Top 8 # Ví Dụ Về Chức Năng Tổ Chức Xã Hội Của Văn Hóa Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Tổ Chức Là Gì? Ví Dụ Về Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức

Tổ chức là gì? Khái niệm chi tiết

Khái niệm chung:

Tổ chức là việc sắp xếp, bố trí các công việc theo vị trí và giao quyền hạn. Sau đó phân phối các nguồn lực của tổ chức đó sao cho chúng góp phần một cách tích cực và có hiệu quả vào những mục tiêu chung của doanh nghiệp.

Có rất nhiều định nghĩa về tổ chức, tùy vào mỗi ngành nghề mà có một định nghĩa khác nhau. Ở đây mình sẽ liệt kê một vài khái niệm cho các bạn nào cần. Chủ yếu tất cả đều đúng nhưng chỉ áp dụng cho từng lĩnh vực chuyên môn riêng.

Ngành triết học:

Theo triết học thì tổ chức chính là cơ cấu tồn tại của sự vật. Mọi sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định của các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy chính là thuộc tính của bản thân các sự vật”

Ví dụ tổ chức theo triết học:

Thái dương hệ, trái đất, giới sinh vật, thế giới con người chính là những tổ chức.

Ngành nhân loại học

Nhân loại học thì khẳng định từ khi con người xuất hiện trên trái đất thì tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện. Và tổ chức ấy không ngừng được hoàn thiện và phát triển cùng với nhân loại. Từ đó có thể thấy tổ chức là một tập thể của con người được tập hợp nhau lại để cùng thực hiện một nhiệm vụ chung nào đó. Như vậy có thể nhận định, tổ chức là một tập thể và có mục tiêu, nhiệm vụ chung được xác định trước.

Ví dụ tổ chức theo nhân loại học:

Trường học là một tổ chức với mục đích cung cấp kiến thức cho người đi học.

Các nội dung của tổ chức

Tổ chức gồm hai nội dung cơ bản là tổ chức cơ cấu và tổ chức quá trình. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về 2 khái niệm này.

Tổ chức cơ cấu gồm: tổ chức cơ cấu quản lý ( chủ thể quản lý). Tổ chức cơ cấu sản xuất- kinh doanh( đối tượng bị quản lý)

Tổ chức quá trình: tổ chức quá trình quản trị và tổ chức quá trình sản xuất- kinh doanh.

Tổ chức cơ cấu bộ máy là gì?

Tổ chức về cơ cấu bộ máy là việc phân chia hệ thống quản lý thành các bộ phận và được xác định các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Có nghĩa là xác định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của các bộ phận nằm trong bộ máy được lựa chọn và bố trí cán bộ vào các cương vị phụ trách các bộ phận đó.

Xác định những hoạt động cần thiết để đạt được những mục tiêu chung đề ra của tổ chức đó.

Các bộ phận này được nhóm gộp lại thành các phòng ban và các bộ phận.

Các hoạt động được giao quyền hạn và trách nhiệm để thực hiện.

Các mối quan hệ được thực hiện theo chiều ngang và chiều dọc bên trong tổ chức.

Những đặc điểm chung của tổ chức.

Kết hợp với các nỗ lực của các thành viên: khi các cá nhân cùng tham gia và cùng phối hợp những nỗ lực vật chất hay trí tuệ thì mọi việc có phức tạp hoặc khó khăn cũng sẽ hoàn thành rất tốt. Ví dụ như việc chinh phục mặt trăng, xây kim tự tháp… là những việc to lớn và vượt xa khả năng của các cá nhân.

Có mục đích chung: Sự kết hợp thì không thể thiếu được sự nỗ lực nếu người tham gia không cùng nhau nhất trí cho những quyền lợi chung. Đó chính là một tiêu điểm chung để cùng tập hợp.

Phân công lao động: Là sự phân chia các hệ thống các nhiệm vụ phức tạp thành cụ thể và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả. Phân công lao động tạo điều kiện cho các thành viên trở thành tài giỏi hơn và chuyên một công việc cụ thể.

Hệ thống thứ bậc quyền lực: quyền lực là quyền ra quyết định và điều khiển hành động của người khác. Nếu không có thứ bậc rõ ràng thì sự phối hợp công việc sẽ rất khó khăn. Một trong những biểu hiện đó chính là mệnh lệnh và phục tùng.

Môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh

Mục đích, chức năng hoạt động doanh nghiệp

Các yếu tố kĩ thuật và công nghệ sản xuất.

Trình độ quản lý, nhân viên và trang thiết bị quản lý.

Các yếu tố khác: quy định của pháp luật, phạm vi hoạt động, thị trường của doanh nghiệp đó.

Video về tổng hợp kiến thức về tổ chức

Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ban Văn Hóa – Xã Hội

                            HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM VIỆT NAM              

                                       HỘI ĐỒNG TOÀN QUỐC

                                   

                                             QUY CHẾ

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

Căn cứ vào Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội Đồng toàn Quốc họ phạm Việt nam đã được thông qua ngày 02/8/2015, tại Đại Hội VII nhiệm kỳ (2015 – 2020).Nay, HĐTQHP Việt Nam ban hành Quy Chế “Tổ chức và hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội” để thống nhất thực hiện.

CHƯƠNG I

                          CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC

                                CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

         Điều 1. Chức năng

         Ban Văn hóa – Xã hội là một ban chuyên trách của HĐTQHP Việt Nam  có chức năng giúp HĐTQHP VN duy trì, hướng dẫn, thực hiện các hoạt đông dòng họ thuộc lĩnh vực văn hóa – xã hội, nhằm thống nhất hoạt động trong các cấp hội đồng và trong toàn dòng họ Pham Việt nam.

         Điều 2. Nhiệm vụ

          Ban Văn hóa – Xã hội có những nhiệm vụ sau:

– Hướng dẫn, kiểm tra, duy trì các hoạt động văn hóa thờ cúng tổ tiên, văn hóa ứng xử , tri ân, sẻ chia, khuyến tài, khuyến đức, khuyến học, trong dòng họ.

– Xây dựng các chương trình hoạt động trong các lĩnh vực Văn hóa, Văn nghệ, Thể thao để trình HĐTQ HP VN; tổ chức, hứơng dẫn và thực hiện các chương trình đó theo chủ trương và quyết định của HĐTQ HPVN .

– Trình Chủ tịch HĐTQ HPVN để xét quyết định thành lập, giải thể các  loại hình câu lạc bộ, các tổ chức khác trực thuộc HĐTQHPVN hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa – Xã hội; trình Chủ tịch HĐTQ HPVN phê duyệt các Quy chế, Điều lệ hoạt động của các Câu lạc bộ và các tổ chức khác thuộc thẩm quyền của HĐTQ.

– Tập hợp, lập danh sách đề xuất khen thưởng, tôn vinh những cá nhân, tổ chức có thành tích đóng góp lớn cho dòng họ, cho xã hội; những cá nhân xuất sắc về tài, đức, học tập; danh sách cần tri ân, sẻ chia,… để trình Thường trực HĐTQHPVN xem xét quyết định.

– Sơ kết, tổng kết hoạt động Văn hóa – Xã hội theo định kỳ, hàng năm để báo cáo Chủ tịch và Thường trực HĐTQHPVN.

       Điều 3. Tổ chức

       Ban Văn hóa – Xã hội có Trưởng ban, các phó ban và các ủy viên tại các Hội đồng họ Phạm địa phương. Ủy viên Ban Văn Hóa – Xã hội là Ủy viên HĐTQHP VN.

                                              CHƯƠNG II

NHIỆM VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

Điều 4. Nhiệm vụ của Trưởng Ban

– Trưởng ban Văn hóa – Xã hội có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cho các phó ban và các ủy viên  thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ban, và thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Chủ tịch HĐTQHPVN giao.

         – Xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác hàng năm, hàng kỳ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của ban, trình Chủ tịch HĐTQHPVN phê duyệt; tổ chức triển khai, thực hiện các chương trình, kế hoạch đó sau khi đã được Thường trực HĐTQ thông qua và Chủ tịch phê duyêt.

– Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch HĐTQHPVN về mọi hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội.

          Điều 5. Nhiệm vụ thành viên

          – Phó ban là người giúp việc cho Trưởng ban, thay mặt Trưởng ban giải quyết công việc khi được Trưởng ban ủy quyền.

          – Các Ủy viên của Ban VHXH chấp hành sự phân công của Trưởng ban, hoàn thành các phần việc khi được phân công.

– Tham gia xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động Văn hóa – Xã hội của Ban.

– Tham dự các hoạt động của đia phương và các Câu lạc bộ, tổ chức khác  khi được Trưởng ban phân công.

                                        CHƯƠNG III

NGUYÊN TẮC  HOẠT ĐỘNG CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

CHƯƠNG IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 8. Quy chế tổ chức hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội là căn cứ để Ban hoạt động và thực hiện nhiệm vụ được Thường trực HĐTQHPVN và Chủ tịch HĐTQ phân công.

Điều 9.  Trong quá trình thực hiện nếu có điều khoản nào chưa hợp lý Ban Văn hóa – Xã hội sẽ đề xuất sửa đổi, bổ sung trình TTHĐTQHPVN phê duyệt.

Hà nội ngày 22 tháng 8 năm 2017

T/M HỘI ĐỒNG TOÀN QUỐC HPVN

 Chủ tịch

( Đã ký)

                                      TS,  Phạm Vũ Câu                                                                   

10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung

các chức năng của xã hội họ được định hướng để đảm bảo sự tồn tại và tiến bộ của các cá nhân. Một số quan trọng nhất là để đáp ứng nhu cầu cơ bản, giữ gìn trật tự hoặc giáo dục.

Theo nghĩa đó, xã hội là một hình thức tổ chức trong đó mọi người đồng ý và sắp xếp lối sống của họ và cách họ sẽ quản lý tài nguyên của họ.

Xã hội là đối tượng nghiên cứu của các nhà xã hội học và là mối quan tâm của nhiều nhà triết học trong suốt lịch sử.

10 chức năng chính của xã hội

Trong số các chức năng chính d xã hội có thể được đề cập:

1. Đáp ứng nhu cầu cơ bản

Đó là chức năng chính của xã hội; tổ chức mọi người và hành động của họ theo cách mà họ đã đảm bảo thực phẩm, nơi trú ẩn và bảo vệ quan trọng.

Ở đây cũng vậy, sức khỏe cộng đồng, mặc dù nó thường rơi vào Nhà nước, là nhu cầu chính của những người có tổ chức; đảm bảo vệ sinh để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh tật và chăm sóc y tế nếu cần thiết.

2. Bảo quản trật tự

Họ trở thành một tổ chức xã hội vì vai trò của họ là đáp ứng nhu cầu cơ bản của mọi người.

Trật tự cũng đề cập đến các quy tắc, quy tắc hoặc luật hướng dẫn hành vi của con người trong các giai đoạn và tình huống khác nhau của cuộc đời họ từ khi sinh ra cho đến khi chết.

Một số triết gia đã đề xuất rằng đây là chức năng chính của tổ chức con người trong xã hội: kiểm soát những xung động phi lý và hoang dã của anh ta.

3. Quản lý giáo dục

Trong xã hội, các cá nhân có được kiến ​​thức cần thiết để tương tác với các đồng nghiệp của họ, trong trường hợp đầu tiên. Nhưng sau đó, họ cũng được đào tạo để tận dụng tối đa khả năng, tài năng và sở thích của mình.

Sống trong cộng đồng, cho phép con người hòa nhập với xã hội, khám phá và phát triển tính cách của chính mình bằng cách đưa nó vào hành động trước một con người khác.

Cộng đồng này cần cung cấp các điều kiện cần thiết để mỗi cá nhân có cơ hội học hỏi từ ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa của nhóm đó, cũng như cách sử dụng các kỹ năng của riêng họ cho sự phát triển và tiến bộ của họ trong nhóm..

4. Quản lý nền kinh tế

Phân phối hàng hóa và dịch vụ là một mối quan tâm khác trong một nhóm xã hội.

Xã hội, với tư cách là một hệ thống, tạo ra và phân phối các hàng hóa và dịch vụ vật chất sẽ được dành riêng để đáp ứng nhu cầu cơ bản và thứ yếu của con người tạo nên nó.

Phân phối này được đưa ra theo triết lý chính trị xã hội nói rằng xã hội giả định là của riêng mình.

5. Quản lý điện năng

Giống như việc phân phối hàng hóa và dịch vụ là một mối quan tâm quan trọng trong xã hội, sự hình thành của các nhân vật và / hoặc các nhóm quyền lực cũng chiếm một phần lớn trong cuộc sống trong xã hội.

Sự quản lý quyền lực từ các thể chế là điều khiến con người phải đối mặt với các cuộc chiến tranh và tranh chấp trong suốt lịch sử của nó.

Tùy thuộc vào học thuyết chính trị – xã hội chiếm ưu thế trong một nhóm xã hội cụ thể, quyền lực này sẽ được tập trung tại Nhà nước hoặc phân phối giữa các tổ chức khác nhau tạo nên nhóm đó.

Trong chức năng này xuất hiện rằng kích thước của con người theo đó vai trò thống trị hoặc phục tùng được thông qua và những căng thẳng nguyên thủy nhất của mong muốn chiếm hữu được giải quyết.

Trên thực tế, việc phân định lãnh thổ thống trị, đi vào chức năng này vì các giới hạn lãnh thổ sẽ kết thúc là giới hạn quyền tài phán.

6. Phòng lao động

Tổ chức trong xã hội cũng cho phép xác định vai trò theo các công việc mà mỗi cá nhân sẽ hoàn thành khi có nhu cầu để đáp ứng.

Sống trong xã hội làm cho thực tế này rõ ràng và hướng dẫn mọi người hướng tới sự phân phối lực lượng lao động cho phép thực hiện tất cả các nhiệm vụ để cung cấp phúc lợi cho cá nhân.

7. Quản lý truyền thông

Đối với con người, nhu cầu thể hiện và giao tiếp là cố hữu, vì vậy trong xã hội, các điều kiện được tạo ra cho nhu cầu đó được thỏa mãn..

Điều này bao gồm từ ngôn ngữ đến các tuyến giao tiếp (đường phố, cầu nối, v.v.) giữa các thành viên khác nhau của nhóm xã hội, cũng như giữa các nhóm này với các nhóm xã hội khác.

Nếu trong các xã hội nguyên thủy hay các biểu hiện nghệ thuật như khiêu vũ hay tranh vẽ là những hình thức giao tiếp được sử dụng nhiều nhất, thì ngày nay chúng là công nghệ truyền thông và thông tin (TIC), tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ này.

Các thành viên của xã hội quan tâm đến việc sử dụng các công cụ truyền thông có sẵn và phát triển ngày càng tinh vi hơn, để đảm bảo tính liên tục của văn hóa của nhóm đó trong các thế hệ sau.

8. Bảo tồn và truyền tải văn hóa

Mỗi xã hội phát triển các dạng hành vi phổ biến được truyền giữa các thành viên và các thế hệ sau.

Đây là một chức năng cần thiết để phân biệt các nhóm xã hội và để duy trì sự đa dạng.

Văn hóa bị ảnh hưởng bởi các điều kiện hoặc đặc điểm bao quanh nhóm xã hội, có thể là địa lý, lịch sử hoặc chính trị.

Cách làm việc để tồn tại, được học trong mối quan hệ với những người khác được bồi dưỡng trong xã hội.

9. Giải trí

Niềm vui của các thành viên trong một nhóm xã hội cũng là điều cần được xem xét, vì con người cũng cần những giây phút giải trí.

Sống trong xã hội tạo điều kiện cho cơ sở hạ tầng và công nghệ cần thiết để mọi người có thể tận dụng thời gian rảnh rỗi vì họ thích làm như vậy.

Độc lập với những ý kiến ​​đa dạng có thể được tạo ra trước mặt này hoặc cách đó để trải nghiệm sự giải trí, các nhóm xã hội tạo ra những không gian đó và cùng với đó góp phần thỏa mãn một nhu cầu khác của con người, cuối cùng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.

10. Tôn giáo

Con người trong suốt lịch sử của mình và bất kể vị trí của anh ta, đã thể hiện nhu cầu cấp thiết để trải nghiệm sự tôn giáo của anh ta. Đó là biểu hiện của một mối quan hệ với siêu việt.

Con người dường như có nhu cầu tin rằng có một thứ gì đó vượt trội hơn mình, một nguồn gốc của Mọi thứ. Dựa trên nhu cầu này, các phản ứng khác nhau đã được xây dựng, sau đó cụ thể hóa thành các biểu hiện tôn giáo khác nhau.

Sống trong xã hội cho phép chúng ta chia sẻ với người khác kinh nghiệm của một tôn giáo, về sự hiệp thông với một thực thể khác dường như mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.

Tôn giáo cũng hoạt động như một nhà nguyên tử xã hội, như một hình thức tổ chức trong đó các quy tắc, quy tắc và hình thức giao tiếp rất đặc biệt của các tín đồ được xây dựng trong cùng một giáo điều.

Tất cả các chức năng này phụ thuộc lẫn nhau và tiến bộ trong sự phức tạp của chúng cho rằng một xã hội càng trưởng thành, càng tinh tế hơn theo cách mà các chức năng đó phải được thực hiện.

Tài liệu tham khảo

ABC (2005). Các yếu tố của xã hội. Lấy từ: abc.com.py

Tiêu đề, Daniel (2008). Hiểu biết về xã hội. Lấy từ: Hiểu biết.blogspot.com

Bộ Luật, Tư pháp và các vấn đề nghị viện (2010). Phòng Pháp chế và Nghị viện. Lấy từ: bdlaws.minlaw.gov.bd

Pellini, Claudio (s / f). Con người và cuộc sống trong xã hội gia đình, nhà nước và giáo dục. Phục hồi từ: historiaybiografias.com

Spencer, Herbert (2004). Xã hội là gì? Một xã hội là một sinh vật. Tạp chí Nghiên cứu Xã hội học Tây Ban Nha (Reis), Sin mes, 231-243. Lấy từ: redalyc.org

Phòng sinh viên (s / f). Chức năng chính của xã hội đối với cá nhân là gì? Lấy từ: thestudentroom.co.uk

Đại học tự trị của bang Hidalgo (s / f). Xã hội Lấy từ: uaeh.edu.mx

Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ Viện Y tế Quốc gia. Lấy từ: ncbi.nlm.nih.gov.

Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?

Tiền là thứ dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng). Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.

Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.

Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học Định nghĩa

Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ tương rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết. Từ đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế thừ các hoạt động thương mại. Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Trong kinh tế học, có một số khái niệm về tiền.

* Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại. * Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dẽ dàng chuyển thành tiền mặt. * Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái phiếu, kỳ phiéu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.