Cơ Sở Lý Luận Và Thực Tiễn Xây Dựng Gia Đình Việt Nam Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • “gia Đình Việt Nam Trong Bối Cảnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Và Hội Nhập Quốc Tế”
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Hn; Stgt Kinh Tế Hàng Hóa, Ql Cạnh Tranh
  • Đề Cương Môn Học Kinh Tế Vi Mô 2
  • Ngày đăng: 06/12/2018 05:53

    Gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt trong cơ cấu của xã hội. Sự ổn định và phát triển của gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự ổn định và phát triển xã hội. Việt Nam là một trong số những nước có truyền thống tôn trọng gia đình. Tuy nhiên, đã có một thời gian dài do phải tập trung giải quyết các vấn đề giải phóng dân tộc, thống nhất và xây dựng đất nước nên chúng ta đã không có điều kiện để nghiên cứu về gia đình. Gia đình ở nước ta, bên cạnh những bước phát triển mới, tiến bộ, thuận lợi cũng phải đối diện với rất nhiều thách thức và bước đầu có những dấu hiệu của sự khủng hoảng. Những định hướng về xây dựng giá trị, chuẩn mực gia đình trong thời kỳ mới chưa rõ ràng và chưa trở thành học thuyết cho các gia đình noi theo. Bởi vậy, nghiên cứu về gia đình nhằm xây dựng những luận cứ khoa học cho việc củng cố và phát triển gia đình là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam hiện nay.

    1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu khoa học về gia đình

    1.1 Đóng góp về lý luận của các nghiên cứu gia đình trên thế giới

    Có thể nói, gia đình gắn bó chặt chẽ với con người và xã hội, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Điều này dẫn tới nhu cầu phải liên kết các ngành khoa học trong nghiên cứu gia đình và việc hình thành một chuyên ngành khoa học còn khá mới mẻ gọi là Gia đình học (Family Study).

    Từ thời cổ đại, ba trụ cột triết học cổ điển Hy Lạp: Socrates (469-399), Platon (427-347), Aristoteles (384-322) trước Công nguyên đã đặt nền móng cho nghiên cứu về hôn nhân và gia đình. Platon đã đề cập nhiều về gia đình và cá nhân trong mô hình quản lý của “nhà nước lý tưởng”. Tuy nhiên, có thể coi nhà triết học Hy Lạp Aristoteles là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về gia đình một cách hệ thống. Ông đã dựa vào phương pháp phân tích thực nghiệm để nghiên cứu các hiện tượng xã hội và xác định hệ thống gia đình một cách tổng quát và coi gia đình là một phạm trù biến đổi, vừa mang tính lịch sử vừa mang tính đặc thù của các xã hội.

    Ở phương Đông, các nhà kinh điển của Nho giáo Trung Quốc đặt gia đình vào mối quan hệ với toàn bộ hệ thống xã hội của con người, coi Nhà là mắt xích quan trọng nhất nối kết con người với đất nước và thế giới (Thân – Nhà – Nước – Thiên hạ). Các tác phẩm của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử (Nho giáo nguyên thủy) và Trình Y Xuyên, Đổng Trọng Thư (hậu Nho) đã đặt nền móng cho các quan điểm nghiên cứu về gia đình ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên là những nước theo Nho giáo thời cổ.

    V.Ph.Hêghel là nhà triết học duy tâm khách quan nổi tiếng của nước Đức đã đưa ra các vấn đề về mối quan hệ biện chứng trong gia đình. Nhà triết học Pháp J.J. Rousseau đã chỉ rõ xã hội tư bản trong giai đoạn đầu tiên đang phá hoại các chuẩn mực văn hoá gia đình truyền thống và khuyên con người nên trở lại gia đình truyền thống (J.J. Rousseau, 1964). Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, Thomas More, Charles Fourier, Robert Owen, Saint-Simon đã đưa ra mô hình bình đẳng giới trong gia đình và xã hội.

    Trên thế giới, những nghiên cứu khoa học về gia đình một cách thực sự bài bản và có hệ thống được bắt đầu từ thế kỷ XIX. Việt Nam chịu ảnh hưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với bộ “Tư bản” của C.Mác, tác phẩm “Nguồn gốc Gia đình, của Chế độ tư hữu và của Nhà nước” của Ph.Ănghen, các tác phẩm của V.I.Lênin về Cách mạng tháng Mười, về gia đình vô sản đã đưa ra quan điểm về giải phóng con người, gia đình theo chế độ một vợ một chồng, bình đẳng nam nữ, gia đình dựa trên tình yêu, con người yêu và sống có trách nhiệm với nhau mà không có sự kỳ thị, phân biệt.

    1.2 Đóng góp lý luận của các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam

    Ngay từ thời phong kiến, nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ đã chú ý tới gia đình, điển hình là tác phẩm “Gia huấn ca” của Nguyễn Trãi, “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu, “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ. Tuy nhiên, phải đến năm 1986, các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam mới được phát triển một cách có hệ thống. Cũng như nhiều nước trên thế giới, các nghiên cứu gia đình Việt Nam được đề cập tới từ nhiều góc độ triết học, sử học, dân tộc học, văn học, tâm lý học, giáo dục học, dân số học, văn hóa học, nhân loại học, phụ nữ học, giới…

    Có thể chia ra ba mảng nghiên cứu lớn: nghiên cứu về các chính sách gia đình và tác động của chính sách đối với gia đình; các vấn đề về gia đình truyền thống (giai đoạn trước năm 1945); các vấn đề về gia đình hiện đại (từ năm 1945 đến nay).

    Trước hết là các vấn đề về chính sách gia đình:

    Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hiện đại không chỉ là cuộc cách mạng xã hội mà còn là cuộc cách mạng về gia đình. Nó tạo ra sự biến đổi lớn lao cho gia đình, tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề bất công trong gia đình như bất bình đẳng giới, giải phóng và giáo dục con người. Việc đấu tranh nhằm xoá bỏ những tập quán lỗi thời, những hiện tượng phản nhân văn trong đời sống gia đình đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các chính sách về gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Luật Người cao tuổi…; các chiến lược quốc gia về gia đình đã nhất quán quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về gia đình, đó là: thực hiện chế độ một vợ, một chồng; cha mẹ gương mẫu, con cái hiếu thảo; anh em giúp đỡ, hòa thuận; tôn trọng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới; bảo vệ trẻ em; chăm sóc người cao tuổi; bảo vệ quyền cá nhân hợp pháp trong gia đình; xây dựng gia đình văn hóa; xác định quyền và trách nhiệm của các cá nhân trong gia đình; quyền lợi và trách nhiệm của gia đình với xã hội, ngược lại – trách nhiệm và quyền lợi của xã hội với gia đình; gia đình tuân thủ và thực hiện luật pháp…

    Những chính sách trên đã tạo điều kiện cho các nghiên cứu về gia đình phát triển. Tổng điều tra dân số và nhà ở các năm của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương đã công bố kết quả cơ bản về phân bố dân số và nhà ở của thành thị, nông thôn và tỷ lệ tăng dân số theo vùng kinh tế – xã hội, tỷ lệ giới tính.

    Từ công cuộc đổi mới (năm 1986), các cuộc điều tra xã hội học về gia đình do nhiều cơ quan tiến hành đã đưa đến cái nhìn toàn diện hơn về gia đình Việt Nam hiện đại. Có thể nêu một số tác phẩm về gia đình như: “Gia đình học” (2007) của Đặng Cảnh Khanh và Mai Thị Quý đã trình bày tương đối toàn diện về vấn đề gia đình ở Việt Nam và một số nghiên cứu của gia đình trên thế giới; nghiên cứu về gia đình và biến đổi gia đình ở nông thôn của Vũ Tuấn Huy trong tác phẩm “Xu hướng gia đình ngày nay” đã phân tích sự chuyển đổi của hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và đưa ra các chỉ báo thú vị về gia đình trong hiện tại và tương lai; tác giả Nguyễn Từ Chi đưa ra nhiều nhận định dân tộc học và xã hội học về gia đình trong “Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam”. Tác giả Nguyễn Đình Tấn trong “Sự thay đổi vai trò của người chồng, người cha trong gia đình từ truyền thống đến hiện đại” đã nêu ra một vấn đề rất mới về người đàn ông trong xã hội bình đẳng giới. Đây cũng là nghiên cứu khẳng định sự thay đổi từ thời đại gia trưởng sang thời đại bình đẳng giới khi quyền lợi chính đáng của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đang được Nhà nước và xã hội bảo vệ. Tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề về vị thành niên trong tác phẩm “Một số vấn đề từ những khảo sát xã hội học về vị thành niên trong môi trường gia đình” và người cao tuổi trong tác phẩm “Người cao tuổi và các mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam”. Tác giả đã phân tích hai thế hệ khác biệt về tuổi tác, lối sống, điều kiện sống, nhu cầu, sở thích trong gia đình; đã đưa ra những khuyến nghị cho Nhà nước và thông điệp cho xã hội cần phải có các chính sách khác biệt cho mỗi thế hệ trong gia đình…

    Từ những nghiên cứu về gia đình nêu trên, có thể đưa ra một số vấn đề lý luận sau:

    – Gia đình Việt Nam có những bước phát triển đặc trưng giống với các nước khác từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Tuy nhiên, gia đình Việt Nam cũng có những nét đặc trưng riêng, đó là sự kết tinh của văn hóa truyền thống Việt Nam, một xã hội nông nghiệp theo Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và văn hóa bản địa đặc sắc thể hiện qua lối sống, các giá trị chuẩn mực, các tục lệ và tín ngưỡng của các vùng miền.

    – Gia đình Việt Nam phát triển trong một xã hội đa dân tộc, vì vậy vừa có tính chung vừa phản ánh tính riêng của các dân tộc, đa dạng trong sự thống nhất.

    – Gia đình Việt Nam đổi mới theo chính sách của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ và đóng góp to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

    – Gia đình Việt Nam đang kế thừa các truyền thống tốt đẹp của dân tộc kết hợp với tinh hoa của thời đại và đang chịu ảnh hưởng của các trào lưu, lối sống hiện đại của nhiều nước trên thế giới trong xu thế mở cửa kinh tế và toàn cầu hóa.

    2. Cơ sở thực tiễn của xây dựng gia đình Việt Nam

    Sự tồn tại của gia đình với các hoạt động phong phú qua các thời đại lịch sử là cơ sở thực tiễn để xây dựng và phát triển gia đình. Việc thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình chính là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành các chính sách, xây dựng những chuẩn mực và định hướng giá trị tốt đẹp của gia đình. Gia đình phát triển sẽ không chỉ củng cố các mối quan hệ gia đình, hình thành nhân cách con người mà còn kiến tạo một môi trường xã hội thuận lợi cho mỗi cá nhân được phát triển hài hoà và toàn diện. Về phương diện này, gia đình là cơ sở đầu tiên cho việc tái sản xuất ra con người và xã hội.

    Trước hết, chức năng kinh tế của gia đình khẳng định gia đình không chỉ tạo ra nguồn thu nhập cho sự tồn tại của mình mà còn cung cấp lực lượng lao động, của cải cho xã hội và tham gia vào các quá trình kinh tế của xã hội từ sản xuất, phân phối đến trao đổi và tiêu dùng. Mọi nhân tài của đất nước, từ các anh hùng, vĩ nhân, cán bộ, những người lính cũng như các tầng lớp công nhân, nông dân, lao động tự do, trí thức đều xuất thân từ gia đình. Bước qua ngưỡng cửa của gia đình, họ có mặt trên tất cả các vị trí, điều tiết và vận hành bộ máy của xã hội.

    Chức năng văn hóa của gia đình đã đóng góp vào việc xây dựng các chuẩn mực và giá trị đạo đức, phong tục tập quán, lối sống văn hoá, giáo dục của xã hội. Gia đình là một mắt xích quan trọng trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với làng xóm, cộng đồng, đất nước. Đây chính là những nhân tố “phi kinh tế” không thể thiếu được để thúc đẩy và dẫn đường cho những phát triển về kinh tế.

    Chức năng tinh thần, tình cảm của gia đình là một chức năng đặc biệt. Từ tình thương yêu đối với gia đình dẫn tới tình thương yêu đối với cộng đồng, xã hội, Tổ quốc. Chính tình thương yêu đó là chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại, phát triển của đất nước trước những biến động dữ dội của lịch sử. Người Việt Nam giải quyết tất cả các mối quan hệ không chỉ theo luật pháp mà còn trên cơ sở của tình nghĩa.

    Trong gia đình Việt Nam truyền thống, “hiếu đễ” được coi là cái gốc của đạo lý. Ai bất hiếu với cha mẹ, tàn nhẫn với anh, chị, em mình thì không thể là người tốt và đáng tin cậy trong xã hội được. Bên cạnh đó, mối quan hệ trên dưới trong gia đình được quy định rất rõ ràng. Con người, trước hết là một bộ phận của gia đình, là một mắt xích bắt nguồn từ tổ tiên đến con cháu sau này. Ở những vị trí cụ thể của mình là cha, con, chồng, vợ đều phải ứng xử theo phận sự của mình, cha mẹ nhân từ, con cái hiếu thảo, vợ chồng hoà thuận, thủy chung, anh chị nhường nhịn em, em kính trọng anh chị. Nếu tất cả các thành viên đều giữ đúng lễ nghĩa của mình thì gia đình mới ổn định, xã hội mới thái bình.

    Chức năng sinh sản, duy trì và phát triển nòi giống cũng được quan tâm hơn trước. Các gia đình không còn sinh nhiều con với chất lượng thấp mà quan tâm đến việc ít con với chất lượng cao. Chất lượng sống, chất lượng con người là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết gia đình hiện nay.

    Chức năng giáo dục của gia đình đóng vai trò quan trọng, là cốt lõi trong chức năng giáo dục của xã hội. Nó là nền tảng của giáo dục xã hội trong việc hình thành nhân cách con người, cách ứng xử và đạo đức của con người. Con người mẫu mực thường xuất thân trong các gia đình có nền giáo dục cao (gia giáo), ngược lại những gia đình khủng hoảng, bỏ rơi con cái, quan hệ phức tạp sẽ tạo ra những con người ốm yếu về thể chất, tinh thần hoặc rơi vào tệ nạn xã hội và tệ hại hơn là vi phạm pháp luật, tội phạm.

    Điều quan trọng hiện nay là làm rõ một số vấn đề như gia đình cần kế thừa và phát huy truyền thống gì, tiếp thu tính hiện đại nào? Cha mẹ thường dạy con theo bản năng, kinh nghiệm học được từ thế hệ trước hoặc từ sách báo, vì vậy nhìn chung sự giáo dục này không được nhất quán và toàn diện trong khi xã hội phát triển đa dạng trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Cũng cần thấy rõ những biểu hiện tiêu cực hiện nay của gia đình, chẳng hạn, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, giá trị của đồng tiền đã và đang len lỏi vào các mối quan hệ gia đình. Hiện tượng này mang lại cả hiệu quả tích cực lẫn tiêu cực. Sự bận rộn của các thành viên gia đình trong các hoạt động kinh tế và xã hội làm giảm sút thời gian sinh hoạt tập thể của gia đình. Vấn đề chăm sóc và giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ già cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, lối sống tự do của các xã hội công nghiệp phát triển đã xâm nhập vào nước ta và thực sự chưa phù hợp với trình độ phát triển cũng như truyền thống dân tộc. Trong khi đó, những nếp nghĩ và thói quen lạc hậu, cổ hủ, phong kiến đang có xu hướng phục hồi. Những quan niệm của chủ nghĩa gia trưởng, thói coi thường phụ nữ, nạn bạo lực, xung đột trong gia đình đã phát triển ở cả thành thị và nông thôn. Hiện tượng khủng hoảng của gia đình hiện nay là tất yếu khi gia đình không có nhiều sức đề kháng trước những cơn bão của xã hội, thời cuộc.

    Ngày nay, giáo dục gia đình không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà ông bà, cha mẹ còn phải được học tập, có thể học từ trường lớp, học từ sách báo và phải tuân theo pháp luật. Giáo dục nhân cách con người theo các chuẩn mực truyền thống là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, công, dung, ngôn, hạnh cần được khôi phục trong bối cảnh các chuẩn mực đó đang dần mất đi, nhưng cũng cần được bổ sung theo các quan điểm hiện đại. Các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không chỉ dựa trên tình yêu thương mà còn trên cơ sở của pháp luật về quyền tự do cá nhân. Trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên trong gia đình cần phải tiến dần tới sự công bằng, mối quan hệ giới phải được coi là tiến bộ và được pháp luật bảo vệ.

    3. Một số đề xuất, kiến nghị

    – Các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách về gia đình cần dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về gia đình. Lý luận soi đường, đem đến những kinh nghiệm quý báu, những bài học sâu sắc, còn thực tiễn là các trải nghiệm để chúng ta hoàn thiện gia đình. Do đó, cần nhận dạng gia đình với các mặt tích cực và thách thức, đồng thời dự báo hướng phát triển của gia đình trong tương lai.

    – Đảng và Nhà nước cần có các chính sách sát hợp với gia đình dựa trên cơ sở khoa học để quản lý sự phát triển gia đình đúng hướng, tạo sự hài hòa giữa gia đình và xã hội, bảo đảm các yếu tố truyền thống có chọn lọc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Thực hiện quản lý nhà nước về gia đình, đặc biệt trong các trường hợp gia đình suy thoái, khủng hoảng, bạo lực, tệ nạn xã hội và tội phạm.

    – Tạo mối quan hệ lành mạnh giữa gia đình và xã hội, giữa gia đình với luật pháp. Gia đình vừa đóng vai trò tích cực, tham gia vào xây dựng, phổ biến chính sách vừa thực hiện, phản biện và kiểm soát chính sách.

    – Cần quan tâm đến việc phát triển gia đình đa dạng hiện nay. Đó là các gia đình đa văn hóa đang ngày càng phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Du Lịch Việt Nam Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Chức Năng Của Xuất Khẩu Và Vai Trò Của Xuất Khẩu Ra Sao ?
  • Trên Cơ Sở Hiến Pháp Mới, Cần Định Đúng Vị Trí, Vai Trò Của Nhà Nước Và Kinh Tế Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Vai Trò Điều Tiết Kinh Tế Vĩ Mô Của Nhà Nước Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa
  • Phân Tích Về Lĩnh Vực Du Lịch
  • Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc Bền Vững Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tp Hồ Chí Minh Trao Đổi Kinh Nghiệm, Giải Pháp Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc
  • Cách Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc
  • Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc, Phát Triển Bền Vững
  • Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc
  • Hỗ Trợ Phụ Nữ Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc, Bền Vững
  • Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực đạo đức có giá trị tốt đẹp. Những truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, kính già, yêu trẻ, tình nghĩa, thuỷ chung, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Qua các thời kỳ, cấu trúc và quan hệ trong gia đình có thay đổi, nhưng những chức năng cơ bản của gia đình vẫn được gìn giữ.

    Một gia đình hạnh phúc, hoà thuận sẽ tác động tới cộng đồng, thúc đẩy xã hội vận động tạo ra sự biến đổi và phát triển. Gia đình hạnh phúc bền vững không chỉ có sự “no ấm, bình đẳng, tiến bộ” mà còn là nơi hội tụ tổng thể những nét đẹp văn hoá của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội. Nó được thể hiện qua thái độ, hành vi, cách cư xử trong gia đình, trong đó phải đảm bảo các nguyên tắc: Đối với người trên phải tôn kính, lễ độ, khiêm tốn và quan tâm, chăm sóc; đối với người dưới phải biểu lộ thái độ thông cảm, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; đối với người cùng thế hệ phải hết sức tôn trọng, chân thành, bác ái; trong quan hệ vợ chồng phải hoà thuận trên cơ sở tình yêu thương chung thuỷ và sự hiểu biết lẫn nhau.

    Thực tiễn đã chứng minh, gia đình yên ấm hạnh phúc là điều kiện, tiền đề quan trọng cho sự hình thành, phát triển nhân cách và bảo đảm cho lao động sáng tạo đạt hiệu quả cao nhất. Mỗi thành viên đều có trách nhiệm vun đắp, tham gia xây dựng tổ ấm gia đình, trong đó người vợ, người mẹ có vai trò rất quan trọng. Trong giáo dục con cái phải kết hợp chặt chẽ giữa môi trường “Gia đình – nhà trường – xã hội ” thì hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn. Tuy nhiên, chúng ta không nên “tuyệt đối hoá” giáo dục trong gia đình mà xem nhẹ giáo dục ở nhà trường và xã hội, hoặc “phó mặc” sự giáo dục con cái cho nhà trường và xã hội…

    Cùng với những thành tựu chung của đất nước, sau khi có đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, trên lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng có nhiều tiến bộ tích cực như: ý thức xây dựng gia đình được nâng cao, các chức năng gia đình từng bước thực hiện đầy đủ; lợi ích gia đình dần được đảm bảo. Hoạt động kinh tế gia đình từng bước được phát triển, đời sống vật chất và tinh thần gia đình được cải thiện rõ rệt, trong đó có một bộ phận gia đình trở nên giàu có. Các mối quan hệ trong gia đình ngày càng được tôn trọng, bình đẳng và dân chủ. Quyền trẻ em, quyền tự do và bình đẳng trong hôn nhân của các thành viên được khẳng định và tôn trọng. Kết cấu và quy mô gia đình ngày càng thu hẹp để hình thành các gia đình “hạt nhân” và sinh đẻ ít con hơn, tạo cơ hội chăm sóc và nuôi dạy con tốt hơn…

    Xây dựng gia đình mới XHCN trên cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp nhất của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại về gia đình đó là, phải biết “gạn đục khơi trong” gạt bỏ và hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm tạo sự phát triển của từng gia đình và xã hội, phải dựa trên cơ sở “Hôn nhân tiến bộ” coi tình yêu chân chính là cơ sở tinh thần chủ yếu. Hôn nhân “một vợ một chồng” đồng thời phải xây dựng mối quan hệ bình đẳng, thương yêu, có trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình. Xây dựng mối quan hệ giữa gia đình và cộng đồng với các tổ chức chính trị, xã hội khác, đảm bảo các quyền lợi cho phụ nữ và bảo đảm sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình.

    Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, gia đình ở nước ta hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế cần được khắc phục như: mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang tác động tiêu cực đến đạo đức xã hội, nhiều tệ nạn xã hội “tấn công” vào các gia đình, ảnh hưởng lớn đến lối sống, đến việc hình thành nhân cách của con người và các mối quan hệ trong gia đình; quan hệ vợ chồng, anh em, họ hàng, làng xóm bị phai mờ, giá trị tinh thần bị xem nhẹ; những thay đổi của xã hội đã kéo theo sự thay đổi của gia đình, khiến cho các quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo; nhiều gia đình có điều kiện, cha mẹ mải lo làm ăn, công tác, không có thời gian quan tâm giáo dục con cái dẫn đến con cái hư hỏng, sa vào tệ nạn xã hội.

    Tình trạng ly hôn, ly thân ngày càng gia tăng kéo theo những hệ lụy không nhỏ đối với từng gia đình và toàn xã hội: trẻ em hư hỏng, tiếp thu văn hóa phẩm tiêu cực, bỏ học lang thang kiếm sống, vi phạm pháp luật… Bạo lực gia đình có xu hướng tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ, người già, trẻ em. Một trong những nguyên nhân đó là: do sự tác động của mặt trái xu thế toàn cầu hoá, nhận thức về vị trí, vai trò của gia đình chưa đầy đủ vì thế mà những giá trị của gia đình truyền thống chưa thật sự được quan tâm, chưa thấy hết và khai thác tốt tiềm lực kinh tế gia đình.

    Vì vậy xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững là trách nhiệm chung của mỗi cá nhân, của các gia đình và của toàn xã hội. Trong đó cần chú ý một số giải pháp sau:

    Thứ nhất: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và sự chỉ đạo của chính quyền các cấp đối với công tác gia đình.

    Cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp cần xác định công tác gia đình là một trong những nội dung quan trọng trong các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; xem đây là nhiệm vụ thường xuyên; xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể giải quyết những thách thức khó khăn về gia đình và công tác gia đình; xoá bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình; phòng chống các tệ nạn xã hội, bạo lực trong gia đình; đấu tranh chống lối sống thực dụng, vị kỷ, đồi truỵ; tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ sự ổn định và phát triển của gia đình. Quan tâm một cách thiết thực và toàn diện hơn nữa đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người để xây dựng gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc bền vững”.

    Thứ hai: Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục, vận động nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cộng đồng và các thành viên gia đình về vị trí, vai trò của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; thực hiện chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về hôn nhân và gia đình; giúp các gia đình có kiến thức và kỹ năng sống, chủ động phòng chống sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình, kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển.

    Thứ tư: Xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống dịch vụ gia đình và cộng đồng; tạo điều kiện cho mọi gia đình tiếp cận được kiến thức pháp luật, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật và phúc lợi xã hội….

    Để từng gia đình là hạt nhân tốt của xã hội, thiết nghĩ bên cạnh sự chăm lo của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội thì vai trò của từng gia đình và các thành viên trong gia đình là hết sức quan trọng và có tính quyết định. Toàn xã hội quan tâm đến công tác xây dựng gia đình, nhưng từng gia đình và các thành viên biết quan tâm đến nhau, sống có trách nhiệm mới là xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững./.

    Thanh Lan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Camera Hộ Gia Đình, Căn Hộ
  • Giải Pháp Camera Cho Gia Đình
  • Lắp Đặt Camera Quan Sát Cho Hộ Gia Đình, Nhà Ở
  • Bán Giải Pháp Camera Cho Gia Đình Tốt, Giá Rẻ, Tốt, Dịch Vụ Lắp Đặt Tận Nơi Tại Tp Hcm
  • Đánh Giá Cán Bộ Đa Chiều: Khắc Phục Tình Trạng Chọn Nhầm Cán Bộ
  • Đề Tài Vị Trí Vai Trò Của Gia Đình Trong Xã Hội Xây Dựng Gia Đình Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Chức Năng Của Gia Đình Hiện Nay
  • Gia Đình Là Gì? Ý Nghĩa Của Gia Đình?
  • Dfc: Rối Loạn Chức Năng Gia Đình Circus
  • Acdf: Dành Cho Người Lớn Trẻ Em Từ Rối Loạn Chức Năng Gia Đình
  • Dfp: Rối Loạn Chức Năng Gia Đình Đi Dã Ngoại
  • biết đầu tiên của con cái cũng được đem lại từ gia đình. Bởi vậy, chức năng nuôi dưỡng, giáo dục con cái là chức năng thường xuyên của gia đình, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, lối sống, đạo đức của mỗi người. Đối với chức năng này, vai trò của cha mẹ đối với con cái trong việc giáo dục con cái là hết sức quan trọng. Cha mẹ giáo dục con cái về mọi mặt từ nội dung đến hình thức. Nội dung giáo dục trong gia đình mang tính đa dạng, toàn diện. Từ giáo dục về cách ứng xử hàng ngày với ông bà, cha mẹ, anh em, láng giềng… đến những việc nhân nghĩa, tình yêu quê hương, đất nước… hay đó là những bài học về giới tính, lứa tuổi, công việc… Đồng thời, hình thức giáo dục của cha mẹ không chỉ bằng lời nói, thái độ, tình cảm mà cha mẹ phải nêu gương trước, phải trở thành tấm gương mẫu mực cho con cái noi theo. Bên cạnh gia đình, nhà trường, xã hội và các tổ chức quần chúng có sự phối hợp, hỗ trợ trong việc giáo dục con người, nhưng không thể thay thế được. Bởi vậy, sai lầm nhỏ trong việc giáo dục của cha mẹ đối với con cái cũng có thể gây nên hậu quả đáng tiếc. Hiện nay, việc con cái yêu sớm rồi nạo hút thai ngoài ý muốn đang gióng lên hồi chuông báo động không chỉ cho các bậc cha mẹ mà cho cả xã hội. Nhiều người có con cái lâm vào tình trạng này đều đổ lỗi cho xã hội. Nhưng nếu xét kĩ thì nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ em vị thành niên yêu sớm, và quan hệ tình dục dẫn đến nạo hút thai vẫn thuộc về các bậc làm cha làm mẹ nhiều nhất. Vẫn còn đa số các bậc cha mẹ không quan tâm đến các mối quan hệ của con cái ngoài việc học hành của chúng. Đó là chưa kể đến các bậc phụ huynh mải lo buôn bán làm ăn, khoán trắng việc học hành cũng như tâm tư tình cảm của con mình cho người giúp việc, gia sư, nhà trường… Phải chăng, chính từ suy nghĩ và quan niệm như trên mà các bậc phụ huynh đã vô tình cho con mình vào con đường tình ái sớm, để lại hậu quả đáng tiếc cho các em và nỗi hận day dứt cho chính mình. 1.3.3. Chức năng kinh tế. Theo quan điểm duy vật biện chứng thì nhân tố quyết định trong lịch sử là sản xuất. Bản thân sản xuất lại có hai loại: sản xuất ra con người và sản xuất ra tư liệu sinh hoạt. Bên cạnh việc sản xuất ra con người (chức năng duy trì nòi giống) gia đình còn tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Đây chính là chức năng kinh tế của gia đình. Với chức năng này, gia đình huy động mọi tiềm năng về sức lao động, vốn, tay nghề của nguồn lao động mà gia đình cung cấp cho xã hội. Mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế phù hợp với từng lứa tuổi, giới tính, trình độ… Cùng với sự phát triển của xã hội, chức năng kinh tế của gia đình cũng phát triển khá đa dạng, phong phú. Nó thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… trên mọi lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Thực hiện chức năng này, gia đình đảm bảo nguồn sinh sống, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình, đồng thời đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội. Từ khi chế độ tư hữu ra đời thì người đàn ông chiếm vị trí quan trọng hơn so với người phụ nữ trong lao động. Điều này dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong xã hội như quan niệm: “trọng nam khinh nữ”… Xã hội càng tiến lên, càng phải vật lộn với cuộc sống. Chẳng những người đàn ông mà người phụ nữ cũng phải có tài. Ngày nay, phụ nữ đã và đang chứng tỏ được vai trò của mình trong gia đình với việc thực hiện chức năng kinh tế. Giờ đây, phụ nữ làm giàu còn giỏi hơn đàn ông. Theo kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu Anh, số lượng những phụ nữ giàu có tăng lên rõ rệt. Điều đó khiến chỉ riêng ở Anh đã có tới 360 nghìn nữ triệu phú. Đương nhiên, nó có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân chủ yếu là do các phụ nữ trẻ tháo vát và mạnh dan hơn nam giới trong các vấn đề tài chính, họ tiết kiệm hơn và tính toán hiệu quả hơn, biết tận dụng mọi khả năng của họ tốt hơn nam giới. Phần lớn, những phụ nữ kinh doanh thành đạt thường có gia đình êm ấm, hạnh phúc, hơn nữa người chồng thường hỗ trợ cho vợ bằng cách tự nguyện đảm nhận phần chủ yếu công việc nội trợ. Thế mới biết “thành công trong kinh doanh không phụ thuộc vào giới tính, miễn là bạn có sản phẩm tốt và những kỹ năng cần thiết”. 1.3.4. Chức năng tổ chức đời sống. Đây cũng là chức năng thường xuyên của gia đình. Việc tổ chức đời sống là việc sử lý hợp lý các khoản thu nhập, đóng góp của các thành viên trong gia đình nhằm đảm bảo nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên, đồng thời tạo ra môi trường văn hoá lành mạnh trong gia đình, nhằm nâng cao sức khoẻ, tình cảm, trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình. Chức năng tổ chức đời sống, là công việc của mọi thành viên trong gia đình. Nó có tính đa chiều: các thành viên có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Cha mẹ, ông bà có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, cháu chắt. Ngược lại, con cái có bổn phận kính trọng, hiếu thảo và phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Trong chức năng tổ chức đời sống gia đình, vị trí, vai trò của người phụ nữ càng nổi lên rõ rệt, thể hiện qua cách cư xử thường nhật: từ chuyện nội trợ đến vai trò, trách nhiệm làm tròn đến đâu với con cái, với cha mẹ hai bên, với họ hàng làng xóm… Công việc nội trợ là công việc rất quan trọng. Người phụ nữ phải biết “giữ” chồng con qua bếp lửa ấm. Còn gì hạnh phúc hơn sau một ngày làm việc mệt mỏi, cả gia đình được sum vầy, ấm cúng bên nhau. Công việc nội trợ vừa gắn kết tình cảm các thành viên với nhau, vừa nhanh chóng tái tạo sức lao động, bồi dưỡng trí lực, thể lực của mọi thành viên trong gia đình… Như vậy, để có hoà khí êm ấm của gia đình hạnh phúc là cả mồ hôi, công sức, đôi khi cả xương máu của người chồng, người vợ và các đứa con – những thành viên luôn khao khát một tổ ấm sum vầy. Dù thế, cuộc sống vẫn như một dòng chảy bất tận, và trong dòng chảy của sinh sôi phát triển, con người luôn truyền giữ nhu cầu xây đắp hạnh phúc dài lâu. Hơn lúc nào hết, mỗi người chúng ta cần ý thức gia đình là vấn đề toàn cầu. Tóm lại gia đình là đặc ân của con người, gia đình luôn đòi hỏi tình yêu thương, ý thức vun đắp dựng xây của mỗi thành viên, qua đó các chức năng cơ bản của gia đình được bộc lộ. Các chức năng của giáo dục không tách rời nhau mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Mỗi một chức năng là một đặc thù của gia đình mà không một cộng đồng xã hội nào có thể thay thế được. Đặc biệt, phải chú trọng đến vai trò người phụ nữ trong gia đình bởi đấy chính là thiên chức của người phụ nữ. Kết quả từ các cuộc thăm dò xã hội cho thấy, tỉ lệ phụ nữ mong ước và đạt kế hoạch cụ thể phấn đấu cho mẫu hình gia đình hạnh phúc thương cao hơn so với nam giới. Như vậy, không nên hiểu nhầm nam giới có ý thức gia đình kém hơn nữ giới. Chẳng qua, thiên chức bẩm sinh của phái mạnh thường hướng về sự nghiệp. Phái yếu thường đề cao vai trò và ý nghĩa của gia đình hơn. Chính vì vậy, quan tâm đến việc xây dựng gia đình tốt là quan tâm đến người phụ nữ, tạo điều kiện cho họ vừa tham gia các hoạt động xã hội, vừa làm tốt vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình, xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Chương 2. Xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay. 2.1. Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay. Gia đình có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ngược lại, gia đình cũng chịu tác động của các điều kiện kinh tế – xã hội . Trình độ phát triển của xã hội quy định các hình thức gia đình và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình . Nước ta hiện nay đang ở chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đã thực hiện được nhiều chiến lược đổi mới toàn diện. Đặc biệt nền kinh tế chuyển từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Cùng với sự phát triển của kinh tế, gia đình Việt Nam đã có sự đổi mới so với trước kia. 2.1.1. Gia đình Việt Nam trong lịch sử. Gia đình truyền thống Việt Nam gắn với xã hội cũ: nền kinh tế nông nghiệp, tự cung, tự cấp, xã hội chịu ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng Nho giáo… Do đó nó mang nặng tính chất phụ quyền và gia trưởng: “trọng nam khinh nữ”, người đàn ông nắm quyền chỉ huy. Gia đình được xây dựng theo kiểu tôn ti trật tự rõ ràng và mọi người đều phải ý thức về phân vị, xử sự theo đúng thân phận của mình. Ví dụ: người phụ nữ tề gia nội trợ, người đàn ông quyết định mọi việc trong gia đình, tham gia vào các hoạt động của làng xóm, dòng tộc. Như vậy, gia đình gia trưởng có nề nếp, nhưng các thành viên trong gia đình có quan hệ bất bình đẳng với nhau (chồng – vợ, đàn ông – đàn bà, người trên – kẻ dưới…). Gia đình gia trưởng rất coi trọng mối quan hệ chiều dọc giữa các thế hệ trên, dưới. Nó chi phối các mối quan hệ ngang như vợ – chồng, mối quan hệ giữa chị – em. Dựa trên quan hệ chiều dọc mà người trên bảo thì người dưới phải nghe. Cha mẹ có quyền quyết định và chi phối mọi hoạt động của con cái và ngược lại, con cái phải phục tùng mọi sự chỉ bảo, sai khiến của cha mẹ. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng ép duyên: “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” tồn tại trong xã hội cũ. Trong khi coi tọng mối quan hệ chiều dọc, mối quan hệ theo chiều ngang bị coi nhẹ đi: cái tôi cá nhân bị chìm ngập trong gia đình, họ tộc. Bên cạnh những mặt hạn chế trên, gia đình truyền thống Việt Nam cũng có nhiều yếu tố tích cực, được lưu truyền đến tận ngày nay. Đó là tình cảm yêu thương gắn bó lẫn nhau giữa các thành viên, đạo vợ – chồng phải thương yêu nhau, đạo làm con phải hiếu thảo với cha mẹ; rồi tình cảm yêu quê hương, đất nước, dân tộc, tinh thần đoàn kết, đùm bọc, giúp đỡ nhau. Những nét đẹp truyền thống này được gìn giữ và kế tục, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá đậm đà của dân tộc. ở Việt Nam, gia đình kiểu cũ kéo dài hàng ngàn năm đã không thể tự bảo tồn trước sự đổi thay của đất nước. Hoàn cảnh một nước phương Đông bị phong kiến bên trong và thực dân bên ngoài áp bức, đòi hỏi nhân dân ta phải vượt ra khỏi sự kìm hãm và ràng buộc của gia đình cũ. Thời cuộc quyết định thái độ của mỗi người đối với đất nước, với nhà, với bản thân. Lợi ích của quốc tế, thắng lợi của cách mạng Việt Nam không cho phép duy trì sự bất công trong xã hội, sự bất bình đẳng trong gia đình. Tình cảm con người phải vượt qua cái ngưỡng cửa gia đình để vươn tơí những tình cảm lớn hơn của tổ quốc, không cho phép bo bo giữ lấy những gì là hẹp hòi, là thiển cận, phản tiến bộ trong những phép nhà, phép nước của Nho giáo. Cách mạng tháng Tám là một bước ngoặt lớn trong lịch sử. Cách mạng không chỉ giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi xiềng xích nô lệ nói chung, mà còn giải phóng cho gia đình. Các tầng lớp thanh niên và phụ nữ thoát khỏi sự coi thường và áp chế của bậc bề trên cao tuổi và của nam giới. Cách mạng khơi dậy ở họ những suy nghĩ mới, tình cảm mới, đem lại cho họ sức mạnh để vùng lên, để đứng thẳng với tư thế con người. Hai cuộc kháng chiến đã thu hút những lực lượng vật chất và tinh thần to lớn của cả dân tộc và của mỗi gia đình. thanh niên không còn chỉ ở trong nhà, dưới sự sắp đặt của cha mẹ, mà đã tự khẳng định mình, đứng lên gánh vác sự mệnh thiêng liêng là bảo vệ tổ quốc và chủ động tham gia những công việc chung. Phụ nữ không chỉ còn quẩn quanh làm nội trợ và tham gia sản xuất vì lợi ích gia đình mà phải đảm đang việc nước, việc nhà, cầm cày, cầm súng, không chịu thua kém nam giới. 2.1.2. Gia đình Việt Nam hiện nay. Nước ta đang ở chặng đường đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đã từng bước thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội…. mà trọng tâm là chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó kinh tế gia đình có vị trí rất quan trọng và được Đảng và Nhà nước khuyến khích giúp đỡ. Theo Nghị quyết của Đảng: “Phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược lâu dài để phát triển kinh tế cách mạng chủ nghĩa”. Gia đình trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, không còn tình trạng thụ động, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước như thời kinh tế bao cấp. Ngày xưa ở nước ta đại gia đình truyền thống với tôn ti trật tự cũng là mẫu mực và chuẩn mực của xã hội. Dưới uy quyền của người gia trưởng, gia đình truyền thống đã quy tụ các con cái đã có chồng, có vợ cùng với con cháu họ. Điều được nhấn mạnh trong hoàn cảnh gia đình này là vấn đề dòng dõi, vấn đề chuyển giao tài sản vật chất và tinh thần, chuyển giao truyền thống, chuyển giao những giá trị từng tồn tại trong quá khứ. Ngày nay thì khác, ngày nay trong gia đình thu hẹp, hai vợ chồng cùng với con cái chỉ nghĩ đến tương lai của họ và họ tự làm ra lịch sử của họ. Trong gia đình gọi là gia đình hạt nhân này, những quan hệ về dòng máu, ngày càng nhường chỗ cho mối quan hệ về tình yêu. Gia đình truyền thống nơi chứa đựng những giá trị quá khứ của gia đình, nơi thiêng liêng mà ở đó củng cố và tái hiện mối quan hệ thân tộc thì đã dần dần bị chọc thủng trong mạng lưới đô thị hoá. Với sự biến động thường xuyên của xã hội hiện đại, sự phụ thuộc của cặp vợ chồng vào quá khứ ngày càng giảm bớt. Họ ít nghĩ tới ngôi nhà thời thơ ấu, nơi họ đã sống với cha mẹ của họ. Ngày nay, họ chỉ mong ước xây dựng được một ngôi nhà phù hợp với họ trong một nơi mà họ lựa chọn lấy. Chế độ hôn nhân ở nước ta là chế độ hôn nhân một vợ một chồng thật sự trọn vẹn và được pháp luật ghi nhận. Vợ và chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong đời sống xã hội. Vợ và chồng được tự do lựa chọn những vấn đề riêng, chính đáng như nghề nghiệp, công tác xã hội, học tập và một số nhu cầu khác… Khác hẳn với xã hội cũ, gia đình một vợ – một chồng chỉ là hình thức, chỉ là một chồng đối với phụ nữ, còn đối với đàn ông là chế độ đa thê, người vợ không có tiếng nói trong gia đình. Vì vậy, thực hiện chế độ một vợ – một chồng là thực hiện giải phóng phụ nữ. Hiện nay, các gia đình vẫn phát huy được truyền thống yêu nước. Họ coi bảo vệ tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng. Họ đã động viên con em mình thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự. Còn trong lao động các gia đình hăng say lao động, sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật. Thực hiện đầy đủ bổn phận và trách nhiệm với Nhà nước … Nhìn chung các gia đình luôn luôn có ý thức bảo vệ tài sản Nhà nước, tuân thủ pháp luật. Đất nước ta đang tiến nhanh trên con đường đổi mới. Gia đình cũng đang tiếp tục chuyển biến. Cái mới và cái cũ còn đan xen nhau. Không còn chữ Hiếu mù quáng như xưa. Nhưng trong gia đình lại có không ít hiện tượng cha mẹ thờ ơ với việc nuôi dạy con cái còn con cái thì hỗn láo, bạc đãi cha mẹ. Cũng không ít những hiện tượng bất hoà và tranh chấp giữa anh em, chị em. Sự biến đổi trong quan hệ gia đình diễn ra khá phức tạp. Mấy năm gần đây lại xuất hiện khuynh hướng trở lại với những nền nếp của gia đình xưa. Người ta xây dựng nhà thờ, sửa sang lại mồ mả tổ tiên, lập lại gia phả, đi lại thăm hỏi lẫn nhau, bày tỏ tình cảm sẵn sàng cưu mang lẫn nhau trong nội bộ gia đình và dòng họ. Tuy nhiên, khôi phục truyền thống không có nghĩa là quay trở lại những cái tiêu cực của gia đình kiểu cũ, trong đó có nhiều nguyên tắc đã lỗi thời của đạo đức Nho giáo. Trong xã hội ta hôm nay và ngày mai, gia đình vẫn tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp chung của đất nươc. Đạo đức cũ của dân tộc trong đó có những nhân tố đạo đức. Nho giáo còn tiếp tục đem lại cho chúng ta nhiều điều bổ ích nhưng chúng ta lại không thể tiếp thu toàn bộ những quy tắc sinh hoạt của gia đình kiểu cũ. Chúng ta cũng không thể bắt chước nước này hay nước khác trong cách thức họ tiếp thu những quan điểm Nho giáo về gia đình để phục vụ cho chế độ xã hội của họ, cho lợi ích giai cấp của giới cầm quyền. Sự khác nhau giữa ta với họ là sự khác nhau giữa hai chế độ. Khi giai cấp phong kiến hay giai cấp tư sản còn nắm quyền điều hành đất nước thì sinh hoạt và đạo đức gia đình ở những nước này không giống như sinh hoạt và đạo đức trong gia đình ở những nước mà nhân dân đã nắm chính quyền làm chủ đất nước như ở Việt Nam. Gia đình Việt Nam ngày nay không nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và tư sản mà lại ra đời trên cơ sở đánh đổ những chế độ ấy. Cái gắn bó trong quan hệ gia đình cũ là quyền lợi kinh tế của mỗi thành viên do người gia trưởng chi phối. Cái gắn bó trong quan hệ gia đình mới là tình cảm trong sáng và sâu sắc giữa các thành viên trên cơ sở quyền lợi chung của dân tộc và quyền tự do hạnh phúc của mỗi con người. Tình cảm gia đình hiện nay phải được xây dựng trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện chứ không phải do sự áp đặt của quyền lực chính trị và sự trói buộc của quyền lợi kinh tế. Tình cảm sâu sắc trong gia đình nhỏ tất yếu dẫn tới những tình cảm đối với gia đình lớn, với bà con trong thân tộc, với dòng họ, với láng giềng xóm phố, với địa phương mình ở và thiêng liêng hơn nữa là tình cảm sâu sắc đối với tổ quốc của mình. Những tình cảm ấy là cơ sở vững chắc của mọi quan hệ đạo đức giữa người với người, cần được khồng ngừng củng cố và nâng cao ở mọi thành viên từ nhỏ đến lớn. Chính vì thế, giải pháp gia đình trước hết là giải pháp tình cảm. Để thực hiện giải pháp này nhân dân ta đã có rất nhiều sáng kiến được thực hiện có kết quả. Gia đình Việt Nam đang xây dựng những quy tắc mới bảo đảm những quan hệ lành mạnh và có kỷ cương giữa các thành viên trong gia đình. ở đây, những tình cảm lành mạnh và sâu sắc thể hiện qua những quan hệ chung thuỷ thân yêu, chăm lo cho sự tiến bộ của nhau về đạo đức và tài năng, phục vụ cho lý tưởng cao cả của dân tộc. Tình cảm ấy không giống như tình cảm ngày xưa thể hiện ra bên ngoài qua thái độ sợ sệt và hống hách ở chế độ phong kiến trong quan hệ giữa tầng lớp vua quan thống trị và các tầng lớp nhân dân bị thống trị. Sự bất bình đẳng này trong xã hội vốn tìm chỗ dựa của nó trong sự bất bình đẳng trong gia đinh. Nhân dân ta đã từng đổ bao xương máu và mồ hôi để giành lại độc lập tự do, xây dựng một cuộc sống bình đẳng và dân chủ. Gia đình phải là nền tảng của xã hội mới, phải bảo vệ những thành quả mà cách mạng đã đạt được chứ không phải đi ngược lại những thành quả ấy. 2.2. Những vấn đề đặt ra và giải pháp xây dựng gia đình hiện nay. 2.2.1. Những vấn đề đặt ra: *Bạo lực trong gia đình: Bạo lực trong gia đình là “bất kì một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, về tình dục, tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe doạ có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư”. Như vậy, bạo lực trong gia đình được đề cập đến nhiều nhất, nó tồn tại ở mọi vùng lãnh thổ, mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội. Thời gian gần đây xu hướng phi tập trung hoá trong quản lý kinh tế và xã hội đã đem lại cho hộ gia đình những chức năng và vai trò kinh tế – xã hội mới vô cùng quan trọng. Địa vị vai trò của các thành viên trong gia đình cũng thể hiện theo những xu hướng rất khác nhau. Đàn ông hành xử có tính hướng ngoại. Phụ nữ, ngoài việc tham gia vào các hoạt động kinh tế, còn phải gánh vác hâu như toàn bộ công việc gia đình. Nhất là ở nông thôn, khu vực kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, phụ nữ luôn là lao động chính trong hầu hết các khâu cảu quá trình sản xuất. Bạo lực không nhìn thấy được gắn liền với bất bình đẳng trong phân công lao động đang có xu hướng tăng lên. Trong xã hội hiện đại, bạo lực trong gia đình, ngày càng được biết đến với nhiều dạng thức tinh vi, gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ trong gia đình, mà còn cho cả xã hội. Nỗi đau về thể xác, khủng hoảng về tinh thần, sự rạn vỡ các quan hệ thiêng liêng trong gia đình khó mà hàn gắn được. “ở Mỹ cứ 100 vụ ly hôn có 90 do bạo lực – Thái Lan là 76, ở Hà Nội là 51. Thành phố Hồ Chí Minh là 56. Chênh lệch này không phải do ở ta ít mà do phụ nữ không nói ra, do vậy phải đưa pháp luật vào gia đình” (M.Hoàng – Đăng Khoa, Lao động, 19-9-1999). Bạo lực trong gia đình ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng tới việc giáo dục, hình thành nhân cách, hành vi và ứng xử của con trẻ – nguồn lực cơ bản trong tương lai của xã hội. Trẻ trưởng thành trong các gia đình nhiều hành vi bạo lực, thường có các biểu hiện tâm lý: “Trẻ không biết ai đúng sai? Nghe theo ai?, trẻ trở nên bướng không vâng lời, trở nên hiếu thắng bằng bạo lực, dùng bạo lực với người khác, khi có gia đình lại lặp lại gương của bố mẹ”. (Nguyễn Vũ, Giáo dục và thời đại, 20-1-2000). Nếu lời cảnh báo trên được kiểm chứng, thì để chống lại “vi rút bạo lực”, xã hội không có phương thuốc nào hiệu quả hơn là ngăn chặn bằng mọi cách, bạo lực trong gia đình – môi trường xã hội hoá đầu tiên của trẻ thơ. Muốn hạn chế được bạo lực, việc đầu tiên là cần nâng cao đời sống tinh thần – văn hoá – xã hội, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật cho phụ nữ, tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn thể, hội phụ nữ… Bên cạnh thiết chế thân tộc, thái độ đúng đắn và tích cực của cộng đồng nơi cơ trú và làm việc của phụ nữ cũng là tác nhân tham gia vào quá trình kiểm soát và điều hoà, làm giảm bớt thói gia trưởng- nguyên nhân sâu xa của bạo lực. Đối với nạn bạo lực, ngoài sự can thiệp của luật pháp, áp lực của cộng đồng và các tổ chức xã hội, khi bạo lực xảy ra, chưa có sự can thiệp kịp thời từ bên ngoài, ở Việt Nam chúng ta nên chăng thử học tập kinh nghiệm của nước ngoài đó là nhà tạm lánh. “Nhà tạm lánh phải được phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức từ thiện – không chỉ để lánh mà còn tư vấn thậm chí còn dạy nghề. Quan niệm Việt Nam khó chấp nhận phụ nữ bỏ nhà ra đi. Khi hỏi người bị chồng đánh thì 13,3% cần tạm lánh, 86,7% không thể rời gia đình (mẫu 150). (Nguyễn Thiện, Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, 6-11-1999). Tuy nhiên, ai đứng ra xây dựng Nhà nước hay cộng đồng? Quản lý và hoạt động của nhà tạm lánh như thế nào còn là thách thức lớn với các nhà làm công tác xã hội ở nước ta. Một trở ngại khác là ràng buộc của tập tục phong kiến còn nặng trong chị em – nạn nhân chủ yếu của nạn bạo lực. *Tảo hôn, tình dục trước hôn nhân, sức khoẻ sinh sản vị thành niên. Thanh niên đô thị hiện nay có xu hướng chung là chậm kết hôn, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, có con chậm, dành thời lực cho sự nghiệp. Thậm chí không ít người chịu ảnh hưởng của lối sống phương Tây, chấp nhận cuộc sống độc thân mưu cầu danh nghiệp. Ngược lại, thanh niên nông thông vẫn đang trong tình trạng tảo hôn. Những vùng dân tộc thiểu số hay các địa phương có đặc trưng riêng như ngư dân, làng nghề gia truyền tinh xảo,… nạn tảo hôn càng nghiêm trọng. Nạn tảo hôn ở nông thôn gấp 4 lần ở thành phố, trình độ văn hoá chủ yếu là chưa hết phổ thông trung học. Học vấn tỷ lệ nghịch với tảo hôn. Luật hôn nhân gia đình nước ta quy định nữ 18 tuổi mới được kết hôn, nhưng thực tế tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra công khai, pháp luật bị vi phạm ngang nhiên. Vì thế có thể nhìn thấy rất rõ sự sai lệch giữa các thể chế thực thi pháp luật và những ràng buộc khác trong cộng đồng ở nưcớ ta. ở nông thôn khi có trường hợp tảo hôn, chính quyền xã – cơ quan cấp giấy đăng ký kết hôn – biết thì cũng ít có khả năng ngăn chặn vì chúng đều là con cháu trong nhà. Nếu chính quyền không cho đăng ký thì lễ cưới vẫn được tổ chức, vài năm sau, có con lúc đó đã đủ tuổi thì đăng ký. Chính quyền không có bất cứ một biện pháp cưỡng chế hay chế tài nào. Khi còn kinh tế tập thể, việc thể chế bằng các biện pháp kinh tế của hợp tác xã, và hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức quần chúng đã góp phần hạn chế tình trạng tảo hôn. Dường như tự chủ về kinh tế, làm cho các bậc cha mẹ cảm thấy họ có quyền tổ chức hôn nhân cho con bất cứ lúc nào họ thích. Quan hệ tình dục sớm, tình dục trước hôn nhân là hiện trạng đáng báo động. Nếu như ở nông thôn, tảo hôn là vấn đề nhức nhối, thì ở thành phố, xu hướng tách rời quan hệ tình dục với hôn nhân (được hiểu theo nghĩa trước và ngoài hôn nhân) đưa đến những hệ luỵ vô cùng nguy hại. Những “bà mẹ bất đắc dĩ”, những cuộc trả thù tình địch dã man, những vụ quyên sinh đầy thương tâm, là hậu quả xã hội của những hành vi tình dụng phi chuẩn mực và thiếu hiểu biết trong quan hệ giới tính. Nguyên nhân về mặt xã hội là sự buông lỏng kỷ cương, chuẩn mực đạo đức trong quá trình tăng trưởng kinh tế và mở cửa. Bố mẹ bị cuốn theo nhịp sống sôi động, không gần gũi con cái, ảnh hưởng của văn hoá đồi truỵ… Trong khi đó trẻ vị thanh niên đang trải qua giáo dục biến chuyển rất phức tạp về tâm-sinh lý, đòi hỏi việc quan tâm thường xuyên của cha mẹ, nhà trường và người xung quanh “Các biện pháp giáo dục giới tính, tránh thai chưa tới được vị thành niên, cần nghiên cứu đưa vào nhà trường. Chưa tận dụng hết được năng lực của các chuyên gia, học giả” (Nguyễn Văn Dũng, Nhân dân, 12-1-2000). *Giới, bất bình đẳng giới, phân công lao động gia đình và địa vị xã hội. Bản chất mối quan hệ gia đình phản ánh nền văn hoá của một dân tộc, tính chất của chế độ chính trị, xã hội và tác động của các nền văn hoá khác. Địa vị, vai trò của phụ nữ Việt Nam luôn bị ảnh hưởng bởi tập tục và lễ giáo phong kiến, hằn sâu từ bao đời trong nếp nghĩ, cách hành xử nơi gia đình và xã hội. Họ luôn phải đối mặt với áp lực công việc và áp lực gia đình. Đối mặt với sự khó tương thích giữa chăm sóc gia đình, giáo dục con cái được coi là thiên chức của phụ nữ – với nâng cao địa vị xã hội – nghề nghiệp. Sự bất bình đẳng giới được bắt nguồn từ trong gia đình, từ những mối quan hệ gần gũi như quan hệ vợ chồng. Chính vì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết, Trắc Nghiệm Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu Theo Nguyên Lý Y Học Gia Đình
  • Cac Cong Cu Ho Tro Trong Y Hoc Gia Dinh
  • Điểm Số Apgar Là Gì?
  • Cách Khắc Phục Lỗi Bộ Lọc Trong Bảng Tính Excel
  • Thực Trạng Tình Hình Bạo Lực Gia Đình Hiện Nay Và Một Số Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Loại Nhà Thầu Vì Sai Phương Pháp Luận
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì
  • Agency Cost Là Gì? Công Thức Tính Agency Cost
  • Tiểu Luận Tài Chính Doanh Nghiệp Chi Phí Đại Diện Thực Tiễn Và Giải Pháp
  • Bạo lực giữa vợ, chồng với nhau: Bạo lực giữa người chồng đối với người vợ trong gia đình có thể thấy là dạng bạo lực phổ biến nhất trong gia đình. Hành vi người chồng gây ra chủ yếu và lớn nhất là bạo lực về thể chất, đây là dạng dễ nhận thấy và bị lên án mạnh mẽ nhất. Sỡ dĩ đa phần người đàn ông sử dụng “nắm đấm” để dạy vợ là do họ không nhận thức được rằng hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, không phải tất cả hành vi bạo lực của người chồng đều là bạo lực về thể chất mà có những lúc, họ dùng tới nhiều cách khác để gây ra những tổn thương về tâm lý cho người vợ: mắng mỏ, chửi bới, xúc phạm danh dự…; hoặc có những hành vi cưỡng bức về tình dục, kiểm soát về kinh tế…

    Bên cạnh đó, trong xã hội ngày nay, hiện tượng người vợ sử dụng bạo lực đối với chồng cũng không phải là hiếm. Không chỉ dừng lại ở những lời lẽ chửi bới, những cách ứng xử thô bạo mà họ còn trực tiếp gây ra những tổn thương về thể chất hoặc tính mạng của người chồng.

    Tóm lại, bạo lực gia đình xuất phát từ cả hai phía vợ và chồng đang ngày càng phát triển và gây nhức nhối trong xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là trẻ em. Nguyên nhân của hiện tượng này rất nhiều, ngoài vấn đề tâm lý còn phải kể đến vấn đề đạo đức, kiến thức giải quyết mâu thuẫn gia đình…

    Bạo lực giữa cha mẹ và con cái: Với tâm lý, truyền thống, thói quen của người Việt, thì vấn đề bạo lực giữa cha mẹ với con cái thì được xã hội chấp nhận và khá phổ biến. Có thể dễ dàng nhận thấy đó là những hành động “dạy bảo” con cái xuất phát từ cái quan niệm gọi là “Yêu cho roi cho vọt – Ghét cho ngọt cho ngào” và giáo dục thì cần phải nghiêm khắc. Rất nhiều ông bố bà mẹ coi việc đánh đập, chửi mắng con cái khi chúng mắc lỗi là cần thiết để chúng nhận ra sai lầm và sửa chữa; hay coi việc mạt sát, trách móc là động lực để chúng phấn đấu. Trên thực tế chúng ta đều có thể nhận thấy, cách làm này phần nào phù hợp với tâm lý của người Việt và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay, khi những chuẩn mực tiến bộ về quyền con người đã và đang phổ biến trên thế giới thì những tư tưởng, cách làm này cần được sớm loại bỏ. Đặc biệt, là những trường hợp bạo lực với con cái vượt ra ngoài phạm vi giáo dục – một tình trạng ngày càng gia tăng thì cần phải bị trừng trị nghiêm khắc.

    Bên cạnh những hành vi từ phía cha mẹ đối với con cái, thì bạo lực gia đình xuất phát từ người con đối với cha mẹ mình cũng đang ngày càng gia tăng. Một số trường hợp người trẻ tuổi gây ra những tổn thương về cả vật chất, tinh thần cho cha mẹ do sự thiếu kiềm chế, do đua đòi hư hỏng hoặc một vài lý do khác. Tuy nhiên, không thể bào chữa, biện hộ cho những người con đã khôn lớn trưởng thành dưới bàn tay yêu thương, nuôi dạy của cha mẹ nhưng lại bỏ bê, không chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, thậm chí hơn là đánh đập, chửi mắng, xỉ nhục những người đã có công sinh thành, nuôi dưỡng mình. Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy nguyên nhân đơn giản dẫn đến hành vi trên là do: những người già thì sức khỏe yếu, không còn sức lao động nên cần có người chăm sóc; trong khi những đứa con không đủ yêu thương nên không muốn tốn kém tiền của, thời gian, công sức của mình cho cha mẹ, đúng như câu ca dao xưa mà người đời hay đọc “Cha mẹ nuôi con bằng trời bể – Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày”. Điều này chứng tỏ một sự xuống cấp đạo đức nghiêm trọng của một bộ phận giới trẻ hiện nay, nó hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống đề cao chữ “hiếu” của dân tộc Việt Nam.

    Bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình: Bạo lực gia đình giữa các thành viên khác trong gia đình với nhau cũng đã tồn tại từ lâu nhưng chiến tỷ lệ không lớn, vì mức bộ phụ thuộc giữa các thành viên này không cao như giữa vợ chồng hay cha mẹ với con. Nạn nhân chủ yếu của loại bạo lực này là phụ nữ và trẻ em khi mà các thành viên này muốn tham gia vào sự “giáo dục” những người làm dâu, làm con trong gia đình. Ngoài ra, những mâu thuẩn trong gia đình không tìm được cách giải quyết cũng dẫn tới nạn bạo lực giữa các thành viên khác: anh em, chú cháu đánh nhau vì xích mích, mâu thuẫn trong cuộc sống, vì tranh chấp tài sản, chị em mắng chửi, nói xấu nhau….

    Thứ nhất, Làm rõ một số khái niệm quan trọng trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

    Để công tác phòng, chống bạo lực gia đình đạt hiệu quả như mong đợi thì trước hết cần phải xác định rõ khái niệm “bạo lực gia đình” đang được đề cập tới. Trong xã hội, quan niệm về bạo lực gia đình của người dân còn khá mơ hồ, và dường như chỉ có hành vi bạo lực về mặt thể chất là được chú ý tới. Khi trong tiềm thức của mỗi người dân còn cho rằng một cái tát, một câu chửi mắng nhau lúc nóng giận là bình thường, con hư thì bố mẹ phải đánh để giáo dục, hay việc đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng là nghĩa vụ của người vợ….thì chuyện ấy đương nhiên sẽ không bị coi là bạo lực gia đình, là vi phạm pháp luật. Vì vậy, muốn định hướng hành vi trước tiên cần phải định hướng về nhận thức, phải quy định một cách rõ ràng và cụ thể những hành vi mà pháp luật quy định là bạo lực gia đình và cần phải phòng chống.

    Hiện nay, theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 chỉ đưa ra định nghĩa ” Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả nang gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình ” và liệt kê các hành vi được coi là bạo lực gia đình tại Khoản 1 Điều 2. Tức là pháp luật đã thừa nhận 3 nhóm hành vi bạo lực: Bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, bạo lực về kinh tế nhưng lại không đưa ra sự phân loại hành vi của từng nhóm. Ngoài ra, những hành vi được quy định cũng khá chung chung, trong khi trình độ nhận thức của đại đa số người dân còn hạn chế nên cần có sự hướng dẫn cụ thể.

    Vì vậy, cần phải quy định rõ ràng hơn những hành vi bị coi là “bạo lực gia đình” và có sự tổng hợp các quy định tại những văn bản pháp luật khác nhau về các hành vi để đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả của các quy phạm pháp luật.

    Bên cạnh việc chỉ ra các hành vi thì việc xác định rõ các đối tượng của bạo lực gia đình cũng rất quan trọng, từ đó có thể xây dựng các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình thích hợp. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định: ” Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả nang gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” và bổ sung ” Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng”(Khoản 2 Điều 2).

    Tuy nhiên, Luật lại không giải thích khái niệm “thành viên gia đình” nên gây khó hiểu trong quá trình áp dụng luật. Hiện nay, đa số người dân vẫn dựa vào khái niện gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”; từ đó cho rằng: thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau do hôn nhân, do quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng. Sự suy luận này tưởng như rất logic nhưng suy cho cùng thì chẳng có căn cứ gì, bởi Luật Hôn nhân và gia đình và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là hai đạo luật hoàn toàn độc lập nhau, có vị trí ngang bằng nhau trong hệ thống pháp luật, nên không thể tùy tiện áp dụng khái niệm của Luật này để giải thích quy định của Luật khác. Như vậy, hiện nay đối tượng điều chỉnh của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa được quy định một cách rõ ràng, có thể gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, và do đó việc áp dụng các quy định này để bảo vệ nạn nhân trở nên khó khăn hơn.

    Thứ hai, hoàn thiện một số quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

    – Biện pháp cấm tiếp xúc: Việc quy định việc cấm tiếp xúc trong một thời gian giữa người có hành vi bạo lực và nạn nhân là cần thiết để đảm bảo sự an toàn cho nạn nhân, để hai bên có thời gian cân nhắc về hành động và cũng là để giáo dục người có hành vi bạo lực về tội lỗi của họ. Tuy nhiên, biện pháp này yêu cầu có sự đồng ý của nạn nhân hoặc người giám hộ, điều này có phần chưa khả thi. Bởi vì, bản chất của những mối quan hệ trong gia đình là gắn bó thân thiết và bền chặt, nếu một người có ý từ bỏ, sống ra ngoài thì mối liên hệ giữa các thành viên thường bị cho rằng sẽ trở nên lỏng lẻo và khó chấp nhận, Hơn nữa, với những nạn nhân của bạo lực gia đình là phụ nữ và trẻ em, do họ phụ thuộc nhiều vào người chồng, người cha, đặc biệt phụ nữ lại rất gắn bó với con cái, nên dù bị đối xử tàn nhẫn nên họ vẫn có thể nín nhịn, tiếp tục sống chung với người có hành vi bạo lực. Do đó, việc quy định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc phải có sự đồng ý của nạn nhân mặc dù rất thỏa đáng khi để nạn nhân tự cân nhắc, quyết định theo tình cảm và ý thức của họ, nhưng mặt khác cũng là chưa thể bảo vệ họ tránh những hành vi bạo lực nguy hiểm có thể xảy ra tiếp theo.

    Bên cạnh đó, quy định về một trong những điều kiện áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc chưa thật hợp lý: Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc, nơi ở này bao gồm nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi ở khác mà nạn nhân bạo lực gia đình tự nguyện chuyển đến ở. (Điều 9 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều cuat Luật Phòng, chống bạo lực gia đình). Rõ ràng như vậy, nạn nhân của bạo lực gia đình tiếp tục bị thiệt thòi: họ bị tổn thương, và để tránh những tổn thương này họ bị buộc phải rời khỏi nhà của mình. Như vậy, những người khác nhìn vào có thể cho rằng đó là “hình phạt”cho những người không biết cam chịu mà lên tiếng đòi công bằng cho mình. Trong khi đó, kẻ có hành vi bạo hành lại đương nhiên được ở nhà của mình, và việc nạn nhân không ở đó, thậm chí có khi là mong muốn của kẻ có hành vi bạo hành, nên họ có thể hoàn toàn không quan tâm. Quy định này vừa nhìn vào thì có thể thấy có lẽ dựa trên quy định về tự do cư trú của cá nhân, mà quên rằng nạn nhân cũng bắt buộc phải chọn nơi ở khác do những hành vi trái pháp luật của người có hành vi bạo lực; và những người thực hiện hành vi này hoàn toàn có thể bị tước bỏ quyền tự do lựa chọn nơi cư trú vì bản thân họ đã vi phạm pháp luật.

    Do đó, khi áp dụng biện pháp này, trong một số trường hợp không cần đến sự yêu cầu hay cho phép của nạn nhân (trường hợp hành vi bạo lực gây tổn hại hết sức nghiêm trọng tới sức khỏe, danh dự của nạn nhân; hành vi lặp lại nhiều lần; người có hành vi đã được giáo dục mà tiếp tục vi phạm…). Đồng thời, nếu thực hiện cấm tiếp xúc thì người thực hiện hành vi có thể phải rời khỏi nơi cư trú (nếu nạn nhân không tìm được nơi ở khác thích hợp) và đảm bảo quyền trông nom, chăm sóc gia đình, con cái của nạn nhân. Trường hợp nạn nhân hoàn toàn bị lệ thuộc vào kinh tế thì khi cách li có thể xem xét việc yêu cầu cấp dưỡng cho nạn nhân.

    – Quy định về hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình: Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định) – đã đưa ra những chế tài cần thiết đối với người thực hiện hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, quy định về hình thức phạt tiền của Nghị định này còn chưa được hợp lý, bởi mức hình phạt nhìn chung còn thấp, trong một số trường hợp là rất bất hợp lý như hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người ngăn chặn, phát hiện, báo tin bạo lực gia đình, người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình hoặc hành vi ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác thì mức phạt tiền chỉ từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Mức phạt như vậy là quá thấp, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Ngay cả với những hình phạt cao hơn thì đối với những người có điều kiện kinh tế thì phạt tiền cũng không có ý nghĩa giáo dục họ. Ngược lại, trong nhiều trường hợp biện pháp này có thể trở thành “con dao hai lưỡi”, khiến tình trạng bạo lực nghiêm trọng hơn: người có hành vi bạo lực vì phải nộp phạt mà trút giận lên nạn nhân bằng những hành vi bạo lực kinh khủng hơn, tinh vi hơn…

    Ngoài ra, những trường hợp người nộp phạt không có thu nhập thì việc phạt tiền đối với họ dường như không có nhiều ý nghĩa. Trường hợp chồng nát rượu, không công ăn việc làm mà còn có hành vi đánh đập vợ con thì câu hỏi đặt ra “ai là người phải nộp phạt?” Pháp luật có quy định việc cưỡng chế, kê biên thi hành án, nhưng tài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, nếu áp dụng chế tài này thì cơ quan thi hành án cũng gặp không ít khó khăn và hơn nữa quyền lợi về tài sản của vợ chồng cũng bị ảnh hưởng. Do đó, rất nhiều trường hợp nạn nhân phải đi nộp thay cho người có hành vi vi phạm, và như vậy thì không thể giáo dục người vi phạm mà chỉ làm nạn nhân không muốn tố cáo lần sau. Tương tự, trường hợp người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị xử phạt vì hành vi bạo lực với bố mẹ, nếu họ không có tiền nộp phạt thì nạn nhân – bố mẹ họ phải nộp thay.

    Xuất phát từ bất cập trên chúng ta có thể bỏ chế tài phạt tiền đối với các hành vi nêu trên mà chẳng hạn thay vào đó là chế tài lao động công ích trong xử lý vi phạm hành chính trong phòng, chống bạo lực gia đình. Biện pháp này có thể mang tính khả thi cao hơn vì nó có ý nghĩa giáo dục tích cực với người có hành vi bạo lực, đồng thời không ảnh hưởng tới quyền lợi của nạn nhân. Hơn nữa, biện pháp này còn giáo dục tích cực đối với những cá nhân khác: họ không muốn hình thức xử phạt công khai, có nhiều người biết tới như vậy, nên sẽ cố gắng tránh bằng cách không thực hiện hành vi vi phạm. Tuy nhiên, nếu áp dụng biện pháp này thì cũng thấy đây là biện pháp còn khá mới ở nước ta, nên cũng có thể quy định một cách mềm dẻo, linh hoạt: chỉ áp dụng bắt buộc đối với người có hành vi tái phạm; tính thời gian lao động công ích tương đương với số tiền phạt…Nhưng nếu đã bị áp dụng hình thức xử phạt này thì không được cho phép thay thế bằng phạt tiền để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

    – Quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: có thể thấy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong phòng, chống bạo lực gia đình còn rất mờ nhạt, mà nguyên nhân chính là do các cơ quan này chưa thật sự ý thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của công tác này, cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ đã được pháp luật quy định cho họ.

    Trong khi đó, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình cũng chưa có một quy định chặt chẽ để ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan này.

    Thực tiễn vấn nạn bạo lực gia đình ở nước ta cho thấy: Việc thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình để nâng cao sự hiểu biết, từ đó làm thay đổi về nhận thức vấn đề là hết sức quan trọng và cần thiết, nhưng dường như chưa được chú ý đúng mức. Pháp luật đã quy định nhưng lại không đề ra cơ chế cho việc thực thi trên thực tế, mà chỉ quy định chung chung trong Chương 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình về trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong thi hành Luật. Vì vậy, cần có những quy định chi tiết hơn về vấn đề này. Ví dụ: cần quy định việc tuyên truyền này như là một trách nhiệm thường xuyên của một cơ quan, tổ chức cụ thể ở từng địa phương, từng cơ sở.

    Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực là một trong những hành vi bị cấm theo quy định tại Điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Những hành vi này của cơ quan, người có thẩm quyền vô hình dung là một trong những nguyên nhân chính khiến tình trạng bạo lực gia đình không được cải thiện: người có hành vi bạo lực không bị xử lý càng hung hăng, cho là mình đúng; nạn nhân càng sợ sệt, không dám phản ứng, những người xung quanh thấy thế càng có lý do để thờ ơ, không quan tâm, thậm chí có thể cho rằng mình cũng có thể làm như vậy. Ảnh hưởng của hành vi này là rất nghiêm trọng và nguy hiểm. Tuy nhiên, khi xem xét Nghị định 167 thì không thấy bất cứ hình thức xử phạt nào cho những hành vi này, dù tất cả các hành vi bị cấm khác đều bị xử lý theo những mức độ khác nhau. Điều này hoàn toàn vô lý và cần thiết phải sửa đỏi, bổ sung. Do đó, cần phải quy định chặt chẽ hơn trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình; hành vi vi phạm cần phải được xử lý; nhưng sự thờ ơ, thiếu quan tâm, vô trách nhiệm cũng cần có những chế tài thích đáng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Nghị Là Gì? Phản Ánh Là Gì? Tìm Hiểu Từ A
  • Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Marketing B2B Cho Bộ Phận Sony Chuyên Dụng Việt Nam
  • Chương Cơ Sở Đề Xuất Giải Pháp 3 Sự Cần Thiết Hình Thành Giải Pháp 3
  • Sa: Kiến Trúc Sư Giải Pháp
  • Sự Khác Biệt Giữa Kiến Trúc Sư Phần Mềm Và Kiến Trúc Sư Giải Pháp Là Gì?
  • Về Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chăm Lo Xây Dựng Gia Đình No Ấm, Tiến Bộ, Hạnh Phúc, Văn Minh
  • Giải Pháp Căn Cơ Để Giảm Giá Thịt Lợn
  • Giá Thịt Lợn Tăng Cao: Cần Nhiều Giải Pháp Để Bình Ổn Thị Trường
  • Đi Tìm Giải Pháp Đồng Bộ Giảm Giá Thịt Heo
  • Giảm Giá Và Bảo Đảm Nguồn Cung Thịt Lợn Cho Thị Trường: Triển Khai Nhiều Giải Pháp
  • Về xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam

    13:56 – 17/09/2018

    Gia đình phát triển bền vững không chỉ là niềm hạnh phúc cho mỗi người, mỗi nhà mà còn là nhân tố quan trọng góp phần giữ gìn sự phát triển lành mạnh, an toàn của xã hội và sự ổn định dân số của mỗi quốc gia. Vì vậy, gia đình luôn là một mối quan tâm đặc biệt của Đảng ta. Tại Đại hội XI của Đảng, vấn đề vai trò của gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh và làm sâu sắc hơn.

    Về vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới

    Thứ nhất, gia đình là tế bào của xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định gia đình là tế bào của xã hội. Kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển, Đảng ta nhận thức sâu sắc về vai trò của gia đình đối với xã hội. Tại Đại hội XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội”(1). Rõ ràng,muốn có một xã hội phát triển lành mạnh thì trước hết từng “tế bào” phải phát triển bền vững. Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội. Không có gia đình tái tạo ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không thể tồn tại và phát triển được. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, nhiều giá trị mới được tiếp thu, nhưng nhiều giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam cũng đang mất đi. Tình trạng ly hôn, bạo hành gia đình gia tăng; chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, hưởng thụ có xu hướng tăng lên… Những hạn chế này đang làm cho nhiều “tế bào” có nguy cơ rơi vào khủng hoảng, làm cho nền tảng xã hội thiếu vững chắc.

    Từ những tiêu chí quan trọng của gia đình văn hóa Việt Nam được đề xuất tại Đại hội VIII của Đảng và được cụ thể hóa thành Chiến lược xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam, đến Đại hội XI, Đảng ta đã có sự phát triển nhận thức mới về gia đình, đó là: No ấm, tiến bộ, hạnh phúc là những điều kiện cơ bản, quan trọng để gia đình phát triển lành mạnh. Muốn có một “tế bào lành mạnh”, một “nền tảng vững chắc” thì phải xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc.

    Thứ hai, gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước.Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”(2) góp phần chăm lo xây dựng con ngườiViệt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính(3).

    Đảng ta nhận thức rõ rằng, con người Việt Nam chỉ có thể được trang bị những phẩm chất tốt đẹp nếu có một môi trường xã hội tốt. Môi trường đó trước hết là từ mỗi gia đình, mỗi tế bào của xã hội. Các gia đình chịu trách nhiệm trước xã hội về sản phẩm của gia đình mình, phải có trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái, cung cấp cho xã hội những công dân hữu ích. Cùng với nhà trường, gia đình tham gia tích cực nhiệm vụ “dạy người, dạy chữ”, tạo ra lực lượng lao động tương lai có chất lượng cao.

    Đây là điểm mới trong tư duy Đại hội XI của Đảng ta về vai trò của gia đình đối với phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước. Gia đình chính là “đơn vị xã hội” đầu tiên cung cấp lực lượng lao động cho xã hội. Từ những người lao động chân tay giản đơn đến những người lao động trí óc… đều được sinh ra, được nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình.

    Đảng ta nhấn mạnh, gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách. Gia đình giữ vai trò đặc biệt quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia. Gia đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn gia đình phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách cho con người. Theo quan điểm của Đảng, gia đình no ấm, bố mẹ thuận hòa, hạnh phúc là điều kiện, môi trường quan trọng, trực tiếp tạo nên các thế hệ sau có chất lượng cả về thể chất lẫn tinh thần, góp phần đắc lực vào chiến lược phát triển nguồn lực con người có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hiện nay.

    Thứ ba, gia đình có vai trò giữ gìn, lưu truyền, phát triển văn hóa dân tộc. Đảng ta nhấn mạnh gia đình là nơi tiếp thu, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Thông qua các câu chuyện cổ tích, qua các câu ca dao, tục ngữ, cha mẹ, ông bà là những người thầy đầu tiên dạy dỗ, nuôi dưỡng tâm hồn, phát triển tư duy và từng bước giáo dục hình thành nhân cách cho mỗi con người. Qua lao động, qua việc xử lý các mối quan hệ hằng ngày, gia đình đã truyền thụ cho con trẻ những nét đẹp của truyền thống gia đình, dòng họ, truyền thống văn hóa dân tộc. Từ đó mỗi cá nhân hình thành và bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tình cộng đồng, lòng nhân ái, tinh thần tự lực, tự cường, anh hùng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất… Đảng ta chỉ rõ: Trong giai đoạn hiện nay để “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội, mà xét đến cùng, đó là trách nhiệm của mỗi gia đình, mỗi con người cụ thể.

    Để xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

    Để đạt được mục tiêu: ” Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong thời gian tới ngoài nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, chú ý đến kinh tế trang trại và kinh tế hộ, Đảng ta chỉ rõ cần tập trung vào một số khâu chủ yếu sau:

    Một là, sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ(4). Để hoàn thiện Chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2011 – 2022, cần làm rõ một số nội dung sau:

    – Nâng cao nhận thức của toàn xã hội cũng như mỗi cá nhân về vai trò, vị trí đặc biệt của gia đình đối với xã hội và trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực trong gia đình, ngăn chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình. Cấp ủy và chính quyền các cấp phải đưa nội dung công tác xây dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và chương trình kế hoạch công tác hằng năm của các bộ, ngành, địa phương.

    – Xây dựng gia đình Việt Nam phải trên cơ sở kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiên tiến của thời đại về gia đình. Đề cao trách nhiệm của mỗi gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng nhân cách cho mỗi thành viên trong gia đình nhằm hướng tới những phẩm chất của con người Việt Nam mà Đại hội XI của Đảng đã chỉ ra.

    Hai là,xây dựng gia đình văn hóa phải gắn với các phong trào khác, như xây dựng khu dân cư văn hóa, làng, xóm văn hóa… Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… tạo điều kiện cho mọi người được tiếp cận với các kiến thức kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, kỹ thuật và phúc lợi xã hội, giúp các gia đình có kỹ năng sống, chủ động phòng, chống sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam(5). Đây là điểm mới trong nhận thức của Đảng ta về nhiệm vụ xây dựng, phát triển nguồn lực con người trong bối cảnh hiện nay.

    Ba là, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Để mỗi tế bào xã hội mạnh khỏe thì công tác chăm sóc sức khỏe, trước hết là sức khỏe của bà mẹ, trẻ em, thực hiện gia đình ít con là biện pháp quan trọng cần được quan tâm. Về vấn đề này, Đảng ta chỉ rõ: Thực hiện nghiêm chính sách và pháp luật về dân số, duy trì mức sinh hợp lý, quy mô gia đình ít con. Có chính sách cụ thể bảo đảm tỷ lệ cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình. Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ, trẻ em, giảm mạnh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, góp phần nâng cao chất lượng dân số…(6). Đồng thời, phải tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em các cấp; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác gia đình.

    Bốn là, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật xây dựng gia đình văn hóa. Chúng ta đã có Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000); Luật Bình đẳng giới (năm 2007); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2008); Pháp lệnh Dân số – Kế hoạch hóa gia đình; Chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2010 – 2022… Tuy nhiên, gia đình luôn vận động và biến đổi theo sự vận động của xã hội, vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục ban hành, bổ sung một số chính sách mới phù hợp với điều kiện xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Đồng thời, phải đổi mới nội dung và giải pháp truyền thông về gia đình, nâng cao hiểu biết về các văn bản luật này, cùng các kiến thức, kỹ năng về cuộc sống gia đình.

    Năm là, tiếp tục sự nghiệp giải phóng phụ nữ nhằm thực hiện bình đẳng giới. Hiện nay, phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi, bất bình đẳng so với nam giới, do vậy, họ chưa phát huy hết vai trò của bản thân trong xây dựng gia đình, đồng thời hạn chế sự đóng góp của họ cho toàn xã hội. Phụ nữ cần tiếp tục được giải phóng, được chia sẻ về công việc gia đình, hỗ trợ về các dịch vụ gia đình để họ có thời gian phát triển sự nghiệp.

    Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Xây dựng và triển khai chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những vùng và khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng cao; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạo lực trong gia đình. Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ(7). Đồng thời, phải nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện pháp luật, chính sách đối với lao động nữ. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ(8).

    Qua hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và toàn cầu hóa hiện nay, Đảng ta càng nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của gia đình với tư cách là “tế bào” vững chắc của xã hội, là môi trường lành mạnh để xây dựng nguồn lực con người; coi xây dựng gia đình văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2022. Với tinh thần, nhận thức và biện pháp đó, chúng ta hy vọng trong thời gian tới vị trí, vai trò của gia đình ngày càng được khẳng định và các gia đình Việt Nam ngày càng “khỏe mạnh” hơn để giữ vững nền tảng xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo đà cho Việt Nam “cất cánh” nhanh và bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Tại Xã Tiên Hiệp, Tiên Phước Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Hỗ Trợ Phụ Nữ Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc, Bền Vững
  • Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc
  • Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc, Phát Triển Bền Vững
  • Cách Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc
  • Thất Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp.

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Về Thất Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Ba Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Năm 2022
  • Nhiều Giải Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Năm 2022
  • Thực Trạng Xuất Nhập Khẩu Và Giải Pháp Thực Hiện Phương Hướng Kế Hoạch 5 Năm 2022
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Hoạt Động Xuất, Nhập Khẩu Việt Nam
  • Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp., Tiểu Luận Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Thất Nghiệp ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam. Thực Trạng Giải Pháp, Thực Trạng Thực Hiện Pháp Luật ở Việt Nam Hiện Nay, Thực Hiện Dân Chủ ở Cấp Xã Thực Trạng Và Giải Pháp, Khoa Học, Công Nghệ Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp, Quan Điểm, Thực Trạng, Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Việt Nam, Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức, Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực , Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay, Thực Trạng, Nguyên Nhân Hậu Quả Giải Pháp, Thực Trạng Nhân Cách Con Người Việt Nam Hiện Nay, Thực Trạng Công Tác Chính Sách ở Việt Nam Hiện Nay, Năng Lượng Tái Tạo Tại Việt Nam – Hiện Trạng Và Thách Thức, Tiểu Luận Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay, Thuc Trang Va Giai Phap Kham Chua Benh, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Thực Trạng Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Cơ Quan, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Đia Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Công Tác Tham Mưu Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp, Thuc Trang Va Giai Phap Ve Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong, Thực Trạng Chất Lượng Các Doanh Nghiệp Việt, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Làm Theo Hcm, Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Quảng Bá Thương Hiệu Của Doanh Nghiệp Việt, Thuc Trang Va Giai Phap Cong Tac Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong Cap Huyen, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ, Công Viên Chức ở Cơ Quan, Có Thể Thực Hiện Giải Pháp Nào Sau Đây Trong Mạch Dao Động Anten?, Bai Hoc Cua Khoan Ho, Thuc Trang Va Huong Di Cho Nong Nghiep Viet Nam Trong Tuong Lai, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Văn Bản Pháp Luật Nào Điều Chỉnh Quá Trình Ký Kết Thực Hiện Và Giải Quyết , Tham Luận Giai Phap Thuc Hien Tot Ke Hoach Duoc Khonggiao, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Chủ Trương Đường Lối Thoát, Cong Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức ở Việt Nam, Thực Trạng, Phân Tích Và Đề Xuất Những Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấ, Thực Trạng, Phân Tích Và Đề Xuất Những Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấ, Đồng Chí Hãy Phân Tích, Đánh Giá Thực Trạng Và Đưa Ra Các Kiến Nghị, Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượn, Đồng Chí Hãy Phân Tích, Đánh Giá Thực Trạng Và Đưa Ra Các Kiến Nghị, Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượn, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Thực Trạng Thực Hiện Các Nguyên Tắc Giáo Dục Trong Nhà Trường Phổ Thông Hiện Nay, Tìm Hiểu Chủ Trương Và Kết Quả Thực Hiện Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Giai Đoạn, Tìm Hiểu Chủ Trương Và Kết Quả Thực Hiện Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Giai Đoạn, Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chính Nhằm Kiện Toàn Hệ Thống Bảo Tàng Trong Phạm Vi Cả Nước, Phương Thức Giải Quyết Các Tranh Chấp Kinh Tế Theo Qui Định Của Pháp Luật Hiện Nay, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2022 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2022 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hiện Chủ Chương Của Đảng , Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Và Thực Hien Chỉ, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hiện Chủ Chương Của Đảng , Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Và Thực Hien Chỉ, Cong Tac Lanh Đạo Thực Hiện Chủ Truong Của Đang Chính Sach Pháp Luạt Nhà Nươc Va Thực Hiện Chỉ Thj N, Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Đề Xuất Kiến Nghị Những Giải Pháp Để Tổ Chức Thực Hiện Nghị Quyết Trong Thời Gian Tới, Đề Xuất Kiến Nghị Các Giải Pháp Tổ Chức Thực Hiện Nghị Tư 5 Khóa 12 Tại Cơ Quan Trường Thcs Quyết Tr, Tham Luan Ve Thuc Trang Trang Thiet Bi Ky Thuat Nghiep Vu, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay. , Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Hiện Trang Nuôi Tôm Công Nghiệp, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Chiến Lược Cán Bộ Thời Kỳ Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Đất Nước, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, De Tài Cuối Khóa Thuc Trang Chung Thục Tai Ubnd Xã Và Bien Phap Khắc Phuc, Thực Hiện Tăng Trưởng Kinh Tế Gắn Với Đảm Bảo Công Bằng Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Hướng Dẫn Thực Hiện Thống Kê Kiểm Kê Đất Đai Và Xây Dựng Bản Đồ Hiện Trạng Sử Dụng Đất, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nhiệm Vụ Và Giai Pháp Xây Dựng Đẳn Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Thực Trạng Hôn Nhân Hiện Nay, Phân Tích Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Hực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Hãy Phân Tích Khả Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Cây Công Nghiệp Và Cây Đặc Sản Trong Vùng, Hiện Trạng Phát Triển Và Phân Bố Nông Nghiệp Vùng Duyên Hải Miền Trung., Công Tác Lãnh Đạo Thực Hieenjchur Trương Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Nhà Nwowcsvaf Thực Hiện Chỉ T, Thực Trạng Đói Nghèo ở Thạch Hà Hiện Nay, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Hiến Pháp, Hiến Pháp Mới Nhất Của Việt Nam, Luật Hiến Pháp Việt Nam, Bài Giải Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại, Nhiẹm Vu Giải Pháp Xây Dụng Đảng Hiên Nay, Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa ở Việt Nam, Hãy Giải Thích 5 Mục Đích Của Việc Thực Hiện Nhập Các Biểu Thức Hay Các Tiê, Bài Giải Chương 7 Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại, Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Trang Bị Phương Tiện Bảo Vệ Cá Nhân, Thực Trạng Giao Tiếp ứng Xử Của Nhân Viên Y Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hiện Trạng Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật,

    Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp., Tiểu Luận Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Thất Nghiệp ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam. Thực Trạng Giải Pháp, Thực Trạng Thực Hiện Pháp Luật ở Việt Nam Hiện Nay, Thực Hiện Dân Chủ ở Cấp Xã Thực Trạng Và Giải Pháp, Khoa Học, Công Nghệ Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp, Quan Điểm, Thực Trạng, Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Việt Nam, Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức, Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực , Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay, Thực Trạng, Nguyên Nhân Hậu Quả Giải Pháp, Thực Trạng Nhân Cách Con Người Việt Nam Hiện Nay, Thực Trạng Công Tác Chính Sách ở Việt Nam Hiện Nay, Năng Lượng Tái Tạo Tại Việt Nam – Hiện Trạng Và Thách Thức, Tiểu Luận Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay, Thuc Trang Va Giai Phap Kham Chua Benh, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Thực Trạng Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Cơ Quan, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Đia Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Công Tác Tham Mưu Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp, Thuc Trang Va Giai Phap Ve Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong, Thực Trạng Chất Lượng Các Doanh Nghiệp Việt, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Làm Theo Hcm, Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Quảng Bá Thương Hiệu Của Doanh Nghiệp Việt, Thuc Trang Va Giai Phap Cong Tac Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong Cap Huyen, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ, Công Viên Chức ở Cơ Quan, Có Thể Thực Hiện Giải Pháp Nào Sau Đây Trong Mạch Dao Động Anten?, Bai Hoc Cua Khoan Ho, Thuc Trang Va Huong Di Cho Nong Nghiep Viet Nam Trong Tuong Lai, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Văn Bản Pháp Luật Nào Điều Chỉnh Quá Trình Ký Kết Thực Hiện Và Giải Quyết , Tham Luận Giai Phap Thuc Hien Tot Ke Hoach Duoc Khonggiao, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Chủ Trương Đường Lối Thoát, Cong Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức ở Việt Nam,

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Vấn Đề Thất Nghiệp
  • Phát Triển Nông Nghiệp Ở Việt Nam Thời Công Nghệ 4.0
  • 10 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Nông Nghiệp 2022
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Hiện Nay
  • 05 Giải Pháp Sản Xuất Nông Nghiệp Thời 4.0
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Tại Xã Tiên Hiệp, Tiên Phước Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Việt Nam
  • Chăm Lo Xây Dựng Gia Đình No Ấm, Tiến Bộ, Hạnh Phúc, Văn Minh
  • Giải Pháp Căn Cơ Để Giảm Giá Thịt Lợn
  • Giá Thịt Lợn Tăng Cao: Cần Nhiều Giải Pháp Để Bình Ổn Thị Trường
  • Đi Tìm Giải Pháp Đồng Bộ Giảm Giá Thịt Heo
  • Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    MỤC LỤC

    MỤC LỤC……………………………………………………………………………………………….1

    PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………….2

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIA ĐÌNH VĂN HÓA………………………….5

    I. Gia đình……………………………………………………………………………………………..5

    1. Khái niệm………………………………………………………………………………………..5

    2. Đặc điểm của gia đình Việt Nam………………………………………………………..5

    II. Nội dung công tác xây dựng gia đình văn hóa………………………………………..7

    1. Gia đình văn hóa đang xây dựng là gì?……………………………………………….7

    2. Tóm tắt quá trình hình thành công tác xây dựng gia đình văn hóa………….8

    3. Tiêu chuẩn danh hiệu “Gia đình văn hóa”……………………………………………9

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN

    HÓA Ở XÃ TIÊN HIỆP, TIÊN PHƯỚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY………………12

    I. Khái quát tình hình chung của địa phương…………………………………………….12

    II. Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa……………………………………15

    1. Kết quả đạt được và nguyên nhân…………………………………………………….15

    2. Những tồn tại và nguyên nhân………………………………………………………….19

    CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH

    VĂN HÓA XÃ TIÊN HIỆP TỪ NAY ĐẾN NĂM 2022………………………………23

    I. Định hướng…………………………………………………………………………………….23

    II. Giải pháp………………………………………………………………………………………24

    KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………….26

    TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………..27

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 1

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Lý do chọn đề tài

    Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan

    trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát

    huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân

    lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

    khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội

    mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình, chính vì

    muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”.

    Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển

    với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hoá dân tộc.

    Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, tình yêu thương, ý chí tự

    lực, tự cường,vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn

    giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước.

    Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có

    những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại và gia đình vẫn

    là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế, xã hội của

    đất nước.

    Sau gần 30 năm đổi mới thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã đạt

    được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng

    cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình. Phong trào xây dựng đời

    sống văn hoá mới ở cơ sở phát triển, ngày càng có nhiều gia đình văn hoá, khu

    phố văn hoá, làng văn hoá, cụm dân cư văn hoá, góp phần gìn giữ và phát huy

    bản sắc văn hoá dân tộc. Bên cạnh thành tựu đó thì dưới tác động của kinh tế thị

    trường đã làm cho giá trị truyền thống tốt đẹp trên bị xuống cấp nghiêm trọng.

    Để đáp ứng sự phát triển của xã hội và các quan hệ gia đình phù hợp với điều

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 2

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    kiện kinh tế xã hội mới. Đảng ta đã xác định trong từng giai đoạn cụ thể định

    hướng xây dựng nền văn hóa của đất nước trên cơ sở kế thừa giá trị bản sắc dân

    tộc và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại. Tại Đại hội Đảng lần

    thứ XI, Đảng ta tiếp tục bổ sung và khẳng định mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa

    Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc;

    con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và năng lực sáng tạo,

    ý thức công dân, tuân thủ pháp luật”. Trong giai đoạn hiện nay sự chuyển biến

    mạnh mẽ về kinh tế có tác động rất lớn đến văn hóa và vấn đề cơ bản nhất trong

    nền văn hóa là “Gia đình văn hóa”. Vậy làm sao để phong trào xây dựng gia đình

    văn hóa thực sự hiệu quả giữ gìn được bản sắc dân tộc là vấn đề đặt ra cho cấp

    cơ sở là nơi trực tiếp vận động nhân dân tham gia sâu rộng thực hiện thắng lợi

    cuộc vận động có giá trị thực tiễn.

    Từ yêu cầu tất yếu của thực tiễn, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực trạng

    và giải pháp công tác xây dựng gia đình văn hóa tại xã Tiên Hiệp, Tiên Phước

    trong giai đoạn hiện nay” làm bài thu hoạch môn kinh tế chính trị Mác Lênin .

    Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: Công tác xây dựng gia đình văn hóa

    Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn xã Tiên Hiệp, Tiên Phước, Quảng Nam giai

    đoạn năm 2011-2015.

    Nội dung và kết cấu của đề tài

    Phần 1: Lời mở đầu

    Phần 2: Gồm 3 nội dung cụ thể

    Chương I: Cơ sở lý luận về gia đình văn hóa

    Chương II: Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa ở xã

    Tiên Hiệp, Tiên Phước giai đoạn hiện nay

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 3

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Chương III: Giải pháp thúc đẩy công tác xây dựng gia đình văn

    hóa xã Tiên Hiệp từ nay đến năm 2022.

    Phần 3: Kết luận

    Phương pháp nghiên cứu

    Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở kết hợp sử dụng phương pháp tổng

    hợp, tham khảo các báo cáo của địa phương. Bài viết đã hệ thống quan điểm của

    Đảng cộng sản Việt Nam, kết hợp với việc đánh giá phân tích thực tiễn tại địa

    phương về công tác xây dựng gia đình văn hóa giai đoạn 2011-2015 để rút ra

    những kết luận và đề xuất chủ yếu trong thời gian tới. Cá bước thực hiện như

    sau:

    Bước 1: Xác định thông tin, dữ liệu cần thu thập

    Bước 2: Thiết kế, lên kế hoạch, tiến độ thực hiện

    Bước 3: Thu thập và xử lý dữ liệu, thông tin đầu vào

    Bước 4: Phân tích, đánh giá dữ liệu

    Bước 5: Viết báo cáo, đề xuất và nêu ý kiến bản thân

    Mặc dù đã cố gắng nhưng do hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và thời

    gian nghiên cứu nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được

    sự quan tâm và đóng góp ý kiến của các thầy cô giảng viên để bài viết được hoàn

    thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn.

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 4

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIA ĐÌNH VĂN HÓA

    I. Gia đình

    1. Khái niệm

    a. Khái niệm

    Gia đình là đơn vị nhỏ của xã hội, là đơn vị xã hội đầu tiên, trong đó con

    người gắn bó với nhau bởi những mối quan hệ hôn nhân và huyết thống. Gia

    đình giữ vai trò thiết yếu trong hoạt động và phát triển của bất kỳ xã hội nào.

    C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm về gia đình: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống

    của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nởđó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái. Đó là gia đình”

    b. Vị trí

    Gia đình là nơi con người được sinh ra, là tổ ấm thân yêu đem lại các giá

    trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống cá nhân cho mỗi con người.

    Gia đình là “tế bào xã hội”. Gia đình là xã hội thu nhỏ, nhiều gia đình

    cộng lại thành xã hội.

    Gia đình là tế bào tự nhiên, đồng thời là một đơn vị kinh tế xã hội. Bởi

    không có gia đình tái tạo ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không

    thể tồn tại và phát triển được.

    c. Các chức năng thể hiện vai trò của gia đình

    Chức năng tái sản xuất ra con người; chức năng nuôi dưỡng và giáo dục

    thế hệ trẻ; chức năng kinh tế của gia đình; chức năng tổ chức đời sống tạo sự ổn

    định gia đình và phát triển xã hội; chức năng đáp ứng nhu cầu tâm sinh lý, tình

    cảm của các thành viên trong gia đình.

    2. Đặc điểm của gia đình Việt Nam

    a. Đặc điểm gia đình truyền thống Việt Nam

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 5

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Có thể khái quát là gia đình truyền thống Việt Nam hình thành nên từ nền

    văn minh lúa nước trong môi trường địa lý khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa

    luôn phải khắc phục thiên tai và chống giặc ngoại xâm. Có sự gắn kết bền chặt

    giữa Nhà – Làng – Nước, trong đó “Nhà” đóng vai trò hạt nhân quan trọng. Trong

    mối quan hệ đó gia đình – “Nhà” là đơn vị nhỏ của xã hội là khâu trung gian gắn

    liền giữa cá nhân với xã hội, xã hội thông qua gia đình để quản lý mọi thành viên

    của mình.

    Là sản phẩm của xã hội nông thôn – nông nghiệp nên có đặc trưng riêng

    của mình. Trên cơ sở kinh tế, xã hội, văn hóa của lịch sử, gia đình Việt Nam

    truyền thống được hình thành phát triển trên các bình diện cơ cấu và chức năng

    sau:

    + Gia đình Việt Nam truyền thống là hình thái gia đình gắn liền với xã hội

    nông thôn, nông nghiệp, ít biến đổi qua lịch sử cho đến khi nên văn minh công

    nghiệp và đô thị vào cuối thế kỷ XIX

    + Gắn với xã hội nông thôn và kinh tế nông nghiệp lúa nước với công cụ

    sản xuất thô sơ lạc hậu.

    Là một đơn vị sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp khép kín.

    b. Đặc điểm gia đình Việt Nam hiện nay

    Gia đình chịu tác động của yếu tố kinh tế thị trường toàn cầu hóa:

    + Hướng tích cực: đời sống vật chất và tinh thần của đại đa số gia đình

    được cải thiện đáng kể.

    + Hướng tiêu cực: một số giá trị của gia đình bị đảo lộn; các thành viên

    trong gia đình ít được quan tâm, chăm sóc nên kết cấu gia đình lỏng lẻo; lối sống

    thực dụng gia tăng trong nhiều thế hệ; hiện tượng xấu xuất hiện như nghiện hút,

    mại dâm, ngoại tình… đang trực tiếp tàn phá mạnh mẽ đời sống kinh tế, văn hóa

    và tinh thần của các gia đình

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 6

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Mô hình gia đình Việt Nam hiện nay đa số có kết cấu gia đình 2 thế hệ

    dần thay thế kết cấu gia đình truyền thống nhiều thế hệ và quy mô lớn

    Gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, chất lượng cuộc sống được nâng

    cao.

    Các mối quan hệ trong gia đình cải thiện theo hướng dân chủ, bình đẳng.

    Xã hội ta phát triển theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

    nghĩa, đã tạo mọi điều kiện để gia đình và con người được phát triển toàn diện và

    thể hiện sự đóng góp tích cực của gia đình trong công cuộc đổi mới đất nước.

    II. Nội dung công tác xây dựng gia đình văn hóa

    1. Gia đình văn hóa đang xây dựng là gì?

    Hiện nay văn hóa gia đình Việt Nam đang đứng trước sự lựa chọn các giá

    trị như sau:

    1/ Giữ nếp văn hoá gia đình truyền thống nguyên dạng với kiểu gia đình

    tam tứ đại đồng đường, trong đó các thế hệ trong gia đình sống theo đạo lý “kính

    trên, nhường dưới”, “chị ngã, em nâng”… Người già quyết định tối cao và được

    chăm sóc chu đáo. Cá nhân không được quyền quyết định, ít được quyền dân

    chủ, có tính bảo thủ, có khi cản trở sự phát triển.

    2/ Xây dựng gia đình hiện đại chỉ có 2 thế hệ, đề cao tự do cá nhân một

    cách tuyệt đối, cắt rời ít liên hệ với quá khứ, cội nguồn. Do đó xảy ra tình trạng

    nhiều người già lâm vào tình trạng cô đơn ít được chăm sóc chu đáo.

    3/ Xây dựng gia đình hiện đại, giàu có, ít con, hạnh phúc trên cơ sở văn

    hóa gia đình truyền thống, có sự giúp đỡ, hỗ trợ giữa các thế hệ, bảo lưu có

    chọn lọc giá trị văn hoá gia đình truyền thống. Đây là xu thế phù hợp nhất tạo

    nên gia đình tiên tiến, vừa hiện đại, giàu bản sắc dân tộc. Vậy đây chính là mô

    hình gia đình văn hoá chúng ta cần xây dựng.

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 7

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    2. Tóm tắt quá trình hình thành công tác xây dựng gia đình văn hóa

    Cuộc vận động có tiền thân ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành

    công, ngày 20-3-1947 dưới bút danh Tân Sinh, Bác Hồ đã viết tác phẩm “Đời

    sống mới” Người viết: “Mỗi người làm đúng theo đời sống mới thì đời trong một

    nhà cũng dễ thôi. Cũng như mỗi viên đá trơn tru vững chắc, thì chỉ cần một ít vôi

    là đắp thành một bức tường tốt

    Năm 1960, 6 gia đình ở thôn Ngọc Tỉnh, xã Ngọc Long, huyện Mỹ Hào,

    tỉnh Hưng Yên (gồm gia đình ông Luyện Văn Để, Đinh Văn Để, Đinh Văn

    Khắc, Luyện Văn Ân, Nguyễn Văn Tục, Đỗ Văn Thức) đã thống nhất bàn bạc,

    giúp nhau trong sản xuất, dạy bảo con cái chăm ngoan học tập, giúp đỡ láng

    giềng lúc khó khăn. Đây được coi là mô hình gia đình văn hoá đầu tiên, Bộ Văn

    hoá (Nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) có chủ trương nhân rộng mô hình

    này.

    Năm 1962, tại Hội nghị phổ biến nhân rộng mô hình xây dựng Gia đình

    văn hoá tại Hải Phòng, Bộ Văn hoá đã công nhận 6 gia đình văn hoá này và tặng

    cho thôn Ngọc Tình (tỉnh Hưng Yên) bức trướng, đề tặng chiếc nôi của phong

    trào xây dựng gia đình văn hoá, đồng thời phát động phong trào xây dựng gia

    đình văn hoá trên phạm vi cả nước.

    Ngày 15-3-1975, Bộ Văn hoá Thông tin và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt

    Nam đã ban hành Thông tư liên tịch về việc đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng

    Gia đình văn hoá mới

    Từ năm 1975-1985: Phong trào phát triển rộng khắp trong toàn quốc.

    Từ 1986 đến 1990: Thời kỳ đổi mới, thay đổi cơ chế từ bao cấp sang hạch

    toán, khiến cho nguồn chi cho phong trào giảm sút, ngành Văn hoá, Thông tin,

    cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương vẫn cố gắng

    duy trì phong trào nhưng kết quả có hạn chế.

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 8

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Từ 1990-2000: Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương đã đề ra nội dung

    tiêu chuẩn gia đình văn hoá như sau: xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến

    bộ, hạnh phúc; thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình; đoàn kết xóm giềng; thực

    hiện nghĩa vụ công dân

    Ngày 16-7-1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

    đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền

    văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Vấn đề gia đình và xây dựng

    gia đình văn hoá đã được đề cập một cách cấp thiết: “Giữ gìn và phát huy những

    đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc

    cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hoá. Xây dựng mối quan hệ khăng khít

    giữa “Gia đình- Nhà trường- Xã hội”

    Năm 2011, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư

    12/2011/TT-BVHTTDL quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ

    công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp

    văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương. Các tiêu chí

    xây dựng gia đình văn hoá hiện nay vẫn được kế thừa có chọn lọc với những yếu

    tố của gia đình truyền thống Việt Nam.

    3. Tiêu chuẩn danh hiệu “Gia đình văn hóa”

    1. Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,

    pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa

    phương:

    a) Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật

    Nhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng;

    b) Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp

    sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 9

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân

    cư;

    c) Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc

    cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại;

    không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng

    chống các loại tội phạm;

    d) Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội

    họp ở cộng đồng.

    2. Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người

    trong cộng đồng:

    a) Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ. Không có bạo

    lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; vợ chồng thực hiện

    sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan;

    b) Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ

    gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn

    hóa mới về gia đình;

    c) Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh-sạchđẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành viên trong gia

    đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao;

    d) Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương

    trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp

    nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở

    cộng đồng.

    3. Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng

    suất, chất lượng, hiệu quả:

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 10

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    a) Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu

    học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn

    định, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;

    b) Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “Xóa đói giảm

    nghèo”, năng động làm giàu chính đáng;

    c) Kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm; đời sống vật chất, văn

    hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao.

    “Trích Điều 4, Thông tư 12/2011/TT-BVHTTDL, ngày 10/10/2011”

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 11

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN

    HÓA Ở XÃ TIÊN HIỆP, TIÊN PHƯỚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

    I. Khái quát tình hình chung của địa phương

     Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

    Vị trí địa lý: Tiên Hiệp là một xã miền núi cách trung tâm Huyện Tiên

    phước 12 km về phía Tây của huyện Tiên Phước, về phía Đông giáp xã Tiên An,

    phía Tây giáp Tiên Ngọc, phía Nam giáp Trà Dương, Bắc Trà My, phía Bắc giáp

    Tiên Cảnh. Xã có trục đường QL40B chạy từ Trung tâm Huyện Tiên Phước qua

    xã Tiên Cảnh lên trung tâm Bắc Trà My.

    Diện tích tự nhiên: Diện tích tự nhiên 3.638,31 ha. Trong đó đất có khả

    năng sản xuất nông lâm nghiệp trên 2.125 ha, địa hình toàn là đồi núi chia cắt

    phức tạp. Dân số 4380 khẩu, 932 hộ, tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 là 18,45%. Địa

    giới hành chính chia thành 05 thôn, mỗi thôn có một thôn trưởng, một thôn phó,

    và các chi hội đoàn thể ở thôn, nhân dân sinh hoạt theo cụm dân cư và 21 tổ

    đoàn kết. Thời tiết chia làm thành 2 mùa rõ rệt, mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8,

    mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 hằng năm.

    Về Tôn giáo toàn xã hiện nay là: 303 hộ có 1266 khẩu. Trong đó công

    giáo: 53 hộ, 239 khẩu, tin lành: 98 hộ 556 khẩu, phật giáo: 147 hộ 605 khẩu, cao

    đài: 5 hộ, 16 khẩu

     Lĩnh vực kinh tế

    Giá trị nông lâm nghiệp ước tính mỗi năm đạt 60 tỷ đồng, tăng 20% so với

    Nghị quyết của Đại hội nhiệm kỳ 2010 – 2022.

    Kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn

    mới đạt được những kết quả nhất định tính đến năm 2014 xã đạt được 8/19 tiêu

    chí và phấn đấu hoàn thành 3 tiêu chí đến cuối năm 2022. Sản xuất tiểu thủ công

    nghiệp, thương mại, dịch vụ: tăng bình quân hằng năm 10%, giá trị sản xuất tăng

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 12

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    từ 1,988 tỷ đồng năm 2010 và ước đạt 2,970 tỷ đồng năm 2022. Thương mại

    dịch vụ phát triển tương đối ổn định, các cơ sở kinh doanh mở rộng đáp ứng đầy

    đủ nhu cầu thiết yếu của nhân dân.

    Hạ tầng kinh tế: xây dựng được nhiều công trình phúc lợi cơ bản đáp ứng

    nhu cầu của nhân dân và đảm bảo cơ sở vật chất cần thiết.

    Thu ngân sách và các khoản nghĩa vụ nhà nước, chi ngân sách đạt nhiều

    kết quả có chuyển biến tích cực góp phần ổn định đời sống của nhân dân.

     Lĩnh vực văn hóa xã hội

    BCH đã tập trung chỉ đạo từng bước nâng cao, chất lượng cuộc vận động

    “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống ở khu dân cư” theo tinh thần Nghị quyết

    TW5 (khoá VIII) và chất lượng của thôn văn hoá, gia đình văn hoá, đời sống văn

    hoá có nhiều chuyển biến tích cực, nền văn hoá mới từng bước được phát triển.

    Đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu từng bước được đáp ứng. Tỷ lệ trẻ

    em trong độ tuổi đến trường 100%, tỷ lệ trẻ em đỗ tốt nghiệp tiểu học 100%, tốt

    nghiêp THCS đạt 99%, hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập

    THCS. Mạng lưới y tế được củng cố, mở rộng đến các thôn. Cơ sở vật chất y tế

    được trang bị, từng bước đáp ứng yêu cầu chăm sóc nhân dân hằng năm đạt

    100%, kế hoạch các chương trình y tế quốc gia, công tác vệ sinh an toàn thực

    phẩm, vệ sinh môi trường được chú trọng, dịch bệnh ít xảy ra. Hiện nay có 100%

    số hộ dùng nước sạch.

    Hiện nay các thôn trên địa bàn xã đều có cộng tác viên dân số. Thường

    xuyên tổ chức nhiều đợt truyền thông tư vấn cho đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ,

    thực hiện các biện pháp tránh thai đạt 90%/1 năm. Xây dựng các mô hình thôn,

    tổ đoàn kết không có người sinh con thứ 3, tỷ lệ dân số tự nhiên ở mức 0,73 %.

    Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em được chú trọng, tỷ lệ trẻ em SDD giảm còn

    2,5%. Thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa chính sách người có công với

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 13

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Trang 14

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    sống văn hóa, nội lực trong dân và phát huy tạo niềm tin vững chắc của nhân dân

    đối với Đảng trong công cuộc xây dựng quê hương.

     Công tác xây dựng Đảng

    Tính đến nay toàn bộ Đảng có 47 Đảng viên, 8 chi bộ trực thuộc 5 chi bộ

    thôn, 2 chi bộ trường,1 chi bộ quân sự .Trong nhiệm kỳ qua, thực hiện theo chức

    năng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định, và quy chế hoạt động của BCH Đảng

    bộ xã Tiên Hiệp. BCH đã coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là

    nhiệm vụ trọng tâm đã tập trung nghiên cứu quán triệt đầy đủ các quan điểm,

    đường lối chủ trương, Nghị quyết của các cấp đến cán bộ, Đảng viên và nhân

    dân xem đây là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong công cuộc xây dựng Đảng.

    Đặc biệt BCH xây dựng kế hoạch và tổ chức quán triệt cho cán bộ, Đảng viên

    học tập chuyên đề về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03

    của Bộ Chính trị.

    BCH luôn thống nhất cao với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của các cấp và

    chấp hành nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, kiên quyết chống lại

    các tư tưởng sai lệch về quan điểm của Đảng và đường lối đổi mới của Đảng

    cộng sản Việt Nam. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng bố trí sử dụng cán

    bộ được chú trọng có tích cực qua các đợt quy hoạch theo phương án A1, A2.

    II. Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa

    1. Kết quả đạt được và nguyên nhân

    a. Kết quả đạt được

    Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở xã Tiên

    Hiệp được Đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt ; được sự

    hưởng ứng tích cực của mọi tầng lớp nhân dân, công tác xã hội hoá của phong

    trào được nâng cao, thể hiện rõ nét qua việc hưởng ứng xây dựng phong trào của

    quần chúng nhân dân, tích cực tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ,

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 15

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    TDTT, đoàn kết xây dựng lối sống tốt đẹp, phong phú lành mạnh, đẩy lùi các tệ

    nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng bộ, HĐND xã giai

    đoạn năm 2011 – 2022.

    Sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể của xã

    trong công tác xây dựng đời sống văn hoá. Trong đó, vai trò chủ đạo của ngành

    VHTT – UBMT xã và sự hưởng ứng tích cực thường xuyên của các ban, ngành,

    đoàn thể trong BCĐ từ xã đến thôn được thể hiện rõ phong trào “Toàn dân đoàn

    kết xây dựng đời sống văn hoá” phát huy được tinh thần đoàn kết cộng đồng,

    vận động nhân dân hưởng ứng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

    Minh. Từ đó, góp phần xây dựng thôn văn hoá có cuộc sống vật chất, tinh thần

    ngày càng nâng lên, cảnh quang môi trường ngày càng được xây dựng sạch đẹp,

    các thiết chế văn hoá ngày càng được quan tâm đầu tư xây dựng cơ bản hơn,

    trong năm 2011 phong trào của xã Tiên Hiệp đã đạt được một số kết quả như

    sau:

     Công tác tổ chức, tham mưu, chỉ đạo thực hiện phong trào

    Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở

    khu dân cư” gắn với thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông

    thôn mới trong giai đoạn năm 2011 – 2022. Dưới sự chỉ đạo của Ban thường vụ

    Huyện ủy Tiên Phước, toàn bộ cán bộ, Đảng viên và nhân dân trong xã hưởng

    ứng thực hiện mạnh mẽ cuộc vận động trên. Thường trực Ban chỉ đạo của xã đã

    tổ chức cuộc họp với Ban vận động các thôn để triển khai hướng dẫn thực hiện

    các văn bản cấp trên , UBND tỉnh, BCĐ tỉnh và BCĐ huyện về phong trào

    “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.

    BCĐ phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” của xã

    được củng cố, có xây dựng quy chế hoạt động và phân công thành viên phụ trách

    địa bàn từng thôn, tổ đoàn kết, Ban vận động các thôn luôn duy trì hoạt động đều

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 16

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Trang 17

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Đảng bộ đã đạt được những kết quả trong nhiệm kỳ 2011-2015 trong công tác

    xây dựng gia đình văn hóa thể hiện dưới bảng số liệu sau:

    Bảng1: Số hộ đạt gia đình văn hóa giai đoạn 2011-2014

    Năm

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    Số hộ đạt GĐVH

    Tỷ lệ %

    Số hộ đạt

    Số thôn đạt

    3 năm liền

    239/924

    Với điều kiện khó khăn của xã đạt được kết quả như thế đã là thành tựu

    lớn của sự lãnh đạo và cố gắng nổ lực vượt khó, vươn lên của nhân dân trong xã.

    Mặt khác một số điều kiện khách quan khó khăn về kinh tế đã tác động mạnh

    đến quá trình xây dựng gia đình văn hóa của các hộ trong xã. Điều đó ảnh hưởng

    đến tỷ lệ và số lượng hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa có xu hướng giảm trong thời

    gian qua. Số lượng thôn văn hóa theo đó cũng bị giảm sút nghiêm trọng.

    b. Nguyên nhân đạt được

    Do có sự đoàn kết nhất trí cao, tinh thần trách nhiệm của toàn Đảng bộ,

    Ban chỉ đạo, ban vận động trong công tác xây dựng gia đình văn hóa. Nhờ sự

    bám sát Nghị quyết của Đảng, vận dụng linh hoạt vào điều kiện cụ thể của địa

    phương.

    Công tác chỉ đạo điều hành luôn thực hiện đúng quy chế, nêu cao sự lãnh

    đạo của Đảng ủy và vai trò điều hành của UBND, sự phối hợp thực hiện kiểm tra

    giám sát của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể khác, luôn lắng nghe phản ánh của

    nhân dân, được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ phong trào. Đồng thời phát huy

    được sức mạnh đại đoàn kết.

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 18

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Được sự quan tâm, chỉ đạo quán triệt thường xuyên của Ban thường vụ

    huyện ủy, UBND huyện, Mặt trận và các ban ngành đoàn thể của huyện đã đóng

    góp vào mục tiêu nhiệm vụ cụ thể trong quá trình thực hiện cuộc vận động.

    2. Những tồn tại và nguyên nhân

    a. Những tồn tại hạn chế

    Dù rằng ngày càng có nhiều gia đình mức sống được cải thiện, nâng cao,

    thì cũng còn không ít những gia đình đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Những

    thành tựu và kết quả đạt được trong lĩnh vực xây dựng gia đình văn hóa còn chưa

    tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ mạnh để tác động có hiệu quả đối với

    lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức lối sống,chất

    lượng đời sống văn hóa còn nhiều mặt hạn chế cụ thể là: Nhiệm vụ xây dựng con

    người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa có đầy đủ 5 đức tính

    như Nghị quyết TW 5 khóaVIII đề ra chưa tạo được sự chuyển biến rõ rệt.

    Chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng. Nếu tính theo chỉ số của Ngân

    hàng thế giới về sử dụng mức chi tiêu cần thiết để đạt 2.100 calo/ người/ ngày thì

    nhiều gia đình sẽ rơi vào mức dưới nghèo, có sự khác biệt lớn giữa gia đình

    người kinh và gia đình người dân tộc.

    Thu nhập của các hộ gia đình trong xã tuy có khá hơn trước nhưng chưa

    phải là cao, cơ cấu thu nhập chuyển biến chậm và mức chênh lệch thu nhập giữa

    các nhóm, vùng có xu hướng gia tăng. Nếu lấy thu nhập bình quân của một

    người trong tháng ở nông thôn là 1 thì thu nhập của người ở thị trấn (thành thị)

    gấp 2,55 lần. Sở dĩ có sự chênh lệch này là do thu nhập ở khu vực nông thôn chủ

    yếu là nông nghiệp.

    Tốc độ gia tăng của sản xuất nông nghiệp thường chỉ bằng 1/2 đến 1/3 tốc

    độ tăng của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Việc vận dụng tăng thu nhập vào

    mục đích phát triển kinh tế hộ gia đình còn hạn chế.

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 19

    Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

    GVHD: Ph ạm Th ị Thu

    Khi nền kinh tế phát triển, thay đổi về cơ cấu sản xuất và điều kiện lao

    động cũng có ảnh hưởng nhất định đến các mối quan hệ truyền thống và sự bền

    vững của gia đình. Mối quan hệ vợ chồng của một số gia đình có nguy cơ bị phá

    vỡ do họ thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, con cái thiếu tôn kính đối với cha

    mẹ, có tâm lý ỷ lại, thích đua đòi, thích hưởng thụ do cha mẹ thiếu quan tâm,

    thiếu phương pháp giáo dục đúng đắn. Đây cũng chính là môi trường thuận lợi

    cho các tệ nạn xã hội có cơ hội thâm nhập vào gia đình.

    Vấn đề bình đẳng giới chưa được xã hội quan tâm và nhận thức đầy đủ, tư

    tưởng “gia trưởng”, “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại ở nhiều thôn trong xã.

    Tình trạng bạo lực trong gia đình, nhất là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em vẫn

    còn xảy ra đã gây nên bức xúc trong dư luận xã hội. Ngoài ra tình trạng vi phạm

    pháp luật như: trộm cắp, cướp giật, mê tín dị đoan, cờ bạc… gây mất trật tự cũng

    là những vấn đề đặt ra hết sức gay gắt cho các cấp, các ngành.

    Với tâm lý muốn sinh nhiều con để có con trai nối dõi tông đường vẫn còn

    tồn tại ở nhiều thôn trong xã. Nhiều gia đình sinh con đông không đủ khả năng

    nuôi dạy con, con cái bị thất học hay phải nghỉ học sớm, ngược lại, cũng không

    ít gia đình tuy sinh ít con nhưng cha mẹ lại buông lỏng quản lý do chỉ chú tâm

    đến việc làm kinh tế cho gia đình, thiếu sự quan tâm giáo dục toàn diện dẫn đến

    tình trạng trẻ em bỏ học, làm ảnh hưởng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dân

    số và phát triển nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

    đất nước.

    Tình trạng suy thoái về đạo đức, tha hóa trong lối sống như chạy theo

    đồng tiền, ảnh hưởng bởi tệ nạn xã hội, lối sống thực dụng, đề cao tự do cá nhân

    dẫn đến gia đình tan vỡ, tác động tiêu cực đến xã hội. Đó chính là những thách

    thức to lớn trong việc xây dựng gia đình.

    HVTH: Lê Thanh Thành

    Trang 20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hỗ Trợ Phụ Nữ Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc, Bền Vững
  • Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc
  • Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc, Phát Triển Bền Vững
  • Cách Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc
  • Tp Hồ Chí Minh Trao Đổi Kinh Nghiệm, Giải Pháp Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Giảm Thất Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Giải Quyết Thất Nghiệp
  • Giải Pháp Giải Quyết Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam.
  • Đề Án: Thất Nghiệp Và Biện Pháp Giải Quyết
  • Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp Tăng Thu, Giảm Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Cách Thức Xử Lý Khắc Phục Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Tóm tắt:

    Trong điều kiện kinh tế thị trường, thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, không loại trừ một quốc gia nào, cho dù quốc gia đó là nước đang phát triển hay nước có nền công nghiệp phát triển. Do vậy, giảm tỷ lệ thất nghiệp, bảo đảm việc làm, ổn định đời sống cho người lao động trở thành mục tiêu quan trọng của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam…

    Từ khóa: Thất nghiệp, xã hội, thu nhập, việc làm, độ tuổi lao động, kinh tế thế giới…

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong những năm gần đây với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu trong các lĩnh vực du lịch, dịch vụ, xuất khẩu lương thực thực phẩm… Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng gặp một số vấn đề khó khăn trong kinh tế. Hiện nay, vấn đề cần quan tâm hàng đầu đối với nền kinh tế Việt Nam chính là tình trạng mất việc làm, thất nghiệp gia tăng, thu nhập của người dân giảm sút; sự suy giảm, thậm chí đình trệ sản xuất kinh doanh của một số ngành, trong đó có các ngành xuất khẩu, và khả năng khắc phục những yếu kém của nền kinh tế. Do đó, thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực thực hiện các giải pháp chống suy thoái và dự báo tình hình kinh tế trong nước, kinh tế thế giới để điều chỉnh, điều hành tốt nền kinh tế nước nhà, đặc biệt làgiảm được tình trạng thất nghiệp hiện nay.

    II. THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

    Theo thống kê về nguồn nhân lực và thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/10/2015 ước tính là 54,32 triệu người, tăng 11,7 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014, bao gồm lao động nam là 28,12 triệu người, chiếm 51,77%; lao động nữ là 26,20 triệu người, chiếm 48,23%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 16,87 triệu người, chiếm 31,06%; khu vực nông thôn là 37,45 triệu người, chiếm 68,94%.

    Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm trên là 47,78 triệu người, tăng 9,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014; bao gồm lao động nam 25,75 triệu người, chiếm 53,9%; lao động nữ 22,03 triệu người, chiếm 46,1%. Lực lượng lao động trong độ tuổi của khu vực thành thị là 15,38 triệu người, chiếm 32,19%; khu vực nông thôn là 32,40 triệu người, chiếm 67,81%.

    Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong 9 tháng năm 2022 ước tính 52,72 triệu người, giảm 177,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động làm việc trong ngành Nông, lâm nghiệp và Thủy sản là 23,35 triệu người, giảm 1.523,7 nghìn người, chiếm 44,3%; lao động công nghiệp và xây dựng là 11,85 triệu người, tăng 756,4 nghìn người, chiếm 22,5%; lao động dịch vụ là 17,52 triệu người, tăng 590 nghìn người, chiếm 33,2%.

    Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động 9 tháng năm 2022 ước tính là 2,36% (Quý I là 2,43%; Quý II là 2,42%; Quý III là 2,24%), trong đó khu vực thành thị là 3,42% (Quý I là 3,43%; Quý II là 3,53%; Quý III là 3,31%); khu vực nông thôn là 1,86% (Quý I là 1,95%; Quý II là 1,91%; Quý III là 1,73%).

    Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15 – 24 tuổi) 9 tháng năm 2022 ước tính là 6,74% (Quý I là 6,6%; Quý II là 6,68%; Quý III là 6,9%), trong đó khu vực thành thị là 11,52% (Quý I là 10,95%; Quý II là 11,84%; Quý III là 11,7%); khu vực nông thôn là 5,05% (Quý I là 4,99%; Quý II là 4,91%; Quý III là 5,23%).

    Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên trong 9 tháng năm 2022 là 1,25% (Quý I là 1,41%; Quý II là 1,3%; Quý III là 1,03%), trong đó khu vực thành thị là 1,86% (Quý I là 1,99%; Quý II là 1,92%; Quý III là 1,67%); khu vực nông thôn là 0,96% (Quý I là 1,13%; Quý II là 1,02%; Quý III là 0,72%).

    Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động ước tính là 1,93% (Quý I là 2,43%; Quý II là 1,8%; Quý III là 1,52%), trong đó khu vực thành thị là 0,92%; khu vực nông thôn là 2,4%.

    Mặc dù nước ta có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lớn và tỷ lệ thất nghiệp thấp, nhưng lao động có việc làm phi chính thức phi hộ nông nghiệp lại khá cao. Ước tính quý IV/2015, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi hộ nông nghiệp của cả nước chiếm 56,4% tổng số lao động có việc làm khu vực phi hộ nông nghiệp, trong đó tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi hộ nông nghiệp khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 64,5%.

    Tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam trong các ngành sản xuất và dịch vụ vẫn còn ở mức thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực. Điều này cho thấy thị trường lao động Việt Nam thiếu ổn định, việc làm chưa đầy đủ và bền vững, với năng suất lao động thấp.

    Có thể thấy thị trường lao động Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong vài thập kỷ qua. Điều này được thể hiện qua mức lương cao hơn, tốc độ giảm đều đặn của các việc làm trong ngành Nông nghiệp và pháp luật lao động được cải thiện. Nhưng mặc dù có những tiến bộ như vậy, gần một nửa người số lao động Việt Nam vẫn đang làm việc trong ngành Nông nghiệp – ngành có năng suất lao động và thu nhập thấp. Cứ mỗi 5 người lao động thì khoảng 3 người làm những công việc dễ bị tổn thương (lao động tự làm và lao động gia đình không trả lương) – đó là những công việc có điều kiện làm việc đặc biệt không đảm bảo.

    Nhìn chung, năng suất lao động và lương của Việt Nam tương đối thấp so với các nền kinh tế khác trong khu vực ASEAN như Malaysia, Singapore và Thái Lan. Bởi vậy, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực tăng cường pháp luật lao động, cải thiện việc tuân thủ luật pháp, thúc đẩy hệ thống quan hệ lao động và các cơ sở đào tạo, phát triển kỹ năng.

    Tuy nhiên, hạn chế của việc sử dụng tỷ lệ thất nghiệp làm thước đo cho các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam là không thể hiện được đầy đủ tình trạng của thị trường lao động. Những nước này không có đủ những việc làm tốt, bền vững với năng suất cao, dẫn đến việc không sử dụng được đầy đủ tiềm năng của lực lượng lao động (labour underutilization) như tỷ lệ thiếu việc làm cao, thu nhập thấp và năng suất lao động thấp. Như vậy, việc theo dõi thị trường lao động ở các nước đang phát triển như Việt Nam cần có những chỉ số thể hiện được chất lượng việc làm. Chẳng hạn, những chỉ số này bao gồm tỷ lệ lao động nghèo, tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương, tỷ lệ nền kinh tế phi chính thức, tỷ lệ ngành Nông nghiệp trong số việc làm, năng suất lao động và lương bình quân.

    Tóm lại, cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam thể hiện tỷ lệ lớn dân số trong độ tuổi lao động và giảm tỷ lệ phụ thuộc. Nếu Việt Nam có thể tạo ra đủ việc làm có chất lượng cao để đáp ứng nguồn lao động đang mở rộng, có thể đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế và giải quyết những lỗ hổng trên thị trường lao động. Đồng thời, sự ổn định kinh tế vĩ mô và các thể chế về thị trường lao động vững mạnh hơn sẽ giúp tạo ra một môi trường kinh doanh tốt hơn, thu hút đầu tư và kích cầu. Thêm vào đó, cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo và chất lượng của các nhà cung cấp dịch vụ việc làm sẽ giúp người lao động Việt Nam và người tìm việc đáp ứng được các nhu cầu của doanh nghiệp và ngành nghề và nắm bắt những cơ hội việc làm mới và tốt hơn.

    Nguyên nhân gây ra thất nghiệp ở Việt Nam được đánh giá là do:

    – Lực lượng lao động phân bố không đồng đều giữa các vùng địa lý kinh tế, chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hồng (không bao gồm Hà Nội): 15,2%, đồng bằng sông Cửu Long: 19,1%; trong khi các vùng đất rộng có tỉ trọng lao động thấp như trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,7%, Tây Nguyên chiếm 6,3% lực lượng lao động. Vì vậy, chưa tạo điều kiện phát huy được lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động và góp phần phân bố lại lực lượng lao động, đây chính là nguyên nhân tạo ra sự mất cân đối cục bộ về lao động và là tác nhân của thất nghiệp, thiếu việc làm.

    – Lực lượng lao động có chất lượng thấp.

    + Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếp hạng thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á.

    + Nguồn nhân lực nước ta yếu về chất lượng, thiếu năng động và sáng tạo, tác phong lao động công nghiệp… Trong tổng số hơn 53,4 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế, chỉ có khoảng 49% qua đào tạo, trong đó qua đào tạo nghề từ 3 tháng trở lên chỉ chiếm khoảng 19%. Khoảng cách khác biệt về tỉ lệ này giữa khu vực thành thị và nông thôn là khá cao (20,4% và 8,6%).

    + Ngoài ra, thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế.

    + Công tác chăm sóc sức khỏe và an toàn nghề nghiệp chưa tốt; bên cạnh đó, kỷ luật lao động còn kém so với nhiều quốc gia trong khu vực.

    + Một bộ phận lớn người lao động hiện nay chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp, tùy tiện về giờ giấc và hành vi.

    + Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, thiếu khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc.

    – Năng suất, hiệu quả lao động trong các ngành kinh tế thấp và có sự khác biệt đáng kể giữa khu vực nông nghiệp với khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ.

    – Tình trạng mất cân đối cung – cầu lao động cục bộ vẫn thường xuyên xảy ra. Thị trường lao động nước ta chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, nơi có nhiều KCX-KCN, như: Long An, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… Ngược lại một số tỉnh như Bạc Liêu, Ninh Thuận, Thanh Hóa, Nghệ An lại có tình trạng dư cung, đang phải đối mặt với tỉ lệ thất nghiệp cao.

    Mặc dù đã tiến hành hai đợt cải cách tiền lương, bước đầu tách bạch tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hành chính sự nghiệp, tạo điều kiện đổi mới chính sách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh theo định hướng thị trường nhưng mức tiền lương tối thiểu thấp chưa được tính đúng, tính đủ cho mức sống tối thiểu và chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu cơ bản của người lao động, thấp hơn mức lương tối thiểu thực tế trên thị trường khoảng 20% và hiện nay mới đạt khoảng 45% mức tiền lương tối thiểu trung bình của khu vực ASEAN.

    – Công tác quản lý nhà nước về lao động – việc làm còn nhiều hạn chế:

    + Các chính sách, pháp luật đang từng bước hoàn thiện, hệ thống thông tin thị trường lao động còn sơ khai thiếu đồng bộ.

    + Chính sách bảo hiểm thất nghiệp hết sức tiến bộ nhưng chưa đạt được mục tiêu như mong muốn nhằm không chỉ hỗ trợ cuộc sống người lao động khi mất việc làm mà còn phải đào tạo nghề, tư vấn, hỗ trợ để giúp quay lại thị trường lao động.

    III. GIẢI PHÁP GIẢM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

    – Tích cực đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế

    Về tài khóa, sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư phát triển dựa vào củng cố nguồn thu; giãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế.

    Về tiền tệ, sẽ tiếp tục bù lãi suất tín dụng cho vốn vay trung và dài hạn phục vụ đầu tư máy móc thiết bị cho nền kinh tế nói chung và cho khu vực nông nghiệp nói riêng với các khoản.

    Kích thích tăng trưởng bằng các gói kích cầu.

    – Sắp xếp lại cơ cấu lao động đồng thời nâng cao trình độ cho người lao động. Việt Nam có dân số trẻ nguồn lao động dồi dào, chi phí rẻ nhưng do cơ cấu bố trí chưa hợp lý nên việc khai thác lao động kém hiệu quả.

    – Tăng nguồn vốn đầu tư (chủ yếu lấy từ dự trữ quốc gia, vay nợ nước ngoài) đẩy nhanh tiến bộ xây dựng cơ sở hạ tầng, làm thủy lợi, thủy điện giao thông… nhằm tạo việc làm mới cho người lao động. Đồng thời, nới lỏng các chính sách tài chính, cải cách thủ tục hành chính nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài tạo nguồn việc làm cho người dân. Bên cạnh đó khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho các doanh nghiệp vay vốn để mua sắm trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất.

    – Ưu đãi đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án, công trình có quy mô lớn, tạo nhiều việc làm, hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc giảm thuế, hoán thuế, khoanh nợ song song với cam kết phải duy trì việc làm cho số lao động hiện tại và thu hút thêm lao động nếu có thể, hỗ trợ vay vốn cho các doanh nghiệp gặp khó khăn để duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm cho người lao động.

    – Phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu côngnghiệp các dự án kinh tế. giúp tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho công nhân.

    – Để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động cần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp và dịch vụ, hướng người lao động đến những việc làm ở những ngành nghề, đem lại giá trị cao trong các chuỗi giá trị, với điều kiện lao động phải có hiểu biết, có kỹ năng chuyên môn để dần thay thế khu vực kinh tế nông nghiệp kém hiệu quả bằng khu vực kinh tế có giá trị cao hơn, thông qua đó nâng cao đời sống và thu nhập của người lao động, tạo ra một thị trường lao động cạnh tranh để giảm nguy cơ thất nghiệp khi có khủng hoảng.

    – Lao động nông thôn rất cần được đào tạo, dạy nghề, họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước.

    – Cần đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa và phát triển mạnh các khu kinh tế vệ tinh, các khu công nghiệp và các làng nghề, tăng cường mối quan hệ giữa sản xuất công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ, đặc biệt khai thác mối liên kết kinh tế giữa các thành phố lớn với các khu vực phụ cận nhằm tạo ra nhiều việc làm tại chỗ.

    – Cần có sự phát triển bền vững và đồng bộ thị trường hàng hóa, thị trường đất đai, thị trường vốn, thị trường lao động và thị trường tín dụng.

    – Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố giúp đỡ người lao động sớm tìm được việc làm mới thông qua trung tâm tư vấn việc làm. Bên cạnh việc giải quyết việc làm thì đầu tư cho công tác dạy nghề cũng là biện pháp kích cầu không kém phần quan trọng.

    – Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội.

    – Tình trạng thất nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học đang diễn ra. Để khắc phục tình trạng này thì việc làm tốt công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông, phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội là hết sức cần thiết.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2014 (493)

    2. Http://www.gso.gov.vn

    3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Giáo trình dân số và phát triển-NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.

    4. Cơ sở lý luận về dân số – phát triển và lồng ghép dân số vào kế hoạch hóa phát triển – Dự án VIE/01/P14 Hà Nội.

    5. Giáo trình thị trường lao động – NXB Lao động Xã hội.

    Ngày nhận bài: 02/01/2016

    Ngày chấp nhận đăng bài: 22/01/2016

    Thông tin tác giả:

    ThS. Nguyễn Thị Hạnh

    Khoa Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp

    The situation and solution to unemployment in Vietnam

    Masters Nguyen Thi Hanh

    Faculty of Business Management, University of Economics and Technology Industry

    Abstract:

    In the context of the market economy, unemployment occurs over the world. Therefore, reducing unemployment rate, ensuring jobs and stabilizing living standards for labours become priority tasks of many countries, including Vietnam.

    Keywords: Unemployment, social, income, employment, working age, the global economy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Máy Giám Sát Tuần Tra An Ninh Người Bào Vệ
  • Giải Pháp An Ninh Giám Sát Cho Biệt Thự, Nhà Riêng
  • Giải Pháp Giám Sát An Ninh Chính Phủ
  • Giải Pháp Giám Sát An Ninh Chuyên Nghiệp Tại Tphcm
  • Chống Ùn Tắc Giao Thông, Không Để Tắc Giải Pháp
  • Giải Pháp Cho Thực Trạng Giao Thông Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Công Ty Tnhh Giải Pháp Và Công Nghệ Việt Hàn
  • Tiếp Tục Thúc Đẩy Quan Hệ Việt Nam
  • Thúc Đẩy Quan Hệ Việt Nam
  • Việt Nam, Trung Quốc Nhấn Mạnh Việc Đưa Quan Hệ Đối Tác Chiến Lược Đi Vào Chiều Sâu
  • 70 Năm Quan Hệ Việt Nam
  • Từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì bức tranh về kinh tế của Việt Nam có nhiều điểm sáng, mức sống của người dân được cải thiện từng bước, kinh tế ngày càng tăng trưởng. Tuy nhiên đi liền với nó là vấn đề về tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, số vụ giao thông không ngừng tăng cả về quy mô và số lượng gây ảnh hưởng vô cùng lớn đến xã hội.

    Thực trạng giao thông Việt Nam hiện nay

    Theo thống kê của Cục CSGT đường bộ- đường sắt và Uỷ ban ATGT Quốc gia, tính đến hết tháng 9, cả nước đã xảy ra tới 10.518 vụ TNGT làm 9.510 người chết và 10.700 người bị thương.

    Cũng theo số liệu thống kê, có tới 50% số người tham gia giao thông không dùng đèn báo khi chuyển hướng, 85% không dùng còi đúng quy định, 70% không dùng phanh tay, 90% không sử dụng đúng đèn chiếu sáng xa, gần và 72% không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên mô tô trên những tuyến đường bắt buộc. Ngoài ra, tình trạng vượt đèn đỏ, uống rượu bia say, chở quá tải, quá tốc độ, lấn làn đường trong thời gian qua vẫn luôn ở mức báo động và rất khó kiểm soát.

    Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này

    Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giao thông như đã nêu trên chính là sự lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện giao thông cá nhân và ý thức của người tham gia giao thông quá kém và chưa được cải thiện nhiều trong những năm gần đây. Bên cạnh đó cũng phải kể đến đường xá của chúng ta quá nhỏ hẹp, nhiều khúc cua 90 độ trong khi đó có quá nhiều các biển báo cấm và biển báo hiệu trên một đoạn đường, vỉa hè bị lấn chiếm làm nơi kinh doanh bán hàng, để xe ô tô dẫn tới tình trạng người tham gia giao thông bị khuất tầm nhìn, nhiều đoạn đường xuống cấp quá nhanh có nguy cơ tiềm ẩn tai nạn giao thông.

    Ngoài ra, hiện nay các phương tiện giao thông tại Việt Nam chưa được chú trọng trang bị những thiết bị hỗ trợ tài xế lái xe thông minh, hạn chế những pha va chạm không đáng có xảy ra. Đối với những nước phát triển thì việc lắp đặt Các thiết bị hoặc thiết kế những tính năng thông minh trên xe đã được áp dụng và được coi trọng.

    Giải pháp cho thực trạng giao thông Việt Nam hiện nay

    Để đưa ra một giải pháp hợp lý cho tình trạng giao thông ở nước ta hiện nay quả là một việc làm khó. Theo trang thông tin điện tử Bộ Giao Thông Vận Tải thì những giải pháp khắc phục cụ thể có thể thực hiện như sau:

    1) Lập lại trật tự hành lang giao thông đường bộ bị lấn chiếm và mở thêm các bãi đỗ xe công cộng.

    Việc giải toả hành lang bị lấn chiếm là điều cấp thiết tiếp theo là mở thêm các bãi đỗ xe công cộng còn về lâu về dài thì trên cơ sở những bãi đỗ xe này Nhà nước có thể tổ chức cho các cá nhân, tập thể đấu thầu nâng cấp dần dần các bãi đỗ xe này lên và vấn đề quản lý bến bãi.

    2) Xây dựng thêm các chợ xanh quanh khu dân cư để tránh tình trạng bán tràn lan trên vỉa hè.

    Phần lớn các siêu thị ở Việt Nam chưa phát triển và cũng do quỹ thời gian eo hẹp của chị em phụ nữ cho nên đến giờ tan tầm họ không vào các chợ mà tiện đường ghé mua thực phẩm cho nhanh và cũng không mất tiền gửi xe cho nên dẫn tới tình trạng lòng đường vỉa hè trở thành chợ dẫn đến cảnh ùn tắc kéo dài. Cũng cần nói thêm rằng, lúc này các biển cấm các phương tiện để trên vỉa hè hết hiệu lực (Cấm các phương tiện để trên vỉa hè lòng đường từ 7h đến 17h30) Cho nên trên vỉa hè lúc này đã trở thành cái chợ thực sự .

    – Không thu vé vào chợ đối với người mua hàng (thu thông qua người bán vào chợ)

    – Lối vào chợ là lối vào một chiều

    – Nên cấm các phương tiện giao thông để trên vỉa hè, lòng đường từ 7h đến 21h hàng ngày kể cả ngày lễ và chủ nhật.

    3) Tuyên truyền về luật an toàn giao thông.

    Theo một cuộc khảo sát gần đây cho thấy, phần lớn những người sử dụng xe mô tô tại Việt Nam không có kỹ năng điều khiển xe như quan sát khi chuyển hướng, xi nhan, chuyển số, hãm phanh, bấm còi…một phần do Nhà nước quản lý việc cấp bằng không được tốt, một phần do giáo trình dạy về môn học này không còn phù hợp với thực tiễn. Do đó, Sở giao thông công chính nên phối hợp với các xe máy Honda, Yamaha, Suziki, SYM soạn ra một giáo trình mới sát với thực tế hơn. Son với đó là đưa là đưa giáo trình an toàn giao thông vào các trường THCS, THPT xem đây như là một giáo trình bắt buộc giống như môn giáo dục quốc phòng. Nên chăng chấp nhận học sinh THPT đi xe mô tô trên 50 cm3 đến trường, việc này cũng có nghĩa là công nhận cấp GPLX cho các em.

    4) Thành lập đội cảnh sát mô tô lưu động.

    Mục đích của việc này là xử lý các trường hợp cố tình vượt đèn đỏ, xe chạy quá tốc độ, lấn làn đường, chở hàng cồng kềnh nhất là các xe đã quá cũ nát như xe babetta, xe lam… Chính phủ nên dành một phần tiền phạt thu được làm chế độ đãi ngộ thoả đáng cho các cán bộ chiến sỹ, một phần dành để thuê kho bãi có mái che để giữ các phương tiện giao thông vi phạm tránh tình trạng phạt nhưng không biết giữ phương tiện ở đâu, phần còn lại nộp vào Kho bạc Nhà nước.

    5) Khuyến khích lắp đặt các thiết bị hỗ trợ lái xe thông minh.

    Đối với một số nước phát triển thì việc lắp đặt các thiết bị hỗ trợ lái xe như Camera hành trình, gương chiều điểm mù của xe… đã trở thành bắt buộc. Còn đối vớ Việt Nam thì việc này chưa được chú trọng, chỉ là những chủ xe kĩ tính muốn bản thân được đảm bảo an toàn tuyệt đối hoặc một số trường hợp thấy chức năng của nó hữu ích nên lắp đặt.

    Camera hành trình là thiết bị cần thiết nhất lắp đặt trên mỗi xe ô tô. Tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì, hiện nay thiết bị này không chỉ đơn thuần là ghi lại hành trình mà nó được thiết kế tích hợp rất nhiều tính năng thông minh như: Cảnh báo lấn làn đường, chạy quá tốc độ, cảnh báo nguy cơ va chạm sớm, cảnh báo đường giao nhau… Tất cả các tích năng này đều được thiết kế để hỗ trợ tài xế lái xe an toàn và giảm thiểu tai nạn giao thông cao nhất.

    Lái xe an toàn cùng Camera hành trình Webvision

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Giải Pháp Cho Vấn Đề Giao Thông Đô Thị Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Cho Tình Hình Giao Thông Ở Vn :
  • Thực Trạng Giao Thông Việt Nam Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Hiệu Quả Cho Giao Thông Việt Nam
  • Aec Và Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Gạo Việt Nam
  • Luận Văn Luận Văn Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Ở Huyện Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long Hiện Nay. Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Vận Dụng Giá Trị Tác Phẩm “đạo Đức Cách Mạng” Vào Xây Dựng Đạo Đức Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Thực Trạng Về Đạo Đức Và Trách Nhiệm Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Tỉnh Đắk Nông
  • Tăng Cường Đạo Đức Cách Mạng Của Cán Bộ, Đảng Viên
  • Nâng Cao Phẩm Chất Đạo Đức Cách Mạng Của Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Trong Đảng Bộ Học Viện Lục Quân Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Báo Cáo Tình Hình Nông Dân Và Hoạt Động Của Hội Nông Dân Việt Nam Tại Buổi Làm Việc Với Thủ Tướng Chính Phủ (Ngày 21/ 4/ 2022)
  • Hiện nay, trong phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước, phấn đấu đến năm 2022 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Hòa cùng không khí đó, huyện Tam Bình cũng tích cực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Những biến đổi sâu sắc về kinh tế xã hội ở huyện Tam Bình đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo cơ hội để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ, con người trong huyện được giải phóng và vai trò cá thể được đề cao. Đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ và toàn diện, hòa cùng xu thế đó gia đình ngày nay càng có một vị trí đặc biệt hơn. Gia đình là tế bào của xã hội, là một trong các tổ chức cơ sở để thực hiện các chủ trương chính sách và pháp luật của Nhà nước về tất cả các mặt kinh tế, xã hội, chính trị văn hóa, giáo dục, môi trường Gia đình Việt Nam là một nhân tố quan trọng góp phần để phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa . Đối với xã hội Việt Nam gia đình bao giờ cũng gắn liền với xã hội, vì lẽ đó không thể có một xã hội phát triển nếu các gia đình bị suy sụp, khủng hoảng. Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: ” nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt ” Xã hội đang trên đà phát triển mạnh mẽ và toàn diện đó là sơ sở để khẳng định gia đình Việt Nam cũng đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, hiện nay ở huyện Tam Bình vấn đề xây dựng gia đình văn hóa bên cạnh những thành tựu đã đạt được cũng còn gặp không ít những khó khăn như: nạn ly hôn, ly thân giữa các cặp vợ chồng, nạn bạo lực, cha mẹ thiếu trách nhiệm trong giáo dục con cái cùng một số tệ nạn xã hội: cờ bạc, rượu chè, ma túy đã gia tăng, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa của huyện. Đây là một hiện trạng khẩn thiết không chỉ đối với các cấp, các ngành mà còn đối với cá nhân và gia đình trong huyện. Cần phải có hướng khắc phục và giải quyết có hiệu quả. Đứng trước thực trạng đó, là một thành viên của huyện Tam Bình nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” để làm Luận văn Tốt nghiệp của mình. Nội dung chủ yếu là tìm hiểu công tác xây dựng gia đình văn hóa của huyện – kết quả đạt được bên cạnh một số hạn chế mắc phải. Từ đó đưa ra những giải pháp để công tác xây dựng gia đình văn hóa ở huyện Tam Bình ngày càng đạt hiệu quả hơn, góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước cũng như nâng cao vị thế của gia đình trong xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giao Thông Tĩnh Hà Nội
  • Pháp Luật Về Giao Đất, Cho Thuê Đất Ở Nước Ta
  • Đăng Ký Khai Sinh, Đăng Ký Thường Trú, Cấp Thẻ Bảo Hiểm Y Tế Cho Trẻ Em Dưới 6 Tuổi
  • Một Số Khó Khăn Vướng Mắc Trong Việc Đăng Ký Hộ Tịch Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi
  • Câu 4. Thực Trạng Đội Ngủ Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ Ở Địa Phương, Đơn Vị Của Đồng Chí? Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng .
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100