Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?

--- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Có 5 chức năng của tiền tệ:

    – Thước đo giá trị

    VD: Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một chiếc bánh có giá trị bằng 5 xu (tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu. Vì thế có thể nói Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    – Phương tiện lưu thông

    VD:

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đếm. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    – Phương tiện cất trữ

    VD: Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    – Phương tiện thanh toán

    VD: Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

    – Tiền tệ thế giới

    VD: Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tý giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Tất Cả Chức Năng Của Đồng Hồ Thông Minh Smartwatch Bạn Cần Biết 2022
  • 72 Chức Năng Chính Của Đồng Hồ Thông Minh Smartwatch
  • Đồng Hồ Thông Minh Có Chức Năng Gì?
  • 21 Chức Năng Của Đồng Hồ Thông Minh Thay Thế Smartphone
  • 【 Tư Vấn 】Đồng Hồ Thông Minh Cho Trẻ Em Loại Nào Tốt Nhất
  • Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó. Tùy theo góc độ khác nhau, chức năng của nhà nước được phân chia khác nhau.

    Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội. Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

    a) Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội

    Chức năng thống trị chính trị của giai cấp – chức năng giai cấp – là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo thành bản chất chủ yếu của nó.

    Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãn một số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước.

    Trong hai chức năng đó thì chức năng thống trị chính trị là cơ bản nhất có vai trò chi phối chức năng xã hội phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị. Giai cấp thống trị bao giờ cũng biết giới hạn kiện toàn cách thực hiện chức năng xã hội trong khuôn khổ lợi ích của mình. Song, chức năng xã hội lại là cơ sở cho việc thực hiện chức năng giai cấp; bởi vì chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng xã hội. Ph. Ăngghen viết “ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó”1.

    b) Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại

    Sự thống trị chính trị và sự thực hiện chức năng xã hội của nhà nước thể hiện trong lĩnh vực đối nội cũng như trong đối ngoại.

    Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội. Thông thường điều đó phải được pháp luật hóa và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nhiều phương tiện khác (bộ máy thông tin, tuyên truyền, các cơ quan văn hóa, giáo dục…) để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị, làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội.

    Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích quốc gia, khi lợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị. Ngày nay, trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, việc mở rộng chức năng đối ngoại của nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt.

    Cả hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị. Chúng là hai mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối ngoại của nhà nước; ngược lại tính chất và những nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Nội Là Gì Và Những Chính Sách Đối Nội
  • Chức Năng Của Các Nút F1
  • Cách Sử Dụng Bàn Phím Của Máy Tính
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Báo Chí
  • Đọc Chức Năng+ Nguyên Tắc Của Báo Chí
  • Đặc Trưng Của Nhà Nước? Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Của Nhà Nước Đương Đại
  • #1 Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nội Dung Của Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay
  • Các Yếu Tố Tác Động Đến Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Chức Năng Tuyệt Vời Của Cổng Usb Otg Trên Android
  • Việc nắm rõ những đặc trưng của nhà nước và các chức năng cơ bản của nó sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn về bản chất của nhà nước.

    Bất kỳ nhà nước nào cũng có 3 đặc trưng cơ bản sau đây:

    1.1. Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định.

    Khác với tổ chức , thời nguyên thủy được hình thành trên cơ sở những quan hệ huyết thống, nhà nước được hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ mà họ cư trú. Quyền lực nhà nước có hiệu lực với mọi thành viên trong lãnh thổ không phân biệt huyết thống.

    Đặc trưng nêu trên làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng người trong cộng đồng đối với nhà nước. Mỗi nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhất định.

    1.2. Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội.

    Khác với các cơ quan điều hành công việc chung trong thị tộc, bộ lạc, nhà nước của giai cấp thống trị nào cũng có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp. Bộ máy đó bao gồm các đội vũ trang đặc biệt như quân đội, cảnh sát, nhà tù…; và các cơ quan quản lý hành chính.

    Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trên cơ sở sức mạnh cưỡng bức của pháp luật và dùng các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được thực thi trong thực tế.

    1.3. Nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị.

    Nhà nước không thể tồn tại nếu không dựa vào thuế khóa, quốc trái và các hình thức bóc lột khác. Đó là những chế độ đóng góp có tính chất cưỡng bức để nuôi sống bộ máy cai trị.

    Hệ thống thuế khóa, cống nạp như vậy hoàn toàn không có trong hình thức xã hội thị tộc, bộ lạc. Nó chỉ tồn tại gắn liền với hình thái tổ chức nhà nước. Bằng các hình thức khác nhau như vậy, nhà nước của giai cấp bóc lột không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn là công cụ thực hiện sự bóc lột các giai cấp bị áp bức.

    Tùy theo góc độ khác nhau, chức năng của nhà nước được phân chia khác nhau.

    Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội.

    Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có chức năng đối nội và đối ngoại.

    2.1. Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội.

    – Chức năng thống trị chính trị của giai cấp – chức năng giai cấp – là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị của giai cấp đó đối với toàn xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo thành chủ yếu của nó.

    – Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãn một số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước.

    Trong hai chức năng trên, chức năng thống trị chính trị của giai cấp là cơ bản nhất, chức năng xã hội phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị.

    Giai cấp thống trị bao giờ cũng biết giới hạn chức năng xã hội trong khuôn khổ lợi ích của mình. Song, chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng xã hội. Ph. Ăng-ghen viết: “Ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó”.

    Sự thống trị chính trị và sự thực hiện chức năng xã hội của nhà nước thể hiện trong lĩnh vực đối nội cũng như trong đối ngoại.

    – Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội theo những lợi ích của giai cấp thống trị. Thông thường điều đó phải được pháp luật hóa và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước.

    Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nhiều phương tiện khác như bộ máy thông tin, tuyên truyền, các cơ quan văn hóa, giáo dục… để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị, làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội.

    – Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích quốc gia, khi lợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị.

    Ngày nay, trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, việc mở rộng chức năng đối ngoại của nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt.

    Cả hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị. Chúng là hai mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất của chức năng đối ngoại, ngược lại tính chất, nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Công Cụ Hữu Ích Trong Quá Trình Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • Quản Lí Về Đất Đai Nhà Nước
  • Nội Dung Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Là Gì?
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Và Vấn Đề Quy Hoạch Sử Dụng Đất Đai
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 1310417

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Bai 2 Hàng Hóa Thị Trường Tiền Tệ Bai2 Tiet1 Ppt
  • Hàng Hóa Tiền Tệ Bai2Hanghoatientethitruongphaniitiente Ppt
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 7 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 2 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 2 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không làm ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tế điều đó đã dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích, truyện trung đại…. . Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ hoặc người mắc nợ của ngân hàng nếu tiêu xài phung phí, không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Do ngành du lịch phát triển, nên mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước ngoài. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại, như Mỹ – Việt Nam là: 1 USA = 23.143 VNĐ…………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tháp Nhu Cầu Maslow Là Gì? Khái Niệm Và Phân Tích Chi Tiết
  • Bài 5. Prôtêin Bai 5 Protein 1 Ppt
  • Cấu Trúc Và Tính Chất Vật Lý, Hóa Học Của Protein
  • Top 5 Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Dinh Dưỡng Của Mỹ Tốt Hiện Nay
  • Tpcn Bổ Sung Sung Protein Hữu Cơ Từ Đậu Nành Fancl Nhật Bản
  • Trình Bày Những Chức Năng Cơ Bản Của Văn Bản Quản Lý Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Luật Trong Quản Lý Nội Bộ Doanh Nghiệp Theo Quy Định Mới
  • Quy Chế Quản Lý Nội Bộ
  • Xây Dựng Hệ Thống Quản Lý Nội Bộ
  • Quy Chế Quản Lý Nội Bộ Công Ty, Một Số Điểm Lưu Ý
  • Luật Sư Tư Vấn Quản Trị Nội Bộ Cho Doanh Nghiệp
  • Văn bản quản lý nhà nước có các chức năng cơ bản là chức năng thông tin, chức năng quản lý, chức năng pháp lý.

    Chức năng thông tin là thuộc tính cơ bản quan trọng, bản chất của văn bản, là nguyên nhân hình thành văn bản và là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. Chức năng thông tin của văn bản thể hiện ở các mặt sau:

    – Ghi lại các thông tin quản lý.

    – Truyền đạt thông tin quản lý từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống quản lý hay giữa hệ thống với bên ngoài.

    – Giúp cho cơ quan thu nhận thông tin cần cho hoạt động quản lý.

    – Giúp các cơ quan xử lý, đánh giá các thông tin thu được thông qua hệ thống truyền đạt thông tin khác.

    Ví dụ: Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh sẽ giúp cho các cơ quan, đơn vị, các tổ chức và nhân dân biết, chủ động trong các hoạt động của mình.

    Đây là chức năng có tính chất thuộc tính của văn bản quản lý. Chức năng quản lý của văn bản thể hiện ở những khía cạnh sau:

    – Thông tin trong văn bản quản lý Nhà nước giúp cho việc tổ chức tốt công việc của các nhà lãnh đạo, làm cơ sở ban hành các quyết định quản lý.

    – Văn bản ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý tới đối tượng thực hiện, tham gia vào tổ chức thực hiện quyết định.

    – Là phương tiện hữu hiệu để phối hợp, kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý.

    Ví dụ: Căn cứ các thông tin về kế hoạch phát triển kinh tế xã hộ của tỉnh, các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức và địa phương trong tỉnh đã đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn trong công tác chỉ đạo điều hành.

    Chức năng pháp lý của văn bản biểu hiện trước hết là:

    – Ghi lại các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp lý tồn tại trong xã hội do pháp luật điều chỉnh. Khi đã sử dụng hình thức văn bản để ghi lại và truyển tải quyết định và thông tin quản lý, cơ quan nhà nước đã sử dụng thẩm quyền trong đó. Mệnh lệnh chứa trong văn bản có giá trị pháp lý bắt buộc mọi người phải tuân theo. Bản thân văn bản là chỗ dựa pháp lý, khung pháp lý ràng buộc mọi mối quan hệ, dựa vào đó để tổ chức hoạt động của cơ quan, cá nhân, tổ chức.

    – Là cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Văn bản là cơ sở xây dựng hệ thống pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tổ chức.

    – Là cầu nối tạo ra các mối quan hệ giữa các tổ chức, cơ quan. Văn bản và các hệ thống văn bản quản lý giúp xác định các quan hệ pháp lý giữa các cơ quan quản lý và bị quản lý, tạo nên sự ràng buộc trách nhiệm giữa các cơ quan, cá nhân có quan hệ trao đổi văn bản, theo phạm vi hoạt động của mình và quyền hạn được giao.

    Ví dụ: quan hệ giữa Bộ với các sở, ban, ngành…; giữa UBND tỉnh với UBND huyện, các sở, ban, ngành.

    – Bản thân các văn bản trong nhiều trường hợp, là chứng cứ pháp lý để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trong quản lý và điều hành công việc của các cơ quan.

    – Là trọng tài phân minh, phân xử khi thực hiện văn bản không thống nhất, cơ sở để giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các cơ quan, đơn vị, cá nhân, giải quyết các quan hệ pháp lý nảy sinh.

    Tính pháp lý của văn bản được hiểu là sự phù hợp của văn bản (về nội dung và thể thức) với quy định pháp luật hiện hành.

    Như vậy, văn bản đảm bảo tính pháp lý khi được ban hành theo đúng quy định pháp luật về nội dung và thể thức.

    Thể thức văn bản là hình thức pháp lý của văn bản, là toàn bộ những yếu tố về hình thức có tính bố cục đã được thể chế hoá để đảm bảo giá trị pháp lý cho văn bản. Như vậy thể thức là yếu tố thuộc về hình thức bên ngoài nhằm đảm bảo tính pháp lý cho văn bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiết Kế Hệ Thống Quản Lý Bán Hàng Siêu Thị
  • Cơ Chế Thị Trường Có Sự Quản Lý Của Nhà Nước Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Quản Lý Trang Thiết Bị Kỹ Thuật Y Tế Trong Bệnh Viện
  • Nhiều Thách Thức Khi Chuyển Sang Cơ Chế Tự Chủ Của Bệnh Viện Công Lập Tại Các Nước Đang Phát Triển
  • Nâng Cao Hiệu Quả Triển Khai Cơ Chế Tự Chủ Tài Chính Tại Các Bệnh Viện Công Lập Thuộc Bộ Y Tế
  • Phân Tích Khái Niệm Và Cho Ví Dụ Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nguồn Gốc, Bản Chất, Đặc Trưng Và Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước
  • Hãy Phát Biểu Một Định Nghĩa Về Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nêu Những Đặc Trưng, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Nó? Tại Sao Nói Việc Xây Dựng Và Củng Cố Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Là Một Tất Yếu Trong Tiến Trình Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội?
  • Chức Năng Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Hiểu Hơn Hành Chính Công Là Gì? Những Dịch Vụ Của Hành Chính Công
  • Quyết Định Hành Chính Là Gì? Phân Biệt Với Quyết Định Khác?
  • Phân tích khái niệm quản lý hành chính nhà nước. Cho ví dụ về một hoạt động quản lý hành chính nhà nước?

    1. Quản lý hành chính nhà nước là gì?

    Quản lý hành chính nhà nước là hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên trong công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội và hành chính-chính trị.

    2. Các đặc điểm của quản lý nhà nước

    – Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước, được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước: Hoạt động chấp hành được thể hiện trên phương diện tuân thủ các quy định của pháp luật của các chủ thể khi tham gia quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động điều hành thể hiện việc các chủ thể đặc biệt áp dụng các quy phạm pháp luật hành chính để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quản lý hành chính nhà nước. Nếu Quốc hội có chức năng cơ bản, quan trọng là lập pháp, Toà án có chức năng bảo vệ pháp luật là chủ yếu thì các cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Quốc hội, Tòa án có thể tham gia quản lý hành chính nhà nước nhưng các cơ quan hành chính nhà nước mới là chủ thể chủ yếu thực hiện hoạt động này.

    VD1: Hoạt động làm tạm trú cho công dân tại Trụ sở công an phường Láng Thượng: Các đồng chí Công an phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết công việc, các thủ tục giải quyết. Trong khi đó, các đồng chí công an áp dụng những quy phạm pháp luật hành chính về giải quyết tạm trú cho công dân, các đồng chí công an có quyền xem xét hoặc không xem xét nếu không đủ giấy tờ và yêu cầu công dân cung cấp thêm giấy tờ.

    VD2: Quốc hội quản lý hành chính nhà nước bằng cách ban hành các quyết định hành chính như: Quyết định bãi nhiệm đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga.

    VD3: Toà án tham gia quản lý hành chính nhà nước bằng việc quản lý nhân sự của ngành toà án: Quyết định bổ nhiệm nhân sự …

    – Hoạt động quản lý hành chính nhà nước có tính quyền lực nhà nước, có tính thống nhất chặt chẽ: Quản lý hành chính được thực hiện bởi các chủ thể sử dụng quyền hành pháp để áp đặt ý chí lên các chủ thể khác nên hoạt động này mang tính quyền lực rõ ràng. Tính thống nhất chặt chẽ của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở việc các hoạt động quản lý đều tuân theo các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước, các quyết định hành chính của cấp dưới không được phép trái với các quyết định hành chính của cấp trên …

    VD: UBND huyện Sóc Sơn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với ông A do chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp với diện tích 0.05ha tương ứng với mức xử phạt là 15 triệu đồng.

    – Chủ thể quản lý hành chính nhà nước: Các chủ thể nhân danh nhà nước sử dụng quyền hành pháp.

    VD: Các chiến sĩ công an giao thông đang thi hành nhiệm vụ, UBND các cấp, Bộ và cơ quan ngang bộ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ …

    – Khách thể quản lý hành chính nhà nước: Trật tự quản lý được quy định bởi quy phạm pháp luật. Trật tự quản lý là trạng thái được thiết lập bởi tổng thể các hành vi cần thiết của đối tượng quản lý theo đúng yêu cầu của chủ thể quản lý.

    VD: Trật tự quản lý giao thông có thể là việc các phương tiện đi đúng làn đường, đi đúng tốc độ, tuân thủ các biển báo và hiệu lệnh của các chiến sĩ cảnh sát giao thông đang thi hành nhiệm vụ.

    – Đối tượng quản lý hành chính nhà nước: Là những quan hệ xã hội.

    VD1: UBND quận Đống Đa ra quyết định thu hồi đất với ông A. Quyết định hành chính này nhằm điều chỉnh quan hệ giữa người sử dụng đất với nhà nước.

    VD2: Cấp giấy khai sinh là hành vi hành chính xác nhận sự ra đời của một công dân, nó xác lập mối quan hệ giữa nhà nước và công dân đó.

    – Phương tiện quản lý hành chính nhà nước: Quy phạm pháp luật.

    VD: Căn cứ vào điểm c khoản 2 điều 7 Nghị định 100/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông, các chiến sĩ cảnh sát giao thông đang thi hành nhiệm vụ trên đường Nguyễn Chí Thanh đã xử phạt 300.000 đồng với anh A vì hành vi đỗ xe trên hè phố trái quy định của pháp luật.

    Like fanpage Luật sư Online tại: https://www.facebook.com/iluatsu/

    Phân tích khái niệm quản lý hành chính nhà nước. Cho ví dụ về một hoạt động quản lý hành chính nhà nước?-Nguồn: Xóm Luật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Nói Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Thực Thi Quyền Hành Pháp?
  • Chức Năng Của Tài Chính Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Kho Bạc Nhà Nước Tổ Chức Bồi Dưỡng, Nâng Cao Kiến Thức Nghiệp Vụ, Kỹ Năng Chỉ Đạo, Điều Hành Cho Công Chức Lãnh Đạo
  • Bài Tập Tình Huống Môn Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Lịch Sử Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 5 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Tác Hại Của Whey Protein
  • Tổ Chức Là Gì? Ví Dụ Về Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Các Định Chế Tài Chính Trung Gian
  • Vai Trò Của Trung Gian Tài Chính
  • Bài 2: Vai Trò Của Các Tổ Chức Tài Chính Trung Gian
  • Bài Giảng Chương 5: Chức Năng Tổ Chức (Tiết 1)
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Ban Tổ Chức
  • Tổ chức là gì? Khái niệm chi tiết

    Khái niệm chung:

    Tổ chức là việc sắp xếp, bố trí các công việc theo vị trí và giao quyền hạn. Sau đó phân phối các nguồn lực của tổ chức đó sao cho chúng góp phần một cách tích cực và có hiệu quả vào những mục tiêu chung của doanh nghiệp.

    Có rất nhiều định nghĩa về tổ chức, tùy vào mỗi ngành nghề mà có một định nghĩa khác nhau. Ở đây mình sẽ liệt kê một vài khái niệm cho các bạn nào cần. Chủ yếu tất cả đều đúng nhưng chỉ áp dụng cho từng lĩnh vực chuyên môn riêng.

    Ngành triết học:

    Theo triết học thì tổ chức chính là cơ cấu tồn tại của sự vật. Mọi sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định của các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy chính là thuộc tính của bản thân các sự vật”

    Ví dụ tổ chức theo triết học:

    Thái dương hệ, trái đất, giới sinh vật, thế giới con người chính là những tổ chức.

    Ngành nhân loại học

    Nhân loại học thì khẳng định từ khi con người xuất hiện trên trái đất thì tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện. Và tổ chức ấy không ngừng được hoàn thiện và phát triển cùng với nhân loại. Từ đó có thể thấy tổ chức là một tập thể của con người được tập hợp nhau lại để cùng thực hiện một nhiệm vụ chung nào đó. Như vậy có thể nhận định, tổ chức là một tập thể và có mục tiêu, nhiệm vụ chung được xác định trước.

    Ví dụ tổ chức theo nhân loại học:

    Trường học là một tổ chức với mục đích cung cấp kiến thức cho người đi học.

    Các nội dung của tổ chức

    Tổ chức gồm hai nội dung cơ bản là tổ chức cơ cấu và tổ chức quá trình. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về 2 khái niệm này.

    Tổ chức cơ cấu gồm: tổ chức cơ cấu quản lý ( chủ thể quản lý). Tổ chức cơ cấu sản xuất- kinh doanh( đối tượng bị quản lý)

    Tổ chức quá trình: tổ chức quá trình quản trị và tổ chức quá trình sản xuất- kinh doanh.

    Tổ chức cơ cấu bộ máy là gì?

    Tổ chức về cơ cấu bộ máy là việc phân chia hệ thống quản lý thành các bộ phận và được xác định các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Có nghĩa là xác định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của các bộ phận nằm trong bộ máy được lựa chọn và bố trí cán bộ vào các cương vị phụ trách các bộ phận đó.

    • Xác định những hoạt động cần thiết để đạt được những mục tiêu chung đề ra của tổ chức đó.
    • Các bộ phận này được nhóm gộp lại thành các phòng ban và các bộ phận.
    • Các hoạt động được giao quyền hạn và trách nhiệm để thực hiện.
    • Các mối quan hệ được thực hiện theo chiều ngang và chiều dọc bên trong tổ chức.

    Những đặc điểm chung của tổ chức.

    • Kết hợp với các nỗ lực của các thành viên: khi các cá nhân cùng tham gia và cùng phối hợp những nỗ lực vật chất hay trí tuệ thì mọi việc có phức tạp hoặc khó khăn cũng sẽ hoàn thành rất tốt. Ví dụ như việc chinh phục mặt trăng, xây kim tự tháp… là những việc to lớn và vượt xa khả năng của các cá nhân.
    • Có mục đích chung: Sự kết hợp thì không thể thiếu được sự nỗ lực nếu người tham gia không cùng nhau nhất trí cho những quyền lợi chung. Đó chính là một tiêu điểm chung để cùng tập hợp.
    • Phân công lao động: Là sự phân chia các hệ thống các nhiệm vụ phức tạp thành cụ thể và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả. Phân công lao động tạo điều kiện cho các thành viên trở thành tài giỏi hơn và chuyên một công việc cụ thể.
    • Hệ thống thứ bậc quyền lực: quyền lực là quyền ra quyết định và điều khiển hành động của người khác. Nếu không có thứ bậc rõ ràng thì sự phối hợp công việc sẽ rất khó khăn. Một trong những biểu hiện đó chính là mệnh lệnh và phục tùng.
    • Môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh
    • Mục đích, chức năng hoạt động doanh nghiệp
    • Các yếu tố kĩ thuật và công nghệ sản xuất.
    • Trình độ quản lý, nhân viên và trang thiết bị quản lý.
    • Các yếu tố khác: quy định của pháp luật, phạm vi hoạt động, thị trường của doanh nghiệp đó.

    Video về tổng hợp kiến thức về tổ chức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Dân Phố Là Gì? Những Vấn Đề Cơ Bản Liên Quan Tới Tổ Dân Phố
  • Quy Định Về Tổ Dân Phố Và Quy Trình Bầu Cử Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Trưởng Thôn, Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Tổ Dân Phố Là Gì? Tìm Hiểu Về Cách Tổ Chức Của Tổ Dân Phố
  • Tái Cấp Vốn Là Gì? Hoạt Động Tái Cấp Vốn Ngắn Hạn Của Ngân Hàng Nhà Nước?
  • Thị Trường Là Gì? Các Chức Năng Của Thị Trường? Nêu Một Ví Dụ Về Bản Thân Em Vận Dụng Chức Năng Của Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chức Năng Của Thị Trường
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Thị Trường Đối Với Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Thị Trường (Market) Là Gì? Chức Năng Của Thị Trường
  • Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hoá
  • Chức Năng Tổ Chức Trong Quản Trị Học, Quy Tắc Xây Dựng Tổ Chức?
  • Câu 1

    Thị trường là gì?

    – Thị trường (trong kinh tế học và kinh doanh) là nơi người mua và người bán (hay người có nhu cầu và người cung cấp) tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ.

    Khái Quát Cụ Thể:

    + Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ. Thực chất, Thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó.

    Theo marketing, thị trường bao gồm tất cả khách hàng hiện có và tiềm năng có cùng một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, có khả năng và sẵn sàng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hoặc mong muốn đó.

    + Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi.

    + Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó. Với nghĩa này, có thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán, thị trường vốn, v.v… Cũng có một nghĩa hẹp khác của thị trường là một nơi nhất định nào đó, tại đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ. Với nghĩa này, có thị trường Hà Nội, thị trường miền Trung.

    + Trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hóa – dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị trường tiền tệ.

    Chức năng của thị trường:

    Chức năng thực hiện:

    Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trường. Thực hiện hoạt động này là cơ sở quan trọng có tính chất quyết định đối với việc thực hiện các quan hệ và hoạt động khác.

    Thị trường thực hiện : hành vi trao đổi hàng hoá ; thực hiện tổng số cung và cầu trên thị trường ; thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ hàng hoá ; thực hiện giá trị ( thông qua giá cả ); thực hiện việc trao đổi giá trị …Thông qua chức năng của mình. Giá trị trao đổi là cơ sở vô cùng quan trọng để hình thành nên cơ cấu sản phẩm, các quan hệ tỷ lệ về kinh tế trên thị trường.

    Chức năng thừa nhận:

    Hàng hoá được sản xuất ra, người sản xuất phải bán nó. Việc bán hàng được thực hiện thông qua chức năng thừa nhận của thị trường. Thị trường thừa nhận chính là người mua chấp nhận thì cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình tái sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành. Bởi vì bản thân việc tiêu dùng sản phẩm và các chi phí tiêu dùng cũng đã khẳng định trên thị trường khi hàng hoá được bán.

    Thị trường thừa nhận : tổng khối lượng hàng hoá ( tổng giá trị sử dụng ) đưa ra thị trường ; cơ cấu của cung và cầu, quan hệ cung cầu với từng hàng hoá ; thừa nhận giá thị sử dụng và giá cả hàng hoá, chuyển giá trị sử dụng và giá trị cá biệt thành giá trị sử dụng và giá trị xã hội ; thừa nhận các hoạt động mua và bán vv…Thị trường không phải chỉ thừa nhận thụ động các kết quả của quá trình tái sản xuất , quá trình mua bán mà thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường mà thị trường còn kiểm tra, kiểm nghiệm quá trình tái sản xuất quá trình mua bán đó.

    Chức năng điều tiết, kích thích:

    Nhu cầu thị trường là mục đích của quá trình sản xuất . Thị trường là tập hợp các hoạt động của các quy luật kinh tế cả thị trường. Do đó, thị trường vừa là mục tiêu vừa tạo động lực để thực hiện các mục tiêu đó. Đó là cơ sở quan trọng để chức năng điều tiết và kích thích của thị trường phát huy vai trò của mình.

    Chức năng điều tiết và kích thích thể hiện ở chỗ:

    Thông qua nhu cầu thị trường, người sản xuất chủ động di chuyển tư liệu sản xuất, vốn và lao động từ ngành này qua ngành khác từ sản phẩm này sang sản phẩm khác để có lợi nhuận cao.

    Thông qua các hoạt động của các quy luật kinh tế của thị trường, người sản xuất có lợi thế trong cạnh tranh sẽ tận dụng khả năng của mình để phát triển sản xuất ngược lại những người sản xuất chưa tạo ra được lợi thế trên thị trường cũng phải vươn lên để thoát khỏi nguy cơ phá sản. Đó là những động lực mà thị trường tạo ra đối với sản xuất.

    Thông qua sự hoạt dộng của các quy luật kinh tế trên thị trường người tiêu dùng buộc phải cân nhắc, tính toán quá trình tiêu dùng của mình. Do đó thị trường có vai trò to lớn đối với việc hướng dẫn tiêu dùng.

    Trong quá trình tái sản xuất, không phải người sản xuất, lưu thông… chỉ ra cách chi phí như thế nào cũng được xã hội thừa nhận. Thị trường chỉ thừa nhận ở mức thấp hơn hoặc bằng mức xã hội cần thiết ( trung bình). Do đó thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với kích thích tiết kiệm chi phí, tiết kiệm lao động.

    Chức năng thông tin:

    Trong tất cả các khâu ( các giai đoạn ) của quá trình tái sản xuất hàng hoá, chỉ có thị trường mới có chức năng thông tin.Trên thị trường có nhiều mối quan hệ : kinh tế, chíng trị, xã hội chúng tôi thông tin kinh tế là quan trọng nhất.

    Thị trường thông tin về : tổng số cung và tổng số cầu ; cơ cấu của cung và cầu ; quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hoá ; giá cả thị trường ; các yếu tố ảnh hưởng tới thị trường, đến mua và bán, chất lượng sản phẩm, hướng vận động của hàng hoá; các điều kiện dịch vụ cho mua và bán hàng hoá, các quan hệ tỷ lệ về sản phẩm vv…

    Thông tin thị trường có vai trò quan trọng đối với quản lý kinh tế .Trong quản lý kinh tế, một trong những nội dung quan trọng nhất là ra quyết định .Ra quyết định cần có thông tin.Các dữ liệu thông tin quan trọng nhất là thông tin từ thị trường. Bởi vì các dữ kiện đó khách quan , được xã hội thừa nhận.

    Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mỗi hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng này. Vì là những tác dụng vốn có bắt nguồn tư bản chất thị trường, do đó không nên đặt vấn đề chức năng nào quan trọng nhất hoặc chức năng nào quan trọng hơn chức năng nào. Song cũng cần thấy rằng chỉ khi chức năng thừa nhận được thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng.

    Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh là sự hiểu biết cặn kẽ tính chất của thị trường. Nhận biết được đặc điểm và sự hoạt động của từng loại thị trường, các yếu tố tham gia vào hoạt động của thị trường, từ đó thấy rõ đặc điểm hình thành và vận động của giá cả thị trường do đó cần phải nghiên cứu, phân loại các hình thái thị trường.

    Câu 2

    Quy luật giá trị là gì?

    – Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị.

    – Yêu cầu của quy luật giá trị:

    + Theo quy luật này, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là cần tiết kiệm lao động (cả lao động quá khứ và lao động sống) nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị của nó phải nhỏ hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, tức là giá cả thị trường của hàng hóa

    + Trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải đảm bảo bù đắp được chi phí chí người sản xuất (tất nhiên chi phí đó phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ không phải bất kỳ chi phí cá biệt nào) và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng.

    – Sự tác động, hay biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị được thể hiện thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá. Vì giá trị là cơ sở của giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị.

    Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như: cạnh tranh, cung – cầu, sức mua của đồng tiền. Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó. Sự vận động giá cả thị trường của hàng hoá xoay quanh trục giá trị của nó hình là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng.

    Tác động của quy luật giá trị:

    – Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Tác lộng này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung – cầu.

    * Nếu cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả lớn hơn giá trị, nghĩa là hàng hóa sản xuất ra có lãi, bán chạy. Giá cả cao hơn giá trị sẽ kích thích mở rộng và đẩy mạnh sản xuất để tăng cung; ngược lại cầu giảm vì giá tăng.

    * Nếu cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra quá nhiều so với nhu cầu, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hóa khó bán, sản xuất không có lãi. Thực tế đó, tự người sản xuất ra quyết định ngừng hoặc giảm sản xuất; ngược lại, giá giảm sẽ kích thích tăng cầu, tự nó là nhân tố làm cho cung tăng.

    * Cung cầu tạm thời cân bằng; giá cả trùng hợp với giá trị. Bề mặt nền kinh tế người ta thường gọi là “bão hòa”.

    Tuy nhiên nền kinh tế luôn luôn vận động, do đó quan hệ giá cả và cung cầu cũng thường xuyên biến động liên tục.

    Như vậy, sự tác động trên của quy luật giá trị đã dẫn đến sự di chuyển sức lao động và tư liệu sản xuất giữa các ngành sản xuất khác nhau. Đây là vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị.

    + Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua diễn biến giá cả trên thị trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hoá thông suốt.

    Như vậy, sự biến động của giả cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá.

    – Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.

    Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi người khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá ở thế có lợi sẽ thu được lãi cao. Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành lợi thế trong cạnh tranh, và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.

    – Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hàng hoá thành người giàu, người nghèo.

    Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó.

    Câu 4

    Cung, cầu là gì?

    – Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán, là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất định. Quy mô của cầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, sức mua của đồng tiền, thị hiếu người tiêu dùng… trong đó giá cả là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

    – Cung là tổng số hàng hóa ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho thị trường, là số hàng hóa, dịch vụ mà người bán muốn bán và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất định. Quy mô cung thuộc vào các yếu tố như lượng, chất lượng các yếu tố sản xuất… trong đó, cũng như cầu, giá cả có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

    Mối quan hệ cung cầu:

    Cung và cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường. Cầu xác định khối lượng, cơ cấu của cung về hàng hóa: Hàng hóa nào có cầu thì mới được cung ứng sản xuất, hàng hóa nào tiêu thụ được nhiều (cầu lớn) thì sẽ được cung ứng nhiều và ngược lại. Đối với cung thì cung cũng tác động, kích thích cầu: Những hàng hóa được sản xuất phù hợp với nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng sẽ được ưa thích, bán chạy hơn, làm cho cầu của chúng tăng lên.

    Không chỉ ảnh hưởng lẫn nhau, cung – cầu còn ảnh hưởng tới giá cả. Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị. Còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị. Giá cả cũng tác động tới cung và cầu, điều tiết làm cung, cầu trở về xu hướng cân bằng lẫn nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Thuê Báo Cáo Thực Tập, Luận Văn Tài Chính
  • Cách Tán Gái Hiệu Quả Bằng Chức Năng Tìm Quanh Đây Trên Zalo
  • Cách Tìm Bạn Quanh Đây Trên Zalo 2022, Tính Năng Tìm Quanh Đây
  • Cách Kích Hoạt Chức Năng “tìm Quanh Đây” Bị Ẩn Trên Zalo
  • Chức Năng Thận Và Xét Nghiệm Để Kiểm Tra Chức Năng Thận
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Của Nhà Nước Đương Đại
  • #1 Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nội Dung Của Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay
  • Các Yếu Tố Tác Động Đến Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Chức Năng Tuyệt Vời Của Cổng Usb Otg Trên Android
  • Cáp Chuyển Đổi Công Nghệ Otg Dùng Cho Điện Thoại Android Hỗ Trợ Sạc Và Chức Năng Truyền Dữ Liệu Cùng Một Lúc (Xtm
  • Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ chủ yếu để thiết lập và tổ chức thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bản chất, nội dung của chủ nghĩa xã hội quyết định các chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong mỗi giai đoạn cách mạng cụ thể.

    Nội dung, nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa rất rộng và phức tạp, do đó những chức năng của nhà nước cũng rất phong phú và đa dạng. Chức năng nhà nước là một khái nhiệm quản lý, trong đó nội dung, mục đích của quản lý nhà nước được biểu hiện một cách cụ thể. Vì vậy có thể nói, các chức năng của nhà nước là những “con kênh” thông qua đó hoạt động quản lý của nhà nước được thực hiện. Mặc dù mỗi chức năng nhà nước đều có đối tượng tác động riêng, nhưng các chức năng đều có mối liên hệ qua lại mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, không thể tách rời nhau. Tất cả các chức năng nhà nước hợp thành một hệ thống thống nhất thể hiện bản chất và những nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, văn hóa … Để thực hiện các chức năng đó, một hệ thống các cơ quan nhà nước tương ứng được thành lập. Vì các chức năng nhà nước thống nhất với nhau, cho nên các cơ quan nhà nước trong khi thực hiện các chức năng đó cũng có sự quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau, tạo thành hệ thống các cơ quan nhà nước thống nhất và đồng bộ.

    Ví dụ: Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã xác định hai nhiệm vụ chiến lược ở nước ta là “xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đó là những nhiệm vụ bao trùm và được cụ thể hóa thành nội dung các chức năng của nhà nước ta.

    Cũng cần phân biệt chức năng của nhà nước nói chung với chức năng của các cơ quan nhà nước. Chức năng nhà nước tồn tại một cách khách quan, phản ánh bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là những mặt hoạt động rộng lớn có tính chất định hướng lâu dài. Một chức năng chung của nhà nước có thể do nhiều loại cơ quan nhà nước với các chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau thực hiện. Chức năng của các cơ quan nhà nước bao giờ cũng phụ thuộc vào chức năng của nhà nước nói chung. Việc thực hiện chức năng của các cơ quan nhà nước suy cho cùng là nhằm để thực hiện chức năng của nhà nước nói chung.

    Về nguyên tắc, các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều có những chức năng giống nhau. Nhưng do mỗi nước có những đặc điểm và hoàn cảnh không hoàn toàn giống nhau cho nên trong mỗi nước các chức năng của nhà nước cũng có những đặc điểm khác nhau về mức độ, phạm vi, tầm quan trọng và phương pháp tổ chức thực hiện.

    Trong quá trình phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa, phụ thuộc vào tình hình thực tiễn của cách mạng mỗi nước, các chức năng của nhà nước sẽ có những thay đổi nhất định và có thể xuất hiện những chức năng mới

    Thứ nhất, Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế

    Đây là chức năng cơ bản đặc thù của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong chủ nghĩa xã hội, nhà nước không những là tổ chức của quyền lực chính trị, mà còn là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu; trực tiếp tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước. Việc tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, nhằm cải tạo và xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (và quan hệ sản xuất bóc lột nói chung) được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột người lao động, để xác lập củng cố và phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, thỏa mãn nhu cầu của người lao động.

    Tổ chức và quản lý kinh tế là chức năng có tầm quan trọng đặc biệt, nhưng rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn các vấn đề có tính quy luật của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ. Đồng thời phải có những chính sách, phương pháp và biện pháp tác động phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nội dung của chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần giải quyết, trong đó công tác kế hoạch hóa, xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý kinh tế là những vấn đề then chốt.

    Tổ chức và quản lý kình tế là chức năng cơ bản của bất kỳ nhà nước xã hội chủ nghĩa nào. Nhưng do đặc điểm và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước không giống nhau, vì vậy việc thực hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế trong mỗi nước cũng có những đặc điểm riêng. Ở Việt Nam trong hơn năm mươi năm qua việc thực hiện chức năng này đã được quan tâm đáng kể và đã thu được nhiều kết quả. Sau ngày miền Nam giải phóng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề tổ chức và quản lý kinh tế của nước ta đã trở thành vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và luôn luôn mang tính thời sự nóng bỏng. Kết quả thực hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước tác động một cách trực tiếp tới tất cả các mặt của đời sống xã hội.

    Trên cơ sở phân tích tình hình cụ thể của nước ta trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, tổng kết việc tổ chức và quản lý kinh tế trong thời gian qua, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tả là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”. Tư tưởng chỉ đạo đó thể hiện trong các chính sách và biện pháp lớn chỉ đạo nội dung của chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước ta đó là:

    • Phải sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định.
    • Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế. .Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ cộng hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa làm cho nó thực sự mang bản chất xã hội chủ nghĩa, phù hợp với mỗi bước phát triển của lực lượng sản xuất.
    • Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng bảo đảm tính kế hoạch trong quản lý kinh tế quốc dân, sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa tiền tệ; Sử đụng kết hợp nhiều phương pháp quản lý trong đó các phương pháp kinh tế là chủ yếu để tạo ra một cơ chế mới về quản lý kính tế “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” …
    • Phát huy mạnh mẽ động lực khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước …
    • Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Đại hội Đảng lần thứ VII đã thông qua “chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000” trong đó đã cụ thể hóa tư tưởng và những phương hướng nói trên, nhấn mạnh phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng: “Tiếp tục xóa bỏ cơ chế tập trung quan liên bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Thiết lập trật tự, kỷ cương theo cơ chế mới vừa là nội dung vừa là điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế xã hội.

    Việc thiết lập trật tự, kỷ cương của cơ chế đó bao gồm những vấn đề lớn là

    -Phải hình thành một thị trường hoàn chỉnh bao gồm cả sức lao động, vốn và tiền tệ… thông suốt trong cả nước và với thị trường thế giới; giá cả, tỷ giá hối đoái, lãi xuất tín dụng hình thành theo cơ chế thị trường; tạo môi trường và điều kiện cho sự cạnh tranh hợp pháp và sự hợp tác, liên doanh, tự nguyện, bình đẳng giữa các đơn vị trực thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong nước và vốn nước ngoài; cả nước chấp hành luật kinh doanh thống nhất; nâng cao khả năng tiếp thị (marketing) của các doanh nghiệp.Bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhà nước với chức năng quản lý vĩ mô tập trung thực hiện các vấn đề: Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế xã hội, duy trì trật tự pháp luật, xây dựng cơ sở hạ tầng … Dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển; hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia.

    -Đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của nhà nước bao gồm: Đổi mới việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội theo cơ chế thị trường; tăng cường kế hoạch hóa vĩ mô, chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang kế hoạch hóa định hướng; xây dựng hệ thống kế toán, thống kê và thông tin kinh tế đáp ứng nhu cầu kịp thời, chính xác, đầy đủ, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và từng bước hiện đại hóa; đổi mới căn bản hệ thống tài chính – tiền tệ.

    -Thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh, bảo đảm cho xí nghiệp thực hiện đẩy đủ các quyền; chủ động tổ chức sản xuất kinh doanh; Tự chủ về tài chính; tuyển chọn, sắp xếp lao động, trả lương và cho thôi việc theo luật lao động; giao dịch với khách hành trong và ngoài nước; lựa chọn các hình thức liên kết, liên doanh…

    Đồng thời với việc đổi mới cơ chế quản lý cần thực hiện các chính sách và giải pháp về vốn, về dân số và việc làm, về thu nhập, bảo hiểm xã hội …

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện đường lối đổi mới đã khẳng định một số nhận thức mới về cơ chế quản lý mới, đồng thời chỉ rõ: “Từ nay đến năm 2000, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trong quan liêu bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Theo đó, trong thời gian tới nhà nước ta phải

    -Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường. Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh

    -Tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hóa. Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ giá cả.

    -Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước.

    Thứ hai, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị lật đô và âm mưu phản cách mạng khác:

    Đây là một chức năng hết sức quan trọng, nhất là trong giai đoạn đầu sau khi cách mạng thành công.Mặc dù sau cách mạng các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ, chính quyền đã về tay của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhưng do bản chất phản động và trên thực tế giai cấp bóc lột đã bị lật đổ vẫn còn giữ được trong một thời gian nhất định một số ưu thế như điều kiện sinh hoạt giàu có, học vấn, kính nghiệm quản lý và nghệ thuật quân sự. Vì vậy chúng luôn tìm mọi cách để “phản kháng lại một cách lâu dài, dai dẳng và liều mạng”. V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ lịch sử lâu dài trong đó cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt. Chừng nào mà thời kỳ đó chưa chấm dứt thì bọn bóc lột vẫn còn nuôi hy vọng phục hồi địa vị thống trị của mình và những hy vọng này sẽ biến thành mưu đồ phục hồi. Giai cấp bóc lột có thể sẵn sàng “lao mình vào cuộc chiến với một nghị lực tăng gấp mười lần, với một sự cuồng nhiệt và lòng hận thù tăng gấp tỉ am lần để chiếm lại cái thiên đường đã mất”. Mặt khác các thế lực đế quốc và phản động quốc tế luôn tìm mọi cách để tấn công và làm suy yếu chủ nghĩa xã hội, nuôi dưỡng và khuyến khích bọn phản cách mạng tiến hành các âm mưu phá hoại và bạo loạn gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực hiện tốt chức năng trấn áp mọi sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và mọi âm mưu phá hoại của bọn phản cách mạng để giữ vững chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc thực hiện chức năng này phải được tiến hành một cách kiên quyết, không khoan nhượng, mơ hồ.

    Để thực hiện chức năng này nhà nước xã hội chủ nghĩa phải không ngừng tăng cường sức mạnh về mọi mặt, phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Nước ta, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến nay, đã là một thực tiễn sinh động để chứng minh nguyên lý nói trên. Các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ vẫn có sự phản kháng quyết liệt và dai dẳng. Bọn phản động được sự giúp đỡ của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế đã không từ bỏ một thủ đoạn nào để phá hoại, mong muốn làm suy yếu chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước và nhân dân ta đã kịp thời đập tan mọi âm mưu phá hoại và mọi sự phản kháng của bọn phản cách mạng giữ vững chính quyền, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố, vai trò làm chủ tập thể của nhân dân lao động ngày càng được phát huy.

    Tuy vậy, cho đến nay chúng vẫn chưa từ bỏ mọi mưu đồ đen tối và phản động của chúng. Vì vậy, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã nhấn mạnh: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân dân, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới”.

    Thực hiện tết chức năng trấn áp sẽ tạo điều kiện hòa bình, ổn định cho việc thực hiện các chức năng khác của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, kết quả thực hiện các chức năng khác sẽ có tác động tích cực đến việc thực hiện chức năng trấn áp.

    Thứ ba, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghe

    Xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoả học và công nghệ là một trong những chức năng quan trọng, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước trên ba lĩnh vực nhằm:

    Nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân, xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Bồi dưỡng nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước.

    Khuyến khích sự phát triển của khoa học, công nghệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học, kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, phần lớn các cơ sở văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật đều là sở hữu toàn dân. Vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa không những đề ra và cần phải tổ chức thực hiện chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục và khoa học, mà còn có đủ điều kiện để thực hiện tốt chức năng đó.

    Thứ tư, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ có nội dung rất rộng với những nhiệm vụ hết sức phong phú và phức tạp, thể hiện trên các mặt với những vấn đề cơ bản là:

    – Về văn hóa: Nhiệm vụ trung tâm đặt ra là xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới, con người mới, thiết lập trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà nước và xã hội; đấu tranh chống những tư tưởng, văn hóa lạc hậu và thù địch. Để thực hiện tết nhiệm vụ đó, phải tiến hành cuộc cách mạng về văn hóa. Cuộc cách mạng văn hóa tiến hành trong mỗi nước cũng có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của nước đó. Ơ nước ta cách mạng về tư tưởng văn hóa được xác định là một trong ba cuộc cách mạng phải tiến hành đồng thời và có quan hệ mật thiết với nhau đó là: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng văn hóa.

    Để thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng văn hóa cần phải giải quyết tết những vấn đề cơ bản sau đây:

    • Chọn lọc, giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và từng dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa, khoa học của nhân loại để xây dựng nền văn hóa hiện đại mang bản sắc Việt Nam.
    • Dùng nhiều hình thức và phương tiện, trong đó chú trọng sử dụng và phát huy vai trò của pháp luật để giáo dục, nâng cao trình độ văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng của nhân dân, trau dồi đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn và thẩm mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của nhân dân; ngăn chặn các văn hóa phẩm và hoạt động văn hóa nghệ thuật độc hại. Hình thành nếp sống và làm việc theo pháp luật, tôn trọng đạo đức bảo vệ nhân phẩm con người, chống những tư tưởng lạc hậu, lối sống thấp hèn, suy đồi đạo đức.
    • Khuyến khích tự do sáng tạo các giá trị văn hóa, vun đắp tài năng. Giữ gìn và nâng cao các giá trị văn hóa truyền thống, tôn tạo và bảo vệ các di tích văn hóa, lịch sử. Nhà nước cần có những đầu tư thỏa đáng và có cơ chế quản lý bằng pháp luật, các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Tuy nhiên, cần tránh khuynh hướng hành chính hóa các đơn vị hoạt động văn hóa nghệ thuật, cũng như thương mại hóa đơn thuần trong lĩnh vực này. Tăng cường, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng thông tin đại chúng để thỏa mãn nhu cầu về thông tin và nâng cao sự hiểu biết của nhân dân.

    Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà nước phải có chính sách phù hợp về giáo dục và đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực dồi dào, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài; phải xây dựng được đội ngũ trí thức mạnh, những nhà kinh doanh, người quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề cho trước mắt và lâu dài.

    Đại hội Đảng lần thứ VIII trên cơ sở đánh giá về công tác giáo dục và đạo tạo những năm qua, căn cứ vào tình hình thực tiễn hiện nay, dự báo sự phát triển tiếp theo đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đồng thời Đại hội cũng đã xác định những nội dung cơ bản mà Nhà nước cần tiến hành trong những năm tới là: Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo.

    – Về khoa học và công nghệ

    Khoa học và công nghệ đóng vai trò then chết trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. khoa học và công nghệ còn là động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn tới trình độ tiên tiến của thế giới. Vì vậy, nhà nước cần đặc biệt quan tâm, có chính sách đúng đắn và quản lý có hiệu quả bảo đảm cho sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.

    Tại đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định rõ vai trò của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, đồng thời đề ra những phương hướng và biện pháp lớn để thúc đẩy sự phát triển của khoa học trong những năm tới, cụ thể là:

    Khoa học xã hội phải góp phần xứng đáng trong việc đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xây dựng lập trường, quan điểm, ý thức và nhân cách đúng đắn, khắc phục những tư tưởng sai lầm. Phải nhanh chóng khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy; phát triển nhanh các ngành kinh tế học, xã hội học, luật học … Đặc biệt là khoa học quản lý nhà nước và quản lý kinh tế. Nhiệm vụ chủ yếu của khoa học xã hội trong những năm tới là nghiên cứu vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết MÁC-LÊNIN, tư tưởng HỒ CHÍ MINH, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của khoa học thế giới để triển khai thực hiện thắng lợi những phương hướng mới do đại hội Đảng lần thứ VIII đề ra.

    Đối với khoa học tự nhiên và công nghệ cần đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên và công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng – an ninh. Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy để có thể đi nhanh vào hiện đại ơ những khâu quyết định.

    Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp đúng đắn để xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học, trong đó phải chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu đàn. Kiện toàn hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ, sắp xếp và bố trí cán bộ khoa học và công nghệ một cách hợp lý theo hướng gắn khoa học và công nghệ với giáo dục đào tạo, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn.

    Để phát triển khoa học và công nghệ, nhà nước cũng phải tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, kỹ thuật; xây dựng và thực hiện tết hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho phát triển khoa học và công nghệ, trong đó cần chú trọng tới chính sách ưu đãi nhân tài, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tạo lập thị trường cho các hoạt động khoa học và công nghệ. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ…

    Thứ năm, chức năng bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ

    Đây là chức năng có ý nghĩa quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thiết lập, củng cố và điều chỉnh hệ thống các quan hệ xã hội bảo đảm sự phát triển đúng hướng, phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động.

    Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, việc bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa không những chỉ đề ra pháp luật quy định quyền và lợi ích của công dân, mà còn tạo những điều kiện và có những biện pháp để bảo đảm cho các quyền lợi đó được thực hiện. Muốn thực hiện tết chức năng này nhà nước cần phải có những biện pháp đồng bộ về xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời phải giáo dục để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

    3. Các chức năng đối ngoại

    Thứ nhất, chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

    Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính quy luật trong suốt thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản trên phạm ví toàn thế giới. Điều đó xuất phát từ sự còn tồn tại trong một thời gian dài những lực lượng chống đối chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa đế quốc với bản chất xâm lược và phản động, luôn ngoan cố bám giữ những mục tiêu của chúng. Chúng không từ một âm mưu và thủ đoạn nào từ khiêu khích, phá hoại đến bao vây lật đổ và tiến hành chiến tranh xâm lược, để phản kích các lực lượng cách mạng và hòa bình, chống các nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều phải chú trọng tới chức năng bảo vệ Tổ quốc, coi việc củng cố quốc phòng để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện hòa bình ổn định cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên lâu dài. Nền quốc phòng trong các nước xã hội chủ nghĩa là nền quốc phòng vì mục đích tự vệ, nhưng đòi hỏi phải có đầy đủ sức mạnh và khả năng tác chiến cao để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại và xâm lược của các thế lực đế quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã lần lượt đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ, giành độc lập tự do cho dân tộc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đã đập tan nhiều âm mưu quân sự và chính trì của bọn phản động trong nước và các thế lực phản động quốc tế, tạo điều kiện hòa bình ổn đình cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy, trong thời gian tới nhà nước và nhân dân ta phải tiếp tục nêu cao cảnh giác cách mạng phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước và xã hội, quyết tâm ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu hành động phá hoại và xâm lược của kẻ thù. Trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và quốc tế trong thời đại ngày nay, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ các tư tưởng chỉ đạo đối với việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trong tình hình mới:

    • Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
    • Kết hợp quốc phòng và an ninh với kình tế. Gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại.
    • Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân; quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, tích cực, chủ động, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá ta.
    • Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc; thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng an ninh.
    • Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và công an, đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng và an ninh.

    Đây là chức năng rất quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại. Nội dung của chức năng này bao gồm những điểm cơ bản sau đây:

    -Củng cố và tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết, hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Các nước xã hội chủ nghĩa có cùng bản chất và có nhiều điểm tương đồng như cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng và có cùng mục đích là phát huy quyền lực nhân dân, đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, xây đựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không những tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho mỗi nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn góp phần vào việc tăng cường thế và lực của chủ nghĩa xã hội nói chung.

    Mở rộng quan hệ với các nước có chê độ chính trị khác nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau bình đẳng và cùng có lợi. Đây là mặt hoạt động có ý nghĩa quan trọng, tạo ra môi trường hòa bình và điều kiện quốc tế thuận lợi để mỗi nước đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền của mỗi nước, đồng thời để các nước xã hội chủ nghĩa góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tình hình hiện nay mặt hoạt động đối ngoại này của nhà nước xã hội chủ nghĩa rất sôi động nhưng cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự nhạy bén trong việc xác định tình hình, đề ra chính sách phù hợp và xử lý các vấn đề chính xác để một mặt, giữ vững được đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; mặt khác, củng cố vị trí của nhà nước xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế, tranh thủ được những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước.

    -Mở rộng mối quan hệ và hợp tác với các tổ chức quốc tế. Trong xã hội hiện đại, các tổ chức quốc tế ngày càng phát triển mạnh về số lượng và phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng. Vì vậy, bên cạnh việc tăng cường quan hệ với các nhà nước, nhà nước xã hội chủ nghĩa còn mở rộng quan hệ và tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế. Mặt hoạt động này có những đặc thù riêng, nhưng nhìn chung nó vẫn dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    -Ủng hộ và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh của nhân dân thê giới vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Xuất phát từ bản chất của mình và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn tham gia và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Có thể nói đây là vấn đề có tính quy luật và việc thực hiện tết mặt hoạt động đối ngoại này là trách nhiệm của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng HỒ CHÍ MINH, trên cơ sở tổng kết tình hình trong nước và quốc tế trong thời gian vừa qua và nhận định về xu hướng phát triển của thế giới trong thời đại ngày nay, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã vạch ra chính sách đối ngoại của nhà nước ta trong thời gian tới là:

    -Tiếp tục đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Thực hiện chính sách hợp tác nhiều mặt với các nước, các tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

    -Tăng cường quan hệ với các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố mối quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và trung tâm kinh tế – chính trị trên thế giới, đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết với các nước đang phát triển, với phong trào không liên kết.

    -Tăng cường hoạt động ơ Liên hợp quốc, tích cực tham gia các tổ chức tài chính, thương mại và các diễn đàn quốc tế.

    -Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền khác.

    -Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân và quan hệ với các tổ chức phi chính phủ.

    Tổ bộ môn Luật Dân sự – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    Liên kết đào tạo và hợp tác việc làm giữa Trường Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest là hoạt động cần thiết để giải quyết thực trạng chênh lệch giữa nhu cầu của doanh nghiệp và sự đáp ứng của nhà trường. Hướng đến mục tiêu đào tạo 100% sinh viên có việc làm sau khi trường, Trường Đại học Hòa Bình triển khai liên kết chặt chẽ với Công ty Luật TNHH Everest trong công tác đào tạo sinh viên và tạo điều kiện việc làm cho sinh viên mới ra trường. Để được tư vấn pháp luật, Quý khách vui lòng gọi tới tổng đài 19006198.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Của Nhà Nước? Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Là Gì?
  • Các Công Cụ Hữu Ích Trong Quá Trình Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • Quản Lí Về Đất Đai Nhà Nước
  • Nội Dung Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100