Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý Là Giải Pháp Đột Phá Trong Giáo Dục 5 Năm Tới

--- Bài mới hơn ---

  • Hạn Chế Và Giải Pháp Trong Dạy Học Stem
  • Phương Pháp Giáo Dục Stem Là Gì Và Được Áp Dụng Như Thế Nào?
  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Năng Công Tác Giáo Dục Truyền Thông
  • Trường Chính Trị Hậu Giang
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Truyền Thống Cách Mạng Cho Thanh Niên Huyện Gò Công Tây Tỉnh Tiền Giang
  • Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ trình bày tham luận tại Đại hội

    Ngày 4/11/2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.

    Sau 7 năm thực hiện Nghị quyết 29, sự nghiệp giáo dục và đào tạonước ta đã tạo được chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu quả, được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

    Tuy vậy, bên cạnh kết quả, thành tựu mà ngành giáo dục đạt được vẫn còn một số hạn chế như: Công tác quản lý nhà nước, quản trị nhà trường còn bất cập, trách nhiệm còn chồng chéo.

    Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết triệt để ở một số địa phương; chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, còn một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, cá biệt có những giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, gây bức xúc xã hội…

    Tham luận tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII sáng nay 27/1, đồng chí Phùng Xuân Nhạ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, thời gian tới, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện tốt 5 nhóm giải pháp cơ bản.

    Thứ nhất là đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và quản trị nhà trường. Trong giai đoạn đầu triển khai thực hiện Nghị quyết 29, ngành giáo dục chọn đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng là giải pháp đột phá, để thông qua đó điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp hơn. Giải pháp này đã cơ bản hoàn thành trong giai đoạn vừa qua.

    “Giai đoạn 2022-2025, ngành giáo dục chọn đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và quản trị nhà trường là giải pháp đột phá, để tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách mới hiệu quả hơn, khắc phục căn bản các hạn chế, bất cập gây bức xúc xã hội. Giải pháp này không cần nhiều nguồn lực nhưng tháo gỡ được những nút thắt, rào cản đổi mới giáo dục hiện nay”, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh.

    Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý trong giáo dục và quản trị nhà trường, coi trọng quản lý chất lượng, hiệu quả quản trị nhà trường, gắn trách nhiệm quản lý chuyên môn với quản trị nhân sự và tài chính; hoàn thiện cơ chế để cơ quan quản lý giáo dục được tham gia quyết định trong quản lý nhân sự và phân bổ, sử dụng nguồn tài chính dành cho giáo dục của địa phương.

    Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, ủy quyền, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ sở giáo dục, đào tạo và các địa phương…

    Thứ hai là phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. “Tư lệnh” ngành giáo dục phân tích, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhân tố quyết định thành công sự nghiệp đổi mới giáo dục.

    Thời gian qua tới sẽ tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy và cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức trong ngành giáo dục bảo đảm tinh gọn, hiệu quả.

    Xây dựng cơ chế đặt hàng với các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cho địa phương, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, bảo đảm việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và phù hợp với quy định của Luật Giáo dục năm 2022…

    Giải pháp thứ ba được đề cập tới là tiếp tục rà soát, quy hoạch mạng lưới trường, lớp.

    Các địa phương tiếp tục thực hiện rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông bảo đảm nguyên tắc tạo thuận lợi cho việc học tập của học sinh gắn với các điều kiện bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục mầm non, phổ thông.

    Khắc phục tình trạng nhiều điểm trường lẻ, trường học có quy mô nhỏ, chất lượng giáo dục chưa cao để tập trung đầu tư nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục; thực hiện quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học bảo đảm gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực và tiếp cận quốc tế…

    Thứ tư là đẩy nhanh chuyển đổi số trong giáo dục. Cụ thể là tiếp tục triển khai có hiệu quả Hệ thống cơ sở dữ liệu ngành từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học bảo đảm 100% các cơ sở giáo dục cập nhật dữ liệu đầy đủ, chính xác, kết nối liên thông với nền tảng số quốc gia; khai thác sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu ngành; các phần mềm quản lý, dạy và học trong nhà trường.

    “Thứ năm là tăng cường công tác truyền thông; chủ động đẩy mạnh công tác truyền thông về giáo dục và đào tạo, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và hành động, sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới và tự chủ đại học, trước hết là quán triệt sâu sắc trong nội bộ ngành giáo dục”, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ phát biểu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tham Luận: “Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Người Học Trong Môi Trường Giáo Dục Thông Minh Ở Tỉnh Bà Rịa
  • 8 Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Của Giáo Dục Nghề Nghiệp Trong Năm 2022
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học: Ảnh Hưởng Giáo Dục Khai Phóng
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Thời Đại Cmcn 4.0
  • Mô Hình Steam Giải Pháp Tiên Phong Cho Giáo Dục Mầm Non
  • Vì Sao Đổi Mới Kiểm Tra, Thi, Đánh Giá Chất Lượng Giáo Dục Được Coi Là Giải Pháp Đột Phá Đổi Mới Giáo Dục?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chín Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Trọng Tâm Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Nghệ An Năm Học 2022
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Hành Chính Công Ở Quận 1 Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Nâng Cao Chất Lượng Cung Ứng Dịch Vụ Công Trực Tuyến Mức Độ 3, 4
  • Xây Dựng Trường Chuẩn Quốc Gia: Nỗ Lực Của Thanh Hà
  • Tiểu Luận Thực Trạng Sự Vận Dụng Quy Luật Giá Trị Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Và Giải Pháp Nhằm Vận Dụng Tốt Hơn Quy Luật Giá Trị Ở Nước Ta Thời Gian Tới
  • – Đổi mới cả nội dung, phương pháp đánh giá (kiểm tra, thi hết môn, thi lên lớp, thi tốt nghiệp). Chuyển từ đánh giá kiến thức mà người học nắm được sang đánh giá việc hình thành năng lực, phẩm chất của người học.

    – Kết hợp chặt chẽ kết quả đánh giá định kì của người dạy với kết quả thi, đánh giá của người dạy và tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường và đánh giá của xã hội.

    – Tách bạch đánh giá kết quả học tập của từng học sinh với đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường, địa phương và cả nước.

    – Giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng trong tuyển sinh theo hướng: Các trường lập phương án tuyển sinh của mình theo hướng dẫn, quy định, trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, để các trường tăng thêm quyền chủ động và đảm bảo công tác tuyển sinh được thực hiện nghiêm túc.

    Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá được coi là giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam là vì:

    – Trong bối cảnh của Việt Nam, khi giáo dục nặng về ứng thí và tâm lí sính bằng cấp khá phổ biến trong xã hội thì công tác kiểm tra, thi, đánh giá có tác động hết sức mạnh mẽ đến việc dạy và học. “Thi gì học nấy” nên đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá sẽ có tác động trở lại đến toàn bộ các yếu tố của quá trình dạy và học trong các nhà trường. Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá không đòi hỏi tốn kém nhiều kinh phí.

    – Hiện trạng công tác kiểm tra, thi, đánh giá của cả hệ thống nước ta còn có nhiều hạn chế, lạc hậu từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến quy trình, cách thức xử lí, sử dụng kết quả; coi việc đánh giá kết quả học tập chỉ là việc cho điểm các bài thi, bài kiểm tra…; cách tổ chức còn nặng nề, tốn kém… Do đó, để đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nhất thiết phải thực hiện ngay việc đổi mới kiểm tra, đánh giá và thi cử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Đại Học Việt Nam Ngày Càng Xa Chuẩn Quốc Tế !
  • “giải Pháp Đột Phá Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Nền Giáo Dục Việt Nam”
  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Triển Khai Đồng Bộ Giải Pháp Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Gd
  • Tiếp Tục 9 Nhiệm Vụ, 5 Giải Pháp Trong Năm Học 2022
  • Giải Pháp Đổi Mới Công Tác Quản Lý Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Giáo Dục
  • Đô Thị Việt Nam Đang Đối Mặt Nhiều Thách Thức
  • Phân Lô Bán Nền Là Biện Pháp Của Đô Thị Hóa
  • Hậu Quả Và Giải Pháp Của Vấn Đề Đô Thị Hóa?nêu Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Của Vấn Đề Đô Thị Hóa
  • Đô Thị Hóa Tự Phát Là Gì? Những Hậu Quả Của Đô Tự Hóa Tự Phát Là Gì?
  • Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, ngành giáo dục cần đổi mới công tác kiểm tra đánh giá. Ảnh: Anh Khôi

    Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào 4 yếu tố, đó là: Đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào và công tác quản lý; trong đó công tác quản lý giữ vai trò quan trọng vì trong điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào như nhau, nơi đâu quản lý tốt thì nơi đó có chất lượng tốt hơn. Vì vậy, đổi mới quản lý giáo dục phải bắt đầu từ các cơ sở giáo dục.

    Tuy nhiên, đổi mới như thế nào để có hiệu quả? Như chúng ta đã biết, quản lý nhà trường là quản lý theo mục tiêu chất lượng, tức là phải làm cho chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh (HS) cụ thể, các điều kiện học tập cụ thể. Điều này, một mặt đòi hỏi hiệu trưởng (HT) phải có kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình, mặt khác chỉ đạo tổ chức thực hiện tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường, điều kiện cơ sở vật chất, ứng dụng CNTT, công tác đào tạo, bồi dưỡng… tức là triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

    Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin phép chỉ đề cập đến một vài lý thuyết cơ bản về giải pháp đổi mới quản lý nhà trường trong giai đoạn hiện nay.

    Chuẩn là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với cá nhân, đơn vị về một số nội dung nào đó nhằm đáp ứng hay thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Hiện nay trong nhà trường chúng ta quản lý theo các chuẩn: Trường đạt chuẩn quốc gia; chuẩn nghề nghiệp giáo viên (GV); chuẩn HT, chuẩn phó HT; chuẩn kiến thức kĩ năng cơ bản của chương trình; chuẩn đánh giá, xếp loại HS; tiêu chí đánh giá trường học thân thiện, HS tích cực… Các chuẩn hiện hành có tác dụng định hướng trong phấn đấu rèn luyện của bản thân HT và GV, trong công tác xây dựng đội ngũ, trong điều hành các hoạt động của nhà trường. Vì vậy trong công tác quản lý, dựa vào các yêu cầu của chuẩn và điều kiện thực tế của đơn vị, HT cần lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, xác định ta đang ở vị trí nào, xây dựng lộ trình thực hiện… thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả hoạt động cao với thời gian tối thiểu…

    Đổi mới phương pháp dạy học

    Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp giảng dạy (của GV) và phương pháp học tập (của HS) đều lấy HS làm trung tâm. Nhà trường cần có nhiều hình thức bồi dưỡng cho GV về đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua hội thảo chuyên đề, sinh hoạt tổ chuyên môn ở quận, ở cụm, ở trường… và đặc biệt là việc chuẩn bị lên lớp như soạn giáo án…

    Người HT phải có phẩm chất, năng lực; có phong cách lãnh đạo, quản lý phù hợp với thời đại và phải được sự tín nhiệm, phục tùng tự nguyện của cấp dưới.

    Trong quản lý giáo dục cần tránh đi sâu vào công tác hành chính, sự vụ, càng không nhằm quản lý con người mà quan trọng là quản lý công việc, quản lý kế hoạch (trường, tổ). Chỉ có quản lý công việc thì người làm việc mới tự chủ, sáng tạo và mang lại hiệu quả thực sự, còn quản lý con người thì họ sẽ làm việc chỉ với mục đích đối phó.

    Nhà trường cần đổi mới công tác thi đua, đảm bảo tính khoa học, công bằng, công khai từ khâu xây dựng các tiêu chí, triển khai thực hiện đến việc kiểm tra đánh giá. Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, hình thức. Gắn liền việc khen và thưởng một cách hợp lý và xứng đáng, sao cho phong trào thi đua thực sự trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi người đoàn kết, cùng nhau phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    (Hiệu trưởng Trường TH Kim Đồng, Q.7, TP.HCM)

    Tiến sĩ Đinh Phương Duy, Chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục chúng tôi đã “vẽ” lên bức chân dung người HT trong thời kỳ mới: “HT cần được trang bị kỹ năng mềm để có đủ tự tin điều hành nhà trường như một doanh nghiệp nhưng không làm mất bản sắc nhà trường phổ thông. Người HT cần đẹp hơn, uy nghi hơn, hoạt bát hơn, lưu loát hơn, lạc quan hơn, tự chủ hơn, độc lập hơn… và đặc biệt phải giàu có hơn để có đủ tâm sức, tư duy hành động với ưu thế của một nhà quản trị hiện đại”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục
  • Đổi Mới Ppdh Và Kiểm Tra Đánh Giá
  • Kế Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Đổi Mớikiểm Tra Đánh Giá
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Tích Cực Chuyển Đổi Cơ Cấu Cây Trồng, Vật Nuôi
  • Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Quản Lý Để Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs
  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs
  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs Baithuhoachgiuhangthcsthu Docx
  • Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc Tốt Nhất
  • Kế hoạch đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu cần tập trung triển khai thực hiện đối với đội ngũ cán bộ quản lý, bởi đội ngũ này là một trong những lực lượng trực tiếp góp phần hoạch định, tổ chức triển khai các chủ trương, chính sách, đề án, chiến lược đổi mới GD&ĐT, là một nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của đổi mới căn bản GD&ĐT.

    Toàn ngành tập trung triển khai thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp chính về đổi mới GD&ĐT theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI); Chương trình hành động số 235-CT/TU ngày 20-1-2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XII) về “Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT”.

    Ngày 18-2-2016, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hành động số 492/KH-UBND về “Đổi mới công tác quản lý GD&ĐT” tạo sự đột phá để phát triển GD&ĐT trên địa bàn tỉnh năm 2022 và giai đoạn 2022-2020.

    Nội dung tập trung 8 nhiệm vụ, giải pháp chính, gồm: Hoàn thiện thể chế quản lý; đẩy mạnh phân cấp quản lý; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở GD, ĐT và giáo dục nghề nghiệp; nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT; đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; đẩy mạnh công tác khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh, xử lý vi phạm; tranh thủ các nguồn lực đầu tư.

    Trong điều kiện kinh tế của tỉnh xuất phát điểm còn thấp, đời sống xã hội của Nhân dân đang còn khó khăn, vì thế việc đầu tư cho giáo dục vẫn còn hạn chế, cơ sở vật chất, trường, lớp, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập còn khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; đội ngũ giáo viên còn thiếu, một số ít giáo viên có trình độ tay nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Năm học 2022-2016, toàn ngành GD&ĐT hiện có 324 cơ sở giáo dục với 131.278 học sinh ở cấp học mầm non, phổ thông; 2479 học viên giáo dục thường xuyên; 2681 sinh viên cao đẳng sư phạm, trung cấp chuyên nghiệp; trên 10.350 cán bộ quản lý, giáo viên, người lao động.

    Tính đến tháng 3-2016, toàn tỉnh có 72 trường chuẩn quốc gia, đạt 30,6%; số xã đạt tiêu chí trong lĩnh vực giáo dục về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là 7/11 xã điểm, đạt 63,6%. Về công tác phổ cập giáo dục có 63/65 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 60/65 xã, phường, 5/7 huyện, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; học sinh học 2 buổi/ngày ở cấp Tiểu học đạt 50,1%, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Về công tác đào tạo bồi dưỡng, trong quý 1, có 136 CB, CC, VC được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng trong nước gồm: Nghiên cứu sinh: 3, Cao học: 37, Quản lý nhà nước: 62, Lý luận chính trị: 30, Quốc phòng-An ninh: 4.

    Để bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục, bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ được giao, từ nay đến năm 2022, toàn ngành tiếp tục phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ về lĩnh vực GD&ĐT theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022-2020. Đảm bảo sự phát triển GD, ĐT một cách ổn định, bền vững, toàn diện cả về quy mô, chất lượng, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đẩy mạnh phân cấp, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở, tạo sự năng động, sáng tạo cho cơ sở. Tạo sự chuyển biến về chất lượng, hiệu quả GD&ĐT, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

    Giáo dục cho toàn thể CB, CC, VC và học sinh, sinh viên phát triển toàn diện, dạy tốt, học tốt và làm việc có hiệu quả; hoàn thành việc sắp xếp mạng lưới trường, lớp các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân ở địa phương; bổ sung, điều chỉnh quy hoạch phát triển GD&ĐT đến năm 2022; hoàn thiện việc sắp xếp hệ thống quản lý đảm bảo tính thống nhất, xuyên suốt, phù hợp chức năng, nhiệm vụ. Xác định rõ vị trí việc làm trong các cơ quan quản lý giáo dục các cấp và các cơ sở GD, ĐT, giáo dục nghề nghiệp.

    Phấn đấu trong năm 2022, toàn tỉnh có 32-34% số trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia, 55% số học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày và đến năm 2022 có 20% trường mầm non và 50% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; huy động học sinh đến trường, ở cấp Tiểu học có trên 99% số học sinh trong độ tuổi và số trẻ em 6 tuổi vào học lớp 1; 80% HS học 2 buổi/ngày; 70% HS tốt nghiệp THCS vào lớp 10 và 30% học sinh học nghề; 100% huyện, thành phố có trung tâm thực hiện chức năng giáo dục thường xuyên; 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên là 98%; mỗi huyện, thành phố có ít nhất 1 trường chất lượng cao; tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn của Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn; hằng năm có trên 25% số học sinh tốt nghiệp THPT thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng; nâng cao hiệu quả hoạt động của Phân hiệu Đại học Nông Lâm và các trường trung cấp chuyên nghiệp, chuẩn bị cho việc xây dựng Trường Đại học Ninh Thuận theo lộ trình.

    Đổi mới công tác quản lý giáo dục để tạo sự đột phá phát triển GD&ĐT ở tỉnh ta, phải khởi đầu từ đổi mới về quan điểm, nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục, Phòng, Sở GD&ĐT biết được mục đích của việc đổi mới, những vấn đề thay đổi trong mục tiêu, nội dung đổi mới… Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ quản lý nhận thức đầy đủ về trách nhiệm và có hành động, việc làm cụ thể, từng cơ sở giáo dục xây dựng nội dung, phương pháp, hình thức, kế hoạch triển khai thực hiện việc đổi mới công tác quản lý GD&ĐT góp phần đổi mới căn bản, toàn diện để tiến tới một nền GD&ĐT tiên tiến, tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Luận Văn Chuyên Đề Công Tác Tuyên Truyền, Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Của Sở Tư Pháp Tỉnh Ninh Bình
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Tuyên Truyền Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật Trên Địa Bàn Thành Phố Trà Vinh
  • Các Giải Pháp Quản Lý Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghiệp Khoa Học Và Công Nghệ Trong Lĩnh Vực Công Nghệ Tại Việt Nam
  • Cần Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Khoa Học Và Công Nghệ
  • “giải Pháp Đột Phá Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Nền Giáo Dục Việt Nam”

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Đại Học Việt Nam Ngày Càng Xa Chuẩn Quốc Tế !
  • Vì Sao Đổi Mới Kiểm Tra, Thi, Đánh Giá Chất Lượng Giáo Dục Được Coi Là Giải Pháp Đột Phá Đổi Mới Giáo Dục?
  • Chín Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Trọng Tâm Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Nghệ An Năm Học 2022
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Hành Chính Công Ở Quận 1 Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Nâng Cao Chất Lượng Cung Ứng Dịch Vụ Công Trực Tuyến Mức Độ 3, 4
  • (GD&TĐ)- Ngày 9/6, tại ĐH Sư phạm- ĐH Thái Nguyên, Trung ương Hội Khoa học tâm lý- Giáo dục Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc về “giải pháp đột phá đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam”. Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã dự và có bài phát biểu tại hội thảo.

    Dự hội thảo còn có lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên, Sở GD-ĐT tỉnh và đông đảo các nhà khoa học có uy tín, các học giả trong cả nước, lãnh đạo, giảng viên của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

    Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển phát biểu tại hội thảo. Ảnh, chúng tôi

    Kế hoạch kỉ yếu hội thảo lần này của Trung ương Hội Khoa học tâm lý- Giáo dục Việt Nam (Hội KHTL-GDVN) đã nhận được trên 100 bài tham luận tâm huyết mang nhiều công phu của các nhà khoa học giáo dục, các học giả, các giảng viên, nhà giáo tham gia.

    Các ý kiến tại hội thảo đã tập trung tham luận, bàn các giải pháp mang tầm vĩ mô về “giải pháp đột phá đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng.

    Những vấn đề chung trong các ý kiến bàn về “giải pháp đột phá đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” chủ yếu tập trung vào yếu tố con người (đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý), cơ chế- tư duy quản lý, kết cấu của hệ thống giáo dục quốc dân…

    Tại hội thảo, nhiều ý kiến bàn về các vấn đề nội hàm của vấn đề chung “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục” như: đổi mới tư duy quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp, đổi mới kiểm tra, đánh giá, thi cử… cũng đã nhận được sự quan tâm của đông đảo đại biểu dự hội thảo.

    Thay mặt đoàn chủ tịch tại hội thảo, chúng tôi Trần Kiều- Chủ tịch Hội KHTL-GDVN đã tổng hợp những vấn đề chung nhất của các ý kiến tham luận nhằm đề xuất các giải pháp đột phá đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam với Bộ GD-ĐT, Ban tuyên giáo TƯ xây dựng dự thảo Đề án “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” trình Ban chấp hành TƯ đảng. Hội thảo đã thống nhất quan điểm chung về giải pháp đột phá trong “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” sẽ ảnh hưởng tích cực, cộng hưởng đến sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam.

    Hội thảo khoa học toàn quốc về “giải pháp đột phá đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” cuat TƯ Hội KHTL-GDVN. Ảnh, chúng tôi

    Trước đó, Trung ương Hội Khoa học tâm lý- Giáo dục Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước cho Hội KHTL-GDVN TP.Hải Phòng đã có thành tích xuất sắc từ năm 2006 đến năm 2010 góp phần xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc.

    Tại buổi lễ, Trung Hội KHTL-GDVN cũng đã tặng kỉ niệm chương cho 5 cá nhân của Đại học Thái Nguyên và trường Đại học sư phạm- Đại học Thái Nguyên.

    Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho BCH Hội KHTL-GDVN TP.Hải Phòng.

    Phát biểu tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Bộ GD-ĐT, thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển đã nhiệt liệt chúc mừng thành tích nhiều năm qua của Hội KHTL-GDVN, đặc biệt là Hội KHTL-GDVN TP.Hải Phòng được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba trong dịp này và trân trọng cảm ơn sự đóng góp quý báu của Hội KHTL-GDVN cùng sát cánh với Bộ GD-ĐT trong phát triển giáo dục nước nhà.

    Đồng thời khẳng định, hoạt động của Hội đã có nhiều hiệu quả trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong ứng dụng, phổ biến, tư vấn, phản biện, giám định xã hội, đưa tâm lý học, giáo dục ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và hội nhập quốc tế, góp phần phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Trong 21 năm qua, qua 5 kì Đại hội đại biểu toàn quốc, Hội đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, hạng Hai, hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác.

    Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển gắn Huân chương Lao động hạng Ba lên lá cờ truyền thống của Hội KHTL-GDVN TP.Hải Phòng. Ảnh, chúng tôi

    Hiện Bộ GD-ĐT đang phối hợp với Ban tuyên giáo TƯ xây dựng dự thảo Đề án “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” trình Ban bí thư và Chính phủ, phục vụ Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TƯ đảng; Bộ GD-ĐT rất quan tâm tiếp thu đề xuất, kiến nghị của các lực lượng xã hội trong đó có Hội KHTL-GDVN trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo toàn ngành nói chung và trong quá trình đổi mới giáo dục nói riêng.

    Bá Hải

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Triển Khai Đồng Bộ Giải Pháp Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Gd
  • Tiếp Tục 9 Nhiệm Vụ, 5 Giải Pháp Trong Năm Học 2022
  • 9 Nhóm Nhiệm Vụ Chủ Yếu Và 5 Nhóm Giải Pháp Cơ Bản Trong Năm Học Mới
  • 9 Giải Pháp Thực Hiện Đề Án Đổi Mới Giáo Dục
  • Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục Giai Đoạn 2011
  • Giải Pháp Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục Đbscl
  • Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc
  • Cần Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Ở Đbscl
  • Bộ Gdđt Ban Hành Chỉ Thị Nhiệm Vụ, Giải Pháp Năm Học 2022
  • Thứ tư, 12/10/2011 07:20

    Trong đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, cần có nhận thức mới về phát triển giáo dục theo hướng bảo đảm chất lượng của phát triển giáo dục, không làm giáo dục theo kiểu “phong trào”. Phát triển giáo dục nhanh và bền vững là yêu cầu cấp bách, nhưng cũng là yêu cầu lâu dài có ý nghĩa sống còn với giáo dục Việt Nam. Giáo dục Việt Nam tuy đã đạt được rất nhiều thành tựu, đã khởi sắc thực sự, song giáo dục Việt Nam vẫn là nền giáo dục của một nước nghèo, một nước trong những nước đang phát triển.

    Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục là cánh cửa để dân tộc ta sáng tạo ra trí tuệ

    và tiếp nhận thành tựu văn minh của nhân loại.

    Để giáo dục có thể phát triển ngang tầm các nền giáo dục của các nước phát triển chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững mới có điều kiện thúc đẩy giáo dục phát triển có hiệu quả và có sức cạnh tranh, không chạy theo “tốc độ thành tích”, không chạy theo số lượng, mở rộng quy mô đơn thuần; coi trọng nâng cao không ngừng chất lượng giáo dục để ngày càng một nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

    Phát triển giáo dục nhanh, bền vững và hiệu quả là tạo sức cạnh tranh cho kinh tế- xã hội, vì thực chất công cuộc cạnh tranh kinh tế- xã hội giữa các nước hiện nay là cạnh tranh về giáo dục. Phát triển nhanh và bền vững về giáo dục là góp phần đưa con người vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển kinh tế- xã hội ở nước ta, giáo dục tạo cơ hội giúp cho mọi người phát huy được tài năng, trí tuệ, sở trường, năng lực của mình, tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của quá trình đổi mới toàn diện nước ta mà Đảng đang thực hiện. Chất lượng cuộc sống của mỗi người ngày một nâng cao.

    Các chính sách xã hội về giáo dục được thực hiện theo tinh thần: Nhà nước ngày một tăng nguồn lực cho giáo dục, thực hiện nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, diện chính sách và người nghèo… ngày càng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về giáo dục, đồng thời phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong và ngoài nước của nhân dân, Việt kiều và các tổ chức quốc tế. Xác định điều kiện mới, động lực mới để thúc đẩy sự phát triển của bản thân hệ thống giáo dục. Sự tương quan phát triển giáo dục với các lĩnh vực khác trong phát triển kinh tế- xã hội, trong công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền giáo dục dân tộc, chất lượng, tiên tiến, hiện đại để làm nền tảng cho nền kinh tế mới đang ngày một phát triển.

    Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2022 đã xác định một trong các khâu đội phá chiến lược là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học công nghệ”. Cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay, nói cho cùng bản chất là cạnh tranh sự phát triển giáo dục. Giáo dục phát triển sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực mới, nguồn nhân lực chất lượng cao. Do vậy, trong suốt những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và có thể nói đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là quốc sách.

    Kinh nghiệm 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới giáo dục cho thấy giáo dục nước ta muốn thực hiện tốt được những nhiệm vụ như đã nêu ở trên và nhất là muốn đổi mới căn bản và toàn diện thành công trong thập niên tới cần thực hiện các giải pháp đột phá.

    Thứ nhất, đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính giáo dục. Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý theo pháp quyền trên cơ sở một hệ thống pháp luật giáo dục đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương và triệt để phân cấp quản lý giáo dục; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước về giáo dục nặng về hành chính sang quản lý chất lượng và từ quản lý nhà nước theo cách kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã hội nghề nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội Khuyến học, liên hiệp hội các trường ngoài công lập… trong phát triển giáo dục.

    Thứ hai, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, hiện đại và liên thông.

    Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở và liên thông, chuẩn hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế- xã hội trong đó đặc biệt coi trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao ở tất cả các cấp trình độ.

    Xây dựng một hệ thống giáo dục đa dạng về phương thức học tập, đảm bảo “ai ai cũng được học hành”, được học theo nguyện vọng của chính mình và được học suốt đời trong xã hội học tập; một hệ thống giáo dục được chuẩn hóa với những tiêu chí dân tộc, tiên tiến, hiện đại đảm bảo sự liên thông trong và ngoài nước trên cơ sở chuẩn hóa với các yếu tố đảm bảo chất lượng trong từng cấp học và trình độ đào tạo.

    Hệ thống giáo dục mới sẽ là hệ thống giáo dục chất lượng cao và là tiền đề cho phát triển khoa học, công nghệ, khai thác nhiều nhất và vận dụng có hiệu quả nguồn tri thức của dân tộc, của nhân loại và làm nền tảng cho công cuộc xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta.

    Thứ ba, xây dựng, phát triển nhanh đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi.

    Nguồn lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là vốn quý nhất, là động lực, là nhân tố đảm bảo cho lợi thế giáo dục nước ta phát triển và cạnh tranh được với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi là chìa khóa, là nhân tố trung tâm cho sự nghiệp giáo dục phát triển.

    Suy đến cùng, chất lượng nền giáo dục nước ta cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ thầy, cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Do vậy, phải đặt trọng tâm vào tạo bước chuyển biến chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực tiễn 25 năm đổi mới giáo dục đã khẳng định phải mở rộng, phát huy dân chủ và thực hiện đồng bộ các khâu phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, bố trí sử dụng, thực hiện chính sách đãi ngộ tương xứng.

    Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong toàn ngành là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài bởi vì sự nghiệp giáo dục nước ta luôn phát triển đặt ra yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao về trình độ, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của nhà giáo và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục. Trách nhiệm của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không chỉ là trách nhiệm với hiện trạng giáo dục nước ta hôm nay mà còn là trách nhiệm với quá khứ và tương lai. Ngành Giáo dục nước ta phải là nơi thu hút được những người giỏi nhất, thông minh nhất và yêu nghề nhất để thực sự là đòn bẩy để nâng con người Việt Nam lên vị trí hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.

    Do vậy, cần đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Căn Bản Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Chất Lượng Nhà Giáo Là Gốc, Là Giải Pháp Đột Phá Trong Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông
  • “bài Toán” Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục Nghề Nghiệp Giai Đoạn 2022
  • 4 Nguyên Tắc Và 8 Giải Pháp Tinh Giản Biên Chế Giáo Dục
  • Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục 2011
  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Đô Thị Việt Nam Đang Đối Mặt Nhiều Thách Thức
  • Phân Lô Bán Nền Là Biện Pháp Của Đô Thị Hóa
  • Hậu Quả Và Giải Pháp Của Vấn Đề Đô Thị Hóa?nêu Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Của Vấn Đề Đô Thị Hóa
  • Đô Thị Hóa Tự Phát Là Gì? Những Hậu Quả Của Đô Tự Hóa Tự Phát Là Gì?
  • Đô Thị Thông Minh: Giải Pháp Hiệu Quả Cho Quá Trình Đô Thị Hóa Tại Việt Nam
  • GD&TĐ – Trả lời ý kiến cử tri về thực hiện đổi mới công tác quản lý giáo dục, Bộ GD&ĐT cho biết đã và đang thực hiện nhiều giải pháp nhằm đổi mới nội dung này trong thời gian qua.

    Cụ thể, để xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước về GD-ĐT và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương, Bộ GD&ĐT đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21/9/2018 thay thế Nghị định số 115/2010/NĐ-CP về quy định trách nhiệm quản lý Nhà nước về giáo dục. Trong đó, phân định công tác quản lý Nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục; đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý giáo dục và chính quyền địa phương; tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo cho các cơ sở giáo dục.

    Cùng với đó, đổi mới công tác thanh tra giáo dục theo hướng: Chuyển từ thanh tra chuyên môn sang thanh tra quản lý; kiện toàn bộ máy của cơ quan Thanh tra, nâng cao tính chuyên nghiệp. Việc phối hợp giữa Thanh tra giáo dục với Thanh tra Nhà nước ở địa phương được cải thiện; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được chú trọng; tăng cường giải quyết các vụ việc phức tạp.

    Đẩy mạnh triển khai Chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4, triển khai hệ thống quản lý hành chính điện tử (e-office) tới 100% cán bộ sử dụng và kết nối tới các sở GD&ĐT và các cơ sở giáo dục đại học. Cơ sở dữ liệu ngành GD-ĐT đã được xây dựng, đưa vào sử dụng thống nhất trên toàn quốc, cung cấp thông tin quản lý đầy đủ, chính xác và kịp thời cho các cơ quan quản lý GD-ĐT. 100% trường học được kết nối Internet, 80% trường học đã dùng phần mềm quản trị trường học, sổ điểm điện tử được tăng cường sử dụng giúp giảm tải hồ sơ, giấy tờ trong nhà trường.

    Theo Nghị quyết 77/NQ-CP, 23 cơ sở giáo dục đại học công lập đã được giao thí điểm tự chủ. Các trường được giao quyền tự chủ trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tổ chức và tài chính; chủ động, linh hoạt hơn về tổ chức bộ máy, tuyển dụng nhân sự và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn để hoạt động ngày càng hiệu quả. Kể từ khi Nghị quyết 77/NQ-CP được triển khai, thủ tục hành chính được giảm bớt, thời gian mở ngành rút ngắn đã giúp các trường chủ động trong đào tạo, tận dụng cơ hội mở các ngành đào tạo mới đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của xã hội. Quy mô tuyển sinh của các trường có xu hướng giảm xuống sau khi tự chủ.

    Ngày 19/11/2018, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học. Luật ban hành tạo khung pháp lý, thể chế hóa quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học của Đảng và Nhà nước; phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục hạn chế, bất cập về điều chỉnh pháp luật đối với giáo dục đại học trong thời gian qua để giải quyết những vấn đề mới phát sinh đối với giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế. Luật Giáo dục (sửa đổi) cũng đã được thông qua, trong đó có nhiều nội dung đổi mới để phát triển GD-ĐT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Đổi Mới Công Tác Quản Lý Giáo Dục
  • 7 Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục
  • Đổi Mới Ppdh Và Kiểm Tra Đánh Giá
  • Kế Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Đổi Mớikiểm Tra Đánh Giá
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Chống Tội Phạm Là Nhiệm Vụ Chính Trị, Thường Xuyên Liên Tục
  • Giải Pháp Quà Tặng Khách Hàng Cuối Năm Giá Rẻ Độc Đáo Nhiều Ý Nghĩa
  • Top Giải Pháp: Quà Tặng Doanh Nghiệp Cuối Năm Ý Nghĩa Nhất
  • Chú Trọng Công Tác Quản Lý, Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Cần Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế, Khám Chữa Bệnh
  • Trong đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, cần có nhận thức mới về phát triển giáo dục theo hướng bảo đảm chất lượng của phát triển giáo dục, không làm giáo dục theo kiểu “phong trào”. Phát triển giáo dục nhanh và bền vững là yêu cầu cấp bách, nhưng cũng là yêu cầu lâu dài có ý nghĩa sống còn với giáo dục Việt Nam. Giáo dục Việt Nam tuy đã đạt được rất nhiều thành tựu, đã khởi sắc thực sự, song giáo dục Việt Nam vẫn là nền giáo dục của một nước nghèo, một nước trong những nước đang phát triển.

    Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục là cánh cửa để dân tộc ta sáng tạo ra trí tuệ

    và tiếp nhận thành tựu văn minh của nhân loại.

    Để giáo dục có thể phát triển ngang tầm các nền giáo dục của các nước phát triển chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững mới có điều kiện thúc đẩy giáo dục phát triển có hiệu quả và có sức cạnh tranh, không chạy theo “tốc độ thành tích”, không chạy theo số lượng, mở rộng quy mô đơn thuần; coi trọng nâng cao không ngừng chất lượng giáo dục để ngày càng một nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

    Phát triển giáo dục nhanh, bền vững và hiệu quả là tạo sức cạnh tranh cho kinh tế- xã hội, vì thực chất công cuộc cạnh tranh kinh tế- xã hội giữa các nước hiện nay là cạnh tranh về giáo dục. Phát triển nhanh và bền vững về giáo dục là góp phần đưa con người vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển kinh tế- xã hội ở nước ta, giáo dục tạo cơ hội giúp cho mọi người phát huy được tài năng, trí tuệ, sở trường, năng lực của mình, tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của quá trình đổi mới toàn diện nước ta mà Đảng đang thực hiện. Chất lượng cuộc sống của mỗi người ngày một nâng cao.

    Các chính sách xã hội về giáo dục được thực hiện theo tinh thần: Nhà nước ngày một tăng nguồn lực cho giáo dục, thực hiện nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, diện chính sách và người nghèo… ngày càng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về giáo dục, đồng thời phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong và ngoài nước của nhân dân, Việt kiều và các tổ chức quốc tế. Xác định điều kiện mới, động lực mới để thúc đẩy sự phát triển của bản thân hệ thống giáo dục. Sự tương quan phát triển giáo dục với các lĩnh vực khác trong phát triển kinh tế- xã hội, trong công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền giáo dục dân tộc, chất lượng, tiên tiến, hiện đại để làm nền tảng cho nền kinh tế mới đang ngày một phát triển.

    Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2022 đã xác định một trong các khâu đội phá chiến lược là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học công nghệ”. Cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay, nói cho cùng bản chất là cạnh tranh sự phát triển giáo dục. Giáo dục phát triển sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực mới, nguồn nhân lực chất lượng cao. Do vậy, trong suốt những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và có thể nói đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là quốc sách.

    Kinh nghiệm 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới giáo dục cho thấy giáo dục nước ta muốn thực hiện tốt được những nhiệm vụ như đã nêu ở trên và nhất là muốn đổi mới căn bản và toàn diện thành công trong thập niên tới cần thực hiện các giải pháp đột phá.

    Thứ nhất, đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính giáo dục. Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý theo pháp quyền trên cơ sở một hệ thống pháp luật giáo dục đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương và triệt để phân cấp quản lý giáo dục; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước về giáo dục nặng về hành chính sang quản lý chất lượng và từ quản lý nhà nước theo cách kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã hội nghề nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội Khuyến học, liên hiệp hội các trường ngoài công lập… trong phát triển giáo dục.

    Thứ hai, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, hiện đại và liên thông.

    Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở và liên thông, chuẩn hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế- xã hội trong đó đặc biệt coi trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao ở tất cả các cấp trình độ.

    Xây dựng một hệ thống giáo dục đa dạng về phương thức học tập, đảm bảo “ai ai cũng được học hành”, được học theo nguyện vọng của chính mình và được học suốt đời trong xã hội học tập; một hệ thống giáo dục được chuẩn hóa với những tiêu chí dân tộc, tiên tiến, hiện đại đảm bảo sự liên thông trong và ngoài nước trên cơ sở chuẩn hóa với các yếu tố đảm bảo chất lượng trong từng cấp học và trình độ đào tạo.

    Hệ thống giáo dục mới sẽ là hệ thống giáo dục chất lượng cao và là tiền đề cho phát triển khoa học, công nghệ, khai thác nhiều nhất và vận dụng có hiệu quả nguồn tri thức của dân tộc, của nhân loại và làm nền tảng cho công cuộc xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta.

    Thứ ba, xây dựng, phát triển nhanh đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi.

    Nguồn lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là vốn quý nhất, là động lực, là nhân tố đảm bảo cho lợi thế giáo dục nước ta phát triển và cạnh tranh được với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi là chìa khóa, là nhân tố trung tâm cho sự nghiệp giáo dục phát triển.

    Suy đến cùng, chất lượng nền giáo dục nước ta cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ thầy, cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Do vậy, phải đặt trọng tâm vào tạo bước chuyển biến chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực tiễn 25 năm đổi mới giáo dục đã khẳng định phải mở rộng, phát huy dân chủ và thực hiện đồng bộ các khâu phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, bố trí sử dụng, thực hiện chính sách đãi ngộ tương xứng.

    Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong toàn ngành là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài bởi vì sự nghiệp giáo dục nước ta luôn phát triển đặt ra yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao về trình độ, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của nhà giáo và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục. Trách nhiệm của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không chỉ là trách nhiệm với hiện trạng giáo dục nước ta hôm nay mà còn là trách nhiệm với quá khứ và tương lai. Ngành Giáo dục nước ta phải là nơi thu hút được những người giỏi nhất, thông minh nhất và yêu nghề nhất để thực sự là đòn bẩy để nâng con người Việt Nam lên vị trí hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.

    Do vậy, cần đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý.

    Nguồn www.chinhphu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “Diễn Biến Hòa Bình” Và Những Biểu Hiện “Tự Diễn Biến”, “Tự Chuyển Hóa” Trên Lĩnh Vực Văn Hóa Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Đấu Tranh Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Trên Mặt Trận Báo Chí, Truyền Thông Và Mạng Xã Hội Của Tỉnh Trong Thời Gian Tới
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Phòng Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Đối Với Thanh Niên Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xu Hướng Công Nghệ Mới
  • Giải Pháp Nhà Thông Minh Có Thật Sự Mang Lại Hiệu Quả Như Lời Đồn?
  • Những Giải Pháp Đổi Mới Công Tác Quản Lý Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Đào Tạo
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Giáo Viên Và Nhân Viên Trường Tiểu Học Xxx Xxxxx
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Bồi Dưỡng Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Của Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học Nhân Mục
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Tiểu Học Dơng Jri
  • Skqlgd: Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cb Gv Và Nv Trường Tiểu Học X Skqlgd008 Doc
  • Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào 4 yếu tố, đó là: Đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào và công tác quản lý

    Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào 4 yếu tố, đó là: Đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào và công tác quản lý; trong đó công tác quản lý giữ vai trò quan trọng vì trong điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào như nhau, nơi đâu quản lý tốt thì nơi đó có chất lượng tốt hơn. Vì vậy, đổi mới quản lý giáo dục phải bắt đầu từ các cơ sở giáo dục.

    Đồng chí: Nguyễn Thị Hiền- Trưởng phòng GD&ĐT Kỳ Sơn trao giải nhất cho Đồng chí Nguyễn Thị Cúc Hiệu trưởng trường Mầm Non Hoa Phượng

    Tuy nhiên, đổi mới như thế nào để có hiệu quả? Như chúng ta đã biết, quản lý nhà trường là quản lý theo mục tiêu chất lượng, tức là phải làm cho chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh cụ thể, các điều kiện học tập cụ thể. Điều này, một mặt đòi hỏi hiệu trưởng phải có kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình, mặt khác chỉ đạo tổ chức thực hiện tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường, điều kiện cơ sở vật chất, ứng dụng CNTT, công tác đào tạo, bồi dưỡng… tức là triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

    Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin phép chỉ đề cập đến một vài lý thuyết cơ bản về giải pháp đổi mới công tác quản lý nhà trường trong giai đoạn hiện nay.

    Quản lý theo chuẩn

    Chuẩn là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với cá nhân, đơn vị về một số nội dung nào đó nhằm đáp ứng hay thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Hiện nay trong nhà trường chúng ta quản lý theo các chuẩn: Trường đạt chuẩn quốc gia; chuẩn nghề nghiệp giáo viên ; chuẩn hiệu trưởng, chuẩn phó hiệu trưởng; chuẩn kiến thức kĩ năng cơ bản của chương trình; chuẩn đánh giá, xếp loại học sinh; tiêu chí đánh giá trường học thân thiện, học sinh tích cực… Các chuẩn hiện hành có tác dụng định hướng trong phấn đấu rèn luyện của bản thân hiệu trưởng và giáo viên, trong công tác xây dựng đội ngũ, trong điều hành các hoạt động của nhà trường. Vì vậy trong công tác quản lý, dựa vào các yêu cầu của chuẩn và điều kiện thực tế của đơn vị. Hiệu trưởng cần lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, xác định ta đang ở vị trí nào, xây dựng lộ trình thực hiện… thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả hoạt động cao với thời gian tối thiểu…

    Đổi mới phương pháp dạy học

    Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp giảng dạy ( của giáo viên) và phương pháp học tập (của học sinh) đều lấy học sinh làm trung tâm. Nhà trường cần có nhiều hình thức bồi dưỡng cho giáo viên về đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua hội thảo chuyên đề, sinh hoạt tổ chuyên môn ở huyện, ở cụm, ở trường… và đặc biệt là việc chuẩn bị lên lớp như soạn giáo án…

    Chia sẻ quyền lực

    Trong quản lý giáo dục cần tránh đi sâu vào công tác hành chính, sự vụ, càng không nhằm quản lý con người mà quan trọng là quản lý công việc, quản lý kế hoạch (của trường, của tổ). Chỉ có quản lý công việc thì người làm việc mới tự chủ, sáng tạo và mang lại hiệu quả thực sự, còn quản lý con người thì họ sẽ làm việc chỉ với mục đích đối phó.

    Đổi mới công tác thi đua- khen thưởng

    Nhà trường cần đổi mới công tác thi đua- khen thưởng, đảm bảo tính khoa học, công bằng, công khai từ khâu xây dựng các tiêu chí, triển khai thực hiện đến việc kiểm tra đánh giá. Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, hình thức. Gắn liền việc khen và thưởng một cách hợp lý và xứng đáng, sao cho phong trào thi đua thực sự trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi người đoàn kết, cùng nhau phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    Cải tiến hội họp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Tham Luận Về Việc Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Bản Tham Luận Về Năng Cao Chất Lượng Đại Trà : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Nhà Trường Thân Thiện Và Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Stem
  • Báo Cáo Chuyên Đề: Giáo Dục Stem, Giải Pháp Tiếp Cận Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ 4
  • Giáo Dục Stem Hướng Đến Thế Giới Công Nghệ 4.0
  • Giải Pháp Nào Đưa Giáo Dục Stem Vào Trường Học?
  • Giải Pháp Nào Cho Giáo Dục Stem
  • Mục tiêu giáo dục của chúng ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, và nghề nghiệp hướng tới xây dựng con người trong thời kỳ Chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Để làm được điều đó thì nền giáo dục phải đổi mới cho phù hợp với từng giai đoạn của đất nước. Từ năm 2008 trở về trước, giáo dục Việt Nam đã trải qua ba lần cải cách giáo dục và nhiều chương trình đổi mới giáo dục. Và năm 2008 trở lại đây giáo dục Việt Nam đang chủ trương tiến hành xây dựng chương trình nhà trường thân thiện và đổi mới quản lý giáo dục. Đây là vấn đề rất cần thiết đối với nền giáo dục Việt Nam. Tạo ra một môi trường mới, một phong cách quản lý mới để hoà nhập với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, nhưng vẫn giữ nguyên giá trị giáo dục truyền thống và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.

    1. Nhà trường thân thiện

    Trường học thân thiện là mô hình trường do quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ trước và được triển khai có kết quả tốt ở nhiều nước trên thế giới.

    Ở Việt Nam phối hợp với UNICEF, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã làm thí điểm ở 50 trường tiểu học và trung học cơ sở. Từ kết quả thí điểm Bộ GD&ĐT chủ trương tiến hành đại trà trong năm 2008-2009 ở tất cả các trường tiểu học và trung học cơ sở trong toàn quốc và tới năm 2013 sẽ lan rộng ra các trường trung học phổ thông .

    Thông thường chúng ta hiểu: Thân thiện là có tình cảm tốt, đối xử tử tế, và thân thiết với nhau. Thân thiện hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và sự đùm bọc, cưu mang đầy tình người về đạo lý. Nếu bất bình đẳng, mất dân chủ, vô cảm trong quan hệ giữa người với người thì không có thân thiện. “Thân thiện” bắt nguồn từ sứ mệnh của nhà trường và thiên chức của nhà giáo đối với thế hệ trẻ và xã hội, chứ không dừng ở thái độ bề ngoài trong quan hệ ứng xử.

    “Trường học thân thiện” đương nhiên phải “thân thiện” với địa phương – địa bàn hoạt động của nhà trường; phải “thân thiện” trong tập thể sư phạm với nhau; giữa tập thể sư phạm với học sinh; “Trường học thân thiện” phải đảm bảo cơ sở vật chất phù hợp với yêu cầu giáo dục và thỏa mãn tâm lý người thụ hưởng. Để có được và làm phát triển trường học thân thiện, chúng ta cần:

    2.1, Với người lãnh đạo, quản lý: Người lãnh đạo, quản lý phải có phẩm chất, năng lực, có phong cách lãnh đạo, quản lý và có sự tín nhiệm, phục tùng tự nguyện của quần chúng cấp dưới

    Phẩm chất, năng lực tương xứng với chức vụ được giao, có nhân cách mẫu mực hoàn thiện, thực thi được quyền lực, có phong cách lãnh đạo phù hợp. Đây là yếu tố quan trọng nhất. Họ phải có nhân cách hoàn thiện mẫu mực

    * Người lãnh đạo phải làm gì?

    Chúng ta biết rằng, người lãnh đạo là thuyền trưởng của một chiếc tàu. Ngôi trường phát triển hay thất bại là do sự lãnh đạo sáng suốt của người lãnh đạo. Muốn vậy người lãnh đạo cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Có tầm nhìn của nhà trường trong tương lai, Xây dựng kế hoạch dài hạn kế hoạch trung hạn và kế hoạch tác nghiệp năm học. Minh bạch thu chi tài chính của nhà trường.

    – Xây dựng một ngôi trường thân thiện mà ở đó mọi người biết thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau.

    – Biết lắng nghe và tôn trọng những ý kiến đóng góp của giảng viên, cán bộ, công nhân viên.

    Làm sao giảng viên, cán bộ, công nhân viên xem trường như là nhà của mình thì họ mới an tâm công tác lâu dài. Cố gắng tìm cách cải thiện đời sống tinh thần và vật chất cho giảng viên .

    2.2. Với Các cán bộ cốt cán (trưởng phó khoa, trung tâm, các phòng ban) cần làm gì?

    Các cán bộ cốt cán là cánh tay phải của lãnh đạo . Các cán bộ cốt cán mạnh thì ngôi trường đó sẽ mạnh. Muốn vậy thì mỗi cán bộ cốt cán cần đạt một số yêu cầu sau:

    – Có sự tổ chức, chỉ đạo hoạt động cho đơn vị mình phụ trách một cách khoa học,

    – Không quan cách cửa quyền, không nịnh trên nạt dưới.

    – Không mượn danh lãnh đạo để hù úm nhân viên.

    2.3. Trách nhiệm của giảng viên

    – Luôn trau dồi chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ , trình độ hiểu biết

    – Toàn tâm toàn ý với công việc được giao. Xem trường là nhà để yên tâm công tác lâu dài, không được đứng núi này trông núi nọ.

    – Mạnh dạn bày tỏ những ý kiến của mình với lãnh đạo, không được nhu nhược và làm theo một cách máy móc.

    2,4,* Trách nhiệm của quản lý sinh viên

    Vai trò của quản lý sinh viên rất quan trọng trong việc quản lý sinh viên trên mọi phương diện.

    – Dựa trên tiêu chí chung của nhà trường, quản lý sinh viên phải phối hợp với các khoa , phòng ban để tổ chức, hướng dẫn, quản lý ,

    – Tổ chức lớp, khoa, tr­êng thành một lực lượng tự quản.

    2.5.* Quản lý Cơ sở vật chất, tài chính

    – Đổi mới cơ chế tài chính, đặc biệt là nội dung “ba công khai”. Thực hiện nhưng phải đi đôi với chất lượng “ba công khai”.

    – Tỷ lệ sinh viên/giảng viên phải phù hợp với mức tiêu chuẩn của Bộ theo quy định từ 20-30 sinh viên/giảng viên.

    – Thay thế mô hình đạo tạo giáo viên truyền thống. Khó có giáo viên giỏi, chuyên môn sâu khi chỉ trang bị cho sinh viên lý thuyết. Cách đào tạo hiện nay của một số trường đã vô tình khuyến khích sinh viên học vẹt. Khi ra trường chính những giáo viên này lại “trả bài” cho học sinh bằng cách dạy vẹt.

    Tóm lại, từ khi thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nỗ lực to lớn của toàn dân tộc nước ta đã phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có giáo dục và đào tạo. Đặc biệt là mấy năm gần đây ngành giáo dục đã xây dựng được mô hình trường học thân thiện và đổi mới được nhiều phương pháp quản lý giáo dục, xong để vấn đề trên được hoàn thiện và có kết quả thực sự bền vững chúng ta cần có sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp Uỷ, Đảng và chính quyền các cấp đồng thời có sự chỉ đạo chặt trẽ của các Đoàn thể và sự quan tâm của toàn xã hội. Có được như vậy nền giáo dục của Việt Nam mới phát triển và hội nhập với nền giáo dục thế giới. Đúng như nhà toán học Leibniz người Đức đã từng nói: “ai làm chủ giáo dục, có thể thay đổi thế giới”.

    ThS. Nguyễn Thị Hiếu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Đoàn Giáo Dục Bình Định
  • Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 2022
  • Những Khó Khăn, Thách Thức Đối Với Đội Ngũ Giáo Viên Trung Học Phổ Thông Hiện Nay Khi Triển Khai Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Năng Lực Nhà Giáo Để Thực Hiện Tốt Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • 7 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Cần Thực Hiện Để Phát Triển Giáo Dục Đến Năm 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100