em (Pu
  • Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một tác phẩm hay, độc đáo, rất tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên của đại thi hào Nguyễn Du. Đoạn trích nằm ngay sau đoạn tả tài, tả sắc của chị em Thúy Kiều. Qua đoạn thơ, Nguyễn Du dựng lên bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân trong tiết Thanh minh thật tươi sáng, sống động. Nhà thơ đã khéo léo kết hợp bút pháp tả và gợi với những chi tiết mang tính ước lệ mà vẫn vô cùng chân thực, giàu tính chất tạo hình và biểu cảm, ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt để miêu tả khung cảnh ngày xuân.

    Trước hết là bốn câu thơ đầu , với nghệ thuật chấm phá độc đáo tả ít gợi nhiều, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, giàu sức xuân:

    Ngày xuân con én đưa thoi

    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

    Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

    Hai câu thơ đầu vừa có sức gợi về thời gian, lại vừa có sức gợi về không gian. Ngày xuân thấm thoát trôi qua thật nhanh như thoi đưa. Cả mùa xuân có chín mươi ngày thì nay đã qua tháng giêng, tháng hai và bước sang tháng thứ ba. Ánh sáng của ngày xuân nhẹ nhàng, trong veo, lan tỏa, trải dài khắp muôn nơi. Trên nền trời cao là những đàn chim én mùa xuân đang chao nghiêng bay lượn. Dưới mặt đất là một thềm cỏ xanh non bất tận chạy ra xa tít tắp. Động từ “tận” làm cho không gian mùa xuân như đang giãn nở, ngày càng mở rộng ra biên độ và bao trùm cả không gian xuân là một màu xanh biếc của cỏ lá. Trên nền cỏ xanh tươi ấy là những bông hoa lê điểm vài sắc trắng gợi lên sự tinh khôi, mới mẻ. Biện pháp đảo ngữ có tác dụng tô đậm thêm và làm nổi bật hơn sức trắng của hoa lê trên nền cỏ mùa xuân. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn nhưng dưới ngòi bút và cách miêu tả thần tình, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh xuân tinh khôi, trong trẻo, thanh khiết và giàu sức sống, mang đậm hơi thở của hồn xuân đất Việt.

    Đến sáu câu thơ cuối, bằng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình”, Nguyễn Du đã miêu tả thời điểm kết thúc của ngày hội xuân thấm đượm hồn người một chút buồn xao xuyến. Đây vừa là tả thực, lại vừa nhuốm màu tâm trạng nhân vật trữ tình trong thơ.

    Tà tà bóng ngả về tây

    Chị em thơ thẩn dan tay ra về

    Bước dần theo ngọn tiểu khê

    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

    Nao nao dòng nước uốn quanh

    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

    Cảnh vẫn mang cái dịu nhẹ, êm đềm của ngày xuân nhưng bóng dương đã “tà tà ngả về tây”. Cảnh vật như trở nên nhạt dần đều, cái khung cảnh rộn rã, náo nức, tưng bừng lúc sáng sớm ngày xuân đã phải nhường chỗ cho sự tĩnh lặng, yên ả. Không gian xuân co gọn lại theo ánh sáng của bầu trời hoàng hôn chứ không mở ra rộng lớn, mênh mông, vô tận như ở bốn câu thơ đầu. Tất cả đều thu nhỏ trong bước chân của người ra về. Phong cảnh thì “thanh thanh” nhẹ nhàng, dòng nước tiểu khê thì uốn quanh “nao nao” và chiếc cầu “nho nhỏ” thì “bắc ngang” cuối ghềnh. Cảnh thực đẹp, rất giàu chất thơ, chất họa, phảng phất một nỗi buồn lưu luyến, bịn rịn, bâng khuâng của lòng người. Đồng thời gieo vào lòng người đọc những linh cảm về một điều sắp sửa xảy ra, như là sự dự báo trước cuộc gặp gỡ nấm mồ Đạm Tiên và sự gặp gỡ của hai con người trai tài gái sắc: Thúy Kiều – Kim Trọng. Tóm lại, với bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với việc sử dụng hệ thống những từ láy, hình ảnh giàu tính tạo hình và biểu cảm, tác giả đã khắc họa bức tranh chiều tà trong ngày hội xuân thấm đượm tâm trạng của con người nhân vật. Qua đó cho thấy được tài năng nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và tâm trạng con người của Nguyễn Du.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Miêu Tả Thiên Nhiên Trong Cảnh Ngày Xuân
  • Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Chiều Tối
  • Đọc Đoạn Thơ Trong Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Sau
  • Phân Tích Bài Thơ Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Soạn Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100