Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Đảng

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Về Tập Trung Dân Chủ 2
  • Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ
  • Hiệu Trưởng”vận Dụng Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quản Lý Trường Tiểu Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Và Hiệu Quả Giáo Dục Đào Tạo.
  • Những Biến Dạng Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Các Giải Pháp Về Xử Lý Rác Thải Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ngãi
  • (TGAG)- Việc giữ vững và tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ (TTDC) một cách đúng đắn và nghiêm ngặt có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy mà Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách…”.

    Nguyên tắc TTDC của Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất ở việc thực hành nguyên tắc này “Nghĩa là có việc gì thì ai cũng được được bàn, cũng phải bàn. Khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được. Ấy là dân chủ. Đã bỏ thăm rồi, thì giao cho hội ủy viên làm, khi ấy thì tất cả hội viên phải tuân theo mệnh lệnh hội ấy. Ấy là tập trung. Ai không nghe lời thì ủy viên hội có quyền phạt”. Hồ Chí Minh còn cho rằng: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành, lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và kỷ luật”.

    Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. Nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả không ai thi hành.

    Vì lẽ đó, cho nên lãnh đạo cần phải tập thể, mà phụ trách cần phải cá nhân. Lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau.

    Nhưng cũng có những việc bình thường, một người có thể giải quyết thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết. Những việc quan trọng, mới cần tập thể quyết định.

    Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung. Làm mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung.

    Về khái niệm, trong những tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các bản Điều lệ của Đảng có khi ghi là “dân chủ tập trung”, có khi lại ghi là “tập trung dân chủ”. Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua tháng 10-1930, Điều lệ Đảng do Đại hội I (3-1935) và Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam (2-1951) đều ghi là “dân chủ tập trung”, nhưng từ Đại hội III của Đảng tới nay thì lại ghi là “tập trung dân chủ”.

    Tuy rằng có sự khác nhau trong cách nói, cách viết, song xét về nội dung thì dù gọi là “dân chủ tập trung” hay “tập trung dân chủ” thì đều có nội hàm giống nhau. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó đã được ghi trong Chương II, điều 9 – Điều lệ Đảng: “Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.

    Nguyên tắc TTDC là sự kết hợp hài hòa giữa hai mặt tập trung và dân chủ. Cả hai mặt tập trung và dân chủ tạo thành chỉnh thể thống nhất của một nguyên tắc. Dân chủ là điều kiện, là tiền đề của tập trung; cũng như tập trung là cơ sở, là cái bảo đảm cho dân chủ được thực hiện. Không được nhấn mạnh một chiều tập trung hay dân chủ hoặc càng không được đối lập giữa hai mặt tập trung và dân chủ với nhau. Vì rằng, trong tập trung chân chính đã chứa đựng dân chủ và trong dân chủ đúng đắn đã có tập trung. Do đó, dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, kỷ cương chặt chẽ. Tập trung không trên cơ sở dân chủ sẽ dẫn đến tập trung quan liêu, độc đoán, gia trưởng; dân chủ không đi đôi với tập trung sẽ dẫn đến dân chủ vô chính phủ, tự do, tùy tiện, làm Đảng mất sức mạnh. Có thể nói nguyên tắc TTDC là mắc xích quan trọng nhất, là điều kiện tồn tại của Đảng cầm quyền.

    Những nguyên tắc và điều kiện trên đã được kiểm nghiệm, chứng minh trong suốt quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng, cả trong khi chưa có chính quyền cũng như trong điều kiện Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Thành tựu to lớn và cả những sai lầm khuyết điểm nghiêm trọng của phong trào cộng sản quốc tế suốt trong lịch sử ra đời và phát triển cho tới ngày nay, càng chứng minh ý nghĩa khách quan và vai trò quyết định của nguyên tắc TTDC. Đánh giá thấp và phủ nhận nguyên tắc TTDC với tính cách là nguyên tắc xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước thực chất là biến Đảng từ một tổ chức thống nhất về chính trị, tư tưởng và hành động, có sức chiến đấu cao của những người có chung một lý tưởng cộng sản và hoài bão phục vụ nhân dân thành một kiểu câu lạc bộ tranh cãi suông, chia rẽ và đối lập; biến Nhà nước của nhân dân thành nơi tranh giành quyền binh của các thế lực thù địch.

    Ngày nay, Đảng ta đang lãnh đạo Nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, điều đó đòi hỏi Đảng phải luôn tự đổi mới, tăng cường công tác xây dựng đảng để đáp ứng với nền kinh tế và cơ chế mới. Những chuyển biến tiến bộ về thực hiện nguyên tắc TTDC được thể hiện qua:

    – Dân chủ trong Đảng và dân chủ trong xã hội có bước khởi sắc. Việc bầu cử trong Đảng, các đoàn thể và cơ quan dân cử cũng như phong cách lãnh đạo của Đảng có tiến bộ.

    – Dân chủ trong công các tổ chức và cán bộ: đánh giá, tuyển chọn, đề bạt cán bộ được tiến hành công khai, dân chủ, tập thể hơn. Công tác cán bộ được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Tình trạng tùy tiện, cục bộ địa phương, mất đoàn kết nội bộ được chấn chỉnh kịp thời, những tổ chức và cá nhân vi phạm đã được xử lý thích đáng.

    – Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đã có chuyển biến rõ rệt trong đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế: đề ra nhiều chủ trương, chính sách về đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng đảng…; bước đầu hình thành một hệ thống quan điểm về quá độ lên CNXH ở nước ta. Sự chuyển hướng này có ý nghĩa hết sức quan trọng để Đảng giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Đại hội XII của Đảng cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong thực hành, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong những năm qua: Nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật còn tồn tại ở nhiều nơi. “Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(1).

    Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân” (2). Điều đó khẳng định bản chất dân chủ thực sự của Nhà nước ta./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng, Chống Bạo Lực, Xâm Hại Trẻ Em
  • Giải Pháp Phòng Chống Xâm Hại Trẻ Em: Tránh Góc Khuất
  • Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em: Rõ Trách Nhiệm Để Có Giải Pháp Đúng
  • Rà Soát, Tăng Cường Các Giải Pháp Phòng Ngừa Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Những Giải Pháp Phòng Ngừa Xâm Hại Trẻ Em
  • Thực Hiện Nghiêm Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đảng Bộ Quận 9Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Các Tổ Chức Cơ Sở Đảng
  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Giải Pháp Nước Uống Văn Phòng
  • Giải Pháp Lọc Nước Uống Trực Tiếp
  • Giải Pháp Lọc Nước Uống Văn Phòng Tiết Kiệm 30
  • Các đại biểu bỏ phiếu thực hiện quy trình công tác giới thiệu nhân sự quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, nhiệm kỳ 2022-2026.

    Xác định rõ tầm quan trọng đó, thời gian qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh và cấp ủy các cấp đã thực sự coi trọng công tác xây dựng Đảng, tập trung xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; quán triệt sâu sắc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, thực hiện nghiêm túc kiểm điểm tự phê bình và phê bình hằng năm. Trong đó, Tỉnh uỷ đã quyết liệt chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền các cấp trong tỉnh đặc biệt chú trọng xây dựng quy định, quy chế nội bộ, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao. Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng, xác định rõ thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác, trách nhiệm tập thể và thẩm quyền cá nhân, trách nhiệm người đứng đầu được đẩy mạnh. Nhất là chú trọng tăng cường phân cấp ở một số lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm, dễ nảy sinh tiêu cực, như chi tiêu tài chính, nhiệm vụ đầu tư, quản lý dự án, quản lý biên chế, công tác tuyển dụng, sử dụng công chức, viên chức và bổ nhiệm cán bộ…

    Để nâng cao tập trung dân chủ trong Đảng, thời gian qua, công tác thanh, kiểm tra, giám sát trong Đảng cũng được đặc biệt quan tâm. Theo đó, bên cạnh chú trọng kiện toàn, nâng cao chất lượng, bổ sung cán bộ có nghiệp vụ sâu trong công tác kiểm tra, giám sát, cấp uỷ cũng thống nhất chương trình kiểm tra, thanh tra, giám sát của cả hệ thống chính trị, theo hướng: Cấp uỷ tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện chức trách, nhiệm vụ, nhất là trách nhiệm người đứng đầu; thanh tra tập trung vào lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực; cơ quan dân cử – HĐND giám sát đột xuất, thường xuyên việc thực hiện các chủ trương, chính sách ngay từ khi ban hành các nghị quyết; MTTQ, các đoàn thể chính trị – xã hội thực hiện giám sát trực tiếp, thường xuyên tập trung vào việc thực hiện chế độ công chức, công vụ tại các trung tâm hành chính công, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại các phường, xã, thị trấn…

    Cùng với các nội dung trên, công tác đánh giá cán bộ, nhất là giai đoạn 2013-2018 cũng có bước đổi mới căn bản so với giai đoạn trước. Trong đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã xây dựng thực hiện đánh giá cán bộ bằng quy định tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ (giai đoạn trước chưa có); việc phân cấp đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá trong quy hoạch, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ được chú trọng, khách quan hơn, giảm thiểu bệnh thành tích; cách thức kiểm điểm, đánh giá đổi mới, chặt chẽ, ý thức tự kiểm điểm của cán bộ, tập thể cấp ủy, tập thể lãnh đạo, cá nhân tham gia đánh giá cán bộ có trách nhiệm; thực hiện nghiêm túc quy định cấp trên gợi ý kiểm điểm những nội dung trọng tâm, trọng điểm, phân công cán bộ dự, chỉ đạo, hạn chế tình trạng nể nang, né tránh trong đánh giá cán bộ của cấp dưới. Sau kiểm điểm, cán bộ, tổ chức, cơ quan xây dựng chương trình hành động, cam kết trách nhiệm, lộ trình khắc phục, sửa chữa tồn tại, hạn chế gắn với sự phân công giám sát, đánh giá của tập thể.

    Về bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ, tỉnh cũng bám sát quy chế, quy định, hướng dẫn của Trung ương, trong đó, Tỉnh ủy đã ban hành quy định về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ, nhất quán chủ trương bổ nhiệm cán bộ phải đảm bảo dân chủ, minh bạch, công khai, khách quan, nhân sự được bổ nhiệm phải đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy trình gồm 5 bước thực hiện, đảm bảo các nguyên tắc, hình thức bổ nhiệm. Giai đoạn từ 2013 đến tháng 6/2018, tỉnh đã điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 296 lượt cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý…

    Qua kết quả khảo sát, điều tra dư luận xã hội người dân đánh giá về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín của Đảng hiện nay cho thấy kết quả đánh giá rất tích cực. Trong đó mức đánh giá “cao hơn trước” chiếm tỷ lệ cao nhất với 64,7%. Điều đó thể hiện hiệu quả trong các nhiệm vụ, giải pháp về đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín của Đảng trong thời gian vừa qua đã được dư luận cán bộ, đảng viên và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao và đáp ứng được lòng dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Tốt Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Tổ Chức Và Sinh Hoạt Đảng
  • Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Sự Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Giải Pháp Tưới Nhỏ Giọt Cho Đồi Dốc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Tỉnh An Giang
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới Ở Cam Lâm
  • Mấy Suy Nghĩ Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Để Tăng Cường Công Tác Đánh Giá Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Công Tác Quản Lý Đất Đai Trên Địa Bàn Huyện Cẩm Khê
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Thu Hút Khách Tại Khách Sạn Bạch Đằng
  • Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Trường Học
  • Đề Án: Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Trường Học Giai Đoạn 2022
  • Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng…”. Nhận rõ tình hình, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, Ngày 16-01-2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Mục đích của Nghị quyết nhằm phát huy dân chủ trong Đảng, giúp cho mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tự giác, trung thực, xem xét, nhìn lại mình để phát huy ưu điểm, tự thấy rõ khuyết điểm, yếu kém và tự mình sửa chữa; trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục tình trạng suy thoái, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; xác định trách nhiệm của tập thể, của cá nhân trong việc thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đảng viên phải được đặt trong một chỉnh thể toàn diện dựa trên cơ sở thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao tính tự phê bình và phê bình, kỷ luật nghiêm minh và tự giác. Trong đó, lấy nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng làm vị trí chi phối có tính quyết định nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

    Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là cơ sở, là tiền đề để thực hiện dân chủ ngoài xã hội. Song, thực tiễn đã chỉ ra vấn đề dân chủ trong Đảng và nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng ở nơi này, nơi khác, có lúc có việc trên từng lĩnh vực chưa được đề cao, thậm chí còn bị lợi dụng, có nơi vi phạm khá nghiêm trọng, làm vô hiệu hoá sức mạnh của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ). Đối với một số TCCSĐ trong cơ quan làm công tác tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, do không thực hiện tốt dân chủ nên trên một số lĩnh vực chưa thể hiện đầy đủ cơ sở khoa học và tư duy chính trị đúng đắn trong một số quyết sách dẫn đến việc phát triển kinh tế-xã hội chưa đạt được chỉ tiêu đã đề ra, như việc lựa chọn phương án đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng môi trường văn hoá, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, trong đề bạt, bố trí, tuyển dụng cán bộ, thực thi pháp luật và một số lĩnh vực khác. Điều đáng lo ngại hiện nay là ở một số nơi trong từng lĩnh vực đã có những nhận thức, vận dụng trong việc làm, ban hành những quy định trái với chủ trương, định hướng của Đảng. Thậm chí, vi phạm nguyên tắc, Điều lệ và các Quy định của Đảng làm ảnh hưởng đến quyền làm chủ và sức sáng tạo của mỗi người, đang tồn tại ở một số ít tư tưởng có khuynh hướng thiên về quyền tập trung. Theo tư tưởng chính trị của Đảng dân chủ là để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung, chứ không phải là dân chủ theo kiểu phân tán, tùy tiện, vô tổ chức. Tập trung là tập trung dựa trên cơ sở dân chủ, chứ không phải tập trung quan liêu theo kiểu độc đoán, chuyên quyền, của một nhóm người nào có chung lợi ích. Thực tế, vì thiếu dân chủ nên năng lực và sức chiến đấu của nhiều TCCSĐ rất hạn chế, thậm chí có nơi bị tê liệt. Một số vấn đề nhân dân và công luận phát hiện nhưng tổ chức đảng không biết hoặc có biết nhưng không dám đấu tranh. Do đó nói và làm còn khác biệt và có khoảng cách. Nguy hại hơn là có một số phần tử cơ hội, sống lựa chiều, miễn là để tạo dựng uy tín cá nhân. Nguyên nhân tình trạng nầy thì có nhiều nhưng nguyên nhân cơ bản vẫn là các cấp uỷ đảng, đặc biệt là những người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị chưa tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, chưa thực sự phát huy dân chủ, ban hành và thực thi đồng bộ những quy tắc, quy định và các chế tài cụ thể, có cơ sở khoa học để tạo sự kết dính, ràng buộc giữa tổ chức với tổ chức, cấp dưới và cấp trên, giữa tổ chức và cá nhân trong mỗi tổ chức.

    Hiện nay chất lượng sinh hoạt của một số tổ chức đảng còn yếu, nội dung nghèo nàn, hình thức, chiếu lệ, gần như chỉ là “cái đuôi” của chuyên môn. Do đó, sức chiến đấu giảm và nguyên tắc tập trung dân chủ bị coi nhẹ. Người đứng đầu (bí thư, thủ trưởng cơ quan) phải thực sự cầu thị, biết phát động, lắng nghe, chắt lọc và kết luận vấn đề khách quan, khoa học. Chống các biểu hiện dân chủ hình thức, bên trong hô hào nghe có vẻ rất dân chủ nhưng hành động trù dập, định kiến với những người trung thực, nói thẳng; sử dụng vũ khí dân chủ như một “thủ thuật” để hợp thức hoá những vấn đề mang tính áp đặt cá nhân, hoặc ẩn bóng dưới danh nghĩa dân chủ để kích động, gây nghi kỵ, hiểu nhầm, mất đoàn kết nội bộ, là những khuynh hướng hoàn toàn xa lạ và trái với bản chất giai cấp và lợi íchcủa Đảng, như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: Ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp và của dân tộc Việt Nam, Đảng ta không có lợi ích nào hết.

    Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phải gắn với thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Dân chủ trong Đảng tốt là điều kiện để phát huy dân chủ ngoài xã hội, dân chủ ngoài xã hội tốt là cơ sở để thực hiện tốt dân chủ trong Đảng. Do đó, từng cấp uỷ đảng và thủ trưởng cơ quan căn cứ vào nội dung Nghị định số 71-NĐ/CP ngày 8-9-1998 của Thủ tướng Chính phủ để cụ thể hoá thành các quy định trong mỗi cơ quan, đơn vị, đảm bảo quyền được thông tin, được bàn, được quyết định và được kiểm tra, giám sát của mọi người đối với các vấn đề thực hiện nhiệm vụ chính trị; tham gia quy trình bố trí cán bộ, khen thưởng, kỷ luật; tham gia xây dựng các quy chế, quy định quản lý, xây dựng cơ quan, quản lý lao động; công khai hoá các chế độ chính sách, quản lý tài chính và tài sản công…

    Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng ở các TCCSĐ là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ, phát huy bản chất cách mạng và dân chủ của Đảng, đẩy lùi mọi biểu hiện quan liêu, cửa quyền, làm tổn hại đến uy tín và sức mạnh vốn có của Đảng. Mặt khác, phải cụ thể hoá các quy định, chế tài thể hiện quy trình phát huy tập trung, mở rộng dân chủ thực chất và quyền tập trung trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế-xã hội, tổ chức, cán bộ… để TCCSĐ thật sự là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở.

    Gia Bảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Luận Văn Đề Tài Hoạt Động Soạn Thảo Văn Bản Tại Ủy Ban Nhân Dân
  • Hoạt Động Soạn Thảo Văn Bản Tại Ubnd …………..
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Quản Lý Loài Ngoại Lai Xâm Hại
  • Tìm Giải Pháp Cho Tài Liệu Lưu Trữ Điện Tử
  • Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Trưởng”vận Dụng Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quản Lý Trường Tiểu Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Và Hiệu Quả Giáo Dục Đào Tạo.
  • Những Biến Dạng Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Các Giải Pháp Về Xử Lý Rác Thải Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ngãi
  • Xây Dựng Khu Dân Cư Ntm Kiểu Mẫu, Lấy Vai Trò Của Cộng Đồng Dân Cư Là Chính
  • Lâm Đồng: Xây Dựng Khu Dân Cư Tiêu Biểu, Kiểu Mẫu
  • Những năm qua, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ nhìn chung được các tổ chức đảng thực thi chặt chẽ, nghiêm túc, hiệu quả. Có thể thấy rõ là, nhiều chủ trương, nguyên tắc, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán bộ được thể chế, cụ thể hóa bằng quy chế, quy định, quy trình, bảo đảm dân chủ, chặt chẽ hơn. Các khâu: quản lý, đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ được cấp ủy và tổ chức đảng dân chủ bàn bạc và quyết định theo đa số; sự phân cấp trong công tác cán bộ được nhận thức và thực hiện tốt. Ở đại hội đảng các cấp, việc bầu cử cấp ủy, đại biểu đi dự đại hội cấp trên đều có số dư để cán bộ, đảng viên dân chủ lựa chọn. Vai trò của các tổ chức quần chúng, nhân dân trong giám sát và tham gia vào công tác quản lý, đánh giá, tuyển chọn cán bộ được phát huy. Việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ, trọng tâm là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được tiến hành định kỳ, có hiệu quả, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng vững mạnh, đủ đức, đủ tài lãnh đạo nhân dân giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới.

    Cùng với đó, phải thể chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ thành quy chế, quy định, nhằm đảm bảo thực hiện chặt chẽ các khâu, bước, quy trình của công tác cán bộ. Qua một số vụ việc phải thi hành kỷ luật cán bộ, đảng viên vừa qua cho thấy, tuy Đảng ta, các cấp ủy, tổ chức đảng đã nghiên cứu ban hành các quy chế, quy định về công tác cán bộ, song vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ. Điển hình như việc xây dựng quy chế nhân dân tham gia xây dựng và giám sát cán bộ – cơ chế duy nhất chưa được xây dựng theo Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ bằng những văn bản hướng dẫn, quy định để mọi tổ chức đảng và đảng viên thực hiện là vấn đề rất quan trọng. Đây còn là cơ sở để đấu tranh, ngăn ngừa những biểu hiện xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, hoặc lợi dụng thực hiện nguyên tắc này làm bình phong theo ý đồ của người đứng đầu; khắc phục hiện tượng tiêu cực trong công tác cán bộ. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định: “Xây dựng, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; loại trừ khả năng để cán bộ và người thân của cán bộ lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi” 3; “Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất” 4. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần rà soát lại toàn bộ quy chế, quy định về công tác cán bộ đã ban hành; xác định những điểm bất hợp lý, lạc hậu để bổ sung, hoàn thiện, giúp cho việc thực hiện được đồng bộ, thống nhất và nghiêm túc. Trong đó, cần có sự phân cấp, xác định rõ phạm vi, trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện dân chủ, công khai đối với công tác cán bộ. Đồng thời, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sự đoàn kết, thống nhất, tránh dân chủ hình thức, dân chủ vô hạn độ.

    Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết” 5. Vì vậy, đây là biện pháp quan trọng để kịp thời phát hiện những vi phạm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên; đề ra chủ trương, biện pháp uốn nắn, khắc phục những hạn chế, làm cho việc thực hiện nguyên tắc tốt lên, thúc đẩy, giáo dục cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người chủ trì làm tròn nhiệm vụ, chức trách, tiến hành công tác cán bộ dân chủ, công tâm, khách quan. Đồng thời, Người cũng chỉ ra rằng: “kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi” 6. Vì vậy, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần xây dựng, thực hiện tốt chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ. Quá trình kiểm tra, giám sát phải bảo đảm đúng nguyên tắc, phương pháp, phát huy dân chủ, tăng cường đoàn kết, kỷ luật trong Đảng và xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm. Cùng với đó, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò giám sát, phản biện của các tổ chức và nhân dân đối với cán bộ và công tác cán bộ.

    1 – ĐCSVN – Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), Nxb CTQG, H. 2022, tr. 27.

    3 – ĐCSVN – Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI), Nxb CTQG, H, 2012, tr. 34.

    4 – ĐCSVN – Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), Nxb CTQG, H, 2022, tr. 38.

    5 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 327.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Về Tập Trung Dân Chủ 2
  • Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Đảng
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng, Chống Bạo Lực, Xâm Hại Trẻ Em
  • Giải Pháp Phòng Chống Xâm Hại Trẻ Em: Tránh Góc Khuất
  • Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em: Rõ Trách Nhiệm Để Có Giải Pháp Đúng
  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nước Uống Văn Phòng
  • Giải Pháp Lọc Nước Uống Trực Tiếp
  • Giải Pháp Lọc Nước Uống Văn Phòng Tiết Kiệm 30
  • 5 Giải Pháp Trọng Tâm Của Hà Nội Về Chống Rác Thải Nhựa
  • Giải Pháp Wifi Quán Cafe Game I Thiết Bị Chuyên Dụng Cho Quán Cafe Game
  • Câu 2: Phân tích chứng minh sự cần thiết khách quan vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ. Liên hệ việc vận dụng nguyên tắc trên ?

    BÀI LÀM

    Trong công tác quản lý, việc nhận thức, nắm vững và vận dụng đúng các nguyên tắc của quản lý là một trong những điều kiện đảm bảo sự thành công. Các nguyên tắc quản lý là các quy tắc chuẩn mực, chỉ đạo những người quản lý phải tuân thủ trong quá trình quản lý, những nguyên tắc ấy do con người định ra, vừa phản ánh các quy luật khách quan nhưng cũng mang dấu ấn chủ quan của con người. Trong thực tiễn quản lý, các nguyên tắc quản lý có tính chất và thứ bậc khác nhau, do nhiều tổ chức, nhiều cấp đề ra, tuy nhiên trong đó có những nguyên tắc mang tính chất cơ bản, nó định hướng cho sự hoạt động của người quản lý và sự vi phạm các nguyên tắc này sẽ gây cho hệ thống một sự tổn thất nặng nề. Một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý là nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý cũng như yêu cầu và mục tiêu của quản lý, nó quy định sự lãnh đạo tập trung dựa trên sự tôn trọng và phát huy dân chủ. Về bản chất thì tập trung và dân chủ là 2 xu hướng diễn ra đồng thời cùng một lúc. Tập trung dân chủ là một nguyên tắc thống nhất, đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ. Trong nguyên tắc thống nhất này, tập trung và dân chủ tác động cùng chiều, theo tỷ lệ thuận, đòi hỏi phải đảm bảo lẫn nhau.

    Xu hướng tập trung được biểu hiện ở 2 nội dung : thứ nhất, tập trung là sự thống nhất về tư tưởng và hành động của tất cả các thành viên trong hệ thống, thứ hai đó là sự tập trung quyền lực để giải quyết các công việc phát sinh trong hệ thống, tức là phải có đủ quyền lực để giải quyết mọi vấn đề có sự lãnh đạo, quản lý, điều hành thông suốt, do đó tập trung là một xu hướng cần thiết. Để đảm bảo yêu cầu tập trung trong quản lý cần có những công cụ sử dụng như: Luật, chính sách, chế độ, quy chế, hệ thống chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển…và chế độ một người chỉ huy (còn gọi là chế độ thủ trưởng).

    Về xu hướng dân chủ thì hiện nay có 2 quan điểm khác nhau về dân chủ. Quan điểm thứ nhất là dân chủ là quyền và trình độ dân chủ tương ứng với quyền lực của đối tượng quản lý, đây là quan điểm không đúng vì nếu hiểu theo quan điểm này dễ dẫn tới tình trạng dân chủ quá đà tự phát, tự do vô chính phủ. Quan điểm thứ hai là coi dân chủ là môi trường, là điều kiện để mỗi cá nhân có được những cơ hội phát triển hoàn thiện trong sự phát triển của xã hội, của cộng đồng. Tùy thuộc khả năng và mức độ ảnh hưởng của các cá nhân tới quyết định chung của cộng đồng, tới việc giải quyết công việc chung mà có thể thấy một xã hội dân chủ đến mức nào. Ở mỗi nước, trình độ của nền dân chủ trong xã hội tùy thuộc phần lớn vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, trình độ dân trí, quyền hạn và năng lực thực hiện quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân. Xã hội ta càng phát triển càng đòi hỏi và càng có điều kiện mở rộng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để đảm bảo yêu cầu dân chủ, các nhà quản lý phải sử dụng các giải pháp như: chế độ tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các chế độ, các hình thức đảm bảo quyền tham gia quản lý của chủ thể người lao động. Dân chủ còn thể hiện thông việc thực hiện sự bình đẳng của các thành phần kinh tế trước pháp luật, thông qua việc xác định rõ vị trí, trách nhiệm, quyền hạn, của các cấp, các ngành, thực hiện các chế độ phân công, phân cấp trong quản lý và thông qua quá trình thực hiện quy chế quyền dân chủ, quy chế dân chủ …

    Trong quan hệ tập trung dân chủ thì tập trung bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, nó định hướng cho các biện pháp dân chủ nhằm để đảm bảo sự tồn tại và tạo ra khả năng phát triển của hệ thống. Mất đi sự tập trung là mất đi sự thống nhất trong hoạt động của hệ thống dẫn tới tình trạng tổ chức sẽ bị biến dạng, đi chệnh mục đích, mục tiêu. Ngoài ra, tập trung còn là cơ sở định hướng để giải quyết các nội dung, biện pháp thực hiện dân chủ, còn dân chủ thì có vai trò tạo cơ sở về xã hội, kinh tế, chính trị để thực hiện tốt tập trung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đảng Bộ Quận 9Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Các Tổ Chức Cơ Sở Đảng
  • Thực Hiện Nghiêm Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Đảng
  • Thực Hiện Tốt Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Tổ Chức Và Sinh Hoạt Đảng
  • Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Sự Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Giải Pháp Tưới Nhỏ Giọt Cho Đồi Dốc
  • Thực Hiện Tốt Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Tổ Chức Và Sinh Hoạt Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nghiêm Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Đảng
  • Đảng Bộ Quận 9Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Các Tổ Chức Cơ Sở Đảng
  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Giải Pháp Nước Uống Văn Phòng
  • Giải Pháp Lọc Nước Uống Trực Tiếp
  • Đồng thời, đợt sinh hoạt chính trị này góp phần quan trọng tăng cường xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thuyết phục, chấn chỉnh, uốn nắn những nhận thức lệch lạc; đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch.

    Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: “Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Đây cũng chính là những yếu tố bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của Đảng.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ được V.I.Lê-nin đề xuất từ năm 1901, đến nay tròn 115 năm, nhưng vẫn còn nguyên giá trị. Khi vận dụng vào Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Theo Người, dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau. Dân chủ trong Đảng là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề trong tổ chức và sinh hoạt Đảng để thống nhất về quan điểm, chủ trương và nhân sự lãnh đạo. Vì vậy, dân chủ phải đi đến tập trung, tránh dân chủ phân tán, tùy tiện, vô tổ chức. Về tập trung, sau khi dân chủ (mọi đảng viên được tự do bày tỏ chính kiến) phải đi đến tập trung, tức là biểu quyết để thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động. Sau khi biểu quyết thì thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, mọi đảng viên phải phục tùng nghị quyết của Đảng.

    Vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định, tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng (được thể hiện tại Điều 9, Chương II, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam hiện hành). Nguyên tắc tập trung dân chủ có vai trò là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động tổ chức, sinh hoạt và xây dựng Đảng; xác lập nguyên tắc giải quyết mọi vấn đề trong nội bộ Đảng.

    Thực tế qua 86 năm xây dựng, chiến đấu và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn đồng hành và bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Giá trị đích thực của nguyên tắc tập trung dân chủ là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Đây là một giá trị quy tụ đầy đủ hai mệnh đề tập trung và dân chủ. Tập trung là sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội đã được khẳng định trong Hiến pháp. Dân chủ là dân chủ trong Đảng, với tư cách là đội tiên phong của toàn dân tộc.

    Tập trung dân chủ trong Đảng là nguyên tắc có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Đảng. Thực tiễn đã chứng minh, ở đâu nguyên tắc tập trung dân chủ được cấp ủy, người chỉ huy và cán bộ, đảng viên hiểu một cách đầy đủ, thì ở đó dân chủ được phát triển, tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định. Ngược lại, nếu nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng không được tôn trọng thì sẽ rất nguy hại. Những người đã tự nguyện viết đơn đứng vào hàng ngũ của Đảng thì phải chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ. Tổ chức Đảng tổ chức cho đảng viên thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình, nghĩa là mỗi đảng viên phải tự kiểm điểm lại mình, thấy rõ ưu điểm để phát huy, khuyết điểm để khắc phục, sửa chữa; đồng thời góp ý cho đồng chí, đồng đội trên tinh thần xây dựng. Do vậy, Đảng không chấp nhận cách nói thiên lệch, một chiều, nói ngoài tổ chức, không đúng với bản chất tập trung để dân chủ và dân chủ để đi đến tập trung.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp biện chứng giữa hai thành tố: Dân chủ và tập trung. Việc phát huy dân chủ phải đi đôi với việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tập trung. Nếu tuyệt đối hóa dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng vô tổ chức, xem thường kỷ cương, phép nước. Nếu tuyệt đối hóa tập trung sẽ dẫn đến quan liêu, độc đoán, chuyên quyền. Tuy nhiên, do điểm xuất phát, điều kiện hoàn cảnh, phẩm chất và năng lực từng đảng viên khác nhau, nên để đạt được sự đồng thuận cao về chủ trương, quan điểm là việc làm không đơn giản; đòi hỏi các tổ chức đảng phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, quản lý, rèn luyện đảng viên về mọi mặt.

    Quân ủy Trung ương đã ban hành “Quy định một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam”. Các quân khu, quân đoàn, quân, binh chủng… cũng ban hành “Quy định một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Đó là những quy định hết sức cần thiết để cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng vào mọi hoạt động của quân đội; xác lập sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; nghĩa là ở đâu có hoạt động của bộ đội thì ở đó có sự lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo đó thể hiện trên mọi nhiệm vụ, mọi lĩnh vực; lãnh đạo mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi đơn vị; lãnh đạo trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, tổ chức; trên cả các mặt công tác: Quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; trong tất cả các nhiệm vụ: Chiến đấu, huấn luyện, xây dựng, lao động sản xuất. Nguyên tắc này ràng buộc và ngăn chặn sự gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền của một bộ phận người chỉ huy, khi không hiểu, hoặc cố tình không tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng có giá trị vĩnh hằng, quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những giá trị đích thực trong nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng ta có vai trò quan trọng, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng, Nhà nước và thực hiện “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, phản động; đồng thời có ý nghĩa sâu sắc trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nguyên tắc tập trung dân chủ tồn tại, phát triển thực sự trở thành lực lượng vật chất, vũ khí sắc bén trên mọi phương diện trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Thượng tá NGUYỄN XUÂN HÙNG, Phó chính ủy Trường Trung cấp Quân y 2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Sự Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Giải Pháp Tưới Nhỏ Giọt Cho Đồi Dốc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Tỉnh An Giang
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới Ở Cam Lâm
  • Cần Phổ Biến Các Mô Hình, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hay Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Mấy Suy Nghĩ Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Để Tăng Cường Công Tác Đánh Giá Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Công Tác Quản Lý Đất Đai Trên Địa Bàn Huyện Cẩm Khê
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Thu Hút Khách Tại Khách Sạn Bạch Đằng
  • Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Trường Học
  • Một số quan chức cao cấp bị cách chức vì vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ

    TTDC là một trong những nguyên tắc cơ bản của các tổ chức cộng sản và là một trong những đặc trưng cốt lõi để phân biệt chính đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các đảng phái chính trị khác. Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định TTDC là nguyên tắc cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong mọi tổ chức và hoạt động của Đảng. Vấn đề căn cốt này đã trang bị cho học viên tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức về Đảng và chuẩn bị đứng trong hàng ngũ của Đảng.

    Đối với tổ chức đảng các cấp, việc tuân thủ, thực hiện TTDC không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, hoạt động và sinh hoạt Đảng, mà còn là điều kiện bảo đảm để phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Nhận thức chung là như vậy, nhưng thời gian qua, vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng đã “vi phạm nguyên tắc TTDC, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”, một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra.

    Trung ương đã kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015; Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2022-2020; Ban cán sự đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016; Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… vì các tổ chức đảng này đã có biểu hiện vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy. Ngoài ra, nhiều cấp ủy cũng bị đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật vì lý do vi phạm nguyên tắc TTDC, như: Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an); Ban Thường vụ Huyện ủy Hướng Hóa (Quảng Trị) nhiệm kỳ 2022-2020…

    Tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ để giữ vững sức mạnh lãnh đạo của Đảng

    Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng bao trùm, cơ bản và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân phải tuân theo. Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc TTDC thì bắt buộc mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải chấp hành, thực hiện đến nơi đến chốn. Nguyên tắc này được ví như “la bàn” có vai trò định hướng cho đội ngũ đảng viên khép mình vào khuôn khổ tổ chức, tự giác chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và quy định của Đảng. Nếu xem nhẹ, xa rời hoặc nhận thức không đúng, thực hiện không thấu đáo, hành xử thiếu nhất quán nguyên tắc này sẽ khiến cán bộ, đảng viên “đi chệch” quỹ đạo, từ đó có thể dẫn đến nhiều khuyết điểm, vi phạm trong công tác và trong sinh hoạt Đảng. Hàng loạt tổ chức đảng, đảng viên, nhất là những cán bộ cao cấp của Đảng bị cách chức, bị kỷ luật nêu trên, là minh chứng sinh động, rõ ràng nhất về việc xa rời nguyên tắc TTDC.

    Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao một nguyên tắc tổ chức cao nhất của Đảng lại không được tuân thủ, thực hiện nghiêm túc ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng? Có nhiều lý do dẫn đến thực trạng này, nhưng lý do chủ yếu là không ít cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy vừa không bám sát vào các nội dung nguyên tắc, quy chế làm việc của cấp ủy, thiếu bàn bạc dân chủ trong nội bộ, vừa lợi dụng vị trí, chức trách, quyền hạn được giao để có những biểu hiện áp đặt ý kiến chủ quan cá nhân khiến nguyên tắc bị vi phạm, méo mó. Một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc TTDC là thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nhưng một số cán bộ chủ chốt của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan, ban, ngành vì động cơ, mục đích vụ lợi mà không thực sự tôn trọng, phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể, né tránh sự giám sát của tập thể và đề cao quá mức vai trò cá nhân dẫn đến hiện tượng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền.

    Vì vậy, vấn đề cấp bách, mấu chốt hiện nay để đưa nguyên tắc TTDC vào đúng quỹ đạo của nó, cũng như bảo đảm cho nguyên tắc này được thực hiện triệt để, hiệu quả ở mọi cấp ủy, tổ chức đảng là phải sớm ban hành và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Không có cơ chế kiểm soát quyền lực, nguyên tắc TTDC của Đảng vẫn rất dễ bị nhiều nơi, nhiều cán bộ lãnh đạo làm biến dạng, méo mó quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước, biến quyền lực công thành quyền lực tư, từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy khôn lường cho tổ chức đảng và dễ làm tổn thất cán bộ.

    Lịch sử của các đảng cộng sản và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, cũng như bài học đổ vỡ, tan rã, biến chất của nhiều đảng cộng sản ở châu Âu cho chúng ta bài học “xương máu”: Ở đâu, khi nào mà các lãnh tụ, người lãnh đạo, người đứng đầu của các đảng cộng sản và tổ chức đảng luôn tuyệt đối tuân thủ, coi trọng chấp hành và thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả nguyên tắc TTDC, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thì ở đó, lúc đó, đảng cộng sản giữ được vị thế, vai trò, sức mạnh lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xã hội.

    Theo QĐND

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Hoạt Động Soạn Thảo Văn Bản Tại Ủy Ban Nhân Dân
  • Hoạt Động Soạn Thảo Văn Bản Tại Ubnd …………..
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Quản Lý Loài Ngoại Lai Xâm Hại
  • Tìm Giải Pháp Cho Tài Liệu Lưu Trữ Điện Tử
  • Lưu Trữ Tài Liệu Điện Tử Của Các Cơ Quan Nhà Nước, Góc Nhìn Từ Khía Cạnh Quản Lý (Phần 1)
  • Những Biến Dạng Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Và Giải Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Về Xử Lý Rác Thải Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ngãi
  • Xây Dựng Khu Dân Cư Ntm Kiểu Mẫu, Lấy Vai Trò Của Cộng Đồng Dân Cư Là Chính
  • Lâm Đồng: Xây Dựng Khu Dân Cư Tiêu Biểu, Kiểu Mẫu
  • Xây Dựng Khu Dân Cư Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu Trung Hà: Còn Nhiều Khó Khăn
  • Nam Trà Điểm Sáng Xây Dựng Khu Dân Cư Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu
  • Tập trung dân chủ (TTDC) là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong hoạt động của Đảng. Nguyên tắc này được ví như xương sống làm cho Đảng luôn vững mạnh trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; đảm bảo thống nhất ý chí và hành động. Đây là tiêu chí để phân biệt chính đảng cách mạng với các đảng cơ hội khác. Thực tiễn thời gian qua cho thấy không ít tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ nội dung, bản chất của nguyên tắc TTDC, do đó khi vận dụng nguyên tắc này đã có những biến dạng, làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc xác định, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, tổ chức sinh hoạt đảng và những sai lệch trong công tác tổ chức cán bộ. Vì vậy, nhận diện đúng những biến dạng, tìm ra giải pháp khắc phục có ý nghĩa thực tiễn bức xúc đối với Đảng ta.

    1. Những biến dạng chủ yếu trong việc thực hiện nguyên tắc TCDC.

    Trong việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng. Là người khởi xướng những nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới, V.I.Lê-nin yêu cầu người đảng viên phải luôn chấp hành kỷ luật đảng và sinh hoạt trong một tổ chức của Đảng. Đây là nhân tố đảm bảo cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo, giữ vững phẩm chất tư cách của người cộng sản. Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Có tình trạng vừa kém dân chủ vừa thiếu kỷ luật, kỷ cương. Một số cán bộ cấp ủy chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc TTDC”(2). Nguyên tắc TTDC rất quan trọng, nhưng khi đi vào cuộc sống, nếu chủ thể không biết cách vận dụng hoặc thực hiện tùy tiện thì nó có thể bị lợi dụng, bóp méo. Do đó, khi quán triệt, vận hành nguyên tắc TTDC trong thực tiễn cần chú ý cơ sở, điều kiện để bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc. Cần nhìn nhận một thực tế là “Trong một tổ chức, một tập thể lãnh đạo nếu đa số tốt, thiểu số cơ hội, tham nhũng, thoái hóa biến chất thì thực hiện nguyên tắc TTDC sẽ loại bỏ được những phần tử cơ hội, tham nhũng, thoái hóa biến chất ra khỏi Đảng; trái lại khi đa số cơ hội, tham nhũng, thoái hóa, chỉ có thiểu số tốt – theo quy định thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức – thì kết quả sẽ ngược lại: Những người tốt, trong sáng, liêm khiết sẽ bị loại”(3). Hiện tượng con dao hai lưỡi trong việc thực hiện nguyên tắc TTDC chính là chỗ đó. ở những đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nội bộ đoàn kết thống nhất thì việc thực hiện nguyên tắc TTDC rất thuận lợi, đạt kết quả tốt. Ngược lại, ở những nơi mất đoàn kết nghiêm trọng, kéo dài, đa số thành viên trong cấp ủy có khuyết điểm, sai lầm, nếu đảng viên kém tính đảng, giác ngộ kém thì nguyên tắc TTDC sẽ bị vô hiệu, kết quả thực hiện sẽ ngược lại với mong muốn, mục tiêu lý tưởng của Đảng. Chất lượng tự phê bình, phê bình trong Đảng hiện nay vẫn còn là khâu yếu. Hiện tượng chê trách “sau lưng”, chỉ phê bình những cái thứ yếu vẫn chưa được khắc phục. Thậm chí có đảng viên lợi dụng phê bình để moi móc khuyết điểm với khẩu khí nặng nề, thiếu văn hóa để nhằm hạ uy tín của người khác. Một số đảng viên trong sinh hoạt đảng thì không phê bình, do động cơ không trong sáng nên đã viết đơn, thư nặc danh tố cáo, vu khống để bôi nhọ nhằm “hạ bệ” đồng chí mình. Hiện tượng cán bộ lãnh đạo độc đoán, mệnh lệnh, trù dập, ức hiếp quần chúng còn xảy ra ở một số nơi, có khi rất trắng trợn. Mất đoàn kết nội bộ, “bằng mặt không bằng lòng”, kéo bè, kéo cánh là những biểu hiện xấu diễn ra ở không ít tổ chức đảng. Những căn bệnh này nếu không có giải pháp chữa trị hữu hiệu thì ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, dung dưỡng cho những phần tử cơ hội chống phá Đảng. Sinh thời V.I.Lê-nin đã cảnh báo rằng “Nếu như nó không tẩy sạch khỏi bản thân nó những đảng viên tuyên truyền quan điểm chống Đảng thì nó không tránh khỏi tan rã, trước tiên là tan rã về tư tưởng, sau sẽ tan rã cả về mặt vật chất”(4).

    2. Để khắc phục những biến dạng trong việc thực hiện nguyên tắc TTDC, theo chúng tôi cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

    Nâng cao nhận thức trách nhiệm cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về nội dung, bản chất nguyên tắc TTDC. Tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng mới có cơ sở để vận dụng thực hiện nguyên tắc TTDC có hiệu quả, không chệch hướng. Tập trung và dân chủ là hai thành tố cấu thành một chỉnh thể thống nhất của nguyên tắc. Hai thành tố này ràng buộc, chế ước lẫn nhau, tập trung phải dựa trên cái nền dân chủ và dân chủ phải dưới sự chỉ đạo của tập trung, dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ càng được tăng cường thì càng có sự thống nhất tập trung cao. Tuyệt đối hóa, nhấn mạnh một yếu tố nào đều không đúng, trái với bản chất của nguyên tắc TTDC.

    Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt cấp ủy và chi bộ, coi trọng việc quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Trên cơ sở những nguyên tắc mà Điều lệ Đảng quy định, mỗi cấp ủy đảng cần xây dựng quy chế làm việc của mình, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp ủy viên. Tổ chức, chuẩn bị kỹ nội dung, hình thức sinh hoạt, thực hiện phương châm của Bác Hồ: Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi, khi đã quyết định rồi thì phải tìm cách thi hành cho nhanh, cho có hiệu quả.

    Thường xuyên duy trì tốt chế độ sinh hoạt chi bộ. Chất lượng sinh hoạt chi bộ được đo ở việc chuẩn bị nội dung, hình thức sinh hoạt, luôn đảm bảo ba tính chất. Phấn đấu không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng. Khi cán bộ, đảng viên ở tầm cao của văn hóa sẽ đủ sức miễn dịch với những cám dỗ của cuộc sống đời thường, với những độc tố phản văn hóa. Đồng thời tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bởi đây là căn nguyên gây ra những mầm họa kìm hãm sự phát triển của cơ thể Đảng và cán bộ, đảng viên.

    Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật nghiêm minh những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thông qua kiểm tra, kịp thời phát hiện những sơ hở của các chủ trương, nghị quyết để bổ sung hoàn thiện phù hợp với quy luật khách quan; đồng thời giáo dục ngăn chặn kịp thời các khuyết điểm, sai phạm của đảng viên. Cấp ủy, UBKT cần hướng vào kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi dấu hiệu vi phạm mới manh nha, để giáo dục, ngăn chặn, không chờ vụ việc vỡ lở mới kiểm tra, nhất là những nơi có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc TTDC. Mặt khác phải coi trọng việc xem xét xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời với những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cố tình không chấp hành chỉ thị, nghị quyết, tham nhũng, gây chia rẽ, bè phái làm suy yếu khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Tổ chức đảng cấp trên cần có biện pháp mạnh để củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy, đề bạt, luân chuyển cán bộ.

    Coi trọng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tạo sự thống nhất về quan điểm trong toàn Đảng. Công tác này phải tiếp tục hướng vào luận giải con đường đi lên CNXH; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; kinh tế nhiều thành phần nhưng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, những biến dạng trong việc thực hiện nguyên tắc TTDC trên bình diện rộng… Bám sát thực tiễn, tổng kết thành lý luận đúng đắn mới dẫn dắt được hành động đi tới kết quả mong muốn.

    Có cơ chế cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng, giám sát tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Bác Hồ chỉ rõ: Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì. Do đó, bên cạnh việc cụ thể hóa quan điểm của Đảng về công tác quần chúng trong tình hình mới, cần xây dựng cơ chế quy định để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên. Bởi “Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng”(5). Cuộc đấu tranh chống các loại “quốc nạn” trong cơ chế thị trường hiện nay đòi hỏi không thể thiếu một loại vũ khí sắc bén thông qua công luận và dư luận xã hội – đó là tiếng nói của nhân dân.

    (1) Văn kiện hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, NXBCTQG, H.2004, tr.124. (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXBCTQG, H.1996, tr.138. (3) GS,TS. Nguyễn Phú Trọng, PGS, TS. Tô Huy Rứa, PGS, TS. Trần Khắc Việt: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới (sách tham khảo), NXBCTQG, H.2004, tr.209. (4) V.I.Lê-nin toàn tập, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1979, tr.125-126. (5) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.262.

    TS. NGUYỄN THẾ TƯ

    Học viện Chính trị khu vực III

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Trưởng”vận Dụng Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quản Lý Trường Tiểu Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Và Hiệu Quả Giáo Dục Đào Tạo.
  • Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ
  • Bài Giảng Về Tập Trung Dân Chủ 2
  • Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Đảng
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng, Chống Bạo Lực, Xâm Hại Trẻ Em
  • Đảng Bộ Quận 9Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Các Tổ Chức Cơ Sở Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Giải Pháp Nước Uống Văn Phòng
  • Giải Pháp Lọc Nước Uống Trực Tiếp
  • Giải Pháp Lọc Nước Uống Văn Phòng Tiết Kiệm 30
  • 5 Giải Pháp Trọng Tâm Của Hà Nội Về Chống Rác Thải Nhựa
  • Đảng bộ quận 9 hiện có 41 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 13 đảng bộ phường, 6 đảng bộ thuộc các loại hình cơ quan, đơn vị khác, 22 chi bộ cơ sở, với 5.014 đảng viên.

    Trong những năm qua, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ đã được các tổ chức cơ sở đảng ở Đảng bộ quận và toàn thể cán bộ, đảng viên chấp hành tương đối nghiêm túc, đạt nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở một số nội dung như:

    Nhờ thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ mà tỉ lệ các tổ chức đảng trên địa bàn quận 9 đạt trong sạch, vững mạnh hàng năm ngày càng cao (năm 2011 có 15/41, chiếm 36,6%; năm 2012 có 19/41, chiếm 46,3%; năm 2014 có 21/41, chiếm 51,2%; năm 2022 có 22/41, chiếm 56,7%), không có tổ chức đảng yếu kém; tỉ lệ đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cũng ngày càng tăng (năm 2012 có 239/3.925 đảng viên, chiếm 6%; năm 2022 có 309/4.687 đảng viên, chiếm 6,6%), tỉ lệ đảng viên vi phạm tư cách, không hoàn thành nhiệm vụ ngày càng giảm (năm 2012 có 28/3.925 đảng viên, chiếm 0,07%; năm 2013 có 23/4.390 đảng viên, chiếm 0,05%; năm 2014 có 15/4.407 đảng viên, chiếm 0,03%; năm 2022 có 10/4.687 đảng viên, chiếm 0,02%).

    Kết quả phân loại cán bộ hàng năm cũng cho thấy, tỉ lệ cán bộ tốt và khá tăng, không có cán bộ trung bình và yếu. Đạt được kết quả trên là do sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quận ủy, sự hướng dẫn của cơ quan chức năng cấp trên đối với các tổ chức cơ sở đảng trong việc thực hiện nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, nhất là từ sau khi có quy định một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; đồng thời phát huy tốt trách nhiệm của cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong chi bộ, đảng bộ.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của các tổ chức cơ sở đảng ở Đảng bộ quận 9 trong những năm qua vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm cần được khắc phục. Đó là, một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả đảng viên là cấp ủy viên còn nhận thức chưa đầy đủ yêu cầu, nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ và việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, ảnh hưởng đến hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, nhầm lẫn chức năng, dẫn đến hiện tượng bao biện, làm thay, chồng chéo lẫn nhau. Việc nâng cao chất lượng thực hiện nguyên tắc chưa thường xuyên, chưa gắn chặt với việc thực hiện nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị; chất lượng sinh hoạt đảng còn có những hạn chế, nghị quyết lãnh đạo của một số tổ chức đảng còn chưa cụ thể… Việc phát huy vai trò của tập thể cấp ủy cũng như trách nhiệm cá nhân của một số cấp ủy viên còn chưa đầy đủ; một số cấp ủy viên còn ngại phát biểu, ý kiến chung chung, xuôi chiều, cho nên, khi gặp phải những vấn đề cần làm rõ đúng sai còn né tránh, đổ lỗi cho khách quan, quy khuyết điểm cho tập thể; khi có vấn đề nhạy cảm như quyết định xử lý kỷ luật cán bộ trong quyền hạn… thường đùn đẩy lên trên giải quyết; việc phân công trách nhiệm cá nhân phụ trách ở một số cấp ủy chưa thật rõ ràng, cụ thể, còn biểu hiện chung chung. Đoàn kết nội bộ của cấp ủy, chi bộ chưa thật sự được củng cố vững chắc, còn biểu hiện của sự đoàn kết xuôi chiều, không dựa trên nguyên tắc đảng; có biểu hiện mất đoàn kết ở một số cấp ủy như tính thống nhất chưa cao trong lãnh đạo, quản lý, điều hành, thiếu nhất trí, hoặc nhất trí không cao trong đánh giá, xử lý, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, những công việc vụ việc của địa phương, đơn vị…

    Những hạn chế, khuyết điểm trên là do công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Quận ủy có lúc chưa kịp thời, chưa thật nhạy bén trước những vấn đề mới nảy sinh, đấu tranh trước những biểu hiện vi phạm nguyên tắc còn thiếu kiên quyết. Công tác giáo dục bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nhất là hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng chưa cao. Trách nhiệm, năng lực, phẩm chất đạo đức của một số cấp ủy viên còn hạn chế…

    Từ những kết quả và hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở Đảng bộ quận 9, có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Nghiêm Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Đảng
  • Thực Hiện Tốt Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Tổ Chức Và Sinh Hoạt Đảng
  • Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Sự Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Giải Pháp Tưới Nhỏ Giọt Cho Đồi Dốc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Tỉnh An Giang
  • Dân Chủ Và Thực Trạng Thực Hiện Dân Chủ Những Năm Qua

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Chủ Và Việc Thực Hiện Quyền Dân Chủ
  • Một Số Giải Pháp Phát Huy Hiệu Quả Hình Thức Hợp Tác Công Tư
  • Quy Trình Thực Hiện Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Và Thành Lập Ban Quản Lý
  • Dự Án Bt: Lổ Hổng Và Giải Pháp
  • Sáng Tạo Với “5 Không, 3 Sạch” Đẩy Mạnh Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Dân chủ và thực trạng thực hiện dân chủ những năm qua

    I. Nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa 1. Những nhận thức đã rõ

    Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là nhận thức nhất quán của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thông qua các kỳ đại hội cũng như hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đại hội IV của Đảng (năm 1976) đã khẳng định: “Để đưa cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Đại hội cũng chỉ rõ: “Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động có tổ chức, mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Để xây dựng quyền làm chủ tập thể về kinh tế, Đảng yêu cầu phải xoá bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa và cải tạo chế độ sở hữu cá thể, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể bằng những phương pháp và bước đi thích hợp”.

    Đại hội V của Đảng (năm 1982) một lần nữa khẳng định: ” Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa…”. Đại hội V còn nhấn mạnh: “Đường lối chung và đường lối kinh tế là một thể thống nhất hoàn chỉnh, trong đó có mấy vấn đề cần đặc biệt chú ý là: Nắm vững chuyên chính vô sản, xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa”[4]. Đảng chỉ rõ mục tiêu bao trùm của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chính là xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, thể hiện rõ bản chất của chế độ mới. Nhận thức này đã không ngừng được bổ sung, phát triển và làm sâu sắc thêm qua thời gian và mở rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Tổng kết những quan điểm giá trị này qua các kỳ từ Đại hội VII đến Đại hội XII, đặc biệt trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) Đảng dần hoàn thiện và tập trung vào chiến lược phát huy dân chủ trong đời sống xã hội với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đồng thời quyết tâm thực hiện dân chủ trong các hoạt động xã hội, lấy dân chủ hóa là mục tiêu và động lực để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, v.v.. là sự thể hiện những nỗ lực trong công cuộc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đưa nhân dân trở thành lực lượng quản lý và điều hành xã hội cơ bản trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: ” Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm “.

    Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.

    Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”.

    Có thể thấy, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ ngày càng phát triển. Trải qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng về dân chủ ngày càng đúng đắn hơn, phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đảng khẳng định ” nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vai trò của dân chủ hóa toàn bộ đời sống xã hội, của việc phải từng bước xác lập và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, từng bước làm rõ mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhất nguyên về chính trị, bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng; giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền, yêu cầu và tác động của phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế đến việc phát huy dân chủ ở nước ta “.

    Là một trong những đặc trưng thể hiện bản chất của chế độ, dân chủ xã hội chủ nghĩa được hiểu trên một số khía cạnh như sau:

    Thứ nhất, xét về bản chất, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân quản lý và điều hành xã hội.

    Chế độ đó do liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhân dân làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội thông qua nguyên tắc tập trung dân chủ, gắn dân chủ với kỷ cương, đảm bảo bằng luật phát trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật nhằm đảm bảo bản chất của giai cấp lãnh đạo xã hội. Bên cạnh đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa còn là chế độ gắn kết và đảm bảo tính dân tộc kết hợp với tính nhân loại sâu sắc, đảm bảo mọi quyền lợi thực tiễn của mọi cá nhân gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng xã hội.

    Thứ hai, dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là động lực và đặc trưng cơ bản nhất cấu thành nên mô hình phát triển xã hội ở Việt Nam.

    Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là vấn đề cốt lõi, mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của cách mạng Việt Nam. Ở tầm lý luận, có thể nói dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, quy định sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa xã hội và vì vậy sẽ không có chủ nghĩa xã hội nếu chúng ta bỏ qua yếu tố cốt tử này. Dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là nội dung và tiêu chí hàng đầu cơ bản nhất để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    Thứ ba, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được tổ chức chặt chẽ, có sự phân công, phối hợp thực hiện giữa các cơ quan, đơn vị, các tổ chức cấu thành nên nó.

    Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể chính trị – xã hội khác nhau vận hành dưới sự giám sát chặt chẽ của mọi tầng lớp nhân dân nhằm đảm bảo tính minh bạch, công khai và hiệu quả.

    Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định với tính cách là bản chất của chế độ, dân chủ xã hội chủ nghĩa tất yếu phải trải qua quá trình cách mạng lâu dài, với nhiều khó khăn, thách thức. Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình với những bước đi và cách thức phù hợp với hiện thực xã hội. Trong quá trình đó có những nhiệm vụ trước mắt, đòi hỏi phải thực hiện ngay nhưng có những nhiệm vụ mang tầm chiến lược, yêu cầu sự kiên nhẫn, bền bỉ để đạt được những mục tiêu đã xác định, do vậy chúng ta cần thận trọng, kiên trì và có quyết tâm cao để thực hiện những nhiệm vụ mà sự nghiệp dân chủ hóa đời sống xã hội nói riêng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung đã và đang đặt ra cho chúng ta.

    Trong hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, về phương diện thực hành dân chủ, nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa và xã hội, đặc biệt là dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được phát huy và ngày càng mở rộng. Đảng chỉ rõ: “Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn (…). Khẳng định rõ các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội (…). Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị và kinh tế…”.

    2. Những hạn chế, nhận thức chưa rõ và còn ý kiến khác nhau

    – Trong so sánh với nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước, thực trạng dân chủ ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, cả ở việc nhận thức, thực hành và phát huy dân chủ và cả ở việc giám sát và phản biện xã hội. Để đất nước có thể phát triển đúng với các tiềm năng trên cơ sở hội nhập ngày càng chủ động và tích cực hơn với thế giới, thì dân chủ phải được phát huy mạnh mẽ hơn nữa, trước hết là dân chủ ở trong Đảng và tiếp đó là dân chủ trong toàn bộ đời sống xã hội. Ngày nay, dân chủ cần được đối xử như một phương thức cơ bản, quan trọng nhất để tạo động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

    – Thực hiện dân chủ còn nhiều khiếm khuyết hay hạn chế, tức dân chủ chưa thật sự và chưa đầy đủ, thì chắc chắn đó sẽ là một trở ngại đối với sự phát triển hoặc khiến sự phát triển rơi vào tình trạng kém bền vững. Đó còn là một sự lãng phí nguồn lực nội sinh, bởi không dân chủ hoặc thiếu dân chủ thì không thể mở rộng cơ hội để huy động một cách triệt để, hiệu quả các nguồn lực, trước hết là trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân tham gia vào sự phát triển. Không chỉ vậy, sự hạn chế về dân chủ còn khiến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là sức mạnh tinh thần và văn hóa khó tránh khỏi bị phân tán, lãng phí.

    II. Thực trạng thực hiện dân chủ trong những năm qua 1. Những kết quả đạt được 1.1. Dân chủ trong Đảng

    Việc thực hiện dân chủ trong các mặt hoạt động của Đảng, như công tác lý luận, công tác tư tưởng, công tác tổ chức và cán bộ, công tác kiểm tra, v.v. đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cụ thể là:

    Thứ ba, công tác tổ chức, cán bộ đã có nhiều chuyển biến tích cực: Các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể được sắp xếp lại, kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả. Nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp về công tác cán bộ được thể chế hóa, cụ thể hóa thành các quy chế, quy định. Đảng đã triển khai tương đối đồng bộ các khâu đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. Công tác tổ chức, cán bộ chuyển hướng theo hướng dân chủ hóa.

    Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện trong cả hệ thống chính trị, kiểm tra, giám sát từng người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội ở các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà nước. Trong thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát được cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, có nhiều đổi mới và đạt được những kết quả quan trọng.

    Thứ năm, thực hành dân chủ thông qua các quan hệ trong nội bộ Đảng. Đảng phải gương mẫu thực hành dân chủ không chỉ trong các hoạt động của Đảng, mà cả trong quan hệ nội bộ đảng mà chủ yếu là quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới. Mặt ưu điểm của thực hành dân chủ trong quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong nội bộ đảng thể hiện: (1) Sau khi có nghị quyết Đại hội và các hội nghị Trung ương, các cấp dưới thực hiện việc cụ thể hóa nhanh, gọn hơn trước; (2) Nhìn chung các cấp ủy đảng đã thể hiện sự chủ động, năng động cao hơn trong việc tổ chức chỉ đạo thực hiện nghị quyết và đưa nghị quyết vào cuộc sống; (3) Các cấp ủy đảng đã coi trọng công tác tổng kết thực tiễn và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết để báo cáo lên cấp trên; (4) Cấp trên đã chịu khó lắng nghe các ý kiến đóng góp của cấp dưới; cấp dưới đã mạnh dạn đóng góp ý kiến phê bình, xây dựng với cấp trên; (5) Cùng với việc kiểm tra từ trên xuống, đã bắt đầu có sự kiểm tra từ dưới lên; (6) Khắc phục được một bước tình trạng cấp trên quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, dọa nạt cấp dưới, đồng thời khắc phục được phần nào tình trạng cấp dưới hối lộ, nịnh bợ cấp trên.

    1.2. Dân chủ trong Nhà nước

    Dân chủ trong Đảng gắn liền với dân chủ trong Nhà nước. Nói về những thành tựu và hạn chế của việc thực hành dân chủ trong Đảng cũng tức là nói về thành tựu và hạn chế của việc thực hành dân chủ trong Nhà nước. Tuy nhiên, dân chủ trong Nhà nước cũng có những nét đặc thù.

    Quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân có nhiều tiến bộ trên một số mặt, dần dần thể hiện đúng Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động, thích ứng và tổ chức tốt hơn yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở cửa, hội nhập và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong những năm qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã có những tiến bộ nhất định trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quốc hội có những đổi mới quan trọng trong công tác lập pháp, đã thông qua một số lượng lớn luật, bộ luật, pháp lệnh mới với chất lượng ngày càng được nâng cao, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước và thực hành dân chủ. Tăng cường một bước tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, tránh được tình trạng ôm đồm, cồng kềnh và quan liêu trước đây, thực hiên sự phân cấp, giảm bớt phiền hà trong bộ máy hành chính. Dần dần thực hiện được tư tưởng quan trọng là tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để bảo đảm dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương; đồng thời, chỉ có thực hành dân chủ mới xây dựng được Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân.

    Nhờ có những chủ trương đúng đắn của Đảng, nhờ việc thể chế hóa của Nhà nước về những chủ trương đó nên dân chủ trong xã hội đã có những bước tiến đáng kể. Điều đó thể hiện:

    Một là, nhân dân ta cảm nhận bầu không khí dân chủ hơn, cởi mở hơn trong xã hội. Ở cơ sở, người dân đã chủ động bàn bạc, tham gia ý kiến, thực hiện quyền làm chủ, bày tỏ chính kiến của mình; đồng thời, tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, chính quyền, thể hiện tốt vai trò giám sát đối với cán bộ, đảng viên, thẳng thắn góp ý kiến về hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương.

    Hai là, trong 30 năm đổi mới vừa qua, việc thực hành dân chủ trong xã hội đã có những bước tiến căn bản trong các lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa và xã hội. Quyền công dân, quyền con người được khẳng định rõ ràng trong Hiến pháp năm 2013. Có thể nói, một trong thành tựu quan trọng của đổi mới là nền dân chủ đang được hình thành, đang đóng vai trò là động lực của sự phát triển xã hội.

    2. Hạn chế 2.1. Dân chủ trong Đảng

    – Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, tính chiến đấu còn hạn chế, chưa sâu sát thực tế, chưa linh hoạt. Tình trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống một phần là do công tác tư tưởng chưa làm tốt chức năng, nhiệm vụ giáo dục chính trị và tư tưởng. Các thông tin chưa được cung cấp thường xuyên để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Chưa thật sự mở rộng dân chủ trong tự do ngôn luận, lắng nghe các ý kiến khác biệt. Vẫn tồn tại tình trạng nói nhiều, làm ít hoặc nói nhưng không làm.

    – Công tác tổ chức, cán bộ vẫn chậm được đổi mới, còn một số biểu hiện trì trệ, yếu kém, bất cập. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có quá nhiều đầu mối, trách nhiệm tập thể và cá nhân không rõ ràng, chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp. Bộ máy còn cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của nhiều cơ quan còn chồng chéo; cơ chế vận hành và nhiều quan hệ còn bất hợp lý. Chưa thực sự lắng nghe ý kiến của nhân dân về tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp, sử dụng và đánh giá cán bộ. Chưa thực hành dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ, chưa thực hiện cơ chế lựa chọn có số dư cho việc tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ, đặc biệt là chưa mở rộng dân chủ thực sự để tạo ra môi trường cho tài năng được phát huy. Chưa thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa các khâu trong công tác cán bộ để nhân dân được biết và có điều kiện theo dõi, giám sát quá trình triển khai thực hiện;

    – Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là chưa thực hành đầy đủ dân chủ trong công tác này. Hầu hết các vụ tham nhũng, tiêu cực không phải do cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan kiểm tra phát hiện được mà chủ yếu do nhân dân phát hiện, tố cáo hoặc báo chí nêu. Vì vậy, phải xây dựng đầy đủ, đồng bộ cơ chế, chính sách để nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, vì không có cơ chế, chính sách cụ thể, đồng bộ thì nhân dân không thể giám sát, kiểm tra được;

    – Trong Đảng vẫn còn tệ gia trưởng, độc đoán, dân chủ hình thức, đồng thời vô tổ chức, vô kỷ luật. Nhiều việc đưa ra tập thể cấp ủy bàn bạc, nhưng chỉ cốt để hợp thức hóa ý đồ của cá nhân người đứng đầu. Vì người đứng đầu không thật sự mở rộng dân chủ, không tôn trọng lắng nghe ý kiến trái với mình, thậm chí thành kiến, trù dập một cách khôn khéo, nên cấp dưới không dám nói thẳng, nói thật. Nguyên tắc ” tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách ” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm.

    Tóm lại, vấn đề thực hành dân chủ trong Đảng đã có nhiều chuyển biến tích cực so với thời kỳ trước đổi mới, không những thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, trong pháp luật của Nhà nước mà cả trong thực tế cuộc sống. Những chuyển biến đó thể hiện trong các hoạt động của Đảng và trong các quan hệ nội bộ đảng. Nhưng cũng phải thấy rằng, việc thực hành dân chủ trong Đảng vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém. Đảng cần phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để thực hành dân chủ trong Đảng ngày càng tốt hơn, đồng thời nêu tấm gương tốt cho việc thực hành dân chủ trong Nhà nước và trong xã hội.

    2.2. Dân chủ trong Nhà nước

    – Dân chủ trong Nhà nước vẫn còn những hạn chế nhất định. Trong chế độ dân chủ và pháp quyền thì quyền lực nhà nước không phải là quyết định tự có của Nhà nước, mà quyền lực đó được nhân dân ủy quyền, giao quyền. Quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước, giao cho những con người cụ thể, mà ở con người cụ thể khi các dục vọng, thói quen nổi lên thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực càng lớn. Không thể khẳng định người được ủy quyền luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân ủy quyền. Vì vậy, phải kiểm soát quyền lực nhà nước để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền. Muốn kiểm soát quyền lực nhà nước thì phải thực hành dân chủ rộng rãi. Nhưng dân chủ chưa được thực hành rộng rãi nên vẫn còn sự lộng quyền, lạm quyền, vẫn còn tình trạng quan liêu, cửa quyền, phiền hà đối với nhân dân, chưa khắc phục được bệnh tham ô, lãng phí, v.v..

    – Nhà nước còn chậm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về dân chủ thành pháp luật, thành quy chế, nên các chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống rất chậm làm ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước.

    2.3. Dân chủ trong xã hội

    Thực hành dân chủ trong xã hội ở nước ta còn một số hạn chế sau đây:

    Thứ nhất, nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn nhiều hạn chế, nên thiếu trách nhiệm trong việc triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở.

    Thứ hai, nhiều chủ trương về thực hành dân chủ trong xã hội chưa được thể chế hóa, nên chủ trương thì đúng và hay, nhưng thực tế thực hành dân chủ trong xã hội chưa tốt, quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy đủ, thậm chí quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.

    Thứ ba, việc giải quyết yêu cầu phát huy dân chủ, tự do ngôn luận, lắng nghe các ý kiến khác biệt, tư duy phản biện trong xã hội với việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương, phép nước còn nhiều bất cập. Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, dân chủ và pháp luật còn xuất hiện ở không ít người. Trong xã hội còn không ít hiện tượng vừa chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ hay dân chủ hình thức, lại vừa dân chủ quá trớn, cực đoan.

    Thứ tư, chưa có cơ chế bảo đảm để nhân dân thực hiện vai trò chủ thể của quyền lực, trên thực tế, quyền lực vẫn thuộc về các cơ quan nhà nước. Việc nhân dân giám sát chính quyền cũng chưa có cơ chế rõ ràng, trên thực tế, việc giám sát này còn rất mờ nhạt. Tình trạng quan liêu của bộ máy hành chính làm cho yêu cầu quản lý các quá trình kinh tế – xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chưa thật nhanh, nhạy và hiệu quả cao. Trong nhiều trường hợp, “hành chính” trở thành “hành dân là chính”.

    Thứ năm, trong hơn 30 năm qua, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều đổi mới, Nhà nước đã cố gắng xây dựng, ban hành pháp luật và đưa pháp luật trở thành công cụ quan trọng trong quản lý đất nước, thực hành dân chủ trong xã hội. Tuy nhiên, nhìn chung, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa đồng bộ, không thống nhất, hay thay đổi gây khó khăn cho các cơ quan thi hành pháp luật và nhân dân, ảnh hưởng đến việc thực hành dân chủ trong xã hội.

    Tóm lại, so với thời kỳ trước đổi mới thì hiện nay vấn đề dân chủ đã có nhiều tiến bộ nhưng một số vấn đề vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và lý giải một cách nghiêm túc, khoa học, như: vấn đề nhân dân làm chủ như thế nào? Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền như thế nào để tạo cơ sở cho dân chủ phát triển? hay như việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng về dân chủ còn chậm, không kịp thời, không rõ ràng, không đầy đủ, không nhất quán nên việc thực hành dân chủ trong xã hội còn nhiều khó khăn, hoặc rơi vào tình trạng dân chủ hình thức hoặc rơi vào tình trạng dân chủ quá trớn.

    3. Nguyên nhân của mặt hạn chế về dân chủ ở nước ta

    Thứ nhất, vấn đề dân chủ ở nước ta còn chưa được giải quyết tốt cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhiều vấn đề đặt ra chưa được giải quyết rõ ràng. Điều đó gây khó khăn cho việc thực hành dân chủ. Cụ thể như việc chúng ta chưa làm sáng tỏ cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Mặc dù Đảng đề ra cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ nhưng chưa phân rõ chức năng lãnh đạo với chức năng quản lý nên vẫn có sự chồng chéo lên nhau; nhân dân làm chủ như thế nào vẫn chưa rõ và chưa có cơ chế rõ ràng.

    Bên cạnh đó, mặc dù chúng ta coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực, nhưng chưa có lộ trình để đạt mục tiêu đó và vẫn coi nhẹ thực hành dân chủ với tư cách là một động lực của sự phát triển xã hội nên chưa phát huy được động lực này. Chúng ta cũng chưa có nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ cương nên cả hai đều thực hiện chưa tốt, dân chủ chưa được phát huy, kỷ cương không được xiết chặt, cả dân chủ lẫn kỷ cương đều vừa thiếu lại vừa yếu.

    Thứ hai, việc thực hành dân chủ trong Đảng và trong Nhà nước của chúng ta chưa tốt nên ảnh hưởng đến thực hành dân chủ trong xã hội, Đảng chưa nêu được tấm gương về thực hành dân chủ.

    Thứ ba, Nhà nước pháp quyền đang trong giai đoạn hình thành cho nên việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng về dân chủ chưa kịp thời. Mặt khác, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội chưa thực hiện triệt để vai trò giám sát và phản biện xã hội. Chúng ta còn né tránh và chưa cho phép xây dựng các thiết chế xã hội để giảm sát và phản biện các vấn đề xã hội. Điều này ảnh hưởng to lớn tới việc thực hành dân chủ trong xã hội.

    Ngoài ra, còn có nhiều nguyên nhân khác nữa, nhưng những nguyên nhân nói trên là những nguyên nhân chủ yếu của mặt hạn chế dân chủ ở nước ta.

    GS.TS Phạm Văn Đức PGS.TS Bùi Nguyên Khánh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Phố Hồ Chí Minh Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Di Chúc Của Bác Hồ
  • Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Di Chúc Của Bác
  • Đề Cương 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm, Giải Pháp Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Di Chúc Của Bác
  • Giải Pháp Tăng Cường Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Trong Các Trường Trung Học Cơ Sở Thành Phố Uông Bí Tỉnh Quảng Ninh
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100