Top 1 # Ví Dụ Về Chức Năng Quản Lý Giáo Dục Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Ví Dụ Minh Hoạ Về Quản Lý Chất Lượng Sản Phẩm

MTV là doanh nghiệp nhỏ, chuyên gia công (nhà thầu phụ) chế biến các sản phẩm gỗ ngoài trời để xuất khẩu. Khách hàng trực tiếp của MTV là các doanh nghiệp chế biễn gỗ lớn ở trong vùng. Anh Vang duy trì khoảng 150 cán bộ và công nhân thường xuyên. Khi vào vụ sản xuất, anh tuyển thêm khoảng từ 150 đến 250 công nhân từ bên ngoài.

Nhu cầu phát triển nhưng điều kiện có hạn đã thôi thúc anh Vang tự tìm cách quản lý chất lượng sản phẩm của mình. Sau khi tìm hiểu sơ bộ, anh đã chọn chị Hoàn (*), 24 tuổi, thuộc bộ phận thống kê, làm cán bộ phụ trách tổ chức và triển khai công việc chất lượng cho MTV. Chị Hoàn được đi học một khoá về quản lý chất lượng do một công ty đánh giá chứng nhận tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh. Sau đó, chị Hoàn đã trình bày lại cho anh Vang, và đào tạo cho 1 nhóm 5 người được giao nhiệm vụ về quản lý chất lượng của MTV.

Nhóm chất lượng MTV đã rà soát kỹ lưỡng toàn bộ các công việc thực hiện hàng ngày theo từng công đoạn sản xuất: nhập gỗ tròn, xẻ gỗ thành tấm, luộc gỗ, xếp gỗ tấm thành kiện, sấy gỗ, xếp kho, tạo mẫu chi tiết, định hình chi tiết, bào, đục, phun sơn, lắp ráp, bao gói, xếp kho và giao hàng. Tại mỗi công việc, nhóm chất lượng đã trao đổi với cán bộ theo dõi kỹ thuật và xác định rất rõ các yêu cầu hay các tiêu chí chất lượng cụ thể. Họ lập thành các biểu mẫu và xây dựng các bài hướng dẫn, tập huấn công việc cụ thể đối với từng đối tượng: công nhân, tổ trưởng, quản lý, kiểm tra.

Nhóm chất lượng đã hình thành 1 hệ thống quản lý các tài liệu và hồ sơ, quy định các cán bộ và bộ phận chức năng với những trách nhiệm được phân cấp cụ thể. Họ đã tổ chức hướng dẫn cho các bộ phân đào tạo tập huấn các cán bộ, công nhân ở cấp thấp hơn về các kỹ năng trong sản xuất đảm bảo tiêu chí chất lượng sản phẩm ở bộ phận đó.

Đặc biệt, họ đã xây dựng quy trình đào tạo và quản lý hồ sơ đào tạo cho tất cả các cán bộ, công nhân viên, và cả công nhân tuyển dụng theo vụ mùa. Những công nhân vụ mùa đã được đào tạo năm trước sẽ được ưu tiên cho làm việc ở những năm tiếp theo.

Sau 1 năm xây dựng và thực hiện, anh Vang cho biết đã thấy rất yên tâm về hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo kiểu ISO 9001:2000 của MTV. Hiện nay, MTV đã bắt đầu xuất khẩu trực tiếp cho khách hàng nước ngoài, không còn phải gia công cho các doanh nghiệp lớn hơn trong vùng nữa, mặc dù MTV vẫn là công ty nhỏ.

(*) tên người và tên công ty đã được thay đổi.

Tìm Hiểu Về Quản Lý Giáo Dục

Quản lý giáo dục là gì? Trong bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ đến bạn những lý thuyết cơ bản nhất về quản lý giáo dục. 

1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 

Giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên, nhất là học sinh là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, công dân, vì thế đã có rất nhiều nhà giáo dục trong cũng như ngoài nước quan tâm.

1.1. Các tác giả nước ngoài 

Từ thời cổ đại: Khổng Tử (551- 479 TCN) đã rất coi trọng việc giáo dục đạo đức trong nhân cách con người. Đó là việc giáo dục lòng nhân ái và biết sống có trên dưới, trung thực, thủy chung, có kỷ cương từ gia đình đến xã hội, nhằm giữ trọn bổn phận của tôi đối với vua, vợ đối với chồng, con cái đối với cha mẹ, em đối với anh, trò đối với thầy, bạn bè đối với nhau vv… có được như vậy thì gia đình sẽ được yên ấm, xã hội được bình an… 

J.A. Comenxki (1952-1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã đưa ra phương pháp giáo dục đạo đức trong đó chú trọng đến hành vi là động cơ đạo đức. 

Makarenco, đại diện cho nền giáo dục đương đại, đã nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn như sự nêu gương, “giáo dục trong tập thể và giáo dục bằng tập thể” trong các tác phẩm bài ca sư phạm, các vấn đề giáo dục người công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Ông kết luận “Nhiệm vụ giáo dục của chúng ta nói tóm lại là giáo dục tập thể”. Điều đó có nghĩa là hình thành nhận thức, tình cảm, hành vi, thói quen tập thể; là góp phần tạo ra nhân sinh quan XHCN, bộ mặt đạo đức chủ yếu của con người mới XHCN để phân biệt với con người của giai cấp bóc lột- con người ích kỷ, cá nhân [33, 261].

Học thuyết giáo dục của Mác và Ăngghen là một bộ phận của chủ nghĩa cộng sản khoa học. Mác đã vạch ra quy luật tất yếu của xã hội tương lai là đào tạo, giáo dục những con người phát triển toàn diện, những người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra xung quanh, đồng thời có thể sáng tạo ra những cái mới theo khả năng của bản thân.

1.2. Các tác giả trong nước 

Ở nước ta, qua 1000 năm lịch sử, nền giáo dục vốn coi trọng giáo dục luân lý lễ nghĩa góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về QLGD, QLGDĐĐ cũng là một trong những trọng tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, nhà khoa học.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng vĩ đại của dân tộc, đã thường nhấn mạnh đến giá trị đạo đức cách mạng là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư…

Nghị quyết của hội nghị lần II của BCH TW đảng khóa VIII đã khẳng định: “Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành”.

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức như: chúng tôi Hà Nhất Thăng viết bài “Thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên-sinh viên- học sinh”- Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 29/2002. 

Ngoài ra, các tác giả khác như Đặng Quốc Bảo, Bùi Minh Hiền, Hồ Văn Liên qua các giáo trình, các tập bài giảng dành cho các lớp Cao học Quản lý giáo dục cũng đã đi sâu vào phân tích những vấn đề, những lĩnh vực cơ bản trong quản lý nhà trường, trong đó có QLGDĐĐ cho HS.

Tác giả Trần Viết Lưu đã viết về “Gắn cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với việc giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông”- Tạp chí Giáo dục (số 243/2010) 

Về công tác quản lý GDĐĐ cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu như: 

Tác giả Nguyễn Thị Đáp có đề tài: “Thực trạng việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Long Thành và một số giải pháp” năm 2004. 

Tác giả Nguyễn Hữu Minh đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ” năm 2009. 

Tác giả Tạ Thị Thu Hồng đã viết về “Thực trạng hoạt động quản lý giáo dục đạo đức học sinh một số trường trung cấp nghề tại Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2010. 

Qua những đề tài trên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác QLGDĐĐ của Hiệu trưởng tại các cơ sở giáo dục đào tạo khác nhau, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế từng cơ sở giáo dục.

Song vấn đề này, ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, về mặt lý luận và thực tiễn, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động quản lý, quản lý GDĐĐ, đánh giá thực trạng công tác quản lý GDĐĐ để đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện chất lượng công tác quản lý giáo dục đạo đức ở các trường THPT tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu trong giai đoạn hiện nay. Chúng tôi mong rằng đề tài “Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu” sẽ góp phần làm tư liệu tham khảo cho các nhà QLGD trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

2. Một số khái niệm cơ bản 

2.1. Quản lý 

2.1.1. Khái niệm quản lý 

Như đối với bất kì khái niệm nào, có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lý”. Quản lý, theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ), là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động.

Mary Parker Follett đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý và được trích dẫn khá nhiều là “Nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”. Một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi khác là “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực có sẵn của tổ chức để đạt những mục tiêu của tổ chức” (Stoner, 1995). Một tác giả khác cho rằng quản lý là “tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả (Griffin, 1998). 

Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó. 

Từ nhiều khái niệm cho thấy quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm. 

2.1.2. Chức năng quản lý 

Người quản lý thực hiện rất nhiều hoạt động. Những hoạt động này có thể khác nhau tùy theo tổ chức, hay cấp bậc của người quản lý. Tuy nhiên, có một số nhiệm vụ cơ bản, phổ biến cho mọi người quản lý ở tất cả các tổ chức.

Người ta thường gọi nhiệm vụ chung nhất này là chức năng quản lý. Tùy theo cách phân chia mà ta có thể có số lượng các chức năng khác nhau. Cho tới nay, nhiều chuyên gia quản lý nhất trí cho rằng có bốn chức năng quản lý cơ bản sau: 

Kế hoạch hóa 

Là cầu nối giữa vị trí của tổ chức và nơi mà tổ chức muốn tới. Đây được coi là cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý. Khi công việc của người quản lý trở nên phức tạp hơn và các nguồn tài nguyên trở nên khan hiếm, lập kế hoạch thậm chí trở nên quan trọng hơn đối với người quản lý và tổ chức. Người quản lý xây dựng kế hoạch bao gồm lựa chọn nhân sự, tổ chức các nguồn lực, kiểm tra và phối hợp của con người và các hoạt động để đạt được các mục tiêu đề ra. Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược (giải quyết mục tiêu chiến lược), kế hoạch chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật), và kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp). 

Tổ chức 

Tổ chức có nghĩa là đảm bảo tất cả các hoạt động và quá trình được sắp xếp để tổ chức có thể đạt được mục tiêu. Những khía cạnh quan trọng nhất của việc tổ chức là nhận đúng người, xác định trách nhiệm của họ, phác thảo một tổ chức và cấu trúc những người lao động biết họ làm việc ở đâu, họ làm việc và báo cáo với ai. Tổ chức cũng có nghĩa sắp xếp để các cá nhân có khả năng cùng làm việc và liên hệ một cách tích cực với nhau, đảm bảo một môi trường lành mạnh khuyến khích làm việc có hiệu quả. 

Chỉ đạo 

Người quản lý phải học những kĩ năng lãnh đạo để làm việc có hiệu quả. Họ phải học cách đối xử với mọi người như thế nào và làm thế nào để tạo ảnh hưởng và khuyến khích họ để đảm bảo rằng công việc được thực hiện. Tóm lại, người quản lý cũng phải là những nhà lãnh đạo hiệu quả. Người lao động trong mỗi tổ chức đều có ý kiến riêng của mình và sẽ làm những gì họ muốn nếu họ không thích các mệnh lệnh hoặc hướng dẫn của người quản lý. 

Chức năng lãnh đạo của người quản lý bao gồm: 

Định hướng 

Tạo ảnh hưởng 

Giám sát 

Hướng dẫn 

Kiểm tra

Trong tất cả các tổ chức, phải tiến hành kiểm tra ở một mức độ nhất định có một mức độ đối với con người, tài chính, thời gian và các hoạt động. Nội dung của những việc kiểm tra bao gồm việc đo lường và hiệu chỉnh những công việc được thực hiện bởi những người cấp dưới để đảm bảo rằng những kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả. 

Chức năng kiểm tra cho phép người quản lý xác định mức độ đáp ứng của tổ chức đối với những mục tiêu đã xác định. Từ đó lên kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Qua chức năng kiểm tra, người quản lý có thể biết họ đạt được mục tiêu đến đâu và lên kế hoạch để thực hiện tốt mục tiêu đề ra.

2.2. Quản lý giáo dục là gì?

Khái niệm quản lý giáo dục:

“Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những hoạt động tự giác, (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [23, tr.37, 38].

Trong tài liệu “Tổng quan về quản lý giáo dục” của trường cán bộ quản lý giáo dục – đào tạo có nêu: “ quản lý giáo dục là một loại hình được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.

Chủ thể quản lý giáo dục là nhà quản lý, tập thể các nhà quản lý hay là bộ máy quản lý giáo dục. Trong trường học đó là Hiệu trưởng (cùng với bộ máy giúp việc của Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên; các tổ chức đoàn thể.

Khách thể quản lý giáo dục bao gồm trường học hoặc là sự nghiệp giáo dục trên địa bàn (cơ quan quản lý giáo dục các cấp); trong đó có bốn thành tố của một hệ thống xã hội: tư tưởng (quan điểm đường lối, nguyên lí chính sách chế độ, giáo dục …) con người (giáo viên, cán bộ CNV và các hoạt động của họ) quá trình giáo dục (diễn ra trong không gian và thời gian…) vật chất, tài chính (trường sở trang thiết bị kĩ thuật phục vụ cho giáo dục, ngân sách, ngân quỹ).

Chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý một cách có ý thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra và chính các mục tiêu quản lý lại tham gia vào sự quy định bản chất của quản lý giáo dục.

Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý. Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa một kết luận tương đối thống nhất về năm chức năng cơ bản của quản lý là: Kế hoạch hóa, tổ chức, kích thích, kiểm tra, điều phối

Kế hoạch hóa: Lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch

Tổ chức: Tổ chức triển khai, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm

Kích thích: Khuyến khích, tạo động cơ

Kiểm tra: Kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích

Điều phối: Phối hợp, điều chỉnh

Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và là cơ sở để phân công lao động quản lý.

Vậy giáo dục là hoạt động có mục đích được tổ chức có kế hoạch, được chọn lựa về nội dung, phương pháp thực hiện có hệ thống nhằm tác động đến đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.

Mục tiêu quản lý giáo dục: 

Tương ứng với mục tiêu giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục cũng có hai cấp độ: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Đối với cấp vĩ mô, quản lý giáo dục là những tác động của chủ thể quản lý đến toàn bộ các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu của xã hội. Mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân là và cũng là yêu cầu của xã hội đối với ngành giáo dục là: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. 

Sản phẩm của giáo dục là nhân cách của người học sinh, của thế hệ trẻ. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (khóa VIII) chỉ rõ nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của giáo dục là “xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”. 

Như vậy, sản phẩm của giáo dục, sản phẩm của sự đào tạo của nhà trường là nhân cách người lao động mới có văn hóa, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, có chí tiến thủ lập nghiệp, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Điều 27 (luật giáo dục 2005) đã xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [3]. 

Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. 

Đối với cấp vi mô, chẳng hạn như nhà trường, người hiệu trưởng phải tập trung quản lý sao cho các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả tối đa trong điều kiện cho phép. Đó có thể là: 

Xây dựng đội ngũ giáo viên; 

Tranh thủ sự lãnh đạo và làm tốt công tác tham mưu với Đảng và chính quyền địa phương;

Xây dựng, bảo quản, phát huy hiệu lực sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy, giáo dục; 

Xây dựng các quy định, nề nếp sinh hoạt chuyên môn, hội họp, chế độ hành chính, văn thư trong nhà trường; 

Tổ chức xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh… 

2.3. Quản lý giáo dục đạo đức 

2.3.1. Đạo đức 

Đạo đức, hiểu theo nghĩa chung nhất, là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và toàn xã hội. Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo chuẩn mực đạo đức mà có”. 

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã lý giải nguồn gốc, bản chất của đạo đức một cách khoa học. Theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen, đạo đức được nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử. Đạo đức sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thống ý thức đạo đức, các quan hệ đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp.

Ngoài ra, đối với mỗi cá nhân, ý thức và hành vi đạo đức mang tính tự giác, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu bên trong; đồng thời chịu tác động của dư luận xã hội, sự kiểm tra của những người xung quanh. Từ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội. Đạo đức xã hội bao gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức. 

thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi, ứng xử của cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân.

Hành vi đạo đức là sự biểu hiện trong ứng xử của ý thức đạo đức mà con người đã nhận thức và lựa chọn. Đó là sự ứng xử trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với xã hội, với tự nhiên và với chính mình. Do hành đạo đức bắt nguồn từ ý thức đạo đức nên đạo đức thường tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, trình độ nhận thức của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, không phải cứ có trình độ học vấn cao là có văn hóa, đạo đức cao và ngược lại, bởi sự khác biệt và có khoảng cách giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức, giữa nhận thức và hành động của mỗi con người. 

Quan hệ đạo đức là hệ thống những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Quan hệ đạo đức thể hiện dưới các phạm trù bổn phận, lương tâm, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi…giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, cộng đồng và toàn xã hội.

2.3.2. Giáo dục đạo đức 

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: cá nhân với xã hội, cá nhân với lao động, cá nhân với môi trường tự nhiên và cá nhân với chính mình. Đó là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi công phu, kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần. Đó còn là quá trình hình thành và phát triển đạo đức của con người; là quá trình tác động qua lại giữa xã hội và cá nhân để chuyển hóa những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức – xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức, đáp ứng yêu cầu của xã hội. 

Quá trình giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin, hành vi, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập cho học sinh những thói quen hành vi đạo đức. Có thể hiểu, quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm biến đổi những nhu cầu tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức của cá nhân phù hợp với chuẩn mực đạo đức; góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của xã hội. 

Trong tất cả các mặt giáo dục, giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục “Tiên học lễ, Hậu học văn”. Ngày nay, phương châm “dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức. Bởi vậy, trong khi dạy tri thức chuyên môn nhất thiết phải dạy đạo đức nhằm tạo ra sản phẩm là những công dân vừa hồng vừa chuyên.

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin và thói quen đạo đức của học sinh giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển toàn diện.

Quá trình giáo dục đạo đức giống như các quá trình giáo dục khác là có sự tham gia của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục. Theo đó, chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh là thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục trong xã hội. Trong trường THPT, đó là tập thể sư phạm nhà trường, tổ chức Đoàn TNCS HCM… và người Hiệu trưởng với vai trò là người quản lý, chỉ đạo , phối hợp thực hiện các hoạt động GDĐĐ cho học sinh. Học sinh là đối tượng của quá trình giáo dục, chịu tác động của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác. Học sinh còn là chủ thể tích cực, tự giác tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và tham gia các hoạt động để thể hiện các giá trị đạo đức. 

2.3.3. Quản lý giáo dục đạo đức 

Nhà trường là một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục và đào tạo. GSTS Phạm Minh Hạc cho rằng “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, được nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục- với thế hệ trẻ- với trường học”. 

Trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, Hiệu trưởng cần đảm bảo sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương của cấp trên đối với hoạt động của nhà trường, giữ mối quan hệ mật thiết với các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương và lôi cuốn các tổ chức đó vào sự nghiệp trồng người. Xây dựng cơ cấu hoạt động của Hội cha mẹ học sinh nhằm góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó có giáo dục đạo đức.

Các Phó hiệu trưởng, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm, quản sinh, các tổ chức trong nhà trường như Công đoàn, Đoàn thanh niên cùng tham gia phối hợp và giúp Hiệu trưởng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.

Tính hiệu quả của quản lý công việc nhà trường, đặc biệt là quản lý giáo dục đạo đức, phụ thuộc trực tiếp vào sự phong phú của các phương pháp lao động quản lý của Hiệu trưởng, vào kỹ năng vận dụng trong từng tình huống những phương pháp và biện pháp bảo đảm hiệu quả thật sự. A.V. Makarenco đã khẳng định “mọi người đều có thể có tài nghệ điêu luyện nếu chúng ta giúp đỡ họ và nếu bản thân họ làm việc. Và chỉ có thể có tài nghệ điêu luyện trong một tập thể giáo dục tốt” [24, tr. 226]. 

Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trước hết thể hiện ở các chức năng quản lý giáo dục: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá.

Trình Bày Các Chức Năng Của Quản Lý Giáo Dục

Bản chất của quá trình quản lý giáo dục được thể hiện ở các chức năng quản lý. Chức năng quản lý là một phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của kế hoạch khoa học quản lý, là những loại hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, là những loại hoạt động quản lý đã được tách riêng, chuyên môn hoá.

Các chức năng quản lý là những hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích đến tập thể người. Các công trình nghiên cứu về kế hoạch khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 4 chức năng quản lý giáo dục. Đó là: Chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ chức, chức năng lãnh đạo, chức năng kiểm tra.

1. Chức năng kế hoạch hóa

Kế hoạch hóa là hoạch định các công việc cần thực hiện một cách chủ động và khoa học. Kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, giúp trù liệu cho việc thực hiện đạt kết quả tốt. Kế hoạch hoá là chức năng quan trọng nhất của việc lãnh đạo, soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất. Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý và bị quản lý trong nhà trường. Tùy theo cách tiếp cận mà ta có thể phân loại kế hoạch GD:

– Dựa vào yếu tố thời gian: có kế hoạch dài hạn (chiến lược GD) (10-15n), kế hoạch trung hạn ( 5-7 n), kế hoạch ngắn hạn (2-3n)

– Quy mô quản lí: kế hoạch tổng thể, kế hoạch bộ phận

– Nguồn lực GD: kế hoạch xây dựng đội ngũ, kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, kế hoạch quản lí tài chính…

– Hoạt động giáo dục: kế hoạch dạy học, kế hoạch Ngoại khóa, kế hoạch bồi dưỡng GV.

Lập kế hoạch là thiết kế các bước đi cho hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu nhưng nguồn lực đã có và sẽ khai thác. Lập kế hoạch có hai cấp: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Tuy nhiên, sự phân định kế hoạch vĩ mô hay vi mô tùy theo điều kiện, hoàn cảnh và theo thời gian cụ thể. Khi cần lập kế hoạch cần thực hiện theo các bước:

B1: Nhận thức đầy đủ về yêu cầu của công việc cần thực hiện.

B2: Phân tích trạng thái xuất phát của đối tượng quản lý.

B3: Xác định nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch. Đây là điều kiện làm cho kế hoạch khả thi.

B4: Xây dựng sơ đồ kế hoạch chung cho việc lập kế hoạch

Việc lập kế hoạch tốt sẽ giúp nhà quản lý giáo dục có kế hoạch khả năng ứng phó với sự bất định và sự thay đổi và cho phép nhà quản lý tập trung chú ý vào các mục tiêu và tìm cách tốt nhất, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức để đạt được mục tiêu và giúp nhà quản lý dễ dàng kiểm tra trong quá trình thực hiện.

Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?… Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp đại học. Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

2. Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục

Chức năng tổ chức của quản lý giáo dục là thiết kế cơ cấu, phương thức và quyền hạn hoạt động của các bộ phận (cơ quan) quản lý giáo dục sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Đây là chức năng phát huy vai trò, nhiệm vụ, sự vận hành và sức mạnh của tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của quản lý. Có thể nói tổ chức là một công cụ.

Nhiệm vụ của nó càng chuyên sâu thì khả năng hoạt động có hiệu quả càng cao. Sản phẩm của một tổ chức chỉ tồn tại bên ngoài nó. Một tổ chức phải có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng như quy chế, quy định, nội quy…và coi đây là điều kiện để tổ chức hoạt động có hiệu quả. Tổ chức giáo dục phải có sự bình đẳng trong quan hệ.

Một tổ chức tốt phải được xây dựng trên các nguyên tắc sau:

1. Xác định cơ cấu của tổ chức phải gắn với mục đích, mục tiêu của hệ thống, phải gắn với nội dung công việc cụ thể. Vì cơ cấu tổ chức là công cụ để thực hiện mục tiêu của hệ thống.

2. Việc xây dựng cơ cấu tổ chức phải bảo đảm nguyên tắc chuyên môn hóa, cân đối và dựa vào nhiệm vụ cụ thể. Con người trong cơ cấu tổ chức phải được sắp xếp phù hợp với chuyên ngành đào tạo. Phải cụ thể hóa nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của từng bộ phận, từng cá nhân.

3. Xây dựng tiêu chuẩn hóa trong tổ chức giúp cho nhà quản lý và các thành viên đánh giá và tự đánh giá công việc của mình.

Sự phát triển của quản lý đã dẫn đến việc hình thành các kiểu cơ cấu tổ chức quản lí kế hoạch khác nhau. Đó là: Kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến, kiểu chức năng, kiểu cơ cấu trực tuyến-chức năng; kiểu tổ chức chính thức và không chính thức; kiểu ma trận. Mỗi kiểu đều có ưu điểm, nhược điểm riêng. Tùy theo điều kiện cụ thể, có thể lựa chọn cho phù hợp để vận hành có hiệu quả.

3. Chức năng điều khiển chỉ đạo thực hiện

Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lí. Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển, chỉ đạo cho hệ thống hoạt động theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Người điều kiện hệ thống phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Quyết định là công cụ chính để điều khiển hệ thống. Ra quyết định là quá trình xác định vấn đề và lựa chọn một phương án tối ưu trong số những phương án khác. Việc ra quyết định quyết định xuyên suốt trong quá trình quản lí, từ việc lập kế hoạch, xây dựng tổ chức cho đến việc kiểm tra đánh giá.

4. Chức năng kiểm tra

Chức năng kiểm tra là chức năng cố hữu của quản lý. Không có kiểm tra sẽ không có quản lý. Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý. Kiểm tra là hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định.

Kiểm tra là một quá trình thường xuyên để phát hiện sai phạm, uốn nắn, giáo dục và ngăn chặn, xử lí. Mục đích của kiểm tra là xem xét hoạt động của cá nhân và tập thể có phù hợp với nhiệm vụ hay không và tìm ra ưu nhược điểm, nguyên nhân. Qua kiểm tra người quản lí cũng thấy được sự phù hợp giữa thực tế, nguồn lực và thời gian, phát hiện những nhân tố mới, những vấn đề đặt ra.

Nhà quản lí có thể kiểm tra các vấn đề như: kiểm tra kế hoạch, tài chính hay chuyên môn.

+ Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục

+ Bản chất và vai trò của quản lý và quản lý giáo dục

Các Ví Dụ Về Hàm Sum Trong Excel

Trong bài viết này Học Excel Online sẽ hướng dẫn các bạn cách tính tổng trong Excel bằng cách dùng tính năng AutoSum, và cách tạo công thức Sum để tính tổng các cột, hàng hoặc một dải ô đã được chọn. Ngoài ra, các bạn cũng sẽ học được cách tính tổng riêng những ô được hiển thị, tổng của các trang tính, đồng thời giúp bạn tìm hiểu thêm về những lý do khiến hàm Sum không hoạt động.

Cách tính tổng trong Excel dùng phép tính số học đơn giản

Nếu bạn cần tính nhanh tổng của một số ô, bạn có thể sử dụng Microsoft Excel như một chiếc máy tính mini. Chỉ cần dùng dấu (+) giống như trong phép toán số học thông thường. Ví dụ:

Tìm hiểu ngay: Địa chỉ học Excel tại Hà Nội

Cách sử dụng hàm Sum trong Excel

Excel SUM là một hàm toán học dùng để tính tổng. Cú pháp của hàm Sum như sau:

Sum (số thứ nhất, [số thứ 2] ,…) Đối số đầu tiên là bắt buộc, các cố khác là tùy chọn, bạn có thể áp dụng hàm Sum cho tối đa 225 số trong một công thức.

Trong công thức Sum của Excel, mỗi đối số có thể là một giá trị số dương hoặc số âm, một hàng hoặc một chuỗi các ô. Ví dụ như:

Hàm SUM trong Excel thực sự là lựa chọn hữu ích khi bạn cần cộng các giá trị nằm ở cách dải khác nhau hoặc tính tổng các giá trị số, các ô tham chiếu hay các dãy. Ví dụ: =SUM(A2:A4, A8:A9)

=SUM(A2:A6, A9, 10)

Ví dụ, bạn có thể kết hợp hàm SUM với đối số value_if_true thuộc hàm IF để cộng các giá trị trong cột B, C và D nếu tất cả các ô trong cùng hàng có cả ô chứa giá trị và ô trống:

Cách dùng AutoSum trong Excel:

Nếu bạn cần tính tổng một dãy các số hoặc tổng của vài hàng, cột liền kề thì có thể sử dụng công thức SUM được Microsoft Excel thiết kế sẵn.

Mẹo: Cách nhanh hơn để sử dụng AutoSum trong Excel là dùng phím tắt Alt + =. Bạn chỉ cần giữ phím Alt, nhấn phím Equal Sign, rồi Enter là hoàn thành việc chèn công thức Sum.

Ngoài tính tổng, bạn có thể sử dụng AutoSum để tự động nhập các hàm AVERAGE, COUNT, MAX, hay MIN.

Cách tính tổng một cột trong Excel

Để tính tổng các số liệu trong một cột cụ thể, bạn có thể sử dụng hàm SUM thông thường hoặc tính năng AutoSum. Ví dụ, để tính tổng các giá trị trong cột B, từ B2 đến B8, bạn nhập công thức SUM như sau:

Cách tính tổng toàn bộ cột với số hàng vô hạn không xác định được

Nếu cột mà bạn muốn tính tổng có số lượng dòng thay đổi (nghĩa là các ô mới có thể được thêm vào và những giá trị cõ sẵn có thể bị xóa đi), bạn có thể tính tổng toàn bộ cột bằng cách thêm tham chiếu cột, không xác định giới hạn trên và dưới. Ví dụ:

Tính tổng cột nhưng bỏ hàng tiêu đề hoặc một vài hàng đầu tiên

Kích thước bảng tính có giới hạn nhất định nên bạn có thể chỉ định giới hạn trên của công thức SUM dựa trên số hàng tối đa trong phiên bản Excel mà bạn dùng. Ví dụ: để tính tổng cột B mà không bao gồm hàng tiêu đề (loại trừ ô B1) bạn có thể sử dụng các công thức sau:

Trong Excel 2007, Excel 2010, Excel 2013 và Excel 2016:

= SUM (B2: B1048576)

Trong Excel 2003 và phiên bản thấp hơn:

= SUM (B2: B655366)

Cách tính tổng các hàng trong Excel

Tương tự như tính tổng một cột, bạn có thể tính tổng một hàng trong Excel bằng cách sử dụng hàm SUM, hoặc AutoSum để chèn công thức tính.

Ví dụ, để tính tổng các giá trị trong ô B2 đến D2, ta sử dụng công thức sau:

Cách tính tổng nhiều hàng trong Excel

= SUM (B2: D6) – tổng các giá trị từ hàng 2 đến hàng 6.

= SUM (B2: D3, B5: D6) – tổng các giá trị trong các hàng 2, 3, 5 và 6.

Cách tính tổng toàn bộ một hàng

Để tính tổng toàn bộ hàng với một số cột không xác định, ta cần cung cấp tham chiếu toàn bộ hàng cho công thức Excel Sum, ví dụ:

= SUM (2: 2) -SUM (A2: B2)

Sử dụng Excel Total Row để tính tổng dữ liệu trong một bảng:

Nếu dữ liệu của bạn được nằm trong một bảng tính của Excel, bạn có thể sử dụng tính năng Total Row để nhanh chóng tính tổng dữ liệu trong bảng và tổng số hiển thị trong hàng cuối cùng.

Một lợi thế lớn của việc sử dụng các bảng Excel là chúng tự động mở rộng để thêm được các hàng mới, do đó, bất kỳ dữ liệu mới nào bạn nhập vào trong một bảng sẽ được tự động thêm luôn vào công thức đã có.

Để chuyển đổi một dải ô bình thường thành một bảng, hãy nhấn chọn và ấn phím tắt Ctrl + T (hoặc nhấp vào Table trên tab Insert).

Cách thêm hàng total trong bảng Excel

Khi dữ liệu của bạn được sắp xếp trong một bảng, bạn có thể chèn thêm hàng total theo cách sau:

Khóa học lập trình VBA trong Excel

Cách tính tổng dữ liệu trong bảng

Khi tổng số hàng xuất hiện ở cuối bảng, Excel sẽ tự xác định cách tính toán dữ liệu trong bảng.

Nếu bạn muốn thực hiện một số phép tính khác, hãy chọn chức năng tương ứng từ danh sách thả xuống như Average, Count, Max, Min, …

Nếu hàng total tự động hiển thị tổng cho một cột mà bạn không cần dùng đến tổng đó thì mở danh sách thả xuống của cột đó và chọn None.

Chú thích. Khi sử dụng tính năng Excel Total Row để tính tổng một cột, tổng số Excel chỉ có giá trị trong hàng hiển thị bằng cách chèn hàm SUBTOTAL với đối số đầu tiên là 109.

Cách tính tổng các ô được (có thể nhìn thấy được) trong Excel

Đôi khi, để việc phân tích dữ liệu hiệu quả hơn, bạn cần phải lọc hoặc ẩn một số dữ liệu trong bảng tính. Một công thức tổng hợp thông thường sẽ không hoạt động trong trường hợp này bởi vì hàm Excel SUM sẽ cộng tất cả các giá trị trong phạm vi được chỉ định bao gồm các hàng ẩn (đã lọc ra).

Nếu bạn muốn tính tổng các ô hiển thị trong một danh sách được lọc, cách nhanh nhất là đưa chúng vào một bảng Excel, và sau đó bật tính năng Excel Total Row. Như đã trình bày trong ví dụ trước, chọn Sum ở hàng total của bảng rồi chèn chức năng SUBTOTAL bỏ qua các ô ẩn.

Một cách khác để tính tổng các ô đã lọc trong Excel là áp dụng AutoFilter cho dữ liệu của bạn theo cách thủ công bằng cách nhấp vào nút Filter trên tab Data. Và sau đó, tự viết một công thức Subtotal.

Hàm SUBTOTAL có cú pháp sau:

SUBTOTAL (function_num, ref1, [ref2], …) Trong đó, Function_num – một số từ 1 đến 11 hoặc từ 101 đến 111 dùng để xác định chức năng sẽ được dùng cho việc tính tổng phụ.

Bạn có thể tìm thấy danh sách đầy đủ các chức năng trên chúng tôi Bây giờ, chúng ta chỉ quan tâm đến chức năng SUM, được định nghĩa bởi các số 9 và 109. Cả hai số này loại trừ các hàng được lọc ra. Sự khác biệt là 9 bao gồm các ô ẩn thủ công (tức là bạn chuột phải rồi chọn Hide), trong khi đó 109 không bao gồm các ô đó.

Vì vậy, nếu bạn muốn tính tổng cho riêng những hàng được hiển thị, không tính những hàng đã bị ẩn thì có thể dụng 109 làm đối số cho công thức Subtotal của bạn.

Ref1, Ref2, … – ô hoặc dãy mà bạn muốn tính tổng phụ. Đối số Ref đầu tiên là bắt buộc, những đối số tiếp theo (lên đến 254) là tùy chọn. Trong ví dụ này, ta sẽ tính tổng các ô có thể nhìn thấy trong khoảng B2: B14 bằng cách sử dụng công thức sau:

Cách sử dụng running total (tính tổng lũy tích) trong Excel

Để tính tổng lũy tích trong Excel, bạn viết công thức SUM như bình thường và sử dụng thông minh các tham chiếu của các ô một các tuyệt đối và tương đối.

Ví dụ, muốn hiển thị sô lũy tích của các số trong cột B, ta nhập công thức sau và ô B2 rồi sao chép sang các ô khác:

Cách tính tổng cho nhiều trang tính trên cùng bảng tính

Nếu bạn có một vài bảng tính với bố cũng và dữ liệu tương tự nhau, bạn có thể cộng tổng các dữ liệu trong cùng một ô hoặc dải ô ở các trang tính khác nhau với cùng một công thức SUM.

Chúng ta có một công thức gọi là tham chiếu 3-D:

=SUM(Jan:Apr!B6)

=SUM(Jan:Apr!B2:B5)

Tính tổng có điều kiện trong Excel

Nếu công việc của bạn yêu cầu tính tổng các ô đáp ứng điều kiện nhất định nào đó thì bạn có thể sử dụng hàm SUMIF hoặc SUMIFS tương ứng.

Ví dụ: công thức SUMIF sau chỉ cộng tổng các giá trị trong cột B có trạng thái “Completed” (đã hoàn thành) trong cột C, ta có:

Excel SUM không hoạt động – lý do và giải pháp

Khi bạn tính tổng của một vài giá trị hoặc một số cột trong bảng tính Excel nhưng công thức SUM đơn giản không hoạt động thì có thể là do những lý do sau đây:

1. #Name error xuất hiện thay vì kết quả mong đợi

Đó là lỗi dễ sửa chữa nhất. 99 trên 100 trường hợp, lỗi #Name error chỉ ra rằng hàm SUM bị sai chính tả.

2. Một số con số không được cộng vào tổng chung

Một lý do phổ biến khác khiến một công thức Sum (hoặc Excel AutoSum) không hoạt động là các con số được định dạng dưới dạng các giá trị văn bản. Thoạt nhìn, chúng trông giống như các con số bình thường, nhưng Microsoft Excel nhận dạng chúng như chuỗi văn bản nên không đưa chúng vào tính toán.

3. Hàm Excel SUM trả về kết quả bằng 0

4. Công thức Excel Sum trả về một con số cao hơn dự kiến

Nếu công thức Sum của bạn sẽ trả về một số lớn hơn dự kiến, bạn cần nhớ rằng hàm SUM trong Excel sẽ thêm cả các ô ẩn nà ta không nhìn thấy được. Trong trường hợp này, bạn có thể sử dụng chức năng Subtotal để thay thế công thức SUM.

5. Công thức Excel SUM không cập nhật

Khi một công thức SUM trong Excel tiếp tục hiển thị tổng số cũ ngay cả sau khi bạn đã cập nhật các giá trị cần tính tổng mới, nhiều khả năng Calculation Mode được đặt thành Manual. Để khắc phục sự cố này, hãy chuyển đến tab Formulas, nhấp vào mũi tên thả xuống bên cạnh Calculate Options, rồi nhấn Automatic.

Ngoài ra để ứng dụng Excel vào công việc một cách hiệu quả thì bạn còn phải sử dụng tốt các hàm, các công cụ khác của Excel.

Một số hàm cơ bản thường gặp như:

SUMIF, SUMIFS để tính tổng theo 1 điều kiện, nhiều điều kiện

COUNTIF, COUNTIFS để thống kê, đếm theo một điều kiện, nhiều điều kiện

Các hàm xử lý dữ liệu dạng chuỗi, dạng ngày tháng, dạng số…

Các hàm dò tìm tham chiếu Index+Match, hàm SUMPRODUCT…

Một số công cụ hay sử dụng như:

Định dạng theo điều kiện với Conditional formatting

Thiết lập điều kiện nhập dữ liệu với Data Validation

Cách đặt Name và sử dụng Name trong công thức

Lập báo cáo với Pivot Table…

Rất nhiều kiến thức phải không nào? Toàn bộ những kiến thức này các bạn đều có thể học được trong khóa học Excel từ cơ bản đến chuyên gia dành cho người đi làm