Phân Tích Khái Niệm Và Cho Ví Dụ Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nguồn Gốc, Bản Chất, Đặc Trưng Và Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước
  • Hãy Phát Biểu Một Định Nghĩa Về Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nêu Những Đặc Trưng, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Nó? Tại Sao Nói Việc Xây Dựng Và Củng Cố Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Là Một Tất Yếu Trong Tiến Trình Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội?
  • Chức Năng Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Hiểu Hơn Hành Chính Công Là Gì? Những Dịch Vụ Của Hành Chính Công
  • Quyết Định Hành Chính Là Gì? Phân Biệt Với Quyết Định Khác?
  • Phân tích khái niệm quản lý hành chính nhà nước. Cho ví dụ về một hoạt động quản lý hành chính nhà nước?

    1. Quản lý hành chính nhà nước là gì?

    Quản lý hành chính nhà nước là hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên trong công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội và hành chính-chính trị.

    2. Các đặc điểm của quản lý nhà nước

    – Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước, được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước: Hoạt động chấp hành được thể hiện trên phương diện tuân thủ các quy định của pháp luật của các chủ thể khi tham gia quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động điều hành thể hiện việc các chủ thể đặc biệt áp dụng các quy phạm pháp luật hành chính để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quản lý hành chính nhà nước. Nếu Quốc hội có chức năng cơ bản, quan trọng là lập pháp, Toà án có chức năng bảo vệ pháp luật là chủ yếu thì các cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Quốc hội, Tòa án có thể tham gia quản lý hành chính nhà nước nhưng các cơ quan hành chính nhà nước mới là chủ thể chủ yếu thực hiện hoạt động này.

    VD1: Hoạt động làm tạm trú cho công dân tại Trụ sở công an phường Láng Thượng: Các đồng chí Công an phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết công việc, các thủ tục giải quyết. Trong khi đó, các đồng chí công an áp dụng những quy phạm pháp luật hành chính về giải quyết tạm trú cho công dân, các đồng chí công an có quyền xem xét hoặc không xem xét nếu không đủ giấy tờ và yêu cầu công dân cung cấp thêm giấy tờ.

    VD2: Quốc hội quản lý hành chính nhà nước bằng cách ban hành các quyết định hành chính như: Quyết định bãi nhiệm đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga.

    VD3: Toà án tham gia quản lý hành chính nhà nước bằng việc quản lý nhân sự của ngành toà án: Quyết định bổ nhiệm nhân sự …

    – Hoạt động quản lý hành chính nhà nước có tính quyền lực nhà nước, có tính thống nhất chặt chẽ: Quản lý hành chính được thực hiện bởi các chủ thể sử dụng quyền hành pháp để áp đặt ý chí lên các chủ thể khác nên hoạt động này mang tính quyền lực rõ ràng. Tính thống nhất chặt chẽ của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở việc các hoạt động quản lý đều tuân theo các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước, các quyết định hành chính của cấp dưới không được phép trái với các quyết định hành chính của cấp trên …

    VD: UBND huyện Sóc Sơn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với ông A do chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp với diện tích 0.05ha tương ứng với mức xử phạt là 15 triệu đồng.

    – Chủ thể quản lý hành chính nhà nước: Các chủ thể nhân danh nhà nước sử dụng quyền hành pháp.

    VD: Các chiến sĩ công an giao thông đang thi hành nhiệm vụ, UBND các cấp, Bộ và cơ quan ngang bộ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ …

    – Khách thể quản lý hành chính nhà nước: Trật tự quản lý được quy định bởi quy phạm pháp luật. Trật tự quản lý là trạng thái được thiết lập bởi tổng thể các hành vi cần thiết của đối tượng quản lý theo đúng yêu cầu của chủ thể quản lý.

    VD: Trật tự quản lý giao thông có thể là việc các phương tiện đi đúng làn đường, đi đúng tốc độ, tuân thủ các biển báo và hiệu lệnh của các chiến sĩ cảnh sát giao thông đang thi hành nhiệm vụ.

    – Đối tượng quản lý hành chính nhà nước: Là những quan hệ xã hội.

    VD1: UBND quận Đống Đa ra quyết định thu hồi đất với ông A. Quyết định hành chính này nhằm điều chỉnh quan hệ giữa người sử dụng đất với nhà nước.

    VD2: Cấp giấy khai sinh là hành vi hành chính xác nhận sự ra đời của một công dân, nó xác lập mối quan hệ giữa nhà nước và công dân đó.

    – Phương tiện quản lý hành chính nhà nước: Quy phạm pháp luật.

    VD: Căn cứ vào điểm c khoản 2 điều 7 Nghị định 100/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông, các chiến sĩ cảnh sát giao thông đang thi hành nhiệm vụ trên đường Nguyễn Chí Thanh đã xử phạt 300.000 đồng với anh A vì hành vi đỗ xe trên hè phố trái quy định của pháp luật.

    Like fanpage Luật sư Online tại: https://www.facebook.com/iluatsu/

    Phân tích khái niệm quản lý hành chính nhà nước. Cho ví dụ về một hoạt động quản lý hành chính nhà nước?-Nguồn: Xóm Luật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Nói Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Thực Thi Quyền Hành Pháp?
  • Chức Năng Của Tài Chính Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Kho Bạc Nhà Nước Tổ Chức Bồi Dưỡng, Nâng Cao Kiến Thức Nghiệp Vụ, Kỹ Năng Chỉ Đạo, Điều Hành Cho Công Chức Lãnh Đạo
  • Bài Tập Tình Huống Môn Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Lịch Sử Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 1:tổ Chức Hành Chính Bộ Máy Nhà Nước
  • Tìm Hiểu Nội Dung Của Chế Độ Chi Ngân Sách Về Xây Dựng Cơ Bản, Đánh Giá Thực Tiễn áp Dụng Và Đề Xuất Các Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Ngân Sách Cho Lĩnh Vực Xây Dựng Cơ Bản Ở Việt Nam
  • Quản Lý Hành Chánh Nhà Nước
  • Em Hãy Cho Biết Bản Chất Của Nhà Nước Ta Là Gì? Bộ Máy Nhà Nước Gồm Những Cơ Quan Nào? Nêu Cụ Thể Từng Cơ Quan?
  • Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Thể Hiện Khái Niệm Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Việt Nam(Có Thể Sử Dụng Màu Để Tô) Câu Hỏi 234497
  • Bộ máy hành chính nhà nước là tổng thể các cơ quan chấp hành – điều hành do Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân các cấp lập ra để quản lí toàn diện hoặc quản lí ngành, lĩnh vực trong cả nước hoặc trên phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Bộ máy hành chính nhà nước thường là bộ phận phát triển và phức tạp nhất của bộ máy nhà nước của một quốc gia. Bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo đơn vị hành chính từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ.

    Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước được đặt dưới sự giám sát trực tiếp và thường xuyên của các cơ quan quyền lực nhà nước, đại biểu đại diện của nhân dân cả nước hoặc từng địa phương và sự giám sát của nhân dân.

    Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được Hiến pháp và các luật tổ chức nhà nước quy định. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước gồm chính phủ, các bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp, ban, ngành trực thuộc. Những cơ quan này giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, phạm vi thẩm quyền không bị giới hạn trong ngành hay lĩnh vực. Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp là những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất quản lí các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước. Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lí hành chính toàn diện trên địa bàn lãnh thổ tương ứng.

    Các bộ, ban, ngành thực hiện chức năng quản lí nhà nước về ngành hay lĩnh vực công tác trên phạm vi lãnh thổ nhất định với cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền độc lập. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các cơ quan loại này do Chính phủ quy định nên sự thay đổi, điều chỉnh diễn ra khá thường xuyên nhằm đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn quản lí nhà nước nói chung và quản lí hành chính nhà nước nói riêng trong từng thời kì.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Tinh Gọn, Hiệu Lực, Hiệu Quả
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chủ Nô Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Bản Chất Của Nhà Nước
  • Các Học Thuyết Tiêu Biểu Về Nguồn Gốc Của Nhà Nước
  • Phân Tích Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Bảng Mô Tả Công Việc Giám Sát Nhà Hàng Khách Sạn
  • Bản Mô Tả Công Việc Giám Sát F&b Trong Khách Sạn
  • Đề Tài Mẫu: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Hàng Trong Hoạt Động Du Lịch
  • Bai 1 Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ, Bí Thư Chi Bộ Bai 1 Ppt
  • ỦNG HỘ WEBSITE BẰNG CÁCH BẤM “ĐĂNG KÝ” OR “SUBSCIREBE” KÊNH YOUTUBE ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ KINH PHÍ DUY TRÌ WEBSITE VÀ ĐĂNG TẢI NHIỀU TÀI LIỆU MỚI CHO BẠN.

    CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Chức năng.

    – Thực hiện công tác tuyển dụng nhận sự đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, chiến lược của công ty.

    – Tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo.

    – Tổ chức việc quản lý nhân sự toàn công ty.

    – Xây dựng quy chế lương thưởng, các biện pháp khuyến khích – kích thích người lao động làm việc, thực hiện các chế độ cho người lao động.

    – Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, qui định, chỉ thị của Ban Giám đốc.

    – Nghiên cứu, soạn thảo và trình duyệt các qui định áp dụng trong Công ty, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty – các bộ phận và tổ chức thực hiện.

    – Phục vụ các công tác hành chánh để BGĐ thuận tiện trong chỉ đạo – điều hành, phục vụ hành chánh để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt.

    – Quản lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.

    – Tham mưu đề xuất cho BGĐ để xử lý các vấn đề thuộc lãnh vực Tổ chức-Hành chánh – Nhân sự.

    2. Chức năng.

    – Thực hiện công tác tuyển dụng nhận sự đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, chiến lược của công ty.

    – Tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo.

    – Tổ chức việc quản lý nhân sự toàn công ty.

    – Xây dựng quy chế lương thưởng, các biện pháp khuyến khích – kích thích người lao động làm việc, thực hiện các chế độ cho người lao động.

    – Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, qui định, chỉ thị của Ban Giám đốc.

    – Nghiên cứu, soạn thảo và trình duyệt các qui định áp dụng trong Công ty, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty – các bộ phận và tổ chức thực hiện.

    – Phục vụ các công tác hành chánh để BGĐ thuận tiện trong chỉ đạo – điều hành, phục vụ hành chánh để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt.

    – Quản lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.

    – Tham mưu đề xuất cho BGĐ để xử lý các vấn đề thuộc lãnh vực Tổ chức-Hành chánh – Nhân sự.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Nhà Nước
  • Những Điều Cần Biết Khi Chọn Mua Mainboard
  • Bo Mạch Chủ Trên Máy Tính Là Gì?
  • Motherboard, Mainboard Là Gì Và Có Tác Dụng Gì?
  • Motherboard Là Gì? Chức Năng Của Bo Mạch Chủ Là Gì?
  • Chức Năng Xúc Tác Của Protein: Ví Dụ. Các Chức Năng Chính Của Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Proteein Trong Tế Bào Chucnangproteintrongtebao Ppt
  • Những Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Mọi Người Ưa Chuộng
  • Thực Phẩm Chức Năng Của Mỹ
  • Danh Sách 25 Thực Phẩm Chức Năng Của Hoa Kỳ Bán Chạy Nhất Trên Amazon
  • Các Loại Thực Phẩm Chức Năng Của Mỹ Tốt Nhất Hiện Nay
  • Protein được một cách tự nhiên xảy ra các hợp chất hữu cơ trong đó có một cấu trúc phân tử. Các phân tử của các chất này là nerazvetvlyayuschimsya polymer. Protein được xây dựng từ 20 axit amin. Họ là các phân tử cấu trúc đơn vị tối thiểu – monomer. Tất cả các thành phần được kết nối với nhau polypeptide protein, hay nói cách khác – một urê, một mắt xích trong chuỗi thời gian đủ dài. Trong trường hợp này, trọng lượng phân tử có thể dao động từ vài nghìn đến hàng triệu những hạt nguyên tử.

    Gì có thể là một protein

    Để xác định các chức năng chính của protein, nó là cần thiết để hiểu được cấu trúc của các chất này. Hiện nay có hai loại thành phần nhân lực quan trọng này: xơ và hình cầu. Phân biệt chúng chủ yếu là do sự khác biệt trong cấu trúc của phân tử protein.

    chất hình cầu là cũng hòa tan không chỉ trong nước mà còn trong các dung dịch muối. Như vậy như một phân tử protein có hình dạng hình cầu. Như một khả năng hòa tan tốt có thể dễ dàng giải thích vị trí của amino acid tính, được bao bọc bởi một lớp vỏ hydrat hóa, trên bề mặt của giọt. Đây là những gì cung cấp địa chỉ liên lạc tốt với các dung môi khác nhau. Cần lưu ý rằng các thành phần trong nhóm hình cầu bao gồm tất cả các enzym, cũng như protein hầu như tất cả các hoạt tính sinh học.

    Đối với các chất xơ với, các phân tử của họ có một cấu trúc dạng sợi. Chức năng xúc tác của protein rất quan trọng. Do đó rất khó để tưởng tượng hiệu quả của nó không có tá dược. protein sợi nhỏ hợp không hòa tan bất kỳ giải pháp muối, hoặc trong nước bình thường. phân tử của họ được bố trí song song trong chuỗi polypeptide. những chất này đang tham gia vào sự hình thành của một số các yếu tố cấu trúc của mô liên kết. Nó elastin, keratin, collagen.

    Một nhóm đặc biệt của protein phức tạp, trong đó bao gồm không chỉ các axit amin mà còn là nucleic acid, carbohydrate và các chất khác. Tất cả các thành phần này đóng một vai trò quan trọng. Đặc biệt quan trọng là chức năng xúc tác của protein. Bên cạnh đó, chất đó là kế hoạch sắc tố hô hấp, kích thích tố, cũng như một sự bảo vệ đáng tin cậy cho bất kỳ sinh vật. Sinh tổng hợp protein được thực hiện trên các ribosome. Quá trình này được xác định bởi nguồn phát sóng của các axit nucleic.

    Chức năng xúc tác của protein

    xúc tác là gì

    Đã vào năm 2013, các nhà khoa học đã tìm thấy hơn một chút so với 5000 enzym. Những chất này có thể ảnh hưởng đến quá trình hầu như tất cả các phản ứng sinh hóa. Để trở thành chức năng xúc tác rõ ràng hơn của protein, nó là cần thiết để hiểu là những gì xúc tác. Với ngôn ngữ Hy Lạp khái niệm này được dịch là “chấm dứt”. Xúc tác là một sự thay đổi vận tốc dòng chảy của bất kỳ phản ứng hóa học. Điều này xảy ra dưới tác động của các hợp chất nhất định. Enzyme đóng vai trò như một chất xúc tác protein. Các ví dụ về hiện tượng này được tìm thấy thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày. Chỉ cần một người đàn ông không để ý.

    VÍ DỤ chức năng xúc tác

    Để hiểu cách thức hoạt động của các enzyme, nó là giá trị xem xét một vài ví dụ. Vì vậy, chức năng xúc tác của protein là gì. ví dụ:

    1. Trong quá trình quang xúc tác ribulezobifosfatkarboksilaza cung cấp cố định CO 2.
    2. Hydrogen peroxide được chẻ với oxy và nước.
    3. DNA polymerase tổng hợp DNA.
    4. Amylase là sẽ tách có khả năng tinh bột để maltose.

    chức năng vận chuyển

    chức năng quan trọng của mỗi tế bào phải được duy trì bởi các chất khác nhau mà không phải là duy nhất cho vật liệu xây dựng của họ, mà còn là một loại năng lượng. chức năng sinh học bao gồm protein và vận chuyển. Các thành phần này được cung cấp trong các tế bào tất cả các vấn đề quan trọng, bởi vì các màng được xây dựng bằng nhiều lớp lipid. Nó là ở đây và có một loạt các protein. Trong trường hợp này, các vùng ưa nước tất cả tập trung trên bề mặt và đuôi – trong độ dày của màng tế bào. Cấu trúc này không cho phép thâm nhập vào các tế bào là chất rất quan trọng – các ion kim loại kiềm, axit amin và đường. Protein được chuyển tất cả các thành phần vào các tế bào cho chế độ dinh dưỡng của họ. Ví dụ, hemoglobin vận chuyển oxy.

    thụ

    Các chức năng chính của protein không chỉ cung cấp các tế bào năng lượng của cơ thể sống, mà còn giúp xác định các tín hiệu đến từ các tế bào môi trường và láng giềng bên ngoài. Ví dụ nổi bật nhất của hiện tượng này – các thụ thể acetylcholine, nằm trên màng liên lạc về interneural. Quá trình chính nó là rất quan trọng. Protein thực hiện chức năng thụ và sự tương tác của họ với acetylcholine được thể hiện một cách cụ thể. Kết quả là, bên trong tín hiệu tế bào truyền đi. Tuy nhiên, sau một thời gian, dẫn truyền thần kinh phải được loại bỏ. Chỉ trong trường hợp này, các tế bào sẽ có thể nhận được tín hiệu mới. Nó được chức năng này được thực hiện bởi một trong những enzyme – atsetilholtnesteraza mà thực hiện tách lên cholin gidrolizatsetilholina và acetate.

    bảo vệ

    Hệ thống miễn dịch của bất kỳ chúng sanh nào có thể đáp ứng với sự xuất hiện của các hạt nước ngoài trong cơ thể. Trong trường hợp này, các protein được kích hoạt chức năng bảo vệ. Trong cơ thể, có một sự phát triển của một số lượng lớn các tế bào lympho, mà có thể làm hỏng các vi khuẩn, gây bệnh phân tử, và các tế bào ung thư khác. Một trong những nhóm các chất protein cụ thể thế hệ kế tiếp – globulin miễn dịch. Đây là một phân bổ của các chất này trong máu. Các globulin miễn dịch nhận ra các hạt nước ngoài và tạo thành một phức hợp giai đoạn phá hủy rất cụ thể cụ thể. Vì vậy, thực hiện chức năng bảo vệ của protein.

    cấu trúc

    Hàm lượng protein trong tế bào đi không được chú ý cho một người đàn ông. Một số chất là ý nghĩa chủ yếu về cấu trúc. Những protein này cung cấp độ bền cơ học để các mô cá nhân trong sinh vật. Trước hết, đó là collagen. Đây là thành phần chính của ma trận ngoại bào của tất cả các mô liên kết trong cơ thể sống.

    Cần lưu ý rằng trong động vật có vú collagen làm cho khoảng 25% tổng trọng lượng của protein. Tổng hợp các thành phần này xảy ra trong các nguyên bào sợi. Đây là những tế bào cơ bản của bất kỳ mô liên kết. Nguyên hình thành procollagen. Tài liệu này là một tiền thân và được xử lý hóa học, trong đó bao gồm trong quá trình oxy hóa của hydroxyproline để prolin dư lượng, và để gidrksilina dư lượng lysine. Collagen được sản xuất theo hình thức ba chuỗi peptide, xoắn vào một vòng xoáy.

    Đó là không phải tất cả các chức năng của protein. Sinh học – khá một khoa học phức tạp, cho phép bạn để xác định và nhận ra nhiều sự kiện diễn ra trong cơ thể con người. Mỗi chức năng của protein đóng một vai trò đặc biệt. Như vậy, trong các mô đàn hồi, chẳng hạn như phổi, thành mạch máu và da có sự đàn hồi. protein này có thể kéo dài và sau đó trở về hình dạng ban đầu của nó.

    protein động cơ

    Cơ bắp co – một quá trình mà trong đó việc chuyển đổi năng lượng dự trữ dưới dạng các phân tử ATP trong mối liên kết pyrophosphate macroergic, cụ thể là vào công việc cơ khí. Trong trường hợp này, các chức năng của protein trong tế bào hoạt động myosin và actin. Mỗi trong số họ có những đặc điểm riêng của mình.

    Myosin có cấu trúc không bình thường. protein này bao gồm sợi phần đủ dài – đuôi, cũng như một số người đứng đầu hình cầu. Myosin được phát hành, thường ở dạng của một hexame. Thành phần này được hình thành hoàn toàn nhiều chuỗi polypeptide giống hệt nhau, mỗi trong số đó có trọng lượng phân tử 200 ngàn, và cũng có 4 dây chuyền có trọng lượng phân tử chỉ 20.000 là.

    Actin là một protein hình cầu có khả năng polymerize. Khi tài liệu này tạo thành một cấu trúc đủ dài, được gọi là F-actin. Chỉ trong một thành phần nhà nước như vậy thường có thể tương tác với myosin.

    Ví dụ về các chức năng chính của protein

    Mỗi thứ hai trong các tế bào của một cơ thể sống xảy ra các quá trình khác nhau mà sẽ là không thể không có protein. Một ví dụ về chức năng thụ các chất đó có thể đóng vai trò như một tế bào nhắn adrenoceptor gia nhập adrenaline. Khi tiếp xúc với ánh sáng của phân hủy Rhodopsin. Hiện tượng này bắt đầu phản ứng và cây đũa quay.

    Một ví dụ về chức năng vận chuyển hemoglobin vận chuyển oxy đi khắp cơ thể sống.

    Tóm lại

    Đây là tất cả các chức năng sinh học cơ bản của protein. Mỗi trong số họ là rất quan trọng đối với cơ thể sống. Trong chức năng cụ thể này được thực hiện protein tương ứng. Sự vắng mặt của các thành phần như vậy có thể gây ra trục trặc của các cơ quan nhất định và các hệ thống trong cơ thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Proteein Trong Tế Bào (2) Chucnangproteintrongtebao1 Ppt
  • Hai Chức Năng Của Prôtêin
  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 5: Protein
  • Xác Định Con Đường Tín Hiệu Protein Kinase Hoạt Hóa Phân Bào (Mapk) Trong Ung Thư Biểu Mô Tuyến Giáp
  • Tyrosine Kinase, Chức Năng Sinh Học Và Vai Trò Trong Bệnh Ung Thư
  • Đaị Cương Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Quản Lý Hành Chính Là Gì? Vấn Đề Xoay Quanh Quản Lý Hành Chính
  • Chức Năng Của Cán Bộ Quản Lý Dự Án Đầu Tư
  • Ban Quản Lý Dự Án I
  • Quản Lý Dự Án Xây Dựng
  • Hiện nay có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho rằng quản lý là cai trị; cũng có quan niệm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển,chỉ huy .

    Loại hình thứ nhất: là việc con người điều khiển các vật hữu sinh không phải con người, để bắt chúng phải thực hiện ý đồ của người điều khiển. Loại hình này được gọi là quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên, quản lý môi trường… Ví dụ con người quản lý vật nuôi, cây trồng…

    Loại hình thứ hai: là việc con người điều khiển các vật vô tri vô giác để bắt chúng thực hiện ý đồ của người điều khiển. Loại hình này được gọi là quản lý kỹ thuật. Ví dụ, con người điều khiển các loại máy móc…

    Loại hình thứ ba: là việc con người điều khiển con người. Loại hình này được gọi là quản lý xã hội (hay quản lý con người).

    Quản lý xã hội được Mác coi là chức năng quản lý đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động. Hiện nay, khi nói đến quản lý, thường người ta chỉ nghĩ đến quản lý xã hội. Vì vậy sau đây chúng ta chỉ nghiên cứu loại hình quản lý thứ ba này, tức là quản lý xã hội.

    Từ đó có thể đưa ra khái niệm quản lý theo nghĩa hẹp (tức là quản lý xã hội)như sau: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý :

    Thứ nhất là yếu tố xã hội hay yếu tố con người: Yếu tố này xuất phát từ bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người. Các cơ quan, các viên chức lãnh đạo quản lý cần phải giải quyết một cách đúng đắn, có cơ sở khoa học và thực lực các mối quan hệ xã hội giữa người và người trong mọi lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước.

    Thứ hai là yếu tố chính trị: Yếu tố chính trị trong quản lý đòi hỏi những người quản lý phải quán triệt tư tưởng, phải biết mình quản lý cho giai cấp nào, cho nhà nước nào mà xác định theo chủ trương, chính sách nào.

    Thứ ba là yếu tố tổ chức: Tổ chức là khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ giữa những con người để thực hiện một công việc quản lý. Đó là sự sắp đặt một hệ thống bộ máy quản lý, quy định chức năng và thẩm quyền cho từng cơ quan trong bộ máy ấy.

    Thứ tư là yếu tố quyền uy: Quyền uy là thể thống nhất giữa quyền lực và uy tín trong quản lý. Quyền lực là công cụ để quản lý bao gồm một hệ thống pháp luật, điều lệ quy chế, nội quy, kỷ luật, kỷ cương… Uy tín là phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức và năng lực, biết tổ chức và điều hành công việc trung thực, thẳng thắn, có lối sống lành mạnh, có khả năng đoàn kết, có phong cách dân chủ tập thể, có ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu, nói đi đôi với làm, được quần chúng tín nhiệm. Chỉ có quyền lực hoặc chỉ có uy tín thì chưa đủ để quản lý, người quản lý cần có cả hai mặt thì quản lý mới đạt hiệu quả.

    Thứ năm là yếu tố thông tin: Trong quản lý thông tin là nguồn, là căn cứ để ra quyết định quản lý nhằm mang lại hiệu quả. Không có thông tin chính xác và kịp thời người quản lý sẽ bị tụt hậu, không bắt kịp nhịp độ phát triển của xã hội.

    Trong 5 yếu tố trên yếu tố xã hội, yếu tố chính trị là yếu tố xuất phát, là mục đích chính trị của quản lý; còn tổ chức, quyền uy, thông tin là 3 yếu tố biện pháp kỹ thuật và nghệ thuật quản lý.

    * Khái niệm về quản lý nhà nước

    Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật, đó là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp. Tuy hệ thống các cơ quan: quyền lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nước nhưng trong cơ chế vận hành của nó cũng có công tác hành chính như chế độ công vụ, công tác tổ chức cán bộ… và phần công tác này cũng phải tuân thủ những quy định thống nhất của nền hành chính nhà nước. Quyền hành pháp có 2 nội dung:

    -Một là lập quy được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện pháp luật.

    -Hai là quản lý hành chính nhà nước tức là tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế – xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội.

    Các cơ quan hành chính nhà nước thực thi quyền hành pháp, không có quyền lập pháp và tư pháp nhưng góp phần quan trọng vào quá trình lập pháp và tư pháp Như vậy, tổ chức và hoạt động hành chính có phạm vi rộng hơn việc thực thi quyền hành pháp.

    Nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý. Pháp luật là thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thực hiện thống nhất trong cả nước; tuân theo pháp luật là chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng.

    Như vậy, có thể hiểu: Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, do các cơ quan trong hệ thông quản lý hành chính từ Chính phủ ở Trung ương xuống Uỷ ban nhân dân các cấp ở địa phương tiên hành. Từ khái niệm về quản lý hành chính nhà nước như trên, chúng ta thấy quản lý hành chính có 3 nội dung sau:

    Quản lý hành chính nhà nước là sự hoạt động thực thi quyền hành pháp: Hành pháp là một trong ba quyền của quyền lực nhà nước thống nhất mang tính quyền lực chính trị. Chính phủ với tư cách là cơ quan hành pháp cao nhất (cơ quan chấp hành của Quốc hội) thực hiện quyền hành pháp cao nhất đối với toàn dân, toàn xã hội. Nhưng, Chính phủ thực hiện chức năng của mình thông qua hệ thống thể chế hành. chính của nền hành chính nhà nước cao nhất. Hành pháp là quyền lực chính trị; quản lý hành chính nhà nước là thực thi quyền hành pháp, nó phục tùng và phục vụ quyền hành pháp nhưng bản thân nó không phải là quyền lực chính trị.

    Quản lý hành chính là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh: Trong quản lý hành chính nhà nước, chức năng tổ chức là quan trọng nhất vì không có tổ chức thì không thể quản lý được. Nhà nước phải tổ chức như thế nào để mọi người đều có vị trí tích cực đối với xã hội, góp phần tạo ra lợi ích cho xã hội. Điều chỉnh là quy định về mặt pháp lý thể hiện bằng các quyết định quản lý về quy tắc, tiêu chuẩn, biện pháp… nhằm tạo ra sự phù hợp giữa chủ thể và khách thể quản lý, tạo sự cân bằng, cân đối giữa các mặt hoạt động của quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người.

    Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động bằng quyền lực nhà nước: Sự tác động bằng quyền lực nhà nước là sự tác động bằng pháp luật theo nguyên tắc pháp chế. Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương và tính tổ chức rất cao. Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

    Bản chất quản lý hành chính nhà nước: Bản chất của quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành. Điều hành là việc chỉ đạo trực tiếp đối tượng bị quản lý. Trong hoạt động điều hành, cơ quan quản lý có thể đụng những hình thức tác động trực tiếp và những hình thức ít mang tính pháp lý.Chấp hành thể hiện ở việc thực thiệnh trên tực từếcác luật và các văn bản mang tính luật của nhà nước.

    Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước

    Quản lý hành chính nhà nước mang những đặc điểm chủ yếu sau:

    Quản lý hành chính nhà nước mang tính quyền lực, tính tổ chức và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước: Khách thể quản lý phải phục tùng chủ thể quản lý một cách nghiêm túc; nếu không, phải truy cứu trách nhiệm và xử lý theo pháp luật một cách nghiêm minh, bình đẳng.

    Quản lý hành chính nhà nước có mục tiêu chiến lược, có chương trình và có kê’ hoạch để thực hiện mục tiêu: Đặc điểm này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải có chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm; có chỉ tiêu và biện pháp cụ thểđể thực hiện các chỉ tiêu.

    Quản lý hành chính nhà nước có tính chủ động, tính sáng tạo và linh hoạt cao: Tính chủ động, sáng tạo thể hiện ở hoạt động xây dựng các văn bản pháp quy hành chính điều chỉnh các hoạt động quản lý, điều chỉnh những quan hệ mới phát sinh chưa ổn định và chưa được luật điều chỉnh. Nó được quy định bởi chính bản thân sự phức tạp, phong phú đa dạng của khách thể quản lý. Những khách thểđó là mọi mặt của đời sống xã hội luôn biến động và phát triển, đòi hỏi phải ứng phó nhanh nhạy kịp thời, vận dụng sáng tạo pháp luật, tìm kiếm biện pháp giải quyết mọi tình huống phát sinh một cách có hiệu quả.

    Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính dưới luật: Tính dưới luật thể hiện ở chỗ bản thân hoạt động quản lý là hoạt động chấp hành pháp luật và điều hành trên cơ sở luật. Các quyết định ban hành trong hoạt động quản lý nhà nước phải phù hợp với pháp luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, nếu mâu thuẫn sẽ bịđình chỉ và bãi bỏ.

    Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được đảm bảo về phương diện tổ chức bộ máy và cơ sở vật chất mà trước hết là bộ máy cơ quan hành chính: Đây là hệ thống nhiều về số lượng cơ quan cũng như số lượng biên chế, phức tạp về tổ chức, cơ cấu và rất đa dạng về chức năng, nhiệm vụ cũng như hình thức, phương pháp hoạt động. Đặc điểm này thể hiện tiềm năng to lớn của quản lý hành chính nhà nước song cũng làm phát sinh những ảnh hưởng tiêu cực do bộ máy quá cồng kềnh. Đồng thời, hoạt động quản lý hành chính nhà nước được đảm bảo về nguồn lực và phương tiện tài chính dồi dào cũng như các tài sản khác (nhà xưởng, thiết bị, máy móc…).

    Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính kinh tế: Hoạt động kinh tế là chức năng quan trọng của bất kỳ nhà nước. Mọi nhà nước thực hiện chức năng quản lý hành chính của mình cũng là nhằm phục vụ nền kinh tế đó, nên có thể nói quản lý hành chính nhà nước mang tính kinh tế.

    Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính chính trị rõ rệt: Nhà nước là một tổ chức chính trị thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và ý chí đó được các cơ quan nhà nước đưa vào cuộc sống. Khi bộ máy nhà nước hoạt động, quản lý hành chính nhà nước là những kênh thực hiện quyền lực nhà nước. Vì vậy, khi giải quyết bất cứ vấn đề nào trong công tác quản lý hành chính luôn luôn phải tính đến nhiệm vụ và mục tiêu chính trị.

    Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính chuyên nghiệp, liên tục: Tính chuyên nghiệp đòi hỏi cán bộ quản lý không chỉ cần có kiến thức và lý luận quản lý hành chính nhà nước mà còn phải vững vàng về mặt pháp lý, hiểu biết về bộ máy nhà nước, có kinh nghiệm thực tiễn và đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về ngành, về lĩnh vực khoa học kỹ thuật hoặc sản xuất mà mình đảm nhiệm. Tính liên tục đòi hỏi hoạt động quản lý hành chính nhà nước phải được tiến hành thường xuyên liên tục không bị gián đoạn.

    Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thứ bậc chặt chẽ: Quản lý hành chính nhà nước là hệ thống thông suốt lừ trên xuống dưới, cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên (khác với các cơ quan dân cử hay hệ thống cơ quan xét xử).

    Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động không mang tính vụ lợi: Quản lý hành chính nhà nước có nhiệm vụ là phục vụ lợi ích công và lợi ích của công dân nên không được đòi hỏi người được phục vụ phải trả thù lao, không được theo đuổi mục tiêu doanh lợi nên hơn bất cứ tổ chức nào trong xã hội, nó phải mang tính chất vô tư, công tâm, trong sạch, liêm khiết nhất.

    Chức năng của quản lý hành chính nhà nước Theo Hoàng Anh Đức (1995), quản lý hành chính nhà nước có một số chức năng cơ bản như sau:

    Chức năng dự báo: là sự phán đoán trước trên cơ sở thông tin chính xác và kết luận khoa học về khả năng phát triển, thiếu nó không thể xác định trạng thái tương lai của xã hội vì thế nó có ý nghĩa đặc biệt để thực hiện tết các chức năng quản lý khác.

    Chức năng kế hoạch hóa: là xác định mục tiêu nhiệm vụ cụ thể về tỷ lệ, tốc độ, phường hướng và chỉ tiêu về ~số lượng,chất lượng cụ thể.

    Chức năng tổ chức: là hoạt tạo lập hệ. thống quản lý và bị quản lý. Tổ chức là hoạt động thành lập, giải thể, hợp pnhất, hân định chức năng, nhiệm vụ, xác định các quan hệ qua lại, lựa chọn sắp xếp cá n bộ.

    Chức năng điều chỉnh: là chức năng có mục đích thiết lập chế độ cho hoạt động nào đó mà không tác động trực tiếp đến nội dung hoạt động, nó được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản pháp quy.

    Chức năng lãnh đạo: là chức năng định hướng cho hoạt động quản lý, xác định cách xử sự của các đối tượng bị quản lý thông qua hình thức ban hành các chủ trương đường lối có tính chất chiến lược.

    Chức năng điều hành: là hoạt động chỉ đạo trực tiếp hành vi của đối tượng bị quản lý thông qua việc ban hành các quyết định cá biệt, cụ thể có tính chất tác nghiệp. Đây là chức năng đặc trưng của các chủ thể quản lý cấp “vĩ mô”.

    Chức năng phối hợp (còn gọi là chức năng điều hoà): là sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ của từng người, cơ quan, tổ chức thừa hành để thực hiện các nhiệm vụ chung. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, quá trình chuyên môn hoá sâu sắc, nhiều quá trình diễn ra đồng thời với xu hướng ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề phải giải quyết theo quan điểm tổng thể thì hoạt động điều hòa phối hợp càng có ý nghĩa quan trọng.

    Chức năng kiểm tra: là chức năng quản lý có ý nghĩa xác định xem thực tế hoạt động của đối tượng bị quản lý phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước. Nó cho phép phát hiện và loại bỏ các lệch lạc có thể có của đối tượng bị quản lý hoặc chỉnh lý lại các quyết định đã ban hành trước đây cho phù hợp với thực tế và yêu cầu của nhiệm vụ quản lý.

    Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước Việt Nam

    Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước là những tư tưởng chỉ đạo, làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động quản lý hành chính nhà nước Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước Việt Nam có các đặc điểm sau:

    -Nguyên tắc quản lý hành-chính nước mang tính pháp lý vì các nguyên tắc này thường được chỉ ra trong các nghị quyết của Đảng, được ghi nhận trong các văn bản của các cơ quan quản lý nhà nước; chúng còn được ghi nhận trong văn bản của các tổ chức xã hội khi được giao quyền hạn quản lý nhà nước hoặc tham gia quản lý nhà nước.

    – Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước mang tính khách quan khoa học bởi vì chúng được xây dựng, được rút ra từ thực tế cuộc sống trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật phát triển khách quan, cơ bản của đời sống xã hội.

    -Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước mang tính chủ quan bởi vì chúng là tư tưởng, chúng được con người xây dựng nên, được rút ra từ thực tế cuộc sống nhờ có con người thông qua bộ óc con người.

    – Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có tính ổn định cao bởi chúng phản ánh những nguyên lý cơ bản nhất của các quy luật cơ bản nhất của thực tiễn quản lý mà bản thân quy luật này mang tính ổn định. Tuy vậy, chúng không phải là bất biến bởi vì cuộc sống luôn luôn phát triển cùng với các quy luật đó.

    Theo Hoàng Anh Đức (1995), trong quản lý hành chính Nhà nước Việt Nam có 9 nguyên tắc cơ bản sau:

    a) Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Nhà nước.

    Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là sự lãnh đạo chính trị. Đảng đề ra đường lối chính trị (cương lĩnh chiến lược), những chủ trương phương hướng lớn, những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy và thông qua Nhà nước chúng được thể chế hoá thành pháp luật.

    Trước hết, Đảng lãnh đạo quản lý nhà nước bằng nghị quyết của các cơ quan của Đảng ở các cấp; trong đó vạch ra đường lối, chủ trương chính sách, nhiệm vụ cho quản lý nhà nước, cho các mắt xích khác nhau của bộ máy quản lý.

    Đảng còn lãnh đạo Nhà nước thông qua công tác cán bộ. Đảng kiểm tra thực hiện đường lối đào tạo cán bộ, giới thiệu những Đảng viên và người ngoài Đảng có đủ năng lực phẩm chất vào làm việc trong các cơ quan nhà nước trên cơ sở tôn trọng các thể chế của Nhà nước về tuyển dụng, bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ. Đảng lãnh đạo bằng công tác thuyết phục, giáo dục và bằng sự gương mẫu của cán bộ, Đảng viên. Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và theo đúng pháp luật.

    Ở nước ta, nguyên tắc Đảng cộng sản lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nguyên tắc hiến định. Điều 4, Hiến pháp 1992 ghi rõ: “Đảng cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

    b) Nguyên tắc tập trung dân chủ

    Nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ áp dụng cho quan hệ cấp trên với cấp dưới mà còn áp dụng cho mỗi cấp trong cơ cấu tổ chức, cũng như trong cơ chế hoạt động của nó. Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện ở các điểm chủ yếu sau:

    Về mặt tổ chức, quyền lực nhà nước tập trung thống nhất vào nhân dân và nhân dân là quyền lực tối cao của chủ thể nhà nước. Quyền lực ấy được nhân dân thực hiện một cách trực tiếp hoặc thông qua bộ máy nhà nước mà cơ quan cao nhất thực hiện quyền lực nhà nước là Quốc hội, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Các cơ quan nhà nước khác đều bắt nguồn từ Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội hoặc đều chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội. Ở địa phương, quyền lực này được tập trung vào Hội đồng nhân dân các cấp.

    Về mặt hoạt động, cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Các cơ quan nhà nước ở địa phương và các cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ quan nhà nước trung ương và các cơ quan cấp trên. Trong phạm vi thẩm quyền, các cơ quan nhà nước địa phương và các cơ quan nhà nước cấp dưới tự quyết định và chịu trách nhiệm về những vấn đề của địa phương. Các cơ quan nhà nước ở trung ương và các cơ quan cấp trên phải tạo điều kiện cho cơ quan ở địa phương và cấp dưới phát huy quyền chủ động, sáng tạo góp phần vào sự nghiệp chung của cả nước.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ còn đòi hỏi cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới trong việc thực hiện các quyết định và chỉ thị của cơ quan cấp trên, thực hiện chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên giữa cấp trên và cấp dưới; phải bảo đảm kỷ luật nghiêm minh trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ có nội dung chủ yếu như trên nhưng khi thực hiện phải vận dụng linh hoạt, tuỳ tình hình thực tế và điều kiện ở mỗi địa phương mà thay đổi cho phù hợp.

    Như vậy nghệ thuật của việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ là tìm tỷ lệ kết hợp tối ưu của hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của từng lĩnh vực từng ngành cụ thể trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh, thậm chí là từng vấn đề cụ thể.

    Nguyên tắc này được xác lập trong Điều 6, Hiến pháp 1992: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.

    c) Nguyên tắc thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước

    Nguyên tắc này thể hiện bản chất của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là của nhân dân, do dân và vì nhân dân. Thực hiện nguyên tắc đảm bảo sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý nhà nước không những tạo ra khả năng phát huy sức lực và trí tuệ của nhân dân mà còn là một trong những phương pháp tết để ngăn chặn tệ nạn quan liêu, thói cửa quyền trong bộ máy nhà nước.

    d) Nguyên tắc pháp chế

    Pháp chế xã hội chủ nghĩa là việc đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân phải tuân thủ pháp luật một cách triệt để và chính xác. Như vậy, pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng; là nguyên tắc xử sự của công dân và các chủ thể khác trong xã hội.

    Điều 12, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa… ”

    Để đảm bảo pháp chế trong quản lý nhà nước, những hoạt động đảm bảo pháp chế trở thành chức năng quan trọng của mọi cơ quan quản lý trong bộ máy nhà nước và ngay trong hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước cũng có những cơ quan chuyên thực hiện chức năng này.

    e) Nguyên tắc Kế hoạch hóa : Kế hoạch hoá là việc đưa các hoạt động trong quản lý thành kế hoạch. Chỉ khi các hoạt động quản lý được lập thành kế hoạch thì mới tránh được sự tuỳ tiện trong quản lý. Trong quản lý nhà nước, kế hoạch hoá là nguyên tắc cơ bản và cũng là đặc trưng của quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở chỗ: tất cả các cơ quan quản lý nhà nước đều tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch ở các cấp; hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước nhằm thực hiện kế hoạch hoá việc phát triển kinh tế – xã hội.

    h) Nguyên tác kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Nhà nước ta là một thể thống nhất. Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo 4 cấp hành chính và theo quy định là cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương; đó là quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương. Các đơn vị thuộc các ngành kinh tế, kỹ thuật đều nằm trên một địa bàn lãnh thổ nhất định. Đơn vịđó phải chịu sự quản lý của ngành (bộ), đồng thời đơn vịđó cũng phải chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương trên một số mặt theo chế độ quy định. Hai mặt đó tạo thành một sự thống nhất giữa cơ cấu kinh tế ngành với cơ cấu kinh tế lãnh thổ trong một cơ cấu kinh tế chung. Vì vậy, phải kết hợp quản lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ.

    Quản lý theo ngành và lãnh thổ phải có sự kết hợp chặt chẽ. Quản lý theo ngành mà tách rời yếu tố lãnh thổ sẽ hàm chứa nguy cơ phá vỡ sự thống nhất của các quan hệ kinh tế trên lãnh thổ, sử dụng đồng bộ nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, năng lượng tại chỗ, làm phát triển xu hướng tập trung, quan liêu, cục bộ và khép kín trong ngành. Quản lý theo lãnh thổ mà tách rời yếu tố ngành sẽ dẫn đến cục bộ địa phương, phá vỡ tính hệ thống từ trung ương xuống địa phương của các ngành.

    i) Nguyên tắc kết hợp quản lý theo quan hệ trực tuyến với chức năng trên cơ sở trực tuyến

    Tổ chức cơ quan hay hệ thống cơ quan theo nguyên tắc trực tuyến có nghĩa là mỗi cơ quan cấp dưới chỉ có một cơ quan cấp trên có thẩm quyền ra lệnh cho nó về mọi vấn đề để thực hiện mọi chức năng quản lý. Ởđây không có sự phân công lao động giữa những chủ thể quản lý trong việc lãnh đạo một đối tượng bị quản lý.

    Tổ chức quản lý theo nguyên tắc chức năng có nghĩa là mỗi chức năng hay một nhóm chức năng quản lý một đối tượng bị quản lý được giao cho một cơ quan chuyên môn cấp trên của đối tượng đó thực hiện. Như vậy một đối tượng bị quản lý sẽ đồng thời trực thuộc nhiều các cơ quan chức năng cấp trên.

    Nguyên tắc trực tuyến đơn giản, quan hệ trách nhiệm giữa cấp trên và cấp dưới rõ ràng, dễ dàng đảm bảo tính tổng thể đồng bộ trong quản lý. Nguyên tắc chức năng trong tổ chức hệ thống quản lý có ưu thế là có điều kiện tăng cường tính chuyên môn hoá trong quản lý, bảo đảm thực hiện có chất lượng từng chức năng quản lý riêng biệt. Song, tổ chức theo nguyên tắc chức năng làm phát sinh tình trạng một số đối lượng bị quản lý đồng thời trực thuộc nhiều quyền lực cấp trên, dễ nảy sinh mâu thuẫn trong quyết định của các cơ quan cấp trên đó trong việc chỉ đạo cùng một đối tượng bị quản lý vì thiếu sự phối hợp hoặc quan điểm cục bộ ngành, từđó dễ gây cản trở cho hoạt động của đối tượng bị quản lý; chế độ, trách nhiệm không rõ ràng. Trong thời đại hiện nay, khối lượng chung của hoạt động quản lý tăng nhanh, đồng thời với việc phức tạp hoá của các mối quan hệ quản lý nên việc tăng cường nguyên tắc chức năng nhằm bảo đảm chuyên môn hoá cao trong quản lý là cần thiết. Tuy vậy, vai trò quyết định vẫn thuộc về các cơ quan, bộ phận cấu thành theo nguyên tắc trực tuyến. Sở dĩ như vậy là vì:

    -Các cơ quan chức năng (ví dụ Uỷ ban nhà nước) cũng như các cơ quan quản lý ngành (ví dụ các Bộ) đều trực thuộc một trung tâm quản lý trực tuyến cơ bản (ví dụ Chính phủ).

    -Các cơ quan quản lý ngành và các tổ chức quản lý chức năng (vụ, cục, ban) đều trực thuộc Bộ trưởng, Thứ trưởng, tức là những người lãnh đạo trực tuyến.

    Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban nhà nước cũng là người lãnh đạo trực tuyến đối với các đơn vị, tổ chức cơ sở trực thuộc mà ở đây các cơ quan chức năng của Bộ chỉ đóng vai trò giúp Bộ trưởng chỉ đạo kiểm tra giám sát các cơ quan, đơn vị do Bộ quản lý.

    k) Nguyên tắc kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ thủ trưởng

    Tổ chức cơ quan theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo tức là bản thân cơ quan đó hoặc đứng đầu các cơ quan đó là một hội đồng, một uỷ ban hoặc một ban.

    Tổ chức theo chế độ tập thể bảo lãnh dễ làm nảy sinh tình trạng thiếu trách nhiệm của từng thành viên với góc độ cá nhân đối với quyết định đã thông qua.

    Tổ chức cơ quan theo chế độ thủ trưởng lãnh đạo tức là đứng đầu cơ quan là một người lãnh đạo.

    Chế độ thủ trưởng lãnh đạo có ưu thế là ra quyết định nhanh, đảm bảo tính kịp thời của quản lý, trách nhiệm đối với quyết định đã ban hành rõ ràng. Điều đó đòi hỏi người thủ trưởng phải thực sự có năng lực, am hiểu và nắm chắc mọi việc thuộc phạm vi thẩm quyền, quyết đoán, năng động và dám chịu trách nhiệm

    Tổ chức theo chế độ thủ trưởng lãnh đạo dễ làm nảy sinh khả năng xem xét vấn đề không toàn diện, thiếu sâu sắc, ra những quyết định vội vàng, phiến diện chủ quan, đôi khi cả lạm quyền.

    l) Nguyên tắc phân định chức năng và quyền hạn

    Nguyên tắc này đòi hỏi phải phân định rõ thẩm quyền mỗi cơ quan, mỗi cán bộ và quan hệ qua lại giữa các chủ thểđó với nhau. Việc tổ chức sắp xếp bộ máy quản lý phải căn cứ vào nhiệm vụ, chức năng quản lý, nhưng khi đã giao cho một cơ quan, một cán bộ thực hiện nhiệm vụ, chức năng nào đó thì phải trao cho họ quyền hạn bởi đó là phương tiện thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

    Nội dung quản lý hành chính nhà nước Việt Nam

    Các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền, có cơ cấu tổ chức và đội ngũ công chức, viên chức thực hiện chức năng hành pháp và quản lý hành chính nhà nước về các lĩnh vực và các mặt công tác do Đảng và Nhà nước đề ra, gồm 9 lĩnh vực sau :

    Công sở: Công sở là trụ sở cơ quan, là nơi làm việc của cơ quan; là nơi viên chức lãnh đạo, công chức và nhân viên thực thi công vụ, ban hành các quyết định hành chính và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính; là nơi giao tiếp, đối nội, đối ngoại…

    Công vụ: Công vụ là một dạng lao động xã hội của những người làm việc trong công sở nhà nước. Công vụ được xác định từ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước. Có 3 loại công vụ là lãnh đạo, chuyên gia và giúp việc. Số lượng công vụ được xác định từ số lượng nhiệm vụ và theo nguyên tắc một nhiệm vụ chỉ giao cho một người nhưng một người có thể đảm nhiệm nhiều chức vụ.

    Công chức: Công chức là người thực hiện công vụ nhà nước, được hưởng lương và phụ cấp theo công việc được giao từ ngân sách nhà nước.

    Công sản: Công sản là vốn và các điều kiện, phương tiện để hoạt động.

    Quyết định hành chính: Quyết định hành chính nhà nước là sự biểu thị ý chí của Nhà nước, là kết quả thực hiện quyền hành pháp, mang tính mệnh lệnh đơn phương của quyền lực nhà nước.

    Hình thức quản lý hành chính nhà nước Việt Nam

    Hiện nay trong quản lý hành chính nhà nước có 3 hình thức sau

    Trong quản lý điều hành, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước sử dụng rất nhiều phương pháp; nhưng không phải tất cả các phương pháp ấy đều là phương Pháp quản lý nhà nước. Có thể phân các phương pháp đó hành 2 nhóm:

    * Nhóm thứ nhất: bao gồm các phương pháp của các khoa học khác được cơ quan hành chính sử dụng trong công tác quản lý của mình, như:

    -Phương pháp kế hoạch hoá;

    -Phương pháp thống kê;

    -Phương pháp toán học;

    -Phương pháp tâm lý xã hội học;

    -Phương pháp sinh lý học.

    * Nhóm thứ hai: bao gồm các phương pháp của bản thân quản lý nhà nước:

    – Phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức (còn gọi là phương pháp tuyên truyền, giáo dục);

    -Phương pháp tổ chức (còn gọi là biện pháp tổ chức);

    -Phương pháp kinh tế;

    -Phương pháp hành chính.

    Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, trong 4 phương pháp của nhóm thứ hai này thì phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức được coi trọng hàng đầu, đòi hỏi phải được sử dụng thường xuyên, liên tục và nghiêm túc; phương pháp tổ chức là hết sức quan trọng và có tính cấp bách; phương pháp kinh tế là cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý nhà nước; phương pháp hành chính là rất cần thiết và khẩn trương nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Thiết Kế Trong Công Ty
  • Chức Năng Của Phòng Nhân Sự Trong Công Ty
  • Công Việc Và Chức Năng Của Phòng Quản Lý Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Hành Chính Nhân Sự
  • Tìm Hiểu Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Phòng Nhân Sự?
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 1310417

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Bai 2 Hàng Hóa Thị Trường Tiền Tệ Bai2 Tiet1 Ppt
  • Hàng Hóa Tiền Tệ Bai2Hanghoatientethitruongphaniitiente Ppt
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 7 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 2 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 2 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không làm ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tế điều đó đã dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích, truyện trung đại…. . Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ hoặc người mắc nợ của ngân hàng nếu tiêu xài phung phí, không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Do ngành du lịch phát triển, nên mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước ngoài. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại, như Mỹ – Việt Nam là: 1 USA = 23.143 VNĐ…………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tháp Nhu Cầu Maslow Là Gì? Khái Niệm Và Phân Tích Chi Tiết
  • Bài 5. Prôtêin Bai 5 Protein 1 Ppt
  • Cấu Trúc Và Tính Chất Vật Lý, Hóa Học Của Protein
  • Top 5 Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Dinh Dưỡng Của Mỹ Tốt Hiện Nay
  • Tpcn Bổ Sung Sung Protein Hữu Cơ Từ Đậu Nành Fancl Nhật Bản
  • Tổ Chức Nhân Sự Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tổ Chức Là Gì?
  • Khái Niệm Và Cơ Cấu Tổ Chức
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Của Công Đoàn Việt Nam
  • Tổ Chức, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Công Đoàn Việt Nam
  • Qđnd Việt Nam Có Các Quân Chủng Nào?
  • Chương 4Các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của nền hành chínhCơ quan quản lý nguồn nhân lực chung của nền hành chính nhà nước.Cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ)Cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương (tỉnh, huyện, xã)Cơ quan quản lý nguồn nhân lực chung của nền hành chính nhà nước.(xem sách)Tên gọi các cơ quan quản lý nguồn nhân lực chung.Tổ chức cơ quan quản lý nguồn nhân lực chungChức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý nguồn nhân lực (xem sách)Chính phủUỷ ban nhân dân tỉnhUỷ ban nhân dân huyệnUỷ ban nhân dân xãBan tổ chức cán bộ chính phủBan tổ chức chính quyền tỉnhBan tổ chức chính quyền huyệnBan tổ chức trung ươngBan tổ chức tỉnh ủyBan tổ chức huyện ủySự phân cấp quản lý trong hoạt động quản lý nhân sự giữa các cấp cơ quan hành chính2) – 3) xem sách p.101-108Cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ)Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của BộCơ cấu tổ chức cơ quan quản lý nguồn nhân lực của Bộ Trong hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước trung ương bao gồm nhiều loại khác nhau ( như đã nghiên cứu trong môn “tổ chức bộ máy hành chính nhà nước”.Nguồn nhân lực chung cho cả hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được quản lý và điều tiết bởi chính sách nhân sự vĩ mô do nhiều cơ quan nhà nước và cơ quan quản lý nguồn nhân lực chung ban hành.Do hoạt động quản lý của mỗi cơ quan hành chính có những nét khác biệt nên việc quản lý nguồn nhân lực của chúng vừa có những nét chung vừa có những nét cụ thể riêng.Sự hình thành các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính nhà nước gắn liền với lịch sử phát triển của các cơ quan hành chính nhà nước đó (bộ, cơ quan ngang bộ, và các loại cơ quan khác)Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể, có thể hình thành các bộ phận ở các cấp độ khác nhau trong cơ cấu tổ chức chung của Bộ. Có thể là một vụ-thông thường là vụ tổ chức – cán bộ.Tên gọi của vụ nầy cũng có thể khác nhau: vụ tổ chức – cán bộ là tên gọi tương đối phổ biến; cũng có thể gọi là Vụ lao động – tiền lương – cán bộ hay Vụ tổ chức – cán bộ và đào tạo. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của BộDựa trên quy định chung của hệ thống văn bản pháp luật của cơ quan nhân sự trung ương (quản lý nhân sự mang tính thống nhất).Dựa trên một số quy định cụ thể (riêng) theo quy chế hoạt động và tổ chức của cơ quan.Nghiên cứu, tham mưu, tư vấn cho người đứng đầu đơn vị về công tác nhân sự và tổ chức. Cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý nguồn nhân lực của Bộ Các cơ quan quản lý nhân sự của các bộ trước đây thường được tổ chức thành các bộ phận chức năng thực hiện các chức năng nhân sự riêng lẻ như đã nêu trên.Các đơn vị chức năng nhân sự cụ thể gọi chung là phòng. Trong quá trình cải cách hệ thống tổ chức nói chung và các cơ quan nhân sự nói riêng, các chuyên viên (cán bộ quản lý nhân sự) trực tiếp thực hiện chức năng nhân sự dưới sự lãnh đạo chung của một người.Tổ chức thông thường của một đơn vị quản lý nhân sự mô tả theo sơ đồ sau:Lãnh đạo Vụ tổ chức-cán bộPhòng tuyển dụngPhòng bố trí cán bộPhòng lưu trữPhòng đào tạoPhòng quan hệ lao độngCán bộ làm việc trong vụ tổ chức – cán bộCán bộ làm việc trong vụ tổ chức – án bộCác cơ quan quản lý nguồn nhân lực (có thể gọi là bộ phận) của cơ quan hành chính nhà nước thường được theo nguyên tác chức năng. Nhiều chức năng của quản lý nguồn nhân lực được giao cho các đơn vị chức năng trong một cơ quan phụ thuộc vào chức năng trao cho cơ quan nầy.Nhiều bộ thành lập đơn vị đào tạo, bồi dưỡng người lao động của Bộ mình dưới hình thức các đơn vị đào tạo ( trường hay trung tâm đào tạo, bồi dưỡng các bộ). Những đơn vị nầy trên thực tế không thực hiện chức năng quản lý nhân sự của bộ; đó chỉ là cơ quan sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn cho người lao động làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng. Ơû nhiều nước, các trung tâm, trường nầy không thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ.Cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương (tỉnh, huyện, xã)Các cơ quan quản lý nguồn nhân lực ở địa phươngMối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.Các cơ quan quản lý nguồn nhân lực ở địa phươngChính quyền địa phương các cấp có nhân sự riêng của mình. Tuỳ thuộc vào sự phân cấp quản lý nhân sự trong các cơ quan nhà nước mà chính quyền địa phương được quản lý nhân sự đến mức độ nào. Đó chính là sự phân cấp quản lý nhân sự các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng.Hệ thống chính quyền địa phương của mỗi nước được tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau. Tuỳ thuộc vào mức độ phân chia quyền lực giữa các cấp chính tuyền địa phương mà vấn đề nhân sự của các cấp chính quyền địa phương cũng sẽ khác nhau.Những nước theo mô hình hệ thống thứ bậc trong việc tổ chức chính quyền địa phương, vấn đề nhân sự của các cơ quan hành chính nhà nước tại các địa phương thường do cơ quan nhân sự chung quyết định.Những nước theo mô hình chính quyền địa phương tự qủan thì mức độ tự quyết về vấn đề nhân sự tuỳ thuộc vào mức độ quyề tự trị được trao. Một số nước nhân sự bầu cử do hội đồng bầu cử quyết định; trong khi đó, một số nước, kết quả bầu cử thường do cấp chính quyền cao hơn phê duyệt.Chính phủUỷ ban nhân dân tỉnhUỷ ban nhân dân huyệnUỷ ban nhân dân xãBan tổ chức cán bộ chính phủBan tổ chức chính quyền tỉnhBan tổ chức chính quyền huyệnBan tổ chức trung ươngBan tổ chức tỉnh ủyBan tổ chức huyện ủySự phân cấp quản lý trong hoạt động quản lý nhân sự giữa các cấp cơ quan hành chínhNgười lao động làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở nhiều nước được quản lý thống nhất. Trong khi đó ở một số nước, nhân sự làm việc cho các cơ quan hành chính trung ương được quản lý bằng những văn bản quy phạm pháp luật riêng; nhân sự làm việc tại các cấp chính quyền địa phương do địa phương quy định.Trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, cơ quan (bộ phận) quản lý nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của hệ thống đó.ví dụ: trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, cấp tỉnh có cơ quan quản lý nguồn nhân lực của tỉnh là Ban tổ chức chính quyền tỉnh. Các vấn đề nhân sự trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước do Ban nầy trực tiếp tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh để thực hiện. Bên cạnh đó, do thể chế chính trị ở nước ta, ở tỉnh còn có Ban tổ chức tỉnh uỷ, là cơ quan quản lý nhân sự chung nhất đối với tất cả những người lao đôïng làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nói riêng.Ơû cấp huyện cũng có cơ cấu tương tự. Phòng tổ chức chính quyền huyện có trách nhiệm quản lý những người lao động làm việc trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện. Phòng tổ chức huyện uỷ thực hiện chức năng quản lý nguồn nhân lực nói chung của cả hệ thống các cơ quan nhà nước trên địa bàn huyện.Nhân sự làm việc ở chính quyền địa phương cấp xã ở Việt nam có những nét đặc trưng riêng (vấn đề nầy được nghiên cứu riêng).Cấp xã không có tổ chức thực hiện quản lý nhân sự câùp xã. Đây cũng là một vấn đề quan tâm hiện chúng tôi thống kê, trung bình mỗi xã có khoảng 150 người hưởng các chế độ phụ cấp nhà nước. Họ không chính thức thuộc biên chế và không được xem như người của nhà nước (biên chế) nhưng trên thực tế có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước tại xã cũng như các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Nếu không quản lý (cả việc đào tạo, bồi dưỡng họ) thì sẽ hạn chế sự đóng góp của đội ngũ nầy).Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.Mối quan hệ giữa các cơ quan qủan lý nguồn nhân lực trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thiết lập trên cơ sở phân cấp hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong tổng thể nền chính. Mối quan hệ nầy có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau.Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nguồn nhân lực chung (trung ương) với các đơn vị quản lý nhân sự của các bộ, ngành và chính quyền địa phương. Mối quan hệ nầy được xác lập trên cơ sở phân cấp quản lý như đã nêu trên. Luật tổ chức Chính phủ quy định mối quan hệ nầy.Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhân sự của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương. Đó là: mối quan hệ giữa Ban tổ chức cán bộ chính phủ với các Vụ tổ chức cán bộ của các Bộ , ngành ở trung ương.Mối quan hệ giữa ban tổ chức chính quyền tỉnh với các bộ phận (phòng tổ chức cán bộ) của các sở, ban ngành tại tỉnh.Mối quan hệ giữa Phòng tổ chức chính quyền huyện với các đơn vị thuộc huyện.Mối quan hệ của các bộ phận quản lý nhân sự với nhau trong sự hợp tác, trao đổi kinh nghiệm quản lý và có thể tạo cơ hội để thuyên chuyển công tác trong các bộ, ngành.Mối quan hệ giữa các đơn vị tản quyền trung ương với địa phương trong phát triển và khai thác, sử dụng nguồn nhân lực.Mối quan hệ giữa các cơ quan nhân sự của Đảng, các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội khác.Mối quan hệ giữa quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội – thừơng do một cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện ( Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội) với các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính khác.Đây là vấn đề cần được quan tâm. Quản lý nguồn lao động xã hội là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước. Đó là phương thức, cách thức tác động của nhà nước đến nguồn lao động xã hội nhằm làm cho nó phát triển phù hợp với đòi hỏi chung của xã hội về lao động. Luật pháp của các nước đều đưa ra những quy định về quản lý nhà nước nguồn lao động xã hội.Bộ Luật Lao động nước ta quy định: quản lý nhà nước về lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:Nắm cung cầu và sự biến động cung cầu lao động làm cơ sở để quyết định chính sách quốc gia, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội;Ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật lao động;Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình quốc gia về việc làm, di dân xây dựng các vùng kinh tế mới; đưa người đi làm việc ở nước ngoài;Quyết định các chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chính sách khác về lao động xã hội; về xây dựng mối quan hệ lao động trong cac doanh nghiệp;Tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học vêø lao động, thống kê, thông tin về lao động và thị trường lao động, về mức sống, thu nhập của người lao động;Thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động và xử lý các vi phạm pháp luật lao động, giải quyết các tranh chấp lao động theo quy định của bộ luật nầy;Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với nước ngoài và tổ chức quốc tế trong lĩng vực lao động;Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước.Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về lao động đối với các ngành và các địa phương trong cả nước.Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình. Cơ quan lao động địa phương giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về lao động theo sự phân cấp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và Công đoàn các cấp tham gia giám sát việc quản lý Nhà nước về lao động theo quy định của pháp luật.Nhà nước tạo điều kiện cho người lao động sử dụng lao động được tham gia ý kiến với các cơ quan nhà nước về các vấn đề quản lý và sử dụng lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Tín Dụng Đối Với Các Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Fintech
  • Phát Triển Doanh Nghiệp Xã Hội Trong Cung Ứng Dịch Vụ Tài Chính Vi Mô Đáp Ứng Nhu Cầu Về Vốn Cho Hộ Gia Đình, Cá Nhân Và Doanh Nghiệp Siêu Nhỏ Ở Việt Nam
  • Bàn Về Các Chủ Thể Cung Cấp Dịch Vụ Tài Chính Vi Mô Ở Việt Nam
  • Phát Triển Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Chính Sách Bảo Hiểm Tiền Gửi
  • Tổ Chức Hoạt Động Tín Dụng Đối Với Các Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Fintech Tại Việt Nam
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 5 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Tác Hại Của Whey Protein
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Là Gì? Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước
  • Chuyên Đề 1: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Công Đoàn Bảo Vệ Người Lao Động Như Thế Nào?
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam
  • Cơ quan hành chính nhà nước – chủ thể quản lý hành chính nhà nước quan trọng nhất. Quản lý hành chính nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước.

    Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước quan trọng nhất là bởi vì:

    1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chủ yếu được coi là chức năng của cơ quan hành chính nhà nước

    Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan có chức năng khác nhau và chức năng của cơ quan hành chính nhà nước chính là chức năng quản lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành). Biểu hiện của tính chất chấp hành là mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật. Tính chất điều hành được thể hiện ở hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đảm bảo các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế.

    Để thực hiện chức năng này, cơ quan hành chính nhà nước tiến hành hoạt động quản lý trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, thông tin, thể tha, du lịch; quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường… thông qua các hình thức quản lí hành chính nhà nước như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật; ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật; thực hiện những hoạt động khác mang tính chất pháp lý; áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp; thực hiện những tác động về nghiệp vụ – kỹ thuật.

    Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước khác nhau mang tính chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể như các Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc có chức năng quản lí hành chính nhà nước về những ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước như Chính phủ. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng chỉ thực hiện trong phạm vi nhất định, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như:

    Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… Và việc thực hiện hoạt động đó là nhằm hoàn thành chức năng quản lý hành chính nhà nước. Đồng thời thông qua hoạt động chấp hành – điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước sẽ đảm bảo việc thực hiện pháp luật trong thực tiễn.

    2. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước thường xuyên nhất

    Các quan hệ thuộc phạm vi quản lý hành chính nhà nước bao gồm ba nhóm cơ bản, cụ thể là:

    – Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

    – Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.

    – Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.

    Có thể nói nhóm quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước là nhóm các quan hệ quản lí phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành- điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Bởi vì đây là nhóm quan hệ diễn ra thường xuyên nhất trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

    Nhóm quan hệ thứ ba cũng không phải nhóm quan hệ chủ đạo mà chỉ phát sinh trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. Như vậy có thể thấy rằng chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước một cách thường xuyên nhất.

    3. Các cơ quan hành chính nhà nước tham gia quản lý hành chính nhà nước với số lượng lớn

    Trong hệ thống các cơ quan của bộ máy nhà nước thì cơ quan hành chính nhà nước chiếm số lượng lớn nhất. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở theo Luật tổ chức Chính phủ năm 2001.

    Nếu căn cứ vào phạm vi lãnh thổ thì cơ quan hành chính nhà nước gồm có: Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương gồm Chính phủ thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên toàn bộ lãnh thổ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng của ngành mà mình đảm nhiệm.

    Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương gồm ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực trong phạm vi địa giới hành chính nhất định của địa phương mình. Các cơ quan hành chính nhà nước này có mối liên hệ mật thiết, thống nhất, chặt chẽ với nhau khi tham gia vào các hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Giúp cơ quan hành chính thực hiện tốt chức năng của mình là đội ngũ cán bộ, công chức khá lớn trong khi các chủ thể khác chỉ có một hoặc một số tham gia quản lí hành chính

    4. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có đầy đủ quyền năng để thực hiện tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước

    + Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    + Ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật.

    + Thực hiện những hoạt động khác mang tính chất pháp lý.

    + Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp.

    + Thực hiện những tác động về nghiệp vụ – kỹ thuật.

    Trong số các hình thức trên thì những hình thức mang tính chất pháp lý như: ban hành văn bản quy phạm phá luật, ban hành văn bản áp dụng pháp luật và thực hiện những hoạt động khác mang tính chất pháp lý có vai trò quan trọng, là những hình thức quản lý hành chính nhà nước trực tiếp. Và không phải tất cả các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đều có thể thực hiện bởi nó được pháp luật quy định rất cụ thể về chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục cũng như hiệu lực thi hành. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước, với những thẩm quyền được pháp luật quy định cụ thể mới có thể tiến hành tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước nêu trên đặc biệt là hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    Trong các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan hành chính nhà nước quy định những quy tắc chung trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước, xác định rõ thẩm quyền cũng như thủ tục tiến hành hoạt động của các chủ thể quản lý… Có rất nhiều văn bản như Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; Quyết định, chỉ thị của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Ủy ban nhân dân v.v…

    Thông qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cơ quan hành chính nhà nước không những tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để thực hiện chức năng của mình mà còn quy định thẩm quyền của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước khác. Đồng thời vai trò điều chỉnh của hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước qua đó được thể hiện một cách tương đối đầy đủ và sáng tạo.

    Như vậy có thể thấy rằng phạm vi hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước và khả năng sử dụng nó nhằm điều chỉnh các mặt khác nhau của hoạt động chấp hành-điều hành là rất lớn. Và cần phải thấy rằng, trong giai đoạn hiện nay, cơ quan hành chính nhà nước ban hành một số lượng khổng lồ các văn bản quy phạm pháp luật để điều chính hầu hết các lĩnh vực, các mặt khác nhau của đời sống xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Nhà Quản Trị
  • Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Quản Trị
  • Các Chức Năng Quản Trị
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Tiền là thứ dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng). Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.

    Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.

    Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học

    Định nghĩa

    Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ tương rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết. Từ đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế thừ các hoạt động thương mại. Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Trong kinh tế học, có một số khái niệm về tiền.

    * Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại.

    * Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dẽ dàng chuyển thành tiền mặt.

    * Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái phiếu, kỳ phiéu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Tác Hại Của Whey Protein
  • Phân Biệt Whey Protein Concentrate, Isolate Và Hydolyzed
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100