Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics Tại Công Ty Cổ Phần Vinafco

--- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Dịch Vụ Phụ Trợ Bảo Hiểm Việt Nam Phù Hợp Với Các Hiệp Định Chung
  • Hướng Phát Triển Dịch Vụ “Mobile Banking” Cho Các Ngân Hàng Việt Nam
  • Phát Triển Cảng Biển Và Dịch Vụ Cảng Biển: Động Lực Mới
  • Đẩy Mạnh Phát Triển Ngành Dịch Vụ
  • Tìm Giải Pháp Tăng Cường Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế
  • Với doanh thu lên đến con số tỉ USD, dịch vụ logistics đang hấp dẫn

    các nhà đầu tư nước ngoài và thực tế họ đang kinh doanh rất sôi động tại Việt

    Nam. Hầu hết các tập đoàn logistics lớn trên thế giới đã có mặt tại nước ta và

    theo cam kết gia nhập WTO, các công ty logistics 100% vốn nước ngoài sẽ

    được phép hoạt động tại Việt Nam trong thời gian tới.

    Tất cả các dịch vụ Logistics( như nhận đơn đặt hàng vận tải, gom hàng,

    xử lý nguyên vật liệu, gia công mã mác, lưu kho, kiểm soát hàng tồn kho, tái

    chế hàng trả lại, quản lý việc phân phối, xúc tiến thị trường và các dịch vụ

    thông tin ) nhằm mục đích thoả mãn cao nhất cho nhu cầu của khách hàng

    (người sản xuất và người tiêu dùng). Đối với toàn bộ quá trình lưu thông,

    phân phối, ứng dụng hệ thống Logistics là một bước phát triển cao hơn của

    công nghệ vận tải. Hệ thống Logistics liên kết và tối ưu toàn bộ quá trình sản

    xuất và lưu thông trên phạ m vi rất rộng: trong một quốc gia, một khu vực, đến

    toàn cầu.

    doanh quốc tế có hạn.

    Ở nhiều nƣớc trên thế giới logistics là cả một chuyên ngành đào tạo

    nhƣng ở nƣớc ta chƣa có một trƣờng đại học nào đào tạo chuyên ngành này

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 63

    một cách chính quy. Chỉ có một số trƣờng đại học lớn đã có những khóa học

    ngắn hạn về logistics nhƣng chỉ mang tính giới thiệu theo kiểu “cƣỡi ngựa

    xem hoa”. Tóm lại, nếu thiếu tài lực, vật lực cho hoạt động logistics thì vẫn

    có thể giải quyết xây dựng từng phần, nhƣng nếu thiếu nhân lực thì hệ

    thống logistics sẽ không thể hoạt động đƣợc. Chính vì thế nhu cầu cho xây

    dựng một nguồn nhân lực logistics là yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với

    VINAFCO nói riêng và ngành logistics nói chung.

    Đội ngũ nhân viên hoạt động trực tiếp tại Công ty TNHH Tiếp vận

    VINAFCO gồm hơn 200 ngƣời thì 52 % nhân viên có trình độ đại học, trong

    đó chỉ có khoảng 14,5 % nhân viên tốt nghiệp Đại học Ngoại Thƣơng và Đại

    học Hàng Hải 1. Nhƣ vậy, đội ngũ chuyên môn để cung cấp dịch vụ logistics

    còn ít trong khi yêu cầu về trình độ và chuyên môn của những con ngƣời hoạt

    động trong lĩnh vực này lại ngày càng tăng.

    4. Hoạt động kho bãi còn yếu

    Kho bãi chiếm một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ

    Logistics. Trong logistics, kho bãi không chỉ là nơi chứa hàng hóa mà còn

    thực hiện chức năng của một trung tâm phân phối (Distribution center), thậm

    chí nhƣ là bãi trung chuyển cho giao hàng chéo (Cross-docking), là nơi cung

    cấp các dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng. Tuy vậy hoạt động kho bãi

    của các công ty giao nhận Việt Nam còn khá yếu, và VINAFCO không phải

    là ngoại lệ. Chỉ một số công ty có hoạt động gom hàng lẻ là có các hoạt động

    giá trị gia tăng tại kho nhƣ M&P International; Vinatrans; ANC; Everich;…

    bao gồm các dịch vụ đóng gói, đóng kiện (Packing), đóng pallet… VINAFCO

    còn thiếu các dịch vụ logistics mang lại giá trị gia tăng cho hàng hóa nhƣ kẻ

    1 Nguồn : Ban Kế hoạch- Thị trƣờng- Đầu Tƣ , công ty cổ phần Vinafco

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 64

    ký mã hiệu, tái đóng gói, kiểm soát chất lƣợng, quản lý đơn đặt hàng, thực

    hiện việc quản lý trả lại hàng cho nhà phân phối…

    Trình độ cơ giới hóa trong bốc dỡ hàng hóa vẫn còn yếu kém, lao động

    thủ công vẫn phổ biến. Công tác lƣu kho còn lac hậu so với thế giới, chƣa áp

    dụng tin học trong một số lĩnh vực quản trị kho nhƣ mã vạch,chƣơng trình

    quản trị kho.

    5. Hạn chế về áp dụng công nghệ thông tin trong dịch vụ logistics

    Có thể nói hệ thống thông tin là trái tim của hoạt động logistics, quản lý

    chuỗi logistics là quản lý cả dòng vật chất lẫn dòng thông tin. Nếu thiếu một

    trong hai thì hoạt động đó chƣa phải là hoạt động logistics thật sự. Công ty

    chủ yếu vẫn sử dụng hệ thống thông tin truyền thống (điện thoại, fax, email)

    để trao đổi thông tin, gửi và nhận chứng từ với khách hàng, hải quan. Trong

    khi những nƣớc quanh ta nhƣ Singapore, Thailand, Malaysia…đã áp dụng hệ

    bằng kỹ thuật mạng tin học tiên tiến,thông quan bằng các thiết bị điện tử. Hầu

    nhƣ chƣa có công ty Việt Nam nói chung và VINAFCO nói riêng, chƣa công

    ty nào có phần mềm hay hệ thống thông tin kết nối với các đối tác của riêng

    mình.

    Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và thƣơng mại điện tử chƣa cao,

    chƣa đồng bộ và chƣa thực sự đạt hiệu quả. VINAFCO chƣa tham gia sử

    dụng chứng từ điện tử và hợp đồng điện tử. Nếu xét trên khía cạnh

    xây dựng website thì website Công ty cổ phần VINAFCO nói chung và Công

    ty TNHH Tiếp vận VINAFCO nói riêng, chỉ mang tính giới thiệu đơn thuần

    về doanh nghiệp, về dịch vụ của doanh nghiệp mà chƣa cung cấp đƣợc các

    tiện ích mà khách hàng cần nhƣ công cụ theo dõi đơn hàng( track and trace),

    lịch tàu, đăng kí điện tử (e-booking), theo dõi chứng từ…..

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 65

    VINAFCO mới chỉ xử lý đơn hàng trên hệ thống phần mềm quản lý

    nhƣ BPCS, hay Web Map Service – WMS .

    Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn trong ngành tại Việt Nam đã áp

    dụng công nghệ thông tin rất nhiều trong việc cung cấp dịch vụ logisitcs. Ví

    dụ Hệ thống thông tin của Maersk bao gồm: Hệ thống trao đổi thông tin giữa

    các văn phòng Maersk logistics trên khắp thế giới – Maersk communication

    system (MCS); hệ thống quản lý đơn hàng – Operation & documentation

    Excution system (MODS); hệ thống cho phép công ty gửi những yêu cầu xếp

    hàng qua mạng nhanh chóng và tiện lợi – online booking & documentation

    system for shipper (M*power shipper); kiểm tra tình trạng hàng hóa của

    khách hàng – client visibility tool( M*Power); hệ thống tự động tính toán –

    global airfreight system và phát hành chứng từ cho các lô hàng hàng không,

    quản lý mã hàng – e-label system, in nhãn hiệu hàng hóa, mã số, mã vạch.

    Một trong những nguyên nhân chính khiến cho việc áp dụng công nghệ

    thông tin vào hoạt động cung cấp dịch vụ logistics của VINAFCO là vốn đầu

    tƣ. Để áp dụng bất kì chƣơng trình quản trị hay hỗ trợ hoạt động nào cũng đòi

    hỏi việc đầu tƣ 1 khoản tiền rất lớn cũng nhƣ việc xây dựng 1 đội ngũ nhân

    viên tiếp quản và triển khai các ứng dụng đó. Đây không phải là một việc dễ

    thực hiện đối với công ty. Tuy nhiên, việc ứng dụng nhiều hơn nữa những

    thành tựu trong lĩnh vực công nghệ thông tin vào việc cung cấp dịch vụ của

    công ty là một vấn đề cấp thiết, và để ứng dụng thành công thì phải có kế

    hoạch lâu dài.

    6. Hoạt động marketing cũng nhƣ chiến lƣợc khách hàng cho dịch vụ

    logistics còn yếu

    Trên thực tế các công ty giao nhận VN chƣa có khách hàng để phát

    triển logistics. Khách hàng của dịch vụ logistics thƣờng là những công ty đa

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 66

    quốc gia, họ có xu hƣớng giao trọn gói cho các công ty logistics thiết kế và

    cung cấp toàn bộ dây chuyền cung ứng nguyên vật liệu và phân phối hàng hoá

    cho công ty của họ. Các công ty này đôi khi không quan trọng về giá cả từng

    dịch vụ riêng lẻ, nếu cả dây chuyền logistics có thể làm giảm chi phí thì họ

    sẵn sàng chấp thuận. Các công ty này thƣờng có thể bỏ ra nhiều tiền cho vận

    tải, chấp nhận giá cƣớc cao nhƣng dịch vụ phải tốt. Điều này đòi hỏi các công

    ty giao nhận phải có uy tín và năng lực thực sự trong lĩnh vực logistics. Chính

    vì vậy các công ty giao nhận VN chƣa có khả năng với tới những khách hàng

    này.

    6.1. Khách hàng mục tiêu

    Để có thể phát triển dịch vụ của mình, công ty cần hƣớng tới những

    ngành hàng cũng nhƣ khách hàng mục tiêu và có sự điều chỉnh việc cung cấp

    dịch vụ cho các kiểu khách hàng:

    vụ logistics (Kho bãi; vận chuyển; hải quan; bốc xếp);

    40%; khách hàng thuê (1 đến 3 năm) khoảng 30%; khách hàng

    thuê ngắn hạn (< 1 năm) khoảng 30%. Cơ cấu này hiện nay chƣa

    hợp lý so với mục tiêu hƣớng đến các khách hàng thuê dài hạn.

     Ngành hàng mục tiêu: hàng tiêu dùng, giải khát; thiết bị viễn

    thông;

    Do khách hàng mục tiêu của công ty là những khách hàng lớn, có nhu

    cầu thuê dài hạn và sử dụng nhiều dịch vụ , nên vấn đề trƣớc mắt của công ty

    là có chiến lƣợc cụ thể để dành đƣợc khách hàng lớn và mở rộng đối tƣợng

    khách hàng sang những công ty vừa và nhỏ.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 67

    Công ty chƣa có các hoạt động marketing và chiến lƣợc khách hàng cho

    mảng hoạt động logistics của mình. Trong hoạt động logistics việc phân khúc

    thị trƣờng rất quan trọng. Mỗi chủng loại mặt hàng khác nhau cần phải thiết

    kế chuỗi logistics khác nhau. Ngoài ra việc đa dạng hoá dịch vụ cung cấp

    cũng là một trong những hoạt động marketing cần tiến hành, chẳng hạn việc

    thiết kế hệ thống ngƣợc. Nhất là những mặt hàng triển lãm, hội chợ, tạm nhập

    tái xuất v.v…đây là những mặt hàng nếu có hệ thống logistics thì sẽ thuận lợi

    hơn rất nhiều.

    6.2. Hoạt động xúc tiến bán hàng và chăm sóc khách hàng

    Các hoạt động xúc tiến bán hàng (promotion) đã đƣợc Công ty chủ

    động thực hiện nhằm nâng cao hình ảnh của Vinafco logistics ra công chúng

    nhƣ: tham gia hội chợ hành lang kinh tế Đông Tây tại Đà Nẵng; Tham gia

    quảng bá hình hình, cộng tác viên với tạp chí Shipper…;

    Các hoạt động tiếp thị trực tiếp và chăm sóc khách hàng (care) đã đƣợc

    tổ chức, tuy nhiên còn nhỏ lẻ chƣa chuyên nghiệp (chỉ mới dừng ở mức độ

    thăm hỏi, tặng quà sinh nhật…);

    Nhƣ vậy, các hoạt động marketing cho mảng logistics tại công ty chƣa

    thực sự chuyên nghiệp. Công ty chƣa có chiến lƣợc rõ ràng và đầu tƣ một

    khoản kinh phí lớn cho một trong những hoạt động quan trọng nhất tại một

    công ty nói chung.

    6.3. Hoạt động phát triển dịch vụ mới (Research & Developing –

    R&D)

    Công ty đã chủ động trong việc nghiên cứu và tiếp cận các dịch vụ

    logistics mới cho các khách hàng quan trọng nhƣ: Hawea; Ngân hàng quân

    đội, G7mart… Tuy nhiên, VINAFCO chƣa có sự đánh giá tổng kết để đƣa ra

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 68

    đƣợc một số (05 dịch vụ logistics điển hình) tốt nhất đã đƣợc cung cấp để

    giành đƣợc những khách hàng lớn. Hoạt động phát triển dịch vụ mới (R&D)

    đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của các công ty hiện nay. Nhờ

    có hoạt động này mà chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ ngày càng đƣợc nâng cao,

    đáp ứng đƣợc những yêu cầu khắt khe từ phía khách hàng một cách kịp thời.

    Do vậy, hƣớng phát triển trong thời gian tới để nâng cao dịch vụ logistics của

    công ty là tập trung phát triển sản phẩm dịch vụ hiện có và cung cấp thêm

    những dịch vụ mới, theo kịp đƣợc sự phát triển của ngành logistics trên thế

    giới cũng nhƣ yêu cầu của khách hàng.

    7. Hoạt động logistics của VINAFCO mới chỉ bó hẹp trong nƣớc và 1

    số quốc gia lân cận mà chƣa vƣơn ra đƣợc thế giới

    Việc ứng dụng logistics vào trong các lĩnh vực đời sống kinh tế-

    sản xuất của nƣớc ta là chậm hơn so với các nƣớc trong khu vực và trên thế

    giới nhiều năm. Mặt khác xuất phát điểm của nƣớc ta cho phát triển logistics

    là thấp. Đây là những nguyên nhân khiến cho qui mô hoạt động logistics của

    các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và VINAFCO nói chung trong lĩnh vực

    này là nhỏ, mà còn kém khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng nội địa chứ chƣa

    tính tới thị trƣờng quốc tế. Hay hoạt động logistics của các doanh nghiệp Việt

    Nam mới chỉ trong phạm vi nội địa mà chƣa vƣơn ra đƣợc thế giới.

    Một hạn chế nữa đó là VINAFCO mới chỉ cung cấp một số dịch vụ

    riêng lẻ trong toàn bộ chuỗi logistics, trong khi nhu cầu quốc tế đòi hỏi phải

    tiến hành tổng thể toàn bộ hoạt động của chuỗi này. Trên thế giới hiện nay có

    một số nƣớc đã có những thƣơng hiệu logistics không chỉ trong nƣớc mà còn

    trên toàn thế giới. Ví dụ Maersk Logistics của đan Mạch đƣợc biết đến trên

    hơn 60 quốc gia. APL Logistics của Singapore đã đƣợc biết đến trên gần 100

    nƣớc.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 69

    Tóm lại, cùng với sự toàn cầu hóa nền kinh tế thể hiện bằng việc gia

    nhập vào tổ chức WTO của Việt Nam, cùng với sự phát triển của khoa học

    công nghệ đã đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế quốc gia nói chung và hoạt

    động logistics của VINAFCO nói riêng. Do vậy, việc ứng dụng và phát triển

    logistics để nâng cao khả năng cạnh tranh trên trƣờng quốc tế là điều vô cùng

    quan trọng. Hy vọng trong tƣơng lai không xa ngành logistics tại Việt Nam

    phát triển kịp với xu thế của thế giới và các doanh nghiệp ngành logistics

    Việt Nam nói chung cũng nhƣ VINAFCO nói riêng có thể góp tay xây dựng

    đƣợc một thƣơng hiệu logistics thuần việt trong và ngoài nƣớc.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 70

    CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

    LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINAFCO

    I. Giải pháp chủ yếu phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ

    phần VINAFCO

    1. Nâng cao chất lƣợng các dịch vụ hiện có và cung cấp thêm các dịch

    vụ mới

    Nhƣ đã phân tích ở chƣơng 2, các dịch vụ logistics hiện có của

    VINAFCO mới tập trung vào dịch vụ vận tải nội địa,quá cảnh sang các nƣớc

    lân cận, cho thuê kho bãi và một số dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu. Những

    dịch vụ chỉ mới là một phần nhỏ trong hoạt động của chuỗi logistics. Để phát

    triển mạnh hơn trong tƣơng lai, trở thành một trong những công ty hàng đầu

    về logistics, VINAFCO cần phải nâng cao chất lƣợng và mở rộng thêm các

    dịch vụ của mình, nhằm mục tiêu cung cấp toàn bộ các dịch vụ trong chuỗi

    logistics.

    1.2. Dịch vụ vận tải ,giao nhận và phân phối hàng hóa

    Quản lý việc vận tải và phân phối hàng là khâu trọng yếu nhất của hoạt

    động logistics, bởi vì kết quả của quá trình vận chuyển và phân phối hàng ảnh

    hƣởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quản lý vận tải và phân phối

    hàng hóa nhằm quản lý công tác vận chuyển và phân phát hàng hóa đúng thời

    đến quản lý vận tải trong hoạt động kinh doanh logistics: Chọn ngƣời vận

    chuyển (tự vận chuyển hay thuê); chọn tuyến đƣờng, phƣơng thức vận tải,

    phƣơng tiện vận tải; kiểm soát quá trình vận chuyển; công việc giao nhận và

    bốc xếp; xử lý trƣờng hợp hƣ hỏng, mất mát hàng.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 71

    Ngƣời kinh doanh dịch vụ logistics phải giải quyết các vấn đề này bằng

    những phƣơng pháp và kinh nghiệm cần thiết. Khi lựa chọn phƣơng thức vận

    tải thƣờng sử dụng kết hợp một số tiêu chí quan trọng:

     Chi phí vận tải

     Tốc độ vận chuyển

     Tính linh hoạt

     Khối lƣợng/trọng lƣợng giới hạn

     Khả năng tiếp cận

     Tính linh hoạt

    Tất cả dịch vụ logistics đều nhằm mục đích thỏa mãn cao nhất cho nhu

    cầu của khách hàng (ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng). Trong dây chuyền

    cung ứng gồm rất nhiều khâu, giữa mắt xích của các khâu có các dịch vụ:

    giao nhận, xếp dỡ, lƣu kho… Nếu để hàng hóa phải tồn kho nhiều hoặc lƣu

    kho quá lâu sẽ gây thiệt hại cho hãng sản xuất, do đó cần phải giải quyết khâu

    này bằng những biện pháp khác nhau:

     Xác lập kênh phân phối, chọn thị trƣờng tiêu thụ

     Chọn vị trí kho hàng

     Thiết lập các trung tâm phân phối, trung tâm logistics

     Quản lý quá trình vận chuyển…

    Có một số hãng đã đạt đƣợc quy trình sản xuất “không lƣu kho” đối với

    một số mặt hàng nhất định, và đã đạt đƣợc lợi nhuận cao.

    Trong logistics các hoạt động mua hàng, sản xuất, phân phối và tiêu

    dùng, cùng với những phế thải phát sinh trong quá trình diễn ra các hoạt động

    trên sẽ gây tác động xấu ở mức độ khác nhau đến môi trƣờng. Điều này yêu

    cầu phải có sự kiểm tra trong việc lựa chọn nguyên liệu, sự phù hợp trong

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 72

    khâu mua hàng, tính hiệu quả trong việc giao hàng và xử lý rác thải theo tinh

    thần: “Tái sử dụng, cắt giảm và tái chế”.

    Giai đoạn 1: Phân phối vật chất

    bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả. Bao

    gồm các hoạt động nghiệp vụ sau:

     Vận tải

     Phân phối

     Bảo quản hàng hoá

     Quản lý kho bãi

     Bao bì, nhãn mác, đóng gói

    Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics

    Kết hợp quản lý 2 mặt trên một hệ thống: Cung ứng vật tƣ và Phân phối

    sản phẩm.

    Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyển cung ứng (Supply Chain

    Management)

    Đây là khái niệm mang tính chiến lƣợc về quản trị chuỗi quan hệ từ

    ngƣời cung cấp nguyên liệu – đến ngƣời sản xuất – đến ngƣời tiêu dùng. Khái

    niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ

    giữa ngƣời sản xuất với ngƣời cung cấp, ngƣời tiêu dùng và các bên liên

    quan: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông

    tin.

    Đối với VINAFCO, sự phát triển của dịch vụ logistics có vai trò rất to

    lớn trong việc giành và giữ đƣợc các khách hàng. Còn trong các doanh nghiệp

    sản xuất – kinh doanh có nhu cầu ứng dụng logistics, thì các dịch vụ logistics

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 73

    giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có

    thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ƣu hoá quá trình chu

    chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ,… các dịch vụ logistics của

    VINAFCO sẽ giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.

    Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có đƣợc chiến lƣợc và hoạt động

    logistics đúng đắn, ngƣợc lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thất bại

    do có các quyết định sai lầm nhƣ: chọn nguồn cung cấp tài nguyên sai, chọn

    sai vị trí, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả.

    Bên cạnh đó, một số dịch vụ vận tải và giao nhận mà công ty có thể

    cung cấp cho khách hàng, nhƣ :

     Quản lý quá trình vận tải.

     Phát hành chứng từ.

     Quản lý đơn hàng.

     Logistics ngƣợc.

    Hơn nữa, để hội nhập với ngành logistics toàn thế giới, VINAFCO cần

    hƣớng tới việc cung cấp dịch vụ logistics cho hàng hóa vận chuyển bằng

    đƣờng hàng không, bao gồm các dịch vụ sau:

     Giao nhận hàng từ kho tới kho bằng đƣờng hàng không( door to

    door).

     Giao nhận hàng đến các sân bay.

     Khai báo hải quan.

     Vận tải liên hợp hàng không-đƣờng biển qua các điểm chuyển tải

    chính ở Đông Nam á, Châu á và Châu Âu.

    Logistics là một hoạt động còn khá mới mẻ đối với các công ty giao

    nhận Việt Nam nói chung và với VINAFCO nói riêng. Việc cung cấp dịch vụ

    logistics một cách hoàn thiện đòi hỏi phải đầu tƣ mọi mặt, và đặc biệt phải có

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 74

    quyết tâm lớn. Các công ty khách hàng luôn kiếm cách giảm tối thiểu lƣợng

    hàng lƣu kho. Suy ra những xí nghiệp đòi đƣợc giao hàng mỗi lần một số

    lƣợng nhỏ nhƣng làm nhiều lần và đƣợc giao hàng đúng kỳ hạn. Do vậy,

    VINAFCO cần phải hƣớng tới các tiêu chuẩn trong quá trình vận tải, đó là :

     Bảo đảm tính liên tục và nhạy bén của những phƣơng tiện vận tải

    và chuyển tải,

     Vận dụng công nghệ vận tải đa phƣơng tiện, chủ yếu bằng

    container

     Giảm tối thiểu những khâu chuyển tải,

     Giảm tối thiểu những khâu lƣu kho và lƣợng lƣu kho ở mỗi khâu

    sản xuất,

     Tăng cƣờng những dịch vụ viễn thông và xử lý giao dịch không

    giấy tờ.

    Tóm lại, dịch vụ vận tải, giao nhận và phân phối hàng là một trong

    những mắt xích quan trọng của chuỗi logistics. Để phát triển về cả mặt dịch

    vụ cũng nhƣ doanh số, VINAFCO cần chú trọng đầu tƣ hơn nữa vào những

    dịch vụ trên để nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của

    nhằm nâng cao hiệu quả trong vận tải và kinh doanh kho bãi nhƣ hệ thống xe

    nâng chạy bằng điện, hệ thống cần trục và cầu trục trong kho, xe đầu kéo và

    moóc 40 feet .

    1.2. Dịch vụ kho bãi

    Để phát triển dịch vụ kho bãi thì công ty cần nâng cao việc quản lý và

    nâng cấp kho hàng, phát triển dịch vụ gia tăng cho hàng hóa tại kho.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 75

    Trƣớc hết, VINAFCO cần quản lý kho hàng một cách hiệu quả, không

    chỉ cho hoạt động của chính doanh nghiệp mà còn sử dụng hiệu quả cho việc

    cho thuê kho bãi.

    Quản lý kho hàng (quản lý dự trữ hàng) là một bộ phận của hoạt động

    logistics nhằm quản lý việc dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và hàng

    hóa trong sản xuất và lƣu thông. Mục đích của hoạt động quản lý vật tƣ,

    nguyên vật liệu là đảm bảo cho sản xuất, lƣu thông đƣợc diễn ra liên tục và

    hiệu quả, cân đối cung cầu và đề phòng rủi ro, bất trắc. Các công việc liên

    quan đến quản lý kho hàng trong hoạt động logistics bao gồm: Thiết lập mạng

    lƣới kho và chọn vị trí kho hàng (số lƣợng, quy mô); thiết kế và lắp đặt các

    thiết bị kho hàng; tổ chức việc xuất nhập, lƣu kho, bảo quản hàng hóa; thực

    Bên cạnh đó, VINAFCO cần mở rộng thêm các dịch vụ làm tăng giá trị

    gia tăng tại kho, bao gồm :

     Kiểm tra mã số mã vạch;

     Đóng pallét;

     Phân loại hàng;

     Kiểm đếm và đóng hàng vào container;

     Dịch vụ kho bãi gia tăng giá trị;

     Điều phối hàng lƣu kho;

     In nhãn và scan hàng hóa: công nghệ in nhãn hàng và scan mã

    vạch trên thùng hàng carton giúp khách hàng có thể tránh đƣợc

    các nhãn in ấn không chính xác hoặc in các dữ liệu mà hệ thống

    không nhận dạng đƣợc. Nhờ đó khách hàng có thể yên tâm rằng

    hàng hóa của mình sẽ không bị trễ tàu.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 76

    Ngoài ra , việc nâng cao công tác quản lý, cung ứng vật tƣ, nguyên vật

    liệu cũng hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng dịch vụ kho bãi.

    Quản lý vật tƣ là một bộ phận của hoạt động logistics nhằm quản lý

    nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc, các phụ kiện và bán thành phẩm (tất cả

    những thứ mà doanh nghiệp sử dụng để tạo ra sản phẩm hàng hóa). Mục đích

    của hoạt động quản lý vật tƣ, nguyên vật liệu là đảm bảo chất lƣợng sản

    phẩm, đảm bảo tiết kiệm chi phí (hạ giá thành sản phẩm). Các công việc liên

    quan đến quản lý vật tƣ, nguyên vật liệu: quản lý cung ứng vật tƣ (đặt quan hệ

    trƣớc để mua hàng, đặt quan hệ trƣớc với các nhà cung cấp khi mà sản phẩm

    còn đang trong quá trình thiết kế; thực hiện việc mua hàng và các hoạt động

    của quá trình thu mua; nghiên cứu các cơ hội và thách thức của môi trƣờng

    cung ứng vật tƣ; phát triển các chiến lƣợc và kế hoạch thu mua nguyên vật

    liệu; cải tiến dây chuyền cung ứng.

    Tóm lại, đối với dịch vụ kho bãi , công ty cần tăng cƣờng quản trị chuỗi

    cung ứng, bao gồm:

     Quản lý các yêu cầu xếp hàng của khách hàng (booking note).

     Xin chỉ dẫn xếp hàng của khách hàng trƣớc khi xếp

    hàng(shipping instrution).

     Đóng hàng vào container và xếp hàng theo đúng chỉ dẫn.

     Cung cấp dịch vụ kho bãi và bảo quản hàng hóa.

     Cung cấp các dịch vụ gia tăng cho hàng hóa

     Phát hành vận đơn(HBL-house bill of lading) hoặc chứng

    từ nhận hàng(FCR-forwarder cargo receipt).

     Thông báo và quản lý tình hình hàng hóa của từng đơn

    hàng

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 77

     (PO-purchase order).

    1.3. Hướng phát triển các dịch vụ khác

    Bên cạnh đó, công ty cần có chiến lƣợc đầu tƣ phát triển các dịch vụ

    logistics nội địa; liên doanh, liên kết với các công ty logistics nƣớc ngoài.

    Thực hiện chiến lƣợc này với mục tiêu là dựa vào khách hàng Logistics

    của công ty nƣớc ngoài, cung cấp toàn bộ dịch vụ Logistics nội địa (khắc

    phục đƣợc tình trạng bẻ gãy chuỗi logistics); tiếp thu công nghệ kỹ thuật,

    trình độ quản lý Logistics, kinh nghiệm,… khi đủ lớn mạnh về thế và lực có

    thể vƣơn ra cung cấp Logistics toàn cầu.

    Chiến lƣợc thực hiện qua hai giai đoạn:

    – Giai đoạn 1: Liên doanh, liên kết với các công ty Logistics nƣớc

    ngoài để chuyển giao công nghệ, tích lũy kinh nghiệm, tích lũy

    vốn.

    – Giai đoạn 2: Phát triển các dịch vụ logistics của mình một cách

    độc lập.

    Bên cạnh đó, xây dựng các trung tâm phân phối hàng hóa hiện đại cũng

    là một hƣớng phát triển tốt. Trung tâm phân phối này bao gồm các nhiệm vụ

    sau :

    – Đa dạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong hoạt động kho CFS và kho

    ngoại quan.

    – Xây dựng các trung tâm phân phối (DC – Distribution Center) của

    riêng các công ty giao nhận, hoặc những trung tâm phân phối, kho đa năng

    (Cross – docking) hiện đại để kinh doanh cho thuê.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 78

    – Hƣớng tới việc xây dựng các trung tâm phân phối và kho đa năng của

    VN tại thị trƣờng nƣớc ngoài.

    2. Đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp

    Đối với bất cứ doanh nghiệp dịch vụ nào, nguồn nhân lực cũng chính là

    yếu tố quyết định sự thành công. Trong những năm gần đây, ngành dịch vụ

    logistic tại Việt Nam đã và đang phát triển rất nhanh chóng, từ một vài doanh

    nghiệp giao nhận quốc doanh của đầu thập niên 90, đến nay hàng trăm công

    ty đƣợc thành lập và hoạt động trên cả nƣớc. Để phát triển và nâng cao tính

    cạnh tranh của mình, công ty cần tập trung cho việc đào tạo nguồn nhân lực

    chuyên nghiệp, đáp ứng đƣợc sự phát triển của dịch vụ logistics cũng nhƣ yêu

    cầu ngày càng khắt khe của khách hàng.

    Việc đầu tiên công ty có thể làm ngay là cử nhân viên tham gia các

    trƣơng trình đào tạo của Hiệp hội giao nhận vận tải Việt Nam- VIFFAS đã và

    đang kết hợp với các Hiệp hội giao nhận các nƣớc Asean, các chƣơng trình

    của Bộ Giao thông Vận tải, tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ giao nhận,

    gom hàng đƣờng biển, cùng với Trƣờng cao đẳng Hải quan mở lớp đào tạo về

    đại lý khai quan, cấp bằng chứng chỉ cho các hội viên trong thời gian qua.

    Về giao nhận hàng không, Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế- IATA

    thông qua Việt Nam Airlines đã tổ chức đƣợc một số lớp học nghiệp vụ và tổ

    chức thi cấp bằng IATA có giá trị quốc tế. Nếu tham gia các chƣơng trình học

    và có đƣợc chứng chỉ của IATA thì việc cung cấp dịch vụ của VINAFCO sẽ

    chuyên nghiệp hơn với những nhân viên có trình độ cao.

    quốc tế cho các chƣơng trình đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nƣớc. Phối hợp

    và tranh thủ hợp tác với các tổ chức FIATA, IATA và các tổ chức phi chính

    phủ khác để có nguồn kinh phí đào tạo thƣờng xuyên hơn. Mặt khác, các

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 79

    doanh nghiệp cũng cần phải kết hợp chặt chẽ với Hiệp hội, thông báo với hiệp

    hội nhu cầu đào tạo nhân lực của mình để hiệp hội có hƣớng giải quyết.

    Tóm lại, nhất thiết công ty cần đầu tƣ để đào tạo, đào tạo lại, nâng cao

    năng lực của nhân viên và thu hút nhân tài từ xã hội. Phát triển nguồn nhân

    lực có trình độ và chuyên môn cao là nhân tố quan trọng quyết định sự sống

    còn và thành công trong hoạt động Logistics – một hoạt động mang tính chất

    toàn cầu.

    3. Tăng cƣờng hoạt động marketing

    Nâng cao công tác dịch vụ khách hàng

    Trƣớc hết, để có một dịch vụ tốt thì công ty cần nâng cao công tác dịch

    vụ khách hàng. Công tác dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của

    doanh nghiệp nhằm giải quyết các đơn đặt hàng của khách hàng. Mục đích

    của hoạt động dịch vụ khách hàng là tạo cho quá trình mua bán, trao đổi đƣợc

    thông suốt và đạt đƣợc kết quả của quá trình này là làm tăng giá trị sản phẩm

    trƣờng, xác định nhu cầu thị trƣờng; xây dựng mục tiêu và kế hoạch dịch vụ

    khách hàng; giới thiệu và cung cấp dịch vụ khách hàng, xử lý tình huống, duy

    trì uy tín với khách hàng; lắp đặt, bảo hành, sửa chữa và các dịch vụ khác;

    theo dõi sản phẩm.

    Xây dựng chiến lƣợc khách hàng nhằm gia tăng thị phần của công ty

    trên thị trƣờng.

    Nhằm tạo đƣợc nguồn hàng vận chuyển ổn định; xây dựng đƣợc mối

    quan hệ chặt chẽ với khách hàng để có điều kiện thuận lợi trong việc thiết kế

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 80

    chuỗi logistics và giảm chi phí cho khách hàng, tăng lợi nhuận cho công ty

    Logistics.

    Bƣớc 1: Lựa chọn khách hàng mục tiêu. Không chỉ tập trung vào

    những khách hàng lớn nhƣ Honda, ICI..mà còn chọn lọc một số khách hàng là

    doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể khai thác tối đa năng lực cung cấp dịch vụ

    của công ty.

    Bƣớc 2: Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa công ty và khách

    hàng. Phát triển dịch vụ Chăm sóc khách hàng – Customer Care .

    Chăm sóc khách hàng luôn luôn là một yêu cầu cần thiết trong công

    việc kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và VINAFCO nói riêng.

    Khách hàng ngày nay – theo cách nói của các nhà kinh doanh – không phải là

    một “đám đông màu xám”, mà họ là những con ngƣời đầy đòi hỏi, muốn

    đuợc đối xử nhã nhặn, đƣợc tôn trọng và đƣợc nghe những lời cảm ơn chân

    thành. Những điều mà khách hàng cần hỏi khi mua sản phẩm dịch vụ là rất

    nhiều và gần nhƣ vô tận. Họ không chỉ mong đựơc đem lại những dịch vụ giá

    trị gia tăng từ doanh nghiệp, mà còn quan tâm đến việc họ có thể liên hệ đƣợc

    với công ty dễ dàng hay không, liệu các sự cố họ gặp phải có đƣợc giải quyết

    một cách nhanh chóng,… Không chỉ vậy, đối với khách hàng, họ còn đánh

    giá một dịch vụ tốt theo cách đối xử của nhân viên bởi cung cách phục vụ của

    nhân viên sẽ phản ánh một phần chất lƣợng dịch vụ chăm sóc khách hàng của

    doanh nghiệp. Tất cả những yếu tố này sẽ ảnh hƣởng đến cảm xúc của khách

    hàng: vui hay buồn, hài lòng hay thất vọng,… Và doanh nghiệp nên nhớ rằng

    cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hàng.

    Vì vậy, hệ thống chăm sóc khách hàng dựa trên thiết bị công nghệ hiện

    đại, theo một quy trình tận tình, chuyên nghiệp đang ngày càng trở nên quan

    trọng và cần thiết với các nhà kinh doanh.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 81

    Bên cạnh đó, dịch vụ chăm sóc khách hàng phải là một “sản phẩm” trọn

    vẹn, tổng hợp. Công ty cần phải kết hợp hoạt động giữa các bộ phận trong

    công ty, từ bộ phận R&D, marketing, bán hàng cho đến bộ phận chăm sóc

    khách hàng nhằm xây dựng các chiến phù hợp. Dịch vụ chăm sóc khách hàng

    tốt thể hiện sự nhất quán trong hoạt động của một công ty, nhờ vậy mà khách

    hàng không phải mất nhiều thời gian chờ đợi hay mất công đi gặp hết bộ phận

    này đến bộ phận khác khi có vấn đề cần giải quyết.

    Bƣớc 3: Thiết kế hoạt động logistics phù hợp với yêu cầu của từng

    khách hàng/ nhóm khách hàng riêng biệt.

    4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động logistics

    Muốn quản trị logistics thành công thì trƣớc hết phải quản lý đƣợc hệ

    thống thông tin rất phức tạp trong quá trình này. Việc nâng cấp hệ thống

    thông tin hiện tại trong công ty nên chia làm hai giai đoạn:

    – Giai đoạn 1: Hoàn thiện hệ thống thông tin nội bộ (Intranet), hệ

    thống thông tin trong từng bộ phận chức năng (Logistics, kỹ thuật, kế toán,

    marketing,…), hệ thống thông tin ở từng khâu trong dây chuyền cung ứng

    (kho tàng, bến bãi, vận tải,…) và sự kết nối thông tin giữa các tổ chức, bộ

    phận, công đoạn nêu trên. áp dụng tin học hoá trong các hoạt động của công

    ty, lắp đặt các phầm mềm phục vụ cho hoạt động của công ty, chuẩn hóa các

    cơ sở dữ liệu… tạo cơ sở nền tảng trong hệ thống thông tin Logistics.

    – Giai đoạn 2: Kết nối hệ thống thông tin nội bộ với bên ngoài theo

    hai phƣơng thức:

    Phƣơng thức 1: Sử dụng Internet. Đây là một xu hƣớng mà các

    công ty Logistics trên thế giới đang hƣớng tới nhƣ là một công cụ

    không thể thiếu trong hoạt động Logistics.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 82

    Phƣơng thức 2: Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic data

    interchange – EDI). Hệ thống này cho phép trao đổi thông tin dữ

    liệu từ máy tính qua máy tính của các bộ phận trong hệ thống với

    nhau. EDI đầu tƣ khá tốn kém tuy nhiên rất tiện ích và đạt độ an

    toàn cao. EDI thực sự hữu ích cho những khách hàng lớn của công

    ty và trao đổi dữ liệu giữa các chi nhánh, đại lý trong hệ thống

    Logistics toàn cầu.

    Cụ thể hơn, trong thời gian tới, để hoạt động cung cấp dịch vụ logistics

    có hiệu quả hơn, công ty nên áp dụng một trong các hệ thống sau :

    4.1. Hệ thống chia sẻ và trao đổi dữ liệu điện tử – EDI (hệ thống

    Electronic Data Interchange)

    Là một công cụ thiết yếu trong các giao dịch doanh nghiệp với doanh

    nghiệp (B2B) qua Internet. Một giải pháp cho phép truyền thông điện tử một

    cách an toàn, bao gồm các thông tin về quỹ thanh toán giữa ngƣời mua và

    ngƣời bán qua các mạng dữ liệu riêng.

    Hệ thống này nhằm mục đích chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử

    này sang máy tính điện tử khác bằng phƣơng tiện điện tử, có sử dụng một tiêu

    chuẩn đã đƣợc thoả thuận để cấu trúc thông tin.

    EDI chủ yếu đƣợc dùng để trao đổi thông tin có liên hệ tới hoạt động

    kinh doanh và để trao đổi quỹ tiền bằng điện tử.

    Khi ngày càng nhiều công ty kết nối với Internet, vai trò của EDI – một

    cơ chế giúp các công ty có thể mua, bán và trao đổi thông tin qua mạng, càng

    trở nên quan trọng.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 83

    4.2. Điểm bán hàng – POS ( Point of sale)

    Điểm bán hàng – POS ( Point of sale) là tên viết tắt của hệ thống gồm :

    – Phần mềm: Quản lý hàng hoá, quản lý bán hàng, cho phép cập nhật về

    số lƣợng hàng hoá xuất, nhập, tồn tại mọi thời điểm, cũng nhƣ theo dõi tình

    hình doanh thu, công nợ đối với từng khách hàng, tại mọi thời điểm. Thay vì

    việc nhà quản lý phải tiến hành cộng trừ các con số thì hệ thống tự động cập

    nhật với nghiệp vụ nhập vào hệ thống. Thậm chí nhà quản lý có thể theo dõi

    tình hình kinh doanh của 1 hệ thống nhiều cửa hàng tại một điểm duy nhất

    nhờ khả năng truyền dữ liệu qua đƣờng điện thoại hoặc internet. Nhờ đó nhà

    quản lý có nhiều thời gian hơn cho các hoạt động đầu tƣ khác. Các con số báo

    cáo cũng trung thực hơn, tính thống nhất về số liệu thống kê đƣợc đảm bảo.

    – Các thiết bị: Máy đọc mã vạch phục vụ việc nhập tên hàng bán; máy

    in hoá đơn bán lẻ in hoá đơn cho khách hàng đơn giản hoá hoạt động bán

    hàng và mang lại tính chuyên nghiệp cao cho cửa hàng. Tính minh bạch về

    giá cả hàng hoá, dịch vụ đối với khách hàng cũng đƣợc thể hiện rõ ràng.

    Nét khác biệt của hệ thống này là cập nhật mọi lúc các thông tin về hoạt

    động bán hàng tại mọi thời điểm mà hệ thống ghi chép tính toán thủ công

    không thể có đƣợc. Trong đó, phần mềm chƣơng trình là yếu tố chính, quan

    trọng nhất. Ngƣời quản lý có thể không biết rằng hoạt động quản lý của mình

    sẽ đơn giản hơn rất nhiều lần khi sử dụng công nghệ POS. Bất kỳ lĩnh vực

    nào cũng có thể áp dụng hệ thống này, không chỉ là các Siêu thị, các trung

    tâm thƣơng mại, mà ngay cả các cửa hàng thuộc các lĩnh vực khác nhau nhƣ

    nhà hàng, cửa hàng bán lẻ, các Studio ảnh, các trung tâm vui chơi giải trí, các

    phòng khám đa khoa, thẩm mỹ viện…

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 84

    4.3. Hệ quản trị doanh nghiệp tích hợp – ERP (Enterprise

    Resources Planning)

    ERP – Hệ quản trị doanh nghiệp tích hợp (Enterprise resources

    Planning) là bộ giải pháp công nghệ thông tin có khả năng tích hợp toàn bộ

    ứng dụng quản lí sản xuất kinh doanh vào một hệ thống duy nhất, có thể tự

    động hoá các quy trình quản lý. Mọi hoạt động của doanh nghiệp, từ quản trị

    nguồn nhân lực, quản lý dây chuyền sản xuất và cung ứng vật tƣ, quản lý tài

    chính nội bộ đến việc bán hàng, tiếp thị sản phẩm, trao đổi với các đối tác, với

    khách hàng đều đƣợc thực hiện trên một hệ thống duy nhất.

    Với các ERP, để hỗ trợ cho việc quản lý 1 phần của Logistics – bao

    gồm các chức năng của các module sau:

     Inventory: dùng để quản lý các thông tin về tồn kho của các Item

    trong kho

     Purchases: quản lý các thông tin về việc mua của cty

     Sale Order: quản lý việc bán hàng của cty

     Warehouse: sử dung công nghệ barcode (chƣơng trình quản lý

    hàng hóa theo lô, hạn dùng bằng mã), nhận dạng tần số sóng vô

    tuyến-RFID (Radio Frequency Identification) để quản lý tất cả

    các hoạt động của kho.

    Thông thƣờng khi nhắc đến dịch vụ logistic là quan tâm đến:Purchase

    Order, Inventory và Sales Order. Tức là quan tâm đến các thủ tục của việc

    quản lý, luân chuyển của hàng hoá, vật tƣ từ khi mua vào đến lúc bán ra cho

    khách hàng. Còn tuỳ từng qui mô, qui trình xử lý của khách hàng sẽ đƣợc xử

    lý trên các chức năng của ERP tƣơng ứng.

    Tóm lại, sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin trong thời

    gian qua đã giúp cho quá trình hoàn thiện logistics, quản trị kinh doanh và

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 85

    dịch vụ khách hàng phát triển mạnh mẽ.Trong logistics, hệ thống thông tin

    đƣợc sử dụng rộng rãi bao gồm POS- Point of sale (điểm bán hàng) , EDI – hệ

    thống Electronic Data Interchange (hệ thống chia sẻ và trao đổi dữ liệu điện

    tử), ERP – Hệ quản trị doanh nghiệp tích hợp (Enterprise resources Planning),

    hệ thống thông quan tự động, hệ thống phân phối và theo dõi luồng hàng.

    5. Mở rộng hệ thống đại lý và chi nhánh tại thị trƣờng trong và ngoài

    nƣớc

    Để nâng cao vị thế trên thị trƣờng nội địa và vƣơn tầm ra thị trƣờng

    quốc tế, bên cạnh việc nâng cao chất lƣợng dịch vụ, việc mở rộng và củng cố

    hệ thống đại lý, xây dựng các đại lý độc quyền, tiến tới đặt văn phòng đại

    diện và chi nhánh ở các nƣớc cũng là một trong những bƣớc đi hết sức quan

    trọng.

    Khi đã xây dựng đƣợc hệ thống đại lý và chi nhánh một cách hiệu quả,

    công ty có thể triển khai các dịch vụ logistics của mình một cách dễ dàng và

    nhanh chóng hơn, luôn kịp thời đáp ứng nhu cầu . Đặc biệt khi xây dựng chi

    nhánh ở nƣớc ngoài, công ty sẽ có đƣợc nguồn thông tin về thị trƣờng một

    cách chính xác thông qua chi nhánh và đại diện của cục xúc tiến thƣơng mại.

    Từ đó, công ty không chỉ học hỏi đƣợc kinh nghiệm phát triển và triển khai

    dịch vụ logistics tại các nƣớc có ngành logistics tiên tiến nhƣ ấn Độ, Trung

    Quốc, Hà Lan .v.v… mà còn có khả năng cung cấp, vƣơn xa tầm hoạt động

    của mình sang các thị trƣờng đó.

    6. Liên kết với doanh nghiệp cùng ngành ở trong và ngoài nƣớc

    Liên kết giữa VINAFCO và các doanh nghiệp trong nƣớc lỏng lẻo còn

    liên kết, nối mạng với mạng logistics toàn cầu cũng không có. Đây thực sự là

    một mối nguy hiểm cho không chỉ VINAFCO mà còn cho các doanh nghiệp

    Việt Nam khi bƣớc vào sân chơi toàn cầu. Bởi nếu chỉ hoạt động một cách

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 86

    độc lập, thiếu sự liên kết với các mạng lƣới dịch vụ logistics khác thì khả

    năng chắc chắn một điều các doanh nghiệp Việt Nam chỉ hoạt động nhƣ một

    doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cấp 2, cấp 3, cấp 4 đối với dịch vụ

    logistics toàn cầu mà thôi. Thậm chí còn thua ngay trên chính “sân nhà” của

    mình.

    Bên cạnh việc tham gia vào Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam –

    VIFFAS hay Hiệp hội đại lý và môi giới hàng hải để cùng nhau hoạt động và

    có đƣợc những thông tin trong ngành thì việc thành lập 1 liên minh của các

    công ty chuyên cung cấp dịch vụ logistics là điều cần thiết để giúp cho doanh

    nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh với các doanh nghiệp logistics của nƣớc

    ngoài với tiềm lực về cơ sở hạ tầng cũng nhƣ vốn rất lớn.

    Gần đây, hơn 30 Công ty vừa và nhỏ trong lĩnh vực logistics đã liên kết

    trở thành liên minh Thai Logistics Alliance (TLA). Có đến hơn 30 công ty

    tham gia vào việc liên kết này. Mô hình của là các công ty vẫn làm việc độc

    lập, nhƣng sẽ thành lập một nhóm hoạt động chung, nhóm này sẽ tiến hành

    bán các dịch vụ logistics trọn gói (one stop service) rồi phân bổ cho các thành

    viên theo năng lực của họ. Sau đó nhóm này cũng sẽ sửa tất cả dịch vụ mà

    từng thành viên cung cấp để xem họ có đảm bảo hay không. Và cơ bản là liên

    minh này sẽ giúp các doanh nghiệp vẫn có thể cạnh tranh đƣợc với các đối thủ

    to lớn nƣớc ngoài. Rõ ràng để làm đƣợc điều này đòi hỏi phải có một cơ chế

    hợp tác thích hợp, và dĩ nhiên các thành viên phải chấp nhận việc chia sẻ

    của chính phủ Thái Lan. Đây thực sự là một động thái rất tích cực và là một

    bài học tốt cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam nói chung và VINAFCO

    nói riêng.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 87

    II. Một số kiến nghị đối với Nhà nước nhằm đẩy mạnh hoạt

    động logistics

    Ngành logistic tại Việt nam hiện đang phát triển rất nhanh, thực tế hoạt

    động ngành đã đi nhanh hơn các qui định luật pháp. Trong khi đó,mục tiêu

    cần đạt đƣợc của logistics khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực

    quốc gia trong các hoạt động vận tải, giao nhận, lƣu trữ hàng hoá và những

    hoàn thiện cơ sở hạ tầng logistics và một hệ thống các văn bản luật – kinh tế

    logistics, tạo ra một môi trƣờng thuận lợi cho sự hoạt động và phát triển

    logistics cũng nhƣ dịch vụ logistics.

     Hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở hạ tầng

    Hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở hạ tầng vận tải (đƣờng biển,đƣờng

    không, bộ,sắt…). Hiện nay, vận tải hàng hóa xuất khẩu ở nƣớc ta chủ yếu là

    bằng đƣờng biển nên việc đầu tƣ cơ sở hạ tầng cho vận tải biển để phát triển

    logistics mà là một điều tất yếu, mà nhiệm vụ trƣớc mắt là khuyến khích đầu

    tƣ xây dựng cảng container, cảng nƣớc sâu phục vụ cho việc vận chuyển hàng

    hóa. Bên cạnh đó, việc phát triển hệ thống cảng nội địa ( Inland Clearance

    Depot – ICD) để tạo điều kiện cho vận tải đa phƣơng thức phát triển cũng là

    một trong những yêu cầu đƣợc đặt ra mà rất cần sự hỗ trợ của Nhà nƣớc.

    Không chỉ phát triển vận tải đƣờng biển mà việc mở rộng các tuyến

    đƣờng vận tải nội địa (đƣờng sông, đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng hàng

    không…) và quốc tế cũng góp phần phát triển hoạt động logistics tại nƣớc ta.

    Ngoài ra, Nhà nƣớc có thể sắp xếp lại cảng trên cơ sở dài hạn. Lập

    trung tâm logistics( phân phối) tại các vùng trọng điểm kinh tế để tập trung

    hàng xuất và phân phối hàng nhập khẩu hay thành phẩm. Xây dựng một mạng

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 88

    lƣới phân phối giữa chủ hàng,công ty giao nhận hệ thống chi nhánh, nơi phân

    phối cuối cùng. Đồng thời với các trung tâm phân phối là các hệ thống kho

    gom hàng. Về giao nhận vận tải hàng không, Chính phủ nên cho phép Hiệp

    hội thu xếp đứng ra tổ chức nghiên cứu, đầu tƣ,xây dựng khu vực dành cho

    các đại lý gom hàng, khai quan tại khu vực các sân bay quốc tế nhƣ TPHCM,

    Hà Nội và Đà Nẵng. Nhà nƣớc nên xây dựng nhà ga hàng hóa chuyên dụng

    với các khu vực giao hàng, tiếp nhận,chuyển tải…theo các qui trình nghiệp vụ

    nhƣ các nƣớc trong khu vực đã và đang làm nhƣ Thái lan, Singapore và

    Malaysia. Hiện đại hóa các kho chứa hàng và phân phối .

     Xây dựng hành lang, khung pháp lý thông thoáng và hợp lý,

    logistics

    Luật Thƣơng Mại 2005 lần đầu tiên đề cập đến hoạt động kinh doanh

    dịch vụ logistics, tuy nhiên, điều luật này chƣa đƣợc rõ ràng, chính xác ở chỗ

    luật chƣa làm rõ đƣợc logistics là một chuỗi liên tục. Ngoài ra, gần đây nhất

    mới có nghị định 140/2007/NĐ-CP qui định chi tiết Luật Thƣơng Mại về hoạt

    động kinh doanh dịch vụ logistics. Dù đã có những thay đổi phù hợp mang

    tính pháp lý điều chỉnh cho hoạt động này, nhƣng Nhà nƣớc vẫn cần đƣa ra

    một khung pháp lý chuẩn trong Luật Thƣơng mại và những bộ luật có liên

    quan nhƣ Luật Giao thông vận tải, Bộ luật dân sự , Luật đầu tƣ v.v… cũng

    nhƣ trong một số loại văn bản dƣới luật, nhằm tạo điều kiện và sự hỗ trợ cho

    việc phát triển logistics.

    Bên cạnh đó, Nhà nƣớc cần thay đổi và tiêu chuẩn hóa các qui định

    (cấp phép, điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn…), tạo môi trƣờng tự do cho hoạt

    động kinh doanh dịch vụ logistics. Công nhận về mặt pháp lý các chứng từ

    điện tử. Thống nhất hóa , tiêu chuẩn hóa tên hàng và mã hàng hóa.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 89

    Cuối cùng, Nhà nƣớc cần có các qui định hải quan về giấy phép Ngƣời

    chuyên chở không có tàu (NVOCC-Non-vessel operating of common carrier)

    và phân định rõ trách nhiệm của Đại lý khai quan, chứng từ XNK phải phù

    hợp với thông lệ quốc tế, cụ thể là các nƣớc ASEAN,khu vực châu á…Tin

    học hóa thủ tục hải quan.

     Ứng dụng công nghệ thông tin

    Nhà nƣớc cũng cần đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin tại các

    cạnh đó là việc xây dựng hệ thống thông tin cập nhật thông suốt suốt giữa các

    cơ quan quản lý của Nhà nƣớc với cảng và các doanh nghiệp trong và ngoài

    nƣớc. Việc có đƣợc hệ thống thông tin nhƣ vậy sẽ giúp cho các doanh nghiệp

    nắm bắt kịp thời các chủ trƣơng, chính sách phát triển cũng nhƣ những qui

    định của Nhà nƣớc, từ đó họ sẽ xây dựng kế hoạch phát triển phù hợp nhất.

    cơ sở hạ tầng cũng nhƣ cơ sở pháp lý cho lĩnh vực logistics, nhằm tạo điều

    kiện và hỗ trợ hoạt động logistics để ngành logistics nƣớc ta nói chung và

    dịch vụ logistics của VINAFCO nói riêng sớm đƣợc sánh vai cùng các quốc

    gia có ngành logistics phát triển mạnh nhƣ Singapore, Trung Quốc, ấn Độ

    .v.v…

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 90

    KẾT LUẬN

    Với doanh thu lên đến con số tỉ USD, dịch vụ logistics đang hấp dẫn

    các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và thực tế họ đang kinh doanh rất sôi động tại Việt

    Nam. Hầu hết các tập đoàn logistics lớn trên thế giới đã có mặt tại nƣớc ta và

    theo cam kết gia nhập WTO, các công ty logistics 100% vốn nƣớc ngoài sẽ

    đƣợc phép hoạt động tại Việt Nam trong thời gian tới.

    Tất cả các dịch vụ Logistics( nhƣ nhận đơn đặt hàng vận tải, gom hàng,

    xử lý nguyên vật liệu, gia công mã mác, lƣu kho, kiểm soát hàng tồn kho, tái

    chế hàng trả lại, quản lý việc phân phối, xúc tiến thị trƣờng và các dịch vụ

    thông tin…) nhằm mục đích thoả mãn cao nhất cho nhu cầu của khách hàng

    (ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng). Đối với toàn bộ quá trình lƣu thông,

    phân phối, ứng dụng hệ thống Logistics là một bƣớc phát triển cao hơn của

    công nghệ vận tải. Hệ thống Logistics liên kết và tối ƣu toàn bộ quá trình sản

    xuất và lƣu thông trên phạm vi rất rộng: trong một quốc gia, một khu vực, đến

    toàn cầu.

    Mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và VINAFCO

    nói riêng đang hƣớng tới là việc sẽ trở thành các doanh nghiệp kinh doanh

    dịch vụ logistics có thƣơng hiệu trong và ngoài nƣớc. Do vậy trong giai đoạn

    đầu ứng dụng logistics, chính phủ cần phải có những định hƣớng và hỗ trợ

    trong việc đầu tƣ xây dựng hạ tầng cơ sở -vật chất-kỹ thuật cho ngành này,

    cũng nhƣ xây dựng đựơc một khuôn khổ hành lang pháp lý minh bạch

    và thống nhất. Nhà nƣớc cùng với doanh nghiệp và hiệp hội tổ chức các khóa

    đào tạo chuyên ngành logistics nhằm nâng cao nghiệp vụ về logistics cho

    ngƣời lao động cũng nhƣ hiểu biết trong xã hội.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 91

    Bên cạnh đó,VINAFCO cũng cần xây dựng những chiến lƣợc đầu tƣ

    và phát triển trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho việc cung cấp dịch vụ

    logistics, phù hợp với qui mô của mình. Ngoài ra,công ty còn cần phải có một

    cơ chế quản lý hiệu quả hoạt động này nhằm tăng cƣờng khả năng cạnh tranh

    trên thị trƣờng trong nƣớc và thế giới.

    Tóm lại, nếu có đƣợc hƣớng đi chiến lƣợc đúng đắn thì trong tƣơng lai

    không xa, dịch vụ logistics của VINAFCO sẽ ngày càng hoàn thiện và công ty

    sẽ trở thành doanh nghiệp mũi nhọn trong ngành logistics Việt Nam, sánh

    ngang với các doanh nghiệp lớn của thế giới.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 92

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tiếng Việt

    1. Giáo trình Vận tải và Giao nhận hàng hóa trong hoạt động ngoại

    thƣơng-NXB GTVT,2003

    2. chúng tôi Nguyễn Nhƣ Tiến- Logistics, Khả năng ứng dụng và phát triển

    trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam-NXB GTVT,

    2006

    3. Giáo trình Giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế- NXB GTVT,2002

    4. TS. Lý Bách Chấn – Đào tạo trong dịch vụ logistics .

    5. Kỹ sƣ tƣ vấn Đặng Đình Cung – Việt-Nam : Căn cứ hậu cần của Đông

    Nam á ?

    6. Đỗ Xuân Quang – Logistics tại Việt Nam: thực trạng, cơ hội và thách

    thức

    7. Bản báo cáo tài chính kiểm toán của Công ty cổ phần VINAFCO năm

    2004, 2005, 2006

    8. Bản cáo bạch năm 2006 của Công ty cổ phần Vinafco

    9. Bản báo cáo nhanh kết quả hoạt động kinh doanh 8 tháng đầu năm

    2007 của Công ty cổ phần Vinafco

    10. Luật Hàng Hải Việt Nam (1990 và 2005), luật hàng không dân dụng

    Việt Nam (1992), Luật thƣơng mại Việt Nam (2005), Luật Hải Quan

    (2005), và nghị định 140 /2007/NĐ-CP về Quy định chi tiết Luật

    Thƣơng mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách

    nhiệm đối với thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

    Đề tài

    Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty

    cổ phần Vinafco

    Trần Ngọc Diệp – A6K42B 93

    Tiếng Anh

    1. Edward Frazzelle – Supply Chain Strategy – Logistics Management

    Library, 2003

    2. What is Logistics & Supply Chain Management?

    3. Carla Reed – Global Logistics and Transportation

    4. Developing Singapore into a global Intergrated Logistics Hub-

    Economics Development Board of Singapore,2002

    Website

    1.

    2.

    3.

    4.

    5.

    6.

    7.

    8.

    9.

    10.

    Các file đính kèm theo tài liệu này:

    • 3823_3866.pdf

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỳ Cuối: Tìm Giải Pháp Chống Ngập Hiệu Quả
  • Cần Thêm Các Giải Pháp Chống Ngập
  • Đề Tài Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Bán Hàng Của Công Ty Tnhh Tiến Đức (Quảng Nam)
  • Một Số Giải Pháp Khắc Phục Tồn Tại, Hạn Chế Trong Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Chính Phủ Về Pctn
  • Cải Thiện Mạnh Mẽ Môi Trường Đầu Tư, Tạo Niềm Tin Cho Các Doanh Nghiệp Đến Hà Nội
  • Chuyên Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Logistics Tại Công Ty Cổ Phần Vinafco

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Logistics Cực Hot
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dịch Vụ Logistics
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Logistics Tại Doanh Nghiệp Tư Nhân 668
  • Bộ Công An Trả Lời Về Biện Pháp Hạn Chế Tình Hình Tội Phạm Và Tệ Nạn Xã Hội
  • Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân Tại Agribank Ngọc Lặc
  • I. Khái niệm, đặc điểm và phân loại hoạt động logistics 6

    1. Khái niệm logistics 6

    2. Đặc điểm của logistics . 8

    2.1. Logistics có thể coi là tổng hợp của các hoạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh chính , đó là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống 8

    2.2. Logistics là một dịch vụ 11

    2.3. Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải và giao nhận 11

    2.4. Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức 12

    2.5. Logistics có chức năng hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp 13

    3. Phân loại hệ thống logistics 14

    3.1. Phân loại theo các hình thức logistics 14

    3.2. Phân loại theo lĩnh vực hoạt động của logistics 15

    3.3. Phân loại theo quá trình 16

    II. Vai trò của logistics 17

    1. Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối và mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế 17

    2. Logistics đóng vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh . 18

    2.1. Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi và hoàn thiện dịch vụ vận tải giao nhận, đảm bảo yếu tố đúng thời gian- địa điểm (Just in time-JIT). 19

    2.2. Logistics cho phép các nhà kinh doanh vận tải giao nhận cung cấp các dịch vụ đa dạng, phong phú hơn ngoài dịch vụ giao nhận vận tải đơn thuần. 19

    2.3 Dịch vụ Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý. 20

    III. Nội dung của hoạt động logistics 21

    1. Mua sắm nguyên vật liệu . 21

    2. Dịch vụ khách hàng . 21

    3. Quản lý hoạt động dự trữ. 23

    4. Dịch vụ vận tải 24

    5. Hoạt động kho bãi. 26

    IV. Chất lượng dịch vụ logictics và các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ logictics 28

    1. Chất lượng dịch vụ logistics 28

    2.1 Thời gian giao nhận hàng 30

    2.2 Độ an toàn của hàng hoá 31

    2.3 Chi phí vận chuyển 31

    2.4 Cách thức phục vụ 32

    2.5 Chất lượng kho bãi 33

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS .33

    I. Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Vinafco 34

    1. Lịch sử hình thành Công ty cổ phần VINAFCO. 34

    2. Giới thiệu về công ty. 35

    3. Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO. 39

    II. Các dịch vụ logistics hiện có 40

    1. Cho thuê kho, bốc xếp, vân tải và phân phối hàng hóa từ kho đến đại lý, khách hàng 40

    1.1. Cho thuê kho, bốc xếp, vận tải và phân phối hàng hoá từ kho đến các đại lý , khách hàng 41

    1.2. Thực hiện sắp xếp hàng hoá theo sơ đồ bố trí (W/h layout) và tư vấn thiết kế giá kệ và lắp đặt hệ thống chiếu sáng kho hàng. 41

    1.3. Quản lý kho hàng bằng phần mềm 42

    2. Dịch vụ phân phối hàng hoá 43

    3. Cung ứng vật tư,nguyên nhiên liệu 47

    III. Tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của VINAFCO trong những năm gần đây 48

    1. Cơ cấu doanh thu (thuần) và lợi nhuận của các đơn vị thành viên của VINAFCO. 48

    2. Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất-kinh doanh của công ty Tiếp vận VINAFCO trong 8 tháng đầu năm 2007 . 50

    IV. Đánh giá chất lượng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần VINAFCO. . .51

    1. Đánh giá theo tiêu chẩn về chất lượng dịch vụ logistics .52

    1.1 Theo tiêu chuẩn về thời gian 52

    1.2 Theo tiêu chuẩn về độ an toàn của hàng hoá 55

    1.3 Giá thành sản phẩm 56

    1.4 Cách thức phục vụ 58

    1.5 Chất lượng kho bãi. 59

    2. Đánh giá theo ưu diểm nhược điểm của công ty 60

    2.1 Ưu điểm 60

    2.2 Nhược điểm dịch vụ logistics của VINAFCO 65

    Hoạt động xúc tiến bán hàng và chăm sóc khách hàng 75

    Hoạt động phát triển dịch vụ mới (Research & Developing – R&D) 76

    CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINAFCO . 78

    I. Giải pháp chủ yếu phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần VINAFCO 78

    1. Nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có và cung cấp thêm các dịch vụ mới . 78

    1.1 Dịch vụ vận tải ,giao nhận và phân phối hàng hóa 78

    1.2. Dịch vụ kho bãi 82

    1.3. Hướng phát triển các dịch vụ khác 85

    2. Đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp 86

    3. Tăng cường hoạt động marketing 87

    4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động logistics 89

    4.1. Hệ thống chia sẻ và trao đổi dữ liệu điện tử – EDI (hệ thống Electronic Data Interchange) 90

    4.2. Điểm bán hàng – POS ( Point of sale) 91

    4.3. Hệ quản trị doanh nghiệp tích hợp – ERP (Enterprise Resources Planning) 92

    5. Mở rộng hệ thống đại lý và chi nhánh tại thị trường trong và ngoài nước . 93

    6. Liên kết với doanh nghiệp cùng ngành ở trong và ngoài nước. 93

    II. Một số kiến nghị đối với Nhà nước nhằm đẩy mạnh hoạt động logistics 95

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.100

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Công Nghiệp, Thương Mại Dịch Vụ Tại Đồng Nai
  • Giải Pháp Phát Triển Thương Mại Dịch Vụ, Tạo Liên Kết Vùng Cho Doanh Nghiệp
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Thương Mại, Dịch Vụ Trên Địa Bàn Tỉnh Bắc Giang
  • Giải Pháp Cho Nhân Lực Ngành Logistics Trong Kỷ Nguyên Số
  • Phát Triển Nguồn Nhân Lực Logistics Việt Nam
  • Thực Trạng Và Triển Vọng Ngành Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Nguồn Nhân Lực Logistics Việt Nam
  • Giải Pháp Cho Nhân Lực Ngành Logistics Trong Kỷ Nguyên Số
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Thương Mại, Dịch Vụ Trên Địa Bàn Tỉnh Bắc Giang
  • Giải Pháp Phát Triển Thương Mại Dịch Vụ, Tạo Liên Kết Vùng Cho Doanh Nghiệp
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Công Nghiệp, Thương Mại Dịch Vụ Tại Đồng Nai
  • Xuất nhập khẩu và logistics được đánh giá là một trong những ngành có triển vọng phát triển rất lớn ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên thực trạng dịch vụ logistics ở nước ta vẫn chưa được đánh giá cao. Cụ thể tình hình ngành dịch vụ logisitcs ở nước ta như thế nào, có những khó khăn gì cần khắc phục và triển vọng phát triển ngành ra sao?

    1.Số lượng và quy mô doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ logistics

    Việt Nam có tới gần 1000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics. Đây là một con số khá lớn nhưng trên thực tế đa phần lại là những doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ. Do vốn ít nên cơ cấu tổ chức doanh nghiệp cũng đơn giản, không thật sự chuyên sâu, không tổ chức được các văn phòng đại diện ở nước ngoài nên nguồn thông tin bị hạn chế, các công việc ở nước ngoài đều phải thông qua các đại lý của các công ty đa quốc gia. Điều này dẫn đến đa số các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở việc làm đại lý cấp 2, cấp 3, thậm chí cấp 4 cho các đối tác nước ngoài có mạng lưới toàn cầu mà chưa tổ chức kết nối được các hoạt động vận tải đa phương thức.

    Tuy có số lượng lớn, các công ty logistics Việt Nam mới đáp ứng được 25% nhu cầu nội địa và mới chỉ tập trung vào một vài ngành dịch vụ trong chuỗi giá trị dịch vụ có doanh số hàng tỉ đô la Mỹ này.

    2.Tình trạng cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ logisitics

    Do phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu hàng theo điều kiện FOB, FCA trong incoterms, nên quyền định đoạt về vận tải đều do người mua chỉ định và dĩ nhiên người mua sẽ chỉ định một công ty nước họ để thực hiện điều này. Do đó các công ty logistics của Việt Nam sẽ là không có nhiều cơ hội để cung ứng dịch vụ logisitcs. Điều này không phải dễ dàng giải quyết vì phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam đều gia công hoặc xuất hàng cho những khách hàng lớn đã có những hợp đồng dài hạn với các công ty logistics toàn cầu.

    Việt Nam nhập siêu nên đây là thị trường hấp dẫn cho các công ty logistics của Việt Nam. Nếu như trước đây, các nhà nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu mua hàng theo điều kiện CIF, thì hiện nay các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam đang chuyển dần sang hình thức mua FOB, tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp logisitics Việt Nam khai thác. Tuy nhiên, một phần khá lớn trong thị trường này vẫn nằm trong tay các hãng logisitics nước ngoài do có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp tại Việt Nam mà họ cũng chính là người nhập khẩu hàng nhiều nhất.

    3.Chi phí dịch vụ logisitcs

    Chi phí logistics của Việt Nam được dự đoán khoảng 25% GDP của Việt Nam, cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển như Mỹ và cao hơn các nước đang phát triển như Trung Quốc hay Thái Lan. Chính chi phí logistics cao này làm giảm hiệu quả những cố gắng của Việt Nam trong việc giới thiệu thị trường lao động giá rẻ và đẩy mạnh xuất khẩu. Nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là cơ sở hạ tầng vận tải của Việt Nam đã quá cũ kỹ và quá tải, hệ thống quản lý hành chính phức tạp và các nhà sản xuất Việt Nam không tích cực sử dụng các dịch vụ thuê ngoài 3PL (third party logistics) của nước ngoài.

    4.Hạ tầng thông tin ngành logistics

    Đây chính là điểm yếu các doanh nghiệp logisitics Việt Nam. Mặc dù các doanh nghiệp logistics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh của mình nhưng vẫn còn kém xa so với các công ty logistics nước ngoài. Nếu chỉ xét về khía cạnh xây dựng website, phần lớn website của doanh nghiệp Việt Nam chỉ đơn thuần giới thiệu về mình, về dịch vụ của mình, thiếu hẳn các tiện ích mà khách hàng cần như công cụ track and trace (theo dõi đơn hàng), lịch tàu, e-booking, theo dõi chứng từ…Trong khi đó khả năng nhìn thấy và kiểm soát đơn hàng (visibility) là một yếu tố được các chủ hàng đánh giá rất cao khi họ lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics cho mình.

    5.Nguồn nhân lực trong ngành logisitcs

    Hiện nay Việt Nam có khoảng 6.000 nhân viên đang làm việc trong lĩnh vực logistics, tuy vậy những người có kinh nghiệm và hiểu biết về luật pháp quốc tế còn thiếu nhiều. Hiện nguồn nhân lực chính cho ngành này đều được lấy từ các đại lý hãng tàu, các công ty giao nhận vận tải biển và sử dụng theo khả năng hiện có. Trong khi đó, đây là lĩnh vực đòi hỏi chuyên gia không những am hiểu hệ thống pháp luật, thông lệ của nước sở tại, mà còn phải am hiểu pháp luật quốc tế và có mối quan hệ rộng khắp trên thế giới. Vì vậy việc đào tạo xuất nhập khẩu và logistics một cách bài bản và chất lượng cao là điều rất cần thiết ở nước ta hiện nay.

    6.Đánh giá của quốc tế về thực trạng dịch vụ logistics của Việt Nam

    Theo kết quả khảo sát cuả Ngân hàng Thế giới, Việt Nam xếp hạng thứ 53 trong số 150 quốc gia được đưa vào bảng xếp hạng. Singapore đứng thứ nhất (1) trên toàn thế giới, sau đó là các quốc gia Tây Âu (Đức, Hà Lan) và các quốc gia phát triển khác như Úc, Nhật Bản, Thụy Sỹ, Canada, Đan Mạch. So sánh với các quốc gia Châu Á khác trong khu vực, Việt Nam thua xa Hàn Quốc (25), Malaysia (27), Trung Quốc (30), Thái Lan (31), Ấn Độ (39) nhưng vẫn hơn Phillipine (65), Cambodia (81) và Lào (117).

    So với một số nước Châu Âu, dịch vụ logistics của Việt Nam vẫn tốt hơn một số quốc gia thuộc khối Đông Âu như Bulgari (51), Nga (99), Ukraine (73) và hơn phần lớn các quốc gia Châu Phi khác.

    Ngoài ra, theo nhận xét của phát ngôn viên Ngân hàng Thế giới, ông Michael Peskin, chi phí logistics của Việt nam chiếm tới 30% đến 40% tổng chi phí vận chuyển trong khi ở các nước khác chi phí này chỉ chiếm khoảng 15%. Do đó việc tận dụng tiềm năng kinh tế của đất nước để phát triển dịch vụ logistics và khắc phục những khó khăn, yếu kém về tính chuyên môn hóa trong cung ứng dịch vụ, về cơ sở hạ tầng và đặc biệt là nguồn nhân lực là điều thiết thực và cần kíp lúc này đối với ngành logisitics.

    Xuất nhập khẩu Lê Ánh tự hào là đơn vị đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho ngành logistics thông qua các Khóa học Nghiệp vụ Xuất nhập khẩu thực tế. Chúng tôi đã đào tạo cho hàng nghìn học viên trên cả nước, hỗ trợ việc làm và cung ứng nguồn nhân lực cho nhiều doanh nghiệp logistics lớn.

    Xuất nhập khẩu Lê Ánh – Đào tạo Xuất nhập khẩu số 1 Việt Nam Tham khảo ngay: học kế toán thực hành ở đâu tốt nhất hà nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Logistics
  • Giải Pháp Triệt Để Chống Ngập Úng Cho Hà Nội Và Tận Dụng Nước Mưa Phục Vụ Con Người
  • Kts Võ Trọng Nghĩa: Xanh Hóa Đô Thị Để Giảm Ngập Lụt
  • Dùng Lu Chống Lụt Hay Có Cách Nào Khác?
  • Làm Thế Nào Giảm Thiên Tai Lũ Lụt Miền Trung?
  • Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiến Nghị Về Giải Pháp Đẩy Lùi Tội Phạm Hình Sự Xảy Ra Trong Gia Đình
  • Một Số Vấn Đề Về Tình Hình Tội Phạm Ẩn Của Tội Trộm Cắp Tài Sản Ở Tây Nguyên
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đấu Tranh Với Tội Phạm Kinh Tế
  • Có Biểu Hiện “hành Chính Hóa” Quan Hệ Hình Sự, Tiềm Ẩn Bỏ Lọt Tội Phạm
  • Tội Phạm Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Tài Chính, Ngân Hàng Ở Việt Nam Hiện Nay
  •   Những năm qua, đầu tư xây dựng cảng biển và các công trình hạ tầng kỹ thuật, nhằm tạo thuận lợi thu hút đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh .Tuy nhiên, dịch vụ logistics, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa còn chưa tương xứng với tiềm năng.

      Trong quá trình xây dựng, phát triển khu kinh tế ven biển có sức hấp dẫn, thu hút được nhiều dự án đầu tư, với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đã được đầu tư tương đối đồng bộ, hiện đại. Đồng thời, phát triển việc chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề, tăng thu ngân sách Nhà nước, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Nguyên nhân chủ yếu, các doanh nghiệp chủ yếu là làm hàng gia công và sản xuất xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giầy da nên việc chỉ định giao hàng xuất nhập khẩu đến và đi tại cửa khẩu do đối tác nước ngoài quyết định.

      Với hạ tầng giao thông thuận lợi sẽ có lợi thế khai thác dịch vụ logistics và vận tải đa phương thức cho hàng hóa qua cảng biển. Đại diện lãnh đạo Sở GTVT, cho biết: Việc đầu tư xây dựng hạ tầng cảng biển và dịch vụ cảng biển cần nguồn lực lớn, do đó trong thời gian tới, sở sẽ phối hợp với các sở, ban, ngành, đơn vị tiếp tục rà soát quy hoạch, đẩy mạnh xã hội hóa việc đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển bằng các hình thức ,nguồn vốn tư nhân và vốn ngân sách tập trung đầu tư cho các hạng mục cơ sở hạ tầng công cộng (luồng tàu, đê chắn sóng…).. Ngoài ra, để phát triển dịch vụ logistics, Sở GTVT đã rà soát, xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển lâu dài nhằm tận dụng lợi thế, hoàn thiện hạ tầng cảng biển và mạng lưới giao thông nhằm khai thác hiệu quả cao hơn nữa hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông hiện có, tạo sự đột phá trong phát triển vận tải góp phần giảm chi phí vận tải, phát triển dịch vụ logistics.

      Đại diện lãnh đạo Ban Quản các Khu công nghiệp tỉnh, cho biết: Ban đã làm việc, có văn bản đề nghị các doanh nghiệp hoạt động logistics ưu tiên thực hiện thủ tục hải quan và sử dụng dịch vụ xuất nhập khẩu hàng… Các hãng tàu biển, các chủ đầu tư cảng, các đơn vị hoạt động logicstics nghiên cứu xây dựng đơn giá bảo đảm tính cạnh tranh nhất để giảm tổng chi phí cho doanh nghiệp sao cho khi tham gia xuất nhập khẩu không vượt quá tổng chi phí khi tham gia tại các cảng trên cả nước.

    Bài và ảnh: Xuân Hùng

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ai Giải Bài Toán Logistics Cho Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa
  • Làm Thế Nào Để Cắt Giảm Chi Phí Logistics?
  • Tối Ưu Hóa Chi Phí Logistics Cho Nông Sản
  • Tối Ưu Hoá Chi Phí Logistics Trong Bình Thường Mới (Phần 1)
  • Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Ngành Logistics. Bài 2: Bước Chuyển Đột Phá Trong Đào Tạo
  • Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics Tại Tp. Đà Nẵng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Ngành Dịch Vụ Logistics Việt Nam
  • Giải Pháp Hoàn Thiện Các Quy Định Pháp Luật Về Người Được Trợ Giúp Pháp Lý
  • Top 10 Dịch Vụ Lưu Trữ Đám Mây Tốt Nhất Thế Giới 2022
  • Giải Pháp Lưu Trữ Cho Camera An Ninh & Giám Sát
  • Dell Emc Ra Mắt Giải Pháp Lưu Trữ Và Bảo Vệ Dữ Liệu Mới
  • TP. Đà Nẵng xác định phát triển dịch vụ logistics là một trong những lĩnh vực đặc biệt ưu tiên. Nguồn: internet

    Cũng theo quan điểm của CSCMP, ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.

    Thông thường, đối với phương pháp tính chi phí logistics, giá bán của hàng hóa (G) đến tay người tiêu dùng phải đảm bảo tối thiểu bù đắp các chi phí (C), theo công thức:

    G ≥ C1 + C2 + C3 + C4 + C5 (1)

    Trong đó:

    C1: giá thành sản xuất ra hàng hóa.

    C2: chi phí hoạt động marketing

    C3: chi phí vận tải

    C4: chi phí cơ hội vốn cho hàng tồn trữ

    C5: chi phí bảo quản hàng hóa.

    Chi phí logistics sẽ bao gồm: Clog = C3 + C4 + C5

    Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng để phát triển dịch vụ logistics. Trong những năm qua, ngành vận tải Việt Nam đã có nhiều giải pháp cả từ phía Nhà nước lẫn doanh nghiệp (DN) để thúc đẩy ngành logistics phát triển. Về phía Nhà nước, đã tập trung đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ hơn, giảm phí, giảm thời gian thực hiện các chủ tục hành chính… Về phía DN, đã tập trung phát triển vận tải hàng hóa bằng container, đóng mới các phương tiện, thiết bị có sức chở lớn, tổ chức vận tải đa phương thức…

    Tuy nhiên, dù được xác định là ngành có giá trị gia tăng cao, nhưng thực tế thì mức đóng góp của ngành này vào GDP còn rất khiêm tốn, chỉ từ khoảng 3% đến 4%. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu giải pháp để ngành logistics Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh hơn, đặc biệt là làm sao cho đóng góp của ngành vào GDP càng tăng lên và chi phí của DN ngày càng giảm xuống là vấn đề cốt lõi cần được giải đáp trong thời gian tới.

    Thực trạng ngành logistics tại TP. Đà Nẵng

    Đà Nẵng nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là cửa ngõ giao thông quan trọng của cả miền Trung và Tây Nguyên. Địa phương này cũng là điểm cuối trên tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây đi qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Việt Nam và là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

    Tính đến cuối năm 2022, TP. Đà Nẵng có khoảng 27.168 DN và chi nhánh, văn phòng đại diện đang hoạt động với tổng vốn đăng ký đạt 193,5 ngàn tỷ đồng; doanh thu bán lẻ hàng hóa khoảng 53.200 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa khoảng 1,655 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu khoảng 1,425 tỷ USD. Ngành Giao thông vận tải đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân và DN với doanh thu vận tải đạt khoảng 12.855 tỷ đồng… Thực trạng ngành logistics tại TP. Đà Nẵng trong thời gian qua có thể đánh giá qua một số nội dung sau:

    Thứ nhất, về hạ tầng phục vụ phát triển logistics

    Trong thời gian qua, với những nỗ lực đầu tư về hạ tầng và tập trung phát triển logistics của TP. Đà Nẵng, các loại hình trung tâm logistics với quy mô đa dạng đang dần phát triển và nâng cấp theo hướng mở rộng về quy mô và hiện đại về trang thiết bị và công nghệ. Đáng chú ý, trong năm 2022, Dự án cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi đã thông xe toàn tuyến và đi vào khai thác không chỉ góp phần hoàn thiện tuyến đường bộ cao tốc Bắc – Nam, mà còn đánh thức tiềm năng, thúc đẩy liên kết giao thương, kết nối các khu công nghiệp, nghỉ dưỡng dọc tuyến và có ý nghĩa đặc biệt với phát triển của khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Ngoài ra, tuyến cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi còn góp phần phân luồng giao thông rất hiệu quả để kết nối vận chuyển quốc tế trong khu vực tam giác kinh tế Việt Nam – Lào – Campuchia qua Hành lang kinh tế Đông – Tây đến các cảng biển miền Trung Việt Nam. Từ đó, trở thành động lực thúc đẩy ngành dịch vụ logistics của TP. Đà Nẵng phát triển nhanh hơn.

    Tuy nhiên, phát triển trung tâm logistics tại Đà Nẵng vẫn còn khá nhiều hạn chế, bất cập so với nhu cầu thực tiễn phát triển, cụ thể là: Chưa hình thành trung tâm logistics cấp quốc gia cũng như quốc tế đủ tầm vóc, quy mô để đảm nhiệm vai trò dẫn dắt thị trường và hội tụ DN; Phát triển trung tâm logistics hiện tại chủ yếu là nỗ lực tự thân của khối DN trong khi vai trò của Nhà nước trong định hướng, hỗ trợ và quản lý phát triển trung tâm logistics hạng I và II chưa rõ ràng; Năng lực cung ứng dịch vụ, năng lực cạnh tranh và năng lực kết nối logistics giữa TP. Đà Nẵng với các quốc gia trong khu vực và thế giới còn nhiều hạn chế…

    Bên cạnh đó, giống như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước, hiện nay chi phí vận tải đường bộ còn ở mức cao, chưa tối ưu hóa hoạt động kinh doanh của DN vận tải. Chẳng hạn, theo số liệu từ DN vận tải, trong chi phí vận tải đường bộ, xăng dầu chiếm khoảng 30-35%, phí cầu đường (BOT) bình quân chiếm khoảng 10-15% (tùy theo từng DN vận tải và khu vực vận tải). Như vậy, cần có nghiên cứu, đánh giá tổng thể toàn diện hơn, xét tới các yếu tố lợi ích do BOT đem lại như chất lượng vận tải cao hơn (tốc độ vận chuyển), giảm chi phí khai thác phương tiện… từ đó có định hướng để các DN tận dụng khai thác, tiết giảm chi phí logistics.

    Hiện nay, phần lớn hệ thống kho bãi của các DN cổ phần, tư nhân và liên doanh dành cho cung cấp dịch vụ logistics có quy mô nhỏ, đặc biệt, diện tích kho chứa mới chỉ có khoảng 5,1 ha. Công ty cổ phần Cảng Đà Nẵng là DN có hệ thống hạ tầng kho bãi lớn nhất trên địa bàn thành phố với hơn 280.000m2 tại Cảng Tiên Sa; 200.000m2 tại Trung tâm dịch vụ Logistics Hoà Vang. Như vậy, DN này chiếm thị phần lớn của thị trường dịch vụ logistics của địa phương. Tuy nhiên, so với cầu thị trường và dự báo đến năm 2022 về lĩnh vực này cho thấy, hệ thống kho bãi và dịch vụ logistics của TP. Đà Nẵng vẫn còn thiếu, chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu sản xuất, dự trữ của địa phương và vùng lân cận, mà chưa đáp ứng được nhu cầu vận tải hàng hóa quốc tế ngày một gia tăng qua khu vực Đà Nẵng.

    Thứ hai, về dịch vụ hải quan

    Hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành tuy đã có những bước cải thiện nhưng còn chậm, làm cho thứ bậc cạnh tranh của TP. Đà Nẵng bị sụt giảm. Thực tế cho thấy, rào cản trong quản lý chuyên ngành, nhất là thủ tục kiểm dịch động vật, kiểm tra chất lượng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới kéo dài thời gian thông quan. Ngoài ra, hiện nay, đại lý hải quan vẫn chưa được phép thay mặt chủ hàng (các DN xuất nhập khẩu) tham gia vào kiểm tra chuyên ngành. Nhiều DN không lựa chọn phương tiện vận tải đường sắt, hàng không vì phải qua nhiều thủ tục phức tạp và tốn thời gian thông quan, chi phí cao. Do vậy, khi xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải biển vẫn là ưu tiên, từ đó làm hạn chế năng lực hoạt động của các phương tiện vận tải khác…

    Thứ tư, về hợp tác vùng, liên vùng, hợp tác quốc tế

    Vùng duyên hải miền Trung có diện tích là 49.400 km2, chiếm gần 14,9% diện tích tự nhiên của cả nước bao gồm 09 tỉnh, thành phố, trong đó có 5 địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) và 4 địa phương thuộc Nam Trung Bộ (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận). Về kết cấu hạ tầng, toàn vùng có 6 khu kinh tế, tập trung chủ yếu vào các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, du lịch, lọc hóa dầu; 1 khu công nghệ cao; 37 khu công nghiệp (trong đó có 22 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, diện tích đất đã cho thuê là 5.588 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 42%); 6 cảng hàng không (trong đó có 04 cảng hàng không quốc tế là Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Cam Ranh); 13 cảng biển (trong đó có 07 cảng biển loại I); 14 quốc lộ, đường sắt Bắc Nam, phân bổ khá đều giữa các địa phương, nối liền các đô thị, cơ bản đảm bảo kết nối thông suốt giữa các tỉnh trong Vùng. Tuy nhiên, đến nay, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông kết nối giữa các trục quốc lộ, giữa các điểm nút giao thông với các địa phương trong các tỉnh này vẫn còn hạn chế, dễ bị xuống cấp, chia cắt khi gặp phải bão lũ, giảm khả năng tăng trưởng bao trùm…, từ đó hạn chế tiềm năng phát triển của ngành dịch vụ logistics của TP. Đà Nẵng nói riêng và Vùng duyên hải miền Trung nói riêng.

    Thứ năm, về nguồn nhân lực

    Trong hoạt động của logistics DN, nguồn nhân lực được chia thành 4 cấp bao gồm: (1) Cấp quản trị gồm các nhà lãnh đạo cấp cao như: giám đốc, phó giám đốc logistics; (2) Cấp quản lý và chuyên gia là các nhà lãnh đạo cấp trung như: trưởng phòng logistics; (3) Cấp điều phối và giám sát như tổ trưởng tổ vận chuyển, chuyên viên hoạch định lộ trình vận tải…; (4) Cấp nhân viên – Kỹ thuật như lái xe, đóng gói hàng, điều kiển xe nâng…

    Thực tế hoạt động của ngành dịch vụ logistics tại TP. Đà Nẵng cho thấy, chất lượng đội ngũ nhân viên cung cấp dịch vụ cũng cần phải được xem xét và cải thiện. Hiện nay, giao hàng chặng cuối đem lại khá nhiều giá trị gia tăng cho DN, khiến nhân viên giao hàng lại trở thành nhân tố quan trọng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và quyết định sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng, các DN logistics cần phải đề cao việc đào tạo kỹ năng mềm cho nhân viên giao hàng, từ đó giúp cải thiện chất lượng dịch vụ của DN. Bên cạnh đó, đội ngũ tư vấn lập kế hoạch, tư vấn vận hành chuỗi cung ứng, chuyên gia logistics và quản trị chuỗi cung ứng cũng cần phải được đầu tư cả về số lượng và chất lượng vì hiện nay đội ngũ này cũng không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường…

    Ngoài ra, quy mô đào tạo nguồn nhân lực hiện chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực logistics của các DN tại TP. Đà Nẵng. Phần lớn DN phải tự đào tạo, bồi dưỡng nhân lực logistics thông qua thực tế công việc. Tại TP. Đà Nẵng cũng như khu vực miền Trung – Tây Nguyên hiện vẫn chưa có trường đại học đào tạo nguồn nhân lực riêng cho ngành logistics, chủ yếu lồng ghép vào các ngành như: ngoại thương, quan hệ quốc tế… nên nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho ngành còn rất hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng.

    Định hướng phát triển dịch vụ logistics tại TP. Đà Nẵng

    Đà Nẵng đặt mục tiêu trở thành trung tâm logistics của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, trong đó chú trọng tận dụng các ưu thế của địa phương để phát triển được hệ thống cơ sở hạ tầng logistics đồng bộ, liên thông, đủ năng lực đáp ứng nhu cầu dịch chuyển, xử lý dòng hàng hóa phát sinh của Thành phố, của các tỉnh lân cận và một phần luồng hàng hóa trên hành lang kinh tế Đông – Tây. Cùng với mục tiêu tổng thể đó, TP. Đà Nẵng cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể như:

    Một là, phát triển các trung tâm logistics cấp vùng, địa phương và chuyên dụng bảo đảm cung cấp các dịch vụ logistics đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất trong nước, xuất nhập khẩu của TP. Đà Nẵng và khu vực miền Trung, Tây Nguyên; các trung tâm này có khả năng cung cấp một số dịch vụ logistics cạnh tranh cho luồng hàng hóa quốc tế trung chuyển trên hành lang kinh tế Đông – Tây ra vào cảng biển Đà Nẵng.

    Hai là, dự kiến đến năm 2022, các trung tâm logistics tại địa bàn TP. Đà Nẵng đáp ứng được khoảng 25% về lượng xử lý logistics cho luồng hàng hóa qua cảng biển, đến năm 2025 là 30%, đến năm 2030 là 35%; đến năm 2045 là 55%. Đối với luồng hàng hóa qua cảng hàng không tương ứng là 10%, 15%, 20% và 40%. Đối với luồng hàng hóa đường sắt: năm 2030 là 20% và 2045 là 40%.

    Ba là, phát triển các trung tâm logistics đô thị đáp ứng nhu cầu thu mua, phân phối bán buôn các loại hàng hóa tiêu dùng phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân Thành phố và khu vực lân cận.

    Bốn là, đảm bảo kết nối giao thông đồng bộ giữa cảng biển, cảng hàng không với các đầu mối vận tải hàng hóa, với các trung tâm logistics các loại một cách thông suốt, tạo điều kiện cho luồng hàng hóa trên các tuyến vận tải đa phương thức dịch chuyển được dễ dàng, nhanh chóng với một mức chi phí vận tải và chi phí dịch vụ logistics cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.

    Cùng với các nội dung trên, TP. Đà Nẵng cũng đề ra các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn như sau:

    – Trong giai đoạn từ nay đến năm 2022, sẽ hoàn thành các quy hoạch phát triển ngành dịch vụ logistics và ban hành các chính sách thúc đẩy phát triển ngành logistics, tạo môi trường tốt cho phát triển ngành logistics.

    – Trong giai đoạn từ 2022-2030, xóa bỏ các “nút thắt cổ chai” về cơ sở hạ tầng logistics, sơ bộ xây dựng nền tảng phát triển logistics hiện đại, phát triển mạnh mẽ logistics 3PL, phát triển ngành logistics trở thành một trong các ngành có tỷ trọng GDP đáng kế của thành phố, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thông hiện đại và thương mại điện tử vào cung cấp dịch vụ logistics;

    Trong giai đoạn từ 2031-2045, hoàn thành xây dưng hệ thống logistics hiện đại có cấu trúc rõ ràng, cơ sở hoàn chỉnh và chức năng hoàn thiện, hoàn thành phân phối tài nguyên hợp lý, xây dựng TP. Đà Nẵng thành một thành phố có trung tâm logistics cấp I quốc gia và cấp II của vùng.

    Đề xuất giải pháp

    Đà Nẵng hiện đang xây dựng và triển khai Đề án xây dựng thành phố thông minh, do đó các giải pháp hỗ trợ, mục tiêu của các chính sách nhằm phát triển dịch vụ logistics phải gắn liền với quá trình triển khai thực hiện Đề án này. Trong bối cảnh đó, để thúc đẩy ngành dịch vụ logistics phát triển, nâng sức cạnh tranh cho Thành phố, trong thời gian tới, TP. Đà Nẵng tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

    – Đường bộ: Lập Quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cho phù hợp với tình hình mới, đồng bộ với việc điều chỉnh quy hoạch chung TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045. Xây dựng Dự án Điều tra, khảo sát và xây dựng phương án phân luồng tổ chức giao thông khu vực trung tâm thành phố, trong đó xây dựng mô hình tính toán, đánh giá, phân tích mạng lưới giao thông đô thị trên toàn Thành phố hoặc khu vực, làm cơ sở quy hoạch các trục đường chính, phân bố lại luồng giao thông, cân đối tổng thể mạng lưới giao thông và lộ trình tổ chức giao thông, phân luồng xe, lộ trình đầu tư các trục giao thông, kể cả giao thông trên cao và giao thông ngầm.

    – Đường hàng không: Triển khai thủ tục để đầu tư mở rộng Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng – xây dựng Nhà ga T3. Về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng Đề án xây dựng mô hình đô thị sân bay tại khu vực Sân bay quốc tế Đà Nẵng.

    – Đường thủy: Hiện nay, Chính phủ đã phê duyệt dự án và bố trí một phần vốn để xây dựng Cảng Liên Chiểu để di dời Cảng Tiên Sa vì hiện nay Cảng Tiên Sa khó có thể mở rộng và nâng công suất, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong tương lai, bên cạnh đó TP. Đà Nẵng cần có một cảng để phục vụ nhu cầu phát triển du lịch. Tuy nhiên, trước khi triển khai xây dựng Cảng Liên Chiểu, cần triển khai tính toán, đánh giá một cách thận trọng, khoa học vì khu vực Liên Chiểu được ưu tiên phát triển dịch vụ du lịch…

    – Đường sắt: Cần thực hiện di dời ga đường sắt ra khỏi khu vực nội thị, lồng ghép dự án này vào dự án đầu tư tuyến đường sắt cao tốc Bắc Nam. Khi xây dựng nhà ga mới, cần phải quy hoạch quỹ đất để xây dựng các trung tâm logistics gần khu vực ga, các trung tâm này để có thể được sử dụng chung cho đường bộ, đường thủy và đường hàng không.

    Bên cạnh đó, cần phải quan tâm đến việc mở các chương trình đào tạo, bồi dưỡng trung và ngắn hạn trong nước cũng như quốc tế với kế hoạch hợp tác đào tạo với các chuyên gia hoặc tổ chức nước ngoài tại các quốc gia có dịch vụ logistics phát triển mạnh và hiệu quả để đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

    Thứ ba, về đầu tư công, khuyến khích, thu hút đầu tư ngoài ngân sách.

    Khuyến khích, hỗ trợ các DN vận tải tự nâng cao chất lượng phương tiện – dịch vụ, củng cố và phát triển thương hiệu, từng bước hình thành các DN có đội xe lớn, tập đoàn vận tải có trụ sở chính đặt trên địa bàn Thành phố. Triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng ngành dịch vụ logistics, trong đó tập trung nghiên cứu đề xuất đầu tư các khu logistics chuyên nghiệp như: Khu logistics Hòa Nhơn (Công ty TNHH MTV Cảng Đà Nẵng), Khu logistics trong Khu công nghệ cao (Ban quản lý Khu công nghệ cao thành phố), Khu logistics tại khu vực phía tây Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng (Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng) và phát triển mạng lưới giao thông kết nối Trung tâm logistics. Nghiên cứu đầu tư tuyến kết nối giao thông hướng Đông – Tây qua Sân bay quốc tế Đà Nẵng và nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng để tăng khả năng khai thác của Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng.

    Đẩy nhanh tiến độ các công trình như: Mở rộng hầm lánh nạn Hải Vân, Xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn La Sơn – Túy Loan (giai đoạn 2); nút giao thông Túy Loan trên đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi; Tuyến đường vành đai phía Tây (đoạn từ Quốc lộ 14B đến đường Hồ Chí Minh)… Tiếp tục phối hợp đề xuất các Bộ, ngành Trung ương ưu tiên đầu tư, nâng cấp mở rộng tuyến QL14B, 14G, 14D nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trên hành lang kinh tế Đông Tây…

    Bên cạnh đó, nghiên cứu và thực hiện mục tiêu ưu tiên xây dựng tuyến đường ven biển xuyên suốt toàn vùng. Đây là tuyến đường chiến lược về phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng, gắn với việc quy hoạch xây dựng các đô thị ven biển, hình thành “mặt tiền” của đất nước. Để thực hiện nhiệm vụ này, trong thời gian nhanh nhất, đề nghị Chính phủ xem xét phân bố tỷ lệ “vốn mồi”, còn chủ yếu huy động bằng “cơ chế”, trong đó có chính sách khai thác quỹ đất đô thị. Cần nghiên cứu chính sách đất đai và thuế đặc biệt ưu đãi để phát triển các đô thị trong các khu kinh tế ven biển, có thể nghiên cứu một số chính sách phù hợp sẽ áp dụng trong các đặc khu hành chính – kinh tế.

    Thứ tư, về hợp tác phát triển vùng.

    Triển khai thực hiện Đề án liên kết phát triển mạng lưới hạ tầng giao thông vận tải giữa Đà Nẵng và các địa phương vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Xây dựng trục kinh tế biển thống nhất với 10 tỉnh, thành phố là vùng kinh tế trọng điểm của quốc gia. Cụ thể, tiến hành điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thời kỳ 2022-2030, đồng thời rà soát lại, xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội các tỉnh duyên hải miền Trung phù hợp với không gian kinh tế Vùng. Trên cơ sở đó, mở rộng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thêm 05 tỉnh: Quảng Trị, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận để thống nhất liên kết vùng 10 tỉnh, thành phố vùng duyên hải miền Trung và gắn Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung với Hội đồng đồng Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung phát triển thành trục kinh tế biển thống nhất, gắn kết chặt chẽ với Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ.

    Rà soát quy hoạch chiến lược hệ thống hạ tầng của Vùng, làm rõ theo chức năng, không chồng chéo, không xung đột lợi ích, nhất là không dàn trải đầu tư kém hiệu quả, phân tán nguồn lực về: cảng biển, đường giao thông, sân bay của Vùng. Xây dựng cơ chế phối hợp Vùng trong việc đầu tư sân bay, cảng biển và giao thông kết nối nhằm tránh phân tán nguồn lực (kể cả kêu gọi đầu tư tư nhân) và thiếu gắn kết giữa cảng biển với hệ thống tổ chức logistics, các khu công nghiệp trong Vùng.

    1. Thủ tướng Chính phủ (2018), Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam; 2. Bộ Công Thương (2017, 2022), Báo cáo logistics Việt Nam; 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam; 4. Tổng cục Thống kê (2019), Kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở; 5. UBND TP. Đà Nẵng (2018), Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng logistics TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; 6. Vũ Văn Hiền (2019), Đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Cộng sản; 7. Hai Nam Vu (2019), The strategic development in logistics in Vietnam. European Journal Engineering Research and Science; 8. PwC (2016), The future of the logistics industry, https://www.pwc.com/gx/en/transportation-logistics/pdf/the-future-of-the-logistics-industry.pdf.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Kích Cầu Kinh Tế Của Các Nước Đông Nam Á
  • Tìm Giải Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Tác Động Của Các Giải Pháp Kích Cầu Đối Với Doanh Nghiệp Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Đột Phá Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Nhân Viên Triển Khai Erp: Họ Là Ai?
  • Phát Triển Ngành Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Kinh Doanh Logistics Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • Elsc: Hội Nghị Giải Pháp Doanh Nghiệp Logistics
  • Đẩy Mạnh Và Phát Triển Doanh Nghiệp Logistics Ở Việt Nam
  • Doanh Nghiệp Logistics Với Giải Pháp Công Nghệ Thông Tin
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Logistics Fujifilm (Việt Nam)
  • Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nghiên cứu này trao đổi về triển vọng phát triển của ngành này cũng như đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam.

    Phát triển dịch vụ logistics thành một ngành dịch vụ sẽ đem lại giá trị giá tăng cao, gắn dịch vụ logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại trong nước, phát triển hạ tầng giao thông vận tải và công nghệ thông tin… Phát triển thị trường dịch vụ logistics lành mạnh sẽ tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp (DN) thuộc mọi thành phần kinh tế, khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    Theo Hiệp hội DN dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của ngành logistics tại Việt Nam ở Việt Nam có khoảng những năm gần đây đạt khoảng 14%-16%, với quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm. Tham gia thị trường logistics gồm khoảng 3.000 DN trong nước và khoảng 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới kinh doanh dưới nhiều hình thức. Hiện nay, 30 DN cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam với các tên tuổi lớn như: DHL, FedEx, Maersk Logistics, APL Logistics, CJ Logistics, KMTC Logistics…

    Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Với tốc độ phát triển hàng năm đạt từ 14-16%, đây là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh và ổn định nhất của Việt Nam trong thời gian qua.

    Dự báo, đến hết năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam ước đạt mức 300 tỷ USD, hàng container qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt 67,7 triệu TEU, do vậy, tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam là rất lớn. Trong tương lai không xa, dịch vụ cung cấp logistics sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng, có thể đóng góp tới 15% GDP của cả nước.

    Đặc biệt, thời gian gần đây đã có sự bùng nổ về thương mại điện tử và e-Logistics. Theo Cục Thương mại điện tử và kinh tế số của Bộ Công Thương, thương mại điện tử tăng trưởng 35%/năm; doanh số bán lẻ thương mại điện tử của Việt Nam trong giai đoạn 2022-2020 ước tính tăng 20%/năm và tổng doanh số bán lẻ thương mại điện tử Việt Nam dự kiến đạt 10 tỷ USD vào năm 2022. Những thay đổi trong thương mại điện tử trên thế giới và tại Việt Nam đã thúc đẩy ngành logistics Việt Nam cải thiện phương thức cung cấp dịch vụ ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.

    Cơ hội thúc đẩy phát triển ngành logistics

    Hiện nay, Việt Nam được đánh giá có nhiều cơ hội để thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ Logistics. Cụ thể, hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ, cảng hàng không, cảng biển, kho bãi, hạ tầng thương mại, trung tâm logistics không ngừng được mở rộng với quy mô lớn, rộng khắp. Cùng với đó, các dịch vụ đi kèm đã, đang đáp ứng kịp thời những yêu cầu hết sức đa dạng của thị trường. Các thủ tục, thời gian thông quan đối với hàng xuất khẩu cũng đã cải thiện đáng kể.

    Năm 2022, thời gian thông quan hàng xuất khẩu là 105 giờ, hàng nhập khẩu là 132 giờ. Việt Nam cũng đang đứng thứ 39/160 nước về chỉ số hoạt động logistics và đứng thứ 3 trong ASEAN chỉ sau Singapore và Thái Lan… Những yếu tố này đã tạo điều kiện cho DN phát triển, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu; hình thành nên các chuỗi cung ứng logistics toàn diện, đa dạng và ngày càng chuyên sâu hơn, góp phần quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế.

    Công tác hoàn thiện quy định pháp luật thời gian qua đã được Chính phủ quan tâm. Thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, nhất là việc thực hiện các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đòi hỏi phải có những quy định phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho ngành Dịch vụ logistics phát triển, đẩy mạnh đầu tư trong nước và hợp tác quốc tế.

    Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển ngành Dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. Trong đó, đề ra 06 mục tiêu, 60 nhiệm vụ cụ thể với nhiều giải pháp toàn diện, nhằm đưa ngành này vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước.

    Ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics (có hiệu lực từ ngày 20/02/2018), thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

    Ngày 06/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành Kinh tế Việt Nam và đây là lần đầu tiên Việt Nam có mã ngành logistics riêng (Mã 52292: Logistics). Ngày 18/07/2018, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg về đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm giảm chi phí logistics, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông… Chính phủ đã thể hiện rõ cam kết hỗ trợ, kiến tạo môi trường thuận lợi, để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam.

    Một số thách thức, rào cản

    Ngành logistics nói chung, các DN logistics nói riêng của Việt Nam hiện còn phải đối diện với không ít thách thức, rào cản, cụ thể:

    Hai là, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải còn yếu kém, không đồng bộ, chưa tạo ra hành lang vận tải đa phương thức trong khi nhu cầu trung chuyển chất lượng cao cho hàng hóa giữa các phương thức đang ngày càng lớn. Việt Nam còn thiếu các khu kho vận tập trung có vị trí chiến lược, đồng bộ với hệ thống cảng, sân bay, đường quốc lộ, cơ sở sản xuất; Mất cân đối cung cầu tại các cảng biển miền Nam.

    Thực tế cũng cho thấy, việc kết nối các phương thức vận tải chưa hiệu quả; chưa phát huy tốt các nguồn lực về hạ tầng, con người, thị trường nội địa và khu vực; các trung tâm logistics đóng vai trò kết nối Việt Nam với quốc tế chưa được đầu tư, xây dựng… dẫn đến chi phí logistics còn cao, chiếm 25% GDP (so với các nước phát triển chỉ từ 9 đến 15%) trong đó, chi phí vận tải chiếm 30 đến 40% giá thành sản phẩm (tỷ lệ này là 15% ở các quốc gia khác). Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh dịch vụ, hàng hóa của các DN Việt Nam, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

    Ba là, hoạt động của chính các DN logistics còn nhiều hạn chế cả về quy mô hoạt động, vốn, nguồn nhân lực… Các DN cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam hầu hết là những DN nhỏ và vừa, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics còn manh mún, thiếu kinh nghiệm và chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ cơ bản, hoặc cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ, cạnh tranh về giá là chủ yếu, ít giá trị gia tăng, thường chỉ đóng vai trò là nhà thầu phụ hay đại lý cho các công ty nước ngoài gồm: Dịch vụ logistics chủ yếu mà các DN kinh doanh logistics Việt Nam cung ứng cho khách hàng là dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hóa, giao nhận hàng hóa, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho… còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụ logistics mặc dù có một số DN cung ứng nhưng số lượng không nhiều và chưa được quan tâm phát triển. Bên cạnh đó, còn thiếu sự kết nối giữa DN xuất khẩu và DN logistics do thói quen nhập khẩu CIF và xuất khẩu theo FOB. Khả năng cạnh tranh của các DN nội địa cũng còn thấp so với DN ngoại.

    Bốn là, nguồn nhân lực phục vụ cho dịch vụ logistics chưa qua đào tạo bài bản còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt thiếu các chuyên viên logistics giỏi có năng lực ứng dụng và triển khai tại các DN nghiệp. Trong số các DN nội địa hiện nay, có tới 93 – 95% người lao động không được đào tạo bài bản, chủ yếu làm dịch vụ ở các chuỗi cung ứng nhỏ như: Giao nhận, kho bãi, xử lý vận đơn…

    Giải pháp phát triển ngành logistics

    Theo Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, Việt Nam phấn đấu tỷ trọng đóng góp của ngành Dịch vụ logistics vào GDP đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên. Với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một đầu mối logistics của khu vực, trong thời gian tới cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

    Một là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics. Theo đó, sửa đổi một số quy định, bổ sung về dịch vụ logistics tại Luật Thương mại, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động logistics. Sửa đổi, ban hành mới các chính sách, pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics, vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới. Bao quát toàn diện các dịch vụ logistics, nội luật hóa các cam kết quốc tế về logistics…

    Hai là, ban hành các chính sách hỗ trợ thúc đẩy ngành Dịch vụ logistics phát triển. Theo đó, xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics tại địa phương hiệu quả, phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của từng địa phương. Hỗ trợ DN dịch vụ logistics, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa, thuận lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn trong và ngoài nước, phát triển thị trường, đào tạo, tiếp cận thông tin.

    Ba là, hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics, bằng việc tiếp tục rà soát các quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo tính đồng bộ của hạ tầng giao thông và dịch vụ vận tải với mục tiêu phát triển ngành Dịch vụ logistics. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, cơ cấu sản xuất địa phương gắn với phát triển hạ tầng và dịch vụ logistics, đảm bảo các quy hoạch, kế hoạch về giao thông, vận tải phù hợp với các chiến lược, quy hoạch về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, gắn kết quy hoạch về trung tâm logistics, cảng cạn, kho ngoại quan trong một tổng thể thống nhất. Tăng lưu lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không. Phát triển hệ thống vận chuyển nhằm đáp ứng xu thế phát triển của thương mại điện tử, trong đó chú trọng đến giao hàng chặng cuối.

    Ba là, nâng cao năng lực DN và chất lượng dịch vụ. Cần có cách thức hỗ trợ giúp các DN Việt Nam hiểu rõ và nhận thức đúng về quy trình cung cấp các dịch vụ logistics, đặc biệt là trong quá trình vận tải; Đào tạo có hệ thống nguồn nhân lực có kinh nghiệm và được trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế. Khuyến khích DN trong một số ngành (dệt may, da giày, đồ gỗ, nông sản, cơ khí – chế tạo…) áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trong quá trình sản xuất, kinh doanh, trong đó chú trọng triển khai các hoạt động logistics trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin và các công nghệ mới trong logistics.

    Về phía DN, ngoài nguồn nhân lực cần được nâng cao trình độ ngoại ngữ công nghệ để đáp ứng với việc hội nhập các DN cần đầu tư cơ sở vật chất, nâng cấp và mở rộng hệ thống kho bãi, các trang thiết bị bốc xếp, vận chuyển chuyên dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác; Liên doanh, liên kết với các DN trong và ngoài nước để kết nối, mở rộng mạng lưới dịch vụ trong cả nước và trên thế giới để tạo đầu ra thị trường ngoài nước và nâng cao khả năng chuyên môn của cán bộ để từ đó nâng cao tính cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh.

    Thông qua các hoạt động này nhằm nâng cao năng lực DN, khuyến khích, hướng dẫn DN trong một số ngành áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trong quá trình sản xuất, kinh doanh, trong đó chú trọng triển khai các hoạt động logistics trên nền tảng công nghệ thông tin và các công nghệ mới trong logistics.

    Bốn là, phát triển thị trường dịch vụ logistics. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho dịch vụ logistics thông qua việc đăng cai, tổ chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế về logistics. Tổ chức các đoàn nghiên cứu ra nước ngoài và mời các đoàn DN nước ngoài vào Việt Nam trao đổi cơ hội đầu tư, hợp tác về phát triển dịch vụ logistics. Đẩy mạnh tuyên truyền cho các DN sản xuất, xuất nhập khẩu và thương mại nội địa về việc sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài theo hướng chuyên môn hóa, phân công lao động hợp lý trong chuỗi cung ứng.

    Đặc biệt, tập trung cải thiện cơ sở hạ tầng logistics gắn với thương mại điện tử, kết hợp logistics với thương mại điện tử theo xu hướng phát triển trên thế giới và khu vực. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cho cả DN lẫn cơ quan quản lý để phục vụ sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ logistics.

    Năm là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực logistics. Tiếp tục mở rộng kết nối hạ tầng logistics với các nước trong khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và các khu vực khác trên thế giới nhằm phát huy tác dụng của vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới và quá cảnh. Xây dựng công trình giao thông, kho bãi, trung tâm logistics trên các tuyến đường, hành lang kết nối các cảng của Việt Nam với Lào, Campuchia, Thái Lan và Nam Trung Quốc.

    Đẩy mạnh phát triển loại hình vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới, nhất là đối với hàng hóa quá cảnh. Hình thành các trung tâm logistics ở nước ngoài làm đầu cầu, tập kết và phân phối hàng hóa Việt Nam đến các thị trường quốc tế. Tăng cường liên kết với các hiệp hội và DN dịch vụ logistics khu vực ASEAN và trên thế giới. Vận động thu hút đầu tư xây dựng trung tâm logistics để thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam với thị trường toàn cầu, nhằm hình thành các trung tâm logistics ở nước ngoài làm đầu cầu, tập kết và phân phối hàng hóa Việt Nam đến các thị trường quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ứng Dụng Thương Mại Điện Tử Vào Logistics
  • Khó Khăn ‘chồng Chất’ Khó Khăn, Đâu Là Giải Pháp Cho Ngành Logistics Việt Nam?
  • Tìm Giải Pháp Phát Tiển Logistics Việt Nam
  • Logistics Xanh Tại Các Doanh Nghiệp
  • Phát Triển Hệ Thống Logistics Xanh Ở Việt Nam
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Dịch Vụ Trường Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Review Công Ty Cổ Phần Giải Pháp First Trust Việt Nam Tháng 01/2021
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Điện Tử Việt Hồng Quang Tuyển Dụng Vị Trí Junior System Engineer
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Hệ Thống Iss Việt Nam
  • Tuyển Dụng Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Hóa Đơn Điện Tử Việt Nam Tuyển Nhân Viên Lập Trình (Junior, Developer.net)
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ 2Hts Việt Nam
    1. Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác
    2. Phá dỡ
    3. Chuẩn bị mặt bằng
    4. Lắp đặt hệ thống điện
    5. Lắp đặt hệ thống cấp, thoát nước, lò sưởi và điều hoà không khí
    6. Lắp đặt hệ thống xây dựng khác
    7. Hoàn thiện công trình xây dựng
    8. Hoạt động xây dựng chuyên dụng khác
    9. Đại lý, môi giới, đấu giá
    10. Bán buôn nông, lâm sản nguyên liệu (trừ gỗ, tre, nứa); và động vật sống
    11. Bán buôn đồ uống
    12. Bán buôn sản phẩm thuốc lá, thuốc lào
    13. Bán buôn vải, hàng may sẵn, giày dép
    14. Bán buôn đồ dùng khác cho gia đình
    15. Bán buôn máy vi tính, thiết bị ngoại vi và phần mềm
    16. Bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông
    17. Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy nông nghiệp
    18. Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác
    19. Bán buôn kim loại và quặng kim loại
    20. Bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng
    21. Bán lẻ lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, thuốc lào chiếm tỷ trọng lớn trong các cửa hàng kinh doanh tổng hợp
    22. Bán lẻ máy vi tính, thiết bị ngoại vi, phần mềm và thiết bị viễn thông trong các cửa hàng chuyên doanh
    23. Bán lẻ thiết bị nghe nhìn trong các cửa hàng chuyên doanh
    24. Bán lẻ vải, len, sợi, chỉ khâu và hàng dệt khác trong các cửa hàng chuyên doanh
    25. Bán lẻ đồ ngũ kim, sơn, kính và thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng trong các cửa hàng chuyên doanh
    26. Bán lẻ đồ điện gia dụng, giường, tủ, bàn, ghế và đồ nội thất tương tự, đèn và bộ đèn điện, đồ dùng gia đình khác chưa được phân vào đâu trong các cửa hàng chuyên doanh
    27. Bán lẻ sách, báo, tạp chí văn phòng phẩm trong các cửa hàng chuyên doanh
    28. Bán lẻ hàng may mặc, giày dép, hàng da và giả da trong các cửa hàng chuyên doanh
    29. Bán lẻ thuốc, dụng cụ y tế, mỹ phẩm và vật phẩm vệ sinh trong các cửa hàng chuyên doanh
    30. Bán lẻ theo yêu cầu đặt hàng qua bưu điện hoặc internet
    31. Vận tải hành khách đường bộ khác
    32. Vận tải hàng hóa bằng đường bộ
    33. Kho bãi và lưu giữ hàng hóa
    34. Xuất bản phần mềm
    35. Lập trình máy vi tính
    36. Tư vấn máy vi tính và quản trị hệ thống máy vi tính
    37. Cổng thông tin
    38. Hoạt động cấp tín dụng khác
    39. Hoạt động tư vấn quản lý
    40. Kiểm tra và phân tích kỹ thuật
    41. Nghiên cứu thị trường và thăm dò dư luận
    42. Hoạt động thiết kế chuyên dụng
    43. Cho thuê xe có động cơ
    44. Cho thuê máy móc, thiết bị và đồ dùng hữu hình khác
    45. Hoạt động dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác còn lại chưa được phân vào đâu

    Các bài viết mới

    Các tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Tin Học Damsan Việt Nam
  • Thiết Bị Lọc Khói Tĩnh Điện
  • Tuyển Nhân Viên Vận Hành Hệ Thống Tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ Ami Việt Nam
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam
  • Đẩy Mạnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Lực Và Hiệu Quả Hơn
  • Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Giải Pháp Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Chúng Tôi
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Quảng Cáo Mặt Trời Mọc
  • Thiết Kế Website Chuẩn Marketing & Giải Pháp Digital Marketing
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Sóng Nam
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Sức Khỏe
  • * Lưu ý:

      Các thông tin trên chỉ mang tính tham khảo!

    Thông tin Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Giải Pháp Quốc Tế hiện có thể đã thay đổi!

      Để liên hệ với Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Giải Pháp Quốc Tế ở Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, quý khách vui lòng

    gọi điện đến số điện thoại của công ty: 9270184 hoặc đến trực tiếp địa chỉ Tập thể 12A Lý Nam Đế, Phường Hàng Mã, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

      Ngoài ra, quý khách có thể liên hệ với ông/bà Vũ Hữu Lợi tại địa chỉ Khu tập thể 12A Lý Nam Đế-Phường Hàng Mã-Quận Hoàn Kiếm-Hà Nội để được hỗ trợ.

    Thông tin trên được cập nhật tự động từ Tổng cục thuế bởi chúng tôi – website tra cứu thông tin doanh nghiệp, tra cứu thông tin công ty, tra cứu mã số thuế nhanh chóng và chính xác nhất!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rủi Ro Đầu Tư Nhà Trọ Tiến Phát. Hướng Dẫn Đánh Giá Cho Nhà Đầu Tư Mới Bắt Đầu.
  • Tuyển Công Nhân Điện Nước Công Nghiệp
  • Giới Thiệu Cổ Phần Giải Pháp Nhân Lực Revup Bình Dương
  • Dịch Vụ Tuyển Dụng Nhân Sự – Giải Pháp Tìm Kiếm Nhân Sự Chuyên Nghiệp Nhất
  • Giải Pháp Mạng Cho Công Ty.
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Marketing Online Tại Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Bbu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Wifi Marketing Tối Ưu Dành Cho Khách Sạn, Resort
  • Giải Pháp Hoàn Thiện Chính Sách Marketing Công Ty Du Lịch Lữ Hành!
  • Đề Tài Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Tại Trung Tâm Du Lịch Quốc Tế Ngôi Sao Mới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Tại Công Ty Cổ Phần Di Lịch Thương Mại Và Đầu Tư
  • Hoàn Thiện Chiến Lược Marketing Du Lịch Nhằm Thu Hút Du Khách Quốc Tế Đến Việt Nam
  • 1.1. Lý do chọn đề tài

    Qua những con số trên, ta nhận thấy rằng Internet ngày càng phát triển mạnh mẽ và có sức ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế. Các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng chú trọng và đầu tư hơn vào Internet để có thể tiếp cận với một lượng lớn khách hàng cũng như đối tác.

    Mặc dù chỉ mới thành lập năm 2013, nhưng trong những năm gần đây xuất phát từ nhu cầu chung, Công ty Cổ phần XNK BBU đã tận dụng lợi thế của mình khi áp dụng hoạt độngMarketing Online vào việc giới thiệu dịch vụ, quảng bá thương hiệu, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến … với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Với mục đích tìm hiểu hoạt động Marketing Online mà Công ty Cổ phần XNK BBU đang áp dụng, từ đó có thể phân tích thế mạnh, điểm yếu của các công cụ để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả và khai thác hết tìm năng của nó, đó là lý do tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp Marketing Online tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu BBU” làm đề tài thực tập cho mình.

    1.2. Mục đích của đề tài

    Mục đích của đề tài là tìm hiểu thực trạng của hoạt động Marketing Online đồng thời từ đó phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động Marketing Online tại Công ty Cổ phần XNK BBU. Qua đó, nắm rõ hơn điểm mạnh, điểm yếu và đề ra những giải pháp để có thể hoàn thiện hơn cho hoạt độngtrong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Công ty

    Hiểu rõ khái niệm và tầm quan trọng của Marketing Online trong các Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của Smartphone và Internet.

    Phân tích và đánh giá được thực trạng hoạt động Marketing Online và giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả chiến dịch Marketing Online trong việc quảng bá thương hiệu và tăng doanh số bán hàng.

    1.3. Ý nghĩa thực tiễn

    Làn sóng công nghệ số đang phát triển nhanh chóng và có tác động mạnh mẽ tới tất cả doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc tiếp nhận và ứng dụng hiệu quả các công nghệ này là cách thức đi tắt, đón đầu đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh.

    Với tính cấp thiết của đề tài này, sẽ mang lại một cái nhìn rõ hơn về tầm quan trọng của Marketing Online trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời sẽ định hướng hoạt độngphát triển dài hạn và có hiệu quả trong tương lai cho các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay khi mà có tới 95% doanh nghiệp sử dụng Internet nhưng chỉ có một số ít áp dụng Marketing Online vào kinh doanh có hiệu quả

    1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

    Nghiên cứu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn khách hàng, nhà cung cấp, đối tác làm ăn cung cấp sản phẩm, dịch vụ của khách hàng, từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp cho hoạt động Marketing Online của Công ty.

    1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

    Về thời gian: Đề tài nghiên cứu về Công ty Cổ phần XNK BBU được thực hiện trong thời gian từ 11-04-2017 đến 11-06-2017.

    Về không gian: Chuyên đề này được tôi thực hiện trong quy mô một doanh nghiệp. Cụ thể là Công ty Cổ phần XNK BBU tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Về vấn đề cần nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về thực trạng của hoạt động Marketing Online tại Công ty Cổ phần XNK BBU và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing tại Công ty.

    1.5. Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp nghiên cứu được thực hiện qua nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.

    Nghiên cứu định tính

    Từ cơ sở lý luận bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện và đưa ra bảng câu hỏi điều tra, khảo sát. Quan sát trực tiếp các kênh Marketing Online của công ty, xem xét những phản hồi của khách hàng trên các công cụ Marketing Online của công ty.

    Nghiên cứu định lượng

    Nghiên cứu tại bàn: sử dụng các nguồn dữ liệu thứ cấp bên trong và bên ngoài Công ty. Nguồn dữ liệu thứ cấp bên trong là những báo cáo tài chính như doanh thu từ năm 2014 đến 2022, quy trình thực hiện của các công cụ Marketing Online.

    Điều tra, khảo sát: chủ yếu là tiến hành khảo sát, điều tra các khách hàng đã mua, sử dụng qua sản phẩm của Công ty Cổ phần XNK BBU. Số mẫu là 100 khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ đào tạo của Công ty Cổ phần XNK BBU tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các câu hỏi khảo sát được gửi qua email khách hàng.

    Đề tài sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu sau: thống kê mô tả với phần mềm hỗ trợ Excel 2010.

    1.6. Bố cục đề tài

    Giới thiệu tổng quan, bao quát về đề tài nghiên cứu, lý do chọn đề tài cũng như các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong chuyên đề báo cáo

    Chương 2. Cơ sở lý luận về Marketing Online

    Trình bày các khái niệm về Marketing Online, là cơ sở, nền tảng cho việc đánh giá và phân tích các hoạt động Marketing Online của Doanh nghiệp

    Chương 3. Phương pháp tiến hành nghiên cứu

    Trình bày các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong bài báo cáo, phân tích và đánh giá từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing Online

    Chương 4. Phân tích và đánh giá hoạt động Marketing Online tại Công ty Cổ phần XNK BBU

    Giới thiệu về Công ty, đánh giá về hoạt động kinh doanh của công ty, phân tích thực trạng, đưa ra những điểm tồn tại trong hoạt động Marketing Online

    Chương 5. Kết luận, giải pháp và kiến nghị

    Đưa ra định hướng về hoạt động Marketing tại Công ty Cổ phần XNK BBU trong tương lai, nêu ra giải pháp giải quyết các mặt còn tồn tại của công ty đồng thời kiến nghị giải quyết các vấn đề và đưa ra kết luận.

    2.1. Khái niệm

    2.1.1. Marketing

    Marketing không có khái niệm thống nhất hoặc cuối cùng nào vì nó tùy thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của mỗi nước trên thế giới. Dù hoạt động Marketing đã xuất hiện từ rất lâu trước đây nhưng khái niệm chỉ hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 20. Trải qua một quá trình dài hình thành và phát triển, khái niệm Marketing ngày càng được hoàn thiện hơn.

    Theo Phillip Kotler:

    “Marketing là những hoạt động của con người hướng vào việc đáp ứng những nhu cầu và ước muốn của người tiêu dùng thông qua quá trình trao đổi”.

    Khái niệm này được trình bày dưới dạng triết lý, phương châm của con người. ông xác định rõ ý tưởng cội nguồn của Marketing là nhu cầu và ước muốn và nội dung cơ bản của Marketing là sự trao đổi giá trị. Vì vậy, Marketing cần cho tất cả mọi người.

    Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ AMA (America Marketing Associate) năm 1985:

    “Marketing là một quá trình lập ra kế hoạch và thực hiện các chính sách về sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của hàng hóa, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động trao đổi nhằm thỏa mãn mục đích của các tổ chức hoặc cá nhân”.

    Khái niệm này tiếp cận theo quan điểm chức năng Marketing, khi nói đến Marketing là nói đến 4P, đây cũng là cách tiếp cận của một số giáo trình về Marketing tại Việt Nam vì nó mang ưu điểm là đơn giản và hướng dẫn thực hiện cao. Cách tiếp cận lại phù hợp với quy trình quản trị Marketing mà Philip Korler đưa ra.

    Khái niệm của GS. Vũ Thế Phú:

    “Marketing là toàn bộ những hoạt động của doanh nghiệp nhằm xác định nhu cầu chưa được thỏa mãn của người tiêu dùng, để tìm kiếm các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có thể sản xuất được, tìm cách phân phối chúng đến những địa điểm thuận lợi với giá cả và thời điểm thích hợp nhất cho người tiêu thụ.”

    Khái niệm này có ưu điểm là rõ ràng, dễ hiểu, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhu cầu thị trường và chỉ rõ các nội dung chính của hoạt động Marketing. Đồng thời khái niệm này phù hợp với quan điểm kinh tế cũng như tình tình kinh doanh hiện tại ở nước ta.

    Một số khái niệm khác:

    “Marketing là hoạt động kinh tế trong đó hàng hóa được đưa từ người sản xuất đến người tiêu dùng.” (Học việnHamilton, Hoa Kỳ)

    “Marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làm định hướng”. (I. Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu marketing của Liên Hiệp Quốc)

    Từ các định nghĩa về Marketing của các nhà khoa học hay Các Hiệp hội Marketing quốc tế, về cơ bản, Marketing có thể được hiểu như là một quá trình đem đến những giá trị về sản phẩm cũng như dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thông qua đó công ty có thể thu về lợi nhuận. Bên cạnh đó Marketing còn là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng, giúp doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng, từ đó tạo dựng được lòng trung thành của họ đối với sản phẩm của doanh nghiệp.

    2.1.2. Chiến lược Marketing

    Theo Phillip Kotler chiến lược Marketing là hệ thống lập luận logic, hợp lý chỉ đạo một đơn vị, tổ chức tính toán cách thức thực hiện các hoạt động Marketing của mình, nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với thị trường mục tiêu, và mức chi phí cho Marketing. Chiến lược Marketing phải xuất phát từ chiến lược tổng thể của công ty. Xây dựng chiến lược Marketing nhằm hiện thực hóa chiến lược tổng thể.

    Chiến lược Marketing là cách mà doanh nghiệp thực hiện để đạt được mục tiêu Marketing. Chiến lược Marketing thường được định hình bằng các mục tiêu kinh doanh. Con đường mà tổ chức dự định đi để đến được mục tiêu thì gọi là chiến lược Marketing. Tất cả mọi chiến lược marketing được vạch ra không phải chỉ nhằm tạo ra doanh số, mà nhằm để tạo ra lợi nhuận đồng thời là cách quảng bá thương hiệu một cách hiệu quả.

    2.1.3. Digital Marketing

    Một số khái niệm về Digital Marketing:

    “Digital Marketing là chiến lược dùng Internet làm phương tiện cho các hoạt động marketing và trao đổi thông tin” theo Asia Digital Marketing Association.

    “Digital Marketing là việc thực thi các hoạt động quảng bá sản phẩm và dịch vụ bằng cách sử dụng các kênh phân phối trực tuyến định hướng theo cơ sở dữ liệu nhằm mục đích tiếp cận khách hàng đúng thời điểm, đúng nhu cầu, đúng đối tượng với mức chi phí hợp lí” theo Ared Reitzin, CEO – mobileStorm Inc.

    “Digital Marketing là việc sử dụng công nghệ số, Internet vào việc quảng bá và sản phẩm của mình, bằng mọi cách đưa sản phẩm và thương hiệu của mình đến với người dùng. Sử dụng triệt để các hình thức Marketing Online để đẩy thương hiệu và sản phẩm của mình đi xa hơn nữa trong tương lai”.

    Điều này cũng có nghĩa, MarketingOnline cũng chính là một bộ phận của Digital Marketing.

    2.1.4. Marketing Online

    Marketing online là một hình thức tiếp thị dựa vào môi trường kết nối mạng toàn cầu Internet, thông qua các thiết bị thông minh như laptop, Smartphone, Ipad… Trong khi các kênh tiếp thị truyền thống có chi phí cao và ngày càng không hiệu quả thì tiếp thị trực tuyến lại phát triển nhanh nhờ chi phí thấp, hiệu quả cao.

    Marketing online ứng dụng công nghệ mạng máy tính, các phương tiện điện tử vào việc nghiên cứu thị trường, hỗ trợ phát triển sản phẩm, phát triển các chiến lược và chiến thuật marketing… nhằm mục đích cuối cùng là đưa sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đến người tiêu dùng một cách nhanh chóng và hiệu quả.

    2.1.4.1. Website

    Hiện này, website là công cụ kinh doanh hàng đầu cho mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu kế hoạch Marketing Online đồng thời nó còn đóng vai trò kênh truyền thông cho doanh nghiệp. Website mang lại những lợi thế khác biệt và được xem như làn nền tảng quan trọng cho một doanh nghiệp kinh doanh online. Vì vậy, xây dựng website cho công ty là một việc đầu tiên của mỗi kế hoạch kinh doanh và là khởi đầu thành công cho một chiến lược Marketing Online.

    Các loại hình website thường gặp: trang web giới thiệu, quảng bá dịch vụ sản phẩm, website thương mại điện tử, website giải trí, tin tức, đấu giá… Tùy vào sản phẩm, dịch vụ cung cấp mà doanh nghiệp cần lựa chọn loại website cho phù hợp. Website là một kênh thông tin dựa vào nền tảng Internet dùng để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp… đến với người tiêu dùng.

    Nội dung Website sử dụng sức mạnh của Internet để kết nối doanh nghiệp và khách hàng lại với nhau, chia sẻ thông tin, cung cấp công cụ quản lý, tương tác giữa những người dùng trên Internet.

    2.1.4.3. SEM (Search Engine Marketing)

    SEM chính là sự tổng hợp của nhiều phương pháp tiếp thị Internet marketing nhằm mục đích giúp cho trang web của bạn đứng ở vị trí như bạn mong muốn trong kết quả trên mạng Internet tìm kiếm.

    SEO (Search Engine Optimization): Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm là quy trình tối ưu hóa tìm kiếm web nhằm tăng lượng truy cập đến trang web từ các bộ máy tìm kiếm. SEO sử dụng các công cụ web để đưa thông tin công ty, sản phẩm, dịch vụ… của công ty lên top công cụ tìm kiếm, ở nước ta hiện nay mọi người thường sử dụng các công cụ tìm kiếm như: Google, Bing, Yahoo, Yandex… Mục tiêu của SEO là đưa trang web lên hàng đầu trong kết quả tìm kiếm theo một số từ khóa cụ thể.

    Mỗi doanh nghiệp đều có đối tượng khách hàng, thị trường mục tiêu, mục tiêu kinh doanh khác nhau, vì thế lựa chọn những từ khóa (Key words), phương pháp để thông tin hay Website của doanh nghiệp luôn được ở top đầu trong danh sách của công cụ tìm kiếm.

    Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều lựa chọn chúng tôi để triển khai SEO, nguyên nhân là do gần 90% người dùng Internet trên toàn cầu sử dụng Google và Google cũng tích hợp nhiều tính năng cho phép các chủ website triển khai và đo lường sự hiệu quả của SEO.

    2.1.4.4. Thư điện tử E-mail Marketing

    Loại thứ nhất thư điện tử được gửi từ công ty tới người sử dụng nhằm mục đích quảng bá sản phẩm – dịch vụ nhằm thúc đẩy khả năng mua của khách hàng

    Loại thứ hai là thừ các kênh ngược lại: từ người tiêu dùng tới các công ty. Người dùng mong muốn nhận được một sự gợi ý và những câu trả lời đầy đủ cho những câu hỏi của họ.

    Cuối cùng là thư điện tử từ người tiêu dùng đến người tiêu dùng, hình thức này thường được sử dụng để hỗ trợ các công ty Marketing.

    2.1.4.5. Social Media Marketing

    Mạng xã hội là nơi kết nối bạn bè, gia đình hay những người có chung sở thích trên Internet với nhiều mục đích khác nhau, mọi người có thể chia sẻ thông tin về video, hình ảnh, các thông tin cá nhân mà không hề phân biệt không gian và thời gian.

    Giá trị cốt lõi của mạng xã hội là sự tham gia của rất nhiều thành viên, hiện nay nó đã hình thành các cộng đồng trực tuyến g

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing, Rất Hay
  • Đề Tài: Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Trực Tuyến Của Khách Sạn, Hay
  • ” Bỏ Túi Ngay ” 11 Giải Pháp Hoàn Thiện Marketing Online 2022 Hiệu Quả
  • Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Trực Tuyến Tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ
  • Giải Pháp Hoàn Thiện Marketing Online
  • Tập Trung Các Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Để Phát Triển Logistics
  • Phần Ẩn Của Tội Phạm Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản Và Một Số Giải Pháp Đấu Tranh Phòng Chống
  • Mỹ Lo Ngại Xuất Hiện ‘tội Phạm Ẩn’ Trong Dịch Covid
  • “nóng” Các Giải Pháp Đối Phó Với Loại “tội Phạm Ẩn”
  • Tội Phạm Giảm Nhưng Vẫn Tiềm Ẩn Nguy Cơ Ảnh Hưởng Đến An Ninh Trật Tự
  • Trước đó, báo Đấu thầu ngày 18/9/2017 có phản ánh: chúng tôi Đặng Đình Hào, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển cho rằng logistics là dịch vụ tổng hợp, mang tính liên ngành, cần thành lập Ủy ban Logistics quốc gia để bảo đảm sự thống nhất trong quản lý cũng như sự nhất quán giữa các quy định của pháp luật.

    Đa số doanh nghiệp logistics Việt Nam đang có xu hướng chuyển phần lớn hoạt động và nguồn thu sang lĩnh vực nhận đại lý cho các hãng nước ngoài, trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 2% trong tổng số trên 1.000 doanh nghiệp logistics.

    Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương tập trung triển khai, đôn đốc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển dịch vụ logistics được phê duyệt tại Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 ban hành kèm theo Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/2/2017 của Thủ tướng Chính phủ; khẩn trương nghiên cứu kiến nghị tại bài báo nêu trên để xử lý theo quy định; báo cáo Thủ tướng Chính phủ những nội dung vượt thẩm quyền.

    “Vượt rào” phòng vệ thương mại: Doanh nghiệp phải hợp lực để thành công

    Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dự báo, thời gian tới, việc gia tăng các rào cản …

    APEC 2022: Nâng cao hợp tác công – tư về dịch vụ

    Ngày 23/2, tại Nha Trang (Khánh Hòa), Bộ Công Thương phối hợp với Ban Thư ký Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái …

    Ký kết chương trình phối hợp đầu tư phát triển dịch vụ logistics vùng ĐBSCL

    Dịch vụ logistics phát triển mạnh mẽ, chuyên nghiệp sẽ giúp giảm giá thành hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Phát Triển Các Dịch Vụ Logistics Rất Hay
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Logistics
  • Fpt Đề Xuất Giải Pháp Tối Ưu Chi Phí Logistics Chuỗi Giá Trị Nông Sản
  • Nghiên Cứu Những Giải Pháp Nhằm Tối Ưu Hóa Chi Phí Logistics Cho Các Doanh Nghiệp Cung Cấp Dịch Vụ Logistics Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội
  • Tối Ưu Hóa Chi Phí Logistics Để Tăng Sức Cạnh Tranh Cho Nông Sản Việt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100