Về Bản Chất Của Dư Luận Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Dư Luận Xã Hội Chuc Nang Cua Du Luan Xa Hoi Doc
  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từng Tính Chất_2
  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từnng Tính Chất? Tác Động Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Ý Thức Pháp Luật?
  • Công Tác Xã Hội Trường Học
  • Vai Trò Của Nhân Viên Công Tác Xã Hội Trong Một Số Lĩnh Vực Hoạt Động
  • Dư luận xã hội (DLXH) là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội. Bản chất ý kiến của con người được nghiên cứu từ thời cổ đại. “Quan điểm triết học của Parmenid, Empedocl, Democrit đã đối lập khái niệm “ý kiến” và “tri thức”. Các học giả này coi ý kiến là tri thức giả, là cái gì đó không rõ ràng, không bền vững, đối lập với “sự thật hợp lý”. Nhưng ngay sau Platon và Aristot, một quan điểm khác được đề xuất: ý kiến là cái gì đó ở giữa tri thức và niềm tin. Nó dường như là khâu liên kết giữa cảm xúc thực và chân lý” 1.

    Cuộc đấu tranh của hai khuynh hướng này vẫn tiếp tục ngay cả khi trong lĩnh vực nghiên cứu triết học có hiện tượng được gọi là DLXH. Trong quan điểm của các đại diện triết học cổ điển Đức, chẳng hạn, ở công trình Triết học pháp quyền, Hêghen đã đưa ra một quan niệm tương đối mở rộng của DLXH bao gồm định nghĩa, con đường hình thành và các đặc điểm của nó.

    Hêghen xem xét DLXH trong mối tương quan với việc phân tích thể chế nhà nước, nơi ông tách bạch lập pháp và hành pháp. Vai trò cơ bản của yếu tố này là ở chỗ, trong đó, ý thức cộng đồng tồn tại như một tổng thể kinh nghiệm các quan điểm và tư tưởng của nhiều người. Tổng thể này ở dạng “ý nghĩ lành mạnh của con người” gắn với sự phản ánh “tình trạng chung của công việc”. Hêghen tách bạch cái hợp nhất có trong tổng thể các ý kiến cá nhân về công việc chung, nói cách khác, về các vấn đề gây nên mối quan tâm chung. Tư tưởng này được thể hiện rõ hơn trong định nghĩa: Tự do chủ quan, hình thức là ở chỗ những cá nhân có và thể hiện ý kiến riêng của mình, suy luận về các công việc chung và đưa ra lời khuyên về các công việc đó, thể hiện trong cái tập hợp được gọi là DLXH.

    Cùng với việc đề xuất cơ sở hợp lý của DLXH và sức mạnh của nó, Hêghen lại đối lập ý kiến của dân chúng với thể chế nhà nước, ở đó, người thể hiện quyền lực cao nhất là nhà vua. Hêghen cũng chỉ ra rằng trong DLXH “chân lý và những sai lầm vô tận liên kết với nhau”, nó không phải là “chuẩn mực cho cái mà ta cần trên thực tế”, “quần chúng không thể hiểu được” phương pháp hiểu biết, suy luận các hành vi của mình…” 2.

    Hêghen đã giải thích sự mâu thuẫn hiển nhiên trong suy luận của mình. Theo ông, bản chất của DLXH không thể được nhận thức từ sự thể hiện hiện thực của nó. Trong DLXH có cả cái thật và cái giả, nhưng “tìm ra được chân lý trong nó là công việc của một người vĩ đại”. Vì “thực thể chỉ tồn tại từ mình”, và ông đi đến kết luận như sau: DLXH không có trong mình cả quy mô suy tàn lẫn khả năng nâng khía cạnh thực thể từ bên trong mình lên tầm cao của tri thức nhất định… độc lập với nó là điều kiện hình thức đầu tiên để hoàn thành một cái gì đó vĩ đại và đúng đắn cả trong thực tế lẫn trong khoa học. Tuy tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong triết học bởi những đóng góp về phép biện chứng, song Hêghen không vượt qua được tư tưởng bảo thủ bám chặt vào nền quân chủ hùng mạnh.

    Những tư tưởng của Hêghen gắn với việc công nhận sức mạnh của trí tuệ tập thể đã được tiếp tục nghiên cứu rộng rãi trong các công trình của những nhà luật học, trước tiên là ở châu Âu giữa thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, mà đại diện là luật gia người Đức Holcendorff, nhà tội phạm học và xã hội học người Pháp Tard, giáo sư luật đại học người Nga Chvostov. Họ đều công nhận “sức mạnh tinh thần” của DLXH, mặc dù trong nhiều điều, họ không thể giải thích được nguồn gốc của nó.

    Bản chất của DLXH không thể được khám phá từ chính nó. Để giải quyết vấn đề tương đối riêng của DLXH cần thiết phải khám phá những quy luật chung của xã hội loài người, của các quy luật nhận thức. Trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăng ghen đã khám phá ra những quy luật này, điều đó cho phép mở đầu những nghiên cứu bản chất của DLXH từ những quan điểm thực chất khoa học.

    Cụ thể hóa câu hỏi chủ yếu của triết học ứng dụng trong xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nhận thấy rằng: ý thức xã hội chính là sự phản ánh tồn tại xã hội, Mác và Ăngghen cho rằng: chúng ta nâng từ mặt đất lên bầu trời, nghĩa là chúng ta xuất phát không phải từ những gì người ta nói, tưởng tượng, hình dung,… đối với chúng ta, điểm xuất phát là chính những người đang hoạt động và từ quá trình sống thực của họ, chúng ta rút ra cả sự phát triển những phản ánh tư tưởng của quá trình sống đó. Như vậy, người ta đã xác nhận rằng bất cứ sự xuất hiện nào của ý thức xã hội (bao gồm cả DLXH) là “sự bay hơi theo cách của mình” trong quá trình sống vật chất.

    Lời giải này cho câu hỏi chính của triết học, như ta biết có hai mặt: ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và tồn tại xã hội xác định ý thức xã hội. Do đó, DLXH có thể được phân tích về mặt nhận thức luận và cả về mặt xã hội học. Cả hai cách đề cập này đã được các nhà xã hội học sử dụng tích cực khi nghiên cứu DLXH và đã đặt nền móng vững chắc để giải quyết nhiệm vụ phức tạp này. Chẳng hạn, khi nghiên cứu khía cạnh nhận thức luận của DLXH, người ta đã nhấn mạnh ít nhất 3 điểm quan trọng của DLXH: 1) phản ánh thực tế, 2) ” đi vào” mỗi dạng ý thức xã hội, và 3) bao gồm cả nhận thức thông thường lẫn nhận thức lý thuyết. Sự tương tác của các hình thức nhận thức xã hội và DLXH phụ thuộc trực tiếp vào các yếu tố xã hội, vào trình độ phát triển của xã hội. Người ta biết rằng DLXH là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội. Ăngghen, trong tác phẩm Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước đã viết : “Chế độ thị tộc lớn lên từ xã hội không biết đến những mâu thuẫn bên trong và chỉ thích nghi với xã hội đó. Chế độ này không có một phương tiện cưỡng bức nào khác ngoài DLXH”.

    DLXH phát triển tương đối độc lập với các hình thức ý thức xã hội. Việc nó “đi vào” mỗi dạng ý thức xã hội mang tính lịch sử cụ thể. Điều đó có nghĩa là việc xâm nhập của DLXH vào các dạng ý thức xã hội khác nhau ở giai đoạn phát triển hiện nay là kết quả tác động cả yếu tố xã hội lẫn yếu tố nhận thức.

    Cần phải tính đến phương diện xã hội khi giải quyết vấn đề nhận thức luận về quan hệ giữa cái thực và cái giả trong DLXH. Vấn đề không chỉ ở chỗ trong DLXH cái thực và cái giả xen kẽ nhau, mà cả ở chỗ quan hệ giữa chúng như thế nào? khuynh hướng thay đổi của nó, các yếu tố ảnh hưởng đến nó ra sao? Người ta nhận thấy rằng không nên chỉ giới hạn ở việc đối lập nó với ý thức khoa học (chẳng hạn, trong khoa học có thể có những quan điểm, lý thuyết sai trái,…). Sự phê phán đó còn cần phải bao gồm những giải thích căn nguyên của DLXH trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định vì, những điều kiện xã hội có tác động quyết định lên mức độ tương ứng của sự phản ánh thực tế trong DLXH.

    Một vấn đề khác hết sức quan trọng là cần phải giải thích DLXH tác động lên hoạt động thực tiễn của con người như thế nào? bằng cách nào? với những đặc điểm nào?

    Từ những năm 60 của thế kỷ trước, các nhà xã hội học đã coi DLXH chủ yếu như một trạng thái của ý thức và do đó đã phân tích nó trong cấu trúc của ý thức xã hội. Cách tiếp cận ấy tìm được sự phản ánh tương ứng trong những định nghĩa của DLXH ở hàng loạt ấn phẩm của thời kỳ này.

    Phân tích DLXH trong khuôn khổ cấu trúc ý thức xã hội dứt khoát dẫn đến chủ yếu là nghiên cứu phương pháp và hình thức phản ánh hiện thực trong các tranh luận tập thể của con người. Rõ ràng là hướng này rất có hiệu quả và cần thiết, nhưng nó vẫn chưa đủ khi xuất hiện vấn đề về tác động thực tế của DLXH lên thực tiễn và về năng lực cải tạo thực tiễn.

    Mặc dù các nhà xã hội học coi DLXH không phải là cái gì đó thuần túy tinh thần, mà là một cấu tạo tinh thần – thực tế, người ta vẫn rất ít chú ý đến việc khám phá “khía cạnh thực tế”, khía cạnh này thực ra chỉ được nhắc đến xuất phát từ những quan sát thực nghiệm. Tuy nhiên, người ta biết rằng, DLXH luôn luôn và trước hết gắn với việc con người đánh giá một hiện tượng, một quá trình nào đó. DLXH gắn với việc thể hiện lợi ích của các nhóm xã hội lớn. Như vậy, DLXH gắn với các quan hệ xã hội. Điều này là cơ sở để xem xét DLXH không chỉ trong cấu trúc ý thức xã hội mà cả trong cấu trúc quan hệ xã hội. Và khi đó, bản chất của DLXH có thể định nghĩa như là sự tương tác, mối quan hệ của con người trên cơ sở sự thống nhất hoặc sự khác biệt trong đánh giá của họ về những hiện tượng cấp bách của thực tiễn, có ý nghĩa xã hội.

    Rõ ràng, sự chuyển DLXH từ trạng thái phản ánh đến trạng thái cải tạo thực tế (từ lời nói đến việc làm) gắn liền với quá trình khách thể hóa nó trong hệ thống các quan hệ xã hội, có cơ sở chuẩn mực vào thời điểm đánh giá.

    DLXH không phải là một kiểu hoặc một loại quan hệ xã hội đặc biệt, mà chỉ là một yếu tố, một thời điểm, một mặt của các quan hệ đó. DLXH xuất hiện như một phản ánh quá trình sống vật chất và thông qua ý thức con người và tác động vào hệ thống các quan hệ thượng tầng, tư tưởng trong những điều kiện nhất định. Nội dung của DLXH như một yếu tố, một mặt của các quan hệ thượng tầng, tư tưởng, là sự tác động của con người với mục đích tạo ra sự nhất trí trong đánh giá một hiện tượng, một quá trình xã hội cấp bách và cả thái độ tương ứng với sự đánh giá đó trong hoàn cảnh xã hội cụ thể.

    Cơ sở của việc xuất hiện DLXH như một mặt của các quan hệ xã hội trước hết xuất phát từ nhu cầu thể hiện lợi ích xã hội. Trong xã hội học, người ta chia ra những lợi ích gần nhất, lợi ích từng phần, tạm thời và những lợi ích cơ bản, lâu dài. DLXH gắn với cả loại lợi ích thứ nhất lẫn thứ hai. Tuy nhiên, mối liên hệ với loại lợi ích thứ nhất rõ ràng hơn, nhìn thấy được, cảm thấy được. Động thái của DLXH thường xuất hiện trên cơ sở hiện thực hóa những lợi ích cấp bách nhất.

    DLXH phản ánh và thể hiện các quan hệ xã hội. Quá trình này có thể chia thành: 1) không hình thức và 2) hình thức. Ở phương diện không hình thức có thể là “những quy tắc không được viết ra”, nhưng phương tiện thứ hai là những cấu trúc hình thức chính thức (cơ quan, tổ chức,…) thể hiện DLXH ở mức độ chính thức.

    Thực tế cho thấy DLXH có tiềm năng nhận thức to lớn, nghĩa là có khả năng phản ánh trung thực bản chất của hiện tượng xung quanh. Kinh nghiệm đã được nhiều lần kiểm chứng của quần chúng, thể hiện ở ý kiến tập thể của họ luôn luôn cố định chính xác hiện tượng hay quá trình này hoặc hiện tượng hay quá trình khác của thực tiễn. Chính vì vậy, nghiên cứu DLXH, trong ý nghĩa nhất định, là nghiên cứu hiện thực tồn tại.

    Trên cơ sở phản ánh nhận thức, DLXH còn cho thấy khả năng đánh giá thực tế.

    Nhờ có DLXH mà một trong những chức năng của ý thức xã hội trở thành hiện thực, cụ thể là chức năng tiền đề, chức năng này xác định cách đánh giá tình hình và xác định sự lựa chọn hành vi của con người. Sự đánh giá trong DLXH không phải là trừu tượng, nó phản ánh quan điểm của các nhóm xã hội khác nhau 3.

    Như vậy, tính đặc thù của DLXH là ở chỗ nó không chỉ là sự tồn tại có ý thức, mà còn là sự tồn tại có đánh giá. Dựa trên những lập luận này, có thể xác nhận rằng DLXH là sự thể hiện (trạng thái) của ý thức xã hội trong đó phản ánh trước hết là sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng, các sự kiện đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại. Tính đặc thù của bản chất DLXH thể hiện, như đã nói ở trên, nó không chỉ thuần túy tinh thần mà là một cấu trúc tinh thần – thực tế. Trong DLXH, giống như trong một số hình thức thể hiện của ý thức, có hai mặt của một bản chất, một mặt, DLXH là sự thể hiện ý thức, mặt khác, bản chất xã hội của DLXH thể hiện ở hoạt động thực tế của con người. Điều này phụ thuộc vào đặc trưng của các phương pháp nhận thức (khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và tinh thần – thực tế) để hiểu được thế giới. DLXH rõ ràng là gắn với phương pháp sau cùng.

    Hai mặt nói trên trong DLXH được sử dụng trong phân tích thực nghiệm xã hội trên mức độ lời nói và mức độ hành vi. Sự khám phá bản chất DLXH mở ra con đường để nhận thức nội dung của nó. Nội dung này bao gồm tập hợp các yếu tố khác nhau, thường là mâu thuẫn nhau, nói chung là có đặc điểm cảm xúc, hợp lý và ý chí. Cốt lõi trung tâm của DLXH là sự đánh giá xã hội. Sự đánh giá xã hội là sự thể hiện một trong các kiểu quan hệ của chủ thể với khách thể, mối quan hệ thể hiện ở chỗ, chủ thể xác định những tương ứng của khách thể hoặc các tính chất hay các mặt riêng biệt của nó bằng những tiêu chuẩn do chủ thể đặt ra. Sự đánh giá xã hội của các hiện tượng khác nhau có mức độ hợp lý khác nhau. Những sự đánh giá này có thể là tích cực (khuyến khích), tiêu cực (phê phán), trung tính (những đánh giá trong hàng loạt trường hợp có thể là những đánh giá cân bằng). Thông thường, hoạt động đánh giá đi cùng với những cảm xúc (sung sướng, thân thiện, thù địch…). Tuy nhiên, theo thời gian cảm xúc yếu đi và quan hệ với hiện tượng, sự kiện được thể hiện chủ yếu nhờ sự đánh giá lý tính.

    Một trong những đặc điểm quan trọng trong sự đánh giá của DLXH là cường độ của nó. Cường độ này cho thấy độ bền vững về sức mạnh của việc thể hiện quan hệ giữa con người với các sự kiện hoặc hiện tượng. Thang cường độ có thể chi tiết khác nhau (phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu), nhưng những nấc giới hạn của nó luôn là đồng tình (hoặc phê phán) hoàn toàn.

    Sự đánh giá xã hội thể hiện mối quan hệ ở dạng khuyến khích hay phê phán, ở những mức độ khác nhau đều tạo ra áp lực cho hành động thực tế. Nhà nghiên cứu người Nga Korobeinhicov cho rằng: “Khi có nhu cầu và hoàn cảnh thỏa mãn nhu cầu đó, trong chủ thể xuất hiện một trạng thái đặc thù có thể định nghĩa như sự sẵn sàng, như phương châm thực hiện một hoạt động nào đó để thỏa mãn nhu cầu cấp bách của nó” 4.

    DLXH không chỉ là suy luận của con người về các sự kiện, các hiện tượng xã hội tạo nên mối quan tâm chung có tính chất cấp bách, mà còn là một cơ chế lịch sử cụ thể của mối quan hệ giữa suy luận và hành động của con người, là trạng thái “làm việc” của ý thức. Định hướng con người làm họ thể hiện ý kiến của mình trong các hành vi. Bởi vậy, không có định hướng thì không thể xem xét hiện tượng DLXH trong các quá trình tâm lí của nhóm lớn.

    Từ những kiểu định hướng khác nhau, DLXH gắn bó chặt chẽ nhất với cái gọi là những định hướng xã hội mà con người thường nhận thức được và là định hướng chung cho cá nhân trong quan hệ với những khách thể xã hội. Các định hướng xã hội xuất hiện trên cơ sở tác động của thực tế xã hội và của những người khác lên con người. Trong sự tương tác đó, những định hướng giá trị của các cá nhân như những thành viên của các nhóm và của xã hội nói chung được phản ánh. Có hai loại giá trị: các giá trị được phê chuẩn và nuôi dưỡng bởi hệ thống phương tiện của các thể chế chính thức và cả các giá trị ở mức độ ý thức thông thường. Trong DLXH, cả hai loại giá trị này cùng tồn tại và tác động lẫn nhau. Những định hướng có giá trị thay đổi dưới tác động của những điều kiện khách quan và những yếu tố chủ quan đều được phản ánh trong trạng thái DLXH.

    Ý kiến được hình thành trên cơ sở tri thức về sự vật. Sự hình thành DLXH do vậy, khác với quá trình nhận thức. Bởi vì mục đích của ý kiến không phải là nhận thức toàn diện sự vật, nhận ra chân lý khách quan, mà là sử dụng tri thức có được để hình thành sự đánh giá, để tạo ra quan hệ khuyến khích hay phê phán khách thể của ý kiến. Vì thế, tri thức có trong DLXH khác hẳn về thể tích lẫn mức độ bởi tính đặc thù của hiện tượng DLXH. Việc đưa tri thức vào cấu trúc DLXH gắn với một đặc điểm quan trọng của nó là tính thẩm quyền.

    Ở đây có sự tương tác giữa ý kiến và tri thức. Những nghiên cứu thực nghiệm của các nhà xã hội học Mỹ cho thấy trong sự đánh giá luôn có tri thức, nhưng có tri thức không phải lúc nào cũng dẫn đến việc xuất hiện sự đánh giá hay ý kiến. Ngoài những yếu tố của tri thức đúng đắn, trong cấu trúc của DLXH còn có cả khái niệm – hình ảnh khái quát của nhiều ấn tượng cảm xúc, tri thức nhìn thấy được thường vẫn xuất hiện do tưởng tượng. Con người hiện đại gắn kết với mạng lưới các quan hệ rất phức tạp. Sự phát triển của công nghệ điện tử tạo nên hệ thống Internet liên kết toàn cầu cùng với sự ra đời của các phương tiện truyền thông đại chúng đa chức năng, hình thành nên không gian xã hội rất rộng lớn, quá trình này làm cho cơ chế các quan hệ này phong phú và phức tạp hơn. “Việc Internet tiến hóa thành phương tiện truyền thông đại chúng cho phép những người sử dụng nó vượt qua vai trò truyền thống của họ chỉ đơn thuần là người nhận và trở thành người tham gia tích cực trong việc tiếp nhận, lưu trữ và phổ biến tin tức”.

    Kinh nghiệm cá nhân của con người rất hạn chế, còn nhu cầu định hướng trong thực tế xã hội đầy biến động lại đòi hỏi hình thành một bức tranh chung của hiện tượng hoặc quá trình này hay hiện tượng hoặc quá trình khác. Chính ở đây, những tri thức cảm nhận trực diện đã có, thường làm đầy những “điểm trắng” trong bức tranh chung được sử dụng nhờ có sự tưởng tượng. Chẳng hạn, các nhà xã hội học đã nhận thấy rằng những người chưa bao giờ đến các nước lớn trên thế giới lại có khái niệm tương đối chính xác về phong cảnh của những nước này. Trong quá trình tưởng tượng đó ngầm chứa cả sức mạnh và cả cái yếu của DLXH, thực tế này gắn với khả năng hình thành DLXH với sự tác động từ những mảnh riêng của thực tế. Vì DLXH là hình thể tinh thần – thực tế nên nó phải có những yếu tố của tinh thần làm tiền đề cho sự xuất hiện hành vi.

    Chính những yếu tố ý chí này gắn với mức độ nhất trí giữa các thành viên của cộng đồng xã hội, với ý thức tập hợp những giá trị xã hội được họ lựa chọn. Ăngghen đã viết rằng “Trong từng con người, muốn làm cho anh ta hành động, tất cả mọi động lực gây ra hành động của anh ta đều phải đi qua cái đầu, đều phải biến thành động lực của ý chí…”. Ý chí trong DLXH thể hiện ở việc động viên cá nhân như một đại diện của một nhóm xã hội nhất định đưa ra hành động tương ứng với những “chỉ thị”, “hướng dẫn” của ý kiến. Mệnh lệnh cần thiết để tập trung ý nghĩ và năng lượng của quần chúng vào một hướng thống nhất. Nếu quá trình hình thành ý chí và suy luận trùng lặp thì ý chí vốn rất bền vững sẽ làm cho những suy luận cũng ổn định theo. Ý chí hình thành những suy luận này có thể được lan truyền và trở thành hiện thực.

    Cấu phần ý chí thường ít được các nhà nghiên cứu DLXH quan tâm đầy đủ. Tuy vậy, cấu phần này lại có ý nghĩa to lớn đối với cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Nghiên cứu DLXH thực tế là sự thể hiện hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng. Sự thể hiện những đánh giá và hành vi được tuyên truyền không thể có kết quả nếu không có trạng thái ý chí tương ứng của quần chúng.

    Lập luận trên cho thấy những điều kiện và những yếu tố nhất định buộc DLXH đứng ở mức độ phản ánh hiện thực (ý chí, lời nói) hoặc làm nó chuyển sang mức độ khác – mức độ tác động lên thực tế và cải tạo nó (đi vào hệ thống các quan hệ xã hội, các thể chế). Như vậy, trong DLXH có thể tách ra những tập hợp các yếu tố, dù ở mức độ này hay mức độ khác, tác động đến tính tích cực của con người, hướng đến việc thể hiện lợi ích xã hội một cách khách quan trong sự đánh giá của DLXH.

    Tài liệu tham khảo

    1. Mai Quỳnh Nam (1995), “Dư luận xã hội: mấy vấn đề về lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Xã hội học, Số 1.
    2. Gorskov.M.K (1998), Dư luận xã hội: lịch sử và hiện đại, Nxb. Tri thức, Moscow (tiếng Nga).
    3. Hans L Zetterberg (2003), “Social Science Theories and the Study of Public Opinion”, Paper ppared for WAPOR (World Association of Public Opinion Researchers) annual meeting in Prague, Czech Republic, September 17-19.
    4. Korobeinhikov V.S. (1988), Bản chất và chức năng của dư luận xã hội, Nxb. Khoa học, Moscow (tiếng Nga).
    5. Eds. Wolfgang Donsbach & Michael W. Traugott, The SAGE Handbook of PublicOpinion Research (2008), www.sagepublications.com.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Dư Luận Xã Hội Trong Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tầm Nhìn Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Yên Thành
  • Chức Năng Cần Có Của Website Du Lịch, Bán Tour Lữ Hành
  • 9 Chức Năng Của Travelmaster Giúp Gì Cho Các Doanh Nghiệp Du Lịch?
  • Du Lịch Và Các Chức Năng Của Du Lịch
  • Dư Luận Xã Hội Là Gì? Ảnh Hưởng Của Dư Luận Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Dư Luận Xã Hội Có Phải Là Một Bộ Phận Của Ý Thức Xã Hội
  • Một Số Phương Pháp Định Hướng Dư Luận Xã Hội
  • Bàn Về Khái Niệm “dư Luận Xã Hội”
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Acid Nucleic
  • Tìm Hiểu Về Nucleic Axit, Chức Năng Của Họ, Ví Dụ, Và Monomer ·
  • Dư luận xã hội là gì? Ảnh hưởng của dư luận xã hội. Phân tích những đặc điểm của dư luận xã hội, tính chất của dư luận xã hội và các phương pháp nắm bắt dư luận xã hội.

    Dư luận xã hội là hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội. Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại rất lâu trong lịch sử, nó hình thành, tồn tại và phát triển cùng với quá trình vận động, phát triển của bản thân xã hội loài người. Dư luận xã hội không chỉ tác động đến đời sống của mỗi con người mà còn mạnh mẽ đến các quá trình chính trị – xã hội, đến việc lãnh đạo và quản lý xã hội, đặc biệt là ý thức pháp luật. Chính vì vậy, việc xem xét những yếu tố, những tính chất cơ bản của dư luận xã hội, là một vấn đề hết sức quan trọng. Để tìm hiểu sâu hơn về tính chất của dư luận xã hội và tác động của nó, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích các tính chất cơ bản của dư luận xã hội, cho ví dụ minh họa ở từng tính chất. Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật”.

    Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi có những vấn đề có ý nghĩa xã hội đụng chạm đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội, có tầm quan trọng và có tính cấp bách, đòi hỏi phải có ý kiến phán xét, đánh giá và đưa ra những phương hướng cụ thể. Đó có thể là vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, hay đạo đức.

    Chủ thể của dư luận xã hội là cộng đồng người hay nhóm người mang dư luận xã hội. Dư luận xã hội bao gồm mọi luồng ý kiến của đa số cũng như ý kiến của thiểu số. Chủ thể của dư luận xã hội có thể là tập hợp những người thuộc các giai cấp, tầng lớp khác nhau, thậm chí đối lập nhau về lợi ích mà nền tảng gắn kết họ lại với nhau lại là những đặc điểm tâm lí, nhận thức chung giữa họ.

    Tin đồn cũng là một hiện tượng tâm lý xã hội. Nhưng tin đồn khác với dư luận xã hội ở chỗ tin đồn không phải là sản phẩm của tư duy phán xét của các nhân mang nó. Mà tin đồn “chỉ là tin tức về sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật, có thể không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác”.

    Tin đồn là dạng thông tin không chính thức, chưa được kiểm chứng về sự trung thực và do đó chủ thể của tin đồn không được rõ ràng. Ngược lại, dư luận xã hội là sản phẩm của tư duy phán xét của cá nhân mang nó. Tin đồn có thể chuyển hóa thành dư luận xã hội khi trên cơ sở của tin đồn người ta đưa ra những phán xét bày tỏ thái độ của mình; khi thông tin được kiểm chứng và các nhóm xã hội có thể được tiếp cận với nguồn thông tin, trao đổi, bày tỏ ý kiến của mình thông qua con đường công khai.

    Ví dụ từ tin đồn xã X chính quyềnnhận hối lộ phát triển lên thành dư luận xã hội. Nếu được giải quyết tốt thì kẻ nhận hối lộ bị nghiêm trị, tình hình ổn định và ngược lại nếu giải quyết không tốt sẽ làm tình hình lại càng trở nên phức tạp hơn.

    Hình thức thể hiện chính của dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá, thẩm bình, kiến nghị. Khuynh hướng chung trong các ý kiến đánh giá và thái độ của công chúng đối với mỗi sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội bao gồm tán thành, phản đối hay lưỡng lự. Cũng có thể phân chia dư luận xã hội theo các khuynh hướng như tích cực, tiêu cực; tiến bộ hoặc lạc hậu… Ở mỗi khuynh hướng, thái độ tán thành hoặc phản đối lại có thể phân chia theo các mức độ cụ thể như rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản đối.

    Năm 2011, dư luận xã hội xôn xao về vụ án cướp tiệm vàng ở Bắc Giang của Lê Văn Luyện và mức án phạt về ba tội danh: giết người, cướp tài sản, chiếm đoạt tài sản nhưng chỉ bị phạt tù 18 năm do Luyện chưa đến tuổi thành niên. Theo Điều 18 “Bộ luật dân sự năm 2022” qui định về Người thành niên, người chưa thành niên thì: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”. Và Điều 68 Bộ luật hình sự qui định về chịu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thì: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự”.

    Trong vụ án này, Lê Văn Luyện sinh ngày 16/10/1993 và ngày gây án là 24/8/2011. Vì vậy, Lê Văn Luyện chưa đủ 18 tuổi, thuộc trường hợp người chưa thành niên phạm tội. Căn cứ vào điều 69 Bộ luật hình sự thì: “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội…” Bản án không mấy bất ngờ bởi nó phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam song cũng có rất nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề này.

    Nhiều ý kiến cho rằng bản án còn chưa thỏa đáng bởi giết người phải đền mạng. Lê Văn Luyện giết nhiều người, tội ác man rợ của Luyện phải trả giá bằng mức án cao nhất đó là tử hình. Những người như Luyện phải loại bỏ khỏi xã hội và nếu cứ đà xét xử tuổi vị thành niên phạm tôi đặc biệt nghiêm trọng mà không xử được tử hình hoặc chung thân thì xã hội sẽ còn nhiều kẻ xấu tuổi vị thành niên lợi dụng sự chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước để gây ra những vụ thảm án dã man hơn, có thể sẽ có nhiều cái chết đau thương hơn.

    Như vậy, ở vụ việc này, dư luận xã hội có hai khuynh hướng tán thành và phản đối. Đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng chữ U. Sự không thống nhất trong quan điểm, thái độ của dư luận xã hội về vấn đề nay là do tâm lý, hiểu biết xã hội, trình độ học vấn, hiểu biết, kiến thức pháp luật của mỗi người.

    Gần đây một vấn đề được đông đảo dư luận xã hội quan tâm là Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.Do không thống nhất được việc rút quy định xử phạt xe không chính chủ, Bộ Giao thông vận tải vừa đưa cả 2 luồng ý kiến khác nhau vào trong Dự thảo Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trình Thủ tướng Chính phủ quyết địnhBan soạn thảo đã đưa ra 2 luồng ý kiến khác nhau.

    Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa của cộng đồng xã hội hoặc của cả dân tộc. Lợi ích là điều kiện cần để thúc đẩy việc tạo ra dư luận xã hội nhưng quan trọng chính là sự nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích của mình và mối quan hệ giữa chúng với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra.

    Chẳng hạn hiện nay, chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của một số cường quốc trên thế giới như Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đang gặp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ của dư luận thế giới vì nhân loại nhận thức được mối nguy hiểm tiềm tàng, nguy cơ chiến tranh tiêu diệt loài người.

    Dư luận xã hội được coi như biểu hiện của hành vi tập thể do đó cơ sở của nó là hiệu ứng phản xạ quay vòng, mà khởi điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên các chuỗi kích thích của các cá nhân khác, nhóm xã hội khác. Để duy trì chuỗi kích thích này luôn cần các nhân tố tác động lên cơ chế hoạt động tâm lý của các cá nhân hay nhóm xã hội. Đối với dư luận xã hội, các nhân tố tác động đó có thể được coi là các thông tin bằng hình ảnh, âm thanh sống động, trực tiếp và có tính thời sự. Dưới tác động của các luồng thông tin này, các nhóm công chúng khác nhau sẽ cùng được lôi cuốn vào quá trình bày tỏ quan tâm của mình thông qua hoạt động trao đổi bàn bạc, tìm kiếm thông tin, cùng chia sẻ trạng hái tâm lý của mình với người xung quanh.

    Đầu năm 2012, làn sóng dư luận trong nước không ngừng bàn luận về vụ án cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp đất đai giữa ông Đoàn Văn Vươn ở Cống Rộc, Vĩnh Quang và UBND huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng, bộc lộ những hạn chế trong việc thực thi pháp luật ở các cấp địa phương, thu hút đông đảo dư luận trong nước. Kết quả của vụ án này là 4 chiến sĩ công an huyện và 2 chiến sĩ thuộc ban chỉ huy quân sư huyện Tiên Lãng bị thương, 6 người dân bị bắt và bị khởi tố, việc thu hồi đất bị hủy bỏ, một số cán bộ địa phương bị đình chỉ công tác và bị cách chức.

    Vụ việc hàm chứa nhiều ý nghĩa chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam, kéo theo phản ứng tức thời và sâu sắc của báo chí và người dân, người dân với báo chí. Vụ việc này đã khởi nguồn không chỉ từ những tờ báo in và báo điện tử chuyên về chính trị – xã hội, mà còn lan rộng ra cả nhiều tờ báo chuyên ngành về kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục và nông thôn. Có ý kiến cho rằng Đoàn Văn Vươn đã vi phạm pháp luật tội chống người thi hành công vụ, nhưng huyện Tiên Lãng đã sai về mặt pháp luật khi tiến hành cưỡng chế ở vụ án này. Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh nói, trong vụ cưỡng chế này, chính quyền huyện, xã đều sai và đây là bài học mà chính quyền cả nước phải rút kinh nghiệm. Ông cũng cho rằng “Thành ủy Hải Phòng và UBND TP Hải Phòng phải có trách nhiệm xử lý, làm sai chỗ nào thì phải nhận sai ở chỗ đó, không được trả lời loanh quanh và không được che giấu sai phạm.

    Trả lời tiền hậu bất nhất là không thể được và sử dụng bộ đội để cưỡng chế với dân là tuyệt đối sai”. Theoông Vươn cho biết do “không còn con đường nào khác nên buộc phải chống lại. Anh em chúng tôi không muốn gây chết người tại mảnh đất của mình nên đã cảnh báo trước khi xảy ra vụ cưỡng chế”. Còn người dân Tiên Lãng đã không giấu nổi niềm vui. Theo họ, kết luận của Thủ tướng đã “phục hồi” niềm tin của dân vào chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và sự công bằng đã được trả lại cho những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn.

    Dư luận có tính bền vững tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với những sự kiện, hiện tượng hay quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững. Ví dụ cho tính chất này là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đã có thời kì, có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này, nhưng đa số đều thống nhất con đường xã hội chủ nghĩa là duy nhất. Một số bộ phận phản động Việt quốc, Việt cách đã tìm cách tuyên truyền, thêm thắt, bịa đặt không tốt để chống phá cách mạng và con đường chủ nghĩa xã hội của ta.

    Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện sau:

    Thứ nhất, biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa. Hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang tồn tại trong nền văn hóa của cộng đồng người quyết định sự phán xét, đánh giá của dư luận xã hội về các sự kiện, hiện tượng hay quá trình xã hội. Với cùng một sự việc, sự kiện xảy ra, dư luận xã hội ở các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét đánh giá khác nhau. Ví dụ ở Việt Nam, bò được xem là một con vật nuôi, cung cấp sức kéo, lấy sữa, thịt bò là một món ăn được nhiều người ưa thích. Nhưng đối với người Ấn Độ theo đạo Hin đu thì bò là một loài vật thiêng, những tín đồ ăn thịt bò sẽ bị dư luận lên án một cách gay gắt.

    Thứ hai, biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều giá trị văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán có thể bị biến đổi ngay trong cùng một nền văn hóa-xã hội dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội. Chẳng hạn như thời phong kiến, chế độ đa thê-người đàn ông cùng lúc có thể có nhiều vợ được dư luận xã hội dễ dàng chấp nhận, nhưng thời đại ngày nay thì không. Hôn nhân hiện đại là chế độ một vợ một chồng, người đàn ông nào cùng lúc có nhiều vợ là vi phạm pháp luật và bị xã hội lên án.

    Dư luận xã hội về những vấn đề của đời sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời (dư luận của đa số im lặng). Trong những xã hội thiếu dân chủ, dư luận xã hội đích thực thường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn. Trong xã hôi cũng có những dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới chưa xảy ra. Ví dụ trong thời kì phong kiến, tầng nông dân luôn bị áp bức, bóc lột nhưng không ai dám lên tiếng. Người dân đều oán giận, căm ghét giai cấp đại chủ, vua chúa phong kiến nhưng không thể hiện ra ngoài.

    Sự phản ánh của dư luận xã hội có thể đúng hoặc sai do đó không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức từ dư luận xã hội. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn của thiểu số. Cái mới lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy, do đó dễ bị đa số phản đối. Đối với những vấn đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới trí thức, của những người có trình độ học vấn cao thường chín chắn hơn so với những người có trình độ học vấn thấp.

    Chẳng hạn khi nói về chế độ chính trị ở Việt Nam, một số bộ phận phản động đã tuyên truyền về việc ở Việt Nam chỉ có một chính Đảng lãnh đạo, điều đó sẽ tạo ra sự độc quyền, chuyên chế, hạn chế tính dân chủ. Những dư luận chúng tạo ra làm ảnh hưởng đến quốc gia, dân tộc và đi sai lệch định hướng của Đảng và Nhà nước. Nhưng một số ít công dân thiếu hiểu biết đã tin vào dư luận do bọn phản cách mạng tạo ra gây ảnh hưởng xấu đến xã hội, lan truyền những dư luận sai lệch. Như vậy, không phải thông tin nào của dư luận xã hội đều đúng tuyệt đối. Trình độ học vấn, hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến dư luận xã hội quyết định tính chất tốt xấu, lợi hại của dư luận xã hội.

    Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội từ góc nhìn pháp luật, là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội. Nhưng trước khi xuất hiện nhà nước, pháp luật và cùng với đó là ý thức pháp luật, những yếu tố tham gia định hướng và điều chỉnh ý thức, hành vi xã hội của con người lại chính là đạo đức, phong tục, tập quán, truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng… đặc biệt là dư luận xã hội. Dựa vào cấu trúc của ý thức pháp luật, ta có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để phân tích sự tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật. Trong phạm vi bài viết, em xin tập trung phân tích sự tác động của dư luận xã hội đối với hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.

    Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm có tính chất lý luận và khoa học về pháp luật, phản ánh về pháp luật và các hiện tượng pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa học. Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh trình độ nhận thức cao, có văn trong xã hội.

    Dư luận xã hội tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và phát triển của hệ tư tưởng pháp luật. Với tư cách một hiện tượng xã hội, dư luận xã hội phản ánh tồn tại xã hội nói chung, đồng thời phản ánh các sự kiện, hiện tượng pháp lí xảy ra trong đời sống xã hội. Sự bàn luận, trao đổi ý kiến giữa các thành viên trong xã hội về các sự kiện, hiện tượng pháp lý đưa tới kết quả là, họ đạt tới sự nhận thức chung, thống nhất trong các phán xét, đánh giá về sự việc, sự kiện pháp lý.

    Dư luận xã hội lan truyền càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung các phán xét, đánh giá, càng làm cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc. Do đó, ảnh hưởng của dư luận xã hội đối với hệ tư tưởng pháp luật còn thể hiện ở chỗ dư luận xã hội tham gia vào việc phổ biến, tuyên truyền trong các tầng lớp xã hội những giá trị pháp luật, các tư tưởng, quan điểm pháp luật.

    Hệ tư tưởng pháp luật chính thống của một xã hội nhất định bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Do đó, trong mỗi học thuyết, quan điểm pháp lý đều chứa đựng những tư tưởng về quyền lợi kinh tế, chính trị, xã hội và ý chí của một giai cấp nhất định. Chúng nảy sinh, tồn tại phát triển hay bị thủ tiêu đều phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Khi giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội, có lợi ích giai cấp phù hợp với lợi ích cơ bản của các lực lượng xã hội khác thì tính dân chủ, tính khoa học và tính xã hội của hệ tư tưởng pháp luật sẽ thể hiện nổi trội, rõ nét.

    Trong điều kiện như vậy, nội dung của các nhận định, đánh giá về những sự kiện, hiện tượng pháp lý mà dư luận xã hội đưa ra sẽ tương ứng và phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật của hệ tư tưởng pháp luật chính thống, nghĩa là ý chí của giai cấp cầm quyền có nhiều nét tương đồng với dư luận xã hội của các tầng lớp nhân dân. Qua đó, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ và tích cực tới sự hình thành, phát triển và phổ biến hệ tư tưởng pháp luật trong xã hội.

    Đối với đại đa số quần chúng nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc luôn có tầm quan trọng hàng đầu. Dư luận xã hội đóng vai trò bảo vệ những quyền lợi, các giá trị phổ biến của xã hội, cũng như các giá trị, lợi ích cá nhân chính đáng của con người. Mỗi khi quyền lợi, các giá trị của quốc gia, dân tộc bị xâm hại thì dư luận xã hội lập tức xuất hiện với thái độ lên án, phản đối gay gắt.

    Ví dụ về việc tranh chấp chủ quyền biển Đông có nhiều ý kiến tranh luận, bàn bạc về vấn đề này thông qua các website, báo chí, truyền thông. Đa số mọi người đều cho rằng: Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam, thuộc chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam và được ghi nhận trên bản đồ thế giới. Hiện nay, trên các website, công dân yêu nước đã và đang lập các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc như: “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam” phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc.

    Tâm lý pháp luật hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của các cá nhân và các nhóm xã hội đối với pháp luật, cũng như những hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội. Tâm lý pháp luật chỉ biểu hiện cấp độ nhận thức thông thường dựa trên cơ sở tình cảm pháp luật truyền thống, kinh nghiệm sống, tập quán và tâm lý xã hội.

    Một là, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật. Tình cảm pháp luật là yếu tố cơ bản của tâm lý pháp luật, thường được hình thành một cách tự phát dưới ảnh hưởng của hoạt động giao tiếp hàng ngày của con người với môi trường pháp lý xung quanh. Và, do là yếu tố mang tính tự phát, chịu sự chi phối của phong tục, tập quán, kinh nghiệm sống và nếp sống của con người, nên tình cảm pháp luật có thể được bộc lộ dưới dạng các phản ứng tích cực, cũng như tiêu cực của mỗi người trước những sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong thực tế.

    Do vậy, tình cảm pháp luật có thể biểu hiện dưới dạng tích cực, như thái độ phản ứng lại các hành vi vi phạm pháp luật, yêu công lý, đề cao công bằng xã hội, đề cao trách nhiệm pháp lý… cũng có thể biểu hiện dưới dạng tiêu cực, như cổ vũ cho hành vi phạm pháp, chống đối người thi hành .công vụ, làm ngơ trước người bị hại… Tất cả những biểu hiện đó của tình cảm pháp luật đều là đối tượng phán xét, đánh giá của dư luận xã hội.

    Do vậy, mỗi cá nhân đều mong muốn có thể kiểm soát, điều chỉnh tình cảm và hành vi của mình sao cho phù hợp với ý chí chung của cộng đồng xã hội. Với ý nghĩa đó, dư luận xã hội tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật, góp phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật tích cực, đúng đắn của mỗi công dân.

    Hai là, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người trước luật pháp. Tâm trạng của con người trước luật pháp là sự thể hiện trạng thái tâm lý của các cá nhân trước các sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội thường ngày. Đây là yếu tố rất linh động, dễ thay đổi của tâm lý pháp luật. Do sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố, như điều kiện sống, lao động, sinh hoạt hàng ngày mà tâm trạng của con người thường được thể hiện ra ở các trạng thái đối lập: hưng phấn-ức chế, lạc quan-bi quan, hy vọng-thất vọng, quan tâm-thờ ơ, nhiệt tình-lãnh đạm… trước thực tiễn cuộc sống.

    Tuỳ thuộc đang trong tâm trạng hưng phấn, nhiệt tình, người ta dễ có những phản ứng mạnh mẽ, tích cực trước các hành vi vi phạm pháp luật ở nơi công cộng, còn khi không tin tưởng vào sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, người ta thường thờ ơ trước các sự kiện pháp lý… Những tâm trạng đó được bộc lộ trong nội dung các phán xét, đánh giá của dư luận xã hội và qua đó, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người trước luật pháp.

    Với tư cách là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng xã hội, dư luận xã hội có thể động viên, khích lệ, khơi gợi niềm tin của các thành viên trong xã hội đối với sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, đưa ra những lời khuyên, tư vấn về cách ứng xử trước một thực tiễn pháp luật nhất định.

    Dư luận xã hội có thể tác động, làm nảy sinh trong mỗi người tâm trạng xúc động trước hành vi thể hiện ý thức tự giác chấp hành pháp luật. Đây là một biểu hiện cao của lương tâm con người, hướng con người tới ý muốn noi theo những người có thái độ tự giác chấp hành các nguyên tặc, quy định của pháp luật, tuân theo quy luật hướng thiện. Thông qua việc tạo ra những “khuôn mẫu tư duy”, “khuôn mẫu hành động” cho các thành viên trong xã hội, dư luận xã hội hướng con người theo gương người tết, việc tất trong lĩnh vực chấp hành pháp luật. Điều đó nói lên rằng, dư luận xã hội có ảnh hưởng tích cực tới tâm trạng của con người trước luật pháp.

    Ba là, thông qua dư luận xã hội, các cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình trong phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hiện hành. Tâm lý pháp luật không chỉ biểu hiện ở tình cảm pháp luật, tâm trạng của con người trước luật pháp, mà nó còn được biểu hiện ra ở việc các cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình trong môi trường điều chỉnh của pháp luật.

    Hành vi pháp luật của con người, trong chừng mực nhất định, chính là sự hiện thân của tình cảm pháp luật và tâm trạng trước luật pháp của họ. Cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình có thể biểu hiện dưới dạng cảm xúc, như tự hào, phấn khởi hay e ngại, xấu hổ, lo lắng… Những phán xét, đánh giá (khen-chê, biểu dương-lên án…) của dư luận xã hội đối với hành vi của các cá nhân, ở một mức độ nào đó, đều tham gia vào việc điều chỉnh hành vi pháp luật của cá nhân.

    Nói cách khác, dư luận xã hội, trong trường hợp này, là “tấm gương” để mỗi cá nhân tự soi mình vào đó mà định hướng, điều chỉnh hành vi ứng xử của bản thân. Sức mạnh đặc trưng của dư luận xã hội khiến cho mỗi cá nhân luôn phải suy nghĩ, xem xét trước khi thực hiện một hành vi pháp luật nào đó: hành vi đó đúng hay sai? phù hợp hay không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành? Nếu thực hiện một hành vi nào đó thì có bị dư luận xã hội lên án hoặc phải chịu sự xử lý theo các nguyên tắc luật định không? Điều đó cho thấy, dư luận xã hội luôn có tác động tới cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình.

    Qua bài tiểu luận, ta có thể nắm được năm tính chất của dư luận xã hội: tính khuynh hướng, tính lợi ích, tính lan truyền, tính bền vững tương đối và dễ biến đổi, tính tương đối và tác dụng của nó tới lĩnh vực pháp luật để từ đó có cái nhìn khách quan về bản chất của dư luận xã hội. Bởi vậy cần phát huy tối đa các tác dụng tích cực của dư luận xã hội, nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh. Đồng thời, với tư cách là một phương thức tồn tại đặc biệt của thức xã hội, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật trên cả hai góc độ: hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về dư luận có ý nghĩa lớn về mặt vật chất và tinh thần của con người, là phương tiện quan trọng và mạnh mẽ để nhân dân phát huy quyền làm chủ và tính tích cực của công dân đối với đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tải Hack Ngọc Rồng 191 Supermod Android Ios Antiban
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Chuẩn Nhất Quả Đất
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Nhanh Nhất Cho Newbie
  • Đề Tài Vai Trò Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay
  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từnng Tính Chất? Tác Động Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Ý Thức Pháp Luật?

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Tác Xã Hội Trường Học
  • Vai Trò Của Nhân Viên Công Tác Xã Hội Trong Một Số Lĩnh Vực Hoạt Động
  • Triết Học Và Vai Trò Của Nó Trong Đời Sống Xã Hội
  • Chức Năng, Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Tài Liệu Phân Tích Các Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Xã Hội Học Gia Đình Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật
  • Dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội .Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong lịch sử , nó đã trở nên quen thuộc ở mỗi cá nhân, tổ chức ,bao gồm cả quốc gia mà trong cuộc sống hằng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Dư luận xã hội biểu thị những mối quan tâm, tình cảm, nguyện vọng, được thể hiện dưới dạng ý kiến phán xét, đánh giá của nhiều người về sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội nào đó xảy ra trong xã hội. Với tư cách là một hiện tượng đặc biệt đã và đang tồn tại trong xã hội thì dư luận xã hội cũng có những tính chất cơ bản riêng làm cho nó được phân biệt với tin đồn .Trong bất kỳ xã hội nào, dư luận xã hội cũng đều có ảnh hưởng mạnh mẽ và quan trọng đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong số đó phải kể tới sự tác động không nhỏ của dư luận xã hội đến ý thức pháp luật. Vì vậy, em xin chọn đề tài : “Phân tích các tính chất cơ bản của dư luận xã hội, cho ví dụ minh họa ở từnng tính chất? Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật?” để có thể tìm hiểu và làm rõ hơn về vấn đề này.

    b) Khái niệm tin đồn: Tin đồn chỉ là tin tức về sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật, có thể không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác.

    c) Khái niệm ý thức pháp luật: Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật và sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp đối với các hành vi pháp lí thực tiễn. (Gt. Lí luận Nhà nước và Pháp luật -Trường đại học Luật Hà Nội)

    Có 5 tính chất cơ bản của dư luận xã hội. Đó là:

    Mỗi sự việc, sự kiện, hiện tượng xảy ra trong đời sống đều có sự phản hồi của dư luận xã hội. Thái độ chung của dư luận xã hội đối với các sự việc trên có thể khái quát theo các khuynh hướng nhất định, gồm tán thành, phản đối hay lưỡng lự (Chưa rõ thái độ). Cũng có thể phân chưa dư luận xã hội theo các khuynh hướng như tích cực hoặc tiêu cực; tiến bộ hoặc lạc hậu … Ở mỗi khuynh hướng, thái độ tán thành hoặc phản đối lại được phân chia theo các mức độ như : rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản đối.

    Cụ thể như quy định Quy định chó, mèo ‘chính chủ’ đã gây xôn xao dư luận xã hội. Theo quy định của Bộ Nông nghiệp, chủ nhân nuôi chó, mèo sẽ phải đăng ký với UBND xã, phường, các đội chuyên trách bắt giữ chó, mèo thả rông cũng được thành lập.Theo đó, các hộ nuôi chó, mèo sẽ tới đăng ký với UBND xã để được cấp số cho vật nuôi. Chi cục Thú y và Trạm thú y phải có sổ theo dõi số lượng chó nuôi, số hộ nuôi chó ở tỉnh, huyện. Thú y cấp xã, thôn, ấp có trách nhiệm thống kê số lượng chó, mèo và số hộ nuôi chó, mèo để quản lý. Còn UBND các cấp chỉ đạo thành lập các đội chuyên trách bắt giữ chó, mèo thả rông ở các khu đô thị, nơi đông dân cư hoặc chó, mèo nghi bị mắc bệnh dại. Trạm thú y có trách nhiệm nuôi nhốt chó, mèo bị bắt, theo dõi sức khỏe và chờ chủ gia súc đến nhận; sau 3 ngày, nếu không có người tới nhận, chó, mèo sẽ bị tiêu hủy. Điều này đang gây ra những phản ứng trái chiều.

    Theo nội dung của quy định trên đưa ra. Một phần người dân đồng tình với quy định này của Bộ Nông nghiệp vì đem lại hiệu quả . Nhiều người tán thành với quy định mới bởi, các hộ nuôi chó, mèo sẽ có sổ riêng để theo dõi, còn chó mèo cũng sẽ có một mã số đeo vào cổ. Quy định này nhằm quản lý chó, mèo nhằm khống chế bệnh dại từ chó, mèo sang người. Vì thực tế rất nhiều chết vì khi bị chó mèo cắm (Giai đoạn 1991 – 2007, trung bình mỗi năm có tới 200 người chết do bệnh dại. Sau một thời gian các ca tử vong giảm, vài năm trở lại đây, bệnh dại đang có chiều hướng quay trở lại. Năm 2011, 110 người chết; số liệu năm 2012 cũng đã ghi nhận 77 ca tử vong.) , đồng thời hàng năm tốm rất nhiều tiền, công sức để tiêm vắc xin cho người (khoảng 500.000 người tiêm vắcxin sau khi súc vật dại hoặc nghi dại cắn (chủ yếu là chó, mèo); Một mặt thì có ý kiến trái chiều phản đối , nhiều người tỏ ra lúng túng và cho rằng quy định mới gây phiền phức và không khả thi. Bởi lẽ, việc đi đăng ký cho chó, mèo là một việc khó khăn , mất thời gian, tốm nhiều công sức, nhiều chi phí lien quan. Mặc khác cũng có nhiều rủi ro, khó khăn khác như nếu một nhà nuôi nhiều chó mèo cũng phải xuống UBND xã để đăng ký thì quá bất tiện, giả sử hôm nay đăng ký, hôm sau chúng lăn ra chết hoặc bị bắt trộm thì người dân lại lên UBND khai tử .Không giống như con người, cấp số chứng minh thư để quản lý, chó, mèo nuôi không cố định. Nhiều nhà nuôi lâu muốn thay chó sẽ bán, làm thịt hoặc cho đi .

    Cùng là một sự kiện nhưng theo những đánh giá về mặt khoa học và đánh giá về mặt văn hóa thì đã đưa ra những ý kiến hết sức khác nhau. Ngoài ra sự khác nhau còn được thể hiện cả ở sự phân vùng lãnh thổ. Như người dân Hà Nội thì rất quan tâm, còn người dân tỉnh khác thì không quan tâm lắm.

    Ngoài ra, khuynh hướng cũng biểu thị sự thống nhất hay xung đột của dư luận xã hội. Xét theo mức độ tán thành hoặc phản đối được nêu ở trên, nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ U thì biểu thị sự xung đột( như ví dụ trên); còn nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ J thì biểu thị sự thống nhất. Đồ thị trên biểu thị cho sự mâu thuẫn hay sự thống nhất cao trong dư luận xã hội.

    Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, các phong tục tập quán, khuôn mẫu ứng xử văn hóa của cộng đồng xã hội và của cả dân tộc. Chẳng hạn như : Nghị định 105/2012 quy định linh cữu người từ trần quàn tại nhà tang lễ hoặc tại gia đình không để ô cửa có lắp kính trên nắp quan tài vấp phải nhiều phản ứng từ dư luận. Rất nhiều người quan niệm rằng việc để ô cửa có lắp kính trên nắp quan tài là để tạo điều kiện cho những người đến viếng được “nhìn mặt lần cuối” người đã khuất. Ở đây có yếu tố tâm linh cũng như yếu tố tình cảm thiêng liêng và đáng trân trọng. Còn những lý do như để đảm bảo vệ sinh, ngừa khả năng kính vỡ rơi vào mặt người quá cố hoàn toàn không thuyết phục và điều kiện hiện nay hoàn toàn có thể cho phép khắc phục. Ví dụ khác như hiện nay đang tồn tại một bộ phận sinh viên đang chấp nhận việc sống chung trước hôn nhân – “sống thử”. Đó là việc đi trái với chuẩn mực xã hội của người Á Đông, ảnh hướng đến văn hoá của người Việt.

    Tuy nhiên, lợi ích mới chỉ là điều kiện cần để thúc đẩy việc tạo ra dư luận xã hội; điều kiện đủ ở đây là sự nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích của mình và mối quan hệ chung với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra.

    Dư luận xã hội là sản phẩm của tư duy phán xét, là sự thể hiện quan điểm, thái độ của các cá nhân trước các hiện tượng pháp lý. Dư luận xã hội lan truyền càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung các phán xét, đánh giá, càng làm cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mang tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật.Tuy nhiên cơ sở của bất kỳ hành vi tập thể nào cũng là hiệu ứng phản xạ quay vòng , trong đó khởi điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên chuỗi các kích thích của cá nhân khác, nhóm xã hội khác. Để duy trì được chuỗi kích thích này luôn cần có các nhân tố tác động lên cơ chế hoạt động tâm lí của cá nhân và nhóm xã hội. Đó là các thông tin bằng hình ảnh, âm thanh, clip video.. Đặc biệt, ngày nay khi công nghệ viễn thông phát triển mạnh thì bất cứ thông tin đặc biệt gì cũng được phát tán một cách nhanh chóng. Vì vậy, khả năng lan truyền của dư luận xã hội cũng tăng lên rất nhiều. Đặc biệt đối với các sự kiện lớn cảu đất nước như tình trạng chiến tranh, các cuộc bầu cử; hay các sự kiện vượt ra ngoài hoạt động sóng và làm việc bình thường con người như các vụ tội phạm nguy hiểm, nạn hạn hán, lũ lụt … Có thể lấy một ví dụ như Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực quần đảo Hoàng Sa vào ngày 1 tháng 5 năm 2014, vi phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ,dẫn tới việc nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố phản đối.Với luận điểm Trung Quốc Cho rằng hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 là hoạt động dầu khí bình thường của một doanh nghiệp Trung Quốc ở khu vực phía nam đảo Trung Kiến của Tây Sa (đảo Tri Tôn của Hoàng Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc cho rằng hành động của Việt Nam là quấy nhiễu, khiến “Trung Quốc buộc phải tăng cường lực lượng bảo vệ an ninh tại hiện trường, ngăn chặn hành động quấy nhiễu của Việt Nam, để duy trì trật tự sản xuất và tác nghiệp trên biển cũng như đảm bảo an toàn hàng hải”. Luận điểm Việt Nam :Phía Việt Nam đã hoàn toàn bác bỏ và không chấp nhận quan điểm này của phía Trung Quốc. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh việc Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan Hải Dương 981 và một lượng lớn tàu các loại, kể cả tàu quân sự, vào hoạt động ở khu vực này là bất hợp pháp, đi ngược lại luật pháp và thông lệ quốc tế, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

    Sự kiện này đã lan truyền trên phạm vi thế giới. Nhận được sự phản ứng từ một số quốc gia và Liên minh châu Âu bày tỏ quan ngại trước hành động đơn phương gây hấn của Trung Quốc khiến căng thẳng gia tăng trong khu vực. Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là vi phạm Luật biển quốc năm 1982 ( Viết tắt là Doc), đó là chuẩn mực chung của các nước , tất cả ai cũng phải có nghĩa vụ thực hiện và tuân theo.

    Dư luận xã hội có tính bền tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi. Có những dư luận xã hội chủ qua một đêm là thay đổi nhưng cũng có những dư luận xã hội qua hàng thập niên vẫn không thay đổi. Tính bền vững đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối ới những sự kiện, hiện tượng hay các quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững. Chẳng hạn như sự đánh giá của dư luận xã hội đối với công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong kháng chiến chống Pháp và Chống Mỹ và đối với quân đội ta Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một ảnh cả của quân đội nhân dân Việt Nam ; Đối với thế giới Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong 21 vị danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ qua, từ thời Alexandre Đại đế đến rồi đến thời cận hiện đại với , Zhukov…, những người đã có chiến công tạo nên bước ngoặt của nghệ thuật chiến tranh. Về những vấn đề về văn hóa, quan điểm thẩm mĩ hay đạo đức xã hội nhưng cũng có những dư luận thay đổi một cách nhanh chóng như dư luận về các sự kiện thường nhật hàng ngày. Do đặc tính đó, tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện:

    Thứ nhất – biến đổi theo không gian và môi trường văn hoá Với cùng sự việc, sự kiến xảy ra, dư luận xã hội của các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét, đánh giá khác nhau. Chẳng hạn như qua những ghi nhận của nhóm phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ, rất nhiều người dân thể hiện sự đồng tình với chủ trương thay đổi giờ học, giờ làm của bộ trưởng bộ Giao thông vận tải vì sau một tháng thực hiện thì phần lớn các điểm “đèn” thường xuyên ùn tắc trên tuyến đường Hà Nội, sau đổi giờ mật độ phương tiện đã giảm đáng kể vào giờ cao điểm. Bên cạnh đó, vẫn có ý kiến phản đối khi đây không thể coi là giải pháp tối ưu để giải quyết việc ùn tắc bởi quanh đó còn tác động đến đời sống của người dân. Vì vậy, sau một tháng thực hiện chủ tịch UBND thành phố Hà Nội vẫn để cho các trường đại học, các trường THPT … tự chủ trong việc đổi giờ làm của trường mình.

    Ví dụ khác, Như hiện tượng tảo hôn, chế độ đa thê là hiện tượng bình thường được chấp nhận tại các nước thuộc khu vự Trung Đông, Nam Sahra hay Ấn Độ nhưng sẽ gặp sự phản ứng mạnh mẽ tại nhiều nước như ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á..

    Thứ hai – biến đối theo thời gian Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều giá trị văn hoá, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán có thẻ bị biến đổi ngay trong cùng nền văn hoá, xã hội, dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội. Chẳng hạn, thời xưa người Việt thường có phong tục ăn trầu, nhuộm răng đen, và đó được coi là nét đẹp trong phong tục tập quán của người Việt xưa. Tuy nhiên, khi xã hội biến đổi thì phong tục đó mất đi và không được coi là chuẩn mực xã hội nữa. Ví dụ khác như Điều 199 BLHS năm 1999 quy định thì tối sử dụng trái phép chất ma túy được coi là tội phạm nhưng thông qua sự biến đổi của thời gian cũng như môi trường sống, qua cách nhìn nhận, phán xét, đánh giá của dư luận xã hội nên đến BLHS năm 1999 sửa đổi , bổ sung năm 2009 đã bỏ đi Điều 199 BLHS năm năm 1999. Nghĩa là nếu có sử dụng chất ma túy thì chỉ bị xử phạt hình chính, giáo dục thôi, chứ không bị phạm tội hình sự.

    Dư luận xã hội về những vấn đề của đời sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lỗ bằng lời( dư luận của đa số im lặng); việc này thường xảy ra đối với dư luận xã hội thiếu dân chủ. Ngoài ra thì trong xã hội thường cũng có dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới, chưa xảy ra, hiện thời chưa cấp bách.

    Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của dư luận xã hội, cũng có những quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng dư luận xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến cho nên nó không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. Có ý kiến lại “sùng bái” dư luận của đa số, theo họ, dư luận của đa số bao giờ cũng đúng, dư luận của thiểu số bao giờ cũng sai. Tất cả các quan niệm trên đều sai. Trong thực tế thì khả năng phản ánh của dư luận xã hội cũng chỉ mang tính chất tương đối. Không có cái gì tuyệt đối đúng và không có cái gì tuyệt đối sai. Bởi dù sai đến mấy, trong dư luận xã hội vẫn có những hạt nhân hợp lý không thể coi thường được. Chân lí của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn dư luận của thiểu số. Chính vì vậy, khi xem xét một sự kiện xã hội có ta không nên tuyệt đối hóa vai trò của dư luận xã hội hay một quan điểm nào đó. Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối. Chẳng hạn như Copecnic cho xuất bản cuốn chính trái đất mới là hành tinh quay xung quanh mặt trời, trong khi lúc bấy giờ người ta vẫn quan niệm trái đất là trung tâm vũ trụ. Phát hiện đó của nhà thiên văn học làm mọi người sửng sốt, thậm chí nó còn bị coi là tà thuyết vì đã đi ngược lại với chứa trời. Và về sau, khi khoa học đã phát triển hơn thì quan điểm đó mới coi là đúng.

    Ý thức pháp luật là hiện tượng mang tính giai cấp, xuất hiện cùng với sự xuất hiện của pháp luật. Các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau có sự thể hiện ý thức pháp luật khác nhau, trong đó ý thức pháp luật giữ vai trò chủ đạo là ý thức pháp luật của giai cấp thống trị cầm quyền. Nhưng, trước khi có sự xuất hiện nhà nước, pháp luật và cùng với đó là ý thức pháp luật, những yếu tố tham gia định hướng và điều chỉnh ý thức, hành vi xã hội của con người lại chính là đạo đức, phong tục, tập quán, truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng… đặc biệt là dư luận xã hội (Ngọ VănNhân – Tạp chí Triết học)

    Ý thức nói chung và ý thức pháp luật nói riêng được hình thành trong quá trình con người tiếp cận với đời sống thực tiễn và bắt đầu có nhận thức cơ bản về chúng. Dư luận xã hội cũng vậy, theo nhiều con đường khác nhau, đuợc truyền đạt đến các cá nhân, trên cơ sở nhận thức của mình, các cá nhân bắt đầu đưa ra các ý kiến phán xét, đánh giá về sự kiện đó, sự trao đổi ý kiến giữa các cá nhân sẽ dẫn tới sự hình thành các luồng ý kiến chung tạo thành dư luận xã hội. Theo như Trần Thị Quỳnh Nghi -Khoa Nhà nước và Pháp luật – Trường Chính Trị – Tỉnh Bến Tre thì dư luận xã hội sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến ý thức của con người nói chung và ý thức pháp luật ở những nội dung sau:

    Thứ nhất – Góp phần hình thành ý thức pháp luật, điều chỉnh hành vi pháp lý cho công dân

    Dư luận xã hội tác động trực tiếp đến ý thức pháp luật của con người. Thông qua dư luận xã hội, con người sẽ ý thức được đâu là hành vi vi phạm pháp luật cần lên án hoặc đâu là những hành vi hợp pháp cần được khích lệ, cổ vũ, động viên. Chẳng hạn, những vụ vi phạm pháp luật hình sự đặc biệt nghiêm trọng như giết người dã man, xâm hại an ninh quốc gia,…đã gây xôn xao dư luận trong xã hội, khiến cho dư luận xã hội hết sức căm phẫn, đòi trừng phạt nghiêm khắc kẻ phạm tội. Trên cơ sở của dư luận xã hội, cá nhân sẽ tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, với chuẩn mực pháp luật. Trải qua một thời gian nhất định, các cá nhân sẽ tự cảm nhận được những điều nên làm và không nên làm, điều đó cho thấy dư luận xã hội có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của cá nhân. Qua đó, dư luận xã hội luôn có tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật, hành vi của con người. Tác động đó được thể hiện trên ba phương diện:

    tác động tới tình cảm pháp luật của con người, góp phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật của mỗi công dân.

    tác động tới tâm trạng của con người trước pháp luật cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực.

    tác động đến sự tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mỗi cá nhân trong phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hiện hành.

    Thứ hai – Dư luận xã hội có vai trò quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho công dân

    Trong cấu trúc của dư luận xã hội luôn có mặt tất cả các thành phần, các yếu tố cấu thành ý thức xã hội: Nhận thức, tình cảm và ý chí, tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức và thẩm mỹ,…Bất kỳ khi nào, có một sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội nào đó có đụng chạm đến lợi ích của cộng đồng xã hội và thu hút được sự quan tâm chú ý của họ, thì khi đó sẽ nảy sinh dư luận xã hội. Ví dụ: Khi quyền lợi của quốc gia, dân tộc bị xâm hại thì dư luận xã hội xuất hiện lên án, phản đối gay gắt các cá nhân có hành vi xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc,…sẽ hình thành tính lan truyền.

    Xét ở góc độ ý thức pháp luật, dư luận xã hội lan truyền càng rộng càng làm cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mang tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật.

    Do đó, dư luận xã hội có vai trò to lớn trong việc phổ biến, tuyên truyền những giá trị pháp luật, các tư tưởng, quan điểm pháp luật đến với các chủ thể trong xã hội, trong đó có từng cá nhân con người.

    Như vậy, dư luận xã hội luôn hỗ trợ cùng pháp luật trong việc nâng cao ý thức pháp luật, điều chỉnh hành vi của con người, duy trì trật tự trong toàn xã hội cũng như trong mỗi cộng đồng. Nó góp phần giáo dục nhận thức đúng đắn về điều tốt, cái xấu, điều gì đúng pháp luật, điều nào sai pháp luật…để từ đó, nó răn đe con người cần tránh xa những cái xấu xa trong xã hội. Đồng thời, dư luận xã hội cũng góp phần nâng cao sự hiểu biết pháp luật của người dân và cũng là phương tiện để các cơ quan nhà nước có thể đánh giá được khả năng nhận thức, việc sử dụng pháp luật và phản ứng của nhân dân đối với các vấn đề pháp luật, từ đó tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật như thế nào cho phù hợp với khả năng nhận thức và thực hiện pháp luật ở đại đa số quần chúng nhân dân. Chúng ta có thể xem dư luận xã hội như là “người lính canh giữ”, bảo vệ những quyền lợi, các giá trị phổ biến của xã hội, cũng như các giá trị, lợi ích chính đáng của con người. Do vậy, trong quá trình xây dựng, nâng cao ý thức pháp đối với từng cá nhân, nhà nước cần phát huy những luồng dư luận có tác động tích cực.

    Như vậy, dư luận xã hội là một bộ phận vô cùng quan trọng của xã hội. Đó là những ý kiến con người, những nhận xét đánh giá của tập thể xã hội về các vấn đề xã hội nóng bỏng, các hoạt động của nhà nước, cơ quan nhà nước,… Thông qua dư luận xã hội ta có thể tìm hiểu chung và khá toàn diện nhưng đặc điểm của xã hội, những quan điểm quan niệm của con người về thẩm mĩ, chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán trong xã hội. Chính vì vậy ,việc nghiên cứu dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam cần được chú trọng mở rộng về quy mô cũng như tính chất của dư luận xã hội bởi tầm quan trọng của dư luận xã hội trong việc thực hiện pháp luật có ý nghĩa rất lớn về cả mặt vật chất lẫn tinh thần của con người Việt Nam. Hãy đưa dư luận xã hội “tiếng nói của dân” trở thành một cầu nối giữa dư luận xã hội trong việc thực hiện pháp luật để nước Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng sánh vai với các cường quốc trên con đường hiện đại hóa nền văn minh thế giới.

    1) Tập bài giảng Xã Hội Học – Trường Đại Học Luật Hà Nội, NXB Công An nhân dân – Năm 2010

    2) Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội – Nguyễn Minh Đoan.

    3) Tạp chí triết học – Bài viết : Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật – Tác giả : Ngọ Văn Nhân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từng Tính Chất_2
  • Dư Luận Xã Hội Chuc Nang Cua Du Luan Xa Hoi Doc
  • Về Bản Chất Của Dư Luận Xã Hội
  • Vai Trò Của Dư Luận Xã Hội Trong Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tầm Nhìn Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Yên Thành
  • Bàn Về Khái Niệm “dư Luận Xã Hội”

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Acid Nucleic
  • Tìm Hiểu Về Nucleic Axit, Chức Năng Của Họ, Ví Dụ, Và Monomer ·
  • Gen & Adn Bai17 Moiquanhegiuagenvaarn Ppt
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Câu Hỏi Lý Thuyết Phần Adn Và Gen
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Dna 1Dna Structure And Propeties Ppt
  • Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Những người theo học ở Liên Xô (cũ) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga). Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”).

    Phần đông các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên Xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội (DLXH) là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm. Ví dụ, theo B. K. Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”.

    Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cũng nêu ra định nghĩa tương tự. Ví dụ: “Công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923). “Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939). Có những định nghĩa rất đơn giản, nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ: “Công luận là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được” (Childs, 1956).

    Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng DLXH là ý kiến của đa số. Thuật ngữ “xã hội” không đồng nhất với thuật ngữ “đa số”. Ví dụ: Không ai cho rằng đã gọi là tổ chức xã hội thì phải là tổ chức của đa số; đã gọi là chính sách xã hội thì phải là chính sách đối với đa số…

    Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa số hơn dư luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù “dư luận xã hội”. Ví dụ, dưới góc độ về khả năng phản ánh chân lý, dư luận của đa số không phải khi nào cũng đúng, dư luận của thiểu số, không nhất thiết khi nào cũng sai. Thực tế cho thấy, trước các vấn đề mới, dư luận của thiểu số, nhiều khi, đúng hơn dư luận của đa số. Giữa dư luận của đa số và dư luận của thiểu số cũng không có một hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được. Dư luận ngày hôm nay là thiểu số, ngày mai có thể trở thành đa số hoặc ngược lại, dư luận ngày hôm nay là đa số, ngày mai có thể chỉ còn là thiểu số.

    Về mặt thực tiễn, quan điểm coi DLXH chỉ là ý kiến của đa số lại càng không thể chấp nhận được. Chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chủ trương “Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếng nói của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp, nhóm xã hội đều cần được coi trọng cho dù thành phần kinh tế, tầng lớp, nhóm xã hội đó chỉ là thiểu số trong xã hội. Mặt khác, nếu DLXH chỉ là ý kiến của đa số không thôi, thì không cần phải thành lập các cơ quan làm công tác nắm bắt DLXH, bởi vì ý kiến của đa số là cái mà người dân bình thường cũng có thể dễ dàng nắm được. Báo cáo tình hình DLXH của một số địa phương chưa được lãnh đạo coi trọng, có phần chính là do mới chỉ phản ánh được ý kiến của đa số. Những báo cáo phiến diện, không phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau trong xã hội trước một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, không những ít có giá trị cho sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ngược lại, có khi còn có hại, nhất là trong trường hợp vấn đề, sự kiện, hiện tượng là cái mới, bởi lẽ, đối với cái mới, dư luận của đa số lúc đầu thường không đúng, thường có tính “bảo thủ”.

    Cũng có những ý kiến khác nhau khi phân tích hình thức ngôn ngữ của DLXH. Một số nhà nghiên cứu chỉ coi các phán xét đánh giá của công chúng mới là DLXH. Phán xét có nhiều loại như phán xét mô tả – dùng để mô tả sự vật, ví dụ: “Đây là bông hồng bạch”, “Đây là cuộc mít tinh lớn”…; phán xét quy ước – loại phán xét thông dụng trong các văn bản pháp qui, ví dụ: “Mọi người dân phải có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh môi trường”…. Phán xét đánh giá là loại phán xét thể hiện thái độ (tán thành – không tán thành; yêu – ghét…) của chủ thể đối với sự kiện, hiện tượng, đối tượng, ví dụ: “Tham nhũng là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống”; “Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường của Hà Nội trong mấy năm qua có tiến bộ rõ nét”…. Tuy nhiên, đại đa số các nhà nghiên cứu khẳng định, DLXH không chỉ là các phát ngôn thể hiện sự phán xét đánh giá mà còn là các phát ngôn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can… của công chúng.

    Cũng có sự nhầm lẫn giữa DLXHtin đồn. Một số người không phân biệt được giữa DLXHtin đồn có những sự khác nhau gì. Giữa tin đồnDLXH có những điểm khác biệt cơ bản sau đây: 1) Nguồn thông tin: nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất phát từ người khác (tôi nghe người này nói, người kia nói); nguồn thông tin của DLXH lại xuất phát từ chính là bản thân người phát ngôn (theo ý kiến của tôi thì…); 2) Tin đồn loang càng xa thì càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng được thêm thắt. Lúc ban đầu, DLXH thường rất phân tán, nhưng sau đó, thông qua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của DLXH thường tăng lên; 3) Tin đồn thường có tính “thất thiệt” (mặc dù có những tin đồn về cơ bản là sự thật), trong khi đó, DLXH phản ánh trung thực về suy nghĩ, tình cảm, thái độ của chủ thể. Tuy nhiên, giữa DLXHtin đồn không có sự ngăn cách không vượt qua được. Tin đồn có thể làm nảy sinh DLXH khi trên cơ sở tin đồn người ta đưa ra những phán xét đánh giá bày tỏ thái độ của mình. Tin đồn thường xuất hiện khi người ta thiếu (hoặc thừa) thông tin.

    Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của DLXH, cũng có những quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng DLXH chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến cho nên nó không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. Có ý kiến lại “sùng bái” dư luận của đa số, theo họ, dư luận của đa số bao giờ cũng đúng, dư luận của thiểu số bao giờ cũng sai. Tất cả các quan niệm trên đều sai. DLXH không phải là các kết luận khoa học, nhưng ít nhiều đều có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. DLXH có thể đúng nhiều, đúng ít. Dù có đúng đến mấy thì DLXH vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của DLXH. Dù có sai đến mấy, trong DLXH cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường, bỏ qua. Chân lý của DLXH không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai. Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối.

    Đối với câu hỏi: DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, có tính tự phát hay là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức? Cũng có những quan niệm khác nhau. Có người khẳng định vế thứ nhất, có người khẳng định vế thứ hai. Sự vô lý của quan niệm coi DLXH là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức là rất rõ. Ý kiến chung của một tổ chức là chính kiến của tổ chức đó chứ không phải là DLXH của các thành viên trong tổ chức (không thể gọi chính kiến của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… là DLXH). Chỉ có các luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát mới được gọi là DLXH. Tuy nhiên ở đây cần phải làm rõ một ý: DLXH không phải là một phép cộng thuần túy, không phải là “bao gạo”, gồm các “hạt gạo” ý kiến cá nhân rời rạc, không có mối quan hệ gì với nhau. DLXH là các luồng ý kiến cá nhân, tự phát, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cộng hưởng với nhau. Nói cách khác, đó là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định.

    DLXH là hiện tượng đời sống xã hội phức tạp, nên khó có thể lột tả hết trong một vài dòng định nghĩa ngắn gọn. Theo Lênin, đối với những sự vật phức tạp, có nhiều góc nhiều cạnh, mọi định nghĩa đều phiến diện. Tuy nhiên, dù có phiến diện đến đâu, định nghĩa cũng không mất đi mặt khẳng định, vai trò quan trọng, sự cần thiết của nó đối với hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người. Đó là những chỉ dẫn sơ bộ, những nét phác thảo ban đầu, không có nó, chúng ta không thể tiếp tục đi sâu hơn vào bản chất của sự vật cũng như không thể đưa ra đuợc những phương hướng hành động cụ thể nào cả.

    Vì lẽ đó, chúng ta có thể định nghĩa rất ngắn gọn về DLXH như sau: DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự. Tuy nhiên, cần phải lưu ý đến các nội hàm sau đây của định nghĩa này: 1) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau; 2) DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau; 3) Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến); 4) DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…); 5) DLXH không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định; 6) Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra DLXH./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Định Hướng Dư Luận Xã Hội
  • Dư Luận Xã Hội Có Phải Là Một Bộ Phận Của Ý Thức Xã Hội
  • Dư Luận Xã Hội Là Gì? Ảnh Hưởng Của Dư Luận Xã Hội
  • Tải Hack Ngọc Rồng 191 Supermod Android Ios Antiban
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Chuẩn Nhất Quả Đất
  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từng Tính Chất_2

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từnng Tính Chất? Tác Động Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Ý Thức Pháp Luật?
  • Công Tác Xã Hội Trường Học
  • Vai Trò Của Nhân Viên Công Tác Xã Hội Trong Một Số Lĩnh Vực Hoạt Động
  • Triết Học Và Vai Trò Của Nó Trong Đời Sống Xã Hội
  • Chức Năng, Vai Trò Của Triết Học Mác
  • A. MỞ BÀI.

    Dư luận xã hội là hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.

    Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong quá trình lịch sử, nó hình

    thành tồn tại và phát triển cùng với quá trình vận động, phát triển của bản thân

    xã hội loài người.

    Trong thực tiến cuộc sống rõ ràng là dư luận xã hội không chỉ dừng lại ở

    việc thể hiện các ý kiến, đánh giá hay nhận định, mà còn thể hiện bằng những

    hành động thực tiến cụ thể nhằm khẳng định, hỗ trợ cho các phán xét đánh giá

    của mình, đề xuất những phương hướng cụ thể nhằm giải quyết những mặt còn

    tồn tại của vấn đề xã hội. Việc thăm dò, nghiên cứu dư luận xã hội sẽ mang lại

    cho mọi người những thông tin đa chiều, phong phú về các mặt hoạt động trong

    xã hội. Những thông tin này là căn cứ quan trọng để các tổ chức Đảng và các

    cơ quan Nhà nước kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác của mình, đưa ra những

    chính sách hay quyết định sát với thực tế. Đây là lí do mà em chon đề tài: ”

    phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành dư luận xã hội, cho ví dụ

    minh họa ở từng yếu tố? tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật”.

    B . NỘI DUNG.

    I. KHÁI NIỆM.

    Dư luận xã hội là hiện tượng tinh thần của xã hội, là hiện tượng phức tạp nên

    khó có thể lột tả hết được nội hàm của nó trong một số dòng định nghĩa ngắn

    gọn. Vậy nên. Về mặt lí luận hầu như không tồn tại định nghĩa toàn diện về dư

    luận xã hội được tất cả mọi người đồng tình. Trên các sách báo,tạp chí xã hội

    học đã có khá nhiều định nghĩa được nêu ra. Trong hầu hết các định nghĩa đều

    đề cập những nội dung chính của khái niệm dư luận xã hội:

    Thứ nhất, dư luận xã hội là tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ mang

    tính phán xét dánh giá của nhiều người trước thực tế xã hội nhất định.

    1

    Ví dụ: giá xăng tăng mức kỉ luc: quyết định gây tranh cãi. Không chỉ khẳng định

    quyết định đó sẽ tác động tới tăng lạm phát, gây khó khăn cho đời sống của người

    dân và doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế này còn đề nghị cơ quan chức năng giải

    trình trước công luận. Cụ thể, 20 giờ ngày 28/3/2013, giá xăng trong nước đã chính

    thức tăng. Với mức điều chỉnh tối đa 1.430 đồng/lít, giá xăng RON 92 xác lập mốc

    kỷ lục 24.580 đồng/lít.

    Ảnh hưởng mạnh nhất bởi việc tăng giá là các DN vận tải. Ngạc nhiên trước

    việc giá xăng được điều chỉnh, trong một vài ngày trước đây dư luận kêu giá xăng,

    dầu trên thị trường thế giới giảm nhưng Bộ Tài chính lại cho rằng chưa đủ điều

    kiện giảm. Việc tăng giá lần này rất đột ngột vì dư luận đang yêu cầu giảm mà liên

    bộ lại tăng, điều này quá bất ngờ với xã hội nói chung và ngành vận tải nói riêng

    Người dân đổ xô nhau đi mua xăng trước giờ tăng giá.

    Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng

    chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, các phong tục tập quán, khuôn

    mẫu hành vi ứng xử văn hóa của cộng đồng xã hội hoặc của cả dân tộc.

    Ví dụ: mang tinh thần chiến thắng 30/4 vào sửa đổi Hiến pháp. dư luận đã bàn rất

    nhiều đến vai trò của Đảng. Có người muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp. Có người

    lại cho rằng, cần giữ Điều 4 và hơn thế nữa cần khẳng định vai trò lãnh đạo của

    Đảng ở chỗ này chỗ khác. Một quan điểm nữa là vẫn giữ Điều 4, song cần bổ sung

    những yếu tố cốt lõi để đảm bảo sự đổi mới của Đảng ta. Lần này, sửa đổi Hiến

    4

    chúng ta có thể theo dõi và nhận được ảnh hưởng cảu các luồng thông tin đến các

    hành động quan tâm của công chúng. Khi đó sự hình thành mạnh mẽ và lan truyền

    nhanh chóng của dư luận xã hội được thể hiện rất rõ nét.

    Ví dụ: sự kiện Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và

    Nagasaki tại Nhật bản vào ngày 6 và ngày 9 tháng 8 năm 1945 đã gây xôn xao dư

    luận Nhật Bản. Vụ việc đã nhanh chóng lan tỏa khắp toàn cầu, thu hút được sự chú

    ý của tt

    4. Tính bềền vững tương đốối và tính dềễ biềốn đổi.

    Dư luận xã hội vừa có tính bền vững tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi. Chỉ

    có những dư luận xã hội chỉ qua một đêm là thay đổi. Tính bền vững tương đối của

    dư luận xã hội phụ thuộc và nhiều yếu tố. Đối với những sự kiện, hiện tượng hay

    quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững. chẳng hạn sự đánh giá

    cao của dư luận xã hội về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ, về tầm quan trọng của

    sự nghiệp đổi mới, chính sách khoán trong nông nghiệp…tới nay vẫn không hề

    thay đổi. Cái lúc đầu chỉ được số ít thừa nhận và do đó dễ bị đa số phản đối. Nhưng

    ý kiến của đa số sẽ nhanh chóng, dễ dàng thay đổi khi cái mới vươn lên khẳng định

    mình trong cuộc sống.

    Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện sau:

    -Thứ nhất – biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa: sự phán xét, đánh

    giá của dư luận xã hội về bất kì sự kiện, hiện tượng,hay quá trình xã hội đang tồn

    tại trong nền văn hóa cộng đồng người. Với cùng sự việc, sự kiện xảy ra, dư luận

    xã hội của các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét, đánh giá khác

    nhau. Chẳng hạn, hiện tượng tảo hôn, chế độ đa thê là hiện tượng bình thường,

    được chấp nhận tại các nước thuộc khu vực Trung Đông nhưng chúng lại gặp phải

    sự phản ứng gay gắt tại nhiều nước ở châu Âu, Bắc Mỹ,…Trong khi đó quan hệ

    tình dục ngoài hôn nhân dễ dàng chấp nhận ở châu Âu, Bắc Mỹ mà lại bị phản đối

    mạnh mẽ, thậm chí bị trừng phạt theo luật lệ tôn giáo ở Trung Đông, Ấn Độ.

    6

    Dư luận về những trạng thái của đời sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn,

    không bộc lộ bằng lời ( dư luận của đa số im lặng). Trong những xã hội thiếu dân

    chủ, dư luận xã hội cũng thường có dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự

    kiện sắp tới, chưa xảy ra, hiện thời chưa cấp bách.

    Ví dụ: trong thời kì phong kiến,các tầng lớp dưỡi như nông dân luôn bị áp bức và

    bóc lột, nhung không ai giám lên tiếng vì sự dã man tàn bạo chính quyền Vua chúa.

    Tất cả nông dân đều có chung quan điểm là thù ghét, oán hận tầng lớp trên, nhưng

    thể hiện ra ngoài.

    5. Tính tương đốối trong khả năng phản ánh thực tềố của dư luận xã hội .

    Sự phản náh thực tế của dư luận xã hội có thể đúng có thể sai. Dù đúng đén

    mấy thì dư luận xã hội vấn có những hạn chế. Dù sai dến mấy. thì trong dư luận xã

    hội vẫn có những điều kiện hợp lí, rất quan trọng.

    Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn so với dư luận của thiểu

    số. cái mới lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy, do đó, dễ bị đa số phản

    đối.

    Ví dụ: khi người đàn ông ngoại tình thì dư luận xã hội chê cười người vợ là ”

    không biết giữ chồng”, người phụ nữ ngoại tình sẽ được tăng mỹ từ “lăng nhăng,

    lẳng lơ, mất nết”. Cùng một sự việc hiện tượng, người phụ nữ thì “vi phạm chuẩn

    mực đạo đức, nhân cách”, người đàn ông thì không có lỗi.

    III. TÁC ĐỘNG CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐỐẤI VỚI Ý THƯC PHÁP LUẬT.

    1 Dựa vào cấốu trúc của ý thức pháp luật để phấn tích sự tác động của dư

    luận xã hội đốối với ý thức pháp luật.

    a. Sự tác động của dư luận xã hội đềốn hệ tư tưởng pháp luật.

    Dư luận xã hội là sự thể hiện lợi ích chung thông qua tiếng nói chung của nhân

    dân, nên nó là điều kiện cần thiết để các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ

    mở rộng nền dân chủ xã hội, tích cực tham gia hoạt động xây dựng pháp luật. Dưới

    chế độ ta, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hai hình thức dân chủ

    trực tiếp và dân chủ đại diện. Từ đó, các cơ quan lập pháp nắm được thực trạng tư

    8

    mỗi chủ thể cũng được nâng lên một bước.

    C. KẾẤT LUẬN.

    Qua bài tiểu luận, cho thấy rõ tính chất của dư luận xã hội và tác dụng của nó

    tới lĩnh vực pháp luật. Ngoài những tác dụng đó, dư luận xã hội còn có nhiều tác

    dụng khác đến nhiều mặt khác nhau của đời sống con người. Dư luận xã hội càng

    phát triển thì những vấn đề xung quanh cuộc sống càng được lan truyền và giải

    quyết một cách nhanh chóng. Bởi vậy cần phát huy tối đa các tác dụng tích cực của

    dư luận xã hội, nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh.

    10

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dư Luận Xã Hội Chuc Nang Cua Du Luan Xa Hoi Doc
  • Về Bản Chất Của Dư Luận Xã Hội
  • Vai Trò Của Dư Luận Xã Hội Trong Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tầm Nhìn Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Yên Thành
  • Chức Năng Cần Có Của Website Du Lịch, Bán Tour Lữ Hành
  • Vai Trò Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Việc Quản Lý Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Ở Việt Nam
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Và Ý Nghĩa Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Với Sự Phát Triển Bền Vững Của Đất Nước
  • Chức Năng Của Tiền Lương
  • Tiền Lương Là Gì? Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Lương
  • Ngày đăng:11-04-2016

    Dư luận xã hội là gì?

    Như vậy những ý kiến chung của công chúng trong dư luận xã hội có thể biểu thị 1 cách công khai hoặc lan truyền 1 cách ngấm ngầm, nhưng dù công khai hay ngấm ngầm dư luận xã hội luôn mang tính “nặc danh” chứ không gắn với cá nhân cụ thể. Hay nói cách khác chủ thể của dư luận xã hội bao giờ cũng là cộng đồng xã hội.

    Khi tìm hiểu về dư luận xã hội, ta hay nhầm lẫn giữa dư luận xã hội và tin đồn. Vậy làm thế nào để phân biệt giữa dư luận xã hội và tin đồn? Dư luận xã hội xuất phát từ thực tế khách quan, dư luận xã hội có tính trách nhiệm xã hội (tức hàm chứa cách giải quyết vấn đề) còn tin đồn chỉ là một tin tức về một sự việc, hiện tượng nào đó mà thông tin chưa được xác minh, mang tính bịa đặt hoặc thổi phồng có tính chất chủ quan ly kỳ hấp dẫn và không có tính trách nhiệm. 

    Bản chất của dư luận xã hội

    Dư luận xã hội là hình thức biểu hiện đặc thù của ý thức xã hội thuộc về đời sống tinh thần của xã hội là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp.

    Dư luận xã hội mang tính tổng hợp của các hình thái ý thức xã hội, là kết quả của sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội như là tư tưởng triết học, tư tưởng pháp quyền, chính trị, tôn giáo, đạo đức…

    Dư luận xã hội mang tính hiện thực tinh thần nhưng có tác động to lớn đối với tiễn. Bởi vì dư luận xã hội phản ánh tâm tư nguyện vọng, lợi ích, nhu cầu của công chúng. Dư luận xã hội không phải là cái tạo ra để làm phong phú đời sống tinh thần mà là để điều chỉnh tác động đế thực tiễn. Trong bản thân dư luận bao giờ cũng chứa đựng yếu tố nhận thức tư tưởng và xu hướng hành động. Dư luận xã hội là cầu nối giữa nhận thức và hành động thực tiễn.

    Dư luận xã hội mang tính kinh nghiệm được hình thành dựa trên cơ sở của kinh nghiệm đời sống và trên những quan hệ trực tiếp chứ không phải tư duy phân tích logic. Nên dư luận xã hội vừa có tính thuyết phục cao nhưng cũng có khi dư luận không chính xác (lệch hướng).

    Dư luận xã hội như là một cơ chế tâm lý xã hội. Nghĩa là có sức mạnh xã hội đối với hành động của con người. Đứng trước dư luận xã hội con người bắt buộc tuân theo.

    Chức năng đánh giá: dư luận xã hội đánh giá hành vi xã hội, các chuẩn mực xã hội, các quá trình xã hội. Dư luận xã hội đánh giá các hành vi đó đúng hay sai, tốt hay xấu. Những chuẩn mực xã hội mà dư luận dự vào để đánh giá có thể là những điều luật hoặc là chuẩn mực chung của đông đảo công chúng. Sự đánh giá này thường khác nhau trong các nhóm xã hội khác nhau cũng như trong những khoảng thời gian khác nhau.

    Chức năng giáo dục: dư luận xã hội khi phán xét đánh giá (khen hoặc chê) nó có tác dụng khuyến khích cái tốt, ngăn ngừa cái xấu, giữ gìn và bảo vệ cái đúng, cái đẹp phê phán cái tiêu cực. 

    Chức năng điều hòa: dư luận xã hội góp phần sắp xếp, điều chỉnh các quan hệ xã hội cho đúng mục đích và chuẩn mực. Trên cơ sở đánh giá các sự kiện, hiện tượng, dư luận xã hội nêu ra các chuẩn mực chỉ ra những việc nên làm hay nên tránh hoặc điều chỉnh hành vi cách cư xử của con người. Đặc biệt khi có những biến cố xã hội lớn đụng chạm trực tiếp và mạnh mẽ đến cộng đồng, dư luận xã hội hình thành nhanh chóng và rộng rãi, tạo ra sức mạnh lớn chỉ hướng cho hoạt động của quần chúng, cổ vũ cho những hành vi phù hợp với lợi ích chung lên án những hành vi không phù hợp.

    Chức năng kiểm soát: dư luận xã hội còn có khả năng kiểm soát thông qua sự phán xét, đánh giá có tác dụng giám sát hoạt động của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước có phù hợp với lợi ích xã hội hay không. Mọi hoạt động của con người trong xã hội có sự đánh giá giám sát của xã hội cho nên buộc mọi người phải tuân theo chuẩn mực xã hội.

    Chức năng tư vấn: thông qua nội dung của mình dư luận xã hội góp ý kiến kiến nghị và giải đáp những vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm giúp cho các tổ chức Đảng cơ quan nhà nước giải quyết những vấn đề quan trọng trong xã hội vì vậy xã hội càng phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân càng cao, dân chủ càng mở rộng thì sức mạnh của dư luận xã hội càng lớn có tác dụng đến xã hội và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

    Ý nghĩa nghiên cứu dư luận xã hội đối với quản lý

    Nghiên cứu dư luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác lãnh đạo quản lý xã hội, đối với việc đề ra và triển khai thực hiện các chủ trương nhiệm vụ cụ thể trong từng thời điểm nhất định. Bởi vì: 

    Trong quản lý xã hội đòi hỏi người quản lý phải hiểu biết sâu sắc nhu cầu và lợi ích của quần chúng trong sản xuất cũng như trong đời sống. Nghiên cứu dư luận xã hội là một trong những hình thức tốt nhất để thu thập những thông tin phản ánh tâm tư nguyện vọng cũng như suy nghĩ và cảm xúc của các tầng lớp xã hộ.

    Dư luận xã hội giúp ta nắm bắt kịp thời thực trạng tư tưởng của các nhóm xã hội khác nhau, cũng như những diễn biến của thực trạng này trong từng thời kỳ. Đây cũng là những nguồn thông tin vô cùng quý giá giúp ta khắc phục bệnh quan liêu xa rời thực tiễn, xa rời quần chúng, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo quản lý xã hội. Vì các thông tin này còn là những tín hiệu phản hồi từ phía xã hội, từ phía quần chúng đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội từ đó có cơ sở điều chỉnh, bổ sung các chủ trương biện pháp cho phù hợp hơn.

    Hiện nay sự nghiệp đổi mới đất nước diễn ra càng nhanh, càng nhiều vấn đề mới nảy sinh vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích dư luận xã hội về các vấn đề mới đó càng giúp cho cơ quan lãnh đạo có thêm cơ sở để đề ra những quyết định đúng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đi đúng hướng và đem lại hiệu quả thiết thực.

    Nghiên cứu dư luận xã hội một mặt góp phần nâng cao ý thức giác ngộ chính trị trong quần chúng, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, động viên quần chúng tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Mặt khác nó góp phần tăng cường mối liên hệ giữa Đảng, nhà nước với quần chúng nhân dân góp phần hoàn thiện công tác lãnh đạo quản lý xã hội trên cơ sở khoa học.

    Nắm bắt dư luận xã hội giúp chúng ta có những thông tin đa chiều về các mặt hoạt động của các cơ quan nhà nước và giúp cho nhân dân nhận thức và thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội tốt hơn. Những thông tin này là một trong những căn cứ quan trọng để Đảng và nhà nước kiểm tra hoạt động công tác của mình để có những chủ trương, quyết định cần thiết và phù hợp với thực tế.

    Trong xã hội ta hiện nay việc tìm hiểu và nghiên cứu dư luận xã hội đã trở thành điều kiện quan trọng để đảm bảo công tác lãnh đạo và quản lý xã hội đạt được hiệu quả cao. Đảng, nhà nước ta hết sức coi trọng công tác nắm bắt dư luận xã hội vì mọi hoạt động của Đảng, nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Qua dư luận xã hội để nắm bắt được tâm trạng của nhân dân, hiểu được nguyện vọng và lợi ích của họ để đề ra chủ trương chính sách phù hợp, “giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn lắng nghe ý kiến dân chúng đó là nền tảng lực lượng của đoàn thể và nhờ đó mà đoàn thể thắng lợi” (lời: Hồ Chí Minh). 

     

    Minh Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Dục Thể Thao Theo Quan Điểm Hiện Đại Về Văn Hóa – Đức Nam Nhị Khúc Côn
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp Và Vai Trò Công Đoàn
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Tài Liệu – Học Tập – Du Lịch
  • Nâng Cao Vai Trò Giám Sát, Phản Biện, Tập Hợp Quần Chúng Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Dư Luận Xã Hội Có Phải Là Một Bộ Phận Của Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Định Hướng Dư Luận Xã Hội
  • Bàn Về Khái Niệm “dư Luận Xã Hội”
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Acid Nucleic
  • Tìm Hiểu Về Nucleic Axit, Chức Năng Của Họ, Ví Dụ, Và Monomer ·
  • Gen & Adn Bai17 Moiquanhegiuagenvaarn Ppt
  • Kết hợp những nội dung nêu trên với vai trò, ý nghĩa thực tiễn của dư luận xã hội, theo chúng tôi, có thể định nghĩa dư luận xã hội như sau:

    Để có thể hiểu đúng bản chất xã hội của dư luận xã hội, chúng ta cần xem xét nó dưới nhiều góc độ: hình thức biểu hiện, đối tượng và chủ thể.

    Xét theo hình thức biểu hiện, có ý kiến cho rằng, dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá của cộng đồng xã hội đối với những sự việc, sự kiện hay hiện tượng xã hội mà họ quan tâm. Về cơ bản, có ba loại phán xét: phán xét mô tả, phán xét chế định và phán xét đánh giá. Phán xét mô tả là loại phán xét mới chỉ dừng lại ở sự mô tả các đặc điểm, biểu hiện bên ngoài của sự vật, hiện tượng và do vậy, nó hầu như chưa biểu thị ý kiến, thái độ của con người trước sự vật, hiện tượng. Phán xét chế định là loại phán xét mang tính chất chỉ thị, khuyên răn; thường được thể hiện thành những khuôn mẫu, như khuôn mẫu tư duy, khuôn mẫu hành động (còn gọi là phán xét chuẩn mực). Phán xét chế định được sử dụng rộng rãi trong các quy phạm đạo đức và pháp luật. Phán xét đánh giá là loại phán xét thể hiện tình cảm, thái độ của cộng đồng người trước các sự việc, sự kiện hay hiện tượng xảy ra trong xã hội. “Phán xét của dư luận xã hội thuộc loại phán xét đánh giá”(5).

    Theo chúng tôi, nếu coi sự phán xét của dư luận xã hội chỉ là loại phán xét đánh giá thì sẽ không bao quát được hết hình thức biểu hiện của dư luận xã hội. Bởi lẽ, dẫu nó là hình thức biểu hiện chủ yếu của dư luận xã hội, nhưng trong một số trường hợp khác, dư luận xã hội lại có hình thức biểu hiện là các loại phán xét chế định và phán xét mô tả. Chẳng hạn, khi coi dư luận xã hội như là công luận thì tính chất chỉ thị, khuyên răn vẫn tồn tại trong dư luận xã hội. Kết quả các cuộc trưng cầu dân ý mà nhà nước tiến hành nhằm thu thập ý kiến của nhân dân về một vấn đề trọng đại của đất nước vẫn có giá trị như là “chuẩn mực pháp luật” và trong trường hợp này, nhà nước phải hành động theo ý kiến của đa số người dân. Với ý nghĩa này thì dư luận xã hội có hình thức biểu hiện là phán xét chế định. Hoặc, khi thái độ của các cá nhân trước một sự việc, sự kiện xã hội nào đó còn ở trạng thái lưỡng lự, băn khoăn (chưa rõ nên đồng tình hay phản đối) thì ý kiến của họ mới chỉ dừng lại ở mức độ trình bày, mô tả sự kiện. Nếu nhiều người cùng thể hiện thái độ như vậy thì dư luận xã hội có hình thức biểu hiện là phán xét mô tả.

    Chính vì vậy, theo chúng tôi, cần phải coi hình thức biểu hiện của dư luận xã hội bao gồm cả ba loại phán xét: phán xét mô tả, phán xét chế định và phán xét đánh giá; trong đó phán xét đánh giá là hình thức biểu hiện cơ bản. Chỉ như thế, mới có thể bao quát được tất cả các hình thức biểu hiện khác nhau của dư luận xã hội.

    Như vậy, dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi xuất hiện những vấn đề mang ý nghĩa xã hội, đụng chạm đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội, có tầm quan trọng và có tính cấp bách, đòi hỏi phải có ý kiến phán xét, đánh giá hoặc cần phải đề xuất phương hướng giải quyết cụ thể. Đó có thể là một vấn đề kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá, tư tưởng hay giáo dục, đào tạo.

    Trong xã hội, ở mỗi thời điểm nhất định thường có sự tồn tại của nhiều dư luận xã hội thuộc các cộng đồng xã hội lớn hoặc nhỏ. Chúng ta cần nghiên cứu không chỉ dư luận xã hội của đa số, mà còn cần nghiên cứu các dư luận xã hội khác về cùng một vấn đề. Dư luận xã hội, cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, luôn nằm trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Tính chất biện chứng của quá trình biến đổi đó thể hiện ở chỗ, cùng với sự tác động, sự thay đổi của các yếu tố và các điều kiện có ảnh hưởng tới sự hình thành dư luận xã hội, dư luận của một bộ phận thiểu số ngày hôm qua đến hôm nay có thể phát triển thành dư luận của đa số. Ngược lại, có những dư luận xã hội sau khi xuất hiện đã thể hiện được tác dụng của nó trong cuộc sống, nhưng nay không còn vai trò gì và không được chú ý tới nữa và khi đó, nó sẽ tự mất đi.

    Có quan điểm cho rằng, các nhóm xã hội khác nhau, đối lập nhau về lợi ích, thì không thể có ý kiến, thái độ chung trước cùng một sự kiện, hiện tượng xã hội. Tuy nhiên, quan điểm này không được thực tiễn khẳng định. Trên thực tế, vẫn có những người có cùng quan niệm, ý kiến, mặc dù lợi ích của họ rất khác nhau. Chủ thể của dư luận xã hội có thể là tập hợp những người thuộc các giai cấp, tầng lớp xã khác nhau, thậm chí đối lập nhau về lợi ích. Đối với trường hợp này, cái nền tảng cố kết họ lại với nhau lại không phải là lợi ích của từng giai cấp hay từng nhóm xã hội cụ thể, mà là những đặc điểm truyền thống, tình cảm, tâm lý, nhận thức và quan niệm chung giữa họ. Chẳng hạn, trong một quốc gia có thể có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Lúc bình thường, mỗi giai cấp, tầng lớp có lợi ích khác nhau, nhưng khi đất nước có họa xâm lăng thì cái liên kết họ với nhau chính là lợi ích quốc gia.

    Khi nghiên cứu dư luận xã hội, chúng ta cần chú ý phân biệt dư luận xã hội với tin đồn. Tin đồn là một hiện tượng tâm lý xã hội khác về bản chất so với dư luận xã hội ở chỗ, tin đồn không phải là sản phẩm của tư duy phán xét của chủ thể mang nó. Tin đồn chỉ là một tin tức về một sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật, không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác chủ yếu bằng con đường truyền miệng.

    Chủ thể của tin đồn thường không được xác định rõ ràng. Tin đồn thường là sự bịa đặt (phao tin, đồn nhảm) và trong quá trình lan truyền từ người này sang người khác, luôn có sự thêu dệt, hư cấu, xuyên tạc hoặc thổi phồng một cách quá đáng. Tin đồn lan càng xa thì nội dung của nó càng khác với nội dung ban đầu. Điều này tuỳ thuộc vào mục đích và lợi ích của chủ thể truyền tin. Chính vì vậy, tin đồn mang nặng màu sắc chủ quan, thiên kiến của chủ thể truyền tin. Dư luận xã hội, ngược lại, là sản phẩm của tư duy phán xét của chủ thể mang nó. Dư luận xã hội thể hiện quan điểm, thái độ của chủ thể mang nó trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề mà chủ thể đó quan tâm. Dư luận xã hội lúc đầu có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng khi lan càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung phán xét hoặc tích tụ lại thành một số hướng cơ bản.

    Đúng là trong cấu trúc của dư luận xã hội có mặt tất cả các thành phần, các yếu tố cấu thành ý thức xã hội, nhưng không vì thế mà chúng ta đồng nhất dư luận xã hội với ý thức xã hội hoặc coi dư luận xã hội là một bộ phận của ý thức xã hội. Dư luận xã hội với tư cách một hiện tượng xã hội đặc biệt không tồn tại độc lập như là một thành phần hay bộ phận trong kết cấu nói trên; nó tham gia, có mặt trong tất cả các bộ phận, các thành phần của ý thức xã hội. Vấn đề là ở chỗ, khi có một sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội nào đó diễn ra, dù là thuộc ý thức xã hội thông thường, ý thức lý luận, tâm lý xã hội hay hệ tư tưởng, có đụng chạm đến lợi ích của cộng đồng xã hội và thu hút được sự quan tâm chú ý của họ, khi đó sẽ nảy sinh dư luận xã hội.

    Bên cạnh đó, ý thức xã hội tồn tại dưới những hình thái khác nhau, mà những hình thái chủ yếu gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ và ý thức tôn giáo. Dư luận xã hội không phải là một hình thái ý thức xã hội bên cạnh những hình thái nói trên, mà nó có thể hiện diện, thẩm thấu trong từng hình thái ý thức xã hội. Phương thức phản ánh tồn tại xã hội của dư luận xã hội là dựa trên tập hợp các ý kiến, thái độ của một cộng đồng người về một sự việc hay sự kiện. Do vậy, nội dung của dư luận xã hội rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả các vấn đề chính trị, pháp quyền, đạo đức, khoa học, tôn giáo… Điều đó cho thấy, dư luận xã hội là trạng thái tinh thần có thể bao hàm trong nó những hình thái ý thức xã hội khác nhau.

    Giữa dư luận xã hội và ý thức xã hội có mối liên hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau. Ý thức xã hội là cơ sở, là nền tảng tinh thần để dư luận xã hội hình thành và phát triển. Dư luận xã hội có sự tác động tích cực trở lại đối với ý thức xã hội; nó luận giải, làm phong phú, sâu sắc thêm cho các quan điểm, tư tưởng thuộc ý thức xã hội. Mặc dù vậy, dư luận xã hội vẫn không phải là một bộ phận của ý thức xã hội, lại càng không phải là một hình thái ý thức xã hội. Dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.

    Mặc dù có những lợi ích rất khác nhau, nhưng giữa các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội vẫn có những lợi ích chung. Con người vốn rất nhạy cảm với lợi ích giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội của mình. Mọi sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội có đụng chạm đến lợi ích của các nhóm xã hội đều có thể làm phát sinh những phản ứng chung của họ, trong đó có dư luận chung, bày tỏ thái độ chung của nhóm xã hội, của cộng đồng xã hội đối với các sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội đó. Điều đó nói lên rằng, dư luận xã hội mang bản chất xã hội.

    Từ phương diện nhận thức, một số nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh đến tính chất chủ quan trong sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội, đem đối lập nó với tri thức khách quan. Họ cho rằng, dư luận xã hội là sự biểu thị tình cảm, thái độ chủ quan đối với các sự kiện khách quan. Dưới góc độ triết học, nhận thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội về cơ bản là đúng, song cũng có thể sai (sai nhiều hoặc sai ít). Dù có đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn chế nhất định, khó tránh khỏi sự chủ quan, định kiến hẹp hòi. Do vậy, không nên tuyệt đối hoá khả năng nhận thức từ dư luận xã hội. Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội vẫn có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường được. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến, sự lan truyền rộng hay hẹp của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn dư luận của thiểu số. Cái mới, lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy, do đó, dễ bị đa số phản đối. Tuy nhiên, các phân tích này mới chỉ giúp chúng ta hiểu được một phần, một khía cạnh của dư luận xã hội.

    Một điểm quan trọng nữa khi nghiên cứu dư luận xã hội là các hình thức biểu hiện của dư luận xã hội trong đời sống hàng ngày. Trong thực tiễn cuộc sống, dư luận xã hội không chỉ dừng lại ở việc thể hiện các ý kiến, phán xét hay nhận định, mà còn thể hiện bằng những hành động thực tiễn cụ thể của chủ thể nhằm khẳng định, hỗ trợ cho các phán xét đánh giá của mình, đề xuất những phương hướng cụ thể nhằm giải quyết những mặt còn tồn tại trong các vấn đề xã hội mà cộng đồng đang quan tâm. Dư luận xã hội không phải là một hiện tượng tinh thần thuần tuý, mà là một hiện tượng tinh thần gắn bó chặt chẽ với thực tiễn. Dư luận xã hội xuất hiện, hình thành và hoạt động như một tập hợp các tranh luận, đánh giá, thể hiện quan hệ của các nhóm xã hội với hành vi và hoạt động của từng người riêng biệt. Yếu tố nhất định của bất cứ một cuộc tranh luận nào về các hiện tượng để có thể được coi là dư luận xã hội đều phải có sự đánh giá “âm tính” hay “dương tính” về hiện tượng. Điều này nói lên rằng, dư luận xã hội là cầu nối giữa ý thức xã hội và hành động xã hội.

    Từ sự phân tích dưới góc độ triết học về dư luận xã hội với tư cách một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần trong đời sống xã hội, chúng ta có thể kết luận:

    Thứ ba, dư luận xã hội là một hiện tượng đặc biệt thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, phản ánh tồn tại xã hội thông qua các luồng ý kiến cá nhân về một sự kiện, hiện tượng xã hội. Nó không tồn tại một cách độc lập tương đối như những bộ phận khác của ý thức xã hội (ý thức chính trị, ý thức đạo đức…), mà tham gia, có mặt trong hầu hết các hình thái, các bộ phận của ý thức xã hội. Vì vậy, cần nhìn nhận dư luận xã hội như là một hiện tượng xã hội đặc thù, chứ không phải là một bộ phận của ý thức xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dư Luận Xã Hội Là Gì? Ảnh Hưởng Của Dư Luận Xã Hội
  • Tải Hack Ngọc Rồng 191 Supermod Android Ios Antiban
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Chuẩn Nhất Quả Đất
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Nhanh Nhất Cho Newbie
  • Đề Tài Vai Trò Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Một Số Phương Pháp Định Hướng Dư Luận Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Khái Niệm “dư Luận Xã Hội”
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Acid Nucleic
  • Tìm Hiểu Về Nucleic Axit, Chức Năng Của Họ, Ví Dụ, Và Monomer ·
  • Gen & Adn Bai17 Moiquanhegiuagenvaarn Ppt
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Câu Hỏi Lý Thuyết Phần Adn Và Gen
  • Định hướng dư luận xã hội hiện nay ở Việt Nam cần xác định được ba mục tiêu cơ bản.

    Một là, giúp cho công chúng hình thành nhận thức đúng về sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội

    Hình thành nhận thức đúng về sự kiện, hiện tượng là quá trình tác động của chủ thể (Đảng và Nhà nước, các tổ chức xã hội) để đối tượng (cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân) nhận thức đúng về hiện thực khách quan.Thứ nhất, công chúng nhận thức đúng về bản chất của sự kiện hiện tượng đặt trong bối cảnh lịnh sử của nó.Thứ hai, công chúng nhận thức đúng về bản chất của sự kiện hiện tượng đặt trong sự phân tích, lý giải bằng khoa học. Thứ ba, nhận thức của công chúng đúng về sự kiện, hiện tượng phải dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chuẩn mực giá trị truyền thống, các yêu cầu phát triển của tập thể và xã hội.

    Hai là, giúp cho công chúng hình thành thái độ phù hợp với sự kiện, hiện tượng.

    Thái độ là đặc trưng tâm lý xã hội gắn với nhu cầu, động cơ, mục đích của cá nhân và điều kiện xã hội, lịch sử cụ thể. Thái độ được hình thành trong quá trình con người hoạt động, giao tiếp và dựa trên cơ sở khái quát hóa nhận thức, cảm xúc, tình cảm về đối tượng, về một sự kiện, hiện tượng nhất định. Định hướng dư luận xã hội giúp giải quyết sự tồn tại của cácquan điểm khác nhau, loại bỏ, phản đối các quan điểm sai, gia tăng sự đồng thuận, cảm xúc, tình cảm với những quan điểm đúng trong nhóm và cộng đồng xã hội.

    Ba là, giúp cho công chúng hình thành hành vi phát ngôn hợp lý đối với sự kiện, hiện tượng.

    Hành vi phát ngôn hợp lý thể hiện sự nhất trí cao với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các giá trị của truyền thống dân tộc; các chuẩn mực đạo đức khác; thể hiện sự thống nhất nhận thức, tình cảm, động cơ bên trong của công dân, bộc lộ thái độ đúng đắn, phù hợp với nội dung cần chuyển tải; phù hợp với các quy tắc và các chuẩn mực ngôn ngữ đã được thừa nhận trong xã hội và cộng đồng.

    Một số phương pháp cơ bản trong định hướng dư luận xã hội được khái quát là:

    Thông qua uy tín của người lãnh đạo, thủ lĩnh nhóm xã hội

    Cùng một nội dung phát ngôn nhưng nếu đó là phát ngôn của một giáo sư, một nhà khoa học hay một chính khách (có uy tín) thì người ta tin hơn là phát ngôn của một sinh viên hay của một nhân viên bình thường. Trong một cơ quan, một tập thể, một nhóm xã hội, họ chính là người lãnh đạo, quản lý, nhà hoạt động xã hội có uy tín.Trong các tôn giáo, họ là các chức sắc tôn giáo (cha cố, nhà tu hành). Trong các dân tộc thiểu số miền núi họ là già làng, trưởng bản, còn ở nông thôn họ có thể là các trưởng họ tộc, người cao tuổi… Những người thủ lĩnh này có vai trò to lớn trong việc định hướng dư luận xã hội diễn ra tại cơ quan, đơn vị hoặc trong nhóm xã hội, trong tập thể.Đặc biệt, khi định hướng dư luận xã hội về những vấn đề quan trọng, nhạy cảm cần cử những người có địa vị cao, có uy tín lớn phát ngôn để công chúng nhanh chóng có sự chấp nhận.

    Thông qua sinh hoạt, hội họp của các tổ chức

    Cuộc họp của các tổ chức bao gồm (tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp…) là một kênh truyền thông, một phương tiện tác động tư tưởng cho nên, chúng cũng là một kênh, một phương tiện có thể sử dụng để định hướng dư luận xã hội. Định hướng dư luận xã hội qua kênh này có ưu thế nổi trội là nhanh chóng và trực tiếp đến từng nhóm đối tượng sinh hoạt trong cùng một tổ chức. Để định hướng dư luận xã hội kịp thời, trực tiếp, trong sinh hoạt, hội họp của các tổ chức cần thực hiện tốt quá trình mang tính hai chiều sau: Thứ nhất, truyền đạt, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, những thông tin chính thức, chính thống, những thông tin đã được chọn lọc kỹ càng; Thứ hai, đấu tranh, phản bác những quan điểm, tư tưởng, ý kiến lệch lạc, tin đồn nhảm, luận điểm phản tuyên truyền, sai trái, xuyên tạc,…

    Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng

    Với các chức năng và ưu thế của mình, các phương tiện truyền thông đại chúng, chủ yếu là báo chí, tham gia định hướng dư luận xã hội với các phương thức sau:

    – Tham gia quảng bá sự kiện, hiện tượng để đông đảo tầng lớp xã hội được biết và bày tỏ thái độ.

    – Cung cấp thông tin đa dạng, nhiều chiều, sâu sắc giúp quá trình đánh giá của công chúng đối với sự kiện, hiện tượng khách quan hơn.

    – Phân tích, làm sáng tỏ mối liên hệ của sự kiện, hiện tượng với lợi ích của cộng đồng, quốc gia hay nhóm xã hội.

    – Khơi nguồn, tạo lập dư luận xã hội. Tuy nhiên, khi tham gia tạo lập dư luận xã hội, các phương tiện truyền thông phải lựa chọn thông tin, phải đứng trên lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc gia để lựa chọn chứ không được đứng trên lợi ích cá nhân.

    – Góp phần tạo nên ở công chúng cách đánh giá vừa khách quan, vừa dân chủ, tạo nên tính tự giác cho quá trình tiếp nhận thông tin và hình thành dư luận xã hội tích cực.

    Theo quy luật uy tín như đã nêu trên, khi sử dụng báo chí để định hướng dư luận xã hội, phải mời được những nhà báo, những tờ báo có uy tín tham gia, những người lãnh đạo, quản lý, những thủ lĩnh dư luận phát ngôn trên báo chí.

    Định hướng dư luận bằng dư luận

    Trong các đám đông quần chúng, thường xuất hiện một nhóm nhỏ có vai trò tiên tiến, có uy tín cao và có ảnh hưởng nhất định đến nhóm lớn hơn.Trong công tác định hướng dư luận xã hội, có thể sử dụng dư luận tích cực, đúng đắn của nhóm nhỏ tiên tiến này để định hướng dư luận xã hội với các nhóm lớn hơn.Muốn sử dụng dư luận xã hội để định hướng dư luận xã hội, trước hết phải huy động các kênh, các phương tiện truyền thông để tạo lập dư luận tích cực.Sau đó phản ánh dư luận xã hội trên các kênh, các phương tiện truyền thông, đồng thời sử dụng dư luận đó để định hướng dư luận của các nhóm xã hội khác, của toàn xã hội.

    Tác động vào các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành, thay đổi thái độ của con người. Cụ thể là:

    1) Tác động đến yếu tố nhận thức của chủ thể dư luận bằng cách cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời. Đối với sự kiện, hiện tượng đơn giản thì dư luận của đa số thường là tích cực, khách quan. Còn đối với sự kiện, hiện tượng phức tạp, nhiều góc độ, lại mới xuất hiện lần đầu thì dư luận của những người có nhiều thông tin, có hiểu biết thường là tích cực, có tính tư tưởng và chiều sâu.

    Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo số 11/2018

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dư Luận Xã Hội Có Phải Là Một Bộ Phận Của Ý Thức Xã Hội
  • Dư Luận Xã Hội Là Gì? Ảnh Hưởng Của Dư Luận Xã Hội
  • Tải Hack Ngọc Rồng 191 Supermod Android Ios Antiban
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Chuẩn Nhất Quả Đất
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Nhanh Nhất Cho Newbie
  • Báo Chí Trong Vai Trò Định Hướng Dư Luận Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Thêm Về Báo Chí Cách Mạng Việt Nam
  • Quảng Cáo Báo Chí Là Gì Và Những Điều Cần Biết
  • Ý Nghĩa Tiền Lương Và Các Khoản Trích Theo Tiền Lương
  • Tiền Lương Là Gì? Vai Trò Và Công Dụng Của Tiền Lương
  • Kế Toán Tiền Lương Và Các Khoản Trích Theo Lương Cần Chú Ý
  •  

    Hiện nay, không thể phụ nhận vai trò, tác động mạnh mẽ của báo chí trong công tác định hướng dư  luận quần chúng nhân dân.

    Ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp tích cực của Hội Nhà báo Việt Nam trong những năm qua nhưng cũng phải thẳng thắn cho rằng, hoạt động báo chí và Hội Nhà báo vẫn còn những hạn chế nhất định như một số cơ quan báo chí đưa thông tin sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng bị xử phạt, thông tin không phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân.

    Tình trạng chạy theo yếu tố thương mại, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, đưa tin một chiều, giật gân, câu khách… Một số nhà báo lợi dụng chức năng phản ánh của báo chí để yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu theo phản ánh của xã hội là không đúng quy định pháp luật, hay viết bài thiếu tính xây dựng, thể hiện quan điểm tiêu cực trên mạng xã hội, một số văn phòng đại diện, phóng viên, hội viên thường trú và đội ngũ cộng tác viên hoạt động không đúng chức năng, nhiệm vụ, gây tác động xấu đến dư luận xã hội.

    Căn cứ quy định tại Khoản 8, Điều 9 Luật Báo chí 2022, đối với các hành vi báo chí thông tin sai sự thật thuộc một trong các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động báo chí, cụ thể:

    Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm

    …9. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án”.

    Ngoài ra, với trường hợp thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân còn vi phạm quy định tại Khoản 1, Điều 34 Bộ luật Dân sự 2022, theo đó, quyền được bảo vệ danh sự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

    Về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân, uy tín tổ chức được quy định cụ thể tại Điều 34 Bộ luật Dân sự 2022; Điều 25; Điều 42; Điều 43 Luật Báo chí 2022; Điều 8 Nghị định 159/2013/NĐ-CP; theo đó, Cơ quan báo chí, Nhà báo phải có trách nhiệm gỡ bỏ nội dung trên trang báo điện tử và phát lời cải chính, xin lỗi trên báo chí, trường hợp gây thiệt hại phải bồi thường; bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng trường hợp đăng, phát thông tin sai sự thật nhưng chưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng; phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng và phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng khi gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng.

    Đối với hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

    Trên thực tế, báo chí là công việc đặc thù, có tính chuyên biệt, đặc biệt trong đó nổi lên một vấn đề quan trọng là người làm báo tiếp nhận sự thật như thế nào, phản ánh sự thật ra sao. Đây là điều không dễ giải quyết nếu người làm báo tác nghiệp theo cung cách nhìn gì biết đó, thấy gì ghi nấy, chỉ cần đơn thuần mô tả lại sự việc. Thực tế nghề nghiệp cho thấy sự thật được phản ánh trên báo chí không phải chỉ là những gì diễn ra trên bề mặt của vấn đề, sự kiện, hiện tượng. Muốn tiếp cận và phản ánh sự thật đó, người làm báo phải thâm nhập, tìm hiểu kỹ càng, sâu sắc, bằng nhãn quan, kỹ năng và kinh nghiệm của mình để tiếp cận, gạn lọc… từ đó mới có thể đưa thông tin đến bạn đọc một cách bản chất nhất, trung thực nhất. Vì vậy, bản chất của sự thật được làm rõ như thế nào phụ thuộc rất lớn vào Tâm và Tầm của mỗi người làm báo. Có thể thấy phần lớn các sai phạm dẫn đến việc phải xử phạt trong thời gian qua đều có nguyên nhân từ việc chủ quan, thiếu trách nhiệm hoặc không hội tụ đủ những yếu tố thuộc về phẩm chất nghề nghiệp làm báo. Thậm chí, vì năng lực nghiệp vụ yếu kém, vì suy thoái đạo đức nghề nghiệp, vì động cơ vụ lợi,… mà một số người làm báo tự hạ thấp nhân phẩm của mình bằng cách chạy theo thông tin giật gân, câu khách, bóp méo thông tin, đưa thông tin sai lệch… Chưa kể, một người làm báo, dù đạo đức nghề nghiệp tốt mà kém cỏi về năng lực nghiệp vụ thì vẫn có thể gây hậu quả khôn lường.

    Việc xử phạt báo chí khi đưa tin sai sự thật là hết sức cần thiết, không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam. Việc xử phạt hành vi tương tự đã được nhiều quốc gia trên thế giới tiến hành rất nghiêm khắc. Tại Đức, hành vi đăng tải trên báo chí hoặc in-tơ-nét nội dung sai sự thật, phỉ báng nhà nước, phỉ báng tôn giáo, kích động hận thù hoặc có tác động phá hoại trật tự công cộng,… đều bị coi là phạm tội hình sự. Ngày 13-11-2017, Liên hiệp châu Âu (EU) đã khởi động một cuộc tham vấn trên quy mô lớn với các nhóm đối tượng: người dân, các nền tảng mạng xã hội, các tổ chức báo chí,… về tin tức giả, từ đó đưa ra giải pháp xử lý tin tức giả trong tương lai. Đáng chú ý, mới đây, ngày 29-7-2018, Ủy ban truyền thông thuộc Hạ viện Vương quốc Anh đã chính thức công bố báo cáo đề nghị chính phủ có biện pháp quản lý chặt chẽ các trang mạng xã hội nhằm bảo vệ nền dân chủ trong kỷ nguyên công nghệ số. Chính vì thế, việc một số tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho rằng, việc xử phạt sai phạm trong hoạt động báo chí ở Việt Nam vừa qua là “ngăn cản tự do ngôn luận”, “kết quả âm mưu của chính quyền” là không thể chấp nhận. Cần nhận rõ bản chất của các ý kiến loại này là xuyên tạc, lợi dụng sự kiện để vu cáo chính quyền. Bởi trên thế giới, không có thứ tự do ngôn luận nào đồng nghĩa với sự thật bị bóp méo, coi thường pháp luật, xúc phạm cộng đồng, coi thường độc giả. Tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là vô hạn. Quyền tự do đó phải được đặt trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc; không xâm phạm quyền lợi của tổ chức, cá nhân.

    Tác giả: Ban Truyền thông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Định Hướng Xã Hội Của Báo Chí – Từ Thực Tiễn “Cuộc Chiến” Phòng, Chống Dịch Covid 19
  • Báo Chí Phải Là Nơi Tập Hợp Quần Chúng, Định Hướng Tư Tưởng Và Dư Luận Xã Hội (*)
  • Báo Chí, Truyền Thông Và Nhiệm Vụ Bảo Vệ Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng, Đấu Tranh, Phản Bác Các Quan Điểm Sai Trái, Thù Địch
  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí (Tiếp Theo)
  • Yêu Cầu Đặt Ra Với Báo Chí Trong Bối Cảnh Chuyển Đổi Số
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 1310417

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Bai 2 Hàng Hóa Thị Trường Tiền Tệ Bai2 Tiet1 Ppt
  • Hàng Hóa Tiền Tệ Bai2Hanghoatientethitruongphaniitiente Ppt
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 7 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 2 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 2 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không làm ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tế điều đó đã dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích, truyện trung đại…. . Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ hoặc người mắc nợ của ngân hàng nếu tiêu xài phung phí, không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Do ngành du lịch phát triển, nên mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước ngoài. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại, như Mỹ – Việt Nam là: 1 USA = 23.143 VNĐ…………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tháp Nhu Cầu Maslow Là Gì? Khái Niệm Và Phân Tích Chi Tiết
  • Bài 5. Prôtêin Bai 5 Protein 1 Ppt
  • Cấu Trúc Và Tính Chất Vật Lý, Hóa Học Của Protein
  • Top 5 Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Dinh Dưỡng Của Mỹ Tốt Hiện Nay
  • Tpcn Bổ Sung Sung Protein Hữu Cơ Từ Đậu Nành Fancl Nhật Bản
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100