Top 2 # Ví Dụ Chức Năng Nhận Thức Của Xã Hội Học Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Chức Năng Của Ẩn Dụ Đối Với Ngôn Ngữ Và Nhận Thức

Ngay từ thời Aristotle người ta đã đề cập tới chức năng của ẩn dụ. Trong cuốn “Thi pháp học”. Aristottle đã viết rằng ẩn dụ có nhiều loại quan trọng trong cả thơ lẫn văn xuôi, nhưng trong thơ nhiều hơn. Ẩn dụ có tính sáng sủa, dễ yêu và tác động mạnh… Rải rác trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã đề cập đến chức năng của ẩn dụ đối với ngôn ngữ. Đại để, ẩn dụ có những chức năng cơ bản đối với ngôn ngữ như sau.

a. Ẩn dụ làm phong phú thêm cho vốn từ của một ngôn ngữ

Trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ có rất nhiều từ được tạo ra nhờ phương thức ẩn dụ. Các từ như đầu sông, ngọn suối, mũi súng, chân núi…được tạo ra từ phương thức này. Trong phương trình nghiên cứu của mình. Nguyễn Thiện Giáp đã có nhận xét các từ da trời, da cam, cánh sen, cỏ úa, cứt ngựa… làm cho các từ chỉ màu sắc của tiếng Việt trở nên phong phú,

b. Ẩn dụ làm tăng thêm ý nghĩ cho một từ

Nhờ phương thức ẩn dụ từ có thêm nhiều nghĩa mới. Từ ốc lẽ ra chỉ có nghĩa là động vật, thân mềm có vỏ cứng và xoắn, sống ở dưới nước. Nhờ chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, từ ốc còn có nghĩa là đinh ốc. Đó là từ ốc trong cách nói “Hộp ốc vít của tôi đâu?” hay “Bộ phạn này có năm con ốc”. Từ cá ngoài nghĩa là động vật có xương sống sống ở dưới nước, thở bằng mang, bơi bằng vây, còn để chỉ miếng gỗ khi giữ chặt mộng để giữ miếng ghép, như cách nói: cá áo quan; hay để chỉ miếng cứng cài vào cạnh đứng của răng trong bộ bánh cóc, làm cho bánh răng chỉ quay được một chiều, như trong cách nói: xe bị sập cá; và từ cá cũng còn để chỉ: miếng sắt đóng vào đế giầy da cho đỡ mòn, như trong cách nói: cá giày bong mất rồi!. Từ bươm bướm ngoài nghiã chỉ: bọ có cánh mỏng, phủ một vẩy nhỏ như phấn, thường có nhièu màu, có vòi để hút mật hoa. Còn để chỉ một loại truyền đơn, như trong cách nói: giải bươm bướm giữa chợ.

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), từ có thêm nhiều nghĩa nhất nhờ phương thức ẩn dụ là từ đánh: ngoài nghĩa chính, từ đánh có thêm 26 nghĩa sinh ra từ nghĩa chính và nghĩa phụ của từ này. Đây là minh chứng điển hình cho nhận xét “ẩn dụ làm giàu thêm ý nghĩa cho một từ”

Hàng loạt các từ khác như đầu, mũi, đường, đi …cũng có thêm rất nhiều nghĩa mới nhờ phương thức ẩn dụ.

Trong Từ điển phong cách học, tác giả Weles viết: bằng cách trung hoà hoá sự lệnh chuẩn về mặt ngữ nghĩa và sự sử dụng liên tục với một nghĩa mới thông qua cách dùng lặp đi lặp lại các ẩn dụ sẽ là một phương thức để gia tăng hàng nghìn nghĩa mới cho ý nghĩa của từ. (tr.117)

Theo Đỗ Hữu Châu, ẩn dụ không chỉ là “kết quả của những qui luật điều khiển sự tạo nghĩa cho từ”, mà nó còn là cách thức tạo từ mới và tạo nghĩa mới cho từ.

Thông qua việc tạo từ mới và nghiã mới, ẩn dụ giúp ngôn ngữ mau chóng đáp ứng được đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị sự vật, hiện tượng và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội, để thay thế những cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa… Đó cũng là cách khai thác và phát huy tiềm năng của ngôn ngữ” (Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, trang 152).

c. Ẩn dụ tạo ra những cách nói mới làm cho cách diễn đạt trở nên phong phú

Tác giả Xi-xi-rô nói rằng: ẩn dụ lúc đầu xuất hiện cho sự hạn chế, sự nghèo nàn từ vựng của một ngôn ngữ nào đó. Nhưng khi ngôn ngữ đó là trưởng thành, đã có một số vốn từ vựng phong phú thì ẩn dụ sẽ làm giàu thêm cho ngôn ngữ đó bằng cách cung cấp cho người nói những cách nói hấp dẫn hơn để diễn đạt, để biểu thị, để bộc lộ chính mình. Bectle thì coi ẩn dụ có tác dụng trang trí, giúp cho người viết phương tiện để quyến rũ lí trí. Tác giả Đỗ hữu Châu đã dẫn ra ví dụ: lẽ ra cần nói em rất đẹp thì có thể nói em là một bông hoa. Hay một chút hi vọng thì gọi là hạt mầm hi vọng; Muốn nói con đáng yêu quá thì nói con chó con của mẹ, muốn nói ông thật xảo quyệt thì nói đồ cáo già.

d. Ẩn dụ làm cho cách nói trở nên hàm súc.

Nhờ ẩn dụ người ta có thể diễn đạt ngắn gọn nhưng rất cô đọng, súc tích ý mình. Lẽ ra phải nói “bộ phận nhọn của vũ khí” thì cần nói mũi dao, mũi súng; “bộ phận trước của thuyền” thì chỉ cần nói mũi thuyền; phần đất nhô ra ở ngoài biển thì nói mũi đất;…Nếu không có ẩn dụ thì đầu làng sẽ phải gọi là “vị trí đầu tiên của đầu làng tính từ chỗ người nói”; chân núi sẽ phải gọi là “phần cuối cùng tiếp giáp với mặt đất của núi”; tài năng chín sẽ phải gọi là ” tài năng đã trải qua quá trình nung nấu kĩ, quá trình rèn luyện chu đáo, phải đem ra thi thố với đời nếu không cái chín sẽ trở thành trì trệ”. Cách diễn đạt ” tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào thế đường cùng, không lối thoát, mặc dù đã xoay sở hết cách” có thể xoay bằng cụm từ cố định ngắn gọn ” chuột chạy cùng sào “.

Những cách gọi tên không dùng phương thức ẩn dụ nói trên nhiều khi rất dài, khó nhớ và tai hại hơn là không thể diễn tả hết các sắc thái ý nghĩa tinh tế trong đó. Chẳng hạn cách gọi đầu làng ngoài tác dụng chỉ vị trí của đầu làng còn gợi cho ta sắc thái nghĩa: đây là một bộ phận của cái gì sống động chứ hoàn toàn không phải là một vật vô tri vô giác như cách gọi “vị trí đầu tiên …” vừa phân tích ở trên.

Cách gọi chi trên, chi dưới trong dòng họ cho ta thấy được tính chất gắn bó, ràng buộc như các bộ phận của một cơ thể, điều đó đã vừa diễn đạt tính chất cội nguồn, vừa diễn tả một cách sinh động cụ thể mối quan hệ của những tổ chức gia đình, họ hàng này.

Đỗ Hữu Châu đã phân tích ẩn dụ chịu tang trong câu thơ: “Rặng liễu dìu hiu đứng chịu tang” của Xuân Diệu. Theo ông, khó lòng tường minh hoá nghĩa của từ chịu tang bằng trường ngữ hoá như ” những rặng liễu đìu hiu giống như người đàn bà đang khóc than trong một đám tang” hoặc “những rặng liễu đìu hiu giống như người đàn bà đang xoã tóc khóc than trong một đám tang”.

Có rất nhiều trường hợp không thể trường nghĩa hoá được các ẩn dụ vì đó là cách nói chuẩn xác nhất, hàm súc nhất, hàm súc nhất, cách nói mà “ngôn ngữ thường ngày không đủ khả năng diễn đạt chúng”.

Đối với ngôn ngữ, ẩn dụ là một bộ phận hợp thành của sự sáng tạo ra ngôn ngữ. Và có thể nói rằng thật khó tưởng tượng về sự tồn tại của một ngôn ngữ nếu không có ẩn dụ.

e. Ẩn dụ giúp cho người nói diễn đạt được mọi cung bậc tình cảm, thái độ của mình

Đầu tiên phải nói đến ưu thế đặc biệt của ẩn dụ trong lối nói kiêng tránh. Chẳng hạn khi nói về cái chết có thể và nên dùng từ đi như cách nói: Ông cụ đi tối hôm qua.

Nhiều trường hợp để tránh lối mòn trần tục, thô thiển, làm người nói ngượng mồm và người nghe xấu hổ thì cách nói ẩn dụ là cách nói rất hiệu quả. Người xưa đã rất khéo léo dùng ẩn dụ khi diễn tả tình huống sau đây:

Trách người quân tử vô tình. Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.

Và ngày nay chúng ta vẫn phát huy thế mạnh của phương thức chuyển nghĩa này. Chẳng hạn như cách nói “Híc, híc, dạo này đèn dầu của tớ cứ hay …dựng đứng bất tử lắm! hay nó bị… hỏng”? (trích Hoa học trò số 589). Hoặc “Đỉnh núi đôi của tớ bé tẹo à. Tớ lo sau này, cục cưng của tớ sẽ phải bú bình mất”? (Hoa học trò số 609) và “Đèn dầu của tớ bình thường, nhưng dầu của nó thì hầu như có vấn đề. Trong veo. Hay là mình không sản xuất được tinh binh” (Trích hoa học trò, số 613).

Ẩn dụ giúp người nói thể hiện được những tình cảm hết sức tinh tế như tình yêu chẳng hạn. Cách tỏ tình sau đây trong ca dao là một minh chứng:

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Khi muốn nhấn mạnh sắc thái biểu cảm trong lời nói, ẩn dụ cũng tỏ ra là một trợ thủ rất đắc lực. khi muốn nói em thật đáng yêu và có sức mạnh tuyệt đối với anh thì có thể nói là: “Em là thiên thần bé nhỏ của anh”. Đó là những tình cảm tích cực. Còn muốn thể hiện những tình cảm tiêu cực cũng có thể dùng cách này. Chẳng hạn để nói: đồ nhỏ nhen ghê tởm thì chỉ cần nói đồ sâu bọ.

2. Chức năng của ẩn dụ đối với nhận thức

a. Theo G. Lakoff, ẩn dụ có ở khắp nơi trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, không chỉ ở trong ngôn ngữ mà trong cả tư duy và hành động. Hệ thống khái niệm của chúng ta suy nghĩ và hành động, về cơ bản, về bản chất có tính chất ẩn dụ… Các khái niệm của chúng ta tri giác được. Nó cấu trúc lại cách chúng ta ứng xử trong đời sống và cấu trúc cả cách chúng ta quan hệ với những người khác. Ông đã dùng các ẩn dụ so sự tranh luận (argument), theo đó thì tranh luận là chiến tranh, để chứng minh cho nhận xét trên. Theo ông, ẩn dụ này chi phối cách chúng ta nhận thức về tranh luận và người tranh luận với chúng ta. Chúng ta xem người tranh luận với chúng ta là đối phương của mình. Chúng ta tấn công quan điểm của anh ta vào bảo vệ trận địa của mình. Chúng ta dựng lên và dùng những chiến lược. Nếu chúng ta thấy luận điểm của chúng ta không bảo vệ được thì chúng ta có thể bỏ luận điểm đó và chọn một chiến tuyến tấn công khác. Một khái niệm khác mà G. Lakoff dẫn ra để chứng minh rằng ẩn dụ không chỉ có vai trò đối với ngôn ngữ mà nó còn chi phối nhận thức của con người và từ đó chi phối hành động của con người là ẩn dụ thời gian là tiền bạc. Vì nhận thức về thời gian như là tiền bạc. Đó là thói quen trả lương cho người theo giờ, theo tháng, theo năm…Các cuộc nói nói chuyện bằng điện thoại, tiền thuê khách sạn tính theo thời gian, rồi tiền lời, tiền trả nợ cho xã hội tính theo thời gian…Người ta hiểu và thể nghiệm thời gian như một loại sự vật mà người ta có thể tiêu, có thể lãng phí, có thể lập thành quỹ, có thể đầu tư một cách khôn khéo hoặc dại dột, có thể tiết kiệm hay phung phí. Toàn bộ những cái đó đều bị chi phối bởi cái ẩn dụ trên.

Cũng trong công trình nghiên cứu của mình, G. Lakoff đã khẳng định rằng: chức năng đầu tiên của ẩn dụ là cung cấp cho chúng ta một cách hiểu bộ phận về một loại kinh nghiệm khác và chức năng này có thể vận dụng vào việc hiểu những sự giống nhau đã tồn tại từ trước ngoài ẩn dụ, bao gồm cả sự sáng tạo ra những sự giống nhau mới, nghĩa là việc lý giải, hiểu biết những sự giống nhau từ trước, những sự sáng tạo ra những cái giống nhau mới cũng là theo nguyên tắc chúng ta hiểu sự giống nhau này dựa trên sự giống nhau khác.

Như vậy, G. Lakoff không những khẳng định ẩn dụ không chỉ là những vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề tư duy, nhận thức: đó là có thể nhận thức sự vật này qua qua kinh nghiệm hiểu biết vè sự vật khác nếu chúng giống nhau.

b. Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, nhận thức của con người ngày càng được nâng cao. Con người ngày càng phát hiện ra nhiều sự vật, hiện tượng xung quanh mình và các sự vật hiện tượng đó ngày càng được nhận thức toàn diện, sâu sắc hơn. Nhưng số lượng từ ngữ để biểu hiện những nhận thức đó thì còn có hạn. Do đó, buộc phải có những cách thức khác nhau để dùng số lượng hữu hạn các từ để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhận thức. Như vậy, ẩn dụ đã góp phàn làm cho ngôn ngữ đáp ứng được sự phát triển ngày càng cao của nhận thức con người.

c. Có rất nhiều sự vật, hiện tượng hay những phương diện, khía cạnh khác nhau của các sự vật, hiện tượng nhận thức bằng phương thức ẩn dụ. Trong khoa học tự nhiên có rất nhiều ví dụ chứng tỏ điều này. Có thể dẫn ra đây một hiện tượng như sau: Để tìm ra những quy luật của dòng điện, người ta ví dòng điện như dòng nước. Đây là một ẩn dụ. Trên cơ sở đó những quy luật của dòng điện đi qua dây dẫn có thiết diện nhỏ thì điện trở lớn, ngược lại dòng điện đi qua dây dẫn lớn tức là thiết diện lớn thì điện tích nhỏ. Điều đó giồng như dòng nước khi đi qua ống dẫn có thiết diện lớn thì sức cản đối với dòng nước sẽ nhỏ và ngược lại. Như vậy, để nhận thức về dòng điện là cái mắt thường không nhìn thấy được, người ta so sánh với dòng nước là cái có thể nhìn thấy được.

Hay hai khái niệm trường hấp dẫn, trường điện từ cũng được nhận thức trên cơ sở ẩn dụ. Trường “là một khoảng đất rộng, bằng phẳng dùng làm nơi tiến hành một loại hoạt động nhất định, có đông người tham gia, thường là thi đấu hoặc tập luyện như trường đua, trường bắn”. (Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 1994). Trường hấp dẫn, trường điện từ là hai khái niệm trừu tượng, nhưng giống trường ở chỗ đều là một khoảng không gian nhất định và trong đó tồn tại một cái gì đó nhất định. Do đó, để hiểu hai khái niệm này người ta đã dùng hai khái niệm trường để nhận thức chúng. Và trường hấp dẫn, trường điện từ được hiểu như sau: “Dạng vật chất tồn tại trong một khoảng không gian mà vật nào trong đó cũng chịu tác động của một lực” (dẫn theo từ điển trên, tr. 1057).

Tương tự như vậy hai hiện tượng sóng điện từ và sóng âm cũng được nhận thức qua khái niệm sóng. Nhờ phương thức ẩn dụ người ta coi sóng điện từ và sóng âm như dòng nước. Sóng điện từ “là sự lan truyền trong không gian của điện từ với tốc độ hữu hạn”. Sóng âm “là giao động cơ học truyền đi trong môi trường đàn hồi kích thích được thần kinh thính giác”. Hai loại sóng này không thể nhận biết bằng các giác quan của con người, mà phải nhờ các thiết bị đặc biệt ghi lại hình ảnh sự tồn tại của nó. Nó giống nước ở sự giao động dâng lên, hạ xuống và đều ở trong một môi trường, một không gian. Khi được ví với sóng nước, hai khái niệm trên được nhận thức một cách dễ dàng hơn.

Phần trung tâm của nguyên tử, nơi tập trung hầu hết các khối lượng mang điện tích dương được gọi là hạt nhân. Nhờ ẩn dụ này (coi phần nói trên là hạt nhân giống như hạt quả, mà sự vật trừu tượng trên dễ được nhận thức hơn. Sở dĩ được gọi là hạt nhân vì nó giống nhân của hạt ở vị trí bên trong và vì chức năng quan trọng của nhân đối với hạt.

Tương tự như vậy, khái niệm nhân tế bào cũng được nhận thức rõ hơn qua phương thức ẩn dụ. Đây là bộ phận ở giữa tế bào, thường hình cầu, có chức năng quan trọng trong hoạt động sống, sinh sản và di truyền của tế bào. Bộ phận này không thể quan sát bằng mắt thường. Như vậy, khi được gọi là nhân bộ phận này sẽ dễ dàng nhận thức hơn.

Những thí dụ phân tích trên cho thấy chức năng quan trọng của ẩn dụ đối với nhận thức. Nhờ ẩn dụ, người ta có thể hiểu, có thể nhận thức những hiện tượng, sự vật chưa biết qua các hiện tượng, sự vật đã biết bằng cách so sánh ngầm giữa chúng. Vì bản chất của ẩn dụ là so sánh, do đó chức năng nhận thức của so sánh chính là chức năng nhận thức của ẩn dụ.

Ẩn dụ là một cách thức để con người nhận thức thế giới. Tìm hiểu chức năng của ẩn dụ đối với nhận thức sẽ giúp cho việc hiểu rõ hơn chức năng của ẩn dụ đối với ngôn ngữ.

Tóm lại, rất nhiều kinh nghiệm và hoạt động của chúng ta có bản chất là ẩn dụ. Phần lớn hệ thống khái niệm của chúng ta được hệ thống trong các ẩn dụ, bởi vì chúng ta phát hiện ra những sự giống nhau theo các phạm trù của hệ thống khái niệm. Ẩn dụ là nét độc đáo của ngôn ngữ tự nhiên. Năng lực hiểu các ẩn dụ và dùng được các ẩn dụ là dấu hiệu về khả năng ngôn ngữ của con người. Do đó ẩn dụ không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy, của nhận thức của con người.

Tài liệu tham khảo Tiếng Việt

1. Đỗ Hữu Châu – Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. GD, H, 1981.

2. Nguyễn Thiện Giáp – Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. GD, H, 1998.

3. Hoàng Phê chủ biên – Từ điển tiếng Việt, Nxb. KHXH, 1994.

4. Đỗ Xuân Thảo – Lê Hữu Tỉnh – Giáo trình tiếng Việt 2 (Hệ từ xa, bậc tiểu học), Nxb, ĐHSP Hà Nội, 1998.

Tiếng Anh

1. Aristotle – Thi pháp học. Tạp chí Văn học, số 1. 1997.

2. Asher R. E (Ed. In-Chief) – The Encyclopedia of Language and Linguistics (mục từ Metaphor). Tập V. Pergamon Press, New York, 1994.

Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học

Văn học nghệ thuật tồn tại trước hết với tư cách của một hình thái nhận thức, có khả năng mở rộng sự hiểu biết của con người. Mỗi tác phẩm văn học từ xưa tới nay đều có giá trị như một thành tựu trên chặng đường nhận thức chung của nhân loại. Vì thế, văn học luôn đưa ta tới những chân trời mới, giúp ta hiểu hơn cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả trong quá khứ, không chỉ trong phạm vi đất nước mình mà cả ở những xứ sở xa xôi.

Vì vậy chức năng đầu tiên của văn học là chức năng nhận thức và dự báo. Văn học đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người, trở thành “cuốn sách giáo khoa của đời sống”. Khi nắm bắt đời sống trong tính toàn vẹn thẩm mỹ của nó, nhà văn thường đem vào trong tác phẩm của mình một lượng thông tin phong phú và sinh động về đối tượng mà mình miêu tả. Đó là lượng thông tin thẩm mĩ, giàu hình tượng, dễ tiếp nhận đối với mọi người.

Trong tác phẩm “Ông già và biển cả” chúng ta có thể hiểu thêm về biển, về sự phát hiện những quá trình vật lí, sinh học diễn ra trong lòng đại dương mà còn ở sự khám phá về mối tương quan giữa con người và biển, về bản lĩnh và khát vọng của con người trong cuộc đấu tranh xác lập ý nghĩa tồn tại của mình trước thế giới tự nhiên và thế giới con người.

Phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn, sinh động, văn học còn có khả năng vươn tới tầm cao của sự khái quát, nắm bắt sự vận động bên trong của đời sống hiện thực. Chính từ độ chín của sự khám phá, khái quát ấy, văn học có khả năng dự báo tương lai.

Nhờ năng lực ước đoán, tưởng tượng và sự nhạy cảm trước mọi biến động của lịch sử, nhiều nhà văn dự cảm được những biến động của lịch sử, những quá trình xã hội mới ngay khi thực tế đời sống quanh mình vẫn còn trong trạng thái bốn phương phẳng lặng.

Nhà văn tài năng sẽ không đóng khung cuộc sống trong cái nhìn tĩnh quan mà luôn nhìn nhận đánh giá trong sự vận động, phát triển. Yếu tố tiên tri như một phẩm chất chung của những thành tựu văn học lớn. Tuy nhiên, mức độ dự báo, tính chất và nội dung dự báo không phải như nhau trong mỗi trào lưu văn học.

Bên cạnh những tác phẩm tràn đầy dự cảm lạc quan và niềm tin mạnh mẽ vào con người cũng có không ít những tác phẩm, những xu hướng văn học bộc lộ thái độ bi quan, tuyệt vọng trước tương lai loài người. Đối mặt với hiện tại, thâm nhập sâu rộng vào quá trình thực tiễn, văn học hiện thực chủ nghĩa dễ nắm bắt được những tín hiệu của tương lai.

Please follow and like us:

Comments

Hành Vi Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội. Các Hình Thức Và Chức Năng Của Kiểm Soát Xã Hội

Hành vi xã hội và kiểm soát xã hội (SC) là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học tương đối trẻ – tâm lý học xã hội. Sự hiểu biết của họ là cần thiết cho mỗi người. Rốt cuộc, thành công của nó ở một mức độ lớn phụ thuộc vào khả năng xây dựng các mối quan hệ xã hội mang tính xây dựng.

Về mức độ xã hội hóa trẻ em

Xã hội hóa của trẻ nhỏ được gọi là chính. Một đứa trẻ đi vào thế giới. giống như một tờ giấy trắng (tabula rasa), hoàn toàn không biết gì về xã hội. Chẳng mấy chốc, anh phát hiện ra rằng không gian xung quanh mình bị người khác chiếm chỗ. Chính họ là người xây dựng các mô hình cho em bé (mô hình, ma trận) để tìm hiểu về thế giới.

Lĩnh vực xã hội sự kiểm soát xung quanh mỗi cá nhân rất phức tạp bởi hành vi xã hội phát triển của anh ta.

Xã hội hóa thứ cấp của đứa trẻ trùng với việc mua lại một nền giáo dục chính thức. Nhiệm vụ chính của nó là trí thức hóa, tiếp thu các kỹ năng tư duy logic. Đứa trẻ mất đi địa vị độc nhất, đặc trưng của vị trí trong gia đình, trở nên bình đẳng trong trường với các đồng tu. Đồng thời, chính ở giai đoạn giáo dục, ông nhận được những ý tưởng chính về nhà nước, về bất bình đẳng xã hội, về hệ tư tưởng thịnh hành trong xã hội. Trong suốt quá trình xã hội hóa, đứa trẻ được cha mẹ chăm sóc.

Xã hội hóa ở tuổi trưởng thành

Ở giai đoạn thứ ba, đặc trưng bởi sự trưởng thành xã hội, một người trưởng thành (18-60 tuổi) giành được độc lập như một tác nhân kinh tế. Anh ấy (cô ấy) cá nhân kiếm tiền để cung cấp cho cuộc sống của mình, có được gia đình riêng của mình.

Ở giai đoạn trưởng thành, vai trò xã hội của một người có được các địa vị pháp lý khác nhau (chồng, vợ, cha, mẹ). Ông cũng thích vị thế chuyên nghiệp, chính thức. Thông qua sau này, quyền lực có thể được giao phó cho anh ta. Sự trưởng thành xã hội của một người được thể hiện ở sự tham gia tích cực của anh ta vào đời sống xã hội của các cộng đồng khác nhau xung quanh anh ta – công nghiệp, quốc gia, chung chung.

Xã hội hóa người về hưu

Xã hội hóa tuổi già bao gồm sự ra đi dần dần của một người từ hoạt động lao động tích cực. Ý nghĩa của nó là đi chệch khỏi đặc tính trì trệ bản ngã của tuổi nghỉ hưu, thể hiện ở:

giảm các biểu hiện của tinh thần;

cô lập về quá khứ;

trong sự gián đoạn của giao tiếp với hiện tại;

tổ chức một vòng tròn mới của truyền thông.

Các lĩnh vực có thể có của chuyên môn này là một vị trí công cộng tích cực trong sự giáo dục của thế hệ trẻ, trong các nhóm xã hội tại nơi cư trú (ủy ban sân, hợp tác xã nhà mùa hè, v.v.)

Sự thích nghi của con người trong xã hội là kết quả của hành vi xã hội

Hành vi xã hội tích cực của đa số các thành viên trong xã hội cho phép họ giải quyết thành công các nhiệm vụ thích ứng quan trọng nhất ban đầu đối với một người, góp phần vào tiến bộ khoa học và kỹ thuật, tăng trưởng hạnh phúc và theo đó là mức sống.

Về các loại hành vi xã hội

Hành vi xã hội là có mục đích, với sự giúp đỡ của một người đạt được một mức độ định vị nhất định trong xã hội và trong một nhóm xã hội.

Các loại hành vi xã hội khác nhau về chức năng và lợi ích:

đại chúng (phong trào chính trị, tôn giáo và kinh tế, tin đồn, thời trang);

nhóm (tập thể lao động, câu lạc bộ, sân, đồng tu, v.v.);

Porolevoy (mẹ, cha, macho, aksakal, con, v.v.).

Ngoài ra, hành vi xã hội của một người được đặc trưng bởi định hướng mối quan hệ của anh ta với người khác, đó có thể là:

prosocial (thân thiện, gắn liền với mong muốn giúp đỡ, hợp tác);

cạnh tranh (mong muốn nổi bật, trở thành người giỏi nhất);

loại A (cáu kỉnh, yếm thế, thiếu kiên nhẫn, thù địch với mọi người);

loại B (thiện chí).

Cuối cùng, việc phân loại hành vi xã hội xảy ra với một số mẫu hành vi nhất định:

thành tích thành công (vị trí sống tích cực);

tránh các thất bại (cô lập, giả định không tin tưởng);

tìm kiếm liên lạc hoặc tránh chúng;

mong muốn quyền lực, thờ ơ hoặc vâng lời nó;

mô hình hành vi chủ động hoặc bất lực.

Các loại hành vi xã hội trên được phân loại là tuân thủ pháp luật. Ngoài họ, hành vi có vấn đề, lệch lạc và bất hợp pháp cũng xảy ra.

Chúng tôi sẽ đề cập đến chúng trong bài viết này, coi các biện pháp trừng phạt là một yếu tố của thể loại kiểm soát xã hội.

Kiểm soát xã hội là gì?

Khái niệm này đã được chứng minh bởi nhà khoa học người Pháp T. Tarde, và cuối cùng được các nhà xã hội học người Mỹ R. Park và E. Ross đưa ra.

Họ đã hiểu được bản chất của nó, xem xét tác động xã hội toàn diện đối với một cá nhân có hành vi lệch lạc (xã hội). Thông qua ảnh hưởng này, hành vi của anh ta đã được chuyển thành phù hợp với các chuẩn mực xã hội hiện có.

Theo nghĩa rộng, các nhà khoa học coi kiểm soát xã hội là sự tương tác và tương quan liên tục của một cá nhân với xã hội và các nhóm xã hội. Rõ ràng, bản chất của sự kiểm soát như vậy rất quan trọng phụ thuộc vào loại hình xã hội. Một xã hội cổ xưa, toàn trị và dân chủ có những đặc điểm riêng, được thể hiện trong các tính năng của các quy tắc và chế tài xã hội.

Hai hình thức kiểm soát xã hội

Tùy thuộc vào sự hiện diện của địa vị xã hội, hai hình thức kiểm soát xã hội được phân biệt: không chính thức (tức là không chính thức) và chính thức.

Nếu xã hội là cổ xưa, thì Vương quốc Anh hoàn toàn dựa trên sự lên án hoặc chấp thuận của một nhóm xã hội (thành viên gia đình, bạn bè, người quen và đồng nghiệp). Trong trường hợp này, họ đang nói về một Vương quốc Anh không chính thức.

Trong một xã hội văn minh hơn, hành vi của các cá nhân được điều chỉnh bởi các thể chế nhà nước chuyên ngành: lập pháp và hành pháp, truyền thông. Sau này hoạt động ở cấp quốc gia và thành phố. Kiểm soát xã hội như vậy được gọi là chính thức.

Sự kiểm soát bên ngoài quá mức đối với các hoạt động xã hội của công dân bởi quân đội, cảnh sát, tòa án và các cơ quan kiểm soát là đặc trưng của chế độ quyền lực – độc tài. Trong điều kiện như vậy, các quá trình xã hội bị biến dạng. Chúng giống như một con đường điều chỉnh một chiều. Kiểm soát xã hội nhà nước đối với các quốc gia có hệ thống toàn trị tìm cách trở nên toàn diện, nghĩa là kiểm soát toàn bộ xã hội. Một đặc điểm là trong hầu hết các trường hợp, những người xin lỗi của chế độ độc tài biện minh cho sự sáng tạo của mình bằng nhu cầu khôi phục trật tự, được cho là vì lợi ích của mọi công dân.Tuy nhiên, với cô, họ luôn xuống cấp về mặt xã hội, sự tự nhận thức và những nỗ lực ý chí cần thiết cho sự tự chủ hoàn toàn bị giảm đi.

Trong một xã hội dân chủ, 70% quy định xã hội là tự kiểm soát. Sự phát triển của kiểm soát xã hội thường gắn liền với chế độ dân chủ quyền lực nhà nước.

Mục đích của cả hai hình thức SC (bên ngoài và bên trong) là:

duy trì sự ổn định và trật tự trong xã hội;

tuân thủ tính liên tục trong lối sống và đặc thù của sự phát triển.

Trong các xã hội phát triển cao, cả hai hình thức kiểm soát xã hội đồng thời cùng tồn tại, bổ sung hữu cơ cho nhau.

Các loại kiểm soát xã hội

Chính những nỗ lực chung của những người bị kiểm soát bởi lương tâm của chính họ là động lực chính của tiến bộ xã hội.

Chức năng kiểm soát xã hội

Có hai chức năng chính của kiểm soát xã hội:

Một mặt, điều quan trọng là phải nhanh chóng và đầy đủ chống lại các nỗ lực phá hủy các giá trị xã hội. Các chức năng bảo vệ là bảo thủ trong tự nhiên. Nó đóng vai trò là nền tảng cho sự ổn định trong xã hội, kêu gọi sử dụng cẩn thận các sáng kiến ​​xã hội khác nhau. Trước hết, nó bảo vệ các giá trị nhà nước và tôn giáo, đời sống con người, quyền và nghĩa vụ và tính toàn vẹn về thể chất của công dân. Chức năng bảo vệ trực tiếp góp phần chuyển giao kinh nghiệm từ thế hệ cũ sang thế hệ trẻ.

Với sự giúp đỡ của chức năng ổn định của kiểm soát xã hội, dự đoán và kỳ vọng về hành vi xã hội được đảm bảo. Điều này bảo tồn trật tự xã hội hiện có.

Kiểm soát xã hội là công cụ quan trọng nhất của xã hội giúp cho sự đồng hóa và chấp nhận của mỗi người trong nền văn hóa thịnh hành. Nó là phổ quát. Rốt cuộc, hoàn toàn bất kỳ cấu trúc xã hội nào, thậm chí tồn tại trong một thời gian ngắn, là không thể nếu không có SK.

Hệ thống kiểm soát xã hội

Hệ thống kiểm soát xã hội bao gồm tám yếu tố:

hành động xã hội gây ra phản ứng môi trường đầy đủ;

một dẫn xuất của các giá trị xã hội hiện có, một hệ thống để đánh giá các hành động xã hội;

phân loại các hành động xã hội thành đáng trách và khuyến khích;

đánh giá nhóm đặc trưng của các tình huống xã hội phát sinh trong nhóm này (nhận thức xã hội);

các biện pháp trừng phạt xã hội như một phản ứng của xã hội đối với các hành động xã hội;

tự phân loại, tức là tự nhận dạng một người bằng cách thuộc về một nhóm nhất định trong môi trường xã hội;

lòng tự trọng cá nhân;

một đánh giá cá nhân về môi trường và hoàn cảnh mà người đó tiếp xúc với người khác.

Về cơ chế kiểm soát xã hội

Cơ chế kiểm soát xã hội bao gồm các chuẩn mực xã hội và các biện pháp trừng phạt.

Các chuẩn mực xã hội (chính thức và không chính thức) quy định mọi người cách cư xử trong xã hội. Với sự giúp đỡ của họ:

quá trình xã hội hóa đang được điều chỉnh;

các cá nhân đoàn kết trong các nhóm xã hội, và các nhóm hòa nhập với xã hội;

kiểm soát hành vi lệch lạc.

Theo mức độ nghiêm trọng, các tiêu chuẩn có thể được sắp xếp theo thứ tự sau: cấm kỵ (xúc phạm đền thờ, vi phạm điều răn, loạn luân), luật pháp (hành vi quy phạm của lực lượng pháp lý cao nhất), quyền và tự do, thói quen của một nhóm xã hội, truyền thống, nghi thức, phong tục.

Họ hành động như một tiêu chuẩn, một bộ điều chỉnh cho các hành động, cảm xúc, suy nghĩ và bảo vệ các giá trị xã hội. Sau này đề cập đến các khái niệm của con người được xã hội chấp nhận về lòng yêu nước, công bằng, lòng tốt, tình yêu, tình bạn.

Xử phạt tuân thủ kiểm soát xã hội

Kiểm soát xã hội trong xã hội được thực hiện bởi mọi người trên cơ sở các chuẩn mực hiện có. Quy định diễn ra trên cơ sở nguyên tắc của mối quan hệ giữa chuẩn mực xã hội và các chế tài tương ứng với nó. Bị tước bỏ các biện pháp trừng phạt kèm theo, chuẩn mực xã hội rơi ra khỏi hệ thống kiểm soát xã hội, biến thành một lời kêu gọi, một khẩu hiệu, v.v.

Các chế tài là:

tích cực (danh dự, danh tiếng, công nhận, khuyến khích, phê duyệt) và tiêu cực (kết luận, tịch thu tài sản phạt tiền, khiển trách, nhận xét, kết án);

chính thức (đến từ các tổ chức nhà nước), không chính thức (nhận từ người thân và đồng nghiệp trong các nhóm xã hội);

vật chất (quà tặng, tiền thưởng, tiền phạt, tịch thu) và đạo đức (bằng tốt nghiệp, giải thưởng, khiển trách).

lệch lạc (vi phạm là nhỏ và không bị trừng phạt);

phạm pháp (xử phạt của Bộ luật hành chính);

hình sự (chế tài của Bộ luật hình sự).

Kết luận

Kiểm soát xã hội là một công cụ mạnh mẽ để quản lý xã hội. Hầu hết dân số tự nguyện và không ngừng tuân thủ các chuẩn mực được thiết lập bởi xã hội.

Hiện tại, điều này góp phần vào sự phát triển của các tổ chức siêu quốc gia, làm tăng tỷ lệ quan hệ doanh nghiệp.

Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra thông qua sự ủy thác của các cường quốc nhà nước cho các cơ quan siêu quốc gia. Tuy nhiên, bản chất của kiểm soát xã hội trong xã hội thông tin hầu như không thay đổi.

Chức Năng Của Protein Enzyme Là Gì? Chức Năng Enzyme Protein: Ví Dụ

Công việc của cơ thể chúng ta – một quá trình rất phức tạp, trong đó hàng triệu tế bào tham gia, hàng ngàn chất khác nhau. Nhưng có một khu vực mà là hoàn toàn phụ thuộc vào các protein cụ thể, mà không có đời sống con người hoặc động vật sẽ hoàn toàn không thể. Như bạn có thể đoán, chúng ta đang nói bây giờ về các enzym.

Hôm nay chúng ta sẽ xem xét các enzyme chức năng của protein. Đây là một khu vực chủ yếu của hóa sinh.

Kể từ khi nền tảng của các chất này chủ yếu là protein, sau đó họ có thể được xem xét bởi chúng. Bạn nên biết rằng đối với các enzym lần đầu tiên được phát hiện vào những năm 30 của thế kỷ 19, chỉ có các nhà khoa học mất hơn một thế kỷ, để đi đến một định nghĩa nhiều hay ít thống nhất cho họ. Vì vậy, những gì chức năng được thực hiện bởi các enzyme protein? Về vấn đề này, cũng như cấu trúc và các phản ứng trong những ví dụ của họ, bạn sẽ học hỏi từ bài viết này.

Bạn cần phải hiểu rằng không phải tất cả các protein có thể là một enzyme, ngay cả về mặt lý thuyết. protein hình cầu chỉ tạo khả năng trưng bày hoạt động xúc tác đối với các hợp chất hữu cơ khác với. Như với tất cả các hợp chất tự nhiên trong lớp này, các enzym được cấu tạo của amino acid. Lưu ý rằng chức năng enzyme protein (ví dụ trong số đó sẽ được trong bài viết) có thể được thực hiện chỉ bởi một người có khối lượng phân tử nhỏ hơn 5000.

một loại enzyme, là gì định nghĩa hiện đại

Enzym – một chất xúc tác sinh học của xứ. Họ có khả năng tăng tốc phản ứng, do sự tiếp xúc gần gũi giữa các chất phản ứng (chất nền). Chúng tôi có thể nói rằng chức năng enzyme protein – một quá trình một số xúc tác các phản ứng sinh hóa mà là duy nhất cho một cơ thể sống. Chỉ một phần nhỏ trong số họ có thể được sao chép trong phòng thí nghiệm.

Cần lưu ý rằng trong lĩnh vực này đã có một số bước đột phá trong những năm gần đây. Các nhà khoa học đã dần dần đến gần để tạo ra các enzym nhân tạo có thể được sử dụng không chỉ cho các mục đích kinh tế, mà còn thuốc. Nó được phát triển enzym có hiệu quả có thể tiêu diệt thậm chí khu vực nhỏ của ung thư phôi thai.

Phần nào của các enzym tham gia trực tiếp trong phản ứng?

Lưu ý rằng, tiếp xúc với bề mặt không bao gồm toàn bộ cơ thể của enzyme, nhưng chỉ một phần nhỏ trong số đó được gọi là vị trí hoạt động. Đây là tài sản chính của họ về bổ sung. Khái niệm này ngụ ý rằng các enzyme là lý tưởng để các chất nền trong các hình thức và tính chất vật lý và hóa học của chúng. Chúng tôi có thể nói rằng chức năng của enzyme trong trường hợp này là như sau:

nước của họ đi xuống từ bề mặt vỏ.

Có một biến dạng nhất định (phân cực, ví dụ).

Sau đó họ được sắp xếp theo một cách đặc biệt trong không gian, trong khi di chuyển gần hơn với nhau.

Những yếu tố dẫn đến sự tăng tốc của phản ứng. Bây giờ, chúng ta hãy làm một so sánh giữa các enzym và các chất xúc tác vô cơ.

Như bạn có thể thấy, các chức năng của enzyme protein đòi hỏi đặc hiệu. Bởi chính nó cũng sẽ bổ sung thêm rằng nhiều người trong các protein này cũng có loài cụ thể. Đơn giản chỉ cần đặt, các enzym con người hầu như không thích hợp cho một con lợn guinea.

Thông tin quan trọng về cấu trúc của enzyme

Cấu trúc của các hợp chất này được tách ra ngay lập tức ba cấp độ. Cấu trúc chính có thể được xác định bởi các amino acid là một phần của các enzym. Kể từ khi chức năng enzyme protein, ví dụ về mà chúng tôi đã nhiều lần được trích dẫn trong bài viết này, có thể được thực hiện chỉ bởi một số loại hợp chất, để xác định chúng một cách chính xác trên cơ sở đó là khá thực tế.

Đối với cấp trung học, các phụ kiện sung được xác định bằng phương pháp loại bổ sung của trái phiếu có thể xảy ra giữa các amino acid. hydro này thông tin liên lạc, điện, kỵ nước, và der Waals tương tác Van. Như một kết quả của sự căng thẳng gây ra những kết nối này trong các phần khác nhau của enzyme sản xuất α-xoắn, vòng lặp và β-sợi.

Cấu trúc đại học là kết quả của sự kiện là phần tương đối lớn của chuỗi polypeptide đơn giản là gấp. Những sợi kết quả là được gọi là lĩnh vực. Cuối cùng, sự hình thành cuối cùng của cấu trúc này diễn ra chỉ sau khi một sự tương tác ổn định thành lập giữa các lĩnh vực khác nhau. Nên nhớ rằng sự hình thành của các lĩnh vực mình đi một cách hoàn toàn độc lập với nhau.

Một số đặc điểm miền

Thông thường, các chuỗi polypeptide mà từ đó chúng được hình thành, bao gồm khoảng 150 amino acid. Khi lĩnh vực tương tác với nhau, tạo thành giọt. Kể từ khi chức năng được thực hiện bởi các trang web hoạt động enzyme dựa vào chúng, nên hiểu tầm quan trọng của quá trình này.

Tên miền riêng của mình được đặc trưng bởi thực tế là giữa amino acid trong cấu trúc của nó có rất nhiều tương tác. số của họ là cao hơn rất nhiều đối với những phản ứng giữa bản thân lĩnh vực. Như vậy, khoang giữa chúng tương đối “dễ bị tổn thương” cho hành động của dung môi hữu cơ khác nhau. Khối lượng của trật tự từ 20-30 angstrom khối phù hợp với nhiều phân tử nước. lĩnh vực khác nhau thường có một cấu trúc ba chiều hoàn toàn độc đáo, đó là liên kết với việc thực hiện các chức năng hoàn toàn khác nhau.

các trang web hoạt động

Như một quy luật, các trang web hoạt động đều nằm đúng giữa các lĩnh vực. Theo đó, mỗi trong số đó đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phản ứng. Do sự sắp xếp này của các lĩnh vực tìm thấy sự linh hoạt đáng kể, sự nhanh nhẹn trong lĩnh vực enzyme. Đây là cực kỳ quan trọng, vì các chức năng enzym được thực hiện chỉ có những hợp chất phù hợp có thể thay đổi vị trí không gian của nó.

Giữa chiều dài trái phiếu polypeptide trong cơ thể của enzyme, và bởi các chức năng như thế nào phức tạp mà họ thực hiện, có một liên kết trực tiếp. vai trò phức tạp cả đạt được bằng cách hình thành các vị trí hoạt động của phản ứng giữa miền xúc tác và do sự hình thành các lĩnh vực hoàn toàn mới.

Một số protein, enzyme (ví dụ – lysozyme và glycogen) có thể khác nhau rất nhiều về kích thước (129 và 842 amino acid, tương ứng), mặc dù phản ứng được xúc tác phân cắt của liên kết hóa học của các loại tương tự. Sự khác biệt là các enzym lớn hơn và lớn có thể kiểm soát tốt hơn vị trí của nó trong không gian, đảm bảo sự ổn định lớn hơn và tốc độ của phản ứng.

Việc phân loại chính của các enzym

1. Oxidoreductases. Chức năng của các enzyme trong trường hợp này – kích thích các phản ứng oxi hóa khử.

2. Transferases. Có thể thực hiện các chất chuyển giữa các nhóm sau:

đơn vị One-carbon.

Còn lại của aldehyt và xeton.

Acyl và glycosyl thành phần.

Alkyl (như là một ngoại lệ không thể chịu đựng CH3) dư lượng.

căn cứ đạm.

Nhóm có chứa phốt pho.

3. Hydrolases. Trong trường hợp này, các chức năng của enzyme là để tách các protein của các loại sau đây của các hợp chất:

Este.

Glycosides.

Este và thioesters.

trái phiếu loại peptide.

loại mối quan hệ CN (trừ các peptide giống nhau).

4. Lyases. Có khả năng tách rời nhóm với hình tiếp theo của một liên kết đôi. Hơn nữa, có thể thực hiện quá trình nghịch đảo: tham gia nhóm được lựa chọn để tăng gấp đôi trái phiếu.

5. isomerase. Trong trường hợp này, các chức năng của enzyme protein phức tạp phản ứng xúc tác đồng phân. Nhóm này bao gồm các enzym sau:

Racemase, epimerase.

Tsistransizomerazy.

oxidoreductases nội phân tử.

transferases nội phân tử.

lyase nội phân tử.

6. ligases (hay còn gọi là synthetase). Chúng được sử dụng để tách của ATP trong khi hình thành một số kết nối.

Nó rất dễ dàng để nhận thấy rằng các chức năng của enzyme protein là vô cùng quan trọng, vì họ là đối với một số kiểm soát mức độ hầu như tất cả các phản ứng diễn ra mỗi giây trong cơ thể bạn.

Những gì còn lại của enzyme sau khi tương tác với các chất nền?

Thông thường, các enzyme là một protein có nguồn gốc hình cầu, trung tâm hoạt động trong số đó được thể hiện bằng cùng một amino acid của nó. Trong mọi trường hợp khác, ở phần trung tâm kết nối vững chắc với nó nhóm giả hoặc coenzyme (ATP, ví dụ), mối quan hệ là yếu hơn nhiều. Một chất xúc tác gọi là holoenzyme, và dư lượng của nó, sau khi loại bỏ các apoenzyme ATP hình thành.

Như vậy, theo tính năng này enzyme phân thành các nhóm sau:

Đơn giản hydrolase, lyase, và isomerase, mà nói chung không chứa cơ sở coenzyme.

protein enzyme (ví dụ – một số transaminase) bao gồm một nhóm giả (axit lipoic, ví dụ). Nhóm này bao gồm nhiều peroxidase.

Enizmy mà cần tái tạo coenzyme. Chúng bao gồm kinase, cũng như hầu hết các oxidoreductases.

chất xúc tác khác, các thành phần trong đó là không hiểu chưa đầy đủ.

Tất cả các chất mà là một phần của nhóm đầu tiên, được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm. Tất cả các chất xúc tác khác đòi hỏi điều kiện rất cụ thể để kích hoạt nó, và do đó chỉ có tác dụng trong cơ thể, hoặc trong một số thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Như vậy, chức năng của enzyme – đây là một phản ứng rất cụ thể, trong đó bao gồm trong việc kích thích (xúc tác) phản ứng trong một số loại điều kiện rõ ràng của cơ thể con người hoặc động vật.

Chuyện gì xảy ra tại vị trí hoạt động, hoặc lý do tại sao các enzym làm việc rất hiệu quả?

Chúng tôi đã nhiều lần nói rằng chìa khóa để hiểu biết về xúc tác enzyme là việc tạo ra các trung tâm hoạt động. Chính ở đó mà những ràng buộc cụ thể của bề mặt, mà trong điều kiện như vậy là nhiều tích cực hơn phản ứng. Để cho bạn hiểu sự phức tạp của các phản ứng được thực hiện ở đó, đưa ra một ví dụ đơn giản để xảy ra quá trình lên men glucose, nó là cần thiết một lần 12 enzyme! Tương tự tương tác khó khăn trở thành có thể chỉ do thực tế rằng một loại protein mà thực hiện chức năng của enzyme có mức độ cao nhất của đặc hiệu.

Các loại enzyme đặc hiệu

Nó là tuyệt đối. Trong trường hợp này, các đặc trưng được hiển thị chỉ có một, được xác định đúng loại enzyme. Như vậy, urease chỉ tương tác với urê. Với sữa lactose như nó đi vào phản ứng dưới bất kỳ điều kiện. Đó là những gì chức năng được thực hiện bởi các protein, enzyme trong cơ thể.

Bên cạnh đó, nhóm không phải là phổ biến đặc hiệu tuyệt đối. Như có thể hiểu từ tên gọi, trong trường hợp này có “tiếp nhận” Nghiêm một lớp học của các hợp chất hữu cơ (este, trong đó có rượu phức tạp hoặc aldehyt). Ví dụ, pepsin, đó là một trong những enzyme quan trọng của dạ dày, chỉ cho thấy đặc hiệu cho quá trình thủy phân của liên kết peptide. Alcohol dehydrogenase tương tác độc quyền với rượu và laktikodegidraza không chia bất cứ điều gì khác hơn là axit alpha-hydroxy.

Nó cũng xảy ra rằng các đặc tính chức năng của enzyme của một nhóm đặc biệt các hợp chất, nhưng trong điều kiện nhất định, các enzym có thể hoạt động trên khá khác biệt so với chính “mục đích” của họ về một chất. Trong trường hợp này, chất xúc tác “xu hướng” tới lớp nhất định các chất, nhưng trong điều kiện nhất định nó có thể tách và các hợp chất khác (không nhất thiết phải tương đương). Tuy nhiên, trong trường hợp này, phản ứng sẽ đi chậm hơn.

Rộng rãi biết đến với khả năng của trypsin để hành động liên kết peptide, nhưng ít người biết rằng protein này mà thực hiện chức năng của enzym trong đường tiêu hóa, cũng có thể phản ứng với các hợp chất este khác nhau.

Cuối cùng, có tính đặc hiệu của quang. Những enzyme có thể tương tác với một loạt các chất liệt kê hoàn toàn, nhưng chỉ với điều kiện họ có một tính chất quang học được xác định rõ. Như vậy, chức năng của enzyme protein trong trường hợp này rất giống với nguyên tắc hành động không phải là enzyme, chất xúc tác và nguồn gốc vô cơ.

Những yếu tố nào xác định hiệu quả của xúc tác?

Ngày nay, người ta tin rằng yếu tố quyết định một mức độ rất cao về hiệu quả của các enzym là:

tập trung có hiệu lực.

không gian hiệu lực định hướng.

Sự linh hoạt của trung tâm phản ứng tích cực.

Nói chung, ảnh hưởng của nồng độ chất không khác với trong các phản ứng xúc tác vô cơ. Trong trường hợp này, nồng độ chất nền như vậy, mà là lớn hơn một giá trị tương tự cho tất cả những thứ khác thể tích dung dịch ở trung tâm hoạt động nhiều lần. Ở trung tâm phản ứng một cách chọn lọc phân loại chất phân tử mà phải phản ứng với nhau. Nó không phải là khó để đoán rằng hiệu ứng này dẫn đến sự gia tăng tốc độ phản ứng hóa học vài bậc.

Khi một quá trình hóa học tiêu chuẩn diễn ra, nó là vô cùng quan trọng, là một phần của các phân tử tương tác sẽ va chạm với nhau. Một cách đơn giản, chất của phân tử tại thời điểm va chạm phải được định hướng đúng tương đối với nhau. Do thực tế là được thực hiện dưới sức ép, sau đó tất cả các thành phần tham gia được sắp xếp theo một đường nhất định, phản ứng xúc tác được tăng tốc lên khoảng ba đơn đặt hàng của một lượt như vậy trong vị trí hoạt động của enzyme.

Dưới multifunctionality trong trường hợp này nó đề cập đến một tài sản của tất cả các thành phần của trang web hoạt động cùng một lúc (hoặc Nghiêm phối hợp) hành động trên phân tử “điều trị” chất. Trong đó một (phân tử) không chỉ cố định phù hợp trong không gian (xem. Trên), nhưng thay đổi cũng rất đặc trưng của nó. Tất cả điều này cùng dẫn đến một thực tế là enzyme đang trở thành dễ dàng hơn để hoạt động trên bề mặt khi cần thiết.