Top 5 # Ví Dụ Về Chức Năng Của Ngôn Ngữ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Chức Năng Thẩm Mỹ Của Các Đặc Điểm Ngôn Ngữ Và Ví Dụ / Văn Học

các chức năng ngôn ngữ thẩm mỹ đó là tài sản mà điều này phải thu hút sự chú ý đến chính nó, mà nó có được một giá trị tự trị. Theo nghĩa này, từ này đồng thời có nghĩa và biểu hiện. Đó là, nó có một ý nghĩa khách quan bên ngoài nó, đồng thời, có ý nghĩa chủ quan, vượt quá mục tiêu.

Do đó, từ này có thể nói một điều và đồng thời cho thấy một điều hoàn toàn khác. Chức năng thẩm mỹ này của ngôn ngữ được nghiên cứu rộng rãi bởi một nhánh triết học: thẩm mỹ.

Thuật ngữ này bắt nguồn từ thuật ngữ aistesis của Hy Lạp cổ đại, có nghĩa là cảm giác hoặc nhận thức, kiến ​​thức có được thông qua kinh nghiệm cảm giác.

Mặt khác, việc sử dụng ngôn ngữ đặc biệt này thể hiện rõ hơn nhiều trong lĩnh vực văn học. Trong thơ, chẳng hạn, các cấu trúc ngôn từ văn học được sử dụng rất nhiều để truyền đạt nhiều nghĩa của nó. Trong số đó, chúng ta có thể đề cập đến màu sắc, âm thanh, cảm xúc và hình ảnh của thế giới vật chất và cụ thể.

Để thực hiện chức năng này của ngôn ngữ, một loạt các tài nguyên được sử dụng. Một số trong số họ là similes, đồng âm, bất hòa, tưởng tượng, chơi chữ và ẩn dụ.

Đây không phải là để sử dụng độc quyền của văn học. Phạm vi các khả năng mà chức năng thẩm mỹ này của ngôn ngữ được phát triển bao gồm phim, chương trình truyền hình và ngôn ngữ hàng ngày.

Chỉ số

1 Đặc điểm của chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ

1.1 Nhấn mạnh vào giá trị biểu cảm

1.2 Ưu tiên hình thức so với nội dung

1.3 Theo chuẩn mực văn hóa

1.4 Sự hiện diện trong mọi bối cảnh ngôn ngữ

2 ví dụ

2.1 Để một vận động viên trẻ chết

3 tài liệu tham khảo

Đặc điểm của chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ

Nhấn mạnh vào giá trị biểu cảm

Ngôn ngữ có một số chức năng. Điều này có thể được sử dụng để thuyết phục (chức năng kháng cáo), truyền đạt thông tin của thế giới cụ thể (chức năng tham chiếu), tham chiếu đến các khía cạnh của ngôn ngữ (chức năng ngôn ngữ kim loại), trong số những người khác..

Trong trường hợp chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ, nó ưu tiên cho giá trị biểu cảm của ngôn ngữ. Đó là, nó đề cập đến khả năng của họ để bày tỏ cảm xúc hoặc tình cảm đánh thức một đối tượng, một ý tưởng hoặc một thực thể.

Điều này có nghĩa là nó không bỏ qua giá trị quan trọng của ngôn ngữ (khả năng đề cập đến thế giới bên ngoài).

Ưu tiên hình thức trên nội dung

Khi một cuốn tiểu thuyết hoặc một bài thơ được đọc, chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ đang được trải nghiệm. Trong tất cả các loại biểu hiện, mục đích là để mang lại niềm vui thẩm mỹ.

Điều này đạt được thông qua chính các từ và sự sắp xếp có ý thức và có chủ ý có tác dụng dễ chịu hoặc làm phong phú.

Vì lý do này, mục đích thẩm mỹ này mang lại sự ưu tiên cho hình thức, hơn là nội dung. Theo cách này, thông thường, đặc biệt là trong bối cảnh văn học, sử dụng ngôn ngữ tượng hình, thơ ca hoặc lố bịch.

Như đã đề cập, trong số các tài nguyên được sử dụng cho mục đích này là similes, ẩn dụ, trớ trêu, tượng trưng và tương tự.

Mặt khác, khi sử dụng các từ cho mục đích nghệ thuật, người ta thường chọn một số từ nhất định và khám phá lại chúng để đảm bảo đạt được hiệu quả mong muốn.

Theo tiêu chuẩn văn hóa

Nói chung, ngôn ngữ nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với văn hóa của xã hội. Nó phản ánh niềm tin, phong tục, giá trị và hoạt động của một nhóm cụ thể tại một thời điểm nhất định. Không có gì đáng ngạc nhiên khi chức năng thẩm mỹ của nó phải tuân theo tất cả nền tảng văn hóa này.

Sự hiện diện trong tất cả các bối cảnh ngôn ngữ

Mặc dù đánh giá này về chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ được chứng minh rõ ràng hơn trong văn học, nó cũng được tìm thấy trong ngôn ngữ thông tục. Sau này, nó được nhận thức dưới dạng ẩn dụ, chơi chữ và các tài nguyên biểu cảm khác của lời nói hàng ngày.

Ví dụ

Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ có thể được nhìn thấy mạnh mẽ hơn trong thơ. Trong thực tế, chức năng thơ ca và thẩm mỹ thường được sử dụng như từ đồng nghĩa.

Mục tiêu của ngôn ngữ thơ là truyền đạt một ý nghĩa, cảm giác hoặc hình ảnh sâu sắc đến khán giả. Để tạo hiệu ứng này, bao gồm các hình ảnh có chủ đích và ngôn ngữ tượng hình.

Một vận động viên trẻ chết

(A.E. Housman, bản dịch của Juan Bonilla)

“Ngày bạn đã chiến thắng cuộc đua trong thị trấn của bạnTất cả chúng tôi đi qua quảng trường.Đàn ông và trẻ em hô vang tên bạnvà trên vai chúng tôi đưa bạn đến nhà bạn.

Hôm nay tất cả các vận động viên đi trên con đườngvà trên vai chúng tôi đưa bạn đến nhà bạn.Trong ngưỡng chúng tôi sẽ gửi tiền cho bạn,công dân của thành phố yên tĩnh nhất.

Chàng trai xảo quyệt, bạn đã rời đi sớmNơi vinh quang không quan trọng.Bạn có biết rằng vòng nguyệt quế phát triển nhanhrất lâu trước khi hoa hồng khô héo.

Nhắm mắt và nhìn vào ban đêmbạn sẽ không thể biết ai là người thu âm của bạn. “

Con cừu

André Bello

“Giải thoát chúng ta khỏi sự chuyên chế khốc liệt

của con người, Jove toàn năng

Một con cừu nói,

trao lông cừu cho kéo?

rằng ở những người nghèo của chúng ta

người chăn làm thiệt hại nhiều hơn

trong tuần, trong tháng hoặc năm

móng vuốt của những con hổ làm cho chúng tôi.

Hãy đến, người cha chung của cuộc sống,

mùa hè rực lửa;

mùa đông lạnh,

và cho chúng tôi che chở cho khu rừng râm mát,

chúng ta hãy sống độc lập,

nơi chúng tôi không bao giờ nghe thấy zampoña

ghét, điều đó cho chúng ta lừa đảo,

chúng ta đừng nhìn thấy vũ trang

của kẻ gian chết tiệt

người đàn ông hủy diệt đánh lừa chúng ta,

và cắt chúng tôi, và một trăm đến một trăm giết chết.

Giảm tốc độ thỏ rừng

về những gì anh ấy thích, và đi đến nơi anh ấy thích,

không có zagal, không bút và không có chuông;

và trường hợp cừu buồn!

nếu chúng ta phải thực hiện một bước,

chúng tôi phải xin giấy phép từ con chó.

Mặc quần áo và che chở cho người đàn ông len của chúng tôi;

ram là thức ăn hàng ngày của nó;

và khi tức giận bạn gửi đến trái đất,

cho tội ác của họ, đói, bệnh dịch hoặc chiến tranh,

Ai đã thấy máu người chạy??

trong bàn thờ của bạn? Không: cừu một mình

để xoa dịu cơn giận của bạn …

Tài liệu tham khảo

Dufrenne, M. (1973). Hiện tượng học của kinh nghiệm thẩm mỹ. Evanston: Nhà xuất bản Đại học Tây Bắc.

Đại học Doane. (s / f). Lợi ích của giáo dục thẩm mỹ. Lấy từ doane.edu.

Hoogland, C. (2004). Một thẩm mỹ của ngôn ngữ. Lấy từ citeseerx.ist.psu.edu.

Khu trường cao đẳng cộng đồng Austin. (s / f). Mục đích văn học. Lấy từ austincc.edu.

Llovet, J. (2005). Lý luận văn học và văn học so sánh. Barcelona: Ariel.

León Mejía, A. B. (2002). Chiến lược phát triển truyền thông chuyên nghiệp. Mexico D. F.: Biên tập Limusa.

Chức Năng Của Ẩn Dụ Đối Với Ngôn Ngữ Và Nhận Thức

Ngay từ thời Aristotle người ta đã đề cập tới chức năng của ẩn dụ. Trong cuốn “Thi pháp học”. Aristottle đã viết rằng ẩn dụ có nhiều loại quan trọng trong cả thơ lẫn văn xuôi, nhưng trong thơ nhiều hơn. Ẩn dụ có tính sáng sủa, dễ yêu và tác động mạnh… Rải rác trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã đề cập đến chức năng của ẩn dụ đối với ngôn ngữ. Đại để, ẩn dụ có những chức năng cơ bản đối với ngôn ngữ như sau.

a. Ẩn dụ làm phong phú thêm cho vốn từ của một ngôn ngữ

Trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ có rất nhiều từ được tạo ra nhờ phương thức ẩn dụ. Các từ như đầu sông, ngọn suối, mũi súng, chân núi…được tạo ra từ phương thức này. Trong phương trình nghiên cứu của mình. Nguyễn Thiện Giáp đã có nhận xét các từ da trời, da cam, cánh sen, cỏ úa, cứt ngựa… làm cho các từ chỉ màu sắc của tiếng Việt trở nên phong phú,

b. Ẩn dụ làm tăng thêm ý nghĩ cho một từ

Nhờ phương thức ẩn dụ từ có thêm nhiều nghĩa mới. Từ ốc lẽ ra chỉ có nghĩa là động vật, thân mềm có vỏ cứng và xoắn, sống ở dưới nước. Nhờ chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, từ ốc còn có nghĩa là đinh ốc. Đó là từ ốc trong cách nói “Hộp ốc vít của tôi đâu?” hay “Bộ phạn này có năm con ốc”. Từ cá ngoài nghĩa là động vật có xương sống sống ở dưới nước, thở bằng mang, bơi bằng vây, còn để chỉ miếng gỗ khi giữ chặt mộng để giữ miếng ghép, như cách nói: cá áo quan; hay để chỉ miếng cứng cài vào cạnh đứng của răng trong bộ bánh cóc, làm cho bánh răng chỉ quay được một chiều, như trong cách nói: xe bị sập cá; và từ cá cũng còn để chỉ: miếng sắt đóng vào đế giầy da cho đỡ mòn, như trong cách nói: cá giày bong mất rồi!. Từ bươm bướm ngoài nghiã chỉ: bọ có cánh mỏng, phủ một vẩy nhỏ như phấn, thường có nhièu màu, có vòi để hút mật hoa. Còn để chỉ một loại truyền đơn, như trong cách nói: giải bươm bướm giữa chợ.

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), từ có thêm nhiều nghĩa nhất nhờ phương thức ẩn dụ là từ đánh: ngoài nghĩa chính, từ đánh có thêm 26 nghĩa sinh ra từ nghĩa chính và nghĩa phụ của từ này. Đây là minh chứng điển hình cho nhận xét “ẩn dụ làm giàu thêm ý nghĩa cho một từ”

Hàng loạt các từ khác như đầu, mũi, đường, đi …cũng có thêm rất nhiều nghĩa mới nhờ phương thức ẩn dụ.

Trong Từ điển phong cách học, tác giả Weles viết: bằng cách trung hoà hoá sự lệnh chuẩn về mặt ngữ nghĩa và sự sử dụng liên tục với một nghĩa mới thông qua cách dùng lặp đi lặp lại các ẩn dụ sẽ là một phương thức để gia tăng hàng nghìn nghĩa mới cho ý nghĩa của từ. (tr.117)

Theo Đỗ Hữu Châu, ẩn dụ không chỉ là “kết quả của những qui luật điều khiển sự tạo nghĩa cho từ”, mà nó còn là cách thức tạo từ mới và tạo nghĩa mới cho từ.

Thông qua việc tạo từ mới và nghiã mới, ẩn dụ giúp ngôn ngữ mau chóng đáp ứng được đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị sự vật, hiện tượng và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội, để thay thế những cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa… Đó cũng là cách khai thác và phát huy tiềm năng của ngôn ngữ” (Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, trang 152).

c. Ẩn dụ tạo ra những cách nói mới làm cho cách diễn đạt trở nên phong phú

Tác giả Xi-xi-rô nói rằng: ẩn dụ lúc đầu xuất hiện cho sự hạn chế, sự nghèo nàn từ vựng của một ngôn ngữ nào đó. Nhưng khi ngôn ngữ đó là trưởng thành, đã có một số vốn từ vựng phong phú thì ẩn dụ sẽ làm giàu thêm cho ngôn ngữ đó bằng cách cung cấp cho người nói những cách nói hấp dẫn hơn để diễn đạt, để biểu thị, để bộc lộ chính mình. Bectle thì coi ẩn dụ có tác dụng trang trí, giúp cho người viết phương tiện để quyến rũ lí trí. Tác giả Đỗ hữu Châu đã dẫn ra ví dụ: lẽ ra cần nói em rất đẹp thì có thể nói em là một bông hoa. Hay một chút hi vọng thì gọi là hạt mầm hi vọng; Muốn nói con đáng yêu quá thì nói con chó con của mẹ, muốn nói ông thật xảo quyệt thì nói đồ cáo già.

d. Ẩn dụ làm cho cách nói trở nên hàm súc.

Nhờ ẩn dụ người ta có thể diễn đạt ngắn gọn nhưng rất cô đọng, súc tích ý mình. Lẽ ra phải nói “bộ phận nhọn của vũ khí” thì cần nói mũi dao, mũi súng; “bộ phận trước của thuyền” thì chỉ cần nói mũi thuyền; phần đất nhô ra ở ngoài biển thì nói mũi đất;…Nếu không có ẩn dụ thì đầu làng sẽ phải gọi là “vị trí đầu tiên của đầu làng tính từ chỗ người nói”; chân núi sẽ phải gọi là “phần cuối cùng tiếp giáp với mặt đất của núi”; tài năng chín sẽ phải gọi là ” tài năng đã trải qua quá trình nung nấu kĩ, quá trình rèn luyện chu đáo, phải đem ra thi thố với đời nếu không cái chín sẽ trở thành trì trệ”. Cách diễn đạt ” tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào thế đường cùng, không lối thoát, mặc dù đã xoay sở hết cách” có thể xoay bằng cụm từ cố định ngắn gọn ” chuột chạy cùng sào “.

Những cách gọi tên không dùng phương thức ẩn dụ nói trên nhiều khi rất dài, khó nhớ và tai hại hơn là không thể diễn tả hết các sắc thái ý nghĩa tinh tế trong đó. Chẳng hạn cách gọi đầu làng ngoài tác dụng chỉ vị trí của đầu làng còn gợi cho ta sắc thái nghĩa: đây là một bộ phận của cái gì sống động chứ hoàn toàn không phải là một vật vô tri vô giác như cách gọi “vị trí đầu tiên …” vừa phân tích ở trên.

Cách gọi chi trên, chi dưới trong dòng họ cho ta thấy được tính chất gắn bó, ràng buộc như các bộ phận của một cơ thể, điều đó đã vừa diễn đạt tính chất cội nguồn, vừa diễn tả một cách sinh động cụ thể mối quan hệ của những tổ chức gia đình, họ hàng này.

Đỗ Hữu Châu đã phân tích ẩn dụ chịu tang trong câu thơ: “Rặng liễu dìu hiu đứng chịu tang” của Xuân Diệu. Theo ông, khó lòng tường minh hoá nghĩa của từ chịu tang bằng trường ngữ hoá như ” những rặng liễu đìu hiu giống như người đàn bà đang khóc than trong một đám tang” hoặc “những rặng liễu đìu hiu giống như người đàn bà đang xoã tóc khóc than trong một đám tang”.

Có rất nhiều trường hợp không thể trường nghĩa hoá được các ẩn dụ vì đó là cách nói chuẩn xác nhất, hàm súc nhất, hàm súc nhất, cách nói mà “ngôn ngữ thường ngày không đủ khả năng diễn đạt chúng”.

Đối với ngôn ngữ, ẩn dụ là một bộ phận hợp thành của sự sáng tạo ra ngôn ngữ. Và có thể nói rằng thật khó tưởng tượng về sự tồn tại của một ngôn ngữ nếu không có ẩn dụ.

e. Ẩn dụ giúp cho người nói diễn đạt được mọi cung bậc tình cảm, thái độ của mình

Đầu tiên phải nói đến ưu thế đặc biệt của ẩn dụ trong lối nói kiêng tránh. Chẳng hạn khi nói về cái chết có thể và nên dùng từ đi như cách nói: Ông cụ đi tối hôm qua.

Nhiều trường hợp để tránh lối mòn trần tục, thô thiển, làm người nói ngượng mồm và người nghe xấu hổ thì cách nói ẩn dụ là cách nói rất hiệu quả. Người xưa đã rất khéo léo dùng ẩn dụ khi diễn tả tình huống sau đây:

Trách người quân tử vô tình. Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.

Và ngày nay chúng ta vẫn phát huy thế mạnh của phương thức chuyển nghĩa này. Chẳng hạn như cách nói “Híc, híc, dạo này đèn dầu của tớ cứ hay …dựng đứng bất tử lắm! hay nó bị… hỏng”? (trích Hoa học trò số 589). Hoặc “Đỉnh núi đôi của tớ bé tẹo à. Tớ lo sau này, cục cưng của tớ sẽ phải bú bình mất”? (Hoa học trò số 609) và “Đèn dầu của tớ bình thường, nhưng dầu của nó thì hầu như có vấn đề. Trong veo. Hay là mình không sản xuất được tinh binh” (Trích hoa học trò, số 613).

Ẩn dụ giúp người nói thể hiện được những tình cảm hết sức tinh tế như tình yêu chẳng hạn. Cách tỏ tình sau đây trong ca dao là một minh chứng:

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Khi muốn nhấn mạnh sắc thái biểu cảm trong lời nói, ẩn dụ cũng tỏ ra là một trợ thủ rất đắc lực. khi muốn nói em thật đáng yêu và có sức mạnh tuyệt đối với anh thì có thể nói là: “Em là thiên thần bé nhỏ của anh”. Đó là những tình cảm tích cực. Còn muốn thể hiện những tình cảm tiêu cực cũng có thể dùng cách này. Chẳng hạn để nói: đồ nhỏ nhen ghê tởm thì chỉ cần nói đồ sâu bọ.

2. Chức năng của ẩn dụ đối với nhận thức

a. Theo G. Lakoff, ẩn dụ có ở khắp nơi trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, không chỉ ở trong ngôn ngữ mà trong cả tư duy và hành động. Hệ thống khái niệm của chúng ta suy nghĩ và hành động, về cơ bản, về bản chất có tính chất ẩn dụ… Các khái niệm của chúng ta tri giác được. Nó cấu trúc lại cách chúng ta ứng xử trong đời sống và cấu trúc cả cách chúng ta quan hệ với những người khác. Ông đã dùng các ẩn dụ so sự tranh luận (argument), theo đó thì tranh luận là chiến tranh, để chứng minh cho nhận xét trên. Theo ông, ẩn dụ này chi phối cách chúng ta nhận thức về tranh luận và người tranh luận với chúng ta. Chúng ta xem người tranh luận với chúng ta là đối phương của mình. Chúng ta tấn công quan điểm của anh ta vào bảo vệ trận địa của mình. Chúng ta dựng lên và dùng những chiến lược. Nếu chúng ta thấy luận điểm của chúng ta không bảo vệ được thì chúng ta có thể bỏ luận điểm đó và chọn một chiến tuyến tấn công khác. Một khái niệm khác mà G. Lakoff dẫn ra để chứng minh rằng ẩn dụ không chỉ có vai trò đối với ngôn ngữ mà nó còn chi phối nhận thức của con người và từ đó chi phối hành động của con người là ẩn dụ thời gian là tiền bạc. Vì nhận thức về thời gian như là tiền bạc. Đó là thói quen trả lương cho người theo giờ, theo tháng, theo năm…Các cuộc nói nói chuyện bằng điện thoại, tiền thuê khách sạn tính theo thời gian, rồi tiền lời, tiền trả nợ cho xã hội tính theo thời gian…Người ta hiểu và thể nghiệm thời gian như một loại sự vật mà người ta có thể tiêu, có thể lãng phí, có thể lập thành quỹ, có thể đầu tư một cách khôn khéo hoặc dại dột, có thể tiết kiệm hay phung phí. Toàn bộ những cái đó đều bị chi phối bởi cái ẩn dụ trên.

Cũng trong công trình nghiên cứu của mình, G. Lakoff đã khẳng định rằng: chức năng đầu tiên của ẩn dụ là cung cấp cho chúng ta một cách hiểu bộ phận về một loại kinh nghiệm khác và chức năng này có thể vận dụng vào việc hiểu những sự giống nhau đã tồn tại từ trước ngoài ẩn dụ, bao gồm cả sự sáng tạo ra những sự giống nhau mới, nghĩa là việc lý giải, hiểu biết những sự giống nhau từ trước, những sự sáng tạo ra những cái giống nhau mới cũng là theo nguyên tắc chúng ta hiểu sự giống nhau này dựa trên sự giống nhau khác.

Như vậy, G. Lakoff không những khẳng định ẩn dụ không chỉ là những vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề tư duy, nhận thức: đó là có thể nhận thức sự vật này qua qua kinh nghiệm hiểu biết vè sự vật khác nếu chúng giống nhau.

b. Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, nhận thức của con người ngày càng được nâng cao. Con người ngày càng phát hiện ra nhiều sự vật, hiện tượng xung quanh mình và các sự vật hiện tượng đó ngày càng được nhận thức toàn diện, sâu sắc hơn. Nhưng số lượng từ ngữ để biểu hiện những nhận thức đó thì còn có hạn. Do đó, buộc phải có những cách thức khác nhau để dùng số lượng hữu hạn các từ để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhận thức. Như vậy, ẩn dụ đã góp phàn làm cho ngôn ngữ đáp ứng được sự phát triển ngày càng cao của nhận thức con người.

c. Có rất nhiều sự vật, hiện tượng hay những phương diện, khía cạnh khác nhau của các sự vật, hiện tượng nhận thức bằng phương thức ẩn dụ. Trong khoa học tự nhiên có rất nhiều ví dụ chứng tỏ điều này. Có thể dẫn ra đây một hiện tượng như sau: Để tìm ra những quy luật của dòng điện, người ta ví dòng điện như dòng nước. Đây là một ẩn dụ. Trên cơ sở đó những quy luật của dòng điện đi qua dây dẫn có thiết diện nhỏ thì điện trở lớn, ngược lại dòng điện đi qua dây dẫn lớn tức là thiết diện lớn thì điện tích nhỏ. Điều đó giồng như dòng nước khi đi qua ống dẫn có thiết diện lớn thì sức cản đối với dòng nước sẽ nhỏ và ngược lại. Như vậy, để nhận thức về dòng điện là cái mắt thường không nhìn thấy được, người ta so sánh với dòng nước là cái có thể nhìn thấy được.

Hay hai khái niệm trường hấp dẫn, trường điện từ cũng được nhận thức trên cơ sở ẩn dụ. Trường “là một khoảng đất rộng, bằng phẳng dùng làm nơi tiến hành một loại hoạt động nhất định, có đông người tham gia, thường là thi đấu hoặc tập luyện như trường đua, trường bắn”. (Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 1994). Trường hấp dẫn, trường điện từ là hai khái niệm trừu tượng, nhưng giống trường ở chỗ đều là một khoảng không gian nhất định và trong đó tồn tại một cái gì đó nhất định. Do đó, để hiểu hai khái niệm này người ta đã dùng hai khái niệm trường để nhận thức chúng. Và trường hấp dẫn, trường điện từ được hiểu như sau: “Dạng vật chất tồn tại trong một khoảng không gian mà vật nào trong đó cũng chịu tác động của một lực” (dẫn theo từ điển trên, tr. 1057).

Tương tự như vậy hai hiện tượng sóng điện từ và sóng âm cũng được nhận thức qua khái niệm sóng. Nhờ phương thức ẩn dụ người ta coi sóng điện từ và sóng âm như dòng nước. Sóng điện từ “là sự lan truyền trong không gian của điện từ với tốc độ hữu hạn”. Sóng âm “là giao động cơ học truyền đi trong môi trường đàn hồi kích thích được thần kinh thính giác”. Hai loại sóng này không thể nhận biết bằng các giác quan của con người, mà phải nhờ các thiết bị đặc biệt ghi lại hình ảnh sự tồn tại của nó. Nó giống nước ở sự giao động dâng lên, hạ xuống và đều ở trong một môi trường, một không gian. Khi được ví với sóng nước, hai khái niệm trên được nhận thức một cách dễ dàng hơn.

Phần trung tâm của nguyên tử, nơi tập trung hầu hết các khối lượng mang điện tích dương được gọi là hạt nhân. Nhờ ẩn dụ này (coi phần nói trên là hạt nhân giống như hạt quả, mà sự vật trừu tượng trên dễ được nhận thức hơn. Sở dĩ được gọi là hạt nhân vì nó giống nhân của hạt ở vị trí bên trong và vì chức năng quan trọng của nhân đối với hạt.

Tương tự như vậy, khái niệm nhân tế bào cũng được nhận thức rõ hơn qua phương thức ẩn dụ. Đây là bộ phận ở giữa tế bào, thường hình cầu, có chức năng quan trọng trong hoạt động sống, sinh sản và di truyền của tế bào. Bộ phận này không thể quan sát bằng mắt thường. Như vậy, khi được gọi là nhân bộ phận này sẽ dễ dàng nhận thức hơn.

Những thí dụ phân tích trên cho thấy chức năng quan trọng của ẩn dụ đối với nhận thức. Nhờ ẩn dụ, người ta có thể hiểu, có thể nhận thức những hiện tượng, sự vật chưa biết qua các hiện tượng, sự vật đã biết bằng cách so sánh ngầm giữa chúng. Vì bản chất của ẩn dụ là so sánh, do đó chức năng nhận thức của so sánh chính là chức năng nhận thức của ẩn dụ.

Ẩn dụ là một cách thức để con người nhận thức thế giới. Tìm hiểu chức năng của ẩn dụ đối với nhận thức sẽ giúp cho việc hiểu rõ hơn chức năng của ẩn dụ đối với ngôn ngữ.

Tóm lại, rất nhiều kinh nghiệm và hoạt động của chúng ta có bản chất là ẩn dụ. Phần lớn hệ thống khái niệm của chúng ta được hệ thống trong các ẩn dụ, bởi vì chúng ta phát hiện ra những sự giống nhau theo các phạm trù của hệ thống khái niệm. Ẩn dụ là nét độc đáo của ngôn ngữ tự nhiên. Năng lực hiểu các ẩn dụ và dùng được các ẩn dụ là dấu hiệu về khả năng ngôn ngữ của con người. Do đó ẩn dụ không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy, của nhận thức của con người.

Tài liệu tham khảo Tiếng Việt

1. Đỗ Hữu Châu – Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. GD, H, 1981.

2. Nguyễn Thiện Giáp – Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. GD, H, 1998.

3. Hoàng Phê chủ biên – Từ điển tiếng Việt, Nxb. KHXH, 1994.

4. Đỗ Xuân Thảo – Lê Hữu Tỉnh – Giáo trình tiếng Việt 2 (Hệ từ xa, bậc tiểu học), Nxb, ĐHSP Hà Nội, 1998.

Tiếng Anh

1. Aristotle – Thi pháp học. Tạp chí Văn học, số 1. 1997.

2. Asher R. E (Ed. In-Chief) – The Encyclopedia of Language and Linguistics (mục từ Metaphor). Tập V. Pergamon Press, New York, 1994.

Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Và Ngôn Ngữ Học

Published on

General view of language and linguistics

1. TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC Tài liệu tham khảo 1. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến,1997, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB GD, Hà Nội. 2. Ng.Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Ng. Minh Thuyết, 1995, Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB GD, Hà Nội

2. TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC * Ngôn ngữ và ngôn ngữ học * Nguồn gốc của ngôn ngữ * Chức năng của NN * Bản chất xã hội của NN * Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu

3. Ngôn ngữ và ngôn ngữ học I. Ngôn ngữ là gì? 1. Khái niệm * Thuật ngữ “ngôn ngữ” gồm các nghĩa: – Tiếng nói của mỗi dân tộc – Là tiếng nói của loài người nói chung. – Khái quát về lời nói của một cá nhân.

4. Ngôn ngữ và ngôn ngữ học * Cơ cấu NN bao gồm: – Hệ thống ngữ âm: mặt âm thanh của lời nói. – Hệ thống từ vựng – ngữ nghĩa: tập hợp những đơn vị định danh sự vật, sự tình, biểu hiện các loại ý nghĩa khác nhau. – Hệ thống ngữ pháp: tập hợp những quy tắc tạo nên những đơn vị thông báo.  NN là một cơ cấu (toàn bộ các yếu tố hợp thành), một tổ chức chặt chẽ có hệ thống mà con người vận dụng trong quá trình suy nghĩ, nói năng để định hình, để biểu hiện và trao đổi những tư tưởng tình cảm với nhau.

5. Ngôn ngữ và ngôn ngữ học 2. Phân biệt ngôn ngữ, lời nói và hoạt động ngôn ngữ: * Ngôn ngữ: Là sự tập hợp các đơn vị, các quy tắc đã được xã hội quy ước và quy định. * Lời nói: Là hoạt động cá nhân của người sd hệ thống NN chung để giao tiếp với các thành viên khác trong cộng đồng ngôn ngữ. * Hoạt động NN: là những hiện tượng trong đời sống một NN như, nghĩ thầm, độc thoại, hội thoại, viết, đọc, hiểu …tiếp xúc NN, vay mượn, dịch, khôi phục NN, …

6. Ngôn ngữ và ngôn ngữ học II. Ngôn ngữ học là gì? 1. Đối tượng của ngôn ngữ học * NNH là khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ của loài người. (A. Martinet) * Đối tượng nc của NNH: nc mặt vật chất của hệ thống NN. Đó là các đơn vị và quy tắc đã được xã hội quy ước và quy định để phục vụ cho mục đích giao tiếp.

9. Nguồn gốc của ngôn ngữ 1. Các giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ. * Từ thượng cổ: – Trường phái duy vật – Trường phái duy tâm * Thời kỳ Phục hưng: – Thuyết tượng thanh – Thuyết cảm thán – Thuyết kế ước xã hội – Thuyết ngôn ngữ cử chỉ, …

11. Nguồn gốc của ngôn ngữ * Ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động: – Lao động đã liên kết con người thành những bầy đàn. Bầy người nguyên thuỷ có sự phân công lao động, nảy sinh ra nhu cầu trao đồi, phải nói với nhau một cái gì đó. – Theo Anggen : “Bắt nguồn từ lao động và sau đó cùng với lao động tiếng nói được hình thành và phát triển”. – Chính lao động đã sáng tạo ra con người và ngôn ngữ của con người.

12. Diễn tiến của ngôn ngữ * NN xuất hiện cùng với quá trình hình thành ý thức, gắn liền với lao động, với sự xh của con người và xã hội loài người. Quá trình phát triển của NN theo từng bước: * NN bộ lạc: – Là những ngôn ngữ đầu tiên của loài người. – Mỗi bộ lạc có một NN. * NN khu vực: – Là phương tiện giao tiếp chung của tất cả mọi người trong một vùng, không phân biệt thị tộc hay bộ lạc. – Đó là tiếng nói trên bộ lạc.

13. Diễn tiến của ngôn ngữ * NN dân tộc: là phương tiện giao tiếp chung của toàn dân tộc, bất kể khác nhau về lãnh thổ hay xã hội của họ. * NN văn hoá dân tộc: – Khi các dân tộc phát triển, NN VH DT mới hình thành. – Nó là một NN thống nhất, chuẩn mực, được gọt giũa từ NN DT. – Là biểu hiện tập trung nhất tính thống nhất của NNDT.

14. Chức năng của ngôn ngữ 1. Chức năng giao tiếp * NN là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. * NN giúp cho con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động. * NN là công cụ đấu tranh sản xuất, công cụ đấu tranh giai cấp.

15. Chức năng của ngôn ngữ 2. Chức năng phản ánh (thể hiện tư duy) * NN là phương tiện của tư duy. * Tư duy của con người là sự phản ánh thế giới khách quan quanh ta vào trong bộ não. * NN loài người ra đời và phát triển là do con người thấy “cần phải nói với nhau một cái gì đó”, tức là các kết quả của sự phản ánh thế giới khách quan (là TD) của con người, cần được thông báo với những người khác trong cộng đồng.

16. Chức năng của ngôn ngữ * Chức năng thể hiện tư duy của NN: – NN là sự thể hiện thực tế của tư tưởng. – NN trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng. * NN của con người tồn tại dưới dạng: – thành tiếng, dạng biểu tượng âm thanh ở trong óc. – chữ viết, Vì thế, chức năng phản ánh của NN không chỉ thể hiện khi NN phát ra thành lời mà cả khi im lặng suy nghĩ hoặc viết ra giấy.

17. Chức năng của ngôn ngữ 3. Mối quan hệ NN và tư duy. * NN và TD cùng ra đời một lúc, không tách rời nhau. * NN là hiện thực trực tiếp của TD. * NN và TD thống nhất với nhau. Không có NN thì cũng không có TD và ngược lại, không có TD thì NN cũng chỉ là những âm thanh trống rỗng, thực chất cũng không có NN.

18. Chức năng của ngôn ngữ Mối quan hệ giữa NN với tư duy * NGÔN NGỮ – Là vật chất – Là cái để biểu hiện tư duy. – NNH nc các hiện tượng, quy tắc NN. – Đơn vị của NN là âm vị, hình vị, từ, câu … – NN có tính dân tộc. * TƯ DUY – Là tinh thần – Là các được biểu hiện. – Lôgic học nc các quy luật của TD. – Đơn vị của TD là khái niệm, phán đoán, suy lý, … – TD có tình nhân loại.

19. Bản chất của ngôn ngữ 1. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội. * NN không phải là hiện tượng tự nhiên. * NN không phải là hiện tượng cá nhân. * NN không phải là hiện tượng sinh học. Vì, NN không mang tính di truyền.

20. Bản chất của ngôn ngữ 2. NN là một hiện tượng xã hội đặc biệt. * NN không thuộc cấu trúc thượng tầng của riêng một xã hội nào. – NN được sinh ra và được bảo toàn qua mọi thời đại. * NN không mang tính giai cấp. – NN được ứng xử bình đẳng đối với tất cả mọi người trong xã hội.

21. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu I. Các khái niệm cơ bản 1. Hệ thống: * Đó là một tập hợp các yếu tố , * Có quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó. 2. Cấu trúc: * Là tổng thể các mối quan hệ trong hệ thống thể thống nhất. * Là phương thức tổ chức của hệ thống.

22. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Ngôn ngữ phải là một hệ thống vì: * Các yếu tố trong NN được sắp đặt theo những quy luật nhất định. * Chúng không thể kết hợp với nhau một cách tùy tiện.

23. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu * Các đơn vị ngôn ngữ: – Âm vị (phoneme): là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất có tác dụng khu biệt nghĩa, cấu tạo vỏ âm thanh của các đơn vị khác. – Hình vị (morpheme): là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất dùng để cấu tạo từ. – Từ (word): là đơn vị có chức năng định danh. – Câu (sentence): là đơn vị có chức năng thông báo.

24. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu * Mỗi đơn vị tạo thành một hệ thống nằm trong một hệ thống lớn. * Mỗi hệ thống nhỏ của ngôn ngữ là một cấp độ: – cấp độ âm vị, – cấp độ hình vị, – cấp độ từ – Và cấp độ câu.

25. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu 3. Tín hiệu: là một thể thống nhất, không thể tách rời của hai mặt: – Mặt thứ nhất: cái biểu hiện – là hình thức vật chất. – Mặt thứ hai: cái được biểu hiện – là nội dung mà vật chất đó biểu thị. * Tín hiệu bao giờ cũng nằm trong một hệ thống nhất định.

26. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu  Tín hiệu ngôn ngữ * Trong ngôn ngữ, các đơn vị: hình vị, từ là những tín hiệu. Vì, chúng biểu thị hai mặt: – Mặt biểu hiện: âm thanh – Mặt được biểu hiện: ý nghĩa, nội dung.

27. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu * Hình vị: là những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất, có giá trị về mặt ngữ pháp. Ví dụ: teach, -er, -ing, …trong các từ “teacher”, “teaching”, … bàn, ghế, ăn, nói, trong các từ “bàn ghế”, “ăn nói”, …. * Từ: cũng là tín hiệu vì chúng thể hiện 2 mặt: âm thanh, ý nghĩa

28. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu II. Các kiểu quan hệ trong cơ cấu ngôn ngữ 1. Quan hệ cấp bậc (hirerchical relation): * Đơn vị thuộc cấp bập cao hơn bao giờ cũng chứa dựng đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn. * Ngược lại, đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn bao giờ cũng nằm trong đơn vị thuộc cấp độ cao hơn. * Là quan hệ giữa các đơn vị không đồng loại, những đơn vị khác nhau về cấp độ.

29. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu 2. Quan hệ ngữ đoạn (syntagmatical relation) * Các đơn vị ngôn ngữ phải nối tiếp nhau thành chuỗi, lần lượt trong ngữ lưu. * Là quan hệ giữa các yếu tố, các đơn vị, nối tiếp nhau trên một trục nằm ngang theo tuyến tính gọi là trục ngữ đoạn. * Trực tiếp kết hợp với nhau giữa các đơn vị đồng hạng, những đơn vị thuộc cùng cấp độ.

30. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu 3. Quan hệ liên tưởng (associative relation) * Là quan hệ xâu chuỗi một yếu tố xh với những yếu tố đứng sau lưng nó, về nguyên tắc có thể thay thế cho nó. * Quan hệ liên tưởng cho phép lựa chọn lấy một yếu tố thích hợp nhất trong dãy liên tưởng mà mình tạo ra. Nó phải phụ thuộc vào khả năng kết hợp trong ngữ.

32. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu III. Đặc điểm của ngôn ngữ * Tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ – Là một sự hợp nhất của cái biểu hiện và cái được biểu hiện, – Gắn bó khăng khít với nhau, * Tính võ đoán – Không giải thích được lí do vì sao vỏ âm thanh này lại mang nghĩa này, mà không mang nghĩa khác. – Sự gọi tên khác nhau này là do thói quen, quy ước của một cộng đồng người.

33. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu * Tính hình tuyến – Mỗi tín hiệu ngôn ngữ đều tồn tại trong một thời gian, – Mỗi yếu tố có một độ dài nhất định, – Chúng xuất hiện kế tiếp nhau lần lượt, không thể phát ra hai yếu tố trong cùng một lúc. – Trên chữ viết biểu thị rõ tính hình tuyến.

Bản Chất Và Chức Năng Của Ngôn Ngữ

* Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội

* Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng

* Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, có bản chất tín hiệu

1. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội

Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người. Bên ngoài xã hội, ngôn ngữ không thể phát sinh.

Ngôn ngữ không phải là hiện tượng của cá nhân tôi hay cá nhân anh mà là của chúng ta. Đối với mỗi cá nhân, ngôn ngữ như một thiết chế xã hội chặt chẽ, được giữ gìn và phát triển trong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cả cộng đồng.

Ngôn ngữ cũng không phải là hiện tượng sinh vật vì nó không mang tính di truyền.

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Nó không thuộc về kiến trúc thượng tầng của riêng một xã hội nào. Ngôn ngữ không mang tính giai cấp.

2. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng

Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp và là công cụ của tư duy.

“Hoạt động ngôn ngữ có một mặt cá nhân và một mặt xã hội, và không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được”. “Tất nhiên, hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau: ngôn ngữ là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và gây được tất cả những hiệu quả của nó; nhưng lời nói lại cần thiết để cho ngôn ngữ được xác lập; về phương diện lịch sử, sự kiện của lời nói bao giờ cũng đi trước (…) Cuối cùng, chính lời nói làm cho ngôn ngữ biến hoá.”

Ngôn ngữ ( langue) được thực tại hoá trong lời nói ( parole); và lời nói chính là ngôn ngữ đang hành chức, đang được dùng để giao tiếp giữa người với người.

3. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, có bản chất tín hiệu

Ngôn ngữ là sự hợp nhất của cái biểu hiện (vỏ âm thanh) và cái được biểu hiện (khái niệm về sự vật, hiện tượng được phản ánh, gọi tên). Hai mặt này không bao giờ tách nhau nhưng lại có quan hệ võ đoán với nhau. Mặt biểu hiện của ngôn ngữ mang tính hình tuyến.

Ngay từ đầu, ngôn ngữ đã đồng thời là tín hiệu, mang bản chất tín hiệu. Chính bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, với tất cả những đặc trưng riêng biệt và tính phức tạp trong hệ thống tổ chức của mình, là một nhân tố trung tâm bảo đảm nó trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.

* Theo Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 8-20