Top 9 # Vai Trò Đặc Trưng Chức Năng Của Gia Đình Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Những Đặc Trưng, Vai Trò Và Chức Năng Của Văn Học

Đề tài: Thường được sử dụng nhằm chỉ sự vật, hiện tượng đời sống được phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Như vậy thì đề tài chính là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.

Tư tưởng tác phẩm văn học: Thể hiện sự nhận thức, là những lí giải hay thái độ của chính tác giả trong nội dung tác phẩm.

Nhân vật văn học: Ở đây chính là con người cụ thể được thể hiện trong tác phẩm văn học. Thông thường nhân vật văn học có thể có hoặc không tên riêng.

Kết cấu: Theo định nghĩa, kết cấu trong văn học chính là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Bố cục trong văn học nhằm chỉ sự phân bố hay sắp xếp các bộ phận, chương đoạn của tác phẩm theo trình tự nhất định. Như vậy, bố cục chính là phương diện của kết cấu và khái niệm kết cấu cho thấy nội dung phức tạp hơn, rộng rãi hơn.

Văn học theo khái niệm chính là một loại hình của sáng tác giúp tái hiện những đề tài của đời sống xã hội cũng như con người. Có nhiều quan điểm về khái niệm văn học, tựu chung lại sự xuất hiện của văn học chính là dựa vào sự sáng tạo của việc hư cấu, và nội dung được thể hiện qua từng đề tài sáng tác.

Khái niệm văn học thường bị nhầm lẫn với văn chương. Tuy nhiên, về bản chất thì văn học mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm văn chương. Sự khác nhau rõ nhất giữa hai khái niệm này chính là bởi văn chương thường nhấn mạnh nhiều đến tính thẩm mỹ, sự sáng tạo hay phương diện ngôn ngữ cùng nghệ thuật của ngôn từ.

Các thể loại chính của văn học:

Một số khái niệm trong văn học

Chức năng nhận thức của văn học

Văn học giúp người đọc nhận thức rõ về bản thân mình. Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.

Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.

Chức năng thẩm mĩ của văn học

Chức năng thẩm mỹ của văn học là một chức năng đặc trưng. Thẩm mỹ chính là cái đẹp. Cái đẹp ở đây đến từ nhiều phương diện, nhưng tựu trung lại con người luôn thích chiêm ngưỡng cái đẹp. Đó chính là bản chất của con người, là nhu cầu mà con người luôn hướng đến.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Mỗi người sẽ có định nghĩa khác nhau về cái đẹp, nên không có một thước đo chuẩn xác cho cái đẹp, bởi lẽ nó khởi phát trong lòng người. Nhưng chức năng của cái đẹp, sự tác động của cái đẹp thì ta có thể thấy rõ và cảm nhận được. Cái đẹp xoa dịu tâm hồn con người, gạt bỏ mọi điều xấu xa khỏi tâm hồn con người chỉ để lại những gì thanh khiết trong tâm hồn con người.

Cái đẹp có chức năng cứu rỗi là vì thế. Chính nhờ có cái đẹp mà con người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc đời này, thấy cuộc sống có thêm ý nghĩa. Đó chính là giá trị chức năng đặc trưng của các loại hình nghệ thuật nói chung, của văn học nói riêng.

Cái đẹp của văn học đến từ cả hai phương diện hình thức và nội dung. Hình thức của văn học chính là thể loại chính là ngôn ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng. Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh, nhà điêu khắc dùng đường nét để khắc họa, nhạc sĩ dùng âm nhạc để nói nên nỗi lòng mình thì nhà văn lại dùng ngòi bút để tạo nên đứa con tinh thần của mình. Ngôn ngữ chính là chìa khóa vạn năng để thi nhân mở ra cánh cửa của muôn vàn cảm xúc. Nhà văn nhà thơ là người chắt lọc và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả nỗi lòng của mình. Cái đẹp ấy chính là ngôn ngữ.

Như câu thơ của Quang Dũng trong bài Tây Tiến dù cách đây đã lâu nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc mọi thời đại

Câu thơ với cách ngắt nhịp 4/3 cùng với sự lặp lại từ “dốc” ở đầu mỗi phần ngắt nhịp đã tạo nên một hình ảnh độc đáo. Sự bẻ đôi của câu thơ cũng đã phần nào diễn tả được độ dốc của địa hình. Và câu thơ có nhiều thanh trắc càng gợi được sự khó khăn trúc trắc trên bước đường hành quân của người lính.

Nhịp thơ như chính hơi thở của người lính trên hành trình leo dốc đầy gian nan này. Trên bước đường hành quân, khó khăn gian khổ là điều không thể tránh khỏi nhưng quan trọng là cách ta đối diện với khó khăn. Những người lính Tây Tiến cũng thế. Họ chấp nhận khó khăn và đối diện nó một cách đầy hiên ngang nhưng không kém phần tinh nghịch.

Biện pháp đảo ngữ đưa từ láy “heo hút” lên đầu đã nhấn mạnh sự vắng vẻ của khung cảnh nơi đây đồng thời còn nhấn mạnh sự hoang sơ của khung cảnh nơi đây không một bóng người. Thường với không gian hoang vắng như thế, con người sẽ oán than cuộc đời hoặc cảm thấy mình bé nhỏ cô độc nhưng những người lính không thế. Họ nhìn xa hơn vào cái hoang vắng ấy để thấy “súng ngửi trời”.

“Súng ngửi trời” là một hình ảnh nhân hóa đầy thú vị. Súng đeo trên vai luôn theo sát người lính ở mọi bước đường hành trình. Đi trên con dốc khiến người lính có cảm tưởng như chạm đến mây. HÌnh ảnh ấy gợi được độ cao của con dốc. Nhưng qua cái nhìn của người lính Tây Tiến khung cảnh hiện lên có cảm giác thật nhẹ nhàng, tinh nghịch như một bộ phim hoạt hình. Thế nhưng chính sự lạc quan tươi vui ấy lại là một phẩm chất cần có ở người lính. Bởi lẽ nó là chất xúc tác giúp người lính có thể vượt qua mọi khó khăn.

Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” là một nét phác họa gợi cho ta liên tưởng đến một bức tranh thủy mặc thời cổ của một thi sĩ nào đó. Chính nét phác họa ấy đã tạo nên một bức tranh nhiều chiều, dường như không chỉ là độ cao mà nó còn là độ sâu nữa. Dù hình ảnh người lính không xuất hiện trực tiếp nhưng trên phông nền hùng vĩ của thiên nhiên ấy, ta có thể tưởng tượng hình ảnh người lính xuất hiện hùng tráng biết bao như các chiến sĩ thời trung đại.

Có lẽ chính vì có lí tưởng, có mục đích chiến đấu cao cả nên người lính Tây Tiến không hề bé nhỏ cô đơn mà ngược lại. Kết thúc bức tranh núi rừng tây tiến hoang sơ nhưng hùng vĩ ấy là một hình ảnh thật nên thơ thơ mộng với “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến người đọc có một cảm giác thật nhẹ nhàng lãng mạn….

Trong những giây phút dừng chân hiếm hoi, người lính Tây Tiến phóng tầm mắt ra xa tìm kiếm một nơi ấm, một mái nhà ấm áp. Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ làm dấy lên trong lòng họ ngọn lửa ấm áp. Đó chính là cái đẹp mà văn học mang lại nhưng cái đẹp đó không đơn thuần là ở bên ngoài mà còn tác động đến tầng sâu cảm xúc làm lắng đọng những suy tư. Chính vì vậy, cái đẹp của văn học mới có thể tồn tại.

Chức năng giáo dục của văn học

Lý giải văn học với chức năng giáo dục

Giáo dục chính là một mục đích tuyệt vời của văn học. Chức năng giáo dục của văn học cũng là một trong những điều đặc biệt mà văn học mang lại. Sự giáo dục mà văn học mang lại không đơn thuần là những kiến thức sách vở mà đó là những bài học tác động đến tình cảm, cách ta nhìn nhận thế giới. Vì vậy, bên cạnh nhiều yếu tố khác, văn học chính là một trong những nhân tố giúp con người hình thành tam quan – thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan.

Văn học mang đến bài học giáo dục con người theo mỗi cách khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào người đọc giải mã tác phẩm thế nào. Mỗi người có một cách đọc, một cách nhìn nhận và lí giải tác phẩm khác nhau. Nhà văn sẽ mã hóa thông điệp của mình vào một hình ảnh, một chi tiết hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm của mình.

Như khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta nhận thấy Nguyễn Du gửi gắm sự đồng cảm đối với những bất công ngang trái mà những người tài hoa bạc mệnh phải gánh chịu. Thúy Kiều là một cô gái tài sắc nhưng phải chịu số phận hẩm hiu không chỉ rời xa gia đình êm ấm, mối tình đầu dang dở nhưng nàng lại phải chịu đựng kiếp làm lẽ, bị người đời chà đạp.

“Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy”.

Đời một người con gái tài hoa cuối cùng lại chỉ đành “khép cửa phòng tu” mà thôi. Bởi lẽ trong một xã hội đầy bất công, thế lực đồng tiền lên ngôi thì con người có tài hoa mấy rồi cuối cùng chỉ dang dở mà thôi. Chính vì vậy đọc truyện Kiều, ta không chỉ xót xa đồng cảm cho số phận của Kiều mà còn cảm thấy chán ghét bức bối trước xã hội thối nát.

Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, đọc những vần thơ về Kiều ta càng thêm khâm phục tài sắc và cả nhân cách của Kiều. Trân trọng ngợi ca cái đẹp cái tài cũng chính là một cách để thể hiện tấm lòng của tác giả đối với Nhưng bên cạnh đó còn là ước mơ về người anh hùng được gửi gắm qua nhân vật Từ Hải.

“Cháu chiến đấu hôm nay Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ”

Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi

Nhưng không chỉ có những tác phẩm lớn mà ngay những tác phẩm văn học thiếu nhi cũng đã hàm chứa chức năng giáo dục. Đó là giáo dục tình yêu thiên nhiên yêu quê hương đất nước. Chỉ một bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa cũng đã đủ để khơi dậy trong lòng người đọc nhiều ý nghĩ

Chỉ những hình ảnh đó thôi cũng đã khiến mọi người nhớ đến hình ảnh làng quê êm đềm với những hạt gạo mà bác nông dân phải một nắng hai sương xay giã giần sàng.

Văn học thiếu nhi tuy hướng đến đối tượng chính là thiếu nhi nhưng những bài học tác giả gửi gắm vào đó không hề giản đơn tùy tiện mà luôn chứa một chiều sâu vừa đủ để chạm đến tâm hồn của các độc giả trẻ tuổi cũng như vừa đủ để người lớn khi đọc lại vẫn cảm thấy vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị.

“Tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”

Chỉ vài dòng thơ trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân QUỳnh mà ta như sống lại với bao kỷ niệm ấu thơ về người bà hiền hậu tảo tần sớm hôm để lo cho đàn cháu nhỏ dại. Bà thắp lên những ngọn lửa không chỉ soi sáng không gian tăm tối mà còn soi sáng cả cuộc đời cháu…

“Làm sao giết được người trong mộng Để trả nợ duyên kiếp phũ phàng”

Chức năng giao tiếp của văn học

Văn học bên cạnh chức năng giáo dục, thẩm mỹ còn có chức năng giao tiếp. Chức năng giao tiếp của văn học không trực tiếp cụ thể mặt đối mặt như các kiểu giao tiếp thông thường trong cuộc sống mà nó là sự đối thoại đặc biệt giữa tác giả và người đọc. Tác giả sẽ truyền tải câu chuyện thông điệp vào trong từng trang viết.

“Em tưởng giếng nước sâu Em nối sợi gàu dài Ai ngờ giếng nước cạn Em tiếc hoài sợi dây”

Cuộc đời thi nhân dường như trải ra tâm trạng của người viết cũng được phơi bày một cách trung thực nhất không giấu giếm không lừa dối. Bởi lẽ thơ ca chỉ có thể tác động đến trái tim người đọc khi nó đi ra từ chính trái tim của người viết. Trái tim mới có thể đi đến trái tim. Nếu như những gì anh viết không phải là tình cảm nồng hậu chân thành thì làm sao có thể rung lên ở người đọc vô vàn xúc cảm. Như đọc những vần thơ của Xuân Diệu:

Hay những vần thơ của Hàn Mặc Tử:

Nếu đó không phải là những vần thơ xuất phát từ trái tim của thi nhân – một trái tim cô đơn khát khao tìm kiếm tình yêu thì làm sao những vần thơ ấy còn được lưu truyền đến ngày nay. Thời gian là dòng chảy khắc nghiệt nhất phũ phàng nhất có thể hủy hoại hết mọi thứ. Nhưng với tác phẩm văn học, thời gian lại chính là thước đo giá trị chính xác nhất.

Đặc trưng về đối tượng phản ánh.

Đặc trưng về nội dung phản ánh của văn học.

Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học.

Tính phi vật thể của ngôn từ nghệ thuật.

Nhưng sự đối thoại giữa người đọc và tác giả lại được diễn ra gián tiếp thông qua tác phẩm. Nếu như nhà văn là người mang đứa con tinh thần của mình đến với người đọc thì người đọc lại chính là người mang lại hơi thở, sự sống cho tác phẩm. Và lời hồi đáp của người đọc dành cho tác giả chính là những nỗi niềm trân quý, sự rung lên trong tâm hồn và sự thay đổi của người đọc. Tất cả đều góp phần kiến tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.

Văn học là thế, không cần những mĩ từ ngợi ca mà nó được người đời tung hô bởi những giá trị tự thân, mà giá trị ấy do nhiều yếu tố hợp thành như nhà văn, tư tưởng của tác phẩm, người đọc,… Một tác phẩm hội tụ đầy đủ những giá trị chwusc năng này ắt hẳn sẽ không phải là một tác phẩm nông cạn, trôi tuột trong kí ức người đọc mà ngược lại sẽ neo đậu trong lòng người đọc bao thế hệ.

Bản chất và đặc trưng của văn học

Đặc Trưng, Chức Năng Và Vai Trò Của Văn Hóa Là Gì?

Tính tới thời điểm hiện tại, có rất nhiều nghiên cứu về văn hóa đã được thực hiện nhưng có vẻ như vẫn chưa có một câu trả lời thích đáng cho câu hỏi văn hóa là gì. Để định nghĩa một khái niệm khó nhằn như vậy, trước hết ta cần làm rõ những đặc trưng nổi bật, chức năng cùng vai trò của văn hóa.

1. Bản chất của văn hóa là gì?

Văn hóa là gì ? Thực tế văn hóa có rất nhiều nghĩa khác nhau, có thể định nghĩa văn hóa theo nhiều góc độ. Xét theo mặt ngữ nghĩa thông thường, văn hóa là từ dùng để chỉ học thức, trình độ học vấn, lối sống, đạo đức… Gắn những yếu tố ấy với thời gian, văn hóa lại được dùng để chỉ trình độ phát triển, nét độc đáo, phong tục tập quán của một giai đoạn, một thời kỳ như văn hóa Phục Hưng, văn hóa Đông Sơn.

Mở rộng theo chiều không gian, văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm từ đơn giản đến phức tạp, cổ điển hay hiện đại, từ tín ngưỡng đến phong tục, từ lối sống, nếp nghĩ, cách làm đến cư xử, giao tiếp, lao động…

Tóm lại, văn hóa là tất cả những gì mà con người sáng tạo ra, được hình thành từ thuở sơ khai nhất, được soi chiếu dưới lăng kính của không gian và thời gian. Bản chất của văn hóa là những giá trị tinh thần, vật chất mà con người trong quá trình tiến hóa, phát triển tạo ra để thích nghi với cuộc sống, với xã hội.

2. Đặc trưng của văn hóa là gì?

2.1. Văn hóa có tính hệ thống

Cần phải phân biệt rạch ròi giữa tính hệ thống với tính tập hợp. Tính hệ thống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tố với nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt các sự kiện, nó kết nối những hiện tượng, quy luật lại với nhau trong quá trình phát triển.

Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện được các chức năng của xã hội. Lý do là bởi văn hóa bao trùm lên tất cả các hoạt động, các lĩnh vực. Từ đó có thể làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho xã hội những phương tiện cần thiết để ứng biến với môi trường tự nhiên.

Nói cách khác, văn hóa xây lên nền tảng vững chắc cho sự phát triển tiến bộ của xã hội. Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gắn văn hóa với loại từ “nền” để tạo thành cụm từ thông dụng “nền văn hóa”.

2.2. Văn hóa có tính giá trị

Văn hóa khi được hiểu theo khía cạnh của một tính từ sẽ mang nghĩa là tốt đẹp, là có giá trị. Người có văn hóa cũng chính là một người có giá trị. Do đó mà văn hóa trở thành thước đo chuẩn mực cho con người và xã hội.

Văn hóa tự chính bản thân nó cũng mang trong mình những giá trị riêng bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Xét về mặt ý nghĩa thì văn hóa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức. Đứng trên góc độ thời gian lại có thể chia văn hóa thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời.

Với mỗi góc độ khác nhau gắn với một sự vật, hiện tượng, sự kiện khác nhau ta lại có thể có cái nhìn khác nhau. Từ những cái nhìn này, ta có thể đánh giá văn hóa dưới những góc độ khách quan quan khác nhau.

2.3. Văn hóa có tính nhân sinh

Tính nhân sinh của văn hóa có nghĩa rằng văn hóa được coi như một hiện tượng xã hội. Hiện tượng xã hội được hiểu là những hiện tượng do con người sáng tạo ra hay còn gọi là nhân tạo, khác với các giá trị tự nhiên hay còn gọi là thiên tạo. Chính vì là một thực thể có tính nhân sinh nên văn hóa chịu tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người.

Đồng thời, vì có tính nhân sinh nên văn hóa vô tình trở thành sợi dây liên kết giữa người với người, vật với vật và cả vật với người. Đó chính là ý nghĩa nhân sinh sâu sắc nhất mà văn hóa hàm chứa.

2.4. Văn hóa có tính lịch sử

Văn hóa phản ánh quá trình sáng tạo của con người trong một không gian và thời gian nhất định. Chính vì thế mà văn hóa cũng gắn liền với chiều dài lịch sử, thậm chí là văn hóa hàm chứa lịch sử. Tính lịch sử khiến cho văn hóa mang đặc trưng có bề dày, có chiều sâu, có hệ giá trị. Nhờ có tính lịch sử mà văn hóa cũng cần được duy trì, nói một cách khác đó là biến văn hóa trở thành truyền thống văn hóa.

Văn hóa có tính lịch sử cao cần phải được tích lũy, được gìn giữ và không ngừng tái tạo, chắt lọc những tinh hoa, không ngừng sản sinh và phát triển để hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,…

3. Chức năng của văn hóa là gì?

3.1. Chức năng tổ chức xã hội

Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện chức năng tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội cho phép con người tổ chức, tụ họp thành những đơn vị làng, xã, thành phố đến quốc gia, khu vực.

Cụ thể, văn hóa gia đình chính là yếu tố giúp con người hình thành nhận thức và hành động duy trì, phát triển các mối quan hệ trong gia tộc, dòng họ. Chính sự duy trì và bảo tồn này cũng giúp lưu giữ nguyên vẹn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp dẫu trải qua hàng ngàn năm đổi thay.

3.2. Chức năng điều chỉnh xã hội

Chức năng này xuất phát từ đặc trưng mang tính giá trị của văn hóa. Mỗi một nền văn hóa đều có những giá trị riêng, những giá trị này được hình thành thông qua quá trình con người điều chỉnh thói quen, nhận thức và hành động để có thể thích nghi với sự thay đổi từ môi trường.

Nhờ có chức năng này mà ta có thể thấy được sự đa dạng giữa các nền văn hóa với nhau, đồng thời cũng có thể tìm thấy những nét tương đồng đáng ngạc nhiên giữa các nền văn hóa. Đó chính là mục tiêu và động lực trong sự phát triển của nhân loại.

Tính nhân sinh của văn hóa tạo ra chức năng giao tiếp. Chính vì là một sợi dây vô hình kết nối con người với con người nên văn hóa có khả năng “giao tiếp”. Đó là lý do mà văn hóa chỉ được dùng với xã hội loài người, vì chỉ có con người mới có thể giao tiếp với nhau thông qua hệ thống ngôn ngữ và ký hiệu. Trong đó, hệ thống ngôn ngữ và ký hiệu chính là các sản phẩm của văn hóa.

Nói cách khác, văn hóa tạo ra môi trường giao tiếp cho con người. Nhờ có văn hóa mà con người có thể giao tiếp với nhau bằng lời nói, cử chỉ, hành động,… để truyền đạt thông tin cho nhau.

Văn hóa có tính lịch sử, vì thế mà nó có chức năng giáo dục. Lý do là bởi văn hóa có năng lực thông tin hoàn hảo. Sự truyền đạt thông tin này được thể hiện thông qua sự quan sát và bắt chước hành vi. Thế hệ sau quan sát và bắt chước hành vi của thế hệ trước, sự tích lũy này diễn ra từng ngày, sự chuyển giao cứ thế được thực hiện.

Chính vì thế mà văn hóa luôn gắn liền với những chuẩn mực đạo đức, người có văn hóa tức là người được tiếp nhận giáo dục, biến những giá trị mình thu nạp trở thành giá trị của riêng bản thân, văn hóa khi ấy được nâng cấp lên trở thành bản sắc của mỗi con người.

4. Vai trò của văn hóa là gì?

4.1. Văn hóa là cơ sở xã hội hóa các cá nhân

Văn hóa được thể hiện là những nhận thức của mỗi người nhằm đảm bảo sự hòa đồng của các cá nhân vào xã hội chung cũng như năng lực lao động của các cá nhân để đảm bảo đời sống của chính họ.

4.2. Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế

Văn hóa trong lĩnh vực kinh tế được hiểu là cơ sở vật chất cũng như năng lực lao động của con người. Điều này đồng nghĩa với việc nền văn hóa phát triển cao thì người lao động cũng sẽ có năng lực tốt.

4.3. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội

Các giá trị văn hóa tạo nên nền tảng vững chắc của xã hội, đó là nền tảng tinh thần nếp nghĩ, từ truyền thống, từ tình cảm, từ vốn hiểu biết, tất cả tích tụ lại trở thành sức mạnh ghê gớm của một cộng đồng, giúp dân tộc vượt qua thách thức.

4.4. Văn hóa hoàn thiện cá nhân

Văn hóa là cơ sở hình thành nhân cách cá nhân thông qua quá trình tiếp nhận văn hóa, từ đó làm đầy kiến thức, kỹ năng và cảm xúc để làm chủ mình trong mọi tình huống.

Nếu bạn vẫn còn bất cứ thắc mắc, băn khoăn nào hãy liên hệ ngay với Tri Thức Cộng Đồng thông qua SĐT: 0946 88 33 50 hoặc Email: ttcd.group@gmail.com để được hỗ trợ.

Nguồn: trithuccongdong.net

Gia Đình Và Vai Trò, Chức Năng Của Gia Đình Trong Quá Trình Phát Triển Của Xã Hội

***THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÁO MỪNG NĂM HỌC MỚI 2020 – 2021*** ***THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÁO MỪNG NĂM HỌC MỚI 2020 – 2021***

Chủ nhật – 07/06/2020 20:48

Gia đình là tế bào của xã hội, nơi thực hiện các vai trò, chức năng để con người sinh ra và lớn lên, nơi thế hệ trẻ được chăm lo cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và nhân cách để hội nhập vào cuộc sống cộng đồng xã hội.

Có nhiều quan điểm khác nhau về gia đình và vai trò của gia đình, như nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Tuấn dưới góc độ luật học thì cho rằng: “Gia đình là một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân và huyết thống và về nuôi dưỡng đã gắn bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái”. Còn theo tác giả Lê Thi thì quan niệm: Gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống, nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội, ngoại). Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống. Các thành viên trong gia đình gắn bó về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và gia đình của nước ta). Đồng thời, trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên. Từ nhiều góc độ khác nhau, có thể hiểu: Gia đình là tế bào của xã hội, một thiết chế xã hội tồn tại bền vững, gắn bó với nhau trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới của bố mẹ, thông qua hôn nhân không cùng huyết thống để tái sản xuất nòi giống; hoặc thông qua quan hệ nuôi dưỡng (con nuôi…) cùng làm kinh tế, nuôi dạy con cái trưởng thành, hiếu thảo, biết thương yêu mọi người, có trách nhiệm; trở thành người công dân có đạo đức, học vấn, nghề nghiệp, văn hóa và tạo dựng cuộc sống gia đình no ấm, hòa thuận, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Cũng có thể hiểu một cách ngắn gọn: Gia đình là tế bào của xã hội, trong đó các thành viên cùng sinh sống dựa trên mối quan hệ hôn nhân và huyết thống, cùng có chung những giá trị vật chất và tinh thần, cùng thực hiện các chức năng khách quan phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

Tác giả bài viết: Ths. Trần Thị Hồng Nhung

Từ khóa: thực hiện, xã hội, thể chất, thế hệ, vai trò, đạo đức, gia đình, nhân cách, trí tuệ, tế bào, sinh ra

Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

Đang truy cập 5

Hôm nay 830

Tháng hiện tại 48,491

Tổng lượt truy cập 1,530,848

Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa

Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung, Khô âm Đạo, Đa Nang Buồng Trứng, Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Tăng Khả Năng Tập Trung, U Nang Buồng Trứng, Kỹ Năng Trùng Sinh 9, Kỹ Năng Trùng Sinh 6, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Công Văn 1972 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw-1998 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 04-hd/btctw 2014 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn Số 3692 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Trung ương 23 Hd Btctw Ban Tổ Chức, Công Văn Số 4741 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Đơn Đề Nghị Phê Duyệt Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu, Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu Cho Học Sinh Tiểu Học, Quy Dinh 104 Ve Tap Trung Dan Chu Trong To Chuc Dang, Huong Dan So 23 Nam 2003 Cua Ban To Chuc Trung Uong, Hướng Dẫn Số 23/2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Chức Trách Trung Đoàn Trưởng, Quyết Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số Pdf, Bài Giảng U Nang Buồng Trứng, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Số, Mổ Nội Soi U Nang Buồng Trứng Giá Bao Nhiêu, Chuyên Đề U Nang Buồng Trứng, Cẩm Nang Du Lịch Miền Trung, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Kỹ Năng Khẩu Ngữ Tiếng Trung, Sach Hoc Tang Kha Nang Trung Ve Xo, Kỹ Năng Nghe Tiếng Trung, Sách Học Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Chức Năng Gia Đình, Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Chức Năng Quản Lý, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Ky Nang To Chuc Su Kien, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, 3-hd/tctw Ngày 14-10-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Huong Dan 55 Cua Ban To Chuc Trung Uong Ngay 31 Thàngnam05, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương Ngày 14/10/2003, Quy Định Số 104-qĐ/qu Về Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Tổ Chức , Dẫn 23-hd/tctw Ngày 14- 03-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương,

Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung,