Chức Năng Của Giao Tiếp Văn Hóa Nơi Công Cộng Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • 161 Bài Tập Chức Năng Giao Tiếp Từ Đề Thi Tiếng Anh 2012
  • Luyện Thi Đại Học, Cao Đẳng Tiếng Anh Các Khối D, Khối A1
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Chức Năng Giao Tiếp Ôn Thi Thpt Qg 2022 Môn Tiếng Anh
  • Chức Năng Giao Tiếp, Chức Năng Của Tôn Giáo, By Openstax (Page 1/1)
  • Bộ Môn Nhân Học/tôn Giáo, Tín Ngưỡng Và Lễ Hội Ở Việt Nam/những Vấn Đề Xung Quanh Khái Niệm Tôn Giáo
  • Giao tiếp, ứng xử nơi công cộng được xem là một kỹ năng cực kỳ quan trọng đối với một người trẻ hiện đại. Hình thức của bạn thật nổi bật, cá tính của bạn thật hay ho, nhưng thiếu đi kỹ năng đó, bạn sẽ đánh mất rất nhiều điểm cộng cho mình.

    1. Bên cạnh sự yêu ghét cá nhân, chúng ta còn đánh giá người đối thoại qua điệu bộ, cử chỉ, thái độ và thậm chí là dung mạo của họ khi nói chuyện. Vì tất cả những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến việc bạn có chấp nhận thông tin của họ hay không nên bạn cần tự nhắc nhở rằng “quan trọng là họ nói gì chứ không phải họ là ai”! “Tại sao” chứ không chỉ là “cái gì”? Một khi đã nắm được nội dung thông tin, bạn cần suy nghĩ và tìm hiểu vì sao người ta trao đổi vấn đề đó với bạn. Ví dụ: sếp bạn ra thông báo kể từ đầu năm nay, công ty áp dụng giờ làm việc buổi sáng bắt đầu từ 8 giờ đến 9 giờ và không quá 9 giờ. Nếu chỉ chăm chăm vào nội dung thông tin, bạn có thể sẽ cảm thấy không thoải mái. Nhưng nếu tự đặt câu hỏi “tại sao” bạn sẽ hiểu thêm và thấy được lợi ích của quy định này. Giờ làm việc như vậy sẽ giúp bạn linh động về thời gian làm việc hơn và thử nghĩ xem, lỡ có bị kẹt xe thì bạn cũng sẽ tránh được việc đi làm trễ giờ.
    2. Lắng nghe rồi mới đánh giá Tất cả chúng ta đều biết mình nên tìm cách hiểu đúng quan điểm của người phát ngôn trước khi đánh giá quan điểm của họ. Bạn có thể chờ đến khi kết thúc cuộc trò chuyện rồi mới đánh giá nếu không cần thiết phải đưa ra quyết định ngay lập tức. Đừng vội đánh giá, quyết định hay đưa ra kết luận khi chúng ta chưa chắc chắn về những điều đã nghe. Không nhất thiết phải là trao đổi trực tiếp, viết cũng được Sẽ rất khó giao tiếp với những người hơi nhạy cảm hoặc những người khó có thể tập trung lắng nghe từ đầu đến cuối. Vì vậy, bạn nên viết thư hoặc để lại tin nhắn cho họ trước khi muốn trực tiếp trao đổi. Ngoài ra, những người gặp khó khăn khi phải diễn đạt bằng lời nói cũng có thể sử dụng cách này để giao tiếp hiệu quả hơn. Thông tin đơn giản và dễ hiểu
    3. Nghĩa là bạn nên sử dụng những cách diễn đạt đơn giản; dùng từ ngữ dễ hiểu, đơn nghĩa, chính xác để người nghe dễ dàng nắm bắt được nội dung thông tin. Những từ ngữ lạ, chuyên biệt hoặc lối nói khách sáo chỉ làm tăng thêm khoảng cách giữa bạn và người đối thoại và khó đạt được hiệu quả giao tiếp. Tiếp nhận phản hồi Việc chuyển tải nội dung thông tin chỉ là bước đầu tiên trong quá trình giao tiếp. Cả người nói và người nghe đều cần khuyến khích người kia phản hồi. Phản hồi giúp bạn biết được người đối thoại có thực sự nắm bắt được vấn đề đang trao đổi hay không, có hiểu đúng hay không. Từ đó bạn sẽ khẳng định lại những thông tin chưa được hiểu đúng, tránh việc thực thi sai hoặc hiểu lầm. Xây dựng niềm tin và sự tôn trọng lẫn nhau

    Vui lòng điền thông tin của bạn để tải tài liệu

    (Ưu tiên sđt của Viettel hoặc Mobifone)

    Vui lòng chờ 10 giây, một tin nhắn chứa mã số xác thực OTP sẽ được gởi đến số điện thoại của ban. Hãy nhập mã OPT đó vào ô bên dưới để xác nhận việc download tài liệu.

    Phòng và trị bệnh cho cây trồng, vật nuôi

    Trồng cây rừng, cây công nghiệp

    Trồng trọt, chăn nuôi theo mùa

    Vật tư, trang thiết bị nông nghiệp

    Bảo quản, chế biến sau thu hoạch

    Các chuyên đề nông nghiệp khác

    NÔNG HỌC TRÊN FACEBOOK

    HÃY KẾT NỐI VỚI NÔNG HỌC

    GIÁ NÔNG SẢN

    HOA LAN BÍ KÍP

    chợ nông sản

    Hãy khám phá chức năng mới của chúng tôi: tạo gian hàng, đăng sản phẩm để rao bán trực tuyến một cách miễn phí.

    Cơ hội để bạn mở rộng kinh doanh, tìm kiếm đối tác và tăng doanh số nhanh nhất.

    Bạn cũng đang kinh doanh trong lĩnh vực nông sản?

    Tham gia ngay

    KỸ THUẬT THỦY SẢN

    Kỹ thuật nuôi tôm

    Kỹ thuật nuôi cá

      B

      Cá basa

      Cá bóp (cá giò)

      Cá bớp

      Cá bống tượngC

      Cá chép

      Cá chẽm (cá vược)

      Cá chim trắng

      Cá chim (biển)

      Cá chim biển vây vàngCá chìnhCá chốt nghệCá cóc DCá đốiCá đối mụcCá điêu hồngGCá giò (cá bóp)H

      Cá hô

      Cá hồi

      Cá hồi vân

      Cá hồng mỹKCá kèoLCá lăngCá lăng vàngCá lăng chấmCá lăng nhaCá lóc (cá quả), lóc đen, lóc bôngLươnMCá măngCá mè hoaCá mú (cá song)NCá ngựaQCá quả (cá lóc, lóc đen, lóc bông)R

      Cá rô đồng, rô đầu vuông

      Cá rô phiSX cá con rô phi, mè trắng làm thức ăn cho thủy đặc sảnS

      Cá sặc rằn

      Cá sấu

      Cá song (cá mú)TCá tai tượngCá tầmCá thát lát

      Cá tra

      Cá trắm, trắm đen, trắm trắng, trắm cỏCá trêVCá vược, vược trắng, vược nước lợ (cá chẽm)

      Cá nước lạnh

      Nuôi cá nước lạnh

      Các bệnh thường gặp ở cá hồi

      Phương thức nuôi cá lồng biển

      Nuôi cá trong ao

      Kỹ thuật ương cá giống, cá hương

      Kỹ thuật nuôi cá ao nước tĩnh

      Cấy lúa – nuôi cáLàm ổ cho cá đẻ Khác

    Kỹ thuật nuôi các loại thủy hải sản khác

    Vật tư & trang thiết bị: thuốc, hóa chất xử lý môi trường, thức ăn, dụng cụ, thiết bị

    Nuôi thủy sản theo luật và tiêu chuẩn

    An toàn thực phẩm thủy hải sản

    Các chuyên đề khác

    WEBSITE LIÊN KẾT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Thế Nào Để Giao Tiếp Tốt Trong Mọi Trường Hợp
  • Tiểu Luận Quan Niệm Của Mình Về Tính Chất Giao Tiếp Của Hoạt Động Văn Học Trên Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Giao Tiếp Ngôn Ngữ
  • Bản Chất Xã Hội Của Ngôn Ngữ
  • Các Phong Cách Chức Năng Của Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Chức Năng Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ
  • 7 Chức Năng Giao Tiếp Quan Trọng Nhất / Văn Hóa Chung

    --- Bài mới hơn ---

  • Mục Tiêu Của Giao Tiếp Trong Cuộc Sống Hằng Ngày
  • Giáo Trình Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Chuyên Đề Giáo Dục Hoà Nhập
  • Cơ Sở Xã Hội Của Tâm Lý Con Người
  • Co So Tu Nhien Cua Tam Li
  • các chức năng giao tiếp quan trọng nhất là thông báo, giảng dạy, bày tỏ, kiểm soát, phục vụ như một nền tảng cho các mối quan hệ xã hội và tránh nhầm lẫn và hiểu lầm.

    Giao tiếp là một quá trình phức tạp, nơi thông tin được trao đổi liên tục giữa hai hoặc nhiều người.

    Ngoài ra còn có một loại giao tiếp khác như ngôn ngữ cơ thể, trong đó có biểu cảm khuôn mặt. Các kênh hoặc phương thức truyền tải rất nhiều và được xác định bởi cả 5 giác quan và các công nghệ có sẵn.

    Nó có thể trực tiếp (trò chuyện trực tiếp, hội thảo và khóa học), trực quan (ảnh, tranh, sách, văn bản nói chung), âm thanh (âm nhạc, ghi chú giọng nói, đài phát thanh, sách âm thanh), nghe nhìn (video, truyền hình, phim ảnh) ), trong số những người khác.

    Danh sách các chức năng được thực hiện bởi giao tiếp

    Trong tương tác trực tiếp và gián tiếp của con người, các chức năng giao tiếp chồng chéo và trộn lẫn thường xuyên.

    Phân loại này phân tách các chức năng bởi sự khác biệt của mục đích hoặc mục tiêu cuối cùng của quá trình giao tiếp.

    1.- Chức năng báo cáo

    Việc truyền thông tin từ người này sang người khác là chức năng chính của giao tiếp.

    Sự thích nghi và điều chỉnh của con người với các môi trường xã hội khác nhau trong suốt cuộc đời, phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin được truyền đạt theo những cách thức, loại hình, phương tiện truyền thông khác nhau, v.v..

    Để ra quyết định hiệu quả và giải quyết vấn đề, tất cả thông tin có sẵn là bắt buộc. Quá trình cho và nhận thông tin được nhúng, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong tất cả các chức năng khác của truyền thông.

    Tùy thuộc vào loại thông tin, mục tiêu và các yếu tố khác, chức năng của truyền thông thay đổi ở mức độ lớn hơn hoặc thấp hơn, nhưng luôn được truyền sẽ được coi là “thông tin”.

    2.- Chức năng thể hiện

    Mỗi con người cần truyền đạt cảm xúc, cảm xúc, nhu cầu và ý kiến. Một đứa bé hầu như luôn giao tiếp với tiếng khóc khi bé cần thứ gì đó hoặc cảm thấy khó chịu, vì tại thời điểm đó, đó là cách duy nhất để bé truyền thông tin.

    Với việc học các loại ngôn ngữ trong suốt quá trình tăng trưởng, có thể điều chỉnh tất cả các nhu cầu biểu cảm đó trong bối cảnh chính xác, do đó đạt được một quy trình giao tiếp lành mạnh và hiệu quả.

    Thể hiện tình cảm với người khác cũng là một phần của chức năng giao tiếp này, cũng như thể hiện bản sắc cá nhân.

    Trong các cấp độ giao tiếp phức tạp, thẩm mỹ và trừu tượng hơn, nghệ thuật là phương tiện biểu hiện của con người.

    3.- Chức năng thuyết phục

    Trong tất cả việc truyền thông tin, bạn luôn chờ đợi một số thay đổi, hành động hoặc hành vi phản ứng (mong muốn hoặc không mong muốn).

    Một số nghiên cứu thậm chí còn nói rằng mục đích của giao tiếp chỉ đơn giản là ảnh hưởng / ảnh hưởng đến mọi người hoặc môi trường xã hội.

    Thể hiện một cái gì đó với mục đích thúc đẩy một cá nhân khác hành động theo cách này hay cách khác là ngày tương tác của con người. Các ví dụ sau đây dễ dàng minh họa chức năng thuyết phục của giao tiếp:

    -Một cậu bé xin kẹo đang đợi cha mẹ tặng kẹo.

    -Một cô gái ôm nhau ở rạp chiếu phim đang chờ chàng trai ôm cô ấy hoặc đưa cho cô ấy áo khoác.

    4.- Chức năng chỉ dẫn hoặc chỉ huy

    Mục đích này tương tự như mục đích trước, nhưng nó khác ở chỗ câu trả lời mong muốn rõ ràng hơn hoặc cụ thể hơn nhiều. Do đó, thông tin và đặc tính của thông điệp cụ thể và cấp bách hơn.

    Theo nghĩa này, người ta mong đợi rằng hành động, hành vi hoặc thay đổi của con người là như nó được yêu cầu. Trong một số trường hợp, người ta biết rằng có những hậu quả ở một mức độ nào đó, nếu không đạt được đáp ứng mong đợi.

    Nói chung, vấn đề được đưa ra bởi một số loại phân cấp hoặc mối quan hệ của chính quyền như lãnh đạo hoặc lãnh đạo, giáo viên, người thân cao tuổi, chuyên gia trong một khu vực nhất định, cảnh sát, thẩm phán, nhân vật chính phủ, trong số những người khác..

    Các nội dung như sách hướng dẫn, sách công thức, tiêu chuẩn và luật cũng được coi là một cách để truyền đạt các lệnh hoặc hướng dẫn.

    5.- Chức năng điều chỉnh hoặc kiểm soát

    Đây là sự kết hợp giữa chức năng thuyết phục và chỉ huy.

    Các phản ứng dự kiến ​​ở đây chủ yếu là hợp tác có ý thức giữa tất cả. Mục tiêu là điều chỉnh hành vi bằng cách sử dụng các lệnh và hướng dẫn rõ ràng nhưng tinh tế và các chiến lược quản lý nhóm tìm cách thuyết phục hơn là chỉ huy.

    6.- Chức năng hội nhập hoặc quan hệ xã hội

    Một trong những mục tiêu lớn nhất của giao tiếp con người trong xã hội có lẽ là tìm kiếm sự chấp nhận, công nhận và nhận dạng của người khác.

    Thông qua tương tác giữa các cá nhân, chúng ta truyền đạt cho người khác những gì chúng ta đang có, cảm nhận và cần.

    Quá trình đưa và nhận thông tin trong một cuộc trò chuyện, trong đó tất cả các loại giao tiếp diễn ra, rất cần thiết cho sự hiểu biết lành mạnh, tạo ra các quy ước điều trị, tôn trọng và hình thành mối liên kết giữa các cá nhân.

    7.- Tránh và sửa chữa những hiểu lầm

    Chức năng này thoạt nhìn có vẻ dư thừa, nhưng nó phức tạp hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó.

    Thông tin sai lệch có thể gây ra những vấn đề rất nghiêm trọng, chẳng hạn như sự tan vỡ của một cặp vợ chồng, ngộ độc do nuốt phải thuốc hoặc tai nạn máy bay.

    Mọi quá trình giao tiếp đều bị phơi bày trước sự nhầm lẫn và hiểu lầm, mà về mặt lý thuyết không gì khác hơn là một quá trình giao tiếp không hiệu quả hoặc không đầy đủ.

    Điều này có thể dẫn đến sự khó chịu và khó chịu mà cuối cùng cũng cản trở quá trình.

    Việc thể hiện ý tưởng, thông tin hoặc mệnh lệnh không phải lúc nào cũng được hiểu chính xác như chúng được truyền đi. Không nhận được phản hồi mong muốn có thể là một sản phẩm của sự thiếu hiểu biết về thông điệp.

    Lặp lại quá trình giao tiếp và cải thiện (hoặc làm rõ) các yếu tố có thể thất bại, là giải pháp duy nhất; như mã hoặc ngôn ngữ, các quy ước về ý nghĩa, mối quan hệ cá nhân, các đối tượng riêng lẻ, kênh hoặc phương tiện, trong số những người khác.

    Tài liệu tham khảo

    1. Joan Murphy (2014). Mục đích chính của giao tiếp con người là gì? Thảm nói Lấy từ talkingmats.com
    2. Truyền thông kinh doanh (2017). Truyền thông là gì? – Chức năng của truyền thông. Lấy từ thebusinessc truyền thông.com
    3. Shawn Grimsley. Truyền thông là gì? – Định nghĩa & Tầm quan trọng Học tập.com. Lấy từ nghiên cứu.com
    4. Ashmita Joshi, Neha Gupta (2012). Chức năng của truyền thông. Tác giảSTREAM. Phục hồi từ Authorstream.com
    5. Giáo sư Hành vi tổ chức – Truyền thông. Bách khoa toàn thư ảo Eumed. Phục hồi từ eumed.net
    6. Espazo Abalar. Truyền thông: các yếu tố và chức năng (khía cạnh lý thuyết). Xunta de Galicia. Được phục hồi từ edu.xunta.gal
    7. Kinda Hampsten (2016). Làm thế nào thông tin sai lệch xảy ra (và làm thế nào để tránh nó) (Video trực tuyến). Ted Ed Bản gốc. Lấy từ ed.ted.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghệ Thuật Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?
  • Hành Vi Phi Ngôn Ngữ Trong Giao Tiếp
  • Đề Tài Giao Tiếp Sư Phạm
  • Giao Tiếp Sư Phạm Là Điều Kiện Tiên Quyết Để Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Của Thầy Và Trò
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 39: Làm Văn: Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 1310417

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Bai 2 Hàng Hóa Thị Trường Tiền Tệ Bai2 Tiet1 Ppt
  • Hàng Hóa Tiền Tệ Bai2Hanghoatientethitruongphaniitiente Ppt
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 7 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 2 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 2 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không làm ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tế điều đó đã dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích, truyện trung đại…. . Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ hoặc người mắc nợ của ngân hàng nếu tiêu xài phung phí, không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Do ngành du lịch phát triển, nên mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước ngoài. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại, như Mỹ – Việt Nam là: 1 USA = 23.143 VNĐ…………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tháp Nhu Cầu Maslow Là Gì? Khái Niệm Và Phân Tích Chi Tiết
  • Bài 5. Prôtêin Bai 5 Protein 1 Ppt
  • Cấu Trúc Và Tính Chất Vật Lý, Hóa Học Của Protein
  • Top 5 Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Dinh Dưỡng Của Mỹ Tốt Hiện Nay
  • Tpcn Bổ Sung Sung Protein Hữu Cơ Từ Đậu Nành Fancl Nhật Bản
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 5 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Tác Hại Của Whey Protein
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Tiền là thứ dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng). Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.

    Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.

    Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học

    Định nghĩa

    Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ tương rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết. Từ đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế thừ các hoạt động thương mại. Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Trong kinh tế học, có một số khái niệm về tiền.

    * Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại.

    * Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dẽ dàng chuyển thành tiền mặt.

    * Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái phiếu, kỳ phiéu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Tác Hại Của Whey Protein
  • Phân Biệt Whey Protein Concentrate, Isolate Và Hydolyzed
  • Chức Năng Xúc Tác Của Protein: Ví Dụ. Các Chức Năng Chính Của Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Proteein Trong Tế Bào Chucnangproteintrongtebao Ppt
  • Những Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Mọi Người Ưa Chuộng
  • Thực Phẩm Chức Năng Của Mỹ
  • Danh Sách 25 Thực Phẩm Chức Năng Của Hoa Kỳ Bán Chạy Nhất Trên Amazon
  • Các Loại Thực Phẩm Chức Năng Của Mỹ Tốt Nhất Hiện Nay
  • Protein được một cách tự nhiên xảy ra các hợp chất hữu cơ trong đó có một cấu trúc phân tử. Các phân tử của các chất này là nerazvetvlyayuschimsya polymer. Protein được xây dựng từ 20 axit amin. Họ là các phân tử cấu trúc đơn vị tối thiểu – monomer. Tất cả các thành phần được kết nối với nhau polypeptide protein, hay nói cách khác – một urê, một mắt xích trong chuỗi thời gian đủ dài. Trong trường hợp này, trọng lượng phân tử có thể dao động từ vài nghìn đến hàng triệu những hạt nguyên tử.

    Gì có thể là một protein

    Để xác định các chức năng chính của protein, nó là cần thiết để hiểu được cấu trúc của các chất này. Hiện nay có hai loại thành phần nhân lực quan trọng này: xơ và hình cầu. Phân biệt chúng chủ yếu là do sự khác biệt trong cấu trúc của phân tử protein.

    chất hình cầu là cũng hòa tan không chỉ trong nước mà còn trong các dung dịch muối. Như vậy như một phân tử protein có hình dạng hình cầu. Như một khả năng hòa tan tốt có thể dễ dàng giải thích vị trí của amino acid tính, được bao bọc bởi một lớp vỏ hydrat hóa, trên bề mặt của giọt. Đây là những gì cung cấp địa chỉ liên lạc tốt với các dung môi khác nhau. Cần lưu ý rằng các thành phần trong nhóm hình cầu bao gồm tất cả các enzym, cũng như protein hầu như tất cả các hoạt tính sinh học.

    Đối với các chất xơ với, các phân tử của họ có một cấu trúc dạng sợi. Chức năng xúc tác của protein rất quan trọng. Do đó rất khó để tưởng tượng hiệu quả của nó không có tá dược. protein sợi nhỏ hợp không hòa tan bất kỳ giải pháp muối, hoặc trong nước bình thường. phân tử của họ được bố trí song song trong chuỗi polypeptide. những chất này đang tham gia vào sự hình thành của một số các yếu tố cấu trúc của mô liên kết. Nó elastin, keratin, collagen.

    Một nhóm đặc biệt của protein phức tạp, trong đó bao gồm không chỉ các axit amin mà còn là nucleic acid, carbohydrate và các chất khác. Tất cả các thành phần này đóng một vai trò quan trọng. Đặc biệt quan trọng là chức năng xúc tác của protein. Bên cạnh đó, chất đó là kế hoạch sắc tố hô hấp, kích thích tố, cũng như một sự bảo vệ đáng tin cậy cho bất kỳ sinh vật. Sinh tổng hợp protein được thực hiện trên các ribosome. Quá trình này được xác định bởi nguồn phát sóng của các axit nucleic.

    Chức năng xúc tác của protein

    xúc tác là gì

    Đã vào năm 2013, các nhà khoa học đã tìm thấy hơn một chút so với 5000 enzym. Những chất này có thể ảnh hưởng đến quá trình hầu như tất cả các phản ứng sinh hóa. Để trở thành chức năng xúc tác rõ ràng hơn của protein, nó là cần thiết để hiểu là những gì xúc tác. Với ngôn ngữ Hy Lạp khái niệm này được dịch là “chấm dứt”. Xúc tác là một sự thay đổi vận tốc dòng chảy của bất kỳ phản ứng hóa học. Điều này xảy ra dưới tác động của các hợp chất nhất định. Enzyme đóng vai trò như một chất xúc tác protein. Các ví dụ về hiện tượng này được tìm thấy thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày. Chỉ cần một người đàn ông không để ý.

    VÍ DỤ chức năng xúc tác

    Để hiểu cách thức hoạt động của các enzyme, nó là giá trị xem xét một vài ví dụ. Vì vậy, chức năng xúc tác của protein là gì. ví dụ:

    1. Trong quá trình quang xúc tác ribulezobifosfatkarboksilaza cung cấp cố định CO 2.
    2. Hydrogen peroxide được chẻ với oxy và nước.
    3. DNA polymerase tổng hợp DNA.
    4. Amylase là sẽ tách có khả năng tinh bột để maltose.

    chức năng vận chuyển

    chức năng quan trọng của mỗi tế bào phải được duy trì bởi các chất khác nhau mà không phải là duy nhất cho vật liệu xây dựng của họ, mà còn là một loại năng lượng. chức năng sinh học bao gồm protein và vận chuyển. Các thành phần này được cung cấp trong các tế bào tất cả các vấn đề quan trọng, bởi vì các màng được xây dựng bằng nhiều lớp lipid. Nó là ở đây và có một loạt các protein. Trong trường hợp này, các vùng ưa nước tất cả tập trung trên bề mặt và đuôi – trong độ dày của màng tế bào. Cấu trúc này không cho phép thâm nhập vào các tế bào là chất rất quan trọng – các ion kim loại kiềm, axit amin và đường. Protein được chuyển tất cả các thành phần vào các tế bào cho chế độ dinh dưỡng của họ. Ví dụ, hemoglobin vận chuyển oxy.

    thụ

    Các chức năng chính của protein không chỉ cung cấp các tế bào năng lượng của cơ thể sống, mà còn giúp xác định các tín hiệu đến từ các tế bào môi trường và láng giềng bên ngoài. Ví dụ nổi bật nhất của hiện tượng này – các thụ thể acetylcholine, nằm trên màng liên lạc về interneural. Quá trình chính nó là rất quan trọng. Protein thực hiện chức năng thụ và sự tương tác của họ với acetylcholine được thể hiện một cách cụ thể. Kết quả là, bên trong tín hiệu tế bào truyền đi. Tuy nhiên, sau một thời gian, dẫn truyền thần kinh phải được loại bỏ. Chỉ trong trường hợp này, các tế bào sẽ có thể nhận được tín hiệu mới. Nó được chức năng này được thực hiện bởi một trong những enzyme – atsetilholtnesteraza mà thực hiện tách lên cholin gidrolizatsetilholina và acetate.

    bảo vệ

    Hệ thống miễn dịch của bất kỳ chúng sanh nào có thể đáp ứng với sự xuất hiện của các hạt nước ngoài trong cơ thể. Trong trường hợp này, các protein được kích hoạt chức năng bảo vệ. Trong cơ thể, có một sự phát triển của một số lượng lớn các tế bào lympho, mà có thể làm hỏng các vi khuẩn, gây bệnh phân tử, và các tế bào ung thư khác. Một trong những nhóm các chất protein cụ thể thế hệ kế tiếp – globulin miễn dịch. Đây là một phân bổ của các chất này trong máu. Các globulin miễn dịch nhận ra các hạt nước ngoài và tạo thành một phức hợp giai đoạn phá hủy rất cụ thể cụ thể. Vì vậy, thực hiện chức năng bảo vệ của protein.

    cấu trúc

    Hàm lượng protein trong tế bào đi không được chú ý cho một người đàn ông. Một số chất là ý nghĩa chủ yếu về cấu trúc. Những protein này cung cấp độ bền cơ học để các mô cá nhân trong sinh vật. Trước hết, đó là collagen. Đây là thành phần chính của ma trận ngoại bào của tất cả các mô liên kết trong cơ thể sống.

    Cần lưu ý rằng trong động vật có vú collagen làm cho khoảng 25% tổng trọng lượng của protein. Tổng hợp các thành phần này xảy ra trong các nguyên bào sợi. Đây là những tế bào cơ bản của bất kỳ mô liên kết. Nguyên hình thành procollagen. Tài liệu này là một tiền thân và được xử lý hóa học, trong đó bao gồm trong quá trình oxy hóa của hydroxyproline để prolin dư lượng, và để gidrksilina dư lượng lysine. Collagen được sản xuất theo hình thức ba chuỗi peptide, xoắn vào một vòng xoáy.

    Đó là không phải tất cả các chức năng của protein. Sinh học – khá một khoa học phức tạp, cho phép bạn để xác định và nhận ra nhiều sự kiện diễn ra trong cơ thể con người. Mỗi chức năng của protein đóng một vai trò đặc biệt. Như vậy, trong các mô đàn hồi, chẳng hạn như phổi, thành mạch máu và da có sự đàn hồi. protein này có thể kéo dài và sau đó trở về hình dạng ban đầu của nó.

    protein động cơ

    Cơ bắp co – một quá trình mà trong đó việc chuyển đổi năng lượng dự trữ dưới dạng các phân tử ATP trong mối liên kết pyrophosphate macroergic, cụ thể là vào công việc cơ khí. Trong trường hợp này, các chức năng của protein trong tế bào hoạt động myosin và actin. Mỗi trong số họ có những đặc điểm riêng của mình.

    Myosin có cấu trúc không bình thường. protein này bao gồm sợi phần đủ dài – đuôi, cũng như một số người đứng đầu hình cầu. Myosin được phát hành, thường ở dạng của một hexame. Thành phần này được hình thành hoàn toàn nhiều chuỗi polypeptide giống hệt nhau, mỗi trong số đó có trọng lượng phân tử 200 ngàn, và cũng có 4 dây chuyền có trọng lượng phân tử chỉ 20.000 là.

    Actin là một protein hình cầu có khả năng polymerize. Khi tài liệu này tạo thành một cấu trúc đủ dài, được gọi là F-actin. Chỉ trong một thành phần nhà nước như vậy thường có thể tương tác với myosin.

    Ví dụ về các chức năng chính của protein

    Mỗi thứ hai trong các tế bào của một cơ thể sống xảy ra các quá trình khác nhau mà sẽ là không thể không có protein. Một ví dụ về chức năng thụ các chất đó có thể đóng vai trò như một tế bào nhắn adrenoceptor gia nhập adrenaline. Khi tiếp xúc với ánh sáng của phân hủy Rhodopsin. Hiện tượng này bắt đầu phản ứng và cây đũa quay.

    Một ví dụ về chức năng vận chuyển hemoglobin vận chuyển oxy đi khắp cơ thể sống.

    Tóm lại

    Đây là tất cả các chức năng sinh học cơ bản của protein. Mỗi trong số họ là rất quan trọng đối với cơ thể sống. Trong chức năng cụ thể này được thực hiện protein tương ứng. Sự vắng mặt của các thành phần như vậy có thể gây ra trục trặc của các cơ quan nhất định và các hệ thống trong cơ thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Proteein Trong Tế Bào (2) Chucnangproteintrongtebao1 Ppt
  • Hai Chức Năng Của Prôtêin
  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 5: Protein
  • Xác Định Con Đường Tín Hiệu Protein Kinase Hoạt Hóa Phân Bào (Mapk) Trong Ung Thư Biểu Mô Tuyến Giáp
  • Tyrosine Kinase, Chức Năng Sinh Học Và Vai Trò Trong Bệnh Ung Thư
  • Chức Năng Thẩm Mỹ Của Các Đặc Điểm Ngôn Ngữ Và Ví Dụ / Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm “văn Học Nghệ Thuật”
  • Phát Huy Vai Trò Của Văn Học Nghệ Thuật Trong Việc Bồi Đắp, Xây Dựng Đạo Đức Con Người Việt Nam Hiện Nay
  • 110 Nhận Định Hay Về Thơ Ca Cần Nhớ Để Trích Dẫn Vào Bài Làm Văn
  • Vh Hiện Thực Phê Phán
  • Hệ Thống Nhân Vật Cổ Tích Trong Kiểu Truyện Người Em
  • các chức năng ngôn ngữ thẩm mỹ đó là tài sản mà điều này phải thu hút sự chú ý đến chính nó, mà nó có được một giá trị tự trị. Theo nghĩa này, từ này đồng thời có nghĩa và biểu hiện. Đó là, nó có một ý nghĩa khách quan bên ngoài nó, đồng thời, có ý nghĩa chủ quan, vượt quá mục tiêu.

    Do đó, từ này có thể nói một điều và đồng thời cho thấy một điều hoàn toàn khác. Chức năng thẩm mỹ này của ngôn ngữ được nghiên cứu rộng rãi bởi một nhánh triết học: thẩm mỹ.

    Thuật ngữ này bắt nguồn từ thuật ngữ aistesis của Hy Lạp cổ đại, có nghĩa là cảm giác hoặc nhận thức, kiến ​​thức có được thông qua kinh nghiệm cảm giác.

    Mặt khác, việc sử dụng ngôn ngữ đặc biệt này thể hiện rõ hơn nhiều trong lĩnh vực văn học. Trong thơ, chẳng hạn, các cấu trúc ngôn từ văn học được sử dụng rất nhiều để truyền đạt nhiều nghĩa của nó. Trong số đó, chúng ta có thể đề cập đến màu sắc, âm thanh, cảm xúc và hình ảnh của thế giới vật chất và cụ thể.

    Để thực hiện chức năng này của ngôn ngữ, một loạt các tài nguyên được sử dụng. Một số trong số họ là similes, đồng âm, bất hòa, tưởng tượng, chơi chữ và ẩn dụ.

    Đây không phải là để sử dụng độc quyền của văn học. Phạm vi các khả năng mà chức năng thẩm mỹ này của ngôn ngữ được phát triển bao gồm phim, chương trình truyền hình và ngôn ngữ hàng ngày.

    Chỉ số

    • 1 Đặc điểm của chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ
      • 1.1 Nhấn mạnh vào giá trị biểu cảm
      • 1.2 Ưu tiên hình thức so với nội dung
      • 1.3 Theo chuẩn mực văn hóa
      • 1.4 Sự hiện diện trong mọi bối cảnh ngôn ngữ
    • 2 ví dụ
        2.1 Để một vận động viên trẻ chết
    • 3 tài liệu tham khảo

    Đặc điểm của chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ

    Nhấn mạnh vào giá trị biểu cảm

    Ngôn ngữ có một số chức năng. Điều này có thể được sử dụng để thuyết phục (chức năng kháng cáo), truyền đạt thông tin của thế giới cụ thể (chức năng tham chiếu), tham chiếu đến các khía cạnh của ngôn ngữ (chức năng ngôn ngữ kim loại), trong số những người khác..

    Trong trường hợp chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ, nó ưu tiên cho giá trị biểu cảm của ngôn ngữ. Đó là, nó đề cập đến khả năng của họ để bày tỏ cảm xúc hoặc tình cảm đánh thức một đối tượng, một ý tưởng hoặc một thực thể.

    Điều này có nghĩa là nó không bỏ qua giá trị quan trọng của ngôn ngữ (khả năng đề cập đến thế giới bên ngoài).

    Ưu tiên hình thức trên nội dung

    Khi một cuốn tiểu thuyết hoặc một bài thơ được đọc, chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ đang được trải nghiệm. Trong tất cả các loại biểu hiện, mục đích là để mang lại niềm vui thẩm mỹ.

    Điều này đạt được thông qua chính các từ và sự sắp xếp có ý thức và có chủ ý có tác dụng dễ chịu hoặc làm phong phú.

    Vì lý do này, mục đích thẩm mỹ này mang lại sự ưu tiên cho hình thức, hơn là nội dung. Theo cách này, thông thường, đặc biệt là trong bối cảnh văn học, sử dụng ngôn ngữ tượng hình, thơ ca hoặc lố bịch.

    Như đã đề cập, trong số các tài nguyên được sử dụng cho mục đích này là similes, ẩn dụ, trớ trêu, tượng trưng và tương tự.

    Mặt khác, khi sử dụng các từ cho mục đích nghệ thuật, người ta thường chọn một số từ nhất định và khám phá lại chúng để đảm bảo đạt được hiệu quả mong muốn.

    Theo tiêu chuẩn văn hóa

    Nói chung, ngôn ngữ nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với văn hóa của xã hội. Nó phản ánh niềm tin, phong tục, giá trị và hoạt động của một nhóm cụ thể tại một thời điểm nhất định. Không có gì đáng ngạc nhiên khi chức năng thẩm mỹ của nó phải tuân theo tất cả nền tảng văn hóa này.

    Sự hiện diện trong tất cả các bối cảnh ngôn ngữ

    Mặc dù đánh giá này về chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ được chứng minh rõ ràng hơn trong văn học, nó cũng được tìm thấy trong ngôn ngữ thông tục. Sau này, nó được nhận thức dưới dạng ẩn dụ, chơi chữ và các tài nguyên biểu cảm khác của lời nói hàng ngày.

    Ví dụ

    Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ có thể được nhìn thấy mạnh mẽ hơn trong thơ. Trong thực tế, chức năng thơ ca và thẩm mỹ thường được sử dụng như từ đồng nghĩa.

    Mục tiêu của ngôn ngữ thơ là truyền đạt một ý nghĩa, cảm giác hoặc hình ảnh sâu sắc đến khán giả. Để tạo hiệu ứng này, bao gồm các hình ảnh có chủ đích và ngôn ngữ tượng hình.

    Một vận động viên trẻ chết

    (A.E. Housman, bản dịch của Juan Bonilla)

    “Ngày bạn đã chiến thắng cuộc đua trong thị trấn của bạn

    Tất cả chúng tôi đi qua quảng trường.

    Đàn ông và trẻ em hô vang tên bạn

    và trên vai chúng tôi đưa bạn đến nhà bạn.

    Hôm nay tất cả các vận động viên đi trên con đường

    và trên vai chúng tôi đưa bạn đến nhà bạn.

    Trong ngưỡng chúng tôi sẽ gửi tiền cho bạn,

    công dân của thành phố yên tĩnh nhất.

    Chàng trai xảo quyệt, bạn đã rời đi sớm

    Nơi vinh quang không quan trọng.

    Bạn có biết rằng vòng nguyệt quế phát triển nhanh

    rất lâu trước khi hoa hồng khô héo.

    Nhắm mắt và nhìn vào ban đêm

    bạn sẽ không thể biết ai là người thu âm của bạn. “

    Con cừu

    André Bello

    “Giải thoát chúng ta khỏi sự chuyên chế khốc liệt

    của con người, Jove toàn năng

    Một con cừu nói,

    trao lông cừu cho kéo?

    rằng ở những người nghèo của chúng ta

    người chăn làm thiệt hại nhiều hơn

    trong tuần, trong tháng hoặc năm

    móng vuốt của những con hổ làm cho chúng tôi.

    Hãy đến, người cha chung của cuộc sống,

    mùa hè rực lửa;

    mùa đông lạnh,

    và cho chúng tôi che chở cho khu rừng râm mát,

    chúng ta hãy sống độc lập,

    nơi chúng tôi không bao giờ nghe thấy zampoña

    ghét, điều đó cho chúng ta lừa đảo,

    chúng ta đừng nhìn thấy vũ trang

    của kẻ gian chết tiệt

    người đàn ông hủy diệt đánh lừa chúng ta,

    và cắt chúng tôi, và một trăm đến một trăm giết chết.

    Giảm tốc độ thỏ rừng

    về những gì anh ấy thích, và đi đến nơi anh ấy thích,

    không có zagal, không bút và không có chuông;

    và trường hợp cừu buồn!

    nếu chúng ta phải thực hiện một bước,

    chúng tôi phải xin giấy phép từ con chó.

    Mặc quần áo và che chở cho người đàn ông len của chúng tôi;

    ram là thức ăn hàng ngày của nó;

    và khi tức giận bạn gửi đến trái đất,

    cho tội ác của họ, đói, bệnh dịch hoặc chiến tranh,

    Ai đã thấy máu người chạy??

    trong bàn thờ của bạn? Không: cừu một mình

    để xoa dịu cơn giận của bạn …

    Tài liệu tham khảo

    1. Dufrenne, M. (1973). Hiện tượng học của kinh nghiệm thẩm mỹ. Evanston: Nhà xuất bản Đại học Tây Bắc.
    2. Đại học Doane. (s / f). Lợi ích của giáo dục thẩm mỹ. Lấy từ doane.edu.
    3. Hoogland, C. (2004). Một thẩm mỹ của ngôn ngữ. Lấy từ citeseerx.ist.psu.edu.
    4. Khu trường cao đẳng cộng đồng Austin. (s / f). Mục đích văn học. Lấy từ austincc.edu.
    5. Llovet, J. (2005). Lý luận văn học và văn học so sánh. Barcelona: Ariel.
    6. León Mejía, A. B. (2002). Chiến lược phát triển truyền thông chuyên nghiệp. Mexico D. F.: Biên tập Limusa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Định Đề Thi Văn Kỳ Thi Học Sinh Giỏi Thpt 2022
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Quốc Gia Nói Về “con Đường Thành Công Bằng Sự Tử Tế”
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Văn : Văn Học Làm Cho Con Người Thêm Phong Phú
  • Tổng Hợp Những Đoạn Trích Dẫn Hay Và Độc Đáo Trong Các Tác Phẩm Văn Học
  • 999+ Những Câu Nói Hay Về Gia Đình ❤️❤️❤️ Nên Đọc
  • Luận Văn: Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hóa Của Sinh Viên, Hay, 9Đ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tâm Lý Học Đại Cương
  • Bài Giảng Chức Năng Điều Khiển
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Trung Tâm Chuyển Mạch
  • Phân Tích Những Định Hướng Cơ Bản Của Việc Xây Dựng Gia Đình Mới Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Cnxh Ở Việt Nam
  • Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành tâm lí học với đề tài: Thực trạng hành vi giao tiếp có văn hóa của sinh viên trường CĐSP Cà Mau, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Hoàng Thị Chiến LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
    2. 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Hoàng Thị Chiến Chuyên ngành: Tâm lý học Mã số: 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC chúng tôi BÙI NGỌC OÁNH Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
    3. 3. LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Người hướng dẫn khoa học PGS. TS Bùi Ngọc Oánh đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Quí thầy, cô trường Đại học Sư phạm đã giảng dạy và góp ý cho chúng tôi trong quá trình học tập và làm luận văn thạc sĩ. Quí thầy, cô trường Cao đẳng Sư phạm Cà Mau cùng với các em sinh viên đã nhiệt tình hợp tác, giúp đở chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Cảm ơn quí đồng nghiệp, bàn bè…đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận văn này.
    4. 5. 2.3.2. Đề xuất một số biện pháp giáo dục HVGTCVH cho SV trường CĐSP Cà Mau…………………………………………………………………….71 2.3.3. Khảo sát về tính khả thi của các biện pháp giáo dục HVGTCVH cho SV trường CĐSP Cà Mau………………………………………………78 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …………………………………………………………….81 1. Kết luận ………………………………………………………………………………………81 2. Kiến nghị…………………………………………………………………………………….82 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………….84 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………….87
    5. 6. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT * CĐSP : Cao đẳng Sư phạm * ĐLC : Độ lệch chuẩn * ĐTB : Điểm trung bình * SV : Sinh viên * SVSP : Sinh viên Sư phạm * HVGTCVH : Hành vi giao tiếp có văn hóa
    6. 9. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong đời sống xã hội, nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản và không thể thiếu được được đối với đời sống con người. Các Mác khẳng định: “bản chất con người là tổng hòa tất cả các mối quan hệ xã hội”. Chính thông qua giao tiếp, giúp con người thiết lập các mối quan hệ xã hội, đồng thời giúp con người có thể chia sẽ, bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng với nhau và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Như vậy, những ý nghĩ, tâm tư tình cảm của con người thường được bộc lộ thông qua hành vi giao tiếp. Trong giao tiếp với nhau, con người thường mong muốn mình được người khác tôn trọng, những cách ứng xử tế nhị, lễ phép, lịch thiệp sẽ làm cho con người dễ chịu. Những hành vi ứng xử có văn hóa sẽ góp phần nâng cao phẩm giá con người, tăng thêm giá trị và ý nghĩa cuộc sống trong các mối quan hệ. Ngược lại, những hành vi ứng xử thiếu tế nhị, thô lỗ, cục cằn dễ gây ra ấn tượng xấu, cảm giác khó chịu làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, để mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người trở nên gần gủi, thân mật, con người cảm nhận được tình người ấm áp hơn thì con người cần có HVGTCVH. Trong thời gian gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập rất nhiều đến hành vi ứng xử của SV. Vấn đề giao tiếp của SV có những biểu hiện xuống cấp, một bộ phận bạn trẻ có cách ứng xử đi ngược lại với các giá trị văn hóa của dân tộc, không đúng với cách ứng xử, không phù hợp với bổn phận của người SV. Đối với SVSP, việc học tập và rèn luyện trên giảng đường là rất quan trọng. Đây là thời gian rất tốt giúp họ trau dồi nhân cách của mình để khi ra trường bước vào nghề giáo ngoài việc vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ sư phạm, SV còn phải có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt, trong đó có năng lực
    7. 10. 2 giao tiếp, đặc biệt là HVGTCVH. Tuy nhiên trong thực tế, một bộ phận SV đã không nhận thức được điều đó, thậm chí trong hành vi giao tiếp của họ ứng xử một cách thiếu văn hóa, điều đó đã gây dị ứng và phản cảm đối với người đối diện khi giao tiếp với họ. Trong quá trình đào tạo, mặc dù điều kiện nhà trường còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, nhưng trường CĐSP Cà Mau cũng đã cố gắng tổ chức các hoạt động để giáo dục văn hóa giao tiếp cho SV. Kết quả là nhiều SV đã có hành vi ứng xử phù hợp khi giao tiếp. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận SV trong khi giao tiếp đã có những biểu hiện không đúng với hành vi có văn hóa, như: một số SV khi nói chuyện với giáo viên có cử chỉ, hành vi không kính trọng, vào trường ăn mặc không lịch sự, v.v…Những biểu hiện đó chứng tỏ một bộ phận SV khi vào học trường Sư phạm, nhưng đã không chú trọng việc trau dồi HVGTCVH cho mình. Trong quá trình giáo dục học sinh, nhân cách của người giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến nhân cách của người học, nếu như SV không ý thức được vai trò, tầm quan trọng về hành vi giao tiếp của mình thì khi ra trường họ có xứng đáng là người thầy để giáo dục thế hệ trẻ hay không, và nếu như họ trực tiếp giáo dục học sinh thì liệu kết quả sẽ như thế nào? Xuất phát từ những lí do trên, việc nghiên cứu đề tài ” Thực trạng HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau” là cần thiết và có ý nghĩa. 2. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng về biểu hiện HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau. Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục HVGTCVH cho SV. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Tổng hợp, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về giao tiếp, hành vi giao tiếp, văn hóa giao tiếp, giao tiếp có văn hóa và các yếu tố ảnh hưởng đến HVGTCVH của SV.
    8. 11. 3 3.2. Khảo sát thực trạng về HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau. 3.3. Đề xuất các biện pháp nhằm giáo dục HVGTCVH cho SV. 4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4.1.Đối tượng nghiên cứu Thực trạng HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau. 4.2. Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu chính là những SV thuộc hệ đào tạo Cao đẳng tại trường CĐSP Cà Mau. Khách thể nghiên cứu bổ trợ là các giáo viên chủ nhiệm lớp, các cán bộ quản lý đang trực tiếp giảng dạy và quản lý sinh viên ở trường CĐSP Cà Mau. 5. Giả thuyết khoa học Trong giao tiếp, đa số SV trường CĐSP Cà Mau có hành vi giao tiếp có văn hóa. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận SV có biểu hiện hành vi giao tiếp chưa đúng mực. Nếu nghiên cứu được thực trạng và tìm ra nguyên nhân về HVGTCVH của SV thì có thể đưa những biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục HVGTCVH cho SV trường CĐSP Cà Mau. 6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 6.1. Về mặt nội dung – Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biểu hiện HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau trong việc thực hiện các nội quy, quy định của nhà trường, trong các mối quan hệ với thầy cô giáo, với cán bộ quản lý, với bạn bè và trong lối sống của SV. – Trong phạm vi đề tài này, khách thể nghiên cứu chính là những SV học hệ cao đẳng ở trường CĐSP Cà Mau. 6.2. Về mặt khách thể – 300 SV hệ Cao đẳng Sư phạm trường CĐSP Cà Mau
    9. 13. 5 7.2.2. Phương pháp quan sát 7.2.2.1. Mục đích Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập những thông tin về biểu hiện HVGTCVH của SV. Từ đó, giúp cho nhà nghiên cứu nhận định rõ hơn về thực trạng HVGTCVH của SV. 7.2.2.2. Cách tiến hành Quan sát những biểu hiện về hành vi giao tiếp của SV trong giờ sinh hoạt 15 phút đầu giờ, trong giờ học, trong các hoạt động vui chơi, văn nghệ, thể dục thể thao. 7.2.3. Phương pháp phỏng vấn 7.2.3.1.Mục đích Nhằm thu thập một số ý kiến cụ thể của một số SV về nhận thức và đánh giá những biểu hiện về HVGTCVH của SV. 7.2.3.2.Cách tiến hành Tranh thủ giờ ra chơi và trong một số hoạt động của SV sẽ tiến hành phỏng vấn một số sinh viên về thực trạng HVGTCVH của SV. 7.2.4. Phương pháp toán thống kê Nhằm xử lý, đánh giá, phân tích kết quả nghiên cứu 8. Cấu trúc luận văn Cấu trúc của luận văn gồm có các phần sau: – Mở đầu – Nội dung nghiên cứu Gồm có hai chương: + Chương 1: Cơ sở lý luận của HVGTCVH + Chương 2: Thực trạng HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau – Kết luận và kiến nghị – Tài liệu tham khảo
    10. 15. 7 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HÀNH VI GIAO TIẾP CÓ VĂN HÓA 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong giao tiếp giữa người và người, con người thường mong muốn để lại những tình cảm tốt đẹp cho nhau. Chính vì vậy, HVGTCVH là một trong những vấn đề rất được đề cao trong ứng xử với nhau, bởi vì qua giao tiếp con người thường đánh giá người khác thông qua hành vi, cử chỉ, điệu bộ của họ. Nghiên cứu HVGTCVH nói chung và HVGTCVH ở SV nói riêng đã được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trong và ngoài nước quan tâm. – Ở nước ngoài: Ngay từ những năm đầu tiên của giáo dục Xô Viết, giáo dục văn hóa hành vi cho học sinh nói chung và giáo dục HVGTCVH cho học sinh nói riêng đã được xác định là một trong những nhiệm vụ sư phạm thực hành của nhà trường Xô Viết. Trong những năm của thập kỷ 70 trở lại đây, đi sâu nghiên cứu và công bố các tài liệu lí luận về vấn đề này đã có các tác giả: U.C.Marienco, B.M.Kôrôtôp, I.A.Đôrôkhôp… Trong các tác phẩm của mình, các tác giả đã chứng minh sự cần thiết phải giáo dục hành vi văn hóa cho học sinh, nhất là học sinh nhỏ . Tác giả Erhard Thiel trong cuốn “Hành vi giao tiếp” đã cho rằng: con người có nhiều cách thể hiện mình. Dù muốn hay không, những suy nghĩ, tình cảm hay khát vọng, ý muốn của chúng ta đều thể hiện qua từng động tác của đôi bàn tay, đôi chân, của đôi mắt, cái nhìn. Những hành động đó cho chúng
    11. 17. 9 ta biết về những con người mà chúng ta tiếp xúc nhiều hơn ngàn lần những câu nói . – Ở Việt Nam: Trong các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn của mình, nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học đã đưa ra các quan niệm về giá trị chuẩn mực văn hóa trong hành vi và trong giao tiếp, làm rõ hành vi và hành vi có văn hóa, giao tiếp và giao tiếp có văn hóa…Điển hình là các tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Vũ Dũng, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc – Hoàng Anh… Trong những năm gần đây, vấn đề văn hóa giao tiếp nói chung và HVGTCVH nói riêng của học sinh, sinh viên đã được quan tâm nghiên cứu. Công trình nghiên cứu “Văn hóa giao tiếp” của tác giả Phạm Vũ Dũng đã đề cập đến những nội dung: sự nâng cấp từ giao tiếp qua giao tiếp có văn hóa đến hình thành văn hóa giao tiếp của con người, diện mạo chung của văn hóa giao tiếp trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống, xã hội; vai trò của văn hóa giao tiếp trong xây dựng nếp sống và lối sống mới; hệ chuẩn định của một văn hóa giao tiếp xã hội …Thông qua nội dung của từng chương, tác giả đã đề cập đến vấn đề: có một văn hóa giao tiếp, một hệ giá trị tinh tuyển từ vô vàn những ngôn ngữ, cử chỉ hành vi trong xã hội loài người và có tác dụng định hướng, điều chỉnh đời sống giao tiếp, ứng xử của cá nhân, gia đình, nhà trường và toàn bộ xã hội. Những giá trị tinh tuyển ấy được lặp đi, lặp lại hàng ngày, được truyền lan từ nơi này đến nơi khác có tác dụng như là hệ định chuẩn để xem xét, đánh giá tính có văn hóa của cá nhân, nhóm và toàn bộ xã hội trong quan hệ giao tiếp qua lại . Trong cuốn “Văn hóa giao tiếp trong nhà trường” của Nguyễn Thị Kim Ngân, tác giả đã tập hợp sử dụng những bài viết, báo cáo tham luận của của các nhà giáo, nhà nghiên cứu giáo dục, những người tâm huyết vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường. Nội dung những bài viết trong cuốn sách này đã đề cập thực trạng văn hóa giao tiếp trong môi trường học hiện nay đang ở mức báo động về hành vi ứng xử thiếu văn hóa, lời nói thiếu lịch sự, nhã nhặn, cách giao tiếp lệch chuẩn, vượt ra ngoài những qui tắc ứng xử văn hóa thông thường. Thông qua thực trạng được nêu ra, nhiều tác giả cũng đã đưa ra những hướng khắc phục về thực trạng trên.
    12. 19. 11 Ngoài ra còn có nhiều tài liệu cũng đề cập đến văn hóa giao tiếp, như: cuốn ” Qui tắc giao tiếp xã hội – Giao tiếp bằng ngôn ngữ” của Nguyễn Văn Lê, ” Tâm lý học với văn hóa ứng xử” của Đỗ Long, “Tâm lý học giao tiếp” của Nguyễn Văn Đồng… Về đề tài nghiên cứu HVGTCVH cũng đã có một số tác giả nghiên cứu: Lưu Thị Thu Thủy (1995) với luận án “Qui trình giáo dục HVGTCVH với bạn cùng lứa tuổi cho học sinh các lớp 4, 5 trường tiểu học”, Hoàng Thị Phương (2002) với luận án “Một số biện pháp giáo dục HVGTCVH cho trẻ 5 – 6 tuổi”. Tác giả Lê Minh Nguyệt, Lương Văn nghĩa nghiên cứu Thực trạng thói quen HVGTCVH của SV trường CĐSP Hà Giang, các tác giả đã tập trung nghiên cứu về thói quen HVGTCVH của SV trong nhà trường vào hai mối quan hệ chính là giao tiếp với giảng viên và giao tiếp với bạn bè. – Dưới góc độ nhân cách, V.N.Miaxixev cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể”. Theo Ia.L.Kolôminxki thì “giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với con người, trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành”. c. Quan niệm giao tiếp của các tác giả Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm 1970 đến những năm 1980 và cũng có những khái niệm giao tiếp được xác lập. – Tác giả Phạm Minh Hạc đã định nghĩa: ” Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau”. – Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi giữa người và người thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ. Ngày nay, từ này hàm
    13. 22. 14 ngụ sự trao đổi ấy thông qua một bộ giải mã, người phát tin mã hóa một số tín hiệu, người tiếp nhận giải mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên kia hiểu được”. – Tác giả Trần Trọng Thủy thì quan niệm: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ”. Qua các khái niệm trên có thể thấy rằng: giao tiếp là một biểu hiện của quan hệ xã hội được thực hiện trong giao tiếp giữa người với người, với nội dung xã hội cụ thể và thực hiện trong hoàn cảnh xã hội nhất định. Từ đó, tính chất xã hội được thể hiện qua việc kết nối các thành viên trong xã hội với nhau trong mối quan hệ giao tiếp. Như vây, mỗi định nghĩa đều dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lí của nó. Tuy nhiên, các định nghĩa đều nêu ra những dấu hiệu cơ bản về giao tiếp như sau: – Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, nghĩa là chỉ riêng con người mới có giao tiếp thật sự khi họ biết sử dụng phương tiện ngôn ngữ (nói, viết, hình ảnh nghệ thuật,…) và được thực hiện chỉ trong xã hội loài người.
    14. 23. 15 – Giao tiếp được thể hiện ở sự trao đổi thông tin, sự rung cảm và ảnh hưởng lẫn nhau. – Giao tiếp dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau giữa con người với con người. Như vậy, giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở quá trình trao đổi thông tin, nhận biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với khái niệm giao tiếp của tác giả Nguyễn Quang Uẩn làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn, đó là: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”. – Chức năng giao tiếp – thông tin: thể hiện trong toàn bộ quá trình truyền và thu nhận thông tin của các chủ thể giao tiếp` – Chức năng giao tiếp – điều chỉnh: Trong quá trình giao tiếp, chủ thể không những tự chủ cảm xúc, thái độ, hành vi mà còn điều chỉnh người khác cho phù hợp với mục đích giao tiếp. – Chức năng giao tiếp – cảm xúc: Trong giao tiếp con người không chỉ truyền và nhận thông tin, cũng không chỉ tác động lẫn nhau mà còn quy định các trạng thái cảm xúc của chủ thể. * Các nhà tâm lý học Việt Nam cũng nghiên cứu những chức năng khác nhau của giao tiếp. Những nghiên cứu này cũng đem đến cái nhìn mới lạ về vấn đề giao tiếp.
    15. 24. 16 – Tác giả Nguyễn Xuân Thức phân chia chức năng của giao tiếp thành hai nhóm: + Chức năng thông tin hai chiều giữa hai người hay hai nhóm người. + Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm người trong hoạt động cùng nhau + Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách – Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, giao tiếp gồm có các chức năng sau: – Chức năng thỏa mãn nhu cầu của con người – Chức năng thông tin hai chiều giữa các chủ thể tham gia giao tiếp – Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm người trong cùng một hoạt động cùng nhau
    16. 25. 17 – Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi – Chức năng xúc cảm – Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau – Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách 1.2.1.3. Kỹ năng giao tiếp * Khái niệm kỹ năng giao tiếp Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng thì kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật để đạt mục đích đã định trong giao tiếp. Trong khi thể hiện kỹ năng giao tiếp, hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa, hợp lý nhằm đảm bảo đạt kết quả cao trong hoạt động giao tiếp, với sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp ít nhất, trong những điều kiện thay đổi. Do vậy, kỹ năng giao tiếp thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa những chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ mắt, ánh mắt, nụ cười (vận động môi miệng), tư thế đầu, cổ, vai, tay, chân, đồng thời với ngôn ngữ nói, viết của chủ thể giao tiếp. Sự phối hợp hài hòa, hợp lý giữa các vận động mang nội dung tâm lý nhất định, phù hợp với mục đích, ngôn ngữ và nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được của chủ thể giao tiếp.
    17. 27. 19 bởi sự quy định của tất cả các cá nhân khác mà nó giao lưu một cách trực tiếp…” Thông qua giao tiếp, cá nhân gia nhập các mối quan hệ xã hội với những cá nhân khác và với toàn xã hội. E.V.Sorokhova cũng chỉ ra rằng: “Giao tiếp gắn con người với con người. Trong giao tiếp, những quan hệ của con người được bộc lộ. Giao tiếp là đặc trưng nòng cốt của con người, cá nhân, tập thể. Giao tiếp trở thành một nhân tố hùng mạnh của sự giáo dục nhân cách”. – Theo tác giả Trần Trọng Thủy, văn hóa giao tiếp được thể hiện ở các nét tính cách: tôn trọng người khác, có thiện chí, quan tâm, rộng lượng, tế nhị, nhân hậu, trung thực, thật thà, nhường nhịn, lịch sự, cư xử khéo léo. Ở đây, lịch sự được hiểu là thói quen tuân thủ những quy tắc, những phép xã giao mà cả “cái cảm giác về mức độ trong các quan hệ với người khác” và “khả năng điều chỉnh nhanh chóng và chính xác hành vi của mình”. – Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng, văn hóa giao tiếp là tổng thể nói chung những chuẩn mực về ứng xử và cách nói năng được cộng đồng dân cư xây dựng trong tiến trình lịch sử. b. Tính văn hóa trong hành vi giao tiếp Trong mối quan hệ giữa con người với con người, tính văn hóa trong hành vi giao tiếp giữ một vị trí rất quan trọng. Nó giúp cho mối quan hệ giữa con người với nhau ngày càng bền vững, tạo ra sự đoàn kết, hòa đồng, gắn bó với nhau. Vì thế con người thường mong muốn khi giao tiếp, mỗi hành động,
    18. 32. 24 cử chỉ là một hành vi giao tiếp mang tính văn hóa. Do vậy, đảm bảo tính văn hóa trong hành vi giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản của con người. Để nâng cao tính văn hóa trong giao tiếp, mỗi cá nhân phải có ý thức rèn luyện vốn ngôn từ của mình. Sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp phải giản dị, rõ ràng, trong sáng, dễ hiểu, có nội dung, có tư tưởng, tình cảm đúng đắn. Giọng nói khi giao tiếp phải ân cần, thân mật với người dưới hoặc người ngang hàng, lễ phép với người trên. Các phương tiện giao tiếp khác như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt, nụ cười… cũng phải được sử dụng đúng mức, đúng lúc, đúng chổ, nhằm biểu đạt đúng tình cảm của mình và giúp người khác dễ dàng hiểu đúng về mình. Hành động khi giao tiếp phải biểu lộ thái độ tự trọng, tự chủ, tự khẳng định bản thân, quan tâm, tế nhị, lịch sự, trung thực, thật thà với mọi người. Với mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác, cũng như cho chính bản thân. Trong hành vi giao tiếp đòi hỏi con người phải biết sử dụng các phương tiện một cách có văn hóa, luôn biết xác định đúng đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp để có cách xưng hô, dùng từ cho phù hợp với mục đích và đề tài giao tiếp. Như vậy để đảm bảo được tính văn hóa trong hành vi giao tiếp, mỗi cá nhân bên cạnh tiếp thu những tri thức trong trường học từ sách vở, cần chú ý tự rèn luyện và tiếp thu văn hóa giao tiếp trong cộng đồng, dân tộc để làm cho hành vi giao tiếp của mình phù hợp với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, địa phương. Việc chú ý rèn luyện tính văn hóa trong giao tiếp sẽ làm cho sự giao tiếp đẹp hơn (về cử chỉ, tác phong, ngôn ngữ..), hoàn thiện kỹ năng giao tiếp tức là nâng trình độ giao tiếp lên mức thẩm mỹ (về hành vi, lời ăn tiếng nói). Đây được xem là vấn đề đang thu hút sự quan tâm của xã hội. Nó không chỉ là
    19. 34. 26 – Quan tâm, chú ý đến người khác, không lãnh nhạt, thờ ơ, lãnh đạm, dững dưng trước niềm vui cũng như nổi buồn của những người xung quanh. – Nhân hậu, độ lượng, khoan dung, nhường nhịn người khác trên cơ sở tự trọng, tự chủ, tự khẳng định bản thân. – Trung thực, thật thà; không giả dối: nghĩ một đằng, nói một nẻo. – Lịch sự và cư xử khéo léo khi giao tiếp, biết tuân thủ theo những quy tắc giao tiếp chung, biết giữ đúng mức độ trong quan hệ giao tiếp với người khác, có khả năng điều chỉnh nhanh chóng và chính xác hành vi của mình cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. – Biết “chỉnh sửa” các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới làm quen với họ. Những ấn tượng ban đầu này thường dễ sai lệch do chủ yếu dựa trên sự quan sát vẻ bề ngoài của con người. Vì vậy, phải biết nhanh chóng “chỉnh sửa” chúng cho đúng đắn, tạo ra bầu không khí thiện cảm, hiểu biết lẫn nhau khi giao tiếp. – Kỹ năng bước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến. Trong xã hội thường tồn tại những quan niệm, những dư luận, những “định hình xã hội” về những nhóm nghề nghiệp xã hội, những dân tộc, những tầng lớp xã hội,… Những quan niệm, dư luận, “định hình xã hội” này có ảnh hưởng to lớn đến thái độ của ta đối với người khác, có thể làm sai lệch biểu tượng của ta về tính cách, đặc điểm của một con người cụ thể nào đó. Vì vậy, cần phải gạt bỏ mọi định kiến khi bước vào giao tiếp để có thể hiểu và đồng cảm với người mình giao tiếp. – Biết tôn trọng những quan điểm, sở thích, thị hiếu, thói quen của người khác, không áp đặt những quan điểm, sở thích, thị hiếu, thói quen của mình cho họ. – Biết lắng nghe ý kiến của người khác để hiểu họ, để thông cảm và đồng cảm với họ.
    20. 36. 28 c. Các tiêu chí cơ bản để đánh giá một HVGTCVH Để đánh giá một HVGTCVH, cần dựa vào các tiêu chí cơ bản sau: + Dáng đi ngay ngắn, lịch thiệp, đầu ngay không cúi mặt. + Không nên vừa đi vứa đá các vật trên đường đi. + Khi vội vàng không nên vừa đi vừa chạy, hoặc vừa đi vừa quàng vai nhau. + Tránh hiện tượng vừa chạy vừa chào hỏi khi gặp người quen. – Biểu hiện trong trang phục: Lứa tuổi SV có những đặc trưng riêng thể hiện ở những đặc điểm tâm lý cơ bản sau: – SV là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với thể chế chính trị. Thanh niên sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hôi. Họ sẽ là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau trong xã hội.
    21. 40. 32 – Hoạt động học tập ở trường Cao đẳng vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng ở thanh niên sinh viên. Hoạt động học tập ở đây mang tính chất chuyên ngành, phạm vi hẹp hơn, sâu sắc hơn. Vì vậy, để có kết quả học tập tốt đòi hỏi SV phải có ý thức tự giác trong học tập. – Ngoài hoạt động học tập, ở môi trường CĐSP SV còn tham gia nhiều hoạt động khác như hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động chính trị – xã hội, hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao… – Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của SV: Bản chất hoạt động nhận thức của SV trong các trường Cao đẳng là đi sâu, tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được tri thức khoa học. Vì vậy, hoạt động nhận thức của SV thực sự là loại hoạt động trí tuệ đích thức, căng thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt. – Đời sống xúc cảm, tình cảm và giao tiếp của SV: + Ở mặt tình cảm: theo B.G.Ananhev và một số nhà tâm lý học khác, tuổi SV là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ. Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong hoạt động và trong đời sống của SV. + Hoạt động giao tiếp: SV hướng vào tập thể và thể hiện nhu cầu thiết lập các mối quan hệ với người lớn. Xu hướng này nhằm khẳng định vị trí trưởng thành của SV. Trong quá trình thiết lập các mối quan hệ, SV thường tỏ thái độ nhận xét, đánh giá những cá nhân và tập thể mà mình tiếp xúc, tán đồng hay phê phán những hành vi lối sống của những người gần gũi mình như: cung cách ứng xử của cha mẹ, anh chị em, bạn thân, các thành viên SV trong tập thể…Điều này chứng tỏ, khả năng tự nhận thức, tự đánh giá của lứa tuổi SV đã phát triển mạnh mẽ và sâu sắc. Như vậy, SV là người yêu vẻ đẹp thể hiện ở hành vi, phong thái đạo đức, cũng như vẻ đẹp thẩm mĩ ở các sự vật, hiện tượng của thiên nhiên hoặc con
    22. 42. 34 tượng xa vời nhường chổ cho kế hoạch đường đời cụ thể do việc học để trở thành người có nghề nghiệp đã được xác định rõ ràng. Qua việc trình bày những đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi SV, chúng tôi thấy SV là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người. Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão. Tuy nhiên do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện và hoàn cảnh sống khác nhau nên cũng ảnh hưởng đến quá trình rèn luyện nhân cách nói chung và rèn luyện HVGTCVH nói riêng. 1.2.6.2. Kinh nghiệm sống của bản thân Kinh nghiệm sống của bản thân có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành HVGTCVH cho mỗi cá nhân. Đối với những SV trong quá trình sống có điều kiện được giao lưu học hỏi và tiếp xúc nhiều mối quan hệ phong phú thì họ sẽ có cơ hội trải nghiệm cuộc sống và tích lũy được nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là kinh nghiệm trong các mối quan hệ ứng xử. Chính những kinh nghiệm sống giúp cho họ có sự hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực của cuộc sống xung quanh, biết cách thiết lập và mở rộng các mối quan hệ dễ dàng, chủ động hơn khi ứng xử, đặc biệt là trong khi giao tiếp họ sẽ biết tùy vào mỗi đối tượng, hoàn cảnh giao tiếp khác nhau để có cung cách ứng xử cho phù hợp và đạt được mục đích, hiệu quả cao trong giao tiếp. Ngược lại, đối với những SV do đặc điểm khí chất của cá nhân, do không có nhiều điều kiện để mở rộng giao lưu, tiếp xúc với nhiều mối quan hệ thì cũng sẽ phần nào ảnh hưởng đến vốn sống của bản thân. Điều đó dẫn tới một số SV khi ra cuộc sống tiếp xúc với mọi người, họ sẽ cảm thấy lúng túng, bở ngỡ trong các mối quan hệ giao tiếp, họ không biết cung cách ứng xử như thế nào cho phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh giao tiếp. Đây chính là một trở ngại rất lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp trong cuộc sống nói chung cũng như trong hoạt động nghề nghiệp của SV sau này.
    23. 43. 35 Như vậy, kinh nghiệm sống của bản thân là yếu tố có ảnh hưởng đến HVGTCVH của SV. Vì vậy, bản thân SV cần nhận thức được điều này để chủ động tích cực tham gia vào các mối quan hệ nhằm giúp bản thân rèn luyện và tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, có cách ứng xử đúng mực, có văn hóa trong giao tiếp. 1.2.6.3. Yếu tố gia đình Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của mỗi cá nhân và là tế bào của xã hội. Gia đình là nơi chứa đựng và phát huy truyền thống dân tộc, nơi sinh thành con người và hình thành lớp nhân cách gốc của con người. [20, tr.46] Gia đình là môi trường đầu tiên và mãi mãi ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của con người. Các nghiên cứu tâm lý học đã chứng minh rằng: gia đình là một thể chế xã hội đầu tiên quyết định sự hình thành nhân cách con người. Tính cách của cá nhân, phương thức ứng xử, thái độ với người xung quanh chịu ảnh hưởng rất lớn của lớp nhân cách gốc được hình thành trong cuộc sống gia đình. Một trong những chức năng quan trọng nhất của gia đình là xã hội hóa con cái. Trong mỗi gia đình đều chứa đựng một tiểu văn hóa đã được xây dựng trên nền tảng chung nhưng với những đặc thù riêng của từng gia đình. Các tiểu văn hóa được tạo thành, tồn tại và phát triển bởi giáo dục gia đình, truyền thống lối sống gia đình. Trong quá trình sống, nhất là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời, mỗi con người đều tiếp nhận đặc điểm văn hóa này. Những kinh nghiệm sống, các quy tắc ứng xử, các giá trị… đầu tiên của con người được tiếp nhận từ chính quá trình quan hệ với các thành viên trong gia đình. Chính vì mỗi con người trước khi trưởng thành đều tiếp nhận một tiểu văn hóa có những đặc trưng riêng biệt mà trở thành nhân cách duy nhất, với những đặc điểm độc đáo, phản ánh nội dung tiểu văn hóa đó.
    24. 45. 37 chỉ của giáo viên thường là mẫu mực cho hành vi của các em. Nó có ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ và cách ứng xử của các em trong các mối quan hệ với người khác và với xã hội. Trong nhà trường Sư phạm, các em được sinh hoạt trong tập thể lớp học. Chính những qui định của tập thể đề ra và yêu cầu mỗi thành viên trong tập thể phải tuân theo thực hiện nghiêm chỉnh, cùng với cung cách ứng xử của các thành viên trong tập thể đều có ảnh hưởng đến hành vi giao tiếp của SV. Như vậy, được học tập trong môi trường Sư phạm là điều kiện thuận lợi để giúp SV học tập và rèn luyện nghề nghiệp cho bản thân cũng như rèn luyện kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là HVGTCVH để trở thành một giáo viên mẫu mực trong tương lai. 1.2.6.5. Yếu tố xã hội Xã hội được xem là một môi trường rộng lớn để con người gia nhập vào các mối quan hệ nhằm lĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội loài người, đồng thời có cơ hội để trải nghiệm những hiểu biết của mình trong các mối quan hệ. Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội là điều kiện để xã hội hóa cá nhân, mà một trong những phương tiện quan trọng để giúp cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội là giao tiếp. Như vậy, thông qua các mối quan hệ trong xã hội đã ảnh hưởng rất quan trọng đến HVGTCVH của mỗi cá nhân. Trong thời đại ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển đã mở ra rất nhiều cơ hội và tạo điều kiện cho mọi người được mở rộng giao lưu, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong đó có SV – những người trẻ rất dễ nắm bắt và tiếp thu những cái mới của xã hội. Xã hội phát triển đã tạo ra rất nhiều sân chơi bổ ích, nhiều hoạt động để giúp SV có cơ hội được tham gia, được thể hiện chính bản thân mình, qua đó giúp họ học hỏi được nhiều cái hay, cái mới, nhận biết và lĩnh hội được những giá trị văn hóa của dân tộc cũng như những giá trị văn
    25. 47. 39 Chương 2 THỰC TRẠNG HÀNH VI GIAO TIẾP CÓ VĂN HÓA CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM CÀ MAU 2.1. Vài nét về khách thể nghiên cứu Trong môi trường Sư phạm, hành vi giao tiếp của SV trong các mối quan hệ ở trường là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng để rèn nhân cách cho SV. Trong quá trình đào tạo SV, trường CĐSP Cà Mau cũng đã tổ chức các hoạt động rèn luyện HVGTCVH cho các em. Tuy nhiên, do điều kiện của nhà trường còn có nhiều khó khăn nên một số hoạt động văn hóa tổ chức cho SV chưa được duy trì thường xuyên, đồng thời bên cạnh đó một bộ phận SV chưa nâng cao ý thức tự giác trong việc rèn luyện HVGTCVH, cho nên đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giao tiếp. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra phát phiếu “Thăm dò ý kiến” trên 300 SV của năm thứ I, năm thứ II và năm thứ III của các khoa Năng khiếu và khoa Tiểu học – Mầm non thuộc trường CĐSP Cà Mau. Sau khi thu lại, nếu các phiếu trả lời không hợp lệ (phiếu có câu trả lời để trống, phiếu không trả lời đầy đủ các câu hỏi yêu cầu) sẽ bị loại. Kết quả về khách thể nghiên cứu (Xem bảng 1, Phụ lục 1): + Xét theo chuyên ngành học, ngành Tiểu học mầm non chiếm 65.3%, ngành Năng khiếu chiếm 34.7%. + Xét theo giới tính, nam có 96 SV (chiếm 32%) và nữ có 204 SV (chiếm 68%). Do đặc thù của từng chuyên ngành nên tỷ lệ nam – nữ có sự khác biệt nhau. + Xét theo năm học, có 110 SV năm I chiếm 36.7%, 105 SV năm II chiếm 35% và 85 SV năm III chiếm 28.3%. Ngoài ra, mẫu nghiên cứu còn có 20 phiếu điều tra giáo viên chủ nhiệm lớp và cán bộ quản lý sinh viên trường CĐSP Cà Mau.
    26. 48. 40 2.2. Thực trạng HVGTCVH của SV trường CĐSP Cà Mau 2.2.1. Nhận thức của SV về HVGTCVH Khi tìm hiểu các biểu hiện về HVGTCVH của SV, trước hết phải xem nhận thức của SV như thế nào đối với HVGTCVH: Bảng 2.1. Nhận thức của SV về tầm quan trọng của HVGTCVH TT Mức độ Tần số Tỉ lệ % 1 Không quan trọng 0 0.0 2 Không quan trọng lắm 3 1.0 3 Bình thường 27 9.0 4 Quan trọng 33 11.0 5 Rất quan trọng 237 79.0 Qua kết quả thống kê chúng tôi nhận thấy, đa phần SV CĐSP Cà Mau đã nhận thức được tầm quan trọng của HVGTCVH trong môi trường sư phạm. Cụ thể: 90% SV khi được khảo sát đã lựa chọn HVGTCVH là rất quan trọng, chỉ có 1% SV cho rằng không quan trọng. Chúng tôi đã hỏi SV và nhiều em đã cho biết: “SVSP cần phải có hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ”. Kết quả này cho thấy học trong môi trường sư phạm, hầu như SV đã nhận thức được sự đúng đắn về tầm quan trọng của HVGTCVH. Đây là điều kiện rất thuận lợi để giúp SV rèn luyện tốt những hành vi ứng xử trong môi trường sư phạm nói riêng cũng như trong cuộc sống nói chung nhằm trở thành người giáo viên mẫu mực trong tương lai. Tuy nhiên, nền tảng này có được phát huy hay không, điều đó còn phụ thuộc sự tác động của nhiều yếu tố khác nữa. So sánh phương diện giới tính và phương diện khối lớp về nhận thức của SV đối với tầm quan trọng của HVGTCVH (Xem bảng 2, Phụ lục 1 ):
    27. 49. 41 Về phương diện giới tính: Kết quả kiểm định Chi bình phương cho thấy với mức ý nghĩa là 0.005 < 0.001, có sự khác biệt trong nhận thức của SV về tầm quan trọng của HVGTCVH giữa nhóm nam và nhóm nữ với độ tin cậy 99%, trong đó nhóm nam đánh giá cao hơn nhóm nữ. Kết quả phân tích ANOVA cũng cho kết quả tương tự. Điều này cho thấy mặc dù vào trường sư phạm số lượng nam ít hơn nữ, nhưng hầu như các bạn nam khi đã vào đây đều xác định được ý nghĩa, tầm quan trọng của hành vi giao tiếp trong môi trường sư phạm. Về phương diện khối lớp: Kết quả phân tích ANOVA và kết quả kiểm định Chi bình phương đều có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức giữa 3 nhóm SV năm I, năm II, năm III. Mức độ quan trọng của HVGTCVH được đánh giá tăng dần theo năm SV, cụ thể được xếp theo thứ tự SV năm thứ III, năm II, năm I. Qua đây cho thấy, càng trải qua quá trình học tập và rèn luyện ở môi trường sư phạm, SV ngày càng ý thức được tầm quan trọng của hành vi giao tiếp để trở thành người giáo viên có hành vi, cử chỉ đúng mực trong tương lai. 2.2.2. Biểu hiện của SV về HVGTCVH 2.2.2.1. Biểu hiện của SV về HVGTCVH đối với việc thực hiện các nội qui, qui định của nhà trường Trong trường Sư phạm, việc SV chấp hành và thực hiện tốt những nội qui, qui định của nhà trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng để rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, đồng thời nó cũng tạo nên nét sinh hoạt văn hóa riêng của nhà trường nhằm rèn luyện HVGTCVH cho SV. – Biểu hiện của SV về việc thực hiện các nội qui, qui định của nhà trường : Để tìm hiểu việc thực hiện của SV về các nội qui, qui định của nhà trường, chúng tôi đưa ra các biểu hiện sau:
    28. 52. 44 Bảng 2.3. Đánh giá của SVSP về biểu hiện hành vi khi đến trường TT Biểu hiện hành vi ĐTB ĐLC 1 Trang phục không đúng qui định của trường 2.56 0.82 2 Đi học không đúng giờ 2.46 0.71 3 Không có vở ghi chép 1.74 0.70 4 Không học bài, làm bài đầy đủ 1.97 0.78 5 Ăn trong lúc giáo viên giảng bài 1.42 0.60 6 Bỏ tiết học 2.19 0.66 7 Không mang bảng tên 2.68 0.94 8 Không tham gia các phong trào do trường phát động 1.72 0.67 9 Hút thuốc lá trong trường 1.59 0.70 10 Bỏ rác không đúng nơi qui định 2.22 0.96 Điểm trung bình: 2.06 Kết quả đánh giá về các biểu hiện hành vi của SV khi đến trường có điểm trung bình chung là 2.06, trong đó biểu hiện hành vi về hút thuốc lá trong trường và ăn trong lúc giáo viên giảng bài là hầu như SV không mắc phải. Như vậy, có khả năng do đặc thù của ngành nghề mà SVSP ít vi phạm về một số biểu hiện của hành vi khi đến trường. Tuy nhiên, những biểu hiện hành vi SV còn mắc phải là không mang bảng tên (52.3%) và trang phục không đúng quy định của nhà trường (51.3%). Theo em H.T.L: “SV khi đến trường không nhất thiết phải mang đồ đồng phục mà chỉ mang đồ lịch sự là được. Ở lớp nhiều bạn không mang đồ

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Chức Năng Của Môi Trường
  • Các Quan Điểm Về Các Kiểu Chức Năng Của Ngôn Ngữ: Thời Kì Của Chủ Nghĩa Chức Năng Và Ngôn Ngữ Học Xã Hội
  • Cách Nhận Biết, Sử Dụng Trạng Từ Chỉ Mức Độ (Grade) Trong Tiếng Anh
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Giao Tiếp Môn Tiếng Anh
  • 200 Câu Trắc Nghiệm Giao Tiếp Tiếng Anh Có Đáp Án File Word
  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Có 5 chức năng của tiền tệ:

    – Thước đo giá trị

    VD: Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một chiếc bánh có giá trị bằng 5 xu (tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu. Vì thế có thể nói Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    – Phương tiện lưu thông

    VD:

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đếm. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    – Phương tiện cất trữ

    VD: Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    – Phương tiện thanh toán

    VD: Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

    – Tiền tệ thế giới

    VD: Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tý giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Chức Năng Giao Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • 1 Số Chú Ý Về Chức Năng Giao Tiếp Trong Đề Thi Đại Học Post 1 Docx
  • Chức Năng Giao Tiếp Trong Tâm Lý
  • Lớp Từ Ngữ Giữ Chức Năng Định Danh, Xưng Hô Trong Hồi Kí Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc Của Phạm Khắc Hòe
  • Các Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ Trong Văn Bản
  • Đánh Giá Vai Trò Của Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Cuộc Sống Của Con Người
  • A. It’s my pleasure. B. I don’t know what time that person comes.

    C. I’d love to come. What time? D. Do you have time for some gossip?

    A. Maybe I’m not going to the doctor’s. B. Not very well. Thanks.

    C. Maybe you should take a rest. D. Not bad. I’m not going to the doctor’s.

    A. Of course, not for me. B. No, I can’t help you now.

    C. No, those aren’t mine. D. No, I can manage them myself.

    A. It’s interesting to travel to Manchester. B. It depends on how to go.

    C. I always go by train. D. I don’t like to go by train.

    A. Could you do me a favour? B. Oh, dear. What a nice shirt!

    C. May I help you? D. White, please!

    A. I’ll have a soup, please. B. There’s a great restaurant at the corner of the street.

    C. I usually eat lunch at twelve. D. Twelve would be convenient.

    A. Nothing special B. You’re welcome.

    C. It’s very expensive. D. I don’t think so. I’m teaching all summer.

    A. I love it. B. My brother gave it to me.

    C. It was a gift from my brother. D. I always put it there.

    A. It’s too late now. B. Pretty busy, I think.

    C. By bus, I think. D. No, I’ll not be busy.

    A. No, I’ll just use a frying pan. B. No, I’ll just use chopsticks.

    C. No, I’ll just use a can opener. D. No, I’ll use a cooker.

    A. Thanks, that’s nice of you to say so. B. Thanks. Have a nice trip.

    C. I’m fine, thanks. D. I know. I have trouble controlling my temper.

    A. I’m sorry I can’t. Let’s go now. B. Sure. I’d love to.

    C. Sure. But please be careful with it. D. I’m sorry. I’m home late.

    A. Do you smoke? B. What’s the matter?

    C. Anything else? D. Well, you should stop smoking.

    A. Yes, I used to play tennis. B. I don’t play very often.

    C. No, I don’t play very well. D. Pretty well, I think.

    A. Did you watch the live show last weekend? B. Did you do anything special last weekend?

    C. Did you have a great time last weekend? D. Did you go anywhere last weekend?

    A. No, I went there with my friends. B. That sounds nice, but I can’t.

    C. Don’t worry. I’ll go there. D. I did, but I didn’t stay long.

    A. What would you like? B. It’s very kind of you to help me.

    C. Would you like anything else? D. What kind of food do you like?

    A. A fashion hat B. It depends on the situation.

    C. Several times. D. I think it’s OK.

    A. No problem. B. Don’t worry. I’m all right.

    C. I usually drive home at five. D. It’s me.

    A. I’m afraid she’s not here at the moment. B. No, she’s not here now.

    C. She’s leaving a message to you now. D. Yes, I’ll make sure she gets it.

    A. Yes, he really wants to get ahead. B. Yes, he’s quite gentle.

    C. Really? I’ve never seen him lie. D. Right. He ‘s so quiet.

    A. Yes, it’s the most expensive. B. What an expensive dress!

    C. You are paying for the brand. D. That’s a good idea.

    A. Yes, it’s hard to think of the answers. B. Yes, I wish she’d hurry up.

    C. Yes, she would know the answers. D. Yes, she speaks too quickly.

    A. It’s my favourite sport. B. I worked.

    C. Do you like it? D. Would you like to come with me?

    A. He always comes late. He is not very well. B. Thank you. Good bye.

    C. I’m afraid he is not in. Can I take a message? D. I’m afraid not. He works very hard.

    A. It has good facilities. B. It’s convenient to see it.

    C. You can find it very convenient. D. You can see it from the back.

    A. I think it is bad condition. B. I can’t see anything.

    It’s a little hot in here. D. It’s a good idea.

    A. Great. Let’s go. B. I’m not a real fan of hers.

    C. Don’t mention it. D. Thanks. I’d love to.

    A. What do you think of tennis? B. Do you like sports?

    C. Do you pfer tennis or badminton? D. How often you play tennis?

    A. How are you? B. Are you feeling OK?

    C. Is there anything wrong? D. What’s the matter?

    A. Probably to the beach. B. The beach is nice, isn’t it?

    C. Probably I won’t think of. D. I have a four-day vacation.

    A. Can I help you? B. Why is it so expensive?

    C. What is it? D. What’s wrong with it?

    A. I get a high salary, you know. B. I want to be a doctor, I guess.

    C. I work in a bank. D. It’s hard work, you know.

    A. It depends on what it is. B. What’s it like?

    C. No, thanks. D. I’m afraid I won’t come.

    A. I’m not sure. Really? B. I will, the first thing in the afternoon.

    C. I’m with you there. D. I can get a paper for you right now.

    A. I know. He is a good manager. B. Sure. He will do that.

    C. I know. He must like green. D. He’d rather do that.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu Của Giao Tiếp Và Nhiệm Vụ, Chức Năng
  • Chức Năng Và Hình Thức Truyền Thông Giao Tiếp Của Các Tổ Chức
  • Giải Thích Các Chức Năng Của Các Thành Phần Máu Tính Câu Hỏi 1428247
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Cách Sử Dụng
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100