Top 1 # Ví Dụ Về Chức Năng Của Dư Luận Xã Hội Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Về Bản Chất Của Dư Luận Xã Hội

Dư luận xã hội (DLXH) là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội. Bản chất ý kiến của con người được nghiên cứu từ thời cổ đại. “Quan điểm triết học của Parmenid, Empedocl, Democrit đã đối lập khái niệm “ý kiến” và “tri thức”. Các học giả này coi ý kiến là tri thức giả, là cái gì đó không rõ ràng, không bền vững, đối lập với “sự thật hợp lý”. Nhưng ngay sau Platon và Aristot, một quan điểm khác được đề xuất: ý kiến là cái gì đó ở giữa tri thức và niềm tin. Nó dường như là khâu liên kết giữa cảm xúc thực và chân lý” 1.

Cuộc đấu tranh của hai khuynh hướng này vẫn tiếp tục ngay cả khi trong lĩnh vực nghiên cứu triết học có hiện tượng được gọi là DLXH. Trong quan điểm của các đại diện triết học cổ điển Đức, chẳng hạn, ở công trình Triết học pháp quyền, Hêghen đã đưa ra một quan niệm tương đối mở rộng của DLXH bao gồm định nghĩa, con đường hình thành và các đặc điểm của nó.

Hêghen xem xét DLXH trong mối tương quan với việc phân tích thể chế nhà nước, nơi ông tách bạch lập pháp và hành pháp. Vai trò cơ bản của yếu tố này là ở chỗ, trong đó, ý thức cộng đồng tồn tại như một tổng thể kinh nghiệm các quan điểm và tư tưởng của nhiều người. Tổng thể này ở dạng “ý nghĩ lành mạnh của con người” gắn với sự phản ánh “tình trạng chung của công việc”. Hêghen tách bạch cái hợp nhất có trong tổng thể các ý kiến cá nhân về công việc chung, nói cách khác, về các vấn đề gây nên mối quan tâm chung. Tư tưởng này được thể hiện rõ hơn trong định nghĩa: Tự do chủ quan, hình thức là ở chỗ những cá nhân có và thể hiện ý kiến riêng của mình, suy luận về các công việc chung và đưa ra lời khuyên về các công việc đó, thể hiện trong cái tập hợp được gọi là DLXH.

Cùng với việc đề xuất cơ sở hợp lý của DLXH và sức mạnh của nó, Hêghen lại đối lập ý kiến của dân chúng với thể chế nhà nước, ở đó, người thể hiện quyền lực cao nhất là nhà vua. Hêghen cũng chỉ ra rằng trong DLXH “chân lý và những sai lầm vô tận liên kết với nhau”, nó không phải là “chuẩn mực cho cái mà ta cần trên thực tế”, “quần chúng không thể hiểu được” phương pháp hiểu biết, suy luận các hành vi của mình…” 2.

Hêghen đã giải thích sự mâu thuẫn hiển nhiên trong suy luận của mình. Theo ông, bản chất của DLXH không thể được nhận thức từ sự thể hiện hiện thực của nó. Trong DLXH có cả cái thật và cái giả, nhưng “tìm ra được chân lý trong nó là công việc của một người vĩ đại”. Vì “thực thể chỉ tồn tại từ mình”, và ông đi đến kết luận như sau: DLXH không có trong mình cả quy mô suy tàn lẫn khả năng nâng khía cạnh thực thể từ bên trong mình lên tầm cao của tri thức nhất định… độc lập với nó là điều kiện hình thức đầu tiên để hoàn thành một cái gì đó vĩ đại và đúng đắn cả trong thực tế lẫn trong khoa học. Tuy tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong triết học bởi những đóng góp về phép biện chứng, song Hêghen không vượt qua được tư tưởng bảo thủ bám chặt vào nền quân chủ hùng mạnh.

Những tư tưởng của Hêghen gắn với việc công nhận sức mạnh của trí tuệ tập thể đã được tiếp tục nghiên cứu rộng rãi trong các công trình của những nhà luật học, trước tiên là ở châu Âu giữa thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, mà đại diện là luật gia người Đức Holcendorff, nhà tội phạm học và xã hội học người Pháp Tard, giáo sư luật đại học người Nga Chvostov. Họ đều công nhận “sức mạnh tinh thần” của DLXH, mặc dù trong nhiều điều, họ không thể giải thích được nguồn gốc của nó.

Bản chất của DLXH không thể được khám phá từ chính nó. Để giải quyết vấn đề tương đối riêng của DLXH cần thiết phải khám phá những quy luật chung của xã hội loài người, của các quy luật nhận thức. Trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăng ghen đã khám phá ra những quy luật này, điều đó cho phép mở đầu những nghiên cứu bản chất của DLXH từ những quan điểm thực chất khoa học.

Cụ thể hóa câu hỏi chủ yếu của triết học ứng dụng trong xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nhận thấy rằng: ý thức xã hội chính là sự phản ánh tồn tại xã hội, Mác và Ăngghen cho rằng: chúng ta nâng từ mặt đất lên bầu trời, nghĩa là chúng ta xuất phát không phải từ những gì người ta nói, tưởng tượng, hình dung,… đối với chúng ta, điểm xuất phát là chính những người đang hoạt động và từ quá trình sống thực của họ, chúng ta rút ra cả sự phát triển những phản ánh tư tưởng của quá trình sống đó. Như vậy, người ta đã xác nhận rằng bất cứ sự xuất hiện nào của ý thức xã hội (bao gồm cả DLXH) là “sự bay hơi theo cách của mình” trong quá trình sống vật chất.

Lời giải này cho câu hỏi chính của triết học, như ta biết có hai mặt: ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và tồn tại xã hội xác định ý thức xã hội. Do đó, DLXH có thể được phân tích về mặt nhận thức luận và cả về mặt xã hội học. Cả hai cách đề cập này đã được các nhà xã hội học sử dụng tích cực khi nghiên cứu DLXH và đã đặt nền móng vững chắc để giải quyết nhiệm vụ phức tạp này. Chẳng hạn, khi nghiên cứu khía cạnh nhận thức luận của DLXH, người ta đã nhấn mạnh ít nhất 3 điểm quan trọng của DLXH: 1) phản ánh thực tế, 2) ” đi vào” mỗi dạng ý thức xã hội, và 3) bao gồm cả nhận thức thông thường lẫn nhận thức lý thuyết. Sự tương tác của các hình thức nhận thức xã hội và DLXH phụ thuộc trực tiếp vào các yếu tố xã hội, vào trình độ phát triển của xã hội. Người ta biết rằng DLXH là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội. Ăngghen, trong tác phẩm Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước đã viết : “Chế độ thị tộc lớn lên từ xã hội không biết đến những mâu thuẫn bên trong và chỉ thích nghi với xã hội đó. Chế độ này không có một phương tiện cưỡng bức nào khác ngoài DLXH”.

DLXH phát triển tương đối độc lập với các hình thức ý thức xã hội. Việc nó “đi vào” mỗi dạng ý thức xã hội mang tính lịch sử cụ thể. Điều đó có nghĩa là việc xâm nhập của DLXH vào các dạng ý thức xã hội khác nhau ở giai đoạn phát triển hiện nay là kết quả tác động cả yếu tố xã hội lẫn yếu tố nhận thức.

Cần phải tính đến phương diện xã hội khi giải quyết vấn đề nhận thức luận về quan hệ giữa cái thực và cái giả trong DLXH. Vấn đề không chỉ ở chỗ trong DLXH cái thực và cái giả xen kẽ nhau, mà cả ở chỗ quan hệ giữa chúng như thế nào? khuynh hướng thay đổi của nó, các yếu tố ảnh hưởng đến nó ra sao? Người ta nhận thấy rằng không nên chỉ giới hạn ở việc đối lập nó với ý thức khoa học (chẳng hạn, trong khoa học có thể có những quan điểm, lý thuyết sai trái,…). Sự phê phán đó còn cần phải bao gồm những giải thích căn nguyên của DLXH trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định vì, những điều kiện xã hội có tác động quyết định lên mức độ tương ứng của sự phản ánh thực tế trong DLXH.

Một vấn đề khác hết sức quan trọng là cần phải giải thích DLXH tác động lên hoạt động thực tiễn của con người như thế nào? bằng cách nào? với những đặc điểm nào?

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, các nhà xã hội học đã coi DLXH chủ yếu như một trạng thái của ý thức và do đó đã phân tích nó trong cấu trúc của ý thức xã hội. Cách tiếp cận ấy tìm được sự phản ánh tương ứng trong những định nghĩa của DLXH ở hàng loạt ấn phẩm của thời kỳ này.

Phân tích DLXH trong khuôn khổ cấu trúc ý thức xã hội dứt khoát dẫn đến chủ yếu là nghiên cứu phương pháp và hình thức phản ánh hiện thực trong các tranh luận tập thể của con người. Rõ ràng là hướng này rất có hiệu quả và cần thiết, nhưng nó vẫn chưa đủ khi xuất hiện vấn đề về tác động thực tế của DLXH lên thực tiễn và về năng lực cải tạo thực tiễn.

Mặc dù các nhà xã hội học coi DLXH không phải là cái gì đó thuần túy tinh thần, mà là một cấu tạo tinh thần – thực tế, người ta vẫn rất ít chú ý đến việc khám phá “khía cạnh thực tế”, khía cạnh này thực ra chỉ được nhắc đến xuất phát từ những quan sát thực nghiệm. Tuy nhiên, người ta biết rằng, DLXH luôn luôn và trước hết gắn với việc con người đánh giá một hiện tượng, một quá trình nào đó. DLXH gắn với việc thể hiện lợi ích của các nhóm xã hội lớn. Như vậy, DLXH gắn với các quan hệ xã hội. Điều này là cơ sở để xem xét DLXH không chỉ trong cấu trúc ý thức xã hội mà cả trong cấu trúc quan hệ xã hội. Và khi đó, bản chất của DLXH có thể định nghĩa như là sự tương tác, mối quan hệ của con người trên cơ sở sự thống nhất hoặc sự khác biệt trong đánh giá của họ về những hiện tượng cấp bách của thực tiễn, có ý nghĩa xã hội.

Rõ ràng, sự chuyển DLXH từ trạng thái phản ánh đến trạng thái cải tạo thực tế (từ lời nói đến việc làm) gắn liền với quá trình khách thể hóa nó trong hệ thống các quan hệ xã hội, có cơ sở chuẩn mực vào thời điểm đánh giá.

DLXH không phải là một kiểu hoặc một loại quan hệ xã hội đặc biệt, mà chỉ là một yếu tố, một thời điểm, một mặt của các quan hệ đó. DLXH xuất hiện như một phản ánh quá trình sống vật chất và thông qua ý thức con người và tác động vào hệ thống các quan hệ thượng tầng, tư tưởng trong những điều kiện nhất định. Nội dung của DLXH như một yếu tố, một mặt của các quan hệ thượng tầng, tư tưởng, là sự tác động của con người với mục đích tạo ra sự nhất trí trong đánh giá một hiện tượng, một quá trình xã hội cấp bách và cả thái độ tương ứng với sự đánh giá đó trong hoàn cảnh xã hội cụ thể.

Cơ sở của việc xuất hiện DLXH như một mặt của các quan hệ xã hội trước hết xuất phát từ nhu cầu thể hiện lợi ích xã hội. Trong xã hội học, người ta chia ra những lợi ích gần nhất, lợi ích từng phần, tạm thời và những lợi ích cơ bản, lâu dài. DLXH gắn với cả loại lợi ích thứ nhất lẫn thứ hai. Tuy nhiên, mối liên hệ với loại lợi ích thứ nhất rõ ràng hơn, nhìn thấy được, cảm thấy được. Động thái của DLXH thường xuất hiện trên cơ sở hiện thực hóa những lợi ích cấp bách nhất.

DLXH phản ánh và thể hiện các quan hệ xã hội. Quá trình này có thể chia thành: 1) không hình thức và 2) hình thức. Ở phương diện không hình thức có thể là “những quy tắc không được viết ra”, nhưng phương tiện thứ hai là những cấu trúc hình thức chính thức (cơ quan, tổ chức,…) thể hiện DLXH ở mức độ chính thức.

Thực tế cho thấy DLXH có tiềm năng nhận thức to lớn, nghĩa là có khả năng phản ánh trung thực bản chất của hiện tượng xung quanh. Kinh nghiệm đã được nhiều lần kiểm chứng của quần chúng, thể hiện ở ý kiến tập thể của họ luôn luôn cố định chính xác hiện tượng hay quá trình này hoặc hiện tượng hay quá trình khác của thực tiễn. Chính vì vậy, nghiên cứu DLXH, trong ý nghĩa nhất định, là nghiên cứu hiện thực tồn tại.

Trên cơ sở phản ánh nhận thức, DLXH còn cho thấy khả năng đánh giá thực tế.

Nhờ có DLXH mà một trong những chức năng của ý thức xã hội trở thành hiện thực, cụ thể là chức năng tiền đề, chức năng này xác định cách đánh giá tình hình và xác định sự lựa chọn hành vi của con người. Sự đánh giá trong DLXH không phải là trừu tượng, nó phản ánh quan điểm của các nhóm xã hội khác nhau 3.

Như vậy, tính đặc thù của DLXH là ở chỗ nó không chỉ là sự tồn tại có ý thức, mà còn là sự tồn tại có đánh giá. Dựa trên những lập luận này, có thể xác nhận rằng DLXH là sự thể hiện (trạng thái) của ý thức xã hội trong đó phản ánh trước hết là sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng, các sự kiện đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại. Tính đặc thù của bản chất DLXH thể hiện, như đã nói ở trên, nó không chỉ thuần túy tinh thần mà là một cấu trúc tinh thần – thực tế. Trong DLXH, giống như trong một số hình thức thể hiện của ý thức, có hai mặt của một bản chất, một mặt, DLXH là sự thể hiện ý thức, mặt khác, bản chất xã hội của DLXH thể hiện ở hoạt động thực tế của con người. Điều này phụ thuộc vào đặc trưng của các phương pháp nhận thức (khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và tinh thần – thực tế) để hiểu được thế giới. DLXH rõ ràng là gắn với phương pháp sau cùng.

Hai mặt nói trên trong DLXH được sử dụng trong phân tích thực nghiệm xã hội trên mức độ lời nói và mức độ hành vi. Sự khám phá bản chất DLXH mở ra con đường để nhận thức nội dung của nó. Nội dung này bao gồm tập hợp các yếu tố khác nhau, thường là mâu thuẫn nhau, nói chung là có đặc điểm cảm xúc, hợp lý và ý chí. Cốt lõi trung tâm của DLXH là sự đánh giá xã hội. Sự đánh giá xã hội là sự thể hiện một trong các kiểu quan hệ của chủ thể với khách thể, mối quan hệ thể hiện ở chỗ, chủ thể xác định những tương ứng của khách thể hoặc các tính chất hay các mặt riêng biệt của nó bằng những tiêu chuẩn do chủ thể đặt ra. Sự đánh giá xã hội của các hiện tượng khác nhau có mức độ hợp lý khác nhau. Những sự đánh giá này có thể là tích cực (khuyến khích), tiêu cực (phê phán), trung tính (những đánh giá trong hàng loạt trường hợp có thể là những đánh giá cân bằng). Thông thường, hoạt động đánh giá đi cùng với những cảm xúc (sung sướng, thân thiện, thù địch…). Tuy nhiên, theo thời gian cảm xúc yếu đi và quan hệ với hiện tượng, sự kiện được thể hiện chủ yếu nhờ sự đánh giá lý tính.

Một trong những đặc điểm quan trọng trong sự đánh giá của DLXH là cường độ của nó. Cường độ này cho thấy độ bền vững về sức mạnh của việc thể hiện quan hệ giữa con người với các sự kiện hoặc hiện tượng. Thang cường độ có thể chi tiết khác nhau (phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu), nhưng những nấc giới hạn của nó luôn là đồng tình (hoặc phê phán) hoàn toàn.

Sự đánh giá xã hội thể hiện mối quan hệ ở dạng khuyến khích hay phê phán, ở những mức độ khác nhau đều tạo ra áp lực cho hành động thực tế. Nhà nghiên cứu người Nga Korobeinhicov cho rằng: “Khi có nhu cầu và hoàn cảnh thỏa mãn nhu cầu đó, trong chủ thể xuất hiện một trạng thái đặc thù có thể định nghĩa như sự sẵn sàng, như phương châm thực hiện một hoạt động nào đó để thỏa mãn nhu cầu cấp bách của nó” 4.

DLXH không chỉ là suy luận của con người về các sự kiện, các hiện tượng xã hội tạo nên mối quan tâm chung có tính chất cấp bách, mà còn là một cơ chế lịch sử cụ thể của mối quan hệ giữa suy luận và hành động của con người, là trạng thái “làm việc” của ý thức. Định hướng con người làm họ thể hiện ý kiến của mình trong các hành vi. Bởi vậy, không có định hướng thì không thể xem xét hiện tượng DLXH trong các quá trình tâm lí của nhóm lớn.

Từ những kiểu định hướng khác nhau, DLXH gắn bó chặt chẽ nhất với cái gọi là những định hướng xã hội mà con người thường nhận thức được và là định hướng chung cho cá nhân trong quan hệ với những khách thể xã hội. Các định hướng xã hội xuất hiện trên cơ sở tác động của thực tế xã hội và của những người khác lên con người. Trong sự tương tác đó, những định hướng giá trị của các cá nhân như những thành viên của các nhóm và của xã hội nói chung được phản ánh. Có hai loại giá trị: các giá trị được phê chuẩn và nuôi dưỡng bởi hệ thống phương tiện của các thể chế chính thức và cả các giá trị ở mức độ ý thức thông thường. Trong DLXH, cả hai loại giá trị này cùng tồn tại và tác động lẫn nhau. Những định hướng có giá trị thay đổi dưới tác động của những điều kiện khách quan và những yếu tố chủ quan đều được phản ánh trong trạng thái DLXH.

Ý kiến được hình thành trên cơ sở tri thức về sự vật. Sự hình thành DLXH do vậy, khác với quá trình nhận thức. Bởi vì mục đích của ý kiến không phải là nhận thức toàn diện sự vật, nhận ra chân lý khách quan, mà là sử dụng tri thức có được để hình thành sự đánh giá, để tạo ra quan hệ khuyến khích hay phê phán khách thể của ý kiến. Vì thế, tri thức có trong DLXH khác hẳn về thể tích lẫn mức độ bởi tính đặc thù của hiện tượng DLXH. Việc đưa tri thức vào cấu trúc DLXH gắn với một đặc điểm quan trọng của nó là tính thẩm quyền.

Ở đây có sự tương tác giữa ý kiến và tri thức. Những nghiên cứu thực nghiệm của các nhà xã hội học Mỹ cho thấy trong sự đánh giá luôn có tri thức, nhưng có tri thức không phải lúc nào cũng dẫn đến việc xuất hiện sự đánh giá hay ý kiến. Ngoài những yếu tố của tri thức đúng đắn, trong cấu trúc của DLXH còn có cả khái niệm – hình ảnh khái quát của nhiều ấn tượng cảm xúc, tri thức nhìn thấy được thường vẫn xuất hiện do tưởng tượng. Con người hiện đại gắn kết với mạng lưới các quan hệ rất phức tạp. Sự phát triển của công nghệ điện tử tạo nên hệ thống Internet liên kết toàn cầu cùng với sự ra đời của các phương tiện truyền thông đại chúng đa chức năng, hình thành nên không gian xã hội rất rộng lớn, quá trình này làm cho cơ chế các quan hệ này phong phú và phức tạp hơn. “Việc Internet tiến hóa thành phương tiện truyền thông đại chúng cho phép những người sử dụng nó vượt qua vai trò truyền thống của họ chỉ đơn thuần là người nhận và trở thành người tham gia tích cực trong việc tiếp nhận, lưu trữ và phổ biến tin tức”.

Kinh nghiệm cá nhân của con người rất hạn chế, còn nhu cầu định hướng trong thực tế xã hội đầy biến động lại đòi hỏi hình thành một bức tranh chung của hiện tượng hoặc quá trình này hay hiện tượng hoặc quá trình khác. Chính ở đây, những tri thức cảm nhận trực diện đã có, thường làm đầy những “điểm trắng” trong bức tranh chung được sử dụng nhờ có sự tưởng tượng. Chẳng hạn, các nhà xã hội học đã nhận thấy rằng những người chưa bao giờ đến các nước lớn trên thế giới lại có khái niệm tương đối chính xác về phong cảnh của những nước này. Trong quá trình tưởng tượng đó ngầm chứa cả sức mạnh và cả cái yếu của DLXH, thực tế này gắn với khả năng hình thành DLXH với sự tác động từ những mảnh riêng của thực tế. Vì DLXH là hình thể tinh thần – thực tế nên nó phải có những yếu tố của tinh thần làm tiền đề cho sự xuất hiện hành vi.

Chính những yếu tố ý chí này gắn với mức độ nhất trí giữa các thành viên của cộng đồng xã hội, với ý thức tập hợp những giá trị xã hội được họ lựa chọn. Ăngghen đã viết rằng “Trong từng con người, muốn làm cho anh ta hành động, tất cả mọi động lực gây ra hành động của anh ta đều phải đi qua cái đầu, đều phải biến thành động lực của ý chí…”. Ý chí trong DLXH thể hiện ở việc động viên cá nhân như một đại diện của một nhóm xã hội nhất định đưa ra hành động tương ứng với những “chỉ thị”, “hướng dẫn” của ý kiến. Mệnh lệnh cần thiết để tập trung ý nghĩ và năng lượng của quần chúng vào một hướng thống nhất. Nếu quá trình hình thành ý chí và suy luận trùng lặp thì ý chí vốn rất bền vững sẽ làm cho những suy luận cũng ổn định theo. Ý chí hình thành những suy luận này có thể được lan truyền và trở thành hiện thực.

Cấu phần ý chí thường ít được các nhà nghiên cứu DLXH quan tâm đầy đủ. Tuy vậy, cấu phần này lại có ý nghĩa to lớn đối với cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Nghiên cứu DLXH thực tế là sự thể hiện hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng. Sự thể hiện những đánh giá và hành vi được tuyên truyền không thể có kết quả nếu không có trạng thái ý chí tương ứng của quần chúng.

Lập luận trên cho thấy những điều kiện và những yếu tố nhất định buộc DLXH đứng ở mức độ phản ánh hiện thực (ý chí, lời nói) hoặc làm nó chuyển sang mức độ khác – mức độ tác động lên thực tế và cải tạo nó (đi vào hệ thống các quan hệ xã hội, các thể chế). Như vậy, trong DLXH có thể tách ra những tập hợp các yếu tố, dù ở mức độ này hay mức độ khác, tác động đến tính tích cực của con người, hướng đến việc thể hiện lợi ích xã hội một cách khách quan trong sự đánh giá của DLXH.

Tài liệu tham khảo

Mai Quỳnh Nam (1995), “Dư luận xã hội: mấy vấn đề về lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Xã hội học, Số 1.

Gorskov.M.K (1998), Dư luận xã hội: lịch sử và hiện đại, Nxb. Tri thức, Moscow (tiếng Nga).

Hans L Zetterberg (2003), “Social Science Theories and the Study of Public Opinion”, Paper prepared for WAPOR (World Association of Public Opinion Researchers) annual meeting in Prague, Czech Republic, September 17-19.

Korobeinhikov V.S. (1988), Bản chất và chức năng của dư luận xã hội, Nxb. Khoa học, Moscow (tiếng Nga).

Eds. Wolfgang Donsbach & Michael W. Traugott, The SAGE Handbook of PublicOpinion Research (2008), www.sagepublications.com.

Dư Luận Xã Hội Là Gì? Ảnh Hưởng Của Dư Luận Xã Hội

Dư luận xã hội là gì? Ảnh hưởng của dư luận xã hội. Phân tích những đặc điểm của dư luận xã hội, tính chất của dư luận xã hội và các phương pháp nắm bắt dư luận xã hội.

Dư luận xã hội là hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội. Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại rất lâu trong lịch sử, nó hình thành, tồn tại và phát triển cùng với quá trình vận động, phát triển của bản thân xã hội loài người. Dư luận xã hội không chỉ tác động đến đời sống của mỗi con người mà còn mạnh mẽ đến các quá trình chính trị – xã hội, đến việc lãnh đạo và quản lý xã hội, đặc biệt là ý thức pháp luật. Chính vì vậy, việc xem xét những yếu tố, những tính chất cơ bản của dư luận xã hội, là một vấn đề hết sức quan trọng. Để tìm hiểu sâu hơn về tính chất của dư luận xã hội và tác động của nó, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích các tính chất cơ bản của dư luận xã hội, cho ví dụ minh họa ở từng tính chất. Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật”.

Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi có những vấn đề có ý nghĩa xã hội đụng chạm đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội, có tầm quan trọng và có tính cấp bách, đòi hỏi phải có ý kiến phán xét, đánh giá và đưa ra những phương hướng cụ thể. Đó có thể là vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, hay đạo đức.

Chủ thể của dư luận xã hội là cộng đồng người hay nhóm người mang dư luận xã hội. Dư luận xã hội bao gồm mọi luồng ý kiến của đa số cũng như ý kiến của thiểu số. Chủ thể của dư luận xã hội có thể là tập hợp những người thuộc các giai cấp, tầng lớp khác nhau, thậm chí đối lập nhau về lợi ích mà nền tảng gắn kết họ lại với nhau lại là những đặc điểm tâm lí, nhận thức chung giữa họ.

Tin đồn cũng là một hiện tượng tâm lý xã hội. Nhưng tin đồn khác với dư luận xã hội ở chỗ tin đồn không phải là sản phẩm của tư duy phán xét của các nhân mang nó. Mà tin đồn “chỉ là tin tức về sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật, có thể không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác”.

Tin đồn là dạng thông tin không chính thức, chưa được kiểm chứng về sự trung thực và do đó chủ thể của tin đồn không được rõ ràng. Ngược lại, dư luận xã hội là sản phẩm của tư duy phán xét của cá nhân mang nó. Tin đồn có thể chuyển hóa thành dư luận xã hội khi trên cơ sở của tin đồn người ta đưa ra những phán xét bày tỏ thái độ của mình; khi thông tin được kiểm chứng và các nhóm xã hội có thể được tiếp cận với nguồn thông tin, trao đổi, bày tỏ ý kiến của mình thông qua con đường công khai.

Ví dụ từ tin đồn xã X chính quyềnnhận hối lộ phát triển lên thành dư luận xã hội. Nếu được giải quyết tốt thì kẻ nhận hối lộ bị nghiêm trị, tình hình ổn định và ngược lại nếu giải quyết không tốt sẽ làm tình hình lại càng trở nên phức tạp hơn.

Hình thức thể hiện chính của dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá, thẩm bình, kiến nghị. Khuynh hướng chung trong các ý kiến đánh giá và thái độ của công chúng đối với mỗi sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội bao gồm tán thành, phản đối hay lưỡng lự. Cũng có thể phân chia dư luận xã hội theo các khuynh hướng như tích cực, tiêu cực; tiến bộ hoặc lạc hậu… Ở mỗi khuynh hướng, thái độ tán thành hoặc phản đối lại có thể phân chia theo các mức độ cụ thể như rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản đối.

Năm 2011, dư luận xã hội xôn xao về vụ án cướp tiệm vàng ở Bắc Giang của Lê Văn Luyện và mức án phạt về ba tội danh: giết người, cướp tài sản, chiếm đoạt tài sản nhưng chỉ bị phạt tù 18 năm do Luyện chưa đến tuổi thành niên. Theo Điều 18 “Bộ luật dân sự năm 2015” qui định về Người thành niên, người chưa thành niên thì: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”. Và Điều 68 Bộ luật hình sự qui định về chịu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thì: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Trong vụ án này, Lê Văn Luyện sinh ngày 16/10/1993 và ngày gây án là 24/8/2011. Vì vậy, Lê Văn Luyện chưa đủ 18 tuổi, thuộc trường hợp người chưa thành niên phạm tội. Căn cứ vào điều 69 Bộ luật hình sự thì: “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội…” Bản án không mấy bất ngờ bởi nó phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam song cũng có rất nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề này.

Nhiều ý kiến cho rằng bản án còn chưa thỏa đáng bởi giết người phải đền mạng. Lê Văn Luyện giết nhiều người, tội ác man rợ của Luyện phải trả giá bằng mức án cao nhất đó là tử hình. Những người như Luyện phải loại bỏ khỏi xã hội và nếu cứ đà xét xử tuổi vị thành niên phạm tôi đặc biệt nghiêm trọng mà không xử được tử hình hoặc chung thân thì xã hội sẽ còn nhiều kẻ xấu tuổi vị thành niên lợi dụng sự chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước để gây ra những vụ thảm án dã man hơn, có thể sẽ có nhiều cái chết đau thương hơn.

Như vậy, ở vụ việc này, dư luận xã hội có hai khuynh hướng tán thành và phản đối. Đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng chữ U. Sự không thống nhất trong quan điểm, thái độ của dư luận xã hội về vấn đề nay là do tâm lý, hiểu biết xã hội, trình độ học vấn, hiểu biết, kiến thức pháp luật của mỗi người.

Gần đây một vấn đề được đông đảo dư luận xã hội quan tâm là Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.Do không thống nhất được việc rút quy định xử phạt xe không chính chủ, Bộ Giao thông vận tải vừa đưa cả 2 luồng ý kiến khác nhau vào trong Dự thảo Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trình Thủ tướng Chính phủ quyết địnhBan soạn thảo đã đưa ra 2 luồng ý kiến khác nhau.

Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa của cộng đồng xã hội hoặc của cả dân tộc. Lợi ích là điều kiện cần để thúc đẩy việc tạo ra dư luận xã hội nhưng quan trọng chính là sự nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích của mình và mối quan hệ giữa chúng với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra.

Chẳng hạn hiện nay, chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của một số cường quốc trên thế giới như Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đang gặp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ của dư luận thế giới vì nhân loại nhận thức được mối nguy hiểm tiềm tàng, nguy cơ chiến tranh tiêu diệt loài người.

Dư luận xã hội được coi như biểu hiện của hành vi tập thể do đó cơ sở của nó là hiệu ứng phản xạ quay vòng, mà khởi điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên các chuỗi kích thích của các cá nhân khác, nhóm xã hội khác. Để duy trì chuỗi kích thích này luôn cần các nhân tố tác động lên cơ chế hoạt động tâm lý của các cá nhân hay nhóm xã hội. Đối với dư luận xã hội, các nhân tố tác động đó có thể được coi là các thông tin bằng hình ảnh, âm thanh sống động, trực tiếp và có tính thời sự. Dưới tác động của các luồng thông tin này, các nhóm công chúng khác nhau sẽ cùng được lôi cuốn vào quá trình bày tỏ quan tâm của mình thông qua hoạt động trao đổi bàn bạc, tìm kiếm thông tin, cùng chia sẻ trạng hái tâm lý của mình với người xung quanh.

Đầu năm 2012, làn sóng dư luận trong nước không ngừng bàn luận về vụ án cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp đất đai giữa ông Đoàn Văn Vươn ở Cống Rộc, Vĩnh Quang và UBND huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng, bộc lộ những hạn chế trong việc thực thi pháp luật ở các cấp địa phương, thu hút đông đảo dư luận trong nước. Kết quả của vụ án này là 4 chiến sĩ công an huyện và 2 chiến sĩ thuộc ban chỉ huy quân sư huyện Tiên Lãng bị thương, 6 người dân bị bắt và bị khởi tố, việc thu hồi đất bị hủy bỏ, một số cán bộ địa phương bị đình chỉ công tác và bị cách chức.

Vụ việc hàm chứa nhiều ý nghĩa chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam, kéo theo phản ứng tức thời và sâu sắc của báo chí và người dân, người dân với báo chí. Vụ việc này đã khởi nguồn không chỉ từ những tờ báo in và báo điện tử chuyên về chính trị – xã hội, mà còn lan rộng ra cả nhiều tờ báo chuyên ngành về kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục và nông thôn. Có ý kiến cho rằng Đoàn Văn Vươn đã vi phạm pháp luật tội chống người thi hành công vụ, nhưng huyện Tiên Lãng đã sai về mặt pháp luật khi tiến hành cưỡng chế ở vụ án này. Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh nói, trong vụ cưỡng chế này, chính quyền huyện, xã đều sai và đây là bài học mà chính quyền cả nước phải rút kinh nghiệm. Ông cũng cho rằng “Thành ủy Hải Phòng và UBND TP Hải Phòng phải có trách nhiệm xử lý, làm sai chỗ nào thì phải nhận sai ở chỗ đó, không được trả lời loanh quanh và không được che giấu sai phạm.

Trả lời tiền hậu bất nhất là không thể được và sử dụng bộ đội để cưỡng chế với dân là tuyệt đối sai”. Theoông Vươn cho biết do “không còn con đường nào khác nên buộc phải chống lại. Anh em chúng tôi không muốn gây chết người tại mảnh đất của mình nên đã cảnh báo trước khi xảy ra vụ cưỡng chế”. Còn người dân Tiên Lãng đã không giấu nổi niềm vui. Theo họ, kết luận của Thủ tướng đã “phục hồi” niềm tin của dân vào chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và sự công bằng đã được trả lại cho những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn.

Dư luận có tính bền vững tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với những sự kiện, hiện tượng hay quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững. Ví dụ cho tính chất này là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đã có thời kì, có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này, nhưng đa số đều thống nhất con đường xã hội chủ nghĩa là duy nhất. Một số bộ phận phản động Việt quốc, Việt cách đã tìm cách tuyên truyền, thêm thắt, bịa đặt không tốt để chống phá cách mạng và con đường chủ nghĩa xã hội của ta.

Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện sau:

Thứ nhất, biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa. Hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang tồn tại trong nền văn hóa của cộng đồng người quyết định sự phán xét, đánh giá của dư luận xã hội về các sự kiện, hiện tượng hay quá trình xã hội. Với cùng một sự việc, sự kiện xảy ra, dư luận xã hội ở các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét đánh giá khác nhau. Ví dụ ở Việt Nam, bò được xem là một con vật nuôi, cung cấp sức kéo, lấy sữa, thịt bò là một món ăn được nhiều người ưa thích. Nhưng đối với người Ấn Độ theo đạo Hin đu thì bò là một loài vật thiêng, những tín đồ ăn thịt bò sẽ bị dư luận lên án một cách gay gắt.

Thứ hai, biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều giá trị văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán có thể bị biến đổi ngay trong cùng một nền văn hóa-xã hội dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội. Chẳng hạn như thời phong kiến, chế độ đa thê-người đàn ông cùng lúc có thể có nhiều vợ được dư luận xã hội dễ dàng chấp nhận, nhưng thời đại ngày nay thì không. Hôn nhân hiện đại là chế độ một vợ một chồng, người đàn ông nào cùng lúc có nhiều vợ là vi phạm pháp luật và bị xã hội lên án.

Dư luận xã hội về những vấn đề của đời sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời (dư luận của đa số im lặng). Trong những xã hội thiếu dân chủ, dư luận xã hội đích thực thường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn. Trong xã hôi cũng có những dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới chưa xảy ra. Ví dụ trong thời kì phong kiến, tầng nông dân luôn bị áp bức, bóc lột nhưng không ai dám lên tiếng. Người dân đều oán giận, căm ghét giai cấp đại chủ, vua chúa phong kiến nhưng không thể hiện ra ngoài.

Sự phản ánh của dư luận xã hội có thể đúng hoặc sai do đó không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức từ dư luận xã hội. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn của thiểu số. Cái mới lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy, do đó dễ bị đa số phản đối. Đối với những vấn đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới trí thức, của những người có trình độ học vấn cao thường chín chắn hơn so với những người có trình độ học vấn thấp.

Chẳng hạn khi nói về chế độ chính trị ở Việt Nam, một số bộ phận phản động đã tuyên truyền về việc ở Việt Nam chỉ có một chính Đảng lãnh đạo, điều đó sẽ tạo ra sự độc quyền, chuyên chế, hạn chế tính dân chủ. Những dư luận chúng tạo ra làm ảnh hưởng đến quốc gia, dân tộc và đi sai lệch định hướng của Đảng và Nhà nước. Nhưng một số ít công dân thiếu hiểu biết đã tin vào dư luận do bọn phản cách mạng tạo ra gây ảnh hưởng xấu đến xã hội, lan truyền những dư luận sai lệch. Như vậy, không phải thông tin nào của dư luận xã hội đều đúng tuyệt đối. Trình độ học vấn, hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến dư luận xã hội quyết định tính chất tốt xấu, lợi hại của dư luận xã hội.

Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội từ góc nhìn pháp luật, là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội. Nhưng trước khi xuất hiện nhà nước, pháp luật và cùng với đó là ý thức pháp luật, những yếu tố tham gia định hướng và điều chỉnh ý thức, hành vi xã hội của con người lại chính là đạo đức, phong tục, tập quán, truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng… đặc biệt là dư luận xã hội. Dựa vào cấu trúc của ý thức pháp luật, ta có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để phân tích sự tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật. Trong phạm vi bài viết, em xin tập trung phân tích sự tác động của dư luận xã hội đối với hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.

Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm có tính chất lý luận và khoa học về pháp luật, phản ánh về pháp luật và các hiện tượng pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa học. Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh trình độ nhận thức cao, có văn trong xã hội.

Dư luận xã hội tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và phát triển của hệ tư tưởng pháp luật. Với tư cách một hiện tượng xã hội, dư luận xã hội phản ánh tồn tại xã hội nói chung, đồng thời phản ánh các sự kiện, hiện tượng pháp lí xảy ra trong đời sống xã hội. Sự bàn luận, trao đổi ý kiến giữa các thành viên trong xã hội về các sự kiện, hiện tượng pháp lý đưa tới kết quả là, họ đạt tới sự nhận thức chung, thống nhất trong các phán xét, đánh giá về sự việc, sự kiện pháp lý.

Dư luận xã hội lan truyền càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung các phán xét, đánh giá, càng làm cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc. Do đó, ảnh hưởng của dư luận xã hội đối với hệ tư tưởng pháp luật còn thể hiện ở chỗ dư luận xã hội tham gia vào việc phổ biến, tuyên truyền trong các tầng lớp xã hội những giá trị pháp luật, các tư tưởng, quan điểm pháp luật.

Hệ tư tưởng pháp luật chính thống của một xã hội nhất định bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Do đó, trong mỗi học thuyết, quan điểm pháp lý đều chứa đựng những tư tưởng về quyền lợi kinh tế, chính trị, xã hội và ý chí của một giai cấp nhất định. Chúng nảy sinh, tồn tại phát triển hay bị thủ tiêu đều phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Khi giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội, có lợi ích giai cấp phù hợp với lợi ích cơ bản của các lực lượng xã hội khác thì tính dân chủ, tính khoa học và tính xã hội của hệ tư tưởng pháp luật sẽ thể hiện nổi trội, rõ nét.

Trong điều kiện như vậy, nội dung của các nhận định, đánh giá về những sự kiện, hiện tượng pháp lý mà dư luận xã hội đưa ra sẽ tương ứng và phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật của hệ tư tưởng pháp luật chính thống, nghĩa là ý chí của giai cấp cầm quyền có nhiều nét tương đồng với dư luận xã hội của các tầng lớp nhân dân. Qua đó, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ và tích cực tới sự hình thành, phát triển và phổ biến hệ tư tưởng pháp luật trong xã hội.

Đối với đại đa số quần chúng nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc luôn có tầm quan trọng hàng đầu. Dư luận xã hội đóng vai trò bảo vệ những quyền lợi, các giá trị phổ biến của xã hội, cũng như các giá trị, lợi ích cá nhân chính đáng của con người. Mỗi khi quyền lợi, các giá trị của quốc gia, dân tộc bị xâm hại thì dư luận xã hội lập tức xuất hiện với thái độ lên án, phản đối gay gắt.

Ví dụ về việc tranh chấp chủ quyền biển Đông có nhiều ý kiến tranh luận, bàn bạc về vấn đề này thông qua các website, báo chí, truyền thông. Đa số mọi người đều cho rằng: Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam, thuộc chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam và được ghi nhận trên bản đồ thế giới. Hiện nay, trên các website, công dân yêu nước đã và đang lập các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc như: “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam” phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc.

Tâm lý pháp luật hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của các cá nhân và các nhóm xã hội đối với pháp luật, cũng như những hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội. Tâm lý pháp luật chỉ biểu hiện cấp độ nhận thức thông thường dựa trên cơ sở tình cảm pháp luật truyền thống, kinh nghiệm sống, tập quán và tâm lý xã hội.

Một là, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật. Tình cảm pháp luật là yếu tố cơ bản của tâm lý pháp luật, thường được hình thành một cách tự phát dưới ảnh hưởng của hoạt động giao tiếp hàng ngày của con người với môi trường pháp lý xung quanh. Và, do là yếu tố mang tính tự phát, chịu sự chi phối của phong tục, tập quán, kinh nghiệm sống và nếp sống của con người, nên tình cảm pháp luật có thể được bộc lộ dưới dạng các phản ứng tích cực, cũng như tiêu cực của mỗi người trước những sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong thực tế.

Do vậy, tình cảm pháp luật có thể biểu hiện dưới dạng tích cực, như thái độ phản ứng lại các hành vi vi phạm pháp luật, yêu công lý, đề cao công bằng xã hội, đề cao trách nhiệm pháp lý… cũng có thể biểu hiện dưới dạng tiêu cực, như cổ vũ cho hành vi phạm pháp, chống đối người thi hành .công vụ, làm ngơ trước người bị hại… Tất cả những biểu hiện đó của tình cảm pháp luật đều là đối tượng phán xét, đánh giá của dư luận xã hội.

Do vậy, mỗi cá nhân đều mong muốn có thể kiểm soát, điều chỉnh tình cảm và hành vi của mình sao cho phù hợp với ý chí chung của cộng đồng xã hội. Với ý nghĩa đó, dư luận xã hội tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật, góp phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật tích cực, đúng đắn của mỗi công dân.

Hai là, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người trước luật pháp. Tâm trạng của con người trước luật pháp là sự thể hiện trạng thái tâm lý của các cá nhân trước các sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội thường ngày. Đây là yếu tố rất linh động, dễ thay đổi của tâm lý pháp luật. Do sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố, như điều kiện sống, lao động, sinh hoạt hàng ngày mà tâm trạng của con người thường được thể hiện ra ở các trạng thái đối lập: hưng phấn-ức chế, lạc quan-bi quan, hy vọng-thất vọng, quan tâm-thờ ơ, nhiệt tình-lãnh đạm… trước thực tiễn cuộc sống.

Tuỳ thuộc đang trong tâm trạng hưng phấn, nhiệt tình, người ta dễ có những phản ứng mạnh mẽ, tích cực trước các hành vi vi phạm pháp luật ở nơi công cộng, còn khi không tin tưởng vào sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, người ta thường thờ ơ trước các sự kiện pháp lý… Những tâm trạng đó được bộc lộ trong nội dung các phán xét, đánh giá của dư luận xã hội và qua đó, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người trước luật pháp.

Với tư cách là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng xã hội, dư luận xã hội có thể động viên, khích lệ, khơi gợi niềm tin của các thành viên trong xã hội đối với sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, đưa ra những lời khuyên, tư vấn về cách ứng xử trước một thực tiễn pháp luật nhất định.

Dư luận xã hội có thể tác động, làm nảy sinh trong mỗi người tâm trạng xúc động trước hành vi thể hiện ý thức tự giác chấp hành pháp luật. Đây là một biểu hiện cao của lương tâm con người, hướng con người tới ý muốn noi theo những người có thái độ tự giác chấp hành các nguyên tặc, quy định của pháp luật, tuân theo quy luật hướng thiện. Thông qua việc tạo ra những “khuôn mẫu tư duy”, “khuôn mẫu hành động” cho các thành viên trong xã hội, dư luận xã hội hướng con người theo gương người tết, việc tất trong lĩnh vực chấp hành pháp luật. Điều đó nói lên rằng, dư luận xã hội có ảnh hưởng tích cực tới tâm trạng của con người trước luật pháp.

Ba là, thông qua dư luận xã hội, các cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình trong phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hiện hành. Tâm lý pháp luật không chỉ biểu hiện ở tình cảm pháp luật, tâm trạng của con người trước luật pháp, mà nó còn được biểu hiện ra ở việc các cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình trong môi trường điều chỉnh của pháp luật.

Hành vi pháp luật của con người, trong chừng mực nhất định, chính là sự hiện thân của tình cảm pháp luật và tâm trạng trước luật pháp của họ. Cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình có thể biểu hiện dưới dạng cảm xúc, như tự hào, phấn khởi hay e ngại, xấu hổ, lo lắng… Những phán xét, đánh giá (khen-chê, biểu dương-lên án…) của dư luận xã hội đối với hành vi của các cá nhân, ở một mức độ nào đó, đều tham gia vào việc điều chỉnh hành vi pháp luật của cá nhân.

Nói cách khác, dư luận xã hội, trong trường hợp này, là “tấm gương” để mỗi cá nhân tự soi mình vào đó mà định hướng, điều chỉnh hành vi ứng xử của bản thân. Sức mạnh đặc trưng của dư luận xã hội khiến cho mỗi cá nhân luôn phải suy nghĩ, xem xét trước khi thực hiện một hành vi pháp luật nào đó: hành vi đó đúng hay sai? phù hợp hay không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành? Nếu thực hiện một hành vi nào đó thì có bị dư luận xã hội lên án hoặc phải chịu sự xử lý theo các nguyên tắc luật định không? Điều đó cho thấy, dư luận xã hội luôn có tác động tới cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình.

Qua bài tiểu luận, ta có thể nắm được năm tính chất của dư luận xã hội: tính khuynh hướng, tính lợi ích, tính lan truyền, tính bền vững tương đối và dễ biến đổi, tính tương đối và tác dụng của nó tới lĩnh vực pháp luật để từ đó có cái nhìn khách quan về bản chất của dư luận xã hội. Bởi vậy cần phát huy tối đa các tác dụng tích cực của dư luận xã hội, nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh. Đồng thời, với tư cách là một phương thức tồn tại đặc biệt của thức xã hội, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật trên cả hai góc độ: hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về dư luận có ý nghĩa lớn về mặt vật chất và tinh thần của con người, là phương tiện quan trọng và mạnh mẽ để nhân dân phát huy quyền làm chủ và tính tích cực của công dân đối với đất nước.

Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từng Tính Chất_2

A. MỞ BÀI. Dư luận xã hội là hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội. Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong quá trình lịch sử, nó hình thành tồn tại và phát triển cùng với quá trình vận động, phát triển của bản thân xã hội loài người. Trong thực tiến cuộc sống rõ ràng là dư luận xã hội không chỉ dừng lại ở việc thể hiện các ý kiến, đánh giá hay nhận định, mà còn thể hiện bằng những hành động thực tiến cụ thể nhằm khẳng định, hỗ trợ cho các phán xét đánh giá của mình, đề xuất những phương hướng cụ thể nhằm giải quyết những mặt còn tồn tại của vấn đề xã hội. Việc thăm dò, nghiên cứu dư luận xã hội sẽ mang lại cho mọi người những thông tin đa chiều, phong phú về các mặt hoạt động trong xã hội. Những thông tin này là căn cứ quan trọng để các tổ chức Đảng và các cơ quan Nhà nước kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác của mình, đưa ra những chính sách hay quyết định sát với thực tế. Đây là lí do mà em chon đề tài: ” phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành dư luận xã hội, cho ví dụ minh họa ở từng yếu tố? tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật”. B . NỘI DUNG. I. KHÁI NIỆM. Dư luận xã hội là hiện tượng tinh thần của xã hội, là hiện tượng phức tạp nên khó có thể lột tả hết được nội hàm của nó trong một số dòng định nghĩa ngắn gọn. Vậy nên. Về mặt lí luận hầu như không tồn tại định nghĩa toàn diện về dư luận xã hội được tất cả mọi người đồng tình. Trên các sách báo,tạp chí xã hội học đã có khá nhiều định nghĩa được nêu ra. Trong hầu hết các định nghĩa đều đề cập những nội dung chính của khái niệm dư luận xã hội: Thứ nhất, dư luận xã hội là tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ mang tính phán xét dánh giá của nhiều người trước thực tế xã hội nhất định.

1

Ví dụ: giá xăng tăng mức kỉ luc: quyết định gây tranh cãi. Không chỉ khẳng định quyết định đó sẽ tác động tới tăng lạm phát, gây khó khăn cho đời sống của người dân và doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế này còn đề nghị cơ quan chức năng giải trình trước công luận. Cụ thể, 20 giờ ngày 28/3/2013, giá xăng trong nước đã chính thức tăng. Với mức điều chỉnh tối đa 1.430 đồng/lít, giá xăng RON 92 xác lập mốc kỷ lục 24.580 đồng/lít. Ảnh hưởng mạnh nhất bởi việc tăng giá là các DN vận tải. Ngạc nhiên trước việc giá xăng được điều chỉnh, trong một vài ngày trước đây dư luận kêu giá xăng, dầu trên thị trường thế giới giảm nhưng Bộ Tài chính lại cho rằng chưa đủ điều kiện giảm. Việc tăng giá lần này rất đột ngột vì dư luận đang yêu cầu giảm mà liên bộ lại tăng, điều này quá bất ngờ với xã hội nói chung và ngành vận tải nói riêng

Người dân đổ xô nhau đi mua xăng trước giờ tăng giá. Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, các phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa của cộng đồng xã hội hoặc của cả dân tộc. Ví dụ: mang tinh thần chiến thắng 30/4 vào sửa đổi Hiến pháp. dư luận đã bàn rất nhiều đến vai trò của Đảng. Có người muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp. Có người lại cho rằng, cần giữ Điều 4 và hơn thế nữa cần khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng ở chỗ này chỗ khác. Một quan điểm nữa là vẫn giữ Điều 4, song cần bổ sung những yếu tố cốt lõi để đảm bảo sự đổi mới của Đảng ta. Lần này, sửa đổi Hiến 4

chúng ta có thể theo dõi và nhận được ảnh hưởng cảu các luồng thông tin đến các hành động quan tâm của công chúng. Khi đó sự hình thành mạnh mẽ và lan truyền nhanh chóng của dư luận xã hội được thể hiện rất rõ nét. Ví dụ: sự kiện Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki tại Nhật bản vào ngày 6 và ngày 9 tháng 8 năm 1945 đã gây xôn xao dư luận Nhật Bản. Vụ việc đã nhanh chóng lan tỏa khắp toàn cầu, thu hút được sự chú ý của tt 4. Tính bềền vững tương đốối và tính dềễ biềốn đổi. Dư luận xã hội vừa có tính bền vững tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi. Chỉ có những dư luận xã hội chỉ qua một đêm là thay đổi. Tính bền vững tương đối của dư luận xã hội phụ thuộc và nhiều yếu tố. Đối với những sự kiện, hiện tượng hay quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững. chẳng hạn sự đánh giá cao của dư luận xã hội về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ, về tầm quan trọng của sự nghiệp đổi mới, chính sách khoán trong nông nghiệp…tới nay vẫn không hề thay đổi. Cái lúc đầu chỉ được số ít thừa nhận và do đó dễ bị đa số phản đối. Nhưng ý kiến của đa số sẽ nhanh chóng, dễ dàng thay đổi khi cái mới vươn lên khẳng định mình trong cuộc sống. Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện sau: -Thứ nhất – biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa: sự phán xét, đánh giá của dư luận xã hội về bất kì sự kiện, hiện tượng,hay quá trình xã hội đang tồn tại trong nền văn hóa cộng đồng người. Với cùng sự việc, sự kiện xảy ra, dư luận xã hội của các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét, đánh giá khác nhau. Chẳng hạn, hiện tượng tảo hôn, chế độ đa thê là hiện tượng bình thường, được chấp nhận tại các nước thuộc khu vực Trung Đông nhưng chúng lại gặp phải sự phản ứng gay gắt tại nhiều nước ở châu Âu, Bắc Mỹ,…Trong khi đó quan hệ tình dục ngoài hôn nhân dễ dàng chấp nhận ở châu Âu, Bắc Mỹ mà lại bị phản đối mạnh mẽ, thậm chí bị trừng phạt theo luật lệ tôn giáo ở Trung Đông, Ấn Độ.

6

Dư luận về những trạng thái của đời sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời ( dư luận của đa số im lặng). Trong những xã hội thiếu dân chủ, dư luận xã hội cũng thường có dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới, chưa xảy ra, hiện thời chưa cấp bách. Ví dụ: trong thời kì phong kiến,các tầng lớp dưỡi như nông dân luôn bị áp bức và bóc lột, nhung không ai giám lên tiếng vì sự dã man tàn bạo chính quyền Vua chúa. Tất cả nông dân đều có chung quan điểm là thù ghét, oán hận tầng lớp trên, nhưng thể hiện ra ngoài. 5. Tính tương đốối trong khả năng phản ánh thực tềố của dư luận xã hội . Sự phản náh thực tế của dư luận xã hội có thể đúng có thể sai. Dù đúng đén mấy thì dư luận xã hội vấn có những hạn chế. Dù sai dến mấy. thì trong dư luận xã hội vẫn có những điều kiện hợp lí, rất quan trọng. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn so với dư luận của thiểu số. cái mới lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy, do đó, dễ bị đa số phản đối. Ví dụ: khi người đàn ông ngoại tình thì dư luận xã hội chê cười người vợ là ” không biết giữ chồng”, người phụ nữ ngoại tình sẽ được tăng mỹ từ “lăng nhăng, lẳng lơ, mất nết”. Cùng một sự việc hiện tượng, người phụ nữ thì “vi phạm chuẩn mực đạo đức, nhân cách”, người đàn ông thì không có lỗi. III. TÁC ĐỘNG CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐỐẤI VỚI Ý THƯC PHÁP LUẬT. 1 Dựa vào cấốu trúc của ý thức pháp luật để phấn tích sự tác động của dư luận xã hội đốối với ý thức pháp luật. a. Sự tác động của dư luận xã hội đềốn hệ tư tưởng pháp luật. Dư luận xã hội là sự thể hiện lợi ích chung thông qua tiếng nói chung của nhân dân, nên nó là điều kiện cần thiết để các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ mở rộng nền dân chủ xã hội, tích cực tham gia hoạt động xây dựng pháp luật. Dưới chế độ ta, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Từ đó, các cơ quan lập pháp nắm được thực trạng tư 8

mỗi chủ thể cũng được nâng lên một bước.

C. KẾẤT LUẬN. Qua bài tiểu luận, cho thấy rõ tính chất của dư luận xã hội và tác dụng của nó tới lĩnh vực pháp luật. Ngoài những tác dụng đó, dư luận xã hội còn có nhiều tác dụng khác đến nhiều mặt khác nhau của đời sống con người. Dư luận xã hội càng phát triển thì những vấn đề xung quanh cuộc sống càng được lan truyền và giải quyết một cách nhanh chóng. Bởi vậy cần phát huy tối đa các tác dụng tích cực của dư luận xã hội, nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh.

10

Một Số Phương Pháp Định Hướng Dư Luận Xã Hội

Định hướng dư luận xã hội hiện nay ở Việt Nam cần xác định được ba mục tiêu cơ bản.

Một là, giúp cho công chúng hình thành nhận thức đúng về sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội

Hình thành nhận thức đúng về sự kiện, hiện tượng là quá trình tác động của chủ thể (Đảng và Nhà nước, các tổ chức xã hội) để đối tượng (cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân) nhận thức đúng về hiện thực khách quan.Thứ nhất, công chúng nhận thức đúng về bản chất của sự kiện hiện tượng đặt trong bối cảnh lịnh sử của nó.Thứ hai, công chúng nhận thức đúng về bản chất của sự kiện hiện tượng đặt trong sự phân tích, lý giải bằng khoa học. Thứ ba, nhận thức của công chúng đúng về sự kiện, hiện tượng phải dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chuẩn mực giá trị truyền thống, các yêu cầu phát triển của tập thể và xã hội.

Hai là, giúp cho công chúng hình thành thái độ phù hợp với sự kiện, hiện tượng.

Thái độ là đặc trưng tâm lý xã hội gắn với nhu cầu, động cơ, mục đích của cá nhân và điều kiện xã hội, lịch sử cụ thể. Thái độ được hình thành trong quá trình con người hoạt động, giao tiếp và dựa trên cơ sở khái quát hóa nhận thức, cảm xúc, tình cảm về đối tượng, về một sự kiện, hiện tượng nhất định. Định hướng dư luận xã hội giúp giải quyết sự tồn tại của cácquan điểm khác nhau, loại bỏ, phản đối các quan điểm sai, gia tăng sự đồng thuận, cảm xúc, tình cảm với những quan điểm đúng trong nhóm và cộng đồng xã hội.

Ba là, giúp cho công chúng hình thành hành vi phát ngôn hợp lý đối với sự kiện, hiện tượng.

Hành vi phát ngôn hợp lý thể hiện sự nhất trí cao với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các giá trị của truyền thống dân tộc; các chuẩn mực đạo đức khác; thể hiện sự thống nhất nhận thức, tình cảm, động cơ bên trong của công dân, bộc lộ thái độ đúng đắn, phù hợp với nội dung cần chuyển tải; phù hợp với các quy tắc và các chuẩn mực ngôn ngữ đã được thừa nhận trong xã hội và cộng đồng.

Một số phương pháp cơ bản trong định hướng dư luận xã hội được khái quát là:

Thông qua uy tín của người lãnh đạo, thủ lĩnh nhóm xã hội

Cùng một nội dung phát ngôn nhưng nếu đó là phát ngôn của một giáo sư, một nhà khoa học hay một chính khách (có uy tín) thì người ta tin hơn là phát ngôn của một sinh viên hay của một nhân viên bình thường. Trong một cơ quan, một tập thể, một nhóm xã hội, họ chính là người lãnh đạo, quản lý, nhà hoạt động xã hội có uy tín.Trong các tôn giáo, họ là các chức sắc tôn giáo (cha cố, nhà tu hành). Trong các dân tộc thiểu số miền núi họ là già làng, trưởng bản, còn ở nông thôn họ có thể là các trưởng họ tộc, người cao tuổi… Những người thủ lĩnh này có vai trò to lớn trong việc định hướng dư luận xã hội diễn ra tại cơ quan, đơn vị hoặc trong nhóm xã hội, trong tập thể.Đặc biệt, khi định hướng dư luận xã hội về những vấn đề quan trọng, nhạy cảm cần cử những người có địa vị cao, có uy tín lớn phát ngôn để công chúng nhanh chóng có sự chấp nhận.

Thông qua sinh hoạt, hội họp của các tổ chức

Cuộc họp của các tổ chức bao gồm (tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp…) là một kênh truyền thông, một phương tiện tác động tư tưởng cho nên, chúng cũng là một kênh, một phương tiện có thể sử dụng để định hướng dư luận xã hội. Định hướng dư luận xã hội qua kênh này có ưu thế nổi trội là nhanh chóng và trực tiếp đến từng nhóm đối tượng sinh hoạt trong cùng một tổ chức. Để định hướng dư luận xã hội kịp thời, trực tiếp, trong sinh hoạt, hội họp của các tổ chức cần thực hiện tốt quá trình mang tính hai chiều sau: Thứ nhất, truyền đạt, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, những thông tin chính thức, chính thống, những thông tin đã được chọn lọc kỹ càng; Thứ hai, đấu tranh, phản bác những quan điểm, tư tưởng, ý kiến lệch lạc, tin đồn nhảm, luận điểm phản tuyên truyền, sai trái, xuyên tạc,…

Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng

Với các chức năng và ưu thế của mình, các phương tiện truyền thông đại chúng, chủ yếu là báo chí, tham gia định hướng dư luận xã hội với các phương thức sau:

– Tham gia quảng bá sự kiện, hiện tượng để đông đảo tầng lớp xã hội được biết và bày tỏ thái độ.

– Cung cấp thông tin đa dạng, nhiều chiều, sâu sắc giúp quá trình đánh giá của công chúng đối với sự kiện, hiện tượng khách quan hơn.

– Phân tích, làm sáng tỏ mối liên hệ của sự kiện, hiện tượng với lợi ích của cộng đồng, quốc gia hay nhóm xã hội.

– Khơi nguồn, tạo lập dư luận xã hội. Tuy nhiên, khi tham gia tạo lập dư luận xã hội, các phương tiện truyền thông phải lựa chọn thông tin, phải đứng trên lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc gia để lựa chọn chứ không được đứng trên lợi ích cá nhân.

– Góp phần tạo nên ở công chúng cách đánh giá vừa khách quan, vừa dân chủ, tạo nên tính tự giác cho quá trình tiếp nhận thông tin và hình thành dư luận xã hội tích cực.

Theo quy luật uy tín như đã nêu trên, khi sử dụng báo chí để định hướng dư luận xã hội, phải mời được những nhà báo, những tờ báo có uy tín tham gia, những người lãnh đạo, quản lý, những thủ lĩnh dư luận phát ngôn trên báo chí.

Định hướng dư luận bằng dư luận

Trong các đám đông quần chúng, thường xuất hiện một nhóm nhỏ có vai trò tiên tiến, có uy tín cao và có ảnh hưởng nhất định đến nhóm lớn hơn.Trong công tác định hướng dư luận xã hội, có thể sử dụng dư luận tích cực, đúng đắn của nhóm nhỏ tiên tiến này để định hướng dư luận xã hội với các nhóm lớn hơn.Muốn sử dụng dư luận xã hội để định hướng dư luận xã hội, trước hết phải huy động các kênh, các phương tiện truyền thông để tạo lập dư luận tích cực.Sau đó phản ánh dư luận xã hội trên các kênh, các phương tiện truyền thông, đồng thời sử dụng dư luận đó để định hướng dư luận của các nhóm xã hội khác, của toàn xã hội.

Tác động vào các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành, thay đổi thái độ của con người. Cụ thể là:

1) Tác động đến yếu tố nhận thức của chủ thể dư luận bằng cách cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời. Đối với sự kiện, hiện tượng đơn giản thì dư luận của đa số thường là tích cực, khách quan. Còn đối với sự kiện, hiện tượng phức tạp, nhiều góc độ, lại mới xuất hiện lần đầu thì dư luận của những người có nhiều thông tin, có hiểu biết thường là tích cực, có tính tư tưởng và chiều sâu.

Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo số 11/2018