Ngân Hàng Nhà Nước Là Gì? Chức Năng Của Ngân Hàng Nhà Nước?

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Ngân Hàng Nhà Nước
  • Nhnn Thực Hiện Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Tiền Tệ, Hoạt Động Ngân Hàng
  • Hoạt Động Của Ngân Hàng Lưu Ký, Ngân Hàng Giám Sát
  • Trách Nhiệm Của Ngân Hàng Lưu Ký Trong Hoạt Động Lưu Ký Tài Sản Của Công Ty Đầu Tư Chứng Khoán
  • Các Hình Thức Lưu Ký Chứng Khoán
  • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.

    Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.

    Chức năng hoạt động của ngân hàng nhà nước?

    Để giúp Quý độc giả phân biệt được ngân hàng nhà nước với các loại hình tổ chức tín dụng khác như ngân hàng, ngoài việc giải đáp ngân hàng nhà nước là gì? chúng tôi sẽ làm rõ chức năng hoạt động của ngân hàng nhà nước. Theo đó, ngân hàng nhà nước có các chức năng sau:

    – Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

    Luật Ngân hàng nhà nước Việt nam 2010 quy định: Thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu, chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.

    Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dung. Ngân hàng nhà nước quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng dưới các hình thức như: cho vay có bảo đảm bẳng cầm cố giấy tờ có giá; chiết khấu giấy tờ có giá;… Ngân hàng sẽ công bố mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống vay nặng lãi.

    – Phát hành tiền giấy, tiền kim loại

    Phát hành tiền là cung ứng tiền vào lưu thông làm phương tiện thanh toán. Theo quy định của pháp luật, chỉ có Ngân hàng nhà nước Việt Nam mới có quyền phát hành tiền. Mọi hành vi từ chối nhận, lưu hành đồng tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành đều bị coi là bất hợp pháp.

    – Cho vay, Bảo lãnh, Tạm ứng cho Ngân sách

    Bảo lãnh được xem là hình thức hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước nhưng chỉ áp dụng cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    Tạm ứng cho ngân sách nhà nước là hình thức hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    Cho vay là hình thức hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước. Theo hình thức này, Ngân hàng nhà nước hco các tổ chức tín dụng vay ngắn hạn. Hoạt động cho vay này thể hiện vai trò của ngân hàng nhà nước là ngân hàng của các ngân hàng.

    – Hoạt động thanh toán và Ngân quỹ

    Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước giao, Ngân hàng nhà nước được mở tài khoản ở ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ, ngân hàng quốc tế. Ngân hàng nhà nước được mở và quản lý tài khoản, thực hiện các giao dịch cho tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước. Ngoài ra, ngân hàng có thẩm quyền cung cấp các dịch vụ thanh toán cho hệ thống các tổ chức tín dụng, cho các khách hàng khác, thực hiện các hoạt động ngân hàng đối ngoại.

    – Quản lý Ngoại hối và Hoạt động Ngoại hối

    Thẩm quyền quản lý ngoại hối của Ngân hàng nhà nước thể hiện trên hai phương tiện: Quản lý hành chính nhà nước về ngoại hối và quản lý ngoại hối bằng nghiệp vụ ngân hàng trung ương.

    Quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở một số hoạt động như: xây dựng các dự án luật, pháp luật về quản lý ngoại hối; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối; kiểm soát hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng;…

    Quản lý ngoại hối bằng nghiệp vụ ngân hàng là hoạt động của Nhà nước giao cho Ngân hàng nhà nước thực hiện quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước.

    Tác giả

    Phạm Kim Oanh

    Bà Oanh hiện đang làm việc tại Bộ phận Sở hữu trí tuệ của Công ty Hoàng Phi phụ trách các vấn đề Đăng ký xác lập quyền cho khách hàng trong lĩnh vực sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp. Đây là một trong những dịch vụ khó, đòi hỏi khả năng chuyên môn cao của người tư vấn.

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

    1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí Và Chức Năng
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Khái Niệm, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Ngân Hàng Trung Ương: Nhiệm Vụ, Chức Năng, Tác Động Đối Với Forex
  • Ngân Hàng Trung Ương (Central Bank) Là Gì? Chức Năng Của Ngân Hàng Trung Ương
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Ngân Hàng Bán Lẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Vụ Ngân Hàng Bán Lẻ Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Ngân Hàng Hợp Tác Xã Phải Là Ngân Hàng Của Các Quỹ Tdnd Và Htx
  • Hợp Tác Xã Là Gì? Mô Hình Tổ Chức Quản Lý Của Hợp Tác Xã Như Thế Nào?
  • Ngân Hàng Hợp Tác Xã: Không Chỉ Là Chuyển Đổi Về Tên Gọi
  • Hội Sở Ngân Hàng Là Gì? Và Những Mà Bạn Cần Biết
  • Trong nền kinh tế mở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao, nhất là dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL). Mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân, nên các dịch vụ thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi và tài khoản, vay vốn, mở thẻ tín dụng..

    + nguyên nhân gây mưa axit

    Vai trò của ngân hàng bán lẻ

    Từ giác độ kinh tế – xã hội, dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng.

    Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, NHBL mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế. Ngoài ra, NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng.

    – Đối với khách hàng, dịch vụ NHBL đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình.

    Tạp chí Stephen Timewell cũng nhận định: xu hướng ngày nay thể hiện rõ rằng, ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ NHBL cho một lượng dân cư khổng lồ đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai.

    Chức năng của ngân hàng bán lẻ

    – Hoạt động NHBL ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM trên thế giới, các NHBL toàn cầu sẽ đóng vai trò chủ đạo trong danh sách 20 ngân hàng toàn cầu hàng đầu theo xếp hạng của tạp chí The Banker vào năm 2022.

    Tại Việt Nam các Ngân hàng đã và đang phát triển dịch vụ NHBL, đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ, đảm bảo cho các ngân hàng quản lý rủi ro hữu hiệu, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng, định hướng kinh doanh, thị trường sản phẩm mục tiêu, giúp ngân hàng đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Lãnh Của Ngân Hàng Thương Mại, Chức Năng Và Vai Trò Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Đặc Điểm, Chức Năng Và Vai Trò Của Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Bảo Lãnh Ngân Hàng Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm Và Chức Năng
  • Những Cách Thanh Toán Thẻ Tín Dụng Nam Á Bank Nhanh Nhất
  • Hotline Ngân Hàng Nam Á Là Bao Nhiêu? Đảm Nhận Chức Năng Gì?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước
  • Bản Chất, Chức Năng Và Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước Nói Chung, Của Hà Giang Nói Riêng Trong Sự Nghiệp Phát Triển Kinh Tế
  • Khái Niệm Về Ngân Sách Nhà Nước Và Chính Sách Tài Khoá
  • Chi Ngân Sách Nhà Nước Là Gì? Phân Loại Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Khái Quát Về Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Hà Nội
  • 57539

    1. Khái niệm ngân sách nhà nước
    2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
    3. Chức năng của ngân sách nhà nước
    4. Vai trò của ngân sách nhà nước

    1. Khái niệm ngân sách nhà nước

    Thuật ngữ ngân sách (Budget) bắt nguồn từ tiếng Anh, có nghĩa là cái ví, cái xách. Tuy nhiên trong đời sống kinh tế, thuật ngữ này đã thoát ly ý nghĩa ban đầu mà mang một nội dung hoàn toàn khác. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm ngân sáchngân sách nhà nước:

    – Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên xô (cũ) thì: ngân sách là: “1. Bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà nước; 2. Mọi kế hoạch thu chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơ quan, cá nhân nào trong một giai đoạn nhất định.”(1)

    – Theo tài liệu “tư liệu xanh” của Pháp được ấn hành nhằm hướng dẫn nội dung một số thuật ngữ, danh từ tài chính và thuế thì ” ngân sách” được hiểu: “1. Chứng thư dự kiến và cho phép các khoản thu, chi hằng năm của nhà nước; 2. Toàn bộ tài liệu kế toán mô tả, trình bày các khoản thu và các khoản kinh phí của nhà nước trong một năm; 3. Toàn bộ các tài khoản trình bày những khoản tiền mà một Bộ được cấp trong một năm” (2)

    Từ những nội dung nêu trên, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của ngân sách như sau:

    Thứ nhất: Ngân sách là một bảng liệt kê, trong đó dự kiến và cho phép thực hiện các khoản thu, chi bằng tiền của một chủ thể nào đó (nhà nước, Bộ, xí nghiệp, gia đình, cá nhân)

    Thứ hai: Ngân sách tồn tại trong một khoản thời gian nhất định, thường là một năm.

    Cũng cần phân biệt rõ: thu, chi NSNN hoàn toàn khác với thu chi của các chủ thể khác trong xã hội. Thu, chi của nhà nước luôn luôn được thực hiện bằng pháp luật và do pháp luật quy định (về thu có các luật thuế, pháp lệnh phí, lệ phí và các văn bản pháp luật khác; về chi có các tiêu chuẩn, định mức). Về ý nghĩa kinh tế, hoạt động thu, chi của ngân sách thể hiện quá trình phân phối và phân phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội. Về bản chất xã hội, do nhà nước là đại diện của một giai cấp, nên ngân sách nhà nước cũng mang tính giai cấp, nó phục vụ trực tiếp cho yêu cầu thực hiện chức năng của nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

    Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán để được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định được thực hiện trong một năm nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

    2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước

    – Về mặt nội dung: Là toàn bộ các khoản thu – chi của Nhà nước. Khái niệm thu – chi đã được khái quát hoá, trong đó “thu” được hiểu là tất cả các nguồn tiền được huy động cho nhà nước; còn “chi” được hiểu là bao gồm tất cả các khoản chi và các khoản hoàn trả khác của Nhà nước. Các khoản thu chi được xác định bởi những con số cụ thể nhằm xác định rõ khả năng tạo nguồn kinh phí để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước, đồng thời tạo thế cân bằng trong thu chi, tạo sự chủ động trong hoạt động của ngân sách nhà nước.

    – Về mặt pháp lý: Các khoản thu – chi này phải nằm trong dự toán đ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Ngân sách nhà nước hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính, vì vậy nó thể hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa nhà nước và xã hội. Quyền lực về ngân sách nhà nước thuộc về nhà nước, nên ngân sách nhà nước do Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở nước ta quyết định.

    – Về mặt thời gian: Các khoản thu – chi này chỉ được thực hiện trong một năm. Tính niên hạn của ngân sách nhà nước được thể hiện quá trình thực hiện nhiệm vụ thu – chi của nhà nước; nó tồn tại trong vòng 12 tháng, có thể bao trùm năm dương lịch (từ ngày 01.01 đến 31.12 của năm) nhưng cũng có thể bắt đầu và kết thúc vào những khoảng thời gian khác nhau như: Ví dụ: có nước bắt đầu từ 1.4 của năm trước và kết thúc vào 31.03 của năm sau; có nước bắt đầu từ 01.10 của năm trước và kết thúc vào 30.9 của năm sau…

    – Về mục đích: Nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Mọi khoản thu và chi tài chính của nhà nước đều do nhà nước quyết định và nhằm mục đích phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng nhà nước. Bất kỳ nhà nước nào cũng đều có quyền ban hành pháp luật. Do nhu cầu chi tiêu của mình, nhà nước đã sử dụng pháp luật để ban hành chính sách thuế khoá và bắt buộc các tổ chức, cá nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho nhà nước với tư cách là chủ thể thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Tính cưỡng bức của các khoản thu ngân sách không hề mang ý nghĩa tiêu cực; bởi vì đây là sự cần thiết. Mọi đối tượng nộp thuế đều ý thức được nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhà nước, của quốc gia. Đồng thời họ cũng ý thức được vai trò quan trọng của nhà nước trong quá trình sử dụng các nguồn tài chính nhằm thực hiện các chức năng về kinh tế – xã hội của mình.

    3. Chức năng của ngân sách nhà nước

    Ngân sách nhà nước có chức năng vô cùng quan trong trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Chức năng của ngân sách nhà nước thể hiện chủ yếu qua 04 mặt như sau:

    a) Ngân sách nhà nước là một công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chống lạm phát và giảm thất nghiệp.

    b) Ngân sách nhà nước có chức năng phân bổ nguồn lực trong xã hội

    Để tạo lập và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, thông qua các biện pháp thu, chi và quản lý ngân sách nhà nước, nhà nước thực hiện phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực địa bàn then chốt, có nhiều rủi ro, cần khuyến khích hoặc hạn chế phát triển; đồng thời có thể thu hút, lôi kéo sự tham gia phân bổ nguồn lực của các thành phần kinh tế và khu vực tư nhân.

    c) Ngân sách nhà nước có chức năng phân phối lại thu nhập trong xã hội

    Nhà nước thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập dưới hình thức tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm hạn chế bớt sự phân hoá xã hội, sự bất bình đẳng về thu nhập đảm bảo sự công bằng hợp lý, làm cho nguồn thu nhập của xã hội được sử dụng một cách kịp thời hiệu quả. Thông qua công cụ thuế và công cụ chi tiêu. Nhà nước sẽ thực hiện được các mục tiêu trên.

    d) Ngân sách nhà nước có chức năng điều chỉnh kinh tế

    Chính sách ngân sách nhà nước là một bộ phận không thể tách rời của chính sách kinh tế – xã hội. Khi nền kinh tế suy thoái người ta thường khuyến cáo dùng chính sách tài khoá kích cầu bằng cách giảm thuế hoặc tăng chi tiêu công, từ đó làm tăng khối lượng sản xuất xã hội. Khi nền kinh tế phát triển bình thường, trong điều kiện mở cửa thì chính sách tài khoá kích thích sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền: chính sách tài khoá kích thích nới lỏng với mục đích tăng tổng cầu, mức lãi suất trong nước tăng, giá đồng nội tệ tăng, thuần xuất khẩu giảm, tổng cầu giảm. Như vậy, trước mắt chính sách tài khoá có thể kích thích tổng cầu có tác động đến tăng trưởng kinh tế, nhưng về lâu dài lại kìm hãm chính quá trình tăng trưởng. Đòi hỏi các nhà hoạch địch chính sách tài chính nói chung và chính sách tài khoá nói riêng phải tính đến việc sử dụng công cụ ngân sách nhà nước một cách thích hợp trong quá trình điều chỉnh nền kinh tế.

    Bốn chức năng nói trên có mối quan hệ rất gắn bó, phản ảnh được bản chất hoạt động của ngân sách nhà nước trong quá trình tạo lập, khai thác động viên, phân bổ, tổ chức huy động các nguồn vốn cũng như tham gia kiểm soát, điều chỉnh kinh tế vĩ mô

    4. Ý nghĩa (vai trò) của ngân sách nhà nước

    * Ngân sách nhà nước là công cụ huy động các nguồn lực tài chính để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

    – Nhà nước sử dụng quỹ ngân sách để đảm bảo phát triển kinh tế.

    – Đảm bảo an ninh, quốc phòng.

    * Ngân sách nhà nước là công cụ kích thích nền kinh tế phát triển.

    – Ngân sách nhà nước cung ứng vốn cho nền kinh tế.

    – Ngân sách nhà nước là công cụ mà Nhà nước sử dụng để điều tiết giá cả thị trường và chống lạm phát.

    Thông qua trợ giá, thành lập các quỹ cho vay ưu đi…

    – Ngân sách nhà nước đảm bảo tái đầu tư cho nền kinh tế.

    * Ngân sách nhà nước đảm bảo các chính sách về mặt xã hội cho người dân.

    – Nhà nước sử dụng tiền từ quỹ ngân sách để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng.

    – Đảm bảo các chính sách về mặt xã hội cho những đối tượng chính sách…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Ngân Sách Nhà Nước
  • Các Xét Nghiệm, Kiểm Tra Chức Năng Gan
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Giúp Đánh Giá Tình Trạng Hiện Tại Của Gan
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan: Đánh Giá Mức Men Gan Và Các Yếu Tố Khác
  • Những Điều Cần Biết Về Nhóm Xét Nghiệm Khảo Sát Chức Năng Tổng Hợp Của Gan
  • Chức Năng Và Vai Trò Của Ngân Hàng Thương Mại

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngân Hàng Trung Ương (Central Bank) Là Gì? Chức Năng Của Ngân Hàng Trung Ương
  • Ngân Hàng Trung Ương: Nhiệm Vụ, Chức Năng, Tác Động Đối Với Forex
  • Khái Niệm, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Vị Trí Và Chức Năng
  • Trong sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, Ngân hàng là một yếu tố không thể thiếu bởi các chức năng cơ bản của nó: là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán

    Trung gian tài chính

    Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn). Các cá nhân và tổ chức thặng dư tạm thời trong chi tiêu (tức là thu nhập hiên tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm).

    Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với Ngân hàng, và điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi. Khi đó sẽ hình thành nên mối quan hệ tài chính, mà có thể là quan hệ trực tiếp dưới hình thức tín dụng hoặc quan hệ cấp phát, hùn vốn và cũng có thể là quan hệ gián tiếp nếu trong quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian… Với quan hệ gián tiếp đòi hỏi có sự tham gia của các trung gian tài chính mà với sự chuyên môn hóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm từ đó mà khuyến khích được tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư và cũng khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp những người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn của quan hệ tài chính trực tiếp.

    Đồng thời do sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin thường được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường và Ngân hàng có năng lực để làm giảm đến mức thấp nhất những sai lệch đó.

    Tạo phương tiện thanh toán

    Tiền-Vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, song khi nền sản xuất phát triển cao hơn, lượng phân phối qua lại ngày càng nhiều thì trong thanh toán bằng tiền mặt, vàng gặp nhiều khó khăn và Ngân hàng đã tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ cho khách hàng, và với những ưu điểm nhất định nó đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Ngoài ra giấy nhận nợ đó còn được thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy.

    Ngày nay giấy nhận nợ đã được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như: Séc, kỳ phiếu… đã giúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh gọn và có hiệu quả hơn.

    Trung gian thanh toán

    Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt cho khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng Sec, ủy nhiệm chi, nhờ thu… Cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán, công nghệ thanh toán qua Ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các Ngân hàng trên toàn thế giới. Với các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua Ngân hàng, biến Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Bất Ngờ Từ Gan Lợn: Ngừa Ung Thư, Giúp Trắng Da
  • Ăn Nhiều Gan Heo Có Tốt Cho Sức Khỏe Không
  • Ăn Nhiều Gan Heo Có Tốt Cho Sức Khỏe Không?
  • Lợi Ích Của Gan Heo Với Sức Khỏe
  • Ngân Hàng Thương Mại, Các Chức Năng Của Nhtm
  • Vai Trò Của Ngân Hàng Nhà Nước Trong Duy Trì Ổn Định Ngân Hàng Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Lược Lịch Sử Hoạt Động Của Ngành Ngân Hàng
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Chức Năng Của Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Bảo Lãnh Ngân Hàng Là Gì? Các Loại Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Vai Trò Của Hoạt Động Bảo Lãnh Ngân Hàng Đối Với Doanh Nghiệp
  • Phát Triển Dịch Vụ Ngân Hàng Bán Lẻ Tại Việt Nam
  • (thitruongtaichinhtiente.vn) – Bài viết phân tích về vai trò của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với ổn định ngân hàng ở Việt Nam.

    Tóm tắt: Bài viết phân tích về vai trò của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với ổn định ngân hàng ở Việt Nam. Dựa trên thực trạng về điều hành, bài viết có những đánh giá và một số đề xuất để nâng cao vai trò của NHNN trong việc duy trì ổn định ngân hàng gồm (i) tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD); (ii) tiếp tục quy định các tỷ lệ an toàn trong hoạt động đối với các NHTM; (iii) một số đề xuất trong việc thực hiện chính sách giám sát an toàn vĩ mô để giảm thiểu rủi ro hệ thống; (iv) sự kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan bộ ngành để duy trì ổn định ngân hàng nước ta.

    Role of the State Bank of Viet Nam in bank stability

    Abtract: The paper analyzes the role of the State Bank of Viet Nam (SBV) in bank stability. Based on the current state of management, the article has some assessments and recommendations to enhance the role of the SBV in maintaining bank stability including (i) continue to implement the project of restructuring the credit institutions; (ii) continue to regulate prudential ratios for commercial banks; (iii) some recommendations in implementing macroprudential policies to minimize systemic risk; (iv) synchronized coordination between the ministries and agencies to maintain the bank stability.

    1. Đặt vấn đề

    Trước đây, khi điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) luôn đề ra mục tiêu chính sách là ổn định giá trị đồng tiền, được biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát (Luật NHNN, 2010). Tuy nhiên, từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã chứng minh, ổn định giá trị đồng tiền, hay ổn định giá không đủ để duy trì ổn định hệ thống tài chính, một cú sốc dường như không quá nghiêm trọng phát sinh từ một tổ chức tài chính đơn lẻ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống tài chính một quốc gia, thậm chí toàn cầu. Do đó, ngân hàng trung ương (NHTW) các quốc gia đã đề ra mục tiêu ổn định hệ thống tài chính bên cạnh mục tiêu ổn định giá cả để duy trì ổn định hoạt động tài chính và đảm bảo an toàn trong hoạt động của nền kinh tế. Tại Việt Nam,  NHNN có vai trò gì trong việc duy trì ổn định ngân hàng? Bài viết phân tích khung lý thuyết về ổn định ngân hàng, vai trò của NHNN trong việc duy trì ổn định ngân hàng. Từ đó gợi ý một số giải pháp phù hợp để nâng cao vai trò của NHNN trong việc duy trì ổn định ngân hàng trong thời gian tới.

    2. Cơ sở lý thuyết về ổn định ngân hàng

    2.1. Khái niệm về ổn định ngân hàng

    Goodhart (2006) cho rằng, ổn định tài chính là sự thiếu vắng của khủng hoảng tài chính, trong đó khủng hoảng tài chính được coi là một chuỗi các sự kiện hoặc rủi ro làm suy yếu hệ thống trung gian tín dụng và ảnh hưởng đến nguồn phân bổ vốn. Allen and Wood (2006) đưa ra một số đặc trưng của ổn định tài chính bao gồm: (i) tình trạng có lợi cho công chúng, (ii) trạng thái có thể quan sát được; (iii) chịu sự kiểm soát bởi các cơ quan nhà nước; (iv) tài sản của một thực thể trong nhiều trường hợp là tài sản của quốc gia; (v) không nên cho rằng bất kỳ sự thay đổi nào cũng là bằng chứng của bất ổn tài chính vì các nền kinh tế và hệ thống tài chính cần thay đổi để tăng trưởng. Trong khi đó, Mishkin (1992) lại định nghĩa ổn định tài chính là sự phổ biến của một hệ thống tài chính, có thể đảm bảo một cách lâu dài và không có sự gián đoạn lớn, việc phân bổ tiết kiệm hiệu quả cho các cơ hội đầu tư.

    Khi nghiên cứu về bất ổn ngân hàng, Ngalawa, Tchana, and Viegi (2016) cho rằng sự bất ổn ngân hàng xảy ra là khi một lượng khách hàng lớn của ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác rút tiền gửi vì lo ngại về khả năng thanh toán của ngân hàng, do đó buộc ngân hàng phải thanh lý tài sản của mình ở trạng thái thua lỗ. Ngoài ra, bất ổn ngân hàng còn có thể xuất hiện thông qua tình trạng mất khả năng thanh toán thường được đặc trưng bởi một lượng lớn các khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi.

    Theo Lai (2002), nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng bất ổn ngân hàng là do khủng hoảng thanh toán, bắt nguồn từ nhu cầu về thanh toán ngắn hạn vượt quá dự trữ tài sản thanh khoản cao, phát sinh tình trạng mất cân đối giữa nguồn vốn và tài sản của bảng cân đối ngân hàng khi tài sản nợ có xu hướng ngắn hạn trong khi tài sản có có xu hướng dài hạn và thanh khoản thấp.

    Như vậy, qua các cách tiếp cận trên, có thể hiểu, ổn định ngân hàng là trạng thái mà các ngân hàng hoạt động trơn tru, hiệu quả, có thể thực hiện tốt các chức năng của mình bao gồm trung gian thanh toán và tín dụng, đồng thời có khả năng chịu được các cú sốc từ môi trường bên ngoài và bản thân các ngân hàng không gây ra các cú sốc ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.

    2.2. Vai trò của ổn định ngân hàng

    Ngoài ra, ổn định ngân hàng cũng là tiền đề để các trung gian tài chính phát huy sức mạnh, giảm thiểu rủi ro hệ thống và giúp hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, ít biến động và có khả năng hấp thụ các cú sốc của nền kinh tế. Khi làm được điều này, ổn định ngân hàng sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung; khuyến khích người dân gửi tiền tại ngân hàng và gia tăng sử dụng các giao dịch ngân hàng.

    Như vậy, có thể thấy rằng, khi ngân hàng ổn định, không chỉ hoạt động của ngân hàng mà hoạt động của tất cả các chủ thể khác trong nền kinh tế đều có thể diễn ra trơn tru, hiệu quả. Nhà nước dễ dàng điều tiết nền kinh tế, lạm phát duy trì ở mức thấp, nền kinh tế quốc gia được cải thiện, đời sống người dân được nâng cao. Kết quả là nâng cao sức cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế.

    3. Thực trạng về vai trò của NHNN đối với sự ổn định ngân hàng

    3.1. Chính sách tiền tệ với ổn định ngân hàng

    Trong những năm gần đây, Chính phủ và NHNN luôn quan tâm chú trọng đến công tác ổn định tài chính trong quản lý kinh tế vĩ mô và ổn định ngân hàng. Công tác điều hành CSTT ở nước ta đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Về ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, NHNN đã điều hành CSTT chủ động, linh hoạt phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được đảm bảo, từ đó góp phần quan trọng để duy trì ổn định ngân hàng.

    Hình 1: Lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2014-2019

    Nguồn: ADB và IMF

    Nhìn vào hình 1, có thể thấy trong giai đoạn từ 2014-2019, lạm phát của nước ta luôn ở mức một con số, đặc biệt trong giai đoạn 2022-2019, lạm phát luôn dưới 4%, đạt chỉ tiêu Quốc hội đã đề ra. Lạm phát được kiểm soát là nhờ NHNN thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tín dụng. Bên cạnh việc lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, mặt bằng lãi suất trong thời gian qua cũng được NHNN duy trì ổn định trong bối cảnh lãi suất trên thế giới có xu hướng gia tăng. Đến cuối năm 2022, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) phổ biến mức 6-9%/năm đối với các khoản ngắn hạn và 9-11%/năm đối với các khoản vay trung dài hạn (NHNN, 2022).

    Hình 2: Biểu đồ mức biến động tỷ giá VND/USD giai đoạn 2014-2018

    Nguồn: ADB

    Ngoài ra, trong những năm vừa qua, cách điều hành tỷ giá của NHNN cũng có nhiều chuyển biến, NHNN đã sử dụng các công cụ mang tính thị trường nhiều hơn là các công cụ mang tính áp đặt hành chính,  thể hiện quyết tâm theo đuổi cơ chế tỷ giá trung tâm linh hoạt và định hướng thị trường. Điều này đã tác động làm tỷ giá Việt Nam được duy trì tương đối ổn định. Hình 2 cho thấy tỷ giá VND/USD trong giai đoạn 2014-2018 có xu hướng tăng nhẹ để kích thích hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu tỷ giá năm 2014 ở mức 21.149 đồng, đến năm 2022, tỷ giá tăng lên nhẹ ở mức 22.603 đồng, tương đương tăng mức 6,9% / 4 năm, điều đó cho thấy mức độ ổn định cao của VND so với một số đồng tiền khác trên thế giới.

    Bên cạnh chính sách tỷ giá, trong những năm qua để hoạt động của ngân hàng được ổn định, NHNN còn thực thi chính sách ổn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB). Cụ thể, tỷ lệ DTBB đối với khoản tiền gửi VND được duy trì ở mức 3% đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, 1% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Đối với các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ, tỷ lệ DTBB được duy trì ở mức 8% đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc kỳ hạn dưới 12 tháng, 6% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên (Đến cuối năm 2022, NHNN đã ban hành Thông tư 30/2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2020 trong đó, điều chỉnh giảm 50% tỷ lệ DTBB đối với các TCTD hỗ trợ được quy định tại khoản 40 điều 4 Luật các TCTD; đồng thời quy định 3 nhóm TCTD không thực hiện DTBB).

    Như vậy, kiểm soát được lạm phát, giá trị đồng tiền ổn định là các nhân tố giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh có lợi hơn, điều này có lợi cho người tiêu dùng. Đồng thời, lạm phát thấp sẽ thúc đẩy doanh nghiệp đẩy mạnh kinh doanh, giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó giúp ổn định kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, duy trì ổn định DTBB cũng là một trong những tiền đề giúp gia tăng ổn định ngân hàng. Ngoài ra, việc từng bước thực thi chính sách giám sát an toàn vĩ mô cũng giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam giảm bớt các rủi ro hệ thống.

    3.2. Ngân hàng Nhà nước từng bước triển khai chính sách giám sát an toàn vĩ mô

    Theo hội đồng Ổn định tài chính (FSB), Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), chính sách an toàn vĩ mô là chính sách sử dụng các công cụ an toàn để hạn chế các rủi ro hệ thống hoặc rủi ro tài chính mang tính hệ thống nhằm giảm thiểu khả năng đổ vỡ của hệ thống tài chính thông qua giảm tình trạng mất cân đối tài chính và giải quyết các rủi ro phổ biến nhằm ngăn ngừa các dịch vụ tài chính có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế thực (FSB, IMF, & BIS, 2011).

    Tại Việt Nam,  theo điều 2, điểm 20 Nghị định 16/2017/NĐ-CP  về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN, NHNN có nhiệm vụ ổn định hệ thống tiền tệ – tài chính bao gồm tóm tắt, phân tích và dự báo tình hình tài chính tiền tệ; đề xuất các biện pháp phòng ngừa rủi ro hệ thống trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và phát triển các chính sách, biện pháp ứng phó với khủng hoảng, đảm bảo sự ổn định của hệ thống tiền tệ, ngân hàng và tài chính. Đồng thời, tại Điều 3 Nghị định này, NHNN được bổ sung Vụ Ổn định tiền tệ tài chính. Với các quy định nêu trên, nước ta đã bắt đầu triển khai thực hiện chính sách giám sát an toàn vĩ mô.

    Bên cạnh các công cụ được đề cập tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN, để hoạt động ngân hàng được ổn định, trong giai đoạn 2022-2017, NHNN còn yêu cầu các NHTM thực thi công cụ trần tăng trưởng tín dụng để kiểm soát tăng trưởng tín dụng.

    Theo IMF (2018), ngoài các công cụ nêu trên, NHNN Việt Nam còn thực thi chính sách giám sát an toàn vĩ mô bằng công cụ giới hạn đầu tư vào trái phiếu Chính phủ được quy định tại Thông tư 09/2017/TT-NHNN và Thông tư 06/2016/TT-NHNN thay thế và bổ sung một số điều của Thông tư 36/2014/TT-NHNN. Theo Thông tư này, các TCTD có thể được mua và đầu tư trái phiếu Chính phủ so với các quỹ ngắn hạn trung bình của tháng trước đó, cụ thể các giới hạn này như sau: (1) NHTM nhà nước: 25%; (2) NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài: 30%; (3) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 30%; (4) TCTD phi ngân hàng: 10%; (5) Ngân hàng hợp tác: 35%.

    Như vậy, với việc thực hiện chính sách giám sát an toàn vĩ mô, các ngân hàng sẽ giảm thiểu rủi ro hệ thống, tránh được các cú sốc bất ngờ từ nền kinh tế đồng thời sẽ duy trì và gia tăng ổn định.

    3.3. Thực hiện các quy định khác trong việc duy trì ổn định ngân hàng

    Bên cạnh việc thực hiện CSTT và từng bước thực thi chính sách an toàn vĩ mô, NHNN còn ban hành nhiều quy định khác, bao gồm:

    Một là, xây dựng trình Chính phủ ban hành Đề án tái cơ cấu hệ thống TCTD giai đoạn 1 và giai đoạn 2, thành lập Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam. Thực tiễn đã cho thấy khi triển khai thực hiện các đề án trên, các TCTD nói chung và hệ thống NHTM nói riêng đã có nhiều cải thiện về quy mô, chất lượng, hiệu quả hoạt động, mức độ an toàn và gia tăng khả năng cạnh tranh. Trong đó, sự ra đời của Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) là một nỗ lực trong xử lý nợ xấu, hướng đến hoạt động ổn định cho ngân hàng. Ngoài ra, khi thực hiện tái cơ cấu các TCTD, NHNN đã thực hiện kiểm soát hoạt động của một số ngân hàng yếu kém, thực hiện mua lại một số NHTM với giá 0 đồng và khuyến khích hoạt động M&A ngân hàng đảm bảo an toàn cho hệ thống.

    Hai là, trong những năm gần đây, NHNN luôn chú trọng đến công tác thanh tra, giám sát. Bản chất hoạt động ngân hàng ẩn chứa nhiều rủi ro, do đó, bên cạnh việc hỗ trợ cho hệ thống các TCTD hoạt động, NHNN cũng quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát. Theo Điều 23, Nghị định 26/2014/NĐ-CP về tổ chức thanh tra và hoạt động của thanh tra giám sát ngành ngân hàng, hoạt động giám ngân hàng cần phải xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng. Các hình thức thực hiện bao gồm giám sát an toàn vi mô (là việc giám an toàn đối với từng đối tượng giám riêng lẻ) và giám sát an toàn vĩ mô (là hình thức giám sát an toàn trên toàn bộ hệ thống các TCTD, chi nhánh NHNNg trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ lành mạnh tài chính và an toàn hoạt động). Chính hoạt động này sẽ giúp cho hệ thống NHTM lành mạnh, ổn định hơn.

    4. Đánh giá vai trò của NHNN đối với ổn định ngân hàng

    4.1. Các kết quả đạt được

    Nhờ kiểm soát tốt lạm phát và giữ vững giá trị đồng tiền trong thời gian qua, lãi suất các NHTM luôn ổn định, tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng. Đồng thời, lạm phát ở mức thấp và tỷ giá ổn định là điều kiện để các doanh nghiệp trong nước kinh doanh, tạo tiền đề tốt hoàn trả nợ ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng giảm thiểu nợ xấu, duy trì ổn định. Trong những năm gần đây, vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu toàn hệ thống ngân hàng được cải thiện. Đồng thời các chỉ tiêu an toàn vốn, thanh khoản vẫn ở mức đảm bảo. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến và luôn tồn tại các cú sốc, điều này sẽ giúp các ngân hàng phòng tránh các cú sốc trong quá trình hoạt động, duy trì lợi nhuận và duy trì ổn định.

    Bên cạnh điều hành CSTT, chính sách giám sát an toàn vĩ mô, NHNN còn thực hiện nhiều biện pháp tái cơ cấu khác như: kiểm soát đặc biệt các ngân hàng có vấn đề, mua lại các ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng, triển khai các hoạt động M&A.

    4.2. Một số điểm còn tồn tại

    Bên cạnh các kết quả đạt được như đã phân tích, việc điều hành của NHNN hướng đến mục tiêu ổn định ngân hàng còn một số điểm cần phải bàn:

    Một là, dù kiểm soát được lạm phát, giá trị đồng tiền ổn định và thực hiện việc bán nợ xấu cho VAMC, nhưng do một phần nợ xấu tồn đọng trước đó chưa giải quyết triệt để, đòi hỏi các ngân hàng tiếp tục tập trung xử lý bên cạnh việc kiểm soát tốt tín dụng nhằm hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh để gia tăng ổn định ngân hàng.

    Hai là, mặc dù đã triển khai chính sách giám sát an toàn vĩ mô, song cho đến nay chính sách này ở nước ta vẫn chưa hoàn thiện, các công cụ thực hiện vẫn còn nhiều khác biệt so với các quốc gia trên thế giới. Điều đó cũng khiến cho chính sách chưa phát huy được hết tác dụng và không thể ngăn ngừa hết các cú sốc tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.

    Ba là, có sự chồng chéo trong quản lý giữa các cơ quan giám sát ngân hàng. Cụ thể, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia là một cơ quan ngang bộ có chức năng giám sát chung thị trường tài chính và các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động giám sát của cơ quan thanh tra – giám sát chuyên ngành trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. NHNN là cơ quan chủ quản của các NHTM, trong đó Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Ổn định tiền tệ tài chính thực hiện các nhiệm vụ, chức năng riêng lẻ nhằm đảm bảo an toàn cho quá trình hoạt động của các ngân hàng. Như vậy, trong trường hợp không có sự phối hợp giữa các cơ quan trên, có thể gây ra khó khăn trong quá trình hoạt động của NHTM.

    5. Giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của Ngân hàng Nhà nước đối với ổn định ngân hàng

    Để có thể gia tăng ổn định ngân hàng, một số định hướng chính sách và giải pháp NHNN cần thực hiện trong thời gian tới gồm:

    Một là, NHNN tiếp tục thực hiện đề án cơ cấu lại các TCTD, kiểm soát hoạt động các ngân hàng có vấn đề, thực hiện mua lại các ngân hàng yếu kém, cho phép các ngân hàng yếu được sáp nhập với ngân hàng lớn. Từng bước xử lý các khoản nợ xấu để ngân hàng hoạt động ngày một ổn định.

    Hai là, tiếp tục quy định các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động đối với NHTM như tỷ lệ an toàn vốn, hệ số thanh khoản, mức tăng trưởng tín dụng,… nhất là trong bối cảnh áp lực hoàn thiện quy định Basel II cận kề. Có như vậy, các NHTM nước ta mới gia tăng ổn định, gia tăng sức cạnh tranh trên trường quốc tế.

    Về khuôn khổ pháp lý: cần ban hành luật về chính sách giám sát an toàn vĩ mô như là một chính sách song song với CSTT, các nghị định, thông tư hướng dẫn về việc thực hiện chính sách này. Trong đó, phải quy định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách, cân nhắc việc đặt mục tiêu cụ thể với các cơ quan phối hợp như NHNN, Bộ Tài chính, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia để xác định trách nhiệm, tính hiệu quả trong công tác nhằm hướng đến mục tiêu ổn định tài chính, ổn định hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, cần quy định rõ về chức năng và quyền hạn của chính sách này.

    Về mô hình cơ cấu tổ chức: Hiện nay, nước ta có nhiều cơ quan giám sát (Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia) do đó, để đảm bảo thực hiện hiệu quả chính sách giám sát an toàn vĩ mô, nước ta có thể xem xét kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc thành lập Hội đồng ổn định Tài chính quốc gia, trong đó, NHNN đóng vai trò là đầu mối, cơ quan thường trực, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan để xây dựng và thực thi hiệu quả chính sách này.

    Về công cụ chính sách an toàn vĩ mô: Vẫn chưa có một bộ công cụ tiêu chuẩn nào của chính sách an toàn vĩ mô để áp dụng cho tất cả các quốc gia, tùy vào trình độ phát triển, thể chế, đặc thù kinh tế xã hội từng quốc gia mà áp dụng các công cụ phù hợp. NHNN cần xem xét để đề ra một bộ công cụ chính sách an toàn vĩ mô phù hợp dựa trên các khuyến nghị mà các tổ chức quốc tế (WB, IMF) đã đề xuất cho Việt Nam để vừa đảm bảo an toàn hoạt động cho tổ chức tài chính, vừa duy trì ổn định ngân hàng Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Allen, W. A., & Wood, G. (2006). Defining and achieving financial stability. Journal of Financial Stability, 2(2), 152-172.

    – Goodhart, C. A. E. (2006). A framework for assessing financial stability? Journal of Banking & Finance, 30(12), 3415-3422.

    – Jokipii, T., & Monnin, P. (2013). The impact of banking sector stability on the real economy. Journal of International Money and Finance, 32, 1-16.

    – IMF (2018), Vietnam – 2022 Macroprudential

    – Lai, A. (2002). Modelling financial instability: a survey of the literature: Citeseer.

    – Mishkin, F. S. (1992). Anatomy of a financial crisis. Journal of evolutionary Economics, 2(2), 115-130.

    – Morgan, P., & Zhang, Y. (2015). Mortgage lending and financial stability in Asia. The Singapore Economic Review, 63, 1-22.

    – Ngalawa, H., Tchana, F. T., & Viegi, N. (2016). Banking Instability and Deposit Insurance: The Role of Moral Hazard. Journal of Applied Economics, 19(2), 323-350.

    – NHNN (2018), Báo cáo thường niên năm 2022.

    – Rose, P. S. (1996). Commercial bank management: Irwin.

    Bài đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 11 năm 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngân Hàng Trung Ương Là Gì?
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ngân Hàng Trung Ương Các Nước Và Những Gợi Ý Về Triển Vọng Hiến Định Ở Việt Nam
  • Ecb Là Gì – Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu Là Gì Và Có Tác Động Thế Nào Đến Thị Trường Forex
  • Vốn Tự Có Của Ngân Hàng Là Gì ? Cách Xác Định Vốn Tự Có Nhanh Nhất
  • Vốn Tự Có Là Gì? Tìm Hiểu Vốn Tự Có Của Ngân Hàng
  • Ngân Hàng Nhà Nước Là Gì? Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tướng Chính Phủ Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Thanh Tra, Giám Sát Ngân Hàng
  • Ngân Hàng Trung Gian (Intermediary Bank) Là Gì? Vai Trò Chức Năng
  • Ngân Hàng Trung Gian (Intermediary Bank) Là Gì? Các Loại Hình Ngân Hàng Trung Gian
  • Các Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Ngân hàng nhà nước là gì? Khái niệm, chức năng nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam? Ngân hàng nhà nước là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ?

    Trong bất cứ một quốc gia, một nền kinh tế nào thì không thể thiếu hệ thống các ngân hàng hoạt động trung gian trao đổi tiền tệ, cho vay tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cho vay vốn để phát triển kinh tế để vượt qua khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh do thiếu vốn đầu tư.

    Tuy nhiên, các ngân hàng hoạt động và cần có sự giám sát của ngân hàng nhà nước để quản lý và xử lí vi phạm trong lĩnh vực tín dụng. Trong bài viết này chúng tôi sẽ làm rõ các khái niệm, chức năng nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng nhà nước là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ. Các quy định.

    Theo quy định của pháp luật thì ngân hàng Nhà nước là có tư cách pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Ngân hàng Nhà nước được thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và , thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ theo quy định của pháp luật.

    2. Cơ cấu của ngân hàng nhà nước Việt Nam

    Theo quy định của pháp luật thì chính phủ ban hành cơ cấu của ngân hàng nhà nước như sau:

    + Vụ Chính sách tiền tệ theo quy định của pháp luật là một trong những cơ quan quyết định chế độ, công bố tỉ giá đối hoái, đưa ra các cơ chế điều hành tỉ giá.

    + Vụ Tín dụng các ngành kinh tế là một trong những chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ quan của ngân hàng nhà nước Việt Nam.

    + Vụ dự báo thống kê

    + Vụ hợp tác quốc tế là một trong những đơn vị thuộc tổng cục hải quan có chức năng tham mưu giúp tổng cục trưởng, tổng cục hải quan thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan theo quy định của pháp luật cũng là một tổ chức thuộc cơ cấu của ngân hàng trung ương.

    + Vụ ổn định tiền tệ – tài chính cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu của ngân hàng trung ương có các chức năng, nhiệm vụ tham mưu giúp thống đốc trong hoạt động, đánh giá, thực thi, phân tích các chế độ, chính sách an toàn vĩ mô của hệ thống tài chính và biện pháp phòng ngừa rủi ro có tính hệ thống của các hệ thống tài chính.

    + Vụ kiểm toán nội bộ cũng là một đơn vị thuộc ngân hàng trung ương để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kiếm toán nội bộ mọi hoạt động tại các đơn vị thuộc hệ thống của ngân hàng của nhà nước.

    + Vụ pháp chế là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương có những chức năng tham mưu giúp thống đốc thực hiện việc quản lý nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong ngành nhân hàng.

    + Vụ tài chính, kế toán cũng là một đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước

    + Vụ truyền thông cũng thuộc đơn vị cơ cấu của ngân hàng nhà nước.

    + Văn phòng là một đơn vị cơ cấu của ngân hàng trung ương.

    + Cục công nghệ thông tin

    + Cục phát hành và kho quỹ là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương giúp cho thống đốc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng ngân hàng trong lĩnh vực phát hành và kho quỹ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.

    + Cục quản trị là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương có các chức năng tổ chức thực hiện các công tác quản trị, đảm bảo hậu cần phục vụ cho các hoạt động tại trụ sở chính và các công tác bảo vệ trong hệ thống ngân hàng nhà nước.

    + Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng là hoạt động của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn và là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương

    + Các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng là một trong những đơn vị cơ cấu của ngân hàng nhà nước.

    + Viện chiến lược ngân hàng cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước và là một trong những tổ chức khoa học và công nghệ công lập trực thuộc ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chế độ tự chủ đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo quy định của ngân hàng nhà nước theo quy định của pháp luật.

    + Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước và là tổ chức sự nghiệp công lập trực thuộc ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chức năng đăng ký tín dụng quốc gia, thu nhận, xử lý, lưu trữ phân tích thông tin tín dụng, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, chấm điểm, xếp hạng tín dụng pháp nhân và thể nhân trên lãnh thổ nước Việt Nam nhằm cung ứng các sản phẩm dịch vụ thông tin tín dụng theo quy định của ngân hàng nhà nước phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước của ngân hàng theo quy định của pháp luật.

    + Thời báo ngân hàng cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước và là một kênh thông tin hàng đầu về lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm giữ uy tín và truyền tải thông tin nhanh nhất đến những bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực tài chính ngân hàng theo quy định của pháp luật.

    + Tạp chí ngân hàng cũng là một trong những đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước và là một đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động chủ yếu theo luật báo chí, có các nhiệm vụ giúp thống đốc ngân hàng thực hiện công tác thông tin tuyên truyền phổ biến đường lối chủ trương của đảng chính sách pháp luật của nhà nước hoạt động ngân hàng và những thành tựu về khoa học công nghệ của ngành ngân hàng theo quy định của pháp luật.

    + Học viện Ngân hàng.

    Các đơn vị trên là một trong những đơn vị hành chính giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương và một số đơn vị là đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.

    Theo quy định của pháp luật thì vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Hợp tác quốc tế có 7 phòng; Vụ Quản lý ngoại hối, Vụ Tài chính – Kế toán, Vụ Dự báo, thống kê, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế có 6 phòng; Vụ Kiểm toán nội bộ, Vụ Tổ chức cán bộ có 5 phòng; Vụ Thanh toán, Vụ Pháp chế có 4 phòng; Vụ Ổn định tiền tệ – tài chính có 3 phòng.

    Hiện nay, văn phòng có 5 phòng; Cục Phát hành và kho quỹ có 09 phòng và Chi cục tại thành phố Hồ Chí Minh; Cục Quản trị có 7 phòng và Chi cục tại thành phố Hồ Chí Minh; Cục Công nghệ thông tin có 7 phòng và Chi cục tại thành phố Hồ Chí Minh; Sở Giao dịch có 9 phòng.

    Ngoài ra, thì các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Chi nhánh thành phố Hà Nội có 7 phòng; Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh có 8 phòng; Chi nhánh tỉnh, thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nghệ An, Đắk Lắk có 5 phòng; 56 Chi nhánh tỉnh còn lại có 4 phòng.

    – Với tư cách là cơ quan của Chính phủ, ngân hàng nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, khác với các Bộ khác thì

    + Quản lý nhà nước không chỉ bằng các biện pháp hành chính mà chủ yếu bằng các biện pháp kinh tế thông qua hoạt động của mình

    + Ngân hàng nhà nước đem về cho ngân sách nhà nước nguồn thu.

    – Với tư cách là ngân hàng trung ương, ngân hàng trung ương còn có các chức năng sau:

    + Là ngân hàng duy nhất phát hành tiền của Việt Nam

    + Là ngân hàng của tổ chức tín dụng thể hiện mở tài khoản nhận tiền gửi cho vay, thực hiện các giao dịch thanh toán cho các tổ chức tín dụng hoặc cho hệ thống kho bạc.

    + Làm đại lý cho kho bạc trong việc bán, trả gốc và lãi cho trái phiếu Chính Phủ.

    – Mọi hệ thống ngân hàng đều hướng vào thực hiện 3 mục tiêu sau:

    + Ổn định tiền tệ (ổn định giá cả, tỷ giá hối đoái của Việt Nam đồng hay ổn định sức mua đối nội, đối ngoại..)

    + Bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng

    + Thúc đấy kinh tế tăng trưởng

    – Các mục tiêu có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa hỗ trợ thúc đấy nhau, vừa loại trừ nhau. Vì vậy, khi điều hành nếu cần giải quyết một mục tiêu thì cẩn phải tính đến hệ quả và tác động của nó đối với mục tiêu khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Thanh Tra, Giám Sát Ngân Hàng
  • Vai Trò Của Alt Và Ast Trong Chẩn Đoán Các Bệnh Về Gan
  • Chỉ Số Xét Nghiệm Sgot Là Gì? Khi Nào Cần Xét Nghiệm Sgot ?
  • Chỉ Số Sgot Là Gì? Ý Nghĩa Của Các Chỉ Số Trong Xét Nghiệm Men Gan
  • Xét Nghiệm Sgot Thường Được Chỉ Định Khi Nào?
  • Bảo Lãnh Của Ngân Hàng Thương Mại, Chức Năng Và Vai Trò Bảo Lãnh Ngân Hàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Ngân Hàng Bán Lẻ
  • Dịch Vụ Ngân Hàng Bán Lẻ Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Ngân Hàng Hợp Tác Xã Phải Là Ngân Hàng Của Các Quỹ Tdnd Và Htx
  • Hợp Tác Xã Là Gì? Mô Hình Tổ Chức Quản Lý Của Hợp Tác Xã Như Thế Nào?
  • Ngân Hàng Hợp Tác Xã: Không Chỉ Là Chuyển Đổi Về Tên Gọi
  • Tr­ước khi đư­a ra khái niệm bảo lãnh của Ngân hàng,chúng ta hãy tìm hiểu về khái niệm bảo lãnh ở một số lĩnh vực khác.

    Trong pháp luật dân sự ở n­ước ta, khái niệm bảo lãnh đư­ợc nêu trong điều 366 của Bộ luật dân sự: ” Bảo lãnh là việc ng­ười thứ ba (ngư­ời bảo lãnh ) cam kết với bên có quyền (ng­ười nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghiã vụ (ng­ười đ­ược bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà ng­ười đ­ược bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ….”

    Trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “Bảo lãnh tài sản là sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của ng­ười nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho ngư­ời được bảo lãnh khi ngư­ời này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết….”

    Từ đó khái niệm chung về bảo lãnh được xác định nh­ư sau:

    “Bảo lãnh là sự cam kết của ng­ười nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và quyền lợi nếu ngư­ời xin bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với bên yêu cầu bảo lãnh”

    *Khái niệm bảo lãnh ngân hàng: Theo điều 2 trong quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng: Bảo lãnh Ngân hàng là sự cam kết của Ngân hàng với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên đ­ược bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã đ­ược trả thay.

    Ngân hàng bên bảo lãnh dùng uy tín của mình để đứng ra cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đư­ợc bảo lãnh trong trư­ờng hợp bên đư­ợc bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình

    Bên đ­ược bảo lãnh : là các khách hàng của Ngân hàng đư­ợc Ngân hàng cam kết thực hiện thay nghĩa vụ khi vi phạm hợp đồng với đối tác của mình.

    Bên nhận bảo lãnh : Là người thụ hưởng bảo lãnh khi bên đư­ợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng, thì bên nhận bảo lãnh sẽ đư­ợc Ngân hàng thanh toán khi có yêu cầu.

    Chức năng bảo đảm

    Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Theo chức năng này ngư­ời thụ hư­ởng sẽ nhận đ­ợc sự bồi thư­ờng về mặt tài chính trong tr­ường hợp ng­ười đ­ược bảo lãnh vi phạm cam kết. Tuy nhiên, ngư­ời thụ hư­ởng chỉ đư­ợc phép đòi tiền theo thư­ bảo lãnh nếu xuất trình đư­ợc những chứng từ cần thiết theo đúng các điều khoản, điều kiện của thư­ bảo lãnh. Mặt khác, do chịu trách nhiệm thực hiện cam kết nên ngân hàng phát hành bảo lãnh cũng thư­ờng xuyên kiểm tra, giám sát, tạo ra một áp lực thực hiện tốt hợp đồng, giảm thiểu vi phạm về phía ng­ười đư­ợc bảo lãnh.

    Thông qua bảo lãnh, khách hàng ngư­ời đư­ợc bảo lãnh không phải xuất quỹ, đư­ợc vay nợ hoặc đ­ược kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng, dịch vụ.

    Ví dụ: Một nhà thầu đư­ợc bảo lãnh thay vì mang tiền đặt cọc thì chỉ cần có bảo lãnh của ngân hàng. Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn nh­ưng với việc phát hành bảo lãnh, Ngân hàng đã giúp cho khách hàng của họ đư­ợc hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như­ khi đư­ợc cho vay thực sự.

    Với ý nghĩa này, bảo lãnh đựơc coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp

    Đối với doanh nghiệp

    Đối với ngân hàng

    Đối với ngân hàng, bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay.

    Không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro mất vốn.

    Mặt khác, thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh giúp ngân hàng làm tốt hơn chính sách khách hàng, vừa giúp ngân hàng gắn bó với khách hàng truyền thống, vừa thu hút khách hàng mới. Ngoài ra, bảo lãnh nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng đặc biệt là trên trư­ờng quốc tế. Thông qua bảo lãnh, ngân hàng tạo đ­ược thế mạnh, uy tín giúp tăng thêm khách hàng và lợi nhuận.

    Đối với nền kinh tế

    Sự tồn tại bảo lãnh ngân hàng là một khách quan đối với nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu làm cho nền kinh tế ngày một phát triển. Nó có vai trò như­ một chất xúc tác làm điều hoà, xúc tiến hàng loạt các quan hệ trong hợp đồng kinh tế. Nhờ có bảo lãnh mà các bên có thể tin tưởng yên tâm tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế và có trách nhiệm với hợp đồng của mình đã ký kết.

    Bảo lãnh có vai trò quan trọng trong việc tăng thêm nguồn vốn cho các doanh nghiệp, thu hút vốn đầu t­ư cho nền kinh tế, nhờ vào uy tín của ngân hàng bảo lãnh, bảo lãnh trở thành công cụ tiếp cận tới các nguồn vốn của nước ngoài. Nguồn vốn này thư­ờng đ­ược tập trung vào sản xuất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp từ đó giúp doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm áp ứng nhu cầu thị trư­ờng.

    Bảo lãnh ngân hàng góp phần tăng cư­ờng mối quan hệ thư­ơng mại quốc tế giữa các quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm, Chức Năng Và Vai Trò Của Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Bảo Lãnh Ngân Hàng Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm Và Chức Năng
  • Những Cách Thanh Toán Thẻ Tín Dụng Nam Á Bank Nhanh Nhất
  • Hotline Ngân Hàng Nam Á Là Bao Nhiêu? Đảm Nhận Chức Năng Gì?
  • Ngân Hàng Nam Á Bank Có Tốt Không? Chất Lượng Dịch Vụ Thế Nào
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Không Bào Và Dịch Tế Bào
  • Bài 9. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo) Sinh 10 Bai 9 10 Ok Doc
  • Vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    Như chúng ta đã biết cơ chế thị trường là cơ chế tốt nhất điều tiết nền kinh tế thị trường một cách hiệu quả, tuy nhiên cơ chế đó cũng có một loạt khuyết tật. Vì thế ở tất cả các nước có nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết đều có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, tuy cới mức độ khác nhau để khắc phục, sửa chữa những ” thất bại của thị trường “. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có bản chất khác nhau, vì thế, bên cạnh những điểm giống nhau về phương pháp quản lý, có sự khác nhau về mục tiêu xã hội của quản lý.

    Ở tất cả các nước có nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết đều có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế, tuy với mức độ khác nhau, để sửa chữa những “thất bại của thị trường”. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có bản chất khác nhau, vì thế, bên cạnh những điểm giống nhau về phương pháp quản lý, có sự khác nhau về mục tiêu xã hội của quản lý.

    Nhà nước Việt Nam muốn quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có kết quả trước hết cũng phải dựa trên yêu cầu khách quan của các quy luật của kinh tế thị trường. Do đó phương pháp quản lý của Nhà nước ta về nhiều phương diện cũng có những nét giống như phương pháp quản lý của nhà nước ở các nước tư bản: thừa nhận tính độc lập của các chủ thể kinh tế để họ có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, tự chịu trách nhiệm lỗ lãi; xây dựng hệ thống thị trường có tính cạnh tranh, giá cả chủ yếu do thị trường quyết định; xây dựng cơ chế điều tiết vĩ mô của Nhà nước nhằm hướng dẫn, giám sát hoạt động của các chủ thể kinh tế, hạn chế những khuyết tật của thị trường; xây dựng hệ thống pháp luật nhằm tạo ra khuôn khổ cho hoạt động kinh tế; tôn trọng và thực hiện các thông lệ quốc tế trong quan hệ kinh tế quốc tế.

    Tuy nhiên, sự quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa và sự quản lý kinh tế của nhà nước tư sản có sự khác nhau cơ bản. Sự quản lý của nhà nước tư sản đối với nền kinh tế thị trường nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho các tổ chức độc quyền. Nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản quản lý nền kinh tế thị trường nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; bảo đảm cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta có những chức năng kinh tế sau đây:

    Một là, Nhà nước định hướng cho sự phát triển kinh tế và thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế để bảo đảm cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng ổn định. Nhà nước xây dựng các chiến lược và quy hoạch phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nền kinh tế – xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Nền kinh tế thị trường khó tránh khỏi những chấn động bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế và lạm phát, Nhà nước phải sử dụng chính sách tài chính và chính sách tiền tệ để ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.

    Hai là, Nhà nước bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập khuôn khổ luật pháp để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế, vì ổn định chính trị, xã hội là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế. Nhà nước còn phải tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt động kinh tế bằng cách đặt ra các điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và hoạt động thị trường, đặt ra những quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh nghiệp. Khuôn khổ luật pháp mà Nhà nước thiết lập có tác động sâu sắc tới các hành vi của các chủ thể kinh tế, điều chỉnh hành vi kinh tế của họ.

    Ba là, Nhà nước cần hạn chế, khắc phục các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, thực hiện công bằng xã hội. Sự tác động của cơ chế thị trường có thể đưa lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng nó không tự động mang lại những giá trị mà xã hội cố gắng vươn tới, không tự động đưa đến sự phân phối thu nhập công bằng. Nhà nước thực hiện phân phối thu nhập quốc dân một cách công bằng, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này thể hiện rõ rệt nhất tính định hướng xã hội của nền kinh tế thị trường ở nước ta.

    Bốn là, Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Các doanh nghiệp vì lợi ích hẹp hòi của mình có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con người. Vì vậy, Nhà nước phải thực hiện những biện pháp nhằm ngăn chặn những tác động bên ngoài để nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội. Sự xuất hiện độc quyền cũng làm giảm tính hiệu quả của hoạt động thị trường, vì vậy Nhà nước có nhiệm vụ rất cơ bản là bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền để nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam
  • Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công
  • Khảo Sát Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Tại Các Cơ Quan Hành Chính
  • Kiểm Soát Tham Nhũng Trong Khu Vực Công
  • Đặc Điểm, Chức Năng Và Vai Trò Của Bảo Lãnh Ngân Hàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Lãnh Của Ngân Hàng Thương Mại, Chức Năng Và Vai Trò Bảo Lãnh Ngân Hàng
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Ngân Hàng Bán Lẻ
  • Dịch Vụ Ngân Hàng Bán Lẻ Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Ngân Hàng Hợp Tác Xã Phải Là Ngân Hàng Của Các Quỹ Tdnd Và Htx
  • Hợp Tác Xã Là Gì? Mô Hình Tổ Chức Quản Lý Của Hợp Tác Xã Như Thế Nào?
  • CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1

    I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1

    1. Khái niệm, chức năng và vai trò của Ngân hàng thương mại 1

    1.1. Sự ra đời của Ngân hàng thương mại 1

    1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại 3

    2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 4

    2.1 Hoạt động huy động vốn 4

    2.2 Hoạt động sử dụng vốn 6

    2.3 Hoạt động trung gian 7

    II. NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8

    1. Khái niệm bảo lãnh của Ngân hàng thương mại 8

    2. Các yếu tố trong bảo lãnh . 8

    2.1 Các bên trong bảo lãnh. 9

    2.2 Phí bảo lãnh. 9

    III. ĐẶC ĐIỂM, CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG. 10

    1. Đặc điểm của bảo lãnh Ngân hàng. 10

    1.1 Bảo lãnh là một mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau: 10

    2. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng. 11

    2.1 Chức năng bảo đảm. 11

    2.3 Chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng. 12

    3.Vai trò của bảo lãnh ngân hàng. 13

    3.1 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng đối với doanh nghiệp: 13

    3.2 Vai trò bảo lãnh đối với ngân hàng : 13

    2.3 Vai trò bảo lãnh đối với nền kinh tế. 14

    IV. PHÂN LOẠI BẢO LÃNH NGÂN HÀNG . 15

    1. Các loại bảo lãnh ngân hàng . 15

    1.1.1 Bảo lãnh dự thầu. 16

    1.1.2 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng. 17

    1.1.3 Bảo lãnh hoàn thanh toán (bảo lãnh tiền ứng trước). 17

    1.1.4 Bảo lãnh thanh toán 18

    1.1.5 Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm theo hợp đồng. 18

    1.1.6 Bảo lãnh vay vốn ( bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay) 19

    1.1.7 Một số loại bảo lãnh khác: 19

    1.2 Phân loại theo cách mở bảo lãnh. 21

    1.2.1 Bảo lãnh trực tiếp: 21

    1.2.2 Bảo lãnh trực tiếp và Ngân hàng thông báo: 23

    1.2.3 Bảo lãnh gián tiếp 24

    1.3.1 Bảo lãnh trong nước: 26

    1.3.2 Bảo lãnh ngoài nước: 26

    1.4 Phân loại theo hình thức sử dụng. 27

    1.4.1 Bảo lãnh vô điều kiện ( bảo lãnh theo yêu cầu). 27

    1.4.2 Bảo lãnh có điều kiện: 27

    2. Một số mô hình bảo lãnh chủ yếu. 27

    2.1 Mô hình một ngân hàng bảo lãnh: 28

    2.2 Mô hình nhiều ngân hàng bảo lãnh: 28

    2.2.2 Mô hình tái bảo lãnh. 28

    3. Các hình thức phát hành bảo lãnh. 28

    4.Sự cần thiết của nghiệp vụ bảo lãnh trong điều kiện ngày nay 28

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Lãnh Ngân Hàng Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm Và Chức Năng
  • Những Cách Thanh Toán Thẻ Tín Dụng Nam Á Bank Nhanh Nhất
  • Hotline Ngân Hàng Nam Á Là Bao Nhiêu? Đảm Nhận Chức Năng Gì?
  • Ngân Hàng Nam Á Bank Có Tốt Không? Chất Lượng Dịch Vụ Thế Nào
  • Giờ Làm Việc Của Ngân Hàng Nam Á Có Linh Hoạt Không?
  • Ngân Hàng Thương Mại Là Gì? Chức Năng Và Vai Trò Của Nhtm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Của Tín Dụng Ngân Hàng
  • Hoạt Động Ngân Hàng Là Gì? Khái Quát Về Hoạt Động Ngân Hàng?
  • Những Nhiệm Vụ Chính Của 1 Nhân Viên Tín Dụng Ngân Hàng
  • Mô Tả Công Việc Nhân Viên Tín Dụng Ngân Hàng Và Cần Biết
  • Khái Niệm Tín Dụng Ngân Hàng Và Nghiệp Vụ Tín Dụng Ngân Hàng Thương Mại
  • Vậy ngân hàng thương mại là gì? Mô hình ngân hàng này đóng góp những chức năng gì trong hệ thống ngân hàng hiện nay?

    Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn. Có thể nói doanh nghiệp ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc thù. Sản phẩm kinh doanh chủ yếu của loại hình này chính là quyền sử dụng các khoản tiền tệ.

    Ngân hàng vừa là người cung cấp đồng vốn, đồng thời cũng là người tiêu thụ đồng vốn của khách hàng. Toàn bộ những hoạt động mua và bán này thường thông qua một số công cụ và nghiệp vụ ngân hàng.

    Là một doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn, các Ngân hàng thương mại luôn tìm cách tối đa hóa lợi nhuận.

    Ngân hàng thương mại tạo ra lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay. Để thu hút tiền vào, ngân hàng đưa ra các điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền và tìm cách đem cho vay những khoản đã vay được.

    Một số nguyên tắc kinh doanh mang nét đặc thù của ngân hàng thương mại đó là:

    • Các dịch vụ tài chính được cung cấp trước hết phải đảm bảo lợi ích cho khách hàng và trong đó có lợi ích của mình.
    • Cần phải thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh như duy trì mức vốn nhất định nhằm tương hợp ý muốn của người tiết kiệm, có khả năng chống đỡ những biến động của thị trường, lựa chọn khách hàng, hạn chế tín dụng, giám sát thực hiện và đa dạng hóa tài sản để phân tán rủi ro.

    Là một doanh nghiệp đặc thù nên Ngân hàng thương mại có những tương đồng và những nét riêng so với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.

    Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại

    Tầm quan trọng của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chức năng của nó. Các chức năng của ngân hàng thương mại có thể được nêu ra bằng nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên được nhiều nhà kinh tế nhận định với các chức năng sau:

      Chức năng trung gian tài chính (trung gian tín dụng)

    Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    Trung gian tài chính là hoạt động cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong xã hội, giúp khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng đến nó một cách sinh lợi, mang những người có ý muốn dùng nó để tạo ra lợi nhuận.

    Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu sử dụng tiền tệ cần bổ sung gặp phải nhiều hạn chế. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại sẽ giúp khắc phục các hạn chế đó.

    Ngày nay, sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện những khía cạnh khác của chức năng này. Ngân hàng có thể đứng ra là trung gian giữa công ty và những nhà đầy ty. Như vậy, ngân hàng làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường.

    Chức năng trung gian tài chính giúp giảm thiểu những chi phí thông tin và chi phí giao dịch. Thông qua chức năng này, những người có một khoản tiền để dành có thể cung cấp vốn của họ cho thị trường tài chính bằng cách cho một trung gian có đủ tín nhiệm (ngân hàng thương mại) vay vốn. Sau khi huy động tiền gửi đem vốn này ra cho vay hoặc mua những chứng khoán như cổ phiếu và chứng khoán.

    Chức năng trung gian tài chính của Ngân hàng thương mại được hình thành ngay từ khi xuất hiện mô hình ngân hàng này.

    Ngày nay, thông qua chức năng trung gian tài chính, ngân hàng thương mại đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, vốn đầu tư được ở rộng, từ đó góp phần thức đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân.

    Chức năng này chính là sự kế thừa và phát triển chức năng ngân hàng là thủ quỹ của các doanh nghiệp. Có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản.

    Hoạt động thanh toán của ngân hàng là cơ sở hoạt động tín dụng ngày nay.

    Khi một khách hàng thiếu tiền để thanh toán, ngân hàng sẽ trả hộ và khoản trả hộ đó sẽ trở thành khoản vay của khách hàng.

    Trong ngân hàng thương mại, chức năng trung gian thanh toán gắn ó chặt chẽ và hữu cơ với chức năng trung gian tín dụng: Sử dụng số tiền gửi của người này để cho người khác vay.

    Trong khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán…) đã tiết kiệm rất nhiều cho xã hội về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.

    Trong quá trình kinh doanh tiền tệ, ngân hàng đã phát hiện khách hàng sử dụng giấy chứng nhận tiền gửi (chứng thư) mà ngân hàng đã cấp cho họ để chi trả các khoản nợ.

    Chính vì vậy, ngân hàng đưa vào lưu thông các loại tiền giấy ngân hàng (bank notes) được chuyển đổi ra vàng qua nghiệp vụ tín dụng thay thế cho tiền vàng.

    Đây chính là một phát minh có giá trị trong lịch sử hoạt động của tiền tệ.

    Hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành vào cuối thế kỷ 19, tạo nên một hệ thống, trong đó các ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng, là ngân hàng của các ngân hàng.

    Các ngân hàng còn lại chuyên kinh doanh tiền tệ, nhờ hoạt động trong hệ thống các ngân hàng thương mại và tạo ra “bút tệ” thay thế cho tiền mặt.

    Quá trình tạo ra tiền của ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng trong mối liên hệ chặt chẽ với ngân hàng trung ương.

    Ngân hàng thương mại tạo được bút tệ xuất phát từ tiền của ngân hàng trung ương. Nếu không có sự ràng buộc nào thì khả năng tạo ra bút tệ là vô hạn. Tuy nhiên, dưới sự kiểm soát của ngân hàng trung ương thì ngân hàng thương mại chỉ tạo ra bút tệ trong một giới hạn nhất định.

    Muốn tạo ra bút tệ cần phải sử dụng cả hệ thống ngân hàng. Một ngân hàng thì khó có thể tạo ra tiền, hoặc việc tạo ra tiền diễn ra ở một ngân hàng thương mại chỉ là tạm thời trong một lúc nào đó.

    Theo một cách hiểu khác thì quá trình tạo ra tiền là hệ quả tổng hợp của hoạt động nhận tiền gửi, thanh toán hộ và cho vay của ngân hàng thương mại và luôn có sự giúp đỡ của ngân hàng trung ương.

    Tìm hiểu thêm khác khái niệm quan trọng khác tại chuyên mục: Cẩm nang Tài chính ngân hàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Chức Năng Quan Trọng Của Gan ·
  • 5 Chức Năng Chính Của Gan Trong Cơ Thể
  • Các Chức Năng Chính Của Một Ngân Hàng Trung Ương
  • Kiến Thức Y Học Archives
  • Các Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Gan
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100